Tại sao Nhật Bản trở thành cường quốc

Tại sao Nhật Bản trở thành cường quốc 

Nhật Bản là một đất nước luôn theo đuổi những điều tốt đẹp, điều hoàn mỹ ở mức độ cao nhất. Điều này thể hiện ở chất lượng sản phẩm, chất lượng cuộc sống, chất lượng không khí, điều kiện vệ sinh môi trường, và coi trọng thành tín hết mức .

Ngày Chủ nhật, nếu bạn đến công viên nước bình thường chơi thì vé vào cửa là 800 yên (khoảng 150.000vnđ). Trong công viên cũng có một số lối ra vào đặc biệt giành cho người tàn tật. Ở đó người ta chỉ chăng dây xích cao chưa đến đầu gối chân và nói rằng: “Lối giành cho người tàn tật, người bình thường không được vào”. Công viên cũng không cần phải cử người trông coi ở những lối này, mà người dân cũng không cho rằng mình có thể đi bằng lối này để giảm được tiền vé vào cổng!

Nhật Bản là quốc gia truy cầu sự hoàn mỹ cực điểm về “chất lượng sản phẩm”.

Người Nhật Bản tin rằng họ sẽ ăn  đồ ăn sạch sẽ tại các quán ăn nhà hàng. Trước đây có một nhà hàng thịt nướng ở thành phố Osaka đã khiến cho 4 khách hàng của họ bị tiêu chảy. Sau đó, nhà hàng này đã phải đóng cửa. Ông chủ của nhà hàng này đã bị cấm, cả đời không được phép kinh doanh đồ ăn uống.

Thậm chí, việc xử lý vấn đề hộ khẩu ở tòa thị chính của thành phố là một việc đơn giản đến khó tin. Khi bạn đến đó, nhân viên công tác sẽ xuất ra một bản đồ được phóng to rõ đến từng nhà, rồi yêu cầu bạn chỉ nơi mà mình đang ở và coi như việc xác nhận đã được hoàn tất. Trước đây đã từng có một người rất kinh ngạc và hỏi nhân viên công tác rằng: “Nếu như có người nói dối thì sao?” Nhân viên công tác đã dùng ánh mắt khó tin và nói với anh ta rằng: “Tại sao lại nói dối? Nếu mà nói dối thì khi chúng tôi gửi trả giấy chứng nhận bảo hiểm y tế và các tài liệu khác, chẳng phải họ sẽ không nhận được sao?”

Sự chung sống giữa người với người là đơn giản như vậy đấy! Cho nên người hải ngoại nếu sống lâu ở đây sẽ trở thành “ngốc nghếch”: Tuân thủ quy tắc xã hội, khi qua đường phải nhìn đèn tín hiệu, có xếp hàng thì cố gắng xếp hàng, khi ăn cơm đặt ví tiền trên bàn mà đi vệ sinh…

Bản chất người Nhật Bản là sự trung thực 

Vì sao người Nhật Bản lại không làm hàng giả? Để có sự trung thực như vậy, tất nhiên có tồn tại một loại hiện tượng. Chính là, một khi đã làm giả thì hậu quả nhận được sẽ vô cùng nghiêm trọng. Trong kinh doanh ở Nhật Bản cũng ngẫu nhiên có hiện tượng làm hàng giả. Ví dụ như đem sản phẩm của nước ngoài giả mạo là sản phẩm của Nhật Bản.

Năm trước có xuất hiện sự kiện, một ông chủ dùng lươn của Trung Quốc giả mạo là lươn của Nhật Bản. Kết quả là: Thứ nhất là ông chủ phải công khai xin lỗi mọi người, thứ hai là ngân hàng ngừng việc cho vay, thứ ba là các đối tác ngừng quan hệ, cuối cùng xí nghiệp đành phải đóng cửa. Đối với những ông chủ lớn tuổi thì sẽ không còn cơ hội để kinh doanh nữa và thậm chí phải tự sát.

Ở Nhật Bản có khế ước xã hội bất thành văn là người làm hàng giả không nên thực hiện bất kỳ lời bào chữa nào mà nên thành khẩn nhận lỗi. Sau khi nhận lỗi rồi người ta sẽ không đào sâu vào chi tiết nữa. Nhưng người làm hàng giả sau này cơ bản sẽ không còn có khả năng tham gia vào ngành sản xuất đó nữa. Cho nên, tại Nhật Bản, làm hàng giả là một việc còn nghiêm trọng hơn việc ngồi tù. Người làm hàng giả một khi bị phát hiện thì cũng đồng nghĩa là “ngừng phát triển của cá nhân ở đây”!

Thậm chí những người chủ xí nghiệp tự sát khi công ty bị phát hiện làm hàng giả còn không nhận được sự thông cảm của mọi người. Người ta chỉ cho rằng, dùng cách tự sát chỉ là để rửa sạch lỗi lầm của mình mà thôi. Trái lại, người chịu hình phạt ngồi tù xong lại là người bình thường, người khác không được kỳ thị. Tại Nhật Bản, hai chữ “thành tín” là vô cùng quan trọng.

Ở Nhật Bản có khế ước xã hội bất thành văn là người làm hàng giả không nên thực hiện bất kỳ lời bào chữa nào mà nên thành khẩn nhận lỗi.

Tại Nhật Bản, trong siêu thị hay máy bán hàng tự động đều chưa bao giờ trang bị máy soi tiền giả, bởi vì không có người sử dụng tiền giả.

Tố chất của người Nhật Bản có thể nói là đạt đến cực độ. Sự thành thật của một người Nhật Bản đạt đến mức nhiều người không thể tưởng tượng nổi. Ví dụ như, gần một bến xe nhỏ ở trong thôn gần thành phố Osaka, người ta có đặt từng túi từng túi một rau quả tươi, bên cạnh có đặt một tấm ván gỗ ghi rõ 100 yên/1 túi và không có ai trông coi. Vậy mà, tất cả những người mua hàng đều tự giác thả tiền vào trong chiếc hộp đựng tiền ở bên cạnh.

Ở Nhật Bản còn có rất nhiều trạm xăng tự phục vụ, khách hàng tự bơm xăng theo nhu cầu rồi tự trả tiền và chưa từng có ai không trả tiền.

Tại các siêu thị, cửa hàng, trung tâm thương mại hay ở các máy bán hàng tự động đều chưa bao giờ có trang bị máy phân biệt tiền giả tiền thật, bởi vì không có ai sử dụng tiền giả.

Ở Nhật Bản, nếu như bị thất lạc đồ vật gì cũng không cần phải lo lắng bởi vì người nhặt được đều sẽ mang đến giao lại cho phòng cảnh sát gần nhất. Ví dụ như, trước đây đã từng có một doanh nhân đến Nhật Bản công tác. Lúc đi tàu điện ngầm anh ta để quên chiếc áo khoác ở ghế. Anh nghĩ rằng đây là một phiền toái lớn, bởi vì bên trong túi áo có tiền và hộ chiếu. Đang lúc vô cùng lo lắng thì có người nói với anh ta: “Đồ vật thất lạc trên tàu điện ngầm thông thường sẽ có người giao cho nhà ga.” Anh liền đi đến nhà ga, vô cùng mừng rỡ và cảm động vì đã nhìn thấy chiếc áo khoác của mình. Không những thế mà còn được người ta là phẳng và gấp lại ngay ngắn và cho vào trong một túi nhựa.

