“Tại sao bằng đại học của Việt Nam Cộng Hòa có giá trị ở hơn 60 quốc gia trên khắp thế giới trước 1975 ?”
Nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa dựa trên 3 yếu tố : Tự Do – Nhân Bản – Khai Phóng. Trong việc học tập hàng ngày, giá trị cá nhân, thế mạnh của từng em học sinh đều được chú trọng để phát huy, đào tạo và phát triển thành tài năng trong tất cả các lĩnh vực, ngành nghề.
Tuyệt đối tôn trọng tính tự do tư tưởng của các em học sinh ngay từ tuổi thiếu niên.
Lấy các giá trị đạo lý dân tộc và nhân bản làm nền tảng để phát triển xã hội, xây dựng đất nước văn minh.
Ngay từ lớp 7 đến lớp 9 các em học sinh đã được làm quen với nghệ thuật và khả năng thuyết trình để bảo vệ các quan điểm cá nhân độc lập và logic của mình.
Từ lớp 10 học sinh sẽ bắt đầu trâu dồi về khả năng hùng biện để khi lên đại học hoàn toàn có thể trình bày, diễn thuyết trước đám đông về một đề tài khoa học – xã hội nào đó của mình một cách chặt chẽ, thuyết phục.
Anh ngữ tuy không phải là ngôn ngữ thứ hai nhưng số tiết học Anh ngữ rất cao. Rất nhiều học sinh lớp 11 và 12 hoàn toàn có thể đọc sách, tạp chí nước ngoài ngay từ nguyên bản.
Đến lớp 11 – 12, học sinh bắt đầu làm quen với môn triết học, được tiếp cận và tự do nghiên cứu tất cả các triết thuyết và tư tưởng của những nhà tư tưởng có ảnh hưởng quan trọng nhất của nhân loại và trên thế giới. Giáo dục thời VNCH vẫn giới thiệu các học thuyết đối lập với chủ nghĩa tự do như Các Mác – Ăn-ghen, Lê Nin, Mao Trạch Đông và thuyết cộng sản, chủ nghĩa xã hội…. cùng với tài liệu đầy đủ. Nền giáo dục tự do khai phóng không kiểm duyệt giúp học sinh tiếp thu được những kiến thức mở, từ đó sẽ có tư duy và cách nhìn nhận đa chiều thay vì tìm cách nhồi sọ chỉ với 1 học thuyết cực đoan nào đó.
Con người không ai hoàn hảo và có thể mắc sai lầm. Nhờ xã hội được xây dựng bằng sự bao dung và tính thiện lương nên những ai mắc sai lầm không bị kỳ thị và vẫn được tạo điều kiện tái hoà nhập xã hội một cách công bằng và tự trọng.
Học xong trung học, tất cả các học sinh đều có ý thức về nhân quyền, dân quyền, quyền ứng cử, quyền tranh cử và luôn đặt TỔ QUỐC – DANH DỰ – TRÁCH NHIỆM lên trên hết.
Thời Việt Nam Cộng Hòa lương giáo viên, bác sĩ, y tá thuộc diện cao nhất. Giáo dục được nâng lên tầm Quốc Sách để xây dựng thành chiến lược phát triển quốc gia.
Dù VNCH vẫn chưa hoàn hảo nhưng vẫn là một thể chế Tự Do tốt nhất, nơi đã đào tạo ra được những con người có nhân cách và có tri thức đáng tự hào nhất trong lịch sử dân tộc đương đại.
Đó là lý do bằng đại học của Việt Nam Cộng Hòa cấp được công nhận và đánh giá cao ở hơn 60 quốc gia trên khắp thế giới trước năm 1975.
Trong chiếc áo choàng dài màu trắng với giọng nói còn bị “khàn khàn”, Đức Giáo hoàng Francis đã chủ sự Thánh lễ tại Quảng trường Thánh Peter trước hàng chục nghìn tín hữu vào Chủ nhật Lễ Lá, một ngày sau khi Ngài rời bệnh viện Gemelli ở Rome, nơi ngài được điều trị bệnh viêm phế quản .
Thời báo LA cho biết, giọng của ĐGH nghe có vẻ mạnh mẽ khi mở đầu Thánh lễ, nhưng nhanh chóng trở nên yếu và khàn. Bất chấp bị khàn tiếng, Đức Phanxicô đã đọc một bài giảng dài 15 phút trước 30.000 người dự lễ, thỉnh thoảng thêm vào những nhận xét ngẫu hứng để nhấn mạnh đồng thời diễn đạt ý tưởng đó bằng tay.
Bài giảng tập trung vào những khoảnh khắc khi mọi người cảm thấy “đau đớn tột độ, tình yêu không thành, hoặc bị từ chối hoặc phản bội.” , (và) sự cô đơn của bệnh tật.”
Đức Phanxicô nói về một người đàn ông Đức vô gia cư vừa mới chết, “một mình, bị bỏ rơi,” dưới hàng cột bao quanh Quảng trường Thánh Phêrô, nơi những người vô gia cư thường ngủ. “Tôi cũng cần Chúa Giêsu vuốt ve tôi,” Francis nói.
“Toàn bộ các dân tộc bị bóc lột và bị bỏ rơi; người nghèo sống trên đường phố của chúng tôi và chúng tôi nhìn theo cách khác; những người di cư không còn là những khuôn mặt mà là những con số; các tù nhân bị từ chối, mọi người bị coi là có vấn đề,” ĐGH Phan xi cô nói.
Chúa Nhật Lễ Lá đã mở ra một lịch trình dày đặc các nghi thức mục vụ trong Tuần Thánh dành cho đức giáo hoàng, bao gồm cả Thánh lễ Thứ Năm Tuần Thánh tại một nhà tù dành cho trẻ vị thành niên ở Rome. Tuần Thánh lên đến đỉnh điểm vào ngày 9 tháng 4 với Thánh lễ Chúa nhật Phục sinh, nhắc lại niềm tin của người Kitô giáo vào sự phục sinh của Chúa Giêsu.
ĐGH đã bị một số bệnh trong những năm gần đây, bao gồm cả chứng đau đầu gối nghiêm trọng, điều đó có nghĩa là ngài phải chống gậy và thường ngồi xe lăn khi xuất hiện trước công chúng. Những khó khăn trong việc di chuyển đã hạn chế sự tham gia của ngài vào một số sự kiện, và như đã xảy ra vào năm ngoái, một hồng y cấp cao đã cử hành Thánh lễ vào Chúa Nhật Tuần Thánh.
Thánh lễ vào Chủ nhật Phục sinh, ngày quan trọng nhất trong lịch phụng vụ của Công Giáo, trong Thánh Lễ này, theo thông lệ ĐGH sẽ công bố bài giảng “Urbi et Orbi” (cho thành phố và thế giới)
Trong bài giảng sau bài Thương khó, Đức Thánh cha đặc biệt diễn giải câu Chúa Giêsu thốt lên trên thập giá: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Chúa bỏ rơi con?”. Đó là lời khẩn cầu mà phụng vụ hôm nay để cho chúng ta lập lại trong thánh vịnh đáp ca (Xc Tv 22,2) và là lời duy nhất Chúa Giêsu thốt lên trên thập giá, như bài Tin mừng chúng ta đã nghe. Vì thế, đó là những lời đưa chúng ta vào trọng tâm cuộc khổ nạn của Chúa Kitô, đi vào tột đỉnh những đau khổ Chúa đã chịu để cứu độ chúng ta”.
Chúa chịu đau khổ vì yêu thương chúng ta
Đức Thánh cha nói: “Những đau khổ của Chúa Giêsu thật là nhiều và mỗi lần chúng ta nghe bài Thương khó, chúng ta đi vào những đau khổ đó. Có những đau khổ thể xác: từ những cái tát cho đến những sự đánh đập, từ những roi đòn cho đến mão gai, đến sự cực hình khổ giá. Có những đau khổ trong tâm hồn: sự phản bội của Giuđa, sự chối bỏ Thầy của Phêrô, những kết án của giới lãnh đạo tôn giáo và chính quyền, sự nhạo cười của lính canh, những lăng mạ dưới chân thập giá, sự phủ nhận của bao nhiêu người, sự thất bại mọi sự, sự bỏ rơi của các môn đệ… Giờ đây, xảy ra một điều không tưởng tượng được; trước khi chết Chúa Giêsu kêu lên: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Chúa bỏ con?”
Đức Thánh cha cũng nói đến đau khổ xé lòng về tinh thần mà Chúa Giêsu đã chịu: “Chúa cảm thấy bị Thiên Chúa bỏ rơi. Vì yêu thương chúng ta, Chúa đi tới độ chịu đau khổ tột cùng”. Đức Thánh cha nhận xét rằng: “Động từ ‘bỏ rơi’ trong Kinh thánh thật là mạnh; đau khổ tinh thần xuất hiện trong những lúc đau đớn tột cùng: trong những thất tình, bị xua đuổi và phản bội; nơi những người con bị phủ nhận và phá thai; trong những tình trạng bi ruồng bỏ, góa bụa và mồ côi; trong những hôn phối kiệt quệ, trong những loại trừ, tước bỏ những quan hệ xã hội, trong những áp bức bất công và trong cô độc vì bệnh tật: tóm lại, trong những tan nát bi thảm nhất của các mối quan hệ. Chúa Kitô đã chịu điều đó trên thập giá, vác lấy tội lỗi của trần thế… Chúa Giêsu đã chịu tất cả những điều đó vì chúng ta, liên đới với chúng ta đến tột cùng, để ở với chúng ta đến cùng. Để không một ai trong chúng ta có thể nghĩ mình cô độc và không thể phục hồi. Chúa đã chịu sự bỏ rơi để không để chúng ta trở thành con tin của sầu khổ, để ở cạnh chúng ta mãi mãi”.
Đáp lại tình thương của Chúa
Đức Thánh cha nói thêm rằng: “Anh chị em thân mến, một tình yêu như thế, tất cả cho chúng ta, và đến độ tột cùng, có thể biến đổi những con tim chai đá của chúng ta thành những con tim bằng thịt, có khả năng thương xót, dịu dàng, cảm thương. Chúa Kitô bị bỏ rơi thúc đẩy chúng ta tìm kiếm và yêu mến Chúa nơi những người bị bỏ rơi. Lý do vì nơi họ, không những chỉ có những người túng quẫn, nhưng có chính Ngài, Chúa Giêsu bị bỏ rơi, Đấng đã cứu vớt chúng ta, khi hạ mình đến cùng trong thân phận phàm nhân của chúng ta. Vì thế, Chúa muốn chúng ta chăm sóc các anh chị em của chúng ta, những người rất giống Ngài, giống Ngài trong tình trạng đau khổ tột cùng và cô đơn. Ngày hôm nay có bao nhiêu “Kitô hữu bị bỏ rơi”. Có cả các dân tộc bị bóc lột và bỏ mặc; có những người nghèo sống ở những ngã tư đường của chúng ta, những người mà chúng ta không dám nhìn thẳng vào họ; những người di dân không còn là những khuôn mặt nhưng chỉ là những con số; các tù nhân bị phủ nhận, những người bị xếp loại như những vấn đề. Nhưng cũng có bao nhiêu Kitô hữu bị bỏ rơi vô hình, giấu kín, bị gạt bỏ bằng những găng tay trắng: đó là những hài nhi chưa sinh ra, người già bị bỏ mặc, bệnh nhân không được thăm viếng, người khuyết tật bị làm ngơ, người trẻ cảm thấy trống rỗng lớn trong tâm hồn mà không có người nào thực sự nghe tiếng kêu đau thương của họ.”
“Chúa Giêsu bị bỏ rơi xin chúng ta hãy có đôi mắt và con tim đối với những người bị bỏ rơi. Đối với chúng ta là môn đệ của Đấng bị bỏ rơi, không ai có thể bị gạt ra ngoài lề, không ai có thể bị bỏ mặc một mình; vì chúng ta hãy nhớ rằng những người bị phủ nhận và loại trừ là hình ảnh sống động của Chúa Kitô. Ngày hôm nay, chúng ta hãy cầu xin ơn này, đó là luôn biết yêu mến Chúa Giêsu bị bỏ rơi và biết yêu mến Chúa Giêsu nơi mỗi người bị bỏ rơi.”
Về tình báo trong chiến tranh Việt Nam, điệp viên Võ Văn Ba dường như không có ai nhắc đến, cho mãi đến những năm sau nầy, hai điệp viên của Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ, CIA, mới tiết lộ và xác nhận Võ Văn Ba là người gián điệp giỏi nhất của Việt Nam Cộng Hòa và của CIA trong chiến tranh Việt Nam.
2*. Những đánh giá về điệp viên Võ Văn Ba
2.1. Những cựu điệp viên CIA nói về Võ Văn Ba Trong hai ngày 20 và 21 tháng 10 năm 2008, Trung tâm Việt Nam của Đại học Công nghệ Texas, đã tổ chức một cuộc hội thảo với chủ đề “Tình báo trong chiến tranh Việt Nam”. Diễn giả là những chuyên viên CIA đã từng phục vụ ở Việt Nam. Trong bài diễn thuyết của ông Merle Pribbenow, một cựu nhân viên CIA, hoạt động tại Sài Gòn từ 1970 đến 1975, mang đến bài thuyết trình “Những điệp viên vô danh nổi tiếng nhất trong cuộc chiến Việt Nam”. Người Mỹ đã xử dụng tình báo trong hàng ngũ Cộng Sản có bí danh X.92, tên Võ Văn Ba. Võ Văn Ba là người điệp viên giỏi nhất của Việt Nam Cộng Hòa. Ông Orrin DeForest, nhân viên CIA phục vụ 6 năm ở Việt Nam, nhắc đến tên Võ Văn Ba có mật danh là “Reaper” trong cuốn sách “Slow Burn: The Rise and Bitter Fall of American Intelligence in Việt Nam”. Một chuyên viên khác của CIA, John Sullivan, nói ông Ba là “Điệp viên giỏi nhất mà chúng ta từng có ở Việt Nam”. Trong cuốn tiểu sử về sếp CIA ở Sài Gòn là Ted Shackley, tác giả David Corn nêu ra một sự đánh giá thời hậu chiến của CIA, rằng điệp viên nầy “là nguồn tin đáng tin cậy nhất về ý định của Cộng sản” ở Việt Nam. Ông Frank Warren Snepp, chuyên viên phân tích tình báo (Intelligence Analyst) đã có đôi lần gặp người nầy, và gọi ông ta là “Điệp viên hàng đầu của chúng ta” ở Việt Nam. Để bảo đảm bí mật, chỉ có một sĩ quan Cảnh sát Đặc biệt là Thiếu tá Phan Tấn Ngưu được liên lạc với Võ Văn Ba ở Tây Ninh.
2.2. Ông Merle Pribbenow viết sách về Võ Văn Ba Cựu Thiếu tá Phan Tấn Ngưu cho biết, năm 2010, ông Pribbenow đến tìm gặp ông, xin chi tiết về Võ Văn Ba để ông hoàn thành cuốn sách, về tình báo trong chiến tranh Việt Nam. Ông Ngưu cảm thấy khó xử, vì ngoài ông Võ Văn Ba ra, còn có nhiều người khác đã tham gia vào các công tác, hiện còn sống ở Việt Nam, nên ông chỉ cho biết về hoạt động của Võ Văn Ba mà thôi.
2.3. Quan chức Việt Cộng nói về Võ Văn Ba Trong một đoạn hồi ký của Thứ trưởng Công An Hà Nội, “55 Năm một chặn đường”, Trần Xuân Viên nói về ông Võ Văn Ba, làm nội tuyến cho Việt Nam Cộng Hòa tại Trung Ương Cục Miền Nam. Trần Xuân Viên nói “Võ Văn Ba là một nội gián quan trọng. Y đa chui sâu, leo cao vào nội bộ ta. Trong 10 năm, y đã thu thập rất nhiều tin tức quan trọng cho địch”.
3*. Vài nét về Võ Văn Ba
Võ Văn Ba sinh năm 1923 thuộc tỉnh Tân An. Năm 1945, ông và người chú theo Việt Minh. Ông là một đảng viên tích cực, được giao nhiệm vụ tuyển mộ thành viên trẻ theo Việt Minh. Ông trở thành một kẻ khủng bố, nhưng nhanh chóng nhận ra rằng khủng bố không phải là cách thu phục trái tim con người. Ông rời bỏ Việt Minh năm 1954. Không tập kết ra Bắc. Có một thời gian ông làm việc cho một đơn vị quân đội Mỹ, và sau cùng về định cư trong nội ô Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh. Vợ ông bán rau quả ở chợ Long Hoa. Ông có con, một trai, một gái.
4*. Trường hợp nào Võ Văn Batheo ViệtCộng
4.1. Võ Văn Ba theo Việt Cộng
Võ Văn Ba và gia đình định cư ở nội ô Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh. Ông làm rẫy ở ven đường mà cán bộ Việt Cộng thường xuyên qua lại, để vào căn cứ của Trung Ương Cục Miền Nam Việt Nam, trong một hang động dưới chân núi Bà Đen. Gặp gỡ thường xuyên, quen mặt nhau, nên cán bộ VC cố thuyết phục ông Ba gia nhập Đảng. Vì hiểu rõ bản chất của Việt Cộng, nếu không theo họ thì có thể bị thủ tiêu để loại bỏ cái chướng ngại nầy. Ông Ba đồng ý chấp thuận. Và sau đó được làm ủy viên tin cậy của Cục R. Theo VC thì lại lo ngại hai cơ quan là, An ninh Quân đội và Cảnh sát Quốc gia. Ông Ba đến người chú, đang là sĩ quan của Cục An ninh Quân đội, xin được làm điềm chỉ viên. Kế đến, người chú đề nghị CSQG thu nhận ông Ba cũng được làm điềm chỉ viên. Thiếu tá Cảnh sát Phan Tấn Ngưu, thuộc khối Đặc biệt, được chuyển đến Tây Ninh để trực tiếp liên lạc với Võ Văn Ba thông qua những hình thức “giao liên”.
4.2. Việt Cộng giao nhiệm vụ cho Võ Văn Ba
1). Tuyển mộ cán bộ đảng viên mới Ông Ba tuyển mộ cán bộ mới, để thành lập những chi bộ, giúp ông để kiểm soát mọi hoạt động trong Tòa Thánh, tuyên truyền để tranh thủ những tín đồ Cao Đài theo VC.
2). Thực hiện chủ trương của Việt Cộng. Tuyên truyền gây chia rẻ trong nội bộ các chức sắc Cao Đài. Ám sát những người thân chính quyền quốc gia. Trong lịch sử Cao Đài, đã có những vụ ám sát như các ông: Cao Hoài Sang, Trương Hữu Đức, Trung tá Nguyễn Văn Nhã, giữ chức Thượng chánh Phối sư…
5*. Trung ương Cục miền Nam Việt Nam Hội trường Cục R
* Lê Đức Thọ Nguyễn Thị Định Trung ương Cục Miền Nam Việt Nam, là một bộ phận của Ban Chấp hành Trung ương đảng Cộng Sản Việt Nam.
Là cơ quan chỉ đạo trực tiếp cuộc chiến, đánh chiếm miền Nam Việt Nam. Trung ương Cục còn được gọi là B2, Cục R. Ban Chấp hành của Cục R theo thời gian gồm những người như sau: Nguyễn Văn Linh (Bí danh Mười Cúc), Võ Chí Công (Võ Toàn, Trần Nam Trung (Hai Hậu), Phạm Văn Xô (Hai Xô), Võ Văn Kiệt (Sáu Dân), Lê Đức Thọ (Khai sanh Lê Văn Nhuận, bí danh Anh Ba), Lê Duẩn, Phạm Hùng, Trần Văn Trà (Tư Chi), Hoàng Văn Thái (Mười Khang), Lê Đức Anh (Sáu Nam) Trần Độ (Chín Vinh), Đồng Văn Cống… Trung ương Cục Miền Nam dựng lên cái tổ chức bù nhìn là Quốc Kỳ
* Quốc Huy Chính phủ Cộng hòa miền Nam VN “ Mặt Trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam”, và “chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam”, gồm có: KTS Huỳnh Tấn Phát, LS Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Định, Nguyễn Thị Bình. BS Dương Huỳnh Hoa, Trương Như Tảng, Trần Bạch Đằng, Trần Bửu Kiếm, Hòa thượng Thích Thiện Hào, Đại đức Sơn Vọng, Nguyễn Văn Hiếu, Y Bih Aleo… Do quân đội Việt Nam Cộng Hòa liên tục tấn công nên Cục R phải chạy sang lãnh thổ Campuchia ở vùng Mỏ Vẹt, Móc Câu, được Quốc Trưởng, Hoàng thân Norodom Sihanouk cho phép. Cộng quân thì chạy sang Nam Lào. Võ Văn Ba nằm ở Trung ương Cục, được tiếp cận với những ủy viên Bộ Chính Trị đảng CSVN, xem như nằm tại Bộ Chính Trị Đảng ở Hà Nội. Vị trí của Võ Văn Ba rất quan trọng, vì trước đó và sau đó, không có một gián điệp nào nằm vùng ở Bộ Chính Trị Đảng CSVN cả. Trường hợp có một không hai, ngàn năm một thuở.
6*. Cảnh sát Quốc gia tiếp cận Võ Văn Ba
6.1. Thiếu tá Phan Tấn Ngưuphụ trách lập nhóm X.92 Thiếu tá Phan Tấn Ngưu, thuộc khối đặc biệt, được chỉ định lên Ty Cảnh sát Tây Ninh, với nhiệm vụ duy nhất là liên lạc với Võ Văn Ba.
6.2. Những thông dịch viên của cố vấn Mỹ tỉnh Tây Ninh Cố vấn Mỹ ở phòng Cảnh sát Đặc biệt của ty Cảnh sát Tây Ninh có ba thông dịch viên. Riêng về hồ sơ của X.92 thì chỉ có một thông dịch viên phụ trách, không kiêm nhiệm các vụ việc khác. Nhiệm vụ chính của thông dịch viên nầy là chỉ dịch những văn bản tiếng Việt ra tiếng Anh mà thôi. Điều kiện của thông dịch viên được quy định như sau: 1. Không phải là người ở Tây Ninh.
Không có bà con, thân thuộc nào sinh sống ở Tây Ninh. Sau 4 năm công tác ở Tây Ninh, cố vấn Mỹ đã lần lượt có 3 thông dịch viên là: Nguyễn Sĩ Phong, Nguyễn Cao Quan, Nguyễn Thanh Trang. Trường hợp của thông dịch viên Nguyễn Sĩ Phong, ông là người miền Bắc, là người nhanh nhẹn thi hành công tác giao phó, có nhiều khi phải thức suốt đêm để dịch những báo cáo viết tay, và những tài liệu in ấn chiếm vài ba chục trang giấy. Ông kết hôn với một phụ nữ Tây Ninh, vi phạm điều 2, nên bị chuyển đến làm thông dịch ở Phòng cố vấn CIA thuộc Tổng Lãnh sự Mỹ vùng II, Ban Mê Thuột. Ngày 10-3-1975, Việt Cộng chiếm Ban Mê Thuột, Ông Phong đưa gia đình đến nhà của ông Paul Struharick , CIA đại diện của USAID. Ông Struharick là CIA cuối cùng bị kẹt lại Ban Mê Thuột nên bị Việt Cộng bắt cả hai. Do bị tra khảo, Nguyễn Sĩ Phong khai Võ Văn Ba là gián điệp của CIA.
6.3. Thiếu tá Phan Tấn Ngưu lập hệ thống liên lạc Võ Văn Ba cư ngụ trong nội ô Tòa Thánh Tây Ninh. Nội ô là khuôn viên hình thang rộng khoảng 1 km², cách thành phố Tây Ninh khoảng 5 km. Công việc quan trọng nhất của điệp viên Võ Văn Ba là chuyển những tin tức tối mật của Việt Cộng, ở Trung Ương Cục (Cục R) miền Nam, cho tình báo Việt Nam Cộng Hòa và cho CIA. Thiếu tá Phan Tấn Ngưu và Võ Văn Ba lập hệ thống liên lạc: Đó là hệ thống “giao liên”, có hai yếu tố bí mật và an toàn hàng đầu. Việc liên lạc giữa nơi gởi và nơi nhận chỉ cách nhau có 5Km Võ Văn Ba đã sử dụng ba phương tiện để chuyển tin tức, là liên lạc máy vô tuyến Walkietalkie, hộp thơ chết, và hộp thơ lưu động.
