NẾU VIỆT NAM ÁP DỤNG SẼ PHẢI TỐN RẤT NHIỀU ĐẠN

Dien Hong Tran and VanHieu Nguyen shared Đức Bảo Phạm‘s post.
Image may contain: 1 person

Đức Bảo Phạm is with Lâm Đồng and 41 others.

 

NẾU VIỆT NAM ÁP DỤNG SẼ PHẢI TỐN RẤT NHIỀU ĐẠN

Năm 1961, tướng Park Chung Hee làm cuộc đảo chính quân sự thành công và lên làm Tổng thống Nam Hàn với Quốc sách: Tập trung sức phát triển kinh tế để biến Nam Hàn từ nghèo đói trở thành một đất nước giàu có.

Tháng 7/1961, trước 20.000 sinh viên Đại học Seoul ông đã nói:

“Toàn dân Nam Hàn phải thắt lưng buộc bụng trong 5 năm, phải cắn răng vào mà làm việc nếu muốn được sống còn. Làm thế nào trong vòng 10 năm chúng ta tạo được một nền kinh tế đứng đầu Đông Á, và 20 năm sau chúng ta trở thành cường quốc kinh tế trên thế giới. Chúng ta sẽ bắt thế giới phải ngưỡng mộ chúng ta! Hôm nay có thể một số đồng bào bất đồng ý kiến với tôi. Nhưng xin những đồng bào ấy hiểu cho rằng Tổ Quốc quan trọng hơn quyền lợi cá nhân! Tôi không muốn mị dân! Tôi sẽ cương quyết ban hành một chính sách khắc khổ. TÔI SẼ ĐEM BẮN BẤT CỨ KẺ NÀO ĂN CẮP CỦA CÔNG DÙ CHỈ 1 ĐỒNG! Tôi sẵn sàng chết cho lý tưởng đã đề ra!…”.

Phạm Đức Bảo Trần Đình Hà

08/02/1949: Hồng y Mindszenty của Hungary bị kết án

 

08/02/1949: Hồng y Mindszenty của Hungary bị kết án

Nguồn: Cardinal Mindszenty of Hungary sentencedHistory.com

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Vào ngày này năm 1949, Hồng Y József Mindszenty, giáo chức Công giáo cao nhất Hungary, đã bị Toà án Nhân dân Cộng sản kết tội phản quốc và bị kết án tù chung thân. Các nhà quan sát ở Tây Âu và Hoa Kỳ đã tức giận, lên án phiên tòa và việc buộc tội Mindszenty là “gian dối” và “trái pháp luật.”

Hồng y Mindszenty đã quá quen với các vụ bắt bớ chính trị. Trong Thế chiến II, chính quyền phát xít của Hungary đã bắt giữ ông vì dám phát biểu lên án chiến dịch đàn áp người Do Thái trong nước. Sau chiến tranh, khi chế độ cộng sản lên nắm quyền tại Hungary, ông tiếp tục công việc chính trị của mình, tố cáo sự áp bức chính trị và thiếu tự do tôn giáo ở nước ông.

Năm 1948, chính phủ Hungary đã bắt giữ Hồng y. Mindszenty, cùng một số giáo chức khác của Giáo hội Công giáo, một nhà báo, một giáo sư, và một thành viên của gia đình hoàng gia Hungary, đã bị kết án vì những cáo trạng khác nhau trong một phiên xử ngắn của Toà án Nhân dân Cộng sản ở Budapest. Hầu hết đều bị buộc tội phản quốc, cố ý lật đổ chính phủ Hungary, và đầu cơ bằng ngoại tệ (chuyển tiền ra nước ngoài bất hợp pháp). Tất cả những người này, ngoại trừ Mindszenty, đã nhận được án tù từ một vài năm tới tù chung thân.

Hồng y Mindszenty là trọng tâm của phiên toà. Trong quá trình tố tụng, các công tố viên đã đưa ra một số tài liệu cho rằng Mindszenty có liên quan đến các hoạt động chống chính phủ. Đức Hồng y thừa nhận rằng ông “có tội, về mặt nguyên tắc và về chi tiết cụ thể, trong hầu hết các cáo buộc được đưa ra,” nhưng đã mạnh mẽ phủ nhận rằng các hoạt động của ông được thiết kế để lật đổ chính phủ Hungary. Tuy nhiên, ông vẫn bị luận tội và bị kết án tù chung thân.

Phản ứng trước các cáo buộc về Mindszenty đã diễn ra một cách nhanh chóng và đầy phẫn nộ. Ngoại trưởng Anh Ernest Bevin tuyên bố phiên xử là một sự sỉ nhục đối với hiểu biết của người Anh về tự do và công lý. Tòa thánh Vatican đã ban hành một tuyên bố rằng Hồng y là “người đạo đức và vô tội.” Chủ tịch Hạ viện Mỹ Sam Rayburn (thành viên Đảng Dân Chủ, đại diện bang Texas) tuyên bố rằng “những người Kitô hữu quá sốc trước phán quyết này.” Nhiều cuộc biểu tình đã được tổ chức tại một số thành phố của Mỹ, nhưng chúng vẫn không thể thay đổi bản án.

Sự kiện này có ý nghĩa quan trọng trong việc cho thấy chiều sâu của phong trào chống cộng ở Hungary. Năm 1956, Mindszenty được thả ra khi một chính phủ cải cách lên nắm quyền tại Hungary. Một thời gian ngắn sau đó, quân đội Liên Xô đã vào Hungary để đàn áp các cuộc biểu tình đòi dân chủ. Mindszenty phải xin tỵ nạn tại Đại sứ quán Mỹ ở Budapest và đã ở lại trong tòa nhà Đại sứ quán cho đến năm 1971. Năm đó, ông được Vatican triệu hồi và đưa đi định cư tại Vienna, nơi ông qua đời vào năm 1975.

The Libertyweb: Mổ cướp nội tạng từ tử tù tại Trung Quốc vẫn không ngừng phát triển mạnh mẽ

 

The Libertyweb: Mổ cướp nội tạng từ tử tù tại Trung Quốc vẫn không ngừng phát triển mạnh mẽ

 Tờ The Libertyweb của Nhật Bản đưa tin, ngày 24/1, luật sư nhân quyền quốc tế David Matas, cựu Quốc vụ khanh Canada David Kilgour và bác sĩ cấy ghép tim Israel Jacob Lavee đã tổ chức một cuộc họp báo tại Câu lạc bộ phóng viên nước ngoài của Nhật Bản với chủ đề “Chấm dứt Diệt chủng Y tế”. Tại đây, các nhà điều tra nạn mổ cướp nội tạng đã trình bày kết quả công trình nghiên cứu suốt 10 năm của họ về vấn nạn nhức nhối này tại Trung Quốc.
Từ năm 1999, ngành cấy ghép tạng của Trung Quốc không  ngừng phát triển mạnh mẽ (Ảnh: COHResearch)

Tại cuộc họp báo, ông David Matas, David Kilgour và Jacob Lavee đã trình chiếu một đoạn video dài 20 phút với tựa đề “Diệt chủng y khoa: Cuộc diệt chủng hàng loạt bị che giấu trong ngành công nghiệp cấy ghép tạng của Trung Quốc”. Họ cũng đưa ra nhiều nhận định khiến giới y khoa không khỏi bàng hoàng về thực trạng cấy ghép tạng tại Trung Quốc hiện nay.

Đoạn video đã cho thấy kết quả điều tra của ông Matas, ông Kilgour và nhà báo Ethan Gutmann trong suốt 10 năm qua về nạn thu hoạch tạng tại Trung Quốc, được thống kê chi tiết trong phiên bản mới nhất của cuốn sách Thu hoạch đẫm máu/Đại thảm sát: Bản cập nhật (Bloody Harvest/The Slaughter: An Update).

Từ trái sang: David Kilgour, David Matas và Ethan Gutmann.

Các nhà điều tra đã dày công gọi điện thoại đến khảo sát 169 bệnh viện được phép thực hiện cấy ghép tạng ở Trung Quốc, cuối cùng đi đến kết luận rằng Trung Quốc tiến hành khoảng 60.000-100.000 ca ghép tạng mỗi năm. Trong khi đó, báo cáo chính thức của chính quyền Bắc Kinh khẳng định họ chỉ thực hiện 10.000 ca cấy ghép mỗi năm. Khoảng cách quá lớn giữa hai con số này đủ cho thấy chính quyền đang nói dối.

Vậy nguồn tạng khổng lồ đó đến từ đâu? Các nhà điều tra khẳng định đa số đến từ những người tập Pháp Luân Công, người Duy Ngô Nhĩ, người Tây Tạng và các tín đồ Cơ Đốc giáo.

Trong buổi họp báo, ông Kilgour đã phát biểu: “Ngay cả khi số lượng các ca ghép tạng mỗi năm là 50.000 ca, thì tính trung bình có 165 người bị giết mỗi ngày. Đa số tạng đến từ các tù nhân lương tâm vô tội, đặc biệt là người tập Pháp Luân Công. Mỗi ngày họ bị ép lao động cưỡng bức lên đến 16 giờ đồng hồ, sau đó bị đưa đi xét nghiệm tổng quan để xem nội tạng của họ có phù hợp cho cấy ghép hay không.”

Nói một cách thẳng thắn thì phẫu thuật cấy ghép tạng của Trung Quốc chính là “giết người theo nhu cầu. Từ năm 1999, ngành cấy ghép tạng của Trung Quốc đã phát triển nhanh chóng. Trung Quốc đã thực hiện hơn 1.000.000 ca cấy ghép nội tạng từ năm 2000 đến nay. Theo The Libertyweb, không ngẫu nhiên mà cột mốc này trùng khớp với thời điểm khai màn cuộc bức hại Pháp Luân Công. Ngay khi cuộc bức hại bắt đầu, hàng chục ngàn người tập Pháp Luân Công đã bị bắt giữ, đưa đến các cơ sở tẩy não hay các trại lao động. Để đối phó với nhu cầu cấy ghép tạng ngày càng tăng cao, chính quyền Bắc Kinh đã quyết định xây dựng cơ sở dữ liệu y tế, rồi giết những người tập Pháp Luân Công này để thu hoạch nội tạng.

Tại Mỹ, thời gian chờ đợi tạng hiến tặng phù hợp để cấy ghép lên đến 2-3 năm, trong khi ở Trung Quốc, chỉ cần không đến 2 tuần là có thể tìm được tạng cấy ghép, có trường hợp cá biệt tạng được cung cấp chỉ trong vài giờ đồng hồ. Điều này đã cho thấy thực tế rằng, các cơ sở cấy ghép tại Trung Quốc phải có sẵn một “kho dự trữ tạng sống khổng lồ” và đó chính là những người tập Pháp Luân Công.

Trong cuộc họp báo, bác sĩ Lavee cũng nhận định: “Không ai biết trước khi nào mình sẽ chết [trong trường hợp tự nguyện hiến tạng], do đó chúng ta không thể lên kế hoạch ghép tạng vào một thời điểm nhất định nào đó. Nhưng ở Trung Quốc, người ta có thể lên lịch phẫu thuật cấy ghép chỉ trong 1-2 tuần là bởi họ có thể hành quyết những người tập Pháp Luân Công bị cầm tù và mổ lấy tạng trong cùng một ngày.”

