Mất tập trung, chạy quá tốc độ và say rượu lái xe góp phần vào số ca tử vong do giao thông cao nhất trong 16 năm qua

NPR TV

Nhân viên cấp cứu làm việc tại hiện trường vụ tai nạn xe hơi chết người vào tháng 8/2021 ở Tulsa, Okla. Gần 43.000 người đã chết trong các vụ tai nạn giao thông ở Mỹ vào năm 2021, với số người chết do chạy quá tốc độ và lái xe bị suy yếu hoặc mất tập trung đang gia tăng.

Michael Noble Jr. / Tulsa World thông qua AP

DETROIT – Gần 43.000 người đã chết trong các vụ tai nạn giao thông ở Mỹ vào năm 2021, con số cao nhất trong 16 năm với số người chết do chạy quá tốc độ và lái xe trong tình trạng không tỉnh táo hoặc mất tập trung đang gia tăng.

Số liệu cuối cùng năm 2021, do Cục Quản lý An toàn Giao thông Đường cao tốc Quốc gia công bố hôm thứ Hai, đã xác nhận các ước tính trước đó của cơ quan này cho thấy số người chết tăng 10,5% so với năm 2020. Đây là con số cao nhất kể từ năm 2005 và là mức tăng phần trăm lớn nhất kể từ năm 1975.

Dữ liệu cho thấy sự gia tăng 12% trong các vụ tai nạn chết người liên quan đến ít nhất một tài xế mất tập trung, với 3.522 người thiệt mạng. Điều đó đã thúc đẩy cơ quan này khởi động một chiến dịch quảng cáo trị giá 5 triệu đô la trong nỗ lực giữ cho các tài xế tập trung trên đường. Các quan chức cơ quan cho biết những trường hợp như vậy có thể không được cảnh sát báo cáo.

Lái xe mất tập trung: Tất cả chúng ta đều có tội, vậy chúng ta nên làm gì với nó?

Số người đi bộ thiệt mạng tăng 13% và tử vong do đi xe đạp tăng 2% trong năm. Số hành khách không thắt dây an toàn thiệt mạng tăng 8,1%, trong khi tử vong liên quan đến lái xe có nồng độ cồn tăng 14%.

Tử vong liên quan đến chạy quá tốc độ tăng 7,9%, trong khi tử vong do tai nạn liên quan đến xe tải lớn nặng hơn 10.000 pound tăng 17%.

Tại một cuộc họp báo hôm thứ Hai ở Seattle, NHTSA tập trung vào các trường hợp tử vong do lái xe mất tập trung, mà các diễn giả cho biết hoàn toàn có thể ngăn ngừa được nếu mọi người ngừng sử dụng điện thoại di động, ăn uống hoặc làm những việc khác làm chuyển hướng sự chú ý khỏi đường.

“Hãy nhớ rằng chỉ mất một chút thời gian để thay đổi cuộc sống của bạn mãi mãi”, Sophie Shulman, phó quản trị viên NHTSA nói.

Thông điệp của nhà tài trợ

Steve Kiefer, một giám đốc điều hành General Motors đã nghỉ hưu có con trai, Mitchel, đã thiệt mạng trong một vụ tai nạn lái xe mất tập trung năm 2016, cho biết điện thoại di động là nguyên nhân chính gây mất tập trung. Nhưng công nghệ có sẵn để ngăn chặn nó bao gồm các chế độ “không làm phiền”, cũng như các ứng dụng và hệ thống trong xe theo dõi người lái xe để đảm bảo họ chú ý.

“Tất cả công nghệ này đều có sẵn ngày hôm nay, và không có lý do gì chúng ta không thể sử dụng nó và triển khai nó một cách nhanh chóng”, Kiefer nói.

Thanh thiếu niên nói rằng họ thay quần áo và làm bài tập về nhà trong khi lái xe

Những cái chết do lái xe mất tập trung có liên quan đến chứng nghiện điện thoại di động của Mỹ, Kiefer, người bắt đầu một nền tảng với mục tiêu chấm dứt lái xe mất tập trung, cho biết. Ông cho biết 90% mọi người nhận thức được sự nguy hiểm của việc lái xe mất tập trung, nhưng 80% thừa nhận đã làm điều đó. Tại 25 tiểu bang có luật chống sử dụng điện thoại di động cầm tay, tử vong do giao thông, tai nạn và tỷ lệ bảo hiểm đã giảm, ông nói.

“Chúng tôi tin rằng luật pháp sẽ thay đổi hành vi”, Kiefer nói.

Mitchel Kiefer đang lái xe từ nhà đến Đại học Bang Michigan trên Xa lộ Liên tiểu bang 96 khi giao thông chậm lại và xe của anh ta bị một tài xế đâm từ phía sau vì bị phân tâm bởi điện thoại của cô, Kiefer nói. Chiếc xe của anh ta bị hất văng qua dải phân cách và lao                                                       vào dòng xe ngược chiều đang chạy nhanh, nơi anh ta bị giết chết ngay lập tức

Phan Sinh Trần         

CHUYỆN VỀ CÔ GIÁO PHA TRONG MÙA LỮA ĐẠN 1972

Cô Giáo Pha dạy ở Trường Tiểu Học Thị Xã Bình Long. Trong trận tấn công của quân bắc việt vào thị trấn An Lộc nàm 1972, đã làm Cô Pha trúng đạn pháo kích bị thương ở chân, không di chuyển được. Các anh Biệt Cách Dù đã đưa Cô về Trạm Xá Dã Chiến ở cạnh Bộ Chỉ Huy chăm sóc.

Khi thương tích đã bớt, đi lại được bằng đôi nạng gỗ do các Chiến Sĩ Biệt Cách Dù tự chế, hằng ngày cô nhìn qua cửa sổ, thấy các chiến sĩ an táng các tử sĩ VNCH dưới làn mưa đạn, mịt mù khói lửa đang cặm cụi chôn cất, đắp mộ, dựng bia cho các đồng đội mình đã hy sinh.

Xúc cảm trước những tử vong cao cả này và với lòng cảm mến, đội ơn sâu xa của một người dân với Quân Đội VNCH nói chung và Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù nói riêng, cô đã sáng tác hai câu thơ:

” An Lộc Địa Sử Ghi Chiến Tích

Biệt Kích Dù Vị Quốc Vong Thân “

Cũng chính từ hai câu thơ đó mà cả nước biết đến danh xưng một đơn vị thiện chiến của QL.VNCH, đó là Lực Lượng Biệt-Kích-Dù 81. Với 2 câu thơ này, đã khiến cho hàng triệu người miền nam phải nhỏ lệ khóc cho 68 chiến sĩ mũ xanh đã nằm xuống nơi mặt trận Bình Long-An Lộc năm 1972. Hai câu thơ của cô đã làm thổn thức biết bao chàng trai Biệt Kích Dù năm xưa., tên tuổi của cô cũng đi vào quân sử VNCH. Bài thơ của người con gái Bình Long có cái tên mộc mạc giản dị cũng đã đi vào huyền thoại từ 1972 đến nay.

Cô giáo Pha còn có một bài thơ khác để lại trên tấm bia trước nghĩa trang Biệt Cách 81 Dù tại An Lộc, cô viết tặng cho binh chủng kiêu hùng này của QLVNCH.

Gửi anh người lính trận

“Anh Biệt Kích hề ngàn xưa bất hứa

Em thục nữ hề trong trắng ngoài xinh

Ta quen nhau hề Lý Bạch lưu linh

Khi chợt tỉnh hề khối tình trong mộng

Em chỉ muốn hề thương chàng qua bóng

Để rồi mơ hề rồi mộng rồi mơ

Biệt Kích ơi hề tâm ý thành thơ

Xin gửi đó hề chừ thương nhớ mãi”.

(Cô giáo Pha)

An Lộc tỉnh lỵ của Bình Long là cửa ngõ phía Tây Bắc và chỉ cách Thủ đô VNCH hơn 100 km. Từ Saigon đi Thủ Dầu Một rồi theo Quốc Lộ 13 sẽ đến An Lộc.

Đầu tháng 4/1972 sau khi chiếm được quận Lộc Ninh, 40.000 quân cộng sản tiến về bao vây thị xã An Lộc.

Thời điểm đó, tại Hội đàm Paris, Bà Nguyễn Thị Bình tuyên bố trong vòng 10 ngày An Lộc sẽ là Thủ đô của Mặt trận Giải phóng, điều này đã không xảy ra. Những trận đánh ác liệt với quân số áp đảo có xe tăng và pháo binh yểm trợ với 7 trận tấn công quyết thắng, nhưng Bắc quân vẫn không chiếm được An Lộc.

An Lộc cũng là câu chuyện về cuộc vây hãm, 40.000 quân cộng sản với xe tăng pháo binh để cố gắng vùi dập một thị xã diện tích 4 km2.

Lực lượng VNCH tử thủ An Lộc chỉ với 6.350 quân, chủ lực là Sư Đoàn 5 BB với tướng Tư lệnh mặt trận Lê Văn Hưng, cùng Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân, hai tiểu đoàn của SĐ 18 và Địa Phương Quân Tiểu Khu Bình Long. Ở ngày phong tỏa thứ 10, phía VNCH sau đã tăng viện thêm cho An Lộc 20.000 quân, như các Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù và Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù…. Các đơn vị này được trực thăng vận ngay trong vòng vây và vào được An Lộc.

Kể từ ngày 9 Tháng Sáu, các lực lượng VNCH, trong đó có Thiết Giáp, đã thành công khai thông được quốc lộ 13 trên đường tiến vào An Lộc, thổi một luồng sinh khí mới cho quân trú phòng sau gần hai tháng trời bị địch quân tấn công và bao vây nghiệt ngã. Viện quân VNCH đã dần dần chiếm lại nhiều khu vực rộng lớn chung quanh con lộ huyết mạch này để nới rộng phạm vi kiểm soát lãnh thổ tại Bình Long sau những đợt tấn công dữ dội của Cộng Quân vào những ngày đầu của Mùa Hè Đỏ Lửa. Và cho tới ngày 18 Tháng Sáu, chiến cuộc tại Bình Long coi như kết thúc.

Vào ngày 7 Tháng Bảy, 1972, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bay vào An Lộc để gắn huy chương cho Tướng Tư Lệnh Lê Văn Hưng và Đại Tá Tỉnh Trưởng Bình Long Trần Văn Nhựt cùng các chiến sĩ hữu công đã anh dũng đẩy lùi các đợt tấn công của lực lượng Cộng Sản Bắc Việt vào An Lộc và bảo toàn lãnh thổ Tiểu Khu Bình Long.

Khi QL.VNCH đã đánh bật cộng sản ra khỏi Bình Long, tổng kết sự thiệt haị phía VNCH có 8.000 thương vong, riêng tại Thị xã An Lộc là 2.300 binh sĩ. Theo nguồn tin Hoa Kỳ, tổn thất về phía lực lượng cộng sản Bắc Việt gồm có 27 xe tăng bị bắn hạ ngay trong thị xã An Lộc, 10.000 binh sĩ chết 15.000 bị thương, tổn thất nhân mạng lớn là vì bị bom B52. Tuy vậy, phía cộng sản chỉ nhìn nhận 2.000 bộ đội chết và 5.000 người bị thương. Tổn thất của thường dân vào khoảng hơn 10.000 thương vong.

Trịnh Khánh Tuấn

17.3.2023.

From: Tu-Phung

LỖI CHÍNH TẢ – Đỗ Duy Ngọc

 Đỗ Duy Ngọc

Không biết vì sao mà bây giờ người viết sai chính tả nhiều quá. Có thể là ngày nay, mạng xã hội, Facebook phổ biến nên người ta viết nhiều, sử dụng nhiều nên mới lộ ra việc viết sai chính tả chăng ? 

 Cũng có thể nhà trường hiện nay không chú trọng việc dạy viết đúng chính tả cho học sinh ? Cũng có thể bây giờ người ta ít đọc sách, bởi đọc sách cũng là một cách rèn luyện viết chính tả cho đúng ? Mà cũng có thể thời hiện đại người ta phát âm sao thì viết ra vậy nên chữ nghĩa ngọng nghịu là lẽ đương nhiên ? Và cũng có thể vì tất cả những lý do ấy.

 Chỉ cần lướt các bài viết và comment ở trên mạng, ta có thể tìm thấy vô vàn lỗi chính tả. Lỗi nhẹ thường thấy là sai hỏi ngã. Lỗi này thì quá phổ biến, đến độ người ta có thể bỏ qua. Cũng thường thấy là viết như người ngọng nói. Ngày trước, người Việt thường lấy giọng Hà Nội làm tiêu chuẩn, giọng Bắc là giọng chuẩn, điều ấy chưa hẳn đã đúng nhưng cũng tạm chấp nhận. Lúc đấy người nói chớt, nói ngọng theo cách nói của địa phương thường là người già, là nông dân. Người có chút học vấn sẽ tránh nói theo kiểu ấy. Nhưng bây giờ thì khác rồi, người Bắc nói chớt, nói ngọng nhiều quá và đem cái chớt, cái ngọng ấy vào bài viết, nói sao viết vậy.

  Trân trọng viết là chân chọng. Trả treo viết là chả cheo. Cho nên viết là cho lên. Lịch sử viết là lịch xử… nhiều lắm kể không hết. Cứ tưởng người ít học thì viết sai nhiều lỗi chính tả, nhưng không phải thế. Học sinh cấp 3, sinh viên Đại học cho đến giáo viên, Cử nhân, Thạc sĩ, Tiến sĩ cũng viết sai chính tả tùm lum. Các nhà lãnh đạo cũng mắc không ít lỗi chính tả khi viết. Ngay đến giáo viên dạy môn Văn trong các trường học cũng viết sai chính tả. Nhà văn, nhà thơ, nhà báo cũng đầy lỗi chính tả.

 Ngày xưa, sách, báo là nơi để người ta tìm thấy sự chính xác trong câu văn, trong từ ngữ sử dụng và cũng là nơi tin cậy về chính tả. Ngày nay không còn thế nữa, sách đầy lỗi, báo viết sai tè le, ngay cả sách giáo khoa dạy cho trẻ con của một ông Giáo sư Tiến sĩ tự vỗ ngực là người có trình độ cao nhất thế giới cũng viết con dơi thành con rơi. Đành thua.

 Một bài văn hay, một bài báo tốt, một câu comment thú vị mà nhiều lỗi chính tả thì bài văn ấy, câu comment ấy giảm biết bao giá trị. Nhiều khi cứ tự nghĩ không biết giờ trong nhà trường ở môn Tiếng Việt, môn Văn học, người ta dạy học trò những gì nhỉ ? Còn nhớ cách đây hơn 60 năm, thời tôi còn là cậu bé con đi học tiểu học môn dictée tức chính tả là môn học quan trọng, thầy cô rất chú trọng môn này và dần cho nát xương đứa nào viết sai nhiều lỗi cho nên trò nào cũng cố gắng Une dictée sans fautes, một bài chính tả không có lỗi. Có lẽ nhờ thế mà thế hệ chúng tôi viết bài ít lỗi hơn bây giờ chăng? Tuy vậy, giờ có tuổi, lẩn thẩn rổi, trong khi viết mà gặp một từ nào hơi hồ nghi, tôi liền tra tự điển hoặc vào Google đánh chữ đấy tìm xem để có sự chính xác. Tôi nghĩ viết cho đúng chính tả cũng không khó. Nếu để ý trong lúc viết, kiên trì rèn luyện thì việc viết sai chính tả sẽ vượt qua được thôi.

 Cứ đà này, chữ Việt thành một mớ hỗn độn của người bệnh ngọng. Đôi lúc cứ đọc thấy lỗi, lòng lại buồn và lo cho thế hệ sau.

Đỗ Duy Ngọc

Bệnh viện quốc tế 50 triệu đô chỉ còn là phế tích giữa lòng Hà Nội

Báo Viet Nam net

Thạch Thảo

Sau hơn hai thập kỷ bị bỏ hoang, Bệnh viện quốc tế Hoa Kỳ với mức đầu tư 50 triệu USD ở Hà Nội giờ chỉ còn là phế tích, rác thải chất đầy xung quanh .

Bệnh viện quốc tế Hoa Kỳ Hà Nội tại số 9 phố Chùa Hà, quận Cầu Giấy (Hà Nội) được Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp giấy phép đầu tư số 181/GP ngày 20/1/1997. Dự án do Tập đoàn Keystone Invest làm chủ đầu tư với tổng số vốn 50 triệu USD (tương đương hơn 1.100 tỷ đồng).