1). Máy vô tuyến Walkie-talkie Walkie-talkie là thiết bị cở nhỏ, cầm tay, còn gọi là dụng cụ bộ đàm. Làn sóng ngắn liên lạc trong khoảng cách gần. Bấm nút để nói, thả ra để nghe. Máy chỉ mở trong giờ giấc ấn định. Không được trò chuyện hơn một phút. Trong một phút đó, chỉ cho biết phải làm gì, như: đến nhận thơ ở hộp thơ số…, đến nhà an toàn số…hoặc sẽ đi công tác trong mấy ngày.
2). Hộp thơ chết. Có 3 hộp thơ chết, 2 đặt trong nội ô Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh. 1 đặt ở ngoại ô, gần tỉnh lỵ.
3). Hộp thơ lưu động Phương tiện vận chuyển của Tây Ninh là xe lôi, tức là xe gắn máy kéo cái” rờ mọt” (Trailer) chở người. Xe mang số giả. Tài xế và 2 nữ sinh đều là nhân viên đặc nhiệm, mang 2 cái cặp da giống nhau, đón xe ở hai ngã đường khác nhau. Sau khi trao hai cái cặp da, lần lượt xuống xe, ở 2 khoảng đường khác nhau. Loại hộp thơ lưu động nầy, X.92 viết báo cáo sau khi đi họp ở T.Ư.C, hoặc đi công tác về. Bấm máy walkie-talkie cho biết. Khi mở cái cặp da ra, trong đó có bản sao Nghị Quyết của Bộ Chính trị Hà Nội, và một chỉ thị của Cục R cho biết Hiệp định Paris sẽ ký kết vào ngày 30-10-1972 (Thật ra Hiệp định được ký vào ngày 27-1-1973), trong đó có một điều khoản rất quan trọng là Hoa Kỳ và VNCH chấp nhận cho bộ đội Cộng sản Bắc Việt được ở lại miền Nam, từ vĩ tuyến 17 trở xuống. Phần chỉ thị của Cục R, là các nơi phải dốc toàn lực để “giành dân lấn đất”. Thiếu tá Phan Tấn Ngưu liên lạc với cố vấn Mỹ, cùng ở ty Cảnh sát Tây Ninh, yêu cầu cho một phi cơ để mang tài liệu về Bộ Tư lệnh CSQG. Cố vấn Mỹ cũng được nhận bản sao để gởi cho Tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn. Vụ việc được đưa lên Tổng thống Thiệu. Đọc xong, ông mời Đại sứ Mỹ đến để hạch hỏi về việc Mỹ qua mặt VNCH, ông dọa là có thể rút phái đoàn VNCH ra khỏi cuộc hòa đàm. Nói thêm về việc “giành dân lấn đất”. Sau khi Hiệp định Paris có hiệu lực, Việt Cộng chủ trương “giành dân lấn đất” bằng cách treo cờ của Mặt Trận Dân tộc Giải phóng, ở những vùng xa các đồn bót của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Cờ 3 màu, trên đỏ dưới xanh, ở giữa có ngôi sao vàng. Ban đêm du kích treo cờ ở những cành cây, sáng ra dân vệ đi hạ cờ. Chính phủ cấp cho mỗi gia đình 10 tấm tôn để lợp nhà, trên mỗi tấm tôn có hình cờ vàng 3 sọc đỏ của VNCH. Trên máy bay nhìn xuống thì thấy cả khu vực toàn là nhà có cờ của VNCH. Đồng thời cấm các chợ trong khu vực không được bán vải màu đỏ, màu xanh và màu vàng để may cờ của VC. 6.4. Xin hoản dịch cho con của Võ Văn Ba Con trai của Võ Văn Ba là Võ T. D, thi đậu Tú tài I năm 1971, nhưng thi rớt Tú tài II liền 2 năm. Đã hết hạn hoản dịch vì lý do học vấn, nên phải thi hành quân dịch. Có Tú tài I thì được đưa vào Trường Bộ Binh Thủ Đức. Mãn khóa mang lon chuẩn úy của quân độ VNCH. Có con là sĩ quan VNCH, thì chắc chắn Võ Văn Ba sẽ bị Việt Cộng cho hạ tầng công tác, hoặc khai trừ. Vụ việc không tốt nầy, sẽ làm mất một nguồn tin, ngàn năm có một của tình báo VNCH và của CIA. Thế là Thiếu tướng Tư Lịnh Cảnh sát Quốc gia, Nguyễn Ngọc Loan, yêu cầu Nha Động viên Bộ Quốc phòng, cấp giấy hoản dịch cho con của Võ Văn Ba. Một tuần lễ sau, giấy hoản dịch do Thiếu tướng Bùi Đình Đạm, Giám đốc Nha Động viên Bộ Quốc phòng ký, đã đến tay Võ Văn Ba.
7*. Cảnh sát Đặc biệt và CIA dàn dựng những vụ việc để giúp X.92 được Việt Cộng tin cậy Để giúp Võ Văn Ba được Việt Cộng tin cậy, gồm những việc như sau:
1). Rải truyền đơn chống những chức sắc Cao Đài thân chính quyền VNCH. Trong những ngày Lễ Vía của đạo, cảnh sát chìm VNCH mặc quần áo lễ phục, ban đêm, dùng xe gắn máy rải truyền đơn ở những con đường quy định. Truyền đơn lên án những chức sắc Cao Đài thân chính quyền VNCH, cụ thể là việc chỉ điểm để bắt giữ những thanh niên trốn quân dịch đang ẩn náu trong nội ô Tòa Thánh. Sau khi rải, cảnh sát đi nhặt truyền đơn, và Phòng thông tin tỉnh phát loa lên án Việt Cộng.
2). Đặt chất nổ Trên con đường dẫn đến trụ sở của Trung ương Cục, có những trạm do dân vệ, kiểm soát sự ra vào của Việt Cộng. Tỉnh trưởng Tây Ninh và Cố vấn Mỹ đồng ý cho thực hiện, dùng chất nổ, đã thu được của Việt Cộng, để phá vỡ các trạm kiểm soát. Phía Mỹ đồng ý xuất tiền xây dựng lại các trạm bị phá. Đến ngày thực hiện, cảnh sát Tây Ninh sẽ rủ rê các dân vệ đến nhậu ở một quán nào gần đó. Sau vụ nổ, Phòng thông tin tỉnh lại phát loa tố cáo Việt Cộng. Hình ảnh cảnh đổ nát được đưa lên báo. Tỉnh trưởng Tây Ninh làm giấy khiển trách, những người có trách nhiệm ở các trạm kiểm soát. Cục R cũng biết đó là những hành động của X.92 nên càng tin tưởng hơn.
8*. X.92 thông báo về cuộc “Tổng tiến công và nổi dậy” Tết Mậu Thân 1968
X.92 Võ Văn Ba thông báo cho Cảnh sát Đặc biệt Tây Ninh, là Hà Nội sẽ tổng công kích vào Tết Mậu Thân 1968, mặc dù hai bên đã tự tuyên bố ngừng bắn. Về phần cảnh sát, Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan ra lịnh cấm trại 100% trên toàn quốc. Các đơn vị phải đào hầm chung quanh hoặc lập những công sự, để phòng thủ và chiến đấu. Riêng quân đội VNCH thì vẫn cấm trại 50% như thường lệ. Tổng thống Thiệu thì đi Mỹ Tho ghé thăm mẹ vợ. Tướng Vĩnh Lộc, Tư lịnh Quân đoàn 2 thì bay về Sài Gòn mừng tuổi, và chúc Tết mẹ. Ngay trong đêm giao thừa Tết Nguyên đán, vào ngày 31-1-1968, Việt Cộng đã đồng loạt tấn công vào hầu hết các đô thị miền Nam. Đó là kế hoạch gọi là “Tổng tiến công và nổi dậy” Các đô thị bị tấn công gồm có: Kontum, Quy Nhơn, Ban Mê Thuột, Nha Trang, Đà Lạt, Phanh Thiết, Tây Ninh, Biên Hòa, Sài Gòn, Mỹ Tho, Phú Vinh, Rạch Giá, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu. Ở Sài Gòn, Cộng quân đã đánh chiếm cổng số 4 của Bộ Tổng Tham mưu QLVNCH. Riêng thành phố Huế, thì chỉ có các tiểu tổ, các đơn vị đặc công địa phương đã chiếm Huế 26 ngày, và giết 4,000 người, đa số là thường dân và những người làm việc cho các cơ quan chính quyền, như giáo viên, công chức các ngành nghề…chủ yếu là chôn sống ở các hố chôn tập thể. Nhà văn quân đội Phan Nhật Nam, tốt nghiệp khóa 18 trường Võ Bị Quốc Gia, Thiếu tá thuộc tiểu đoàn 9 Nhảy Dù cho biết, tôi có thể kể ra hàng chục, hàng trăm người mà tôi biết, đa số là dân thường, và những người láng giềng của tôi, đã bị chôn sống. Nhà văn đặt câu hỏi: “Tại sao người cộng sản có thể tàn nhẫn với chính đồng bào của mình?” Đài VOA cho biết, theo lời ông Phan Nhật Nam thì chiến sự ở Huế “không khốc liệt”, vì quân cộng sản ở đó không phải là cấp sư đoàn, mà chỉ là các tiểu tổ, các đơn vị đặc công địa phương mà thôi”. Thật ra đó là tội ác của những tên Việt Cộng nằm vùng như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Thị Đoan Trinh, Nguyễn Đóa, Tôn Thất Dương Tiềm… Đó là quân đội chỉ cấm trại 50%. Vì sao quân đội chỉ cấm trại 50%? Vì nhiều năm trước kia, Tết năm nào Hồ Chí Minh cũng làm thơ kêu gọi kêu gọi tiến lên đánh Mỹ ngụy, nhưng sau đó không có mở cuộc động binh nào cả. Thơ chúc Tết Xuân Đinh Mùi- 1967 Xuân về xin có một bài ca,/ Gửi chúc đồng bào cả nước ta/ Chống Mỹ hai miền đều đánh giỏi/ Tin mừng thắng trận nở như hoa! Thơ chúc Tết Mậu Thân 1968 Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua, Thắng trận tin vui khắp nước nhà, Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ. Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!
9*. X.92 báo tin Việt Cộng quyết đánh chiếm Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh
9.1. Quân đội Cao Đài Năm 1941, Cao Đài xây dựng Lực lượng Vũ trang. Đến năm 1955, quốc gia hóa, tức là sát nhập vào Quân Đội VNCH. Những tướng lãnh Cao Đài gồm có: Tướng Trần Quang Vinh, Thiếu tướng Nguyễn Thành Phương, Tướng Trịnh Minh Thế, Tướng Văn Thành Cao. Tháng 6 năm 1973 Tướng Văn Thành Cao được cử giữ chức vụ Tổng cục phó Tổng cục Chiến tranh Chánh trị. Ông giữ chức vụ nầy đến ngày 30-4-1975.
9.2. Việt Cộng âm mưu đánh chiếm Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh Vào tháng 12 năm 1971, X.92 Võ Văn Ba được lịnh đến họp khẩn cấp tại Chiến Khu Đ. Tại buổi họp, Võ Văn Ba được chỉ thị phải về họp gấp các chi bộ trực thuộc, để phổ biến lịnh của Bộ Chính Trị, là phải đánh chiếm cho được Tòa Thánh Cao Đài ở Tây Ninh, để mặc cả với VNCH trên bàn Hội nghị Paris. Kế hoạch cụ thể có hai phần, thực hiện đồng bộ với nhau, bên ngoài thì bộ đội tấn công đánh chiếm Tòa Thánh. Đồng thời, bên trong, X.92 xách động tín đồ biểu tình phản đối, yêu cần quân đội VNCH không được bắn vào bộ đội Việt Cộng đang đánh nhau ở bên trong để chiếm Tòa Thánh. Biểu tình nêu lý do, là để bảo vệ kiến trúc Tòa Thánh và bảo vệ tánh mạng của tín đồ. Đó chỉ là kế hoạch trên lý thuyết.
9.3. Lực lượng quân đội Việt Nam Cộng Hòa bảo vệ Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh Khi báo cáo của X.92 được Đại tá tỉnh trưởng Tây Ninh, Lê Văn Thiện, đưa về Sài Gòn, thì Tổng thống Thiệu ra lịnh phải bảo vệ Tòa Thánh bằng mọi giá. Từ đó, có những buổi họp từ Tư lệnh Quân đoàn 3, Sư đoàn 25 BB, và các đơn vị liên hệ. Công binh VNCH đào giao thông hào toàn bộ phía Bắc tỉnh Tây Ninh, để chống thiết giáp Việt Cộng. Giao thông hào chỉ là cái vỏ bọc ngoài, thực chất bên trong là hệ thống mìn các loại, được đặt song song bên cạnh giao thông hào. Ban đêm, phi cơ trinh sát, thám sát cả vùng phía Bắc tỉnh lỵ Tây Ninh. Trong khi đó, các đơn vị của Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù ngày đêm bám sát hoạt động của Việt Cộng.
Đến đầu tháng 4 năm 1972, lúc 2 giờ sáng, những tiếng nổ đồng loạt vang lên, kể cả pháo binh. Vì pháo binh VC đặt khá xa, nên đạn chỉ rơi ở bên ngoài tỉnh lỵ. Tổn thất không đáng kể. Các đơn vị bên ngoài báo cáo về phòng chỉ huy tỉnh, là chỉ có bộ binh mà không có thiết giáp. Có lẽ do phi cơ thám thính liên tục nên VC không dám dùng thiết giáp. 5 giờ sáng hôm sau, tiếng súng thưa dần rồi im bặt. Khi trời sáng, các nơi báo cáo, dọc theo giao thông hào có đầy vết máu, một số xác chết chưa kịp mang đi. Cộng quân chết vì mìn đặt song song với giao thông hào. Nhờ tin tức do X.92 cung cấp nên Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh được giữ nguyên vẹn.
10*. X.92 mang Nghị quyết 24 của Bộ Chính trị tháng 1 năm 1975 về Sài Gòn Tình hình của Việt Nam Cộng Hòa. Quân đoàn 2 tan rả ngày 10-3-1975. Quân đoàn 1 tan rả ngày 29-3-1975. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức ngày 21-4-1975. Mỹ cúp viện trợ nên quân đội VNCH thiếu thốn về mọi mặt. Chính X.92 mang toàn bộ Nghị quyết 24 về Sài Gòn. Nghị quyết chỉ nói tổng quát, là bộ đội các cấp nổ lực tấn công các kho nhiên liệu của miền Nam. Pháo binh và thiết giáp tấn công vào các mục tiêu chiến lược. Tổng thống Thiệu từ chức, không thành vấn đề. Việc thành lập chính phủ ba thành phần, cũng không thành vấn đề. Giải pháp quân sự dứt điểm cuộc chiến, quyết chiếm Sài Gòn, để lập thành tích cho kịp mừng sinh nhật Hồ Chí Minh vào ngày 19 tháng 5. Thống nhất đất nước để đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên Chủ nghĩa Cộng Sản.
11*. Nhân vật Út Tặng Trong phần thuyết trình của ông Merle Pribbenow, có đề cập đến nhân vật Út Tặng. Do những tổn thất không nhỏ, nên Việt Cộng nghi ngờ có nội gián. Đến cuối năm 1971, Bí thư huyện ủy quận Phú Khương đã chỉ thị cho một nữ cán bộ, sống hợp pháp ở khu vực chợ Long Hoa, gần nhà X.92. theo dõi, điều tra về Võ Văn Ba. Hàng ngày Út Tặng đạp xe đạp chở rau quả đi bán hàng rong trong khu vực nhà của ông Ba. Thiếu tá Phan Tấn Ngưu thuật lại, khi gặp X.92 tại nhà an toàn, ông cho biết y thị hoạt động rất hăng say và rất nguy hiểm. Mặc dù là cán bộ cấp huyện, nhưng trong vài lần họp cấp cao ở mật khu, y thị có tham dự. Ông Ngưu cho biết, chỉ hai ngày sau, ông đã bí mật bắt cóc Út Tặng trên đường bán hàng rong ở chợ Long Hoa. Khi báo cáo về Tổng Nha CSQG, thì Đại tá Huỳnh Thới Tây, Trưởng Khối Đặc biệt, ra lịnh phải mang y thị về cơ quan D.6. Y thị bị giam giữ cho đến ngày 30-4-75. Thiếu tá Ngưu không cho X.92 biết vụ bắt cóc, vì sợ rằng ông mất đề cao cảnh giác trong công tác. Khoảng một năm sau, Cục R cho biết Út Tặng đã mất tích và chỉ thị cho X.92 dò xét xem Út Tặng bị giam ở đâu, sống chết thế nào.
12*. Ông Frank Snepp muốn gặp tận mặt X.92 để kiểm chứng tin tức mà CIA Tây Ninh gởi về Thiếu tá Phan Tấn Ngưu và ông Frank Nepp Frank Snepp là chuyên viên phân tích tình báo (Intelligence Analyst) của CIA. Ông muốn gặp X.92 để kiểm chứng tin tức mà CIA Tây Ninh đã gởi về. Được ông Ba đồng ý. Cảnh sát và CIA Tây Ninh thực hiện. Ông Ba nói với vợ là ông đi khám bịnh ở bịnh viện Tây Ninh, rồi đi họp ở Cục R. Ở bịnh viện, ông vào một phòng không có bác sĩ và y tá. Lách ra cánh cửa để vào một phòng trống, nằm trên một băng ca, đấp tấm vải trắng phủ cả người, như một người chết. Hai nhân viên đặc vụ đưa băng ca lên xe hồng thập tự chạy ra phi trường Tây Ninh. Đến trọ tại một phòng của khách sạn sang trọng ở Sài Gòn, phòng bên cạnh là của ông Frank Snepp. Thế là câu chuyện nghiệp vụ được thực hiện. Ông Snepp công nhận tài liệu mà CIA đã nhận được là chính xác. Mỗi lần ra ngoài, X.92 đều ngụy trang. Tóc giả, râu giả, mang kiếng đen thật to để đi “tham quan” thành phố Sài Gòn. Ông Snepp cho biết X.92 có một trí nhớ phi thường. Đọc qua một văn bản, ông thuộc lòng những chi tiết cần thiết. Ông Ba rất thích bia Budweiser và thuốc Salem. Ông Snepp nêu nhận xét, Võ Văn Ba là người yêu nước được CIA đặt cho cái biệt hiệu “TU Hackle và là điệp viên giỏi nhất của CIA hoạt động trong lòng địch”. Sau ba ngày, ông về Tây Ninh và được Thiếu tá Phan Tấn Ngưu đón về, cũng theo thể thức của ngành tình báo.
13*. Số phận của Võ Văn Ba Vào tháng 3 năm 1975, cố vấn Mỹ nêu ý kiến, đưa X.92 cùng gia đình di tản sang Mỹ. Ông Ba từ chối, cho rằng ông đã già (52 tuổi) nên khó khăn lập nghiệp ở Mỹ. Cuối cùng ông Ba cho biết, ông sẽ trở lại cuộc sống bình thường. “Nếu Cộng Sản chiếm miền Nam tôi sẽ tự tử”.