Nhật Bản không chỉ là một quốc gia giàu mạnh, mà còn là nơi nuôi dưỡng tâm hồn con người!

Nhật Bản là một dân tộc vô cùng nghiêm khắc và cẩn thận. Có thể nói, Người Nhật Bản có một đức tính, một nét văn hóa trời sinh đó là “đã tốt lại muốn tốt hơn”. Đây được xem là nguyên nhân quan 

From : Do Tan Hưng & Nguyễn Kim Bằng gởi

Thủ Tướng Nhật sau khi nghỉ hưu

Thủ Tướng Nhật sau khi nghỉ hưu 

August 13, 2017

Khó có thể tưởng tượng được người đàn ông ngày ngày đạp xe đi chợ mua thức ăn cho vợ này là ai
Hàng ngày, người ta thấy một người đàn ông già đạp xe điềm tĩnh đi chợ mua đồ ăn. Ông được mọi người vô cùng yêu mến về phong cách của mình. Đó là Thủ tướng Nhật về hưu.
Người ta thường nói, khi lãnh đạo của một nước về hưu mà cuộc sống trở nên bình dị thì chứng tỏ tỷ lệ tham nhũng của nước đó thấp và ngược lại.
Gần như tất cả các cựu thủ tướng của nước Nhật đều có cuộc sống khá giản dị nếu không nói là nghèo khó sau khi nghỉ hưu. 
Ngài Murayama sau khi mãn nhiệm vị trí thủ tướng Nhật Bản không lâu cũng từ bỏ vị trí trong Quốc hội đất nước, cả nhà già trẻ lớn bé đưa nhau về quê hương ở Oita, thuộc đảo Kyushu, Nhật Bản sinh sống.

  Cựu thủ tướng đạp xe đạp đi chợ mua đồ ăn cho vợ.

  Với phong cách bình dị, ông điềm tĩnh trên chiếc xe đạp đi chợ.

Ông nói: “Bà nhà dạo này hay bị đau lưng, nên tôi đạp xe ra chợ mua ít đồ ăn”.
Vậy đấy, bạn có nghĩ đến một người đàn ông già lại còn là một cựu thủ tướng đạp xe đạp hằng sáng ra chợ mua đồ ăn không?

Ngôi nhà may mắn

 Mọi thứ bên trong ngôi nhà vẫn y như 2 năm trước, sạch sẽ và nhỏ xinh.

 Ông Murayama nói rằng ngôi nhà này được xây từ thời Minh Trị cũng 130 năm rồi. Năm 1945 khi quân Mỹ ném bom thành phố Oita, thành phố bị tàn phá nặng nề nhưng ngôi nhà không bị hư hại nhiều. “Đây là một ngôi nhà may mắn nên tôi đã mua nó”, ông nói.

 Bước vào nhà, một người phụ nữ thân thiện cúi đầu chào. Không thể ngờ đây là người từng là Đệ nhất phu nhân của nước Nhật. Bà giản dị, thân thiện chào mừng khách bằng bình trà nóng, chút bánh đậu dân dã.

Nhà của những cựu Thủ Tướng khác thì ít người dám lai vãng đến, nhà của cựu Thủ Tướng nhật Murayama không bảo vệ, không có các thiết bị an ninh cấp cao, không có người giúp việc, chỉ có đôi vợ chồng già hơn 90 tuổi mà có không ít người thường xuyên đến thăm hỏi. Cuộc sống của vợ chồng ông không khác gì với cuộc sống của những người dân nghèo khó quanh làng.

Hằng ngày ông dậy từ 5 giờ sáng để đi bộ đến công viên gần nhà, tập thể dục, nói chuyện hàn huyên với những người bạn già. Cứ 2 tiếng như vậy mỗi ngày đã góp phần không nhỏ vào củng cố sức khỏe cho ông.
Có người hỏi: “Thủ tướng nước Nhật nghỉ hưu thì được hưởng những chế độ gì?”
Ông nói: “Không có chế độ gì cả”.

Thủ Tướng Nhật sau khi nghỉ hưu

Tổng thống Mỹ sau khi nghỉ hưu, chính phủ sẽ cấp một khoản tiền để xây dựng thư viện.
Thủ Tướng Nhật sau khi nghỉ hưu, chính phủ không hề có bất cứ trợ cấp đặc biệt nào, thậm chí trợ cấp sách, báo, đi lại cũng không.
Nếu bị bệnh thì đến bệnh viện khám, lấy thuốc và trả 30% tiền thuốc thang viện phí như người dân bình thường, tiền hàng tháng cũng chỉ có số tiền lương hưu ít ỏi.
  Khách mời cựu Thủ Tướng đi ăn trưa, cuối cùng ông cũng đồng ý.

 Khi bước vào quán Sushi, quán nhỏ không quá nhiều người, mọi người vừa ngồi xuống nhân viên phục vụ đã mang đồ ăn ra. Bà chủ cửa hàng nói chỉ cần ông Murayama gọi điện đến là họ biết ông muốn ăn gì.

Tất cả tài xế taxi khi được hỏi đều biết về người đàn ông này. Họ nói rằng đây là người con của Oita, là niềm tự hào của Oita và họ đặt biệt danh cho ông là ông Tấn. Chẳng trách ông Murayama ra ngoài không cần bảo vệ, tình yêu thương của làng xóm, láng giềng đã là sự bảo vệ tốt nhất với ông.

 Khi từ biệt mọi người, ông Murayama nói: “Thật ngại quá, anh nhất định trả tiền sushi, vợ chồng già chúng tôi cảm thấy rất có lỗi”, ông nói đến đây mọi người thực sự cảm thấy cảm động.

 Bảo trọng nhé ngài Murayama!

Theo: Therealtz © VietBF

*Thế giới này có bao nhiêu cựu quan chức cấp cao có nếp sống bình dân, giản dị như ngài cựu Thủ Tướng Nhật Murayama ? 

  Trong những cái họa, có lẽ không có cái họa nào lớn bằng không biết đủ.

Cuộc đời của một vị tổng thống không hạnh phúc hơn cuộc đời của một cậu bé đánh giầy. Cuộc đời của một tỷ phú không hạnh phúc hơn cuộc đời của một người ăn mày. Cậu bé đánh giầy hay người ăn mày có những niềm hạnh phúc mà vị tổng thống hay nhà tỷ phú không bao giờ có được. Và ngược lại, vị tổng thống hay nhà tỷ phú có những niềm hạnh phúc mà cậu bé đánh giầy hay người ăn mày không có được.