Năm 2001, UBND Thành phố Hà Nội đã ra quyết định thu hồi 9.998m2 đất tại phường Nghĩa Tân, phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy (Hà Nội) và cho phép bệnh viện này thuê 8.540m2, quản lý 1.458m2 trong thời hạn 40 năm.

Do vướng khâu giải phóng mặt bằng, năm 2006 dự án mới được khởi công xây dựng. Tuy nhiên, đến nay bệnh viện này vẫn chưa thể hoàn thiện, bị bỏ hoang kéo dài hai thập kỷ và nay trở thành tàn tích.

Công trình có tổng diện tích sàn xây dựng 27.000m2 với quy mô 300 giường, từng được kỳ vọng góp phần giải quyết tình trạng quá tải ở các bệnh viện trong thành phố.

Tất cả hạng mục công trình bị bỏ hoang, đã xuống cấp, hỏng hóc. Từ lâu nơi đây đã không còn dấu hiệu của việc thi công.

Xung quanh hàng rào là điểm tập kết rác thải của những người quanh vùng.

From: Phan Sinh Trần gởi

Việt Nam đối diện “thập kỷ mất mát” theo tâm thế nào?

Tổng hợp báo lề phải

“Một cơn bạo bệnh”

“Tuần trước, tôi có gặp 40 doanh nghiệp trong ngành xây dựng. Họ nói thành phố này không có gì để làm cả. Mọi thứ đang đứng yên tại chỗ. TP.HCM cần nhìn thẳng các vấn đề cốt tử này”.

Đây là cảnh báo rất thẳng thắn và không kém phần gay gắt của tiến sỹ Trần Du Lịch tại phiên họp về tình hình kinh tế – xã hội quý I/2023 do UBND TP.HCM tổ chức cuối tuần trước.

Đầu tàu tầu kinh tế TPHCM đã hụt hơi khi tốc độ tăng trưởng chỉ đạt 0,7% trong quý I, xếp thứ thứ 56/63 địa phương và thấp nhất trong 5 thành phố trực thuộc Trung ương. Hàng loạt các chỉ tiêu thống kê đều suy giảm nghiêm trọng.

Ông Trần Du Lịch nói như vậy sau khi phân tích, giải ngân đầu tư công chỉ 2% là “đáng buồn”, sức mua của thị trường ở TP.HCM thấp hơn trung bình cả nước là “chưa bao giờ xảy ra” và cam kết tháo gỡ điểm nghẽn thể chế “không được thực hiện”.

Đây là điều làm hai lãnh đạo cao nhất của TP.HCM đầy ưu tư. Bí thư Nguyễn Văn Nên được báo chí trích dẫn nói rằng, khó khăn về kinh tế của TP.HCM như “một cơn bạo bệnh” và đặt câu hỏi toàn thành phố, sở, ngành đã đủ quyết tâm, thực hiện đúng theo phác đồ để chữa trị cơn bệnh này chưa?

Ông Lịch cho rằng, qua phân tích có nguyên nhân khách quan, Quý 4/2022 là thời điểm phục hồi “như lò xo” sau đại dịch, và rất không may cho nền kinh tế Việt Nam là trong Quý 4 có hai tác động lớn, bên ngoài là biến động thị trường tài chính thế giới, bên trong việc chấn chỉnh thị trưởng bất động sản và thị trường tài chính. TP.HCM là địa bàn bị tác động mạnh nhất trong cả nước bởi 2 yếu tố này.

Báo Tuổi Trẻ nói, “Hiếm cuộc họp kinh tế – xã hội nào có nhiều trăn trở, ý kiến mổ xẻ tìm nguyên nhân, đề xuất giải pháp nhằm vực dậy kinh tế TP.HCM như cuộc họp ngày 1-4”.

Báo cáo từ Cục Thống kê TP.HCM cho thấy quý 1/2023, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của thành phố ước đạt 360.622,1 tỉ đồng tính theo giá hiện hành. Tính theo giá so sánh năm 2010 đạt 246.931,2 tỉ đồng, tăng 0,70% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng khá thấp khi so với tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt 3,32%. Đáng chú ý, tốc độ tăng trưởng kinh tế của TP đứng thứ 56/63 địa phương và thấp nhất trong 5 TP trực thuộc T.Ư gồm Hải Phòng (tăng 9,65%), Đà Nẵng (7,12%), Hà Nội (5,8%) và Cần Thơ (4,02%).

Xem trên Youtube ta thấy cảnh chợ chiều vắng người ở các chợ, các khu phố tây như chợ An Đông, phố Bùi Viện ở Sài Gòn, điểm đặc biệt là tình trạng tiểu thương trả lại mặt bằng vì kinh doanh ế ẩm không chỉ xảy ra ở các chợ đầu mối mà cả ở các khu vực kinh doanh trung tâm trên đường Lê thánh Tôn, Lê Lợi, Nguyễn tri Phương, Trần quốc Toản. Hậu quả tất nhiên, đã có bảng bán nhà, cho thuê mặt bằng nhan nhản khắp nơi. Youtuber nói, có những con phố cứ 2,3 căn thì có một căn dán bảng cần cho thuê hay bán nhà. Có nhiều khách sạn lớn nhỏ rao bán kể cả khách sạn dát vàng nổi tiếng ở Hà Nội.

Bắc Ninh âm sâu nhất

Thử tìm hiểu tình hình ở tỉnh Bắc Ninh, tỉnh có tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh – GRDP sụt giảm nhiều nhất trong toàn quốc (-11,85%).

Động lực kinh tế của Bắc Ninh trong nhiều năm nay là khu vực FDI, khu vực doanh nghiệp trong nước nhỏ bé và rất manh mún. Khi khu vực FDI gặp trục trặc dẫn đến tình trạng nhiều doanh nghiệp của tỉnh bị cắt giảm đơn hàng hoặc đơn hàng lẻ tẻ nên buộc phải thu hẹp quy mô sản xuất. Tình trạng doanh nghiệp giải thể, người lao động buộc phải nghỉ việc hoặc giảm giờ làm đã xảy ra phổ biến ở nhiều doanh nghiệp.

Tăng trưởng quý I của Bắc Ninh giảm sâu chủ yếu do khu vực công nghiệp sụt giảm. Các ngành này tăng trưởng âm, thậm chí âm rất nhiều như ngành sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học.

Có 18/23 sản phẩm chủ yếu của tỉnh bị sụt giảm so với cùng kỳ năm trước, trong đó 100% các sản phẩm trọng điểm đều giảm, giảm nhiều nhất là sản phẩm máy in-copy, in bằng công nghệ in phun có kết nối (-46,6%); tiếp theo là pin điện thoại các loại (-30,47%); đồng hồ thông minh (-29,95%). Đặc biệt, ngành sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học sụt giảm nhiều (-35,93%).

Các động lực tăng trưởng đều hụt hơi

Ở bình diện toàn quốc, tăng trưởng kinh tế trong quý I là 3,32% là mức tăng trưởng thấp nhất của quý 1 kể từ năm 2011, chỉ cao hơn Quý 1/2020, là quý đầu tiên chịu tác động phong toả bởi Covid-19.

Tình hình doanh nghiệp quý I cũng biến động bất thường. Số doanh nghiệp rút khỏi thị trường cao kỷ lục, khoảng 100 nghìn, cao hơn số gia nhập thị trường. Hiện tượng này lần đầu tiên xảy ra ở nước ta tính theo quý. Thực trạng doanh nghiệp nói chung có thể còn khó khăn hơn con số rút khỏi thị trường đã công bố.

Đầu tư tư nhân chất lượng thấp và đang giảm sút; đầu tư FDI lần đầu tiên giảm cả về số thực hiện và đăng ký mới; trong đó số đăng ký mới giảm gần 40%, là mức giảm sâu nhất kể từ 2011.

Các động lực tăng trưởng khác như sản xuất công nghiệp, xuất khẩu đang tiếp tục suy giảm, khó có thể phục hồi nhanh và mạnh trong thời gian tới.

Đối diện với “thập kỷ mất mát”

Bên cạnh đó, tình hình kinh tế thế giới cũng chưa được cải thiện trong năm nay. Theo dự báo, thì năm 2024 tăng trưởng ở các nền kinh tế phát triển có phục hồi nhưng chưa bằng một nửa so với năm 2022. Thậm chí, Ngân hàng Thế giới đưa ra cảnh báo là giai đoạn 2021-2030 là “thập kỷ mất mát của kinh tế toàn cầu”; tăng trưởng kinh tế thế giới chậm và thấp; ngay cả kinh tế Trung Quốc cũng dự báo tăng trưởng 3-3,5%. Điều này sẽ tác động bất lợi đến kinh tế Việt Nam

Phan Sinh Trần 

Tại sao Ngân hàng Thung lũng Silicon (SVB) thất bại?

Prarthana Prakash

Finance.yahoo

Kể từ khi Ngân hàng Thung lũng Silicon sụp đổ, các chuyên gia và người theo dõi thị trường đã công khai lo lắng rằng sự sụp đổ của tổ chức đó, cùng với Ngân hàng Shingature và Ngân hàng Silvergate, có thể dẫn đến một sự lây lan lan sang phần còn lại của lĩnh vực tài chính.

Nhưng Giám đốc điều hành của một nhóm cổ phần tư nhân hàng đầu không nghĩ rằng điều đó sẽ xảy ra vì sự điên cuồng dựa trên công nghệ cụ thể xung quanh SVB.

 Giám đốc điều hành Blackstone Steve Schwarzman cho biết trong một cuộc phỏng vấn với Bloomberg tại Tokyo hôm thứ Năm: “Cuộc khủng hoảng này là do những người sử dụng iPhone và các thiết bị khác gây ra, nghe thấy trên mạng xã hội rằng một số ngân hàng có thể gặp rắc rối. “Họ đã phản ứng bằng những khoản rút tiền khổng lồ trong một khoảng thời gian rất ngắn, làm sụp đổ ngân hàng.”

Schwarzman, người có công ty quản lý tài sản trị giá 975 tỷ đô la, nói thêm rằng tình trạng hỗn loạn ngân hàng hiện tại không giống như một “cuộc khủng hoảng thông thường”. Trong trường hợp của SVB, thay vì nắm giữ các tài sản rủi ro, họ lại mất cân bằng các tài sản trái phiếu rất an toàn, đáo hạn trong thời gian dài hơn. Khi Fed tăng lãi suất, giá trị của những trái phiếu đó giảm xuống, nhưng sẽ được hoàn trả kịp thời nếu không phải vì ngân hàng rút tiền.

“Chúng tôi chỉ gặp vấn đề tạm thời với lãi suất tăng và chúng tôi gặp vấn đề về tiền gửi do công nghệ gây ra. Và đây là cả hai vấn đề có thể giải quyết được đối với số lượng lớn các ngân hàng,” Schwarzman nói.

Tuy nhiên, tỷ phú cho biết điều quan trọng là các ngân hàng và tổ chức tài chính phải hiểu được cuộc khủng hoảng có thể ảnh hưởng đến họ như thế nào. Schwarzman nói: “Điều quan trọng là phải hiểu rằng rủi ro thực sự chỉ xảy ra với hệ thống ngân hàng do các khoản tiền gửi và hầu như không liên quan gì đến các loại tổ chức tài chính khác không có yêu cầu cung cấp tiền cho mọi người ngay lập tức”. Các đại diện tại Blackstone từ chối bình luận thêm với Fortune về nhận xét của Schwarzman.

Nguồn:

One of the world’s richest men knows why Silicon Valley Bank really failed: ‘People on iPhones’  

TẠI SAO BẰNG ĐẠI HỌC CỦA MIỀN NAM VIỆT NAM CÓ GIÁ TRỊ Ở HƠN 60 QUỐC GIA TRÊN KHẮP THẾ GIỚI TRƯỚC 1975?

Lê Vi

“Tại sao bằng đại học của Việt Nam Cộng Hòa có giá trị ở hơn 60 quốc gia trên khắp thế giới trước 1975 ?”

  1. Nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa dựa trên 3 yếu tố : Tự Do – Nhân Bản – Khai Phóng. Trong việc học tập hàng ngày, giá trị cá nhân, thế mạnh của từng em học sinh đều được chú trọng để phát huy, đào tạo và phát triển thành tài năng trong tất cả các lĩnh vực, ngành nghề.
  2. Tuyệt đối tôn trọng tính tự do tư tưởng của các em học sinh ngay từ tuổi thiếu niên.
  3. Lấy các giá trị đạo lý dân tộc và nhân bản làm nền tảng để phát triển xã hội, xây dựng đất nước văn minh.
  4. Ngay từ lớp 7 đến lớp 9 các em học sinh đã được làm quen với nghệ thuật và khả năng thuyết trình để bảo vệ các quan điểm cá nhân độc lập và logic của mình.
  5. Từ lớp 10 học sinh sẽ bắt đầu trâu dồi về khả năng hùng biện để khi lên đại học hoàn toàn có thể trình bày, diễn thuyết trước đám đông về một đề tài khoa học – xã hội nào đó của mình một cách chặt chẽ, thuyết phục.
  6. Anh ngữ tuy không phải là ngôn ngữ thứ hai nhưng số tiết học Anh ngữ rất cao. Rất nhiều học sinh lớp 11 và 12 hoàn toàn có thể đọc sách, tạp chí nước ngoài ngay từ nguyên bản.
  7. Đến lớp 11 – 12, học sinh bắt đầu làm quen với môn triết học, được tiếp cận và tự do nghiên cứu tất cả các triết thuyết và tư tưởng của những nhà tư tưởng có ảnh hưởng quan trọng nhất của nhân loại và trên thế giới. Giáo dục thời VNCH vẫn giới thiệu các học thuyết đối lập với chủ nghĩa tự do như Các Mác – Ăn-ghen, Lê Nin, Mao Trạch Đông và thuyết cộng sản, chủ nghĩa xã hội…. cùng với tài liệu đầy đủ. Nền giáo dục tự do khai phóng không kiểm duyệt giúp học sinh tiếp thu được những kiến thức mở, từ đó sẽ có tư duy và cách nhìn nhận đa chiều thay vì tìm cách nhồi sọ chỉ với 1 học thuyết cực đoan nào đó.
  8. Con người không ai hoàn hảo và có thể mắc sai lầm. Nhờ xã hội được xây dựng bằng sự bao dung và tính thiện lương nên những ai mắc sai lầm không bị kỳ thị và vẫn được tạo điều kiện tái hoà nhập xã hội một cách công bằng và tự trọng.
  9. Học xong trung học, tất cả các học sinh đều có ý thức về nhân quyền, dân quyền, quyền ứng cử, quyền tranh cử và luôn đặt TỔ QUỐC – DANH DỰ – TRÁCH NHIỆM lên trên hết.
  10. Thời Việt Nam Cộng Hòa lương giáo viên, bác sĩ, y tá thuộc diện cao nhất. Giáo dục được nâng lên tầm Quốc Sách để xây dựng thành chiến lược phát triển quốc gia.

Dù VNCH vẫn chưa hoàn hảo nhưng vẫn là một thể chế Tự Do tốt nhất, nơi đã đào tạo ra được những con người có nhân cách và có tri thức đáng tự hào nhất trong lịch sử dân tộc đương đại.

Đó là lý do bằng đại học của Việt Nam Cộng Hòa cấp được công nhận và đánh giá cao ở hơn 60 quốc gia trên khắp thế giới trước năm 1975.

 Cang Huỳnh St .

Đức Thánh Cha Phanxicô chủ tế Thánh Lễ Lá ngày Chúa Nhật 4-2-2023 sau ba ngày nằm viện

Tổng hợp báo chí Hoa Kỳ

Trong chiếc áo choàng dài màu trắng với giọng nói còn bị “khàn khàn”, Đức Giáo hoàng Francis đã chủ sự Thánh lễ tại Quảng trường Thánh Peter trước hàng chục nghìn tín hữu vào Chủ nhật Lễ Lá, một ngày sau khi Ngài rời bệnh viện Gemelli ở Rome, nơi ngài được điều trị bệnh viêm phế quản .

Thời báo LA cho biết, giọng của ĐGH nghe có vẻ mạnh mẽ khi mở đầu Thánh lễ, nhưng nhanh chóng trở nên yếu và khàn. Bất chấp bị khàn tiếng, Đức Phanxicô đã đọc một bài giảng dài 15 phút trước 30.000 người dự lễ, thỉnh thoảng thêm vào những nhận xét ngẫu hứng để nhấn mạnh đồng thời diễn đạt ý tưởng đó bằng tay.

