S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Mặt sau của vài tấm ảnh

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

Nhà văn Võ Đắc Danh vừa gửi đến độc giả và thân hữu một bức ảnh khá lạ mắt, cùng với đôi lời phân giải:

“Nhà báo Đoàn Khắc Xuyên cho rằng bức ảnh xứng đáng được trao giải thưởng… thư ký tòa soạn một tờ báo lớn ở SG hiểu lầm tưởng tôi là tác giả nên nhắn tin xin file gốc để đăng báo. Và sau đó, một người bạn đang làm việc ở một trường đại học bắc Cali gọi điện cho tôi, anh vừa khóc vừa nói: ‘Anh có cách nào tìm ra người phụ nữ trong bức ảnh, tôi muốn giúp đỡ cô ấy, biết rằng những mảnh đời như cô ấy ở VN không ít, nhưng bức ảnh làm tôi nghẹn ngào rơi nước mắt, tôi muốn giúp cô ấy cũng chính là giúp tôi vơi bớt nỗi đau…”

FB CaoSon HD  cho biết thêm “bức ảnh người phụ nữ chạy xe Grab mưu sinh phải mang theo cả con nhỏ khi đi chở khách được lan truyền mạnh mẽ trên Facebook đã làm nhiều trái tim nghẹn đắng lòng.”

Nói thế e có quá lời chăng? Cuộc sống lam lũ của lắm người dân Việt hiện nay nào có xa lạ (hay mới mẻ) chi đâu mà khiến cho “nhiều trái tim nghẹn đắng lòng” tới “rơi nước mắt” luôn, dữ vậy?

Xay lúa thì khỏi bồng em là cách phân nhiệm công bằng (và hiệu quả) trong nếp sống định canh ở Việt Nam, từ nhiều ngàn năm trước. Sự phân chia truyền thống này đã biến đổi lâu rồi.

Nhà văn Phạm Thị Hoài cho biết: “Ngày 22-3-1965, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phát động một phong trào mang tên ‘Ba đảm nhiệm’, gồm đảm nhiệm sản xuất và công tác, đảm nhiệm gia đình, đảm nhiệm chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Nhưng Hồ Chủ tịch không ưng ‘đảm nhiệm’ nên chuyển thành ‘đảm đang’ và chính thức phát động phong trào…”

Phải “đảm” tất tần tật như thế nên vừa xay lúa vừa bồng em thì mới có thể hoàn thành được nhiệm vụ. Đó là chưa kể những lúc phải tranh thủ làm đêm (và làm thêm giờ nghỉ) để thi đua vượt chỉ tiêu. Chớ còn vừa chạy xe Grab, vừa bồng con thì kể như chỉ là chuyện nhỏ thôi. Có chi nghiêm trọng lắm đâu mà phải động lòng thương hoa tiếc ngọc!

Cùng vào thời điểm này, Trung Ương Đoàn cũng đã phát động Phong Trào Thanh Niên Ba Sẵn Sàng (vừa chiến đấu vừa sản xuất, vừa học tập vừa thi đua xây dựng cuộc sống) chớ bên phái nam cũng đâu có ai rảnh rang gì.

Sau nhiều thập niên tất bật và túi bụi cả ngày lẫn đêm (bỗng) có người chợt ngừng tay, thắc mắc: Thi đua ta quyết thi đua/ Thi đua ta quyết tiến lên hàng đầu/

Hàng đầu rồi biết đi đâu?

Rồi không ít kẻ nhao nhao lên tiếng khiếu nại: Một người làm việc bằng hai/ Để cho chủ nhiệm mua đài mua xe/ Mỗi người làm việc bằng ba/ Để cho cán bộ xây nhà xây sân!

Như vậy đâu có được (bất công thấy rõ) nên cuối cùng đồng chí đương kim  TBT, kiêm CTN, Nguyễn Phú Trọng đã vào cuộc để giải quyết vấn đề. Báo Tuổi Trẻ, số ra ngày 12/01/2021, hân hoan thông báo: “Năm năm xử 14.540 bị cáo tham nhũng, kinh tế, chức vụ; thu hồi hàng chục ngàn tỉ đồng.”

Dữ vậy sao? Hả hê chưa?

Chưa! Dư luận, ngó bộ, vẫn chưa đồng tình cho lắm. Thiên hạ coi đây chỉ là một thứ “nỗ lực” bắt ruồi quanh đống cứt. Người có giáo dục thì phát biểu ôn tồn và nhã nhặn hơn. Họ xem “hàng chục ngàn tỉ đồng thu hồi” chỉ là phần nổi của một tảng băng sơn.

Tuyệt đại đa số các đồng chí vẫn chưa bị lộ, và không bao giờ bị cả, vì đều đã hóa thân thành những cánh tay nối dài của Đảng và Nhà Nước. Những bàn tay vô hình này thò vào túi quần (hay túi áo) của tất cả mọi người, bất kể nam/ phụ/ lão/ ấu.

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho biết: “Một quả trứng chịu 14 loại phí, một con lợn cõng 51 thuế phí.”

Báo Thanh Niên tổng kết: “Nông dân ‘cõng’ hơn 1.000 loại phí.” Tất nhiên, đó là chưa kể … “phí cho trâu bò ăn cỏ!

Đám chạy xe Grab, như thiếu phụ bồng con trong bức ảnh của nhà văn Võ Đắc Danh – tất nhiên – cũng không ngoại lệ:

  • Phạm Minh Vũ: Sau năm lần tăng liên tiếp, ngày 25-02 vừa rồi giá xăng trong nước tăng mạnh gần 1000đ trên 1lít, A95 đã hơn 18k.
  • Ngô Du: “Sáng xách chiếc xe ra đổ 100 ngàn xăng để mưu sinh. Họ đã cúng cho nhà nước 64 ngàn. Chạy một cuốc xe… Nộp thêm 10% VAT nữa.”

Hết “cúng” lại “nộp” tứ phương như vậy nên vừa chạy xe Grab vừa địu con thì (may ra) mới đủ tiền mua sữa.

Sữa để em thơ lụa tặng già là chuyện chỉ có trong thơ Tố Hữu (và trong mơ) mà thôi. Thực tế thì già trẻ, lớn bé gì đều đầu tắt mặt tối và lam lũ ráo.

Hãy nhìn qua một lớp người bần cùng khác, cùng vài mẩu tin liên quan đến họ, xem bàn tay của nhà nước hiện hành dài tới cỡ nào:

Xổ số kiến thiết “góp” 10.000 tỷ đồng cho Nhà nước trong quý I

Xổ số đóng góp lớn vào ngân sách nhà nước

Xổ số  là nguồn thu chỉ sau dầu mỏ

Xổ số đóng góp gần bằng ngành dầu khí và vượt xa hàng không

Từ Việt Nam, nhà báo Hữu Danh  tường thuật:

“Ở vùng ĐBSCL, nhiều doanh nghiệp xổ số nộp ngân sách cả ngàn tỉ đồng/năm. Với nhiều địa phương, thu từ xổ số là nguồn thu chính. Để có nguồn thu này, các công xổ số đều dựa vào lực lượng bán vé số dạo.

Họ là ai? Là trẻ em, thay vì được đến trường thì áo quần rách rưới, tay cầm xấp vé số đi ‘bán cái rủi may’; là những ông bà lão bảy – tám mươi tuổi, lẽ ra phải được an hưởng tuổi già, vui vầy cùng con cháu thì phải còng lưng mời từng tờ vé số; là những người tật nguyền, khi mà hệ thống an sinh xã hội còn quá kém, phải vừa bò vừa lết ngoài đường, bò lết dưới chân trai thanh gái lịch trong những quán cà phê, nhà hàng để bán từng tờ vé số bằng cách kêu gọi lòng thương…”

Có điều ông nhà báo không biết (hoặc không ngờ) là “lực lượng bán vé số dạo” đã lan ra tới … nước ngoài tự lâu rồi. Tôi tình cờ gặp gỡ đông đảo đồng hương của mình nơi quán ăn Ba Số Bẩy – trong khu chợ Tô Sanh, ở Nam Vang – với không ít ngạc nhiên.

Ngồi uống chưa hết chai bia Cambodia mà đã có hơn chục người đến chào mời mua vé số, phát hành từ những tỉnh thuộc Đồng Bằng Sông Cửu Long. Sau khi xổ, vé trúng sẽ có người sẵn sàng mua lại ngay tại chỗ.

Đạo quân vé số ở thủ đô Phnom Penh gồm đủ thành phần cũng như tuổi tác nhưng phần lớn đều còn rất trẻ, rất hồn nhiên, và (tất nhiên) đều không có cơ hội đến trường. Dù không phải là thầy bói, tôi vẫn có thể đoán được là trong lòng bàn tay của tất cả các em đều có đường xuất ngoại nhưng thiếu đường may mắn.

Tôi tha phương cầu thực gần như trọn kiếp (và may mắn lạc bước đến những nơi không thiếu bơ thừa sữa cặn) nên bất ngờ nhìn thấy mảnh đời cùng quẫn thì không khỏi chạnh lòng. Nghe tiếng mời chào khẩn thiết, nhìn những khuôn mặt khẩn cầu của đồng bào mình mà muốn ứa nước mắt.

Tôi mời các em cùng ngồi dùng cơm, và mua không sót một tấm vé số nào, với hy vọng có thể tạo được đôi chút thảnh thơi cho tất cả. Tôi cũng hành xử y như ông bạn của nhà văn Võ Đắc Danh (“muốn giúp người và giúp cho chính mình vơi bớt nỗi đau”) hiện đang ở California.

Vơi được bao nhiêu, và bao lâu trong cái chế độ bất nhân này?

Nguyễn Phú Trọng dọa Nguyễn Thị Thanh Nhàn: ‘Chạy đàng trời’

Báo Nguoi-viet

May 14, 2023

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Người đứng đầu đảng CSVN vừa đe dọa một người đang không biết ở đâu nhưng bị xử án khiếm diện là “Có mà chạy đàng trời, trốn cũng không được.”

Ngày Thứ Bảy, 13 Tháng Năm, ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư đảng CSVN, có tiếp xúc cử tri theo thông lệ trước và sau mỗi khóa họp Quốc Hội. Ông Trọng và các đảng viên cấp cao cả nước đều là đại biểu Quốc Hội “đảng cử dân bầu” mỗi năm chỉ họp có hai lần ngắn ngủi.

Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn, chủ tịch AIC, bị xử khiếm diện 30 năm tù hồi Tháng Giêng, hiện không biết ở đâu. (Hình: Tập đoàn AIC)

Các đại biểu thường chỉ gặp cử tri trước và sau mỗi khóa họp một lần. Đa số những cử tri này đều là những đảng viên sống ở địa phương được lựa chọn từ trước. Các câu hỏi, chất vấn đại biểu cũng đều được mớm lời, duyệt xét trước chứ không phải muốn hỏi gì thì hỏi. Những cuộc tiếp xúc này đều được dàn dựng nhằm mục đích đăng báo tuyên truyền.

