VIỆT MINH & VIỆT CỘNG – MẸ TÔI – KINH CUNG CHI ĐIỂU

Thôi thì quê hương yêu dấu dù có như chùm khế ngọt cũng đành nén lòng nhớ nhung… Chờ đợi vậy!

VIỆT MINH & VIỆT CỘNG – MẸ TÔI -KINH CUNG CHI ĐIỂU

Lỗ trí Thâm

Mẹ tôi qua đời đã được hơn ba năm, cụ mất ở tuổi thọ 93. Năm 1946 bà mới ở tuổi 28 đã là góa phụ! Bố tôi bị Việt-Minh giết bằng cái vồ đập đất đánh vào gáy rồi đạp thẳng xuống hố, lấp đất. Ông là đảng viên Việt-Nam Quốc-Dân Đảng. Vì thấm nhuần đạo lý Khổng Mạnh “tam tòng, tứ đức” nên mẹ tôi ở góa thờ chồng, nuôi con cho đến khi tay xuôi mắt nhắm. Tôi năm nay đã qua cái tuổi “bát thập cổ lai hy”, cũng đang chờ để đi gặp mẹ mình; chứ không như “bác” Hồ ở tuổi già ước mơ được đi gặp cụ Mác cụ Lê!

Người ở lại thương nhớ người ra đi. Nhớ bóng, nhớ dáng, nhớ lời, nhớ tiếng, nhớ tập tục, nhớ thói quen v..v.. Phần tôi, tất nhiên cũng không tránh khỏi tâm trạng đó. Những kỷ niệm, những lời mẹ dạy thì không sao kể xiết.. tất nhiên có cái nhớ cái quên! Thế nhưng đặc biệt câu nói mà mẹ tôi lẩm bẩm suốt quãng đời bà: “tôi như con chim chết hụt” mỗi khi có ai nhắc tới Việt-Minh, Việt-Cộng; thì anh em, vợ chồng, con cái, cháu chắt chúng tôi không bao giờ quên được!

Tội nghiệp mẹ tôi, tại sao bà lại mang nặng cái tâm trạng “kinh cung chi điểu” kia suốt đời bà? Chẳng lẽ cái “đồng bào” Việt-Minh, Việt-Cộng kia là cái hoảng sợ đeo đẳng nặng nhọc cho tới ngày bà nhắm mắt? Chồng bà yêu Nước, chống “Tây”, bị “đồng bào” Việt-Minh lấy vồ đập đất đánh vào gáy chôn sống; Con bà thì được “đồng bào” Việt-Cộng “thống nhất đất nước” và cái “không có gì quý hơn độc lập tự do” cho đi “học tập cải tạo” mút mùa nơi rừng thiêng nước độc miền Bắc! Thế là mẹ tôi thân già còm cõi lại phải gánh gồng vượt ngàn dặm tiếp tế nuôi con!

**Bà có người anh ruột, ly khai gia đình theo Việt-Minh từ khi mới 15 tuổi thơ. Năm 1954, khi tiếp thu Hà-Nội, ông vội vàng tìm em. Tay mới vừa bắt, mặt mới vừa mừng thì lời nói đầu tiên đầy sợ sệt hoảng hốt: “cô hãy tìm đường vào nam ngay!..”. Và rồi, sau 30/4/1975 ,lại một lần nữa, ông vội vào Nam tìm gặp em mình. Dù đã hơn 20 năm sau, vẫn tâm trạng sợ sệt hoảng hốt như xưa, ông nghẹn ngào: “sao không đi Mỹ?Khổ rồi!!”

Gần trọn cuộc đời cống hiến cho “cách mạng”, tới lúc gần đất xa trời, ông được “Bác” và “Đảng” chiếu cố, cấp cho cái gốc cây đa ở đầu làng: Căng cái bạt, đóng cái kệ, kê cái ghế… làm nghề “lao động là vinh quang”: Hớt tóc! Miệng ông luôn lẩm bẩm: “bị lừa.. bị lừa!!”. Và nỗi uất ức “bị lừa” này khiến ông vẫn cứ lẩm bẩm câu ấy tới tận giây phút nhắm mắt lìa trần.

Trong suốt những năm dài “học tập cải tạo”, tôi được người của “đỉnh cao trí tuệ” “giáo dục” rằng “khỉ là tổ tiên của loài người”; Và tiến trình văn hóa bắt đầu từ “đồ đá.. đồ đồng.. qua tới đồ “Độc”, đồ “Đểu”; Sau cùng, tiến lên “Tư-Bản Xã-Hội Chủ-Nghĩa!”.

Vậy thế nào là đồ “Độc”?

**Tôi có người bác họ, trước ngày 30-4-1975 ông nhất định ở lại, không theo vợ con di tản. Ngày đó ông đã ngoài sáu mươi, người hom hem như cây sậy, ông nghĩ ở lại chắc Việt Cộng chẳng tính tới ông, vì suốt cuộc đời ông chỉ là một anh thư ký quèn! Cái nghề cạo giấy, trói gà không chặt, lính Việt-Nam-Cộng-Hòa chê!

Thế nhưng ngày “đại thắng mùa xuân”, lính “cụ Hồ” vào Sài-Gòn chia nhau đóng quân rải rác trong nhà dân. Nhà ông bác tôi cũng bị “chiếu cố”. Mười tên cán ngố “cơm niêu, nước lọ” ở nơi rừng rú đã quen, nay vào thành phố văn minh, không biết sử dụng những tiện nghi “hiện đại”! Ăn ở bừa bãi, bê bết, bẩn thỉu, bụi bặm v..v.. Bác tôi không chịu được, ôn tồn đề nghị họ luân phiên ở các nhà khác. Chúng không chịu.. ở lì! Bác tôi khóa nước, tắt điện. Ông bắc võng nằm trước nhà nhìn chúng sinh hoạt. Cuối cùng chúng chịu thua, dọn sang nhà hàng xóm. Khi ra khỏi cổng nhà, tên đội trưởng quay lại nói: “Rồi mày sẽ biết tay ông!”.

Vậy thì “tay ông” ra sao?

Chị người làm sau ngày “giải phóng” đã xin nghỉ, đột nhiên trở lại thăm ông. Sau những câu hỏi thăm tình nghĩa, chị góp ý: “Bà và các cô cậu ra đi để lại ông một mình, nay ông phải tự lo mà sống, con đề nghị ông mang cái bàn nhỏ và cái máy đánh chữ ra để ở đầu ngõ, đánh máy thuê, may kiếm được đồng vào đồng ra cho qua ngày”. Sau khi chị người làm giã từ, ông suy nghĩ thấy có lý. Ngay hôm sau, người qua lại đã thấy ở đầu ngõ xuất hiện một ông già đánh máy thuê.

Ngày qua ngày, tạm đủ sống. Ông nghĩ tới chị người làm trung thành tốt ý mà mang ơn! Thế nhưng, chợt một hôm chị người làm lại xuất hiện. Lần này chị mang đến cho ông một tin mừng, chị đưa ra một xấp giấy đề cập tới những người làm sở Mỹ trước kia sẽ được Mỹ can thiệp cho đi, đặc biệt với ông vì có bà nhà đã làm sở Mỹ. Chị yêu cầu ông gấp rút đánh máy ra nhiều bản để chị bán cho những người làm sở Mỹ còn kẹt lại, và hẹn hôm sau chị trở lại.

Ông thức gần trắng đêm để đánh vội ra nhiều bản, và chờ! Tội nghiệp, Thay vì chị người làm “trung thành” thì là những tên công an áo vàng ập đến! Khám xét, hò hét.. Rồi cái gì xảy đến? Ông bị bắt vì tội “âm mưu phát tán tài liệu phản động”. Còng tay, bỏ tù, giam ở nhà tù Phan-đăng-Lưu. Sau đó đưa đi đâu không ai hay biết, vì không có thân nhân! Cuối cùng, không bao giờ ông trở lại mái nhà xưa! Căn nhà của ông ít lâu sau người ta thấy có người ở, lớn bé, nói tiếng Bắc giọng léo lắt, lươn lẹo.. khó nghe.

Hơn ba mươi năm qua, các con ông mòn mỏi tìm xác cha mình nhưng vẫn biệt vô âm tín. Tóc họ đã hoa râm, nhưng hàng năm vẫn thay phiên nhau về quê cũ, đứng trước cửa nhà xưa, tay cầm nén nhang tưởng nhớ cha mình, hồi tưởng một thời thơ ấu trong căn nhà êm ấm hạnh phúc của một thuở đất nước thanh bình thịnh vượng! Phần tôi, trong âm thầm tận cùng ở đáy lòng, tôi ước mơ ở tuổi già, tôi và họ quên được những hận thù để nhẹ nhàng ra đi. Nhưng dễ gì! tâm tư nào hóa giải được nỗi đau tình phụ tử, lòng hiếu đễ?

Ngày giỗ mẹ tôi, đứa cháu lớn hỏi tôi rằng: “Cụ nội bị ‘kinh cung chi điểu’, thế còn ông nội thì sao?”. Tôi không trả lời, vì ở tuổi chúng chưa biết gì về hận thù! Thế nhưng câu hỏi đó đã đánh thức trong tôi niềm đau ngủ yên của những năm tháng tù đày. Những cái “Độc”, cái “Đểu” của người Bắc Việt-Cộng ở những ngày xa xưa nơi rừng thiêng nước độc mà tôi và các chiến hữu của tôi đã nhiều lần chết hụt lạnh người, lại từ ký ức lũ lượt trở về.

Vậy thế nào là đồ “Đểu”?