Bài giảng tập trung vào những khoảnh khắc khi mọi người cảm thấy “đau đớn tột độ, tình yêu không thành, hoặc bị từ chối hoặc phản bội.” , (và) sự cô đơn của bệnh tật.”

Đức Phanxicô nói về một người đàn ông Đức vô gia cư vừa mới chết, “một mình, bị bỏ rơi,” dưới hàng cột bao quanh Quảng trường Thánh Phêrô, nơi những người vô gia cư thường ngủ. “Tôi cũng cần Chúa Giêsu vuốt ve tôi,” Francis nói.

“Toàn bộ các dân tộc bị bóc lột và bị bỏ rơi; người nghèo sống trên đường phố của chúng tôi và chúng tôi nhìn theo cách khác; những người di cư không còn là những khuôn mặt mà là những con số; các tù nhân bị từ chối, mọi người bị coi là có vấn đề,” ĐGH Phan xi cô nói.

Chúa Nhật Lễ Lá đã mở ra một lịch trình dày đặc các nghi thức mục vụ trong Tuần Thánh dành cho đức giáo hoàng, bao gồm cả Thánh lễ Thứ Năm Tuần Thánh tại một nhà tù dành cho trẻ vị thành niên ở Rome. Tuần Thánh lên đến đỉnh điểm vào ngày 9 tháng 4 với Thánh lễ Chúa nhật Phục sinh, nhắc lại niềm tin của người Kitô giáo vào sự phục sinh của Chúa Giêsu.

ĐGH đã bị một số bệnh trong những năm gần đây, bao gồm cả chứng đau đầu gối nghiêm trọng, điều đó có nghĩa là ngài phải chống gậy và thường ngồi xe lăn khi xuất hiện trước công chúng. Những khó khăn trong việc di chuyển đã hạn chế sự tham gia của ngài vào một số sự kiện, và như đã xảy ra vào năm ngoái, một hồng y cấp cao đã cử hành Thánh lễ vào Chúa Nhật Tuần Thánh.

Thánh lễ vào Chủ nhật Phục sinh, ngày quan trọng nhất trong lịch phụng vụ của Công Giáo, trong Thánh Lễ này, theo thông lệ ĐGH sẽ công bố bài giảng “Urbi et Orbi” (cho thành phố và thế giới)

Phan Sinh Trần

Bài giảng sâu sắc của ĐTC Phan xi cô trong tuần Thánh – Lễ Lá

Đài Chân Lý Á Châu

Bài giảng của Đức Thánh cha

Trong bài giảng sau bài Thương khó, Đức Thánh cha đặc biệt diễn giải câu Chúa Giêsu thốt lên trên thập giá: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Chúa bỏ rơi con?”. Đó là lời khẩn cầu mà phụng vụ hôm nay để cho chúng ta lập lại trong thánh vịnh đáp ca (Xc Tv 22,2) và là lời duy nhất Chúa Giêsu thốt lên trên thập giá, như bài Tin mừng chúng ta đã nghe. Vì thế, đó là những lời đưa chúng ta vào trọng tâm cuộc khổ nạn của Chúa Kitô, đi vào tột đỉnh những đau khổ Chúa đã chịu để cứu độ chúng ta”.

Chúa chịu đau khổ vì yêu thương chúng ta

Đức Thánh cha nói: “Những đau khổ của Chúa Giêsu thật là nhiều và mỗi lần chúng ta nghe bài Thương khó, chúng ta đi vào những đau khổ đó. Có những đau khổ thể xác: từ những cái tát cho đến những sự đánh đập, từ những roi đòn cho đến mão gai, đến sự cực hình khổ giá. Có những đau khổ trong tâm hồn: sự phản bội của Giuđa, sự chối bỏ Thầy của Phêrô, những kết án của giới lãnh đạo tôn giáo và chính quyền, sự nhạo cười của lính canh, những lăng mạ dưới chân thập giá, sự phủ nhận của bao nhiêu người, sự thất bại mọi sự, sự bỏ rơi của các môn đệ… Giờ đây, xảy ra một điều không tưởng tượng được; trước khi chết Chúa Giêsu kêu lên: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Chúa bỏ con?”

Đức Thánh cha cũng nói đến đau khổ xé lòng về tinh thần mà Chúa Giêsu đã chịu: “Chúa cảm thấy bị Thiên Chúa bỏ rơi. Vì yêu thương chúng ta, Chúa đi tới độ chịu đau khổ tột cùng”. Đức Thánh cha nhận xét rằng: “Động từ ‘bỏ rơi’ trong Kinh thánh thật là mạnh; đau khổ tinh thần xuất hiện trong những lúc đau đớn tột cùng: trong những thất tình, bị xua đuổi và phản bội; nơi những người con bị phủ nhận và phá thai; trong những tình trạng bi ruồng bỏ, góa bụa và mồ côi; trong những hôn phối kiệt quệ, trong những loại trừ, tước bỏ những quan hệ xã hội, trong những áp bức bất công và trong cô độc vì bệnh tật: tóm lại, trong những tan nát bi thảm nhất của các mối quan hệ. Chúa Kitô đã chịu điều đó trên thập giá, vác lấy tội lỗi của trần thế… Chúa Giêsu đã chịu tất cả những điều đó vì chúng ta, liên đới với chúng ta đến tột cùng, để ở với chúng ta đến cùng. Để không một ai trong chúng ta có thể nghĩ mình cô độc và không thể phục hồi. Chúa đã chịu sự bỏ rơi để không để chúng ta trở thành con tin của sầu khổ, để ở cạnh chúng ta mãi mãi”.

Đáp lại tình thương của Chúa

Đức Thánh cha nói thêm rằng: “Anh chị em thân mến, một tình yêu như thế, tất cả cho chúng ta, và đến độ tột cùng, có thể biến đổi những con tim chai đá của chúng ta thành những con tim bằng thịt, có khả năng thương xót, dịu dàng, cảm thương. Chúa Kitô bị bỏ rơi thúc đẩy chúng ta tìm kiếm và yêu mến Chúa nơi những người bị bỏ rơi. Lý do vì nơi họ, không những chỉ có những người túng quẫn, nhưng có chính Ngài, Chúa Giêsu bị bỏ rơi, Đấng đã cứu vớt chúng ta, khi hạ mình đến cùng trong thân phận phàm nhân của chúng ta. Vì thế, Chúa muốn chúng ta chăm sóc các anh chị em của chúng ta, những người rất giống Ngài, giống Ngài trong tình trạng đau khổ tột cùng và cô đơn. Ngày hôm nay có bao nhiêu “Kitô hữu bị bỏ rơi”. Có cả các dân tộc bị bóc lột và bỏ mặc; có những người nghèo sống ở những ngã tư đường của chúng ta, những người mà chúng ta không dám nhìn thẳng vào họ; những người di dân không còn là những khuôn mặt nhưng chỉ là những con số; các tù nhân bị phủ nhận, những người bị xếp loại như những vấn đề. Nhưng cũng có bao nhiêu Kitô hữu bị bỏ rơi vô hình, giấu kín, bị gạt bỏ bằng những găng tay trắng: đó là những hài nhi chưa sinh ra, người già bị bỏ mặc, bệnh nhân không được thăm viếng, người khuyết tật bị làm ngơ, người trẻ cảm thấy trống rỗng lớn trong tâm hồn mà không có người nào thực sự nghe tiếng kêu đau thương của họ.”

“Chúa Giêsu bị bỏ rơi xin chúng ta hãy có đôi mắt và con tim đối với những người bị bỏ rơi. Đối với chúng ta là môn đệ của Đấng bị bỏ rơi, không ai có thể bị gạt ra ngoài lề, không ai có thể bị bỏ mặc một mình; vì chúng ta hãy nhớ rằng những người bị phủ nhận và loại trừ là hình ảnh sống động của Chúa Kitô. Ngày hôm nay, chúng ta hãy cầu xin ơn này, đó là luôn biết yêu mến Chúa Giêsu bị bỏ rơi và biết yêu mến Chúa Giêsu nơi mỗi người bị bỏ rơi.”

Phan Sinh Trần 

Sinh hoat văn hóa cuối tuần ở Houston

Mời các bạn ở Houston đi xem để ủng hộ cho sinh hoạt văn hóa của địa phương.

 Vở kịch đã được đạo diễn hứa hẹn sẽ làm cho người xem rơi lệ, có vui , có buồn lẫn lộn.
Thêm phần văn nghệ của các ca sĩ local.
From: Phan Sinh Trần

X. 92. Người điệp viên giỏi nhất của Việt Nam Cộng Hòa và của CIA

X. 92. Người điệp viên giỏi nhất của Việt Nam Cộng Hòa và của CIA

Nguồn: Batkhuat.net

Trúc Giang MN

1*. Mở bài

Về tình báo trong chiến tranh Việt Nam, điệp viên Võ Văn Ba dường như không có ai nhắc đến, cho mãi đến những năm sau nầy, hai điệp viên của Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ, CIA, mới tiết lộ và xác nhận Võ Văn Ba là người gián điệp giỏi nhất của Việt Nam Cộng Hòa và của CIA trong chiến tranh Việt Nam.

2*. Những đánh giá về điệp viên Võ Văn Ba

2.1. Những cựu điệp viên CIA nói về Võ Văn Ba Trong hai ngày 20 và 21 tháng 10 năm 2008, Trung tâm Việt Nam của Đại học Công nghệ Texas, đã tổ chức một cuộc hội thảo với chủ đề “Tình báo trong chiến tranh Việt Nam”. Diễn giả là những chuyên viên CIA đã từng phục vụ ở Việt Nam. Trong bài diễn thuyết của ông Merle Pribbenow, một cựu nhân viên CIA, hoạt động tại Sài Gòn từ 1970 đến 1975, mang đến bài thuyết trình “Những điệp viên vô danh nổi tiếng nhất trong cuộc chiến Việt Nam”. Người Mỹ đã xử dụng tình báo trong hàng ngũ Cộng Sản có bí danh X.92, tên Võ Văn Ba. Võ Văn Ba là người điệp viên giỏi nhất của Việt Nam Cộng Hòa. Ông Orrin DeForest, nhân viên CIA phục vụ 6 năm ở Việt Nam, nhắc đến tên Võ Văn Ba có mật danh là “Reaper” trong cuốn sách “Slow Burn: The Rise and Bitter Fall of American Intelligence in Việt Nam”. Một chuyên viên khác của CIA, John Sullivan, nói ông Ba là “Điệp viên giỏi nhất mà chúng ta từng có ở Việt Nam”. Trong cuốn tiểu sử về sếp CIA ở Sài Gòn là Ted Shackley, tác giả David Corn nêu ra một sự đánh giá thời hậu chiến của CIA, rằng điệp viên nầy “là nguồn tin đáng tin cậy nhất về ý định của Cộng sản” ở Việt Nam. Ông Frank Warren Snepp, chuyên viên phân tích tình báo (Intelligence Analyst) đã có đôi lần gặp người nầy, và gọi ông ta là “Điệp viên hàng đầu của chúng ta” ở Việt Nam. Để bảo đảm bí mật, chỉ có một sĩ quan Cảnh sát Đặc biệt là Thiếu tá Phan Tấn Ngưu được liên lạc với Võ Văn Ba ở Tây Ninh.

2.2. Ông Merle Pribbenow viết sách về Võ Văn Ba Cựu Thiếu tá Phan Tấn Ngưu cho biết, năm 2010, ông Pribbenow đến tìm gặp ông, xin chi tiết về Võ Văn Ba để ông hoàn thành cuốn sách, về tình báo trong chiến tranh Việt Nam. Ông Ngưu cảm thấy khó xử, vì ngoài ông Võ Văn Ba ra, còn có nhiều người khác đã tham gia vào các công tác, hiện còn sống ở Việt Nam, nên ông chỉ cho biết về hoạt động của Võ Văn Ba mà thôi.

2.3. Quan chức Việt Cộng nói về Võ Văn Ba Trong một đoạn hồi ký của Thứ trưởng Công An Hà Nội, “55 Năm một chặn đường”, Trần Xuân Viên nói về ông Võ Văn Ba, làm nội tuyến cho Việt Nam Cộng Hòa tại Trung Ương Cục Miền Nam. Trần Xuân Viên nói “Võ Văn Ba là một nội gián quan trọng. Y đa chui sâu, leo cao vào nội bộ ta. Trong 10 năm, y đã thu thập rất nhiều tin tức quan trọng cho địch”.

3*. Vài nét về Võ Văn Ba

Võ Văn Ba sinh năm 1923 thuộc tỉnh Tân An. Năm 1945, ông và người chú theo Việt Minh. Ông là một đảng viên tích cực, được giao nhiệm vụ tuyển mộ thành viên trẻ theo Việt Minh. Ông trở thành một kẻ khủng bố, nhưng nhanh chóng nhận ra rằng khủng bố không phải là cách thu phục trái tim con người. Ông rời bỏ Việt Minh năm 1954. Không tập kết ra Bắc. Có một thời gian ông làm việc cho một đơn vị quân đội Mỹ, và sau cùng về định cư trong nội ô Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh. Vợ ông bán rau quả ở chợ Long Hoa. Ông có con, một trai, một gái.

4*. Trường hợp nào Võ Văn Ba theo Việt Cộng

4.1. Võ Văn Ba theo Việt Cộng

Võ Văn Ba và gia đình định cư ở nội ô Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh. Ông làm rẫy ở ven đường mà cán bộ Việt Cộng thường xuyên qua lại, để vào căn cứ của Trung Ương Cục Miền Nam Việt Nam, trong một hang động dưới chân núi Bà Đen. Gặp gỡ thường xuyên, quen mặt nhau, nên cán bộ VC cố thuyết phục ông Ba gia nhập Đảng. Vì hiểu rõ bản chất của Việt Cộng, nếu không theo họ thì có thể bị thủ tiêu để loại bỏ cái chướng ngại nầy. Ông Ba đồng ý chấp thuận. Và sau đó được làm ủy viên tin cậy của Cục R. Theo VC thì lại lo ngại hai cơ quan là, An ninh Quân đội và Cảnh sát Quốc gia. Ông Ba đến người chú, đang là sĩ quan của Cục An ninh Quân đội, xin được làm điềm chỉ viên. Kế đến, người chú đề nghị CSQG thu nhận ông Ba cũng được làm điềm chỉ viên. Thiếu tá Cảnh sát Phan Tấn Ngưu, thuộc khối Đặc biệt, được chuyển đến Tây Ninh để trực tiếp liên lạc với Võ Văn Ba thông qua những hình thức “giao liên”.

4.2. Việt Cộng giao nhiệm vụ cho Võ Văn Ba

1). Tuyển mộ cán bộ đảng viên mới Ông Ba tuyển mộ cán bộ mới, để thành lập những chi bộ, giúp ông để kiểm soát mọi hoạt động trong Tòa Thánh, tuyên truyền để tranh thủ những tín đồ Cao Đài theo VC.

2). Thực hiện chủ trương của Việt Cộng. Tuyên truyền gây chia rẻ trong nội bộ các chức sắc Cao Đài. Ám sát những người thân chính quyền quốc gia. Trong lịch sử Cao Đài, đã có những vụ ám sát như các ông: Cao Hoài Sang, Trương Hữu Đức, Trung tá Nguyễn Văn Nhã, giữ chức Thượng chánh Phối sư…

5*. Trung ương Cục miền Nam Việt Nam Hội trường Cục R

* Lê Đức Thọ Nguyễn Thị Định Trung ương Cục Miền Nam Việt Nam, là một bộ phận của Ban Chấp hành Trung ương đảng Cộng Sản Việt Nam.