14* Kết luận
Ông Võ Văn Ba sống an toàn cho đến hết ngày 30-4-1975. Do lời khai của thông dịch viên Nguyễn Sĩ Phong ở Ban Mê Thuột, nên ông Ba bị bắt ngày 1-5-1975. Bị giam ở Tây Ninh, rồi chuyển về giam tại Tổng Nha Cảnh Sát (Trước 1975). Ông dùng dây lưng quần siết cổ tự tử vào ngày 8-6-1975.“Võ Văn Ba là người yêu nước, là điệp viên giỏi nhất của Việt Nam Cộng Hòa và của CIA”
Võ Văn Ba: Điệp viên hàng đầu của VNCH và CIA ở Nam Việt Nam
Tác giả: Tina Hà Giang phỏng vấn Frank Snepp
Chỉ gần đây mới có tin chính thức về cái chết của Võ Văn Ba, người từng được coi là ‘điệp viên hàng đầu của CIA ở Nam VN’, khi báo chí Hà Nội gọi đây là ‘tên nội gián nguy hiểm’, bí số X92, Frank Snepp đã biết chắc về cái chết sẽ đến của điệp viên này từ ngày 17/4/1975. “Lúc ấy tôi biết tính mệnh của Võ Văn Ba đang lâm nguy, và có đủ lý do để tin là một nhân viên CIA biết rõ về nhiệm vụ của ông đã bị phe cộng sản bắt tại Phan Rang, và ngờ rằng khi bị tra tấn, người này sẽ khiến ông bị lộ. Một trong những ác mộng kinh hoàng nhất của tôi trong những ngày cuối cuộc chiến – là người anh hùng này, người đã liều lĩnh làm mọi thứ để hỗ trợ đồng minh – và đảm bảo sự thành công của đợt không vận khẩn cấp cuối cùng đưa nhiều người Việt di tản khỏi VN – có thể đã không sống sót. Thiếu tá Cảnh sát VNCH Phan Tấn Ngưu, trong một bài viết về Võ Văn Ba trên trang CanhsatQuocgia.org đã gọi ông là “điệp viên giỏi nhất của VNCH, và nhớ lại ông Võ Văn Ba hay nói ‘Nếu cộng sản chiếm được miền Nam, tôi sẽ tự tử!’ và đó chính là điều ông đã làm, khi bị bắt giữ chỉ vài ngày sau khi Sài Gòn thất thủ.” “Giờ đây tôi nhiều lần tự trách là đã không khăng khăng bắt Võ Văn Ba phải cùng mình rời khỏi Việt Nam,” nhà phân tích chính của CIA (Cục Tình báo Trung ương Mỹ) trong cuộc chiến Việt Nam thổ lộ điều vẫn còn khiến ông bị dằn vặt. Cùng là gián điệp hai mang, nhưng không như Phạm Xuân Ẩn, cái tên Võ Văn Ba chỉ trong mấy năm nay mới được nhắc đến. Truyền thông Việt Nam sau 1975 nói ông “chui sâu, leo cao vào nội bộ ta” trong suốt 10 năm và “gây tổn thất đáng kể cho cách mạng” (báo Nhân Dân hồi 2015, và báo Công an Nhân dân về điệp viên X92). Võ Văn Ba là ai? Ông đã làm gì trong cuộc chiến Việt Nam mà được mệnh danh là điệp viên hàng đầu của CIA, giỏi nhất của VNCH ở Nam Việt Nam? Trong cuộc phỏng vấn chúng tôi thực hiện cho BBC, Frank Snepp, người từng nhận lệnh của CIA đưa ông Nguyễn Văn Thiệu ra sân bay để rời VN tháng 4/1975, nói điệp viên Võ Văn Ba là một trong những lý do ông đang viết thêm một cuốn sách nữa về cuộc chiến cho đến giờ vẫn còn ám ảnh tâm trí ông. Frank Snepp: Võ Văn Ba là một người yêu nước, được CIA đặt cho biệt hiệu ‘TU Hackle’ và là điệp viên giỏi nhất của CIA hoạt động trong lòng địch. Ông từng là một đảng viên cộng sản tận tụy vào cuối thập niên 1940, chuyên tuyển mộ thành viên trẻ tại một tỉnh phía nam Sài Gòn. Ông làm việc với Việt Minh, rồi trở thành một kẻ khủng bố, nhưng nhanh chóng nhận ra rằng khủng bố không phải là cách thu phục trái tim con người. Chán ngán việc phe cộng sản dùng giết chóc và đe dọa như một chiến thuật chiêu mộ, Võ Văn Ba rời bỏ hàng ngũ. Tạm biệt chủ nghĩa cộng sản năm 1954 vào thời điểm Hiệp định Geneva, Võ Văn Ba trở thành người đốn cây trồng rẫy, và dọn về tỉnh Tây Ninh, phía tây bắc Sài Gòn. Tây Ninh là một tỉnh quan trọng, vì đó là địa bàn hoạt động của Trung ương Cục Miền Nam, từ một hang ở Núi Bà Đen. Khi cán bộ Bắc Việt đi qua rẫy của Võ Văn Ba ở chân đồi, ngay bên dưới căn cứ chỉ huy Trung Ương Cục để tham dự các cuộc họp, ông dần dà quen biết họ. Cảnh sát VNCH trong khu vực này, biết lý lịch của Võ Văn Ba, nhận ra ông ở một vị trí lý tưởng. Họ tìm đến ông và nói: chúng tôi muốn ông giúp chúng tôi theo dõi cộng sản, và Võ Văn Ba trở thành gián điệp nhị trùng năm 1960. Thoạt đầu Võ Văn Ba hợp tác với cảnh sát VNCH. Ông nhanh chóng là một điệp viên hiệu quả, làm việc với cấp chỉ huy cộng sản. Võ Văn Ba đóng vai người cộng sản lầm đường muốn trở lại Đảng, và mới đầu chỉ được tiếp cận với vòng ngoài của Trung ương Cục Miền Nam, nhưng sau đó đi hẳn vào trung tâm của Cục. Nhờ vậy, ông thu thập được mọi động tĩnh từ cơ quan này, biết hết các điệp viên hai mang của họ, và những điều họ đang làm. Năm 1965, CIA bắt đầu đưa Võ Văn Ba vào quỹ đạo của mình sau khi nhận thấy ông là một nguồn tin có giá trị. Ông từ đó làm việc cho cả An ninh Cảnh sát VNCH lẫn CIA. Năm 1968, Võ Văn Ba báo trước cho cảnh sát VNCH năm ngày về cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân. Thông tin tương tự đến được Đại sứ quán Hoa Kỳ, người Mỹ không đánh giá cao tin này lắm, nhưng cảnh sát VNCH thì có. Và đó là lý do tại sao khi lực lượng cộng sản tấn công Sài Gòn vào Tết Mậu Thân 1968, cảnh sát VNCH đã chuẩn bị trước và có mặt để đối phó. BBC: Ông có thể kể lại kinh nghiệm làm việc với Võ Văn Ba? Frank Snepp: Năm 1969, tôi đến VN làm chuyên viên phân tích cho CIA. Một trong những điều đầu tiên tôi phải làm là phân tích tài liệu chúng tôi vừa tịch thu được, một tài liệu của Cộng sản quan trọng nhất mà chúng tôi từng có. Tài liệu đó là Nghị quyết 9, phân tích của Bắc Việt về những gì xảy ra năm 1968, cũng như hoạt động quân sự sau đó. Bắc Việt nhận định rằng quá nhiều quân sĩ của họ đã tử trận, nhiều đến mức họ dự trù phải thúc thủ trong vòng hai năm. Nói cách khác, họ không thể có cuộc tấn công lớn nào nữa. Khi CIA tịch thu được toàn bộ tài liệu này, tôi được giao nhiệm vụ cùng với ba hoặc bốn đồng nghiệp, cũng thuộc CIA, phải tìm hiểu xem tài liệu có xác thực hay không. Chúng tôi nghĩ tài liệu đó thật, nhưng không chắc 100%. Làm thế nào để xác định được là tài liệu đó có giúp chúng tôi biết ý định sự thật của phía cộng sản không rất quan trọng, vì chương trình Việt Nam hóa chiến tranh, chính sách mới của Nixon về việc rút lực lượng Mỹ và đưa lực lượng Việt Nam lên tuyến đầu, chỉ mới bắt đầu. Nếu tài liệu này đúng, có nghĩa là trong thời gian hai năm, khi Cộng sản không thể hoạt động mạnh trên chiến trường, chúng tôi sẽ rảnh tay thực hiện chính sách Việt Nam hóa. Chúng tôi gặp Võ Văn Ba và được Võ Văn Ba xác nhận đó là tài liệu đúng. Đó là một đột phá tình báo lớn. Tôi biết Võ Văn Ba trong hoàn cảnh đó. Trong vòng hai năm, tôi bắt đầu gặp trực tiếp ông ta, không phải vì tôi giỏi, không phải vì tôi nói được tiếng Việt, tôi luôn phải có thông dịch viên khi làm việc với Võ Văn Ba, nhưng vì tôi đã nắm sẵn được nhiều bí mật. Là một nhà phân tích của CIA, tôi được truy cập vào những bí mật quan trọng và bạn phải biết bí mật thì mới có thêm được bí mật. Vì vậy CIA cử tôi đến nói chuyện với nhiều nguồn tin, trong đó có Võ Văn Ba, để lấy tin và xác minh xem những gì chúng tôi nhận được có chính xác không. Tôi bị Võ Văn Ba mê hoặc. Ông có trí nhớ phi thường, có thể xem một tài liệu và nhớ nguyên văn mọi thứ cần nhớ về tài liệu đó. Không cần phải cầm tài liệu trong tay, chỉ cần đọc nó một lần, ông sẽ có thể mang tài liệu đó đến cho chúng tôi trong đầu của ông. CIA huấn luyện cho ông tất cả những kỹ thuật căn bản trong nghề tình báo. Phải nói rõ là Võ Văn Ba có người phụ trách trực tiếp tức ‘handler’ là Cảnh sát Đặc biệt của VNCH. Ông cũng có một ”handler” khác là một nhân viên CIA người Mỹ ở Tây Ninh. Nhưng người Mỹ này không thể trực tiếp gặp ông, bởi nếu Cộng sản nhìn thấy ông với một người da trắng, họ sẽ nghi ngờ. Vì vậy, để gặp ‘handler’ người Mỹ, Võ Văn Ba phải vào một bệnh viện ở Tây Ninh, trèo lên một băng ca, kéo tấm trải giường lên người, giả như người đã chết. Sau đó, các nhân viên phụ trách người Việt của ông sẽ chuyển băng ca ra ngoài, đưa lên máy bay. Máy bay sẽ đưa Võ Văn Ba vào Sài Gòn nơi ông cải trang để gặp tôi hoặc một người Mỹ khác. Ông sẽ mặc áo dài nam hay đội bộ tóc giả lớn khiến ông trông giống một phụ nữ và đeo cặp kính đen khổng lồ giống như Greta Garbo, rồi đến gặp chúng tôi tại một nơi an toàn. BBC:Ngoài trí nhớ phi thường như ông nói, Võ Văn Ba là người như thế nào và có đặc điểm gì, thưa ông? Frank Snepp: Võ Văn Ba có hai nhược điểm. Một là rất thích bia Budweiser. Ông được bảo là người Mỹ thả bia Budweiser dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh để làm chậm tiến độ xâm nhập của Bắc Việt, vì đang di chuyển họ phải dừng lại uống bia (cười). Chẳng biết điều đó có đúng không, tôi cho rằng đó là sự thật, dù không bao giờ kiểm chứng được. Dẫu sao Võ Văn Ba rất mê Budweiser. Nhược điểm thứ hai là rất thích thuốc Salem. Nghe nói ông Hồ Chí Minh cũng mê thuốc lá Salem, và thường bỏ thuốc Bastos hoặc thuốc lá Việt Nam trong túi áo, và mời những thứ này cho các đồng chí. Nhưng khi muốn hưởng chút lạc thú, ông sẽ lấy Salem ra hút. Vì vậy, Võ Văn Ba, người thích trò trớ trêu, luôn đòi chúng tôi cung cấp bia Budweiser và thuốc Salem trước khi trao cho chúng tôi những bí mật. Và những bí mật ông có được thì thật tuyệt vời. Toàn những tin từ nội bộ. Ông được hàng ngũ cộng sản tín nhiệm đến nỗi được tham gia các cuộc họp bên trong Bộ chỉ huy ở Núi Bà Đen. Võ Văn Ba ở vào vị trí lý tưởng để giúp chúng tôi, và để giúp ông đóng được vai trò một thành viên Cộng sản tốt, CIA và Cảnh sát Đặc biệt VNCH dàn dựng nhiều việc. Chúng tôi tấn công vào các trạm kiểm soát của cảnh sát VNCH, tất cả đều là giả, và sau đó loan tin là phe cộng sản đã làm điều đó, dĩ nhiên Võ Văn Ba kiếm được điểm, vì vậy, tín nhiệm của ông ngày càng tăng trong giới chỉ huy Bắc Việt. Họ cho rằng ông đã thi hành tất cả những điệp vụ kinh tởm cho họ, trong khi thực sự ông làm việc cho chúng tôi. BBC: Những tường trình của Võ Văn Ba đã giúp công việc của ông ra sao? Frank Snepp: Tôi dần dà ủng hộ tuyệt đối những tường trình của Võ Văn Ba. Lúc trở về trụ sở CIA ở Mỹ vào năm 1971, tôi là thành viên của một đơn vị phân tích lớn, chuyên viết bản tường trình hàng ngày (Daily Brief) cho Tổng thống. Tôi quảng bá báo cáo của Võ Văn Ba, vì là một trong số ít người trong ban phân tích của CIA đã gặp được ông, và vì tôi biết ông là vàng ròng. Năm 1972, chúng tôi bắt đầu nhận được báo cáo lạ của Võ Văn Ba. Lạ vì nó cho thấy Cộng sản đang làm một điều mà chúng tôi không bao giờ nghĩ họ sẽ làm. Họ cho cán bộ biết là có thể sẽ có một hiệp định hòa bình mà không cần phải có điều kiện họ luôn coi là tiên quyết, đó là Nguyễn Văn Thiệu phải từ chức. Tôi sửng sốt khi đọc điều đó, vì tôi biết Võ Văn Ba là người đáng tin. Tôi viết ngay bản tường trình hàng ngày cho tổng thống nói rằng tôi nghĩ một hiệp định hòa bình đang trong quá trình được thực hiện. Lúc ấy Henry Kissinger đang bí mật đàm phán ở Paris, nhưng không nói cho ai biết mình đang làm gì. Báo cáo của Võ Văn Ba là dấu hiệu đầu tiên cho chúng tôi thấy đã có bước đột phá trong cuộc đàm phán bí mật ở Paris giữa Kissinger và Lê Đức Thọ. CIA, dù ít nhất là ở cấp của tôi, không ai biết gì về điều này. Vì vậy, chúng tôi đã được điệp viên giỏi nhất của mình báo về tiến trình các cuộc đàm phán tại Paris. Sau đó tôi lại được cử về Sài Gòn vào mùa thu năm 1972 để thẩm vấn một tù binh Bắc Việt giỏi nhất mà chúng tôi bắt được. Vào tháng 10/1972, khi tôi đã có mặt ở Sài Gòn, chúng tôi nhận được một báo cáo hết sức sửng sốt của Võ Văn Ba. Báo cáo cho biết Kissinger đã có một thỏa thuận khủng khiếp với phe cộng sản, cho phép Bắc Việt giữ lực lượng của họ ở miền Nam. Bản báo cáo của Võ Văn Ba không chỉ đến Tòa Đại sứ, mà còn đến tay Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, khiến ông Thiệu vào tháng 10/1972 phản ứng mãnh liệt, hỏi chuyện gì đang xảy ra, Kissinger đang làm gì? Ông Thiệu nhất quyết phản đối, nói sẽ không chấp nhận thỏa thuận mà Kissinger đang đàm phán dù đó là thỏa thuận gì, vì ông không được tham dự vào việc thương lượng. Khi ông Thiệu nhất quyết phản đối thì đến phiên Bắc Việt hỏi chuyện gì đang xảy ra, người Mỹ chắc đang lừa chúng ta. Khi thấy thỏa thuận có nguy cơ bị hỏng, vì Võ Văn Ba đã cho chúng tôi biết sự thật, Nixon quyết định dội bom Bắc Việt để chứng minh với ông Thiệu rằng Mỹ vẫn đứng về phía ông, và cũng để làm cho Bắc Việt phải tiếp tục thương lượng, và họ đã trở lại đàm phán. Võ Văn Ba đã cung cấp cho tổng thống VNCH thông tin đầu tiên về những gì Kissinger đang làm, và quan trọng nhất là quyết định cho phép quân đội Bắc Việt ở lại miền Nam của Kissinger. BBC: Ông có tiếp xúc với Võ Văn Ba thường xuyên không? Frank Snepp: Trong thời kỳ ngừng bắn 1973 đến 1975, tôi thỉnh thoảng gặp ông để biết những kế hoạch mới nhất của cộng sản. Tôi cũng được trao một trọng trách mới, là giúp quản lý một đặc vụ mà chúng tôi đang có ở Hà Nội. Phải nói rõ rằng người phụ trách Võ Văn Ba là một nhân viên CIA khác rất giỏi, nhưng tôi được cử đến gặp ông định kỳ để kiểm chứng những phát hiện của ông với nguồn trực tiếp của chúng tôi ở Hà Nội. Tôi không giỏi gì, nhưng chỉ vì tình cờ mà tôi được liên lạc trực tiếp với điệp viên giỏi nhất của CIA và có dịp kiểm chứng những tin những điệp viên gửi về. Khi Nixon từ chức, Võ Văn Ba cho chúng tôi những dấu chỉ đầu tiên về những gì Cộng sản sẽ làm vào cuối năm 1974. Ông nói Bắc Việt sẽ thử nghiệm để xem khả năng phòng thủ của VNCH lúc ấy yếu đến độ nào. Ngày 8/4/1975, Võ Văn Ba cho chúng tôi báo cáo đầu tiên về những gì phe cộng sản sẽ làm để dứt điểm cuộc chiến. Tôi không được tin này trực tiếp, mà nhận qua người ‘handler” của ông. Tôi gửi ngay yêu cầu cho Võ Văn Ba thông qua người Mỹ này để hỏi thêm. Sau đó, ngày 17/4, tôi trực tiếp gặp Võ Văn Ba và nhận được toàn bộ kế hoạch kết thúc chiến tranh của Cộng sản: Sẽ không có thỏa thuận nào, ông Thiệu từ chức hay không không thành vấn đề, cũng không thành vấn đề nếu chúng tôi muốn thành lập một chính phủ liên hiệp, Cộng sản nhất quyết tiến chiếm Sài Gòn kịp sinh nhật Hồ Chí Minh vào giữa tháng 5, và sẽ tấn công trước ngày 1/5, đúng y như những gì đã xảy ra. Tin đó khiến các nhà hoạch định quân sự Hoa Kỳ đã bị sốc mà phải tức thời lập chương trình cho những chuyến trực thăng khẩn cấp đưa người di tản. Vì vậy, với những ai đã được đưa ra khỏi Việt Nam vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến, Võ Văn Ba là người đã cứu họ…
P HẦN 2 : FR A N K S N E P P S O S Á N H Đ IỆP V IÊ N C IA V Õ V Ă N B A V À T ÌN H B Á O C S P HẠM X U Â N ẨN .
là gián điệp nhị trùng, nhưng không như Phạm Xuân Ẩn, cái tên Võ Văn Ba chỉ trong mấy năm nay mới được nhắc đến. Truyền thông Việt Nam sau 1975 nói ông “chui sâu, leo cao vào nội bộ ta” trong suốt 10 năm và “gây tổn thất đáng kể cho cách mạng”. Võ Văn Ba là ai và số phận ông ta ra sao sau 30/04/1975 khi lực lượng chính quy của Bắc VN tiến vào Sài Gòn, xóa sổ chế độ VNCH. Trong cuộc phỏng vấn chúng tôi thực hiện cho BBC, Frank Snepp, nhà phân tích chính của CIA trong chiến tranh VN, kể những gì ông biết về Võ Văn Ba, nêu ra ý kiến cá nhân về điệp viên này và chia sẻ những gì ông tin là ông biết được thêm sau 1975. Frank Snepp: Theo thông tin mà chính Cộng sản đưa ra sau đó, Võ Văn Ba bị một nhân viên CIA, một người Mỹ bị bắt hai tuần trước khi cuộc chiến kết thúc làm lộ. Theo bản dựng lại vụ án của Cộng sản, được công bố sau chiến tranh, nhân viên CIA này, khi bị tra tấn đã khai ra Võ Văn Ba. Ngoài ra, hành tung của Võ Văn Ba cũng bị một thông dịch viên người Việt tiết lộ. Đây là người từng làm việc với Võ Văn Ba, người này bị bắt, tôi nhớ là ở Ban Mê Thuật. Tóm lại, hai cá nhân liên quan đến CIA, khi bị tra tấn đã khai ra vai trò của ông. Khi tôi gặp Võ Văn Ba hôm 17/4, mạng sống của ông đang bị nguy hiểm nghiêm trọng, vì trong vòng vài ngày đó ông có lẽ đã gặp những người đã bị bắt, trong đó có một số người Mỹ. Khi Sài Gòn thất thủ, Võ Văn Ba chưa di tản. Với thông tin thu thập được từ các tù nhân, phe cộng sản bắt giam ông, và họ công bố trong các phân tích thời hậu chiến là ông đã dùng thắt lưng treo cổ tự tử để khỏi bị tra tấn. Vợ ông bán hoa ở Tây Ninh dường như không bị sát hại, và tôi tin là con trai của Võ Văn Ba cũng không bị cộng sản bắt bớ, mặc dù điều này không rõ ràng. Với tôi, Võ Văn Ba là một người hùng, một người thực sự yêu nước. Ông là một Nathan Hale (1755-1776, sĩ quan, nhà hoạt động tình báo thời cuộc chiến Cách mạng Mỹ) của miền Nam Việt Nam, và cho đến gần đây, khi Bắc Việt công bố những tài liệu riêng của họ, công chúng vẫn biết rất ít về ông. Tôi đã viết về Võ Văn Ba trong cuốn Decent Interval, nhưng lúc ấy tôi rất cẩn thận, không tiết lộ bất kỳ chi tiết nào, không công bố danh tính hay thông tin xác định nào ngoại trừ việc nói rằng ông ở tỉnh Tây Ninh và là điệp viên tốt nhất của CIA. Lý do là khi viết sách, tôi không biết chắc số phận Võ Văn Ba lúc đó ra sao. BBC: Có phải Võ Văn Ba là một trong những lý do khiến ông viết thêm một cuốn sách nữa về cuộc chiến Việt Nam. Ông biết tin Võ Văn Ba treo cổ tự tử vào lúc nào? Frank Snepp: Kể chuyện Võ Văn Ba, tôi hy vọng sẽ tạo chất xúc tác để những người Việt tị nạn và người Việt sống ở hải ngoại tôn vinh người đàn ông này. Ông là một người miền Nam yêu nước một cách phi thường, nhưng chưa ai biết nhiều về ông, ít nhất là cho đến nay. Tôi chỉ biết tin Võ Văn Ba chết khi an ninh Việt Nam ở Hà Nội công bố tài liệu của họ về vụ án. Trong bốn năm qua, Hà Nội đã công bố gần như tất cả những khám phá của họ về ông. Họ đã kiểm tra lời khai của tù nhân, thu giữ tài liệu và tổng hợp lại những chiến dịch mà họ cho là đã gây tổn hại cùng cực, và kết luận Võ Văn Ba là điệp viên nguy hiểm nhất từng hoạt động chống cách mạng. Họ xác nhận những gì tôi biết, đó là việc ông đã tiết lộ các tài liệu về kế hoạch và thiết kế quan trọng của Cộng sản từ năm 1965 đến khi kết thúc chiến tranh. Ông đã cung cấp hết cho CIA, vấn đề là CIA không phải lúc nào cũng tin ông. BBC: Ông Phan Tấn Ngưu, người phụ trách liên lạc với Võ Văn Ba từ phía VNCH, viết là CIA có lúc không tin Võ Văn Ba là vì ông gặp vấn đề bị thử bằng máy phát hiện nói dối (lie detector test). Điều đó đúng không? Frank Snepp: Vào năm 1971, có nghi ngờ rằng Võ Văn Ba là gián điệp nhị trùng hoạt động cho Cộng sản. Tôi đã có cuộc gặp kéo dài ba ngày với ông và xem qua tất cả những gì chúng tôi biết về ông, cùng với ông Phan Tấn Ngưu, sĩ quan cảnh sát của VNCH, “handler” của Võ Văn Ba, hiện đang sống ở Quận Cam (California) và cũng là người đã công bố những gì ông biết về Võ Văn Ba kể cả việc chúng tôi đã gặp nhau. Vào đầu năm 1971, tôi đã có thể xác minh rằng Võ Văn Ba đúng là những gì ông đã tuyên bố. Điều gây nghi ngờ là Võ Văn Ba đã đưa một số báo cáo cho các cơ quan tình báo khác của VNCH, như Phủ Đặc ủy Tình báo Trung ương và có thể cả cho cơ quan an ninh quân đội. Võ Văn Ba làm như vậy vì họ trả ông một ít tiền. Ông cung cấp cho chúng tôi những bí mật chính, nhưng cũng kiếm thêm tiền bên ngoài. Và vì vậy, khi làm ‘lie detector test’, đồ thị của ông có những vết nhấp nhô. Ông cũng không nói với chúng tôi rằng ông trao một số bí mật cho những cơ quan đồng minh để kiếm thêm chút tiền. Đó là nguồn gốc những nghi vấn về ông. Nhưng những nghi ngờ này phần lớn đã được giải tỏa, chủ yếu là qua cuộc gặp gỡ ba ngày của tôi với ông ấy vào năm 1971. BBC: Ông có thể so sánh Võ Văn Ba với Phạm Xuân Ẩn, điệp nổi tiếng hoạt động cho phe cộng sản Bắc Việt cũng trong cuộc chiến VN? Frank Snepp: Phạm Xuân Ẩn nói chung là một hacker. Ông ta làm việc chống lại mục tiêu mềm yếu nhất ở miền Nam Việt Nam, đó là giới báo chí. Ông Ẩn thu thập những thông tin có giá trị mà báo chí lấy được từ Đại sứ quán Hoa Kỳ, và chuyển nó cho Bắc Việt. Nhưng so sánh Phạm Xuân Ẩn với Võ Văn Ba, thì xin đừng làm thế. Võ Văn Ba là thứ thiệt. Ông như nhân vật trong phim James Bond. Võ Văn Ba nằm ở ngay Trung ương Cục Miền Nam của phe cộng sản, đầu não chính của họ ở miền Nam, giống như một điệp viên nằm ngay trong Lầu Năm Góc. So với Võ Văn Ba, Phạm Xuân Ẩn không là gì cả. Ý tôi là, Phạm Xuân Ẩn được ca tụng vì giới báo chí Mỹ kinh ngạc không thể tin được là họ đã bị ông ấy lừa. Vậy à? Nhưng, việc đưa ra đề xuất so sánh hai người, tôi nghĩ, là một xúc phạm với Võ Văn Ba. Thật đấy. Không phải là tôi muốn hạ giá trị Phạm Xuân Ẩn. Tôi biết ông ta là một điệp viên thông minh, nhưng xét về tầm cỡ, ông ấy không thể so với vai trò của Võ Văn Ba. BBC:Theo ông, Võ Văn Ba đã có những thành tích gì đáng ghi nhớ? Frank Snepp: Võ Văn Ba cho Nguyễn Văn Thiệu dấu chỉ đầu tiên là Henry Kissinger đang đánh lừa miền Nam Việt Nam. Ông đã cảnh báo cho chúng tôi về Tết Mậu Thân năm 1968 mặc dù Đại sứ quán Hoa Kỳ không công nhận tất cả những điều ông nói. Ông đã giúp chúng tôi chứng thực tài liệu cho thấy phe cộng sản đã chịu những thương vong khủng khiếp vào năm 1968 và sẽ không thể tiếp tục chiến đấu với mức độ ác liệt như cũ. Điều đó giúp chúng tôi khởi động chương trình Việt Nam hóa chiến tranh. Ông đã cho chúng tôi biết phản ứng đầu tiên của phe cộng sản về việc Tổng thống Nixon từ chức vào tháng 8 năm 1974. Võ Văn Ba báo cho chúng tôi mọi quyết định quan trọng Cộng sản đưa ra. Đây không phải là nhận định của tôi mà là nhận định của chính Bắc Việt. Họ lập một danh sách, nói là Võ Văn Ba đưa cho CIA kế hoạch cho các năm 1969, 1970, cuộc tấn công lễ Phục sinh… Võ Văn Ba cung cấp tất cả thông tin về kế hoạch ngừng bắn của họ. Bạn không cần tin tôi, mà hãy đọc những phân tích của họ, những phân tích của chính phe địch. Ngay Bắc Việt cũng phải công nhận là Võ Văn Ba qua mặt được họ là điều rất phi thường. Đại sứ Graham Martin dần dà cũng quý mến Võ Văn Ba, vì ông cho rằng thành công của Võ Văn Ba cho thấy phe cộng sản cũng dễ bị tổn thương và có điểm yếu kém, có lỗ hổng. Vì vậy, khi Đại sứ Martin cuối cùng quyết định không tin vào cảnh báo của Võ Văn Ba là sẽ không có thỏa thuận, điều đó làm tôi sửng sốt, vì ông đã từng tin rằng điệp viên này giỏi nhất trong số những người giỏi nhất. Việc Đại sứ Martin và xếp CIA Polgar giảm tầm quan trọng của những gì Võ Văn Ba cảnh báo làm tôi kinh ngạc. Nhưng những điều Võ Văn Ba nói với chúng tôi hôm 17/4, cuối cùng cũng đã được gửi về cho tổng thống trong bản tóm tắt hàng ngày, và nhờ đó đã thúc đẩy ngay kế hoạch cho trực thăng bốc người, giúp nhiều người trong chúng ta vượt thoát. Tóm lại, chúng ta không thể kể về Chiến tranh Việt Nam mà không nhắc đến thành tích của Võ Văn Ba. Lịch sử chiến tranh Việt Nam đã được kể lại nhiều lần, nhưng không mấy ai có thông tin về Võ Văn Ba, ngoại trừ những gì tôi viết trong cuốn hồi ký ban đầu, nhưng cũng không dám viết gì nhiều như bây giờ. Giờ đây tôi đã viết về Võ Văn Ba, và đến nhiều viện bảo tàng và viện nghiên cứu khác nhau để nói rằng, quý vị phải cập nhận tài liệu của quý vị về chiến tranh Việt Nam, phải kể về một số đóng góp của người đàn ông này, bởi vì những gì Võ Văn Ba báo với chúng tôi đều là tin chính xác vào những thời điểm quan trọng. Và lịch sử phải ghi rõ những gì chúng ta biết, những gì không biết, những tin chúng ta đã vì đó có hành động thích hợp, và những tin chúng ta đã phớt lờ. Phải làm thế, vì sự thật là điều then chốt của lịch sử.