**Ngày 29-6-1976 trên bến Hạ-Lý, Hải-Phòng, miền Bắc, trước mặt chúng tôi (những tù bại binh biệt xứ), một tên bộ đội sau khi dựng chiếc Vespa màu xanh dương (cướp được từ miền Nam), hắn chậm rãi mở cốp xe lấy ra một lá cờ vàng ba sọc đỏ rồi từ từ hắn lau xe, hắn lau khắp “thân thể” cái xe. Cuối cùng khi lau tới cái yên xe, hắn quay mặt nhìn chúng tôi.. cười đểu. Ngày đó tôi ghi nhận được nỗi đau đớn uất hận hằn lên khuôn mặt những đồng đội tôi! Những ánh mắt đổ lửa của thân phận tù đày ở ngày xa xưa đó, còn đeo đẳng tôi tới hôm nay!

**Cũng chính ngày đó, trước khi chích ngừa tù binh, tên bác sĩ Việt-Cộng qua loa phóng thanh, hắn cao giọng nói: “Đây là miền Bắc Xã-Hội-Chủ-Nghĩa lành mạnh, các anh sẽ được tiêm phòng để ngừa những bệnh truyền nhiễm của miền Nam ở trong người các anh”. Thế nhưng mỉa mai thay, chỉ ít tháng sau, Sài-Gòn bị dịch ghẻ ngứa chưa từng có, tràn lan khắp nơi. Người dân nhỏ to: “bộ đội và bọn thổ phỉ miền Bắc mang vào!”

**Một tên cai tù trả lời “anh vào hỏi nợn” sau khi một chiến hữu của tôi hỏi xin hắn cho nhặt những mẩu đầu gân khoai mì mà lợn chê, nằm dưới hố rác đã nhiều ngày. Tôi không sao quên được nét mặt thèm khát và thất vọng của người chiến hữu ấy! Thật là đểu cáng và tàn nhẫn. Làm sao có thể tìm được trên trái đất này một tên cai ngục đểu độc như tên cai tù Việt Cộng kia?

**“Ngụy quân, ngụy quyền”. Trong một lần khác, một tên cai tù nhẹ nhàng kể với tôi: “Thời thơ ấu, hắn và các bạn thường nghịch ngợm phá phách hàng xóm. Mỗi lần hư hỏng như vậy, mẹ hắn thường chửi hắn “thằng ranh con nghịch như ngụy“.” Sau đó hắn nhìn tôi cười đểu. Những cái đểu như đã có sẵn bàn bạc khắp trong người dân thường cho đến kẻ lãnh đạo ở miền Bắc!

**Hồ-chí-Minh khi còn sống, đánh chiếm miền Nam, ông xúi bọn Mặt-Trận Giải-Phóng Miền Nam rằng: “Miền Nam đi trước, về sau”. Bọn Nguyễn-hữu-Thọ, Nguyễn-thị-Bình, Trịnh-đình-Thảo, Trần-văn-Trà v.v.. tưởng bở, cắm đầu đánh chí mạng! Sau 30-4-1975, Mặt-Trận bị giải tán; Lính nón tai bèo cùng những thủ lãnh lũ lượt lơ láo bị cho về vườn. Bọn Bắc Việt Cộng-Sản chính hiệu tràn vào. Cướp của, lấy nhà, chia nhau chức trọng quyền cao; Tham ô, hủ hóa, ăn cắp, ăn trộm v.v.. Mà “mức độ lẫn cường độ” tăng lên mãi tới ngày hôm nay!.

**Trong cuộc cầu nguyện lặng lẽ cho hòa bình của giáo dân ấp Thái-Hà, đòi lại đất đai của giáo xứ bị cướp cạn từ nhiều năm qua, đã bị con cháu “bác Hồ”, người “đầy tớ nhân dân”, chơi đểu bằng trộn lẫn nước tiểu và phân người, rải rác vung vãi khắp nơi quanh nhà thờ. Cuối cùng, cả đức Tổng-Giám-Mục Hà-Nội lẫn giáo dân “chào thua”! Phần đất đó được bọn người “đểu” biến vội qua đêm thành công viên.

**Thiền sư Thích nhất Hạnh sau bao năm lưu vong, được chúng cho phép về quê hương yêu dấu! Hí hửng dẫn theo cả đoàn tăng ni Việt có, Tây có, rầm rộ cờ súy diễn hành từ Nam ra Bắc.. Cầu siêu.. Cầu hồn.. Được chủ tịch nhà nước Việt cộng Nguyễn minh Triết khen: “Thiền sư Thích nhất Hạnh và đoàn tăng thân Làng Mai đã có những đóng góp tích cực vào hoạt động tôn giáo ở Việt Nam..” Được lời như cởi tấm lòng, thiền sư vội vàng bỏ ra cả triệu đô la Mỹ, lập dựng tu viện Bát-Nhã ở Bảo Lộc, tập trung được 400 tăng sĩ nam nữ. Mới chưa được bao lâu thì nhà nước xem ra thấy không ổn, bèn cho bọn côn đồ lưu manh tới phá phách, dùng bạo lực đánh đuổi tăng sĩ ra khỏi chùa! Dư luận đàm tiếu thì Nhà Nước giải thích đó là hành động tự phát của nhân dân!

**Những đòn “đểu, độc” không những chỉ ra chiêu với đối tượng không phải Cộng Sản, mà ngay trong đảng viên CS chính hiệu cũng chơi nhau sát ván! Đơn cử như ông Hoàng minh Chính, viện trưởng viện triết học Mác và Lênin của Hà-Nội được Nhà nước cho qua Mỹ chữa bệnh. Ngày 28-9-2005, ông “Triết gia” Triết phát biểu tại trường đại học Harvard về tính chất không thật của chủ nghĩa Marx và Engels, đồng thời đề nghị dân chủ cho Việt-Nam. Khi trở lại Sài-Gòn, liền bị một nhóm côn đồ đến trước cổng vứt phân người vào nhà ông. Ông đưa đơn khiếu nại thì chính quyền giải thích đó là hành động tự phát của nhân dân!

Bây giờ, sắp tới, bốn mươi tám năm trước, ngày 30-4-1975; ngày mà miền Nam thân yêu rơi vào tay bọn Bắc Việt-Cộng. Chúng cướp bóc, bỏ tù, trả thù, chém giết, đày đọa… Đất nước gặp khổ nạn! Cả miền Nam tràn ngập máu lửa, hừng hực hận thù. Kinh hoàng, hoảng hốt, người dân lành vô tội ùa nhau băng rừng vượt biển chạy trốn! Người chết nổi, kẻ chết chìm, xác người bồng bềnh phủ kín biển Đông! Người dân miền Nam gọi tháng đó là “Tháng Tư Đen”!

Bản thân tôi giờ đây có được những tháng năm cuối đời sống bình an  ở đất nước tự do này là nhờ tấm lòng nhân ái của người chủ nhà, một dân tộc hiếu khách, hiền hòa, thẳng thắn . Nhưng ngây ngô trước những cái “độc”, cái “đểu” của Việt Cộng!..

Những năm tháng còn lại ở cuối đời, tôi thường tự nhủ: “ơn hãy đền, oán thôi trả!” Ơn cha ơn mẹ, ơn bạn bè thân thích; ơn đồng bào miền Nam yêu thương, hiền hòa; ơn tổ quốc miền Nam tự do no ấm. Từ mang nặng những ơn đó,tôi sẽ kiên định lập trường giữ vững lằn ranh Quốc-Cộng: Không chao đảo, bấp bênh, bội bạc.

“Oán không trả”! Những vết thương tuy đã đóng vảy liền da qua nhiều năm tháng.. Thế nhưng gặp phải những ngày trở mưa , trở gió, tránh sao không khỏi nhức nhối? Nhiều bạn trẻ trách tôi rằng: “sao cứ thấy hình ông Hồ-chí-Minh thì phát dị ứng , khó chịu?” Tôi thừa nhận điều đó. Vì chính ông ta là “cây cung” đã làm hoảng sợ mẹ tôi, bác tôi, bản thân tôi và những chiến hữu của tôi.

Từ biệt quê hương yêu dấu đã lâu năm, lòng hoài cảm, tình hoài hương luôn chập chờn thôi thúc… nhưng chưa một lần thực hiện được. Cũng chỉ tại cái “cây cung Hồ-chí-Minh” kia in trên đồng tiền ở Việt-Nam đang luân lưu trên tay người dân mua bán, tiêu xài. Về thăm quê hương yêu dấu mà phải để cả triệu đồng tiền giấy có hình ông Hồ trong túi quần túi áo của mình qua ngày qua đêm thì… kinh hoàng quá! Thôi thì quê hương yêu dấu dù có như chùm khế ngọt cũng đành nén lòng nhớ nhung… Chờ đợi vậy!

Lỗ trí Thâm

Thủ Đô Little Saigon

From: T. Nguyễn

Án văn nghệ Vũ Hoàng Chương (Phần 1)

Báo Tiếng Dân

14/02/2023

Nguyễn Thông

13-1-2023

Sài Gòn năm 1970. Ảnh tư liệu

Mấy hôm nay, vài tờ báo nhắc đến tên tuổi thi sĩ Vũ Hoàng Chương sau khi Viện Hàn lâm Thụy Điển, nơi có trách nhiệm xét và trao giải Nobel văn chương “giải mật” công bố danh sách những người được đề xuất nhận giải danh giá này năm 1972. Suốt năm 50, một đề xuất bị cất giấu trong bí mật theo quy định của giải. Còn người được nhà văn Thanh Lãng đề nghị, thi sĩ Vũ Hoàng Chương, cũng bị thể chế “cách mạng” chôn vùi sự nghiệp lừng danh, cả khi ông sống lẫn đã chết.

Nói chính xác, Vũ Hoàng Chương là một tên tuổi, danh tiếng lẫy lừng trong đời sống văn chương văn nghệ nước nam ta. Chỉ có điều, sự tỏa sáng bị đứt đoạn theo thời cuộc, nhất là theo thể chế chính trị cầm quyền.