Là cơ quan chỉ đạo trực tiếp cuộc chiến, đánh chiếm miền Nam Việt Nam. Trung ương Cục còn được gọi là B2, Cục R. Ban Chấp hành của Cục R theo thời gian gồm những người như sau: Nguyễn Văn Linh (Bí danh Mười Cúc), Võ Chí Công (Võ Toàn, Trần Nam Trung (Hai Hậu), Phạm Văn Xô (Hai Xô), Võ Văn Kiệt (Sáu Dân), Lê Đức Thọ (Khai sanh Lê Văn Nhuận, bí danh Anh Ba), Lê Duẩn, Phạm Hùng, Trần Văn Trà (Tư Chi), Hoàng Văn Thái (Mười Khang), Lê Đức Anh (Sáu Nam) Trần Độ (Chín Vinh), Đồng Văn Cống… Trung ương Cục Miền Nam dựng lên cái tổ chức bù nhìn là Quốc Kỳ

* Quốc Huy Chính phủ Cộng hòa miền Nam VN “ Mặt Trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam”, và “chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam”, gồm có: KTS Huỳnh Tấn Phát, LS Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Định, Nguyễn Thị Bình. BS Dương Huỳnh Hoa, Trương Như Tảng, Trần Bạch Đằng, Trần Bửu Kiếm, Hòa thượng Thích Thiện Hào, Đại đức Sơn Vọng, Nguyễn Văn Hiếu, Y Bih Aleo… Do quân đội Việt Nam Cộng Hòa liên tục tấn công nên Cục R phải chạy sang lãnh thổ Campuchia ở vùng Mỏ Vẹt, Móc Câu, được Quốc Trưởng, Hoàng thân Norodom Sihanouk cho phép. Cộng quân thì chạy sang Nam Lào. Võ Văn Ba nằm ở Trung ương Cục, được tiếp cận với những ủy viên Bộ Chính Trị đảng CSVN, xem như nằm tại Bộ Chính Trị Đảng ở Hà Nội. Vị trí của Võ Văn Ba rất quan trọng, vì trước đó và sau đó, không có một gián điệp nào nằm vùng ở Bộ Chính Trị Đảng CSVN cả. Trường hợp có một không hai, ngàn năm một thuở.

6*. Cảnh sát Quốc gia tiếp cận Võ Văn Ba

6.1. Thiếu tá Phan Tấn Ngưu phụ trách lập nhóm X.92 Thiếu tá Phan Tấn Ngưu, thuộc khối đặc biệt, được chỉ định lên Ty Cảnh sát Tây Ninh, với nhiệm vụ duy nhất là liên lạc với Võ Văn Ba.

6.2. Những thông dịch viên của cố vấn Mỹ tỉnh Tây Ninh Cố vấn Mỹ ở phòng Cảnh sát Đặc biệt của ty Cảnh sát Tây Ninh có ba thông dịch viên. Riêng về hồ sơ của X.92 thì chỉ có một thông dịch viên phụ trách, không kiêm nhiệm các vụ việc khác. Nhiệm vụ chính của thông dịch viên nầy là chỉ dịch những văn bản tiếng Việt ra tiếng Anh mà thôi. Điều kiện của thông dịch viên được quy định như sau: 1. Không phải là người ở Tây Ninh.

  1. Không có bà con, thân thuộc nào sinh sống ở Tây Ninh. Sau 4 năm công tác ở Tây Ninh, cố vấn Mỹ đã lần lượt có 3 thông dịch viên là: Nguyễn Sĩ Phong, Nguyễn Cao Quan, Nguyễn Thanh Trang. Trường hợp của thông dịch viên Nguyễn Sĩ Phong, ông là người miền Bắc, là người nhanh nhẹn thi hành công tác giao phó, có nhiều khi phải thức suốt đêm để dịch những báo cáo viết tay, và những tài liệu in ấn chiếm vài ba chục trang giấy. Ông kết hôn với một phụ nữ Tây Ninh, vi phạm điều 2, nên bị chuyển đến làm thông dịch ở Phòng cố vấn CIA thuộc Tổng Lãnh sự Mỹ vùng II, Ban Mê Thuột. Ngày 10-3-1975, Việt Cộng chiếm Ban Mê Thuột, Ông Phong đưa gia đình đến nhà của ông Paul Struharick , CIA đại diện của USAID. Ông Struharick là CIA cuối cùng bị kẹt lại Ban Mê Thuột nên bị Việt Cộng bắt cả hai. Do bị tra khảo, Nguyễn Sĩ Phong khai Võ Văn Ba là gián điệp của CIA.

6.3. Thiếu tá Phan Tấn Ngưu lập hệ thống liên lạc Võ Văn Ba cư ngụ trong nội ô Tòa Thánh Tây Ninh. Nội ô là khuôn viên hình thang rộng khoảng 1 km², cách thành phố Tây Ninh khoảng 5 km. Công việc quan trọng nhất của điệp viên Võ Văn Ba là chuyển những tin tức tối mật của Việt Cộng, ở Trung Ương Cục (Cục R) miền Nam, cho tình báo Việt Nam Cộng Hòa và cho CIA. Thiếu tá Phan Tấn Ngưu và Võ Văn Ba lập hệ thống liên lạc: Đó là hệ thống “giao liên”, có hai yếu tố bí mật và an toàn hàng đầu. Việc liên lạc giữa nơi gởi và nơi nhận chỉ cách nhau có 5Km Võ Văn Ba đã sử dụng ba phương tiện để chuyển tin tức, là liên lạc máy vô tuyến Walkietalkie, hộp thơ chết, và hộp thơ lưu động.

1). Máy vô tuyến Walkie-talkie Walkie-talkie là thiết bị cở nhỏ, cầm tay, còn gọi là dụng cụ bộ đàm. Làn sóng ngắn liên lạc trong khoảng cách gần. Bấm nút để nói, thả ra để nghe. Máy chỉ mở trong giờ giấc ấn định. Không được trò chuyện hơn một phút. Trong một phút đó, chỉ cho biết phải làm gì, như: đến nhận thơ ở hộp thơ số…, đến nhà an toàn số…hoặc sẽ đi công tác trong mấy ngày.

2). Hộp thơ chết. Có 3 hộp thơ chết, 2 đặt trong nội ô Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh. 1 đặt ở ngoại ô, gần tỉnh lỵ.

3). Hộp thơ lưu động Phương tiện vận chuyển của Tây Ninh là xe lôi, tức là xe gắn máy kéo cái” rờ mọt” (Trailer) chở người. Xe mang số giả. Tài xế và 2 nữ sinh đều là nhân viên đặc nhiệm, mang 2 cái cặp da giống nhau, đón xe ở hai ngã đường khác nhau. Sau khi trao hai cái cặp da, lần lượt xuống xe, ở 2 khoảng đường khác nhau. Loại hộp thơ lưu động nầy, X.92 viết báo cáo sau khi đi họp ở T.Ư.C, hoặc đi công tác về. Bấm máy walkie-talkie cho biết. Khi mở cái cặp da ra, trong đó có bản sao Nghị Quyết của Bộ Chính trị Hà Nội, và một chỉ thị của Cục R cho biết Hiệp định Paris sẽ ký kết vào ngày 30-10-1972 (Thật ra Hiệp định được ký vào ngày 27-1-1973), trong đó có một điều khoản rất quan trọng là Hoa Kỳ và VNCH chấp nhận cho bộ đội Cộng sản Bắc Việt được ở lại miền Nam, từ vĩ tuyến 17 trở xuống. Phần chỉ thị của Cục R, là các nơi phải dốc toàn lực để “giành dân lấn đất”. Thiếu tá Phan Tấn Ngưu liên lạc với cố vấn Mỹ, cùng ở ty Cảnh sát Tây Ninh, yêu cầu cho một phi cơ để mang tài liệu về Bộ Tư lệnh CSQG. Cố vấn Mỹ cũng được nhận bản sao để gởi cho Tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn. Vụ việc được đưa lên Tổng thống Thiệu. Đọc xong, ông mời Đại sứ Mỹ đến để hạch hỏi về việc Mỹ qua mặt VNCH, ông dọa là có thể rút phái đoàn VNCH ra khỏi cuộc hòa đàm. Nói thêm về việc “giành dân lấn đất”. Sau khi Hiệp định Paris có hiệu lực, Việt Cộng chủ trương “giành dân lấn đất” bằng cách treo cờ của Mặt Trận Dân tộc Giải phóng, ở những vùng xa các đồn bót của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Cờ 3 màu, trên đỏ dưới xanh, ở giữa có ngôi sao vàng. Ban đêm du kích treo cờ ở những cành cây, sáng ra dân vệ đi hạ cờ. Chính phủ cấp cho mỗi gia đình 10 tấm tôn để lợp nhà, trên mỗi tấm tôn có hình cờ vàng 3 sọc đỏ của VNCH. Trên máy bay nhìn xuống thì thấy cả khu vực toàn là nhà có cờ của VNCH. Đồng thời cấm các chợ trong khu vực không được bán vải màu đỏ, màu xanh và màu vàng để may cờ của VC. 6.4. Xin hoản dịch cho con của Võ Văn Ba Con trai của Võ Văn Ba là Võ T. D, thi đậu Tú tài I năm 1971, nhưng thi rớt Tú tài II liền 2 năm. Đã hết hạn hoản dịch vì lý do học vấn, nên phải thi hành quân dịch. Có Tú tài I thì được đưa vào Trường Bộ Binh Thủ Đức. Mãn khóa mang lon chuẩn úy của quân độ VNCH. Có con là sĩ quan VNCH, thì chắc chắn Võ Văn Ba sẽ bị Việt Cộng cho hạ tầng công tác, hoặc khai trừ. Vụ việc không tốt nầy, sẽ làm mất một nguồn tin, ngàn năm có một của tình báo VNCH và của CIA. Thế là Thiếu tướng Tư Lịnh Cảnh sát Quốc gia, Nguyễn Ngọc Loan, yêu cầu Nha Động viên Bộ Quốc phòng, cấp giấy hoản dịch cho con của Võ Văn Ba. Một tuần lễ sau, giấy hoản dịch do Thiếu tướng Bùi Đình Đạm, Giám đốc Nha Động viên Bộ Quốc phòng ký, đã đến tay Võ Văn Ba.

7*. Cảnh sát Đặc biệt và CIA dàn dựng những vụ việc để giúp X.92 được Việt Cộng tin cậy Để giúp Võ Văn Ba được Việt Cộng tin cậy, gồm những việc như sau:

1). Rải truyền đơn chống những chức sắc Cao Đài thân chính quyền VNCH. Trong những ngày Lễ Vía của đạo, cảnh sát chìm VNCH mặc quần áo lễ phục, ban đêm, dùng xe gắn máy rải truyền đơn ở những con đường quy định. Truyền đơn lên án những chức sắc Cao Đài thân chính quyền VNCH, cụ thể là việc chỉ điểm để bắt giữ những thanh niên trốn quân dịch đang ẩn náu trong nội ô Tòa Thánh. Sau khi rải, cảnh sát đi nhặt truyền đơn, và Phòng thông tin tỉnh phát loa lên án Việt Cộng.

2). Đặt chất nổ Trên con đường dẫn đến trụ sở của Trung ương Cục, có những trạm do dân vệ, kiểm soát sự ra vào của Việt Cộng. Tỉnh trưởng Tây Ninh và Cố vấn Mỹ đồng ý cho thực hiện, dùng chất nổ, đã thu được của Việt Cộng, để phá vỡ các trạm kiểm soát. Phía Mỹ đồng ý xuất tiền xây dựng lại các trạm bị phá. Đến ngày thực hiện, cảnh sát Tây Ninh sẽ rủ rê các dân vệ đến nhậu ở một quán nào gần đó. Sau vụ nổ, Phòng thông tin tỉnh lại phát loa tố cáo Việt Cộng. Hình ảnh cảnh đổ nát được đưa lên báo. Tỉnh trưởng Tây Ninh làm giấy khiển trách, những người có trách nhiệm ở các trạm kiểm soát. Cục R cũng biết đó là những hành động của X.92 nên càng tin tưởng hơn.

8*. X.92 thông báo về cuộc “Tổng tiến công và nổi dậy” Tết Mậu Thân 1968

X.92 Võ Văn Ba thông báo cho Cảnh sát Đặc biệt Tây Ninh, là Hà Nội sẽ tổng công kích vào Tết Mậu Thân 1968, mặc dù hai bên đã tự tuyên bố ngừng bắn. Về phần cảnh sát, Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan ra lịnh cấm trại 100% trên toàn quốc. Các đơn vị phải đào hầm chung quanh hoặc lập những công sự, để phòng thủ và chiến đấu. Riêng quân đội VNCH thì vẫn cấm trại 50% như thường lệ. Tổng thống Thiệu thì đi Mỹ Tho ghé thăm mẹ vợ. Tướng Vĩnh Lộc, Tư lịnh Quân đoàn 2 thì bay về Sài Gòn mừng tuổi, và chúc Tết mẹ. Ngay trong đêm giao thừa Tết Nguyên đán, vào ngày 31-1-1968, Việt Cộng đã đồng loạt tấn công vào hầu hết các đô thị miền Nam. Đó là kế hoạch gọi là “Tổng tiến công và nổi dậy” Các đô thị bị tấn công gồm có: Kontum, Quy Nhơn, Ban Mê Thuột, Nha Trang, Đà Lạt, Phanh Thiết, Tây Ninh, Biên Hòa, Sài Gòn, Mỹ Tho, Phú Vinh, Rạch Giá, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu. Ở Sài Gòn, Cộng quân đã đánh chiếm cổng số 4 của Bộ Tổng Tham mưu QLVNCH. Riêng thành phố Huế, thì chỉ có các tiểu tổ, các đơn vị đặc công địa phương đã chiếm Huế 26 ngày, và giết 4,000 người, đa số là thường dân và những người làm việc cho các cơ quan chính quyền, như giáo viên, công chức các ngành nghề…chủ yếu là chôn sống ở các hố chôn tập thể. Nhà văn quân đội Phan Nhật Nam, tốt nghiệp khóa 18 trường Võ Bị Quốc Gia, Thiếu tá thuộc tiểu đoàn 9 Nhảy Dù cho biết, tôi có thể kể ra hàng chục, hàng trăm người mà tôi biết, đa số là dân thường, và những người láng giềng của tôi, đã bị chôn sống. Nhà văn đặt câu hỏi: “Tại sao người cộng sản có thể tàn nhẫn với chính đồng bào của mình?” Đài VOA cho biết, theo lời ông Phan Nhật Nam thì chiến sự ở Huế “không khốc liệt”, vì quân cộng sản ở đó không phải là cấp sư đoàn, mà chỉ là các tiểu tổ, các đơn vị đặc công địa phương mà thôi”. Thật ra đó là tội ác của những tên Việt Cộng nằm vùng như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Thị Đoan Trinh, Nguyễn Đóa, Tôn Thất Dương Tiềm… Đó là quân đội chỉ cấm trại 50%. Vì sao quân đội chỉ cấm trại 50%? Vì nhiều năm trước kia, Tết năm nào Hồ Chí Minh cũng làm thơ kêu gọi kêu gọi tiến lên đánh Mỹ ngụy, nhưng sau đó không có mở cuộc động binh nào cả. Thơ chúc Tết Xuân Đinh Mùi- 1967 Xuân về xin có một bài ca,/ Gửi chúc đồng bào cả nước ta/ Chống Mỹ hai miền đều đánh giỏi/ Tin mừng thắng trận nở như hoa! Thơ chúc Tết Mậu Thân 1968 Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua, Thắng trận tin vui khắp nước nhà, Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ. Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!

9*. X.92 báo tin Việt Cộng quyết đánh chiếm Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh

9.1. Quân đội Cao Đài Năm 1941, Cao Đài xây dựng Lực lượng Vũ trang. Đến năm 1955, quốc gia hóa, tức là sát nhập vào Quân Đội VNCH. Những tướng lãnh Cao Đài gồm có: Tướng Trần Quang Vinh, Thiếu tướng Nguyễn Thành Phương, Tướng Trịnh Minh Thế, Tướng Văn Thành Cao. Tháng 6 năm 1973 Tướng Văn Thành Cao được cử giữ chức vụ Tổng cục phó Tổng cục Chiến tranh Chánh trị. Ông giữ chức vụ nầy đến ngày 30-4-1975.

9.2. Việt Cộng âm mưu đánh chiếm Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh Vào tháng 12 năm 1971, X.92 Võ Văn Ba được lịnh đến họp khẩn cấp tại Chiến Khu Đ. Tại buổi họp, Võ Văn Ba được chỉ thị phải về họp gấp các chi bộ trực thuộc, để phổ biến lịnh của Bộ Chính Trị, là phải đánh chiếm cho được Tòa Thánh Cao Đài ở Tây Ninh, để mặc cả với VNCH trên bàn Hội nghị Paris. Kế hoạch cụ thể có hai phần, thực hiện đồng bộ với nhau, bên ngoài thì bộ đội tấn công đánh chiếm Tòa Thánh. Đồng thời, bên trong, X.92 xách động tín đồ biểu tình phản đối, yêu cần quân đội VNCH không được bắn vào bộ đội Việt Cộng đang đánh nhau ở bên trong để chiếm Tòa Thánh. Biểu tình nêu lý do, là để bảo vệ kiến trúc Tòa Thánh và bảo vệ tánh mạng của tín đồ. Đó chỉ là kế hoạch trên lý thuyết.