(Thế hệ một thời đi qua vòm trời vàng son Việt Nam Cộng Hòa)
Trước đó đã có, nhưng rầm rộ hơn phải được tính từ đầu năm 2004 khi ông cựu Phó Tổng thống Việt Nam Cộng hòa bốc đồng Nguyễn Cao Kỳ do được những tay “bác sĩ” Cộng sản tài tình kết nối “khúc ruột dư” của ông trở về Việt Nam thành “khúc ruột Thừa ngàn dặm”.
Năm kế tiếp 2005 là lão nhạc sỹ Phạm Duy, người có số phận quá tam ba bận. Kháng chiến chống Pháp ông bỏ chiến khu về Thành, chia cắt hai miền ông bỏ Thành Hà vào Nam, Bắc thâu tóm Nam ông bỏ Nam chạy sang Mỹ. Ba mươi năm mang kiếp sống của kẻ lưu vong.
Từ đó đám chống Cộng xôi thịt bên Mỹ như bọn Nguyễn Ngọc Lập, Hoàng Duy Hùng, Nguyễn Phương Hùng… theo gương ông Kỳ từ Mỹ ào ạt trở về, và cũng đều giống nhau, khi đặt chân xuống sân bay, bọn chúng nước mắt lưng tròng nức nở nghẹn ngào, ân hận, tự nhận đã một thời lầm đường lạc lối, đầy mình tội lỗi đối với đất nước non sông.
Tiếp nối theo có đám ca sĩ Việt ở Mỹ cũng rầm rộ kéo nhau về “kiếm ăn” bởi ở Mỹ thị trường âm nhạc ấy đã hết… ăn. Kiều bào ta rải rác khắp nước Mỹ thời điểm này khoảng hai triệu người. Thế hệ thích nhạc xưa ngày một thưa thớt, trong khi ở Việt Nam một trăm triệu dân, lượng khán giả háo hức đón nhận dòng nhạc vàng, Bolero này còn thịnh hành, còn đông lắm. Thôi thì sống đâu cũng là sống, cũng vẫn phải làm, vẫn phải tồn tại. Chuyện cơm áo gạo tiền gắn liền sinh mạng.
Hơi phiền là các ca sĩ này cứ tưởng bở, được hát những bài hát của họ tự chọn thoải mái như trên sân khấu Mỹ, Pháp, Úc… Như trên sân khấu quê nhà của thời vàng son Việt Nam Cộng hòa còn tồn tại. Họ được trở về Việt Nam hành nghề đã là một “đặc ân lớn” của Chính phủ, của Đảng phẩm chất, trí tuệ, cùng lòng bao dung độ lượng nhân ái dành cho dân và vì dân. Nếu không phải Đảng Cộng sản Việt Nam thì chẳng có cái Đảng chó nào trên thế gian này vĩ đại, giầu lòng chắc ẩn hơn.
Nào là Chế Linh, Thanh Tuyền, nào là Phương Dung, Giao Linh, nào là Hương Lan, Tuấn Vũ, rồi Khánh Ly, Tuấn Ngọc… ùn ùn theo nhau kéo về hát trên sân khấu quê nhà hợp hòa dân tộc. Tất cả các ca sĩ này có một số phận na ná giống nhau, tiền sử của họ đều bị khép tội phản động, bỏ chạy vào ngày “Đất nước trọn niềm vui” 30-4-1975. Họ trở thành thuyền nhân (Boat people) lênh đênh biển cả. Mạng họ đào hoa nên chưa bị sa vào ruột cá. Đến nay tuổi của họ cũng kha khá là cao. Ông Đỗ Phủ cười xếp tất cả loại này vào bọn “người xưa nay hiếm”.
Chương trình của họ vé đã được bán hết, đang chuẩn bị trình diễn, hoặc diễn hát giữa chừng mà lỡ có bị cúp mất điện, tắt đài thì chỉ là chuyện hài Xã hội chủ nghĩa, chuyện muỗi. Lỗi này nếu truy xét nguyên nhân thì đều do từ dân xướng ca phạm luật chơi, đi sai đường hoặc hát chệch hướng chỉ đạo của Ban Tuyên giáo Trung ương.
Xin nêu mấy trường hợp mới xẩy ra đối với nhóm ca sĩ đã trải qua chế độ Việt Nam Cộng hòa trở về hát trên quê nhà thời gian gần đây để ta suy ngẫm.
Chế Linh gốc người Chăm, từng sáng tác và hát cho lính “Ngụy quân, Ngụy quyền”. Tuổi trẻ vô Sài Gòn nói tiếng Việt chưa sõi. Bắt đầu nổi tiếng từ bài hát đầu tiên “Tình bơ vơ” của nhạc sĩ Lam Phương. Từng bị chế độ Cộng sản bỏ tù rồi vượt biên thoát nạn. Ra hải ngoại, đứng trên sân khấu Thúy Nga Paris by night dám đóng vai Vua Champa Chế Bồng Nga, vị vua vĩ đại cuối cùng của Quốc vương Chăm vì sau khi ông tử trận năm 1390 khép lại lịch sử cường hùng, người sau thế ông không ai hơn được. Nước Chăm cũng bị nhà Hồ Đại Ngu đánh chiếm giang sơn dần, mất hết đất đai thịnh vượng và về sau bị xóa sổ hoàn toàn.
Báo An Ninh Thế giới cuối tháng ngày ấy đã đăng hình ông “Vua Chế Linh” trong bộ áo bào uy nghi lẫm liệt và có hẳn một trang dài luận tội Chế cực kỳ phản động, dám gợi lại một triều đại đã qua. MC Nguyễn Ngọc Ngạn thì đùa tếu, Chế là người vô tổ quốc, người nước ngoài nói hai thứ tiếng. Nay cho về lại Việt Nam hát là hồng phúc rồi, nếu lỡ như có xẩy ra sự cố chi chi đó khi chuẩn bị trình diễn tại Thủ đô Hà Nội như hồi trung tuần tháng 11 năm 2022 thì chỉ là do phúc của Chế hết hồng mà thôi. Dẫu có thế nào thì Chế cũng đừng oán than chế độ ưu việt đãi ngộ cho Chế trở về, bởi kết cục nó tất phải thế.
Khánh Ly làm cả một chương trình show tại Đà Lạt cuối tháng 6 năm 2022 không sao, ngứa nghề tương thêm bài “Gia tài của mẹ” (Trịnh Công Sơn sáng tác):
“Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu
Một trăm năm đô hộ giặc Tâу
Hai mươi năm nội chiến từng ngàу
Gia tài của mẹ để lại cho con …
Gia tài của mẹ một rừng xương khô
Gia tài của mẹ một núi đầу mồ…
Gia tài của mẹ một nước Việt buồn”…
Tắt điện. Cấm hát, về nước Mỹ mà hát. Giá như lúc đó nữ ca sĩ này hứng lên hát: “Như có Bác trong ngày vui đại thắng” (Phạm Tuyên), hay “Tiếng hát từ thành phố mang tên Bác” (Cao Việt Bách), hoặc “Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người” (Trần Kiết Tường), “Đất nước trọn niềm vui” (Hoàng Hà) … chắc chắn Khánh Ly còn được hát, hát nữa, hát mãi, hát tẹt ga, ca tẹt sức. Thậm chí sẽ được hát khuyến mại, hát dưới ánh điện sáng trưng, hát tưng bừng như chưa bao giờ được hát.
Hỏng rồi! Giặc Tây thì còn được chớ sao lại có giặc Tàu ở đây? Sao lại nội chiến, bọn chúng ông “đánh cho Mỹ cút đánh Ngụy nhào” kia mà, phải nói ngoại chiến chứ, nội chiến cái con khỉ tiều, chẳng hiểu gì về điện. Xương khô nào đầy mồ. Việt nào là Việt buồn, không thấy chúng ông suốt ngày vui như có Bác, sướng như được sống bên lăng Người đó thây. Tắt, biến.
Nói vui vậy thôi chứ gì thì gì ca sĩ Khánh Ly vẫn đáng khen bởi bà dũng cảm “Hát trên những xác người” (Trịnh Công Sơn) của một trời tóc tang Mậu Thân Huế 1968 bị Cộng sản tàn sát:
“Chiều đi qua Bãi Dâu, hát trên những xác người
Tôi đã thấy, tôi đã thấy,
Trên con đường, người cha già ôm con lạnh giá.
Chiều đi qua Bãi Dâu, hát trên những xác người
Tôi đã thấy, tôi đã thấy,
Những hố hầm đã chôn vùi thân xác anh em”.
Thể hiện nhạc phẩm nào thì Khánh Ly cũng rất tôn trọng tác giả cùng lời ca trong bài hát. Dẫu có bị Ban Tuyên giáo đuổi về lại nước Mỹ thì bà cũng nên vui vẻ. Không vì thế mà danh của bà sứt mẻ mòn hao.
Khánh Ly có chung số phận đắng cay với hơn một triệu người dân miền Nam đúng ngày “Đất nước trọn niềm vui” ấy, Ly chạy ra biển, Ly biến sang Mỹ. Trên sân khấu tự do thân hình gầy gò khô héo, Ly hát rắt réo : “Đêm chôn dầu vượt biển” (của Châu Đình An) nghe đau nhói:
Đêm nay anh gánh dầu ra biển anh chôn
Anh chôn, chôn hết cả những gì của yêu thương
Anh chôn, chôn mối tình chúng mình
Gửi lại đây trăm nhớ ngàn thương
Tạm biệt… nước non!
Rồi Ly lại hát: “Một chút quà cho quê hương” của (Việt Dzũng) sao tang tóc hãi hung:
Con gởi về cho cha một manh áo trắng
Cha mặc một lần khi ra pháp trường phơi thây
Gởi về Việt Nam nước mắt đong đầy
Mơ ước một ngày quê hương sẽ thanh bình…
Cả tác giả lẫn người hát đều là nạn nhân, thuyền nhân, chứng nhân trong cuộc chiến cốt nhục tương tàn, tiêu tan đất nước. Nên Ly thả hồn mình vào lời ca thổn thức, nhói nhức tâm can, chứa chan nước mắt, đau thắt con tim.
Cũng giống Chế Linh, Báo An Ninh Thế giới cuối tháng ngay sau đó có bài viết đầy trang về bà. Vạch trần bộ mặt phản quốc, tiểu sử Lệ Mai (tên thật của Khánh Ly) còn gọi Mai “đen” sinh ra và lớn lên trên phố Hàng Bông – Hà Nội. Đích thị gốc người Tràng An thanh lịch. Theo mẹ di cư vào Nam năm 1954 khi còn tuổi nhỏ lên chín lên mười, rồi trưởng thành người ca sĩ trong chế độ Ngụy Sài Gòn bơ thừa, sữa mứa của Mỹ.
Lịch sử ở đâu? Lịch sử chính là đây? Trong ca, văn, nhạc, họa chốn này… Thế hệ sau ta có hiểu nổi sao lại phải vượt biển? Sao lại phải chôn dầu mỗi nơi một chút, sao lại phải chôn lén lút giữa đêm đen. Phải gom tới bao nhiêu hộc dầu như thế mới đủ được cho ghe, cho xuồng chạy ra hải phận Việt Nam.
Sao đất nước văn hiến, văn vật mà cứ tối đen như mực, nào là “Tắt đèn”, tiểu thuyết Ngô tất Tố. Sau “Đêm đông” nhạc phẩm Nguyễn Văn Thương, đến “Đêm hội Long Trì”, tiểu thuyết Nguyễn Huy Tưởng, “Đêm chôn dầu vượt biển” ca khúc Châu Đình An, “Cái đêm hôm ấy… đêm gì” bút ký Phùng Gia Lộc, “Đêm giữa ban ngày” hồi ký Vũ Thư Hiên, “Đêm dày lấp lánh” chính luận Nguyễn Thanh Giang… Ôi đất nước tôi, triền miên nghe nỗi đau của mẹ: “Ba lần tiễn con đi, hai lần khóc thầm lặng lẽ”. Ôi đất nước tôi, những kẻ biệt xứ xa xôi, lòng hằng mong giản đơn thôi “Mơ ước một ngày quê hương sẽ thanh bình”.
Ngỡ đất nước thanh bình nên bốc đồng Nguyễn Cao Kỳ muốn gửi nắm tro tàn của mình trên quê hương vào cuối đời như mơ ước. Khi cầm quân chống Bắc Việt ông Tướng cao bồi này đã đại bại, lúc nhắm mắt ông Kỳ còn thảm hại hơn. Ông ta phải chết ở nước ngoài. Nghe bảo cô con gái ông ở Mỹ có đi nói khó với mấy chùa người Việt bên đó nhờ ký gửi nắm tro cốt của cha mình họ mới chịu. Còn nhạc sĩ Phạm Duy (Phạm Duy Cẩn), người Hà Nội “xịn” trăm phần trăm luôn, sinh tại phố Hàng Cót, sống chỗ phố Hàng Dầu:
“Nhà tôi ở phố Hàng Dầu
Số nhà năm bốn (54) đứng đầu… du côn” (Hồi ký)
Trước khi nhắm mắt, ông lấy làm tiếc là nhiều tác phẩm của mình còn bị cấm. Hai trường ca chưa được cấp phép “Con đường cái quan” và “Mẹ Việt Nam”. Ông nhận thấy hoàn toàn thất bại khi người Việt còn chưa thực sự hòa hợp hòa giải cho dù đất nước đã thống nhất từ lâu.
Sau năm 1975 các vở kịch “Lá sầu riêng” (Kim Cương), “Đời cô Lựu” (Trần Hữu Trang), “Nửa đời hương phấn” (Hà Triều-Hoa Phượng)… tràn ra, dẹp dần các đoàn kịch Bắc. Gần nửa thế kỷ sau dòng nhạc vàng – Bolero của các nhạc sĩ miền Nam lan tỏa khắp bản làng thôn quê nước Việt. Thậm chí các cuộc thi Bolero bao giờ cũng được đón nhận người thi, người xem đông đảo, hoàn hảo, hào hứng, sôi nổi nhất. “Tình bơ vơ” (Lam Phương), “Xuân này con không về” (Trịnh Lâm Ngân), “Nỗi lòng người đi” (Anh Bằng), “Hai mùa mưa” (Lê Minh Bằng), “Trăng tàn trên hè phố” (Phạm Thế Mỹ), “Hoa trinh nữ” (Trần Thiện Thanh) …
Người nặng lòng gìn giữ phát huy di sản “tàn dư văn hóa đồi trụy” này ở Hải ngoại, công lớn nhất phải nhắc tới cố Giáo sư Tô Văn Lai (To Lai Peter) 1937 – 2022. Vượt biên sang Pháp cuối năm 1976, từ hai bàn tay trắng sáng lập gây dựng nên hãng băng dĩa Thúy Nga Paris, hãng băng dĩa lớn nhất của người gốc Việt ở hải ngoại, mang tên – Trung tâm Thúy Nga.
Ngày ông mất báo chí trong nước im hơi lặng tiếng. Nghe nói cô con gái ông là Tô Ngọc Thủy (Marie To) thay cha đem chương trình Thúy Nga về trình diễn lởn vởn mấy quốc gia châu Á sát Việt Nam như Singapore, Bangkok-Thái Lan. Người Việt mua vé bay sang xem đông như ngày hội. “Khúc ruột đặc biệt” ngàn trùng cách trở của dân tộc không được kết nối. Tội.
Rút ra sự thật bẽ bàng hôm nay và mãi muôn sau lời khẳng định chắc nịch của ông Tuyên giáo mẫn cán Trần Long Ẩn, Ủy viên Thường vụ Hội Nhạc sĩ Việt Nam: “Toàn bộ nền văn hóa nghệ thuật miền Nam trước năm 1975 là độc hại. Cần xóa bỏ hết”. Sặc mùi tanh tưởi, Nhổ rồi Liếm đã thành căn bệnh mãn tính của ban bệ này.
Dẫu sao mấy ca sĩ trên đây nói gì thì nói vẫn còn tư cách, giấy rách mà giữ được lề chứ cái nhà ông thợ hát Tuấn Ngọc kia tự tiện sửa lời làm ôi mặt làng “xướng ca muôn loài”. Trong ca khúc “Tình bơ vơ” nổi tiếng của cố nhạc sĩ Lam Phương hồi giữa tháng 3 năm 2023 này được tổ chức mở show tại Sài Gòn.
Nguyên bản “Trời vào thu Việt Nam buồn lắm em ơi”, Tuấn Ngọc hát thành “Trời vào thu chiều nay buồn lắm em ơi”. Phần đông khán thính giả, người xem, người đọc, bức xúc, xô vào bình luận chửi bới phê phán Ban Tuyên giáo quá khắt khe, rồi thì Ban Tuyên giáo hay nhăm nhe soi mói, Ban Tuyên giáo dữ dằn hơn con sói đói mồi, nên Tuấn Ngọc phải sửa lời, vân vân và vân vân…
Sai, hoàn toàn sai nếu trút hết nỗi căm giận cùng tội lỗi này lên đầu Tuyên giáo quốc gia. Nhiều người còn suy luận hát về mùa Thu Việt Nam thì phải tươi sáng, hào hùng khí thế như mùa thu Cách mạng tháng Tám 1945, Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9. Nếu có đúng chỉ đúng một phần nào đó thôi. Trong khi lỗi đó lại do chính “Ngọc hành” – xử trên sân khấu.
Cứ cho là Ngọc sợ Tuyên giáo cấm chứ bảo Ngọc quên lời nên hát sai càng không đúng vì đời Ngọc hát bài này có dễ đến trăm lần dư. Nếu còn nhân cách không phải hạng người giẻ rách chiếu manh thì ông ta bỏ hát bài đấy, lấy bài hát khác thế thôi có sao đâu, Tuyên giáo chắc bái chào thua. Cũng không phải vậy, đã lâu rồi trước đó “Tình bơ vơ’ được các ca sĩ hát ở Cung Văn hóa Hữu nghị Hà Nội. Các sân khấu diễn tại Sài Gòn, và nhiều nơi khác nữa trên cả nước mà vẫn trung thành với bản gốc, bài hát vẫn thể hiện được đúng lời. Như thế là không có sự cấm đoán ở đây, chí ít đúng bài này.
Tôi ghép thêm môt kẻ nữa cùng dân sàn diễn thời gian chưa xa, đó là Giám đốc nhà hát kịch, thằng hề láo Xuân Bắc. Vẫn biết nó là thằng hề của Tuyên giáo hay Tuyên giáo đẻ ra thằng hề Xuân Bắc xược láo cũng vậy. Thay vì tiếp thu lời phê bình của khán giả trong chương trình Táo quân trên Đài Truyền hình VTV càng ngày càng nhạt nhẽo, Bắc đã bịa bài viết “Cái tát của mẹ” chửi xéo Sử-tô nghĩa là Tổ-sư khán giả. Vậy nếu có vả thì ta vả gẫy răng vỡ mồm thằng hề láo chứ không thể vả mồm Tuyên giáo Trung ương. Ấy vậy mà ối kẻ vẫn ngu ngơ, bao biện cho Bắc, nghiêm khắc với Ban Tuyên giáo mới hay.
Quay lại chuyện ca sĩ Tuấn Ngọc, nay ông ta đã ở tuổi 75, đi mấy mươi năm trên con đường ca hát. Ông ta thừa trình độ để hiểu rõ nghệ thuật bao giờ cũng lưu giữ thông tin, ghi lại lịch sử, dấu tích của thời thế. Các nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ khi viết họ đã dồn hết tâm huyết vào tác phẩm của mình, mỗi câu mỗi chữ sáng tác ra đầy ắp nỗi niềm trăn trở, chỉ có họ mới có quyền sửa lời họ viết. Ngay cả Ban Biên tập muốn sửa câu chữ cũng phải hỏi ý kiến nếu tác giả còn sống chứ chưa nói thợ hát Tuấn Ngọc dám tự ý thay chữ khi tác giả đó đã khuất.
Tôi đã từng kểvề người hàng xóm nhà tôi, nhạc sĩ Phạm Tuyên, vào dịp kỷ niệm ba mươi năm chiến tranh biên giới phía Bắc, Nhà xuất bản thuộc bên Quân đội yêu cầu ông sửa lại ca từ “quân xâm lược Bành trướng dã man” trong bài hát “Chiến đấu vì độc lập tự do” để đỡ bớt sự hung hãn của giặc Trung Quốc, vì Đảng sợ Bắc Kinh nổi giận. Người ta dự định sẽ cho ra mắt một tuyển tập nhạc đồ sộ: “Những khúc quân hành vượt thời gian”. Ca khúc “Chiến đấu vì độc lập tự do” của nhạc sĩ Phạm Tuyên viết trong đêm 17 sang ngày 18-2-1979 không thể bỏ qua. Nó không chỉ đơn giản là bài hát, mà còn là trang sử bi tráng quý giá sống động, chính xác hơn trăm vạn lần những trang sử dối trá khác của cuộc chiến tranh hào hùng đánh giặc bành trướng xâm lăng dân tộc đã bị tẩy xóa, giấu giếm, cắt xén, cấm đoán, thêm tốt bớt xấu cho Trung Quốc. Phạm Tuyên kiên quyết từ chối và người ta cũng từ chối đưa bài hát của ông vào tuyển tập. Nếu lúc đó ông đồng ý sửa thì nhân cách của ông có còn hay không. Bài hát đó có ai thèm ca nữa hay không.
Cũng thời gian cả nước dồn hết tổng lực đánh đuổi giặc cướp Trung Quốc trên biên giới phía Bắc năm 1979 đó, có thần đồng thơ Trần Đăng Khoa đang ngồi bó gối ba láp ba la tại nước Nga viết: “Uống rượu với người bạn Nga”
Nào nâng cốc! Mừng quê tôi
Quân Tàu bị đánh vỡ mặt. Cút rồi.
Biên giới mùa này, hoa ban nở
Loài hoa như trái tim người! (1979)
Khi lọt đít vừa chiếc ghế Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, Khoa sợ “thế lực thù địch” thân bọn Bành trướng ngầm hãm hại, Khoa hãi vãi vứt không thương tiếc những hạt máu chữ lịch sử trên của mình để thay vào:
Và em gái hái nho ấy
Mắt em như cốc rượu đầy
Chỉ nhìn vào mầu mắt ấy
Là tôi đã ngả nghiêng say.
Hai khổ thơ hoàn toàn trật lất, không ăn nhập gì với nhau. Thần đồng vớ thần đồng vẩn. Liêm sỉ có hạn, khốn nạn dư thừa. Khoa chưa đủ tầm cỡ “Phong trần, mài một lưỡi gươm” nhưng dứt khoát vào hạng “Những loài giá áo túi cơm sá gì” (Nguyễn Du).
Hành động sửa lời đổi chữ tùy tiện dại dột dốt nát của bô lão xướng ca Tuấn Ngọc cũng chỉ xếp vào loài giá áo túi cơm như Trần Đăng Khoa vậy thôi. Việc này giúp tôi nhớ lại chương trình Thúy Nga Paris by Night 1994 với chủ đề “Lam Phương 40 năm âm nhạc” và tìm vào trang Web Bolero (chấm) com, đọc được bài viết của MC Nguyễn Ngọc Ngạn, người dẫn dắt chương trình lâu năm nhất cho Trung tâm Thúy Nga này. Ông Ngạn thường thắc mắc tại sao trong nhạc của Lam Phương có nhiều câu từ buồn đến thế. Gần 20 năm sau gặp nhau tại Pháp, Lam Phương mới kể lại cho Ngạn nghe câu chuyện tình đơn phương của chàng nhạc sĩ trẻ quê mùa là ông và cô ca sĩ Sài Thành hoa lệ Bạch Yến, quãng thời gian 1970 – 1972 không thành. Để rồi ca khúc “Tình bơ vơ” lãng mạn của ông ra đời mang giai điệu man mác buồn xuyên hai thế kỷ.
