THẦY MARCEL NGUYỄN TẤN VĂN – NẠN NHÂN CỦA VIỆT CỘNG

Gương anh hùng:
THẦY MARCEL NGUYỄN TẤN VĂN – NẠN NHÂN CỦA VIỆT CỘNG
Lời toà soạn: Đây là sinh chứng của cha Denis Paquette, bề trên của thầy MARCEL. Ngài cũng đã tự ý ở lại Bắc Việt và cũng đã bị trục xuất vào ngày 23/10/1958. Lúc bấy giờ thầy MARCEL đã bị khổ sai hơn 3 năm.
***
“Không một nỗi gian khổ nào có thể xoá nhoà nụ cười êm dịu luôn phảng phất trên gương mặt gầy hóp của anh được. Và nụ cười tươi nở cho ai, nếu không phải là cho bạn tình Giêsu! Anh là lễ vật của tình yêu, và tình yêu là hạnh phúc hoàn hảo, bất diệt của anh. Anne Marie, em thân mến, anh khuyên em đừng khóc, cố gắng vui vẻ và hiến dâng tất cả cho Chúa”.
Bút tích trên được trích trong bức Ngục trung thư của thầy Marcel gửi cho em gái, hiện là nữ tu Dòng Chúa Cứu Thế tại Sainte Anne de Beaupré, Gia Nã Đại.
Vào tháng 7 năm 1954, khi Bắc Việt rơi vào tay Cộng sản, thầy Marcel đang phục vụ tại Học viện Dòng Chúa Cứu Thế Đà Lạt. Thầy tình nguyện gia nhập nhà Dòng tại Hà Nội để làm chứng tá dưới chế độ Cộng sản. Trong số năm tu sĩ phục vụ tại đây, có hai linh mục Gia Nã Đại, một linh mục người Việt và hai tu sĩ, có nhiệm vụ duy trì đời sống của nhà Dòng dưới chế độ đỏ, và giúp đỡ cộng đoàn tín hữu ở lại trong xứ đạo sau biến cố di cư. Các vị Bề trên đã không ngần ngại chấp nhận lời thỉnh cầu của một tu sĩ gương mẫu như thầy Marcel, và chọn thầy để nêu cao tang chứng đức tin như ngọn đuốc sáng trong đêm tối của Giáo Hội thầm lặng và nguyện cầu.
Lúc ấy thầy Marcel được 26 tuổi, và đã khấn dòng được 9 năm. Lòng sốt sắng nồng nhiệt, tinh thần kỷ luật tuyệt mức, chí làm việc và hy sinh là những đặc điểm sáng chói nơi thầy. Từ thuở ban đầu, giữa bốn bức tường của gian phòng Tập viện, thầy đã tha thiết ước ao ơn Tử Đạo. Nên dịp hiếm có vừa đến, thầy đã không ngần ngại hiến dâng.
Trên đường ra Bắc, thầy đã thổ lộ hy vọng hạnh phúc Tử Đạo. Vài tháng sau ngày Việt cộng tiếp thu Hà Nội, tình hình đã rõ rệt và nguy hiểm đang sờ sờ trước mắt, Bề trên đã khuyên thầy nên theo đợt di cư cuối cùng vào Nam. Không ngần ngại, thầy từ chối, viện lẽ đã chuẩn bị sẵn sàng để đón nhận mọi cực hình và sự chết vì tình yêu Chúa. Ít lâu sau, thầy nói cùng Bề trên: “Cộng sản sẽ buộc con vu cáo cha, nhưng cha đừng sợ, con sẽ không bao giờ vu cáo cha. Con sẽ kháng cự đến chết, và như thế con sẽ thắng Cộng sản”. Số phận của thầy đã được thực hiện đúng từng li theo lời tiên báo ấy.
Vào một buổi sáng thứ Bảy ngày 07 tháng 05 năm 1955, 7 tháng sau tiếp thu, thầy đã bị bắt và tống giam. Tu sĩ Marcel Nguyễn Tấn Văn đã bị buộc tội làm gián điệp cho Đế Quốc Mỹ và chánh phủ Miền Nan Việt Nam. Từ hăm doạ đến hứa hẹn, người ta bắt ép thầy phải nhận tội và đồng thời tố cáo vị Bề trên Dòng là chỉ huy tổ chức gián điệp và tuyên truyền chống chánh phủ. Thầy sẽ được trả tự do nếu thầy nhận tội và tố cáo vị Bề trên. Thầy Marcel không còn lạ về mánh khoé của Cộng sản và đã anh hùng trung thành cùng Thiên Chúa và lương tâm.
Năm tháng trời đằng đẵng trôi qua trong ngục tối. Có lần thầy đã bị tra hỏi suốt 15 đêm liền. Sức khoẻ mong manh của thầy vượt quá mức chịu đựng, thầy lâm bệnh trầm trọng và trước ngưỡng cửa sự chết, thầy vẫn một lòng sắt son với đức tin và tình yêu Giáo Hội.
Mọi biện pháp đều tỏ ra vô hiệu. Cộng sản không còn hy vọng khai thác thầy được. Thầy lại bị tống vào trại giam trung ương ở Hà Nội, cùng với hàng trăm tù nhân, đa số là Công Giáo, với 2 linh mục. Những bức thư lén lúc từ trại giam gửi ra cho biết nỗi khổ từ nội tâm và chí cương quyết của thầy: “Thưa cha, muốn sống là một điều dễ. Con chỉ việc vu cáo cha. Nhưng cha đừng sợ, con không bao giờ chịu vu cáo cha đâu. Con sẽ kháng cự đến chết”.
Sau này nhiều tù nhân đồng trại được phóng thích, đã nói lên lòng cảm mến và khâm phục thầy trong suốt thời gian bị giam giữ. Gương mặt thầy luôn phản chiếu ánh vui tươi siêu việt. Thầy cầu nguyện suốt ngày, tận tình bác ái với đồng bạn, chia sẻ từng miếng cơm, manh áo hay tiền bạc.
Sau nhiều lần bị tra hỏi vô hiệu. Thầy đã lãnh án 15 năm khổ sai. Thầy bị giải lên trại giam số 1 ở Mỏ Chén, một trại giam hai ngàn tù nhân với hai nghĩa địa để vùi thây những kẻ chết rũ tù. Một đoạn thư trong thời gian ấy: “Ở đây con được phước sống chung với nhiều tín hữu: thầy Quản lý nhà thờ Phát Diệm, bà Tu viện trưởng Dòng Mến Thánh Giá Phát Diệm cũng bị giam ở đây. Tất cả mọi tín hữu trong trại đều rất vững lòng tin. Nhiều người ăn chay nhiệm nhặt ngày thứ Tư và thứ Bảy.
Phần con, từ ngày lên đây, phải đóng vai một cha xứ. Ngoài giờ làm việc, phải tiếp các tù nhân, an ủi họ. Mọi người đều đến với con. Cám ơn Chúa hết lòng. Cuộc tù đầy đã không lay chuyển mức sống thiêng liêng của tâm hồn con. Rất nhiều lúc, Thiên Chúa tỏ rõ ràng là con đang thực hiện thánh ý Người nơi đây”.
Tháng 08 năm 1957, thầy Marcel bị giải sang trại số 2 ở Yên Bái. Chúng tôi không còn được phép thăm viếng thầy nữa: “Tên Văn không tiến bộ tí nào sau thời gian tẩy não. Các ông không nên thăm viếng nữa!” Chúng tôi biệt tin thầy từ đó. Thầy tạ thế ngày 10 tháng 07 năm 1959. Trong ngục ròng rã một năm, thầy kiệt sức vì thiếu ăn, đang lúc bệnh lao hoành hành, và sau cùng cơn bệnh thũng đã kết liễu cuộc đời anh dũng của thầy.
Trưa ngày 10 tháng 07, thầy hấp hối, cha Vinh Bề trên Địa phận Hà Nội, bạn đồng ngục của thầy, đã giúp đỡ thầy trong giây phút cuối cùng. Trên ngôi mộ thầy, các bạn đồng ngục của thầy đã chôn một vỏ chai để ghi dấu.
Thiên Chúa đã thực hiện hoài vọng của thầy Marcel. Tù ngục, tra tấn và sau cùng là cái chết bi đát, tất cả chỉ vì lòng trung thành cùng Thiên Chúa, cùng Giáo Hội, từ chối phá hoại Giáo Hội bằng vu cáo Bề trên: “Nếu con muốn sống thì rất dễ, con chỉ việc vu cáo cha”. Cũng như ngày thầy khấn dòng, trước đau khổ và sự chết, thầy Marcel đã lựa chọn và hiến dâng, sự lựa chọn và hiến dâng đó đã tươi nở nên một ngành hoa đỏ thắm mà các tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam hân hạnh tiến dâng lên Thiên Chúa và Giáo Hội.
Nếu các tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế khắp hoàn cầu có vinh hạnh tôn dương một người anh cả như thánh Giêrađô, thì các tu sĩ Dòng tại Việt Nam cũng không kém vinh hạnh trước gương sáng thánh thiện và anh dũng của thầy Marcel Nguyễn Tấn Văn tinh hoa của DCCT tại đất Việt.
(Trích Nguyệt San Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, số 183 tháng 8 năm 1964, tr. 252 – 253)
SỰ SỢ HÃI TRONG DÂN?…
SỰ SỢ HÃI TRONG DÂN?…
Ngày hôm qua, bắt đầu từ trưa khi Thủ tướng họp với lãnh đạo thành phố bàn việc chống dịch. Trong phát biểu ý kiến của Thủ tướng đại ý là: “Chính phủ kêu gọi sự cảm thông và ủng hộ của nhân dân nếu phải áp dụng các biện pháp khoanh vùng, giãn cách, phong tỏa, cách ly trên diện rộng để xử lý triệt để sự lây lan của dịch bệnh vì sức khỏe cộng đồng và sự phát triển của đất nước.”. Có nghĩa là Thủ tướng và thành phố đang chuẩn bị một số biện pháp mới mạnh hơn, quyết liệt hơn trong việc ngăn chận dịch bệnh.
Thế là chỉ không lâu sau đó, trên mạng xã hội và truyền thông có lan truyền một lời nhắn có nội dung: ̵”̵ ̵E̵m̵ ̵c̵h̵u̵ẩ̵n̵ ̵b̵ị̵ ̵đ̵ồ̵ ̵ă̵n̵,̵ ̵t̵h̵ự̵c̵ ̵p̵h̵ẩ̵m̵ ̵t̵h̵i̵ế̵t̵ ̵y̵ế̵u̵ ̵n̵g̵a̵y̵ ̵n̵h̵é̵.̵ ̵A̵ ̵đ̵a̵n̵g̵ ̵h̵ọ̵p̵ ̵t̵r̵ự̵c̵ ̵t̵u̵y̵ế̵n̵ ̵h̵o̵ả̵ ̵t̵ố̵c̵.̵ ̵C̵h̵u̵ẩ̵n̵ ̵S̵G̵ ̵k̵o̵ ̵đ̵c̵ ̵r̵a̵ ̵n̵g̵o̵à̵i̵.̵ ̵L̵à̵m̵ ̵n̵g̵a̵y̵ ̵đ̵i̵.̵ ̵A̵ ̵đ̵t̵ ̵k̵o̵ ̵n̵g̵h̵e̵.̵”̵ ̵
Tiếp đó là thông báo sẽ lockdown toàn thành từ 0 giờ ngày 9/7. Tui nhận được khoảng 100 tin như thế này trên messenger cũng trên tin nhắn điện thoại, zalo, Viber…
Đồng thời, tui cũng được báo tin trên điện thoại bởi nhiều bạn bè quen biết. Tôi đọc tin mà ngờ ngợ vì trước đây mấy hôm cũng đã có tin như thế này tung ra nhưng sau đó đã được cải chính. Hôm nay thì chỉ một cái nhắn tin nho nhỏ, ngắn gọn giống như của người trong cuộc đưa ra.
