Ngộ độc Lịch sử và Tội phạm Chiến tranh

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả: Trần Gia Huấn

Ще не вмерла України – Ukraine Has Not Yet Perished.

…Vinh quang và tự do bất diệt trên tổ quốc Ukraine.
Hỡi những người anh em! Số phận đã mỉm cười.
Kẻ thù sẽ bị tiêu diệt như giọt sương tan biến dưới ánh sáng mặt trời.
Linh hồn và thể xác hãy yên nghỉ cho tự do của quê hương
Hỡi anh em những người con của dân tộc Cossacks…”

Trên đây là một phần của bài quốc ca Ukraine, ra đời cách nay hơn 150 năm. Lời bài hát lấy từ khổ thơ đầu của bản trường ca “Ще не вмерла України, – Ukraine Has Not Yet Perished- Ukraine không bao giờ bị tiêu diệt” của nhà thơ Pavlo Chubynsky sáng tác vào năm 1862. Bài thơ được truyền miệng ở miền tây Ukraine. Năm 1863 Mykhailo Verbytsky, một linh mục công giáo, nhà soạn nhạc lừng danh, đã viết nhạc cho bài ca này.

Ukraine là những giải đồng bằng mêng mông bất tận, màu mỡ, phì nhiêu vào loại bậc nhất hành tinh. Nhưng Ukraine cũng là bãi chiến trường, nơi xâu xé của kẻ tử thù truyền kiếp Nga – Thổ, Nga – Ba Lan kéo dài nhiều thế kỷ.

Ngày 24 tháng Hai năm 2022, Nga xâm lược Ukraine. Tổng thống Ba Lan Andrzej Duda khuyên Tổng thống Ukraine Zelensky đánh đến cùng để rửa mối hận Pereyaslav – 1654.

Ba Lan như một người bạn trung thành trên tuyến đầu giúp Ukraine vô điều kiện. Thổ đóng vai nhà hòa giải, nhưng khiếp nhược trước kẻ thù truyền kiếp Nga.

Địa lý đang nguyền rủa lịch sử, và lịch sử cũng chửi rủa địa lý. Putin đã tận dụng điểu này để phục vụ cho mục đích gây chiến, đàn áp, và chiếm đóng. Nhìn lại vài lát cắt lịch sử để hiểu thêm sức mạnh và cả sự yếu hèn của quyền lực.

1654

Trở về năm 1654, Ukraine là một quốc gia, có quân đội Cossack, cùng các định chế. Nga và Cossacks đang có chiến tranh với khối Ba Lan – Lithuanian. Lãnh tụ Cossack là Hetman Bohdan Khmelnytsky của Zaporizhzhia, đã liên kết với Nga để chống lại Ba Lan.

Ba Lan bại trận phải phải rút quân. Từ đó, miền đông sông Dnipro và Kyiv dưới sự chiếm đóng của Nga, còn miền Tây dưới sự chiếm đóng của Ba Lan.

Hiệp ước Pereyaslav – 1654 ra đời là lời thề trung thành của Cossacks với Nga, chứ không phải để dâng hiến lãnh thổ, hay hợp pháp hóa sự chiếm đóng của Nga. Hiệp ước này là một giải pháp tình thế trong lúc Ba Lan đang mở rộng chiến tranh ngay trên đất Ukraine.

Ai cũng hiểu điều này, nhưng Putin thì không. Putin bảo: Ukraine không phải là một quốc gia. Ukraine không hẳn là một dân tộc. Putin muốn xóa bỏ tư cách quốc gia của Ukraine bằng vũ lực, dựa vào sự diễn giải lịch sử của riêng ông.

Crimea

Bán đảo Crimea, các nhà bình luận quân sự tin, sẽ là trận thư hùng lịch sử giữa Ukraine và Nga trong năm nay. Vậy, trên góc độ lịch sử thì ai từng là chủ sở hữu bán đảo này?

Qua nhiều thế kỷ, Crimea có hai nhóm Cossacks va Tatar sinh sống ở đây. Dòng họ lừng danh Tatar Khanate cai trị Crimea dưới sự bảo trợ của Đế quốc Ottoman (Thổ). Người dân ở đây nói tiếng Thổ, và thờ phượng đấng tiên tri thiêng liêng Muhammad.

Vợ của Hoàng đế Nga Peter III là Catherine đã tổ chức một cuộc đảo chính cung đình. Đêm ngày 8/7/1762, Catherine và người tình Grigory Potemkin cùng vài tướng lãnh khác bí mật bắt chồng, giam trong ngục tối. Tám ngày sau Hoàng đế Peter III bị giết chết ở tuổi 34, ngồi ghế Nga hoàng vừa được 6 tháng.

Sau khi giết chồng, 22 tháng 9 năm 1762, Catherine lên ngôi, tuyên xưng Nữ Hoàng Đại đế Catherine II (Catherine II the Great – Екатерина II Великая). Ngay sau đó, bà gởi người tình Grigory Potemkin đến cưỡng chiếm Crimea từ tay Ottoman.

Đến 1783, Nữ Hoàng đế Cathrine II và Potemkin xoay sở và thủ đoạn sát nhập bán đảo này vào lãnh thổ Nga. Đế quốc Ottoman và dòng Cossacks ngậm đắng nuốt cay với Nga từ đó.

Tuy vậy, những hậu duệ của dòng họ Tatar Khanate vẫn còn hiện hữu trên bán đảo và miền nam Ukraine. Hai dòng người Cossack nói tiếng Ukraine và Tatar nói tiếng Thổ vẫn sinh sống bao gồm cả vùng Zaporizhia.

Năm 1944, Joseph Stalin đưa 200 000 người Tatars đang sống ở Crimea, nhốt vào xe tải chở lợn, chạy thẳng đến nước Cộng hòa Soviet Uzbekistan. Bởi vì , Tatars đã hợp tác với Đức Quốc xã trong Thế chiến II nên cần phải học tập cải tạo.

Từ đó, người Nga tấp nập đổ vào Crimea suốt thời Soviet đã hình thành lên vùng dân số nói tiếng Nga áp đảo tiếng Ukraine và tiếng Thổ.

Năm 1954, Tổng Bí thư Liên Xô Nikita Khrushchev tuyên bố cắt bán đảo Crimea từ Cộng hòa Soviet Nga qua Cộng hòa Soviet Ukraine. Bán đảo Crimea trở về chủ cũ trong hòa bình.

Lãnh thổ Ukraine hiện đại

Hai lãnh tụ Liên xô là Stalin và Khrushchev đóng vai trò quan trọng hình thành lên lãnh thổ của Ukraine được quốc tế công nhận hôm nay.

Năm 1922, Stalin sợ sự bất tuân lệnh của nước cộng hòa. Ông lùa người nói tiếng Nga vào vùng Donbass, và đẩy những người nói tiếng Ukraine qua vùng khác.

Năm 1939, Stalin ký hiệp định với Hitler cưa đôi Ba Lan. Miền tây Ba Lan thuộc về Đức, còn nửa đông sát nhập vào Ukraine.

Đến những năm cuối Thế chiến II, Stalin cho chiếm thêm một phần lãnh thổ của Slovakia và Romania sát nhập vào Ukraine.

Stalin qua đời tháng Ba, 1953. Nikita Khrushchev lên thay chức Tổng Bí thư. Từ 1654 đến 1954 là 300 năm. “Ba trăm năm nữa ta đâu biết.”

Kỷ niệm 300 năm Hiệp ước Pereyaslav (như đã đề cập phần trên). Nikita Khrushchev long trọng tuyên bố cắt bán đảo Crimea từ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Soviet Nga chuyển qua cho Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Soviet Ukraine.

Không ít người đã nhận ra Khrushchev là dân Kyiv đã rửa mối hận 300 năm của tổ tiên Cossacks.

Stalin và Khrushchev đã hình thành lãnh thổ Ukraine gồm cả bán đảo Crimea, hợp pháp được quốc tế công nhận vào năm 1991.

Putin khác Stalin

Stalin luôn khẳng định Đảng Cộng Sản Liên Xô “tạo điều kiện cho Ukraine phát triển như một quốc gia độc lập, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Cossacks. Không ai được chống lại lịch sử”. Ngược lại, Putin bảo Ukraine không phải là một đất nước, không hẳn là một dân tộc, không đáng được hưởng quy chế quốc gia.

Trong suốt chiều dài lịch sử ngàn năm giữa Ukraine và Nga, chưa có một lãnh tụ Nga nào đối sử với Ukraine như Putin đang làm. Putin đã đẩy Ukraine, người anh em ruột của Nga, vào nỗi cay đắng hận thù đến mức không đường trở lại.

Tiếng Nga đã sản sinh ra những áng văn chương tuyệt mỹ. Tiếng Nga là thứ tiếng của giới quý tộc, giới khoa bảng, giới nghệ sỹ Ukraine. Dùng tiếng Nga là sự tự hào, là niềm kiêu hãnh của người Ukraine. Văn hào Nicolai Gogol, người Ukraine, nhưng viết nhiều tác phẩm lừng danh “Những linh hồn chết” (Dead Souls), “Nhật ký người điên”(Diary of a Madman) bằng tiếng Nga. Thế mà, giờ đây nói tiếng Nga là sự hổ thẹn, là nỗi ô nhục, là sự căm hờn, là niềm cay đắng, là cơn phẫn uất trên lãnh thổ Ukraine.

Nhà sử học Soviet Yury Afanasiev đã viết trong tùy bút chính trị “The End of Russia” (Nước Nga đã đến hồi cáo chung) vào năm 2009 đại ý rằng: Người Thụy Sĩ tự hào về chiếc đồng hồ. Người Pháp tự hào về ổ bánh mì bagette. Người Nga tự hào về lãnh thổ mêng mông và công cuộc mở rộng bờ cõi. “Mở rộng bờ cõi” thì làm sao có thể sống hòa thuận được với những người hàng xóm. Ông ẩn dụ. Nếu nước Nga phải in tấm card-visits, thì một mặt sẽ in “Vũ Lực” còn mặt kia in “Chiếm Đóng.”

“Vũ lực” và “chiếm đóng” là đặc sản Nga được nhìn nhận như là công cuộc “Vệ quốc Vĩ đại.” Catherine II The Gread giao du, phóng đãng, ngoại tình với nhiều tướng lãnh, tổ chức đảo chính, giết chồng, cướp ngôi vẫn được nước Nga phong là Nữ hoàng Đại đế “Vĩ đại”.

Yury Afanasiev, lớn lên trong thời Soviet, từng là một đảng viên Cộng sản Liên Xô. Trong tác phẩm “Dangerous Russian” (Nước Nga hung tàn) viết 2001, ông cảnh báo hai điều: nước Nga đang bị ngộ độc lịch sử, và Putin sẽ là một tội phạm.

Cả hai điều này đã ứng nghiệm.

Canada

March 28, 2023

Sao không khởi tố Phan Thanh Nam, đứa con rơi của ông Võ Văn Kiệt?

Báo Tiếng Dân

Thu Hà

1-4-2023

Vẽ ra các dự án nghìn tỷ để hút máu ngân sách, xài tiền quốc gia như tiền chùa, là ngón nghề của lãnh đạo các công ty, tổng công ty nhà nước.

Tuần qua, hàng trăm tờ báo quốc doanh có cơ hội được phép nhắc lại 12 đại dự án thua lỗ lên đến 63.000 tỷ đồng của Bộ Công thương. Trong đó, dự án gai góc, nhức nhối nhất là dự án Nhà máy bột giấy Phương Nam, chưa đưa vào sản xuất ngày nào, đã thành ra đống phế liệu và tiêu tốn hơn 3000 tỷ. Có điều, cả hệ thống chính trị lẫn báo đảng đều tránh né, không đề cập đến tên một nhân vật mà lẽ ra phải bị khởi tố, điều tra trong vụ “đốt” 3000 tỷ này là Phan Thanh Nam.

Chân dung Phan Thanh Nam, cựu Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc Tracodi. Nguồn: Tracodi

Phan Thanh Nam là ai?

Theo một số nguồn tin, năm 1951, ông Võ Văn Kiệt ra Bắc dự Đại hội Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ II tại Tuyên Quang, Việt Bắc. Sau đó, ông ở lại dự lớp học chính trị “Hoa Nam”. Tại đây, ông Kiệt gặp bà Hồ Thị Minh, chủ bút đầu tiên của báo Phụ Nữ Cứu Quốc Nam Bộ. Bà Minh là phụ nữ trẻ trung xinh đẹp, giỏi tiếng Pháp. Xứ uỷ Nam kỳ đưa bà Minh ra miền Bắc giúp việc cho ông Hồ.

Ông Vũ Kỳ, thư ký riêng của ông Hồ kể rằng, Trung ương có ý định mai mối bà Minh cho ông Hồ, ông Hồ cũng ưng ý. Năm đó ông Hồ 61 tuổi, ông Kiệt 29 tuổi, bà Minh 24 tuổi. Một năm nơi thâm sơn cùng cốc ấy, bà Minh yêu ông Kiệt và dính thai. Ngày 25 tháng 2 năm 1952, bà Minh sinh con trai, nhưng đưa cho người khác nuôi.

Ông Kiệt có tìm gặp bà Minh, thăm con, đặt tên là Nam, nhưng sau đó ông quay trở về Nam bộ. Cậu bé Nam là đứa con ngoài giá thú, bởi lúc đó ông Kiệt đã có vợ ở Sóc Trăng là bà Trần Kim Anh và hai người có với nhau một cậu con trai tên là Võ Dũng (tức Phan Chí Dũng), sinh năm 1951.

Cậu bé Nam có “tuổi thơ dữ dội”. Nam được sinh ra ở Việt Bắc nhưng theo người cha nuôi tên Cái về sống tại Nhã Nam, Bắc Giang. Nam lưu lạc nhiều năm, qua tay nhiều gia đình nuôi nấng. Gia đình cuối cùng đem Nam về cưu mang là ông Hà Văn Quán và bà Nguyễn Thị Mỹ, tại làng Tăng Xá, xã Tuy Lập, huyện Cẩm Khê, Phú Thọ. Tại đây, Nam được lập khai sinh mang tên Hà Văn Nam.

Năm Nam 17 tuổi, ông Quán hướng dẫn Nam tìm lại cha ruột. Bà Ngô Thị Huệ, phu nhân ông Nguyễn Văn Linh, là người đã lặn lội đi đón Nam và đưa Nam thực hiện chuyến hành trình về Nam bộ, gặp lại cha đẻ là ông Võ Văn Kiệt vào tháng 9 năm 1971, khi Nam 19 tuổi.

Ông Võ Văn Kiệt và gia đình con trai Phan Thanh Nam. Nguồn: Báo Người Đô Thị

Sau năm 1975, Phan Thanh Nam học Đại học Bách khoa, ngành chế tạo máy. Ra trường, Nam về làm việc ở cơ sở huyện Củ Chi.

Năm 1986, Nam du học ở Liên Xô, làm nghiên cứu sinh, lấy học vị Tiến sĩ kỹ thuật. Về nước, Nam được bố trí công tác tại một doanh nghiệp thuộc Bộ Giao thông – Vận tải, là Công ty Đầu tư Phát triển Giao thông Vận tải (tên giao dịch là Tracodi).

Hơn hai mươi năm ở Tracodi , ông Nam lần lượt kinh qua các chức vụ quan trọng như: Tổng Giám Đốc (giai đoạn 1993-1994); Chủ tịch Hội đồng quản trị (1995-2013); thành viên Hội đồng quản trị (2013-2015).

Hơn hai mươi năm nhờ đảng bảo bọc, tạo cho cơ chế độc quyền, vì vậy Tracodi chiếm giữ được nhiều nhà xưởng, đất vàng ở thành Hồ. Tracodi chuyên xây dựng hạ tầng và phát triển dự án, khai thác chế biến vật liệu xây dựng, thương mại xuất nhập khẩu và xuất khẩu lao động.

Nhờ thế lực của ông Võ Văn Kiệt, Tracodi do Phan Thanh Nam điều hành, được thầu các dự án giao thông đường bộ, nhà ga phi trường, các cơ sở hạ tầng lên đến hàng chục ngàn tỷ đồng. Tracodi cũng là đơn vị “trùm” xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore… Mỗi cá nhân muốn đi lao động xuất khẩu, phải đóng cho Tracodi từ 5000 đến 6000 Mỹ kim. Một nguồn tin cho biết, hàng trăm tỷ đồng đã chảy vào túi ngài Tổng giám đốc Phan Thanh Nam một cách nhẹ nhàng. Giai đoạn chuẩn bị cổ phần hoá Tracodi, Tổng giám đốc Phan Thanh Nam cho thanh lý nhiều tài sản, lập công ty sân sau để xà xẻo “đất vàng”.

Báo Thanh Tra đưa tin, đầu năm 2015, Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) đã hoàn tất thoái vốn tại Tracodi và Bamboo Capital (mã BCG) mua lại 68% cổ phần, qua đó nắm cổ phần chi phối. Sau khi thâu tóm được Tracodi, Bamboo Capital đã gần như xoá sổ doanh nghiệp nhà nước này.

Phan Thanh Nam nghỉ hưu năm 2013, nhưng “di sản” lớn nhất mà ông ta để lại cho ngành công nghiệp Việt Nam là đống nợ hơn 3000 tỷ đồng của Nhà máy bột giấy Phương Nam.

