Nước thải công nghiệp đang “bức tử” các dòng sông tại Việt Nam

“Thật ra nhiều nhà khoa học đã cảnh báo đây là vùng rất nhạy cảm trong lãnh vực môi trường. Ở vùng sản xuất nông nghiệp và thủy sản lớn nhất Đồng bằng Sông Cửu Long thì theo tôi là không nên đặt các nhà máy có nguy cơ gây ô nhiễm như nhà máy sản xuất giấy hay nhà máy sản xuất đường như vậy. “

Hơn 3.000 cây thông rừng gần 20 năm tuổi bị đầu độc ở Lâm Đồng

Trong 10 ngày qua, tại địa bàn xã Tân Thanh, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng, kẻ xấu đã dùng thuốc trừ cỏ hạ độc cả một cánh rừng thông gần 20 năm tuổi, làm chết hơn 3.000 cây thông. Đây được cho là vụ hủy hoại rừng lớn nhất từ trước đến nay tại địa phương để chiếm đất sản xuất.

sau 3 năm thì chính các người cũng phải thừa nhận là Formosa xả thải độc.

Những cuộc biểu tình chống Formosa từ cách đây 3 năm là phản động, hay kẻ ung dung trống rong cờ mở đến Formosa, đi tắm biển, ăn mực nhảy… trong lúc biển bị xả độc, cá tôm chết, môi trường bị giết, ngư dân điêu đứng là tay sai của Tàu cộng?

Image may contain: sky and outdoor

Ngoc Vu is with Ngọc Vũ and Nguyễn Anh.

Khi chúng tôi cùng hàng nghìn người dân Sài Gòn xuống đường biểu đạt ý kiến phản đối Formosa xả thải giết biển, thì chính quyền vu vạ cho chúng tôi là phản động, nghe theo lời xúi dục của thế lực thù địch, rồi nhận tiền đi biểu đạt….. Vu vạ và gắn mác cho chúng tôi hàng chục loại tội lỗi ghê rợn.
Có nhiều người còn bị đánh đập, nhục mạ và hành hạ hết sức dã man.

Và sau 3 năm thì chính các người cũng phải thừa nhận là Formosa xả thải độc.
Cái ngu si và khốn nạn nhất là mang voi về giày mả tổ.

Vì vài đồng tiền trước mắt mà chúng bán cả Giang sơn, bán cả Tổ Quốc, bán cả sức khoẻ Dân Tộc mình cho lũ mọi giết người bằng hoá chất độc hại.

Không ai có thể làm được điều đó, mà chỉ có thể là loại độc đảng, độc tài, tham lam, khát máu.

Hậu quả của việc ăn bớt ăn xén …

Minh Phuong Nguyen and 2 others shared a post.
Image may contain: outdoor

Sinh Ngoc Duong

 

Hậu quả của việc ăn bớt ăn xén …

Sáng nay 6/5 một cột bê tông dài hơn 3m từ tầng 2 của trường
THCS thị trấn Đà Bắc , tỉnh Hòa Bình bất ngờ đổ xuống, trúng vào nhóm học sinh.

Vụ việc khiến 2 học sinh lớp 8 bị thương phải nhập viện cấp cứu, trong đó, một học sinh bị thương rất nặng ở đầu đã chuyển xuống Bệnh viện Việt Đức, một em bị thương nhẹ hơn đang ở Bệnh viện Đa khoa Hòa Bình.

Chuyện cái giọng Sài Gòn

Giọng Sài Gòn cũng như văn hóa và con người Sài Gòn là một sự pha trộn và giao thoa đến hợp nhất của nhiều nơi. Đó là những người Chăm bản địa, những người khách Hoa, những người miền Trung đầu tiên đến đất Gia Định… Từ đó hình thành một loại ngôn ngữ vừa bản địa, vừa vay mượn của những người đi mở đất…

Giọng người Sài Gòn được xem là giọng chuẩn của miền Nam, cũng như giọng người Hà Nội được xem là giọng chuẩn của miền Bắc. Giọng chuẩn tức là giọng không pha trộn, không bị cải biến đi qua thời gian. Như nói về giọng chuẩn của người Hà Nội, người ta nói đến chất giọng ấm nhẹ, khi trầm khi bổng, khi sắc khi thanh, và chẳng ai phủ nhận người Hà Nội nói chuyện rất hay và “điêu luyện”. Cái “điêu luyện” ấy như thuộc về bản chất của người Hà Nội mà chỉ người Hà Nội mới có được. Nếu nói là người Việt Nam nói như hát, thì đúng ra chỉ có người Hà Nội là “nói như hát” mà thôi, họa chăng chỉ có giọng Huế của người con gái Huế trầm tư mới cùng được ví von thế…

Cái giọng Sài Gòn...

Người Sài Gòn thì khác, giọng Sài Gòn cũng khác. Không ngọt ngào… mía lùi như một số người dân Tây Nam Bộ ven vùng sông nước mênh mang chín rồng phù sa; không nặng nề cục mịch như người miền Đông Nam Bộ nóng cháy da thịt; giọng người Sài Gòn cũng ngọt, nhưng là cái ngọt thanh hơn, nhẹ hơn. Đó là chất giọng “thành thị” đầy kiêu hãnh của người Sài Gòn, chẳng lẫn vào đâu được mà dù người khác có bắt chước cũng khó lòng. Dường như qua nhiều năm cùng với đất Gia Định – Sài Gòn phù hoa trong nhịp sống thì giọng nói của người Sài Gòn cũng trở nên “cao sang” hơn. Dù vậy, có cái “thanh” của một vùng đất một thời là thủ phủ Nam Bộ, nhưng cũng chẳng mất đi đâu cái mộc mạc không bỏ được của cái gốc chung Nam Bộ.

Giọng người Sài Gòn nói lên nghe là biết liền. Ngồi nghe hai người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau ở một quán nước, bên đường hay qua điện thoại, dễ dàng nhận ra họ. Cái giọng không cao như người Hà Nội, không nặng như người Trung, mà cứ ngang ngang sang sảng riêng… Mà điều đặc biệt trong cách người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau là mấy từ “nghen, hen, hén” ở cuối câu… Người miền khác có khoái, có yêu người Sài Gòn thì cũng vì cách dùng từ “nghen, hen” này. Khách đến nhà chơi, chủ nhà tiếp. Khách về, cười rồi buông một câu: “Thôi, tôi dìa nghen!” – Chủ nhà cũng cười: “Ừ, dzậy anh dìa hen!”. Nói chuyện điện thoại đã đời, để kết câu chuyện và cúp máy, một người nói: “Hổng còn gì nữa, dzậy thôi hen!” “Thôi” ở đây nghĩa là dừng lại, kết thúc, chấm dứt gì đó. Hai đứa bạn nói chuyện cùng nhau, bắt gặp cái gì vui, quay đầu sang đứa kế bên: “Hay hén mậy?” bằng giọng điệu thoải mái…

Cái giọng Sài Gòn...

Người Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung, có thói quen dùng từ “dạ” khi nói chuyện, khác với người miền Bắc lại dùng từ “vâng”. Để ý sẽ thấy ít có người Sài Gòn nào nói từ “vâng”. Khi có ai gọi, một người Sài Gòn nói “vâng!” là trong dáng dấp của câu nói đó có giọng đùa, cười cợt. Khi nói chuyện với người lớn hơn mình, người dưới thường đệm từ “dạ” vào mỗi câu nói. “Mày ăn cơm chưa con?” – “Dạ, chưa!”“Mới dìa/dzề hả nhóc?” – “Dạ, con mới!”… Cái tiếng “dạ” đó, không biết sao trong cảm giác nghe của một người Sài Gòn với một người Sài Gòn thấy nó “thương” lạ… dễ chịu mà gần gũi, nhẹ nhàng mà tình cảm lắm lắm. Cảm giác nó thật riêng so với những nơi khác. Nghe một tiếng “dạ” là biết ngay tên này là dân miền Nam cái đã rồi hẵng hay.