Tại cuộc tiếp xúc nêu trên, trả lời cho câu hỏi về đối phó với tham nhũng và các vụ án tham nhũng lớn xảy ra trong thời gian qua vẫn còn làm dư luận bàng hoàng, ông Nguyễn Phú Trọng được báo Vietnamnet thuật lời nhìn nhận có một số bị cáo đã trốn đi nước ngoài nên đành phải xử vắng mặt. Những người bị xử vắng mặt gần đây nhất, không thấy ông Trọng nêu tên, nhưng người ta hiểu ngay ông ám chỉ gồm cả bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn, chủ tịch công ty Tiến Bộ Quốc Tế (AIC), bị kết án 30 năm tù qua một phiên tòa hồi Tháng Giêng vừa qua.

Theo Vietnamnet tường thuật lại lời nói của ông Trọng thì “khi những cá nhân chạy trốn, bị tòa xử vắng mặt thì không còn là công dân mà là tội phạm, các nước không có quyền chứa chấp.”

Rồi báo này dẫn lời ông Trọng: “Do vậy, chúng ta có quyền theo luật pháp quốc tế, phối hợp với nước mà đối tượng đang trốn để bắt về. Có mà chạy đàng trời, trốn cũng không được.”

Ông Trọng nói đến luật pháp quốc tế để yêu cầu nước ngoài giúp bắt về nhóm người phạm tội gồm bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn và các người dưới quyền bà tại công ty AIC. Ông Trọng tin rằng các nước khác không chứa chấp tội phạm nhưng nếu không có hiệp định tương trợ pháp lý giữa hai bên và quy định về dẫn độ tội phạm, thì chuyện dẫn độ khó xảy ra.

Vì không có thỏa hiệp dẫn độ với Đức, Việt Nam đã cho Bộ Trưởng Công An Tô Lâm, năm 2017, cầm đầu một đoàn đặc vụ sang thủ đô Berlin bắt cóc ông Trịnh Xuân Thanh đem về nước bỏ tù. Vụ ngang nhiên bắt cóc bất chấp luật pháp của Đức và thông lệ quốc tế làm căng thẳng bang giao giữa hai nước một thời gian. Vụ án này từng sôi nổi dư luận trong ngoài nước.

Vào ngày 22 Tháng Năm, tức chỉ một tuần lễ nữa tới đây, đúng ngày khai mạc khóa họp Quốc Hội đầu năm 2023, tòa án CSVN sẽ đem vụ án bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn và các thuộc cấp tại công ty AIC ra xử phúc thẩm theo kháng cáo của các bị cáo.

Trong số 15 bị cáo của vụ này thì có tám người, gồm cả bà Nhàn, hiện đang trốn tránh đâu đó ở nước ngoài. Một số được biết đang trốn ở Mỹ nhưng nước Mỹ mênh mông lại không ai bị bắt phải khai báo hộ khẩu “tạm trú, tạm vắng” như ở xứ độc tài CSVN nên hiện cũng không biết họ ở chỗ nào. Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn từng bị nghi là sống ở đâu đó một nước bên Âu Châu.

Hỏa tiễn phòng không Spyder của Israel trưng bày trong cuộc triển lãm võ khí ở Hà Nội ngày 9 Tháng Mười Hai, 2022. (Hình minh họa: VNExpress)

Ngày 4 Tháng Giêng vừa qua, bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn bị kết án khiếm diện 30 năm tù với cáo buộc “vi phạm quy định về đầu thầu gây hậu quả nghiêm trọng,” đưa hối lộ cho lãnh đạo tỉnh Đồng Nai để trúng thầu xây dựng bệnh viện đa khoa ở địa phương, làm thiệt hại cho nhà nước 152 tỷ đồng, tương đương khoảng $6.5 triệu.

Báo chí tại Việt Nam còn bật mí bà Nhàn là một nhà thầu có một quan hệ chặt chẽ với lãnh đạo các bộ ngành ở trung ương nên đã trúng thầu nhiều vụ lớn ở nhiều địa phương, gồm cả tỉnh Quảng Ninh, nơi Thủ Tướng Phạm Minh Chính từng là bí thư tỉnh ủy. Bà bị tố cáo thông đồng với các giới chức trong các vụ đấu thầu gian dối để chỉ mỗi mình AIC trúng thầu.

Báo chí Israel từng tiết lộ bà Nhàn là kẻ môi giới mua sắm võ khí từ nước này cho CSVN.

Trong bài viết “The Enduring Role of Mistresses in Southeast Asian Politics” đăng trên tạp chí The Diplomat ngày 4 Tháng Năm, 2022, nhà báo David Hutt, một người am hiểu chính trị Việt Nam, viết bà Nhàn từng là “tình nhân” (mistress) của ông Chính và Đại Tướng Phan Văn Giang, hiện là bộ trưởng Quốc Phòng Việt Nam.

Chế độ Hà Nội đã mua của Israel từ hỏa tiễn phòng không, hỏa tiễn phòng vệ biển đảo, máy bay không người lái, phần mềm cho công an theo dõi các thành phần chống đối. Việc truy tố và bà bỏ trốn sẽ ảnh hưởng thế nào đến chuyện trang bị quốc phòng CSVN không ai biết. (TN) [đ.d.]

Thảm cảnh vượt biên mãi in sâu trong ký ức nhiều người

From: nghiathuc.com

(ảnh: Michel Setboum/Getty Images)

Tháng Tư buồn lại đến, 47 năm qua, những thuyền nhân nay đã “già” và những câu chuyện của họ đã trở thành cổ tích. Hồi tưởng để nhớ về một quá khứ đau thương với những chia ly và mất mát…

1/ Cứu vớt

Chiếc tàu nhỏ bé của chúng tôi bị tàu đánh cá Thái Lan chặn lại. Bọn cướp hãm hiếp sáu cô gái. Trong lúc bọn Thái hãm hiếp, một cô gái lao mình xuống biển. Bọn Thái vớt cô ấy lên rồi dí súng vào đầu có ý muốn nói: “Nếu ai nhảy xuống biển nữa là bắn bỏ!”. Tuy nhiên, nhờ người con gái gan dạ liều lĩnh đó mà đám ngư phủ Thái đã ngừng thôi hãm hiếp, và tôi là một trong những cô gái được may mắn thoát nạn trên chuyến tàu định mệnh.

Một nhóm thuyền nhân Việt Nam vượt biển đến Darwin (Úc) trên tàu ‘Song Be 12’,

Khi Mặt trời vừa ló dạng, bọn Thái thả chúng tôi về lại con tàu nhỏ, kèm nước uống, cơm và một khay ghẹ nấu chín, rồi chỉ đường cho bác tài công. Khi đám ngư phủ Thái bỏ đi, mọi người như hoàn hồn, mang nhiều hy vọng dù đường còn lắm gian nan. Sáng sớm, giữa biển cả bao la, gió mát lạnh, lòng người miên man vô định, mọi việc đều phó thác vào bàn tay của đấng tạo hóa. Đã ba ngày, ai cũng mệt mỏi vì sợ hãi và đói khát. Tôi chờ lúc vắng bớt người, lấy chút cơm ăn với muối cho đỡ đói. Lúc ấy có một người đàn ông trung niên, nhìn hiền lành, điềm đạm. Ông không nói gì, chỉ nhìn tôi gật đầu chào. Có người nói:

 – Ăn ghẹ đi, ngon lắm! Nhưng ông lắc đầu. Sau này khi mọi người đến Galang làm hồ sơ khai tên tuổi, tôi mới biết ông là một nhà sư.

Nỗi lo sợ về bọn cướp Thái vẫn còn đeo đẳng theo chúng tôi trong suốt cuộc hành trình. Con tàu nhỏ bé đang êm êm lướt sóng, chợt… Bùm…! Một cậu nhóc rớt tỏm xuống biển. Tiếng bà mẹ khóc la vang trời:

– Cứu con tôi, cứu con tôi với bà con ơi…!

Mọi người nhìn ra xa xa…, chỉ thấy thấp thoáng một chấm đen nhỏ xíu ngụp lặn trên mặt biển mênh mông. Bà mẹ hốt hoảng chạy đến bên bác tài công, quỳ xụp xuống van xin:

– Ông ơi, ông ơi, xin cứu con tôi với, xin ông… ông ơi… nó té xuống biển! Bác tài ái ngại lắc đầu nhưng rồi cũng đánh một vòng quay lại… Khi tàu chạy đến gần, thằng bé cũng ngất ngư sắp chết đuối. Nó là dân vùng biển bơi giỏi nên cũng cầm cự được lâu…

Bác tài công lái con tàu an toàn đến một trạm biên phòng hẻo lánh của Indonesia. Lính biên phòng cho chúng tôi lên bờ ở tạm trên một đảo nhỏ hoang sơ gần đồn canh của họ. Một cuộc sống thê thảm, thiếu thốn, đói khổ. Chúng tôi sống cảnh màn trời chiếu đất. Hơn một tuần sau mới có một mái lều che nắng mưa. Chúng tôi ngủ chung với muỗi mòng, côn trùng. Bầy chó hoang đêm đêm mò đến rình rập. Thức ăn là một ít mì mốc (trên tàu) với những gì mò bắt được dưới biển và những trái sakê hay rau củ kiếm được trên đảo. Chúng tôi sống lây lất gần một tháng, tàu Cao Ủy Tỵ Nạn mới đến cứu đưa 68 thuyền nhân chúng tôi về Galang.