Lam Phương viết “Tình bơ vơ” một ngày trời Thu Việt Nam khi người mà mình yêu thầm nhớ trộm là Bạch Yến đã qua nước Pháp. “Em khóc cho đời viễn xứ… rồi anh lặng lẽ ra đi. Gom góp yêu thương quê nhà, dâng hết cho người tình xa”. Nếu không ông đã viết trời vào Đông hay trời vào Xuân… Việt Nam buồn lắm. Ý muốn nhắn gửi cô nhân tình của mình biết về địa điểm, không gian, thời gian, vào mùa Thu nay ở hai đầu nỗi buồn, nỗi nhớ từ hai phương trời cách biệt, hai quốc gia Pháp – Việt cách xa.
Ta e rằng, nếu xướng ca Tuấn Ngọc cứ phát huy “biên tập viên” bừa bãi, ngu xuẩn kiểu này thì có ngày hát về cuộc chiến đánh giặc Trung Quốc bành trướng “Chiến đấu vì độc lập tự do” của nhạc sĩ (Phạm Tuyên), Ngọc ngỏng đầu ngoác mồm: “Quân xâm lược tàn ác dã man” mà vứt mẹ nó đi bốn chữ “bành trướng Bắc Kinh” vì sợ Tuyên giáo khép tội hỗn láo với Thiên triều. Hát “Viếng lăng Bác” của Hoàng Hiệp “Tôi ở miền Nam ra thăm lăng Bác”. Nếu mọi người thắc mắc “Con ở miền Nam” chứ sao lại “Tôi ở miền Nam” thì Ngọc sẽ quắc mắt: Tao là ông hoàng nhạc chữ tình lừng danh Tuấn Ngọc đây, tao đ3o phải “con ở” thuê, đứa ở đợ, ô sin làm mướn coi nhà đuổi gà cho ai cả, hiểu chưa?
Bị “cái đám quần chúng” chửi nhức óc xóc tim quá, Ngọc xin hát lại: “Tình bơ vơ” của nhạc sĩ Lam Phương thế này để tạ lỗi khán giả cùng tác giả: “Trời vào Thu Đại Ngu buồn lắm em ơi”. Có còn ai dám thắc mắc nữa hay không? Thắc mắc hả, Đại Ngu là tiền thân tên nước Việt Nam xưa. Có thế mà cũng không biết. Ngu!
Ще не вмерла України – Ukraine Has Not Yet Perished.
”…Vinh quang và tự do bất diệt trên tổ quốc Ukraine. Hỡi những người anh em! Số phận đã mỉm cười. Kẻ thù sẽ bị tiêu diệt như giọt sương tan biến dưới ánh sáng mặt trời. Linh hồn và thể xác hãy yên nghỉ cho tự do của quê hương Hỡi anh em những người con của dân tộc Cossacks…”
Trên đây là một phần của bài quốc ca Ukraine, ra đời cách nay hơn 150 năm. Lời bài hát lấy từ khổ thơ đầu của bản trường ca “Ще не вмерла України, – Ukraine Has Not Yet Perished- Ukraine không bao giờ bị tiêu diệt” của nhà thơ Pavlo Chubynsky sáng tác vào năm 1862. Bài thơ được truyền miệng ở miền tây Ukraine. Năm 1863 Mykhailo Verbytsky, một linh mục công giáo, nhà soạn nhạc lừng danh, đã viết nhạc cho bài ca này.
Ukraine là những giải đồng bằng mêng mông bất tận, màu mỡ, phì nhiêu vào loại bậc nhất hành tinh. Nhưng Ukraine cũng là bãi chiến trường, nơi xâu xé của kẻ tử thù truyền kiếp Nga – Thổ, Nga – Ba Lan kéo dài nhiều thế kỷ.
Ngày 24 tháng Hai năm 2022, Nga xâm lược Ukraine. Tổng thống Ba Lan Andrzej Duda khuyên Tổng thống Ukraine Zelensky đánh đến cùng để rửa mối hận Pereyaslav – 1654.
Ba Lan như một người bạn trung thành trên tuyến đầu giúp Ukraine vô điều kiện. Thổ đóng vai nhà hòa giải, nhưng khiếp nhược trước kẻ thù truyền kiếp Nga.
Địa lý đang nguyền rủa lịch sử, và lịch sử cũng chửi rủa địa lý. Putin đã tận dụng điểu này để phục vụ cho mục đích gây chiến, đàn áp, và chiếm đóng. Nhìn lại vài lát cắt lịch sử để hiểu thêm sức mạnh và cả sự yếu hèn của quyền lực.
1654
Trở về năm 1654, Ukraine là một quốc gia, có quân đội Cossack, cùng các định chế. Nga và Cossacks đang có chiến tranh với khối Ba Lan – Lithuanian. Lãnh tụ Cossack là Hetman Bohdan Khmelnytsky của Zaporizhzhia, đã liên kết với Nga để chống lại Ba Lan.
Ba Lan bại trận phải phải rút quân. Từ đó, miền đông sông Dnipro và Kyiv dưới sự chiếm đóng của Nga, còn miền Tây dưới sự chiếm đóng của Ba Lan.
Hiệp ước Pereyaslav – 1654 ra đời là lời thề trung thành của Cossacks với Nga, chứ không phải để dâng hiến lãnh thổ, hay hợp pháp hóa sự chiếm đóng của Nga. Hiệp ước này là một giải pháp tình thế trong lúc Ba Lan đang mở rộng chiến tranh ngay trên đất Ukraine.
Ai cũng hiểu điều này, nhưng Putin thì không. Putin bảo: Ukraine không phải là một quốc gia. Ukraine không hẳn là một dân tộc. Putin muốn xóa bỏ tư cách quốc gia của Ukraine bằng vũ lực, dựa vào sự diễn giải lịch sử của riêng ông.
Crimea
Bán đảo Crimea, các nhà bình luận quân sự tin, sẽ là trận thư hùng lịch sử giữa Ukraine và Nga trong năm nay. Vậy, trên góc độ lịch sử thì ai từng là chủ sở hữu bán đảo này?
Qua nhiều thế kỷ, Crimea có hai nhóm Cossacks va Tatar sinh sống ở đây. Dòng họ lừng danh Tatar Khanate cai trị Crimea dưới sự bảo trợ của Đế quốc Ottoman (Thổ). Người dân ở đây nói tiếng Thổ, và thờ phượng đấng tiên tri thiêng liêng Muhammad.
Vợ của Hoàng đế Nga Peter III là Catherine đã tổ chức một cuộc đảo chính cung đình. Đêm ngày 8/7/1762, Catherine và người tình Grigory Potemkin cùng vài tướng lãnh khác bí mật bắt chồng, giam trong ngục tối. Tám ngày sau Hoàng đế Peter III bị giết chết ở tuổi 34, ngồi ghế Nga hoàng vừa được 6 tháng.
Sau khi giết chồng, 22 tháng 9 năm 1762, Catherine lên ngôi, tuyên xưng Nữ Hoàng Đại đế Catherine II (Catherine II the Great – Екатерина II Великая). Ngay sau đó, bà gởi người tình Grigory Potemkin đến cưỡng chiếm Crimea từ tay Ottoman.
Đến 1783, Nữ Hoàng đế Cathrine II và Potemkin xoay sở và thủ đoạn sát nhập bán đảo này vào lãnh thổ Nga. Đế quốc Ottoman và dòng Cossacks ngậm đắng nuốt cay với Nga từ đó.
Tuy vậy, những hậu duệ của dòng họ Tatar Khanate vẫn còn hiện hữu trên bán đảo và miền nam Ukraine. Hai dòng người Cossack nói tiếng Ukraine và Tatar nói tiếng Thổ vẫn sinh sống bao gồm cả vùng Zaporizhia.
Năm 1944, Joseph Stalin đưa 200 000 người Tatars đang sống ở Crimea, nhốt vào xe tải chở lợn, chạy thẳng đến nước Cộng hòa Soviet Uzbekistan. Bởi vì , Tatars đã hợp tác với Đức Quốc xã trong Thế chiến II nên cần phải học tập cải tạo.
Từ đó, người Nga tấp nập đổ vào Crimea suốt thời Soviet đã hình thành lên vùng dân số nói tiếng Nga áp đảo tiếng Ukraine và tiếng Thổ.
Năm 1954, Tổng Bí thư Liên Xô Nikita Khrushchev tuyên bố cắt bán đảo Crimea từ Cộng hòa Soviet Nga qua Cộng hòa Soviet Ukraine. Bán đảo Crimea trở về chủ cũ trong hòa bình.
Lãnh thổ Ukraine hiện đại
Hai lãnh tụ Liên xô là Stalin và Khrushchev đóng vai trò quan trọng hình thành lên lãnh thổ của Ukraine được quốc tế công nhận hôm nay.
Năm 1922, Stalin sợ sự bất tuân lệnh của nước cộng hòa. Ông lùa người nói tiếng Nga vào vùng Donbass, và đẩy những người nói tiếng Ukraine qua vùng khác.
Năm 1939, Stalin ký hiệp định với Hitler cưa đôi Ba Lan. Miền tây Ba Lan thuộc về Đức, còn nửa đông sát nhập vào Ukraine.
Đến những năm cuối Thế chiến II, Stalin cho chiếm thêm một phần lãnh thổ của Slovakia và Romania sát nhập vào Ukraine.
Stalin qua đời tháng Ba, 1953. Nikita Khrushchev lên thay chức Tổng Bí thư. Từ 1654 đến 1954 là 300 năm. “Ba trăm năm nữa ta đâu biết.”
Kỷ niệm 300 năm Hiệp ước Pereyaslav (như đã đề cập phần trên). Nikita Khrushchev long trọng tuyên bố cắt bán đảo Crimea từ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Soviet Nga chuyển qua cho Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Soviet Ukraine.
Không ít người đã nhận ra Khrushchev là dân Kyiv đã rửa mối hận 300 năm của tổ tiên Cossacks.
Stalin và Khrushchev đã hình thành lãnh thổ Ukraine gồm cả bán đảo Crimea, hợp pháp được quốc tế công nhận vào năm 1991.
Putin khác Stalin
Stalin luôn khẳng định Đảng Cộng Sản Liên Xô “tạo điều kiện cho Ukraine phát triển như một quốc gia độc lập, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Cossacks. Không ai được chống lại lịch sử”. Ngược lại, Putin bảo Ukraine không phải là một đất nước, không hẳn là một dân tộc, không đáng được hưởng quy chế quốc gia.
Trong suốt chiều dài lịch sử ngàn năm giữa Ukraine và Nga, chưa có một lãnh tụ Nga nào đối sử với Ukraine như Putin đang làm. Putin đã đẩy Ukraine, người anh em ruột của Nga, vào nỗi cay đắng hận thù đến mức không đường trở lại.
Tiếng Nga đã sản sinh ra những áng văn chương tuyệt mỹ. Tiếng Nga là thứ tiếng của giới quý tộc, giới khoa bảng, giới nghệ sỹ Ukraine. Dùng tiếng Nga là sự tự hào, là niềm kiêu hãnh của người Ukraine. Văn hào Nicolai Gogol, người Ukraine, nhưng viết nhiều tác phẩm lừng danh “Những linh hồn chết” (Dead Souls), “Nhật ký người điên”(Diary of a Madman) bằng tiếng Nga. Thế mà, giờ đây nói tiếng Nga là sự hổ thẹn, là nỗi ô nhục, là sự căm hờn, là niềm cay đắng, là cơn phẫn uất trên lãnh thổ Ukraine.
Nhà sử học Soviet Yury Afanasiev đã viết trong tùy bút chính trị “The End of Russia” (Nước Nga đã đến hồi cáo chung) vào năm 2009 đại ý rằng: Người Thụy Sĩ tự hào về chiếc đồng hồ. Người Pháp tự hào về ổ bánh mì bagette. Người Nga tự hào về lãnh thổ mêng mông và công cuộc mở rộng bờ cõi. “Mở rộng bờ cõi” thì làm sao có thể sống hòa thuận được với những người hàng xóm. Ông ẩn dụ. Nếu nước Nga phải in tấm card-visits, thì một mặt sẽ in “Vũ Lực” còn mặt kia in “Chiếm Đóng.”
“Vũ lực” và “chiếm đóng” là đặc sản Nga được nhìn nhận như là công cuộc “Vệ quốc Vĩ đại.” Catherine II The Gread giao du, phóng đãng, ngoại tình với nhiều tướng lãnh, tổ chức đảo chính, giết chồng, cướp ngôi vẫn được nước Nga phong là Nữ hoàng Đại đế “Vĩ đại”.
Yury Afanasiev,lớn lên trong thời Soviet, từng là một đảng viên Cộng sản Liên Xô. Trong tác phẩm “Dangerous Russian” (Nước Nga hung tàn) viết 2001, ông cảnh báo hai điều: nước Nga đang bị ngộ độc lịch sử, và Putin sẽ là một tội phạm.
Vẽ ra các dự án nghìn tỷ để hút máu ngân sách, xài tiền quốc gia như tiền chùa, là ngón nghề của lãnh đạo các công ty, tổng công ty nhà nước.
Tuần qua, hàng trăm tờ báo quốc doanh có cơ hội được phép nhắc lại 12 đại dự án thua lỗ lên đến 63.000 tỷ đồng của Bộ Công thương. Trong đó, dự án gai góc, nhức nhối nhất là dự án Nhà máy bột giấy Phương Nam, chưa đưa vào sản xuất ngày nào, đã thành ra đống phế liệu và tiêu tốn hơn 3000 tỷ. Có điều, cả hệ thống chính trị lẫn báo đảng đều tránh né, không đề cập đến tên một nhân vật mà lẽ ra phải bị khởi tố, điều tra trong vụ “đốt” 3000 tỷ này là Phan Thanh Nam.
Chân dung Phan Thanh Nam, cựu Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc Tracodi. Nguồn: Tracodi
Phan Thanh Nam là ai?
Theo một số nguồn tin, năm 1951, ông Võ Văn Kiệt ra Bắc dự Đại hội Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ II tại Tuyên Quang, Việt Bắc. Sau đó, ông ở lại dự lớp học chính trị “Hoa Nam”. Tại đây, ông Kiệt gặp bà Hồ Thị Minh, chủ bút đầu tiên của báo Phụ Nữ Cứu Quốc Nam Bộ. Bà Minh là phụ nữ trẻ trung xinh đẹp, giỏi tiếng Pháp. Xứ uỷ Nam kỳ đưa bà Minh ra miền Bắc giúp việc cho ông Hồ.
Ông Vũ Kỳ, thư ký riêng của ông Hồ kể rằng, Trung ương có ý định mai mối bà Minh cho ông Hồ, ông Hồ cũng ưng ý. Năm đó ông Hồ 61 tuổi, ông Kiệt 29 tuổi, bà Minh 24 tuổi. Một năm nơi thâm sơn cùng cốc ấy, bà Minh yêu ông Kiệt và dính thai. Ngày 25 tháng 2 năm 1952, bà Minh sinh con trai, nhưng đưa cho người khác nuôi.
Ông Kiệt có tìm gặp bà Minh, thăm con, đặt tên là Nam, nhưng sau đó ông quay trở về Nam bộ. Cậu bé Nam là đứa con ngoài giá thú, bởi lúc đó ông Kiệt đã có vợ ở Sóc Trăng là bà Trần Kim Anh và hai người có với nhau một cậu con trai tên là Võ Dũng (tức Phan Chí Dũng), sinh năm 1951.
Cậu bé Nam có “tuổi thơ dữ dội”. Nam được sinh ra ở Việt Bắc nhưng theo người cha nuôi tên Cái về sống tại Nhã Nam, Bắc Giang. Nam lưu lạc nhiều năm, qua tay nhiều gia đình nuôi nấng. Gia đình cuối cùng đem Nam về cưu mang là ông Hà Văn Quán và bà Nguyễn Thị Mỹ, tại làng Tăng Xá, xã Tuy Lập, huyện Cẩm Khê, Phú Thọ. Tại đây, Nam được lập khai sinh mang tên Hà Văn Nam.
Năm Nam 17 tuổi, ông Quán hướng dẫn Nam tìm lại cha ruột. Bà Ngô Thị Huệ, phu nhân ông Nguyễn Văn Linh, là người đã lặn lội đi đón Nam và đưa Nam thực hiện chuyến hành trình về Nam bộ, gặp lại cha đẻ là ông Võ Văn Kiệt vào tháng 9 năm 1971, khi Nam 19 tuổi.
Ông Võ Văn Kiệt và gia đình con trai Phan Thanh Nam. Nguồn: Báo Người Đô Thị
Sau năm 1975, Phan Thanh Nam học Đại học Bách khoa, ngành chế tạo máy. Ra trường, Nam về làm việc ở cơ sở huyện Củ Chi.
Năm 1986, Nam du học ở Liên Xô, làm nghiên cứu sinh, lấy học vị Tiến sĩ kỹ thuật. Về nước, Nam được bố trí công tác tại một doanh nghiệp thuộc Bộ Giao thông – Vận tải, là Công ty Đầu tư Phát triển Giao thông Vận tải (tên giao dịch là Tracodi).
Hơn hai mươi năm ở Tracodi , ông Nam lần lượt kinh qua các chức vụ quan trọng như: Tổng Giám Đốc (giai đoạn 1993-1994); Chủ tịch Hội đồng quản trị (1995-2013); thành viên Hội đồng quản trị (2013-2015).
Hơn hai mươi năm nhờ đảng bảo bọc, tạo cho cơ chế độc quyền, vì vậy Tracodi chiếm giữ được nhiều nhà xưởng, đất vàng ở thành Hồ. Tracodi chuyên xây dựng hạ tầng và phát triển dự án, khai thác chế biến vật liệu xây dựng, thương mại xuất nhập khẩu và xuất khẩu lao động.
Nhờ thế lực của ông Võ Văn Kiệt, Tracodi do Phan Thanh Nam điều hành, được thầu các dự án giao thông đường bộ, nhà ga phi trường, các cơ sở hạ tầng lên đến hàng chục ngàn tỷ đồng. Tracodi cũng là đơn vị “trùm” xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore… Mỗi cá nhân muốn đi lao động xuất khẩu, phải đóng cho Tracodi từ 5000 đến 6000 Mỹ kim. Một nguồn tin cho biết, hàng trăm tỷ đồng đã chảy vào túi ngài Tổng giám đốc Phan Thanh Nam một cách nhẹ nhàng. Giai đoạn chuẩn bị cổ phần hoá Tracodi, Tổng giám đốc Phan Thanh Nam cho thanh lý nhiều tài sản, lập công ty sân sau để xà xẻo “đất vàng”.
Báo Thanh Tra đưa tin, đầu năm 2015, Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) đã hoàn tất thoái vốn tại Tracodi và Bamboo Capital (mã BCG) mua lại 68% cổ phần, qua đó nắm cổ phần chi phối. Sau khi thâu tóm được Tracodi, Bamboo Capital đã gần như xoá sổ doanh nghiệp nhà nước này.
Phan Thanh Nam nghỉ hưu năm 2013, nhưng “di sản” lớn nhất mà ông ta để lại cho ngành công nghiệp Việt Nam là đống nợ hơn 3000 tỷ đồng của Nhà máy bột giấy Phương Nam.
Tháng 10-2003, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt cho TRACODI làm Dự án Nhà máy Bột giấy Phương Nam thuộc xã Thuận Nghĩa Hòa, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An, trên diện tích 45 hecta. Vốn sẵn có chỉ hơn 20 tỷ đồng, nhưng lại đầu tư dự án lên gần 2.287 tỉ đồng. Ngân sách nhà nước cấp 69,486 tỷ đồng; vay nước ngoài 1.322,35 tỷ đồng; vay ngân hàng thương mại 28,252 tỷ đồng; vay Công ty Tài chính Dầu khí 845,12 tỷ đồng.
Rót vào dự án hơn 2000 tỷ, mà nhà máy vẫn không vận hành được, Phan Thanh Nam và Tracodi tìm cách “chuyền bóng” cho người khác, bỏ của thoát thân.
Tháng 6-2009, Thủ tướng Chính phủ chuyển giao chủ đầu tư dự án từ Tracodi sang Tổng Công ty Giấy Việt Nam (Vinapaco). Những “ông kẹ” ở Vinapaco lại nâng mức đầu tư Nhà máy giấy Phương Nam lên 3.410 tỷ.
Đến tháng 6-2012, Nhà máy giấy Phương Nam xây dựng hoàn thành. Trớ trêu thay, đưa vào sử dụng thì không vận hành được. Các nhà thầu không chịu trách nhiệm, lãnh đạo Vinapaco cũng không chịu trách nhiệm, Nhà máy giấy Phương Nam trở thành hoang phế, sau ba lần rao bán đấu giá “đống sắt vụn” mà không có người nào hỏi mua. Con số gần 3.500 tỷ bị “cuốn theo chiều gió”.
Nhà máy giấy Phương Nam, “đống sắt vụn” gần 3.500 tỷ. Ảnh trên mạng
Ảnh: Phán quyết của toà về nợ nần của Nhà máy Phương Nam đã lên đến Chính phủ từ năm 2016
Tính đến năm 2019, Chính phủ đã phải trả nợ nước ngoài cho Nhà máy giấy Phương Nam 97 triệu Mỹ kim, còn các ngân hàng trong nước thì vẫn theo đuổi các phiên toà kiện đòi nợ Nhà máy giấy Phương Nam.
Ngày 26-3-2023 vừa qua, Phó Thủ tướng Lê Minh Khái, cùng thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Sinh Nhật Tân tổ chức họp các ban ngành tại Long An để tìm hướng xử lý dự án. Rất nhiều “tiến sĩ”, “cao cấp chính trị” tham gia hội thảo, nhưng tất cả đều bế tắc, bó tay. Bí thư Trung ương đảng, Lê Minh Khái đành chốt “các bộ, ngành, đơn vị liên quan cũng như địa phương tổng hợp trước ngày 15-4-2023, đề xuất báo cáo Ban Chỉ đạo để trình Ban Cán sự Đảng Chính phủ xin ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị”.
Dân phải gánh nợ
Dư luận Long An râm ran, chắc Bộ Chính trị sẽ duyệt cho “phân lô bán nền” 43 hecta đất vốn được lấy từ ruộng của dân để làm dự án Nhà máy giấy Phương Nam, để có tiền trả nợ.
Điều lạ lùng là không ai nhắc đến thủ phạm “đầu têu” vẽ ra dự án hoang tưởng, đốt mấy ngàn tỷ đồng của quốc gia. Phan Thanh Nam và bộ sậu Tracodi lẽ nào vô can?
Thì ra, các “thái tử đảng” loại gộc, dù con chính thất hay con ngoài giá thú, gần như được miễn trừ, tránh xa vòng tố tụng. Đại tá an ninh Lê Minh Hoàn, con trai ông Phan Văn Khải, không hề hấn gì trong một vụ án bắn chết người tại một vũ trường năm xưa. Phó Chánh văn phòng Chính phủ Lê Mạnh Hà, con trai ông Lê Đức Anh, chỉ bị khiển trách trong đại án AVG. Thành viên Hội đồng Thành viên Tập đoàn Dầu khí quốc gia Phan Đình Đức, con trai ông Đinh Đức Thiện, cháu ruột ông Lê Đức Thọ và Mai Chí Thọ, dù ra toà vẫn được HĐXX cấp phúc thẩm tuyên phạt mức án cảnh cáo và không phải chịu bồi thường trách nhiệm dân sự. Phó Tổng giám đốc Cty bia Sài Gòn, Nguyễn Minh An, con trai ông Nguyễn Minh Triết, cũng vô can trong các vụ chuyển nhượng “đất vàng”. Mới đây, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, ông Đặng Xuân Thanh cháu nội ông Trường Chinh, dù bị cảnh cáo, vẫn phụ trách điều hành Viện như thường.
Đến đây, dân chúng có thể nhận ra rằng “lò ông Trọng” xem ra chỉ là chiến dịch “đập ruồi” chứ không hề “đả hổ”. Hàng ngàn tỷ tiền thuế của dân đã bị con cái của các “ông hoàng bà chúa” ném qua cửa sổ không thương tiếc, nhưng cả hệ thống chính trị của đảng chỉ loay hoay việc báo cáo, giải trình, mà không biết làm gì hơn.
Vụ Tracodi, hình như cái bóng của ông Kiệt quá lớn, làm cho cái gọi là “nhà nước pháp quyền” chỉ đứng xa mà nhìn… tiến sĩ Phan Thanh Nam. Nếu Nam là con dân, có lẽ ông ta đã bị “nhập kho” từ lâu rồi!
Sau các nguồn tin về phán quyết của đại bồi thẩm đoàn New York trong vụ án liên quan đến cựu tổng thống Mỹ, những đồng minh chính trị của ông ta cùng các hệ thống truyền thông cánh hữu đang lên án việc buộc tội này là một vụ “bức hại chính trị” hay có sự lạm dụng quyền lực, tấn công vào đối thủ chính trị và ứng viên tổng thống. Tất nhiên điều này đang được nhóm cử tri hậu thuẫn tin và lặp lại như vậy hiện nay.