Một thân thể không đau, một tinh thần không loạn, hạnh phúc đích thực của con người chỉ có bấy nhiêu thôi. – Epicure

Anh Trương Công Nghĩa gởi

Pakistan cử hành quốc táng cho một nữ tu Công Giáo

   Pakistan cử hành quốc táng cho một nữ tu Công Giáo

Đặng Tự Do

Vietcatholic.net 13.8.2017 

Trong một diễn biến vô tiền khoáng hậu, Tổng thống Mamnoon Hussein và Thủ tướng Shahid Khaqan Abbasi của Pakistan, nơi tuyệt đại đa số dân theo Hồi Giáo, đã công bố Pakistan sẽ tổ chức quốc táng cho nữ tu Ruth Pfau, người Đức là Y Khoa bác sĩ vừa qua đời ngày 10 tháng 8, thọ 87 tuổi. Đám tang của chị sẽ được cử hành tại nhà thờ chính tòa Karachi.

Thông cáo của văn phòng thủ tướng Pakistan đã ví chị Ruth Pfau như là Mẹ Teresa của Pakistan, một người “đã được sinh ra ở Đức, nhưng trái tim bà luôn ở với chúng ta ở Pakistan này.” Trong khi đó, thông cáo của Tổng thống Mamnoon Hussein nói rằng “Nữ tu Bác sĩ Pfau đã đặt một dấu chấm hết cho bệnh phong ở Pakistan. Ơn đức này là không thể nào quên được. Bà đã rời quê hương mình và biến Pakistan thành nhà của mình để phục vụ nhân loại. Nước Pakistan bày tỏ lòng kính trọng đối với bác sĩ Pfau, và bày tỏ niềm hy vọng rằng truyền thống phục vụ nhân loại tuyệt vời của bà sẽ được tiếp tục.”

Chị Ruth Pfau sinh ngày 9.9.1929, tại Leipzig trong một gia đình có 6 người con. Trong chiến tranh thế giới lần thứ Hai, nhà cửa của chị bị dội bom, sau đó gia đình lại phải sống dưới chế độ cộng sản Đông Đức vài năm trước khi vượt biên tìm tự do thành công sang Tây Đức.

Trong thập niên 1950, chị theo học ngành y khoa tại Đại Học Mainz và tốt nghiệp y khoa bác sĩ. Sau khi tốt nghiệp đại học, trước một tương lai rạng rỡ sáng ngời, chị từ bỏ mọi sự và gia nhập Dòng Nữ Tử Trái Tim Đức Mẹ và được gởi sang Ấn Độ. Tuy nhiên, do những trục trặc về visa vào Ấn, chị phải dừng chân tại Karachi, Pakistan.

Trong một cuốn hồi ký, chị Ruth Pfau cho biết vào năm 1960, lúc mới 31 tuổi, chị quyết định dâng hiến đời mình cho việc chăm sóc các bệnh nhân phong cùi tại Pakistan sau khi chứng kiến một thanh niên phải bò bằng chân và tay vào phòng cấp cứu. Trong xã hội Pakistan, những bệnh nhân phong cùi thường bị gia đình, và xã hội bỏ mặc và xa lánh.

Chị Ruth Pfau đã đích thân chăm sóc cho người phong cùi, và mở các trường đào tạo các bác sỹ, và thành lập các trung tâm điều trị. Năm 1996, Tổ chức Y tế Thế giới tuyên bố căn bệnh được kiểm soát hoàn toàn ở Pakistan. Theo thống kê mới nhất, số người bị bệnh phong tại quốc gia này đã giảm xuống chỉ còn 531 bệnh nhân.

From: KimBằngNguyễn gởi

Hàng triệu người Hồi giáo xuống đường nghe Tin Lành

Hàng triệu người Hồi giáo xuống đường nghe Tin Lành

 Oneway.vn – Giữa thời buổi mà đây đó lực lượng Hồi giáo cực đoan liên tục khủng bố, tiêu diệt, bức hại người vô tội, Cơ đốc nhân và cả người Hồi giáo yêu chuộng hoà bình… thì không ít nhà truyền giáo vẫn dũng cảm dấn thân vào chốn hiểm nguy.
Giáo sĩ Marilyn Hickey

Vị giáo sĩ lừng lẫy Marilyn Hickey tin rằng nơi nguy hiểm cũng chính là những vùng đất màu mỡ để gieo hạt giống tình yêu Thiên Thượng.

Vị giáo sĩ kể về chuyến đi của mình tới Karachi, Pakistan: “Tôi yêu người Hồi giáo và họ cũng yêu tôi” – bà chia sẻ “Tôi không thể tưởng tượng lại có tới cả triệu người Hồi giáo trong một buổi truyền giảng!”.

Nhưng điều lại lùng ấy đã xảy ra. Một triệu người Hồi giáo lấp đầy đường phố Karachi để nghe cụ bà 85 tuổi giảng Tin Lành. “Mọi người có thể không biết tên bạn, nhưng Chúa Jesus biết hết” – bà Hickey nói với đám đông.

“Họ vỗ tay phấn khởi. Đúng vậy! Ngài biết tên bạn, biết nơi bạn ở, biết bạn là ai. Thi Thiên 139 cho biết Ngài có kế hoạch và sứ mệnh cho cuộc đời bạn. Ngài đã đưa chúng ta đến với nhau” – bà kể lại.
“Tôi nhớ đến 40 quốc gia và cầu nguyện cho họ mỗi ngày trong suốt 4 năm hoặc hơn nữa, và Đức Chúa Trời đã đưa tôi đến những nơi đó” – bà chia sẻ.
“Tôi nghĩ chúng ta không nên chỉ ngồi xem tin tức, nhưng hãy bước đi để thay đổi những tin tức đó” – bà thêm.

Giáo sĩ Marilyn Hickey trong buổi truyền giáo tại Pakistan
(Nguồn: dinnerwithmuhammad)

Vinh quang thuộc về Chúa, nhờ ơn phước Ngài, các buổi truyền giáo của bà Hickey đã xảy ra ​​vô số phép lạ.

“Kinh Koran nói Chúa Jesus đến để chữa lành, vì vậy khi bạn làm chứng và kêu gọi, họ sẽ đến để nhận sự chữa lành” – bà Hickey nói – “Đừng hỏi tôi tại sao họ gọi tôi là mẹ. Một số người Hồi giáo gọi tôi là mẹ của đất nước Pakistan”.
“Nhưng đó là ân điển Chúa chứ không phải từ tôi. Tôi nói Chúa Jesus đã chết vì tội lỗi của chúng ta, Ngài đã sống lại từ kẻ chết, và nếu bạn ăn năn, tin nhận Ngài, thì Ngài sẽ đến trong trái tim bạn. Đó không chỉ là lời an ủi, nhưng là thông điệp chữa lành cho tinh thần, linh hồn và cả thân thể” – bà bổ sung.

Chuyến đi đến vùng đất Hồi giáo lần này của bà Hickey ấn tượng đến nỗi thu hút sự chú ý của nhiều phương tiện truyền thông đại chúng khắp thế giới.

THÔNG CÁO BÁO CHÍ CỦA VIỆN CÔNG TỐ LIÊN BANG ĐỨC NGÀY 10 THÁNG TÁM 2017

 
 
From facebook:  Trần Bang
The BBC website

 · 

 THÔNG CÁO BÁO CHÍ CỦA VIỆN CÔNG TỐ LIÊN BANG ĐỨC NGÀY 10 THÁNG TÁM 2017 SỐ 69/2017

Hôm nay (10 tháng Tám 2017), Viện Công tố Liên bang nhận đảm nhiệm việc điều tra vụ bắt cóc công dân Việt Nam Trịnh Xuân Thanh và người phụ nữ đi cùng, trước đây do Viện Công tố Berlin phụ trách.