Một người miền khác, có thể là Bắc hoặc Trung, diễn tả một khoảng thời gian ngắn vài ngày thì nói “Từ bữa đó đến bữa nay”, còn người Sài Gòn thì nói “hổm nay”… người khác nghe sẽ không hiểu, vì nói chi mà ngắn gọn ghê. (Lại phát hiện thêm một điều là người Sài Gòn hay dùng từ “ghê” phía sau câu nói để diễn tả một sắc thái tình cảm riêng. Tiếng “ghê” đó chẳng hàm ý gì nhiều, nó mang ý nghĩa là “nhiều”, là “lắm”. Nói “Nhỏ đó đẹp ghê” nghĩa là khen cô bé đó lắm vậy.) Lại so sánh từ “hổm nay” với“hổm rày” hay nghe ở các vùng quê Nam Bộ, cũng một ý nghĩa như nhau, nhưng lại không hoàn toàn giống nhau. Nghe người Sài Gòn dùng một số từ “hổm rày, miết…” là người Sài Gòn bắt chước người miền sông nước vậy. Nhưng nghe vẫn không trái tai, không cảm thấy gượng, vì trong người Sài Gòn vẫn còn cái chất Nam Bộ chung mà.

Cái giọng Sài Gòn...

Nghe một đứa con trai Sài Gòn nói về đứa bạn gái nào đó của mình xem… “Nhỏ đó đẹp lắm!”“Nhỏ đó ngoan!”…Tiếng “nhỏ” mang ý nghĩa như tiếng “cái” của người Hà Nội. Người Sài Gòn gọi “nhỏ Thúy, nhỏ Lý, nhỏ Uyên” thì cũng như “cái Thúy, cái Uyên, cái Lý” của người Hà Nội thôi.

Giọng nói người Sài Gòn không sang trọng, điệu đà như giọng người dân đất Bắc, cũng chẳng trầm lắng, thanh thanh như tiếng Huế Thần Kinh, cái giọng Sài Gòn đi vào tai, vào lòng, vào cách cảm, và nỗi nhớ nhung của người Sài Gòn lẫn dân miền khác bằng sự ngọt ngào của sông nước Nam Bộ, bằng cái chân chất thật thà của truyền thống xa xưa, và bằng cả cái “chất Sài Gòn” chảy mạnh trong từng mạch máu người dân Sài Gòn. Đi đâu, xa xa Sài Gòn, bỗng dưng nghe một tiếng “Dạ!” cùng những tiếng “hen, nghen” lại thấy đất Sài Gòn như đang hiện ra trước mắt với những nhớ thương…

Giọng người Sài Gòn đôi khi diễn đạt cùng một câu nói, nhưng lại bằng nhiều cung bậc giọng điệu khác nhau lại mang ý nghĩa khác nhau. Đám nhỏ quậy, nghịch phá, người chị mắng, giọng hơi gằn lại và từng tiếng một, có chút hóm hỉnh trong đó: “Dzui dzữ hen!”. Đám bạn cùng tuổi, ngồi chơi chung, cười đùa, một người nói giọng cao cao vui vẻ: “Dzui dzữ hen!”… Người Sài Gòn có thói quen hay “đãi” giọng ở chữ cuối làm câu nói mang một sắc thái khác khi hờn giận, khi đùa vui như: “Hay dzữuuu”“Giỏi dzữưưu…!” Nghe người Sài Gòn nói chuyện, trong cách nói, bắt gặp “Thôi à nghen”, “Thôi à!” khá nhiều, như một thói quen và cái “duyên” trong giọng Sài Gòn.

Cái giọng Sài Gòn...

Người Sài Gòn nói chuyện, không phát âm được một số chữ, và hay làm người nghe lẫn lộn giữa âm “d,v,gi” cũng như người Hà Nội phát âm lẫn các từ có phụ âm đầu “r” vậy. Nói thì đúng là sai, nhưng viết và hiểu thì chẳng sai đâu, đó là giọng Sài Gòn mà, nghe là biết liền. Mà cũng chẳng biết có phải là do thật sự người Sài Gòn không phát âm được những chữ ấy không nữa, hay là do cách nói lẫn từ “d,v,gi” ấy là do quen miệng, thuận miệng và hợp với chất giọng Sài Gòn. Ví như nói “Đi chơi dzui dzẻ hen mậy!” thì người Sài Gòn nói nó… thuận miệng và tự nhiên hơn nhiều so với nói “Đi chơi vui vẻ hen!”. Nói là “vui vẻ” vẫn được đấy chứ nhưng cảm giác nó ngường ngượng miệng làm sao đó.

Nói một ai đó chậm chạp, người Sài Gòn kêu: “Thằng đó làm gì mà cứ cà rề cà rề… nhìn phát bực!” Nghe cứ như là đùa, chẳng làm câu nói nặng nề lắm. Một người lớn hơn gọi: “Ê, nhóc lại nói nghe!” hay gọi người bán hàng rong: “Ê, cho chén chè nhiều nhiều tiền ít coi!”… “Ê” là tiếng Sài Gòn đó, coi gọi trổng không vậy mà chẳng có ý gì đâu, có thể nói đó là thói quen trong cách nói của người Sài Gòn.

Mà người Sài Gòn cũng lạ, mua hàng gì đó, thường “quên” mất từ “bán”, chỉ nói là “cho chén chè, cho tô phở”… “Cho” ở đây là mua đó nghen. Nghe người Sài Gòn nói chuyện với nhau, thường bắt gặp thế này: “Lấy cái tay ra coi!”“Ngon làm thử coi!”“Cho miếng coi!”“Nói nghe coi!”… “Làm thử” thì còn “coi” được, chứ “nói” thì làm sao mà “coi” cho được nè? Vậy mà người Sài Gòn lại nói, từ “coi” cũng chỉ như là một từ đệm, dân Sài Gòn nói dzậy mà. Ngồi mà nghe người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau thì quái lắm, lạ lắm, không ít người sẽ hỏi: “mấy từ đó nghĩa là gì dzậy ta?” – Mà “dzậy ta” cũng là một thứ “tiếng địa phương” của người Sài Gòn à. Người Sài Gòn có thói quen hay nói: “Sao kỳ dzậy ta?”“Sao rồi ta?”“Được hông ta?”… Nghe như là hỏi chính mình vậy đó, mà… hổng phải dzậy đâu nghen, kiểu như là nửa hỏi người, nửa đùa đùa vậy mà.

Tiếng Sài Gòn là thế đó, nếu bạn giả giọng Sài Gòn nói chuyện, dù có giống cách mấy mà bỏ quên mấy tiếng đệm, mấy tiếng Sài Gòn riêng riêng này thì đúng là… “bạn hông biết gì hết chơn hết chọi!”

Trích lại từ bài viết “Cái giọng Sài Gòn” của tác giả Hải Phan

Việt Nam Quốc tang: Ông Trọng ‘‘biến mất’’, ‘‘tranh đoạt quyền lực’’ bắt đầu ?

Việt Nam Quốc tang: Ông Trọng ‘‘biến mất’’, ‘‘tranh đoạt quyền lực’’ bắt đầu ?

RFI Đăng ngày 04-05-2019 Sửa đổi ngày 05-05-2019 10:00

Tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng tại Hà Nội, ngày 02/04/2018.REUTERS/Kham

Điều gây chú ý nhất trong lễ Quốc tang tướng Lê Đức Anh, nguyên chủ tịch nước Việt Nam, hôm 03/05/2019, là sự vắng mặt của lãnh đạo Việt NamNguyễn Phú Trọng. Sự vắng mặt này có ý nghĩa như thế nào đối với chính trường Việt Nam ? Nhà báo Phạm Chí Dũng từ Sài Gòn phân tích.

Những điều gì đáng chú ý trong lễ tang ông Lê Đức Anh ?

Điểm đáng chú ý nhất trong lễ tang này, đó là không phải sự quan tâm đối với người đã chết, mà là sự hiện diện hay không của người còn sống – ông kiêm hai chức, tổng bí thư và chủ tịch Nước Nguyễn Phú Trọng. Điều đặc biệt nhất trong lần này ông Nguyễn Phú Trọng đã không xuất hiện, mặc dù trước đó khoảng một tuần, bộ Ngoại Giao đã chính thức thông báo là ông Nguyễn Phú Trọng sẽ làm trưởng ban Tang lễ. Và sau đó, chủ tịch Quốc Hội là Nguyễn Thị Kim Ngân cũng thông báo là sức khỏe của đồng chí tổng bí thư, chủ tịch Nước đang hồi phục nhanh chóng. Và người ta trông chờ sự xuất hiện của ông Nguyễn Phú Trọng với một sự quan tâm chưa từng có.