Ông Matas còn nhấn mạnh: “Ở Trung Quốc, việc kiểm tra sức khỏe và xét nghiệm máu các tù nhân chính là để thiết lập cơ sở dữ liệu cho ghép tạng. Nói cách khác, những người cung cấp tạng đã bị liệt vào ‘danh sách chờ đợi’ và khi ai đó có nhu cầu ghép tạng, họ sẽ bị hành quyết để lấy nội tạng.”

Thông qua khảo sát, bác sĩ Lavee chỉ ra rằng, có một số bệnh nhân Nhật Bản sang Trung Quốc để du lịch ghép tạng: “Ít nhất 66 bệnh nhân Nhật đã cấy ghép nội tạng ở Trung Quốc. Điều này là do bảo hiểm y tế Nhật Bản có thể được sử dụng ở nước ngoài.” Để so sánh, bác sĩ Lavee nêu ra tình huống tại Israel, luật cấy ghép được quốc gia này thông qua vào năm 2008. Theo đó, nếu một người Israel đến cấy ghép ở một đất nước bị liệt vào đối lập chính trị với Israel, bảo hiểm không chi trả cho hoạt động này. Do đó mà gần như không có bệnh nhân Israel đến Trung Quốc ghép tạng. Nhật Bản cũng nên thiết lập điều luật như vậy.

The Liberty Web cũng kêu gọi chính phủ Nhật Bản không thể để cho một tội ác kinh hoàng như vậy vẫn tiếp tục, đồng thời, các bác sĩ y khoa cũng nên ngăn cản bệnh nhân đến Trung Quốc ghép tạng và giúp nhiều người hơn biết đến tội ác tàn bạo đang diễn ra trong ngành cấy ghép tạng ở Trung Quốc, bởi xét về bản chất thì nó không khác gì những vụ thảm sát hàng loạt của Hitler và Stalin trong quá khứ.

Hiện nay, giới y khoa nói riêng và chính phủ nhiều quốc gia nói chung đã nhận thức rõ về vấn nạn mổ cướp nội tạng ở Trung Quốc và ban hành các điều luật nhằm hạn chế người dân đến quốc gia này du lịch ghép tạng. Mới đây, các nghị sĩ Quốc hội Úc đã xem xét việc mở rộng bổ sung điều khoản pháp luật nhằm ngăn chặn nạn buôn bán nội tạng người, và quy định rõ hành động ra nước ngoài ghép tạng của công dân Úc chính là phạm tội. Trước đó, Đài Loan, Ý, Tây Ban Nha và Israel đều đã thông qua điều luật cấm công dân đến Trung Quốc ghép tạng.

Minh Ngọc

Hoàng đế mới của Trung Hoa

 

Hoàng đế mới của Trung Hoa

Print Friendly, PDF & Email

Nguồn: Chris Patten, “China’s New Emperor”, Project Syndicate, 25/10/2017.

Biên dịch: Nguyễn Lương Sỹ | Biên tập: Lê Hồng Hiệp

Một giai thoại về chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon vào năm 1972 từ lâu được xem như là sự chứng thực cho tầm nhìn dài hạn của các nhà lãnh đạo Trung Quốc về lịch sử. Chu Ân Lai, nhân vật số hai mẫn cán của Mao Trạch Đông, được cho là đã trả lời câu hỏi về các bài học của cuộc Cách mạng Pháp bằng cách nói rằng còn quá sớm để nói lên được điều gì. Nhưng thực tế, theo các nhà ngoại giao có mặt ở đó, Chu không tranh luận về cuộc cách mạng năm 1789, mà là về phong trào nổi dậy của sinh viên ở Paris năm 1968, do đó có lẽ đúng là vẫn còn quá sớm để có thể nói lên điều gì.

Sau sự hiểu lầm này, bài học từ cuộc Cách mạng Pháp đã trở lại với Trung Quốc. Ngay sau Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 18 vào năm 2012, cuốn The Old Regime and the Revolution (Chế độ cũ và Cách mạng) của Alexis de Tocqueville viết năm 1856 đã trở thành cuốn sách “phải đọc” dành cho cán bộ cấp cao của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Giá trị của cuốn sách được ca ngợi nhiệt tình nhất bởi Vương Kỳ Sơn, người chèo lái chiến dịch chống tham nhũng của Tập Cận Bình và có lẽ là đồng minh thân cận nhất của chủ tịch Tập.

Toqueville lập luận rằng sự thịnh vượng ngày càng cao của nước Pháp thế kỷ 18 đã thực sự khiến cho việc quản lý đất nước này trở nên khó khăn hơn. Khi người dân trở nên giàu có, họ cũng đồng thời quan tâm nhiều hơn đến bất bình đẳng kinh tế và xã hội và do vậy sự bất bình đối với những người có quyền lực và giàu có ngày càng gia tăng. Những nỗ lực cải cách hệ thống chỉ làm nổi bật thêm tình trạng dễ tổn thương của chính nó. Cách mạng đã theo sau, quét sạch nền quân chủ và tầng lớp quý tộc. Đầu họ đã rơi.

Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ 19 mới kết thúc của Trung Quốc đã cho thấy mức độ nằm lòng quan điểm của Toqueville trong giới lãnh đạo Trung Quốc. Ông Tập đã khẳng định quyền lực không tranh cãi của mình đối với Đảng và quốc gia. Tập Cận Bình  củng cố vị thế của mình trong suốt nhiệm kỳ đầu tiên, bằng cách đảo ngược phần lớn di sản để lại của Đặng Tiểu Bình, bao gồm việc mở cửa nền kinh tế, tách bạch Đảng ra khỏi chính quyền, và đường lối “giấu mình chờ thời” về chính sách đối ngoại và an ninh.

Tập cũng triệt tiêu các đối thủ tiềm tàng, chủ yếu dựa vào chiến dịch chống tham nhũng sâu rộng nhắm đến các quan chức từng được xem là không thể đụng đến. Ông đã giám sát cuộc thanh trừng lớn nhất từ trước tới nay tại Ủy ban Trung ương Đảng. Ông thẳng tay đàn áp cả những chỉ trích và dấu hiệu bất đồng chính kiến dè dặt nhất, và thậm chí cấm truyện cười trên Internet, gồm cả những hình ảnh hài hước so sánh ông với chú gấu Winnie the Pooh.

Nếu ở một quốc gia khác, những phương thức như vậy có thể gây ra chỉ trích gay gắt, với những cáo buộc rằng hành vi của Tập đã đưa đất nước trở lại chế độ độc tài kiểu Leninist cũ kỹ. Tuy nhiên, ở Trung Quốc, những phương thức này đã thu hút được những lời ca ngợi từ giới quan sát, những người tin rằng ông Tập đang dẫn dắt con đường hiện thực hóa “giấc mơ Trung Hoa” nhằm phục hưng đất nước.

Nhưng, đối với một vài người, giấc mơ đó đang trên bờ vực trở thành cơn ác mộc. Các xu hướng dân số đang đe dọa biến sự dư thừa lao động vốn mang lại tốc độ tăng trưởng cao cho Trung Quốc trong những thập niên vừa qua thành thiếu hụt lao động với tốc độ chưa từng có. Ô nhiễm và khan hiếm nguồn nước, cùng với phát thải khí CO2 và mức độ ô nhiễm không khí gây chết người đang đe dọa sức khỏe người dân và hủy hoại sự bền vững của nền kinh tế Trung Quốc.

Ngoài ra, tăng trưởng GDP của Trung Quốc, mặc dù rất đáng hoan nghênh, lại đang được tiếp sức chủ yếu bởi sự kết hợp các khoản nợ đang tăng nhanh và bong bóng tài sản tràn lan. Thậm chí các nhà nghiên cứu Trung Quốc cũng thừa nhận rằng đất nước của họ đang có một trong những mức độ bất bình đẳng thu nhập lớn nhất trên thế giới. Khi mà người nghèo ngày càng nghèo đi, và người giàu mỗi lúc một giàu hơn, nhiều người đang đặt câu hỏi rằng liệu “chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc” thực sự nghĩa là gì.

Dĩ nhiên, luôn luôn có những người lạc quan mang lại những suy nghĩ tích cực. Phần lớn khoản nợ của Trung Quốc là nợ trong nước, bởi lẽ các ưu tiên chính trị đã định hướng việc vay mượn bên cạnh các cân nhắc về mặt thương mại. Trung Quốc ủng hộ các nỗ lực quốc tế nhằm giải quyết suy thoái môi trường và biến đổi khí hậu. Phần lớn người dân trở nên khá giả hơn, dù không đồng đều. Và chính quyền của Tập ít nhất cũng đang làm điều gì đó nhằm tiêu diệt tình trạng tham nhũng tràn lan trong Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Chúng ta đều nên hy vọng rằng ít nhất cũng có một vài điều mà những người lạc quan về Trung Quốc nói là đúng; nếu sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc sụp đổ, tất cả nền kinh tế toàn cầu sẽ bị ảnh hưởng.  Nhưng, ngay cả khi những người lạc quan đã đúng, thì tuyên bố của ông Tập rằng Trung Quốc đã tìm ra được con đường tốt hơn để vận hành một xã hội và nền kinh tế hiện đại dường như còn lâu mới đúng với thực tế.

Chắc chắn rằng, từ những trò hề ngớ ngẩn của Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump đến sự trỗi dậy đầy tàn phá của chủ nghĩa dân tộc dân túy ở châu Âu, các quốc gia dân chủ đang phải trải qua phần thử thách của mình. Nhưng các hệ thống dân chủ đều có các cơ chế ổn định hóa nội tại vốn cho phép chúng tự điều chỉnh mà không cần đến việc sử dụng bạo lực hay đàn áp.

Nhưng đó không phải là trường hợp của Trung Quốc dưới thời Tập Cần Bình. Có một tranh luận nghiêm trúc ở Trung Quốc suốt nhiều năm về vai trò đúng đắn của nhà nước trong quan hệ kinh tế. Một phe cho rằng nếu Đảng Cộng sản Trung Quốc nới lỏng sự kiểm soát nền kinh tế, họ sẽ không tránh khỏi việc mất kiểm soát đối với nhà nước. Những người khác biện luận ngược lại: trừ khi Đảng từ bỏ bớt việc kiểm soát nền kinh tế, họ sẽ mất quyền lực chính trị, vì các mâu thuẫn kinh tế sẽ nhân rộng và sự phát triển trở nên kém bền vững hơn. Ông Tập rõ ràng đã nằm trong nhóm ủng hộ vai trò lớn hơn của nhà nước.

Nhưng không chỉ có Đảng là đối tượng mà ông Tập làm gia tăng quyền lực, ông cũng gia tăng quyền lực cho cả chính mình. Thực tế, khó để biết được ai đang thăng cấp trong nấc thang quyền lực của Đảng và ai sẽ bị triệt hạ bởi bất đồng ý kiến với nhà lãnh đạo tối cao. Điều đó không ngăn cản được những người ngoài cuộc suy đoán, nhưng trò chơi phỏng đoán này cũng chẳng có ích gì. Tập, cũng giống như bất kỳ vị hoàng đế nào khác, sẽ tiếp tục bổ nhiệm những cận thần đi theo con đường mà ông dẫn dắt.