Tháng 10-2003, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt cho TRACODI làm Dự án Nhà máy Bột giấy Phương Nam thuộc xã Thuận Nghĩa Hòa, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An, trên diện tích 45 hecta. Vốn sẵn có chỉ hơn 20 tỷ đồng, nhưng lại đầu tư dự án lên gần 2.287 tỉ đồng. Ngân sách nhà nước cấp 69,486 tỷ đồng; vay nước ngoài 1.322,35 tỷ đồng; vay ngân hàng thương mại 28,252 tỷ đồng; vay Công ty Tài chính Dầu khí 845,12 tỷ đồng.

Rót vào dự án hơn 2000 tỷ, mà nhà máy vẫn không vận hành được, Phan Thanh Nam và Tracodi tìm cách “chuyền bóng” cho người khác, bỏ của thoát thân.

Tháng 6-2009, Thủ tướng Chính phủ chuyển giao chủ đầu tư dự án từ Tracodi sang Tổng Công ty Giấy Việt Nam (Vinapaco). Những “ông kẹ” ở Vinapaco lại nâng mức đầu tư Nhà máy giấy Phương Nam lên 3.410 tỷ.

Đến tháng 6-2012, Nhà máy giấy Phương Nam xây dựng hoàn thành. Trớ trêu thay, đưa vào sử dụng thì không vận hành được. Các nhà thầu không chịu trách nhiệm, lãnh đạo Vinapaco cũng không chịu trách nhiệm, Nhà máy giấy Phương Nam trở thành hoang phế, sau ba lần rao bán đấu giá “đống sắt vụn” mà không có người nào hỏi mua. Con số gần 3.500 tỷ bị “cuốn theo chiều gió”.

Nhà máy giấy Phương Nam, “đống sắt vụn” gần 3.500 tỷ. Ảnh trên mạng

Ảnh: Phán quyết của toà về nợ nần của Nhà máy Phương Nam đã lên đến Chính phủ từ năm 2016

Tính đến năm 2019, Chính phủ đã phải trả nợ nước ngoài cho Nhà máy giấy Phương Nam 97 triệu Mỹ kim, còn các ngân hàng trong nước thì vẫn theo đuổi các phiên toà kiện đòi nợ Nhà máy giấy Phương Nam.

Ngày 26-3-2023 vừa qua, Phó Thủ tướng Lê Minh Khái, cùng thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Sinh Nhật Tân tổ chức họp các ban ngành tại Long An để tìm hướng xử lý dự án. Rất nhiều “tiến sĩ”, “cao cấp chính trị” tham gia hội thảo, nhưng tất cả đều bế tắc, bó tay. Bí thư Trung ương đảng, Lê Minh Khái đành chốt “các bộ, ngành, đơn vị liên quan cũng như địa phương tổng hợp trước ngày 15-4-2023, đề xuất báo cáo Ban Chỉ đạo để trình Ban Cán sự Đảng Chính phủ xin ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị”.

Dân phải gánh nợ

Dư luận Long An râm ran, chắc Bộ Chính trị sẽ duyệt cho “phân lô bán nền” 43 hecta đất vốn được lấy từ ruộng của dân để làm dự án Nhà máy giấy Phương Nam, để có tiền trả nợ.

Điều lạ lùng là không ai nhắc đến thủ phạm “đầu têu” vẽ ra dự án hoang tưởng, đốt mấy ngàn tỷ đồng của quốc gia. Phan Thanh Nam và bộ sậu Tracodi lẽ nào vô can?

Thì ra, các “thái tử đảng” loại gộc, dù con chính thất hay con ngoài giá thú, gần như được miễn trừ, tránh xa vòng tố tụng. Đại tá an ninh Lê Minh Hoàn, con trai ông Phan Văn Khải, không hề hấn gì trong một vụ án bắn chết người tại một vũ trường năm xưa. Phó Chánh văn phòng Chính phủ Lê Mạnh Hà, con trai ông Lê Đức Anh, chỉ bị khiển trách trong đại án AVG. Thành viên Hội đồng Thành viên Tập đoàn Dầu khí quốc gia Phan Đình Đức, con trai ông Đinh Đức Thiện, cháu ruột ông Lê Đức Thọ và Mai Chí Thọ, dù ra toà vẫn được HĐXX cấp phúc thẩm tuyên phạt mức án cảnh cáo và không phải chịu bồi thường trách nhiệm dân sự. Phó Tổng giám đốc Cty bia Sài Gòn, Nguyễn Minh An, con trai ông Nguyễn Minh Triết, cũng vô can trong các vụ chuyển nhượng “đất vàng”. Mới đây, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, ông Đặng Xuân Thanh cháu nội ông Trường Chinh, dù bị cảnh cáo, vẫn phụ trách điều hành Viện như thường.

Đến đây, dân chúng có thể nhận ra rằng “lò ông Trọng” xem ra chỉ là chiến dịch “đập ruồi” chứ không hề “đả hổ”. Hàng ngàn tỷ tiền thuế của dân đã bị con cái của các “ông hoàng bà chúa” ném qua cửa sổ không thương tiếc, nhưng cả hệ thống chính trị của đảng chỉ loay hoay việc báo cáo, giải trình, mà không biết làm gì hơn.

Vụ Tracodi, hình như cái bóng của ông Kiệt quá lớn, làm cho cái gọi là “nhà nước pháp quyền” chỉ đứng xa mà nhìn… tiến sĩ Phan Thanh Nam. Nếu Nam là con dân, có lẽ ông ta đã bị “nhập kho” từ lâu rồi!

Thủ tục truy tố và kết tội một Tổng Thống diễn ra như thế nào?

Báo Tiếng Dân

Nhã Duy

31-3-2023

Sau các nguồn tin về phán quyết của đại bồi thẩm đoàn New York trong vụ án liên quan đến cựu tổng thống Mỹ, những đồng minh chính trị của ông ta cùng các hệ thống truyền thông cánh hữu đang lên án việc buộc tội này là một vụ “bức hại chính trị” hay có sự lạm dụng quyền lực, tấn công vào đối thủ chính trị và ứng viên tổng thống. Tất nhiên điều này đang được nhóm cử tri hậu thuẫn tin và lặp lại như vậy hiện nay.

Nhân vụ án này, thử tìm hiểu thêm về thủ tục tố tụng hình sự tại Mỹ được diễn ra như thế nào và nguyên tắc kiểm soát và cân bằng quyền hành (check and balance) trong sự vận hành hệ thống pháp luật hay điều hành chính phủ nói chung của nước Mỹ, có dễ dàng cho phép tấn công các đối thủ chính trị và bị lạm dụng, thao túng hay không? Bài viết này được tác giả tham khảo theo các tài liệu pháp luật của Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ.

Xin nói ngay, văn phòng biện lý và các công tố viên New York không buộc tội nghi phạm mà chính đại bồi thẩm đoàn đã buộc tội, dựa theo các chứng cứ, nhân chứng trực tiếp và gián tiếp mà văn phòng biện lý đã thu thập chứng cứ trong cuộc điều tra kéo dài từ vài năm qua. Nhân chứng, vật chứng không đủ mạnh, không thể thiết lập một vụ án hình sự tại tòa liên bang và không đủ thuyết phục đại bồi thẩm đoàn đi đến việc buộc tội.

Đại bồi thẩm đoàn được thành lập và hoạt động theo hiến pháp và luật pháp Hoa Kỳ từ xưa nay. Các cơ quan công lực Hoa Kỳ, hay trong vụ án này là văn phòng biện lý New York thực hiện việc điều tra (investigation) trước các hành vi phạm tội trực tiếp hay gián tiếp của bị can để chuyển hồ sơ sang tòa án, nơi đại bồi thẩm đoàn sẽ quyết định các chứng cứ có đủ thuyết phục để đi đến quyết định buộc tội (indictment) bị cáo. Từ lúc bị buộc tội cho đến khi bị mang ra tòa xét xử (trial), là cả một quá trình dài và phức tạp.

Sau bản cáo trạng của đại bồi thẩm đoàn, thông thường bị cáo sẽ bị bắt giữ hay tự nguyện ra đầu thú. Người này sẽ được lăn tay, chụp hình và bị còng tay ra hầu tòa (arraignment). Thẩm phán sẽ công bố các cáo trạng từ đại bồi thẩm đoàn, cho bị cáo biết được quyền hạn của mình và được phép có các luật sư riêng đại diện, hoặc có một luật sư chính phủ (public defender) hướng dẫn. Tùy theo tội danh (charges), nghi phạm có thể đóng tiền thế chân tại ngoại (bail bond) hay phải vào tù cho đến ngày bị đưa ra xét xử. Trong cuộc hầu tòa này, nghi phạm cũng có thể nhận tội hay không nhận tội.

Giai đoạn tiếp theo là cuộc chiến giữa các công tố viên cùng các luật sư đại diện phía bị cáo. Hai bên sẽ đối chất, gọi nhân chứng hữu thệ, trình ra tang chứng, vật chứng. Đây là giai đoạn khai thác vụ án (discovery) khá khó khăn cho các công tố viên khi họ buộc phải cung cấp các tài liệu và chứng cứ của mình theo yêu cầu phía luật sư thân chủ, thậm chí cả các bằng chứng ngoại phạm (exculpatory evidence) mà phía luật sư bị cáo có thể sử dụng để chứng minh là thân chủ mình vô tội.

Nếu chứng cứ phía công tố viên quá mạnh và phía luật sư đại diện nhắm rằng họ khó có thể thắng được vụ án mà bị cáo đã có hành vi phạm pháp thì hai bên có thể thỏa thuận nhận tội (plea bargain) nhằm tránh nguy cơ bị mức án cao hơn một khi bị đưa ra xét xử. Mức án cuối cùng sẽ do một thẩm phán quyết định và tuyên bố.

Trong trường hợp bị cáo không nhận tội thì một cuộc tiền nghị án hay điều trần (preliminary hearing), xem như một phiên tòa nhỏ do một thẩm phán nghe đối chất và chứng cứ giữa hai bên để quyết định có thể tiếp tục hay bác bỏ (dismiss) vụ án. Trước khi bị xét xử, hai bên công tố và luật sư sẽ đưa ra các kiến nghị hay thỉnh cầu khác nhau (motion) và được các thẩm phán quyết định đồng ý hay bác bỏ.

Sau hàng tháng trời, phiên toà xử án (trial) sẽ là giai đoạn cuối cùng và quyết định trong một vụ án hình sự. Phiên tòa này do một thẩm phán làm chủ tọa, là người điều hành và bảo đảm phiên toà được tiến hành công bằng và đúng theo trình tự pháp luật trước một bồi thẩm đoàn không thiên kiến do hai bên cùng chọn lựa. Phiên toà có thể kéo dài lâu mau tùy theo tính chất của vụ án và phán quyết cuối cùng (verdict) sẽ do bồi thẩm đoàn đưa ra. Trong một vụ án hình sự liên bang, nếu là phán quyết có tội (conviction) thì phải được sự đồng thuận của tất cả những bồi thẩm viên trong bồi thẩm đoàn.

Sau khi bị kết tội, kẻ phạm tội sẽ quay lại tòa để nhận mức án (sentence) nặng nhẹ tùy hành vi phạm tội của mình. Bản án này sẽ do các thẩm phán đưa ra, dựa theo các hướng dẫn và hồ sơ tội phạm, như chủ mưu, tòng phạm, tái phạm… của kẻ bị kết án. Bản án nặng nhất tại Mỹ hiện nay là tử hình trong các vụ án hình sự. Nếu kẻ tội phạm tin rằng mình đã bị oan, bị xét xử thiếu công bằng hay bản án quá nặng, họ có thể kháng án lên các tòa cấp trên. Cao nhất tại Mỹ là tòa Tối Cao Pháp Viện dù chỉ có một số nhỏ vụ án lên được đến tòa này.

Bên trên là sơ lược về thủ tục tố tụng một vụ hình án nói chung tại Hoa Kỳ. Với một nghi phạm từng cựu tổng thống Hoa Kỳ, chắc chắn sẽ có dăm thủ tục hành chính khác biệt bởi đây là điều chưa từng có tiền lệ. Chưa từng có tiền lệ bởi cũng chưa từng có một tổng thống Hoa Kỳ nào có những hành vi và chứng cứ đủ để bị truy tố. Nói thêm là vụ hình án tại New York này chỉ là một trong bốn vụ điều tra khác mà cựu tổng thống Donald Trump đang đối diện với các tội danh có thể nặng nề hơn gấp bội.

Đây là một cột mốc lịch sử của nước Mỹ và hệ thống tư pháp Hoa Kỳ. Bất luận cảm xúc hay suy diễn của mỗi cá nhân như thế nào, hệ thống pháp luật Hoa Kỳ đã và đang diễn ra theo đúng trình tự của nó từ lâu nay. Nó dựa trên nguyên tắc công bằng và dân chủ để bảo vệ người vô tội hay trừng trị những kẻ phạm pháp, bất kể họ là ai.

Hàng trăm nghi phạm gián điệp Nga bị vạch mặt trước khi Nga bắt phóng viên Mỹ

Bài viết của Dan De Luce và Ken Dilanian và Michael Kosnar •

 Trước khi bắt giữ một phóng viên của tờ Wall Street Journal hôm thứ Năm, Nga đã trải qua một loạt thất bại đáng xấu hổ trong các hoạt động tình báo nước ngoài, với hàng trăm người bị tình nghi là gián điệp Nga bị trục xuất hoặc bị buộc tội làm gián điệp ở các nước phương Tây. Ba Lan đã bắt giữ 9 người Nga trong tháng này, cáo buộc họ âm mưu phá hoại các tuyến đường sắt chở hàng viện trợ quân sự của phương Tây tới Ukraine. Tuần trước, các nhà chức trách Hoa Kỳ đã vạch mặt một điệp viên Nga bị cáo buộc, người này đóng giả là một sinh viên tốt nghiệp người Brazil tại Trường Nghiên cứu Quốc tế Cao cấp Johns Hopkins và người mà các công tố viên cho biết đã cố gắng xin việc tại Tòa án Hình sự Quốc tế ở The Hague.

Sergey Vladimirovich Cherkasov upon entry to Brazil. (U.S. Justice Department)

Thụy Điển, Na Uy và Đức cho biết họ đã phát hiện và phá vỡ âm mưu gián điệp của Nga trong những tháng gần đây, và các quan chức ở Hy Lạp nói với các hãng tin rằng chủ một cửa hàng dệt kim ở Athens thực sự là một gián điệp Nga bị tình nghi.Người đứng đầu cơ quan tình báo nước ngoài MI6 của Anh cho biết khoảng một nửa số điệp viên của Nga làm việc dưới vỏ bọc ngoại giao ở châu Âu đã bị trục xuất trong vòng sáu tháng sau cuộc xâm lược Ukraine vào tháng 2 năm 2022

FBI và CIA đã giúp các nước đồng minh bắt giữ một số lượng lớn bất thường các điệp viên Nga kể từ khi chiến tranh bắt đầu, một cựu quan chức phản gián cấp cao của Hoa Kỳ quen thuộc với vấn đề này cho biết. Các vụ bắt giữ nhắm vào những người Nga hoạt động như những người “bất hợp pháp” với tên và hộ chiếu hư cấu, không giống như các điệp viên Nga được đưa vào các đại sứ quán, những người được hưởng sự bảo vệ của pháp luật.

Nguồn: Hundreds of suspected Russian spies were umasked before Russia arrested a U.S. reporter

Biên khảo : Không quên biến cố 1 tháng 11 – 1963 tại Nam Việt Nam ?

Nguồn: Batkhuat.net

Phan Đức Minh

Thời gian gần đây, có rất nhiều bài viết xuất hiện trên các trang mạng , trên các điện báo, báo in của người Việt định cư khắp nơi trên thế giới , nói về nhân vật lịch sử Ngô Đình Diệm , về biến cố ngày 1 tháng 11 – 1963 tại Nam Việt Nam. Rồi những buổi Lễ tưởng niệm nhân vật lịch sử này được tổ chức ở nhiều nơi có Cộng Đồng người Việt. Lại có cả những nhóm người đến viếng thăm ngôi mộ của nhân vật Ngô Đình Diệm tại Việt Nam rất long trọng…Một số bạn trẻ trưởng thành nơi hải ngoại liên lạc bằng điện thư hoặc gặp chúng tôi, hỏi về chuyện “Tại sao có cuộc đảo chánh lật đổ ông Ngô Đình Diệm, ngày 1 tháng 11 – 1963 ở Việt Nam ? “xem ý kiến ra sao.