Hiện tại có thể cho rằng các nạn nhân đã bị đưa đến Đại Sứ quán Việt Nam tại Berlin và từ đó chuyển về Việt Nam. Từ bối cảnh đó, Viện Công tố Liên bang đã nhận đảm nhiệm điều tra vì nghi vấn hoạt động gián điệp nước ngoài (điều 99 Luật Hình sự) và tước đoạt tự do của con người (điều 239 Luật Hình sự).
Thông cáo Viện Công tố LB Đức

Theo các nhận định cho đến nay, vào ngày Chủ nhật 23 tháng Bảy 2017 giữa đường phố tại Berlin, hai người đó đã bị lôi lên một chiếc xe vận chuyển. Tại nước mình, ông Trịnh bị cáo buộc đã biển thủ một số tiền trên trăm triệu khi đứng đầu một công ty nhà nước, và sau đó trốn ra nước ngoài. Các cơ quan Đức đã tiếp nhận đề nghị dẫn độ của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và chưa ra quyết định. Phía Việt Nam dường như đã đặc biệt quan tâm đến việc dẫn độ ông Trịnh. Nay đề nghị dẫn độ đó đã được rút lại.

Theo các điều tra cho đến nay, hiện tại có thể cho rằng các nạn nhân đã bị đưa đến Đại Sứ quán Việt Nam tại Berlin và từ đó chuyển về Việt Nam. Từ bối cảnh đó, Viện Công tố Liên bang đã nhận đảm nhiệm điều tra vì nghi vấn hoạt động gián điệp nước ngoài (điều 99 Luật Hình sự) và tước đoạt tự do của con người (điều 239 Luật Hình sự).

ĐẠI SỨ HOA KỲ NIKKI HALEY Ở LHQ

  •  
     
    From facebook:   Trần Bang shared Bong Lau‘s post.
     

    ĐẠI SỨ HOA KỲ NIKKI HALEY Ở LHQ

    Lâu lắm rồi mới thấy một Đại Sứ Hoa Kỳ ở Liên Hiệp Quốc thông minh và cứng rắn như vậy.

    Hôm thứ Bảy cả Nga và Trung Cộng đều bỏ phiếu thuận với toàn thể các thành viên trong Hội Đồng Bảo An LHQ để áp đặt luật cấm vận Bắc Hàn. Thành quả này rất khó xảy ra vì Nga và Trung Cộng luôn luôn cản mũi kỳ đà Hoa Kỳ. Nhất là Trung Cộng hay bao che Bắc Hàn vì nguồn lợi nhuận làm ăn buôn bán.

    Khi được hỏi chắc phải giằng co đấu trí ghê lắm mới kéo Nga và Trung Cộng về phía Hoa Kỳ. Đại Sứ Nikki Haley không kể lể dài dòng mà trả lời ngắn gọn: Yes.

    Bà Đại Sứ không giống các nhà ngoại giao Hoa Kỳ chuyên nghiệp khác về phong thái ẻo lả quanh co mập mờ nửa vời. Bà có lối trình bày rõ ràng mạch lạc đi ngay vào vấn đề.

    Ngày 5 tháng 4 vừa qua trong phiên họp khoáng đại LHQ, Đại Sứ Nikki Haley lên án cuộc tấn bằng vũ khí hoá học của chính quyền Syria nhắm vào thường dân. Bà quay đầu nhìn về chỗ ngồi đại diện của chính quyền Nga và chầm chậm hỏi từng chữ: “Có bao nhiêu trẻ thơ phải chết nữa trước khi Nga mới quan tâm?”.

    Hai ngày sau Hoa Kỳ phóng 59 hoả tiễn Tomahawks vào Syria. Nhiều hoả tiễn chạm nổ ở phi trường có quân Nga trú phòng.

    Đại Sứ Nikki Haley để lộ rõ thái độ cứng rắn không thân thiện với chính quyền Nga và Trung Cộng, không giống thái độ thân thiện của TT Trump dành cho Nga và Hoa Lục. Điều này nói lên sự độc lập mạnh mẽ của bà đối với người đã tuyển chọn bà vào chức vụ quan trọng này.

    Trước khi nhậm chức Đại Sứ Hoa Kỳ ở LHQ nhiều người nghi ngờ về kiến thức đối ngoại của bà vì không phải là một nhân viên ngoại giao chuyên nghiệp và chưa bao giờ bà làm việc trong môi trường chính trị quốc tế căng thẳng như vậy. Nhưng có nghe Đại Sứ Nikki Haley thuyết trình hùng hồn trôi chảy về các vấn đề khủng bố ở Trung Đông, nhân quyền, cứu trợ nạn đói ở Phi châu v.v. mới thấy trí tuệ của bà hơn người.

    Bà Nikki Haley từng là cựu Dân Biểu rồi Thống Đốc của tiểu bang South Carolina. Học lực của bà khiêm tốn với văn bằng cử nhân ngành kế toán. Bà thuộc về thế hệ thứ 2 trong một gia đình di dân từ Ấn Độ.

    Nếu công việc ở LHQ trôi chảy tốt đẹp. Các phân tích gia tiên đoán Đại Sứ Nikki Haley sẽ được đề cử vào chức Ngoại Trưởng Hoa Kỳ trong tương lai. Và từ đó bà có thể ra tranh cử để trở thành một nữ Tổng Thống Hoa Kỳ gốc Ấn Độ.

    Cám ơn cánh tay mở rộng của Hoa Kỳ để những người có tài vươn lên.

    https://www.youtube.com/watch?v=Tvl69W8B9Hs

LHQ cảnh báo Venezuela ‘sử dụng vũ lực quá mức

LHQ cảnh báo Venezuela ‘sử dụng vũ lực quá mức

BBC

Nhân chứng nói lực lượng an ninh Venezuela bắn đạn chì ở cự ly gần vào người biểu tình
Bản quyền hình ảnh   AFP
Nhân chứng nói lực lượng an ninh Venezuela bắn đạn chì ở cự ly gần vào người biểu tình

Cơ quan Nhân quyền Liên Hiệp Quốc cảnh báo “việc sử dụng vũ lực quá mức một cách rộng rãi và có hệ thống” với người biểu tình ở Venezuela.

Cơ quan này cũng lên tiếng về các vi phạm nhân quyền khác, trong đó có “khám nhà thô bạo, tra tấn và đối xử tàn tệ”.

Các lực lượng an ninh Venezuela được cho là chịu trách nhiệm về ít nhất 46 người chết trong các vụ bạo lực có liên quan đến biểu tình.

Tài xế taxi trong cuộc tranh đấu ở Nam Hàn là ai?

Tài xế taxi trong cuộc tranh đấu ở Nam Hàn là ai?