Hàng trăm, hàng ngàn cái tin đều giống như đúc từ một khuôn và nội dung là một. Tui đâm nghi ngờ nên cũng dè dặt khi trao đổi với bạn bè và người thân. Rất nhiều người tin vào cái mẩu con con này, Họ bảo nhà nước này từ xưa đến nay muốn làm gì quan trọng đều theo bài này, tức là tung tin ra, sau đó cải chính nhưng thật sự là chuyện đó có thật.
Như chuyện mấy lần đổi tiền ngày xưa chẳng hạn. Lại thêm nhiều cơ quan, xí nghiệp, nhà máy yêu cầu công nhân, viên chức ở lại cơ quan, công nhân ăn ngủ, làm việc trong xưởng để hạn chế lây lan dịch bệnh. Chỉ cần thế là mọi người đã nháo nhào.
Thế nên mọi người lại ùn ùn lũ lượt ra siêu thị vét hàng. Chiều và tối hôm qua các siêu thị các quầy hàng trống rỗng. Sáng hôm nay cũng vậy. Chợ bây giờ phải bán chui, sạp hàng bảo với khách quen muốn mua hàng thì ra lúc 4:30 sáng để tránh dân quân với công an. Giá thì bảo sao mua vậy, không thể cò kè vì hàng khan hiếm.
Dù hôm nay, chính quyền đã thông báo cho biết là không có lockdown, chỉ hạn chế có kiểm soát tình hình ra vào và di chuyển trong thành phố. Nhưng khổ lắm, dân vẫn không chịu tin và vẫn sống trong nghi ngờ và sợ hãi. Cho đến giờ, tui vẫn khẳng định tin nhắn nho nhỏ được phát tán, lan truyền một cách rộng rãi hôm qua là tin giả và vẫn nghĩ rằng chính quyền đang có một kế hoạch mới để đối phó với dịch bệnh đang lan tràn, số người mắc bệnh càng ngày càng cao.
Hôm nay hơn 120.000 thí sinh và các bộ phận liên quan đang thi tốt nghiệp. Thí sinh đi thi với tâm trạng không ổn, cha mẹ học sinh thì đầy âu lo. Nhà nước cũng ở trong tình trạng căng thẳng vì lỡ như có thí sinh nhiễm bệnh vì tập trung đi thi, dân chửi không kịp vuốt mặt. Và mới đây đọc báo thấy có một thí sinh ngất xỉu trong phòng thi phát hiện thấy dương tính. Đọc tin mà hoảng hồn. Nguy thật!
Thành phố xáo xào hoang mang với đủ thứ lời đồn. Thực hư, hư thực. Tin chính thống của nhà nước thì hạn chế, mông lung nhiều khi không cụ thể vấn đề, chữ nghĩa thì kêu rổn rảng mà chẳng hiểu gì. Tin vỉa hè, tin giả thì lan truyền như vết dầu loang. Dân bối rối nên thường chỉ tin vào những đồn thổi.
Giá như chính quyền khi dự định đưa ra những biện pháp mới nên khẳng định có phong toả toàn thành, nội bất xuất, ngoại bất nhập hay không, khẳng định điều đó trước khi đề nghị những phương cách mới.
Được như thế, dân hiểu ngay là chính quyền sắp có nhiều thay đổi nhưng biết rõ có hay không biện pháp phong toả toàn thành. Khi được biết những khẳng định minh bạch của nhà nước, dân sẽ ít bị chi phối bởi những tin đồn nhảm. Đừng vội trách dân chúng và dân cũng nên thông cảm với chính quyền.
Trong tình hình nước sôi lửa bỏng như thế này, minh bạch là điều cần thiết đối với lãnh đạo và dân phải tập bình tĩnh trước những sự kiện. Thành phố đang thiếu một bộ phận đầu não có kiến thức chuyên môn và tổ chức khoa học cùng một đội ngũ truyền thông tốt. Chính vì thiếu những yếu tố đó đã đưa đến tình trạng hỗn loạn và bát nháo trong dân.
Phải thay đổi cách dập dịch là điều tiên quyết để ngăn chận dịch lan truyền như lúc này. Không thể cứ có dương tính là đóng cửa, là bao vây và sau đó hàng loạt F1, F2 vào khu cách ly. Thành phố đã có gần 800 điểm cách ly và phong toả, cứ thấy nơi đâu cũng giăng dây và hàng rào kẽm, lòng dân làm sao yên. Khi người nhiễm bệnh không còn có những triệu chứng thì việc tập trung đông người để tầm soát bệnh là việc làm gây nhiều nguy cơ.
Khi số người bệnh tăng cao lên con số hàng trăm, hàng ngàn một ngày thì tất cả những việc tập trung đông người như tổ chức thi tốt nghiệp hay tầm soát là một việc làm sai lầm. Đó là dịp để dịch bệnh lan tràn khó kiểm soát.
Có thể thành phố không thiếu lương thực, thành phố vẫn còn những cơ sở cung ứng thức ăn, thực phẩm theo kiểu online.
Nhưng người ta lại ngán shiper. Họ chạy suốt ngày ngoài đường, tiếp xúc không biết bao nhiêu người nên nguy cơ tiềm ẩn bệnh là rất lớn, do vậy mua hàng online chỉ là cái bấm chuột nhưng tiếp xúc với người giao hàng thì lắm e ngại.
Nhưng mua hàng kiểu đấy chỉ dành cho những người có đồng ra đồng vào, còn dân nghèo thì chịu chết, làm không ra vì dịch bệnh bủa vây, lấy tiền đâu mà mua.
Thế nên, để an dân, ngoài chuyện minh bạch thông tin, chính quyền nên lưu ý đến những người dân nghèo, không thể cứ để mặc cho những người làm thiện nguyện hỗ trợ dân như lâu nay vẫn thế và bây giờ vẫn vậy.
Phải có chính sách và tổ chức để đến với tầng lớp dân nghèo. Họ không thể ngồi chờ mãi những tấm lòng của mọi người hảo tâm mang đến mà phải có một sự trợ giúp dài hơi của chính phủ, và đó là bổn phận và trách nhiệm của nhà nước đối với nhân dân. Đó cũng là một cách để an dân.
7.7.2021
DODUYNGOC

Trại Chí Hòa: Tù nhân nổi dậy sau khi một can phạm chết vì COVID-19

Đài Á Châu Tự Do
Trại Chí Hòa: Tù nhân nổi dậy sau khi một can phạm chết vì COVID-19
Hàng loạt các tù nhân đang bị tạm giam trong Trại Chí Hòa, TP.HCM nổi dậy vào tối 6-7-2021 sau khi một can phạm 26 tuổi tử vong hai hôm trước dương tính với COVID-19.
Hàng loạt tiếng nổ vang lên sáng rực khuôn viên trại tạm giam Chí Hòa, TPHCM được người dân ghi lại bằng điện thoại và đưa lên mạng xã hội. Loạt tiếng nổ này giống như những quả nổ nghiệp vụ mà lực lượng cảnh sát cơ động thường dùng để trấn áp trong các cuộc biểu tình, bạo loạn.
Theo VnExpress, cảnh sát cơ động có vũ trang được điều đến Trại tạm giam Chí Hoà, quận 10 bằng các xe chuyển quân loại lớn để giữ an ninh trật tự sau khi nhiều phạm nhân bị cho là “kích động gây rối”.
Đến 7 giờ 50 tối, ít nhất 6 loạt tiếng nổ tiếp tục vang lên cùng nhiều tiếng la hét.
Hơn 2 tiếng sau, một ô tô chở phạm nhân và 6 xe chở cảnh sát mặc giáp chống đạn từ trong khám đi ra ngoài.
Theo thông tin một chiều từ Công an TP HCM, khi lực lượng y tế tổ chức thăm khám sức khỏe cho các can phạm nhân tại Chí Hòa thì một số người “lợi dụng kích động người khác la hét, gây rối”.
Công an thành phố điều động lực lượng phối hợp Quản giáo Trại tạm giam Chí Hòa xử lý, ổn định an ninh trật tự, đưa số can phạm nhân trở lại buồng giam.
Một số người được chuyển về Trại giam T30 (huyện Củ Chi, mới xây) để thực hiện giãn cách, phòng chống COVID-19, cải thiện điều kiện sinh hoạt cho can phạm nhân.
Cũng trong tối 6-7, công an TP.HCM mới tiết lộ về việc một bị can 26 tuổi tử vong hôm 3-7 do suy hô hấp cấp, sốc nhiễm trùng, viêm phổi… và có kết quả test nhanh dương tính nCoV.
Thông tin trên được trại tạm giam Chí Hoà báo cáo với Công an và VKSND TP HCM, chiều 4/7.
Người này mới bị bắt giữ và hôm 2-5 bị chuyển đến Chí Hoà, được trại giam kiểm tra y tế, cách ly theo quy định rồi chuyển đến buồng giam.
Hôm 28-6-2021, Trại Chí Hòa thông báo có 3 cán bộ công an nhiễm COVID-19, sau đó một phạm nhân bị chuyển đến Trại tạm giam Bố Lá, huyện Phú Giáo – Bình Dương cũng có kết quả dương tính.
Tuy nhiên, sau đó báo chí hoàn toàn không thông tin về những gì đang xảy ra ở trong trại Chí Hòa và Bố Lá – là những nơi giam giữ chật chội, môi trường thuận lợi để vi-rút corona lây lan mạnh.
Một thông tin khác có liên quan đó là 53 y bác sĩ thuộc Bệnh viện 199 – Bộ Công an đã từ Đà Nẵng vô TP.HCM vào hôm 5-7.
Thượng tướng Nguyễn Văn Sơn, Thứ Trưởng Bộ Công an tiết lộ, ngoài điều trị cho người dân “còn có phần lớn là đồng chí, đồng đội” và “những phạm nhân đang thực hiện giam giữ theo quy định” cho thấy dịch đang diễn biến phức tạp trong trại giam.
#RFAVietnamese #TinRFA #traiChiHoa #TraitamgiamCHiHoa #ChiHoa #TraiBoLa #TraitamgiamBoLa
Sóc Trăng: Dàn đèn trang trí hơn 3 tỷ đổ sập “như trò chơi trẻ em”

Đài Á Châu Tự Do Friends Who Like Đài Á Châu Tự Do
Sóc Trăng: Dàn đèn trang trí hơn 3 tỷ đổ sập “như trò chơi trẻ em”
Toàn bộ khung sắt và dàn đèn trang trí cầu Maspero trị giá hơn 3 tỷ đồng ở trung tâm thành phố Sóc Trăng đổ sập vào lúc 15 giờ ngày 6-7-2021 khi đang trong giai đoạn hoàn thiện.
Mạng báo Tuổi trẻ online dẫn lời một người bán nước mía gần đó cho biết, “cảnh sập đổ diễn ra như trong phim, như đồ chơi trẻ em”.
May mắn do khung thép nặng chục tấn ngã từ từ nên người và xe kịp chạy thoát thân nên không gây thiệt mạng về người.