Tất nhiên là người viết chỉ có thể nói sơ qua và hẹn gặp nhau trên trang báo này để có thể bàn luận với nhau nhiều hơn. Vì vậy cho nên bài viết này được đưa ra, mong trả lời các bạn trẻ đó, đồng thời đóng góp chút ít vào công việc làm sáng tỏ một vấn đề lịch sử quan trọng, có ảnh hưởng lớn lao đến sự…mất còn, sụp đổ của Nam Việt Nam sau đó, cũng như ảnh hưởng đen tối của nó còn kéo dài cho tới bây giờ. Muốn tìm hiểu kỹ lưỡng, sâu xa hơn, tất nhiên là chúng ta phải tìm đọc những cuốn sách đáng tin cậy về chuyện này…

Tổng Thống Ngô Đình Diệm

Tình hình trước khi xẩy ra cuộc Đảo Chánh:

Những tháng giữa năm 1960, Ông Diệm với tư cách Tổng Thống và Tổng Tư Lệnh Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà, đi thăm các Bộ Tư lệnh Quân Khu I – 2 – 3 – 4 và Quân Khu Thủ Đô để nói chuyện với các Sĩ Quan trong quân đội, các Quân Binh Chủng về một vấn đề vô cùng quan trọng là: chính quyền Mỹ lúc đó muốn đổ quân tác chiến ( Combatant forces ) vào lãnh thổ Nam Việt Nam để đảm nhiệm vai trò chủ yếu trong công cuộc chiến đấu chống cộng sản trên chiến trường này, tất nhiên là theo chủ trương, chính sách của Hoa Kỳ… Tại Hội trường Bộ Tư lệnh Quân Khu I, Đà Nẵng, trước mặt rất đông Sĩ Quan: cấp Tướng, cấp Tá và cấp Úy, Ông Diệm đã nói rõ ý chí cuả Ông là nhất định không chấp nhận cho chính phủ Mỹ đổ quân tác chiến vào Nam Việt Nam, mà chỉ chấp nhận vai trò cuả người Mỹ trong nhiệm vụ cố vấn và huấn luyện cho Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà. Ông nói “Chúng ta cần có sự cố vấn và huấn luyện cuả người Mỹ, chúng ta cần có sự viện trợ quân sự, kinh tế cuả người Mỹ, nhưng chúng ta không cần và nhất định không chấp nhận để cho người Mỹ chiến đấu thay thế cho chúng ta trong công cuộc bảo vệ Quê Hương, Đất Nước này. Chúng ta đang phải đương đầu với với một cuộc chiến tranh ý thức hệ (ideological war) giữa chủ thuyết “ Quốc Gia-Dân Tộc “ tự do, dân chủ của chúng ta và “ học thuyết ảo tưởng – Utopian doctrine “ của cộng sản, xây dựng trên nền tảng tuyên truyền, lừa bịp có hệ thống, có khả năng lôi cuốn đông đảo quần chúng vào một cuộc chiến tranh nhân dân, trường kỳ kháng chiến, để tiến tới một thiên đường không bao giờ có thực . ..

Cuộc chiến đấu này không thể đơn thuần giải quyết bằng sức mạnh cuả vũ khí chiến tranh, nhất là bằng một đạo quân viễn chinh từ một quốc gia khác kéo đến. Nếu người Mỹ làm việc đó, chúng ta sẽ mất hết chính nghiã, mất sự hậu thuẫn cuả nhân dân, tôi sẽ trở thành Tổng Thống bù nhìn và anh em, các Sĩ Quan đang có mặt tại đây, sẽ chỉ còn là những kẻ đánh thuê cho ngoại quốc…

“ Ông nói thật nhiều, với tất cả tấm lòng và trái tim cuả Ông. Rồi ông kêu gọi tất cả các Sĩ Quan Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà đã từng nêu cao tinh thần anh dũng, can đảm trên mọi chiến truờng khắp các Vùng Chiến Thuật ( tactical areas ), hãy cùng Ông bằng mọi giá, giữ vững lập trường, đi đúng đường lối lãnh đạo chiến tranh bảo vệ Tổ Quốc mà ông đã vạch ra và quyết tâm theo đuổi, bất chấp mọi sức ép bất cứ từ đâu đến ! Những cánh tay giơ lên, những tiếng hô vang làm rung chuyển cả Hội Trường Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I, Quân Khu I “Quyết tâm ủng hộ Tổng Thống ! Quyết tâm giữ vững lập truờng chiến đấu cuả Tổng Thống để bảo vệ Tổ Quốc !”

Tôi lúc đó chỉ là một Chuẩn Uý hiện dịch, nhưng với cái vốn kinh nghiệm gần 7 năm kháng chiến chống Pháp vô cùng gian khổ, 2 lần bị Tây bắt nhốt vào tù, rồi hơn 6 năm trong hàng ngũ quân đội Việt Nam Cộng Hòa, chống cộng sản, tôi cũng đủ trí khôn để thông cảm với những khó khăn, nguy hiểm đang đợi chờ Ông Diệm, vị Tổng Thổng đầu tiên cuả nền Cộng Hoà non trẻ tại Nam Việt Nam.

Tôi nhìn các Sĩ Quan đàn anh đứng chung quanh, hình như ai nấy đều linh cảm thấy có một cái gì nặng nề, nguy hiểm đang đợi chờ vị Tổng Thống khả kính và can đảm cuả mình. Phải thành thực mà công nhận rằng: vào thời gian đó, dưới sự lãnh đạo cuả Ông Diệm, Quân Đội ra Quân Đội, Tướng Tá ra Tướng Tá, Sĩ Quan ra Sĩ Quan, chớ không có như tình trạng cuả những thời gian sau này, sau khi Ông Diệm không còn nưã..

Lúc đó, tôi không phải là người công giáo như Ông Diệm, mà trong cương vị một quân nhân hiện dịch thuần tuý, từng quyết tâm từ bỏ hàng ngũ cộng sản, tìm đến hàng ngũ quốc gia để chống lại cộng sản, lúc này chỉ nghĩ đến quân đội, đến việc chống cộng, nhưng cũng thấy như mắt mình nhoà đi…

Tôi cầu xin Ơn Trên phù hộ, che chở cho Ông, cũng như cho Đất Nước này…

* Ngày 19-6-1960: Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn, Elbridge Durbrow, gửi cho ngoại trưởng Mỹ, Christian Herter ở Hoa Thịnh Đốn 1 điện văn mật, thông báo tình hình Sài Gòn: Có thể có 1 cuộc đảo chánh nhằm lật đổ chính quyền cuả Ông Diệm, trong khi đó ở nông thôn, hoạt động cuả cộng sản gia tăng mạnh mẽ…

Phần cuối, bản văn kết thúc “ Nếu thế đứng cuả Ông Diệm tiếp tục giảm sút, không còn phù hợp với tình thế chính trị, tâm lý, kinh tế và an ninh tại đây nưã thì có thể là điều mà chính phủ Hoa Kỳ nên tính đến những phương cách khác để hành động và thay thế người lãnh đạo hầu đạt đến những mục tiêu cuả chúng ta… ( If Diem’s position in the country continues to deteriorate as result failure adopt proper political, psychological, economic and security measures, it may become necessary for US Government to begin consideration for alternative courses of action and leaders in order to achieve our objectives…). *

Ngày 11 – 12 tháng 11-1960 : Đại Tá Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Lữ Đoàn nhẩy dù và Trung Tá Vương Văn Đông chỉ huy một lực lượng quân sự gồm vài Tiểu Đoàn nhẩy dù và 1 đơn vị Thuỷ Quân Lục Chiến, bao vây dinh Tổng Thống để làm một cuộc đảo chánh với lý do được công bố trên đài phát thanh Sài Gòn đã bị quân đảo chánh chiếm giữ “…Ông Diệm đã tỏ ra không đủ khả năng cứu đất nước khỏi họa cộng sản cũng như bảo vệ sự đoàn kết quốc gia… – Diem has shown himself incapable of saving the country from Communism and protecting national unity…”

Biết rằng cuộc âm mưu đảo chánh này không do những nhân vật chính trị có danh tiếng, không có hậu thuẫn chính trị thực sự cuả dân chúng, không có sự tham gia cuả các Tướng Lãnh cũng như đông đảo lực lượng quân đội dưới quyền, cho nên ông Diệm tạo thế trì hoãn, thoái thác nhượng bộ trước sự đòi hỏi cuả phe đảo chánh là từ – Đại tá Nguyễn Chánh Thi – bỏ chính quyền và đợi cho các lực lượng quân đội, hầu hết vẫn còn trung thành với ông, cùng ông theo đuổi đường lối chống cộng đã vạch ra, từ các nơi kéo về dẹp loạn. Cuộc đảo chánh bất thành vì quá non kém về tổ chức, lãnh đạo, cũng như đường lối chinh trị và quân sự. Tuy nhiên cuộc đảo chánh bất thành này đã đem lại cho chính quyền cuả Ông Diệm những bài học quan trọng :

A.- Cộng sản ngày càng tích cực tung cán bộ vào thành phố khai thác những mâu thuẫn, bất đồng giưã chính quyền và các nhân vật, các nhóm chống đối tại thành thị. Những mâu thuẫn này tất nhiên phải có trong hoàn cảnh miền Nam Việt Nam đang phải thực hiện một xã hội tương đối tự do, dân chủ, phồn thịnh ( hơn hẳn miền Bắc ). Có tự do, dân chủ khá nhiều cho nên các lực lượng, nhóm người chống đối này khác mới có hoàn cảnh, điều kiện mà hoạt động chống chính quyền, chớ còn như tình trạng Việt Nam hôm nay, dưới chế độ cộng sản, thì chính quyền thấy chống đối bằng bạo lực, là lập tức dùng công an, quân đội bằng võ lực tiêu diệt ngay, còn chi nữa mà chống đối. Chính quyền miền Nam lúc đó, cùng một lúc phải đối phó với hoàn cảnh đất nước như thế, lại phải đương đầu với cuộc chiến tranh xâm lăng, phá hoại toàn diện cuả cộng sản Hà Nội, được chỉ đạo và yểm trợ từ Mạc-Tư-Khoa cũng như từ Bắc Kinh, theo “Đường lối cách mạng vô sản toàn cầu cuả Đệ Tam Quốc tế – Global Proletarian Revolution Policy of the Third International ”.

B.- Thi hành 1 đường lối vô cùng khó khăn khả dĩ đáp ứng được nhu cầu cuả tình thế : Giữ vững chính quyền đang bị âm mưu khuynh đảo từ bên ngoài do bọn tài phiệt quốc tế ( International Financial Oligarchy ), ở bên trong thì do cộng sản chỉ đạo. Ngay trong nội bộ hàng ngũ quốc gia cũng có những phần tử ham danh, hám lợi cũng như 3 quyền lực, đang lợi dụng không khí tự do, dân chủ của xã hội miền Nam, nhất là truyền thông, báo chí , tạo ra hay chờ đợi thời cơ để hành động.

C.- Giữ vững tinh thần kỷ luật và lòng trung thành cuả quân đội, là sức mạnh bảo vệ chính quyền, chế độ, đồng thời giữ vững sự đoàn kết các tôn giáo là sức mạnh hậu thuẫn cuả nhân dân, nhưng cả hai: Quân Đội và Tôn giáo lại là những mục tiêu quan trọng nhất mà cả 3 lực lượng chống phá nói trên ( Tài phiệt quốc tế, cộng sản và các nhóm chống đối trong nước ) đang quyết tâm nhắm vào để tạo ra một động lực làm nổ bùng một cuộc đảo chánh khác, có tầm vóc quy mô, có tổ chức tinh vi và …” cao cấp “ hơn cuộc đảo chánh đã thất bại một cách dễ dàng ngày 11 tháng 11 năm 1960.

* Ngày 20-12-1960 , để đánh lưà dư luận quốc tế, để thu hút các nhóm chống đối và lôi kéo nhân dân Miền Nam, cộng sản Hà Nội tuyên bố chính thức cho ra mắt công khai Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam tại 1 Chiến Khu ( Strategic war zone) cuả cộng sản tại phiá đông miền Nam Việt Nam, thành phần bao gồm chừng 100 nhân vật nói là đại diện cho các nhóm chính trị đối lập với chính quyền, đại diện cho các tôn giáo có mặt tại Nam Việt Nam, các lực lượng vũ trang còn sót lại sau khi bị quân chính phủ đánh tan trong các chiến dịch hành quân tại miền Tây trước đó ít năm.

Mặt trận này thực sự đặt dưới quyền lãnh đạo cuả một cán bộ cao cấp cuả Hà Nội, thuộc Bộ Chính Trị Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng.

* Ngày 1 tháng 4-1961: Cộng sản tung một Tiểu Đoàn chủ lực quân, có du kích địa phương tăng cường, gồm hơn 400 quân, tấn công thử sức vào 1 ngôi làng chiến đấu kiểu mẫu cuả “Quốc sách ấp chiến lược – National policy of Strategic Hamlets ” thuộc Tỉnh Kiến Hoà, nhưng bị quân đội Cộng Hoà đánh tan và bị thiệt hại nặng nề. Hai ngày sau, cộng sản thử sức lần nưã bằng cách tấn công vũ bão và bất ngờ vào khu vực Bến Cát, phiá Bắc Sài Gòn, nhưng hơn 100 quân cộng sản bị quân Cộng Hoà tiêu diệt, bỏ xác tại trận. Cộng sản buộc phải đổi hướng, tập trung nỗ lực vào những hoạt động võ trang phá hoại tại các thành phố, tung cán bộ len lỏi vào trong các tầng lớp nhân dân, hàng ngũ tôn giáo nào có đông đảo quần chúng ( nhưng hàng ngũ thiếu huấn luyện, tổ chức không chặt chẽ ) để tìm cơ hội gây xáo trộn chính trị tại các thị trấn, nơi tập trung đông đảo dân cư, làm suy yếu chính quyền Miền Nam thay vì nôn nóng giành chiến thắng quân sự để hỗ trợ cho các hoạt động chính trị và ngoại giao.

* Ngày 12-5-1961: Phó Tổng Thống Hoa Kỳ Lyndon B. Johnson, trong cuộc viếng thăm Á Châu, đã gặp Tổng Thống Diệm tại Sàigòn. Ông Johnson ca tụng Tổng Thống Diệm là một Churchill cuả Á Châu và nói, “Đối với thế đứng cuả Hoa Kỳ tại Á Châu, Tổng Thống Diệm là nhân vật, là người bạn không thể thiếu được.” Tuy nhiên, khi trở về Mỹ, ông Johnson lại báo cáo cho Tổng Thống Kennedy cũng như cho các nhân vật chính trị cao cấp biết rằng: Ông Diệm vẫn giữ vững lập trường không có quân chiến đấu cuả Hoa Kỳ tại Việt Nam, trừ phi cộng sản Hà Nội xua quân tràn qua vĩ tuyến 17 một cách đại quy mô như cộng sản Bắc Hàn đã xua quân tràn qua vĩ tuyến 38 hồi 1950 …. Vice President Lyndon B. Johnson meets Mr. Ngo . Dinh Nhu at Gia Long Palace, Saigon 12-5-1961 Do lập trường cương quyết Bảo vệ Chủ quyền Quốc gia, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã luôn luôn kiên trì tranh đấu cho sự Độc lập Dân tộc dù phải chấp nhận những khó khăn.

Ngày 09.05.1961, ông Diệm đã bày tỏ với Phó Tổng Thống Mỹ Johnson đang viếng thăm chính thức Việt Nam rằng : chính phủ Việt Nam rất biết ơn sự viện trợ quân sự và cố vấn Mỹ, nhưng về việc gửi Quân đội tác chiến Hoa kỳ đến Việt Nam, ông cương quyết từ chối : Nếu quý vị mang Quân đội Mỹ vào Việt Nam, tôi phải giải thích thế nào đây với dân tộc tôi ? Với người Việt, hình ảnh hãi hùng của Quân đội Viễn chinh Pháp còn ghi sâu trong tâm trí họ. Sự hiện diện của Quân đội Mỹ sẽ làm cho dân chúng dễ tin những lời tuyên truyền của cộng sản. Sự can thiệp trực tiếp của bất cứ quân đội ngoại quốc nào vào Việt Nam cũng đem lại sự bất lợi cho Việt Nam, vì làm cho cuộc chiến đấu của chúng ta mất chính nghĩa.

Tháng 11.1961, Đại sứ Frederick Nolting được yêu cầu từ tòa Bạch ốc gặp Tổng Thống Diệm về vấn đề quân chiến đấu Mỹ ( được 4 xem như ‘chia sẽ trách nhiệm ). Ông Diệm trả lời : « Chắc ông Đại sứ cũng hiểu, những đề nghị ấy đụng chạm tới vấn đề trách nhiệm của Chính phủ Việt Nam. Việt Nam không muốn là một nước bị bảo hộ ( Vietnam does not want to be a protectorate) ».

* Ngày 18-9-1961: Cộng sản bất thần mở trận đánh lớn cấp Trung Đoàn ( Regiment ), tung 1,500 quân bao vây và đành chiếm Tỉnh Lỵ Phước Vinh, sau khi đã mở chiến dịch gồm 41 trận đánh lớn nhỏ trên khắp lãnh thổ Miền Nam để áp đảo và chia sẻ lực lượng đối phương. Sau đó 3 tuần lễ, tại diễn đàn Quốc Hội, Tổng Thống Diệm chính thức tuyên bố với quốc dân và thế giới là Việt Cộng, với sự chỉ đạo và yểm trợ cuả cộng sản quốc tế đã chính thức biến cuộc chiến tranh du kích trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà thành một thứ chiến tranh xâm lăng quy mô thực sự, có sự tham chiến cuả quân chính quy cộng sản Bắc Việt, được trang bị tối tân, hùng hậu với đầy đủ pháo binh cỡ nặng, xe tăng, thiết giáp… Bọn tài phiệt quốc tế, buôn bán chiến tranh, càng thêm cơ hội để tung tiền và thủ đoạn để đưa đám “ Lobbyists ” vào các hành lang, ngõ ngách cuả Quốc Hội, hệ thống truyền thông Hoa Kỳ, dọn đường cho một kế hoạch ào ạt đổ quân tác chiến cuả Mỹ và lôi kéo một số đơn vị quân đội Đồng Minh vào chiến trường Nam Việt Nam. Chậm chân là thiệt hại cả… núi đô la chớ không phải chuyện đuà. Nhưng, lại tiếng nhưng ở chỗ này ! Nhưng Ông Diệm nhất định không chấp nhận cho quân đội tác chiến cuả Mỹ chiến đấu tại Nam Việt Nam. Còn Tổng Thống Hoa Kỳ John F. Kennedy thì cũng không hăng hái, thiết tha cho lắm với việc đổ quân tác chiến cuả Mỹ vào chiến trường Miền Nam trong hoàn cảnh lúc này, không như lúc cộng sản Bắc Hàn xua quân cấp Quân Đoàn ( Army Corps ) tràn qua vĩ tuyến 38 hồi năm 1950…

Ông Kennedy vẫn trung thành với “ Đường lối ngăn chặn – Containment Policy ” để chống lại sự bành trướng cuả phong trào cộng sản trên thế giới từ sau Đệ Nhị Thế Chiến, bằng những phương cách ít tốn sinh mạng người Mỹ nhất, trừ trường hợp nền an ninh cuả Mỹ bị đe dọa trực tiếp, nghiã là ông Kennedy chỉ chấp nhận hy sinh nhân mạng cuả Mỹ trong “ Trường hợp tối cần thiết – In case of absolute necessity ”. Thế thì “chúng nó ” bắt buộc phải loại trừ Ông Diệm khỏi ngôi vị lãnh đạo Nam Việt Nam trước đã, và sau đó bất cứ kẻ nào làm ngăn trở việc đổ quân tác chiến cuả Mỹ vào Nam Việt Nam cũng đều bị “chúng nó” xoá sổ hết ( kể luôn cả Tổng Thống Mỹ ).