9.3. Lực lượng quân đội Việt Nam Cộng Hòa bảo vệ Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh Khi báo cáo của X.92 được Đại tá tỉnh trưởng Tây Ninh, Lê Văn Thiện, đưa về Sài Gòn, thì Tổng thống Thiệu ra lịnh phải bảo vệ Tòa Thánh bằng mọi giá. Từ đó, có những buổi họp từ Tư lệnh Quân đoàn 3, Sư đoàn 25 BB, và các đơn vị liên hệ. Công binh VNCH đào giao thông hào toàn bộ phía Bắc tỉnh Tây Ninh, để chống thiết giáp Việt Cộng. Giao thông hào chỉ là cái vỏ bọc ngoài, thực chất bên trong là hệ thống mìn các loại, được đặt song song bên cạnh giao thông hào. Ban đêm, phi cơ trinh sát, thám sát cả vùng phía Bắc tỉnh lỵ Tây Ninh. Trong khi đó, các đơn vị của Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù ngày đêm bám sát hoạt động của Việt Cộng.

Đến đầu tháng 4 năm 1972, lúc 2 giờ sáng, những tiếng nổ đồng loạt vang lên, kể cả pháo binh. Vì pháo binh VC đặt khá xa, nên đạn chỉ rơi ở bên ngoài tỉnh lỵ. Tổn thất không đáng kể. Các đơn vị bên ngoài báo cáo về phòng chỉ huy tỉnh, là chỉ có bộ binh mà không có thiết giáp. Có lẽ do phi cơ thám thính liên tục nên VC không dám dùng thiết giáp. 5 giờ sáng hôm sau, tiếng súng thưa dần rồi im bặt. Khi trời sáng, các nơi báo cáo, dọc theo giao thông hào có đầy vết máu, một số xác chết chưa kịp mang đi. Cộng quân chết vì mìn đặt song song với giao thông hào. Nhờ tin tức do X.92 cung cấp nên Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh được giữ nguyên vẹn.

10*. X.92 mang Nghị quyết 24 của Bộ Chính trị tháng 1 năm 1975 về Sài Gòn Tình hình của Việt Nam Cộng Hòa. Quân đoàn 2 tan rả ngày 10-3-1975. Quân đoàn 1 tan rả ngày 29-3-1975. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức ngày 21-4-1975. Mỹ cúp viện trợ nên quân đội VNCH thiếu thốn về mọi mặt. Chính X.92 mang toàn bộ Nghị quyết 24 về Sài Gòn. Nghị quyết chỉ nói tổng quát, là bộ đội các cấp nổ lực tấn công các kho nhiên liệu của miền Nam. Pháo binh và thiết giáp tấn công vào các mục tiêu chiến lược. Tổng thống Thiệu từ chức, không thành vấn đề. Việc thành lập chính phủ ba thành phần, cũng không thành vấn đề. Giải pháp quân sự dứt điểm cuộc chiến, quyết chiếm Sài Gòn, để lập thành tích cho kịp mừng sinh nhật Hồ Chí Minh vào ngày 19 tháng 5. Thống nhất đất nước để đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên Chủ nghĩa Cộng Sản.

11*. Nhân vật Út Tặng Trong phần thuyết trình của ông Merle Pribbenow, có đề cập đến nhân vật Út Tặng. Do những tổn thất không nhỏ, nên Việt Cộng nghi ngờ có nội gián. Đến cuối năm 1971, Bí thư huyện ủy quận Phú Khương đã chỉ thị cho một nữ cán bộ, sống hợp pháp ở khu vực chợ Long Hoa, gần nhà X.92. theo dõi, điều tra về Võ Văn Ba. Hàng ngày Út Tặng đạp xe đạp chở rau quả đi bán hàng rong trong khu vực nhà của ông Ba. Thiếu tá Phan Tấn Ngưu thuật lại, khi gặp X.92 tại nhà an toàn, ông cho biết y thị hoạt động rất hăng say và rất nguy hiểm. Mặc dù là cán bộ cấp huyện, nhưng trong vài lần họp cấp cao ở mật khu, y thị có tham dự. Ông Ngưu cho biết, chỉ hai ngày sau, ông đã bí mật bắt cóc Út Tặng trên đường bán hàng rong ở chợ Long Hoa. Khi báo cáo về Tổng Nha CSQG, thì Đại tá Huỳnh Thới Tây, Trưởng Khối Đặc biệt, ra lịnh phải mang y thị về cơ quan D.6. Y thị bị giam giữ cho đến ngày 30-4-75. Thiếu tá Ngưu không cho X.92 biết vụ bắt cóc, vì sợ rằng ông mất đề cao cảnh giác trong công tác. Khoảng một năm sau, Cục R cho biết Út Tặng đã mất tích và chỉ thị cho X.92 dò xét xem Út Tặng bị giam ở đâu, sống chết thế nào.

12*. Ông Frank Snepp muốn gặp tận mặt X.92 để kiểm chứng tin tức mà CIA Tây Ninh gởi về Thiếu tá Phan Tấn Ngưu và ông Frank Nepp Frank Snepp là chuyên viên phân tích tình báo (Intelligence Analyst) của CIA. Ông muốn gặp X.92 để kiểm chứng tin tức mà CIA Tây Ninh đã gởi về. Được ông Ba đồng ý. Cảnh sát và CIA Tây Ninh thực hiện. Ông Ba nói với vợ là ông đi khám bịnh ở bịnh viện Tây Ninh, rồi đi họp ở Cục R. Ở bịnh viện, ông vào một phòng không có bác sĩ và y tá. Lách ra cánh cửa để vào một phòng trống, nằm trên một băng ca, đấp tấm vải trắng phủ cả người, như một người chết. Hai nhân viên đặc vụ đưa băng ca lên xe hồng thập tự chạy ra phi trường Tây Ninh. Đến trọ tại một phòng của khách sạn sang trọng ở Sài Gòn, phòng bên cạnh là của ông Frank Snepp. Thế là câu chuyện nghiệp vụ được thực hiện. Ông Snepp công nhận tài liệu mà CIA đã nhận được là chính xác. Mỗi lần ra ngoài, X.92 đều ngụy trang. Tóc giả, râu giả, mang kiếng đen thật to để đi “tham quan” thành phố Sài Gòn. Ông Snepp cho biết X.92 có một trí nhớ phi thường. Đọc qua một văn bản, ông thuộc lòng những chi tiết cần thiết. Ông Ba rất thích bia Budweiser và thuốc Salem. Ông Snepp nêu nhận xét, Võ Văn Ba là người yêu nước được CIA đặt cho cái biệt hiệu “TU Hackle và là điệp viên giỏi nhất của CIA hoạt động trong lòng địch”. Sau ba ngày, ông về Tây Ninh và được Thiếu tá Phan Tấn Ngưu đón về, cũng theo thể thức của ngành tình báo.

13*. Số phận của Võ Văn Ba Vào tháng 3 năm 1975, cố vấn Mỹ nêu ý kiến, đưa X.92 cùng gia đình di tản sang Mỹ. Ông Ba từ chối, cho rằng ông đã già (52 tuổi) nên khó khăn lập nghiệp ở Mỹ. Cuối cùng ông Ba cho biết, ông sẽ trở lại cuộc sống bình thường. “Nếu Cộng Sản chiếm miền Nam tôi sẽ tự tử”.

14* Kết luận

Ông Võ Văn Ba sống an toàn cho đến hết ngày 30-4-1975. Do lời khai của thông dịch viên Nguyễn Sĩ Phong ở Ban Mê Thuột, nên ông Ba bị bắt ngày 1-5-1975. Bị giam ở Tây Ninh, rồi chuyển về giam tại Tổng Nha Cảnh Sát (Trước 1975). Ông dùng dây lưng quần siết cổ tự tử vào ngày 8-6-1975.“Võ Văn Ba là người yêu nước, là điệp viên giỏi nhất của Việt Nam Cộng Hòa và của CIA”