Nhưng quyền lực cao sẽ đi kèm với trách nhiệm lớn – và, ở điểm này, quyền lực của Tập gần như tuyệt đối. Đó sẽ là gánh nặng cho một người duy nhất. Tập có thể thông minh hơn nhiều so với Trump (vốn không phải là một đối thủ khó khăn để vượt qua), nhưng điều đó là không đủ để bảo đảm một tương lai ổn định và thịnh vượng cho Trung Quốc. Và, nếu mọi thứ chệch hướng, tất cả đều biết sẽ phải đổ lỗi cho ai. Đó là lý do tại sao các triều đại độc tài thường có chung một kết cục. Chẳng cần phải đọc Toqueville mới nhận ra điều này.

Chris Patten, Thống đốc người Anh cuối cùng của Hong Kong và cựu Ủy viên đối ngoại của Liên minh châu Âu, là Hiệu trưởng trường Đại học Oxford.

Con trai lớn nhất của Fidel Castro tự tử vì trầm cảm

 

Giàu có và nhiều quyền lực vẫn không bình an, hạnh phúc?

Con trai lớn nhất của Fidel Castro tự tử vì trầm cảm

Ông Fidel Castro Diaz-Balart. (Hình: AP Photo/Franklin Reyes, File)

HAVANA, Cuba (AP) – Người con trai lớn nhất của cố lãnh tụ Fidel Castro vừa tự tử hôm Thứ Năm, sau nhiều tháng bị bệnh trầm cảm, truyền thông nhà nước Cuba cho biết.

Năm nay ông 68 tuổi.

Trang web chính thức Cubadebate nói ông Fidel Castro Diaz-Balart lâu nay trong “tình trạng trầm cảm nặng.”

Một thông báo ngắn trên truyền hình nhà nước nói rằng cách chữa trị cho ông “buộc ông phải vào bệnh viện, rồi sau đó cho về nhà theo dõi tiếp.”

Người con trai lớn nhất này của ông Castro có nét giống người cha nhất, nên thường được người ta gọi là “Fidelito” hoặc “Little Fidel.”

Ông Castro Diaz-Balart học vật lý nguyên tử ở Liên Xô và là cố vấn khoa học trong Hội Đồng Nhà Nước Cuba. Ông cũng là phó chủ tịch Học Viện Khoa Học Cuba, và từng đứng đầu chương trình nguyên tử của học viện này.

Ông là con người vợ đầu tiên của ông Fidel Castro, bà Mirta Diaz-Balart, một phụ nữ thuộc tầng lớp quý tộc Cuba.

Ông Fidel Castro lập gia đình với bà từ hồi còn trẻ, trước khi bắt đầu cuộc cách mạng mà sau đó đưa ông và người em, Raul Castro, lên nắm quyền lãnh đạo Cuba.

Vì thế, về phía họ ngoại, ông Castro Diaz-Balart là anh em họ với Dân Biểu Mario Diaz-Balart, thuộc đảng Cộng Hòa và đại diện cộng đồng Cuba lưu vong ở Florida.

Ông Fidel Castro qua đời hồi Tháng Mười Một, 2016 ở tuổi 90.

Ông Raul Castro, chủ của ông Fidel Castro Diaz-Balart, hiện là chủ tịch Cuba. (Đ.D.)

Nhà hoạt động trẻ Joshua Wong được đề cử Giải Nobel Hòa bình

Nhà hoạt động trẻ Joshua Wong được đề cử Giải Nobel Hòa bình

VOA


Cựu lãnh tụ sinh viên Joshua Wong (giữa) và hai nhà hoạt động Agnes Chow (trái) và Nathan Law (phải) dược tòa Phúc thẩm Hong Kong trả tự do sau khi đóng tiền tại ngoại ngày 23/1/2018.

Cựu lãnh tụ sinh viên Joshua Wong (giữa) và hai nhà hoạt động Agnes Chow (trái) và Nathan Law (phải) dược tòa Phúc thẩm Hong Kong trả tự do sau khi đóng tiền tại ngoại ngày 23/1/2018.

Hơn chục nghị sĩ trong Quốc hội Mỹ đề cử nhà hoạt động của phong trào dân chủ và là lãnh tụ sinh viên nổi tiếng nhất của Hong Kong, anh Joshua Wong, làm ứng viên nhận Giải Nobel Hòa bình năm nay, một động thái chắc chắn làm Bắc Kinh nổi giận.

Với việc đề cử anh Wong, 21 tuổi, cùng các bạn đồng chí hướng là Nathan Law, 24 tuổi, và Alex Chow, 27 tuổi (những người đã đứng ra lãnh đạo hàng ngàn sinh viên tại Hong Kong trong cuộc biểu tình đòi dân chủ lớn nhất vào năm 2014), các nhà lập pháp Mỹ muốn công nhận “những nỗ lực ôn hòa của họ nhằm mang lại cải cách chính trị và quyền tự trị cho Hong Kong.”

Những cuộc biểu tình mà chính phủ Trung Quốc và Hong Kong xem như bất hợp pháp, là một phần của cuộc nổi dậy dân túy gây ra những thách thức to lớn nhất đối với Bắc Kinh trong nhiều thập niên.

Đề cập đến quyền tự quyết chắc chắn làm nhà cầm quyền Bắc Kinh và Hong Kong nổi giận vì họ cho rằng việc này không phù hợp với nguyên tắc “một quốc gia, hai hệ thống” mà trung tâm tài chánh châu Á này được quản trị.

“Những người bênh vực dân chủ tại Hong Kong đã có những đóng góp đáng kể cho hòa bình bằng cách tích cực mưu tìm một tương lai đảm bảo cho Hong Kong vào chính thời điểm mà Bắc Kinh có những bước phá hoại sự tự trị ấp ủ lâu nay của Hong Kong,” 4 đảng viên Dân chủ và 8 đảng viên Cộng hòa trong Quốc hội Mỹ, trong đó có cựu ứng cử viên Tổng thống Marco Rubio, trình bày với Ủy ban Giải Nobel Hòa bình trong một bức thư.

Nếu được giải, anh Wong sẽ là người trẻ thứ hai được Giải Nobel Hòa bình sau Malala Yousafzai, người Pakistan đoạt giải này vào năm 2014 khi mới 17 tuổi. Khôi nguyên thắng giải sẽ được loan báo vào tháng 10 năm nay.

Kể từ khi Anh trao trả Hong Kong lại cho Trung Quốc vào năm 1997, vùng đất này được cai trị theo nguyên tắc “một quốc gia, hai hệ thống” và Trung Quốc hứa cho Hong Kong được tự trị và tự do nhiều hơn mà người dân Hoa lục không được hưởng.

Hàng người biểu tình, nhiều người dùng dù để tự vệ trước hơi cay của cảnh sát, đã cắm trại trên những xa lộ chính trong suốt 79 ngày vào cuối năm 2014, khiến thế giới chú ý.

Tuy nhiên, các cuộc biểu tình đa phần ôn hòa này đã không áp lực được nhà cầm quyền Hong Kong và Bắc Kinh cho phép Hong Kong được hoàn toàn dân chủ.

Ba nhà lãnh đạo trẻ đã bị giam cầm trong nhiều tháng trời và bản thân anh Wong đang đối mặt với hai phiên phúc thẩm với các án tù.

Anh Wong nói anh hy vọng đề cử dành cho anh sẽ mang lại thêm sức mạnh cho phong trào dân chủ ở Hong Kong.

Anh Wong nói: “Tôi tin là sự đề cử này sẽ cho cộng đồng thế giới và Chủ tịch Trung Quốc, Tập Cận Bình, thấy rằng thế hệ trẻ sẽ kiên trì đấu tranh cho dân chủ tới mức nào, cho dù chúng tôi phải đối mặt với tù đày và bị cấm vĩnh viễn không được bước vào vị trí công cử nào.

Vì sao chủ nghĩa xã hội thất bại?

 

Vì sao chủ nghĩa xã hội thất bại?

Print Friendly, PDF & Email

Nguồn: Paul R. Gregory, “Why Socialism Fails”, Hoover Institution, 10/01/2018.

Biên dịch: Hiếu Chân

Khi Liên bang Xô viết gần sụp đổ, Francis Fukuyama tuyên bố chế độ dân chủ tự do đã chiến thắng chủ nghĩa xã hội kế hoạch hóa trong bài nhận định năm 1989 của ông, Điểm tận cùng của Lịch sử?. Hơn một phần tư thế kỷ sau đó, Liên Xô quả thực đã tan rã. Phần lãnh thổ Đông Âu của nó bây giờ thuộc về Liên minh Âu châu. Trung Quốc có một nền kinh tế thị trường cho dù đất nước vẫn bị cai trị bởi một đảng duy nhất. Còn các nhà nước “xã hội chủ nghĩa” Bắc Hàn, Cuba và Venezuela đang trong đống đổ nát về kinh tế. Giờ đây, ít ai ủng hộ việc “quay lại Liên Xô”. Nhưng đồng thời, nhiều người vẫn coi chủ nghĩa xã hội là một hệ thống kinh tế hấp dẫn. Hãy xem trường hợp ông Bernie Sanders[1] – một người công khai thừa nhận ủng hộ một nước Mỹ xã hội chủ nghĩa – và rất nhiều người trẻ trưởng thành vào điểm chuyển giao giữa hai thế kỷ ưa thích chủ nghĩa xã hội hơn chủ nghĩa tư bản.

Sự tương đồng về kỵ sĩ và con ngựa giải thích cho sự hấp dẫn kéo dài của chủ nghĩa xã hội. Những người xã hội chủ nghĩa tin rằng các chế độ xã hội chủ nghĩa đã chọn sai kỵ sĩ để cưỡi con ngựa xã hội chủ nghĩa đi tới chiến thắng xứng đáng với nó. Những kỵ sĩ tệ hại như Stalin, Mao, Fidel, Pol Pot và Hugo Chavez đã chọn những chiến thuật và chính sách dẫn con ngựa xã hội chủ nghĩa của họ đi trật đường. Nhưng trên thực tế, một cái nhìn vào cách thức Liên Xô hoạt động lại bộc lộ rằng, chính bản thân con ngựa mới là vấn đề.

Sau khi giành được quyền lực một thế kỷ trước và nắm giữ quyền lực thông qua một cuộc nội chiến, những người cộng sản Liên Xô có ý định xây dựng một nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ chôn vùi chủ nghĩa tư bản. Sở hữu nhà nước và kế hoạch hóa khoa học sẽ thay thế cho tình trạng vô chính phủ của thị trường. Lợi ích vật chất sẽ dồn về phía giai cấp lao động. Một nền kinh tế công bằng sẽ thay cho sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản và con người mới xã hội chủ nghĩa sẽ nổi lên, những người đặt ưu tiên cho lợi ích của xã hội lên trên lợi ích cá nhân. Chuyên chính vô sản sẽ bảo đảm quyền lợi của giai cấp lao động. Thay vì bóc lột giá trị thặng dư từ người lao động, nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ lấy đồ cống nạp của các nhà tư bản để tài trợ cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Những nền tảng căn bản của “con ngựa” Xô-viết đã được thiết lập vào đầu thập niên 1930. Theo hệ thống này, Stalin và bộ chính trị của ông ta đặt ra những ưu tiên chung cho các bộ công nghiệp và ủy ban kế hoạch nhà nước. Các bộ và các nhà kế hoạch làm việc cùng nhau để soạn ra các kế hoạch kinh tế. Cán bộ quản lý của hàng trăm ngàn nhà máy, công xưởng, cửa hàng thực phẩm và ngay đến các nông trại đều bị pháp luật bắt buộc phải hoàn thành kế hoạch mà cấp trên giao cho.

