Hà Nội lại đổ thêm tiền vào dự án đường sắt Cát Linh – Hà Đông
“Tại sao họp Hội đồng Nhân dân không có một ông, một bà nào hỏi ý kiến của dân?
Với tư cách là một người Hà Nội, tôi thuộc lòng đường từ nhà tôi đến Hà Đông, trước hết tôi phản đối việc làm đường sắt trên cao tuyến Cát Linh.
Cái thứ hai là ai ký kết, tiền là bao nhiêu, thời hạn là bao nhiêu tại sao không công bố ngay lúc đầu. Bây giờ đề nghị thêm 2.300 tỷ chúng tôi không chấp nhận vì cái gì cũng phải có thời hạn,” Tiến sĩ Nguyễn Văn Khải từ Hà Nội phản đối.
Người dân Hồng Kông kêu gọi nhau đồng loạt rút tiền khỏi Ngân hàng Trung Quốc
Trí thức Việt Nam
Các cuộc biểu tình ở Hồng Kông đã chuyển từ việc kêu gọi chấm dứt Luật dẫn độ đào phạm sang một phong trào rộng lớn hơn để kêu gọi cải cách dân chủ và chấm dứt những dự luật gây ảnh hưởng đến tự do của người dân Hồng Kông.
Chế Độ Du Đãng Trị
Van Pham
Chu Tất Tiến…
Từ năm 2000 đến nay 2019, Nhà Nước Cộng Sản đã hoàn toàn thay đổi cách bắt bớ, giam cầm những nhà Dân Chủ, những người lên tiếng chống lại chế độ bán nước này. Họ đã cho công an mặc thường phục bắt cóc những nhà Dân Chủ, mục đích để không ai biết kẻ bắt cóc là ai mà khiếu nại, cũng như để dân chúng sợ hãi hơn vì không biết lúc nào, ở đâu, bị công an vồ và vất lên xe. Đây là thủ đoạn hèn hạ nhất mà Nhà Nước Cộng Sản đã thực hiện một cách vô pháp luật.
Việc này, thật ra không phải mới mẻ gì mà đã được thực hiện lai rai từ nhiều năm nay. Nhớ lại những tháng năm trước, dư luận xôn xao về việc Mục Sư Tôn, cô Quỳnh Trâm, và chị Hồ thị Bích Khương bị công an cộng sản bắt cóc cũng một lúc, đem về đồn tra tấn, khiến chị Bích Khương phải nhập viện trong tình trạng nguy kịch. Trước khi bị bắt cóc lần cuối để rồi ra tòa nhận bản án khá nặng, nhà báo tự do Tạ Phong Tần cho biết cô không thể rời nhà bất cứ lúc nào vì luôn luôn có một bọn du đãng đứng rình bên ngoài cửa, hễ cô đi ra, thì chúng lập tức bao vây, chụp lấy, trói giật cánh khuỷu về phía sau, rồi bị liệng lên xe cây như bao gạo. Sau vài tiếng đồng hồ, hay vài ngày, chúng thả cô về, không một lời xin lỗi.
Kỹ Sư Đỗ Nam Hải cũng trong tình trạng như vậy, bị du đãng tấn công thường xuyên. Chị Dương Thị Tân, vợ của nhà báo mạng Điếu Cầy, thỉnh thoảng bị du đãng đánh đập dã man. Chính Điếu Cầy cũng bị bắt theo kiểu bắt cóc. Nhóm Thanh niên Công giáo bảo vệ đất đai nhà Thờ cũng bị bất ngờ chụp bắt ngoài đường rồi tống lên xe theo kiểu Mafia. Tháng 4 năm 2015, anh Nguyễn Viết Dũng và bốn người bạn khác bị bắt cóc và nhốt giam chỉ vì dám mặc áo khoác có phù hiệu của Quân Nhân Việt Nam Cộng Hòa. Các nhà Dân Chủ khác, không ai thoát khỏi một lần bị bọn du đãng trấn lột. Nhín chung, thì chế độ Cộng Sản đang biến hình thành MỘT CHẾ ĐỘ DU ĐÃNG TRỊ.