Chuyến tàu TG 0018 (ảnh: Tác giả gửi)

2/ Tưởng niệm

Trước khi được ra ngoài hội nhập với cộng đồng người tỵ nạn, chúng tôi phải vào khu biệt lập để được chăm sóc đặc biệt. Cùng chuyển đến khu biệt lập với chúng tôi là một chuyến tàu khác cũng xuất phát từ Tiền Giang. Khi được cứu, trên tàu chỉ còn người già, đàn ông và con nít; đàn bà, con gái đã bị bọn hải tặc Thái Lan bắt đi. Những người có thân nhân bị bắt đều cầm chắc cái chết vì biết rằng bọn cướp hung ác hãm hiếp xong rồi quăng xác xuống biển…

Hàng ngày, người ta thấy một thanh niên khôi ngô ngồi trước cửa trại, lặng lẽ buồn nhìn trời nhìn đất như mất hồn. Nghe những người đi cùng chuyến kể rằng em gái và người yêu của cậu đã bị hải tặc Thái Lan bắt.  Anh không chịu ăn uống gì, chỉ còn da bọc xương. Ít lâu sau, tôi nghe những người quen biết kể lại rằng người ta thấy xác của anh trôi trên biển dạt vào một hốc đá. Những người bạn cùng tàu chôn anh vội vã ở nghĩa trang. Tôi thoáng nhớ câu thơ buồn chua chát của Quang Dũng: Rải rác biên cương mồ viễn xứ…

Thầy T.T.A. và tác giả (ảnh: Tác giả gửi)

4/ Oan hồn

Trên đường vượt biển tìm tự do, những phụ nữ Việt Nam không may bị hãm hiếp, khi đến trại tỵ nạn, thường được Cao Ủy cứu xét giúp cho đi định cư sớm để tránh lời ra tiếng vào. Sao lại có những người cười chê trên sự đau khổ của đồng hương không may mắn?! Trên trại có dựng một cái miếu thờ gọi là “Miếu Ba Cô”. Theo kể lại, có hai chị em xinh đẹp đi vượt biển bị hải tặc Thái Lan hãm hiếp. Khi đến trại tỵ nạn, họ bị xoi mói bởi những ánh mắt tò mò, những lời xầm xì chế nhạo làm tổn thương họ. Kết quả, hai chị em treo cổ dưới gốc cây đa. Nghe đồn rằng hồn họ vất vưởng chưa siêu thoát nên đêm đêm biến thành bóng ma trắng chờn vờn bay quanh đảo khiến người ta sợ hãi mà lập miếu. Sau đó, có thêm một thiếu nữ đau buồn cho số phận không may cũng treo cổ chết tại gốc cây ấy…

Thuyền nhân Việt Nam bị nhà cầm quyền Malaysia khước từ đã phải sang lánh trú ở quần đảo Anambas,

5/ Mất tích

Anh Duy là một phó nhòm chụp hình rất nghệ thuật. Anh đã ở trại Galang khoảng 5-6 năm mà chưa được đi định cư vì có người em bị hội chứng down. Phái đoàn các nước phỏng vấn rồi từ chối vì không muốn nhận người không có ích lợi gì cho xã hội, mặc dù cha của họ đang bị đọa đày trong nhà tù cộng sản Việt Nam.  Anh Duy thường đi chụp hình để sinh sống trong khi đứa em quanh quẩn ở barrack chờ anh về.

Tôi và Nam, 15 tuổi, em họ của tôi, thỉnh thoảng ra quán ăn khuya. Tôi có lần gặp anh em Duy đến ăn tối. Người em mặt khờ khạo, nước miếng nhễu nhão. Người anh chăm chút cho em như một baby, quàng khăn quanh cổ rồi đút từng muỗng, cho uống nước, rồi lau miệng…  Sáng hôm ấy, mọi người thức giấc vì tiếng ồn ào. Nhiều người đi đến từng barrack hỏi thăm và tìm kiếm trẻ lạc. Đứa em của anh Duy, từ chiều hôm qua, đã đi đâu mất tích. Tìm kiếm suốt đêm cũng không có dấu vết… Đứa em của anh Duy đi lang thang đâu đó, chết bờ chết bụi, hay trôi dạt ra biển?! Tôi rời Galang đi định cư nên không biết số phận của anh em họ ra sao…

Những thuyền nhân ngày nào trở lại thăm Đài tưởng niệm thuyền nhân Việt Nam tại đảo Galang,

5/ Bạc mệnh

Anh Vinh là anh họ của tôi, một Đại úy Không quân VNCH. Anh cao lớn, đẹp trai trông hùng dũng nhưng hiền như cục bột. Anh thích đàn ca với những bài hát dí dỏm hài hước. Anh cao lớn mà ôm cây mandoline bé tí teo. Hồi còn ở Việt Nam, anh Vinh cưới chị Nga, một cô gái xinh đẹp, rất giỏi tiếng Anh. Chị Nga làm xếp xì cho một văn phòng của quân đội Mỹ tại Sài Gòn. Chị hét ra lửa ở công sở và ở nhà, anh Vinh cũng xếp re… vì nể sợ vợ. Tháng Tư 1975, miền Nam thất thủ, anh Vinh bị đi tù. Khi được thả, anh đưa vợ và ba đứa con đi vượt biển. Cả nhà đến Galang. Ở trại tỵ nạn, chị Nga làm thiện nguyện; anh Vinh ở nhà chăm sóc con và cơm nước. Cuộc sống âu lo phiền muộn khiến chị Nga trở nên cáu gắt. Chị đay nghiến, miệt thị, khinh chê chồng đủ điều.

Trong khi chờ đi định cư, một ngày cuối tuần, anh Vinh cùng vợ con ra biển chơi. Biển Indonesia rất đẹp, nước trong xanh biếc màu ngọc bích, có thể nhìn thấy cá lội và cát trắng dưới đáy. Anh Vinh chơi đùa với các con và vẽ hình trên cát. Hôm ấy, anh bơi ra biển rồi không thấy trở vào. Anh mất tích hẳn. Anh bị chết đuối hay anh muốn mình chìm vào lòng biển sâu để quên đi nỗi sầu nhân thế?

Nào ai biết được niềm u uẩn,

Từng lắng nhiều trong những mảnh đời…

(Thơ Quang Dũng)

6/ Tình yêu

Ở Galang có một đôi trai gái yêu nhau. Chàng 19, nàng 18. Một tình yêu lãng mạn nhưng đong đầy nước mắt. Tiếng sét ái tình mạnh mẽ khiến cả hai yêu nhau say đắm. Khốn nỗi, gia đình họ cho là tình như áng mây, chỉ thoáng đến rồi đi. Ở chốn tạm dung này chẳng có gì bền vững. Trước ngày gia đình nàng đi định cư, đôi uyên ương đã quyết cùng ở bên nhau khi cả hai… uống thuốc độc tự tử!

Tưởng chừng những nỗi thống khổ của thuyền nhân Việt Nam đi tìm tự do, một thời vang vọng trên diễn đàn thế giới, nay đã chấm dứt. Không. Cuộc hành trình dẫn đến cái chết của 39 nạn nhân Việt Nam tại Essex vào ngày 25 Tháng Mười 2019 ở Anh lại một lần nữa cho thấy những chuyến viễn du chua xót của người Việt vẫn chưa chấm dứt… Vẫn còn biết bao người tiếp tục rời xa quê mẹ với ước mơ tươi sáng nhưng giấc mộng biến thành ác mộng… Thôi hãy cùng thắp nén hương và nhóm lên ngọn lửa yêu thương để sưởi ấm lòng người dân Việt tha phương trên mọi nẻo đường…

Nhã Duyên (Sài Gòn Nhỏ)

Kim Quy sưu tầm

Sổ Tay Thượng Dân K’ Tien – Vừa thôi Tám

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

Trong một cuộc phỏng vấn do Khánh An (VOA) thực hiện, vào hôm 29 tháng 4 năm 2023, Giáo Sư – Tiến Sỹ Alex Thái Đình Võ đã kể lại một câu chuyện thú vị:

“Thái sang Hoa Kỳ năm 8 tuổi. Khi mình còn nhỏ, lúc người Mỹ bắt đầu dạy trong nhà trường về cuộc chiến Việt Nam hay lịch sử Việt Nam, mình nhớ là khoảng lớp 7, lớp 8, khi giáo viên bắt đầu cho học sinh xem những bộ phim gọi là bộ phim documentary (phim tài liệu) về cuộc chiến Việt Nam, thì sau khi xem bộ phim đó và học sơ về cuộc chiến, có một cậu học sinh đặt ra câu hỏi cho mình là ‘Gia đình của bạn thuộc phe nào trong cuộc chiến?’

 Ở lứa tuổi đó thì thú thật khi sang Hoa Kỳ, bố mẹ cũng không nói gì nhiều cho mình về cuộc chiến, cũng không dạy mình phải hận thù hay biết bên này, bên kia… Nhưng khi cậu đó đặt câu hỏi đó thì mình mới nhớ ở nhà thường hay nói gia đình mình là thuộc miền Nam Việt Nam. Mình mới nói ‘The South’ (miền Nam), thì cậu đó mới chỉ tay vào mặt mình mà cười kiểu chế nhạo và nói ‘À, vậy thì gia đình mày thua là đúng rồi!’.

Đối với một đứa học với lớp 7, lớp 8, mà khi một người khác nói với mình là gia đình mày thua là đúng rồi thì nó đánh một dấu hỏi trong đầu mình là ‘Thua là một chuyện, nhưng mà thua là đúng rồi có nghĩa là như thế nào?’”

Thiệt là một câu hỏi khó cho bất cứ ai, kể cả mấy ông T.T Hoa Kỳ, chớ chả riêng chi với một cậu bé VN tị nạn (đang học lớp 7/ lớp 8) ở đất nước này!

Từ Việt Nam, nhà văn Bùi Ngọc Tấn lý giải:

“Cuối cùng miền Nam đã thua nhanh hơn dự đoán. Chiến thắng thuộc về những người lì đòn hơn, tận dụng thời cơ tốt hơn. Một chiến thắng có rất nhiều nguyên nhân – chiến lược chiến thuật, tài nghệ chỉ huy, tinh thần binh sĩ, vũ khí khí tài, rồi công tác tình báo, mặt trận ngoại giao… – nhưng chắc chắn có sự đóng góp không nhỏ của các loa công cộng…”  (Hậu Chuyện Kể Năm 2000. Tiếng Quê Hương: 2014).

Người cộng sản vốn chuyên nghề tuyên truyền nên sự đóng góp “không nhỏ của các cái loa công cộng” (ở thôn xóm, cũng như ở phố thị) là điều tất yếu nhưng còn “công tác vận động quần chúng” nơi những vùng xa/vùng sâu thì họ thực hiện cách nào?

Nhà văn Đỗ Phương Khanh kể lại:

Khi cuộc chiến giữa Việt Nam và Pháp bùng nổ vào ngày 19 tháng 12 năm 1946 thì gia đình chúng tôi từ Hà Nội tản cư ra khỏi thủ đô theo đường ngược mà di chuyển dần lên tới tỉnh Hòa Bình. Hòa Bình là quê hương của dân tộc Mường. Họ là những người rất chất phác, sống hồn nhiên, đơn thuần như những người Việt Nam cổ xưa…

 Tết năm đó có đoàn Tuyên Truyền Xung Phong ghé qua làng chúng tôi đang tạm trú. Buổi tối họ đốt lửa trại, hầu hết dân làng quây chung quanh các thanh niên trong đòan, say sưa xem những mẩu kịch ngắn, hầu hết là cảnh quân Pháp mới đánh nhau đã lăn ra chết, tiếng cười vang rân xóm làng.

 Sáng hôm sau trước khi đi, anh đòan trưởng có nhã ý mời tất cả những ai muốn chụp ảnh kỷ niệm ngày Xuân thì anh ta sẽ chụp để tặng. Anh ta còn đưa ra cuốn albumn trong có rất nhiều ảnh cho mọi người coi. Đó đây, những ánh mắt thán phục và những tiếng cười khúc khích của các cô nàng sơn nữ nổi lên tưng bừng như ngày hội…

Sau khi sắp xếp chỗ đứng rất lâu, người này thấp ra phía trước, người kia ra đầu nọ cho cân đối… cuối cùng anh ta hô:

– Không chớp mắt … một hai ba…

Anh ta làm lại vài lần và tất cả chúng tôi quây lấy anh ta hỏi han khi nào sẽ có ảnh… anh ta trả lời chắc nịch:

– Tuần tới anh sẽ trở lại, mọi người sẽ đều có ảnh rất đẹp.