Nhà nước Xô-viết khởi động nền kinh tế kế hoạch hóa xã hội chủ nghĩa của họ khi thế giới tư bản chủ nghĩa chìm sâu vào suy thoái, chiến tranh thương mại và lạm phát phi mã. Chính quyền Xô-viết khoe khoang về mức tăng trưởng chưa từng có trước đây. Các tổ hợp công nghiệp mới mọc lên từ số không. Các tạp chí đăng hình ảnh những công nhân vui sướng nghỉ ngơi trong những khu nghỉ mát đầy đủ tiện nghi. Thông điệp là: Phương Tây đang thất bại và hệ thống kinh tế Xô-viết là con đường đi tới tương lai.

Khi cuộc cạnh tranh giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội Liên Xô trở nên rõ rệt trong thời Chiến tranh Lạnh, hoạt động nghiên cứu học thuật nghiêm túc về nền kinh tế Xô-viết cũng bắt đầu. Chương trình nghiên cứu bao quát của các học giả phương Tây nhắm vào “kế hoạch hóa khoa học” – những người xã hội chủ nghĩa tin rằng các chuyên gia kỹ trị có thể quản lý nền kinh tế tốt hơn là những lực lượng thị trường tự phát. Suy cho cùng, chẳng phải các chuyên gia thì hiểu biết hơn người mua người bán về chuyện cần sản xuất cái gì, như thế nào và cho ai sử dụng hay sao?

Chính các nhà kinh tế học người Áo F.A. Hayek và Ludwig von Mises là những người chống lại niềm tin này quyết liệt nhất. Trong sự phê phán có tính biểu tượng của họ, được trình bày trong hàng loạt công trình nghiên cứu từ thập niên 1920 đến 1940, họ đi đến kết luận rằng chủ nghĩa xã hội sẽ thất bại. Trong các nền kinh tế hiện đại, hàng trăm ngàn doanh nghiệp sản xuất ra hàng triệu sản phẩm. Quản lý một số lượng lớn như vậy là việc quá phức tạp mà không một cơ quan hành chính nào có thể phân bổ nguồn lực nổi, cho dù có sự trợ giúp của công nghệ máy tính tinh vi nhất. Kinh tế hiện đại do đó quá phức tạp và không kế hoạch hóa được. Không có thị trường và giá cả, các nhà hoạch định chính sách không biết được mặt hàng nào bị khan hiếm, sản phẩm nào dư thừa. Nếu tài sản thuộc về mọi người, thì những người quản lý tài sản cho xã hội sẽ phải theo những luật lệ nào?

Giải pháp của người Xô-viết cho những vấn đề về tính phức tạp và thông tin là một kế hoạch quốc gia đặt mục tiêu sản xuất cho những khu vực kinh tế lớn chứ không phải cho những giao dịch cụ thể. Nói cách khác, thay vì bắt buộc nhà máy A phải giao cho nhà máy B 10 tấn dây cáp thép, các nhà kế hoạch đặt mục tiêu tổng số tấn dây cáp được sản xuất trong cả nước. Chỉ có một số mặt hàng đặc biệt – chẳng hạn như dầu thô, quặng nhôm, than nâu, điện năng và toa vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt – mới được lập kế hoạch như những giao dịch thật sự. Còn tất cả những mặt hàng khác chỉ được kế hoạch hóa theo số lượng thô, chẳng hạn như đặt mục tiêu dệt ra vài triệu mét vuông vải. Các đặc điểm của sản phẩm, kế hoạch giao hàng và thanh toán tiền chỉ được vạch ra ở những cấp thấp, và thường dẫn tới những kết quả thảm hại.

Kế hoạch hóa khoa học kiểu Xô viết trong thực tế chỉ tác động tới một phần rất nhỏ sản phẩm. Vào đầu thập niên 1950, các cơ quan trung ương lập ra hơn 10.000 chỉ mục kế hoạch trong khi sản phẩm công nghiệp có đến hơn 20 triệu chỉ mục khác nhau. Các cơ quan trung ương lập ra những kế hoạch tổng quát cho các bộ công nghiệp, các bộ này lại đề ra những kế hoạch chi tiết hơn cho các “khu hành chính quan trọng”, nơi sẽ chuẩn bị kế hoạch cho các doanh nghiệp. Không bao giờ có yêu cầu các quan chức hàng đầu phải đưa ra kế hoạch sản xuất các sản phẩm đặc biệt nào đó.

Để làm cho vấn đề thêm phức tạp, gần như tất cả mọi kế hoạch đều chỉ là “dự thảo”, có thể được thay đổi bất cứ lúc nào bởi các quan chức của đảng và chính quyền cấp cao hơn. Sự can thiệp thường xuyên này, gọi là “giám sát”, là một điều phiền toái xảy ra từ ngày đầu tiên tới ngày cuối cùng của hệ thống Xô-viết, nhưng đó cũng là cột trụ cho công cuộc phân bổ nguồn lực.

Các nhà kế hoạch trung ương chuẩn bị những kế hoạch sơ bộ cho một bộ phận nhỏ của nền kinh tế. Những “kế hoạch dự thảo” này lại kích hoạt “những trận chiến giành kế hoạch” to lớn khi các bộ và các doanh nghiệp tìm cách hoàn thành mục tiêu sản xuất của họ và đáp ứng các định mức giao hàng; tất cả những chuyện này đều có thể thay đổi bởi các cán bộ đảng và cán bộ địa phương vào bất cứ lúc nào.

Như bộ trưởng công nghiệp nặng Sergo Ordzhonokidze than phiền vào năm 1930: “Tôi đoán họ nghĩ rằng chúng tôi là một lũ ngốc. Mỗi ngày họ cho chúng tôi từ nghị quyết này đến nghị quyết khác mà không có cơ sở nào cả”. Một nửa thế kỷ sau một nhà thầu quốc phòng ẩn danh cũng đưa ra lời than phiền tương tự: “Họ nhúng mũi vào mọi vấn đề. Chúng tôi bảo họ rằng họ đã sai, nhưng họ vẫn đòi phải làm theo cách của họ”.

Nhiệm vụ của người quản lý được cho là rất đơn giản: Kế hoạch là pháp lệnh, công việc của người quản lý là hoàn thành kế hoạch. Nhưng kế hoạch cứ tiếp tục thay đổi. Hơn thế nữa, nó bao gồm nhiều nhiệm vụ khác nhau, chẳng hạn như giao hàng, sản lượng và phân loại. Xuyên qua toàn bộ lịch sử của Liên Xô, tổng sản lượng gộp (đo bằng tấn, mét hoặc toa hàng/dặm) là các chỉ tiêu kế hoạch quan trọng nhất và cũng dễ thao túng nhất. Các nhà sản xuất đinh chẳng hạn, mà sản lượng được tính theo trọng lượng, chỉ sản xuất các loại đinh to và nặng. Các nhà sản xuất máy kéo, cố gắng hoàn thành định mức máy kéo, bị phát hiện chỉ giao cho khách hàng những chiếc máy kéo không có động cơ; buộc khách hàng phải mua động cơ như mua phụ tùng. Các nhà sản xuất giày mà kế hoạch dựa trên số lượng giày làm ra chỉ sản xuất giày cùng một cỡ, cùng một màu, bất chấp nỗi khổ tâm của khách hàng. Những mục tiêu kế hoạch khác, chẳng hạn như áp dụng công nghệ mới hoặc làm giảm chi phí sản xuất, bị lãng quên vì bị coi là không có tác dụng giúp hoàn thành kế hoạch.

Dưới chế độ kế hoạch hóa khoa học, cung cầu phải gần ngang nhau – và do ác cảm của họ đối với tính lộn xộn của thị trường, các nhà kế hoạch Xô-viết không thể cân đối cung cầu bằng cách nâng giá hoặc hạ giá. Thay vì vậy, họ soạn ra cái gọi là “cân đối vật chất”, sử dụng phép kế toán cổ xưa để so sánh những vật liệu nào đang có sẵn với những vật liệu cần có theo một nghĩa nào đó.

Kế hoạch hóa cân đối-vật chất kiểu Xô-viết có rất nhiều khiếm khuyết. Ví dụ, chỉ có thể soạn ra một số sự cân đối – năm 1938 chỉ có 379 sự cân đối ở trung ương được chuẩn bị cho một thị trường có hàng triệu mặt hàng. Và rồi, những sự cân đối này lại dựa trên những thông tin méo mó. Các nhà sản xuất hàng hóa trong phép cân đối này vận động để được phân bổ những mục tiêu thấp, che giấu năng lực sản xuất thật của họ. Những người sử dụng sản phẩm công nghiệp trong phép cân đối, ngược lại, lại khai vống lên những gì họ cần để bảo đảm việc hoàn thành kế hoạch của riêng họ.

Hình dung ra một sự cân đối thích hợp là một công việc mệt mỏi – và các nhà kế hoạch Xô-viết không phải năm nào cũng sáng tác ra cái mới; thay vì vậy, họ áp dụng cách gọi là “kế hoạch hóa từ mức độ đã hoàn tất”, nghĩa là kế hoạch của mỗi năm là kế hoạch của năm trước đó cộng thêm một số điều chỉnh nhỏ.

Vào đầu thập niên 1930, các cơ quan cung cấp phân phối nguyên vật liệu dựa trên những gì họ đã làm trong năm trước đó. Lướt nhanh đến thập niên 1980, cũng vẫn thấy cung cách làm việc như vậy. Khi một nhà sản xuất vật liệu nghề hàn muốn sử dụng tấm kim loại mỏng hơn thì câu trả lời chính thức là: “Tôi không quan tâm tới công nghệ mới. Cứ làm như cũ để mọi sự vẫn như cũ”. Kế hoạch hóa cân đối vật chất là kẻ thù của sản phẩm mới và công nghệ mới bởi vì chúng đòi hỏi phải làm lại một hệ thống các cân đối vốn đã rất mong manh. Các nhà kinh tế học Mỹ nghiên cứu sản xuất công nghiệp của Liên Xô trong thập niên 1950 hết sức ngạc nhiên khi thấy những cỗ máy đã sản xuất vài thập niên mà không hề được cải tiến gì cả, một chuyện chưa từng nghe thấy ở phương Tây.

Kế hoạch hóa cân đối vật chất là điểm yếu cơ bản nhất của hệ thống Xô-viết. Nó làm cho nền kinh tế Liên Xô bị đông cứng lại. Sản xuất của mỗi năm là bản sao chép năm trước đó. Một cán bộ quản lý Liên Xô năm 1985 sẽ cảm thấy hết sức thoải mái trong cùng doanh nghiệp đó vào năm 1935.