Các ảnh chụp do báo Công an nhân dân đăng tải cho thấy, một phần khung sắt đổ sập lên cầu Maspero, một phần còn lại vắt qua thành cầu đổ hết xuống sông.
Theo TTO, dự án trang trí cầu Maspero là một trong ba dự án làm đẹp ba cây cầu bắc qua sông Maspero qua trung tâm thành phố Sóc Trăng với kinh phí khoảng 10 tỉ đồng.
Không hiểu lý do vì sao giữa đại dịch COVID-19, thành phố Sóc Trăng vẫn cho thi công trang trí các cây cầu tiền tỷ.
#RFAVietnamese #tinRFA #CauMaspero #SocTrang #Vietnam
CSVN bắt thêm 2 người cáo buộc chống chế độ độc tài đảng trị
CSVN bắt thêm 2 người cáo buộc chống chế độ độc tài đảng trị
July 6, 2021
HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Công An CSVN bắt một người ở Nam Định và một người bị Công An Cần Thơ khởi tố nhưng cho tại ngoại, cáo buộc chống chế độ độc tài đảng trị.
Báo chí tuyên truyền chính thống CSVN cho hay, hôm Thứ Ba, 6 Tháng Bảy, Công An thành phố Nam Định đã bắt ông Đỗ Nam Trung khi ông đang trên đường đi làm rồi đưa ông về chỗ ở lục soát. Cùng ngày, Công An Cần Thơ khởi tố thêm một thành viên của nhóm “Báo Sạch” là ông Lê Thế Thắng nhưng chỉ “cấm đi khỏi nơi cư trú.”
Ông Đỗ Nam Trung. (Hình: FB Đỗ Nam Trung)
Ông Đỗ Nam Trung, 40 tuổi, một người nổi tiếng mấy năm trước đây khi tham gia phong trào chống đối các trạm thu phí “BOT bẩn” trên các trục lộ giao thông tại Việt Nam. Năm 2014, ông đã bị bắt giam và kết án 14 tháng tù khi bị vu cho tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ…” theo điều 258 của Luật Hình Sự CSVN (ban hành năm 1999). Bây giờ là điều 331 của Luật Hình Sự mới, được thông qua năm 2015.
Lần bắt giữ này, theo lời bà Nguyễn Thị Ánh Tuyết viết trên Facebook, ông Đỗ Nam Trung bị bắt giam theo điều 117 tức ông bị quy chụp cho tội “tuyên truyền chống nhà nước …” với bản án có thể từ bảy năm đến 20 năm tù.
Cùng trong ngày Thứ Ba, 6 Tháng Bảy, Công An Cần Thơ đã khởi tố thêm ông Lê Thế Thắng, 39 tuổi, cư dân thành phố Hà Nội, với cáo buộc “lợi dụng các quyền tự do dân chủ…” Ông “bị xác định là thành viên fanpage nhóm Báo Sạch” cùng với các ông Trương Châu Hữu Danh, Nguyễn Phước Trung Bảo, Đoàn Kiên Giang và Nguyễn Thanh Nhã.
Tờ Tuổi Trẻ dẫn thông tin từ công an nói nhóm Báo Sạch từ năm 2019 trên mạng xã hội đã “đăng tải nhiều bài viết liên quan đến vụ án Hồ Duy Hải, tranh chấp đất tại Đồng Tâm, hạn mặn miền Tây, bài viết về Tôn Đức Thắng, vấn đề cấm xuất khẩu trong đợt dịch COVID-19, cưỡng chế tại Gia Trang Quán…”
Sau khi ông Trương Châu Hữu Danh (38 tuổi), bị bắt giam ngày 17 Tháng Mười Hai, 2020, ông Thắng bị cáo buộc là “người trực tiếp thao tác xóa fanpage ‘Báo Sạch,’ Tuy nhiên cơ quan điều tra đã trích xuất, lưu trữ được các bài viết liên quan,” tờ Tuổi Trẻ viết.
Ngày 20 Tháng Tư vừa qua, công an đã bắt ba thành viên “Báo Sạch” là các ông Nguyễn Thanh Nhã (41 tuổi, cư dân Thủ Đức Sài Gòn), ông Đoàn Kiên Giang (26 tuổi, cư dân Sài Gòn) và ông Nguyễn Phước Trung Bảo (39 tuổi, cư dân Đà Nẵng). Tất cả đều bị quy chụp theo điều 331 của Luật Hình Sự CSVN năm 2015 tức “lợi dụng các quyền tự do dân chủ…”
Ông Lê Thế Thắng. (Hình: FB Lê Thế Thắng)
Tuy Hiến Pháp CSVN công nhận công dân có đầy đủ các quyền tự do căn bản, nhưng lại đưa ra các điều luật hình sự lời lẽ mơ hồ, giải thích ngược xuôi đều được, để kết án những người bị cáo buộc chống đối nhà nước và đảng Cộng Sản độc tài tại Việt Nam.
Từ đầu năm đến nay, ít nhất có bảy người đã bị chế độ Hà Nội bắt giữ để kết án tù theo điều 117 của Luật Hình Sự CSVN.
Hôm Thứ Ba, 6 Tháng Bảy, tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới (RSF) kêu gọi chế độ Hà Nội trả tự do ngay tức khắc cho ông Lê Văn Dũng. Ông bị bắt ngày 30 Tháng Sáu khi lẫn tránh tại nhà một người họ hàng suốt một tháng từ khi có lệnh khởi tố và tầm nã.
Ông Lê Văn Dũng, 51 tuổi, được mọi người biết với bút danh Lê Dũng Vova, có kênh truyền hình “Chấn Hưng Nước Việt” (CHTV) trên Facebook và Youtube. Ông phát trực tiếp các lời tố cáo tham nhũng, dân oan khiếu kiện nên là cái gai trong mắt mà chế độ Hà Nội không thể không nhổ bỏ. Ông cũng bị cáo buộc “tuyên truyền chống nhà nước…” nên bản án có thể đến 20 năm tù. (TN)
Ngôn ngữ Sài Gòn xưa: Những vay mượn từ người Tàu
Ngôn ngữ Sài Gòn xưa: Những vay mượn từ người Tàu
Nguyễn Ngọc Chính
Có thể nói, bất kỳ một ngôn ngữ trên trái đất này cũng đều trải qua hình thức vay mượn từ các ngôn ngữ khác. Ảnh hưởng về văn hóa là một trong những tác động chính trong việc vay mượn về ngôn ngữ. Ngoài ra, còn phải kể đến các yếu tố khác như địa lý, lịch sử, chính trị và xã hội trong việc hình thành ngôn ngữ vay mượn. Miền Nam nói chung và Sài Gòn nói riêng vốn là một “melting pot”, dễ dàng hòa nhập với các nền văn hóa khác từ tiếng Tàu, tiếng Pháp và cuối cùng là tiếng Anh.
Có thể lấy bài hát Gia tài của mẹ của Trịnh Công Sơn để giải thích sự vay mượn của ngôn ngữ Việt: “Một nghìn năm đô hộ giặc Tàu, một trăm năm đô hộ giặc Tây, hai mươi năm nội chiến từng ngày…” Như vậy, Việt Nam đã trải qua ba thời kỳ ảnh hưởng, lần lượt theo thứ tự thời gian là của Tàu, sau đó đến Pháp và cuối cùng là Mỹ trong những năm chiến tranh gần đây nhất.
Trước hết, xin được bàn về ảnh hưởng của Trung Hoa mà ta thường gọi nôm na là Tàu cùng những biến thể như Người Tàu, Ba Tàu, Các Chú, Khách Trú và Chệt hoặc Chệc. Gia Định Báo (số 5, năm thứ 6, phát hành ngày 16/2/1870) giải thích:
“…An-nam ta kêu là Tàu, người bên Tàu, là vì khách thường đi tàu qua đây, lại dùng tàu chở đồ hàng hóa qua đây buôn bán; nên kêu là Tàu, hàng Tàu, đồ Tàu v.v… Từ Ba-Tàu có cách giải thích như sau: Ba có nghĩa là ba vùng đất mà chúa Nguyễn cho phép người Hoa làm ăn và sinh sống: vùng Cù Lao Phố (Đồng Nai), Sài Gòn-Chợ Lớn, Hà Tiên, từ Tàu bắt nguồn từ phương tiện đi lại của người Hoa khi sang An Nam, nhưng dần từ Ba Tàu lại mang nghĩa miệt thị, gây ảnh hưởng xấu…”
“…Kêu Các-chú là bởi người Minh-hương mà ra; mẹ An-nam cha Khách nên nhìn người Tàu là anh em, bằng không thì cũng là người đồng châu với cha mình, nên mới kêu là Các-chú nghĩa là anh em với cha mình. Sau lần lần người ta bắt chước mà kêu bậy theo làm vậy…”
“…Còn kêu là Chệc là tại tiếng Triều Châu kêu tâng Chệc nghĩa là chú. Người bên Tàu hay giữ phép, cũng như An-nam ta, thấy người ta tuổi đáng cậu, cô, chú, bác thì kêu tâng là chú là cậu vân vân. Người An-nam ta nghe vậy vịn theo mà kêu các ảnh là Chệc…”
(Ảnh: Manhhai, Flickr)
Cách giải thích thuật ngữ nói trên của Gia Định Báo từ thế kỷ thứ 19 được coi là tạm ổn vì đây là một trong những tài liệu xưa có xuất xứ từ miền Nam. Theo Lê ngọc Trụ trong Tầm nguyên Tự điển Việt Nam, chệc hay chệt là tiếng Tiều gọi chữ thúc, nghĩa là “em trai của cha”. Người bình dân gọi Chệc để chỉ chung người Hoa.
Người Quảng Đông cho là gọi như thế có ý miệt thị, người Triều Châu trái lại, chấp nhận vì họ được tôn là chú. Ở miền Nam, “các chú” Quảng làm ăn buôn bán khá hơn “các chú chệc” người Tiều lam lũ trong nghề làm rẫy, tằn tiện nên không biết có phải vì vậy mới có câu:
Quảng Đông ăn cá bỏ đầu
Tiều Châu lượm lấy đem về kho tiêu!
Người Tiều lại chê dân Quảng không biết ăn cá. Họ nói món cháo cá Tiều khi ăn có vị ngọt đặc biệt nhờ chỉ rửa sạch bên ngoài, giữ lại nguyên si vảy, đầu và cả ruột! Dân Tiều ở miền Nam “chuyên trị” những món cá chim hấp, bò viên, tôm viên, ruột heo nấu cải chua… và nhất là món hủ tíu Tiều Châu.
Người ta còn dùng các từ như Khựa, Xẩm, Chú Ba… để chỉ người Tàu, cũng với hàm ý miệt thị, coi thường. Tuy nhiên, có sự phân biệt rõ ràng trong cách gọi: phụ nữ Tàu được gọi là thím xẩm còn nam giới thì lại là chú ba.
(Ảnh: Manhhai, Flickr)
Năm 1956, chính phủ Ngô Đình Diệm của nền Đệ nhất Cộng hòa (1955-1963) đã có một quyết định khá táo bạo, buộc tất cả Hoa kiều phải nhập quốc tịch Việt Nam, nếu không sẽ bị trục xuất. Thương nghiệp tại miền Nam sau thời Pháp thuộc phần lớn nằm trong quyền kiểm soát của Hoa kiều. Vì vậy, chính phủ cố tạo sức mạnh cho doanh nhân Việt bằng cách hạn chế quyền lợi của người Hoa.