Tôi nhớ rằng, đã lâu lắm rồi, mà có thể là chưa từng có một lễ tang nào mà người dân – khối cán bộ, công chức lại quan tâm đến mức như thế.

Và điểm thứ hai là khi ông Nguyễn Phú Trọng không xuất hiện, thì trưởng ban Lễ tang lại rơi vào một người khác. Đó là quan chức, phó thủ tướng thường trực Trương Hòa Bình, cũng là một ủy viên Bộ Chính Trị. Tuy nhiên, sự xuất hiện của ông Trương Hòa Bình, với tư cách trưởng ban Tang lễ tướng Lê Đức Anh dường như có một sự mâu thuẫn rất lớn với một nghị định của chính phủ số 105, quy định phải là tổng bí thư hoặc chủ tịch Nước làm trưởng ban Lễ tang (1).

Từ việc ông Nguyễn Phú Trọng không có mặt trong lễ tang có thể suy ra những gì đang hoặc sắp diễn ra trong chính trường Việt Nam ?

Trước mắt là vấn đề cá nhân, vấn đề sức khỏe của ông Nguyễn Phú Trọng. Và sau đó vấn đề thứ hai là những người có thể kế nhiệm Nguyễn Phú Trọng, và những thay đổi có thể dẫn đến đảo lộn trong chính trường Việt Nam trong thời gian tới, có lẽ là không bao lâu nữa.

Về sức khỏe của ông Nguyễn Phú Trọng, mặc dù có những thông tin tích cực về việc điều trị của ông ta. Có những thông tin trước đó một tuần là ông ấy đang phục hồi, rồi tập xe lăn, cũng như tập nói, tập phát âm. Nhưng mà cho tới nay, đã hơn nửa tháng, từ khi ông Trọng bị một biến cố về sức khỏe ở Kiên Giang, nơi được gọi là « căn cứ địa cách mạng » của gia tộc Nguyễn Tấn Dũng, đã không có bất kỳ hình ảnh nào của ông Trọng. Mặc dù, báo chí, báo Đảng, hệ thống tuyên giáo vẫn ra rả đưa tin về chuyện ông Trọng, hôm nay gửi thư, điện chúc mừng giới lãnh đạo Bắc Triều Tiên, ngày mai gửi thư điện mừng đến một số quốc gia khác. Thậm chí là kể cả hình ảnh ông Trọng ngồi trên giường bệnh cũng không có nổi. Điều đó cho thấy là vấn đề sức khỏe của ông Trọng không thể là vấn đề nhỏ, mà là vấn đề rất lớn.

Trong khi đó, chúng ta thấy chính trường Việt Nam đã bắt đầu có những xáo trộn ngầm. Dường như mọi chuyện đang ngưng trệ về nhiều mặt, khi ông Nguyễn Phú Trọng phải điều trị.

Đang điều trị hay là biến mất khỏi chính trường ?

Nếu nói là « biến mất » khỏi chính trường, thì người ta lại cho rằng tôi nói theo « thuyết âm mưu ». Nhưng thực sự là, trong nhiều trường hợp, thuyết âm mưu ở Việt Nam (hay cũng có thể gọi là các suy đoán, hay « tin đồn ») lại khá là gần với thực tế. Nếu kể đến trường hợp của trưởng ban Nội Chính Nguyễn Bá Thanh cuối 2014, đầu 2015, của bộ trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh giữa năm 2015, hay Trần Đại Quang, chủ tịch Nước vào năm 2017, 2018, thì có khá nhiều thuyết âm mưu, các thông tin đồn đoán bên ngoài, liên quan đến thuyết âm mưu đó lại được xác thực sau đó.

Cũng cần phải nhắc lại một hoàn cảnh của ông Trần Đại Quang. Trước khi chết chỉ có một, hai ngày ông Trần Đại Quang còn gửi thư, điện đến một số nước, và còn tiếp đoàn Trung Quốc. Sau đó thì ông ta lăn ra chết.

Nói như vậy, để cho thấy rằng, ở góc độ nào đó, khách quan mà nói, thuyết âm mưu (hay tin đồn) nó sẽ có tính xác thực, nếu như được thực tế chứng minh là đúng. Trong trường hợp ông Nguyễn Phú Trọng, có thể nói rằng, dùng từ ông ta « mất tích » hay « biến mất » khỏi chính trường Việt Nam, trong trường hợp này, vẫn có thể được. Chúng ta có thể so sánh, khi ông Trọng còn bình thường, chưa gặp vấn đề về sức khỏe, ít nhất trên mặt công luận, báo chí, thì tần suất xuất hiện là từ 2 đến 4 ngày, chậm lắm là 5 ngày.. Có những giai đoạn, hàng ngày xuất hiện đều đặn. Nhưng từ 14/04/2019, khi xảy ra sự biến Kiến Giang, thì đã hơn nửa tháng rồi. Mà không xuất hiện, thì có thể dùng từ biến mất, hoặc mất tích

Xin giải thích rõ hơn về cái gọi là « thuyết âm mưu » ?

Với Nguyễn Phú Trọng, hiện nay có hai thuyết âm mưu, hay cũng có thể gọi là « suy đoán ». Một là ông Trọng cố ý, để né tránh việc đi « chầu Thiên tử ở phương Bắc », liên quan đến hội nghị BRI – thượng đỉnh Sáng kiến Một vành đai, Một con đường, do Trung Quốc tổ chức lần thứ hai. Thay vào đó là thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc. Đó là thuyết âm mưu thứ nhất. Và thuyết âm mưu nữa là ông Nguyễn Phú Trọng có thể là rơi vào tình trạng bệnh tật chủ ý như vậy, là một thủ đoạn chính trị, mang tên là « giả chết bắt quạ », thường được các triều đại Trung Quốc trong lịch sử sử dụng.

Hai suy đoán này có cơ sở không ?

Về thuyết âm mưu thứ nhất, để tránh đi hội nghị BRI ở Trung Quốc, có một cơ sở trước đó. Nguyễn Phú Trọng đã có một số động tác giãn Trung, và song song với giãn Trung là ngả về Mỹ. Biểu hiện chứng minh rõ ràng nhất, cho việc ngả về Mỹ, là cuộc gặp tổng thống Mỹ Donald Trump ở Washington sắp tới, nếu ông ta kịp phục hồi sức khỏe. Và trong cuộc gặp đó hai bên sẽ bàn về vấn đề tăng cường và làm sâu sắc thêm quan hệ hợp tác quốc phòng, và đặc biệt là vấn đề Biển Đông. Và kể cả sự hiện diện của một tàu sân bay thứ hai của Mỹ tại Biển Đông, có thể ngay tại cảng Cam Ranh. Và có thể bàn tiếp vấn đề hợp tác cấp chiến lược Việt – Mỹ.

Đó là cơ sở cho thuyết âm mưu về việc Nguyễn Phú Trọng tránh đi Trung Quốc. Tuy nhiên, để thuyết âm mưu này đúng, thì nó phải diễn ra một việc khác : Nếu Nguyễn Phú Trọng chủ động tạo ra tình trạng bệnh tật của mình đủ nặng, để khỏi phải đi Trung Quốc, thì ông ta đã phải tìm cách thông tin, bắn tin cho Trung Quốc, đặc biệt cho các cơ quan tình báo Trung Quốc nắm được việc này, tình trạng bệnh tật của ông ta như thế nào. Nếu như vậy, thì ông ta phải thông qua một cái kênh rất ưa thích : báo Đảng. Vấn đề là, làm sao để lý giải được : Vì sao từ ngày 14/04 ở Kiên Giang đến nay, đã không có bất cứ một dòng một chữ nào từ báo Đảng, về tình trạng bệnh tật thực chất của Nguyễn Phú Trọng, mà chỉ nói theo Tuyên giáo, có vấn đề gì đó. Còn dư luận viên thì nói là ông ta chỉ bị choáng nhẹ. Thế thì việc Nguyễn Phú Trọng không sử dụng kênh báo Đảng, cho thấy, cũng giống như các trường hợp đã xảy ra của Nguyễn Bá Thanh, Phùng Quang Thanh, Trần Đại Quang : Đảng giấu thông tin, bưng bít thông tin, ém nhẹm thông tin, chủ ý là không thông tin ra ngoài. Mà không thông tin ra ngoài, thì làm sao Trung Quốc có thể nắm được ? Mà nếu Trung Quốc không nắm được, thì làm sao có cơ sở để tin là bệnh thật.