Ngoài kế hoạch hóa cân đối vật chất, ngân sách mềm (soft budgets) cũng tạo thành một khuyết điểm nghiêm trọng khác. Nhà kinh tế học Janos Kornai của trường Đại học Harvard lớn lên ở Hungary dưới thời xã hội chủ nghĩa kế hoạch hóa. Nghiên cứu của ông, dựa trên những trải nghiệm trực tiếp, tập trung vào những thất thoát kinh tế diễn ra cùng với những giới hạn của ngân sách mềm. Theo Kornai, nếu doanh nghiệp không phải đối mặt với nguy cơ phá sản, chúng sẽ không tìm cách cắt giảm chi phí và tìm những chiến lược sinh tồn khác. Từ ngày đầu tiên của hệ thống Xô-viết, các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ đã hiểu rằng họ sẽ được tự động cứu nguy, nếu không nói là cứu ngay.

Nguyên nhân ban đầu của chính sách ngân sách mềm là do hệ thống Xô-viết dựa trên kế hoạch sản lượng. Đầu ra của doanh nghiệp này là đầu vào của doanh nghiệp khác. Nếu kế hoạch sản lượng bị đổ vỡ thì toàn bộ kế hoạch sẽ thất bại. Đưa một doanh nghiệp ra khỏi nền sản xuất do làm ăn kém cỏi không đơn giản là một sự lựa chọn.

Trong thực tế, các doanh nghiệp thua lỗ thường trả các khoản tiền hàng bằng trái phiếu ghi nợ (IOU). Các phiếu ghi nợ không được thanh toán đúng hạn sẽ nhiều lên dần rồi đạt tới quy mô khủng hoảng. Gosbank, tức ngân hàng nhà nước Liên Xô – sẽ vào cuộc và giải quyết các hóa đơn chưa thanh toán bằng cách phát hành thêm tiền và tạo ra cái mà các quan chức ngân hàng Xô-viết gọi là “treo tiền” – đồng tiền chạy theo hàng hóa hơn là có hàng hóa để mua. Trong thực tế, việc kinh doanh chính của Gosbank trong những năm đầu tiên của hệ thống Liên Xô là tổ chức những vụ cứu nguy tài chính. Khi một vụ cứu nguy này hoàn tất cũng là lúc bắt đầu tiến hành vụ cứu nguy kế tiếp.

Vấn đề của chủ nghĩa xã hội không phải là kỵ sĩ tồi mà là chính con ngựa. Hệ thống kinh tế Xô-viết mắc nhiều chứng bệnh cuối cùng sẽ làm nó ngã quỵ. Bắt đầu từ cuối thập niên 1960, kinh tế Liên Xô rơi vào cuộc suy thoái kéo dài, về sau được gọi là “giai đoạn trì trệ”. Mikhail Gorbachev được chọn làm tổng bí thư đảng Cộng sản Liên Xô năm 1985 với cam kết rằng ông, một nhà cải cách cấp tiến, sẽ đảo ngược đà suy thoái này.

Gorbachev đã thất bại vì cốt lõi của hệ thống kế hoạch hóa Xô-viết đã mục ruỗng. Bất chấp thiên hướng cải cách của ông, Gorbachev vẫn là một tín đồ của chủ nghĩa xã hội. Ông quyết tâm cứu vãn chủ nghĩa xã hội Xô-viết bằng cách làm cho nó giống với chủ nghĩa tư bản. Khi làm như vậy, ông đã tạo ra một nền kinh tế không phải là kế hoạch hóa, cũng không phải kinh tế thị trường – một cuộc tranh chấp đầy hỗn loạn, mà nhân dân Nga tới hôm nay vẫn buồn rầu gọi đó là “chủ nghĩa tư bản hoang dã”.

Paul Roderick Gregory lấy bằng tiến sĩ kinh tế tại Đại học Harvard, làm nghiên cứu viên của Viện Hoover, giáo sư khoa kinh tế của Đại học Houston, Texas; giáo sư nghiên cứu tại Học viện Đức về nghiên cứu kinh tế ở Berlin; chủ tịch danh dự Ban Tư vấn quốc tế trường Kinh tế Kiev (Ukraine). Ông cũng đồng thời là giáo sư thỉnh giảng các trường Đại học quốc gia Moscow (Nga), Đại học Viadrina (Nga) và Đại học Tự do Berlin (Đức).

——————

[1] Bernie Sanders: Thượng nghị sĩ Dân chủ bang Vermont, Hoa Kỳ, thất bại trong cuộc tranh giành với bà Hillary Clinton tư cách đại diện đảng Dân chủ ra tranh cử tổng thống Mỹ trong cuộc bầu cử tháng 11-2016.

Nguồn: Viet-studies

Chính phủ Hoa Kỳ đóng cửa, không thể giải ngân

Chính phủ Hoa Kỳ đóng cửa, không thể giải ngân

Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ chính phủ phải đóng cửa trong khi Đảng Cộng Hòa kiểm soát cả hai viện của Quốc hội và Nhà Trắng.
Bản quyền hình ảnh   GETTY IMAGES
Đây là lần đầu tiên trong lịch sử chính phủ Hoa Kỳ phải đóng cửa trong khi Đảng Cộng Hòa kiểm soát cả hai viện của Quốc hội và Nhà Trắng.

Chính phủ Mỹ đã ngừng hoạt động liên bang sau khi Thượng viện không thể thống nhất về ngân sách mới.

Mặc dù đã có các cuộc họp lưỡng đảng phút cuối cùng, dự luật cho ngân sách của chính phủ cho đến 16/2 đã không nhận được đủ 60 phiếu.

Điều đó có nghĩa là nhiều dịch vụ của chính phủ sẽ đóng cửa cho đến khi ngân sách được thông qua.

Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ chính phủ phải đóng cửa trong khi chỉ có một đảng kiểm soát cả hai viện của Quốc hội và Nhà Trắng.

Hạ viện đã bỏ phiếu 230-197 vào tối 18/1 cho dự luật mở rộng ngân quỹ cho tới tháng tới, nhưng lại không được thông qua ở Thượng viện với tỷ lệ 50-49.

Năm đảng viên Cộng hòa đã bỏ phiếu chống lại dự luật, trong khi năm đảng viên Dân chủ phá vỡ quy ước đảng để ủng hộ nó.

Lần cuối chính phủ Mỹ đóng cửa là vào năm 2013 và kéo dài trong 16 ngày, khi đó nhiều nhân viên liên bang đã buộc phải nghỉ việc.

Nhiều văn phòng chính phủ sẽ đóng cửa theo luật liên bang yêu cầu các cơ quan phải đóng cửa nếu Quốc hội chưa phân bổ tiền để tài trợ cho họ.

Các công viên và di tích quốc gia cũng có thể bị đóng cửa.

Nhưng các dịch vụ thiết yếu vẫn sẽ chạy. Bao gồm an ninh quốc gia, dịch vụ bưu chính, kiểm soát không lưu, các dịch vụ y tế nội trú, y tế ngoại trú khẩn cấp, trợ giúp thảm họa, nhà tù, thuế và phát điện.

Vấn đề ở đây là gì?

Chủ đề tranh cãi chính là yêu cầu của đảng Dân chủ đối với hơn 700.000 người nhập cư không có giấy tờ mà đã nhập cảnh Hoa Kỳ khi còn là trẻ em phải được bảo vệ khỏi lệnh trục xuất.

Những người ủng hộ dự luật DREAM biểu tình bên ngoài Điện Capitol hôm 18/1
Bản quyền hình ảnh  GETTY IMAGES
Những người ủng hộ dự luật DREAM biểu tình bên ngoài Điện Capitol hôm 18/1

Những người này còn được biết đến là “Dreamers”, đã được trao quyền pháp lý tạm thời theo một chương trình do cựu Tổng thống Barack Obama thiết lập.

Tháng 9, ông Trump tuyên bố ông sẽ chấm dứt chương trình này và cho phép Quốc hội cho đến tháng Ba để thay thế một chương trình khác.

Chủ tịch đảng Cộng hòa và những người của phe bảo thủ của Quốc hội đã sử dụng vấn đề này để thương lượng lấy sự nhượng bộ từ đảng Dân chủ.

Ông Trump muốn tài trợ cho các biện pháp kiểm soát biên giới mới, bao gồm cả việc xây bức tường biên giới giữa Hoa Kỳ-Mexico mà ông đề xuất.

Các đảng viên Cộng hòa đã dỗ ngọt đảng Dân Chủ bằng cách bổ sung chính sách gia hạn 6 năm cho một chương trình bảo hiểm y tế cho trẻ em thuộc các gia đình có thu nhập thấp.

Nhưng đảng Dân chủ muốn chương trình này kéo dài vĩnh viễn.

Hiện không rõ cuộc bỏ phiếu sẽ diễn ra theo hướng nào khi hạn chót nửa đêm đang gần kề, với đảng Cộng hòa và Dân chủ vẫn chia rẽ rõ rệt về những vấn đề chính.

Sự thật về cuộc gặp Mao Trạch Đông – Stalin

Sự thật về cuộc gặp Mao Trạch Đông – Stalin

Nghiên Cứu Quốc Tế

 17/01/2017 by The Observer

Biên dịch:  Nguyễn  Hải Hoành

Mao Trạch Đông cả đời chỉ ra nước ngoài có hai lần. Lần thứ nhất là tháng 12/1949 đi Liên Xô gặp Stalin ký “Hiệp ước Hữu hảo đồng minh hỗ trợ Trung Quốc-Liên Xô”. Lần ấy Mao Trạch Đông ở Liên Xô 59 ngày. Lần thứ hai là hạ tuần tháng 10/1957 đi Liên Xô dự Hội nghị các đảng Cộng sản toàn thế giới và cùng Khrushchev duyệt cuộc diễu hành tại Quảng trường Đỏ nhân ngày lễ kỷ niệm 40 năm Cách mạng Tháng Mười.

  1. Trả lại sự thật cho lịch sử

Năm 2007, Đài Truyền hình trung ương Trung Quốc (TQ) và các đài địa phương từng mấy lần đưa tin về cuộc đời của nhà ngoại giao lão thành Vương Gia Tường [Đại sứ TQ đầu tiên tại Liên Xô], trong bản tin có nhấn mạnh: tháng 12/1949 Mao Trạch Đông sau khi đến Liên Xô bị Stalin đối xử lạnh nhạt nên ông muốn về nước sớm; sau khi Mao Trạch Đông tiếp các nhà báo và công bố bài “Trả lời nhà báo”, Stalin mới gặp Mao bàn các vấn đề quan trọng.

Sự thật lịch sử không phải như thế. Sau khi Mao Trạch Đông và đoàn tùy tùng đến Moskva (16/12/1949), ngay ngày hôm đó Stalin đã hội kiến Mao Trạch Đông tại điện Kremlin. Ông bắt tay Mao và chân thành nói: “Hoan nghênh đồng chí đến thăm Liên Xô. Tôi không ngờ đồng chí lại trẻ và khỏe mạnh thế này. Đồng chí thật giỏi, có cống hiến rất lớn cho cách mạng TQ và nhân dân TQ, đích thực là người con tốt của nhân dân TQ! Chúc các đồng chí giành được thắng lợi vĩ đại, chúc nhà nước của các đồng chí tiến lên không ngừng!”