Hà Tường Cát/Người Việt (tổng hợp)

Tổng Thống Moon Jae-in thắp nhang tưởng niệm 37 năm cuộc nổi dậy tranh đấu dân chủ tại thành phố Gwangju, Nam Hàn. (Hình: Kim Min-hee/Getty Images)

“A taxi driver” là cuốn phim mới được phát hành ở Nam Hàn hôm Thứ Tư, 2 Tháng Tám, được trình chiếu ở 1,446 rạp với gần 700,000 vé đã bán được. Bộ phim này sẽ xuất hiện trên các màn ảnh Bắc Mỹ từ ngày 11 Tháng Tám, tại Úc và New Zealand ngày 24 Tháng Tám, và tại các nước Châu Á trong Tháng Chín.

Cuốn phim nói về câu chuyện của ký giả người Ðức Jurgen Hinzpeter năm 1980 đến làm phóng sự về cuộc tranh đấu dân chủ của dân chúng thành phố Gwangju bị chính quyền đàn áp tàn bạo. Những hình ảnh và bài viết của Hinzpeter bí mật chuyển ra nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong việc giúp thế giới hiểu được thực trạng của chế độ độc tài quân phiệt và trợ lực thúc đẩy phong trào tranh đấu của dân chúng Nam Hàn tiếp tục tiến tới kết quả cuối cùng là cuộc bầu cử tự do dân chủ năm 1987.

Những năm sau đó, ký giả Jurgen Hinzpeter được giải thưởng của hiệp hội nhà báo Nam Hàn và nhiều tổ chức dân sự khác. Ông qua đời năm ngoái ở tuổi 78. Thành phố Gwangju, 1.5 triệu cư dân, ở miền Nam Nam Hàn đặt bia tưởng niệm ông.

Tướng Pak Chung-hee, tổng thống thứ ba của Nam Hàn từ 1963, bị ám sát Tháng Mười, 1979. Hai tháng sau, bằng một cuộc đảo chính quân sự, Trung Tướng Chun Doo-hwan nắm quyền lãnh đạo Nam Hàn, viện lý do chống sự xâm nhập từ Bắc Hàn, cho thi hành quân luật và ngăn cản phong trào tranh đấu dân chủ.

Ngày 18 Tháng Năm 1980, sinh viên và dân chúng Kwangju biểu tình chiếm tòa thị chính phản đối, ông Chun Doo-hwan ra lệnh thẳng tay đàn áp. Quân đội, lực lượng đặc biệt có chiến xa và trực thăng võ trang yểm trợ đánh chiếm lại tòa thị chính.

Cuộc biểu tình biến thành nổi dậy bạo loạn, chiếm các đồn cảnh sát và lấy vũ khí giao tranh với quân đội. Sau hơn một tuần lễ, phong trào tranh đấu dân chủ tan rã, hàng trăm sinh viên bị bắt. Theo thông báo chính thức, gần 200 người chết kể cả 20 binh sĩ, nhưng theo các ước lượng khác có khoảng 600 người thiệt mạng. Tướng Chun Doo-wan sau đó trở thành tổng thống nhưng chỉ làm một nhiệm kỳ 7 năm và không tái tranh cử.

Nhận biết tin tức có biến động ở Gwangju, ký giả Hinzpeter lúc đó là phóng viên thường trú ở Tokyo cho đài truyền hình Ðức ARD, cùng chuyên viên âm thanh Henning Rumohr bay sang Seoul. Nhờ có người trung gian sắp xếp trước, hai phóng viên Ðức được một người lái taxi tên Kim Sa-bok đón tại phi cảng quốc tế Kimpo và đưa xuống miền Nam.

Theo lời ký giả Hinzpeter kể lại sau này, thì toàn thể vùng Gwangju bị phong tỏa chặt chẽ, binh sĩ trấn đóng trên tất cả những đường vào thành phố, người ngoại quốc cũng như dân Nam Hàn đều bị cấm và rất nguy hiểm cho những ai tìm cách vượt qua. Ông nói là chưa từng gặp sự khó khăn như vậy ở đâu kể cả khi làm việc ở Việt Nam trong thời gian chiến tranh. Phóng viên Nam Hàn bị kiểm soát nghiêm ngặt không thể làm việc, chỉ có rất ít phóng viên ngoại quốc cố gắng len lỏi đến làm phóng sự quay phim, chụp hình,

Tài xế taxi Kim Sa-bok hiểu rõ những rủi ro ấy nhưng đã nỗ lực trợ giúp đưa Hinzpeter vào thành phố Gwangju. Khi gặp trạm kiểm soát không cho đi, ông Kim lái xe theo đường nhỏ vào các làng để đi vòng qua. Ký giả Hinzpeter nói rằng khi gặp một trạm kiểm soát cuối cùng trước khi đến Gwangju, ông phải đặt chuyện giải thích với các binh sĩ rằng ông cần phải tìm người sếp của mình bị kẹt ở đây để đưa ra.

Hinzpeter trở thành ký giả đầu tiên vào được thành phố và có thể quay phim, chụp hình, gặp hỏi chuyện gia đình những nạn nhân bên cạnh các quan tài ở bệnh viện. Nhưng tiếp theo thì việc chuyển tin và tài liệu về không phải là dễ dàng. Các đường dây liên lạc điện thoại đều bị cắt và nếu muốn tìm một máy điện thoại công cộng còn dùng được, phải đi bộ nhiều dặm đến các làng kế cận.

Ký giả Hinzpeter cho những khúc phim đã dùng vào trong vỏ bọc cũ làm như chưa sử dụng và xếp vào trong một hộp bao bằng giấy mạ vàng có quấn băng xanh giống như một món quà cưới. Bằng cách ấy ông đã có thể đem được tài liệu ra khỏi Gwangju và trạm kiểm soát an ninh ở phi cảng Kimpo để đưa về Tokyo ngày 22 Tháng Năm. Ngay sau đó, Hinzpeter bay trở lại Seoul và tiếp tục tìm cách len lỏi vào Gwangju với sự hướng dẫn của Kim Sa-bok để quay phim làm phóng sự quân đội đang tấn công các cơ sở dân sự ở thành phố.

Chính quyền Nam Hàn lúc đó giải thích rằng họ dẹp bạo loạn do Cộng Sản sách động và quân đội làm nhiệm vụ bảo vệ dân chúng. Nhưng những phóng sự của Hinzpeter chứng tỏ cho thế giới và người Nam Hàn thấy rằng lời tuyên truyền ấy là giả trá.

Trong nhiều năm, ký giả Hinzpeter, với sự giúp đỡ của nhiều người dân Nam Hàn, kể cả Park Un-kyoung, nhà sản xuất bộ phim “A Taxi Driver” sau này, không thể nào tìm ra người lái taxi mang tên Kim Sa-bok. Dù cho câu chuyện đã trở thành phổ biến trong dư luận từ thời gian bộ phim được làm, từ Tháng Sáu đến Tháng Mười, 2016, không có ai tự đứng ra xác nhận mình là Kim Sa-bok và đối tượng này dường như mãi mãi là một người anh hùng vô danh trong lịch sử cuộc tranh đấu dân chủ ở Nam Hàn.

Formosa bị nông dân Mỹ kiện đòi bồi thường vì tàn phá môi trường

From facebook:  Trần Bang
 

Formosa bị nông dân Mỹ kiện đòi bồi thường vì tàn phá môi trường

Các cư dân sống gần nhà máy sản xuất hóa chất của Formosa ở Point Comfort, Texas đã kiện công ty này vì xả thải các viên nhựa làm ô nhiễm nặng môi trường vùng biển xung quanh nhà máy.