Nhắc tới Vũ Hoàng Chương trước năm 1945, tức là trước cách mạng tháng 8, nếu bỏ khuyết Vũ Hoàng Chương thì đó là sai lầm không thể chấp nhận. Không có thơ Vũ, nền thơ bấy giờ sẽ bị lỗ hổng rõ to, chống chếnh, thiếu thứ gì đó rất cơ bản, mặc dù khi ấy đã có những Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Hàn Mạc Tử, Thế Lữ, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Nhược Pháp… sáng rực rỡ. Mỗi người một vẻ nên không ai trên bầu trời thi ca ấy có thể thay thế được bản sắc riêng của Vũ Hoàng Chương.

Anh em ông Hoài Thanh – Hoài Chân năm 1942 đã viết về Vũ Hoàng Chương sau khi đọc tập thơ đầu tiên của Vũ, tập “Thơ say”: “Kể, cái say sưa của Vũ Hoàng Chương là một thứ say sưa có chừng mực, say sưa mà chưa hẳn là trụy lạc”. Thời đó, khi chưa bị chính trị chi phối, dắt mũi thô bạo, người ta nghĩ về nhau một cách công tâm vậy.

Sau khi đất nước bị chia cắt năm 1954 (còn lực lượng nào “có công”, thủ phạm chính trong sự chia cắt ấy, sau này lịch sử sẽ khách quan, đánh giá đúng đắn hơn), Vũ Hoàng Chương sống định cư trong Nam, là một thứ tên tuổi hàng “top” của làng văn nghệ. Nói tới thơ miền Nam trước năm 1975, có lẽ vị trí đứng đầu phải là Vũ Hoàng Chương.

Trái ngược với miền Nam, ở miền Bắc những năm đó, Vũ Hoàng Chương bị án “tử hình về văn nghệ”, đã “chết” như khá nhiều người có số phận giống ông, những Đinh Hùng, Phạm Duy, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Vỹ, Nhất Linh, Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Mạnh Côn, Võ Phiến… Thậm chí cả những tên tuổi như Vũ Bằng (sau này nghe nói được cài vào Nam hoạt động), Nguyễn Bính một hồn thơ hiền lành đa cảm tài hoa nhất mực, Vũ Trọng Phụng vốn chả gây thù chuốc oán gì với họ, Khái Hưng đấng bậc của nhóm Tự lực văn đoàn… mà họ còn nghỉ chơi, cấm tiệt thông tin, cấm tiệt xuất bản, loại hẳn khỏi sách giáo khoa và đời sống văn nghệ, huống hồ là những người đang sống, sáng tác trong chế độ “ngụy quyền”. Với phe cộng sản, văn nghệ phải đi với chính trị, tuyệt đối phục tùng chính trị. Chỉ cần trái ý họ, không làm theo lời họ là bị thi hành án, mà rõ nhất là Nhân văn giai phẩm với những nhân vật chiếu trên trong đời sống văn nghệ khi ấy như Nguyễn Hữu Đang, Trương Tửu, Phan Khôi, Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Phùng Quán…

Nói thế để thấy rằng một người như Vũ Hoàng Chương, cộng sản luôn coi là kẻ không đội trời chung, có tài mấy hay mấy cũng phải bị hủy diệt, cả danh tiếng lẫn con người.

(Còn tiếp) 

Hãy thẳng tay một lần đi, đủ rồi!

Báo Tiếng Dân

Đỗ Ngà

14-2-2023

Cách đây 4 năm, bạn mất 34 năm lao động để mua một căn nhà nhưng hiện nay, bạn phải mất 57 năm. Vậy thì thị trường bất động sản Việt Nam đã cướp mất 23 năm tiền công lao động của bạn chỉ trong 4 năm. Đây có thể ví như trò “siết cổ êm dịu” bởi người dân “mất rất nhiều nhưng nhận được có bao nhiêu”? Đây là sự ăn cướp tàn nhẫn nhất và khó thấy nhất.

Năm 2019 tôi đã tích cóp được 30 năm làm việc, dự tính sang 2023 tôi sẽ mua được nhà. Tuy nhiên, đến năm 2023 tôi lại đợi đến 2046. Nếu tôi ráng dành dụm đến 2046 thì vẫn không thể mà phải đợi thêm 120 năm tiếp. Và cứ thế, người dân bị tước mất quyền an cư một cách tự nhiên mà chẳng mấy ai nhận ra điều đó.

Như vậy, nhà đất cứ mỗi ngày mỗi rời xa tầm với người dân. Khi giá nhà đất quá cao, số người thực sự sở hữu được nhà ít dần, trong khi đó dự án thì vẫn ồ ạt phát triển. Điều tất yếu là thành phố ma xuất hiện gây nên lãnh phí kinh khủng. Đấy là thực trạng thị trường bất động sản Việt Nam hiện nay.

Nguyên nhân là bởi thể chế chính trị mà ra. Đảng Cộng Sản nó giành độc quyền cai trị đất nước nhưng bản chất nó là tham lam và vô đạo đức. Từ tham lam và vô đạo đức nó hình thành nên các nhóm lợi ích như là một lẽ tự nhiên. Nhân là tham lam vô đạo đức thì ắt nó trổ ra quả là các nhóm lợi ích, không thể nào khác được.

Nhóm lợi ích là sự cộng sinh của bọn có quyền và bọn nó tiền. Bọn có tiền làm dự án, bọn có quyền đứng sau làm chính sách hỗ trợ. Mục đích là để hút hết tài sản của dân vào nhóm lợi ích và từ đó chia chát nhau. Thị trường bất động sản trở nên như ngày hôm nay cũng bởi từ đó mà ra.

Khi được “hút máu dân” thì lại tiêu pha hoang phí, giờ trổ bệnh thì đòi nhà nước phải làm chính sách riêng để nuôi sống bọn chúng. Vừa qua VinGroup, Novaland và Hưng Thịnh v.v… đã yêu cầu Ngân hàng Nhà nước chỉnh sửa chính sách để chúng được sống. Chúng nó bảo phải giãn nợ cho chúng, chúng bảo phải hạ lãi suất cho chúng.

Nếu hạ lãi suất để cứu các đại gia bất động sản thì lạm phát mất kiểm soát ai chịu trách nhiệm? Mà lạm phát cao thì khác nào móc túi toàn dân? Khi khỏe, mấy ông đánh chén sức dân chưa đã, giờ lâm bệnh mấy ông còn yêu cầu nhà nước hút máu dân truyền cho các ông? Các ông ăn gì khôn thế?

Biết rằng để cho VinGroup, SunGroup, Novaland v.v… sụm thì sẽ gây ra hiệu ứng domino và nền kinh tế sẽ nát. Tuy nhiên, thà một lần đau rồi đứng dậy từ đống tro tàn, còn hơn cứ hút máu dân nuôi mãi bọn phá hoại nền kinh tế này. Hy vọng, Ngân hàng Nhà nước siết cho ngợp thở bọn bất động sản và Bộ tài Chính tẩy sạch bọn “bán vịt trời” trên thị trường chứng khoán cho bay màu luôn để dân bắt đầu lại. Giờ nát quá rồi, không chữa gì được nữa.

_________

Tham khảo:https://soha.vn/chuyen-gia-kinh-te-le-xuan-nghia-4-nam-truoc-nguoi-dan-viet-nam-can-35-nam-de-mua-mot-can-ho-hien-tai-con-so-la-57-nam-20220715091537651.htm

Hoa Kỳ tuyên bố sẽ bảo vệ Phi Luật Tân tiếp theo sự cố chiếu Laser của Tàu Trung Quốc

Thông Tẫn Xã AP và Các Báo khác

Hoa Kỳ nhắc lại cảnh báo rằng họ sẽ bảo vệ đồng minh hiệp ước của mình nếu các lực lượng Philippines bị tấn công ở Biển Đông đang tranh chấp, sau khi một tàu bảo vệ bờ biển Trung Quốc bị cáo buộc tấn công một tàu tuần tra Philippines bằng tia laser cấp độ quân sự khiến một số thủy thủ đoàn của tàu này bị mù trong thời gian ngắn.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Ned Price cho biết “hành vi hoạt động nguy hiểm của Trung Quốc đe dọa trực tiếp đến hòa bình và ổn định khu vực, xâm phạm quyền tự do hàng hải ở Biển Đông như được bảo đảm theo luật pháp quốc tế và phá hoại trật tự quốc tế dựa trên luật lệ”.

“Mỹ đứng về phía các đồng minh Philippines của chúng tôi,” Price nói trong một tuyên bố.

Ông nói rằng một cuộc tấn công vũ trang vào các lực lượng vũ trang, tàu công vụ hoặc máy bay của Philippines, bao gồm cả lực lượng bảo vệ bờ biển ở Biển Đông, sẽ viện dẫn các cam kết phòng thủ chung của Hoa Kỳ theo hiệp ước năm 1951. Hiệp ước bắt buộc các đồng minh phải giúp bảo vệ lẫn nhau trong trường hợp bị tấn công từ bên ngoài.

Phát ngôn viên bộ ngoại giao Hoa Kỳ, Ned Price

Tổng thống Ferdinand Marcos Jr. đã triệu tập Đại sứ Trung Quốc Huang Xilian tại Manila hôm thứ Ba để bày tỏ mối quan ngại sâu sắc của ông “về tần suất và cường độ ngày càng tăng của các hành động của Trung Quốc đối với lực lượng bảo vệ bờ biển và ngư dân Philippines,” Bộ trưởng Truyền thông Cheloy Garafil cho biết mà không nêu chi tiết.

Bộ Ngoại giao Phi đã gửi riêng một công hàm ngoại giao có lời lẽ phản đối mạnh mẽ tới Đại sứ quán Trung Quốc “lên án hành vi theo dõi, quấy rối, hành động nguy hiểm, chiếu tia laser cấp độ quân sự và thách thức vô tuyến bất hợp pháp” của tàu Trung Quốc.