Đạo luật 53 cấm ngoại kiều (nhắm vào Hoa kiều) tham gia 11 nghề liên quan đến thóc gạo, điền địa, buôn bán thịt cá, than đá, dầu lửa, thu mua sắt vụn… được Chính phủ Ngô Đình Diệm ban hành vào tháng 9/1956. Đạo luật này đã làm xáo trộn kinh tế trong nước nhưng đã có tác động mạnh đến nền công thương nghiệp của người Việt vào thời kỳ đó. Đa số người Hoa đã nhập tịch Việt, tính đến năm 1961, trong số 1 triệu Hoa kiều ở miền Nam chỉ còn khoảng 2.000 người giữ lại Hoa tịch.
Người Tàu kiểm soát gần như toàn bộ các vị trí kinh tế quan trọng, và đặc biệt nắm chắc 3 lĩnh vực quan trọng: sản xuất, phân phối và tín dụng. Đến cuối năm 1974, họ kiểm soát hơn 80% các cơ sở sản xuất của các ngành công nghiệp thực phẩm, dệt may, hóa chất, luyện kim, điện… và gần như đạt được độc quyền thương mại: 100% bán buôn, hơn 50% bán lẻ, và 90% xuất nhập khẩu. Hoa kiều ở miền Nam gần như hoàn toàn kiểm soát giá cả thị trường. Cũng vì thế, ở Sài Gòn có câu mỉa mai: “Sống phá rối thị trường, chết chật đường chật xá” để ám chỉ người Tàu khi còn sống lũng đoạn nền kinh tế và đến lúc chết lại tổ chức những đám ma một cách rình rang.
Cũng như người Tàu ở Hồng Kông và Macao, người Tàu ở miền Nam đa số nói tiếng Quảng Đông (Cantonese) chứ không nói tiếng Quan Thoại (Mandarin) mà ngày nay gọi là tiếng Phổ Thông. Cũng vì thế, ngôn ngữ Sài Gòn xưa vay mượn từ tiếng Quảng Đông được khoảng 71 triệu người Hoa trên khắp thế giới xử dụng.
Người Sài Gòn thường ví những người “ăn nói không đâu vào đâu” là “nói hoảng, nói tiều” thực ra là “nói tiếng Quảng Đông, nói tiếng Triều Châu”. Điều này cho thấy tiếng Quảng Đông xuất hiện rất nhiều trong ngôn ngữ miền Nam trước năm 1975, kế đến mới là tiếng Triều Châu. Trên thực tế, người Tàu có đến 5 nhóm Hoa kiều, được gọi là Ngũ Bang tại miền Nam: Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam và Khách Gia (người Hẹ).
Trong lĩnh vực ẩm thực của Sài Gòn xưa, ảnh hưởng của người Tàu gốc Quảng Đông rất đậm nét. Người ta thường nói về 4 cái thú: “Ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật Bản, đi xe Huê Kỳ”. Bên Tàu lại ví von: “Thực tại Quảng Châu, Y tại Hàng Châu, Thú tại Tô Châu, Tử tại Liễu Châu” (Cơm ngon ăn tại Quảng Châu, Áo đẹp may vải Hàng Châu, Vợ xinh cưới ở Tô Châu, Hòm chết chôn không bao giờ mục ở Liễu Châu ). Quảng Châu chính là thủ phủ của tỉnh Quảng Đông.
Kết hợp ý nghĩa của hai câu nói Việt-Trung ở trên ta có thể kết luận: ăn uống theo người Tàu gốc Quảng Đông là hết xảy hay số dzách (số một), những từ ngữ đã quá phổ biến trong xã hội miền Nam. Về sau, vào thời chiến tranh Việt Nam, “số dzách” được cải biên theo kiểu Mỹ thành “nâm-bờ oăn” (number one)! Hành trình của ngôn ngữ xem ra rất thú vị.
Nói cho công bằng, bên cạnh số đông các tửu lầu, cao lâu của người Tàu gốc Quảng Đông, ở Sài Gòn Chợ lớn cũng có lai rai một số tiệm Tàu khác như tiệm Hủ tíu Triều Châu ở đối diện Chợ Lớn Mới, Cơm Gà Hải Nam ở Chợ An Đông hay đường Tôn Thọ Tường.
Theo Bình-nguyên Lộc (1), thời tiền chiến trước 1945, các phổ ky trong tiệm Tàu còn có kiểu kêu vào bếp những món ăn thực khách gọi y như người ta gọi “lô-tô” (bingo), dĩ nhiên bằng tiếng Quảng Đông:
– Bàn số 3, bên Đông, bà lùn, cà phê ít sữa nhiều!
– Bàn số 4, bên Đông, hủ tíu không giá.
– Bàn số 1, bên Tây, thêm bánh bao ngọt thằng nhỏ.
– Bàn số 2, bên Tây, ông già râu, cà phê đen ly lớn, xíu mại to.
Chủ tiệm thường biết rõ tính nết và sở thích ăn uống của mỗi khách quen, nên họ thường đặt cho mỗi người một cái tên thuộc loại… “hỗn danh”. Khi khách ăn xong lại quầy trả tiền thì phổ ky rao những câu hóm hỉnh bằng tiếng Quảng Đông, chẳng hạn như:
– Ông đầu hói mang khăn rằn, một đồng hai cắc.
– Bà hai mập, ba đồng sáu cắc.
– Ông chủ ốm nón nỉ, tám đồng tư, hai bánh bao mang về.
Nổi tiếng tại Sài Gòn xưa có các nhà hàng Đồng Khánh, Arc-en-ciel (sau này đổi tên là Thiên Hồng), Soái Kình Lâm, Bát Đạt, Á Đông, Đại La Thiên, Triều Châu… Tại đây còn phục vụ loại “ăn chơi” theo cung cách nhất dạ đế vương. Quả thật người viết bài này chưa bao giờ được “làm vua một đêm” nên đoán trong những bữa tiệc như thế phải có mỹ nữ hầu tửu, thực đơn chắc chắn phải có nhiều món huyền thoại danh bất hư truyền đi đôi với các thứ rượu quí.
Cơm Tàu thường được để trong những cái thố nhỏ nên được gọi là cơm thố, chỉ là cơm trắng dùng chung với các món ăn nhưng không nấu bằng nồi mà chỉ hấp cách thủy để cho chín gạo. Thông thường một người ăn chừng một hoặc hai thố là no. Có người lại ca tụng ăn cơm thố chỉ cần chan chút hắc xì dầu (nước tương đen) pha với dấm Tiều thêm chút ớt là đã thấy ngon rồi.
Nghĩ lại cũng đúng nhưng nếu ăn kiểu này thì những tiệm nổi tiếng như Siu Siu bên hông chợ An Đông hay Siu Siu ở đầu hẻm Nguyễn Duy Dương (hình như ở số nhà 61) chắc đã dẹp tiệm từ lâu rồi! Hình dưới đây là những thố cơm chụp tại Quán Chuyên Ký trong khu Chợ Cũ đường Tôn Thất Đạm. (Những thố cơm ngày xưa nhỏ hơn nhiều, ngày nay tiệm dùng những cái thố quá lớn, không lẽ bao tử của thực khách ngày nay lớn hơn ngày xưa?).
Cơm chiên Dương Châu cũng là món ăn du nhập từ Quảng Đông. Nhiều người rất khoái cơm chiên nhưng ít người biết từ khởi thủy đây chỉ là món tổng hợp các thức ăn dư thừa được chế biến lại. Này nhé, cơm vốn là “cơm nguội” nấu dư từ hôm trước, các phụ gia khác như jambon, trứng tráng, đậu Hòa lan, hành lá… còn dư được xắt lát rồi trộn với cơm mà chiên lên!
Cũng thuộc loại thức ăn dư thừa có món tài páo (bánh bao). Ban không tin ư? Nhân bánh bao là thịt vụn được xào lên, trộn với lạp xưởng và trứng (sau này được thay bằng trứng cút kể từ khi dịch cút lan truyền khắp Sài Gòn, nhà nhà nuôi cút, người người ăn trứng cút). Vỏ bánh bao được làm bằng bột mì, sau khi hấp chín bột nở phình ra trông thật hấp dẫn.
Có người bảo cơm chiên Dương Châu và bánh bao thể hiện tính tằn tiện và tiết kiệm của người Tàu, không bỏ phí thức ăn thừa! Nói cho vui vậy thôi chứ từ cơm chiên, bánh bao đến các loại sơn hào hải vị như bào ngư, vi cá, yến sào… đều đòi hỏi cách chế biến, đó là nghệ thuật nấu ăn.
(Ảnh: Manhhai, Flickr)
Các tiệm “cà phê hủ tiếu” của Tàu lan rộng ra nhiều nơi chứ không riêng gì trong Chợ Lớn. Khắp Sài Gòn, Gia Định rồi xuống đến Lục Tỉnh đi đâu cũng thấy những xe mì, xe hủ tiếu, chỉ nhìn cách trang trí cũng có thể biết được chủ nhân là người Tàu. Họ có kiểu cách riêng biệt với những chiếc xe bằng gỗ, thiết kế một cách cầu kỳ. Phần trên xe là những tấm kính tráng thủy có vẽ hình các nhân vật như Quan Công, Lưu Bị, Trương Phi, Triệu Tử Long… trong truyện Tam Quốc.
Ăn điểm tâm thì có mì, hủ tíu, bánh bao, há cảo, xíu mại… Khách thường gọi một ly xây chừng, đó là một ly cà phê đen nhỏ hay tài phế (cà phê đen lớn). Cà phê ngày xưa còn có tên “cá phé vớ (dzớ)”, pha bằng chiếc vợt vải nên còn được gọi là “cà phê vợt” tựa như chiếc vớ (bít tất). Cà phê đựng trong “dzớ” phải được đun nóng trong siêu nên còn có tên là “cà phê kho”, có điều “kho” nước đầu thì có mùi cà phê nhưng những nước sau có vị như… thuốc bắc.
Sang hơn thì gọi phé nại (cà phê sữa) hoặc bạt sửu (nhiều sữa nhưng ít cà phê) với sữa đặc có đường hiệu Ông Thọ (2) hoặc Con Chim (3). Có người lại dùng bánh tiêu hoặc dầu-cha-quẩy (người miền Bắc gọi là quẩy) nhúng vào cà phê để ăn thay cho các món điểm tâm đắt tiền.
Người bình dân còn có lối uống cà phê trên đĩa. Mỗi tách cà phê thường được để trên một chiếc đĩa nhỏ, khách “sành điệu” đổ cà phê ra đĩa, đốt điếu thuốc Melia chờ cà phê nguội rồi cầm đĩa lên… húp. Nhà văn Bình-nguyên Lộc trong Hồn Ma Cũ mô tả cách uống cà phê của người xưa: “… Người cha đứa bé rót cà phê ra dĩa cho mau nguội, rồi nâng dĩa lên mà uống”. Đây là cách uống của một số người Sài Gòn vào những thập niên 50-60, đa số họ là những người lớn tuổi, “hoài cổ” nên vẫn duy trì cách uống đặc trưng của Sài Gòn xưa.
Vào một quán nước bình dân trong Chợ Lớn ta có thể gọi một ly suỵt xủi và người phục vụ đem ra một ly đá chanh mát lạnh. Có người gọi nước đá chanh là “bất hiếu tử” vì dám cả gan “đánh cha” nhưng nói lái lại là… đá chanh! Tại các tiệm “cà phê hủ tiếu” luôn luôn có bình trà để khách có thể nhâm nhi nhậm xà (uống trà) trước khi gọi phổ ky đến để thảy xu (tính tiền). (Nhậm xà còn có nghĩa là tiền hối lộ, tiền trà nước). Người sành điệu còn “xổ” một tràng “broken Cantonese”: “Hầm bà làng kỵ tố?” (Hết thảy bao nhiêu tiền?).