Sau đó Stalin nói: “Đồng chí đến đây không dễ dàng, chúng ta có thể thoải mái trò chuyện với nhau. Đồng chí có ý kiến và nguyện vọng gì không ?”

Mao Trạch Đông đáp: “Lần này chúng tôi đến trước hết để chúc thọ đồng chí, sau đó là để thăm đất nước vĩ đại của các đồng chí…”

Ngày 21/12/1949, Mao Trạch Đông dự lễ chúc thọ Stalin 70 tuổi.

Ngày 24, Stalin và Mao Trạch Đông hội đàm lần thứ nhất. Cuộc hội đàm kéo dài 5 tiếng đồng hồ.

Ngày 25, Stalin gọi điện thoại đến biệt thự Mao Trạch Đông ở, trước tiên hỏi thăm điều kiện ăn ở của Mao Trạch Đông, sau đó ngỏ ý muốn đến thăm Mao, nhưng cán bộ bảo vệ và y tế không cho ông đi đâu cả, vì thế ông rất lấy làm tiếc! Mao Trạch Đông cảm ơn và khuyên Stalin không cần đến thăm. Cuộc trao đổi điện thoại này do người phiên dịch của Mao Trạch Đông là Tôn Duy Thế phiên dịch.

Ngày 26, Stalin và Mao Trạch Đông hội đàm lần thứ hai, cũng kéo dài 5 giờ.

Trong hai lần hội đàm, Mao Trạch Đông dùng nhiều sự thực lịch sử chứng minh Đảng Cộng sản TQ có sức mạnh giải phóng toàn TQ [lúc bấy giờ một số vùng ở miền Nam TQ và Tây Tạng vẫn còn chưa được giải phóng khỏi ách chiếm đóng của Quốc Dân Đảng], có năng lực quản lý nước TQ mới. Sau khi hoàn thành cuộc cách mạng dân chủ mới, TQ sẽ tiến hành cách mạng XHCN. Trong quá trình đó nếu gặp những chỗ chưa hiểu, sẽ mời ông anh cả Liên Xô giúp đỡ chúng tôi. Nhưng quyền tự chủ là thứ không thể từ bỏ. Chúng tôi có chủ quyền không thể nghi ngờ đối với bất cứ mảnh đất nào của TQ.

Nội dung hội đàm cũng đề cập vấn đề quá trình quanh co lắt léo của ĐCSTQ trong việc lãnh đạo cách mạng ở TQ và mối quan hệ giữa cách mạng TQ với Quốc tế cộng sản [vì Quốc tế Cộng sản từng có thời ủng hộ những người chống Mao trong ĐCSTQ]. Stalin nói: “Rốt cuộc các đồng chí đã giành được thắng lợi, mà người chiến thắng thì không bị xét xử. Mọi cái thuộc về người chiến thắng thì đều đúng cả.”

Trong hội đàm, Stalin từng tỏ ý lo ngại về năng lực lãnh đạo của ĐCSTQ và từng đề nghị nên chăng tạm thời để TQ và Liên Xô cùng quản lý vùng Đông Bắc TQ [nơi có nhiều cơ sở công nghiệp nặng do Nhật để lại].

Qua hội đàm, Stalin rất khâm phục tài cán của Mao Trạch Đông và hiểu thêm về ĐCSTQ. Tình hữu nghị và lòng tin giữa hai bên được tăng cường một bước. Trong hội đàm, Stalin trước tiên ngỏ ý “Nên dùng một hiệp ước để củng cố mối quan hệ giữa hai nước.”

Hai bên đồng ý rằng việc soạn thảo và ký kết hiệp ước cùng các hiệp định liên quan tới hợp tác kinh tế kỹ thuật, thương mại, thanh toán…  nên giao cho một phái đoàn chuyên môn của mỗi nước tiến hành giải quyết cụ thể.

Trong thời gian chờ đợi phái đoàn Chính phủ TQ do Thủ tướng Chu Ân Lai đến Liên Xô, Mao Trạch Đông đã đi thăm Leningrad và một số nhà máy.

Sau ngày Mao Trạch Đông đến Liên Xô, các Ủy viên Bộ Chính trị ĐCSLX Molotov, Mikoyan, Bộ trưởng Ngoại giao Vesinski đã nhiều lần tới thăm Mao Trạch Đông.

Trong nửa tháng đầu, Chủ tịch Mao chủ yếu hội đàm nội bộ với Stalin, thời gian còn lại bận giải quyết các công việc trong nước, không công bố tin về các hoạt động của mình. Điều đó đã gây ra lắm tin đồn phỏng đoán nhảm nhí trong giới truyền thông phương Tây. Họ đưa tin “Mao Trạch Đông bị Stalin giam lỏng rồi!”, “Mất tích rồi!” v.v… Trước tình hình đó, Chủ tịch Mao tiếp thu đề nghị của Đại sứ TQ Vương Gia Tường, ngày 2/1/1950 tiến hành trả lời các câu hỏi của nhà báo.

Trong trả lời nhà báo, Mao Trạch Đông nói: “Thời gian tôi ở lại Liên Xô có phần phụ thuộc vào nhu cầu thời gian dùng để giải quyết các vấn đề có liên quan tới lợi ích của nước TQ mới. Trong đó có vấn đề ký Hiệp ước Hữu hảo đồng minh hỗ trợ Trung Quốc-Liên Xô và hiệp định thương mại, hiệp định viện trợ kinh tế kỹ thuật và hiệp định vay vốn v.v…”.

Sau khi bài “Trả lời nhà báo” được công bố, các lời đồn đại của phương Tây đã tự nhiên biến mất. Tức giận trước sự việc báo chí tư sản phương Tây đơm đặt tin tức về chuyến thăm Liên Xô của mình, Mao Trạch Đông nói: “Logic của bọn đế quốc và tất cả các bọn phản động là gây rối, thất bại, rồi lại gây rối, lại thất bại, cuối cùng đi đến chỗ diệt vong”.

Những sự thật kể trên cho thấy, trước khi Mao Trạch Đông trả lời giới nhà báo, người đứng đầu hai nước đã quyết định sẽ tiến hành những công việc quan trọng như ký Hiệp ước Hữu hảo đồng minh hỗ trợ Trung-Xô, chứ không phải như một số người TQ cho tới nay vẫn nói xằng là “Sau khi công bố bài Trả lời giới nhà báo, Stalin mới gặp Mao Trạch Đông bàn vấn đề ký Hiệp ước, còn trước đó Stalin phớt lờ Mao Trạch Đông”.

Cũng do cuộc đàm phán giữa hai bên ngày càng đi sâu vào các vấn đề có tính thực chất nên Mao Trạch Đông tràn đầy niềm tin vào sự hợp tác Trung-Xô. Ông chưa bao giờ tỏ ra nản chí hoặc có ý muốn về nước sớm.

  1. Ký hiệp ước Hữu hảo Đồng minh hỗ trợ Trung – Xô

Ngày 20/1/1950, phái đoàn Chính phủ TQ gồm hơn 20 người do Thủ tướng Chu Ân Lai dẫn đầu đến Moskva.

Ngày 22, Stalin tiếp Mao Trạch Đông cùng phái đoàn TQ do Chu Ân Lai đứng đầu. Stalin tuyên bố: “Hôm nay nhà lãnh đạo hai nước chúng ta chính thức hội đàm”. Mao Trạch Đông nói: “Đồng chí Stalin từng nói phải chăng vấn đề quan hệ TQ-Liên Xô nên được cố định bằng hình thức hiệp ước. Chúng tôi cũng cho rằng dùng hình thức hiệp ước để cố định mối quan hệ giữa hai nước TQ-Liên Xô là một việc tốt. Nội dung hiệp ước nên bao gồm sự hợp tác chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa, ngoại giao v.v…”

Stalin nói: “Tôi đồng ý bàn vấn đề hiệp ước, ngoài ra còn các vấn đề về con đường sắt Trường Xuân, cảng Lữ Đại [Lữ Thuận và Đại Liên], vấn đề thương mại, vay vốn, vấn đề hợp tác hàng không dân dụng cũng phải bàn bạc”.

Stalin và Mao Trạch Đông nhất trí đồng ý để hai bên lập các tổ chuyên đề trực tiếp bàn với nhau từng vấn đề.

Về “Hiệp ước đồng minh”, phía Liên Xô đồng ý đàm phán trên cơ sở bản dự thảo hiệp ước do phía TQ đưa ra.

Trong thời gian đàm phán, Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai có hôm phải thức đến 3 giờ sáng để nghiên cứu các điều khoản trong Hiệp ước và các hiệp định kèm theo.

Nước CHND Trung Hoa sau khi thành lập đã tuyên bố không thừa nhận tất cả các hiệp định quốc tế do nước TQ cũ ký với các nước ngoài. Nhưng vấn đề độc lập của Ngoại Mông Cổ là một ngoại lệ [mời tham khảo: Stalin và đàm phán Xô-Trung về việc Mông Cổ độc lập]. Nhân dân TQ tôn trọng kết quả cuộc bỏ phiếu tự quyết năm 1945 của nhân dân Mông Cổ nhất trí đồng ý độc lập. Thủ tục cuộc bỏ phiếu tự quyết đó do Chính phủ Quốc dân [do Tưởng Giới Thạch đứng đầu] thực hiện, nước CHND Trung Hoa thừa nhận cuộc bỏ phiếu này. Liên Xô tỏ ý ủng hộ lập trường đó của TQ.

Qua hơn nửa tháng đàm phán, hai phía TQ và Liên Xô đạt được sự đồng thuận về các điều khoản của “Hiệp ước đồng minh” và các hiệp định đính kèm. Đã đến lúc ký các thỏa thuận đó.

Tối ngày 14/2/1950, Stalin và Mao Trạch Đông dự lễ ký “Hiệp ước Hữu hảo đồng minh hỗ trợ Trung Quốc-Liên Xô” [tiếng Nga dịch là Hiệp ước hữu nghị, liên minh và tương trợ Liên Xô-TQ]. Đồng thời còn ký các hiệp định về vấn đề đường sắt Trường Xuân và cảng Lữ Đại, vấn đề vay vốn…

Ngày 15, Stalin và các nhà lãnh đạo Liên Xô dự buổi chiêu đãi long trọng do Sứ quán TQ mời.

Ngày 16, Stalin mở đại tiệc tại điện Kremlin tiễn Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai về nước.

Ngày 4/3/1950, Mao Trạch Đông và những người cùng đi về tới Bắc Kinh, kết thúc thắng lợi chuyến thăm Liên Xô lần thứ nhất.

Chuyến thăm Liên Xô kể trên đã thu được thành công lớn.

Điều thứ nhất của “Hiệp ước đồng minh” quy định: “Khi một trong hai bên ký Hiệp ước này bị xâm lược, bên kia phải toàn lực viện trợ”. Điều đó đã giúp TQ đang ở trong vòng vây của đế quốc Mỹ giành được sự bảo đảm an ninh.