Theo các quan chức Philippines, vụ việc xảy ra vào ngày 6/2 khi tàu bảo vệ bờ biển Trung Quốc chiếu tia laze cao cấp để chặn tàu tuần tra BRP Malapascua của Philippines tiếp cận Bãi Cỏ Mây trong nhiệm vụ tiếp tế cho lực lượng Philippines ở đó.

Trung Quốc tuyên bố chủ quyền hầu như toàn bộ Biển Đông, đặt nước này vào thế va chạm với các bên yêu sách khác. Trước đây, lực lượng hải quân Trung Quốc đã bị cáo buộc sử dụng tia laser cấp độ quân sự để chống lại máy bay quân sự Úc đang tuần tra ở Biển Đông và các điểm khác ở Thái Bình Dương.

Bất chấp những lời đề nghị thân thiện với Bắc Kinh của cựu Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte và người kế nhiệm của ông, Ferdinand Marcos Jr., người đã gặp nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình vào tháng 1 tại Bắc Kinh, căng thẳng vẫn tiếp diễn, kéo theo liên minh quân sự chặt chẽ hơn giữa Philippines và Hoa Kỳ.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Uông Văn Bân cho biết hôm thứ Hai rằng một tàu bảo vệ bờ biển Philippines đã xâm phạm vùng biển Trung Quốc mà không được phép. Ông nói, các tàu bảo vệ bờ biển Trung Quốc đã phản ứng “một cách chuyên nghiệp và có sự kiềm chế tại địa điểm phù hợp với luật pháp Trung Quốc và luật pháp quốc tế,” mà không giải thích hoặc đề cập đến việc sử dụng tia laser.

Vào tháng 7, Ngoại trưởng Hoa Kỳ Antony Blinken đã kêu gọi Trung Quốc tuân thủ phán quyết trọng tài năm 2016 vô hiệu hóa các yêu sách lãnh thổ rộng lớn của Bắc Kinh ở Biển Đông và cảnh báo rằng Washington có nghĩa vụ bảo vệ Philippines theo Hiệp ước phòng thủ chung.

Hôm thứ Hai, Price nhắc lại rằng “quyết định mang tính ràng buộc pháp lý” nhấn mạnh rằng Trung Quốc “không có yêu sách hàng hải hợp pháp đối với Bãi Cỏ Mây.” Trung Quốc từ lâu đã bác bỏ phán quyết và tiếp tục thách thức nó.

Philippines đã đệ trình gần 200 công hàm phản đối các hành động hung hăng của Trung Quốc ở vùng biển tranh chấp chỉ riêng trong năm 2022.

Phan Sinh Trần

Trung Quốc tiếp tục hung hãn ở Biển Đông, chiếu tia laser vào tàu Phi

Báo Bưu Điện Hoa Nam

Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos hôm thứ Ba đã triệu tập đại sứ Bắc Kinh để bày tỏ “mối quan ngại nghiêm trọng” sau khi một tàu an ninh Trung Quốc bị cáo buộc sử dụng đèn laser cấp độ quân sự chống lại một tàu tuần tra của Philippines ở Biển Đông đang tranh chấp.

Cuộc đối đầu đánh dấu sự leo thang trong tranh chấp ngoại giao, sau khi Bộ Ngoại giao Philippines trước đó đệ đơn phản đối tới Đại sứ quán Trung Quốc lên án các hành động “hung hăng” của tàu cảnh sát biển Trung Quốc mà họ cho là đã khiến các thủy thủ Philippines bị mù tạm thời (vì bị tia laser chiếu vào mắt).

Marcos đã đối đầu với Đại sứ Trung Quốc Huang Xilian hôm thứ Ba “về tần suất và cường độ ngày càng tăng của các hành động của Trung Quốc đối với Cảnh sát biển Philippines và ngư dân Philippines của chúng tôi”, phát ngôn viên Cheloy Velicaria-Garafil cho biết.

Đại sứ quán Trung Quốc thì lại nói các quan chức ngoại giao của họ đã thảo luận về vấn đề làm thế nào để “quản lý thích hợp những khác biệt hàng hải giữa Trung Quốc và Philippines”.

Sự cố laser xảy ra vào ngày 6 tháng 2 gần 20 km (12 dặm) từ bãi cạn Second Thomas thuộc quần đảo Trường Sa, nơi lính thủy đánh bộ Philippines đang đóng quân trên một con tàu hải quân bỏ hoang được neo đậu để khẳng định yêu sách lãnh thổ của Manila ở vùng biển này.

Tàu quân sự Trung Quốc bị tố chiếu tia laser vào tàu tuần duyên Philippines

Đây là vụ việc mới nhất trong một loạt vụ việc hàng hải giữa Philippines và Trung Quốc, quốc gia tuyên bố chủ quyền đối với gần như toàn bộ Biển Đông và đã phớt lờ phán quyết của tòa án quốc tế rằng tuyên bố chủ quyền của họ không có cơ sở pháp lý.

Vài ngày trước vụ việc mới nhất, Hoa Kỳ và Philippines đã đồng ý nối lại các cuộc tuần tra chung trên biển và đạt được thỏa thuận cho phép quân đội Hoa Kỳ tiếp cận bốn căn cứ quân sự khác ở quốc gia Đông Nam Á này.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Ned Price hôm thứ Hai đã chỉ trích hành động của Cảnh sát biển Trung Quốc là “khiêu khích và không an toàn”.

“Hoa Kỳ sát cánh với các đồng minh Philippines của chúng tôi trước việc Cảnh sát biển Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được báo cáo sử dụng các thiết bị laser chống lại thủy thủ đoàn của một tàu Cảnh sát biển Philippines,” Price nói.

Philippines gửi đơn phản đối đến đại sứ quán về việc lực lượng bảo vệ bờ biển Trung Quốc sử dụng tia laser

Tàu tuần tra Philippines đang hỗ trợ “nhiệm vụ luân phiên và tiếp tế” cho lực lượng thủy quân lục chiến ở Bãi Cỏ Mây thì bị tàu Trung Quốc chiếu đèn laze hai lần vào họ, Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines cho biết hôm thứ Hai.

Bộ Ngoại giao Philippines cho biết, tàu Trung Quốc cũng đưa ra các thách thức vô tuyến bất hợp pháp và thực hiện các thao tác nguy hiểm, “tạo thành mối đe dọa đối với chủ quyền và an ninh của Philippines với tư cách là một quốc gia”.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Teresita Daza cho biết: “Những hành động gây hấn này của Trung Quốc là đáng lo ngại và đáng thất vọng vì nó diễn ra ngay sau chuyến thăm cấp nhà nước tới Trung Quốc của Tổng thống Ferdinand R. Marcos Jnr”.

Daza cho biết Marcos và người đồng cấp Trung Quốc Tập Cận Bình đã đồng ý vào tháng trước để “quản lý các khác biệt trên biển thông qua ngoại giao và đối thoại, mà không cần dùng đến vũ lực và đe dọa”.

Phan Sinh Trần

Bốn người bị bắt vì nhận lại quả trong vụ in sách giáo khoa

14/02/2023

Trụ sở Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam ở Hà Nội

Trụ sở Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam ở Hà Nội

Bốn bị can, trong đó có một cựu lãnh đạo Nhà xuất bản giáo dục, hôm 13/2 đã bị khởi tố và bắt tạm giam để điều tra về vụ án in sách giáo khoa gây thất thoát tài sản của Nhà nước, truyền thông trong nước đưa tin.

Bốn người bị khởi tố bao gồm ba người ở Nhà xuất bản giáo dục là các ông Nguyễn Đức Thái, cựu Chủ tịch Hội đồng Thành viên, bà Nguyễn Thị Thanh Thủy và ông Đinh Quốc Khánh, lần lượt là Trưởng và phó Ban Kế hoạch Marketing. Ngoài ra còn có bà Tô Mỹ Ngọc, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty Giấy Phùng Vĩnh Hưng vốn là đối tác cung cấp giấy in cho nhà xuất bản.

Các bị can này bị khởi tố về tội ‘Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ’ và ‘Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng’ xảy ra trong vụ việc in sách giáo khoa.

Theo cơ quan điều tra của Bộ Công an, các vị quan chức trên ở Nhà Xuất bản giáo dục đã thông đồng với bà Tô Mỹ Ngọc để tạo điều kiện cho công ty bà này trúng thầu một cách không công bằng và không minh bạch.

Bà Ngọc sau đó được gần như độc quyền cung cấp giấy in cho nhà xuất bản với giá cao, ‘gây thiệt hại nghiêm trọng cho tài sản Nhà nước’. Ông Thái và bà Thủy đã được bà Ngọc lại quả, tờ Công an nhân dân cho biết.

Hiện tại, cơ quan điều tra đang làm rõ vai trò của từng bị can trong vụ án cũng như số tiền mà họ được lại quả.

Theo kết luận của Thanh tra Chính phủ về những sai phạm ở Nhà xuất bản Giáo dục được công bố hồi cuối năm ngoái, cơ quan này đã chọn công ty Phùng Vĩnh Hưng cung cấp đến hơn 83% lượng giấy sử dụng để in sách giáo khoa trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2019 với số tiền gần 1.900 tỉ đồng, cũng theo Công an nhân dân.

Thanh tra đã phát hiện giá giấy công ty Phùng Vĩnh Hưng bán cho Nhà xuất bản giáo dục ‘gấp khoảng 1,7 lần giá công ty này nhập khẩu trực tiếp’ và họ đã ăn tiền chênh lệch hàng trăm tỷ đồng.

Do đó, Thanh tra chính phủ cho rằng lãnh đạo Nhà xuất bản Giáo dục trong thời kỳ này đã tổ chức đấu thầu cung cấp giấy in ‘có nhiều điểm bất thường’, ‘không bảo đảm công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế’.