Chuyện thứ hai là, nếu Nguyễn Phú Trọng chủ ý tạo ra bệnh của mình để « giả chết, bắt quạ », để thanh trừng trong nội bộ Đảng, thì ta lại vướng ngay phải điều mà dân gian gọi là « gậy ông, đập lưng ông ». Cái bẫy mà ông ta giăng ra với các đối thủ chính trị (bị sử dụng ngược lại). Quy định đưa ra năm 2018 : ủy viên Bộ Chính Trị, các ứng cử viên tổng bí thư phải bảo đảm được sức khỏe, có nghĩa là phải được sự xác nhận của ban Bảo vệ và Chăm sóc Sức khỏe Trung ương, hàng tuần, hàng tháng, và thậm chí hàng ngày…. Nếu như người ta nghĩ là ông ta bị bệnh (thật), thì sẽ có những phản ứng thậm chí mạnh mẽ.

Vì thế, cả hai thuyết âm mưu đều không đủ cơ sở thuyết phục. Mà giả thuyết thực tế nhất, gần gũi nhất, dễ cảm nhận được nhất, là ông ta ở cái tuổi này, đã bị một căn bệnh hành hạ. Nếu không cẩn thận, thì ông ta sẽ đi theo Trần Đại Quang và tướng Lê Đức Anh.

Một số dấu hiệu khác trong lễ tang có thể cho phép nhận định về những gì diễn ra trong chính trường Việt Nam ?

Tôi không nghĩ rằng có những dấu hiệu, dù là đặc biệt chăng nữa, trong lễ tang ông Lê Đức Anh lại đủ lớn, đủ sâu, để có thể cho thấy xu hướng, hoặc sự thay đổi lớn trong chính trường Việt Nam, ngoài yếu tố duy nhất như tôi đã nêu. Và nhiều người khác cũng đã biết. Đó là Nguyễn Phú Trọng không thể xuất hiện, và ông ta đang nằm nguyên trong tình trạng khó khăn về sức khỏe.

Khi Nguyễn Phú Trọng rơi vào tình trạng sinh, lão, bệnh, tử, như một quy luật không thể bác bỏ, thì ông ta buộc phải để lại một khoảng trống quyền lực rất lớn. Bây giờ có đến hai ghế (bị khuyết), chứ không phải một, là tổng bí thư và chủ tịch Nước. Khoảng trống quyền lực càng lớn thì chỗ trũng càng sâu, và nước chảy càng mạnh.

Có nghĩa là sẽ dâng lên một làn sóng, các quan chức cấp dưới của Nguyễn Phú Trọng, nổi lên để tranh đoạt quyền lực với nhau. Đang diễn ra một làn sóng ngầm, phân chia lại quyền lực. Giữa ba khối, khối Đảng, khối hành pháp và khối lập pháp..

Trước đây, khối Đảng chỉ huy tất cả, theo nguyên tắc là Đảng lãnh đạo toàn diện. Và gần đây nhất, từ năm 2017 đến nay, xuất hiện một quan điểm rất phổ biến trong nội bộ trong Đảng, là Đảng không làm thay, mà Đảng làm luôn.

Vào lúc cơ chế độc tôn, tập trung quyền lực vào tay Nguyễn Phú Trọng suy giảm, thì sẽ kéo theo việc cơ chế tập trung quyền lực về cấp trung ương cũng suy giảm theo. Tôi nghĩ rằng sẽ dẫn đến một hệ quả tất yếu là : Khối hành pháp và khối lập pháp sẽ dần dần tách ra khỏi khối Đảng, tăng cường tiếng nói của mình. Một cách độc lập tương đối, hơn là phụ thuộc gần như tuyệt đối vào khối Đảng trước đây. Không biết có phải là ngẫu nhiên hay không, mà trong thời gian ông Trọng bị bệnh, bị « mất tích », thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã có một đề nghị đáng chú ý với Quốc Hội, là tăng quyền cho thủ tướng, một số quyền không quá quan trọng, nhưng có một động thái như vậy.

Tôi cho rằng mọi chuyện bắt đầu, và sắp tới sẽ diễn ra hai khuynh hướng. Khuynh hướng phân chia lại quyền lực giữa ba khối, và khuynh hướng ly tâm giữa khối địa phương với cấp trung ương. Và song song là xu hướng hình thành gần như chắc chắn một số « sứ quân » quyền lực hành chính và một số sứ quân lợi ích riêng, mà chúng ta thường gọi là « nhóm lợi ích ».

Nhiều người ghi nhận ông Trần Quốc Vượng, thường trực Ban Bí Thư, tức nhân vật số hai của Đảng, trong một số bức ảnh cho thấy đi một mình đến viếng, trong khi hai phái đoàn, của chính phủ và của Đảng, lại đều do thủ tướng đứng đầu. Phải chăng sự phân hóa, như nhà báo Phạm Chí Dũng nhận định, đã bắt đầu trong chính lễ tang này ?

Đúng là ông Trần Quốc Vượng lẻ loi, cô độc. Ông ta không nằm trong một đoàn nào cả, một đám đông nào cả. Tôi đặt câu hỏi là : Phải chăng đã có một sự sắp xếp cố ý ? Tôi cho đó đã là một thủ thuật chính trị, để chơi xấu lẫn nhau. Nếu đúng như vậy, thì đó quả là một sự phân hóa không nhỏ đâu.

Sau đám tang Lê Đức Anh, sắp tới vào giữa tháng Năm này sẽ diễn ra hội nghị trung ương 10. Nếu không có Nguyễn Phú Trọng, hoặc có Nguyễn Phú Trọng mà không có những nội dung đặc sắc theo ý của Nguyễn Phú Trọng, thì tôi nghĩ là ngay trong hội nghị đó sẽ diễn ra những phân hóa còn lớn hơn nữa, giữa khối Đảng, hành pháp và lập pháp. Và lúc đó, người ta sẽ chứng kiến vai trò của ông Trần Quốc Vượng, nếu không cẩn thận sẽ trở nên mờ nhạt đáng kể, không kém thua hình ảnh mờ nhạt của ông ta tại lễ tang của tướng Lê Đức Anh.

***

(1) Nhà báo Phạm Chí Dũng đã ghi nhận chính xác về việc có một mâu thuẫn « rất lớn » giữa vai trò « trưởng ban Lễ tang » trong Nghị định 105 về « Tổ chức lễ tang với cán bộ, công chức, viên chức » với diễn biến của buổi lễ ngày hôm qua. Trên thực tế, phụ trách Quốc tang có hai chức « trưởng ban ». Trưởng ban Lễ tang Nhà nước phải là nguyên thủ, hoặc tổng bí thư, và trưởng ban Tổ chức Lễ tang là một phó thủ tướng. Có trách nhiệm đọc điếu văn là trưởng ban Lễ tang Nhà nước. Như vậy, người làm thay vai trò của ông Nguyễn Phú Trọng không phải là phó thủ tướng Trương Hòa Bình, mà là thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, người đọc điếu văn hôm 03/05.

30/4: Một góc nhìn về ngày chấm dứt Cuộc chiến VN

30/4: Một góc nhìn về ngày chấm dứt Cuộc chiến VN

  • 30 tháng 4 2019
Lạc Dương
Bản quyền hình ảnhMARIE MATHELIN
Đền Bạch Mã, Lạc Dương. Thành phố này từng là kinh đô nhà Tấn và một số triều đại khác của Trung Quốc

Những người chiến thắng đã gọi sự kiện 30/4/1975 là ngày thống nhất đất nước.