Gia đình chúng tôi không có dịp gặp lại anh ta vì chiến sự lan rộng. Trên đường tản cư ngược xuôi, một hôm bố tôi gặp lại anh phó đoàn, bố tôi hỏi về tình hình những bức ảnh. Anh phó đòan cười:

– Làm gì có ảnh, anh Bảo muốn vận động quần chúng nên dùng tâm lý chiến để tạo sự quý mến thân thiện thôi. Máy không có phim chú ạ. (Đỗ Phương Khanh. “Quê Hương Dạo Trước.” Hưng Việt – 10/12/ 2014).

Chuyện kể của nhà văn Nguyên Ngọc thì hơi khác. Tuy cũng theo đúng chính sách và chủ trương của Đảng (“cứu cánh biện minh cho phương tiện”) nhưng ở Tây Nguyên thì cán bộ dùng loại “phương tiện” hữu hiệu hơn. Họ thay máy ảnh không phim bằng súng đạn đã lên nòng:

 Tôi có một người quen, tên là Nguyễn Huy Chương, từng là đội trưởng vũ trang tuyên truyền ở Đak Lak thời ấy, về sau làm đến chính ủy sư đoàn, rồi phó chính ủy quân khu. Anh kể hồi bấy giờ tính mãi không biết làm sao gặp cho được dân. Cuối cùng nghĩ ra một kế: bí mật rình ở bìa rẫy, buổi chiều sẫm, khi những người lao động chính đã về hết rồi, chỉ còn một bà già nán lại nhặt củi rơi để tối về sưởi, đêm Tây Nguyên vốn rất lạnh; bèn xông ra kéo bà già ấy vào rừng, dọa ngay không được la hét, la lên thì tôi bắn!

 Bà già thì hoảng loạn, mình thì ú ớ tiếng Ê Đê, đã nói được gì đâu. Giữ lại lâu thì lộ, phải thả về, dặn về tuyệt đối không được nói lại với ai, và chiều ngày sau ra lại đây gặp tôi, sai thì tôi vào làng bắn chết… Liều thế, rồi phập phồng kéo dài hàng tháng…

 Cho đến một hôm, bà cụ đã bình tĩnh và khá quen, bỗng hỏi: “Con ở ngoài rừng thế này, ăn gì mà sống được?” Lần sau bà mẹ ra (anh đã gọi bà bằng Mí = Mẹ) còn cầm theo một nắm cơm. Nắm cơm đầu tiên của một người mẹ Ê Đê mang vào rừng cho một người con là lính Việt Minh. Một bước lớn và quyết định đã được vượt qua… ” (Nguyễn Hồng Anh Phỏng Vấn Nhà Văn Nguyên Ngọc. Văn Việt – 19/03/2023)

Những bà mẹ Tây Nguyên, với những “nắm cơm đầu tiên”, tất nhiên, đều đã lìa đời nhưng “tinh thần cách mạng” vẫn được kế tục bởi thế hệ kế tiếp: cô gái Bom Bo (“giã gạo ban đêm vì ngày bận làm mùa”) cô gái Pa Ko (“gùi trên vai súng đạn ra hoả tuyến”) cô gái Sông Ba (“tay vót chông miệng hát không nghỉ”). Nay thì tuổi thanh xuân của những cô sơn nữ đã qua, sức khỏe cũng không còn, và đất đai nơi miền sơn cước thì người Kinh chiếm tiệt cả rồi!

Thế họ và con cháu hiện đang sinh sống ra sao?

Hôm 27 tháng 12 năm 2022, FB Chi Lê cho biết:

Tỉnh Bình Phước có Sóc Bom Bo nổi tiếng trong trận chiến ác liệt Mùa hè Đỏ Lửa 1972. Tính từ ngày “giải phóng” đến nay, hầu hết trẻ con ở Sóc Bom Bo chưa từng biết Phở là gì … Những “Gánh Phở Lên Đồi” đã làm rộn rã Sóc Bom Bo …

 

Cùng với “Gánh Phở Lên Đồi” của Tổng Công Ty Mỳ Ăn Liền Acecook, Hãng Hàng Không Vietnam còn có một phát kiến khác, cũng độc đáo không kém – theo thông tin của VietNam Airlines: “Kể từ nay hành khách là người có công với cách mạng sẽ được hướng dẫn vào quầy làm thủ tục ưu tiên, được đi lối riêng dành cho hạng thương gia, và cũng được ưu tiên tại khu vực soi chiếu an ninh.”

Sao mà nhiều “ưu tiên” dữ vậy, hả Trời? Thiệt là chu đáo, tử tế, và tình nghĩa hết biết luôn! Ngoài cơ hội được thưởng thức hương vị một đặc sản của miền xuôi (phở gói) đám dân bản địa ở những vùng sâu/vùng xa/vùng căn cứ cách mạng còn được hưởng nhiều đặc quyền khác nữa, nếu họ có dịp sử dụng dịch vụ của VietNam Airlines.

Còn bằng cách nào mà những người dân khốn cùng có thể mua được cái vé máy bay để bước chân lên phi cơ của Công Ty Hàng Không Việt Nam thì lại là chuyện khác. Vụ này hoàn toàn (và tuyệt đối) không liên quan chi ráo tới Đảng và Nhà Nước.

Người miền xuôi gọi thế là “nhân nghĩa bà Tú Đễ.” Loại nhân nghĩa này cũng là một loại “đặc sản của người Kinh,” và đã được T.S Mạc Văn Trang “nói thẳng” (ruột ngựa) như sau: “Bớt ‘diễn’ đi … cái gì cũng ‘diễn’ thành lố bịch, ấu trĩ, dối trá, đạo đức giả.”

Dân miền núi chúng tôi không biết “bà Tú Đễ” là ai sất, và cũng chả mấy người có khái niệm chi về cái thứ “đạo đức thật/giả” dưới miền xuôi cả. Nói một cách hết sức giản dị, chất phát, và chân thành là chúng tôi chịu hết nổi rồi. Con giun xéo mãi cũng quằn (thôi) nói chi đến con người – dù là người miền núi. Vừa thôi Tám!

Tưởng Năng Tiến

TIẾN SĨ CHO LẮM VÀO!-Thái Bá Tân

Thái Bá Tân

 

Việc tinh giản biên chế

Ở thủ đô chúng ta

Là gần như không thể.

Vì sao? Vì hóa ra

Ta nhiều tiến sĩ quá.

Tiến sĩ cả cấp phường.

Nguyên khí quốc gia đấy.

Không lẽ đuổi ra đường?

Dân ta có cái bệnh

Cứ thích bằng cấp cao.

Bây giờ thì sướng nhé.

Tiến sĩ cho lắm vào!

***

BẢY NGHÌN DÂN, MỘT NGHÌN TIẾN SĨ

Xã Tùng Ảnh, Đức Thọ,

Ở Nghệ Tĩnh quê choa,

Một xã nghèo, đất hẹp.

Chỉ tám trăm héc-ta.

Số dân cũng ít lắm.

Chỉ khoảng bảy nghìn người.

Mà giáo sư, tiến sĩ

Lên tới một nghìn người!

Ấy là nói số lượng

Cả xưa và cả nay.

Từ Cần Vương chống Pháp

Một trăm năm trước đây.

Đúng là vĩ đại thật.

Ra ngõ gặp anh hùng.

Xuống ruộng gặp tiến sĩ.

Điên điên và khùng khùng.

Với một nghìn tiến sĩ

Mà xã bảy nghìn dân,

Vẫn trên răng dưới dép

Và thường xuyên đói ăn.

Ta, giáo sư, tiến sĩ

Nhiều đến thế là cùng

Thế mà đếch làm nổi

Ốc vít cho Samsung.

Thoạt nghe tưởng ghê lắm.

Nhưng bi kịch là đây –

Thích sĩ, thích bằng cấp

Và tự khoe suốt ngày.

Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN nó như thế nào?

Oanh Vy Lý

Nhiều bạn trẻ không hiểu nền kinh tế thị trường định hướng XHCN nó như thế nào thì đây là một mô hình các bạn hình dung dễ hiểu nhất. (hình minh hoạ).

Giống như bạn mở cho Con của bạn một cửa hàng buôn bán,… bán buôn.ế ẩm, thâm vốn, nhưng cuối năm bạn cho thêm nó tiền để nó có lời thì đó là: nền kinh tế gia đình nhưng định hướng gia trưởng

Con bạn vẫn ung dung, tung tăng, tiêu xài… rất thoải mái con bò cái vì có ông chủ gia…. trưởng luôn móc hầu bao lo cho bạn dù việc bán buôn của bạn không hiệu quả….

Tui đã gần 70 chưa thấy có sự đầu tư khởi nghiệp nào mà dễ dàng như vậy

FB HUNG DO

Thua bạc ở Cambodia, Việt kiều Canada vận chuyển ma túy về Việt Nam

Nguồn: Báo Nguoi-viet

May 11, 2023

SÀI GÒN, Việt Nam (NV)  Chu Bá Chung, 39 tuổi, Việt kiều Canada, là một trong số các nghi can xuyên quốc gia vừa bị bắt giữ trong đường dây vận chuyển hàng trăm kg ma túy từ Cambodia về Việt Nam.

Theo báo VNExpress hôm 11 Tháng Năm, đường dây nêu trên đổ bể khi nghi can Trương Ngọc Mai, 26 tuổi, bị bắt trong lúc đang đi giao “hàng” tại quận 5, Sài Gòn, hồi giữa Tháng Chín năm ngoái.

Nghi can Trương Ngọc Mai (áo cam) lúc bị bắt. (Hình: VNExpress)

Khám xét ba thùng giấy được quấn băng keo để trên xe gắn máy của nghi can này, công an phát giác gần 12 kg ma túy loại methamphetamine (ma túy đá).

Tiếp tục khám xét nơi ở của nghi can Mai tại quận 4, công an tịch thu thêm 11.5 kg heroin, 40 kg ma túy đá, 12 kg thuốc lắc và ketamine, máy ép, cân điện tử.

Cùng thời điểm, công an ập vào một căn nhà trên đường Trần Văn Đang, quận 3, một căn chung cư tại quận 8… bắt nhiều người trong đường dây, tịch thu tổng cộng 85 kg ma túy.

Khi đường dây bị bể, Chu Bá Chung lập tức chạy trốn đến thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, nhưng bị bắt vài ngày sau đó.

Lúc bị bắt, nghi can Chung khai hồi đầu năm 2019, thua bạc tại các sòng Cambodia và nợ tiền một người đàn ông chưa rõ danh tính. Do Chung không có khả năng chi trả nên ông này đề nghị nghi can làm đầu mối giao ma túy cho khách tại Sài Gòn, với thù lao từ $100-$200 mỗi chuyến.