Nhà xuất bản Giáo dục là đơn vị độc quyền xuất bản, in ấn và phát hành sách giáo khoa đến hàng chục triệu học sinh trên khắp cả nước. Học sinh bắt buộc phải mua sách của họ để học vì không còn lựa chọn nào khác.

Cơ quan này được cho là đã sai sót trong việc xác định giá sách dẫn đến việc học sinh phải mua sách giáo khoa với giá cao hơn giá đúng với số tiền chênh lệch là khoảng 85 tỷ đồng trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2018, Công an nhân dân dẫn kết luận của Thanh tra Chính phủ cho biết.

Nhà xuất bản giáo dục đã ‘có hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để xây dựng và đăng ký mức giá sai’. Họ cũng không ‘rà soát cơ cấu chi phí, kế hoạch sản xuất kinh doanh, giảm tỷ lệ chiết khấu, không tiết kiệm chi phí…’ dẫn đến giá thành sách giáo khoa cao, cũng theo kết luận của Thanh tra Chính phủ hồi cuối năm ngoái.

Kỳ quan hồ Tahoe ở Nevada

Hồ nước này đẹp nhất Mỹ ở độ cao 8000 feet (1900 mét), cao chót vót trên nhiều dãy núi, đi lên hồ bằng đường đèo. Vì nằm trên thung lũng cao nên nó cũng rất sâu, chỗ đáy sâu nhất là 500 mét.

Chung quanh hồ bao bọc bởi các rặng núi. Nước trong vắt vì hồ chỉ chứa tuyết chảy tan ra.

Khi nhìn ngắm hồi tôi trộm nghĩ, thật không công bằng chút nào khi nói thiên nhiên đẹp mỹ miều như một bức tranh siêu nghệ thuật như thế này là tự tiến hóa mà thành.

Tự tiến hóa không thể sắp đặt cách bài bản, thứ tự, lớp lang với trời, núi, mây, tuyết, các con đường quanh núi uốn lượn kỳ công và nhất là mặt nước trong vắt và điểm tô bằng bờ đá thoải với các hòn sỏi sơn nhẹ một lớp tuyết trang điểm trắng mịn màng. Với vẻ đẹp huy hoàng, diễm lệ như thế này làm sao giải thích nổi nếu không có một nghệ sĩ bậc thầy sáng tạo tô điểm cho chúng.

“Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng mọc lên thế nào mà rút ra bài học, chúng không làm lụng, không kéo sợi, thế mà , Thầy bảo cho anh em biết: ngay cả vua Salômôn, dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp  bằng một bông hoa ấy. Vậy nếu hoa cỏ ngoài đồng, nay còn, mai đã quăng vào lò, mà Thiên Chúa còn mặc đẹp cho như thế, thì huống chi là anh em, ôi những kẻ kém tin.” (Mattheu 6:29)

Tạo hóa tô điểm tuyết cho những hòn đá ở hồ Tahoe (ảnh chụp lại từ triển lãm ở phi trường Tahoe)

Kỳ quan sáng tạo ở Hồ Tahoe, ảnh chụp lại của nhiếp ảnh gia triển lãm.

Phan Sinh Trần

VIỆC NHẸ LƯƠNG CAO hay ĐÁNH CƯỢC MẠNG SỐNG

Linh mục Giuse Nguyễn Văn Tịch, TB BVSS gp. Xuân Lộc

Tiếp nhận chị bầu cơ nhỡ từ xa chạy vào, ngheo câu chuyện của chị và xin phép viết lại câu chuyện để mọi người cùng ý thức và có những chọn lựa tốt hơn. Chị đi theo tiếng gọi của việc nhẹ lương cao mà thực sự chị đang đánh cược đời mình cho những tiếng gọi ngọt ngào.

Chị ở miền Tây, Nghề nghiệp không có, học hành cũng chỉ dừng lại trình độ biết đọc – biết viết – tính toán vài con số. Như bao phụ nữ khác, chị lập gia đình và có 2 người con. Lúc đầu mọi cái còn đẹp, từ từ mọi sự xấu đi và cuối cùng gia đình thất bại như việc chị thất bại trong học tập. Chị dắt 2 đứa bé về gia đình bố mẹ ở vừa chăm sóc cha mẹ, vừa nương nhờ mái nhà nhỏ của cha mẹ qua ngày đoạn tháng.

Sự việc thay đổi khi chị nghe theo một bạn bè rủ sang nước ngoài láng giềng đi làm với lời hứa hẹn “Việc nhẹ lương cao”. Vì là lời của bạn bè và đang bế tắc, chị muốn dấn thân, mở đường máu cho cả nhà được sống nhờ vào chị. Sự việc mau chóng được sắp đặt và chị lên đường. Sang bên đó được đưa vào một công ty, họ thu hết mọi giấy tờ và làm việc. Vài tháng đầu tiền bạc cũng đỡ, sau đó càng ngày càng tệ về mọi mặt. Dần dần việc làm nhiều nhưng tiền bạc chẳng bao nhiêu. Lo cho mình chưa xong làm sao lo cho con cái non dại, cha mẹ già quê hương. Chị biết mình đã bị bạn lừa để bạn lấy hoa hồng và bị lừa vắt cạn kiệt sức lao động. Cùng hoàn cảnh của chị có nhiều người Việt cũng bị đưa đi như thế.

Bạn lừa đưa đi nước ngoài chưa đã, lại bị lừa thêm cả tình như một cách thay lời cảm ơn ban đầu. Chị lại phát hiện mình mang thai, hoạ vô đơn chí, vòng luẩn quẩn đi vào cùng quẫn. Chị cũng được hứa hẹn bán con cho người bên đó được vài trăm triệu rồi lấy tiền về. Chị đã biết thế nào là dối trá, thế nào là lừa đảo và chẳng thể tin vào được những lời hứa hẹn đó. Bạn bè tưởng giúp nhau mà cuối cùng cũng là tính toán và bản thân họ vẫn là trên hết. Chị đau khổ mặc chị, bạn đạt được mục đích là xong.

Vừa mang bầu, vừa sống không giấy tờ, không tiền bạc, không ngày về, không ngày mai, chị rủ những người khác nữa tìm đường trở về quê hương. Ai cũng ngán ngẩm mà không ai dám liều mạng trốn về vì bị những lời hăm doạ sẽ bị đánh, sẽ bị giết nếu dám bỏ trốn. Đó không phải là lời nói đùa và đây không phải là cuộc chơi mà là đánh cược cả mạng sống mình.

Việc nhẹ lương cao đâu không thấy, chỉ thấy làm trâu làm bò cho người khác, chỉ thấy bị mất hết mọi thứ và có thể mất cả mạng. Thật cuộc đời chẳng thể có cái gọi là việc nhẹ lương cao, cái gì cũng có giá của nó, trước đây không học hành, không nghề nghiệp thì làm gì có việc nhẹ, làm gì được lương cao. Nhắm mắt đưa chân liều qua nước lạ với lời hứa việc nhẹ lương cao, giờ lại một lần nữa phải mở mắt thật to để tìm đường trở về quê hương, cuộc chạy trốn một mất – một còn. Tổng cộng 12 người cả nam và nữ trong đó có chị đang mang thai. Kế hoạch đã lên, tích luỹ được một chút lương thực, chút tiền bạc và lên đường.

Cả đoàn gồm 12 người Việt quyết định bỏ trốn về Việt Nam với chỉ một ít lương khô, vài bộ quần áo, chút đỉnh tiền bạc, không giấy tờ, ngôn ngữ tiếng được tiếng không. Họ cùng lên chiếc xe khách chạy về hướng Việt Nam. Vì không có giấy tờ, họ sợ bị bắt, bị phạt, bị các chủ cũ tìm giết hại, nên Xe chạy gần đến cửa khẩu Việt Nam, họ phải xuống xe, đi vào rừng, lặn lội qua những cánh đồng lúa, bằng qua những núi đồi, lén về lại đất Việt bằng đường bộ.

Đây là cuộc lội bộ với biết bao hiểm nguy : trên đường họ phải nằm lại bờ ruộng 2 ngày đêm với cái bụng đói, chỉ uống chút nước cho qua ngày, lúc khác chạy lên rừng chốn, đặc biệt lúc gặp những người xấu đã hiếp những phụ nữ trong đoàn. Thảm thương không còn tiền, không còn đồ ăn, không ai bảo vệ, nhục nhã vì bị tệ nạn hãm hiếp, họ đã kiệt sức. Thật thê thảm và biết rằng không thể đi bộ được với bao hiểm nguy ấy, họ đã chủ động tìm đến công an cửa khẩu nước lạ trình diện, xin giúp đỡ về lại Việt Nam.

Tại hải quan nước Lạ, họ bị bắt và bắt phạt mỗi người 41 triệu đồng mới cho về lại Việt Nam. Ai có tiền đóng phạt rồi đưa về, ai không có tiền bị bắt ở lại không biết ngày về. Chị không có tiền, gia đình nghèo cũng không đủ tiền, nên bắt ở lại mấy tháng bên nước đó, thấp thỏm lo âu, tù đầy. Cuối cùng, vì cái thai cũng lớn và không thể có được đủ tiền, hải quan cũng đưa chị trở lại Việt Nam và giao lại cho hải quan Việt Nam, nói tiếng Việt, ăn cơm Việt, gặp người Việt. Vậy là chị đã được trở lại Việt Nam với bao hiểm nguy đau khổ. Việc nhẹ lương cao không thấy, giờ toàn cay đắng, hận mình tin bạn, hận bạn lừa dối, hận đời chỉ có lấy mà chẳng có tình thương, công bằng và suýt mất cả mạng sống.