Nhân vụ án này, thử tìm hiểu thêm về thủ tục tố tụng hình sự tại Mỹ được diễn ra như thế nào và nguyên tắc kiểm soát và cân bằng quyền hành (check and balance) trong sự vận hành hệ thống pháp luật hay điều hành chính phủ nói chung của nước Mỹ, có dễ dàng cho phép tấn công các đối thủ chính trị và bị lạm dụng, thao túng hay không? Bài viết này được tác giả tham khảo theo các tài liệu pháp luật của Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ.
Xin nói ngay, văn phòng biện lý và các công tố viên New York không buộc tội nghi phạm mà chính đại bồi thẩm đoàn đã buộc tội, dựa theo các chứng cứ, nhân chứng trực tiếp và gián tiếp mà văn phòng biện lý đã thu thập chứng cứ trong cuộc điều tra kéo dài từ vài năm qua. Nhân chứng, vật chứng không đủ mạnh, không thể thiết lập một vụ án hình sự tại tòa liên bang và không đủ thuyết phục đại bồi thẩm đoàn đi đến việc buộc tội.
Đại bồi thẩm đoàn được thành lập và hoạt động theo hiến pháp và luật pháp Hoa Kỳ từ xưa nay. Các cơ quan công lực Hoa Kỳ, hay trong vụ án này là văn phòng biện lý New York thực hiện việc điều tra (investigation) trước các hành vi phạm tội trực tiếp hay gián tiếp của bị can để chuyển hồ sơ sang tòa án, nơi đại bồi thẩm đoàn sẽ quyết định các chứng cứ có đủ thuyết phục để đi đến quyết định buộc tội (indictment) bị cáo. Từ lúc bị buộc tội cho đến khi bị mang ra tòa xét xử (trial), là cả một quá trình dài và phức tạp.
Sau bản cáo trạng của đại bồi thẩm đoàn, thông thường bị cáo sẽ bị bắt giữ hay tự nguyện ra đầu thú. Người này sẽ được lăn tay, chụp hình và bị còng tay ra hầu tòa (arraignment). Thẩm phán sẽ công bố các cáo trạng từ đại bồi thẩm đoàn, cho bị cáo biết được quyền hạn của mình và được phép có các luật sư riêng đại diện, hoặc có một luật sư chính phủ (public defender) hướng dẫn. Tùy theo tội danh (charges), nghi phạm có thể đóng tiền thế chân tại ngoại (bail bond) hay phải vào tù cho đến ngày bị đưa ra xét xử. Trong cuộc hầu tòa này, nghi phạm cũng có thể nhận tội hay không nhận tội.
Giai đoạn tiếp theo là cuộc chiến giữa các công tố viên cùng các luật sư đại diện phía bị cáo. Hai bên sẽ đối chất, gọi nhân chứng hữu thệ, trình ra tang chứng, vật chứng. Đây là giai đoạn khai thác vụ án (discovery) khá khó khăn cho các công tố viên khi họ buộc phải cung cấp các tài liệu và chứng cứ của mình theo yêu cầu phía luật sư thân chủ, thậm chí cả các bằng chứng ngoại phạm (exculpatory evidence) mà phía luật sư bị cáo có thể sử dụng để chứng minh là thân chủ mình vô tội.
Nếu chứng cứ phía công tố viên quá mạnh và phía luật sư đại diện nhắm rằng họ khó có thể thắng được vụ án mà bị cáo đã có hành vi phạm pháp thì hai bên có thể thỏa thuận nhận tội (plea bargain) nhằm tránh nguy cơ bị mức án cao hơn một khi bị đưa ra xét xử. Mức án cuối cùng sẽ do một thẩm phán quyết định và tuyên bố.
Trong trường hợp bị cáo không nhận tội thì một cuộc tiền nghị án hay điều trần (preliminary hearing), xem như một phiên tòa nhỏ do một thẩm phán nghe đối chất và chứng cứ giữa hai bên để quyết định có thể tiếp tục hay bác bỏ (dismiss) vụ án. Trước khi bị xét xử, hai bên công tố và luật sư sẽ đưa ra các kiến nghị hay thỉnh cầu khác nhau (motion) và được các thẩm phán quyết định đồng ý hay bác bỏ.
Sau hàng tháng trời, phiên toà xử án (trial) sẽ là giai đoạn cuối cùng và quyết định trong một vụ án hình sự. Phiên tòa này do một thẩm phán làm chủ tọa, là người điều hành và bảo đảm phiên toà được tiến hành công bằng và đúng theo trình tự pháp luật trước một bồi thẩm đoàn không thiên kiến do hai bên cùng chọn lựa. Phiên toà có thể kéo dài lâu mau tùy theo tính chất của vụ án và phán quyết cuối cùng (verdict) sẽ do bồi thẩm đoàn đưa ra. Trong một vụ án hình sự liên bang, nếu là phán quyết có tội (conviction) thì phải được sự đồng thuận của tất cả những bồi thẩm viên trong bồi thẩm đoàn.
Sau khi bị kết tội, kẻ phạm tội sẽ quay lại tòa để nhận mức án (sentence) nặng nhẹ tùy hành vi phạm tội của mình. Bản án này sẽ do các thẩm phán đưa ra, dựa theo các hướng dẫn và hồ sơ tội phạm, như chủ mưu, tòng phạm, tái phạm… của kẻ bị kết án. Bản án nặng nhất tại Mỹ hiện nay là tử hình trong các vụ án hình sự. Nếu kẻ tội phạm tin rằng mình đã bị oan, bị xét xử thiếu công bằng hay bản án quá nặng, họ có thể kháng án lên các tòa cấp trên. Cao nhất tại Mỹ là tòa Tối Cao Pháp Viện dù chỉ có một số nhỏ vụ án lên được đến tòa này.
Bên trên là sơ lược về thủ tục tố tụng một vụ hình án nói chung tại Hoa Kỳ. Với một nghi phạm từng cựu tổng thống Hoa Kỳ, chắc chắn sẽ có dăm thủ tục hành chính khác biệt bởi đây là điều chưa từng có tiền lệ. Chưa từng có tiền lệ bởi cũng chưa từng có một tổng thống Hoa Kỳ nào có những hành vi và chứng cứ đủ để bị truy tố. Nói thêm là vụ hình án tại New York này chỉ là một trong bốn vụ điều tra khác mà cựu tổng thống Donald Trump đang đối diện với các tội danh có thể nặng nề hơn gấp bội.
Đây là một cột mốc lịch sử của nước Mỹ và hệ thống tư pháp Hoa Kỳ. Bất luận cảm xúc hay suy diễn của mỗi cá nhân như thế nào, hệ thống pháp luật Hoa Kỳ đã và đang diễn ra theo đúng trình tự của nó từ lâu nay. Nó dựa trên nguyên tắc công bằng và dân chủ để bảo vệ người vô tội hay trừng trị những kẻ phạm pháp, bất kể họ là ai.
Bài viết của Dan De Luce và Ken Dilanian và Michael Kosnar •
Trước khi bắt giữ một phóng viên của tờ Wall Street Journal hôm thứ Năm, Nga đã trải qua một loạt thất bại đáng xấu hổ trong các hoạt động tình báo nước ngoài, với hàng trăm người bị tình nghi là gián điệp Nga bị trục xuất hoặc bị buộc tội làm gián điệp ở các nước phương Tây. Ba Lan đã bắt giữ 9 người Nga trong tháng này, cáo buộc họ âm mưu phá hoại các tuyến đường sắt chở hàng viện trợ quân sự của phương Tây tới Ukraine. Tuần trước, các nhà chức trách Hoa Kỳ đã vạch mặt một điệp viên Nga bị cáo buộc, người này đóng giả là một sinh viên tốt nghiệp người Brazil tại Trường Nghiên cứu Quốc tế Cao cấp Johns Hopkins và người mà các công tố viên cho biết đã cố gắng xin việc tại Tòa án Hình sự Quốc tế ở The Hague.
Sergey Vladimirovich Cherkasov upon entry to Brazil. (U.S. Justice Department)
Thụy Điển, Na Uy và Đức cho biết họ đã phát hiện và phá vỡ âm mưu gián điệp của Nga trong những tháng gần đây, và các quan chức ở Hy Lạp nói với các hãng tin rằng chủ một cửa hàng dệt kim ở Athens thực sự là một gián điệp Nga bị tình nghi.Người đứng đầu cơ quan tình báo nước ngoài MI6 của Anh cho biết khoảng một nửa số điệp viên của Nga làm việc dưới vỏ bọc ngoại giao ở châu Âu đã bị trục xuất trong vòng sáu tháng sau cuộc xâm lược Ukraine vào tháng 2 năm 2022
FBI và CIA đã giúp các nước đồng minh bắt giữ một số lượng lớn bất thường các điệp viên Nga kể từ khi chiến tranh bắt đầu, một cựu quan chức phản gián cấp cao của Hoa Kỳ quen thuộc với vấn đề này cho biết. Các vụ bắt giữ nhắm vào những người Nga hoạt động như những người “bất hợp pháp” với tên và hộ chiếu hư cấu, không giống như các điệp viên Nga được đưa vào các đại sứ quán, những người được hưởng sự bảo vệ của pháp luật.
Thời gian gần đây, có rất nhiều bài viết xuất hiện trên các trang mạng , trên các điện báo, báo in của người Việt định cư khắp nơi trên thế giới , nói về nhân vật lịch sử Ngô Đình Diệm , về biến cố ngày 1 tháng 11 – 1963 tại Nam Việt Nam. Rồi những buổi Lễ tưởng niệm nhân vật lịch sử này được tổ chức ở nhiều nơi có Cộng Đồng người Việt. Lại có cả những nhóm người đến viếng thăm ngôi mộ của nhân vật Ngô Đình Diệm tại Việt Nam rất long trọng…Một số bạn trẻ trưởng thành nơi hải ngoại liên lạc bằng điện thư hoặc gặp chúng tôi, hỏi về chuyện “Tại sao có cuộc đảo chánh lật đổ ông Ngô Đình Diệm, ngày 1 tháng 11 – 1963 ở Việt Nam ? “xem ý kiến ra sao.
Tất nhiên là người viết chỉ có thể nói sơ qua và hẹn gặp nhau trên trang báo này để có thể bàn luận với nhau nhiều hơn. Vì vậy cho nên bài viết này được đưa ra, mong trả lời các bạn trẻ đó, đồng thời đóng góp chút ít vào công việc làm sáng tỏ một vấn đề lịch sử quan trọng, có ảnh hưởng lớn lao đến sự…mất còn, sụp đổ của Nam Việt Nam sau đó, cũng như ảnh hưởng đen tối của nó còn kéo dài cho tới bây giờ. Muốn tìm hiểu kỹ lưỡng, sâu xa hơn, tất nhiên là chúng ta phải tìm đọc những cuốn sách đáng tin cậy về chuyện này…
Tổng Thống Ngô Đình Diệm
Tình hình trước khi xẩy ra cuộc Đảo Chánh:
Những tháng giữa năm 1960, Ông Diệm với tư cách Tổng Thống và Tổng Tư Lệnh Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà, đi thăm các Bộ Tư lệnh Quân Khu I – 2 – 3 – 4 và Quân Khu Thủ Đô để nói chuyện với các Sĩ Quan trong quân đội, các Quân Binh Chủng về một vấn đề vô cùng quan trọng là: chính quyền Mỹ lúc đó muốn đổ quân tác chiến ( Combatant forces ) vào lãnh thổ Nam Việt Nam để đảm nhiệm vai trò chủ yếu trong công cuộc chiến đấu chống cộng sản trên chiến trường này, tất nhiên là theo chủ trương, chính sách của Hoa Kỳ… Tại Hội trường Bộ Tư lệnh Quân Khu I, Đà Nẵng, trước mặt rất đông Sĩ Quan: cấp Tướng, cấp Tá và cấp Úy, Ông Diệm đã nói rõ ý chí cuả Ông là nhất định không chấp nhận cho chính phủ Mỹ đổ quân tác chiến vào Nam Việt Nam, mà chỉ chấp nhận vai trò cuả người Mỹ trong nhiệm vụ cố vấn và huấn luyện cho Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà. Ông nói “Chúng ta cần có sự cố vấn và huấn luyện cuả người Mỹ, chúng ta cần có sự viện trợ quân sự, kinh tế cuả người Mỹ, nhưng chúng ta không cần và nhất định không chấp nhận để cho người Mỹ chiến đấu thay thế cho chúng ta trong công cuộc bảo vệ Quê Hương, Đất Nước này. Chúng ta đang phải đương đầu với với một cuộc chiến tranh ý thức hệ (ideological war) giữa chủ thuyết “ Quốc Gia-Dân Tộc “ tự do, dân chủ của chúng ta và “ học thuyết ảo tưởng – Utopian doctrine “ của cộng sản, xây dựng trên nền tảng tuyên truyền, lừa bịp có hệ thống, có khả năng lôi cuốn đông đảo quần chúng vào một cuộc chiến tranh nhân dân, trường kỳ kháng chiến, để tiến tới một thiên đường không bao giờ có thực . ..
Cuộc chiến đấu này không thể đơn thuần giải quyết bằng sức mạnh cuả vũ khí chiến tranh, nhất là bằng một đạo quân viễn chinh từ một quốc gia khác kéo đến. Nếu người Mỹ làm việc đó, chúng ta sẽ mất hết chính nghiã, mất sự hậu thuẫn cuả nhân dân, tôi sẽ trở thành Tổng Thống bù nhìn và anh em, các Sĩ Quan đang có mặt tại đây, sẽ chỉ còn là những kẻ đánh thuê cho ngoại quốc…
“ Ông nói thật nhiều, với tất cả tấm lòng và trái tim cuả Ông. Rồi ông kêu gọi tất cả các Sĩ Quan Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà đã từng nêu cao tinh thần anh dũng, can đảm trên mọi chiến truờng khắp các Vùng Chiến Thuật ( tactical areas ), hãy cùng Ông bằng mọi giá, giữ vững lập trường, đi đúng đường lối lãnh đạo chiến tranh bảo vệ Tổ Quốc mà ông đã vạch ra và quyết tâm theo đuổi, bất chấp mọi sức ép bất cứ từ đâu đến ! Những cánh tay giơ lên, những tiếng hô vang làm rung chuyển cả Hội Trường Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I, Quân Khu I “Quyết tâm ủng hộ Tổng Thống ! Quyết tâm giữ vững lập truờng chiến đấu cuả Tổng Thống để bảo vệ Tổ Quốc !”
Tôi lúc đó chỉ là một Chuẩn Uý hiện dịch, nhưng với cái vốn kinh nghiệm gần 7 năm kháng chiến chống Pháp vô cùng gian khổ, 2 lần bị Tây bắt nhốt vào tù, rồi hơn 6 năm trong hàng ngũ quân đội Việt Nam Cộng Hòa, chống cộng sản, tôi cũng đủ trí khôn để thông cảm với những khó khăn, nguy hiểm đang đợi chờ Ông Diệm, vị Tổng Thổng đầu tiên cuả nền Cộng Hoà non trẻ tại Nam Việt Nam.
Tôi nhìn các Sĩ Quan đàn anh đứng chung quanh, hình như ai nấy đều linh cảm thấy có một cái gì nặng nề, nguy hiểm đang đợi chờ vị Tổng Thống khả kính và can đảm cuả mình. Phải thành thực mà công nhận rằng: vào thời gian đó, dưới sự lãnh đạo cuả Ông Diệm, Quân Đội ra Quân Đội, Tướng Tá ra Tướng Tá, Sĩ Quan ra Sĩ Quan, chớ không có như tình trạng cuả những thời gian sau này, sau khi Ông Diệm không còn nưã..
Lúc đó, tôi không phải là người công giáo như Ông Diệm, mà trong cương vị một quân nhân hiện dịch thuần tuý, từng quyết tâm từ bỏ hàng ngũ cộng sản, tìm đến hàng ngũ quốc gia để chống lại cộng sản, lúc này chỉ nghĩ đến quân đội, đến việc chống cộng, nhưng cũng thấy như mắt mình nhoà đi…
Tôi cầu xin Ơn Trên phù hộ, che chở cho Ông, cũng như cho Đất Nước này…
* Ngày 19-6-1960: Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn, Elbridge Durbrow, gửi cho ngoại trưởng Mỹ, Christian Herter ở Hoa Thịnh Đốn 1 điện văn mật, thông báo tình hình Sài Gòn: Có thể có 1 cuộc đảo chánh nhằm lật đổ chính quyền cuả Ông Diệm, trong khi đó ở nông thôn, hoạt động cuả cộng sản gia tăng mạnh mẽ…
Phần cuối, bản văn kết thúc “ Nếu thế đứng cuả Ông Diệm tiếp tục giảm sút, không còn phù hợp với tình thế chính trị, tâm lý, kinh tế và an ninh tại đây nưã thì có thể là điều mà chính phủ Hoa Kỳ nên tính đến những phương cách khác để hành động và thay thế người lãnh đạo hầu đạt đến những mục tiêu cuả chúng ta… ( If Diem’s position in the country continues to deteriorate as result failure adopt proper political, psychological, economic and security measures, it may become necessary for US Government to begin consideration for alternative courses of action and leaders in order to achieve our objectives…). *
Ngày 11 – 12 tháng 11-1960 : Đại Tá Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Lữ Đoàn nhẩy dù và Trung Tá Vương Văn Đông chỉ huy một lực lượng quân sự gồm vài Tiểu Đoàn nhẩy dù và 1 đơn vị Thuỷ Quân Lục Chiến, bao vây dinh Tổng Thống để làm một cuộc đảo chánh với lý do được công bố trên đài phát thanh Sài Gòn đã bị quân đảo chánh chiếm giữ “…Ông Diệm đã tỏ ra không đủ khả năng cứu đất nước khỏi họa cộng sản cũng như bảo vệ sự đoàn kết quốc gia… – Diem has shown himself incapable of saving the country from Communism and protecting national unity…”
Biết rằng cuộc âm mưu đảo chánh này không do những nhân vật chính trị có danh tiếng, không có hậu thuẫn chính trị thực sự cuả dân chúng, không có sự tham gia cuả các Tướng Lãnh cũng như đông đảo lực lượng quân đội dưới quyền, cho nên ông Diệm tạo thế trì hoãn, thoái thác nhượng bộ trước sự đòi hỏi cuả phe đảo chánh là từ – Đại tá Nguyễn Chánh Thi – bỏ chính quyền và đợi cho các lực lượng quân đội, hầu hết vẫn còn trung thành với ông, cùng ông theo đuổi đường lối chống cộng đã vạch ra, từ các nơi kéo về dẹp loạn. Cuộc đảo chánh bất thành vì quá non kém về tổ chức, lãnh đạo, cũng như đường lối chinh trị và quân sự. Tuy nhiên cuộc đảo chánh bất thành này đã đem lại cho chính quyền cuả Ông Diệm những bài học quan trọng :
A.- Cộng sản ngày càng tích cực tung cán bộ vào thành phố khai thác những mâu thuẫn, bất đồng giưã chính quyền và các nhân vật, các nhóm chống đối tại thành thị. Những mâu thuẫn này tất nhiên phải có trong hoàn cảnh miền Nam Việt Nam đang phải thực hiện một xã hội tương đối tự do, dân chủ, phồn thịnh ( hơn hẳn miền Bắc ). Có tự do, dân chủ khá nhiều cho nên các lực lượng, nhóm người chống đối này khác mới có hoàn cảnh, điều kiện mà hoạt động chống chính quyền, chớ còn như tình trạng Việt Nam hôm nay, dưới chế độ cộng sản, thì chính quyền thấy chống đối bằng bạo lực, là lập tức dùng công an, quân đội bằng võ lực tiêu diệt ngay, còn chi nữa mà chống đối. Chính quyền miền Nam lúc đó, cùng một lúc phải đối phó với hoàn cảnh đất nước như thế, lại phải đương đầu với cuộc chiến tranh xâm lăng, phá hoại toàn diện cuả cộng sản Hà Nội, được chỉ đạo và yểm trợ từ Mạc-Tư-Khoa cũng như từ Bắc Kinh, theo “Đường lối cách mạng vô sản toàn cầu cuả Đệ Tam Quốc tế – Global Proletarian Revolution Policy of the Third International ”.
B.- Thi hành 1 đường lối vô cùng khó khăn khả dĩ đáp ứng được nhu cầu cuả tình thế : Giữ vững chính quyền đang bị âm mưu khuynh đảo từ bên ngoài do bọn tài phiệt quốc tế ( International Financial Oligarchy ), ở bên trong thì do cộng sản chỉ đạo. Ngay trong nội bộ hàng ngũ quốc gia cũng có những phần tử ham danh, hám lợi cũng như 3 quyền lực, đang lợi dụng không khí tự do, dân chủ của xã hội miền Nam, nhất là truyền thông, báo chí , tạo ra hay chờ đợi thời cơ để hành động.
C.- Giữ vững tinh thần kỷ luật và lòng trung thành cuả quân đội, là sức mạnh bảo vệ chính quyền, chế độ, đồng thời giữ vững sự đoàn kết các tôn giáo là sức mạnh hậu thuẫn cuả nhân dân, nhưng cả hai: Quân Đội và Tôn giáo lại là những mục tiêu quan trọng nhất mà cả 3 lực lượng chống phá nói trên ( Tài phiệt quốc tế, cộng sản và các nhóm chống đối trong nước ) đang quyết tâm nhắm vào để tạo ra một động lực làm nổ bùng một cuộc đảo chánh khác, có tầm vóc quy mô, có tổ chức tinh vi và …” cao cấp “ hơn cuộc đảo chánh đã thất bại một cách dễ dàng ngày 11 tháng 11 năm 1960.
* Ngày 20-12-1960 , để đánh lưà dư luận quốc tế, để thu hút các nhóm chống đối và lôi kéo nhân dân Miền Nam, cộng sản Hà Nội tuyên bố chính thức cho ra mắt công khai Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam tại 1 Chiến Khu ( Strategic war zone) cuả cộng sản tại phiá đông miền Nam Việt Nam, thành phần bao gồm chừng 100 nhân vật nói là đại diện cho các nhóm chính trị đối lập với chính quyền, đại diện cho các tôn giáo có mặt tại Nam Việt Nam, các lực lượng vũ trang còn sót lại sau khi bị quân chính phủ đánh tan trong các chiến dịch hành quân tại miền Tây trước đó ít năm.
Mặt trận này thực sự đặt dưới quyền lãnh đạo cuả một cán bộ cao cấp cuả Hà Nội, thuộc Bộ Chính Trị Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng.
* Ngày 1 tháng 4-1961: Cộng sản tung một Tiểu Đoàn chủ lực quân, có du kích địa phương tăng cường, gồm hơn 400 quân, tấn công thử sức vào 1 ngôi làng chiến đấu kiểu mẫu cuả “Quốc sách ấp chiến lược – National policy of Strategic Hamlets ” thuộc Tỉnh Kiến Hoà, nhưng bị quân đội Cộng Hoà đánh tan và bị thiệt hại nặng nề. Hai ngày sau, cộng sản thử sức lần nưã bằng cách tấn công vũ bão và bất ngờ vào khu vực Bến Cát, phiá Bắc Sài Gòn, nhưng hơn 100 quân cộng sản bị quân Cộng Hoà tiêu diệt, bỏ xác tại trận. Cộng sản buộc phải đổi hướng, tập trung nỗ lực vào những hoạt động võ trang phá hoại tại các thành phố, tung cán bộ len lỏi vào trong các tầng lớp nhân dân, hàng ngũ tôn giáo nào có đông đảo quần chúng ( nhưng hàng ngũ thiếu huấn luyện, tổ chức không chặt chẽ ) để tìm cơ hội gây xáo trộn chính trị tại các thị trấn, nơi tập trung đông đảo dân cư, làm suy yếu chính quyền Miền Nam thay vì nôn nóng giành chiến thắng quân sự để hỗ trợ cho các hoạt động chính trị và ngoại giao.