Từ đầu năm 2020, mỗi lần Chung nhận chuyển 5-30 kg ma túy đá, ketamine, thuốc lắc… từ đường dây của ông chủ bên Cambodia, vận chuyển về Sài Gòn và giao đến địa điểm được ấn định sẵn.

Để mở rộng hoạt động, Chu Bá Chung thuê Trương Ngọc Mai làm đầu mối tiếp nhận ma túy, sau đó giao đến những đại lý.

Một nghi can khác trong đường dây là Nguyễn Vũ Khải Hoàng, 28 tuổi, khai rằng hồi Tháng Ba năm ngoái, vay 400 triệu đồng ($17,045) của một người tên Thạch chưa rõ lai lịch, với lãi suất cao.

Các gói ma túy tổng hợp là tang vật của vụ án. (Hình: VNExpress)

Do không có tiền trả nợ, Hoàng nhận lời đi xe hơi đến các tỉnh gần biên giới với Cambodia để nhận các lô ma túy mang về Sài Gòn giao cho hai nghi can Chung, Mai để nhận tiền công 100-200 triệu đồng ($4,261-$8,522) mỗi chuyến.

Công An thành phố Sài Gòn được ghi nhận đang mở rộng điều tra vụ án này. (N.H.K) 

HRW đòi trả tự do cho nhà hoạt động Trần Bang

Báo Nguoi-viet

May 11, 2023

SÀI GÒN, Việt Nam (NV)  Một ngày trước phiên tòa xử nhà hoạt động Trần Bang tại Sài Gòn, tổ chức Theo Dõi Nhân Quyền (HRW) phát đi thông cáo báo chí kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam trả tự do cho ông này.

Ông Trần Bang, tên thật là Trần Văn Bang, 62 tuổi, quê huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, được giới xã hội dân sự biết đến với nhiều hoạt động phản đối Luật Đặc Khu và biểu tình chống Trung Quốc. Ông Bang từng phục vụ trong quân đội Việt Nam vào hồi đầu thập niên 1980, và sau khi xuất ngũ thì trở thành kỹ sư thủy lợi.

Nhà hoạt động Trần Bang. (Hình: Facebook Bang Trần)

Thông cáo hôm 11 Tháng Năm dẫn lời ông Phil Robertson, phó giám đốc ban Á Châu của HRW, ghi: “Chính quyền Việt Nam liên tiếp sử dụng Điều 117 Bộ Luật Hình Sự để dập tắt tiếng nói của bất kỳ công dân nào dám sử dụng mạng Internet để phê phán chính quyền hay lên tiếng ủng hộ nhân quyền và dân chủ. Nhà cầm quyền nên lập tức trả tự do cho ông Trần Văn Bang, và hủy bỏ điều luật hà khắc này.”

Theo ghi nhận của HRW, kể từ năm 2018, các tòa án ở Việt Nam đã kết án ít nhất 60 blogger và nhà hoạt động theo Điều 117, và xử họ từ bốn đến 15 năm tù giam. Cũng trong cùng thời kỳ, có ít nhất 13 nhà vận động nhân quyền khác bị kết tội theo Điều 88 cũ, vì hành vi bị coi là vi phạm của họ xảy ra vào thời điểm Điều 88 còn hiệu lực. Những người này đã bị xử từ bốn đến 12 năm tù giam.

Cùng thời điểm, Tiến Sĩ Mạc Văn Trang ở Sài Gòn viết trên trang cá nhân: “‘Tội’ của anh [Trần Bang] chỉ là một trí thức cương trực, một cựu chiến binh đã thể hiện lòng yêu nước quá sôi sục, phê phán những sai trái của nhà cầm quyền quá mạnh mẽ, có thể cực đoan, không khoan nhượng, đúng tính cách của người lính trên trận tuyến. Thấy nói phiên tòa ‘công khai,’ nên tôi sẽ đến dự xem người ta kết án Trần Bang thế nào.”

Ông Trần Bang từng tham gia nhiều hoạt động phản đối Luật Đặc Khu và biểu tình chống Trung Quốc. (Hình: Facebook Bang Trần)

Trước khi bị bắt vào Tháng Ba năm ngoái, sức khỏe của ông Trần Bang suy giảm, vì vậy ông đã chấm dứt mọi hoạt động để tập trung chữa bệnh.

Hồi Tháng Mười Một cùng năm, Đài RFA dẫn lời người nhà ông Trần Bang từ trại tạm giam cho biết ông mong muốn được đi khám khối u ở bệnh viện và đã viết di chúc đề gửi gia đình. (N.H.K)

Hun Sen là ai?

Báo Tiếng Dân

Trần Trung Đạo

11-5-2023

Bộ sưu tập đồng hồ đắt tiền của Hun Sen. Ảnh trên mạng

Đêm 5 tháng 8, 1952, một đứa bé ra đời tại làng Peam Koh Snar thuộc tỉnh Kampong Cham, phía đông sông Mekong. Đứa bé được đặt tên là Hun Bunall. Tên của cậu được thay đổi nhiều lần và lần cuối được đổi thành Hun Sen khi cậu ta gia nhập du kích Cộng Sản Cambodia năm 1970.

Ngày 14 tháng 4, 1970, Hun Sen gia nhập Mặt Trận Đoàn Kết Dân Tộc Cambodia (National United Front of Cambodia) thường được viết tắt là FUNK để chống lại chính phủ Lon Nol thân Mỹ.

Năm 1974, Hun Sen chỉ huy một đơn vị với quân số khoảng hai ngàn. Trong thời gian này ông ta biết lãnh đạo thực sự của phong trào FUNK không phải là Sihanouk mà là Pol Pot. Chức vụ chính thức của Hun Sen là Tham Mưu Trưởng trung đoàn và năm 1977 được phong lên chức Trung đoàn phó. Theo lời Hun Sen ông ta đã sử dụng đơn vị này tấn công Lon Nol và sau đó tấn công Khmer Đỏ.

Lúc 2 giờ sáng ngày 20 tháng 6, 1977, Hun Sen và một số chỉ huy của trung đoàn đào thoát sang Việt Nam.

Sau khi Pol Pot bị lật đổ, Hun Sen, 26 tuổi và chưa xong bậc trung học, được CSVN chọn làm Bộ trưởng Ngoại giao trong chính phủ Heng Samrin. Tại tuổi 33, Hun Sen là thủ tướng trẻ nhất không chỉ riêng Cambodia mà cả thế giới trong thời điểm đó.

Trong cuộc bầu cử 1993, Hun Sen thất cử trước đối thủ Norodom Ranariddh nhưng ông ta không chịu nhường quyền. Hun Sen và Hoàng thân Norodom Ranariddh chia sẻ quyền lực cho tới 1997.

000_P88U2.jpg

Bằng một biến cố bạo động, Hun Sen lật đổ Norodom Ranariddh.

Sau thời gian lưu vong, Norodom Ranariddh về ứng cử lần nữa. Trong cuộc bầu cử 1998, Hun Sen thắng cử. Norodom Ranariddh giữ chức vụ Chủ tịch Quốc Hội nhưng Hun Sen nắm chặt quyền hành thủ tướng từ đó đến nay.

Mặc dù ít học, năm 1991, Hun Sen đã trình luận án tiến sĩ dày 172 trang “Các đặc điểm chính trị tại Cambodia” tại Học Viện Chính Trị Quốc Gia, Việt Nam.

Vợ của Hun Sen là bà Bun Rany, người Cambodia gốc Quảng Đông, Trung Hoa, sinh năm 1954. Sau khi Sihanouk bị lật đổ, bà bí mật tham gia FUNK và được Khmer Đỏ huấn luyện về y tế. Năm 1974, bà là giám đốc một bịnh viện Khờ Me Đỏ và tại đây bà gặp Hun Sen. Mối tình đẹp nảy nở trong bịnh viện. Họ cưới nhau đầu năm 1976 dù khi đó chàng thanh niên Hun Sen 24 tuổi đã bị mù một mắt.

Lý lịch của Hun Sen cũng giống như các lãnh đạo CS thay đổi tùy theo thời thế. Một số nghiên cứu cho rằng ông ta tham gia Khmer Đỏ khá sớm, khoảng 1967, nhưng Hun Sen phủ nhận và tự khai chỉ gia nhập vào năm 1970 đáp lời kêu gọi của Quốc vương Norodom Sihanouk. Giống như nhiều lãnh đạo Cambodia có quá khứ Khmer Đỏ khác, Hun Sen cố tình che giấu lý lịch CS của mình càng nhiều càng tốt.

Luật sư Brad Adams, Giám đốc Khu vực Á châu của Human Rights Watch, nhận xét Hun Sen là một kẻ có bản chất độc tài thô bạo không khác gì các nhà độc tài trong cùng “câu lạc bộ 10 ngàn”, ám chỉ một nhóm gồm những nhà độc tài thông qua bạo động, kiểm soát an ninh, dựa vào sự yểm trợ từ nước ngoài để kéo dài quyền lực cai trị trên 10 ngàn ngày.

Sau sự sụp đổ của hàng loạt các nhà độc tài tại Tunisia, Ai Cập, Libya và Yemen, Hun Sen là một trong số rất ít hội viên của “câu lạc bộ 10 ngàn” còn nắm được quyền hành.

Tên danh dự của Hun Sen là Samdech Akeak Moha Sena Padei Techo Hun Sen dài không thua gì tên danh dự của nhà độc tài khát máu nhất Congo là Mobutu Sese Seko Nkuku Ngbendu wa Za Banga.

Khi được hỏi liệu ông ta có lo ngại sẽ bị lật đổ như các nhà độc tài Tunisia, Egypt, Libya, máu Khmer Đỏ trong người sục sôi lên và Hun Sen trả lời: “Tôi chẳng những làm suy yếu đối phương mà còn tận diệt chúng… Nếu kẻ nào nghĩ mình đủ mạnh để biểu tình, tôi sẽ đánh gục bọn chó đó và nhốt chúng vào trong cũi”.

Hun Sen không chỉ đe dọa thôi nhưng trong quá khứ ông ta đã trấn áp đối lập một cách thô bạo nhiều lần.

Trong năm 1991, khi các đại diện Liên Hiệp Quốc vào Cambodia tổ chức tuyển cử, Hun Sen đã ra lịnh cho an ninh dưới quyền tàn sát trên 100 đảng viên của một đảng đối lập ngay trước mắt của phái đoàn Liên Hiệp Quốc.

Một lần khác, vào năm 1997, Hun Sen ra lịnh cho cận vệ tấn công bằng lựu đạn vào một buổi họp của lãnh tụ đối lập Sam Rainsy làm 16 người chết và hơn 150 người bị thương. Cũng trong năm 1997, lo ngại bị thất cử, Hun Sen tổ chức đảo chánh chống lại đảng Hoàng gia mà ông ta đã liên minh. Hàng trăm người bị bắt và bị giết. Các nhân viên Liên Hiệp Quốc khi đào xác lên đã khám phá phần lớn đã bị bắn vào đầu trong lúc đang bị còng tay và bị bịt mắt. Những hình ảnh đó gợi lại cảnh tượng kinh hoàng của thời Pol Pot.