Thân xác gầy gò, đen đủi, không thể về quê với bàn tay trắng và với cái bầu nảy, chị lại lang thang bên đất Bắc, tìm nơi trợ giúp cho chị sanh đẻ và gửi lại con cho họ, kiếm ít tiền về quê. Tìm kiếm nơi nương tựa, chị lại rơi vào tay của những người xấu muốn lấy con của chị với những lời hứa lèo. Một lần nữa bà bầu gặp không những hiểm nguy cho đứa con bé bỏng, mà còn cho chính bản thân mình không biết còn giữ được nội tạng nữa chăng và đứa con sẽ đi về đâu.

Chị lang thang trên Internet tìm nơi nương tựa cho chị, sanh đẻ và có thể gửi con lại. Tìm mãi chị cũng dừng lại ở một nơi gần đó, gần biên giới. Chị tìm đến và được hứa hẹn : ở đây cho ăn ở miễn phí, con chị được gia đình khác nuôi và chị sẽ có được một số tiền để bồi dưỡng. Đưa chân vào trong đó chị được tách riêng ra, ở trong phòng đóng kín với một vài chị bầu khác, mỗi ngày được đưa 3 lần đồ ăn và không được ra ngoài. Chị thấy có điều gì đó không ổn với nơi giúp cho người bầu cơ nhỡ và thậm chí còn nghe nói đến việc trao đổi như buôn bán con nít hay cả những nội tạng. Thấy không ổn định, chị tiếp tục tìm kiếm những nơi khác giúp đỡ.

Rất may, có người ở đó biết chỗ của ban BVSS giáo phận Xuân Lộc giúp đỡ cho những người bầu cơ nhỡ. Và cùng với chị đó, quyết chí đi khỏi nơi đó và trở về với Mái Ấm Tạm Lánh Mai Tiến Xuân Lộc xin nương tựa. Lại tiếp tục một cuộc chạy trốn thứ hai tuy không nguy hiểm nhưng luôn bị làm phiền vì những cuộc điện thoại.

Về đến đây chị khóc như đứa con nít vì đã vượt qua bao gian khổ khi đến nơi này. Tôi bảo mọi sự dữ đã qua rồi, trở về đây sống chung hài hoà với các chị em, sống những gì mình có và biết nâng đỡ lẫn nhau.

Tôi hỏi đứa bé sinh ra chị tính sao? Chị trả lời : muốn gửi bé ở lại xin cha nuôi giúp và lâu lâu cho con trở lại thăm cháu, vì ở nhà cò 2 đứa con nhỏ, 2 bố mẹ già đau yếu ở nhà đang đợi chị về đi làm kiếm tiền và chăm sóc cho họ.

Tôi bảo : Cha tôn trọng quyết định của con và giúp con chăm sóc bé. Cha không muốn bé mất đi tình mẹ, bà con ruột thịt nên lâu lâu quay lại thăm bé. Để sự sống bé lại là điều tốt nhất cho bé, tìm được nơi an toàn và lớn lên đó là điều người mẹ nào cũng tìm kiếm. Giữ sức khoẻ, tâm hồn bình an, tha thứ và đừng quên cầu nguyện cho mọi việc được tốt đẹp.

Thật là đầy cay đắng, nhọc nhằn cho một người phụ nữ như chị, nhìn trước thấy bế tắc, nhìn sau thấy toàn bùn lầy, phải đưa ra một quyết định khó khăn như thế. Lỡ chân bước sai sẽ là bước đường cùng cho một con người. Bước đi thì dễ, bước lại mới khó khăn và chưa biết phải đổi diện lại với cuộc sống làm sao? Mái Ấm Tạm Lánh Mai Tiến đón tiếp những người bầu cơ nhỡ để giữ sự sống cho bào thai, để trợ giúp cho những người phụ nữ mang thai sinh con và tiếp tục nuôi con cái của họ. Với chúng tôi, sự sống con người là trên hết, tìm cách bảo vệ sự sống và người phụ nữ lỡ mang thai sẽ đều đau khổ, nhục nhã và bế tắc. Bảo tồn sự sống, tôn trọng phẩm giá của con người đặc biệt của những người mẹ để giúp họ sống phẩm giá đó bầng chính đôi chân của họ, giúp họ sống tình mẹ với con cái với những bước dài hơn khi tiếp tục cho mẹ con họ ở lại sống – nuôi con.

Xin cẩn thận với những nơi gọi lại giúp đỡ những người bầu cơ nhỡ với những lời hứa ngon ngọt để rồi đứa trẻ trờ thành món đồ trao đổi, trở thành hàng hoá kiếm tiền cho những kẻ xấu. Việc làm lương cao không có được, miếng phomat chỉ có ở trong bẫy chuột thôi. Nếu có đi ra nước ngoài làm việc, chắc ăn nhất vẫn là đến với những tổ chức chính thức trong nước để họ bảo vệ, chính quyền bảo vệ an toàn và có thể kiếm tiền hợp pháp hay trở về bình an.

Xin cám ơn chị đã tìm đến đây và chị sống cũng rất tốt với mọi người. Chúc mẹ con chị mạnh khỏe, cuộc vượt cạn thành công và mau hội nhập lại với cuộc sống, với gia đình của chị. Xin cám ơn tất cả mọi người đã giúp đỡ cho chị cũng như cho công cuộc BVSS của chúng tôi được tốt đẹp. Xin Chúa đón nhận những cống hiến của chúng ta và chúc phúc cho tất cả chúng ta cũng như những ai chúng ta được gặp gỡ, đón tiếp.

From: Phan Sinh Trần

Tin Tức về phụ nữ Việt bị bán làm nô lệ ở nước Lạ

Làm người cộng sản Việt Nam có dễ không?

Bauxit Việt Nam

Nguyễn Hữu Liêm

Tuần trước, ngày 2 tháng 2, nhân dịp được nhận huân chương 55 tuổi đảng, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng, trong diễn từ gởi gắm cán bộ, đã tuyên bố rằng, “Nếu là người hãy là người cộng sản.” Đây có thể là một lời kêu gọi mang mệnh lệnh đạo đức chính trị cao cả, nhưng nó cũng gây không ít ngạc nhiên và đàm tiếu trong nhân gian, nhất là giới kiều bào Việt ở hải ngoại. Có người hỏi là ông Trọng đang ở thế kỷ nào vậy?

Tuy nhiên, để công bằng với ông TBT, chúng ta hãy thử dùng phép biện chứng Marxist-Leninism để đánh giá hiệu triệu làm người đó. Chúng ta biết rằng GS Trọng là một tiến sĩ lý luận chính trị Marxist, người hơn ai hết nắm vững quy luật chuyển động của ý chí chính trị và tư duy lịch sử ở nơi con người cộng sản Việt Nam bây giờ – nhất là trong hoàn cảnh đất nước hiện nay.

Từ nỗi cô đơn cổ điển

Trước tiên, chúng ta hãy suy nghĩ về một hiện tượng kinh tế và tâm lý gần như hiển nhiên ở Việt Nam hiện nay. Đó là sự giàu có của giai tầng cán bộ cộng sản – mà nhân gian gọi là giới “tư bản Đỏ.” Đây là giai cấp mới, vốn nhân danh lý tưởng vô sản để làm chủ các khối tài sản kếch xù, kể cả bất động sản, vốn là của toàn dân.

Vì dù sao thì chủ nghĩa Mác đã bắt nguồn từ siêu hình học và biện chứng pháp Hegel và Marx, như GS Trọng vẫn sử dụng, vậy chúng ta hãy thử đánh giá hiện tượng này qua phép biện chứng đó.

Ở đây, xin phép được mượn lời khách quan hơn từ kẻ khác. Trong cuốn The Owl at Dawn (Con Ó Bình minh) (1995), khi diễn tả một khúc quanh siêu hình học Hegel, theo mô thức kinh điển của Hiện tượng luận Trí năng (Phänomenologie des Geistes), triết gia Mỹ Andrew Cutrofello viết về Thời quán Duy vật Biện chứng như là một bước chân mới của Chân tâm – Geist – trên hành trình Trở về chính mình. Đó là lúc mà ngã thức cá nhân giã từ đức tin tôn giáo và khoa học để tìm đến chân lý trong ý chí chính trị và cách mạng.

Thoạt đầu, người chiến sĩ vô sản là những con người cô độc với nhiều tâm tư. Cutrofello viết, “Sự sụp đổ của tri kiến tuyệt đối – mà Hegel nhân danh qua Hiện tượng luận Trí năng – đã nhường bước cho sự rút lui của những ngã thể cô đơn. Cũng như là các tâm hồn cao thượng (beautiful souls), vốn không có hạnh phúc, cái ta đơn lẻ rơi xuống đáy vực tuyệt vọng để rồi hắn có thể xưng hô niềm bất hạnh của mình. Bằng cách xưng tội, hắn tự trách chính mình – vì khả thể dung hợp với đại thể tính của thời đại đã bị bỏ mất cơ hội.”

Đây là giai thời khi mà con người tiền cộng sản chưa đối diện với cám dỗ duy vật – lúc mà mỗi ngã thể chỉ đối diện chính mình trong nỗi cô đơn tuyệt vọng với một vũ trụ đầy thần linh.

Gốc rễ tình đồng chí cách mạng vô sản

Lành thay, nỗi cô đơn trong phận người vô sản, nghèo khó, trong một cõi sống đầy thần linh đó, đã cho người tiền duy vật một niềm hạnh phúc khổ hạnh bao la. Họ là những người vô tội – hay chưa có tội – nhưng vẫn nghĩ rằng ta có tội, với người và trời đất. Họ luôn xưng tội với Trời trong nỗi cô đơn tuyệt vọng nhưng đầy cảm lạc.