Đơn kiện Formosa được trình lên ngày 31.7 bởi công ty Trợ Giúp Pháp Lý TexasRioGrand (Texas RioGrande Legal Aid); Công ty luật môi trường Frederick, Perales, Allmon và Rockwell (Environmental law firm Frederick, Perales, Allmon and Rockwell); Công ty luật Sico, Hoelscher, Harris & Braugh.

Nhóm công ty luật nói trên thay mặt cho các nguyên đơn là nông dân, ngư dân sống quanh nhà máy của Formosa ở Point Comfort kiện công ty Formosa vì đã vi phạm Luật Nước sạch (Clean Water Act) một cách “nghiêm trọng, kéo dài và đang diễn ra” gây ô nhiễm cho Vịnh Lavaca và các tuyến đường thủy khác.

Nguyên đơn cho rằng rác thải gây ô nhiễm do Formosa xả ra làm nguy hại đến các loài cá và động vật hoang dã trong khu vực.

Nhóm trợ giúp pháp lý yêu cầu Formosa phải chấm dứt hành động xả thải của mình trong tương lai, dọn dẹp những ô nhiễm môi trường mà họ gây ra và phải bị phạt tổng cộng 57,45 triệu USD.

Nguyên đơn Diane Wilson, cựu ngư dân đánh bắt tôm và là người đứng đầu tổ chức Bảo vệ bờ sông và vùng Vịnh San Antonio (San Antonio Bay Estuarine Waterkeeper) trong nhiều năm qua đã theo đuổi thủ tục pháp lý kiện Formosa khi cho rằng nhà máy tại Point Comfort đã thải bất hợp pháp các viên nhựa vào dòng nước xung quanh nhà máy….

http://motthegioi.vn/…/formosa-bi-nong-dan-my-kien-doi-boi-…

Image may contain: people standing, sky, tree and outdoor
 
 

Tác giả «Buồn ơi, chào mi !» cuối đời không còn một xu.

Tác giả «Buồn ơi, chào mi !» cuối đời không còn một xu.

Thụy My    Đăng ngày 29-07-2017  Đài Phát Thanh Pháp Quốc RFI. 

 

Tại nước Pháp trên lãnh vực văn hóa xã hội, tuần san L’Obs đề cập đến một mảng xám của nhà văn nữ quen tên: Françoise Sagan, tác giả cuốn «Buồn ơi, chào mi !» nổi tiếng thế giới. Suốt một thời gian dài rong chơi – sáng tác ban ngày, đi khiêu vũ ban đêm – bà tiêu tiền như nước và cuối đời không còn một xu dính túi.

Với số tiền tác quyền đầu tiên ở tuổi 18, cô gái trẻ mua đến bốn chiếc xe hơi: một Jaguer XK140, một Gordini, một Buick và một chiếc Aston Martin – năm 1957 đã lộn nhiều vòng tại một cánh đồng lúa mì khiến Sagan suýt chết. Cô hưởng thụ cuộc sống: hút thuốc, uống whisky, đi casino, lấy chồng, ly dị, tái hôn và lại ly dị, đòi ứng trước tác quyền để tiêu xài… dù sách không còn bán chạy như trước kể từ thập niên 1980.

Nợ thuế rất nhiều, Françoise Sagan cầu cứu người bạn vong niên thân thiết là… Tổng Thống Pháp François Mitterrand. Đầu thập niên 90, ngành thuế xóa nợ cho bà, nhưng Sagan lại dính vào một vụ tai tiếng lớn. Bà nhận làm trung gian cho tập đoàn dầu khí Elf đầu tư vào Ouzbekistan, lãnh món tiền lớn là 3,5 triệu quan Pháp, nhưng đến đầu năm 2002 phải ra tòa vì tội trốn thuế. Ở tuổi 66, Françoise Sagan đã mất tất cả.

Khi bà qua đời năm 2004, một người bạn nhớ lại: «Françoise không có một xu nhỏ trong những năm cuối đời. Bạn bè cho bà ở nhờ. Bà thậm chí phải bán hết nữ trang và những món quà quý giá từng nhận được. Tiền tác quyền được chuyển thẳng cho cơ quan thuế ». Người con trai duy nhất là Denis Westhoff đã phải do dự rất lâu trước khi chấp nhận thừa kế, và đến nay, hàng tháng vẫn trả dần món nợ thuế khổng lồ của mẹ một cách can đảm./.

RFI.

Truyền hình Nhật Bản tối 31/7 lên án ” Bắt giữ nhóm người Việt ăn thịt chó “

From facebook: Lê Hoài Tân shared a link to the group: Những người bạn của Đảng Dân chủ Tự do.
Nhục ơi là nhục … cái nhục không có thứ gì rửa cho sạch …
Truyền hình Nhật Bản tối 31/7 lên án ” Bắt giữ nhóm người Việt ăn thịt chó “ July 31, 2017 Sau những tai tiếng gần đây về các vụ việc trộm cắp hay đánh nhau thì…
TINUOCNHAT.INFO

Tại sao Jerusalem Quan Trọng với cả Hồi giáo Cơ đốc và Do Thái giáo ?

Tại sao Jerusalem Quan Trọng với cả Hồi giáo Cơ đốc và Do Thái giáo ?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tại Jerusalem, mỗi hòn đá đều có câu chuyện, mỗi cây ô liu là một lịch sử, và mỗi ngọn núi có tên khác nhau, tùy thuộc vào người kể cho chúng ta về những địa danh đó là ai. Bởi vì nơi đây là cội nguồn và nơi cùng chung sống của cả 3 tôn giáo hàng đầu thế giới: Hồi giáo, Cơ đốc giáo và Do Thái giáo.

Thành phố ngày nay là một bức tranh khảm vừa cổ kính vừa hiện đại. Từ các bức tường cũ kỹ đầy những cây bụi phủ rêu phong đến tuyến đường sắt hiện đại đi qua các cửa hàng cao cấp và khách sạn năm sao của khu phố đi bộ Mamilla.  Cảnh quan sắc tộc của Jerusalem phản ánh sự đa dạng về dân cư, xã hội.

Một góc nhìn về Thành phố cổ Jerusalem. Ảnh (Getty Image)

Bên cạnh vẻ đẹp cổ kính xen lẫn hiện đại của mình, Jerusalem cũng là khởi nguồn của những tranh cãi gay gắt bất tận. Đây là một thành phố bị chia cắt, một phần của người Ả Rập, một phần của người Do Thái, và các bên vẫn đang tranh đấu không ngừng nghỉ cho quyền sở hữu thánh địa này. Cả Israel và Palestine đều tuyên bố Jerusalem là thủ đô của nước mình. Israel đã chiếm Đông Jerusalem trong cuộc chiến tranh năm 1967 và sau đó sát nhập lãnh thổ này vào quốc gia Do Thái, nhưng cộng đồng quốc tế chưa công nhận chủ quyền này.