Chế Độ Du Đãng Trị là một hiện thực, bên cạnh các chế độ Dân Chủ, Tư Bản, hay Cộng Sản. Chế Độ Du Đãng Trị không phải là một sản phẩm tưởng tượng mà đã hình thành ngay trong cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, và cái chế độ quái đản, kỳ cục đó chính là cái chế độ đang được áp đặt lên đất nước Việt Nam yêu quý của chúng ta. Điều đau lòng và công phẫn là hiện nay, các bạn cùng với 80 triệu dân chúng đang sống dưới chế độ đó từng ngày từng giờ mà hình như chưa rõ ràng nhận thức được.
Để có thể nhìn rõ hơn bộ mặt của chế độ Du Đãng đó, người viết sẽ trình bầy sự khác biệt giữa 4 loại thể chế: Dân Chủ, Tư Bản, Cộng Sản, và Du Đãng.
1- Dân Chủ (Democracy): Theo Oxford American Dictionary, chế độ Dân Chủ là một hệ thống chính trị được điều hành bởi toàn thể dân chúng, những ai có đủ tư cách công dân được bầu lên qua các cuộc bỏ phiếu công khai. Ý niệm Dân Chủ, thực sự, đã thể hiện rực rỡ nhất dưới thời kỳ Pericles, người điều hành xứ Athen, 495(?) – 429 trước Công Nguyên. Vào giai đoạn này, người dân được tự mình điều hành công việc chính trị bằng những buổi thảo luận công khai, trong đó, quyền phát biểu của mọi người dân đều ngang bằng nhau.
Người quản lý quốc gia chỉ giữ vai trò điều hành trật tự trước sau và thi hành những nghị quyết của toàn dân. Cảnh sát giữ nhiệm vụ thứ yếu vì khi mà toàn dân đã đồng thuận về mọi vấn đề kinh tế và tài chánh, sẽ không có chênh lệch quá đáng giữa người giầu và người nghèo, vì thế sẽ không có trộm cướp. Tội ác rất hiếm xẩy ra, vì mọi người đều quan tâm lẫn nhau. Nếu có tội ác, nguyên nhân thường do bệnh hoạn tâm trí cá nhân mà thôi. Quân đội được lập ra để bảo vệ biên cương, mà không có bất cứ quyền hạn gì trên dân chúng. Vì thế, hầu như toàn dân đều cảm thấy hạnh phúc, thoải mái. Đất nước Dân Chủ được phát triển mạnh mẽ trên mọi phương diện. Ý niệm Dân Chủ hiện đang được theo đuổi trên các đất nước văn minh và tiến bộ.
2- Tư Bản (Capitalism): Cũng theo Oxford American Dictionary, chế độ Tư Bản là một hệ thống chính trị và kinh tế trong đó những sự trao đổi thương mại và kỹ nghệ đều do tư nhân điều hành chứ không phải do chính phủ. Thực tế, quan niệm này bổ xung cho quan niệm Dân Chủ, chứ không phải một hệ thống chính trị biệt lập với chế độ Dân Chủ, vì trong Dân Chủ có Tư Bản, ngược lại, dưới chế độ Tư Bản, người dân vẫn được hưởng quyền lợi về Dân Chủ. Các quốc gia được gọi là nước tư bản như Mỹ, Anh, Pháp.. vẫn áp dụng lý thuyết Dân Chủ nhưng đồng thời đề cao giá trị Tư Bản của mọi người dân.
3- Cộng Sản (Communism): Lý thuyết chính trị được đề ra bởi Karl Marx và Engels, cổ võ cuộc chiến tranh giai cấp để dẫn tới một xã hội trong đó nhà cầm quyền làm chủ mọi công cụ sản xuất, tư liệu sản xuất, tài sản cũng như trí tuệ và bản thân nhân dân. Mọi người làm việc theo năng lực và hưởng theo nhu cầu. Theo Carl Marx và Engels, chế độ Tư Bản là một sự bóc lột không dân chủ, nói đúng ra, là kẻ thù của nhân dân và cần phải trừng trị tuyệt đối bằng cách lật đổ chế độ Tư Bản qua bạo lực của nhân dân. Những ý tưởng cực đoan, quá khích này đã được phổ biến rộng rãi trên nhiều địa lục, tạo ra các cuộc chiến tranh tàn khốc, tiêu diệt hàng trăm triệu người. Riêng tại Liên Xô, trên 10 triệu người đã bị giết vì bị ghép tội mang theo người tư tưởng Tư Bản. Các nước Ba Lan, Hung ga ry, Tiệp Khắc, Đông Đức.. vẫn kỷ niệm những năm tháng khủng khiếp dưới chế độ Cộng sản với hàng triệu triệu người bị treo cổ, bị bắn, bị thủ tiêu tàn nhẫn. Tại Trung Cộng, trên 30 triệu người đã bị giết một cách kinh hoàng qua các cuộc đấu tố, cải cách, sự bùng nổ của Hồng Vệ Binh, và các lần thanh trừng đẫm máu các đấu thủ chính trị.