* Ngày 2-1-1963: Tại Ấp Bắc, cách Sài Gòn 40 dậm về phiá Đông Nam, gần 2 Trung Đoàn ( 2,500 quân ) thuộc Sư Đoàn 7 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, trang bị vũ khí tự động, có xe tăng, thiết vận xa, pháo binh và không quân ( cả khu trục cơ lẫn trực thăng ) yểm trợ, mở cuộc hành quân bao vây, tiêu diệt 1 lực lượng cộng sản gồm chừng I Tiểu Đoàn ( battalion ) hơn 300 quân chủ lực địa phương, với hoả lực yếu kém hơn rất nhiều, lại không có xe tăng cũng như không quân, pháo binh yểm trợ. Kết quả thật là đau buồn: Cộng quân lợi dụng đêm tối, thoát khỏi vòng vây gần như toàn vẹn chủ lực, sau khi đã gây cho quân chính phủ những tổn thất đáng kể. Thật là một cơ hội bằng vàng để bọn tài phiệt quốc tế dùng ảnh hưởng, sức mạnh cuả đồng đô la mà lái các cơ quan truyền thông, hướng dẫn dư luận, gây áp lực tại Hoa Kỳ, từ Quốc Hội cho đến chính phủ phải bằng mọi giá đổ quân tác chiến cuả Mỹ vào Việt Nam ngay lập tức. Nếu không, “ Tiền đồn chống cộng – Advanced Post resisting the communists “ cuả Mỹ tại Á Châu sẽ xụp đổ và Chính sách ngăn chặn cộng sản cuả Mỹ trên thế giới sẽ thất bại và… nền anh ninh cuả chính nước Mỹ cũng sẽ bị lâm nguy… Chúng đem câu nói cuả Lenin, Sư Tổ cuả cách mạng vô sản 1917 tại Nga, người đã mở đường cho phong trào cộng sản thế giới bùng ra hết cách ngăn cản sau thế chiến thứ 2, mà dọa cả nước Mỹ “ Trước hết, chúng ta hãy chiếm giữ Đông Âu, rồi nắm lấy khối quần chúng khổng lồ ở Á Châu, sau đó bao vây Hoa Kỳ là thành lũy cuối cùng cuả chủ nghiã tư bản. Chúng ta khỏi phải đánh đấm chi cả, Hoa Kỳ cũng sẽ rơi vào tay chúng ta như một trái cây đã chín rưã – First, we will take eastern Europe, then the masses of Asia, then we will encircle the United States which will be the last – Nổ ra cuộc đấu tranh ở Huế – 5 bastion of Capitalism. We will not have to attack, it will fall into our hands like an overipe fruit.” ( The Death of A Nation – John A. Stormer – The Liberty Bell Press – Florissant Missouri, July 1978, Page 14 ).

* Ngày 8-5-1963: Bùng nổ vụ rối loạn, chống đối ở Cố Đô Huế, giưã hàng chục ngàn tín đồ Phật Giáo với nhân viên chính quyền địa phương và các lực lượng an ninh. Tổng Thống Diệm tuyên bố trên đài phát thanh quốc gia là vụ này có bàn tay cuả cộng sản nhúng vào, gây thêm tình trạng khó khăn cho địa phương, tạo thêm sự mâu thuẫn trầm trọng giưã chính phủ và 1 tôn giáo lớn trong nước. Cuộc rối loạn ngày càng gay go, dữ dội, quyết liệt và khi 1 trái lựu đạn nổ tung trong khu vực đài phát thanh Huế,gây thương vong cho một số người biểu tình chống đối thì tình trạng biến sang hình thức “ Một Tôn giáo lớn, đông đảo nhất trong nước chống lại một hệ thống chính quyền được lãnh đạo bởi 1 Tổng Thống và các nhân vật cao cấp, trọng yếu, đa số là người thuộc Giáo Hội Công Giáo La Mã.”

Trái lựu đạn nổ tung đó sau này được biết là do CIA cài đặt người, nhân lúc hỗn loạn, đã ra tay, cho nổ bùng đúng lúc để châm ngòi cho cuộc biểu tình chống đối từ Huế và sẽ lan ra khắp nơi, sau cùng là ngay tại Thủ Đô Sài Gòn, trung tâm quyền lực của Việt Nam Cộng Hòa.

Phía chính phủ thì lên tiếng : Tổng Thống Diệm sử dụng người theo nguyên tắc thông thường của các nhà lãnh đạo là căn cứ vào tài năng, đức độ, sự tin cậy, thích hợp cho công việc và lợi ích quốc gia, chớ không phải vì kỳ thị tôn giáo, không kỳ thị Phật Giáo như một số người buộc tội, gán ghép Cho ông Diệm. Ở điểm này, những người hiểu biết thì cho thấy rằng : Trong hàng ngũ Tướng lãnh của quân đội lúc đó, thử tìm coi có những ai là cùng tôn giáo với ông Diệm ?

Trong hàng ngũ các Bộ Trưởng trong chính quyền Ngô Đình Diệm lúc đó, ngoại trừ ông Trần Trung Dung, Bộ Trưởng Phủ Tổng Thống ra, còn có ai là người công giáo như ông Diệm ? Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ, được ông Diệm tin cậy, quý trọng, là người miền Nam, thì khác tôn giáo với ông Diệm, là Phật Tử rõ ràng…

Nói một cách rõ ràng thì dưới đây là những Phật Tử được ông Diệm chọn đứng cùng hàng ngũ, phục vụ Đất Nước với ông : – Ông Nguyễn Ngọc Thơ, Phó Tổng Thống. – Đại tướng Lê Văn Tỵ, Tổng Tham Mưu Trưởng. – Thiếu Tướng Tôn Thất Đính, Tổng Trấn Sài Gòn- Gia Định. – Ông Vũ Văn Mẫu, Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao. – Ông Quách Tòng Đức, Đổng Lý Văn Phòng. – Ông Nguyễn Đình Thuần, Bộ Trưởng phủ Tổng Thống, kiêm Bộ Trưởng Phụ Tá Quốc Phòng. – Ông Đoàn Văn Thêm, Phó Đổng Lý Văn Phòng. – Ôn Võ Văn Hải, Chánh Võ Phòng. – Ông Nguyễn Thành Cung, Tổng Thư Ký. – Ông Trần Sử, Bí Thư… Tất cả đều là Phật tử.

* * Toàn thể Bộ Tham Mưu của Tổng Thống đều là Phật Tử. * Trong số 18 Tổng Bộ Trưởng, chỉ có 5 người là Công giáo, còn 13 là Phật Tử.. * Bên quân đội, tổng số 19 tướng lãnh có quyền hành nhất, thì đã có 16 tướng là Phật tử, chỉ có 3 là công giáo… Nghĩa là đại đa số những nhân vật, những người nắm giữ và điều hành bộ máy chính quyền thời Ngô Đình Diệm đểu là Phật tử. Đó là chưa kể chính quyền Ngô Đình Diệm đã giúp Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam thời đó xây dựng nhiều Chùa – Chùa Xá Lợi ở đường Bà Huyện Thanh Quan, Sài Gòn – ( trong đó có chùa Xá Lợi, chùa Vĩnh Nghiêm …),giúp nhiều sư tăng ra nước ngoài ( nhất là ở Pháp, ở Mỹ … ) học hành đậu đạt bằng cấp cao ( kể cả Tiến Sĩ ) để trở về phục vụ hiệu quả hơn, mở mang các cơ sở giáo dục đào tạo thế hệ trẻ đủ khả năng phục vụ quốc gia, xã hội theo đường lối của tôn giáo mình .

thichtriquang-1967-13

Vậy, cái chuyện…kỳ thị Phật Giáo chỉ là chiến thuật khởi đầu ( starting tactic ) để mở màn kế hoạch huy động cho được khối dân chúng đông đảo, thực hiện chương trình đảo chánh lật đổ ông Diệm. Điều đó cũng đồng thời đánh trúng tâm lý ganh ghét của một số người không phải là ít, khi thấy sự phát triển mạnh mẽ, có hệ thống, có tổ chức của Giáo Hội công giáo tại miền Nam vào thời điểm đó, sau sự thành công rõ ràng của chính quyền Ngô Đình Diệm trong chương trình định cư cả triệu đồng 6 bào miền Bắc trốn chạy cộng sản, tìm đường vào Nam, mà trong đó phần đông là đồng bào công giáo. Chỉ riêng đồng bào công giáo của vùng Bùi Chu, Phát Diệm rời bỏ Bắc vào Nam cũng đã đông đảo biết bao nhiêu rồi… Sau này, nhiều người lại còn hỏi : bao nhiêu năm nay, Cộng sản Việt Nam đàn áp tôn giáo, kìm kẹp kẻ đối lập, áp bức dân chúng gấp… bao nhiêu lần Ông Diệm, mà sao dân chúng chẳng thấy những phe này, nhóm nọ biểu tình, chống đối, nổi loạn để lật đổ chính quyền cộng sản chi cả. Chỉ thấy gần đây mới có những nhân vật nam nữ đấu tranh ôn hòa cho Tự Do, Dân Chủ, Nhân quyền ở Việt Nam, đang bị cộng sản – Chùa Vĩnh-Nghiêm ở đường Công Lý – hành hạ, bắt nhốt trong tù mà thôi. ..

Gần đây nhất, vụ cá chết, biển độc, do công ty nước ngoài Formosa ở Hà Tĩnh gây ra thảm họa cho hàng triệu dân các Tỉnh miền Trung, đã thúc đẩy dân chúng đứng lên biểu tình ôn hòa đòi hỏi chính quyền, nhà nước cộng sản phải đứng ra giải quyết, bảo vệ dân, bảo vệ môi trường. Việc biểu tình đấu tranh ngày càng bùng lên với tầm cỡ lớn lao, lan rộng khắp nước, cả ở Hà Nội, Hải Phòng, vào các thành phố trong Nam, trong đó có Sài Gòn.Vậy mà chẳng thấy tổ chức, lực lượng nào đứng lên đấu tranh như những hồi chống ông Diệm hồi 1963, và chống Việt Nam Cộng Hòa ở Huế, Đà Nẵng hồi 1966, mà lúc này chỉ thấy có Đức Giám Mục Nguyễn Thái Hợp, vị lãnh đạo của Giáo Phận Vinh, đứng về phía dân chúng trong vùng, để cho các Linh mục công giáo của ngài cùng đứng với dân oan, dân khổ để đấu tranh, chỉ thấy Linh Mục Đặng Hữu Nam dẫn giáo dân đi kiện Formosa dù bị công an, cảnh sát cơ động ngăn cản, đe dọa, nhưng Linh mục Nam và giáo dân của ông cương quyết không bỏ cuộc. Người ta chỉ thấy Linh mục Trần Đình Lai hướng dẫn hàng chục ngàn giáo dân khắp vùng đứng lên biểu tình, bao vây, đuổi Formosa đi khỏi, Khí thế dũng mãnh đến độ công an, bộ đội bỏ chạy tán loạn, giáo dân trèo cả lên tường thành khu vực Formosa đã bị kiểm soát, nhưng tuyệt nhiên không bạo động, đốt phá, tạo thêm sức mạnh cho toàn dân Việt Nam sẵn sàng cho những bước đấu tranh kế tiếp.

Như vậy, người ta có thể hiểu : ở Nam Việt Nam, hồi đó người dân có quyền tự do, dân chủ khá rộng rãi cho nên việc biểu tình chống đối chính – Dân Hà Tĩnh biểu tình, Formosa…thất thủ – chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, dưới sự lãnh đạo, chỉ huy của của cơ quan “ Tình Báo, Gián Điệp của nước bạn đồng minh khổng lồ “ , được Thành Ủy cộng sản ở Huế phối hợp hành động, nắm lấy thời cơ, thúc đẩy dân chúng, dựa vào thế lực tôn giáo, mua chuộc Tướng lãnh quân đội, huy động dân chúng, đưa cán bộ, tranh thủ thời cơ, đẩy cuộc đấu tranh chống chính quyền Đệ Nhất Cộng Hòa vào một thế thuận lợi để giật xập chính quyền Ngô Đình Diệm là chính quyền đang làm cho mọi hoạt động của cộng sản lâm vào tình trạng điêu đứng, khó khăn, bế tắc… về đủ mọi phương diện : chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa. Rõ ràng nhất là cộng sản sợ hãi chính sách tố cộng, chiêu hồi đã lôi kéo quá nhiều cán binh Việt cộng, có cả trung và cao cấp, quay trở về đầu thú, tiết lộ rất nhiều thông tin quan trọng. Cộng sản rất sợ quốc sách ấp chiến lược, bình định nông thôn của ông Ngô Đình Nhu… làm tê liệt khả năng của cộng sản trong chiến lược “ nắm vững nông thôn, bao vây và tiêu diệt thành thị “ trong lúc cả hai phía cộng sản cũng như Việt Nam Cộng Hòa đều biết rõ : phía nào nắm vững được nông thôn, bên đó sẽ thắng trong cuộc chiến tranh trường kỳ, phức tạp …trên chiến trường Việt Nam lúc này.

Sự rối loạn càng bùng lên dữ đội và lan mạnh tới các thành phố lớn rồi di chuyển trung tâm đấu tranh chống chính phủ về ngay tại Thủ Đô Sài Gòn, nơi tập trung các cơ quan quyền lực quốc gia, các Toà Đại Sứ ngoại quốc, cũng như các cơ sở truyền thông – Thượng Toạ Thích Trí Quang – 7 quốc tế.

Tại đây, Thượng Toạ Thích Trí Quang, một trong những vị lãnh đạo cao cấp Phật Giáo lúc đó, gốc người Bắc Việt, 2 lần bị Pháp bắt vì tình nghi có liên lạc hoạt động với cộng sản, người được dư luận trong và ngoài nước coi là một nhân vật tôn giáo đặc biệt, có tài tổ chức, lãnh đạo quần chúng trong các hoạt động đấu tranh chính trị… đứng ra phát động và lãnh đạo cuộc đấu tranh cuả dân chúng. Thượng Toạ thông báo cho phiá Mỹ biết là người Mỹ phải chịu trách nhiệm về những hoạt động cuả chính quyền Sài Gòn do Mỹ ủng hộ… ( Thich Tri Quang, a politically sophisticated monk of North Vietnamese origin, twice arrested by French on suspicion of Vietminh connections, stirs the people against Diem and informs US officials, whom he holds responsible for Diem because of US support…).

* Ngày 7- 6 -1963: Bà Ngô Đình Nhu lên tiếng tố cáo trước dư luận là người Mỹ đã cố tình nhúng tay vào, tạo nên vụ biến động này và thúc đẩy cho ngày một thêm trầm trọng, phức tạp thêm, nhằm khuynh đảo chính quyền cuả Tổng Thống Diệm vì Tổng Thống Diệm cương quyết không chấp nhận chính sách can thiệp chính trị và quân sự cuả người Mỹ, là chính sách đi ngược lại ý nguyện và quyền lợi cuả dân chúng Nam Việt Nam.