* Ngày 12-5-1961: Phó Tổng Thống Hoa Kỳ Lyndon B. Johnson, trong cuộc viếng thăm Á Châu, đã gặp Tổng Thống Diệm tại Sàigòn. Ông Johnson ca tụng Tổng Thống Diệm là một Churchill cuả Á Châu và nói, “Đối với thế đứng cuả Hoa Kỳ tại Á Châu, Tổng Thống Diệm là nhân vật, là người bạn không thể thiếu được.” Tuy nhiên, khi trở về Mỹ, ông Johnson lại báo cáo cho Tổng Thống Kennedy cũng như cho các nhân vật chính trị cao cấp biết rằng: Ông Diệm vẫn giữ vững lập trường không có quân chiến đấu cuả Hoa Kỳ tại Việt Nam, trừ phi cộng sản Hà Nội xua quân tràn qua vĩ tuyến 17 một cách đại quy mô như cộng sản Bắc Hàn đã xua quân tràn qua vĩ tuyến 38 hồi 1950 …. Vice President Lyndon B. Johnson meets Mr. Ngo . Dinh Nhu at Gia Long Palace, Saigon 12-5-1961 Do lập trường cương quyết Bảo vệ Chủ quyền Quốc gia, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã luôn luôn kiên trì tranh đấu cho sự Độc lập Dân tộc dù phải chấp nhận những khó khăn.
Ngày 09.05.1961, ông Diệm đã bày tỏ với Phó Tổng Thống Mỹ Johnson đang viếng thăm chính thức Việt Nam rằng : chính phủ Việt Nam rất biết ơn sự viện trợ quân sự và cố vấn Mỹ, nhưng về việc gửi Quân đội tác chiến Hoa kỳ đến Việt Nam, ông cương quyết từ chối : Nếu quý vị mang Quân đội Mỹ vào Việt Nam, tôi phải giải thích thế nào đây với dân tộc tôi ? Với người Việt, hình ảnh hãi hùng của Quân đội Viễn chinh Pháp còn ghi sâu trong tâm trí họ. Sự hiện diện của Quân đội Mỹ sẽ làm cho dân chúng dễ tin những lời tuyên truyền của cộng sản. Sự can thiệp trực tiếp của bất cứ quân đội ngoại quốc nào vào Việt Nam cũng đem lại sự bất lợi cho Việt Nam, vì làm cho cuộc chiến đấu của chúng ta mất chính nghĩa.
Tháng 11.1961, Đại sứ Frederick Nolting được yêu cầu từ tòa Bạch ốc gặp Tổng Thống Diệm về vấn đề quân chiến đấu Mỹ ( được 4 xem như ‘chia sẽ trách nhiệm ). Ông Diệm trả lời : « Chắc ông Đại sứ cũng hiểu, những đề nghị ấy đụng chạm tới vấn đề trách nhiệm của Chính phủ Việt Nam. Việt Nam không muốn là một nước bị bảo hộ ( Vietnam does not want to be a protectorate) ».
* Ngày 18-9-1961: Cộng sản bất thần mở trận đánh lớn cấp Trung Đoàn ( Regiment ), tung 1,500 quân bao vây và đành chiếm Tỉnh Lỵ Phước Vinh, sau khi đã mở chiến dịch gồm 41 trận đánh lớn nhỏ trên khắp lãnh thổ Miền Nam để áp đảo và chia sẻ lực lượng đối phương. Sau đó 3 tuần lễ, tại diễn đàn Quốc Hội, Tổng Thống Diệm chính thức tuyên bố với quốc dân và thế giới là Việt Cộng, với sự chỉ đạo và yểm trợ cuả cộng sản quốc tế đã chính thức biến cuộc chiến tranh du kích trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà thành một thứ chiến tranh xâm lăng quy mô thực sự, có sự tham chiến cuả quân chính quy cộng sản Bắc Việt, được trang bị tối tân, hùng hậu với đầy đủ pháo binh cỡ nặng, xe tăng, thiết giáp… Bọn tài phiệt quốc tế, buôn bán chiến tranh, càng thêm cơ hội để tung tiền và thủ đoạn để đưa đám “ Lobbyists ” vào các hành lang, ngõ ngách cuả Quốc Hội, hệ thống truyền thông Hoa Kỳ, dọn đường cho một kế hoạch ào ạt đổ quân tác chiến cuả Mỹ và lôi kéo một số đơn vị quân đội Đồng Minh vào chiến trường Nam Việt Nam. Chậm chân là thiệt hại cả… núi đô la chớ không phải chuyện đuà. Nhưng, lại tiếng nhưng ở chỗ này ! Nhưng Ông Diệm nhất định không chấp nhận cho quân đội tác chiến cuả Mỹ chiến đấu tại Nam Việt Nam. Còn Tổng Thống Hoa Kỳ John F. Kennedy thì cũng không hăng hái, thiết tha cho lắm với việc đổ quân tác chiến cuả Mỹ vào chiến trường Miền Nam trong hoàn cảnh lúc này, không như lúc cộng sản Bắc Hàn xua quân cấp Quân Đoàn ( Army Corps ) tràn qua vĩ tuyến 38 hồi năm 1950…
Ông Kennedy vẫn trung thành với “ Đường lối ngăn chặn – Containment Policy ” để chống lại sự bành trướng cuả phong trào cộng sản trên thế giới từ sau Đệ Nhị Thế Chiến, bằng những phương cách ít tốn sinh mạng người Mỹ nhất, trừ trường hợp nền an ninh cuả Mỹ bị đe dọa trực tiếp, nghiã là ông Kennedy chỉ chấp nhận hy sinh nhân mạng cuả Mỹ trong “ Trường hợp tối cần thiết – In case of absolute necessity ”. Thế thì “chúng nó ” bắt buộc phải loại trừ Ông Diệm khỏi ngôi vị lãnh đạo Nam Việt Nam trước đã, và sau đó bất cứ kẻ nào làm ngăn trở việc đổ quân tác chiến cuả Mỹ vào Nam Việt Nam cũng đều bị “chúng nó” xoá sổ hết ( kể luôn cả Tổng Thống Mỹ ).
* Ngày 2-1-1963: Tại Ấp Bắc, cách Sài Gòn 40 dậm về phiá Đông Nam, gần 2 Trung Đoàn ( 2,500 quân ) thuộc Sư Đoàn 7 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, trang bị vũ khí tự động, có xe tăng, thiết vận xa, pháo binh và không quân ( cả khu trục cơ lẫn trực thăng ) yểm trợ, mở cuộc hành quân bao vây, tiêu diệt 1 lực lượng cộng sản gồm chừng I Tiểu Đoàn ( battalion ) hơn 300 quân chủ lực địa phương, với hoả lực yếu kém hơn rất nhiều, lại không có xe tăng cũng như không quân, pháo binh yểm trợ. Kết quả thật là đau buồn: Cộng quân lợi dụng đêm tối, thoát khỏi vòng vây gần như toàn vẹn chủ lực, sau khi đã gây cho quân chính phủ những tổn thất đáng kể. Thật là một cơ hội bằng vàng để bọn tài phiệt quốc tế dùng ảnh hưởng, sức mạnh cuả đồng đô la mà lái các cơ quan truyền thông, hướng dẫn dư luận, gây áp lực tại Hoa Kỳ, từ Quốc Hội cho đến chính phủ phải bằng mọi giá đổ quân tác chiến cuả Mỹ vào Việt Nam ngay lập tức. Nếu không, “ Tiền đồn chống cộng – Advanced Post resisting the communists “ cuả Mỹ tại Á Châu sẽ xụp đổ và Chính sách ngăn chặn cộng sản cuả Mỹ trên thế giới sẽ thất bại và… nền anh ninh cuả chính nước Mỹ cũng sẽ bị lâm nguy… Chúng đem câu nói cuả Lenin, Sư Tổ cuả cách mạng vô sản 1917 tại Nga, người đã mở đường cho phong trào cộng sản thế giới bùng ra hết cách ngăn cản sau thế chiến thứ 2, mà dọa cả nước Mỹ “ Trước hết, chúng ta hãy chiếm giữ Đông Âu, rồi nắm lấy khối quần chúng khổng lồ ở Á Châu, sau đó bao vây Hoa Kỳ là thành lũy cuối cùng cuả chủ nghiã tư bản. Chúng ta khỏi phải đánh đấm chi cả, Hoa Kỳ cũng sẽ rơi vào tay chúng ta như một trái cây đã chín rưã – First, we will take eastern Europe, then the masses of Asia, then we will encircle the United States which will be the last – Nổ ra cuộc đấu tranh ở Huế – 5 bastion of Capitalism. We will not have to attack, it will fall into our hands like an overipe fruit.” ( The Death of A Nation – John A. Stormer – The Liberty Bell Press – Florissant Missouri, July 1978, Page 14 ).
* Ngày 8-5-1963: Bùng nổ vụ rối loạn, chống đối ở Cố Đô Huế, giưã hàng chục ngàn tín đồ Phật Giáo với nhân viên chính quyền địa phương và các lực lượng an ninh. Tổng Thống Diệm tuyên bố trên đài phát thanh quốc gia là vụ này có bàn tay cuả cộng sản nhúng vào, gây thêm tình trạng khó khăn cho địa phương, tạo thêm sự mâu thuẫn trầm trọng giưã chính phủ và 1 tôn giáo lớn trong nước. Cuộc rối loạn ngày càng gay go, dữ dội, quyết liệt và khi 1 trái lựu đạn nổ tung trong khu vực đài phát thanh Huế,gây thương vong cho một số người biểu tình chống đối thì tình trạng biến sang hình thức “ Một Tôn giáo lớn, đông đảo nhất trong nước chống lại một hệ thống chính quyền được lãnh đạo bởi 1 Tổng Thống và các nhân vật cao cấp, trọng yếu, đa số là người thuộc Giáo Hội Công Giáo La Mã.”
Trái lựu đạn nổ tung đó sau này được biết là do CIA cài đặt người, nhân lúc hỗn loạn, đã ra tay, cho nổ bùng đúng lúc để châm ngòi cho cuộc biểu tình chống đối từ Huế và sẽ lan ra khắp nơi, sau cùng là ngay tại Thủ Đô Sài Gòn, trung tâm quyền lực của Việt Nam Cộng Hòa.
Phía chính phủ thì lên tiếng : Tổng Thống Diệm sử dụng người theo nguyên tắc thông thường của các nhà lãnh đạo là căn cứ vào tài năng, đức độ, sự tin cậy, thích hợp cho công việc và lợi ích quốc gia, chớ không phải vì kỳ thị tôn giáo, không kỳ thị Phật Giáo như một số người buộc tội, gán ghép Cho ông Diệm. Ở điểm này, những người hiểu biết thì cho thấy rằng : Trong hàng ngũ Tướng lãnh của quân đội lúc đó, thử tìm coi có những ai là cùng tôn giáo với ông Diệm ?
Trong hàng ngũ các Bộ Trưởng trong chính quyền Ngô Đình Diệm lúc đó, ngoại trừ ông Trần Trung Dung, Bộ Trưởng Phủ Tổng Thống ra, còn có ai là người công giáo như ông Diệm ? Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ, được ông Diệm tin cậy, quý trọng, là người miền Nam, thì khác tôn giáo với ông Diệm, là Phật Tử rõ ràng…
Nói một cách rõ ràng thì dưới đây là những Phật Tử được ông Diệm chọn đứng cùng hàng ngũ, phục vụ Đất Nước với ông : – Ông Nguyễn Ngọc Thơ, Phó Tổng Thống. – Đại tướng Lê Văn Tỵ, Tổng Tham Mưu Trưởng. – Thiếu Tướng Tôn Thất Đính, Tổng Trấn Sài Gòn- Gia Định. – Ông Vũ Văn Mẫu, Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao. – Ông Quách Tòng Đức, Đổng Lý Văn Phòng. – Ông Nguyễn Đình Thuần, Bộ Trưởng phủ Tổng Thống, kiêm Bộ Trưởng Phụ Tá Quốc Phòng. – Ông Đoàn Văn Thêm, Phó Đổng Lý Văn Phòng. – Ôn Võ Văn Hải, Chánh Võ Phòng. – Ông Nguyễn Thành Cung, Tổng Thư Ký. – Ông Trần Sử, Bí Thư… Tất cả đều là Phật tử.
* * Toàn thể Bộ Tham Mưu của Tổng Thống đều là Phật Tử. * Trong số 18 Tổng Bộ Trưởng, chỉ có 5 người là Công giáo, còn 13 là Phật Tử.. * Bên quân đội, tổng số 19 tướng lãnh có quyền hành nhất, thì đã có 16 tướng là Phật tử, chỉ có 3 là công giáo… Nghĩa là đại đa số những nhân vật, những người nắm giữ và điều hành bộ máy chính quyền thời Ngô Đình Diệm đểu là Phật tử. Đó là chưa kể chính quyền Ngô Đình Diệm đã giúp Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam thời đó xây dựng nhiều Chùa – Chùa Xá Lợi ở đường Bà Huyện Thanh Quan, Sài Gòn – ( trong đó có chùa Xá Lợi, chùa Vĩnh Nghiêm …),giúp nhiều sư tăng ra nước ngoài ( nhất là ở Pháp, ở Mỹ … ) học hành đậu đạt bằng cấp cao ( kể cả Tiến Sĩ ) để trở về phục vụ hiệu quả hơn, mở mang các cơ sở giáo dục đào tạo thế hệ trẻ đủ khả năng phục vụ quốc gia, xã hội theo đường lối của tôn giáo mình .
Vậy, cái chuyện…kỳ thị Phật Giáo chỉ là chiến thuật khởi đầu ( starting tactic ) để mở màn kế hoạch huy động cho được khối dân chúng đông đảo, thực hiện chương trình đảo chánh lật đổ ông Diệm. Điều đó cũng đồng thời đánh trúng tâm lý ganh ghét của một số người không phải là ít, khi thấy sự phát triển mạnh mẽ, có hệ thống, có tổ chức của Giáo Hội công giáo tại miền Nam vào thời điểm đó, sau sự thành công rõ ràng của chính quyền Ngô Đình Diệm trong chương trình định cư cả triệu đồng 6 bào miền Bắc trốn chạy cộng sản, tìm đường vào Nam, mà trong đó phần đông là đồng bào công giáo. Chỉ riêng đồng bào công giáo của vùng Bùi Chu, Phát Diệm rời bỏ Bắc vào Nam cũng đã đông đảo biết bao nhiêu rồi… Sau này, nhiều người lại còn hỏi : bao nhiêu năm nay, Cộng sản Việt Nam đàn áp tôn giáo, kìm kẹp kẻ đối lập, áp bức dân chúng gấp… bao nhiêu lần Ông Diệm, mà sao dân chúng chẳng thấy những phe này, nhóm nọ biểu tình, chống đối, nổi loạn để lật đổ chính quyền cộng sản chi cả. Chỉ thấy gần đây mới có những nhân vật nam nữ đấu tranh ôn hòa cho Tự Do, Dân Chủ, Nhân quyền ở Việt Nam, đang bị cộng sản – Chùa Vĩnh-Nghiêm ở đường Công Lý – hành hạ, bắt nhốt trong tù mà thôi. ..
Gần đây nhất, vụ cá chết, biển độc, do công ty nước ngoài Formosa ở Hà Tĩnh gây ra thảm họa cho hàng triệu dân các Tỉnh miền Trung, đã thúc đẩy dân chúng đứng lên biểu tình ôn hòa đòi hỏi chính quyền, nhà nước cộng sản phải đứng ra giải quyết, bảo vệ dân, bảo vệ môi trường. Việc biểu tình đấu tranh ngày càng bùng lên với tầm cỡ lớn lao, lan rộng khắp nước, cả ở Hà Nội, Hải Phòng, vào các thành phố trong Nam, trong đó có Sài Gòn.Vậy mà chẳng thấy tổ chức, lực lượng nào đứng lên đấu tranh như những hồi chống ông Diệm hồi 1963, và chống Việt Nam Cộng Hòa ở Huế, Đà Nẵng hồi 1966, mà lúc này chỉ thấy có Đức Giám Mục Nguyễn Thái Hợp, vị lãnh đạo của Giáo Phận Vinh, đứng về phía dân chúng trong vùng, để cho các Linh mục công giáo của ngài cùng đứng với dân oan, dân khổ để đấu tranh, chỉ thấy Linh Mục Đặng Hữu Nam dẫn giáo dân đi kiện Formosa dù bị công an, cảnh sát cơ động ngăn cản, đe dọa, nhưng Linh mục Nam và giáo dân của ông cương quyết không bỏ cuộc. Người ta chỉ thấy Linh mục Trần Đình Lai hướng dẫn hàng chục ngàn giáo dân khắp vùng đứng lên biểu tình, bao vây, đuổi Formosa đi khỏi, Khí thế dũng mãnh đến độ công an, bộ đội bỏ chạy tán loạn, giáo dân trèo cả lên tường thành khu vực Formosa đã bị kiểm soát, nhưng tuyệt nhiên không bạo động, đốt phá, tạo thêm sức mạnh cho toàn dân Việt Nam sẵn sàng cho những bước đấu tranh kế tiếp.
Như vậy, người ta có thể hiểu : ở Nam Việt Nam, hồi đó người dân có quyền tự do, dân chủ khá rộng rãi cho nên việc biểu tình chống đối chính – Dân Hà Tĩnh biểu tình, Formosa…thất thủ – chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, dưới sự lãnh đạo, chỉ huy của của cơ quan “ Tình Báo, Gián Điệp của nước bạn đồng minh khổng lồ “ , được Thành Ủy cộng sản ở Huế phối hợp hành động, nắm lấy thời cơ, thúc đẩy dân chúng, dựa vào thế lực tôn giáo, mua chuộc Tướng lãnh quân đội, huy động dân chúng, đưa cán bộ, tranh thủ thời cơ, đẩy cuộc đấu tranh chống chính quyền Đệ Nhất Cộng Hòa vào một thế thuận lợi để giật xập chính quyền Ngô Đình Diệm là chính quyền đang làm cho mọi hoạt động của cộng sản lâm vào tình trạng điêu đứng, khó khăn, bế tắc… về đủ mọi phương diện : chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa. Rõ ràng nhất là cộng sản sợ hãi chính sách tố cộng, chiêu hồi đã lôi kéo quá nhiều cán binh Việt cộng, có cả trung và cao cấp, quay trở về đầu thú, tiết lộ rất nhiều thông tin quan trọng. Cộng sản rất sợ quốc sách ấp chiến lược, bình định nông thôn của ông Ngô Đình Nhu… làm tê liệt khả năng của cộng sản trong chiến lược “ nắm vững nông thôn, bao vây và tiêu diệt thành thị “ trong lúc cả hai phía cộng sản cũng như Việt Nam Cộng Hòa đều biết rõ : phía nào nắm vững được nông thôn, bên đó sẽ thắng trong cuộc chiến tranh trường kỳ, phức tạp …trên chiến trường Việt Nam lúc này.
Sự rối loạn càng bùng lên dữ đội và lan mạnh tới các thành phố lớn rồi di chuyển trung tâm đấu tranh chống chính phủ về ngay tại Thủ Đô Sài Gòn, nơi tập trung các cơ quan quyền lực quốc gia, các Toà Đại Sứ ngoại quốc, cũng như các cơ sở truyền thông – Thượng Toạ Thích Trí Quang – 7 quốc tế.
Tại đây, Thượng Toạ Thích Trí Quang, một trong những vị lãnh đạo cao cấp Phật Giáo lúc đó, gốc người Bắc Việt, 2 lần bị Pháp bắt vì tình nghi có liên lạc hoạt động với cộng sản, người được dư luận trong và ngoài nước coi là một nhân vật tôn giáo đặc biệt, có tài tổ chức, lãnh đạo quần chúng trong các hoạt động đấu tranh chính trị… đứng ra phát động và lãnh đạo cuộc đấu tranh cuả dân chúng. Thượng Toạ thông báo cho phiá Mỹ biết là người Mỹ phải chịu trách nhiệm về những hoạt động cuả chính quyền Sài Gòn do Mỹ ủng hộ… ( Thich Tri Quang, a politically sophisticated monk of North Vietnamese origin, twice arrested by French on suspicion of Vietminh connections, stirs the people against Diem and informs US officials, whom he holds responsible for Diem because of US support…).
* Ngày 7- 6 -1963: Bà Ngô Đình Nhu lên tiếng tố cáo trước dư luận là người Mỹ đã cố tình nhúng tay vào, tạo nên vụ biến động này và thúc đẩy cho ngày một thêm trầm trọng, phức tạp thêm, nhằm khuynh đảo chính quyền cuả Tổng Thống Diệm vì Tổng Thống Diệm cương quyết không chấp nhận chính sách can thiệp chính trị và quân sự cuả người Mỹ, là chính sách đi ngược lại ý nguyện và quyền lợi cuả dân chúng Nam Việt Nam.
* Ngày 11-6-1963: Thượng Toạ Thích Quảng Đức “ tự thiêu “ ngay tại trung tâm thủ đô Sài Gòn, để phản đối chính sách kỳ thị tôn giáo cuả chính phủ. Theo nghĩa thông thường, “ tự thiêu “ là tự mình thiêu đốt mình cho một lý do, mục đích chi đó.Vụ tự thiêu của Thượng Tọa Quảng Đức nói ở đây, thì sự việc lại khác hẳn : …
Sau khi cầm bình săng tưới vào người Thượng Tọa Thích Quảng Đức đang ngồi bất động, tên cộng sản nằm vùng, mặc áo nhà sư, Nguyễn Công Hoan ( Huỳnh Văn Thạnh ) còn cẫn thận rãi thêm một đường săng từ chỗ Thương Tọa Quảng Đức đang ngồi, đi về phía sau, để hắn có thể đứng từ xa mà châm lửa ! Vậy mà toàn bộ sách báo cộng sản và phe phái chống đối đều viết rằng “Hoà Thượng Thích Quảng Đức TỰ tẩm xăng ”!!! Rồi ngay sau đó, cũng không phải do Thượng Tọa Thích Quảng Đức “TỰ bật quẹt Zippo để tự thiêu” như chúng rêu rao, mà là Thượng Toạ vẫn đang chấp hai tay trên ngực trong thế ngồi bất động ! Trước và sau khi ngọn lửa bùng lên, Thượng Toạ vẫn đang chấp tay trên ngực, còn ngọn lửa thì cháy từ phía sau, chạy tới rồi táp vào người Thượng Toạ để bùng lên ngọn lửa “tự thiêu”! Hòa thượng Thích Quảng Đức đã bị bức tử, đã bị… đốt chết bởi sự liên kết thực hiện giữa cộng sản và phe nhóm chống đối lúc đó… nhằm khích động cuộc nổi loạn của dân chúng đúng theo kế hoạch của CIA và cộng sản… Dư luận dân chúng trong nước và thế giới bị xúc động mạnh. Báo chí trong và ngoài nước, các cơ quan truyền thông khác, nhất là tại Mỹ ( đã bị lâm trận hoả mù cuả bọn – Thượng tọa Quảng Đức…bị thiêu – Lobbyists nói ở trên ) khai thác tối đa vụ này theo chiều hướng “ Phải thay thế ngay người lãnh đạo chính quyền Nam Việt Nam”. Thay thế bằng nhân vật nào ? – Các cơ quan truyền thông Mỹ không nói rõ, nhưng chỉ hướng dẫn dư luận là : loại bỏ Ông Diệm khỏi ngôi vị lãnh đạo chính quyền là được rồi…
Đang cơn dầu sôi lưả bỏng như thế thì vì tức giận người Mỹ và lực lượng đấu tranh nên đã nóng giận, mất sự khôn ngoan, bình tĩnh cần thiết trước tình thế bất lợi cho chính phủ., bà Nhu lên tiếng mạt sát, thoá mạ cuộc tự thiêu cuả Thượng Toạ Quảng Đức. Thật là “Lửa đã đỏ lại đổ thêm dầu ”. Điều này làm cho dư luận dân chúng thêm phẫn nộ, lợi thế nghiêng hẳn về phiá lực lượng đấu tranh chống chính phủ.
* Ngày 27- 6- 1963: Thấy tình hình Sài Gòn rối loạn, khó gỡ được ra, Tổng Thống Hoa Kỳ John F. Kennedy bổ nhiệm Ông Henry Cabot Lodge, thuộc Đảng Cộng Hoà, sang Sài Gòn giữ chức vụ Đại Sứ Hoa Kỳ, thay thế cho Đại Sứ Nolting, người đang tỏ ra bất lực trong việc gỡ rối cho tình hình Sài Gòn theo chiều hướng có lợi cho chính sách cuả Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam.
Thực tâm Tổng Thống Kennedy là chỉ gỡ rối sao cho êm đẹp, thuận lợi cho đường lối, chính sách cuả Hoa Kỳ, cuả Ông Kennedy, chớ Ông Kennedy lúc này không hề nghĩ đến việc lật đổ Ông Diệm, nhất là không bao giờ nghĩ đến việc phải giết Ông Diệm. Ông Cabot Lodge ( đảng Cộng Hòa ) được giới chính trị và truyền thông Hoa Kỳ coi là “ Một con cáo già chính trị ” và đồng thời là một “ Chuyên viên đảo chánh ”, hiện đang theo đuổi một chính sách mang tính cách “Diều hâu ” khác hẳn với Ông Kennedy ( đảng Dân Chủ ) về vấn đề Việt 8 Nam. Một Cabot Lodge, cáo già chính trị, chuyên viên đảo chánh, không cùng 1 Đảng với Ông Kennedy. Cabot Lodge thuộc Đảng Cộng Hòa, có nhiều liên hệ với quyền lợi cuả bọn tài phiệt buôn bán chiến tranh, mà sang làm Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn thì tình hình sẽ ra sao ?