Những từ ngữ vay mượn của người Tàu dùng lâu hóa quen nên có nhiều người không ngờ mình đã sử dụng ngôn ngữ ngoại lai. Chẳng hạn như ta thường lì xì cho con cháu vào dịp Tết hoặc lì xì cho thầy chú (cảnh sát) để tránh phiền nhiễu, cũng là một hình thức hối lộ.
(Ảnh: Manhhai, Flickr)
Lạp xưởng (người miền Bắc gọi là Lạp xường) là một món ăn có nguồn gốc từ bên Tàu, tiếng Quảng Châu là lạp trường: ngày lễ Tất niên và ruột heo khô. Cũng vì thế vào dịp giáp Tết các cửa hàng nổi tiếng như Đồng Khánh, Đông Hưng Viên trưng bày la liệt các loại lạp xưởng, nào là lạp xưởng mai quế lộ, lạp xưởng khô, lạp xưởng tươi…
Chế biến lạp xưởng là nghề của các Chú Ba trong Chợ Lớn. Lạp xưởng được làm từ thịt heo nạc và mỡ, xay nhuyễn, trộn với rượu, đường rồi nhồi vào ruột heo khô để chín bằng cách lên men tự nhiên. Lạp xưởng màu hồng hoặc nâu sậm vì chắc hẳn có thêm chút bột màu.
Lạp xưởng ở Sóc Trăng thuộc miền Lục tỉnh cũng rất nổi tiếng cùng với món bánh pía, một món đặc biệt của người Tiều gốc từ Triều Châu. Đôi khi bánh pía còn được gọi là bánh lột da, thực chất có nguồn gốc từ bánh trung thu theo kiểu Tô Châu nhưng khác với loại bánh trung thu mà ta thường thấy. Đây là loại bánh có nhiều lớp mỏng và nhân bánh có trộn thịt mỡ.
Bánh pía do một số người Minh Hương di cư sang Việt Nam từ thế kỷ 17 mang theo. Trước đây, việc làm bánh pía hoàn toàn mang tính thủ công và phục vụ cho nhu cầu của từng gia đình. Bánh pía ngày trước cũng khá đơn giản, vỏ ngoài làm bằng bột mì có nhiều lớp da mỏng bao lấy phần nhân, lớp da ngoài dày thường để in chữ, nhân làm bằng đậu xanh và mỡ heo chứ không có lòng đỏ trứng muối và các loại thành phần khác như ngày nay.
Do thị hiếu của người tiêu dùng mà các lò bánh mới thêm các thành phần hương liệu khác như sầu riêng, khoai môn, lòng đỏ trứng muối… Tại Sóc Trăng hiện có gần 50 lò chuyên sản xuất bánh pía. Tuy nhiên, số lò bánh và cửa hàng buôn bán tập trung đông nhất tại thị tứ Vũng Thơm (xã Phú Tâm, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng) nơi được xem là khởi thủy của làng nghề bánh pía.
Vịt quay Bắc Kinh và vịt quay Tứ Xuyên là những món “đặc sản” nổi tiếng của Tàu. Đặc trưng của món vịt quay là da vịt mỏng, giòn, màu vàng sậm. Tại miền Nam, vịt quay và thịt heo quay cũng được người Quảng Đông đưa vào danh sách ẩm thực. Bí quyết gia truyền của các món này là ướp ngũ vị hương rồi quay sao cho da giòn tan trong khi phần thịt vừa mềm lại vừa thơm.
Vịt quay hoặc heo quay theo đúng kiểu Tàu là phải ăn với bánh bao chay (không nhân) nhưng người Việt cũng chế thêm món bánh hỏi thịt quay ăn với các loại rau, chấm nước mắm cho hợp với khẩu vị. Ngày xưa, trong Chợ Lớn, nổi tiếng về heo quay, vịt quay có khu vực đường Tôn Thọ Tường, ở Sài Gòn thì khu Chợ Cũ có vài tiệm heo quay của người Tàu. Chuyện kể có một ông cà lăm đi mua thịt quay, khi ông lắp bắp: “Bán… cho tôi… 20 đồng… thịt quay…” thì Chú Ba với tay nghề chặt thịt cũng vừa chặt xong đúng 20 đồng!
(Ảnh: Manhhai, Flickr)
Hết “ăn” giờ lại sang đến “chơi” trong ngôn ngữ vay mượn của người Tàu. Chuyện cờ bạc trong ngôn từ của người Sài Gòn xưa đã xuất hiện không ít những từ ngữ từ tiếng Tàu. Tài Xỉu (phiên âm từ tiếng Tàu có nghĩa là Đại – Tiểu) là trò chơi dân gian có từ rất lâu. Chỉ cần 1 cái đĩa, 1 cái bát và 3 hạt xí ngầu cũng có thể lập sòng tài xỉu nên còn có tên là sóc đĩa.
Hột xí ngầu có sáu mặt, mỗi mặt có từ một đến sáu chấm, tương đương từ một đến sáu điểm. Khi ráp sòng, người ta để cả ba hột lên chiếc đĩa sứ, chụp bát lên trên rồi lắc. Tổng số điểm của ba hột từ mười trở xuống gọi là xỉu, trên con số mười là tài. Sau khi chủ sòng lắc đĩa, người chơi đoán hoặc tài hoặc xỉu mà đặt cược. Chuyện thắng thua trong tài xỉu tùy thuộc vào tay nghề của người xóc đĩa, còn được gọi là hồ lỳ. Xác suất chủ sòng là từ 60 đến 70% thắng nhưng vì lỡ mang kiếp đỏ đen nên con bạc vẫn bị thu hút vào sòng xóc đĩa.
Các loại bài và hình thức chơi bài cũng có xuất xứ từ tiếng Tàu. Binh xập xám (13 cây) có những thuật ngữ như mậu binh (không cần binh cũng thắng), cù lủ (full house) là 3 con bài cùng số và một cặp đôi, ví dụ như 3 con chín và 2 con K (lớn nhất là cù lủ ách (ace), nhỏ nhất dĩ nhiên là cù lủ hai), thùng (flush) là 5 con cùng nước (suit) mà không theo trật tự liền nhau, ngược lại là sảnh (straight) là 5 con theo trật tự liền nhau nhưng không cùng nước. Kho từ vựng trong xập xám còn có xám chi (3 con cùng loại – three of a kind), thú (two) hay thú phé (two separate pairs) là 2 cặp và 1 con bất kì nào khác. “Thứ nhất tứ quý (4 con bài cùng số) thứ nhì đồng hoa (cùng một nước như cơ, rô, chuồn, bích)” là một trong số cả rừng từ ngữ của dân binh xập xám.
Ở phần trên đã bàn về hai khía cạnh “ăn” và “chơi”, còn một khía cạnh đóng vai trò không kém phần quan trọng là “làm” của người Tàu. Nghề nghiệp được xếp thấp nhất của người Tàu là nghề lạc xoong hay nói theo tiếng Việt là mua ve chai, người miền Bắc gọi là đồng nát.
Chú Hỏa (1845-1901), người Phúc Kiến, xuất thân từ nghề này nhưng về sau lại là một trong 4 người giàu nhất Sài Gòn xưa: “Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Hỏa”. Bốn triệu phú ngày xưa gồm các ông Huyện Sỹ (Lê Phát Đạt), Tổng đốc Phương (Đỗ Hữu Phương), Bá hộ Xường (Lý Tường Quan) và Chú Hỏa (Hui Bon Hoa hay Hứa Bổn Hòa).
Một số người Tàu hành nghề bán chạp phô với các mặt hàng thuộc loại tả pín lù nhưng sẵn sàng đáp ứng được mọi nhu cầu hàng ngày của người lao động trong xóm. Tiệm chạp phô chỉ có mục đích lượm bạc cắc từ cây kim, sợi chỉ đến cục xà bông Cô Ba, quả trứng, thẻ đường. Người Tàu kiên trì trong công việc bán tạp hóa, ông chủ ung dung đếm tiền mỗi tối và ẩn dưới tiệm chạp phô là cả một gia tài được tích lũy. Người ta chỉ phát hiện điều này khi có phong trào vượt biên. Tính rẻ “3 cây một người” thế mà cả gia đình chủ tiệm chạp phô vẫn thừa sức vượt biển để tìm đến bến bờ tự do.
(Ảnh: Manhhai, Flickr)
Cao cấp hơn là những xì thẩu, những người thành công trong kinh doanh mà ngày nay ta gọi là đại gia. Điển hình cho giai cấp xì thẩu là Trần Thành, bang trưởng Triều Châu, với hãng bột ngọt Vị Hương Tố rồi các mặt hàng mì gói Hai Con Tôm, nước tương, tàu vị yểu đã chinh phục thị trường miền Nam từ thập niên 60 để trở thành “ông vua không ngai trong vương quốc Chợ Lớn”.
Xì thẩu Lý Long Thân làm chủ 11 ngành sản xuất và dịch vụ, 23 hãng xưởng lớn: hãng dệt Vinatexco, Vimytex, hãng nhuộm Vinatefinco, hãng cán sắt Vicasa, hãng dầu ăn Nakyco, hãng bánh ngọt Lubico, Ngân Hàng Nam Việt, Ngân Hàng Trung Nam, khách sạn Arc en Ciel, hãng tàu Rạng Đông…
Xì thẩu Lâm Huê Hồ được nhiều người gọi là “chủ nợ của các ông chủ”. Ông là người giữ nhiều tiền mặt nhất miền Nam, số tiền ông có trong tay bằng vốn của nhiều ngân hàng tư nhân cỡ nhỏ như Nam Đô, Trung Việt gộp lại. Lâm Huê Hồ còn nổi tiếng là vua phế liệu, chuyên thầu quân cụ và võ khí phế thải rồi bán lại cho những doanh nhân trong ngành luyện cán sắt hay bán lại cho Nhật Bản. Người Sài Gòn thường nói: “Trần Thành, Lý Long Thân chỉ có Tiếng nhưng Lâm Huê Hồ lại có Miếng”.
Xì thẩu Vương Đạo Nghĩa, chủ hãng kem Hynos, là một người có óc làm ăn cấp tiến. Ông là người có rất nhiều sáng kiến để quảng cáo sản phẩm trên các cửa hàng ăn uống, chợ búa, hệ thống truyền thanh và truyền hình. Ông cũng là người đầu tiên biết vận dụng phim võ hiệp và tình báo kiểu Hồng Kông vào quảng cáo. Người dân miền Nam không thể quên hình ảnh tài tử Vương Vũ giải thoát các xe hàng do đoàn bảo tiêu hộ tống thoát khỏi quân cướp: mở thùng ra chỉ toàn kem đánh răng Hynos!
(Ảnh: Manhhai, Flickr)
Có rất nhiều xì thẩu được Sài Gòn xưa phong tặng danh hiệu Vua. Trương Vĩ Nhiên, “vua ciné”, là chủ hãng phim Viễn Đông và gần 20 rạp ciné tại Sài Gòn – Chợ Lớn: Eden, Đại Nam, Opéra, Oscar, Lệ Thanh, Hoàng Cung, Đại Quang, Palace, Thủ Đô…; Lý Hoa, “vua xăng dầu”, là đại diện độc quyền các hãng Esso, Caltex, Shell phân phối nhiên liệu cho thị trường nội địa; Đào Mậu, “vua ngân hàng”, Tổng giám đốc Trung Hoa Ngân Hàng (một trong hai ngân hàng châu Á lớn nhất tại Sài Gòn cùng với Thượng Hải Ngân Hàng).