Bốn cựu quan chức CNRP được trả tự do khỏi nhà tù Prey Sar ở Phnom Penh lúc 7:00 tối Thứ Sáu, ngày 15 tháng 11 năm 2019. (Ảnh do Ma Chettra cung cấp)

Bốn cựu quan chức CNRP được trả tự do khỏi nhà tù Prey Sar ở Phnom Penh lúc 7:00 tối Thứ Sáu, ngày 15 tháng 11 năm 2019. (Ảnh do Ma Chettra cung cấp)

Đối với các thành phần tàn dư Khmer Đỏ, Hun Sen khuyến khích các lãnh đạo cao cấp đầu hàng. Với quân số 50.000 thời Pol Pot, Khmer Đỏ chỉ còn lại khoảng 1.000 vào năm 1997. Khieu Samphan và Nuon Chea đầu hàng vào tháng 12, 1998. Hun Sen ân xá cho Ieng Sary.

Hun Sen và Trung Cộng

Nhiều người cho rằng Hun Sen ngã về phía Trung Cộng mới đây. Điều đó không đúng. Khuynh hướng thân Trung Cộng của Hun Sen bắt đầu sau cuộc đảo chánh đẫm máu 1997.

Cuộc đảo chánh đã làm ông ta mất uy tín trong các lãnh đạo các quốc gia dân chủ Tây phương. Nhiều quốc gia đã ngưng viện trợ cho chính phủ Hun Sen hay tiếp tục viện trợ nhưng đưa ra các điều kiện phải tôn trọng nhân quyền.

Giống như Pol Pot trước đây, Hun Sen không còn đường nào khác ngoài việc đi tìm sự ủng hộ từ phía Trung Cộng.

Dĩ nhiên giới lãnh đạo Trung Cộng nắm bắt cơ hội ngàn vàng này. Từ năm 1997 đến năm 2005, Trung Cộng cung cấp cho chính quyền Hun Sen 600 triệu dollar qua đầu tư, viện trợ không hoàn lại, hủy bỏ nợ đến thời hạn trả. Từ năm 2000, hàng loạt lãnh đạo cao cấp Trung Cộng lần lượt viếng thăm Cambodia.

Đáp lại, trong cùng thời gian, Hun Sen đã thăm viếng Trung Cộng tất cả 6 lần. Hun Sen từng tuyên bố “Trung Quốc nói ít làm nhiều”. Viện trợ của Trung Cộng không đặt ra các điều kiện nhân quyền trong khi nhân quyền lại là tiền đề thảo luận với các nước dân chủ.

Trong bang giao quốc tế, chế độ Hun Sen nhiệt tình ủng hộ các chính sách của Trung Cộng qua việc ngăn cấm các viên chức trong chính quyền Cambodia thăm viếng Đài Loan. Ông ta còn họa theo Trung Cộng khi lên tiếng kết án Mỹ trong vụ máy bay Mỹ ném bom lầm xuống tòa đại sứ Trung Cộng tại Belgrade năm 1999.

Trong lãnh vực quân sự, Trung Cộng lần nữa đóng vai trò yểm trợ tích cực như đã từng làm đối với chế độ Pol Pot.

Từ sau cuộc đảo chánh của Hun Sen năm 1997, Trung Cộng đã gởi các trang bị quân sự cho cánh Hun Sen, xây dựng các doanh trại quân đội, sửa chữa phi trường Kampong Chhnang. Hàng năm đưa 40 sĩ quan trong quân đội Cambodia sang Trung Cộng huấn luyện. Năm 2011, Trung Cộng cho Cambodia vay 195 triệu Dollar để mua một số lượng máy bay trực thăng không được tiết lộ của Trung Cộng. Tháng Tám 2012, Trung Cộng viện trợ quân sự cho Cambodia thêm 19 triệu dollar và sẽ giúp xây dựng các bệnh viện quân đội, trung tâm huấn luyện cho đạo quân 140 ngàn của Hun Sen.

Đầu năm 2023, Hun Sen thăm Trung Cộng. Trong dịp này, Tập Cận Bình cam kết “ủng hộ Cambodia bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia, kiên quyết ủng hộ Cambodia trong việc thúc đẩy đều đặn các chương trình nghị sự chính trị lớn trong nước và phát triển kinh tế xã hội, đồng thời kiên quyết phản đối các thế lực bên ngoài can thiệp vào công việc nội bộ của Cambodia”.

Về phía Hun Sen, ông ta khẳng định sự ủng hộ chính sách “Một Trung Quốc” của Trung Cộng.

Năm 2022, trong cương vị Chủ tịch ASEAN, Hun Sen lại một lần nữa chống lại việc ASEAN ra một thông báo chung phê bình chủ trương quân sự hóa Biển Đông của Trung Cộng.

Đối với nội bộ Cambodia, càng đóng vai trò độc lập với CSVN bao nhiêu, Hun Sen, người vẫn còn bị phe đối lập tại Cambodia tố cáo là bù nhìn Việt Nam, càng được sự ủng hộ của nhân dân Cambodia bấy nhiêu.

Thế hệ Cambodia được CSVN cứu sống năm 1979 đã già và nhiều trong số họ đã chết. Thế hệ trẻ lớn lên chỉ biết đến Việt Nam là kẻ thù truyền thống của dân tộc Khmer.

Lời tuyên bố của Hun Sen về cuộc tranh chấp Biển Đông giống như trích nguyên văn từ bản tuyên bố của Trung Cộng: “Cuối cùng đó không phải là vấn đề đối với toàn bộ ASEAN. Nó là vấn đề song phương giữa các nước liên quan mà họ cần phải nói chuyện với nhau”.

“Thảo luận song phương” là chủ trương của Trung Cộng từ khi cuộc tranh chấp mới bắt đầu nhiều năm trước.

PM: ‘I will not chair ASEAN for a fourth time’ | Phnom Penh Post

Nhiều bình luận từ phía Việt Nam có phần trách Hun Sen đang tâm phản bội những kẻ đã từng cứu vớt, bảo bọc và đưa y lên tột đỉnh danh vọng và quyền lực như hôm nay. Chính Hun Sen cũng thừa nhận, không có CSVN, không những con mắt trái mà cả mạng sống của ông ta chưa chắc đã còn.

Nhưng ngọn gió quyền lực và danh lợi đang thổi về hướng Bắc. Đối với Hun Sen việc chọn lựa đi theo Trung Cộng không chỉ vì quyền lợi quốc gia mà còn giữ được cả tài sản kếch xù ăn cắp từ máu xương của đồng bào ông ta suốt 38 năm qua.

Không có chỗ cho các yếu tố đạo đức, ơn nghĩa trong bàn cờ chính trị. Hơn ai hết Hun Sen biết chính bản thân y trước đây khi được đặt vào chức Bộ trưởng Ngoại giao ở tuổi 26 cũng chỉ là con cờ chính trị của CSVN mà thôi. Thời thế đã đổi thay và con người chính trị của ông ta thay đổi theo thời thế.

Sự kiện quân đội Trung Cộng đồn trú tại căn cứ hải quân Ream Naval Base thuộc lãnh thổ Cambodia trên Vịnh Thái Lan (Gulf of Siam) là một mối đe dọa trực tiếp cho sự ổn định trong khu vực Thái Miên Việt cũng như cả Biển Đông.

CẢNG QUÂN SỰ REAM NAVAL BASE

Trung Cộng với một giọng điệu cố hữu là bác bỏ nhưng các không ảnh cho thấy các cơ sở được xây dựng trước đây do hợp tác với Mỹ từ năm 2010 đã bị phá hủy và các cơ sở mới đang được xây.

Theo nhiều nguồn tin, năm 2017 một hiệp ước bí mật giữa Hun Sen và Tập đã được ký kết, qua đó, Trung Cộng có quyền sử dụng căn cứ Ream Naval Base ba chục năm. Hun Sen từ chối yêu cầu của Mỹ được vào xem tận mắt căn cứ.

Tại Hội Nghị về Tương Lai Á Châu Hun Sen phát biểu: “Thành thật mà nói, nếu không phải Trung Quốc tôi có thể dựa vào ai khác? Hãy nói thật”.

Cambodia's Hun Sen has an important election backer: China - Reuters

Khi đứng về phía Trung Cộng, Hun Sen được nhiều mối lợi:

  1. Giảm được áp lực trong thành phần Cambodia quá khích đang khai thác xung đột lịch sử giữa Việt Nam và Cambodia từ thời nhà Nguyễn, và kết án y chỉ là bù nhìn của CSVN.
  2. Trung Cộng sẽ gia tăng viện trợ kinh tế và tiếp tục là nước có quan hệ kinh tế thương mại lớn nhất với Cambodia.
  3. Bảo vệ được chiếc ghế thủ tướng, quyền lợi, tài sản mà luật sư Brad Adams thuộc tổ chức Human Rights Watch và Global Witness đã ước tính lên đến 500 triệu đô la.
  4. Trung Cộng bao vây Việt Nam từ hướng đông và dùng tiền để mua chuộc Cambodia bao vây Việt Nam từ hướng tây. Trong một xung đột võ trang, Việt Nam phải đương đầu với hai kẻ thù có tinh thần dân tộc quá khích vô cùng nguy hiểm.

Nhưng Hun Sen cũng biết khôn ngoan trước thời cuộc quốc tế và sợ mất lòng Mỹ. Hun Sen chọn phỏ phiếu ủng hộ Ukraine “đòi Nga rút ngay lập tức, hoàn toàn và vô điều kiện tất cả các lực lượng quân sự của mình khỏi lãnh thổ Ukraine trong các biên giới được quốc tế công nhận” trong nghị quyết quan trọng của Đại Hội Đồng LHQ ngày 2 tháng 3, 2022 nhưng chọn bỏ phiếu trắng trong nghị quyết ít quan trọng hơn loại Nga ra khỏi Hội Đồng Nhân Quyền LHQ ngày 7 tháng 4, 2022.

Với chọn lựa này, Hun Sen muốn nói lớn cho Mỹ nghe rằng (1) Cambodia không tham khảo Tập Cận Bình trước khi bỏ phiếu; (2) Cambodia chưa quên vai trò chính yếu của Mỹ trong công cuộc phục hồi Cambodia sau thời kỳ Pol Pot diệt chủng; (3) Cambodia nhận thấy vai trò mới của Mỹ trong bàn cờ chính trị thế giới, nhất là Á Châu và muốn có một sự cân đối trong mặt trận ngoại giao trong thời gian tới

PM’s visit to US embassy seen as a turning point in relations | Phnom ...