* Ngày 11-6-1963: Thượng Toạ Thích Quảng Đức “ tự thiêu “ ngay tại trung tâm thủ đô Sài Gòn, để phản đối chính sách kỳ thị tôn giáo cuả chính phủ. Theo nghĩa thông thường, “ tự thiêu “ là tự mình thiêu đốt mình cho một lý do, mục đích chi đó.Vụ tự thiêu của Thượng Tọa Quảng Đức nói ở đây, thì sự việc lại khác hẳn : …

Sau khi cầm bình săng tưới vào người Thượng Tọa Thích Quảng Đức đang ngồi bất động, tên cộng sản nằm vùng, mặc áo nhà sư, Nguyễn Công Hoan ( Huỳnh Văn Thạnh ) còn cẫn thận rãi thêm một đường săng từ chỗ Thương Tọa Quảng Đức đang ngồi, đi về phía sau, để hắn có thể đứng từ xa mà châm lửa ! Vậy mà toàn bộ sách báo cộng sản và phe phái chống đối đều viết rằng “Hoà Thượng Thích Quảng Đức TỰ tẩm xăng ”!!! Rồi ngay sau đó, cũng không phải do Thượng Tọa Thích Quảng Đức “TỰ bật quẹt Zippo để tự thiêu” như chúng rêu rao, mà là Thượng Toạ vẫn đang chấp hai tay trên ngực trong thế ngồi bất động ! Trước và sau khi ngọn lửa bùng lên, Thượng Toạ vẫn đang chấp tay trên ngực, còn ngọn lửa thì cháy từ phía sau, chạy tới rồi táp vào người Thượng Toạ để bùng lên ngọn lửa “tự thiêu”! Hòa thượng Thích Quảng Đức đã bị bức tử, đã bị… đốt chết bởi sự liên kết thực hiện giữa cộng sản và phe nhóm chống đối lúc đó… nhằm khích động cuộc nổi loạn của dân chúng đúng theo kế hoạch của CIA và cộng sản… Dư luận dân chúng trong nước và thế giới bị xúc động mạnh. Báo chí trong và ngoài nước, các cơ quan truyền thông khác, nhất là tại Mỹ ( đã bị lâm trận hoả mù cuả bọn – Thượng tọa Quảng Đức…bị thiêu – Lobbyists nói ở trên ) khai thác tối đa vụ này theo chiều hướng “ Phải thay thế ngay người lãnh đạo chính quyền Nam Việt Nam”. Thay thế bằng nhân vật nào ? – Các cơ quan truyền thông Mỹ không nói rõ, nhưng chỉ hướng dẫn dư luận là : loại bỏ Ông Diệm khỏi ngôi vị lãnh đạo chính quyền là được rồi…

Đang cơn dầu sôi lưả bỏng như thế thì vì tức giận người Mỹ và lực lượng đấu tranh nên đã nóng giận, mất sự khôn ngoan, bình tĩnh cần thiết trước tình thế bất lợi cho chính phủ., bà Nhu lên tiếng mạt sát, thoá mạ cuộc tự thiêu cuả Thượng Toạ Quảng Đức. Thật là “Lửa đã đỏ lại đổ thêm dầu ”. Điều này làm cho dư luận dân chúng thêm phẫn nộ, lợi thế nghiêng hẳn về phiá lực lượng đấu tranh chống chính phủ.

* Ngày 27- 6- 1963: Thấy tình hình Sài Gòn rối loạn, khó gỡ được ra, Tổng Thống Hoa Kỳ John F. Kennedy bổ nhiệm Ông Henry Cabot Lodge, thuộc Đảng Cộng Hoà, sang Sài Gòn giữ chức vụ Đại Sứ Hoa Kỳ, thay thế cho Đại Sứ Nolting, người đang tỏ ra bất lực trong việc gỡ rối cho tình hình Sài Gòn theo chiều hướng có lợi cho chính sách cuả Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam.

Thực tâm Tổng Thống Kennedy là chỉ gỡ rối sao cho êm đẹp, thuận lợi cho đường lối, chính sách cuả Hoa Kỳ, cuả Ông Kennedy, chớ Ông Kennedy lúc này không hề nghĩ đến việc lật đổ Ông Diệm, nhất là không bao giờ nghĩ đến việc phải giết Ông Diệm. Ông Cabot Lodge ( đảng Cộng Hòa ) được giới chính trị và truyền thông Hoa Kỳ coi là “ Một con cáo già chính trị ” và đồng thời là một “ Chuyên viên đảo chánh ”, hiện đang theo đuổi một chính sách mang tính cách “Diều hâu ” khác hẳn với Ông Kennedy ( đảng Dân Chủ ) về vấn đề Việt 8 Nam. Một Cabot Lodge, cáo già chính trị, chuyên viên đảo chánh, không cùng 1 Đảng với Ông Kennedy. Cabot Lodge thuộc Đảng Cộng Hòa, có nhiều liên hệ với quyền lợi cuả bọn tài phiệt buôn bán chiến tranh, mà sang làm Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn thì tình hình sẽ ra sao ?

Cabot Lodge được cử sang Sài Gòn với nhiệm vụ “gỡ rối – Untangling ” tình hình, nhưng Cabot Lodge lại quyết định chọn “ phương cách gỡ rối ” bằng một “Cuộc đảo chánh – Coup d’état ” êm ái, nhẹ nhàng, không chọc giận Ông Kennedy, sinh trưởng trong 1 gia đình theo đạo Thiên Chuá, nghiã là chỉ cần đẩy Ông Diệm ra khỏi ngôi vị lãnh đạo chính quyền Nam Việt Nam, đưa Ông Diệm đi sống lưu vong ở một quốc gia nào đó nằm trong “ Quỹ đạo chính trị – Political circle ” cuả Hoa Kỳ, như Đài Loan, Thái Lan chẳng hạn là đủ rồi. Sau đó, Cabot Lodge sẽ dựng lên một thứ chính quyền mới hoàn toàn biết vâng phục theo ý muốn cuả Hoa Kỳ, hay đúng ra trong lúc này, là ý muốn cuả “Giới tài phiệt – Financial Oligarchy ” cuả Mỹ đang tính chuyện kiếm lời thật lớn lao trong cuộc chiến tranh đang xẩy ra trên đất nước Việt nam nhỏ bé nhưng đầy đau khổ, máu xương và nước mắt này… Đó ! Câu trả lời cho cái đầu đề cuả bài viết này “Tại sao có cuộc đảo chánh lật đổ Ông Ngô Đình Diệm ? ” tưởng đã đủ rõ ràng, khả dĩ góp phần nhỏ bé vào việc làm sáng tỏ 1 trang lịch sử cận đại cuả một đất nước, một dân tộc anh hùng, nhưng quá bé nhỏ trước nanh vuốt cuả …những thế lực khổng lồ, hung bạo nên đành phải chịu chấp nhận tủi nhục, đau thương…

Nó là một bài học vô cùng quý giá cho những quốc gia cường thịnh cũng như nhược tiểu trong cuộc đoàn kết đấu tranh để sinh tồn trong một thế giới ngày càng thêm phức tạp, rắc rối, đòi hỏi một thế liên minh sáng suốt, khôn ngoan và chung thủy. Nếu không, kẻ thắng và người thua, rút cuộc tất cả như nhau, sẽ mang vào mình những kết quả thảm hại, những cái nhìn xấu xa nhất cuả những người chung quanh, kể cả kẻ thù lẫn bạn bè…

San Diego – California

Phan Đức Minh

Tài liệu tham khảo : * The Death of A Nation.- John A. Stormer.- Liberty Bell Press – Missouri, 1978.

* The World Almanac of The Vietnam War.- John S. Bowman (General Editor). Bison Books Corp.- New York, 1985.

* Vietnam : The History & The Tactics .- Ahsley Brown & Adrian Gilbert .- Orbis Publishing Limited .- London,1982.

* The Final Days .- Bob Woodward & Carl Bernstein.- The Hearst Corporation.- New York, 1976.

* Henry Kissinger Diplomacy.- Simon & Schuster.- New York, 1994.

– * Kennedy .- Theodore Sorensen.- Harper & Row.- New York, 1965.

– *A Book of U.S. Presidents.- George Sullivan .- Scholastic Incorporation.- New York,1984.-

—————————————————————————————–

Tình cảnh của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất sau 1975

Trích từ tạp chí Luật Khoa

Năm 1982, hai hòa thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ bị đưa đi lưu đày mỗi người một nơi tại hai tỉnh Quảng Ngãi và Thái Bình.

Hai hòa thượng Thích Quảng Độ (trái) và Thích Huyền Quang trong một tấm ảnh chưa rõ năm chụp, có thể vào những năm 2000 trong thời gian Thích Huyền Quang bị lưu đày ở Bình Định. Hòa thượng Thích Huyền Quang sinh năm 1919, xuất gia ở Bình Định từ năm 13 tuổi. Theo GHPGVNTN, ông bị giam giữ tại các chùa cho đến khi viên tịch

Bắt giữ đồng loạt các nhà sư

Khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời (vào ngày 7 tháng 11 năm 1981) cũng là lúc các nhà sư bị phân biệt thành hai nhóm: sư hợp pháp và sư bất hợp pháp.

Những nhà sư bất hợp pháp là những người không tham gia Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Các nhà sư bất hợp pháp này hoặc lâm vào cảnh khốn khó như Đại đức Thích Huệ Thâu hoặc góp mặt trong ít nhất 7.000 người trong các trại cải tạo vào năm 1985.

Chính quyền đã tổ chức một cuộc vây bắt đồng loạt các nhà sư không cùng quan điểm với chính quyền và GHPGVN.

Vào tháng 4/1984, chính quyền Việt Nam đã đồng loạt bắt khoảng 12 tăng, ni ở nhiều ngôi chùa khác nhau, trong đó có những người là học giả uyên bác của Phật giáo miền Nam như Ni trưởng Thích Nữ Trí Hải, Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ hay Hòa thượng Thích Trí Siêu.

Theo sau vụ bắt giữ đồng loạt này, tháng 8/1984, chính quyền tiếp tục bắt giữ Hòa thượng Thích Đức Nhuận, giáo sư của Viện Đại học Vạn Hạnh, biên tập viên của Tạp chí Vạn Hạnh. Cùng vụ bắt Hòa thượng Đức Nhuận, Hòa thượng Thích Tâm Quang và chú tiểu “Vinh Hien” cũng bị bắt giữ vì không tham gia GHPGVN.

Vào tháng 10/1984, chính quyền bắt giữ hai trụ trì của chùa Quang Âm và chùa Đại giác ở thành phố Hồ Chí Minh là Hòa thượng Thích Thông Bửu và Thích Thiệu Huệ.

Đến năm 1986, chính quyền vẫn tiếp tục giam giữ mà không đưa ra xét xử các hòa thượng Nguyên Giác, Như Minh, Đức Nhuận, Trí Siêu tại trại giam Chí Hòa.

Mãi cho đến năm tháng 9/1988, chính quyền mới xét xử các hòa thượng Thích Tuệ Sỹ và Thích Trí Siêu cùng 19 tăng ni, phật tử khác. Tất cả đều bị cáo buộc tham gia hoạt động lật đổ nhà nước và thành lập một tổ chức cách mạng. Hai hòa thượng Tuệ Sỹ và Trí Siêu bị tuyên án tử hình nhưng sau đó được giảm án, những người khác bị tuyên án từ bốn năm tù giam đến chung thân.

Thương Tiếc Đặng Mỹ Dung và “Ngàn Giọt Lệ Rơi”

Nhận được tin buồn Nhà văn Đặng Mỹ Dung vừa từ trần lúc 7 giờ chiều ngày 23 tháng 3 năm 2023 tại Thành phố Atlanta, Tiểu bang Georgia, Hoa Kỳ.

Tác phẩm A Thousand Tears Falling / Ngàn Giọt Lệ Rơi của bà đã xuất bản hơn 13 năm nên có nhiều websites đăng tải lắm.

Nhà văn Đặng Mỹ Dung có 7 anh chị em gồm Anh Đặng Văn Khôi, 1937 (đã mất); Chị Kim; Chị Cương (đã mất); Đặng Mỹ Dung, 1946-2023; Đặng Hải Vân, 1950 (đã mất); Đặng Hòa Bình, 1954; và Đặng Minh Tâm, 1956.

Mời đọc tác phẩm: Ngàn Giọt Lệ Rơi, – Trang Sách Truyện Việt Nam thư quán (vnthuquan.net)

Ða số hồi ký của các nhân vật lịch sử Việt Nam thường viết về thời gian trước tháng tư 75, và thiếu vắng tác phẩm của phụ nữ. Nhưng bút ký về cuộc đời bà Mỹ Dung đã viết về một giai đoạn chính từ sau tháng tư 75. Phải chờ giải mật năm 1995 tức là 20 năm sau tác phẩm bằng Anh ngữ “A Thousand Tears Falling..” mới được xuất bản.

Ngay khi tác phẩm ra đời, báo chí và các nhà điểm sách Hoa Kỳ đã không tiếc lời khen ngợi. Nhiều độc giả Việt Nam cũng đã mua và đọc nguyên tác Anh Ngữ. Nhưng đa số vẫn còn mong có cơ hội đọc bản Việt ngữ của một câu chuyện thực hết sức bi thương và hấp dẫn.

Ngàn Giọt Lệ Rơi

Bìa cuốn sách ” Ngàn Giọt Lệ Rơi”

Phác họa chuyện phim “Ngàn giọt lệ rơi”

“A thousand Tears Falling” bắt đầu từ ngoại cảnh tại Nhật Bản. Thời gian lúc đó là tháng 6-1975, không gian là tại phòng tiếp tân của đại khách sạn Nhật Bản tại Ðông Kinh. Tại đây, một hội nghị quốc tế giữa các nước Ðông Nam Á đang diễn ra. Ông Ðặng Văn Minh là trưởng phái đoàn của nước cộng sản Việt Nam vừa chiến thắng Sài Gòn 2 tháng trước, đến dự hội nghị với niềm tự hào và được sự lưu ý của báo chí thế giới. Tuy nhiên, cũng vào chiều hôm đó tại Ðông Kinh, người cán bộ cao cấp của phe cộng sản gặp lại con gái sau 23 năm xa cách. Từ hình ảnh trong đại sảnh của khách sạn quốc tế tại Tokyo, phía trước treo cờ các nước dự hội nghị, có cờ đỏ sao vàng. Hình ảnh vị trưởng phái đoàn rạng rỡ tươi cười mở đầu cuốn phim để tiếp đến hình ảnh hồi tưởng thời kỳ trong chiến khu với cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.

Ông Minh sinh năm 1909 tại Vĩnh Long, đi theo Kháng Chiến và trở thành nhân viên cao cấp của Mặt Trận. Năm 1954, ông dẫn con trai lớn 17 tuổi là Ðặng Văn Khôi ra Bắc. Vợ ông Minh là bà Trần Thị Phàm và 5 con nhỏ ở lại miền Nam. Khi chia tay hẹn 2 năm trở lại nhưng thật sự phải hơn 20 năm sau người cộng sản mới vào được Sài Gòn thì lúc đó đã biết bao nhiêu vật đổi sao dời. Người con trưởng theo bố ra Bắc đã trở thành sĩ quan của quân đội nhân dân được gửi đi Nga học về hỏa tiễn phòng không năm 1968. Ðến năm 1975, ông Minh trong khi vẫn một lòng trung thành với chế độ và trở nên cán bộ cao cấp ngành ngoại giao thì người con trưởng Ðặng Văn Khôi có thái độ chống chiến tranh nên đã bị sa thải khỏi quân đội miền Bắc.

Tại miền Nam, người con trai thứ của ông bà là Ðặng Hải Vân, lúc ông tập kết chỉ có 5 tuổi sau này đã trở thành phi công của Không Quân Việt nam Cộng Hòa. Nhưng không may Hải Vân đã bị thiệt mạng trong một phi vụ bay huấn luyện tại Hoa Kỳ lúc 21 tuổi. Chị Ðặng Mỹ Dung là con thứ tư của ông bà đã thành hôn với đại úy phi công của Hải Quân Hoa Kỳ tại Sài Gòn và năm 75 gia đình chị đang sống tại Hawaii. Cuộc sống thơ mộng và bình yên của ông Krall và bà Mỹ Dung hoàn toàn thay đổi từ tháng 4-1975.

Cũng vào tháng 4-1975, lúc đó cha của bà Dung là ông Minh đang làm đại sứ cộng sản Hà Nội tại Nga Sô, mẹ của bà và đứa em út thì kẹt ở Sài Gòn. Với bao năm xa cách, với quan niệm về cuộc sống khác biệt, bà Phàm vợ ông Minh không hề có ý muốn ở lại Sài Gòn để chờ đoàn tụ với chồng. Ðặng Mỹ Dung từ Hạ Uy Di liền yêu cầu thiếu tá Krall tìm cách về Sài Gòn đón gia đình bà mẹ qua Mỹ. Khi ông Krall qua Sài Gòn đã lâu mà chưa có tin tức gì, tại Hawaii, bà Ðặng Mỹ Dung lo sợ đã nói chuyện trực tiếp qua điện thoại cầu cứu với đề đốc Gaylor, tổng tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương tại Trân Châu Cảng. Lời nói chỉ vắn tắt báo cáo chuyện chồng bà về Sài Gòn để lo cứu gia đình sao chưa thấy qua, nhưng bà nói thêm một tin tức động trời, bà là con gái của đại sứ cộng sản Việt Nam tại Mạc Tư Khoa.

Đặng Mỹ Dung

Lập tức guồng máy quân báo của Hải Quân Hoa Kỳ chuyển động và cả FBI lẫn CIA nhập cuộc. Hệ thống tình báo Mỹ ghi nhận ngay đây là một đầu mối vô cùng quan trọng mà tại sao lâu nay không ai biết. Ngay cả lúc hồ sơ thành hôn của vị sĩ quan Hải Quân Hoa Kỳ cũng không ai lưu ý đến mối liên hệ huyết tộc của cô dâu nước Mỹ có đầu mối Hà Nội. Họ cứ tưởng đây chỉ là cô gái thuần túy Sài Gòn.