Bên cạnh đó lại có Lại Kim Dung là “nữ hoàng gạo”. Giá gạo tại miền Nam là do công ty của bà ấn định, chính phủ đã có lúc phải hợp tác với “nữ hoàng gạo” để ổn định giá gạo trên thị trường. Trong các buổi tiếp tân lớn, bà Kim Dung luôn xuất hiện bên cạnh các mệnh phụ phu nhân.
Tạ Vinh là một trường hợp xì thẩu đặc biệt. Năm 1964, Tạ Vinh bị Ủy Ban Hành Pháp Trung ương của Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ xử bắn tại pháp trường cát trước chợ Bến Thành vì tội “gian thương, đầu cơ tích trữ gạo, gây xáo trộn thị trường”. Dân chúng và báo chí gọi Tạ Vinh là “hạm gạo”. Ông Kỳ muốn cảnh cáo giới tài phiệt gốc Hoa không nên quá lạm dụng tình trạng chiến tranh để làm giàu phi pháp, ông đã tổ chức một cuộc họp kín gồm đủ thành phần đại xì thẩu tại Sài Gòn-Chợ Lớn để cảnh cáo.
Nguyễn Ngọc Chính
Đăng lại từ diễn đàn Hội quán Phi Dũng (hoiquanphidung.com)
Chú thích:
(1) Bình- nguyên Lộc là bút hiệu của Tô Văn Tuấn (1914-1987) với cách viết tên rất cầu kỳ: có gạch nối giữa Bình và nguyên, nhưng không có gạch nối giữa nguyên và Lộc, chữ nguyên lại được viết với mẫu tự n không hoa. Nguiễn Ngu-Í trong “Sống và viết với… Bình-nguyên Lộc”, gọi ông là “một trong tam kiệt của miền Nam” bên cạnh Hồ Biểu Chánh và Lê Văn Trương. Bình-nguyên Lộc có khoảng 50 truyện dài, 1.000 truyện ngắn và 4 quyển sách nghiên cứu, trong đó quyển Nguồn Gốc Mã Lai Của Dân Tộc Việt Nam chỉ được in phần đầu, phần còn lại khoảng 800 trang viết tay coi như bị thất lạc. Tác phẩm nổi tiếng phải kể đến Đò dọc, Rừng mắm, Cuống rún chưa lìa…
(2) Sữa Ông Thọ là tên gọi của hiệu sữa Longevity trước đây thuộc hãng sữa Foremost. Tên được dùng trước năm 1975 với hình Ông Thọ trong Tam Đa (Phước, Lộc, Thọ) để minh họa. Sau năm 1975, Vinamilk sử dụng lại tên Ông Thọ nên khi Foremost quay trở lại Việt Nam kiện đòi lại thương hiệu nhưng thất bại nên phải dùng nhãn hiệu Longevity. Hiện nay Longevity đã được chuyển nhượng cho Dutch Lady VN với cái tên Sữa đặc Trường Sinh.
(3) Sữa Con Chim của hãng Nestlé (Thụy Sĩ) đặt chân đến Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1916. Trải qua nhiều thập kỷ, các sản phẩm như Guigoz, Lait Mont-Blanc, Maggi đã trở nên thân thuộc với các thế hệ người Việt. Nestlé trở lại Việt Nam vào năm 1990, và mở một văn phòng đại diện vào năm 1993. Vào năm 1995, Công ty Nestlé Việt Nam (100% vốn đầu tư nước ngoài) được thành lập, trực thuộc tập đoàn…
From: Doan Dang
Sao không cho Sài Gòn khóc vậy
Sao không cho Sài Gòn khóc vậy,
Tôi không biết những người cấm Sài Gòn khóc, mỉa mai những lời cảm thương, họ có ở gần đáy xã hội bao giờ không. Nếu họ ở gần một cái chợ tự phát bị dẹp, họ sẽ thấy những người bán rau, bán cá lén lút bưng mẹt chạy ra chạy vô một ngày không biết bao nhiêu lần, nếu bị phạt bao nhiêu tiền một lần biết không. Tôi đã đứng nhìn những ánh mắt những bàn tay mệt mỏi của người bán rau bán cá đó, không biết họ có khóc không nhưng tim tôi đầy ngậm ngùi.
Người giàu thì không khóc đúng không. Ban đêm hãy đi ra quận 1 để nhìn những khách sạn bề thế nằm im hàng đêm như con mèo kiệt sức. Khách sạn Caravelle không một bóng người ở sảnh chỉ còn những hàng ghế im lặng nói chuyện với nhau. Nằm im nhưng nợ nần thì vẫn sống mãnh liệt cùng virus. Anh có thể không khóc nhưng có người phải cầm nhà cầm cửa để trả nợ đời. Tôi tin là người ta cũng ngấn lệ.
Tại sao anh lại thấy khó chịu khi Sài Gòn yếu đuối. Sài Gòn là cái qué gì mà cứ đòi hỏi phải mạnh mẽ, gồng lên, ý chí lên mãi. Cứ để cho Sài Gòn thể hiện cảm xúc tự nhiên trong nỗi tổn thương của mình, sao người yêu anh buồn thì khóc được còn người Sài Gòn đau khổ thì không được tự nhận là mình đau khổ? Sao những nơi khác buồn khổ người ta có thể làm thơ viết nhạc còn Sài Gòn thì không?
Ai cũng có quyền thể hiện trạng thái của mình, đó chính là sự phong phú làm nên Sài Gòn. Anh cứ nói theo cách của mình nhưng đừng dùng sự quy chụp, duy ý chí áp đặt lên những thành phần xã hội khác. Sự ồn ào có giá trị của ồn ào nhưng mảnh mai cũng là một vẻ đẹp khác.
Cái mà Sài Gòn đang cần lắm, trong góc nhìn của riêng tôi, đó chính là lời cầu nguyện. Một đời sống cần thêm tâm linh bên cạnh những giải pháp vô cùng vất vả khác. Hãy thành tâm cầu nguyện cho Sài Gòn nữa, ngoài những lời lẽ bất tận.
(Ảnh Diệu Qúy)
FB Trương Bảo Châu
5 ĐIỀU NHẠY CẢM NGƯỜI MIỀN BẮC NÊN BIẾT VỀ MIỀN NAM

5 ĐIỀU NHẠY CẢM NGƯỜI MIỀN BẮC NÊN BIẾT VỀ MIỀN NAM
*Trịnh Hữu Long, Luật-Khoa tạp chí
Sự khác biệt vùng miền là chuyện hết sức bình thường, ở nước nào cũng có. Nhưng để cho những sự khác biệt đó trở thành lối ứng xử kỳ thị vùng miền thì là đại họa, bởi nó là ngọn nguồn của bạo lực. Hiểu về những điều khác biệt đó để tìm ra cách ứng xử phù hợp, do vậy, trở nên đặc biệt quan trọng.
Sự khác biệt, và cả kỳ thị, mang tên Bắc Kỳ – Nam Kỳ là một câu chuyện bắt buộc phải có lời giải trong một cộng đồng dân tộc. Trong bài này, tôi xin chia sẻ một số hiểu biết rời rạc của bản thân nhằm giúp những người miền Bắc như tôi hiểu hơn về vài điều nhạy cảm về chính trị của miền Nam. Không có gì là tuyệt đối, tôi không quy chụp mọi thứ cho một vùng miền nào, nhưng có những khác biệt đáng kể mang tính phổ biến.
Tôi không có ý lên án những người miền Bắc thiếu tế nhị trong cách hành xử với người miền Nam, bởi chính tôi cũng chỉ học được những điều dưới đây khi ngấp nghé độ tuổi 30. Và tôi viết những điều này với ý thức rằng sự kỳ thị có thể đến từ cả hai phía. Không có tham vọng giải quyết hết được mọi vấn đề trong một bài viết, tôi mạn phép thảo luận chuyện này từ một góc còn ít được nói đến hiện nay.
- Người miền Nam nhìn “cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước” khác người miền Bắc
Người miền Bắc không có cách nào khác để nhìn nhận giai đoạn lịch sử 1954 – 1975 ngoài “cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước”. [1] Họ coi việc đất nước bị chia cắt là không thể chấp nhận, coi Mỹ và chính quyền Sài Gòn là kẻ thù, và coi người dân miền Nam là những nạn nhân cần phải được “giải phóng”.
Nhưng mọi chuyện rất khác khi nhìn từ lăng kính của người miền Nam.
Họ coi một nửa đất nước – miền Nam – là một quốc gia hoàn chỉnh có tên Việt Nam Cộng hòa (từ 1955). Góc nhìn này trùng khớp với góc nhìn của công pháp quốc tế. [2]
Họ trân trọng lá cờ vàng ba sọc đỏ, quốc kỳ của Việt Nam Cộng hòa. Trong khi đó, lá cờ này lại bị xa lánh, kỳ thị ở miền Bắc.
Họ không sống với lý tưởng phải “giải phóng” miền Bắc. Toàn bộ giai đoạn 1954 – 1975 là cuộc đấu tranh gìn giữ miền Nam trước các cuộc “xâm lăng” và “khủng bố” của miền Bắc. Nếu nghe lại các bài nhạc vàng, ta dễ thấy họ gọi quân miền Bắc là “giặc”, “quân thù”. Rất nhiều người miền Nam đã mất mạng ngay trên đất miền Nam dưới nòng súng của miền Bắc, đặc biệt là trong trận Mậu Thân năm 1968. [3]
Họ coi chính quyền Sài Gòn là chính quyền hợp pháp của họ. Họ kính trọng Tổng thống Ngô Đình Diệm [4] của nền Đệ nhất Cộng hòa, [5] họ lập ra Hiến pháp 1967 và bầu ra chính quyền Nguyễn Văn Thiệu của nền Đệ nhị Cộng hòa. [6] Và mặc dù có rất nhiều bất đồng với các quan chức, họ không coi chính quyền đó là kẻ thù.
Họ coi Mỹ là đồng minh, là một đất nước tiến bộ. Thời Việt Nam Cộng hòa, người miền Nam coi việc đi Mỹ du học là một thành tựu lớn trong đời. Họ nhìn lính Mỹ ở miền Nam như những người bảo vệ họ trước miền Bắc, mặc dù có thể họ không hài lòng với việc có quân đội ngoại quốc trên đất Việt Nam.
Khác với niềm tin mãnh liệt của người miền Bắc thời kỳ đó, người miền Nam không có nhu cầu được giải phóng. Họ có một nền kinh tế, giáo dục, kỹ nghệ, nông nghiệp phát triển hơn hẳn miền Bắc. Và đặc biệt, họ có thứ tự do chính trị mà chính Hồ Chí Minh đã dành cả tuổi trẻ để tranh đấu nhưng lại hoàn toàn vắng bóng ở miền Bắc.
Ngày 30/4/1975 với phần lớn người miền Nam là ngày “mất nước” và là ngày bắt đầu một chuỗi bi kịch khổng lồ.
- Người miền Nam bị truy bức về chính trị sau năm 1975
Sau ngày mà người miền Bắc gọi là “giải phóng miền Nam”, người miền Nam bắt đầu bị truy bức về chính trị.