Trúc Giang

MN Minnesota

ngày 21-3-2023

******************************************************************************************************


Võ Văn Ba: Điệp viên hàng đầu của VNCH và CIA ở Nam Việt Nam

Tác giả: Tina Hà Giang phỏng vấn Frank Snepp

Chỉ gần đây mới có tin chính thức về cái chết của Võ Văn Ba, người từng được coi là ‘điệp viên hàng đầu của CIA ở Nam VN’, khi báo chí Hà Nội gọi đây là ‘tên nội gián nguy hiểm’, bí số X92, Frank Snepp đã biết chắc về cái chết sẽ đến của điệp viên này từ ngày 17/4/1975. “Lúc ấy tôi biết tính mệnh của Võ Văn Ba đang lâm nguy, và có đủ lý do để tin là một nhân viên CIA biết rõ về nhiệm vụ của ông đã bị phe cộng sản bắt tại Phan Rang, và ngờ rằng khi bị tra tấn, người này sẽ khiến ông bị lộ. Một trong những ác mộng kinh hoàng nhất của tôi trong những ngày cuối cuộc chiến – là người anh hùng này, người đã liều lĩnh làm mọi thứ để hỗ trợ đồng minh – và đảm bảo sự thành công của đợt không vận khẩn cấp cuối cùng đưa nhiều người Việt di tản khỏi VN – có thể đã không sống sót. Thiếu tá Cảnh sát VNCH Phan Tấn Ngưu, trong một bài viết về Võ Văn Ba trên trang CanhsatQuocgia.org đã gọi ông là “điệp viên giỏi nhất của VNCH, và nhớ lại ông Võ Văn Ba hay nói ‘Nếu cộng sản chiếm được miền Nam, tôi sẽ tự tử!’ và đó chính là điều ông đã làm, khi bị bắt giữ chỉ vài ngày sau khi Sài Gòn thất thủ.” “Giờ đây tôi nhiều lần tự trách là đã không khăng khăng bắt Võ Văn Ba phải cùng mình rời khỏi Việt Nam,” nhà phân tích chính của CIA (Cục Tình báo Trung ương Mỹ) trong cuộc chiến Việt Nam thổ lộ điều vẫn còn khiến ông bị dằn vặt. Cùng là gián điệp hai mang, nhưng không như Phạm Xuân Ẩn, cái tên Võ Văn Ba chỉ trong mấy năm nay mới được nhắc đến. Truyền thông Việt Nam sau 1975 nói ông “chui sâu, leo cao vào nội bộ ta” trong suốt 10 năm và “gây tổn thất đáng kể cho cách mạng” (báo Nhân Dân hồi 2015, và báo Công an Nhân dân về điệp viên X92). Võ Văn Ba là ai? Ông đã làm gì trong cuộc chiến Việt Nam mà được mệnh danh là điệp viên hàng đầu của CIA, giỏi nhất của VNCH ở Nam Việt Nam? Trong cuộc phỏng vấn chúng tôi thực hiện cho BBC, Frank Snepp, người từng nhận lệnh của CIA đưa ông Nguyễn Văn Thiệu ra sân bay để rời VN tháng 4/1975, nói điệp viên Võ Văn Ba là một trong những lý do ông đang viết thêm một cuốn sách nữa về cuộc chiến cho đến giờ vẫn còn ám ảnh tâm trí ông. Frank Snepp: Võ Văn Ba là một người yêu nước, được CIA đặt cho biệt hiệu ‘TU Hackle’ và là điệp viên giỏi nhất của CIA hoạt động trong lòng địch. Ông từng là một đảng viên cộng sản tận tụy vào cuối thập niên 1940, chuyên tuyển mộ thành viên trẻ tại một tỉnh phía nam Sài Gòn. Ông làm việc với Việt Minh, rồi trở thành một kẻ khủng bố, nhưng nhanh chóng nhận ra rằng khủng bố không phải là cách thu phục trái tim con người. Chán ngán việc phe cộng sản dùng giết chóc và đe dọa như một chiến thuật chiêu mộ, Võ Văn Ba rời bỏ hàng ngũ. Tạm biệt chủ nghĩa cộng sản năm 1954 vào thời điểm Hiệp định Geneva, Võ Văn Ba trở thành người đốn cây trồng rẫy, và dọn về tỉnh Tây Ninh, phía tây bắc Sài Gòn. Tây Ninh là một tỉnh quan trọng, vì đó là địa bàn hoạt động của Trung ương Cục Miền Nam, từ một hang ở Núi Bà Đen. Khi cán bộ Bắc Việt đi qua rẫy của Võ Văn Ba ở chân đồi, ngay bên dưới căn cứ chỉ huy Trung Ương Cục để tham dự các cuộc họp, ông dần dà quen biết họ. Cảnh sát VNCH trong khu vực này, biết lý lịch của Võ Văn Ba, nhận ra ông ở một vị trí lý tưởng. Họ tìm đến ông và nói: chúng tôi muốn ông giúp chúng tôi theo dõi cộng sản, và Võ Văn Ba trở thành gián điệp nhị trùng năm 1960. Thoạt đầu Võ Văn Ba hợp tác với cảnh sát VNCH. Ông nhanh chóng là một điệp viên hiệu quả, làm việc với cấp chỉ huy cộng sản. Võ Văn Ba đóng vai người cộng sản lầm đường muốn trở lại Đảng, và mới đầu chỉ được tiếp cận với vòng ngoài của Trung ương Cục Miền Nam, nhưng sau đó đi hẳn vào trung tâm của Cục. Nhờ vậy, ông thu thập được mọi động tĩnh từ cơ quan này, biết hết các điệp viên hai mang của họ, và những điều họ đang làm. Năm 1965, CIA bắt đầu đưa Võ Văn Ba vào quỹ đạo của mình sau khi nhận thấy ông là một nguồn tin có giá trị. Ông từ đó làm việc cho cả An ninh Cảnh sát VNCH lẫn CIA. Năm 1968, Võ Văn Ba báo trước cho cảnh sát VNCH năm ngày về cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân. Thông tin tương tự đến được Đại sứ quán Hoa Kỳ, người Mỹ không đánh giá cao tin này lắm, nhưng cảnh sát VNCH thì có. Và đó là lý do tại sao khi lực lượng cộng sản tấn công Sài Gòn vào Tết Mậu Thân 1968, cảnh sát VNCH đã chuẩn bị trước và có mặt để đối phó. BBC: Ông có thể kể lại kinh nghiệm làm việc với Võ Văn Ba? Frank Snepp: Năm 1969, tôi đến VN làm chuyên viên phân tích cho CIA. Một trong những điều đầu tiên tôi phải làm là phân tích tài liệu chúng tôi vừa tịch thu được, một tài liệu của Cộng sản quan trọng nhất mà chúng tôi từng có. Tài liệu đó là Nghị quyết 9, phân tích của Bắc Việt về những gì xảy ra năm 1968, cũng như hoạt động quân sự sau đó. Bắc Việt nhận định rằng quá nhiều quân sĩ của họ đã tử trận, nhiều đến mức họ dự trù phải thúc thủ trong vòng hai năm. Nói cách khác, họ không thể có cuộc tấn công lớn nào nữa. Khi CIA tịch thu được toàn bộ tài liệu này, tôi được giao nhiệm vụ cùng với ba hoặc bốn đồng nghiệp, cũng thuộc CIA, phải tìm hiểu xem tài liệu có xác thực hay không. Chúng tôi nghĩ tài liệu đó thật, nhưng không chắc 100%. Làm thế nào để xác định được là tài liệu đó có giúp chúng tôi biết ý định sự thật của phía cộng sản không rất quan trọng, vì chương trình Việt Nam hóa chiến tranh, chính sách mới của Nixon về việc rút lực lượng Mỹ và đưa lực lượng Việt Nam lên tuyến đầu, chỉ mới bắt đầu. Nếu tài liệu này đúng, có nghĩa là trong thời gian hai năm, khi Cộng sản không thể hoạt động mạnh trên chiến trường, chúng tôi sẽ rảnh tay thực hiện chính sách Việt Nam hóa. Chúng tôi gặp Võ Văn Ba và được Võ Văn Ba xác nhận đó là tài liệu đúng. Đó là một đột phá tình báo lớn. Tôi biết Võ Văn Ba trong hoàn cảnh đó. Trong vòng hai năm, tôi bắt đầu gặp trực tiếp ông ta, không phải vì tôi giỏi, không phải vì tôi nói được tiếng Việt, tôi luôn phải có thông dịch viên khi làm việc với Võ Văn Ba, nhưng vì tôi đã nắm sẵn được nhiều bí mật. Là một nhà phân tích của CIA, tôi được truy cập vào những bí mật quan trọng và bạn phải biết bí mật thì mới có thêm được bí mật. Vì vậy CIA cử tôi đến nói chuyện với nhiều nguồn tin, trong đó có Võ Văn Ba, để lấy tin và xác minh xem những gì chúng tôi nhận được có chính xác không. Tôi bị Võ Văn Ba mê hoặc. Ông có trí nhớ phi thường, có thể xem một tài liệu và nhớ nguyên văn mọi thứ cần nhớ về tài liệu đó. Không cần phải cầm tài liệu trong tay, chỉ cần đọc nó một lần, ông sẽ có thể mang tài liệu đó đến cho chúng tôi trong đầu của ông. CIA huấn luyện cho ông tất cả những kỹ thuật căn bản trong nghề tình báo. Phải nói rõ là Võ Văn Ba có người phụ trách trực tiếp tức ‘handler’ là Cảnh sát Đặc biệt của VNCH. Ông cũng có một ”handler” khác là một nhân viên CIA người Mỹ ở Tây Ninh. Nhưng người Mỹ này không thể trực tiếp gặp ông, bởi nếu Cộng sản nhìn thấy ông với một người da trắng, họ sẽ nghi ngờ. Vì vậy, để gặp ‘handler’ người Mỹ, Võ Văn Ba phải vào một bệnh viện ở Tây Ninh, trèo lên một băng ca, kéo tấm trải giường lên người, giả như người đã chết. Sau đó, các nhân viên phụ trách người Việt của ông sẽ chuyển băng ca ra ngoài, đưa lên máy bay. Máy bay sẽ đưa Võ Văn Ba vào Sài Gòn nơi ông cải trang để gặp tôi hoặc một người Mỹ khác. Ông sẽ mặc áo dài nam hay đội bộ tóc giả lớn khiến ông trông giống một phụ nữ và đeo cặp kính đen khổng lồ giống như Greta Garbo, rồi đến gặp chúng tôi tại một nơi an toàn. BBC:Ngoài trí nhớ phi thường như ông nói, Võ Văn Ba là người như thế nào và có đặc điểm gì, thưa ông? Frank Snepp: Võ Văn Ba có hai nhược điểm. Một là rất thích bia Budweiser. Ông được bảo là người Mỹ thả bia Budweiser dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh để làm chậm tiến độ xâm nhập của Bắc Việt, vì đang di chuyển họ phải dừng lại uống bia (cười). Chẳng biết điều đó có đúng không, tôi cho rằng đó là sự thật, dù không bao giờ kiểm chứng được. Dẫu sao Võ Văn Ba rất mê Budweiser. Nhược điểm thứ hai là rất thích thuốc Salem. Nghe nói ông Hồ Chí Minh cũng mê thuốc lá Salem, và thường bỏ thuốc Bastos hoặc thuốc lá Việt Nam trong túi áo, và mời những thứ này cho các đồng chí. Nhưng khi muốn hưởng chút lạc thú, ông sẽ lấy Salem ra hút. Vì vậy, Võ Văn Ba, người thích trò trớ trêu, luôn đòi chúng tôi cung cấp bia Budweiser và thuốc Salem trước khi trao cho chúng tôi những bí mật. Và những bí mật ông có được thì thật tuyệt vời. Toàn những tin từ nội bộ. Ông được hàng ngũ cộng sản tín nhiệm đến nỗi được tham gia các cuộc họp bên trong Bộ chỉ huy ở Núi Bà Đen. Võ Văn Ba ở vào vị trí lý tưởng để giúp chúng tôi, và để giúp ông đóng được vai trò một thành viên Cộng sản tốt, CIA và Cảnh sát Đặc biệt VNCH dàn dựng nhiều việc. Chúng tôi tấn công vào các trạm kiểm soát của cảnh sát VNCH, tất cả đều là giả, và sau đó loan tin là phe cộng sản đã làm điều đó, dĩ nhiên Võ Văn Ba kiếm được điểm, vì vậy, tín nhiệm của ông ngày càng tăng trong giới chỉ huy Bắc Việt. Họ cho rằng ông đã thi hành tất cả những điệp vụ kinh tởm cho họ, trong khi thực sự ông làm việc cho chúng tôi. BBC: Những tường trình của Võ Văn Ba đã giúp công việc của ông ra sao? Frank Snepp: Tôi dần dà ủng hộ tuyệt đối những tường trình của Võ Văn Ba. Lúc trở về trụ sở CIA ở Mỹ vào năm 1971, tôi là thành viên của một đơn vị phân tích lớn, chuyên viết bản tường trình hàng ngày (Daily Brief) cho Tổng thống. Tôi quảng bá báo cáo của Võ Văn Ba, vì là một trong số ít người trong ban phân tích của CIA đã gặp được ông, và vì tôi biết ông là vàng ròng. Năm 1972, chúng tôi bắt đầu nhận được báo cáo lạ của Võ Văn Ba. Lạ vì nó cho thấy Cộng sản đang làm một điều mà chúng tôi không bao giờ nghĩ họ sẽ làm. Họ cho cán bộ biết là có thể sẽ có một hiệp định hòa bình mà không cần phải có điều kiện họ luôn coi là tiên quyết, đó là Nguyễn Văn Thiệu phải từ chức. Tôi sửng sốt khi đọc điều đó, vì tôi biết Võ Văn Ba là người đáng tin. Tôi viết ngay bản tường trình hàng ngày cho tổng thống nói rằng tôi nghĩ một hiệp định hòa bình đang trong quá trình được thực hiện. Lúc ấy Henry Kissinger đang bí mật đàm phán ở Paris, nhưng không nói cho ai biết mình đang làm gì. Báo cáo của Võ Văn Ba là dấu hiệu đầu tiên cho chúng tôi thấy đã có bước đột phá trong cuộc đàm phán bí mật ở Paris giữa Kissinger và Lê Đức Thọ. CIA, dù ít nhất là ở cấp của tôi, không ai biết gì về điều này. Vì vậy, chúng tôi đã được điệp viên giỏi nhất của mình báo về tiến trình các cuộc đàm phán tại Paris. Sau đó tôi lại được cử về Sài Gòn vào mùa thu năm 1972 để thẩm vấn một tù binh Bắc Việt giỏi nhất mà chúng tôi bắt được. Vào tháng 10/1972, khi tôi đã có mặt ở Sài Gòn, chúng tôi nhận được một báo cáo hết sức sửng sốt của Võ Văn Ba. Báo cáo cho biết Kissinger đã có một thỏa thuận khủng khiếp với phe cộng sản, cho phép Bắc Việt giữ lực lượng của họ ở miền Nam. Bản báo cáo của Võ Văn Ba không chỉ đến Tòa Đại sứ, mà còn đến tay Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, khiến ông Thiệu vào tháng 10/1972 phản ứng mãnh liệt, hỏi chuyện gì đang xảy ra, Kissinger đang làm gì? Ông Thiệu nhất quyết phản đối, nói sẽ không chấp nhận thỏa thuận mà Kissinger đang đàm phán dù đó là thỏa thuận gì, vì ông không được tham dự vào việc thương lượng. Khi ông Thiệu nhất quyết phản đối thì đến phiên Bắc Việt hỏi chuyện gì đang xảy ra, người Mỹ chắc đang lừa chúng ta. Khi thấy thỏa thuận có nguy cơ bị hỏng, vì Võ Văn Ba đã cho chúng tôi biết sự thật, Nixon quyết định dội bom Bắc Việt để chứng minh với ông Thiệu rằng Mỹ vẫn đứng về phía ông, và cũng để làm cho Bắc Việt phải tiếp tục thương lượng, và họ đã trở lại đàm phán. Võ Văn Ba đã cung cấp cho tổng thống VNCH thông tin đầu tiên về những gì Kissinger đang làm, và quan trọng nhất là quyết định cho phép quân đội Bắc Việt ở lại miền Nam của Kissinger. BBC: Ông có tiếp xúc với Võ Văn Ba thường xuyên không? Frank Snepp: Trong thời kỳ ngừng bắn 1973 đến 1975, tôi thỉnh thoảng gặp ông để biết những kế hoạch mới nhất của cộng sản. Tôi cũng được trao một trọng trách mới, là giúp quản lý một đặc vụ mà chúng tôi đang có ở Hà Nội. Phải nói rõ rằng người phụ trách Võ Văn Ba là một nhân viên CIA khác rất giỏi, nhưng tôi được cử đến gặp ông định kỳ để kiểm chứng những phát hiện của ông với nguồn trực tiếp của chúng tôi ở Hà Nội. Tôi không giỏi gì, nhưng chỉ vì tình cờ mà tôi được liên lạc trực tiếp với điệp viên giỏi nhất của CIA và có dịp kiểm chứng những tin những điệp viên gửi về. Khi Nixon từ chức, Võ Văn Ba cho chúng tôi những dấu chỉ đầu tiên về những gì Cộng sản sẽ làm vào cuối năm 1974. Ông nói Bắc Việt sẽ thử nghiệm để xem khả năng phòng thủ của VNCH lúc ấy yếu đến độ nào. Ngày 8/4/1975, Võ Văn Ba cho chúng tôi báo cáo đầu tiên về những gì phe cộng sản sẽ làm để dứt điểm cuộc chiến. Tôi không được tin này trực tiếp, mà nhận qua người ‘handler” của ông. Tôi gửi ngay yêu cầu cho Võ Văn Ba thông qua người Mỹ này để hỏi thêm. Sau đó, ngày 17/4, tôi trực tiếp gặp Võ Văn Ba và nhận được toàn bộ kế hoạch kết thúc chiến tranh của Cộng sản: Sẽ không có thỏa thuận nào, ông Thiệu từ chức hay không không thành vấn đề, cũng không thành vấn đề nếu chúng tôi muốn thành lập một chính phủ liên hiệp, Cộng sản nhất quyết tiến chiếm Sài Gòn kịp sinh nhật Hồ Chí Minh vào giữa tháng 5, và sẽ tấn công trước ngày 1/5, đúng y như những gì đã xảy ra. Tin đó khiến các nhà hoạch định quân sự Hoa Kỳ đã bị sốc mà phải tức thời lập chương trình cho những chuyến trực thăng khẩn cấp đưa người di tản. Vì vậy, với những ai đã được đưa ra khỏi Việt Nam vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến, Võ Văn Ba là người đã cứu họ…

P HẦN 2 : FR A N K S N E P P S O S Á N H Đ IỆP V IÊ N C IA V Õ V Ă N B A V À T ÌN H B Á O C S P HẠM X U Â N ẨN .