Tiếp theo khi chuyến bay chở mẹ và em gái út của Ðặng Mỹ Dung ra khỏi Việt Nam do CIA Sài Gòn trực tiếp sắp đặt thì một khế ước bất thành văn đã bắt đầu. Mỹ Dung nợ khối tình báo Mỹ một yêu cầu. Cuộc đời điệp viên khởi sự. Khi bà Minh đã yên ổn tại Hoa Kỳ thì hơn 60 ngày sau Mỹ Dung dắt con nhỏ qua Nhật Bản thăm thân phụ đã hơn 20 năm xa cách. Guồng máy tình báo của thế giới tự do mở chiến dịch để Con Chim Xanh với Ngàn Giọt Lệ lên đường công tác.

Sơ lược chuyện phim

Bây giờ xin mời khán giả trở lại Ðông Kinh của tháng 6-1976. Cánh cửa phòng họp riêng của đại sảnh Tokyo hé mở, một cán bộ ngoại giao của Hà Nội bước vào trình với thủ trưởng Ðặng Quang Minh:
“Thưa đồng chí thủ trưởng, bà Việt kiều ở Mỹ và đứa con lai đã có hẹn xin vào gặp.”

Ông Minh vẫn còn đang ngồi xem hồ sơ hội nghị, nói mà không nhìn lên:
“Ðây là đại diện Hội Việt Kiều Yêu Nước đến để động viên và mừng đất nước thống nhất. Ðồng chí mời vào đi.”

Ðặng Lệ Dung bước vào cùng con gái nhỏ nép một bên.

Hơn 20 năm qua, lúc thân phụ ra đi, cô là đứa bé con. Giờ đây, đứa cháu ngoại lai Mỹ xinh đẹp mắt mở to nhìn người đàn ông xa lạ mà e ngại. Cuộc gặp gỡ riêng tư nhưng hết sức khách sáo. Cả cha con đều phải đóng kịch dù rằng trong lòng như lửa đốt. Trước khi chia tay, ông Minh nói nhỏ với con gái là sẽ thu xếp để gặp lại người vợ cũ là bà Phàm hiện đã di tản qua Hoa Kỳ.

Sau cuộc gặp gỡ lần đầu tiên vào tháng 6-1975, cuộc đấu tranh chiến tranh chính trị, tình báo và ngoại giao giữa hai cha con bắt đầu. Một bên là Việt Nam cộng sản đã thống nhất và một bên là guồng máy tình báo Hoa Kỳ. Cả hai bên đều tìm cách mua chuộc lẫn nhau. Cuốn phim Ngàn Giọt Lệ Rơi thực sự sẽ có cả hàng trăm phân cảnh hết sức độc đáo để dàn dựng.

Chiến tranh tình báo

Thủ trưởng Ðặng Quang Minh về báo cáo lên bộ chính trị và được Lê Duẩn đồng ý cho phép qua Paris gặp lại vợ con. Ông dự trù sẽ thuyết phục để đưa vợ con trở về Hà Nội dưới hình thức chiến thắng ngoại giao sau khi tuyên bố là gia đình ông ở Sài Gòn đã bị Hoa Kỳ áp đảo bắt phải di tản. Hà Nội chắc chắn một lần nữa sẽ đạt được một thành tích đánh bại Hoa Kỳ trên diễn đàn dư luận quốc tế. Phía Hoa Kỳ, Hoa Thịnh Ðốn đã cho phép CIA giúp đỡ hai mẹ con bà Minh qua Pháp để bắt nhịp cầu làm việc trực tiếp với tòa đại sứ cộng sản Việt Nam tại Paris. Tình báo Mỹ chấp nhận nhập cuộc.

Tuy nhiên, cuộc đấu tranh chính trị giữa cộng sản và Hoa Kỳ đã trở thành một mối xung đột và mâu thuẫn trong nội bộ gia đình họ Ðặng, vượt ra khỏi tầm tay của những thế lực đằng sau từ cả hai bên. Ông Minh hết lòng thuyết phục bà vợ tao khang trở về với một đất nước nay đã thanh bình, độc lập, thống nhất và hoàn toàn chiến thắng. Ông thề thốt lấy cả cuộc đời ra để bảo đảm cho sự an toàn của bà và người con út cùng đi với bà. Nhưng bà Minh vẫn còn dè đặt và sau cùng quyết định ở lại Hoa Kỳ. Một quyết định sáng suốt mà sau này bà vẫn cho là hết sức may mắn.

Trong thời gian đó, phe cộng sản hết lòng chiều chuộng móc nối Ðặng Mỹ Dung với hy vọng cô sẽ thuyết phục bà mẹ. Và hơn nữa, dù bà Minh chưa muốn về Hà Nội nhưng Mỹ Dung với ảnh hưởng sẵn có trong quân đội Mỹ, có thể dễ dàng trở thành một nguồn tin đáng giá và tốt nhất là cô chuyển hộ các tài liệu trên đường hàng không từ Hoa Thịnh Ðốn qua Paris. Con Chim Xanh của Ngàn Giọt Lệ Rơi luôn luôn sẵn sàng hợp tác như là một người cảm tình với phe chiến thắng mà thân phụ của cô cũng góp phần.
Dần dân Mỹ Dung gián tiếp trở thành một phụ nữ Việt Nam yêu nước kết hôn với người Mỹ những vẫn hồn nhiên đóng góp công tác cho chính phủ Hà Nội và các tổ chức thân Cộng. Cũng vào thời điểm đó, sinh viên thân cộng Trương Ðình Hùng là con của luật sư Trương Ðình Dzu đang hoạt động cho tình báo cộng sản. Hùng du học Mỹ trước 1975 và tiếp tục ở lại Hoa Kỳ móc nối lấy tin tức từ bộ ngoại giao. Hùng rất tin tưởng ở sự thân hữu chặt chẽ của Mỹ Dung với Hà Nội và tòa đại sứ cộng sản Việt Nam tại Pháp.

Ronald Humphrey là nhân viên cao cấp của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ được phép đọc tài liệu tối mật. Lúc còn ở Việt Nam, Humphrey lấy cháu gái Võ Thị Ðịnh, một nữ cán bộ quân sự của Giải Phóng Miền Nam. Hà Nội đưa điều kiện nếu Ronald muốn cho phép đem vợ qua Mỹ phải lấy hồ sơ mật của bộ ngoại giao Mỹ trao cho Trương Ðình Hùng. Hùng nhờ Ðặng Mỹ Dung chuyển tài liệu cho cộng sản qua tòa đại sứ Việt Nam tại Paris. Tài liệu Humphrey đưa ra qua tay Hùng đến Mỹ Dung thì CIA đổi thành tài liệu giả để chuyển qua Pháp.

Khi chính phủ Hoa Kỳ quyết định truy tố Trương Ðình Hùng và Humphrey thì cần có Mỹ Dung ra làm nhân chứng. Nếu như thế là cuộc đời gián điệp sẽ chấm dứt và đồng thời bà Dung phải chấp nhận mọi rủi ro thách đố về sau. Ðây là một quyết định khó khăn đối với một phụ nữ. Lần đưa mẹ ra khỏi Việt Nam, Mỹ Dung đã phải trả giá bằng cách bước vào con đường chông gai của nữ điệp viên. Lần này lại thêm một thử thách mới.
Sau cùng Mỹ Dung yêu cầu chính phủ Mỹ phải cam kết đưa cha và anh bà được vào Mỹ, trước khi phiên tòa bắt đầu. Việc này sẽ được thu xếp trước khi vụ gián điệp tại bộ ngoại giao được chuyển qua tòa án. Hồ sơ cam kết mật đưa lên tổng thống Carter xin chấp thuận. Guồng máy tình báo Hoa Kỳ lại mở chiến dịch mới.

Bà Mỹ Dung viết thư cho Lê Duẩn, tổng bí thư của dảng Cộng sản Việt Nam và Nguyễn Duy Trinh bộ trưởng ngoại giao Hà Nội xin cho cha là Ðăng Quang Minh qua London gặp gia đình vợ con vì bà Minh bị bệnh nan y có thể chết. Giáng Sinh năm 1977, Hà Nội chấp thuận cho ông Minh xuất ngoại. Trong hai tuần lễ sống bên cha, cả hai chị em bà Mỹ Dung thuyết phục ông Minh đi Mỹ nhưng không thành công. Cuộc tranh luận, phân giải trong gia tộc với nghĩa phu thê, và tình cha con của một gia đình Quốc Cộng đã kéo dài suốt mùa Giáng Sinh tại thủ đô sương mù London năm 1977. Ông Minh đã dành cả cuộc đời đi theo con đường của ông, đêm nằm trằn trọc cùng phòng với đứa cháu ngoại thân yêu.

Bà Minh suốt thời gian nghe con gái và chồng tranh luận mệt nhoài nên đã nói những lời sau cùng trước khi chia tay đôi ngả. Bà yêu cầu chồng và các con chấm dứt tranh luận, cãi cọ qua lại về chính trị, về chủ thuyết, và tương lai. Hãy ngồi với nhau lần cuối trong tình huyết tộc rồi đường ai nấy đi. Cuộc chia tay của hai phe đấu tranh chiến tranh chính trị trong một gia đình bây giờ chỉ còn toàn nước mắt của “Ngàn giọt lệ rơi.”

Sau cuộc họp mặt Giáng Sinh lịch sử 1977 của gia đình họ Ðặng, Hoa Kỳ quyết định đưa vụ án ra ánh sáng. Chính phủ Mỹ truy tố Trương Ðình Hùng và Ronald Humphrey mỗi người bị tù 15 năm. Cả hệ thống ngoại giao của cộng sản Hà Nội bị lung lay, rung động từ đại sứ Ðinh Bá Thi tại Liên Hiệp Quốc cho đến đại sứ Ðặng Văn Sung tại Paris.

Câu chuyện gián điệp nữ Ðặng Mỹ Dung được viết lại thành ký sự bằng Anh ngữ nhưng CIA đã yêu cầu bỏ đi gần 200 trang trước khi in. Về sau ông Ðặng Quang Minh sống độc thân tại Hà Nội, thỉnh thoảng đi thăm mộ con trai là thiếu úy Ðặng Hải Vân của KQVNCH tại miền Nam. Ông mất năm 1986, hưởng thọ được 77 tuổi. Ðặng Văn Khôi, người con trai lớn theo ông tập kết ra Bắc có đến chào cha trước khi vượt biên, đoàn tụ với mẹ và các em ở miền Ðông Hoa Kỳ. Từ một sĩ quan của đơn vị phòng không quân đội nhân dân đã du học bên Nga, nay ông trở thành người tỵ nạn tại Hoa Kỳ. Ông sống độc thân, cho đến khi bà mẹ mất, rồi ông cũng qua đời mấy năm sau. Dù theo cha đi tập kết 1954, đi học bên Nga, sĩ quan của đơn vị phòng không tên lửa, nhưng ông không chịu vô đảng. Sau cùng ông chết theo mẹ trên miền đất tự do.

Bà Minh sống với vợ chồng con gái là Ðặng Mỹ Dung. Khi được tin chồng chết, bà không muốn về chịu tang dưới nghi lễ của đảng cộng sản. Một lòng kiên quyết, bà muốn để cho chồng đi trọn con đường ông lựa chọn. Ông chết trong lòng đất quê hương, nơi có mộ phần con trai út của ông là sĩ quan miền Nam. Bà Minh qua đời khi nước Mỹ bước vào thế kỷ thứ 21. Có thể ngày nay ông bà đã cùng những người con trai phục vụ cho hai miền đất nước đang đoàn tụ ở một nơi không còn khác biệt về ý thức hệ.

Cuốn sách A Thousand Tears Falling hiện được một số giáo sư Hoa Kỳ dùng để dạy cho các trường Trung Học. Tác phẩm Ngàn Giọt Lệ Rơi đến tay độc giả Bắc California cùng với chương trình 35 năm nhìn lại tại San Jose vào tháng 5-2010.

From: MY TRAN

Nguyễn Phú Trọng điện đàm với Joe Biden, Việt Nam tiếp tục ‘đu dây’

Báo Nguoi-viet

March 29, 2023

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư đảng CSVN, vừa có cuộc điện đàm với Tổng Thống Mỹ Joe Biden vào tối 29 Tháng Ba, giờ Hà Nội, truyền thông nhà nước Việt Nam đồng loạt loan tin.

Tờ Tuổi Trẻ cho hay, cuộc điện đàm diễn ra “đúng vào dịp hai nước kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ Đối Tác Toàn Diện (2013 – 2023)” nhưng chưa công bố “nội dung thông cáo về cuộc điện đàm”.

Ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư đảng CSVN, được ông Joe Biden, phó tổng thống, tiếp đóp tại buổi ăn trưa ngày 7 Tháng Bảy, 2015, khi ông Trọng thăm chính thức Hoa Kỳ.(Hình: BRENDAN SMIALOWSKI/AFP via Getty Images)

Ông Nguyễn Phú Trọng từng gặp mặt trực tiếp ông Joe Biden vào năm 2015 tại thủ đô Washington DC khi ông Trọng có chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ trong cương vị tổng bí thư đảng CSVN, còn ông Biden khi đó là phó tổng thống của chính phủ Tổng Thống Obama.

Vào năm ngoái, hôm 17 Tháng Mười Một, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao CSVN loan tin “sẽ có một cuộc điện đàm giữa Tổng Thống Mỹ Joe Biden và Tổng Bí Thư đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng đang được thu xếp và tiến tới thực hiện chuyến thăm cấp cao giữa hai bên vào thời điểm thích hợp và điều kiện cho phép.” Khi đó, ông Joe Biden đang ở Cambodia để tham dự một loạt hội nghị thượng đỉnh với các nhà lãnh đạo Đông Nam Á cùng các nhà lãnh đạo thế giới khác.

Về cuộc điện đàm tối 29 Tháng Ba, hình ảnh trên truyền thông Việt Nam cho thấy ông Trọng ngồi tại trụ sở Trung Ương Đảng cùng nhiều giới chức cao cấp, trong đó có ông Tô Lâm, bộ trưởng Bộ Công An và Ngoại Trưởng Bùi Thanh Sơn.

Việt Nam và Hoa Kỳ đã nâng mối quan hệ ngoại giao lên Đối Tác Toàn Diện vào năm 2013, khi ông Trương Tấn Sang, chủ tịch nước, có chuyến thăm Hoa Kỳ và gặp gỡ Tổng Thống Barack Obama tại Tòa Bạch Ốc ngày 25 Tháng Bảy.

Vài năm gần đây, Hoa Kỳ liên tiếp đưa ra tín hiệu và hành động cho thấy muốn nâng cấp mối quan hệ từ Đối Tác Toàn Diện lên Đối Tác Chiến Lược nhưng phía Việt Nam bằng nhiều cách né tránh đề nghị này, trong lúc tiếp tục chính sách “ngoại giao đu dây” giữa Washington và Bắc Kinh.

Ông Nguyễn Phú Trọng tại cuộc điện đàm với ông Joe Biden từ trụ sở trung ương đảng CSVN ở Hà Nội hôm 29 Tháng Ba. (Hình: TTXVN)

Chỉ trước cuộc điện đàm giữa ông Nguyễn Phú Trọng với ông Joe Biden một ngày, hôm 28 Tháng Ba, ông Trọng đã đón tiếp ông Vương Ninh, bí thư tỉnh ủy Vân Nam, Trung Quốc khi ông này đến Việt Nam dự “hội nghị lần thứ ba giữa các bí thư tỉnh ủy Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên của Việt Nam với Vân Nam của Trung Quốc.”

Theo truyền thông nhà nước Việt Nam, tại cuộc gặp, “Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng bày tỏ mong muốn tỉnh Vân Nam, Trung Quốc và các địa phương biên giới Việt Nam tiên phong trong nỗ lực thực hiện nhận thức chung giữa lãnh đạo hai nước”

Không chỉ gặp ông Nguyễn Phú Trọng, ông Vương Ninh còn được cả ông Phạm Minh Chính, thủ tướng, đón tiếp trong cùng ngày.

Cũng trong ngày 28 Tháng Ba, ông Bùi Thanh Sơn, ngoại trưởng Việt Nam, đã điện đàm với ông Tần Cương, ngoại trưởng Trung Quốc. Đồng thời ông Trần Lưu Quang, phó thủ tướng, tiếp ông Marc Knapper, đại sứ Mỹ tại Việt Nam, để “chuẩn bị tốt nhất cho các hoạt động tiếp xúc cấp cao” trong thời gian tới.

Cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ biểu tình trước Tòa Bạch Ốc chống chuyến thăm của ông Nguyễn Phú Trọng đến Washington DC, ngày 7 Tháng Bảy, 2015. (Hình: MLADEN ANTONOV/AFP via Getty Images)

Theo truyền thông Việt Nam, qua 10 năm thiêt lập quan hệ Đối Tác Toàn Diện, Việt Nam và Hoa Kỳ đạt giao thương năm 2022 là $123 tỉ, tăng gấp bốn lần so với năm 2013, tuy nhiên cán cân thương mại đang nghiêng về phía Việt Nam.

Hoa Kỳ trở thành thị trường xuất cảng đầu tiên của Việt Nam vượt mốc $100 tỉ và Việt Nam trở thành đối tác thương mại thứ tám của Mỹ. Đầu tư trực tiếp của Mỹ tại Việt Nam đạt $11.4 tỉ, đưa Mỹ vào vị trí thứ 11 trong số những quốc gia đầu tư trực tiếp tại Việt Nam.(KN)

 

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Tù nhân địa lý & tù nhân chính trị

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

Thỉnh thoảng, tôi vẫn nghe giới giáo chức Việt Nam phàn nàn về cái bệnh lười đọc của dân tộc này:

  • Cô giáo Thảo Dân: “Nhiều người không có thói quen đọc sách, hoặc đã từng có, nhưng nhiều năm về sau thì bỏ, hay nói đổ đi rằng, không có thời gian…”
  • Thầy giáo Thái Hạo: “Các quan lại càng không đọc sách. Sách là thứ xa xỉ bậc nhất. Nghĩa là, đất nước đang được lãnh đạo bởi những người không đọc sách. Và nó sẽ đi về đâu thì chúng ta hoàn toàn có thể dự đoán được.”