Đến nay, sau gần 1 thế kỷ tung hoành, lý thuyết Cộng Sản đã hiện rõ là một lý thuyết không tưởng, mãi mãi không bao giờ có thể thực hiện được trên bất kỳ một đất nước nào. Campuchea là một thí dụ điển hình gần gụi nhất. Với những lãnh tụ Cộng Sản cực đoan Pôn Pốt, Iêng Sari, gần một phần tư dân số bị tiêu diệt thê thảm. Tất cả những ai có học, có đeo kính, có chút tài sản đểu bị giết sạch để thể hiện một chế độ Cộng Sản đầy tính súc vật. Những cánh đồng chết mênh mông đầy sọ người. Những căn nhà giam cuối đời lủng lằng dây xích và xương. Và điều Bất Hạnh cho nhân loại là lý thuyết Cộng Sản, tuy được chứng minh là đầy tính súc vật như thế, vẫn còn được đề cao tại một số quốc gia chậm tiến tại Phi Châu, hoặc đang phát triển trong vòng kềm tỏa chính trị như Trung Cộng, Cuba và Việt Nam,
4- Chế Độ Du Đãng Trị: Hiện nay, chế độ chính trị tại Việt Nam vẫn còn mệnh danh là chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, một giai đoạn trung gian, chuyển tiếp trước khi tiến đến chế độ Cộng Sản toàn trị. Nhưng, thực tế, có khi nào mà đất nước Việt Nam trở thành Cộng Sản được không? Như đã viết ở trên, vì tính chất súc vật tàn bạo như vậy, chắc chắn là KHÔNG BAO GIỜ, VĨNH VIỄN không có một cái chế độ Cộng Sản được thực hiện trên trái đất này. Với trình độ văn minh tiên tiến, với tốc độ thông tin đi xa hàng triệu dặm vòng quanh trái đất chỉ trong một nháy mắt, nhân loại sẽ hiểu rõ bộ mặt thực của lý thuyết Cộng sản và sẽ không chấp nhận cho một chế độ Cộng Sản nào được xây dựng.
Nhưng, vậy thì, chế độ hiện nay đi về đâu? Những đảng viên Cộng Sản đã từng giơ tay thề trung với Đảng sẽ như thế nào? Xin thưa: chế độ này sẽ trở thành một chế độ Du Đãng, các Đảng viên Cộng Sản sẽ biến hình thành các tay Du Đãng có vũ khí, có sức mạnh đàn áp nhân dân trên một mặt trận toàn diện, toàn điểm, và khốc liệt.
Tại sao lại gọi là chể độ hay thể chể Du Đãng? Nhìn lại các cuộc đàn áp nhân dân gần đây, từ Thái Hà, Tòa Khâm Sứ, Tam Tòa, rồi Bát Nhã, Lâm Đồng, và hàng trăm vụ hành hung các nhà Dân Chủ.. đâu đâu chúng ta cũng thấy lực lượng Du Đãng được cử đến để tiêu diệt nhân dân. Những tên vô lại có hung khí, gào thét những câu chửi bới thô tục, hăm dọa giết dân, rồi dùng vũ lực trấn áp những người dân, những tín đồ Công Giáo, Phật Giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo không có vũ khí trong tay. Từ Linh Mục, Thượng Tọa, hay Mục Sư đến các vị lãnh đạo các tôn giáo khác, đểu bị đánh, đập, xô đẩy, giật, cướp. Các em Thiếu Nhi Thánh Thể bên Công Giáo cũng không tránh khỏi bị lôi lên xe, đấm đá.
Trong các vụ Dân Oan biểu tình từ Bắc xuống Nam, đều có Du Đãng đến tấn công. Lực lượng Công An được gửi tới hiện trường thì chỉ để nhằm bắt giữ những người Yêu Nước, những Dân Oan chỉ biết nói lên tiếng nói công chính, đòi nhà cầm quyền Du Đãng trả lại tài sản và công lý cho nhân dân.