Các hiệp định kinh tế, thương mại và vay vốn tạo điều kiện giúp TQ phục hồi nền kinh tế quốc dân của mình. TQ nhận được khoản vay đầu tiên trị giá 300 triệu dollar Mỹ với lãi suất chỉ có 1%, thời gian trả nợ là 10 năm. Trong ba năm, Liên Xô sẽ giúp TQ xây dựng mới và cải tạo 50 nhà máy.

Ngoài ra còn có hiệp định viện trợ quân sự. Trong đó có quy định trong năm 1950 Liên Xô giúp TQ xây dựng 6 trường hàng không, trong một năm đào tạo được 1.000 phi công lái máy bay phản lực tuyển từ học sinh trung học, nhằm giúp TQ xây dựng đội ngũ không quân đầu tiên.

Sau đó, hiệp định “ngày 4 tháng 6” năm 1950 quy định phía Liên Xô sẽ bán cho TQ mấy chục tàu chiến kiểu mới nhằm giúp TQ xây dựng lực lượng hải quân hiện đại, tạo điều kiện giải phóng Đài Loan.

Mao Trạch Đông rất coi trọng “Hiệp ước hữu hảo đồng minh Trung-Xô” , coi đó là một văn bản có tính lịch sử quan trọng. Vì thế ông đã chỉ định cán bộ chuyên trách dùng bút lông chép lại toàn văn Hiệp ước này và đưa vào hồ sơ lưu trữ quốc gia.

  1. Vài chuyện nói thêm

Lâu nay tại TQ có dư luận cho rằng Stalin và Quốc tế Cộng sản luôn can thiệp vào cuộc cách mạng của TQ, và dường như họ chưa đưa ra một ý kiến nào có lợi cho TQ.

Tình hình thực tế là ĐCSTQ được thành lập dưới sự giúp đỡ của Lenin và Quốc tế Cộng sản. ĐCSTQ là một chi bộ của Quốc tế Cộng sản, một bộ phận của phong trào cộng sản quốc tế. Trước khi Trung ương ĐCSTQ tiến vào khu Xô viết Giang Tây, kinh phí hoạt động của Đảng đều do Liên Xô cung cấp. Năm 1937, Quốc tế Cộng sản còn cung cấp cho ĐCSTQ một khoản kinh phí lớn.

Trong mấy chục năm liền, Quốc tế Cộng sản và Liên Xô đã đào tạo cho TQ mấy nghìn cán bộ chính trị, quân sự, khoa học kỹ thuật.

Có dư luận nói đầu năm 1949 khi quân đội của ĐCSTQ đánh chiếm bờ Bắc sông Trường Giang, Stalin còn không cho tấn công sang bờ phía Nam, để TQ ở vào tình trạng Nam Bắc phân tranh [tức chính quyền Quốc Dân Đảng vẫn tồn tại ở phần đất phía Nam Trường Giang].

Thực tế là lúc ấy Stalin xét thấy Quân Giải phóng TQ còn chưa có máy bay tàu chiến, nếu vượt qua con sông lớn hiểm yếu này sẽ có thể bị thiệt hại nặng, cho nên ông kiến nghị ĐCSTQ tạm thời đàm phán hòa bình với Quốc Dân Đảng, tranh thủ thời gian củng cố hậu phương vừa mới giải phóng, đồng thời chuẩn bị tốt công tác vượt sông lớn.

Sau khi Quân Giải Phóng chiếm Nam Kinh, Stalin lập tức kiến nghị ĐCSTQ nhanh chóng thành lập quốc gia mới nhằm ngăn ngừa khả năng Liên Hợp Quốc thi hành chính sách ủy trị đối với vùng chưa giải phóng. ĐCSTQ đã tiếp thu kiến nghị đó, ngày 1/10/1949 thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Ngày 2/10, Liên Xô là nước đầu tiên công nhận nhà nước mới này.

Năm 1952, TQ chuẩn bị tiến sang giai đoạn cách mạng XHCN, khi nghiên cứu chính sách đối với giai cấp tư sản dân tộc trong nước, ĐCSTQ có xin ý kiến Stalin. ĐCS Liên Xô và Stalin cho rằng: khác với giai cấp tư sản Nga, giai cấp tư sản TQ có cơ sở kinh tế yếu kém, về chính trị cũng không phản động như giai cấp tư sản Nga; vì thế đã kiến nghị ĐCSTQ trong giai đoạn cách mạng XHCN nên thi hành chính sách cải tạo hòa bình đối với giai cấp tư sản TQ. ĐCSTQ đã tiếp nhận kiến nghị đó.

Lịch sử chứng minh các kiến nghị kể trên của Stalin nêu ra với ĐCSTQ đều đúng đắn.

Nhân đây xin nói thêm, trong thời kỳ Cách mạng Tháng Mười Nga, ĐCS Liên Xô đã thi hành chính sách cực đoan đối với các nhà tư bản và địa chủ phú nông Nga: tước đoạt về kinh tế, tiêu diệt về thể xác, và đày con em họ sang Siberia.

Nguồn: 毛泽东同斯大林会见的真情实况   姜明礼   2008年3月3日

Tài liệu tham khảo:

– Nhật ký Uông Đông Hưng [cán bộ bảo vệ Mao Trạch Đông];

– Lịch sử ĐCSTQ;

– Lịch sử ĐCS Bôn-sê-vích Nga (bản 1959);

– Hồi ký của Fedorenko cán bộ phiên dịch người Nga do Stalin cử giúp TQ trong thời gian Mao Trạch Đông thăm Liên Xô [sau là Thứ trưởng Bộ Ngoại giao LX].

Khí lạnh Bắc Cực đưa mưa băng giá đến Houston

 

Khí lạnh Bắc Cực đưa mưa băng giá đến Houston

(Hình minh họa: Scott Olson/Getty Images)

HOUSTON, Texas (NV) – Một bầu khí lạnh từ Bắc Cực đang kéo đến vùng Houston tuần này, khiến Sở Khí Tượng Quốc Gia (NWS) phải đưa ra lời cảnh báo thời tiết, cho hay có thể có tình trạng nguy hiểm giao thông khởi sự từ tối Thứ Hai.

Từ khoảng nửa đêm, mưa lạnh có trộn lẫn với băng đá từ phía Bắc kéo xuống và dự trù sẽ tới Houston vào lúc sáng sớm Thứ Ba, đúng vào lúc khởi sự giờ cao điểm đi làm là 6 giờ sáng, theo cơ quan NWS.

Bản tin của tờ báo địa phương Houston Chronicle nói rằng nhiệt độ có thể xuống tới 25 độ F vào ban đêm hôm Thứ Ba với nhiệt độ cao nhất trong ngày là 38 độ F.

Cảnh báo thời tiết của NWS có hiệu lực từ lúc 3 giờ sáng ngày Thứ Ba tới 6 giờ sáng ngày Thứ Tư. Cơ quan NWS cũng cho biết thêm rằng có thể sẽ phải đưa lên thành báo động bão mùa Đông nếu tình hình trở nên nguy hiểm hơn.

Trong khi đó, một trận bão tuyết sẽ tới vùng Đông nước Mỹ tuần này, mang theo cả tuyết đá và khí lạnh gay gắt.

Trận bão này đã đổ hơn 6 inches tuyết xuống một số nơi ở vùng Trung Tây Mỹ.

Vào sáng Thứ Hai, tuyết rơi xuống Chicago, Indianapolis, Cincinnati và St. Louis, làm đường xá trở nên trơn trượt.

Bão này cũng sẽ đổ xuống mấy inches tuyết nữa dọc theo hành lang xa lộ liên bang I-95 vào tối ngày Thứ Ba, từ Washington tới New York. (V.Giang)

Công dân Bắc Hàn trốn chạy, tử vong trên sông Mekong

Huỳnh Phi Long shared Son Cao‘s post.

 

Image may contain: one or more people and people sitting

Son Cao

 

Công dân Bắc Hàn trốn chạy, tử vong trên sông Mekong

Một chiếc thuyền nhỏ chở 12 nữ công dân Bắc Hàn trốn chạy chế độ đã chìm trên sông Mekong trên biên giới giữa Lào và Thái Lam, làm hai người tử vong.

Hãng tin Yonhap của Hàn Quốc dẫn lời một nhà hoạt động nhân quyền của nước này cho biết như vậy hôm 13/1.

Tin cho hay, những người phụ nữ Bắc Hàn trước đó đã tập hợp tại tỉnh Sơn Đông hôm 4/1 và bắt đầu hành trình tới Hàn Quốc thông qua ngả Việt Nam, Lào và Thái Lan.

Yonhap dẫn lời nhà hoạt động nói rằng “chiếc thuyền xấu số chỉ có thể chở 10 người”, và “nó chìm có lẽ bởi quá tải”.

Tờ Korea Herald cho hay, 10 người còn sống sót đã bơi tới Lào trước khi tới Thái Lan trên một chiếc thuyền khác.

“Họ đang bị cảnh sát Thái Lan tạm giữ”, theo nhà hoạt động giấu tên.

Theo Yonhap, hiện mới chỉ tìm thấy thi thể của người trốn chạy khoảng 20 tuổi.

“Hơn 100 triệu tín đồ đạo Thiên Chúa bị hành hung, giết hại, bỏ tù vì niềm tin tôn giáo”

RFA
2018-01-11
 
An ninh và côn đồ đến đập phá thánh giá tại Đan viện Thiên An.

An ninh và côn đồ đến đập phá thánh giá tại Đan viện Thiên An.

Tin Mừng Cho Người Nghèo
 

Tổ chức Open Doors, một tổ chức quốc tế bảo vệ Thiên Chúa giáo, ngày 10 tháng giêng đã công bố danh sách 50 quốc gia có tình trạng đàn áp tín đồ Kito giáo tồi tệ nhất trên thế giới trong năm qua, trong đó Việt Nam xếp thứ 18.

Hàng trăm triệu giáo dân là nạn nhân

Danh sách 50 quốc gia được đánh giá là nguy hiểm cho người theo đạo Thiên Chúa được chia thành 3 cấp độ: cực kỳ nguy hiểm, rất nguy hiểm và nguy hiểm. Trong đó Việt Nam được thuộc top đầu của nhóm rất nguy hiểm.

Bắc Hàn là quốc gia đứng đầu danh sách, trong nhóm cực kỳ nguy hiểm, tiếp đó là Afghanistan, Somalia, Sudan, Pakistan,…

Danh sách này thể hiện mức độ ngược đãi đạo Kito trong giai đoạn từ Tháng 11 năm 2016 cho đến hết ngày 31 tháng 10 năm 2017.

Open Doors cho biết trên thế giới trung bình cứ 12 người theo đạo Thiên Chúa thì lại có 1 người bị ngược đãi vì niềm tin tôn giáo của họ. Ở Châu Phi, cứ 8 người theo đạo Kito lại có 1 người bị đàn áp và ở châu Á con số này còn cao hơn, cứ 4 người lại có 1 người là nạn nhân. Tổng cộng trong 50 quốc gia trong danh sách, có đến gần 215 triệu giáo dân Kito giáo bị ngược đãi, trong số này có đến hơn 1 phân nửa (113 triệu) đang sống ở châu Á.