Sau cuộc bầu phiếu tại Liên Hiệp Quốc, tòa đại sứ Mỹ tại Cambodia ghi nhận lãnh đạo Cambodia đã có lập trường cứng rắn chống lại hành động xâm lược Ukraine của Nga. Tháng 12, 2022, Hun Sen viếng thăm tòa đại sứ Mỹ tại Nam Vang lần đầu tiên. Không có thù vặt trong chính trị. Quan hệ giữa hai quốc gia không chỉ đặt cơ sở trên quyền lợi chung mà còn trên quan điểm của mỗi quốc gia trước một vấn đề chung.

Mặc dù ghi nhận sự đóng góp của Hun Sen, cho tới nay các chính phủ Mỹ vẫn xem Hun Sen như là một lãnh đạo độc tài có mối quan hệ mật thiết với Trung Cộng.

Hun Sen tham nhũng

Vi trùng tham nhũng sinh sản rất nhanh trong các chế độ độc tài, nơi quyền lực tập trung trong tay một nhóm nhỏ người nắm quyền cai trị. Tham nhũng là một trong những căn bịnh đang đè nặng lên xã hội Cambodia và gia đình bị tố cáo tham nhũng nhiều nhất là Hun Sen. Mặc dù chỉ làm việc cho chính phủ trong suốt 38 năm, gia đình Hun Sen có một đời sống sung túc hơn bất cứ người dân Cambodia nào.

Sở thích của Hun Sen là sưu tập đồng hồ. Những đồng hồ ông ta đeo nhìn thấy được qua ảnh trị giá vào khoảng 13 triệu dollar. Chẳng hạn, một Patek Philippe Grandmaster Chime 5175 trị giá khoảng 2.700.000 dollar trong lúc vợ ông đeo chiếc đồng hồ Richard Mille RM037 trị giá 270.000 dollar. Hun Sen không che giấu sở thích đeo đồng hồ quý hiếm. Điều đó không sao nhưng tiền đâu để mua khi lương thủ tướng của Hun Sen là 1.150 dollar một tháng nếu không phải tiền do tham nhũng tích tụ được sau 38 năm cầm quyền.

Theo lời của luật sư Brad Adams thuộc tổ chức Human Rights Watch, mười năm trước, một viên chức Bộ ngoại giao Mỹ đã tiết lộ cho ông biết tài sản của Hun Sen được ước lượng vào khoảng 500 triệu Dollar. Không ai biết chính xác giá trị bất động sản và dự trữ dollar, vàng bạc của Hun Sen và gia đình tại các ngân hàng ngoại quốc hiện nay.

Không có CSVN, Hun Sen không chỉ mù một mắt mà đã mồ hoang mả lạnh từ lâu rồi, nhưng với bản chất bạo động, háo danh, tham vọng quyền lực sẵn có của người cựu Khmer Đỏ, Hun Sen rất dễ dàng bị Trung Cộng khích động và mua chuộc.

Tất cả những oan nghiệt đó, dùng chữ của Hun Sen trong luận án tiến sĩ chính trị của ông ta, chỉ vì cùng “từ một bào thai” CS.

_____

Tham khảo:

– Mehta, Harish C, Hun Sen: strongman of Cambodia, Singapore, 1999

– Extraordinary Chambers in the Courts of Cambodia, the United Nations.

– Frank Dikotter, Mao’s Great Famine, Walker & Company 2010

– Ian Storey, China’s Tightening Relationship with Cambodia, The Jamestown Foundation.

– Behind the Bamboo Curtain: China, Vietnam, and the World beyond Asia, edited by Priscilla Roberts, tr. 260, 393-394, Stanford University Press 2007

– Ezra F. Vogel, Deng Xiaoping and the Transformation of China, Harvard University/Belknap Press 2010, tr. 283.

– Philip Short, Pol Pot: Anatomy of a Nightmare, Macmillan, 2006, tr. 389

– Francis Deron, Several Improper Connections in Matters of Massacre: China, Cambodia, Indonesia, Monde Chinois, 2008.

– Xiaobing Li, China at War: An Encyclopedia, ABC-CLIO LLC, 2012

– Daniel Southerland, Uncounted Millions: Mass Death in Mao’s China, Washington Post, July 17, 1994- Brad Adams, 10,000 Days of Hun Sen, The New York Times, May 31, 2012

– Russell D. Howard, The Chinese People’s Liberation Army: “Short Arms and Slow Legs”, USAF Institute for National Security Studies 1999- Cambodian Genocide Program, Yale University

– Vũ Cao Đàm, Bài học đáng giá từ Luận án Tiến sĩ của Thủ tướng Cambodia Hun Sen, Bauxite Việt Nam, 14-8-2012

– Trần Trung Đạo, Chu kỳ thù hận Việt-Trung-Miên, Chính Luận, Cổ Loa, Boston, Hoa Kỳ 2014

Bao năm giải phóng như thế này phải không anh…?

Lmdc Viet Nam

48 năm rồi từ sau ngày 30.4.75 người Việt vẫn tiếp tục vượt biên.

‘Ngàn dặm trần ai’ của lao động bất hợp pháp người Việt ở Đài Loan

Câu thơ trong ‘Stopping by Woods on a Snowy Evening’ cũng là nhan đề phim tài liệu về lao động Nguyễn Quốc Phi, (1990 – 2017) người đã chết sau khi bị cảnh sát Đài Loan bắn chín phát đạn vào năm 2017.

‘And Miles to Go Before I Sleep’, tạm dịch ‘Ngàn dặm trần ai’ của đạo diễn Đài Loan Thái Sùng Long (Tsai Tsung-lung) đã đoạt giải phim tài liệu xuất sắc nhất tại Liên hoan phim Kim Mã lần thứ 59 (năm 2022).

Trả lời phỏng vấn BBC News Tiếng Việt, đạo diễn Thái Sùng Long cho biết ông muốn làm phim để cho “thấy điều gì sai đã xảy ra và Nguyễn Quốc Phi không đáng chết.”

“Đây không phải là một vụ riêng rẽ, mà mang tính điển hình cho thấy lỗi hệ thống của Đài Loan đối với người lao động nhập cư. Lao động nhập cư không có làm hại gì, chỉ là trần truồng ngay trước mặt họ, không có vũ khí, thế mà cảnh sát lại nghĩ họ như một con quái vật. Thế là thảm kịch đã xảy ra.”

Linh mục Nguyễn Văn Hùng, người từ nhiều năm nay từng giúp đỡ cho cộng đồng người Việt tại Đài Loan xác nhận với BBC News Tiếng Việt về tuyến đường từ Việt Nam đi qua ngả Trung Quốc.

Ông cho biết một số lao động Việt Nam đã ra đi ‘trót lọt’ đến Đài Loan nói với ông rằng họ “đi vượt biển từ tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc)”.

“Hiện có nhiều đường đi, từ miền Trung gồm Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, họ sẽ đi xe buýt đến cửa khẩu, rồi từ đó có người đón,” Linh mục Hùng nói.

“Họ phải leo núi nữa, rất nguy hiểm, và phải mất thời gian rất lâu.”

“Sau khi leo núi, họ đến được Trung Quốc thì bên đó có đường dây, đưa về một địa điểm. Khi chồng đủ tiền thì họ đưa những người này đi bằng ghe, tàu sang Đài Loan.”

“Những người muốn đi chỉ trả một số tiền, rồi ngồi trên ghe. Sau đó có tàu chở ra biển và có ghe từ Đài Loan ra nhận. Nếu xuôi lọt thì không sao, nếu không thì họ phải xuống biển để bơi,” Linh mục Nguyễn Văn Hùng cho biết thêm.

“Từ các tỉnh như Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình qua Trung Quốc rất gần. Những ngả đường mà họ đi leo núi sang Trung Quốc cũng đã có nhiều người đi rồi. Thành thử ra người trước nói với người sau. Ngoài ra họ có đường dây tổ chức nên có những chuyến đi thành công rồi, như ngày 14/04 cũng có một nhóm người vượt biên từ Việt Nam, và bị bắt. Những người này cũng đi tuyến đường vượt biên qua ngả Trung Quốc.”

“Đa số người vượt biên đi bằng tàu, sau đó một số tàu cập bến, một số tàu sẽ không cập bến. Một số sẽ có thuyền cao su đến rước người vượt biên, hoặc có khi cách bờ 1, 2 km họ sẽ thả người vượt biên xuống để họ tự bơi vào bờ.”

Nhiều người vẫn tiếp tục bất chấp vượt biển ra đi từ Việt Nam vì đời sống khó khăn nơi quê nhà, Linh mục Hùng nói. Chi phí cho một hành trình như vậy là vào khoảng 200 triệu đồng, và đây được coi là tuyến đường dễ đi nhất.

TL BBC

ĐỂ TANG CHO SÁCH – Tạp bút của Khuất Đẩu

 Pham Mylan

Bài viết thật hay,
Thoảng gió heo may.
Thấm vào da thịt,
Hồn quanh chốn này!
 
Chiến dịch đốt văn hóa phẩm “độc hại” của Cộng Sản sau ngày mất nước.

Tạp bút của Khuất Đẩu

Bà tôi thường than thở, hết một nửa cơ nghiệp của nhà này đã tan tành theo sách. Một nửa cơ nghiệp là cho to, cho xứng với nỗi đau tiếc của bà, chứ thực ra chỉ vài trăm cuốn sách của ông tôi thôi.

Có điều, đó không phải là những quyển sách bèo nhèo giấy rơm thô kệch, đang tràn ngập trong các hiệu sách, trong trường học và trong thư viện. Chưa nói tới nội dung, chỉ mới lật qua vài trang mờ nhoẹt vàng đục với những con chữ ốm o đói khát như những người bị sốt rét rừng là đã thấy chán lắm rồi.

Sách của ông tôi, bạn chỉ ngắm không thôi cũng đã thấy thích. Những cuốn tự điển của Pháp, của Việt, thư pháp của Trung Hoa, những sách thuốc, sách khoa học, những bộ tiểu thuyết của các nhà văn danh tiếng, những sách học làm người, những sách triết… đứng sát bên nhau, phơi cái gáy mạ vàng như cả một đội ngự lâm quân thông thái và oai vệ. Trang nghiêm nhưng không lạnh lẽo, bọn họ là thầy là bạn của ông tôi. Và vì vậy, bạn cũng như tôi chỉ được phép đứng nhìn mà thôi.

Ông tôi là một người mê sách (cũng lại là cách nói vừa tấm tức vừa giận hờn của bà), mê hơn cả vợ con. Nếu bảo rằng “thư trung hữu nữ nhan như ngọc”, thì ông tôi tuy đã già nhưng lại có đến những mấy trăm người đẹp như các vua chúa ngày xưa, nên bà tôi “ghen” cũng phải.

[Review ️] Vì Sao Nên Mua Sách Cũ Để Đọc ? | Sachxua.vn

Ông mê sách như người mê đồ cổ. Nghe ở đâu có sách quý là ông tìm tới dù có phải tốn kém tàu xe và phải bỏ ra cả một món tiền lớn để “rước” người có nhan như ngọc đó về, ông cũng dám chơi một phen cho thỏa chí. Như cuốn Tự vị của Paulus Của, nghe đâu như là ấn bản đầu tiên của một ông cụ nào đó bắc bực làm cao đến tận giời, ông tôi đã phải lặn lội vào tận xứ Thủ Dầu Một xa lắc xa lơ để mua cho bằng được. Công cuộc mua quyển sách đó, chẳng những khiến ông mất đến mấy cây vàng mà còn ốm một trận thừa sống thiếu chết.