Những kẻ vẫn tự xưng là “đầy tớ của nhân dân” thì ung dung nhậu nhẹt “mút chỉ cà tha” tại các nhà hàng sang trọng mà một bữa nhậu của họ tương đương với một,hai năm lương của nhân dân, những người mà họ xưng tụng là “người chủ của đất nước”. Các Giám Đốc, Tổng Giám Đốc, sống huy hoàng như những Đại Gia Mafia, có người hầu xách cặp, bưng bô, có cận vệ nữ, có nguyên một dàn hộ tống trước sau, có những em Trợ Lý xinh như “gái gọi”, có nhiệm vụ duy nhất là chi tiền ăn, uống, tẩm bổ, mát xa, mát gần… Các biệt thự, sân Gôn của các Đại Gia Mafia đều được đánh giá là 4,5 sao, có nơi nghĩ mát còn hơn siêu sao, nghĩa là đạt giải nhất quốc tế. Những nhà lãnh tụ này điều hành đất nước như chuyện Du Đãng, nghĩa là tùy ý các quan, muốn sao được vậy, không cần tính toán hạch toàn kinh tế cấp quốc gia. Xây xưởng, xây công trình cả ngàn tỷ đồng rồi bỏ xó.
Các đại gia hể hả thi hành câu: “nhất phá sơn lâm, nhì đâm hà bá”, vung tay chặt cây, phá rừng, mặc cho bão lụt tràn xuống giết dân, chưa kể dựng đập thủy điện bừa bãi, cả trăm cái đập trong một phạm vi đủ cho hai, ba cái, rồi thu hết nước hạ nguồn, giết ngư dân, nông dân chết khô. Khi bão lũ kéo tới, các tay du đãng này cho xả lũ, cứu đập, lôi luôn ra biển hàng trăm mạng người và hàng chục làng xã. Toàn bộ thiên nhiên, môi trường đều biến thành mục tiêu cho các nhà lãnh đạo Du Đãng này chơi xả láng, tiêu hủy tiềm năng của đất nước, tiêu diệt nguồn sống của muôn thế hệ mai sau. Đất đai mà Tổ Tiên hàng 4000 năm gầy dựng bán tuốt cho Tầu, miễn sao tiền vào đầy túi.
Để bảo vệ đặc quyền đặc lợi này, nhà nước lại vung tay bắt nhốt tất cả những ai dám nói lên lời “Yêu Nước”, những người phản đối việc bán đất, dâng biển, những ai dám nói lên câu: “Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam”, những người viết trong “blog” những lời yêu nước. Nhà nước Du Đãng này, vì muốn tiêu diệt triệt để các tâm hồn yêu nước nên gán cho họ tội danh “âm mưu lật đổ chế độ” như đã gán cho người trẻ Nguyễn Tiến Trung, Phạm Thanh Nghiên, và tất cả những nhà đấu tranh cho Dân Chủ, cho một nước Việt Nam toàn vẹn lãnh thổ. Điều nguy hiểm nhất là ngay trong nội bộ của Nhà Nước du đãng này, các tướng lãnh, bộ trưởng cũng có thể bị chính đồng bọn mình thủ tiêu theo phương thức du đãng. Gần đây, hai vụ việc động trời đã xẩy ra: Nguyễn Bá Thanh, kẻ đang sáng giá trở thành nhân vật của Tứ Trụ Triều Đình, bị giết hay bị đầu độc! Tháng 6 năm nay, vừa qua, Tổng trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh bị đầu độc hay bị bắn, nhưng nói chung là vai trò của Phúng quang Thanh đã bị thay thế bởi một thượng tướng khác.
Hiện nay, bộ mặt ngoài của Đảng thì còn vững chãi lắm, nhưng nội bộ thì hoàn toàn căng thẳng để từ từ, theo quy luật muôn đời của xã hội, cái gì bạo phát bạo tàn, tất cả thái độ du đãng này cùng chế độ du đãng trị sẽ có một ngày bị diệt vong, khi du đãng thanh toán du đãng, khi toàn dân ý thức được đây là một chế độ đi ngược lại tiến trình tiến hóa của nhân loại, lúc đó, thì không một lực nào cản được sức mạnh của toàn dân Việt, trên đường tiến đến Độc Lập và Vinh Quang.