Cabot Lodge được cử sang Sài Gòn với nhiệm vụ “gỡ rối – Untangling ” tình hình, nhưng Cabot Lodge lại quyết định chọn “ phương cách gỡ rối ” bằng một “Cuộc đảo chánh – Coup d’état ” êm ái, nhẹ nhàng, không chọc giận Ông Kennedy, sinh trưởng trong 1 gia đình theo đạo Thiên Chuá, nghiã là chỉ cần đẩy Ông Diệm ra khỏi ngôi vị lãnh đạo chính quyền Nam Việt Nam, đưa Ông Diệm đi sống lưu vong ở một quốc gia nào đó nằm trong “ Quỹ đạo chính trị – Political circle ” cuả Hoa Kỳ, như Đài Loan, Thái Lan chẳng hạn là đủ rồi. Sau đó, Cabot Lodge sẽ dựng lên một thứ chính quyền mới hoàn toàn biết vâng phục theo ý muốn cuả Hoa Kỳ, hay đúng ra trong lúc này, là ý muốn cuả “Giới tài phiệt – Financial Oligarchy ” cuả Mỹ đang tính chuyện kiếm lời thật lớn lao trong cuộc chiến tranh đang xẩy ra trên đất nước Việt nam nhỏ bé nhưng đầy đau khổ, máu xương và nước mắt này… Đó ! Câu trả lời cho cái đầu đề cuả bài viết này “Tại sao có cuộc đảo chánh lật đổ Ông Ngô Đình Diệm ? ” tưởng đã đủ rõ ràng, khả dĩ góp phần nhỏ bé vào việc làm sáng tỏ 1 trang lịch sử cận đại cuả một đất nước, một dân tộc anh hùng, nhưng quá bé nhỏ trước nanh vuốt cuả …những thế lực khổng lồ, hung bạo nên đành phải chịu chấp nhận tủi nhục, đau thương…
Nó là một bài học vô cùng quý giá cho những quốc gia cường thịnh cũng như nhược tiểu trong cuộc đoàn kết đấu tranh để sinh tồn trong một thế giới ngày càng thêm phức tạp, rắc rối, đòi hỏi một thế liên minh sáng suốt, khôn ngoan và chung thủy. Nếu không, kẻ thắng và người thua, rút cuộc tất cả như nhau, sẽ mang vào mình những kết quả thảm hại, những cái nhìn xấu xa nhất cuả những người chung quanh, kể cả kẻ thù lẫn bạn bè…
San Diego – California
Phan Đức Minh
Tài liệu tham khảo : * The Death of A Nation.- John A. Stormer.- Liberty Bell Press – Missouri, 1978.
* The World Almanac of The Vietnam War.- John S. Bowman (General Editor). Bison Books Corp.- New York, 1985.
* Vietnam : The History & The Tactics .- Ahsley Brown & Adrian Gilbert .- Orbis Publishing Limited .- London,1982.
* The Final Days .- Bob Woodward & Carl Bernstein.- The Hearst Corporation.- New York, 1976.
* Henry Kissinger Diplomacy.- Simon & Schuster.- New York, 1994.
– * Kennedy .- Theodore Sorensen.- Harper & Row.- New York, 1965.
– *A Book of U.S. Presidents.- George Sullivan .- Scholastic Incorporation.- New York,1984.-
—————————————————————————————–
Tình cảnh của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất sau 1975
Năm 1982, hai hòa thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ bị đưa đi lưu đày mỗi người một nơi tại hai tỉnh Quảng Ngãi và Thái Bình.
Hai hòa thượng Thích Quảng Độ (trái) và Thích Huyền Quang trong một tấm ảnh chưa rõ năm chụp, có thể vào những năm 2000 trong thời gian Thích Huyền Quang bị lưu đày ở Bình Định. Hòa thượng Thích Huyền Quang sinh năm 1919, xuất gia ở Bình Định từ năm 13 tuổi. Theo GHPGVNTN, ông bị giam giữ tại các chùa cho đến khi viên tịch
Bắt giữ đồng loạt các nhà sư
Khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời (vào ngày 7 tháng 11 năm 1981) cũng là lúc các nhà sư bị phân biệt thành hai nhóm: sư hợp pháp và sư bất hợp pháp.
Những nhà sư bất hợp pháp là những người không tham gia Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Các nhà sư bất hợp pháp này hoặc lâm vào cảnh khốn khó như Đại đức Thích Huệ Thâu hoặc góp mặt trong ít nhất 7.000 người trong các trại cải tạo vào năm 1985.
Chính quyền đã tổ chức một cuộc vây bắt đồng loạt các nhà sư không cùng quan điểm với chính quyền và GHPGVN.
Vào tháng 4/1984, chính quyền Việt Nam đã đồng loạt bắt khoảng 12 tăng, ni ở nhiều ngôi chùa khác nhau, trong đó có những người là học giả uyên bác của Phật giáo miền Nam như Ni trưởng Thích Nữ Trí Hải, Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ hay Hòa thượng Thích Trí Siêu.
Theo sau vụ bắt giữ đồng loạt này, tháng 8/1984, chính quyền tiếp tục bắt giữ Hòa thượng Thích Đức Nhuận, giáo sư của Viện Đại học Vạn Hạnh, biên tập viên của Tạp chí Vạn Hạnh. Cùng vụ bắt Hòa thượng Đức Nhuận, Hòa thượng Thích Tâm Quang và chú tiểu “Vinh Hien” cũng bị bắt giữ vì không tham gia GHPGVN.
Mãi cho đến năm tháng 9/1988, chính quyền mới xét xử các hòa thượng Thích Tuệ Sỹ và Thích Trí Siêu cùng 19 tăng ni, phật tử khác. Tất cả đều bị cáo buộc tham gia hoạt động lật đổ nhà nước và thành lập một tổ chức cách mạng. Hai hòa thượng Tuệ Sỹ và Trí Siêu bị tuyên án tử hình nhưng sau đó được giảm án, những người khác bị tuyên án từ bốn năm tù giam đến chung thân.
Nhận được tin buồn Nhà văn Đặng Mỹ Dung vừa từ trần lúc 7 giờ chiều ngày 23 tháng 3 năm 2023 tại Thành phố Atlanta, Tiểu bang Georgia, Hoa Kỳ.
Tác phẩm A Thousand Tears Falling / Ngàn Giọt Lệ Rơi của bà đã xuất bản hơn 13 năm nên có nhiều websites đăng tải lắm.
Nhà văn Đặng Mỹ Dung có 7 anh chị em gồm Anh Đặng Văn Khôi, 1937 (đã mất); Chị Kim; Chị Cương (đã mất); Đặng Mỹ Dung, 1946-2023; Đặng Hải Vân, 1950 (đã mất); Đặng Hòa Bình, 1954; và Đặng Minh Tâm, 1956.
Ða số hồi ký của các nhân vật lịch sử Việt Nam thường viết về thời gian trước tháng tư 75, và thiếu vắng tác phẩm của phụ nữ. Nhưng bút ký về cuộc đời bà Mỹ Dung đã viết về một giai đoạn chính từ sau tháng tư 75. Phải chờ giải mật năm 1995 tức là 20 năm sau tác phẩm bằng Anh ngữ “A Thousand Tears Falling..” mới được xuất bản.
Ngay khi tác phẩm ra đời, báo chí và các nhà điểm sách Hoa Kỳ đã không tiếc lời khen ngợi. Nhiều độc giả Việt Nam cũng đã mua và đọc nguyên tác Anh Ngữ. Nhưng đa số vẫn còn mong có cơ hội đọc bản Việt ngữ của một câu chuyện thực hết sức bi thương và hấp dẫn.
Ngàn Giọt Lệ Rơi
Bìa cuốn sách ” Ngàn Giọt Lệ Rơi”
Phác họa chuyện phim “Ngàn giọt lệ rơi”
“A thousand Tears Falling” bắt đầu từ ngoại cảnh tại Nhật Bản. Thời gian lúc đó là tháng 6-1975, không gian là tại phòng tiếp tân của đại khách sạn Nhật Bản tại Ðông Kinh. Tại đây, một hội nghị quốc tế giữa các nước Ðông Nam Á đang diễn ra. Ông Ðặng Văn Minh là trưởng phái đoàn của nước cộng sản Việt Nam vừa chiến thắng Sài Gòn 2 tháng trước, đến dự hội nghị với niềm tự hào và được sự lưu ý của báo chí thế giới. Tuy nhiên, cũng vào chiều hôm đó tại Ðông Kinh, người cán bộ cao cấp của phe cộng sản gặp lại con gái sau 23 năm xa cách. Từ hình ảnh trong đại sảnh của khách sạn quốc tế tại Tokyo, phía trước treo cờ các nước dự hội nghị, có cờ đỏ sao vàng. Hình ảnh vị trưởng phái đoàn rạng rỡ tươi cười mở đầu cuốn phim để tiếp đến hình ảnh hồi tưởng thời kỳ trong chiến khu với cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.
Ông Minh sinh năm 1909 tại Vĩnh Long, đi theo Kháng Chiến và trở thành nhân viên cao cấp của Mặt Trận. Năm 1954, ông dẫn con trai lớn 17 tuổi là Ðặng Văn Khôi ra Bắc. Vợ ông Minh là bà Trần Thị Phàm và 5 con nhỏ ở lại miền Nam. Khi chia tay hẹn 2 năm trở lại nhưng thật sự phải hơn 20 năm sau người cộng sản mới vào được Sài Gòn thì lúc đó đã biết bao nhiêu vật đổi sao dời. Người con trưởng theo bố ra Bắc đã trở thành sĩ quan của quân đội nhân dân được gửi đi Nga học về hỏa tiễn phòng không năm 1968. Ðến năm 1975, ông Minh trong khi vẫn một lòng trung thành với chế độ và trở nên cán bộ cao cấp ngành ngoại giao thì người con trưởng Ðặng Văn Khôi có thái độ chống chiến tranh nên đã bị sa thải khỏi quân đội miền Bắc.
Tại miền Nam, người con trai thứ của ông bà là Ðặng Hải Vân, lúc ông tập kết chỉ có 5 tuổi sau này đã trở thành phi công của Không Quân Việt nam Cộng Hòa. Nhưng không may Hải Vân đã bị thiệt mạng trong một phi vụ bay huấn luyện tại Hoa Kỳ lúc 21 tuổi. Chị Ðặng Mỹ Dung là con thứ tư của ông bà đã thành hôn với đại úy phi công của Hải Quân Hoa Kỳ tại Sài Gòn và năm 75 gia đình chị đang sống tại Hawaii. Cuộc sống thơ mộng và bình yên của ông Krall và bà Mỹ Dung hoàn toàn thay đổi từ tháng 4-1975.
Cũng vào tháng 4-1975, lúc đó cha của bà Dung là ông Minh đang làm đại sứ cộng sản Hà Nội tại Nga Sô, mẹ của bà và đứa em út thì kẹt ở Sài Gòn. Với bao năm xa cách, với quan niệm về cuộc sống khác biệt, bà Phàm vợ ông Minh không hề có ý muốn ở lại Sài Gòn để chờ đoàn tụ với chồng. Ðặng Mỹ Dung từ Hạ Uy Di liền yêu cầu thiếu tá Krall tìm cách về Sài Gòn đón gia đình bà mẹ qua Mỹ. Khi ông Krall qua Sài Gòn đã lâu mà chưa có tin tức gì, tại Hawaii, bà Ðặng Mỹ Dung lo sợ đã nói chuyện trực tiếp qua điện thoại cầu cứu với đề đốc Gaylor, tổng tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương tại Trân Châu Cảng. Lời nói chỉ vắn tắt báo cáo chuyện chồng bà về Sài Gòn để lo cứu gia đình sao chưa thấy qua, nhưng bà nói thêm một tin tức động trời, bà là con gái của đại sứ cộng sản Việt Nam tại Mạc Tư Khoa.
Đặng Mỹ Dung
Lập tức guồng máy quân báo của Hải Quân Hoa Kỳ chuyển động và cả FBI lẫn CIA nhập cuộc. Hệ thống tình báo Mỹ ghi nhận ngay đây là một đầu mối vô cùng quan trọng mà tại sao lâu nay không ai biết. Ngay cả lúc hồ sơ thành hôn của vị sĩ quan Hải Quân Hoa Kỳ cũng không ai lưu ý đến mối liên hệ huyết tộc của cô dâu nước Mỹ có đầu mối Hà Nội. Họ cứ tưởng đây chỉ là cô gái thuần túy Sài Gòn.
Tiếp theo khi chuyến bay chở mẹ và em gái út của Ðặng Mỹ Dung ra khỏi Việt Nam do CIA Sài Gòn trực tiếp sắp đặt thì một khế ước bất thành văn đã bắt đầu. Mỹ Dung nợ khối tình báo Mỹ một yêu cầu. Cuộc đời điệp viên khởi sự. Khi bà Minh đã yên ổn tại Hoa Kỳ thì hơn 60 ngày sau Mỹ Dung dắt con nhỏ qua Nhật Bản thăm thân phụ đã hơn 20 năm xa cách. Guồng máy tình báo của thế giới tự do mở chiến dịch để Con Chim Xanh với Ngàn Giọt Lệ lên đường công tác.
Sơ lược chuyện phim
Bây giờ xin mời khán giả trở lại Ðông Kinh của tháng 6-1976. Cánh cửa phòng họp riêng của đại sảnh Tokyo hé mở, một cán bộ ngoại giao của Hà Nội bước vào trình với thủ trưởng Ðặng Quang Minh: “Thưa đồng chí thủ trưởng, bà Việt kiều ở Mỹ và đứa con lai đã có hẹn xin vào gặp.”
Ông Minh vẫn còn đang ngồi xem hồ sơ hội nghị, nói mà không nhìn lên: “Ðây là đại diện Hội Việt Kiều Yêu Nước đến để động viên và mừng đất nước thống nhất. Ðồng chí mời vào đi.”
Ðặng Lệ Dung bước vào cùng con gái nhỏ nép một bên.
Hơn 20 năm qua, lúc thân phụ ra đi, cô là đứa bé con. Giờ đây, đứa cháu ngoại lai Mỹ xinh đẹp mắt mở to nhìn người đàn ông xa lạ mà e ngại. Cuộc gặp gỡ riêng tư nhưng hết sức khách sáo. Cả cha con đều phải đóng kịch dù rằng trong lòng như lửa đốt. Trước khi chia tay, ông Minh nói nhỏ với con gái là sẽ thu xếp để gặp lại người vợ cũ là bà Phàm hiện đã di tản qua Hoa Kỳ.
Sau cuộc gặp gỡ lần đầu tiên vào tháng 6-1975, cuộc đấu tranh chiến tranh chính trị, tình báo và ngoại giao giữa hai cha con bắt đầu. Một bên là Việt Nam cộng sản đã thống nhất và một bên là guồng máy tình báo Hoa Kỳ. Cả hai bên đều tìm cách mua chuộc lẫn nhau. Cuốn phim Ngàn Giọt Lệ Rơi thực sự sẽ có cả hàng trăm phân cảnh hết sức độc đáo để dàn dựng.
Chiến tranh tình báo
Thủ trưởng Ðặng Quang Minh về báo cáo lên bộ chính trị và được Lê Duẩn đồng ý cho phép qua Paris gặp lại vợ con. Ông dự trù sẽ thuyết phục để đưa vợ con trở về Hà Nội dưới hình thức chiến thắng ngoại giao sau khi tuyên bố là gia đình ông ở Sài Gòn đã bị Hoa Kỳ áp đảo bắt phải di tản. Hà Nội chắc chắn một lần nữa sẽ đạt được một thành tích đánh bại Hoa Kỳ trên diễn đàn dư luận quốc tế. Phía Hoa Kỳ, Hoa Thịnh Ðốn đã cho phép CIA giúp đỡ hai mẹ con bà Minh qua Pháp để bắt nhịp cầu làm việc trực tiếp với tòa đại sứ cộng sản Việt Nam tại Paris. Tình báo Mỹ chấp nhận nhập cuộc.
Tuy nhiên, cuộc đấu tranh chính trị giữa cộng sản và Hoa Kỳ đã trở thành một mối xung đột và mâu thuẫn trong nội bộ gia đình họ Ðặng, vượt ra khỏi tầm tay của những thế lực đằng sau từ cả hai bên. Ông Minh hết lòng thuyết phục bà vợ tao khang trở về với một đất nước nay đã thanh bình, độc lập, thống nhất và hoàn toàn chiến thắng. Ông thề thốt lấy cả cuộc đời ra để bảo đảm cho sự an toàn của bà và người con út cùng đi với bà. Nhưng bà Minh vẫn còn dè đặt và sau cùng quyết định ở lại Hoa Kỳ. Một quyết định sáng suốt mà sau này bà vẫn cho là hết sức may mắn.
Trong thời gian đó, phe cộng sản hết lòng chiều chuộng móc nối Ðặng Mỹ Dung với hy vọng cô sẽ thuyết phục bà mẹ. Và hơn nữa, dù bà Minh chưa muốn về Hà Nội nhưng Mỹ Dung với ảnh hưởng sẵn có trong quân đội Mỹ, có thể dễ dàng trở thành một nguồn tin đáng giá và tốt nhất là cô chuyển hộ các tài liệu trên đường hàng không từ Hoa Thịnh Ðốn qua Paris. Con Chim Xanh của Ngàn Giọt Lệ Rơi luôn luôn sẵn sàng hợp tác như là một người cảm tình với phe chiến thắng mà thân phụ của cô cũng góp phần. Dần dân Mỹ Dung gián tiếp trở thành một phụ nữ Việt Nam yêu nước kết hôn với người Mỹ những vẫn hồn nhiên đóng góp công tác cho chính phủ Hà Nội và các tổ chức thân Cộng. Cũng vào thời điểm đó, sinh viên thân cộng Trương Ðình Hùng là con của luật sư Trương Ðình Dzu đang hoạt động cho tình báo cộng sản. Hùng du học Mỹ trước 1975 và tiếp tục ở lại Hoa Kỳ móc nối lấy tin tức từ bộ ngoại giao. Hùng rất tin tưởng ở sự thân hữu chặt chẽ của Mỹ Dung với Hà Nội và tòa đại sứ cộng sản Việt Nam tại Pháp.
Ronald Humphrey là nhân viên cao cấp của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ được phép đọc tài liệu tối mật. Lúc còn ở Việt Nam, Humphrey lấy cháu gái Võ Thị Ðịnh, một nữ cán bộ quân sự của Giải Phóng Miền Nam. Hà Nội đưa điều kiện nếu Ronald muốn cho phép đem vợ qua Mỹ phải lấy hồ sơ mật của bộ ngoại giao Mỹ trao cho Trương Ðình Hùng. Hùng nhờ Ðặng Mỹ Dung chuyển tài liệu cho cộng sản qua tòa đại sứ Việt Nam tại Paris. Tài liệu Humphrey đưa ra qua tay Hùng đến Mỹ Dung thì CIA đổi thành tài liệu giả để chuyển qua Pháp.
Khi chính phủ Hoa Kỳ quyết định truy tố Trương Ðình Hùng và Humphrey thì cần có Mỹ Dung ra làm nhân chứng. Nếu như thế là cuộc đời gián điệp sẽ chấm dứt và đồng thời bà Dung phải chấp nhận mọi rủi ro thách đố về sau. Ðây là một quyết định khó khăn đối với một phụ nữ. Lần đưa mẹ ra khỏi Việt Nam, Mỹ Dung đã phải trả giá bằng cách bước vào con đường chông gai của nữ điệp viên. Lần này lại thêm một thử thách mới. Sau cùng Mỹ Dung yêu cầu chính phủ Mỹ phải cam kết đưa cha và anh bà được vào Mỹ, trước khi phiên tòa bắt đầu. Việc này sẽ được thu xếp trước khi vụ gián điệp tại bộ ngoại giao được chuyển qua tòa án. Hồ sơ cam kết mật đưa lên tổng thống Carter xin chấp thuận. Guồng máy tình báo Hoa Kỳ lại mở chiến dịch mới.
Bà Mỹ Dung viết thư cho Lê Duẩn, tổng bí thư của dảng Cộng sản Việt Nam và Nguyễn Duy Trinh bộ trưởng ngoại giao Hà Nội xin cho cha là Ðăng Quang Minh qua London gặp gia đình vợ con vì bà Minh bị bệnh nan y có thể chết. Giáng Sinh năm 1977, Hà Nội chấp thuận cho ông Minh xuất ngoại. Trong hai tuần lễ sống bên cha, cả hai chị em bà Mỹ Dung thuyết phục ông Minh đi Mỹ nhưng không thành công. Cuộc tranh luận, phân giải trong gia tộc với nghĩa phu thê, và tình cha con của một gia đình Quốc Cộng đã kéo dài suốt mùa Giáng Sinh tại thủ đô sương mù London năm 1977. Ông Minh đã dành cả cuộc đời đi theo con đường của ông, đêm nằm trằn trọc cùng phòng với đứa cháu ngoại thân yêu.
Bà Minh suốt thời gian nghe con gái và chồng tranh luận mệt nhoài nên đã nói những lời sau cùng trước khi chia tay đôi ngả. Bà yêu cầu chồng và các con chấm dứt tranh luận, cãi cọ qua lại về chính trị, về chủ thuyết, và tương lai. Hãy ngồi với nhau lần cuối trong tình huyết tộc rồi đường ai nấy đi. Cuộc chia tay của hai phe đấu tranh chiến tranh chính trị trong một gia đình bây giờ chỉ còn toàn nước mắt của “Ngàn giọt lệ rơi.”
Sau cuộc họp mặt Giáng Sinh lịch sử 1977 của gia đình họ Ðặng, Hoa Kỳ quyết định đưa vụ án ra ánh sáng. Chính phủ Mỹ truy tố Trương Ðình Hùng và Ronald Humphrey mỗi người bị tù 15 năm. Cả hệ thống ngoại giao của cộng sản Hà Nội bị lung lay, rung động từ đại sứ Ðinh Bá Thi tại Liên Hiệp Quốc cho đến đại sứ Ðặng Văn Sung tại Paris.
Câu chuyện gián điệp nữ Ðặng Mỹ Dung được viết lại thành ký sự bằng Anh ngữ nhưng CIA đã yêu cầu bỏ đi gần 200 trang trước khi in. Về sau ông Ðặng Quang Minh sống độc thân tại Hà Nội, thỉnh thoảng đi thăm mộ con trai là thiếu úy Ðặng Hải Vân của KQVNCH tại miền Nam. Ông mất năm 1986, hưởng thọ được 77 tuổi. Ðặng Văn Khôi, người con trai lớn theo ông tập kết ra Bắc có đến chào cha trước khi vượt biên, đoàn tụ với mẹ và các em ở miền Ðông Hoa Kỳ. Từ một sĩ quan của đơn vị phòng không quân đội nhân dân đã du học bên Nga, nay ông trở thành người tỵ nạn tại Hoa Kỳ. Ông sống độc thân, cho đến khi bà mẹ mất, rồi ông cũng qua đời mấy năm sau. Dù theo cha đi tập kết 1954, đi học bên Nga, sĩ quan của đơn vị phòng không tên lửa, nhưng ông không chịu vô đảng. Sau cùng ông chết theo mẹ trên miền đất tự do.
Bà Minh sống với vợ chồng con gái là Ðặng Mỹ Dung. Khi được tin chồng chết, bà không muốn về chịu tang dưới nghi lễ của đảng cộng sản. Một lòng kiên quyết, bà muốn để cho chồng đi trọn con đường ông lựa chọn. Ông chết trong lòng đất quê hương, nơi có mộ phần con trai út của ông là sĩ quan miền Nam. Bà Minh qua đời khi nước Mỹ bước vào thế kỷ thứ 21. Có thể ngày nay ông bà đã cùng những người con trai phục vụ cho hai miền đất nước đang đoàn tụ ở một nơi không còn khác biệt về ý thức hệ.
Cuốn sách A Thousand Tears Falling hiện được một số giáo sư Hoa Kỳ dùng để dạy cho các trường Trung Học. Tác phẩm Ngàn Giọt Lệ Rơi đến tay độc giả Bắc California cùng với chương trình 35 năm nhìn lại tại San Jose vào tháng 5-2010.