Tạm bằng lòng với khái niệm “thống nhất” ấy nhưng không thể không thấy rằng đó là cái giá quá đắt cho việc thống nhất quốc gia.

Bài học Tư Mã Viêm

Dù yêu hay ghét Trung Hoa, phần lớn trí thức Việt thời nào cũng đã đọc tác phẩm Tam Quốc Diễn Nghĩa. Trong đó, cả thế kỷ ly loạn của dân tộc Trung Hoa đã chấm dứt vào năm 280, khi quân Tấn “giải phóng” Đông Ngô, thống nhất đất nước (nói theo chữ của nhà nước đương thời).

Nội dung chính của bài viết này nói về những cảnh xảy ra ngay sau bối cảnh tác phẩm của nhà văn La Quán Trung.

Sau 30/4/75 từng có hai nước VN xin vào LHQ

Sài Gòn chỉ là một trong bốn cuộc di tản lớn

Trước khi chết, Tư Mã Ý dặn dò con cháu phải biết lấy lòng người để được thiên hạ. Có lẽ vì thế mà sau khi thắng Thục rồi diệt Ngô, những nhà lãnh đạo họ Tư Mã nhìn chung đã đối xử rất tử tế với những người thua trận.

Dù ban đầu có những sự không bằng lòng nhất định, nhưng về sau nhà Tấn đã nhận được sự quy phục từ đông đảo nhân dân và các quý tộc cũ của Thục -Ngô.

Sau thống nhất, triều đình nhà Tấn không trả thù những người thua trận, tạo điều kiện ổn định đời sống nhân dân.

Không có tù cải tạo, cũng không có cảnh ồ ạt người vượt biên hay trốn tránh sự truy lùng của họ Tư Mã. Cộng với việc có công thống nhất, nhà Tấn đã giành được lòng người, họ vẫn luôn được nhân dân che chở và ủng hộ sau này khi đã thất thế.

Dẫn tới việc nhà Tấn tồn tại trên danh nghĩa đến hơn 150 năm, dù thực tế triều đại này chỉ “sống khỏe” trong không tới ba thập kỷ đầu.

Cái giá cho việc họ Tư Mã thống nhất đất nước quá đắt bởi không lâu sau khi “hoàn thành đại nghiệp”, Tấn Vũ đế mắc sai lầm quan trọng nhất trong việc chọn người kế vị (chưa kể lối sống xa hoa trong triều), dẫn tới hàng loạt tai họa giáng xuống triều đình và dân chúng sau khi ông qua đời.

Hai mươi năm sau khi thống nhất, Trung Hoa bước vào cuộc nội chiến (Loạn bát vương) khiến mấy chục vạn người mất mạng. Đất nước suy kiệt, cuối cùng bị ngoại tộc thôn tính.

Khi quân Hán Triệu chiếm được Lạc Dương vào năm 310, tàn sát quân dân nhà Tấn cũng vừa đúng chẵn 30 năm sau khi Tư Mã Viêm “giành trọn vẹn non sông”.

Tàu Mỹ
Bản quyền hình ảnhDIRCK HALSTEAD
Người tỵ nạn Nam VN đi thuyền ra tàu Mỹ những giờ cuối của cuộc chiến VN

Nếu còn cục diện Tam Quốc, hẳn dân tộc Trung Hoa đã không phải chịu một trang sử đen tối khi hai vị vua Tấn bị nhà Hán Triệu làm nhục (Tấn Hoài đế và Tấn Mẫn đế bị bắt làm nô bộc, rồi giết chết).

Nếu được chọn lại, người Hoa sẽ chọn thống nhất để lại loạn lạc và mất nước vào tay ngoại bang, hay chọn giữ nguyên cục diện thế chân vạc thời Tam Quốc?

Thống nhất, nỗi ám ảnh của người Á Đông

Trận Mậu Thân ở Sài Gòn qua lời đại tá dù VNCH

Việt Nam, Trung Quốc và kể cả Triều Tiên đều đã có nhiều giai đoạn khác nhau trong lịch sử chịu cảnh chia cắt.

Theo thời gian, những nhà cầm quyền luôn tìm cách tận dụng tối đa nhu cầu thống nhất để khích lệ, thậm chí kích động dân chúng hăng say sản xuất và chiến đấu, phục vụ quyền lợi của giai cấp thống trị.

Cũng vì lẽ đó, rất nhiều trong đông đảo nhân dân cũng dần bị ám ảnh bởi viễn cảnh thống nhất. Thậm chí thống nhất bằng mọi giá, bất chấp thiệt hại về sinh mạng, về kinh tế và gây ra những ảnh hưởng lâu dài tới đà thăng tiến của cả dân tộc.

Vì lẽ đó, biến cố tháng 4/1975 đã được người dân miền Bắc đón chào nhiệt liệt, họ đã được tuyên truyền một cách tinh vi trong thời gian rất dài về sứ mệnh vĩ đại đi “giải phóng”, tính chính nghĩa của đội quân đi “thống nhất đất nước”.

Tôi, một người lớn lên ở miền Bắc sau 1975 từng băn khoăn việc vì sao quân đội và chính quyền VNCH không đi giải phóng miền Bắc.

Và đã đi tìm câu trả lời trong nhiều năm mà không có bất kỳ ai hướng dẫn, cho tới khi đọc đủ nhiều sách để tìm ra đáp án.

"Rescued from Saigon"
Bản quyền hình ảnhJACQUES PAVLOVSKY
Bé gái Barbara trong tay một nữ tu Việt Nam. Ảnh chụp ngày 14/04/1975 ở Sài Gòn. Em bé sau được người Mỹ, Gerard Constant (trái), cùng vợ nhận làm con nuôi trong câu chuyện “Rescued from Saigon”.

Nó có thể đúng hoặc không đúng tùy vào quan điểm và tầm hiểu biết mỗi người, nhưng ít nhất cũng cho thấy không phải phía Quốc Gia không có ý định Bắc tiến.

Nước Đức không tốn máu xương, không có chiếc xe tăng nào húc đổ bức tường Berlin, giải phóng miền Tây, thống nhất đất nước. Họ đã chọn đúng thời cơ (Liên Xô tan rã) để thống nhất trong hòa bình. Đôi miền Triều Tiên vẫn còn chia cắt chưa biết tới bao giờ.

Nhưng người dân nhiều nước như Tiệp Khắc, Nam Tư đã chấp nhận sự chia cắt, quốc gia cũ của họ tan ra làm những nước khác nhau. Khi người ta không thể sống chung, tốt hơn hết hãy tách ra.

Nỗi đau khổ hậu thống nhất

Trong cuốn hồi ký Đôi Dòng Ghi Nhớ, đại tá Phạm Bá Hoa từng nói về sự hiểu lầm của thế giới tự do với phe cộng sản.

Đại thể phía tự do hiểu hòa bình là hết chiến tranh, thì khái niệm hòa bình với người cộng sản là khi họ đã thôn tính tất cả đất đai, đè bẹp sức kháng cự của những kẻ chống lại họ.

Cũng trong cùng tác phẩm, tác giả đã nói đến những đau khổ của đất nước sau khi thống nhất, mà chỉ khi rơi vào tay địch, ông mới biết thực tế thế nào là cộng sản.

Những cuộc thanh trừng lẫn nhau giữa các vương tôn họ Tư Mã thời hậu Tam Quốc, cũng như sự xa xỉ của triều đình trung ương (điển hình vụ viên quan Thạch Sùng khoe mẽ của cải đã trở thành chuyện ngụ ngôn truyền đời) đã khiến nhân dân thời Tấn vô cùng khốn khổ, mà giới sử gia đánh giá mức độ tàn khốc của cuộc nội chiến còn lớn hơn nhiều so với thời Ngụy – Thục – Ngô tranh hùng.

Và hãy nhìn lại những nhà lãnh đạo Việt Nam từ sau 1975 đến nay, ngoài vấn đề cách ứng xử với người đồng bào thua trận, họ có điểm gì khác và giống so với họ Tư Mã thời Tây Tấn?