Tôi tớ Chúa Gioakim Marcel Nguyễn Tấn Văn, C.Ss.R. 59 năm về với Chúa

Tôi tớ Chúa Gioakim Marcel Nguyễn Tấn Văn, C.Ss.R. 59 năm về với Chúa
Nói về Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội, ngoài cha Giuse Vũ Ngọc Bích, trong số những con người đã ghi lại dấu ấn đậm nét trên bước đường tồn tại và phát triển của Dòng Chúa Cứu Thế tại Hà Nội phải kể đến Thầy Gioakim Marcel Nguyễn Tấn Văn – người tù không án, người tôi tớ Chúa, dám sống cho sự thật, bị bắt vì sự thật và chết cho sự thật.
Thầy Gioakim Nguyễn Tấn Văn sinh ngày 15 tháng 03 năm 1928, tại Ngăm – Giáo, một làng quê nhỏ nằm giữa Hà Nội và Hải Phòng, thuộc tỉnh Bắc Ninh.
Ngày 17 tháng 10 năm 1944, thầy được nhận vào làm Dự tập sinh Dòng Chúa Cứu Thế và được nhận tên Dòng là Marcel. Ngày 8 tháng 9 năm 1946, lễ sinh nhật Đức Mẹ, thầy được khấn trong Dòng.
Ngày 7 tháng 2 năm 1950, thầy rời nhà Hà Nội tới phục vụ tại Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn.
Ngược với dòng người đang hoảng loạn di tản vào Nam tránh nạn cộng sản, ngày 14 tháng 9 năm 1954, lễ Suy tôn Thánh giá, thể theo lời kêu gọi của các bề trên, thầy rời Nhà Đà Lạt trở về Hà Nội cùng với hai vị thừa sai Canada là các cha Thomas Côté và Denis Paquette. Trước khi lên máy bay trở lại Miền Bắc và sẽ không bao giờ trở lại, thầy đã quả quyết với những người khuyên thầy đừng trở lại Hà Nội rằng:“Không ai, không gì có thể tước được vũ khí của Tình yêu của tôi. Tôi ra đi để chứng tỏ giữa vùng cộng sản vẫn có người yêu mến Chúa, yêu mến Thiên Chúa nhân lành… Cái chết của tôi sẽ là sự sống của nhiều người. Cái chết của tôi sẽ đánh dấu thời kỳ bắt đầu hòa bình cho Việt Nam” (trích Tiểu sử Marcel Văn: “Tình yêu không thể chết”, tr. 10).
Lời đanh thép này đã là lời tiên báo con đường thập tự mà thầy sẽ trải qua và điều ấy đã xảy ra sớm hơn những gì thầy dự định: ngày 7 tháng 5 năm 1955, ngày kỷ niệm 26 năm thành lập Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế tại Hà Nội, Marcel Văn bị bắt khi đứng ra làm chứng cho sự thật. Chuyện kể rằng:
“Sáng ngày 7 tháng 5 năm 1955, Marcel Văn ra phố mua đồ dùng và nhân tiện lấy chiếc xe Môbilét gửi sửa từ hôm trước. Trên đường phố, Văn nghe thấy một số người bàn qua, tán lại câu chuyện hoàn toàn sai sự thật… về Miền Nam. Những người này cho rằng, ở Miền Nam, dân bị đưa đi làm khổ sai, thanh niên phải đi lính cho đế quốc… Trước những lời lẽ thô bỉ, những luận điệu sai trái này, nghĩ cần phải lên tiếng, Marcel Văn đã ôn tồn và lịch sự xác nhận: “Chính tôi đây, từ trong Nam ra…tôi xác nhận là Chính phủ Miền Nam không hành động như vậy” (theo Tiểu sử Marcel Văn: “Tình yêu không thể chết”, tr. 10).
Những năm tháng tù đầy đối với thầy là những năm tháng nghiệt ngã: bị tra tấn, biệt giam, đấu tố… bị mua chuộc, dụ dỗ ra nhập “Ủy Ban Liên Lạc Những Người Công giáo Yêu nước” và bị kết 15 năm tù không án, nhưng thầy vẫn kiên trung với sứ mạng và tiếp tục làm chứng cho sự thật. Trong một bức thư viết vội trong tù gửi cha bề trên Dòng, thầy đã viết:
“Nếu con muốn sống, thật quá dễ dàng: con chỉ việc tố giác cha. Chắc cha biết qua về “phong trào tố khổ” của những người “yêu nước”, những người “cách mạng Việt Nam” rồi chứ gì? Ôi! Tinh thần yêu nước! Ôi! Cách mạng! Người ta đã nhân danh ngươi để phạm biết bao tội ác!”