Những lời than phiền thượng dẫn hay khiến tôi nhớ đến câu chuyện thú vị về G.S Lý Chánh Trung, sau khi ông được mời tham dự Hội Nghị Hiệp Thương Thống Nhất – tại Hà Nội – vào hôm 2 tháng 9 năm 1975:

“Ra Bắc, gặp một cô lái đò, cô hỏi: có phải là giáo sư Lý Chánh Trung không? Đúng là tôi. Trước 1975, cháu có đọc nhiều bài viết của chú, cháu thích lắm. Ở Hà nội, cả một phái đoàn đông đảo như thế. Có một thanh niên hô to: Ai là Lý Chánh Trung cho biết. Là tôi đây. Cũng bài bản như cô lái đò: tôi có đọc… Lý Chánh Trung tấm tắc đưa ra nhận xét: ‘Trình độ văn hóa ngoài Bắc cao. Chiến tranh như thế mà một cô lái đò cũng tìm đọc Lý Chánh Trung ở trong Nam.” (Miền Đất Lạnh – Nguyễn văn Lục, ĐCV).

Nửa thế kỷ sau, sau khi “chiến tranh như thế” chấm dứt, non sông thống nhất (Nam/Bắc hòa lời ca) độ vênh của “trình độ văn hóa” Bắc/Nam đã được cào bằng – theo như thông tin cập nhật của báo chí nước nhà:

  • Tuổi Trẻ: “Mỗi người Việt đọc 1,2 quyển sách một năm.”
  • Vietnamnet: “Người Việt không đọc nổi 1 cuốn sách/năm.”
  • Petro Times: “Nhìn ra thế giới, ở một số quốc gia như Pháp, Nhật Bản, Israel trung bình mỗi người dân đọc từ 20 cuốn/năm. Các nước trong khu vực như Singapore trung bình là 14 cuốn/năm, Malaysia là 10 cuốn/năm…”

Dào ôi! Ngóng “nhìn ra thế giới” làm chi (cho chúng nó khi) cứ trông vào con số lợi tức vô cùng khiêm tốn của đại đa số người Việt, và cuộc sống lam lũ “từ tay đến miệng” của họ, gần cả thế kỷ qua (làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm, làm thêm giờ nghỉ, làm tăng ca chiều, làm tăng ca cuối tuần) thì biết ngay là dân tộc này chả mấy ai còn thời giờ cùng tâm trí cho đời sống tinh thần cả.

Đã thế, thế giới chắc không đâu có những “nhà xuất bản chính trị quốc gia” hay “nhà xuất bản công an” (chuyên cung cấp giấy gói cho quý bà đồng nát, hay quý cô bán xôi, hoặc bán bánh mì) với vô số tác phẩm “định hướng” để ngu dân hơn là khai sáng. Phúc đức mà trung bình mỗi người dân Việt chỉ đọc nửa cuốn sách hàng năm thôi, chứ nếu ai cũng đọc hàng chục “tác phẩm” của nxb Sự Thật thì toàn dân (không chừng) đã “tẩu hỏa nhập ma” hết trơn rồi.

Thế nào là “tẩu hỏa nhập ma”?

Kể cũng khó giải thích tường tận bằng đôi câu nhưng muốn rõ thì chỉ cần nghe các ông Hoàng Chí Bảo, Lê Văn Cương, Lê Thế Mẫu, Trần Nhật Quang (hay bất cứ một đồng chí lãnh đạo cấp cao nào) nói chuyện vài ba phút là biết ngay thôi.

May mà những người như thế cũng không quá nhiều, và may hơn nữa là tình trạng này đang có xu hướng đổi thay. Ông Lê Hoàng, Phó Chủ Tịch Hội Xuất Bản Việt Nam cho biết: “Trong tổng số 60 nhà xuất bản, có những đơn vị thua lỗ nhưng khu vực tư nhân lại kinh doanh khá tốt. Họ ngày càng chuyên nghiệp hơn trong sản xuất, phát hành. Sự năng động, nhạy bén của họ đã góp phần cho sự phát triển của ngành xuất bản.”

Có lẽ vì nhờ vậy nên đã có những ấn phẩm giá trị đã được phát hành, nhất là sách dịch từ tác giả nước ngoài. Xin đan cử một trường hợp tiêu biểu: Tim Marshall và đôi ba tác phẩm của ông:

Công ty Nhã Nam trân trọng giới thiệu: “Tim Marshall, sinh năm 1959, là ký giả người Anh có hơn 25 năm kinh nghiệm về tin tức đối ngoại. Ngoài vai trò ký giả và biên tập viên, Marshall còn là nhà bình luận khách mời về các sự kiện thế giới cho BBC, Sky News. Ông viết sáu cuốn sách, đều là sách bán chạy. Trong đó nổi tiếng nhất là Prisoners of Geography, được liệt vào danh sách New York Times Seller, đã được xuất bản ở Anh, Mỹ, Đức, Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ và Đài Loan.”

Thảo nào mà Những Tù Nhân Của Địa Lý đã được nhiều vị thức giả tìm đọc, và nhiệt tình viết lời giới thiệu:

  • Đặng Tiến Thiều: “Địa chính trị đặc biệt hiệu quả khi được nhìn ở tầm vĩ mô, tức là các quan hệ quốc tế: mỗi quốc gia có những quân bài địa lý riêng, và vị thế của mỗi đất nước sẽ được ấn định theo cách nó chơi những quân bài ấy như thế nào.”
  • Trần Anh Minh: “Đối với Tim Marshall, địa lý không chỉ là thứ giúp chúng ta nhận biết vị trí thế giới, mà nó ảnh hưởng trực tiếp tới cách các quốc gia sử dụng chiến lược chính trị của họ.”
  • Hạ Anh(TCLK) : “Tuy nhiên, dưới con mắt của Tim Marshal ông cho thấy dù thế nào chúng ra vẫn là những tù nhân của địa lý.”
  • Nguyễn Nhật Minh Khôi: “Dĩ nhiên, trong rất nhiều các quốc gia, có những tù nhân muốn thoát gông xiềng, thì cũng có những gã hưởng lợi trời cho từ vị trí địa lý.”

Nhận xét thượng dẫn khiến tôi nhớ đến một bình luận khác, của nhà văn Tạ Duy Anh, về một tác phẩm khác (Quyền Lực Của Địa Lý) của Tim Marsahll:

“Đọc cuốn sách, trong bối cảnh cuộc chiến Nga-Ucraina, trong tình cảnh cuộc cạnh tranh địa chính trị toàn cầu đang vô cùng gay gắt và trong điều kiện cay nghiệt của biến đổi khí hậu, chúng ta sẽ tự có những suy ngẫm hữu ích về lựa chọn nào cho tương lai của con cháu mình, về niềm may mắn được tổ tiên để lại cho một mảnh đất xinh đẹp, trù phú, có đủ cả núi cao, biển rộng làm phên giậu, có những cánh đồng phì nhiêu đẹp đẽ để canh tác dễ dàng…”

Thế hiện nay ai “là kẻ hưởng lợi trời cho từ vị trí địa lý may mắn được tổ tiên để lại” này, và họ đã làm gì với “một mảnh đất xinh đẹp, trù phú, có đủ cả núi cao, biển rộng làm phên giậu, có những cánh đồng phì nhiêu đẹp đẽ …”?

Câu trả lời có thể tìm được qua đôi ba mẩu tin đọc được trên báo chí:

Ủa! Sao kỳ vậy Trời?

Sao “một cường quốc tre” như VN mà phải nhập khẩu cả chục nghìn tấn đũa tre, tăm tre từ Trung Quốc? Sao “mấy ngàn cây số biển xanh mà sao thiếu muối cho canh hàng ngày”?

Dân Việt không phải là tù nhân của địa lý. Họ được thừa hưởng cả một giang sơn xinh tươi, phong phú và giầu đẹp cơ mà. Rõ ràng: họ là những tù nhân chính trị bị giam hãm trong một chế độ lười biếng, ngu tối, tham lam, thối nát, và hèn nhát nên những kẻ nắm quyền không chỉ “hưởng lợi trời cho” bằng cách bán sạch tài nguyên (cùng nhân lực) để ăn mà còn sang nhượng cả lãnh thổ, lãnh hải và biển đảo để đổi lấy quyền lợi cùng sự an thân.

Tưởng Năng Tiến

Đức Giám mục Álvarez bị cầm tù xuất hiện trong cuộc phỏng vấn truyền hình cưỡng chế của chế độ độc tài

Đức Giám mục Álvarez bị cầm tù xuất hiện trong cuộc phỏng vấn truyền hình cưỡng chế của chế độ độc tài

Vị Giám mục người Nicaragua bị cầm tù, Đức Cha Rolando Álvarez, mặc áo xanh lam, bất ngờ xuất hiện trên truyền hình Nicaragua vào ngày 24 tháng 3 năm 2023, hơn 6 tuần lễ sau khi từ chối sống lưu vong và bị kết án 26 năm tù.(Ảnh chụp màn hình OSV News/Canal 4 Nicaragua)

Vị Giám mục người Nicaragua bị cầm tù, Đức Cha Rolando Álvarez, đã bất ngờ xuất hiện trên truyền hình Nicaragua vào ngày 24 tháng 3, hơn 6 tuần lễ sau khi từ chối bị trục xuất khỏi đất nước của mình, thay vào đó chọn cách đối mặt với bản án 26 năm tù.

Xanh xao, hốc hác và mặc bộ đồ màu xanh lam, Đức Giám mục Álvarez đã đoàn tụ với anh chị em của mình trong một bữa ăn tại nhà tù La Modelo, nơi ngài đã bị giam giữ kể từ khi bị kết án một cách vội vàng trong một phiên tòa bí mật về tội âm mưu “phá hoại sự toàn vẹn quốc gia” và truyền bá thông tin sai sự thật.

Sự xuất hiện của Đức Giám mục Álvarez diễn ra sau nhiều tuần lễ các nhà lãnh đạo Công giáo và các nhóm nhân quyền yêu cầu bằng chứng về việc ngài còn sống – với những bức ảnh gần đây nhất của vị Giám chức từ ngày ra tòa ngày 10 tháng Giêng. Trước đó, Đức Giám mục Álvarez đã bị quản thúc tại gia sau khi bị giam giữ trong một cuộc đột kích vào trụ sở Giáo phận của ngài vào tháng 8 năm 2022.

Các phương tiện truyền thông thân thiện với chính phủ chiếu cảnh Đức Giám mục Álvarez dùng bữa với bánh mì cùng với anh chị em của mình, sau đó chuyển sang một cuộc phỏng vấn cưỡng chế với ngài. Đức Giám mục Álvarez được yêu cầu xác nhận rằng ngài đã được “đối xử đàng hoàng tử tế”—điều mà ngài đã xác nhận, mặc dù các tù nhân chính trị khác đã mô tả tình trạng của họ là tồi tệ.

Sau đó, người phỏng vấn nói với Đức Giám mục Álvarez: “Chúng tôi rất vui khi thấy ngài khỏe manh”, vị Giám chức tươi cười trả lời: “Trông tôi thế nào? Khỏe mạnh? Và khuôn mặt của tôi trông thế nào?.

Đức Giám mục Rolando Álvarez bên trong nhà tù “La Modelo”, ngày 25 tháng 3 năm 2023 (Ảnh: CNA)

Mặc đồng phục tù nhân và gầy đi trông thấy, vị Giám chức Nicaragua cũng tạ ơn “Rất Thánh Trinh Nữ Maria vì hôm nay, Thiên thần Truyền Tin cho Đức Mẹ để cùng với Mẹ, Ngôi Lời trở nên xác phàm và ở giữa chúng ta để cứu độ chúng ta, vì vào ngày Lễ Truyền Tin, anh chị em của tôi đã có thể đến thăm tôi”.

“Đức Mẹ bảo vệ chúng ta và luôn bao bọc tất cả chúng ta với cùng một tình mẫu tử”, Đức Giám mục Álvarez kết luận trong video, những lời đầu tiên được ghi lại kể từ khi bị kết án.

Đức Giám mục Rolando Álvarez Địa phận Matagalpa, Nicaragua. | Ảnh: Hội đồng Giám mục Nicaragua (CC BY-SA 4.0)

Hình ĐGM trước khi bị tù đày

Phản ứng của Đức Giám mục Álvarez đã gây ra một cơn bão trên mạng xã hội giữa những người dân Nicaragua — nhiều người trong số họ đã trốn khỏi quốc gia Trung Mỹ này khi chế độ Ortega ngày càng trở nên chuyên chế và đàn áp mọi tiếng nói bất đồng.

“Tôi vô cùng vui mừng khi xem những bức ảnh của Hiền huynh của tôi, Đức Giám mục Rolando. Tôi tạ ơn Chúa vì ngài vẫn còn sống!”, Đức Giám mục phụ tá Silvio José Baez Địa phận Managua, người đang sống lưu vong tại Miami, đăng tweet. “Việc dàn dựng điều này của chế độ độc tài thật ghê tởm và đáng hoài nghi và không xóa bỏ được tội ác của nó. Sức mạnh vủa những lời cầu nguyện của mọi người và áp lực quốc tế đã được tỏ lộ. Hãy trả tự do cho ngài ngay lập tức!”.

Đức Giám mục Baez đã phát biểu trong bài giảng vào ngày 26 tháng 3: “Những ai đã cầm tù và muốn bịt miệng tiếng nói của Đức Cha Rolando, đừng để mình bị lừa dối: các bạn là những tù nhân thực sự, tù nhân của sự dữ, của tham vọng, của sự tàn ác. Hãy di dời tảng đá khỏi cửa nhà tù và trả tự do cho Đức Giám mục Rolando”.

Luật sư người Nicaragua Yader Morazán phát biểu với OSV News rằng chế độ có thể đã xem xét áp lực quốc tế trong việc để cho vị Giám chức xuất hiện, vì các luật sư nhân quyền đang điều tra vụ mất tích cưỡng bức.

Vị luật sư cũng lưu ý rằng trang phục của vị Giám chức không phù hợp với trang phục được trao cho các tù nhân trong nhà tù Nicaragua.

“Chúng ta có thể coi đây là việc lợi dụng hệ thống tư pháp để tuyên truyền chính trị, hiện đã phô bày một người theo cách này”, Morazán, người đã trốn khỏi Nicaragua vào năm 2018 và gần đây đã bị tước quyền công dân, cho biết.

Daniel Ortega và vợ của ông, Phó Tổng thống Rosario Murillo, đã coi các Giám mục Công giáo là “những kẻ khủng bố” và “những kẻ âm mưu đảo chính”, và gần đây đã cắt đứt quan hệ ngoại giao với Vatican. Vatican đã đóng cửa Đại sứ quán của mình ở Managua vào tháng 3 với việc Đại biện lâm thời, Đức Ông Marcel Diouf, đã rời khỏi đất nước.

“Ở đây chúng ta có một Giám mục đang bị cầm tù, một con người cực kỳ nghiêm nghị và rất có năng lực. Ngài muốn làm chứng và không chấp nhận sống lưu vong”, Đức Thánh Cha Phanxicô nói với hãng truyền thông Argentina Infobae ngay trước khi mối quan hệ ngoại giao bị cắt đứt. “Đó là một điều gì đó không phù hợp với thực tế; cứ như thể chúng ta đang quay trở lại chế độ độc tài cộng sản vào năm 1917 hoặc chế độ độc tài Hitler vào năm 1935”.

Nicaragua đã trả tự do cho 222 tù nhân chính trị vào ngày 9 tháng 2, trục xuất họ sang Hoa Kỳ và tước quyền công dân Nicaragua của họ. Đức Giám mục Álvarez đã từ chối lên máy bay và sau đó bị kết tội và kết án 26 năm tù.

Minh Tuệ (theo America)

Miến Điện trở thành thủ phủ của thế giới ngầm Trung Quốc

Theo Nikkei Á Châu,

DOMINIC FAULDER tường trình

MAE SOT, Thái Lan — Thái Lan và Myanmar là những nước láng giềng thân thiện và gần gũi chỉ cách nhau một dải nước, sông Moei, Thành phố Mới Shwe Kokko Yatai đã được hình thành và tuyên truyền như một thành phố tuyệt vời trị giá 15 tỷ đô la của tương lai, được quảng bá như là quá trình phát triển diễn ra tốt đẹp ở bang Karen (Kayin) nơi bị sốt rét và xung đột tàn phá của Myanmar, nơi lực lượng sắc tộc Karen tiếp tục cuộc nổi dậy khốc liệt chống lại chính quyền trung ương bắt đầu từ năm 1948. Thành phố nằm ngay phía bắc Mae Sot của Thái Lan sẽ có “khu công nghiệp khoa học và công nghệ, khu giải trí và du lịch, khu văn hóa dân tộc, khu kinh doanh và hậu cần, và khu nông nghiệp sinh thái”, theo tài liệu quảng cáo.