là gián điệp nhị trùng, nhưng không như Phạm Xuân Ẩn, cái tên Võ Văn Ba chỉ trong mấy năm nay mới được nhắc đến. Truyền thông Việt Nam sau 1975 nói ông “chui sâu, leo cao vào nội bộ ta” trong suốt 10 năm và “gây tổn thất đáng kể cho cách mạng”. Võ Văn Ba là ai và số phận ông ta ra sao sau 30/04/1975 khi lực lượng chính quy của Bắc VN tiến vào Sài Gòn, xóa sổ chế độ VNCH. Trong cuộc phỏng vấn chúng tôi thực hiện cho BBC, Frank Snepp, nhà phân tích chính của CIA trong chiến tranh VN, kể những gì ông biết về Võ Văn Ba, nêu ra ý kiến cá nhân về điệp viên này và chia sẻ những gì ông tin là ông biết được thêm sau 1975. Frank Snepp: Theo thông tin mà chính Cộng sản đưa ra sau đó, Võ Văn Ba bị một nhân viên CIA, một người Mỹ bị bắt hai tuần trước khi cuộc chiến kết thúc làm lộ. Theo bản dựng lại vụ án của Cộng sản, được công bố sau chiến tranh, nhân viên CIA này, khi bị tra tấn đã khai ra Võ Văn Ba. Ngoài ra, hành tung của Võ Văn Ba cũng bị một thông dịch viên người Việt tiết lộ. Đây là người từng làm việc với Võ Văn Ba, người này bị bắt, tôi nhớ là ở Ban Mê Thuật. Tóm lại, hai cá nhân liên quan đến CIA, khi bị tra tấn đã khai ra vai trò của ông. Khi tôi gặp Võ Văn Ba hôm 17/4, mạng sống của ông đang bị nguy hiểm nghiêm trọng, vì trong vòng vài ngày đó ông có lẽ đã gặp những người đã bị bắt, trong đó có một số người Mỹ. Khi Sài Gòn thất thủ, Võ Văn Ba chưa di tản. Với thông tin thu thập được từ các tù nhân, phe cộng sản bắt giam ông, và họ công bố trong các phân tích thời hậu chiến là ông đã dùng thắt lưng treo cổ tự tử để khỏi bị tra tấn. Vợ ông bán hoa ở Tây Ninh dường như không bị sát hại, và tôi tin là con trai của Võ Văn Ba cũng không bị cộng sản bắt bớ, mặc dù điều này không rõ ràng. Với tôi, Võ Văn Ba là một người hùng, một người thực sự yêu nước. Ông là một Nathan Hale (1755-1776, sĩ quan, nhà hoạt động tình báo thời cuộc chiến Cách mạng Mỹ) của miền Nam Việt Nam, và cho đến gần đây, khi Bắc Việt công bố những tài liệu riêng của họ, công chúng vẫn biết rất ít về ông. Tôi đã viết về Võ Văn Ba trong cuốn Decent Interval, nhưng lúc ấy tôi rất cẩn thận, không tiết lộ bất kỳ chi tiết nào, không công bố danh tính hay thông tin xác định nào ngoại trừ việc nói rằng ông ở tỉnh Tây Ninh và là điệp viên tốt nhất của CIA. Lý do là khi viết sách, tôi không biết chắc số phận Võ Văn Ba lúc đó ra sao. BBC: Có phải Võ Văn Ba là một trong những lý do khiến ông viết thêm một cuốn sách nữa về cuộc chiến Việt Nam. Ông biết tin Võ Văn Ba treo cổ tự tử vào lúc nào? Frank Snepp: Kể chuyện Võ Văn Ba, tôi hy vọng sẽ tạo chất xúc tác để những người Việt tị nạn và người Việt sống ở hải ngoại tôn vinh người đàn ông này. Ông là một người miền Nam yêu nước một cách phi thường, nhưng chưa ai biết nhiều về ông, ít nhất là cho đến nay. Tôi chỉ biết tin Võ Văn Ba chết khi an ninh Việt Nam ở Hà Nội công bố tài liệu của họ về vụ án. Trong bốn năm qua, Hà Nội đã công bố gần như tất cả những khám phá của họ về ông. Họ đã kiểm tra lời khai của tù nhân, thu giữ tài liệu và tổng hợp lại những chiến dịch mà họ cho là đã gây tổn hại cùng cực, và kết luận Võ Văn Ba là điệp viên nguy hiểm nhất từng hoạt động chống cách mạng. Họ xác nhận những gì tôi biết, đó là việc ông đã tiết lộ các tài liệu về kế hoạch và thiết kế quan trọng của Cộng sản từ năm 1965 đến khi kết thúc chiến tranh. Ông đã cung cấp hết cho CIA, vấn đề là CIA không phải lúc nào cũng tin ông. BBC: Ông Phan Tấn Ngưu, người phụ trách liên lạc với Võ Văn Ba từ phía VNCH, viết là CIA có lúc không tin Võ Văn Ba là vì ông gặp vấn đề bị thử bằng máy phát hiện nói dối (lie detector test). Điều đó đúng không? Frank Snepp: Vào năm 1971, có nghi ngờ rằng Võ Văn Ba là gián điệp nhị trùng hoạt động cho Cộng sản. Tôi đã có cuộc gặp kéo dài ba ngày với ông và xem qua tất cả những gì chúng tôi biết về ông, cùng với ông Phan Tấn Ngưu, sĩ quan cảnh sát của VNCH, “handler” của Võ Văn Ba, hiện đang sống ở Quận Cam (California) và cũng là người đã công bố những gì ông biết về Võ Văn Ba kể cả việc chúng tôi đã gặp nhau. Vào đầu năm 1971, tôi đã có thể xác minh rằng Võ Văn Ba đúng là những gì ông đã tuyên bố. Điều gây nghi ngờ là Võ Văn Ba đã đưa một số báo cáo cho các cơ quan tình báo khác của VNCH, như Phủ Đặc ủy Tình báo Trung ương và có thể cả cho cơ quan an ninh quân đội. Võ Văn Ba làm như vậy vì họ trả ông một ít tiền. Ông cung cấp cho chúng tôi những bí mật chính, nhưng cũng kiếm thêm tiền bên ngoài. Và vì vậy, khi làm ‘lie detector test’, đồ thị của ông có những vết nhấp nhô. Ông cũng không nói với chúng tôi rằng ông trao một số bí mật cho những cơ quan đồng minh để kiếm thêm chút tiền. Đó là nguồn gốc những nghi vấn về ông. Nhưng những nghi ngờ này phần lớn đã được giải tỏa, chủ yếu là qua cuộc gặp gỡ ba ngày của tôi với ông ấy vào năm 1971. BBC: Ông có thể so sánh Võ Văn Ba với Phạm Xuân Ẩn, điệp nổi tiếng hoạt động cho phe cộng sản Bắc Việt cũng trong cuộc chiến VN? Frank Snepp: Phạm Xuân Ẩn nói chung là một hacker. Ông ta làm việc chống lại mục tiêu mềm yếu nhất ở miền Nam Việt Nam, đó là giới báo chí. Ông Ẩn thu thập những thông tin có giá trị mà báo chí lấy được từ Đại sứ quán Hoa Kỳ, và chuyển nó cho Bắc Việt. Nhưng so sánh Phạm Xuân Ẩn với Võ Văn Ba, thì xin đừng làm thế. Võ Văn Ba là thứ thiệt. Ông như nhân vật trong phim James Bond. Võ Văn Ba nằm ở ngay Trung ương Cục Miền Nam của phe cộng sản, đầu não chính của họ ở miền Nam, giống như một điệp viên nằm ngay trong Lầu Năm Góc. So với Võ Văn Ba, Phạm Xuân Ẩn không là gì cả. Ý tôi là, Phạm Xuân Ẩn được ca tụng vì giới báo chí Mỹ kinh ngạc không thể tin được là họ đã bị ông ấy lừa. Vậy à? Nhưng, việc đưa ra đề xuất so sánh hai người, tôi nghĩ, là một xúc phạm với Võ Văn Ba. Thật đấy. Không phải là tôi muốn hạ giá trị Phạm Xuân Ẩn. Tôi biết ông ta là một điệp viên thông minh, nhưng xét về tầm cỡ, ông ấy không thể so với vai trò của Võ Văn Ba. BBC:Theo ông, Võ Văn Ba đã có những thành tích gì đáng ghi nhớ? Frank Snepp: Võ Văn Ba cho Nguyễn Văn Thiệu dấu chỉ đầu tiên là Henry Kissinger đang đánh lừa miền Nam Việt Nam. Ông đã cảnh báo cho chúng tôi về Tết Mậu Thân năm 1968 mặc dù Đại sứ quán Hoa Kỳ không công nhận tất cả những điều ông nói. Ông đã giúp chúng tôi chứng thực tài liệu cho thấy phe cộng sản đã chịu những thương vong khủng khiếp vào năm 1968 và sẽ không thể tiếp tục chiến đấu với mức độ ác liệt như cũ. Điều đó giúp chúng tôi khởi động chương trình Việt Nam hóa chiến tranh. Ông đã cho chúng tôi biết phản ứng đầu tiên của phe cộng sản về việc Tổng thống Nixon từ chức vào tháng 8 năm 1974. Võ Văn Ba báo cho chúng tôi mọi quyết định quan trọng Cộng sản đưa ra. Đây không phải là nhận định của tôi mà là nhận định của chính Bắc Việt. Họ lập một danh sách, nói là Võ Văn Ba đưa cho CIA kế hoạch cho các năm 1969, 1970, cuộc tấn công lễ Phục sinh… Võ Văn Ba cung cấp tất cả thông tin về kế hoạch ngừng bắn của họ. Bạn không cần tin tôi, mà hãy đọc những phân tích của họ, những phân tích của chính phe địch. Ngay Bắc Việt cũng phải công nhận là Võ Văn Ba qua mặt được họ là điều rất phi thường. Đại sứ Graham Martin dần dà cũng quý mến Võ Văn Ba, vì ông cho rằng thành công của Võ Văn Ba cho thấy phe cộng sản cũng dễ bị tổn thương và có điểm yếu kém, có lỗ hổng. Vì vậy, khi Đại sứ Martin cuối cùng quyết định không tin vào cảnh báo của Võ Văn Ba là sẽ không có thỏa thuận, điều đó làm tôi sửng sốt, vì ông đã từng tin rằng điệp viên này giỏi nhất trong số những người giỏi nhất. Việc Đại sứ Martin và xếp CIA Polgar giảm tầm quan trọng của những gì Võ Văn Ba cảnh báo làm tôi kinh ngạc. Nhưng những điều Võ Văn Ba nói với chúng tôi hôm 17/4, cuối cùng cũng đã được gửi về cho tổng thống trong bản tóm tắt hàng ngày, và nhờ đó đã thúc đẩy ngay kế hoạch cho trực thăng bốc người, giúp nhiều người trong chúng ta vượt thoát. Tóm lại, chúng ta không thể kể về Chiến tranh Việt Nam mà không nhắc đến thành tích của Võ Văn Ba. Lịch sử chiến tranh Việt Nam đã được kể lại nhiều lần, nhưng không mấy ai có thông tin về Võ Văn Ba, ngoại trừ những gì tôi viết trong cuốn hồi ký ban đầu, nhưng cũng không dám viết gì nhiều như bây giờ. Giờ đây tôi đã viết về Võ Văn Ba, và đến nhiều viện bảo tàng và viện nghiên cứu khác nhau để nói rằng, quý vị phải cập nhận tài liệu của quý vị về chiến tranh Việt Nam, phải kể về một số đóng góp của người đàn ông này, bởi vì những gì Võ Văn Ba báo với chúng tôi đều là tin chính xác vào những thời điểm quan trọng. Và lịch sử phải ghi rõ những gì chúng ta biết, những gì không biết, những tin chúng ta đã vì đó có hành động thích hợp, và những tin chúng ta đã phớt lờ. Phải làm thế, vì sự thật là điều then chốt của lịch sử.

Trời vào thu, Đại Ngu buồn lắm em ơi!

Báo Tiếng Dân

Dương Tự Lập

2-4-2023

(Thế hệ một thời đi qua vòm trời vàng son Việt Nam Cộng Hòa)

Trước đó đã có, nhưng rầm rộ hơn phải được tính từ đầu năm 2004 khi ông cựu Phó Tổng thống Việt Nam Cộng hòa bốc đồng Nguyễn Cao Kỳ do được những tay “bác sĩ” Cộng sản tài tình kết nối “khúc ruột dư” của ông trở về Việt Nam thành “khúc ruột Thừa ngàn dặm”.

Năm kế tiếp 2005 là lão nhạc sỹ Phạm Duy, người có số phận quá tam ba bận. Kháng chiến chống Pháp ông bỏ chiến khu về Thành, chia cắt hai miền ông bỏ Thành Hà vào Nam, Bắc thâu tóm Nam ông bỏ Nam chạy sang Mỹ. Ba mươi năm mang kiếp sống của kẻ lưu vong.

Từ đó đám chống Cộng xôi thịt bên Mỹ như bọn Nguyễn Ngọc Lập, Hoàng Duy Hùng, Nguyễn Phương Hùng… theo gương ông Kỳ từ Mỹ ào ạt trở về, và cũng đều giống nhau, khi đặt chân xuống sân bay, bọn chúng nước mắt lưng tròng nức nở nghẹn ngào, ân hận, tự nhận đã một thời lầm đường lạc lối, đầy mình tội lỗi đối với đất nước non sông.

Tiếp nối theo có đám ca sĩ Việt ở Mỹ cũng rầm rộ kéo nhau về “kiếm ăn” bởi ở Mỹ thị trường âm nhạc ấy đã hết… ăn. Kiều bào ta rải rác khắp nước Mỹ thời điểm này khoảng hai triệu người. Thế hệ thích nhạc xưa ngày một thưa thớt, trong khi ở Việt Nam một trăm triệu dân, lượng khán giả háo hức đón nhận dòng nhạc vàng, Bolero này còn thịnh hành, còn đông lắm. Thôi thì sống đâu cũng là sống, cũng vẫn phải làm, vẫn phải tồn tại. Chuyện cơm áo gạo tiền gắn liền sinh mạng.

Hơi phiền là các ca sĩ này cứ tưởng bở, được hát những bài hát của họ tự chọn thoải mái như trên sân khấu Mỹ, Pháp, Úc… Như trên sân khấu quê nhà của thời vàng son Việt Nam Cộng hòa còn tồn tại. Họ được trở về Việt Nam hành nghề đã là một “đặc ân lớn” của Chính phủ, của Đảng phẩm chất, trí tuệ, cùng lòng bao dung độ lượng nhân ái dành cho dân và vì dân. Nếu không phải Đảng Cộng sản Việt Nam thì chẳng có cái Đảng chó nào trên thế gian này vĩ đại, giầu lòng chắc ẩn hơn.

Nào là Chế Linh, Thanh Tuyền, nào là Phương Dung, Giao Linh, nào là Hương Lan, Tuấn Vũ, rồi Khánh Ly, Tuấn Ngọc… ùn ùn theo nhau kéo về hát trên sân khấu quê nhà hợp hòa dân tộc. Tất cả các ca sĩ này có một số phận na ná giống nhau, tiền sử của họ đều bị khép tội phản động, bỏ chạy vào ngày “Đất nước trọn niềm vui” 30-4-1975. Họ trở thành thuyền nhân (Boat people) lênh đênh biển cả. Mạng họ đào hoa nên chưa bị sa vào ruột cá. Đến nay tuổi của họ cũng kha khá là cao. Ông Đỗ Phủ cười xếp tất cả loại này vào bọn “người xưa nay hiếm”.

Chương trình của họ vé đã được bán hết, đang chuẩn bị trình diễn, hoặc diễn hát giữa chừng mà lỡ có bị cúp mất điện, tắt đài thì chỉ là chuyện hài Xã hội chủ nghĩa, chuyện muỗi. Lỗi này nếu truy xét nguyên nhân thì đều do từ dân xướng ca phạm luật chơi, đi sai đường hoặc hát chệch hướng chỉ đạo của Ban Tuyên giáo Trung ương.

Xin nêu mấy trường hợp mới xẩy ra đối với nhóm ca sĩ đã trải qua chế độ Việt Nam Cộng hòa trở về hát trên quê nhà thời gian gần đây để ta suy ngẫm.

Chế Linh gốc người Chăm, từng sáng tác và hát cho lính “Ngụy quân, Ngụy quyền”. Tuổi trẻ vô Sài Gòn nói tiếng Việt chưa sõi. Bắt đầu nổi tiếng từ bài hát đầu tiên “Tình bơ vơ” của nhạc sĩ Lam Phương. Từng bị chế độ Cộng sản bỏ tù rồi vượt biên thoát nạn. Ra hải ngoại, đứng trên sân khấu Thúy Nga Paris by night dám đóng vai Vua Champa Chế Bồng Nga, vị vua vĩ đại cuối cùng của Quốc vương Chăm vì sau khi ông tử trận năm 1390 khép lại lịch sử cường hùng, người sau thế ông không ai hơn được. Nước Chăm cũng bị nhà Hồ Đại Ngu đánh chiếm giang sơn dần, mất hết đất đai thịnh vượng và về sau bị xóa sổ hoàn toàn.

Báo An Ninh Thế giới cuối tháng ngày ấy đã đăng hình ông “Vua Chế Linh” trong bộ áo bào uy nghi lẫm liệt và có hẳn một trang dài luận tội Chế cực kỳ phản động, dám gợi lại một triều đại đã qua. MC Nguyễn Ngọc Ngạn thì đùa tếu, Chế là người vô tổ quốc, người nước ngoài nói hai thứ tiếng. Nay cho về lại Việt Nam hát là hồng phúc rồi, nếu lỡ như có xẩy ra sự cố chi chi đó khi chuẩn bị trình diễn tại Thủ đô Hà Nội như hồi trung tuần tháng 11 năm 2022 thì chỉ là do phúc của Chế hết hồng mà thôi. Dẫu có thế nào thì Chế cũng đừng oán than chế độ ưu việt đãi ngộ cho Chế trở về, bởi kết cục nó tất phải thế.

Khánh Ly làm cả một chương trình show tại Đà Lạt cuối tháng 6 năm 2022 không sao, ngứa nghề tương thêm bài “Gia tài của mẹ” (Trịnh Công Sơn sáng tác):

“Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu

Một trăm năm đô hộ giặc Tâу

Hai mươi năm nội chiến từng ngàу

Gia tài của mẹ để lại cho con …

Gia tài của mẹ một rừng xương khô

Gia tài của mẹ một núi đầу mồ…

Gia tài của mẹ một nước Việt buồn”…

Tắt điện. Cấm hát, về nước Mỹ mà hát. Giá như lúc đó nữ ca sĩ này hứng lên hát: “Như có Bác trong ngày vui đại thắng” (Phạm Tuyên), hay “Tiếng hát từ thành phố mang tên Bác” (Cao Việt Bách), hoặc “Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người” (Trần Kiết Tường), “Đất nước trọn niềm vui” (Hoàng Hà) … chắc chắn Khánh Ly còn được hát, hát nữa, hát mãi, hát tẹt ga, ca tẹt sức. Thậm chí sẽ được hát khuyến mại, hát dưới ánh điện sáng trưng, hát tưng bừng như chưa bao giờ được hát.

Hỏng rồi! Giặc Tây thì còn được chớ sao lại có giặc Tàu ở đây? Sao lại nội chiến, bọn chúng ông “đánh cho Mỹ cút đánh Ngụy nhào” kia mà, phải nói ngoại chiến chứ, nội chiến cái con khỉ tiều, chẳng hiểu gì về điện. Xương khô nào đầy mồ. Việt nào là Việt buồn, không thấy chúng ông suốt ngày vui như có Bác, sướng như được sống bên lăng Người đó thây. Tắt, biến.

Nói vui vậy thôi chứ gì thì gì ca sĩ Khánh Ly vẫn đáng khen bởi bà dũng cảm “Hát trên những xác người” (Trịnh Công Sơn) của một trời tóc tang Mậu Thân Huế 1968 bị Cộng sản tàn sát:

“Chiều đi qua Bãi Dâu, hát trên những xác người

Tôi đã thấy, tôi đã thấy,

Trên con đường, người cha già ôm con lạnh giá.

Chiều đi qua Bãi Dâu, hát trên những xác người

Tôi đã thấy, tôi đã thấy,

Những hố hầm đã chôn vùi thân xác anh em”.

Thể hiện nhạc phẩm nào thì Khánh Ly cũng rất tôn trọng tác giả cùng lời ca trong bài hát. Dẫu có bị Ban Tuyên giáo đuổi về lại nước Mỹ thì bà cũng nên vui vẻ. Không vì thế mà danh của bà sứt mẻ mòn hao.

Khánh Ly có chung số phận đắng cay với hơn một triệu người dân miền Nam đúng ngày “Đất nước trọn niềm vui” ấy, Ly chạy ra biển, Ly biến sang Mỹ. Trên sân khấu tự do thân hình gầy gò khô héo, Ly hát rắt réo : “Đêm chôn dầu vượt biển” (của Châu Đình An) nghe đau nhói:

Đêm nay anh gánh dầu ra biển anh chôn

Anh chôn, chôn hết cả những gì của yêu thương

Anh chôn, chôn mối tình chúng mình

Gửi lại đây trăm nhớ ngàn thương

Tạm biệt… nước non!

Rồi Ly lại hát: “Một chút quà cho quê hương” của (Việt Dzũng) sao tang tóc hãi hung:

Con gởi về cho cha một manh áo trắng

Cha mặc một lần khi ra pháp trường phơi thây

Gởi về Việt Nam nước mắt đong đầy

Mơ ước một ngày quê hương sẽ thanh bình…

Cả tác giả lẫn người hát đều là nạn nhân, thuyền nhân, chứng nhân trong cuộc chiến cốt nhục tương tàn, tiêu tan đất nước. Nên Ly thả hồn mình vào lời ca thổn thức, nhói nhức tâm can, chứa chan nước mắt, đau thắt con tim.