Open Doors cũng cho biết hiện nay trên thế giới có khoảng hơn 100 triệu người theo Kito giáo bị quấy rầy, hành hung, giết hại, bỏ tù vì niềm tin vào Chúa Giê-su.

Ông David Curry, Chủ tịch kiêm CEO của tổ chức Open Doors nói rằng năm 2017, tình trạng ngược đãi người theo đạo Thiên Chúa được chia thành 3 xu hướng khác nhau:

Xu hướng đầu tiên đó là các cơ quan chức năng có vẻ tiếp tục không quan tâm đến tình hình nhân quyền trên thế giới. Bắc Hàn là quốc gia đứng đầu danh sách về đàn áp Kito giáo. Hãy tưởng tượng một nhà lãnh đạo quốc gia tự coi ông ta như một vị Chúa nhưng lại hành động như một con vật. Người dân bị ép buộc phải tôn thờ bức tượng của ông Kim Jong-un và cúi lạy trước mặt ông ấy như một vị thần thánh. Ấy vậy mà ông ấy cử người đến canh gác tại các khu xóm hoặc cộng đồng, hay thuê người dân làm gián điệp hoặc trao phần thưởng cho những ai báo cáo người nào sở hữu sách kinh thánh hay có dấu hiệu theo đạo Thiên Chúa.

Xu hướng thứ hai đó là sự gia tăng đàn áp đối với phụ nữ theo đạo Thiên Chúa. Nhiều báo cáo cho thấy phụ nữ là đối tượng dễ bị tổn thương nhất trong xã hội ngày nay với các vấn nạn như quấy rối tình dục, hiếp dâm,…..Bình quân mỗi ngày có 6 phụ nữ Kito giáo bị hiếp dâm, hành hung hoặc cưỡng hôn. Hãy thử tưởng tượng những người này là mẹ của bạn, chị em hay con gái của bạn để hiểu cảm giác như thế nào.

Báo cáo của Open Doors cũng ghi nhận trong năm qua có 2.260 phụ nữ theo đạo Thiên Chúa bị cưỡng hiếp, quấy rối tình dục hoặc bị ép kết hôn với người Hồi giáo, và đây chỉ là những trường hợp đủ dũng cảm để báo cáo với cơ quan chức năng. Open Doors ước tính rằng con số này chỉ là một phần nhỏ trong tổng số những phụ nữ Kito giáo bị ngược đãi tình dục.

Chính phủ Việt Nam luôn muốn khoe khoang với cả thế giới là ở Việt Nam có tự do tôn giáo nhưng họ chỉ chú trọng đến những thành phố lớn mà thôi. 
– Một tín đồ Kito giáo

Và xu hướng thứ ba, theo ông David Curry, đó là sự phát triển của các nhóm Hồi giáo cực đoan tấn công những người theo đạo Thiên Chúa. Ông nhấn mạnh là ở các quốc gia Trung Đông, ngày càng nhiều bộ phận theo đạo Hồi sử dụng bạo lực để thống trị những tôn giáo khác, và để đạt được những điều họ muốn.

Việt Nam gia tăng đàn áp Thiên Chúa giáo

Nói về tình trạng bức hại đạo Thiên Chúa ở Việt Nam, bà Kristina Arriaga, Phó Chủ tịch Ủy hội của Hoa Kỳ về Tự do Tôn giáo Quốc tế (USCIRF) nói với RFA:

Tình trạng đàn áp đạo Thiên Chúa giáo ở Việt Nam đã gia tăng và thực tế Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế đã yêu cầu Bộ Ngoại giao Mỹ phải đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia đáng quan tâm đặc biệt CPC vì những vi phạm đối với những người dân chỉ muốn được đi theo niềm tin tôn giáo của mình.

Họ mới áp dụng luật tôn giáo mới từ đầu năm 2018 nhưng chúng tôi không nghĩ là luật này sẽ giúp cải thiện tình hình tự do tôn giáo cũng như tình trạng đàn áp đạo Kito ở Việt Nam. Thực sự chúng tôi cũng không hiểu một cách tường tận về luật tôn giáo mới này nhưng chúng tôi hi vọng rằng với luật tôn giáo mới này người dân có thể xây dựng hay sửa chữa nhà thờ mà không phải chịu quá nhiều sự can thiệp của Nhà nước. Tuy nhiên cho đến giờ chúng tôi chưa thấy một biến chuyển nào ngoại trừ những diễn biến tiêu cực.

Chúng tôi không thể hiểu được vì sao Chính phủ Việt Nam lại sợ tôn giáo đến vậy nhưng chúng tôi nghĩ chắc chắn liên quan đến việc xây dựng xã hội dân sự. Ở Việt Nam, bạn phải theo sự sắp xếp và chỉ đạo của Nhà nước mà không được phép làm bất cứ chuyện gì ngoài tầm kiểm soát của Chính phủ.

Năm 2017, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ một lần nữa công bố danh sách các quốc gia cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo và trong số này không có Việt Nam. Ủy hội của Hoa Kỳ về Tự do Tôn giáo Quốc tế sau đó cho rằng danh sách này chưa đầy đủ vì thiếu tên Việt Nam.

Việt Nam từng bị chính phủ Hoa Kỳ đưa vào danh sách CPC từ tháng 9/2004 đến tháng 11/2006. Kể từ khi Việt Nam được xoá tên khỏi CPC từ 2006 đến nay, mỗi năm Ủy hội USCIRF đều đề nghị đưa Việt Nam trở lại CPC vì các vi phạm về tự do tôn giáo.

Buổi công bố danh sách của Open Doors cũng có sự tham gia của một người Việt theo đạo Kito hiện đang là nạn nhân bị chính quyền ngược đãi vì lý do tôn giáo. Người này (xin giấu tên vì lý do an ninh) trao đổi với đài RFA rằng hiện tại tình hình bức hại tôn giáo ở Việt Nam ngày càng trầm trọng, đặc biệt là ở những vùng quê hẻo lánh hoặc các dân tộc thiểu số. Ông yêu cầu Chính phủ Việt Nam phải chịu trách nhiệm trước những sự việc xảy ra đối với người Kito giáo:

Chính phủ Việt Nam luôn muốn khoe khoang với cả thế giới là ở Việt Nam có tự do tôn giáo nhưng họ chỉ chú trọng đến những thành phố lớn mà thôi. Trong khi đó những người dân tộc thiểu số vẫn phải đối mặt với sự ngược đãi.

Họ yêu cầu chúng tôi phải cung cấp danh sách giáo dân thì họ mới công nhận cho xây nhà thờ. Nhưng vấn đề là nếu chúng tôi khai ra danh sách những người theo đạo thì họ sẽ gặp rắc rối. Chẳng hạn như nếu làm công ty thì sẽ gặp vấn đề với cấp trên, còn nếu làm giáo viên thì bị hiệu trưởng gây rắc rối.

Chính phủ sẽ cho áp dụng luật tôn giáo mới trong tháng này và với luật mới này nếu giáo dân Kito giáo muốn làm bất cứ chuyện gì đều phải được sự cho phép hoặc công nhận của Chính phủ.

Luật Tôn giáo và Tín ngưỡng mới được Việt Nam thông qua năm 2016 và dự tính được áp dụng từ đầu năm nay. Tuy nhiên, luật này vấp phải sự phản đối của nhiều tổ chức tôn giáo ở Việt Nam vì họ cho rằng theo luật mới này thì Nhà nước vẫn kiểm soát chặt chẽ mọi hoạt động của các tôn giáo và các tôn giáo phải đăng ký với Nhà nước và chỉ khi được cho phép mới có thể hoạt động.

Hôm 22/12 năm 2017, Ông Ed Royce, Chủ Tịch Ủy Ban Đối Ngoại Hạ Viện Liên Bang Mỹ đã gửi một bức thư gửi ông Daniel Kritenbrink, Tân Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam nói rằng hợp tác về an ninh Việt Mỹ không thể tiến triển nếu chính quyền Việt Nam lấy lý do an ninh quốc gia để đàn áp tôn giáo.

Vị dân cử Hoa Kỳ bày tỏ quan ngại khi theo luật tôn giáo mới thì các tổ chức tôn giáo phải đăng ký với nhà nước, cũng như báo cáo những hoạt động tôn giáo của họ cho nhà nước. Ngoài ra đạo luật này còn nói rằng các hoạt động tôn giáo sẽ bị cấm nếu những hoạt động đó làm phương hại tới an ninh quốc gia. Ông Ed Royce cho rằng lời lẽ của đạo luật tôn giáo này rất mù mờ, và sẽ tạo điều kiện cho Chính quyền Việt Nam đàn áp tôn giáo.

Tình trạng đàn áp đạo Thiên Chúa giáo ở Việt Nam đã gia tăng và thực tế Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế đã yêu cầu Bộ Ngoại giao Mỹ phải đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia đáng quan tâm đặc biệt CPC.
– Bà Kristina Arriaga, Phó Chủ tịch USCIRF 

Trả lời phỏng vấn đài RFA, Chủ tịch Tổ chức Open Doors ông David Curry nhận định rằng Chính phủ Việt Nam cần tạo điều kiện để cộng đồng các tôn giáo được hoạt động một cách tự do và cần giảm thiểu sự can thiệp một cách thái quá đến các hoạt động của họ. Ông nhấn mạnh là Chính phủ chỉ nên can thiệp khi cá nhân hay tổ chức tôn giáo nào có hành vi bạo lực hay vi phạm pháp luật:

Người dân tộc thiểu số theo Kito giáo ở Việt Nam luôn phải chịu áp lực và chúng tôi muốn chỉ ra điều đó trong báo cáo năm nay. Chúng tôi có nhìn thấy một vài sự tiến bộ trong cách đối xử với người Kitogiáo nhưng những áp lực họ phải chịu đựng vẫn chưa chấm dứt. Chúng tôi muốn người Kito giáo ở Việt Nam có điều kiện được là những công dân tốt và được quyền có niềm tin tôn giáo của riêng mình và được quyền lựa chọn những điều mà họ tin tưởng. Nếu người dân không có quyền tự do để đọc một cuốn sách về tôn giáo, một cuốn kinh thánh hay bất cứ cuôn sách nào để thể hiện niềm tin tôn giáo của họ thì thử hỏi quyền tự do ở đâu? Và chúng tôi tin rằng đây là một trong những quyền cơ bản nhất của con người.

Chúng ta cần phải làm nhiều hơn nữa để bảo vệ những người Thiên Chúa giáo ở vùng sâu vùng xa Việt Nam để đảm bảo là mọi người dân ai cũng được hưởng công lý, nhà thờ của họ không bị tấn công và giáo dân được tự do thờ phụng.

Báo cáo của Open Doors chỉ ra rằng tình hình đàn áp đạo Kito ở Việt Nam năm 2017 tồi tệ hơn năm 2016, mà nguyên nhân chủ yếu là do các vụ hành hung người theo đạo và 3 vụ người Thiên Chúa giáo bị giết hại. Tổ chức này cũng nêu rõ là trong năm qua chính quyền tiếp tục đàn áp giáo dân đạo Kito thiểu số và người dân không nên kỳ vọng bất cứ sự tiến bộ nào từ luật tôn giáo mới.