Thầy cũng viết cho cha linh hướng của mình:
“…thời gian qua con đã phải chiến đấu rất nhiều, và chịu đủ mọi khổ hình về tâm não. Kẻ thù dùng nhiều mưu bắt con phải đầu hàng, nhưng chưa bao giờ con lại để mình hèn nhát đến thế. Cũng có thể nói nếu con ham sống, thì ngày nay con không còn bị nhốt trong tù nữa. Nhưng kẻ thù lại không muốn để con chết một cách anh dũng và dễ dàng như thế. Cha hiểu con nói gì rồi. Cha cầu nguyện nhiều cho con, cách riêng cho các tín hữu Bắc Việt” Tù 304 A. (Thư 17.11.1955 gửi cha A. Boucher).
Theo các chứng từ còn để lại, chính quyền thời đó đã dùng mọi biện pháp để thuyết phục thầy “nhận tội”, nhưng thầy đã quả quyết: “Tôi không thú nhận tội ác mà không bao giờ tôi phạm” và sự kiên cường ấy khiến thầy phải trả giá bằng chính mạng sống mình.
Tháng 8 năm 1957, thầy bị chuyển tới trại số 2, Yên Bình, Yên Bái. Suốt hai năm sống tại đây phần lớn thời gian thầy bị biệt giam, không được tiếp tế thăm nuôi. Thầy bị lao phổi nặng.
Ngày 10 tháng 7 năm 1959, thầy đã an nghỉ trong cánh tay Chúa nhân từ, kết thúc một cuộc đời luôn dám sống cho sự thật và đã chết vì can đảm làm chứng cho sự thật. Chút xương tàn của thầy, giờ đây, vẫn còn đang chìm dưới lòng Hồ Thủy điện Thác Bà như một chứng tích tố cáo một thời kỳ lịch sử đầy bất công mà chế độ cộng sản đã gây ra cho đất nước và cho dân tộc.
Cuộc sống, cái chết và tấm gương anh dũng của thầy trong cuộc đấu tranh cho công lý và sự thật đã làm nẩy sinh những tín hữu trung kiên, đang và sẽ mãi là động lực thôi thúc các thế hệ kế tiếp của Nhà Dòng tại Hà Nội tiếp bước thầy trong cuộc đấu tranh, dấn thân cho những con người bị áp bức, bị đẩy ra bên lề.
Thầy đã ra đi, nhưng con người và sự nghiệp đấu tranh cho sự thật vẫn còn đó. Thầy đã ra đi, cái chết, sự khổ nhục trong chốn lao tù đã làm trổ sinh ơn phúc giúp Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội vượt qua được những giai đoạn gian khó nhất trong quá trình hình thành và phát triển suốt 90 năm qua.
Lm. Gioan Nguyễn Ngọc Nam Phong, C.Ss.R.
CHÙM DÂY KINH NGHIỆM CỦA CỘNG SẢN

VN: Hơn 1000 người ký tên phản đối việc ngược đãi tù nhân chính trị (BBC)
Mẹ con sản phụ tử vong bất thường trong bệnh viện Đại học Y dược Huế

CẨM NANG CHỐNG PHẢN ĐỘNG TINH TẾ TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

CẨM NANG CHỐNG PHẢN ĐỘNG TINH TẾ TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG
1 – Nếu người phê phán Đảng đã lớn tuổi thì ta bảo họ thù hằn quá khứ , chỉ biết moi móc , ăn mày dĩ vãng chứ làm được gì.
2 – Nếu chúng còn trẻ thì ta bảo lũ trẻ trâu chưa biết sư đời , phải đi làm rồi hãy lên tiếng.
3. Nếu đã đi làm thì ta bảo toàn kẻ bất mãn vì thất bại .
4 – Nếu đã thành công có sư nghiêp như Lê Công Định , Cù Huy Hà Vũ, Lê Hoài Anh, Trần Huỳnh Duy Thức … ta bảo chúng không có cái tâm , không phải tri thức thật , được voi đòi tiên , sau khi đã no thân ấm cật bây giờ muốn mưu triều soán vị , tham danh tiếng .
5 – Nếu trí thức hẳn hoi như Ngô Bảo Châu , Lê Đăng Doanh , Hoàng Tụy … thì ta bảo họ chẳng có kinh nghiệm chính trị , dân khoa học biết gì chính trị mà bàn.