Ngoài nổi tiếng là vùng đất tranh chấp triền miên giữa Israel và Palestine, Jerusalem cũng được biết đến là thánh địa của cả 3 tôn giáo hàng đầu thế giới là Cơ đốc giáo, Hồi giáo và Do thái giáo, những tín ngưỡng cùng chia sẻ nguồn gốc chung về Thánh Abraham.

Trung tâm của thánh địa này là ‘Thành phố cổ’, một ​”​mê cung ​”​

những ngõ hẹp và kiến trúc lịch sử đặc trưng cho bốn phần dân cư: Cơ đốc giáo, Hồi giáo, Do thái và người Armenian. Thành cổ được bao quanh bởi một bức tường và những ngôi nhà bằng đá pháo đài, cùng các địa điểm linh thiêng nhất thế giới.

​Mỗi một thành phần chủng tộc, tôn giáo sinh sống tại ¼ lãnh thổ thành phố cổ. Người Cơ đốc giáo có 2 phần vì người Armenia cũng theo đạo Cơ đốc. Người Armenia sống ở ¼ nhỏ nhất và đó là một trong những trung tâm lâu đời nhất của người Armenia trên thế giới.

Vùng đất thiêng của Cơ đốc giáo

Những người hành hương Cơ đốc giáo tổ chức thắp nến tại Nhà thờ Holy Sepulcher ở Jerusalem, theo truyền thuyết là nơi chôn cất của Chúa Jesus. (Ảnh Sebastian Scheiner/AP)

Khi bước vào bất kỳ một nhà thờ Cơ đốc giáo nào, hình ảnh đập vào mắt chúng ta ở trên các bức tường chính là khung cảnh về thánh địa Jerusalem. Trên đó có vẽ các Trạm Thập tự là một chuỗi 14 bức ảnh miêu tả hành trình cuộc đời của Chúa Jesus cho tới khi qua đời. Vào mùa Lễ Mùa Chay các tín đồ Cơ đốc hàng ngày vẫn cầu nguyện trước mỗi bức tranh này. Với mỗi tín đồ Cơ đốc điều quan trọng nhất trong cuộc đời họ là tới được Jerusalem và trở thành một người hành hương đi bộ qua đường Dolorosa – Con đường Đau khổ – theo bước chân của Chúa Jesus đã từng trải qua khi vác thập tự giá. Từ thời trung cổ, hàng ngàn Trạm Thập tự đã được tạo ra ở khắp nơi trên thế giới để cho phép bất cứ con chiên nào cũng có thể hành hương thông qua các bức tranh dù không có khả năng để thực sự tới được Đất Thánh.

Bethlehem là nơi sinh của Chúa Jesus, Nazareth là nơi ông lớn lên, nhưng Jerusalem mới là thành phố thực sự quan trọng đối với các tín đồ Cơ đốc. Đây là nơi mà Chúa Jesus thuyết giảng, dự ‘Bữa tiệc Cuối cùng’ với các môn đồ trước khi chết; cũng là nơi ông bị bắt, đưa ra xét xử, bị kết án tử hình, bị đóng đinh và qua đời; là nơi Jesus bị chế nhạo và tra tấn bởi những người La Mã chiếm đóng. Đó là nơi, các tín đồ Cơ đốc giáo tin rằng, ngôi mộ của ông đã được tìm thấy trống rỗng và Jesus đã hồi sinh từ cõi chết. Do đó, Jerusalem là một nơi đau khổ sâu sắc, tuyệt vọng cùng cực, nhưng cũng là mảnh đất của hy vọng và cứu rỗi. Đó là trái tim thiêng liêng của câu chuyện Cơ đốc giáo.

Nhà thờ tại Jerusalem được quản lý cùng nhau bởi các đại diện của các giáo phái Cơ đốc giáo khác nhau, chủ yếu là Chính thống giáo Hy Lạp, các tu sĩ dòng Franciscan từ Giáo hội Công giáo La Mã và Hội dòng Armenia, và có cả người Ethiopia, Coptics và Giáo hội Chính thống Syria.

Jerusalem không chỉ là một nơi lịch sử cho các tín đố Cơ đốc giáo, nó cũng là phép ẩn dụ cho tất cả những gì mà họ khao khát trong thế giới này và thế giới tiếp theo. Đó là một nơi hoàn hảo, một thành phố hoàng kim, một thiên đường mà họ sẽ đạt được vào một ngày nào đó sau khi chết. Nó cũng đại diện cho việc tạo ra một trái đất mới.

Đế chế Hồi giáo ở Jerusalem kéo dài trong 12 thế kỷ

   Phụ nữ Palestine tham dự vào các buổi cầu nguyện thứ Sáu trong tháng lễ Ramadan tại nhà thờ Hồi giáo Al-Aqsa ở Jerusalem. (Ảnh: Getty Image)

   Jerusalem (trong tiếng Ả Rập là al-Bayt al-Maqdis – “Nhà Thánh hóa” – hay đơn giản là Al-Quds, “Thành Thánh”) là nơi quan trọng với người Hồi giáo vì nhiều lý do.

Trước tiên, Jerusalem là nơi đầu tiên mà tín đồ Hồi giáo hướng về cầu nguyện (qibla), trước khi nó được đổi sang hướng tới thánh địa Mecca. Khi Nhà tiên tri Muhammad bắt đầu sứ mệnh của mình vào năm 610 sau công nguyên, ông đã theo sau Do Thái và Cơ đốc giáo hướng về Jerusalem khi cầu nguyện hàng ngày và coi Hồi giáo là sự tiếp nối và đổi mới của dòng họ tín ngưỡng Abraham.  Tuy nhiên, ông ước rằng Chúa sẽ thay đổi qibla tới Ka’ba ở Mecca và đó là những gì đã xảy ra sau đó.

Jerusalem cũng là một nơi quan trọng của chuyến hành trình tâm linh sâu sắc về đêm của Nhà tiên tri Muhammad được gọi là wal-Mi’raj của al-Isra (“cuộc hành trình ban đêm và hướng thượng”), trong đó ông đã được gặp hiện thân của Chúa. Cuộc hành trình này bắt đầu từ “nhà thờ Hồi giáo thiêng liêng” (al-masjid al-haram, tức là thánh địa Mecca) tới “nhà thờ Hồi giáo xa nhất” (al-masjid al-aqsa, tức là Thánh địa Jerusalem, còn gọi là Núi Đền).

Theo truyền thuyết Hồi giáo, nhà Tiên tri đã đi một cách kỳ diệu từ Mecca đến Jerusalem và sau đó đi lên qua bảy thiên đường, lên đến đỉnh điểm và có một cuộc trò chuyện trực tiếp với hiện thân của Chúa. Trước khi lên thiên đường, Nhà tiên tri Muhammad đã dẫn dắt linh hồn của tất cả các vị tiên tri trước đây của Chúa cầu nguyện, bao gồm tất cả các vị tiên tri trong Kinh thánh và truyền tụng trong người dân Do Thái. Chính theo cách tiếp nối đức tin Abraham này, mà người Hồi giáo thường coi al-masjid al-aqsa (còn được gọi là al-haram al-sharif, hay “Thánh địa Cao quý”) tại  Jerusalem như “Đền thờ của Vua Solomon”. Thánh địa này đã trở thành nơi thiêng liêng thứ ba trong hành trình hành hương của các tín đồ Hồi giáo.