Cutrofello viết tiếp, “Tuy nhiên, khi hành vi xưng tội này được đáp trả bởi một kẻ xưng tội cô độc khác, thì từng kẻ đó nhận ra rằng hai chúng ta cũng có khả năng thừa nhận hỗ tương cho nhau. Từ đó, nỗi niềm tuyệt vọng của cái ta cô độc nay trở thành tình đồng chí với nhau.” Nỗi niềm cô độc, vong thân của họ nay đã có người cùng chia sẻ. “Nhưng vì bản sắc dung hợp tạm thời này mà tình đồng chí vẫn còn mơ hồ vì hai kẻ cô đơn phủ định thể tính tha hóa chung bằng cách xác định nó. Vì thế mà cả hai đã không hóa giải được tính vong thân như là một tình thế được công nhận từ kẻ kia. Sự đi đến với nhau như là một chia sẻ ý thức về cái trở ngại cho tình đồng chí đó.”

Từ trong vực sâu của tâm tư trăn trở, các đồng chí tiền cộng sản muốn biến nỗi niềm bất hạnh của ta thành nên một ước vọng chân lý. Sự tha hóa nhân vị nay đã trở nên ý chí phục hưng nhân cách làm người. Tuy nhiên, hình thái và cấu trúc xã hội bất công chính là một chướng ngại lớn cho ước vọng làm người chân chính.

Cho nên, “Trở lực này được coi như là gốc rễ của tha hóa, nhưng vì họ – các đồng chí tiền cộng sản – đến với nhau cho nên nó cứ như là không thực, mang bản sắc huyền bí, để cả hai muốn tìm hiểu. Bằng cách đi thật sâu vào tận đáy tuyệt vọng trong tính tha hóa của ta, những cái ta nửa vời đó muốn nâng cao chính mình – và tha nhân – lên đến tầm mức ý thức chân thật về một căn cước tính cho ta trong một số phận khắc nghiệt.”

Và, “Bằng ý thức như vầy, lập trường tuyệt đối sẽ được đạt đến trong một cộng đồng mà ở đó tình đồng chí là chân thật – hơn là cái ta được định hình bằng sự khác biệt. Đây chính là bản sắc Chân lý và là công tác khởi nguyên cho những người mang lý tưởng cộng sản ban đầu,” vẫn theo Cutrofello.

Mâu thuẫn biện chứng Duy vật: Khi người Cộng sản làm chủ bất động sản

Trên bình diện luân lý và đạo đức, tuy nhiên, cái ta Vô sản và Duy vật không những tự mâu thuẫn với chính ta từ góc độ bản thể, mà là về bản sắc ý chí nội tại. Vì sao? Vì khi cách mạng vô sản đã thành công, thì thực tế vô sản từ cấu trúc xã hội bất công được san bằng. Thay vào đó là nguyên tắc tài sản tập thể và chế độ sở hữu chung. Chủ thuyết chung hữu này biến người vô sản, nhân danh nhà nước, thành chủ nhân tất cả tài sản.

Từ đó, chiến lược cai trị của con người cách mạng vừa nắm quyền là một chuyển động duy kinh tế cho tham vọng chủ nhân của họ. Việc trước tiên là chiến thuật chia chác tài sản chung như là thủ pháp phân định chức năng công tác phục vụ Đảng và nhân dân. Khẩu hiệu vô sản như là tiếng súng lệnh xung phong cách mạng cộng sản ngày trước thì nay trở nên một tấm màn gian lận che đậy ước vọng làm chủ tài sản vô hạn của người cộng sản.

Không có gì chinh phục nỗi cô đơn hơn là trở thành giàu có. Tài sản và tiền bạc là thang thuốc vạn năng cho niềm tuyệt vọng vô sản. Vì thế, khi kẻ cùng khổ lên nắm quyền, tiếc thay, thảm kịch quyền lực vẫn như của xã hội cũ. Giai cấp cai trị mới ngày nay cũng gian lận, tàn bạo, trơ trẽn, đầy đểu cáng và đạo đức giả như bao nhiêu chuyện chính trị xưa nay – nếu không nói là tinh tế và gian manh hơn nhiều.

Vì khi cái ta vô sản phủ nhận thiết yếu tính vật chất cho ngã thể bằng cách từ chối tư sản và chức năng chủ nhân, nó chỉ có thể phủ nhận bằng ý thức và khẩu hiệu; trong khi trên thực tế, từ tổ chức Đảng cho đến từng đồng chí cộng sản, vẫn là chủ nhân de facto rất nhiều tài sản, nhất là bất động sản. Vì thế, ta chỉ là vô sản như là một bình diện duy chính trị, còn thực tại thì ta không thể phủ nhận yếu tố chủ nhân được. Vậy nên, mỗi chiến sĩ vô sản – như ở Việt Nam ngày nay – là một con người in bad faith đầy giả dối với chính mình và xã hội, Cutrofello viết.

Theo đó thì khi người chiến sĩ Cộng sản – nay không còn đơn độc – tự cho mình như là hiện thân của giai cấp vô sản, họ bỗng nhận ra mình là gian dối, đạo đức giả khi thấy được rằng bản sắc ước vọng của ta nay lại được định hình bằng năng ý phủ định và tiêu cực. Bởi vì cái ta vốn đang có nhiều tài sản trên thực tế, nhưng đứng từ quan điểm chính trị thì ta từ chối điều đó. Tính giả dối này mang thực chất ở bình diện nguyên tắc khi ta chỉ phủ nhận quyền tư hữu nơi tư tưởng, trong khi ta vẫn là chủ nhân nhà cửa, xe cộ, hãng sản xuất, tài khoản ngân hàng.

Lặp lại lịch sử Chủ nô cổ điển

Cutrofello so sánh rằng, sự thể vong thân nơi con người Cộng sản gần giống như hoàn cảnh và kinh nghiệm xưa cũ của chủ nhân ông trên biện chứng Chủ-Nô. Chủ nhân bị tha hóa và xa lạ với tên nô lệ và ngay cả chính mình vì, cũng như tên nô lệ, chủ nhân ông không làm chủ những gì mình tạo ra, mà chỉ làm chủ những gì mà kẻ khác tạo ra.

Ông viết, “Cũng như thế, cái ta vô sản cũng bị tha hóa không phải vì hắn không làm chủ tài sản, mà bởi vì trên bình diện tư duy, hắn không công nhận tài sản mà hắn sở hữu là tư hữu của mình. Ta ý thức ra tệ nạn thần bái vật thể của con người tiền cách mạng, nhưng ta muốn giải hóa ảo thức thần bái tài sản này trên bình diện ý thức mà không ở thực tế.”

Hay nói một cách khác, người cộng sản trên bình diện lý tưởng và khẩu hiệu thì phủ định tư sản để rồi trên thực tế lại phủ quyết ý thức phủ định này bằng cách tiếp tục sở hữu chúng.

Nó cũng giống như là một đại gia người giàu thường nghĩ đến việc làm từ thiện giúp đỡ kẻ nghèo khó nhưng chưa có dịp thực sự thực thi ý tưởng đó. Trái lại, họ chỉ say sưa nói lời đạo đức trong khi bằng mọi cách tích lũy cho khối tài sản của mình và thân nhân.

Một màn hài kịch dở dài vô tận

Tức là, chiến sĩ vô sản Việt Nam ngày nay là những diễn viên tấu hài không biết ngượng. Vì nói trắng ra, họ là những kẻ biết rõ mọi chuyện chỉ là một màn kịch vụng về, kéo dài lê thê -– khi khán giả đã chán lên tới cổ nhưng vẫn bị ép ngồi xem màn diễn gần như bất tận.

Tuy vậy ta phải nhớ rằng họ vẫn là những con người Việt có lương tâm. Cho nên, các diễn viên hài cộng sản đó không thoát khỏi sự giằng xé nội tâm khi đóng vai tuồng vô sản giả dối. Vì năng lực đầy mâu thuẫn nội tại này ở nơi cán bộ cộng sản, đang nhân danh vô sản, giữa lý tưởng cách mạng từ ý thức đối với một đời sống mang thực chất phản động, đã trở nên bản sắc nền tảng cho một phép biện chứng ngã thức mới.

Để rồi, khi họ muốn vượt qua thực trạng nội tâm đầy mâu thuẫn và đạo đức giả này, người cộng sản chuyển hệ ý thức của mình sang chủ nghĩa duy chụp giựt – như là một thiết yếu tính cho tân chân lý cách mạng nhằm nắm đầu mối ưu tiên cho ngã thể thực dụng đầy lo sợ và tính toán, thay vì chỉ nuôi dưỡng một lý tưởng thuần tư duy. Đây mới chính là thách thức chính trị lớn cho GS Trọng.

Nhu cầu cách mạng mới trước thế tiến thoái lưỡng nan

Tóm lại, thưa ông TBT, cuộc cách mạng kế tiếp cho người Cộng sản Việt Nam – như lời kêu gọi của ông – là họ phải thật tâm làm người cộng sản chân chính. Tức là phải nhận thức được bản chất đạo đức giả của mình, tự lật ngược biện chứng duy vật, để tìm lại con đường đồng chí vô sản như thưở ban đầu cách mạng.

Nhưng đòi hỏi như thế là một yêu sách ý chí tự phủ định chính mình, một điều mà con người cộng sản, nay thực chất là các nhà tân tư bản, không thể vươn lên được. Thế nên, khi Tổng Trọng tuyên bố rằng, “Nếu là người thì hãy là người cộng sản,” thì ông chỉ muốn đưa cán bộ đảng viên vào một thế tiến thoái lưỡng nan.

Nếu họ tiến tới con đường tư bản thì bị coi là chệch hướng, tự diễn biến; nếu họ rút lui về lý tưởng vô sản thì không khả thi, không tưởng. Chính GS Trọng biết rõ điều này. Nhưng những khẩu hiệu cộng sản ông vẫn cứ tung hô. Vì ông biết rằng thần linh vô sản nay đã chết, thần dân không còn đức tin vào Đảng; tuy nhiên, vì thực tế quyền lực đòi hỏi rằng các câu sớ cũ mèm vẫn phải dâng cúng trước đình làng nhằm cứu vãn trật tự xóm thôn.