Không thể phủ nhận rằng, nhà nước đã có những nỗ lực nhất định trong việc ổn định tình hình, nâng cao đời sống nhân dân (mà chính họ đã kéo tụt xuống ngay sau biến cố 1975).

Nhưng vì sao ngay trong lúc truyền thông nhà nước ca ngợi những “thành tựu” về giáo dục và y tế, thì chính lãnh đạo và con cái họ lại bỏ ra nước ngoài du học và chữa bệnh?

Còn ở bên ngoài, biển đảo và đất liền cứ bị ngoại bang đe dọa từng ngày? Và ở những miền quê, người ta nỗ lực hết mình để được xuất khẩu lao động, xuất khẩu cô dâu để sang những nơi còn chưa thống nhất (bị Mỹ đô hộ?) như Đài Loan, Nam Hàn?

Cái giá của sự thống nhất, xin nhắc lại, thống nhất về lãnh thổ ấy quá đắt với nhân dân nhà Tây Tấn thời hậu Tam Quốc và với nhân dân Việt Nam 17 thế kỷ sau.

Đoàn Thị Hương ‘bị lợi dụng để tuyên truyền, rửa mặt cho chế độ’

Đoàn Thị Hương ‘bị lợi dụng để tuyên truyền, rửa mặt cho chế độ’

 
Cô Đoàn Thị Hương được thả ra khỏi tù ở Malaysia, trở về Việt Nam trong vòng vây của giới chức nhà nước, công an và phóng viên. (Hình: Zing)

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Một ngày sau khi ra tù ở Malaysia và trở về đến phi trường Nội Bài vào đêm 3 Tháng Năm, hình ảnh của cô Đoàn Thị Hương vẫn gây tranh cãi không dứt trên mạng xã hội.

Rất nhiều người tỏ vẻ ngạc nhiên khi thấy nữ nghi can của vụ giết người chấn động cả thế giới nay trở về và nghiễm nhiên được truyền thông đón chào nồng nhiệt như một diễn viên ngôi sao.

Trong khi đó, hầu hết các báo nhà nước sau đó mau chóng dẫn lời cô Hương “cảm ơn Chính Phủ Việt Nam”, chứ không đả động gì đến những người dân lặng lẽ góp tiền, lên tiếng vận động, tìm kiến luật sư nước ngoài trợ giúp pháp lý cho Đoàn Thị Hương khi còn là nghi can trong vụ giết Kim Jong Nam, anh trai cùng cha khác mẹ của nhà lãnh đạo Bắc Hàn Kim Jong Un.

Đáng lưu ý, những người gây quỹ, giúp đỡ cô Hương cách đây hai năm còn bị nhà cầm quyền chụp mũ “phản động, có ý đồ xấu”, khuyến cáo gia đình cô Hương “hạn chế tiếp xúc” và chỉ được làm theo những gì giới chức khuyên bảo.

Sau khi cô Hương trở về, Bộ Ngoại Giao CSVN cũng mau chóng “nhận công” với thông tin được các báo đăng tải giống nhau: “Việc Đoàn Thị Hương được trả tự do và trở về Việt Nam đoàn tụ với gia đình là kết quả của các nỗ lực bảo hộ công dân của chính phủ, Bộ Ngoại Giao [CSVN], các cơ quan liên quan và Liên Đoàn Luật Sư Việt Nam cùng các luật sư người Malaysia.”

Kiến Trúc Sư Dương Quốc Chính bình luận trên trang cá nhân: “Đoàn Thị Hương không biết cách cư xử là chuyện đương nhiên. Vì trình độ học vấn, nền tảng [của cô ấy] chỉ có thế. Vấn đề ở đây là do báo chí cố tình bơm thổi vụ này lên để tuyên truyền, lấy hình ảnh cho Việt Nam mà vừa rồi bị mang tiếng quá nhiều. Tại sao tôi cho là thế?”

“Xem các bức ảnh, chỉ toàn thấy phóng viên đi đón, làm quái gì có dân. Vì các báo được chỉ đạo phải như vậy, nên với tâm lý một cô gái quê mới được tha tù, cô ấy chẳng sướng quá, tưởng mình là sao hạng A, nên chém gió loạn lên mà quên tiệt đi mình đã từng là tội phạm. Ngay cả cách trả lời báo chí, thì cô cũng được phím, là ‘ơn đảng, ơn chính phủ’, ơn luật sư, chứ có ơn những cá nhân đã vận động cho cô đâu. Tóm lại, cô Hương là nạn nhân của báo chí cách mạng, muốn lợi dụng vụ này để rửa mặt cho Bộ Ngoại Giao [CSVN], Liên Đoàn Luật Sư Việt Nam”.

Blogger Vũ Đức Vượng tổng kết diễn biến vụ Đoàn Thị Hương trên trang cá nhân: “[Cô Hương] bị Malaysia bắt, đảng, cơ quan sứ quán, lãnh sự bỏ mặc. Khi dân hỗ trợ không cho, dân chửi thì vờ vịt dây máu ăn phần, khi có tiếng thì xum xuê đưa đón, bảo vệ như minh tinh hay quan chức cấp cao….

Rõ cái nhà sản này, vẫn biết em đấy đúng, phù hợp với cái nồi cám lợn hay cả tầng lớp quan chức Việt Nam, nhưng hãy giấu đi cho đỡ tởm lợm.” (T.K.)

 Người Việt Nam trên mạng xã hội nói về “ngày giải phóng”

 Người Việt Nam trên mạng xã hội nói về “ngày giải phóng”

Những căn nhà đổ nát vì pháo kích của Việt Cộng vào Sài Gòn trong ngày 30 Tháng Tư 1975. (Hình: Getty Images)

VIỆT NAM, (NV) – Sau 44 năm kể từ khi Sài Gòn thất thủ, quân đội Bắc Việt chiếm toàn miền Nam Việt Nam, rất nhiều người trên mạng xã hội đã bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc về ngày 30 Tháng Tư. Những câu được nhìn thấy nhiều nhất là: “Ngày 30 Tháng Tư, ăn mừng vì điều gì?”

Facebook Đinh Bá Truyền viết trên trang cá nhân: “30 Tháng Tư, 1975, một toán cộng quân tiến chiếm Dinh Độc Lập. Lính tráng rửa ráy ở bồn phun nước trước Dinh. Riêng tay chính ủy bước vào phòng tắm, mở trúng cái vòi nước nóng, phỏng cả người. Y hét lên: “Tiên sư đế quốc Mỹ, rút đi rồi còn cài nước sôi ám hại ông!”

Facebook Đỗ AnhDo chia sẻ:“Chúng ta cùng ôn lại lịch sử 30 Tháng Tư, 1975. Sự đau thương không bao giờ quên.”

Trịnh Bá Tư, một người trẻ sinh ra và lớn lên sau “ngày giải phóng” đăng tải bài thơ của “nhà thơ điên” Bùi Giáng, “Đánh cho Mỹ chút Ngụy nhào” trong đó có đoạn: “… Đánh cho cả nước Việt Nam, Áo ôm khố rách xếp hàng xin cho. Đánh cho hết muốn tự do, Hết mơ dân chủ hết lo quyền người…”

Một Facebooker khác có tên Thienthanh viết: “Ngày 30 Tháng Tư, 1975, ngày tri ân đến những người chiến sĩ anh hùng Việt Nam Cộng Hoà vị quốc vong thân. Ngày tưởng nhớ đến những người Việt Nam đã ra đi tìm đường Tự Do, đã yên nghỉ trong lòng Đại Dương. Và không quên những người dân Việt Nam còn đang sống trong địa ngục của cộng sản Việt Nam. Một ngày tang thương cho toàn dân tộc Việt Nam.”

Nguyễn Phương, cũng là một người trẻ sinh sau năm 1975, hiện đang sống và làm việc ở Nhật đã đăng tải 2 hình ảnh: “Sài Gòn 1969 và TPHCM 1976” cùng với lời bình luận: “Thằng đi bộ, xe độp tiến vào nam “giải phóng” thèng đi xe oto!”