6 – Nếu có kinh nghiệm chính trị ta bảo chúng có dã tâm chính trị , mưu đồ bất chính .
7 – Nếu là dân thường ta thách chúng nhìn từ khía cạnh đảng viên , của người lãnh đạo để thấy khó.
8 – Nếu là đảng viên như Bùi Tín , Trần Độ, Chu Hảo … ta bảo chúng là bọn phản bội , ăn cháo đá bát .
9 – Nếu chưa đi nước ngoài ta hãy bảo ra nước ngoài để thấy Viêt Nam tốt như thế nào , nước nào chẳng như nhau .
10. Nếu đã ra nước ngoài thì ta bảo lũ vọng ngoại , ham bơ thừa sữa cặn , cõng rắn cắn gà nhà.
11 – Nếu ở Hải Ngoại thì ta bảo chúng là bọn đu càng , 3 que , tàn dư Mỹ Ngụy , bè lũ tư bản , giỏi về Việt Nam đấu tranh này.
12 – Nếu ở trong nước ta bảo chúng bị kích động , nhận tiền của thế lực thù địch , lũ bị giựt dây , cút ra nước ngoài mà sống.
13 – Nếu viết bài trên mạng ta bảo bọn chỉ biết gõ bàn phím , ăn không ngồi rồi , sao không hành động đi.
14 – Nếu hành động xuống đường biểu tình đòi quyền lợi ta nói toàn bọn gây rối mất trật tự xã hội , chắc hẳn nhận tiền của các thế lực thù địch , quay về nhà làm ăn đi. Mọi việc đã có Đảng và Nhà Nước lo.
Sưu tầm các nguồn comment trên Facebook của các cháu ngoan.
Nguồn: Thầy Lê Kim Cương.
Màn “ăn vạ” tai nạn ở New York của người đàn ông TQ (video)
Tại sao cứ tiếp tục giương cao ngọn cờ Xã hội chủ nghĩa?
Tại sao cứ tiếp tục giương cao ngọn cờ Xã hội chủ nghĩa?
Ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng Sản đã khẳng định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của họ. Rằng đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Trong Chính cương, Sách lược vắn tắt năm 1930, Đảng Cộng Sản đã xác định con đường của cách mạng Việt Nam là: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”, tức là thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ để thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và người cày có ruộng, từng bước đưa đất nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Vì thế mà không có gì là lạ, khi mới đây lãnh đạo Cộng sản Việt Nam kêu gọi toàn đảng toàn dân “Tiếp tục giương cao ngọn cờ xã hội chủ nghĩa”. Họ làm điều đó, khi mà xu hướng thế giới hiện nay là dân chủ, khi mà hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa còn sót lại chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Vậy thì lời kêu gọi đó có mục đích gì? Và tại sao họ lại kêu gọi toàn dân tiếp tục đi ngược lại với sự phát triển và tiến bộ của nhân loại như thế?
Xét một cách khách quan, việc tiếp tục chế độ độc đảng toàn trị và kiên định con đường tiến lên Chủ nghĩa xã hội không hề có lợi cho người dân, ngược lại họ còn phải chịu đựng vô số những sai trái, bất công của chế độ. Vậy thì đã rõ, chỉ có nhà nước là có lợi, nói chính xác hơn, chỉ một số ít những thành phần cầm quyền cai trị là có lợi do mô hình chính trị độc quyền và sai trái đó mang lại. Nói theo cách mà ở Việt Nam hay nói là: Ý Đảng không hợp với lòng dân vậy.
Tại đại hội lần thứ V của Đảng Cộng Sản năm 1982, họ nêu lên hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng trong giai đoạn mới là: Xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội; sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; đồng thời, xác định hai nhiệm vụ chiến lược đó có quan hệ mật thiết với nhau. Tuy nhiên, đường lối sai lầm nghiêm trọng đó đã làm cho đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng về kinh tế – xã hội kéo dài.
Để khắc phục những sai lầm đó, tại đại hội lần thứ VI năm 1986 của Đảng, họ lại đề ra đường lối đổi mới toàn diện, sâu sắc và triệt để, nhưng vẫn ngoan cố kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Mặc dù đó mới chính là nguyên nhân của mọi thất bại và khủng hoảng đất nước. Liên tục từ đó, tại các kỳ đại hội tiếp theo của đảng, họ vẫn không chịu từ bỏ lý tưởng chủ nghĩa xã hội, như là một cái phao cứu sinh cho chế độ, nhưng lại gây nên thảm họa cho toàn dân tộc.