Những ai từng đi lính hay làm việc cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa (kể cả giáo viên) đều bị đưa đi trại cải tạo. [7] Gọi là trại cải tạo (re-education camp) nhưng về bản chất không khác gì các trại tập trung (concentration camp) của phát-xít Đức ngày xưa. Có đến 21 trại cải tạo được lập ra sau chiến tranh, giam giữ khoảng 300 nghìn người, trực tiếp ảnh hưởng tới hàng triệu người khác. [8]
Người miền Nam bị bắt vào đây mà hoàn toàn không qua bất kỳ một phiên tòa xét xử nào. [9] Họ phải lao động khổ sai. Rất nhiều người đã chết ở đây, suy kiệt sức khỏe và tinh thần ở đây. Họ bị giam giữ hàng năm, thậm chí hơn mười năm trời mà không được, hoặc rất ít khi được gặp gia đình. Những ai sống sót trở về thì gia đình hoặc là cũng đã ly tán, hoặc là khánh kiệt, bị chính quyền mới phân biệt đối xử, gặp khó dễ khi làm giấy tờ, con cái không được đi học đại học, nhìn chung đã rơi xuống đáy xã hội.
Người miền Bắc hay đùa cợt về việc “đi cải tạo”, biến nó thành một thành ngữ mà không cân nhắc kỹ đến bi kịch khủng khiếp này của hàng triệu người miền Nam. Với người miền Nam ngày nay, “đi cải tạo” vĩnh viễn là một cơn ác mộng, một nỗi đau không bao giờ dứt.
- Người miền Nam bị bần cùng hóa sau năm 1975
Sau khi “giải phóng” xong, chính quyền mới áp đặt nền kinh tế kế hoạch hóa, tập thể hóa lên toàn miền Nam. Ngày nay, chúng ta biết rằng đó là một thảm họa kinh tế đã dẫn toàn bộ đất nước tới khủng hoảng trầm trọng và ngấp nghé bờ vực sụp đổ vào thập niên 1980. [10] Cuộc khủng hoảng đó nghiêm trọng tới nỗi Đảng Cộng sản phải thừa nhận sai lầm, từ bỏ giáo điều kinh tế Mác – Lê-nin để “đổi mới”, chuyển sang kinh tế tư bản chủ nghĩa, mà ngày nay họ gọi là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. [11]
Cái nền kinh tế thị trường ngày nay, trên thực tế, đã từng là một hiện thực ở miền Nam trước năm 1975. Chuyện mở công ty làm ăn, phát hành cổ phiếu, giao thương với nước ngoài, tiếp nhận các nhà đầu tư nước ngoài là chuyện hết sức bình thường.
Với một nền kinh tế thị trường tự do như vậy, miền Nam đã có các đô thị thịnh vượng. Mặc dù mức sống ở nông thôn còn thấp nhưng không đến mức đói khổ như miền Bắc, và cơ hội làm giàu luôn hiện hữu, khác với miền Bắc coi làm giàu là chuyện sai trái.
Người miền Nam sau năm 1975 như bị đẩy xuống vực sâu, bởi tài sản của họ bị tịch thu, doanh nghiệp phải đóng cửa, việc làm ăn buôn bán bị cấm đoán, hàng hóa tắc nghẽn vì ngăn sông cấm chợ, đường nhựa ở đô thị bị cày lên trồng khoai, rất nhiều người bị đưa đi các vùng kinh tế mới, v.v.
Cùng với nạn truy bức chính trị thì việc bị bần cùng hóa về kinh tế như vậy càng làm dày thêm tấn bi kịch của họ.
- Người miền Nam phải liều mạng bỏ nước ra đi
Người miền Bắc hay đùa cợt chuyện “vượt biên” nhưng không biết gì đáng kể về phong trào vượt biên ở miền Nam sau năm 1975.
Vì bị truy bức chính trị, bị bần cùng hóa về kinh tế, và bị phân biệt đối xử nặng nề, rất nhiều người miền Nam đã đi đến một quyết định táo bạo, và với họ là quyết định duy nhất hợp lý: liều mạng vượt biên đi tìm một cuộc sống mới. [12]
Ước tính có hơn một triệu người đã vượt biển bằng thuyền với hy vọng được tàu nước ngoài cứu hoặc đến được với bờ biển của các nước, vùng lãnh thổ láng giềng như Philippines, Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Hong Kong. Họ trở thành một hiện tượng lịch sử, một thảm họa nhân đạo có tên “Thuyền nhân Việt Nam” (Vietnamese Boat People). Hàng trăm ngàn người trong số họ chết trên biển. Số còn lại đạt được mục đích và sau này đi định cư ở các nước như Mỹ, Canada, Úc và một số nước châu Âu. Một số ít khác đến Ấn Độ, Nhật, tùy thuộc vào việc họ được tàu nước nào cứu. Họ ngày nay trở thành phần lớn của cộng đồng người Việt hải ngoại.
Một số khác thì vượt biên đường bộ sang Campuchia rồi tới Thái Lan. Số này không nhiều bằng thuyền nhân.
Khi ra đi, họ mang tâm thế rằng nếu đi được sẽ liên lạc về gia đình, gửi tiền về nuôi gia đình, và nếu thuận lợi thì sẽ tìm cách đưa gia đình ra nước ngoài. Thực tế là sau khi đã định cư được ở các nước tự do, họ đã làm thủ tục bảo lãnh đưa gia đình sang.
“Tị nạn” là một từ hay bị mang ra để chế giễu ở miền Bắc, nhưng họ không biết rằng với hàng triệu người miền Nam, đi tị nạn từng là lối thoát duy nhất cho cuộc sống của họ.
- Bi kịch của người miền Nam chưa bao giờ được thừa nhận
Tất cả những bi kịch khổng lồ như vậy của người miền Nam chưa bao giờ được thừa nhận, chứ chưa nói gì đến một lời xin lỗi từ chính quyền.
Họ không được thừa nhận là đã bị truy bức chính trị.
Họ không được thừa nhận là đã bị cướp mất kế sinh nhai.
Họ không được thừa nhận là đã bị phân biệt đối xử nặng nề.
Họ không được thừa nhận là đã bị ép vào đường cùng phải liều mạng bỏ Tổ quốc ra đi.
Không những không được thừa nhận, không được xin lỗi, năm nào người miền Nam cũng phải chịu đựng những lời ngợi ca “chiến thắng 30/4”. Nghĩa trang quân nhân Việt Nam Cộng hòa không có mấy ai chăm sóc, bị hoang hóa đi theo thời gian. Thương phế binh Việt Nam Cộng hòa bị chính quyền bỏ mặc, phải nương tựa vào nhau và vào sự hỗ trợ của cộng đồng. Trong khi đó, những người miền Nam xưa kia bỏ nước ra đi giờ đây đang gửi mỗi năm hàng chục tỷ đô-la tiền mặt về nước (trong tổng số kiều hối năm 2020 là 17,2 tỷ USD). [13]
Với chừng ấy vết thương mà lịch sử để lại, người miền Nam trở nên đặc biệt nhạy cảm với hàng loạt từ, ngữ, diễn ngôn chính trị cũng như cách hành xử. Người miền Bắc nên biết rằng những vết thương này chưa bao giờ được vá lại và nên chọn lấy cách ứng xử phù hợp nhất trong cả lời nói lẫn hành động.
—
Ghi chú:
- Dân, B. N. (2015, April 23). Thắng lợi vĩ đại của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước là thắng lợi của đường lối và nghệ thuật quân sự Việt Nam dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng. Báo Nhân Dân. https://nhandan.vn/…/thang-loi-vi-dai-cua-su-nghiep…
- Trung, N. Q. T. (2021b, April 29). 30/4 – Xâm lược hay giải phóng: Từ góc nhìn công pháp quốc tế. Luật Khoa Tạp Chí. https://www.luatkhoa.org/…/30-4-xam-luoc-hay-giai-phong…
- Britannica, T. Editors of Encyclopaedia (Invalid Date). Tet Offensive. Encyclopedia Britannica. https://www.britannica.com/topic/Tet-Offensive
- Quản, V. V. (2020, April 22). Cuộc trưng cầu dân ý đưa Ngô Đình Diệm lên chức tổng thống có dân chủ? Luật Khoa Tạp Chí. https://www.luatkhoa.org/…/cuoc-trung-cau-dan-y-dua-ngo…
- Quản, V. V. (2021c, May 10). 8 điều đáng chú ý về Hiến pháp 1956 của Việt Nam Cộng hòa. Luật Khoa Tạp Chí. https://www.luatkhoa.org/…/8-dieu-dang-chu-y-ve-hien…
- Quản, V. V. (2021a, March 28). Bầu cử năm 1967 ở miền Nam: Dân chủ nhất trong lịch sử Việt Nam? Luật Khoa Tạp Chí. https://www.luatkhoa.org/…/bau-cu-nam-1967-o-mien-nam…
- HOANG, T. (2016). From Reeducation Camps to Little Saigons: Historicizing Vietnamese Diasporic Anticommunism. Journal of Vietnamese Studies, 11(2), 43-95. Retrieved July 5, 2021, from https://www.jstor.org/stable/26377909
- Kiernan, B. (2017). Chapter 11: The Making of Comtemporary Việt Nam, 1975–2016. In Việt Nam – A history from earliest times to the present (pp. 452–455). Oxford University Press.
- Vi, Q. (2020, March 4). Trại cải tạo sau 30–4-1975: Lục lại một báo cáo của Ân xá Quốc tế năm 1981. Luật Khoa Tạp Chí. https://www.luatkhoa.org/…/trai-cai-tao-sau-30-4-1975…
- Kimura, T. (1986). Vietnam–Ten Years of Economic Struggle. Asian Survey, 26(10), 1039-1055. doi:10.2307/2644255
- ANU E Press Board, Viet Nam: A Transition Tiger? The Introduction of Doi Moi,The Australia National University E Press (2003) 65.internet. 27desember 2015. http://press.anu.edu.au
- Quan Tue Tran. (2012). Remembering the Boat People Exodus: A Tale of Two Memorials. Journal of Vietnamese Studies, 7(3), 80-121. doi:10.1525/vs.2012.7.3.80
- Vũ – Đ. (2021, May 17). Hơn 17,2 tỷ USD kiều hối đổ về Việt Nam trong năm 2020. VnEconomy, https://vneconomy.vn/hon-17-2-ty-usd-kieu-hoi-do-ve-viet…
—
Nguồn: https://www.luatkhoa.org/…/5-dieu-nhay-cam-nguoi-mien…/
Sự thật không bao giờ cũ
Bởi AdminTD
3-7-2021
Việc Ban quản trị Facebook xóa bài của tôi, thực ra là do những DLV đánh phá, hóa ra rất phản tác dụng. Tôi không bịa đặt một chi tiết nhỏ, vì thế tôi hoàn toàn bình thản. Sự thật không bao giờ cũ. Một nhà triết học, kịch tác gia cổ Hy Lạp có câu nói bất hủ: “Tôi nắm trong tay sức mạnh của sự thật”. Không vũ khí hủy diệt nào xóa được sự thật. Mong các vị nhớ cho điều đó.
Tự truyện (một kiểu hồi kí) DƯỚI BÀN TAY VÔ HÌNH tôi viết xong từ năm 2012. Sau khi về hưu, tôi có sửa sang lại, bổ sung vài chi tiết không đáng kể. Nó gần 200.000 chữ. Phần viết về nạn quân phiệt trong quân đội (chỉ kể lại những gì tôi chứng kiến tận mắt và những gì tôi trải qua (như bài viết vừa rồi) gồm hai chương: NƠI HẦM TỐI và CHUỘC TỘI chiếm gần 1/6 cuốn sách.