Đế quốc Mỹ – hay chùa Tam Chúc – là tân hợp đề?

Khi thế cờ đi vào bế tắc, biện chứng duy vật đòi hỏi một năng lực thăng hóa (Aufhebung) mới. Về thực tại của các ẩn số chính trị và kinh tế thì GS Trọng có lẽ cũng được báo cáo mật rằng, để thoát ra khỏi bế tắc đạo đức chính trị này, tập thể cán bộ hầu hết đang muốn đi vào hai ngả thoát ly.

Một đằng thì muốn tìm đường sang Hoa Kỳ, hay Canada, Âu châu, làm lại cuộc đời – cho chính họ và gia đình họ. Vì chỉ ở các xứ đó, nơi ít đạo đức giả hơn Việt Nam, họ sẽ không còn bức xúc bất an về tính vong thân từ cơ bản nội tâm cho lý tưởng vô sản nữa. Tức là họ công khai giàu có mà không lo sợ nhà nước và Đảng biết, và họ cũng không mang mặc cảm tội lỗi vì mình như thế. Không những vậy, họ còn công khai khoe khoang sự giàu có to tát của họ.

Đằng kia thì họ phải ở lại nước để đóng tiếp vở kịch tập thể. Khi những cán bộ không đi ra nước ngoài vì không thể hay không muốn thì nay họ hay gia đình họ sẽ đến các chùa to lớn, cầu vong, xin sớ giải hạn. Họ khấn nguyện ơn trên thương xót và thông cảm cho họ, mong cuộc đời này không bị nghiệp báo nhãn tiền hay là kiếp sau không còn phải trở lại làm người cộng sản Việt Nam. Điều này giải thích tại sao các chùa ở miền Bắc, như Tam Chúc, Ba Vàng, hằng cuối tuần đông kín tín đồ như thế.

Đám đông đi chùa cầu cơ giải hạn thì GS Trọng cũng đã từng chứng kiến, nhưng chuyện tư bản đỏ Việt ở Mỹ thì chắc ông chưa tận mắt thấy. Nếu nghi ngờ thì xin mời ông Tổng hãy xuống miền Nam California để quan sát. Ví dụ, vùng New Port Coast hay Huntington Harbour chẳng hạn, nơi giá mỗi căn nhà lên đến hàng chục triệu đô. Ở những nơi đó, mỗi cuối tuần, trong các buổi picnics và tiệc tùng liên miên, thực khách Việt Nam hầu hết là những con em cán bộ cộng sản nay là giai cấp tân tư bản đỏ, the nouveau riche, mới di cư sang Mỹ trong vòng mấy năm gần đây. Thay vì bàn đến biện chứng Marxist và đạo đức Hồ Chí Minh, họ chỉ bàn chuyện làm sao để chuyển tài sản ra khỏi nước.

Và cũng nghịch ngẫu thay, như phép biện chứng Marxist nhiều lần chứng minh qua lịch sử, trong các đám đông vui nhộn đầy lo toan ấy, có không ít những kẻ hậu vô sản, hậu cộng sản, một cách chân thành, thầm cám ơn những hy sinh ngút ngàn với lý tưởng vô sản của thế hệ cộng sản cha ông thuở trước đã cho họ hôm nay được vươn thoát cảnh ngộ lưỡng nan khi phải làm người Cộng sản Việt Nam.

N.H.L.

Động đất ở Thổ Nhĩ Kỳ và Syria: LHQ lo ngại số người chết vượt mức 50.000

RFI Tiếng Việt

Theo số liệu tính đến trưa 12/02/2023, số nạn nhân thiệt mạng tại thổ Nhĩ Kỳ và Syria trong vụ động đất hôm 06/02 đã lên tới hơn 28.000 người. Đến thăm Kahramanmaras, Thổ Nhĩ Kỳ, lãnh đạo cơ quan cứu trợ nhân đạo của Liên Hiệp Quốc, Martin Griffiths cho Sky News biết số nạn nhân trên thực tế có thể sẽ tăng gấp đôi, thậm chí là hơn thế nữa.

RFI.FR | BY RFI TIẾNG VIỆT

Động đất ở Thổ Nhĩ Kỳ và Syria: LHQ lo ngại số người chết vượt mức 50.000

CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI ĐÃ ĐÀO TẠO CON NGƯỜI TRỞ NÊN DỐI TRÁ

 

Hình từ bài chủ

Hoa Mai Nguyen.

Quyền Được Biết

Hậu quả tất yếu của của một chế độ cộng sản độc tài luôn nhồi nhét để đào tạo ra những con người dối trá khiến cho đạo đức xã hội ngày càng xuống dốc. Sự xuống dốc của đạo đức xã hội khiến con người luôn đề cao cảnh giác lẫn nhau.

Những con người làm việc chung trong một guồng máy, cùng chung một lý tưởng cũng luôn cảnh giác và đấu đá tranh giành quyền lực, tìm cách triệt hạ nhau bằng mọi thủ đoạn. Tâm lý này đã thấm sâu vào tâm lý nghi ngờ đố kỵ của con người trong nhiều năm qua.

Chúng ta có thể nhìn thấy qua tư duy và hành động của họ, những con người đó hôm nay là bạn đồng nghiệp cùng làm ăn chia chác vui mừng chạm ly trong những đợt chiến thắng, nhưng ngày hôm sau sẵn sàng là kẻ thù của nhau, vì họ lúc nào cũng luôn đề phòng lẫn nhau.

Một anh bạn tôi mới về quê hương đón tết, sau khi trở lại nước Đức đã tâm sự với tôi rằng “Xã hội Việt Nam ngày nay đã trở nên cực kỳ phức tạp, chế độ độc tài đã làm cho người dân không còn tin tưởng chính quyền, chữ tín và đạo đức đối với cán bộ nhà nước đã không còn nữa”. Chính quyền coi nhân dân như cá nằm trên thớt để chặt chém. Chính quyền đại diện cho dân nhưng dân đã không còn niềm tin. Chỉ có niềm ngao ngán và bức xúc.

Chế độ độc tài đã trở thành hiện thân của nạn tham nhũng văn hóa và đạo đức. Xã hội mỗi ngày một suy đồi, người với người lừa dối nhau, chính phủ không tin nhân dân, nhân dân cũng không tin chính phủ, pháp luật không được thực thi theo đúng văn bản. Luật một đằng, cán bộ làm một nẻo. Đối với quốc gia thì tình trạng xã hội như vậy thật quả là một điều đáng buồn cho đất nước VN.

Nhiều năm qua tham nhũng tại VN đã trở thành một căn bệnh ung thư của các cán bộ chính quyền địa phương ở các cấp các nghành. Họ tham nhũng không trừ một thứ gì, từ gói mỳ tôm, những đồng tiền nhỏ bé để cứu trợ cho người dân trong những đợt lũ lụt, béo bở hơn nữa là những hợp đồng của những đám tay to mặt lớn đang bán dần đất đai, tài nguyên và khoáng sản cho các tập đoàn nước ngoài, chủ yếu là tập đoàn của Trung Quốc, trong khi đó người dân Việt Nam phải vật lộn với đầy những khó khăn trong cuộc sống. Đó là chưa nói tới nỗi lo âu đối với những mặt hàng hóa độc hại gây ung thư chết người nhập khẩu từ bên Trung Quốc đang làn tràn khắp mọi miền đất nước.

Chế độ độc tài luôn đào tạo ra những con người dối trá và luôn nghi ngờ đố kỵ lẫn nhau làm cho đất nước và xã hội kém văn minh, chậm phát triển về mọi mặt. Chúng ta chỉ còn cách tốt nhất là giải thể chế độ, xây dựng lại một thể chế mới, một thể chế dân chủ đa nguyên. Lúc đó chúng ta mới có thể xóa đi điều kiện và hoàn cảnh tạo nên tâm lý cảnh giác và lo sợ lẫn nhau. Trong một thể chế đa nguyên, con người có mọi quyền bình đẳng thể hiện qua các quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, lúc đó đất nước Việt nam sẽ có một xã hội văn minh, phát triển và hội nhập với thế giới bên ngoài.

Khi niềm tin nơi một chế độ đã bị lung lay, sự chán ghét của người dân đối với chế độ ngày càng lớn. Sự rạn nứt của chế độ sẽ đến từ mọi phía. Tinh thần đoàn kết của mọi tầng lớp trong nhân dân ngày một lớn mạnh, tương lai tới đây sẽ có nhiều hội đoàn đối lập ĐCSVN ra đời tạo nên những làn sóng mạnh để cuốn trôi chế độ CS độc tài tại Việt Nam, như nhiều quốc gia khác trên thế giới đã thành công.

ĐẢNG CỘNG SẢN XƯA VÀ NAY

Đảng xưa kia khờ dại.

Tôn thờ đám Mác-lê.

Tư tưởng Hồ-Trung Cộng.

Mộng bá quyền quê hương.

Đảng ngày nay mê say.

Đô la vơ đầy túi.

Mác-Lê không cần thiết.

Chỉ vỏ bọc bên ngoài.

Bên trong là tham nhũng.

Chúng bán sạch quê hương.

Qua mô hình phát triển.

Đất nước chẳng tiến lên.

Thấy giật lùi tụt hậu.

Quê hương của chúng ta.

Từ biển đảo đất liền

Nay sắp thành Trung cộng.

Lại bắc thuộc ngàn năm.

Nhìn về đất nước tôi.

Đứng bên đây tôi khóc.

Cho dân tộc Việt Nam.

Nỗi đau này đau quá.

Chẳng biết bao giờ nguôi.

Quê hương thuở một thời.

Ông cha ta giữ nước.

Nay con cháu thờ ơ.

Quê hương còn hay mất?

Vẫn ngủ gật không hay.