Blogger Lê Nguyễn Hương Trà đưa lên trang cá nhân một video có tên “Sài Gòn xưa.” Video này nhanh chóng nhận được nhiều lượt xem và chia sẻ. Có những người sau khi xem xong để lại những dòng chữ như: “Đẹp và thanh lịch, có một Sài Gòn như thế. Có người viết rằng: Sài Gòn trước ngày bị cướp.”

Nhà văn Nguyễn Đông Thức, con trai nhà văn Bà Tùng Long, từ Sài Gòn, chia sẻ bài viết dài trên trang cá nhân:

 “Tôi rất sợ ngày 30-4. Đã có một thời gian dài, cứ đến ngày này là người tôi lại bị tan rã nhão nhoẹt như một vũng bùn nhớp nhúa chảy dài trên giường. Tôi chỉ nằm vậy thôi.

Rồi mọi cảm giác lâu dần cũng trở thành chai sượng.

Mấy năm nay tôi thường dùng ngày này để đóng cửa nằm nhà. Làm việc, đọc sách, nghe nhạc… Không cho phép mình buồn. Và thậm chí không dám chạm đến Facebook, nơi tôi biết cứ mỗi dịp như thế này là lại sôi sục một không khí “từ bao lâu ta nuốt căm hờn”, cạnh đó là niềm vui chiến thắng ăn chơi nhảy múa. Cùng với sự xuống cấp ngày càng tệ hại của xã hội, có vẻ như “bên thắng cuộc” bắt đầu thấy sượng hơn nên kín đáo hơn trong sự ăn mừng của mình, còn “bên thua cuộc” càng thấm thía nỗi đau khi đối chiếu lại giá trị của những gì đã bị mất.

Luôn cố gắng để có thể là một nhà chuyên nghiệp trong mọi việc, tôi quyết định coi như không còn ngày 30-4 trong tâm trí mình nữa. Không còn ai thắng thua, không còn hoà hợp hoà giải (vì có bên nào muốn đâu!), không còn hy vọng và tuyệt vọng. Tập trung làm việc để khỏi nghĩ tới nó.”

Đặc biệt, Facebook Trương Thị Hà, thế hệ 9X sinh ra và lớn lên ở miền Bắc viết trên trang cá nhân: “30/04 – Ngày quốc tang.”

“Đối với tôi, ngày 30/4 hôm nay và về sau là ngày đáng thương cho đất nước Việt Nam và toàn thể người dân Việt Nam trước và sau năm 1975. Giải phóng gì mà 444,000 thanh niên miền Bắc và 282,000 thanh niên miền Nam phải bỏ mạng. Giải phóng gì mà 2 triệu người dân Việt Nam vô tội phải chết trong lửa khói. Giải phóng gì mà 1 triệu lính miền Nam phải bỏ tù cải tạo, trong đó có 165,000 lính miền Nam chết trong trại cải tạo. Giải phóng gì mà 1.5 triệu con dân miền Nam phải tha phương nơi đất khách quê người để trốn chế độ cộng sản, trong đó có 300,000 người sẽ mãi mãi không bao giờ nhìn thấy bến bờ tự do. Giải phóng gì khi ngày nay 97 triệu người dân Việt Nam bị tước những quyền cơ bản như quyền biểu tình, quyền lập hội. Thống nhất gì khi lòng dân không yên, vẫn còn phân biệt, đối xử vùng miền giữa thành thị và nông thôn, kẻ có tiền và quan hệ luôn đè đầu, cưỡi cổ kẻ nghèo hèn.”

Còn rất nhiều hình ảnh, bình luận, chia sẻ khác được bày tỏ trên mạng xã hội trong vài ngày qua. Tất cả đều cho thấy một tâm trạng tiếc nuối, hoài vọng, đau xót về một Sài Gòn chỉ còn trong ký ức. (C.Lynh)

From: TU-PHUNG

Người Việt Nam trên mạng xã hội nói về “ngày giải phóng”

Nữ luật sư trẻ gốc Việt, đồng sáng lập Tạp Chí Luật Khoa, lâm bệnh hiểm nghèo

Nữ luật sư trẻ gốc Việt, đồng sáng lập Tạp Chí Luật Khoa, lâm bệnh hiểm nghèo

Ngọc Lan/Người Việt

Vi Trần, nữ luật sư trẻ gốc Việt, người đồng sáng lập Tạp Chí Luật Khoa, lâm bệnh hiểm nghèo. (Hình: Facebook Vi Tran)

WESTMINSTER, California (NV) – Dáng người nhỏ nhắn, gương mặt sáng và nụ cười thân thiện luôn ở trên môi là ấn tượng của bất kỳ ai lần đầu gặp Trần Quỳnh Vi (Vi Trần), tên Mỹ đầy đủ là Vi Katerina Trần.

Nhiều người biết đến Vi không chỉ trong vai trò của một luật sư, mà cô còn là đồng sáng lập viên của tờ Tạp Chí Luật Khoa và The Vietnamese. Đây những tạp chí bị “báo chí nhà nước” lẫn dư luận viên ở Việt Nam cho là “phản động,” “chống chính quyền,” “cờ vàng ba que.”

Tin tức về bệnh tình của người luật sư trẻ tuổi này được bạn bè “tìm thấy” và “share” cho nhau sau khi quỹ “Gofundme” do những anh chị em họ của cô thiết lập, xuất hiện vào ngày Thứ Bảy, 27 Tháng Tư, kêu gọi sự giúp đỡ để cô có thể chi trả các khoản chi phí y tế.

Mắc bệnh hiểm nghèo

Theo những gì viết trên trang “Gofundme, thì Vi là thành viên của một tổ chức phi lợi nhuận nhằm thúc đẩy nhân quyền và dân chủ. Nhưng bi kịch thay khi vừa mới đây cô bị chảy máu não nghiêm trọng và được chẩn đoán là mắc chứng phình động mạch não, một căn bệnh rất nguy hiểm. Vi đã trải qua hai cuộc phẫu thuật lớn ở Đài Loan và sẽ cần nhiều phương pháp điều trị y tế khác nhau trong ít nhất là sáu tháng tới. Nhưng Vi không có bảo hiểm y tế. Gia đình chúng tôi xin mọi người góp lời cầu nguyện cho Vi. Chúng tôi cũng cần sự giúp đỡ của mọi người để chi trả các hóa đơn y tế của Vi, nhiều phần lên đến hàng chục ngàn đô la.”

Tin tức này gây nên cú sốc lớn với tất cả những ai quen biết Vi. Mọi người tỏ ra hoang mang, và sau cùng, phải chấp nhận sự thật khi anh Trịnh Hữu Long, một người bạn thân thiết, là người cùng cô sáng lập nên tờ Tạp Chí Luật Khoa, lên tiếng xác nhận.

“Mình xin xác nhận thông này. Vi bị xuất huyết não dẫn đến đột quỵ hơn hai tuần trước và được cấp cứu tại một bệnh viện ở Đài Loan,” Trịnh Hữu Long viết trên facebook cá nhân mình vào chiều tối ngày 30 Tháng Tư (theo giờ California).

“Bác sĩ cho biết đây là loại đột quỵ đặc biệt và rất nguy hiểm. Họ đưa ra nhiều giả thuyết nhưng cũng không biết chắc là do cái gì. Vi đã trải qua hai cuộc phẫu thuật, mới qua được tình trạng nguy kịch. Tình hình hiện tại là Vi đang dần tỉnh táo hơn và có nhiều dấu hiệu hồi phục tốt. Vi sẽ sớm phải trải qua một cuộc phẫu thuật nữa,” anh Long cho biết.

Blogger Phạm Đoan Trang, cũng là một người bạn thân và đồng sáng lập Tạp Chí Luật Khoa, cho biết thêm, “Hiện giờ Vi vừa trải qua hai lần phẫu thuật não ở Đài Loan. Vi khó có thể về Mỹ điều trị, vì chi phí y tế ở Mỹ quá cao trong khi Vi đã không còn bảo hiểm. Có lẽ tạm thời Vi đã qua cơn nguy hiểm, nhưng khả năng phục hồi để trở lại hoàn toàn bình thường như trước còn rất xa. Công việc của Vi ở Luật Khoa và trang báo tiếng Anh The Vietnamese vậy là đành dừng lại. Cầu xin mọi người hãy giúp đỡ bạn tôi, bằng mọi hình thức có thể, đặc biệt là hỗ trợ tài chính và đóng góp, duy trì nội dung cho The Vietnamese.”