Shwe Kokko cũng được coi là “Thung lũng Silicon của Myanmar” và là trạm trung chuyển quan trọng dọc theo “Con đường tơ lụa trên biển”, một phần của cây cầu trên đất liền giữa Ấn Độ Dương và Biển Đông.

Thực tế đen tối hơn nhiều. Shwe Kokko là một trung tâm tội phạm nổi tiếng được sử dụng để đánh bạc trực tuyến, lừa đảo và buôn người.

Nhiều khu vực tội phạm ngay lập tức bắt đầu mọc lên về phía nam dọc theo sông Moei vốn nông và quanh co, vào thời điểm khô hạn nhất trong năm có thể đi bộ qua được. Khu vực vô luật pháp này được coi là “mối đe dọa ngày càng tăng đối với an ninh toàn cầu” trong một bài bình luận của Viện Hòa bình Hoa Kỳ (USIP) do các nhà phân tích Priscilla A. Clapp và Jason Tower công bố vào tháng trước.

Một trong nhiều sự phát triển mới nguy hiểm trên sông Moei ở phía nam Myawaddy vào cuối tháng 10. Các tháp di động hướng qua sông từ Thái Lan vào Myanmar, trong khi ở phía sau, một bức tường bê tông cao bao quanh một không gian mở, với bốn tháp canh có thể nhìn thấy rõ ràng. Hầu hết các tòa nhà dường như là để ở.

“Từ tháng 2 năm 2021 đến tháng 3 năm 2022, khi đại dịch [COVID-19] hoành hành khắp khu vực, việc xây dựng các vùng đất mới bùng nổ dọc theo đoạn sông Moei dài 40 km,” Clapp và Tower đưa tin.

“USIP cho đến nay đã xác định được 15 khu vực tội phạm riêng biệt trong khu vực,” họ viết. Các “đặc khu kinh tế-SEZ” đáng ngờ dọc biên giới xốp của Thái Lan với Campuchia, Lào và Myanmar vì chúng thiếu nhà kho và nhà máy có nghĩa là sự phát triển mới sẽ không bao giờ là SEZ đáng tin cậy. Các “khu vực” được USIP xác định tồn tại gần như hoàn toàn để chứa người, bởi một số nguồn tin cho biết nhân viên bị dồn ép vào ở  sáu người trong cùng một phòng.

USIP nhận xét: “Các khu vực giống như thành phố trông giống như các thuộc địa hình sự hơn”. Thật vậy, có thể nhìn thấy rõ những bức tường bê tông cao 4 mét phủ đầy dây thép gai sắc bén. Trong một số trường hợp, các chốt gác được nâng lên cao khiến khu vực giống như các trại tập trung.

Mae Sot thực sự là một thị trấn biên giới có tầm quan trọng to lớn về mặt hậu cần. Nằm trên Quốc lộ Châu Á 1, nó được kết nối qua Moei với Myawaddy của Myanmar bằng Cầu Hữu nghị Thái Lan-Myanmar, hiện vẫn chưa đóng cửa. Một tòa nhà bị hư hại bởi một vụ đánh bom xe lớn vào tháng 4 vẫn còn rõ ràng ở phía Myanmar – bằng chứng về sự bất ổn quốc gia đã khiến hàng chục nghìn người phải di dời. Ngay phía bắc Myawaddy là một cây cầu khác với các trạm kiểm soát hải quan để vận chuyển hàng hóa. Nó mở cửa cho lưu lượng container bất chấp tình trạng bất ổn vũ trang ở Myanmar.

Shwe Kokko, khu phát triển hàng đầu của tập đoàn tội phạm Yatai, nằm trong vùng lân cận của Kawmoora. Các văn phòng của nó ở Shwe Kokko cho thấy mối liên hệ trực tiếp giữa thế giới ngầm Trung Quốc và chế độ Myanmar, mặc dù nó thực sự mang lại bao nhiêu chỉ là suy đoán thuần túy.

Thành phố trải dài 19 km dọc theo sông Moei, với diện tích tổng thể là 120 km vuông. Con số đó sẽ lớn hơn một chút so với Macao, khu vực duy nhất ở Trung Quốc hợp pháp hóa hoạt động đánh bạc, mặc dù Bắc Kinh ngày càng chấp nhận loại hình kinh doanh này.

Việc phong tỏa do COVID-19 và các biện pháp kiểm soát chính thức đối với các sòng bạc mang tính nghiện ngập đã làm giảm doanh thu cờ bạc của Macao vào năm ngoái xuống mức thấp nhất trong thế kỷ này. Các nhà tài trợ sòng bạc đã rời khỏi thuộc địa cũ của Bồ Đào Nha ít nhất là từ năm 2016 đến các vùng lãnh thổ ít bị kiểm soát hơn, chẳng hạn như Sihanoukville và Poipet ở Campuchia, và sau đó là qua biên giới Thái Lan với Lào và Myanmar, tạo ra vô số sòng bạc không được kiểm soát ngoài mọi quy định của pháp luật. Công nghệ và cơ sở hạ tầng cờ bạc trực tuyến cũng đã được sử dụng để lừa đảo, gây ra một “đại dịch lừa đảo” trong khu vực.

Sòng bạc chính của Shwe Kokko lớn hơn hầu hết các cơ sở khác trong vùng. Chủ sòng là  She Zhijiang – hay Dylan She, như tên ông ta thường tự gọi mình – chủ tịch của Yatai International Holding Group. Ông cũng là phó chủ tịch của Liên đoàn Doanh nhân Hoa kiều Trung Quốc.

Theo cổng thông tin Caixin của Trung Quốc, She đã chạy trốn khỏi chính quyền Trung Quốc từ năm 2012. Hắn ta được cho là đã thiết lập các mạng lưới đánh bạc ở Campuchia, Myanmar và Philippines. Kể từ tháng 8, đương sự đã ngồi tù trong phòng giam của Cục Nhập cư Thái Lan để chờ dẫn độ sang Trung Quốc, một thủ tục phức tạp do ông ta có quốc tịch Campuchia. Nhưng sòng bài Yatai vẫn tiếp tục hoạt động đều đặn như bình thường.

Shwe Kokko đang được xây dựng, nhìn từ phía Thái Lan của dòng sông vào tháng Tám. Các nhà báo đến thăm khu vực này có thể nghe thấy những người xây dựng nói bằng tiếng Trung Quốc. (Ảnh của Adam Oswell)

Hộ chiếu Campuchia có thể được mua hợp pháp với giá khoảng 200.000 USD. Các nhà quan sát nghi ngờ rằng một số nghi phạm người Trung Quốc đã đánh cược với sự phản bội của các đồng nghiệp trong các cuộc thanh trừng tội phạm đang diễn ra ở đại lục để được xuất cảnh. Với danh tính được đổi mới, giờ đây họ đang trôi nổi khắp Đông Nam Á với tư cách là những doanh nhân được cho là hợp pháp.

Công viên KK, cách Myawaddy không xa về phía đông nam. Nó có tiếng xấu xa nhất trong số các vùng đất mới. Người Malaysia, Đài Loan và Ấn Độ nằm trong số những người được biết là đã bị buôn bán sang đó để đòi tiền chuộc hoặc lừa đảo trực tuyến để mua lại tự do của họ.

Các bản đồ trên Google mang những lời tố cáo về Công viên KK — đôi khi được gọi là Khu vực KK hoặc Vườn KK — nhiều bằng tiếng Mã Lai và Trung Quốc. Ai đó đã đánh dấu “nhà tù” bằng tiếng Anh trên hai cấu trúc an toàn cạnh nhau với những bức tường bên ngoài không có cửa sổ. Ở trung tâm, hai biệt thự sang trọng đáng kể được bao quanh bởi những bức tường bê tông cao vượt mức thường.

“Kết quả là toàn bộ Moei đã trở thành một dòng sông tội phạm,” Tower nói với Nikkei Asia. “Bạn đang chứng kiến ngày càng nhiều người bị lừa vượt biên, và một khi họ đến đó, họ sẽ bị giữ để đòi tiền chuộc,” ông nói, đồng thời cho biết thêm rằng ngay cả việc trả tiền cũng không đảm bảo cho họ được phóng thích.

“Mặt khác của Moei một cơn ác mộng về quản trị”

Jeremy Douglas, Văn phòng Liên Hợp Quốc về Ma túy và Tội phạm khu vực đại diện tại Bangkok

Một phóng viên người Thái Lan đã đến thăm các sòng bạc ở Myawaddy vào đầu năm 2020, trước khi lệnh phong tỏa do COVID-19 có hiệu lực, đã thấy ở đó đầy những người chia bài và nhân viên chia bài là người Campuchia. Những nhân viên sòng bạc này đã được chuyển đến từ Sihanoukville sau khi chính phủ Campuchia kiểm soát hoạt động đánh bạc trực tuyến vào năm 2019 theo yêu cầu của Bắc Kinh. Anh ta thấy cờ bạc trực tuyến được tiến hành công khai tại các cơ sở này.

Người Malaysia đã trở thành mục tiêu buôn người cụ thể vì họ thông thạo tiếng Quan thoại, điều này rất hữu ích cho việc lừa đảo cộng đồng người Hoa ở nước ngoài rộng lớn hơn miễn là người Trung Quốc đại lục bị khóa ở nhà và không có mặt. Nhiều người Malaysia cũng nói tiếng Anh, mở ra các thị trường khác. Điều này cũng đúng với người Philippines, người Ấn Độ và người châu Phi. Hầu hết bị thu hút bởi những quảng cáo sai sự thật về việc làm béo bở.

Sông Moei, phía bắc Myawaddy, nhìn về phía nam. Khu vực này là một trong những phần hoang dã nhất và ít được ghé thăm nhất của Thái Lan.

USIP suy đoán rằng hơn 100.000 công dân nước ngoài có thể bị mắc kẹt bên trong Myanmar, chủ yếu dọc theo Moei. Một nhà ngoại giao Đông Nam Á theo dõi tình hình từ Bangkok đã không thể tin được rằng con số có thể cao đến vậy. Tuy nhiên, nhiều người Malaysia đã vùng thoát tìm cách hồi hương sau khi bị buôn lậu đến biên giới Myanmar.

Một người Malaysia trốn thoát qua Mae Sot sau khi nhảy ra khỏi cửa sổ tầng ba tuyên bố đã nhìn thấy hàng nghìn đồng hương trong các tòa nhà khác nhau. Một luật sư Thái Lan làm việc tại đồn cảnh sát chính của Mae Sot nói với Nikkei rằng ông đã xử lý hai cậu bé Malaysia mới có 15 tuổi bị Cục Nhập cư Thái Lan trục xuất về nước.

Vào tháng 4, Ekapop Lueangprasert, một người Thái Lan tốt bụng, người điều hành mạng lưới Survive độc lập chuyên giải cứu các nạn nhân bị buôn bán, đã giới thiệu một phụ nữ 25 tuổi cải trang kỹ càng với báo chí. Cô đã bị lừa với một lời mời làm việc giả mạo để vượt qua biên giới ở Myawaddy và bị ép làm gái mại dâm. Cô đã trốn thoát được, nhưng ước tính có ít nhất 300 phụ nữ Thái Lan vẫn bị giam cầm.

Ekapop Lueangprasert, một người Thái Lan tốt bụng, đã giải cứu hơn 100 người bị buôn bán qua biên giới đất nước, bao gồm cả những phụ nữ bị ép làm gái mại dâm dọc sông Moei quanh Myawaddy. (Ảnh của Dominic Faulder)

Jeremy Douglas, đại diện khu vực tại Bangkok của Văn phòng Liên Hợp Quốc về Ma túy và Tội phạm, nói với Nikkei: “Việc giúp đỡ những người bị mắc kẹt này gần như là không thể. “Mặt khác của Moei nó giống như là một hành tinh khác. Tình hình ở đây là một cơn ác mộng về quản trị — nó nằm ngoài tầm kiểm soát.”

Douglas đang kêu gọi các biện pháp cứng rắn. “Bọn tội phạm nên bị cắt điện và viễn thông cũng như các cơ sở sòng bạc và nơi tổ chức các trò chơi gian lận của chúng nằm rải rác dọc biên giới. Nếu không thì chúng ta không thể xử lý chúng được”, ông nói. “Và chúng tôi cũng khuyên bạn đọc nên điều tra nguồn gốc các truy cập ngay từ đầu (trước khi chơi các trò may rủi trực tuyến).”

Báo cáo bổ sung của Pak Yiu.

Phan Sinh Trần 

Mới hôm qua thôi-ĐỖ HỒNG NGỌC

Năm 1993, tháng 12, mùa tuyết trắng xóa ở Canada, tôi có dịp đến thăm một Nursing home ở Montreal, bên cạnh dòng sông Saint Lawrence. Canada là nơi có chế độ chăm sóc người già rất tốt, có thể nói nhất thế giới, thế nhưng lòng tôi nặng trĩu khi nhìn thấy những kiếp người, mà ngoài kia Như-lai vẫn “như như bất động”… vẫn tuyết rơi trắng xóa, vẫn dòng dòng mênh mông… Tôi viết mấy câu – thực ra, chỉ là một “ghi chép lang thang” những điều mắt thấy tai nghe giữa lạnh lùng băng giá hôm đó bên dòng sông tuyết trắng… “Trong một nhà giữ lão ở Montreal”.

Trong một nhà giữ lão ở Montreal

Họ ngồi đó

Bên nhau

Đàn ông

Đàn bà

Không nhìn

Không nói

Họ ngồi đó

Gục đầu

Nín lặng

Ngửa cổ

Giật nhẹ tay chân

Có người

Trên chiếc xe lăn

Chạy vòng vòng

Có người

Trên chiếc xe lăn

Bất động

Họ ngồi đó

Hói đầu

Bạc trắng

Móm sọm

Nhăn nheo

Mới hôm qua thôi

Nào vương

Nào tướng

Nào tài tử

Nào giai nhân

Ngựa xe

Võng lọng

Mới hôm qua thôi

Nào lọc lừa

Nào thủ đoạn

Khoác lác

Huênh hoang

Mới hôm qua thôi

Nào galant

Nào qúy phái

Nói nói

Cười cười

Ghen tuông

Hờn giận

Họ ngồi đó

Không nói năng

Không nghe ngóng

Gục đầu

Ngửa cổ

Móm sọm

Nhăn nheo

Ngoài kia

Tuyết bay

Trắng xóa

Ngoài kia

Dòng sông

Mênh mông

Mênh mông…

Đỗ Hồng Ngọc (Montréal, 1993).

MỚI HÔM QUA THÔI – Nhạc Võ Tá Hân – Thơ Đỗ Hồng Ngọc – Ca sĩ Ngọc Quy

Tòa Giám mục Kon Tum lên án hành vi phạm Thánh của cán bộ xã

RFA

27-03-2023

Linh mục Phanxico Xavie Lê Tiên đang dâng lễ bị cán bộ xã, công an và dân quân tự vệ … ngăn trở, xúc phạm.

conggiao.vn

Tòa Giám mục Kon Tum vào ngày 27/3 ra thông báo lên án hành vi phạm Thánh của một số cán bộ xã Đắk Nông, huyện Ngọc Hồi.

Thông cáo đề ngày 27/3 do Linh mục Chánh văn phòng Tòa Giám mục Phê rô Lê Văn Hùng ký gửi đến chính quyền Kon Tum và huyện Ngọc Hồi.

Thông báo nhắc lại vụ việc xảy ra vào lúc 18 giờ 15 phút ngày 22 tháng 3 vừa qua tại nhà nguyện Giáo họ Phao lô thuộc Giáo xứ Đắk Giấc, xã Đắk Nông, huyện Ngọc Hồi tỉnh Kontum.

Như tin RFA loan hôm 24/3, chính quyền xã Đắk Nông (huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum) tiếp tục ngăn cản linh mục và giáo dân thuộc giáo họ Phaolo thực hiện nghi lễ trong tuần thứ ba liên tiếp trong nỗ lực ngăn chặn việc sinh hoạt tôn giáo của 20 gia đình trong giáo họ này.

Theo một số video giáo dân cung cấp, khi thánh lễ do linh mục Phanxico Xavie Lê Tiên đang tiến hành tại nhà nguyện của giáo họ, công an và dân quân tự vệ cùng một số người mặc thường phục đến vây quanh vị tu sĩ. Trong một video, người đàn ông mặc thường phục tự xưng tên là Thạch – Phó Chủ tịch xã Đắk Nông chỉ ngón tay vào vị linh mục và chất vấn “ông này là ai” và yêu cầu dừng làm lễ để lên Uỷ ban Nhân dân xã làm việc. Tuy nhiên, vị linh mục tiếp tục thực hiện nghi lễ của mình.

Sau đó, một phụ nữ, được giáo dân xác định là một phó chủ tịch xã, tiến đến bàn thờ tế lễ tự ý gấp cuốn kinh thánh mà linh mục đang đọc ôm vào người và bỏ đi nhưng bị giáo dân phản đối. Một người mặc thường phục khác tắt đèn của nhà nguyện trong tiếng đọc kinh của giáo dân.

Thông báo của Tòa Giám mục Kon Tum ngày 27/3 nêu rõ việc làm đó đã gây bức xúc và làm tổn thương anh chị em giáo họ Phao lô, cũng như đối với các linh mục, giáo dân trong và ngoài giáo phận Kon Tum.

Tòa Giám mục Kon Tum kiến nghị chính quyền sớm công nhận Nhà nguyện của giáo họ Phao lô và các nhà nguyện khác trong các buôn làng thuộc địa bàn tỉnh Kon Tum.