Bài vừa bị xóa chỉ là phần rất nhỏ, chưa bằng 1/10 của hai phần trên và chưa phải là chuyện kinh khủng nhất. Chuyện kinh khủng nhất xảy ra với một quân nhân tên là Tiện, cùng lúc bị năm tên chỉ huy và một A trưởng hạ sỹ quan (tôi ghi tên từng thằng) lao vào đánh đấm trước mặt hơn 200 tân binh (trong đó có tôi).
Khi ông Lê Đức Anh qua đời, tôi đọc thấy có bài báo hiếm hoi nói về việc ông nhắc tới nạn quân phiệt trong quân đội. Tôi đã định nhân cớ ấy kể về chuyện tôi bị tra tấn, để lãnh đạo Bộ Quốc phòng biết một sự thật nhức nhối, diễn ra tàn khốc nhưng luôn bị bao che, tuy gần đây có giảm nhưng vẫn chưa chấm dứt, tại các đơn vị quân đội. Nhưng rồi nhìn vài gương mặt, tôi cảm thấy chưa phải là lúc.
Chắc chắn Bộ Quốc phòng còn lưu trữ hồ sơ về những vụ lính bắn chỉ huy, (dù chủ yếu bị giấu, thì cũng khá nhiều) chỉ vì bị ngược đãi, tra tấn.
Hẳn chuyến đi thị sát của bà Nguyễn Thị Bình đến một số đơn vị bộ đội khoảng năm 1987, còn lưu trong hồ sơ công tác của Quốc Hội. Bà Bình đi chuyến công tác ấy vì có đơn thư tố cáo nạn quân phiệt ào ạt gửi về từ khắp nơi.
Còn đây là đoạn đối thoại giữa Thiếu tá Lưu Văn Hậu, trung đoàn phó chính trị trung đoàn 254, sư đoàn 355 với tôi, khi báo Chiến sỹ Tây Bắc yêu cầu trung đoàn 254 giải quyết vụ việc tôi tố cáo: (Xin nói qua: Sau khi ông Hậu dọa tôi bằng súng không xong thì ông ấy quay sang “mua” tôi bằng thuốc lá. Đoạn đối thoại dưới đây điễn ra trong ngữ cảnh ấy).
“Chú mày là dân viết lách, hẳn phải rất hiểu biết. Chú mày thấy đấy, anh em chúng nó có sung sướng gì đâu. Trong khi ở Hà Nội, những người chả có công lao chó gì cũng còn được ưu đãi đủ thứ. Nào là lương bổng, tiêu chuẩn thực phẩm, nhà cửa, xe cộ… lại được kè kè bên vợ con để hú hí đêm ngày. Vậy mà anh em ở đây thì quanh năm chỉ cứ sẵn sàng chiến đấu, hy sinh. Ăn uống thì kham khổ. Thành ra chúng nó cũng bức xúc. Không biết trút vào đâu thì trút lên lính tráng. Bậy vô cùng. Anh sẽ không để yên cho những hành vi như em vừa tố cáo. Mà em nói toàn sự thật, anh công nhận. Nhưng ngoài xã hội tiêu cực nhiều quá, tham ô, hối lộ, giết người, lừa thầy phản bạn, chạy chức chạy quyền tùm lum… đủ cả. Quân đội cũng là một phần của xã hội, làm sao thoát không bị tệ nạn nó tràn vào. Nó tràn vào một bộ phận thôi. Nhưng con sâu làm rầu nồi canh. Mình cũng nên công bằng mà nhìn nhận. Và phải có thời gian em ạ. Không thể đem kỷ luật đuổi về xuôi hết được. Lấy ai chỉ huy? Lấy ai canh biên giới? Liệu có bảo mấy thằng béo mẫm dưới xuôi, chỉ quen ngồi chảy bụng ra trong phòng lạnh, lên thay vào vị trí chúng nó được không. Chả có đứa ma nào lên đâu em ạ. Gớm, còn lâu nhé, tao biết tỏng. Tao nói cho mày biết, tin mật đấy nhé. Chúng tao vừa được thông báo một thằng lính ở X.M dùng B40 thiêu cháy cả một tiểu đoàn bộ, cũng vì quân phiệt của chỉ huy… Các mặt trận khác cũng đầy rẫy. Lạng Sơn, Quảng Ninh… có cả. Lính viết thư bằng máu tố cáo chỉ huy gửi đến tận Quốc Hội, Trung ương Đoàn thanh niên. Nói thế để chú em hiểu, không phải cấp trên không biết. Nhưng từ biết đến xử lý cần phải có một thời gian. Anh khẳng định, hiện tượng quân phiệt là nghiêm trọng và phải chấm dứt, không được phép tồn tại, anh đồng ý với mày về cơ bản. Nhưng anh nói lại, phải cho anh thời gian. Nếu chú mày lại gửi đơn đi tiếp thì khác nào bắt bí anh…” (Hết trích)
Tại sao tôi đăng bài viết trong dịp này.
Thứ nhất: tôi không thể im lặng trong vụ việc của cháu Trần Đức Đô. Là nhà văn, nếu tôi im lặng trước bất công, thì xin bạn đọc hãy đái vào tác phẩm của tôi và tiện thể đái luôn vào tôi.
Thứ hai: tôi có thiện cảm rõ ràng với Thượng tướng Phan Văn Giang, qua một vài việc ông ấy làm, qua những lần ông ấy nói và qua gương mặt ông. Tôi hy vọng ông Phan Văn Giang sẽ cải cách triệt để quân đội, để nó thực sự mạnh, đủ sức đương đầu lâu dài với gã khổng lồ phương Bắc ngày càng khốn nạn.
Chỉ đơn giản vậy thôi.
_________________
Chú thích ảnh: Người ngồi đặt tay lên vai tôi là Bùi Minh Thắng, nguyên hiệu phó trường đào tạo Ngân Hàng Trung Ương, vừa nghỉ hưu, là người cũng bị chỉ huy Đại đội 3, tiểu đoàn Bảy, Trung Đoàn 254 (tên là Ngọc) hành hung vô cớ.
Tin về nhà báo độc lập Lê Dũng VoVa
02.07.2021
Tin về nhà báo độc lập Lê Dũng VoVa :
Chị Huệ Bùi, vợ của anh Dũng Vova vừa chia sẻ trên trang cá nhân :
Như cô chú, anh chị em cũng đã biết, phía truyền thông đưa tin về việc chồng tôi là anh Lê Văn Dũng bị bắt sáng ngày 30/6/2021, với tội danh mơ hồ : Làm , tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin , tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam quy định tại điều 117, Bộ luật hình sự.
Nhưng tôi muốn chờ đến khi có thông báo của cơ quan an ninh điều tra, sẽ đăng thông tin chính thức tới cộng đồng mạng và các anh chị em quan tâm được biết.
Tới sáng nay ngày 02/07/2021 tôi mới nhận được thông báo từ phía cơ quan an ninh điều tra – Công an TP Hà Nội . Cùng trong buổi sáng nay tôi đã tới trại tạm giam số 1- CA Thành Phố Hà Nội để gửi quần áo và đồ dùng cá nhân cho chồng tôi. Về phía trại tạm giam đã tiếp nhận những đồ dùng mà tôi gửi vào cho anh Dũng, còn anh Dũng có nhận được hay không thì phải đến lần gửi đồ tiếp theo tôi mới biết được.
Vậy tôi viết tin này để cô chú anh chị em quan tâm tới chồng tôi trong những ngày vừa qua được biết. Tôi cũng gửi lời cám ơn chân thành nhất tới các cô chú, anh chị em đã chia sẻ động viên tinh thần cho gia đình tôi.
Tôi tin chồng tôi anh Lê Văn Dũng không có tội. Những điều anh nói, những việc anh làm đều là đúng với lương tâm của mình.
CHÍNH QUYỀN CỦA TƯỢNG ĐÀI.
CHÍNH QUYỀN CỦA TƯỢNG ĐÀI.
Liên tiếp trong 3 ngày 21,22,23 có 3 người dân nhảy sông tự tử ở tp HCM, nghe đâu lực lượng cứu hộ mới tìm được 2 thi thể.
Dịch cúm t.à. u đã ảnh hưởng nặng nề đến đời sống của nhân loại nói chung, và nhân dân VN nói riêng. Ở VN, nhiều gia đình vợ chồng thất nghiệp, họ thực sự không biết làm gì để tồn tại cho qua nạn dịch. Chẳng có ai giúp đỡ họ. Chẳng có hội đoàn nào an ủi họ. Chẳng có chính quyền nào đưa ra một chủ trương, một chính sách nào đó để hỗ trợ, tạo cơ hội cho những người thất nghiệp, người buôn bán bị bế tắc trong giai đoạn dịch bệnh kéo dài. Tuyệt vọng! Họ phải chọn cho mình 1 lối thoát, 1 lối thoát cuối cùng của 1 kiếp người.
Trong khi hơn 1 năm qua, người dân điêu đứng phải lo đối phó với dịch bệnh, đối phó với cái ăn hằng ngày, vì không đi làm được do phong tỏa, do giản cách xã hội…. Cũng trong thời gian hơn 1 năm dịch bệnh này, nhà nước không những không hỗ trợ nhân dân, mà còn ra sức kêu gọi nhân dân đóng góp cho nhà nước. Chính phủ ngửa tay nhận tiền đóng góp từ những đứa trẻ lên năm, lên bảy. Ngửa tay nhận tiền đóng góp từ những cụ già chắc chiu dành dụm phòng khi đau ốm tuổi già….
Nhà nước ra sức tăng giá nhiều mặt hàng tiêu dùng, chỉ riêng xăng dầu, trong 7 tháng qua đã tăng lên bình quân 6.000đ mỗi lít.
Nhà nước ra lệnh các cơ sở: may đo, giặt ủi, hớt tóc, bi da….trong tháng 8 này phải đóng thuế TNCN 2%. Khách hàng của các cơ sở này phải đóng thuế GTGT 5%. V.v…
Nếu, ngân sách nhà nước bị cạn kiệt, chính phủ buộc lòng phải kêu gọi đóng góp, buộc lòng phải tăng thuế tăng giá để ổn định nguồn thu, phục vụ lợi ích chung, thì chúng ta chẳng có gì phải phản ứng. Đằng này, nhà nước vắt kiệt sức dân trong lúc dịch bệnh để đắp vào những tượng đài vô tri, vô giác. Như:
– Ngày 8.5.2021 khởi công xây dựng cụm công trình hữu nghị Việt Nam-Campuchia ở Bình Phước (300 tỷ)
– Ngày 2.9.2021 khởi công xây dựng tượng đài bác Hồ ở Phú Quốc (350 tỷ)
– Ngày 25.6.2021 chọn mẫu xây tượng đài lưu niệm ở Thanh Hóa (255 tỷ).
Uất!! Thiết nghĩ, hãy đổi danh xưng: “chính quyền của dân, do dân, vì dân” thành ra: “chính quyền của tượng đài, do tượng đài, vì tượng đài mọi lúc, mọi nơi” đi các ngài! Chính nó mới đúng với ý nghĩa và sát với chủ trương của những nhà quản trị đất nước.
Phỏng ạ!

