Cô Vi Trần, đồng sáng lập viên của tờ Tạp Chí Luật Khoa, và The Vietnamese đang bị “xuất huyết não dẫn đến đột quỵ và được cấp cứu tại một bệnh viện ở Đài Loan.” (Hình: Facebook Vi Trần)

“Tình yêu kỳ lạ, không thể giải thích, đối với Việt Nam”

Với tư cách là người bạn, cô Đoan Trang cho biết, “Vi cùng gia đình rời Việt Nam từ năm 1992. Cô đã có quốc tịch Mỹ, thừa hưởng nền giáo dục Mỹ, sử dụng tiếng Anh thành thạo hơn tiếng Việt trong lĩnh vực chuyên môn của cô là luật pháp, và đã là một luật sư có uy tín, mở công ty luật ở San Jose, California.”

“Nhưng ở Vi có một tình yêu kỳ lạ, không thể giải thích, đối với Việt Nam – đất nước mà gia đình cô đã buộc phải rời bỏ. Năm 2014 khi Trịnh Hữu Long và tôi mở trang báo mạng Luật Khoa tạp chí, Vi tình nguyện từ bỏ tất cả – một công việc thu nhập rất tốt, một sự nghiệp rất sáng, một cuộc sống bình yên và đầy đủ ở Mỹ – để tham gia cùng chúng tôi trên một con đường đầy gian khó, rủi ro và bất trắc,” blogger Đoan Trang cảm nhận.

Chia sẻ cảm nghĩ về người cộng sự đặc biệt của mình, anh Trịnh Hữu Long bày tỏ, “Là người gần Vi nhất trong những năm qua, tôi hiểu Vi đã hy sinh rất nhiều để đi con đường gian nan này. Vi chưa bao giờ muốn rời khỏi Việt Nam, ngay từ khi còn nhỏ. Yêu Việt Nam và tiếng Việt tha thiết, bốn năm trước Vi bỏ sự nghiệp ở California để qua Philippines và Đài Loan làm việc.”

Cô Lam Kiều Lam, hiện sống ở New York, là một người bạn của Vi Trần, chia sẻ, “… Ngày mới tham gia Facebook, tôi hoàn toàn không biết gì về chính trị. Chính từ sự tình cờ quen Vi, mà tôi học được từ Vi nhiều điều cho đến tận bây giờ, để từ đó tôi để ý đến tình hình Việt Nam, nước Mỹ, quan tâm, chia sẻ và tìm hiểu, học hỏi để biết thêm nhiều điều, về quê hương tôi bỏ lại và về đất nước hiện tại tôi gọi là nhà.”

“Nếu ai hỏi điều gì đã khiến cho cô gái gốc Sài Gòn ấy dù lìa quê ly xứ và định cư ở Mỹ từ khi rất nhỏ, học, trở thành luật sư, thông thạo tiếng Anh, là công dân Mỹ, nhưng tâm hồn rất thuần Việt và luôn hướng về cội nguồn, thì mình nghĩ đó chính là do tình yêu tha thiết của em ấy đối với Sài Gòn và nước Việt,” cô Lam Kiều Lam nói thêm.

Ông Sang Nguyễn, một thành viên của tổ chức VOICE, hiện ở Garden Grove, nhận xét, “Tuy còn rất trẻ nhưng Vi đã trưởng thành hơn nhiều người khác cùng lứa tuổi hoặc hơn em. Sự dấn thân của em đã nói lên tất cả khát vọng của em muốn làm gì đó để nhình thấy được sự thay đổi của quê hương, đất nước. Vi tuy khiêm tốn nhưng xông pha trên tuyến đầu bằng sự hy sinh cá nhân để làm chuyện ít ai muốn. Ai có tiếp xúc với Vi sẽ thấy em dễ mến, dễ yêu và dễ cảm phục đến chừng nào!”

Với cô Giang Tăng, hiện ở San Francisco, một người quen biết Vi Trần từ lúc còn ở Việt Nam cũng tỏ ra thảng thốt khi hay hung tin, “Không thể tin được khi đọc tin này. Chị ấy là một người tốt bụng. Tôi biết chị Vi từ năm 2012, khi chị ấy về Kiên Giang làm tình nguyện viên cho tổ chức Catalyst Foundation. Khi đó, chị Vi đã cùng với một nhóm người Mỹ nhân đạo đến giúp đỡ cho những người dân nghèo khốn đốn bởi nạn buôn người ở quê tôi.”

“Tôi biết chị là một luật sư giỏi ở California, tôi rất ngưỡng mộ chị và rất vui khi có cơ hội gặp lại chị ở vùng Bay Area này. Tuy nhiên, tôi đã không gặp lại chị Vi kể từ khi chị  ấy qua Châu Á để làm việc cho một tổ chức phi lợi nhuận nhằm giúp cải thiện nhân quyền và dân chủ ở Việt Nam. Tôi không thể tin điều này lại xảy ra với chị. Chị Vi  xứng đáng có một cuộc sống tốt hơn!” Giang nói một cách xúc động.

Luật sư Vi Trần (thứ 2 từ phải), đồng sáng lập Luật Khoa Tạp Chí tại tòa soạn Nhật báo Người Việt năm 2015, cùng với (từ trái) anh Trịnh Hữu Long, cựu chủ bút Người Việt Phạm Phú Thiện Giao và cựu Tổng Giám Đốc Người Việt Phan Huy Đạt. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

“Với riêng tôi, Vi là hiện thân của những giá trị Mỹ: can đảm, nhiệt thành, quyết liệt, hết mình, nhưng cũng rất thực tế, sáng suốt, không một chút ảo tưởng hão huyền nào vào những điều không có thật. Tình bạn với Vi cũng là nguồn động viên to lớn cho tôi trong những lúc gian nan nhất, vì tôi được có niềm tin rằng bên tôi đang có Vi, phong trào dân chủ có Vi, Việt Nam may mắn có một người Việt như Vi,” nhà báo tự do Phạm Đoan Trang chia sẻ.

Anh Trịnh Hữu Long cho biết thêm, “Là đồng sáng lập viên của Luật Khoa tạp chí và gần đây là tờ The Vietnamese, Vi đã làm việc cật lực hai năm đầu tiên chúng tôi ở Đài Loan với một khoản lương rất ít ỏi và phải dùng tiền riêng để trang trải sinh hoạt. Vi chưa bao giờ nói nhưng tôi biết chắc Vi còn dùng tiền riêng để chi trả nhiều khoản của Luật Khoa, sau này ngân quỹ ổn hơn rồi tôi nói Vi kiểm kê lại xem Luật Khoa nợ Vi bao nhiêu để Luật Khoa trả lại nhưng hơn nửa năm rồi Vi chưa bao giờ tính và chưa bao giờ cho tôi biết.”

Theo anh Long, “Vi không có bảo hiểm y tế ở Đài Loan, thành ra bị bệnh thế này phải tự chi trả hết.”

Hơn lúc nào hết, đây là thời điểm một người như Luật sư Vi Trần cần những bàn tay của người thân, bạn bè, và tất cả những ai luôn cổ võ cho những khát vọng về tự do, dân quyền ở Việt Nam, chìa ra với cô, giúp cô vượt qua thử thách khắc nghiệt này, và cũng giúp cô hoàn thành ước mơ “muốn trở về làm việc với người dân ở Việt Nam, đặc biệt là những dân oan, những người oan sai trong các vụ việc” như cô từng thổ lộ trong một bài trả lời phỏng vấn của đài VOA trước khi lâm bệnh.

Mọi đóng góp cho cô Vi Trần, xin hãy vào trang Gofundme bằng cách BẤM VÀO ĐÂY(Ngọc Lan)

—–

Liên lạc tác giả: ngoclan@nguoi-viet.com