Ngày nay, con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội của đảng Cộng sản gặp phải những thách thức to lớn của thời đại. Tình trạng suy thoái, biến chất về phẩm chất đạo đức, lối sống trong đại bộ phận cán bộ, đảng viên; vấn nạn tham nhũng, lãng phí, quan liêu diễn biến phức tạp, tinh vi, chưa có giải pháp ngăn chặn, đẩy lùi một cách triệt để. Hệ thống chủ nghĩa xã hội trên thế giới đã sụp đổ và tan dã; các thế lực dân chủ không ngừng tiến bộ, thách thức sự cầm quyền độc tôn của đảng Cộng sản.
Dưới đây ý kiến của một số thành phần trí thức về vấn đề phát triển Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam:
Giáo sư Trần Phương, nguyên Phó thủ tướng chính phủ tại cuộc Hội thảo góp ý cho văn kiện Đại hội XI, ông đã nói như sau: “Thế bây giờ Chủ nghĩa xã hội của ông là cái gì đây? Thật ra mà nói, chúng ta nói và chúng ta biết là chúng ta bịp người khác. Đến tôi bây giờ, tôi cũng không biết cái Chủ nghĩa xã hội mà chúng ta sẽ đi là cái Chủ nghĩa xã hội gì đây?”.
Còn tiến sĩ Hà Sĩ Phu đã thẳng thắn phân tích rõ ràng như thế này: “Thể chế như một cơ thể bị xé đôi, nửa kinh tế thị trường muốn chạy lên phía trước, nửa ‘định hướng xã hội chủ nghĩa’ cố lưu lại phía sau. Nửa kinh tế là kinh tế trí thức, nửa chính trị Mác Lê thì phản trí thức. Đây là trường hợp phân thân của một cơ thể được ghép bởi hai nửa dị hợp, như người đi hai chân trên hai băng chuyền ngược chiều nhau. Đây là quá trình làm xiếc vô cùng vất vả đầy bất trắc”.
Đại tá Phạm Đình Trọng thì cho chúng ta thấy được cái hậu quả tai hại do đảng Cộng sản đưa dân tộc Việt Nam theo con đường Xã hội chủ nghĩa gây ra: “Đảng CSVN đã đưa dân tộc Việt Nam vào cuộc thí nghiệm xây dựng Xã hội chủ nghĩa suốt gần nửa thế kỷ và nhân dân Việt Nam phải trả giá quá đắt. Mấy thế hệ người Việt Nam trở thành vật hy sinh cho cuộc thí nghiệm đó! Hàng chục vạn người bị giết, bị tù đày trong những cuộc đấu tranh giai cấp sắt máu diễn ra triền miên và rộng khắp từ nông thôn tới thành phố, từ giới kinh doanh đến giới trí thức! Mấy thế hệ trí thức, nghệ sĩ, những tinh hoa, tài sản quí giá nhất của dân tộc bị khinh rẻ, đày đọa, bị biến thành bung xung, bị biến thành chim mồi, cá cảnh! Trả giá đắt như vậy để có một Chủ nghĩa xã hội hiện hình là một nền văn hóa thấp kém, lạc hậu, đạo đức xã hội suy đồi, hạ tầng xã hội tồi tàn, kinh tế suy sụp, cuộc sống người dân đến đáy cùng cực nghèo đói!”
Thực tế, Chủ nghĩa xã hội được đảng Cộng sản thực thi ở Việt Nam đã bị phá sản, nó bị phá sản ngay từ nơi xuất phát ra nó: Liên Xô và cả các nước Đông Âu.
Sự phát triển trong thời gian qua của Việt Nam thực chất là do áp dụng đường lối của chế độ tư bản, nhưng Chủ nghĩa xã hội thì lại cứ vơ nhận công lao mà mình không có. Chuyện kể cũng thật nực cười.
Đã đến lúc phải đặt ra câu hỏi nghiêm túc đối với nhà cầm quyền hiện nay ở Việt Nam: “Tại sao lại phải tiếp tục giương cao ngọn cờ Xã hội chủ nghĩa”, khi mà cái học thuyết Cộng sản chính là lực cản đối với sự phát triển của đất nước? Khi mà người ta đã biết rằng nó sai trái và phi nhân?