Các tín đồ Hồi giáo hành hương tới khu thánh địa này quanh năm, nhưng mỗi thứ Sáu trong tháng Ramadan, hàng trăm ngàn người Hồi giáo đến cầu nguyện tại “Thánh địa Cao quý”.

Luật Hồi giáo đã áp dụng ở Jerusalem kéo dài 12 thế kỷ, dài hơn bất kỳ hệ thống luật lệ nào khác, dù là của Do thái, La Mã, Ba Tư hay Cơ đốc giáo.

​Những điểm nổi bật về chính trị bao gồm cuộc chinh phục của Vua Hồi Omar, cuộc phục hồi của Saladin từ những người theo chủ nghĩa thánh chiến, và việc xây dựng lại các bức tường thành của Sulejyman. Ngoài ra, Jerusalem cũng có lịch sử tâm linh và trí tuệ Hồi giáo mạnh mẽ – ví dụ, nhà thần học Al-Ghazali được cho là đã dành cả năm để tĩnh tâm, thiền định và cầu nguyện ở một tháp giáo đường của “Thánh địa Cao quý”.

Từ năm 1967, đối với nhiều người Hồi giáo, Jerusalem đã trở thành biểu tượng kháng chiến chống lại sự chiếm đóng các lãnh thổ Ả Rập của người Israel và tình trạng của Jerusalem là một trong những vấn đề chính cần được giải quyết như là một phần của bất kỳ thỏa thuận hòa bình nào giữa Israel và Ả Rập ở hiện tại và trong tương lai. Trong khi đó, các nhóm cực đoan và khủng bố như al-Qaeda, IS và lực lượng Al-Quds của Iran vẫn thường xuyên gọi “giải phóng Jerusalem” là một trong những mục tiêu chính của họ.

Với người Do Thái, Jerusalem là một ý niệm tôn giáo vượt thời gian

   Những người Do Thái được phủ khăn choàng cầu nguyện thực hiện lời cầu nguyện ở Bức tường phương Tây tại Thành phố cổ Jerusalem. (Ảnh: Getty Image)

Đối với người Do Thái, Jerusalem không chỉ là một địa điểm thực tế đầy ý nghĩa trong cả lịch sử Do Thái trong quá khứ và hiện tại, mà đó còn được coi là một lý niệm tôn giáo vượt thời gian. Khu vực này đã được người Do Thái đầu tiên, Abraham (năm 1800 trước Công nguyên) tìm ra trong khi đi vân du khắp các vùng đất để tìm “Miền đất hứa”. Theo truyền thuyết, nơi mà Abraham chuẩn bị quyên sinh đứa con trai Isaac của mình cho Thiên Chúa nhưng sau đã được lệnh không làm như vậy, bởi đây chỉ là một thử thách về đức tin dành cho Abraham, chính là địa điểm mà sau đó thành Jerusalem được xây dựng.

Sau khi người Do Thái đi tới Ai Cập để tránh nạn đói, bị bắt làm nô lệ và sau đó trở về Israel và David đã chọn Jerusalem làm thủ đô của vương quốc mình (khoảng năm 1000 trước công nguyên). Do đó, Jerusalem là một phần quan trọng của vương quốc đầu tiên của Israel. Jerusalem cũng đã trở thành trung tâm tôn giáo, vì ở đó là nơi vua của vương quốc Israel, Solomon đã xây dựng Đền thờ – trung tâm thờ phụng quốc gia. Người đứng đầu tất cả các hộ gia đình Israel đều được yêu cầu phải tổ chức một cuộc hành hương tới Đền thờ đó ba lần một năm để cùng nhau tổ chức ba lễ hội lớn.

Jerusalem là thành phố cực kỳ quan trọng trong thời kỳ đó và những ai không thể hành hương đến đây, ít nhất cũng nên hướng về đất thánh Jerusalem để  ​cầu nguyện, trong trường hợp đó, lời cầu nguyện của họ sẽ được nghe như thể họ có mặt. Cho đến ngày nay, tất cả các giáo hội đều phải hướng về Jerusalem, để những tín đồ Do Thái được định hướng theo đúng truyền thống. Jerusalem bị phá huỷ hai lần, lần đầu bởi người Babylon vào năm 586 trước công nguyên, và lần thứ 2 là trong cuộc chiến Do Thái – La Mã vào năm 70 sau công nguyên.

Người Do Thái đã phải sống lưu vong trong 2.000 năm tiếp theo, nhưng trong trái tim họ Jerusalem vẫn còn nguyên vẹn như là biểu tượng của sự thống nhất quốc gia. Khi nhà nước Israel được khai sinh vào năm 1948, một cách tự nhiên Jerusalem đã được phục hồi là thủ đô của đất nước.

​  ​Ngày nay, tại nơi Vua Solomon xây dựng Đền thờ vẫn còn lưu giữ được Bức tường Than khóc – Kotel hay còn gọi là  Bức tường phía Tây – là nơi gần nhất mà người Do Thái cho rằng họ có thể cầu nguyện tới Đức Thánh Cha Abraham.

 

Vấn đề khó khăn nhất để giải quyết tranh chấp giữa Do Thái và khối Ả Rập là thành phố Jerusalem, ai sẽ làm chủ thành phố này ?

Ngược dòng thời gian khi quốc gia Do Thái được thành lập 1948, thành phố Jerusalem bị chia đôi, Do Thái kiểm soát phân nửa phía tây và phía Ả Rập (nước Jordan ) giữ phân nửa phía đông, sự phân chia rất có ý nghĩa để cân bằng lực lượng hai bên.

Trong cuộc chiến 6 ngày năm 1967, Do Thái chiến thắng vẻ vang chiếm luôn phần phía đông của Jerusalem và một phần đất giáp giới với Do Thái của Jordan, bao gồm thành phố Jerusalem.

Do Thái có tham vọng giữ luôn hoàn toàn thánh địa Jerusalem và dời thủ đô của họ từ Tel Aviv về Jerusalem. Mỹ và khối Tây Phương cho đến nay từ chối công nhận phần đất phía đông Jerusalem mới chiếm là thuộc về Do Thái vì lý do rất tế nhị là không muốn làm khối Ả Rập tức giận và xung đột sẽ lan rộng.

Từ 1967 đến nay các tổng thống Mỹ đã khôn khéo tránh đặt chân đến Jerusalem vì có ý không công nhận cả thành phố Jerusalem vĩnh viễn là của Do Thái, tòa đại sứ Mỹ vẫn nằm ở Tel Aviv, cho đến khi mới đây Donald Trump phá lệ đến thánh địa này và còn viếng thăm Western​ ​Wall , một biểu tượng thiêng liêng của dân tộc Do Thái. ​

Tổng thống Mỹ Donald Trump đặt tay lên bức tường Than khóc

 

Bức tường phía Tây hàng năm thu hút hàng  triệu lượt khách du lịch khắp nơi trên thế giới tới thăm quan.

​ ​Người Do Thái từ năm châu cũng đến thăm nơi này để cầu nguyện và kết nối với quá khứ của họ.