Cũng giống Chế Linh, Báo An Ninh Thế giới cuối tháng ngay sau đó có bài viết đầy trang về bà. Vạch trần bộ mặt phản quốc, tiểu sử Lệ Mai (tên thật của Khánh Ly) còn gọi Mai “đen” sinh ra và lớn lên trên phố Hàng Bông – Hà Nội. Đích thị gốc người Tràng An thanh lịch. Theo mẹ di cư vào Nam năm 1954 khi còn tuổi nhỏ lên chín lên mười, rồi trưởng thành người ca sĩ trong chế độ Ngụy Sài Gòn bơ thừa, sữa mứa của Mỹ.

Lịch sử ở đâu? Lịch sử chính là đây? Trong ca, văn, nhạc, họa chốn này… Thế hệ sau ta có hiểu nổi sao lại phải vượt biển? Sao lại phải chôn dầu mỗi nơi một chút, sao lại phải chôn lén lút giữa đêm đen. Phải gom tới bao nhiêu hộc dầu như thế mới đủ được cho ghe, cho xuồng chạy ra hải phận Việt Nam.

Sao đất nước văn hiến, văn vật mà cứ tối đen như mực, nào là “Tắt đèn”, tiểu thuyết Ngô tất Tố. Sau “Đêm đông” nhạc phẩm Nguyễn Văn Thương, đến “Đêm hội Long Trì”, tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng, “Đêm chôn dầu vượt biển” ca khúc Châu Đình An, “Cái đêm hôm ấy… đêm gì” bút ký Phùng Gia Lộc, “Đêm giữa ban ngày” hồi ký Vũ Thư Hiên, “Đêm dày lấp lánh” chính luận Nguyễn Thanh Giang… Ôi đất nước tôi, triền miên nghe nỗi đau của mẹ: “Ba lần tiễn con đi, hai lần khóc thầm lặng lẽ”. Ôi đất nước tôi, những kẻ biệt xứ xa xôi, lòng hằng mong giản đơn thôi “Mơ ước một ngày quê hương sẽ thanh bình”.

Ngỡ đất nước thanh bình nên bốc đồng Nguyễn Cao Kỳ muốn gửi nắm tro tàn của mình trên quê hương vào cuối đời như mơ ước. Khi cầm quân chống Bắc Việt ông Tướng cao bồi này đã đại bại, lúc nhắm mắt ông Kỳ còn thảm hại hơn. Ông ta phải chết ở nước ngoài. Nghe bảo cô con gái ông ở Mỹ có đi nói khó với mấy chùa người Việt bên đó nhờ ký gửi nắm tro cốt của cha mình họ mới chịu. Còn nhạc sĩ Phạm Duy (Phạm Duy Cẩn), người Hà Nội “xịn” trăm phần trăm luôn, sinh tại phố Hàng Cót, sống chỗ phố Hàng Dầu:

Nhà tôi ở phố Hàng Dầu

Số nhà năm bốn (54) đứng đầu… du côn” (Hồi ký)

Trước khi nhắm mắt, ông lấy làm tiếc là nhiều tác phẩm của mình còn bị cấm. Hai trường ca chưa được cấp phép “Con đường cái quan” và “Mẹ Việt Nam”. Ông nhận thấy hoàn toàn thất bại khi người Việt còn chưa thực sự hòa hợp hòa giải cho dù đất nước đã thống nhất từ lâu.

Sau năm 1975 các vở kịch “Lá sầu riêng” (Kim Cương), “Đời cô Lựu” (Trần Hữu Trang), “Nửa đời hương phấn” (Hà Triều-Hoa Phượng)… tràn ra, dẹp dần các đoàn kịch Bắc. Gần nửa thế kỷ sau dòng nhạc vàng – Bolero của các nhạc sĩ miền Nam lan tỏa khắp bản làng thôn quê nước Việt. Thậm chí các cuộc thi Bolero bao giờ cũng được đón nhận người thi, người xem đông đảo, hoàn hảo, hào hứng, sôi nổi nhất. “Tình bơ vơ” (Lam Phương), “Xuân này con không về” (Trịnh Lâm Ngân), “Nỗi lòng người đi” (Anh Bằng), “Hai mùa mưa” (Lê Minh Bằng), “Trăng tàn trên hè phố” (Phạm Thế Mỹ), “Hoa trinh nữ” (Trần Thiện Thanh) …

Người nặng lòng gìn giữ phát huy di sản “tàn dư văn hóa đồi trụy” này ở Hải ngoại, công lớn nhất phải nhắc tới cố Giáo sư Tô Văn Lai (To Lai Peter) 1937 – 2022. Vượt biên sang Pháp cuối năm 1976, từ hai bàn tay trắng sáng lập gây dựng nên hãng băng dĩa Thúy Nga Paris, hãng băng dĩa lớn nhất của người gốc Việt ở hải ngoại, mang tên – Trung tâm Thúy Nga.

Ngày ông mất báo chí trong nước im hơi lặng tiếng. Nghe nói cô con gái ông là Tô Ngọc Thủy (Marie To) thay cha đem chương trình Thúy Nga về trình diễn lởn vởn mấy quốc gia châu Á sát Việt Nam như Singapore, Bangkok-Thái Lan. Người Việt mua vé bay sang xem đông như ngày hội. “Khúc ruột đặc biệt” ngàn trùng cách trở của dân tộc không được kết nối. Tội.

Rút ra sự thật bẽ bàng hôm nay và mãi muôn sau lời khẳng định chắc nịch của ông Tuyên giáo mẫn cán Trần Long Ẩn, Ủy viên Thường vụ Hội Nhạc sĩ Việt Nam: “Toàn bộ nền văn hóa nghệ thuật miền Nam trước năm 1975 là độc hại. Cần xóa bỏ hết”. Sặc mùi tanh tưởi, Nhổ rồi Liếm đã thành căn bệnh mãn tính của ban bệ này.

Dẫu sao mấy ca sĩ trên đây nói gì thì nói vẫn còn tư cách, giấy rách mà giữ được lề chứ cái nhà ông thợ hát Tuấn Ngọc kia tự tiện sửa lời làm ôi mặt làng “xướng ca muôn loài”. Trong ca khúc “Tình bơ vơ” nổi tiếng của cố nhạc sĩ Lam Phương hồi giữa tháng 3 năm 2023 này được tổ chức mở show tại Sài Gòn.

Nguyên bản “Trời vào thu Việt Nam buồn lắm em ơi”, Tuấn Ngọc hát thành “Trời vào thu chiều nay buồn lắm em ơi”. Phần đông khán thính giả, người xem, người đọc, bức xúc, xô vào bình luận chửi bới phê phán Ban Tuyên giáo quá khắt khe, rồi thì Ban Tuyên giáo hay nhăm nhe soi mói, Ban Tuyên giáo dữ dằn hơn con sói đói mồi, nên Tuấn Ngọc phải sửa lời, vân vân và vân vân…

Sai, hoàn toàn sai nếu trút hết nỗi căm giận cùng tội lỗi này lên đầu Tuyên giáo quốc gia. Nhiều người còn suy luận hát về mùa Thu Việt Nam thì phải tươi sáng, hào hùng khí thế như mùa thu Cách mạng tháng Tám 1945, Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9. Nếu có đúng chỉ đúng một phần nào đó thôi. Trong khi lỗi đó lại do chính “Ngọc hành” – xử trên sân khấu.

Cứ cho là Ngọc sợ Tuyên giáo cấm chứ bảo Ngọc quên lời nên hát sai càng không đúng vì đời Ngọc hát bài này có dễ đến trăm lần dư. Nếu còn nhân cách không phải hạng người giẻ rách chiếu manh thì ông ta bỏ hát bài đấy, lấy bài hát khác thế thôi có sao đâu, Tuyên giáo chắc bái chào thua. Cũng không phải vậy, đã lâu rồi trước đó “Tình bơ vơ’ được các ca sĩ hát ở Cung Văn hóa Hữu nghị Hà Nội. Các sân khấu diễn tại Sài Gòn, và nhiều nơi khác nữa trên cả nước mà vẫn trung thành với bản gốc, bài hát vẫn thể hiện được đúng lời. Như thế là không có sự cấm đoán ở đây, chí ít đúng bài này.

Tôi ghép thêm môt kẻ nữa cùng dân sàn diễn thời gian chưa xa, đó là Giám đốc nhà hát kịch, thằng hề láo Xuân Bắc. Vẫn biết nó là thằng hề của Tuyên giáo hay Tuyên giáo đẻ ra thằng hề Xuân Bắc xược láo cũng vậy. Thay vì tiếp thu lời phê bình của khán giả trong chương trình Táo quân trên Đài Truyền hình VTV càng ngày càng nhạt nhẽo, Bắc đã bịa bài viết “Cái tát của mẹ” chửi xéo Sử-tô nghĩa là Tổ-sư khán giả. Vậy nếu có vả thì ta vả gẫy răng vỡ mồm thằng hề láo chứ không thể vả mồm Tuyên giáo Trung ương. Ấy vậy mà ối kẻ vẫn ngu ngơ, bao biện cho Bắc, nghiêm khắc với Ban Tuyên giáo mới hay.

Quay lại chuyện ca sĩ Tuấn Ngọc, nay ông ta đã ở tuổi 75, đi mấy mươi năm trên con đường ca hát. Ông ta thừa trình độ để hiểu rõ nghệ thuật bao giờ cũng lưu giữ thông tin, ghi lại lịch sử, dấu tích của thời thế. Các nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ khi viết họ đã dồn hết tâm huyết vào tác phẩm của mình, mỗi câu mỗi chữ sáng tác ra đầy ắp nỗi niềm trăn trở, chỉ có họ mới có quyền sửa lời họ viết. Ngay cả Ban Biên tập muốn sửa câu chữ cũng phải hỏi ý kiến nếu tác giả còn sống chứ chưa nói thợ hát Tuấn Ngọc dám tự ý thay chữ khi tác giả đó đã khuất.

Tôi đã từng kểvề người hàng xóm nhà tôi, nhạc sĩ Phạm Tuyên, vào dịp kỷ niệm ba mươi năm chiến tranh biên giới phía Bắc, Nhà xuất bản thuộc bên Quân đội yêu cầu ông sửa lại ca từ “quân xâm lược Bành trướng dã man” trong bài hát “Chiến đấu vì độc lập tự do” để đỡ bớt sự hung hãn của giặc Trung Quốc, vì Đảng sợ Bắc Kinh nổi giận. Người ta dự định sẽ cho ra mắt một tuyển tập nhạc đồ sộ: “Những khúc quân hành vượt thời gian”. Ca khúc “Chiến đấu vì độc lập tự do” của nhạc sĩ Phạm Tuyên viết trong đêm 17 sang ngày 18-2-1979 không thể bỏ qua. Nó không chỉ đơn giản là bài hát, mà còn là trang sử bi tráng quý giá sống động, chính xác hơn trăm vạn lần những trang sử dối trá khác của cuộc chiến tranh hào hùng đánh giặc bành trướng xâm lăng dân tộc đã bị tẩy xóa, giấu giếm, cắt xén, cấm đoán, thêm tốt bớt xấu cho Trung Quốc. Phạm Tuyên kiên quyết từ chối và người ta cũng từ chối đưa bài hát của ông vào tuyển tập. Nếu lúc đó ông đồng ý sửa thì nhân cách của ông có còn hay không. Bài hát đó có ai thèm ca nữa hay không.

Cũng thời gian cả nước dồn hết tổng lực đánh đuổi giặc cướp Trung Quốc trên biên giới phía Bắc năm 1979 đó, có thần đồng thơ Trần Đăng Khoa đang ngồi bó gối ba láp ba la tại nước Nga viết: “Uống rượu với người bạn Nga”

Nào nâng cốc! Mừng quê tôi

Quân Tàu bị đánh vỡ mặt. Cút rồi.

Biên giới mùa này, hoa ban nở

Loài hoa như trái tim người! (1979)

Khi lọt đít vừa chiếc ghế Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, Khoa sợ “thế lực thù địch” thân bọn Bành trướng ngầm hãm hại, Khoa hãi vãi vứt không thương tiếc những hạt máu chữ lịch sử trên của mình để thay vào:

Và em gái hái nho ấy

Mắt em như cốc rượu đầy

Chỉ nhìn vào mầu mắt ấy

Là tôi đã ngả nghiêng say.

Hai khổ thơ hoàn toàn trật lất, không ăn nhập gì với nhau. Thần đồng vớ thần đồng vẩn. Liêm sỉ có hạn, khốn nạn dư thừa. Khoa chưa đủ tầm cỡ “Phong trần, mài một lưỡi gươm” nhưng dứt khoát vào hạng “Những loài giá áo túi cơm sá gì” (Nguyễn Du).

Hành động sửa lời đổi chữ tùy tiện dại dột dốt nát của bô lão xướng ca Tuấn Ngọc cũng chỉ xếp vào loài giá áo túi cơm như Trần Đăng Khoa vậy thôi. Việc này giúp tôi nhớ lại chương trình Thúy Nga Paris by Night 1994 với chủ đề “Lam Phương 40 năm âm nhạc” và tìm vào trang Web Bolero (chấm) com, đọc được bài viết của MC Nguyễn Ngọc Ngạn, người dẫn dắt chương trình lâu năm nhất cho Trung tâm Thúy Nga này. Ông Ngạn thường thắc mắc tại sao trong nhạc của Lam Phương có nhiều câu từ buồn đến thế. Gần 20 năm sau gặp nhau tại Pháp, Lam Phương mới kể lại cho Ngạn nghe câu chuyện tình đơn phương của chàng nhạc sĩ trẻ quê mùa là ông và cô ca sĩ Sài Thành hoa lệ Bạch Yến, quãng thời gian 1970 – 1972 không thành. Để rồi ca khúc “Tình bơ vơ” lãng mạn của ông ra đời mang giai điệu man mác buồn xuyên hai thế kỷ.

Lam Phương viết “Tình bơ vơ” một ngày trời Thu Việt Nam khi người mà mình yêu thầm nhớ trộm là Bạch Yến đã qua nước Pháp. “Em khóc cho đời viễn xứ… rồi anh lặng lẽ ra đi. Gom góp yêu thương quê nhà, dâng hết cho người tình xa”. Nếu không ông đã viết trời vào Đông hay trời vào Xuân… Việt Nam buồn lắm. Ý muốn nhắn gửi cô nhân tình của mình biết về địa điểm, không gian, thời gian, vào mùa Thu nay ở hai đầu nỗi buồn, nỗi nhớ từ hai phương trời cách biệt, hai quốc gia Pháp – Việt cách xa.

Ta e rằng, nếu xướng ca Tuấn Ngọc cứ phát huy “biên tập viên” bừa bãi, ngu xuẩn kiểu này thì có ngày hát về cuộc chiến đánh giặc Trung Quốc bành trướng “Chiến đấu vì độc lập tự do” của nhạc sĩ (Phạm Tuyên), Ngọc ngỏng đầu ngoác mồm: “Quân xâm lược tàn ác dã man” mà vứt mẹ nó đi bốn chữ “bành trướng Bắc Kinh” vì sợ Tuyên giáo khép tội hỗn láo với Thiên triều. Hát “Viếng lăng Bác” của Hoàng Hiệp “Tôi ở miền Nam ra thăm lăng Bác”. Nếu mọi người thắc mắc “Con ở miền Nam” chứ sao lại “Tôi ở miền Nam” thì Ngọc sẽ quắc mắt: Tao là ông hoàng nhạc chữ tình lừng danh Tuấn Ngọc đây, tao đ3o phải “con ở” thuê, đứa ở đợ, ô sin làm mướn coi nhà đuổi gà cho ai cả, hiểu chưa?

Bị “cái đám quần chúng” chửi nhức óc xóc tim quá, Ngọc xin hát lại: “Tình bơ vơ” của nhạc sĩ Lam Phương thế này để tạ lỗi khán giả cùng tác giả: “Trời vào Thu Đại Ngu buồn lắm em ơi”. Có còn ai dám thắc mắc nữa hay không? Thắc mắc hả, Đại Ngu là tiền thân tên nước Việt Nam xưa. Có thế mà cũng không biết. Ngu!