Cuốn sách cũ đến nỗi như đã ngàn năm tuổi. Còn hơn một người chơi đồ cổ, ông tôi lại phải tốn thêm một món tiền và nhất là tốn rất nhiều thì giờ để nài nỉ và kiên nhẫn ngồi chờ anh thợ đóng sách đóng lại giùm.

Lúc này quyển sách đối với ông như một con bệnh thập tử nhất sinh và anh thợ đóng sách cứ như một bác sĩ. Khi anh thợ tháo bung sách ra, ông đau nhói như thể gan ruột của mình cũng bị lôi ra như thế. Ông hồi hộp theo dõi từng mũi chỉ khâu, nín thở xem anh ta cắt xén, làm bìa. Cho đến khi sách được làm mới một cách khỏe mạnh, xinh đẹp, ông ôm quyển sách trước ngực như một người mẹ ôm đứa con bé bỏng vừa được bác sĩ cứu sống. Ông hết lời cảm ơn anh ta, đưa cho anh một tờ tiền lớn và hào phóng không nhận tiền thối lại. Đem quyển sách về nhà, ông lại mất cả buổi ngồi ngắm đến nỗi quên cả bữa cơm khiến bà tôi phải giục.

Đó là với những sách cũ quý hiếm. Còn sách mới, ông lại “phá của” một cách không giống ai. Sách nào ông cũng phải mua đến những hai quyển, một để đọc và cho mượn, một để nguyên không đụng tới.

List Địa Chỉ Tiệm Sách Cũ Lớn Ở Tphcm, Điểm Tên Những Hiệu Sách Cũ

Những quyển sách để nguyên ấy nằm im trong tủ kính, mỗi lần mở ra là thơm nồng mùi giấy mới và mực in. Đối với ông, đó là một mùi thơm huyền hoặc đầy quyến rũ và mê đắm như những người nghiện nghe thấy mùi thuốc phiện. Chẳng những chỉ mùi thơm trinh nguyên không thôi, quyển sách vẫn còn trinh trắng khi hãy còn những lề chưa rọc.

Học cách người xưa, không để của cải cho con cháu mà để sách, nên giá như có phải vì thế mà tiêu hết cả cơ nghiệp, ông tôi cũng không tiếc. Chỉ có một điều khiến ông băn khoăn, ấy là trong đám con cháu thực sự chưa có một người nào đủ để ông tin tưởng.

Gạt hết những đứa chỉ biết có nhà to xe đẹp, những đứa chỉ biết vung tiền trong các cuộc ăn chơi, suốt một đời chưa đụng tới một quyển sách nào, những đứa mà ông bảo là trong đầu toàn chứa những thứ vớ vẩn nếu không muốn nói là hôi thối ấy, còn lại chỉ vài đứa có để mắt tới sách, nhưng với một thái độ hờ hững, một đôi khi thô bỉ xúc phạm đến sách.

Ông ghét nhứt ai đó đọc sách mà miệng cứ nhai nhồm nhoàm, vừa đọc vừa tán chuyện, bạ chỗ nào cũng đọc ngay cả trong nhà cầu. Đang đọc mà có ai ới lên một tiếng là ném ngay cái xạch sau khi đã tàn nhẫn xếp lại một góc để làm dấu, rồi bỏ đi mà không cần biết tới quyển sách có thể bị ướt, bị bẩn hay bị cháy.

Ông cũng không chịu được cái cách lật sách thô bạo bằng cả bàn tay úp lên trang giấy hay thấm nước bọt trên đầu ngón tay. Đó là cách cư xử của kẻ phàm phu tục tử, của phường giá áo túi cơm. Lật sách mà như thế có khác gì sàm sỡ nếu không muốn nói là cưỡng bức. Phải lật như những nhà sư nâng nhẹ một trang kinh hay là như khẽ lay một người đẹp đang ngủ.

Đối với ông, đọc sách là để được tiếp cận với những tâm hồn ngoại hạng, cho nên trước hết phải tắm rửa sạch sẽ, ăn mặc chỉnh tề, phải “dọn mình”như con chiên quỳ trước Chúa, như nhà sư đảnh lễ trước bàn thờ Phật. Chẳng những sạch ở phần xác mà còn sạch cả phần hồn. Nghĩa là không để những giận hờn phiền muộn hay những ý nghĩ ô trọc dính bám cho dù chỉ một tí trong đầu.

Chỉ đọc trong lúc thanh tịnh giữa khuya hay khi gần sáng tinh mơ. Đọc với hương trầm cộng với mùi hương ngai ngái của giấy mực, hương của sương đêm loáng thoáng hay hương của nước mưa mát dịu. Đọc là mở hồn ra để hơi thở của sách ùa vào căng buồm lên cho con thuyền bé nhỏ của mình được dọc ngang trên biển học mông mênh.

Thư Viện Quốc Gia | Du lịch Hoàn Kiếm | Dulich24

Đương nhiên là ông tôi khó tính nhất nhà. Cái viện sách bé nhỏ của ông là một nơi khả kính, thâm nghiêm như một ngôi đền không một ai ngay cả bà tôi dám động tới. Bảy mươi năm sống trên đời của ông thì hết một nửa là ở trong cái gian phòng đựng đầy sách với mùi hương và sắc màu của những tâm hồn kỳ vĩ.

Dạo ấy, mặc dù được cưng chiều và rất có triển vọng được ông tin tưởng, tôi cũng chưa được một lần đọc một quyển sách nào trong tủ sách ấy. Ông bảo tôi chưa đủ tuổi và chưa học được cách nâng niu gìn giữ theo cách gần như tôn thờ, thì đọc chẳng ích lợi gì mà còn “giết” sách. Theo ông, đọc vì tò mò, đọc như “lua cơm”, đọc như ngốn ngấu thì cả đầu óc mình chỉ là một bãi hoang chứa đầy những xác chết của sách bị vất ngổn ngang mà thôi. Đọc là phải ngấm từng chữ từng câu, phải để nó bén rễ trong đầu mới có thể thành cây cho trái ngọt.

Năm tháng qua đi, ông tôi âm thầm làm một cuộc chuyển giao lặng lẽ. Tiền bạc trong nhà cứ cạn dần nhưng sách của ông lại đầy lên, phải đóng thêm tủ kê thêm kệ.

Cô chú tôi biết ý ông, nên mừng tuổi không bằng trà ngon rượu bổ, mà bằng những phong bì ít nhất cũng đủ cho ông mua được một hai quyển sách. Những lúc ấy ông vui như một đứa trẻ lên năm được nhận tiền lì xì. Rồi ông đi ra tiệm sách, khệ nệ ôm về những chồng sách mà ông ao ước nhưng chưa đủ tiền mua. Ông ve vuốt từng cái bìa, ngắm nghía từng con chữ, đê mê những sách của Lá Bối, An Tiêm, mơ màng với những tác giả Saint Exupéry, Bùi Giáng… Giá như ông sống đến một trăm tuổi và giá như ông còn có đủ tiền thì cái viện sách của ông sẽ kín đặc những sách. Ông sẽ ngồi giữa những bức tường dày cộm thơm tho đó như một anh lính già đang tử thủ trong một cái lô cốt văn hóa.

***

Sau tháng tư năm ấy, cái tháng tư mà dù nằm dưới mộ sâu ông vẫn còn đau đớn, những cuốn sách của ông tưởng sẽ sống đến ngàn năm đã bị bức tử một cách oan nghiệt. Khi người ta đội lên đầu những quyển sách của ông, có những quyển già như một ông tiên đầu bạc, có những quyển xinh tươi như những thiếu nữ trẻ trung, những chiếc mũ có tên là “nọc độc”, là “đồi trụy”, là “phản động” thì hơn ai hết ông hiểu đó là một lời tuyên án tử hình.

Ông suy nghĩ lung lắm, không phải để tìm cách chôn giấu hay tẩu tán. Mà suy nghĩ làm sao để chọn cho sách một cái chết xứng đáng với lòng tin yêu và kính trọng của ông.

Một đêm thức trắng.

Rồi hai đêm thức trắng.

Ngày thường ông bình tĩnh là thế nhưng lúc này, ông bối rối run rẩy. Có lúc mặt ông đỏ bừng và mắt ông lóe lên những tia lửa căm hờn. Cả nhà chẳng ai dám hỏi nói gì với ông. Giống như một con sư tử già bị săn đuổi cùng đường, lâu lâu ông lại gầm lên một cách tuyệt vọng.

Cuối cùng ông đã chọn cho mấy trăm cuốn sách một cái chết dũng cảm. Đó là chính ông tự mình đốt sách.

Một quyết định cháy lòng.

Tôi cũng được dự phần trong cuộc hỏa thiêu đau đớn ấy, bằng cách giúp ông bê hết sách ra sân. Dù đem đi đốt nhưng ông không cho phép tôi làm rơi rớt xuống đất, không được nặng tay, mà phải sẽ lén nhẹ êm như đang bồng một em bé say ngủ. Phải rồi, những cuốn sách của ông cũng đang say ngủ. Đánh thức chúng dậy, ông sẽ không chịu nổi những tiếng khóc mà chỉ riêng ông mới nghe được mà thôi.

Sách được xây thành một cái tháp quanh những thanh củi chẻ nhỏ. Ông không muốn đốt chúng bằng xăng hay dầu. Ông lại càng không muốn xé sách ra từng mảnh nhỏ để đốt.

Một người coi sách là sinh vật sống, để cả đời nâng niu bồng ẵm, vậy mà phải giết do chính bàn tay của mình, bạn phải biết là ông tôi đã đau khổ đến nhường nào.

Đó là một đêm tháng năm lặng gió. Cây cối im ngủ. Những ngôi sao như tan đi trong khói trời mờ đục. Ông tôi cử hành lễ đốt sách cũng bi tráng và lẫm liệt như Huấn Cao cho chữ trong ngục.

Ông mặc toàn đồ trắng, cắm một cây đuốc giữa trời, khấn khứa rì rầm rồi lạy bốn hướng mỗi nơi một lạy. Xong ông lấy cây đuốc đang cháy đặt vào giữa tháp. Dứt khoát và quyết liệt như cái cách các võ sĩ đạo đâm kiếm vào bụng.

Lửa bắt rất nhanh, chỉ trong phút chốc đã bắn vọt lên đầu ngọn tháp.

Đã nghe mùi mực và mùi giấy.

Đã nghe tiếng vặn mình của các bìa sách.

Đã nghe những âm thanh líu ríu như run như rẩy của những trang sách méo mó cong vênh.

Lửa trào ra như từ miệng hỏa diệm sơn.

Lửa ôm choàng lấy sách, hôn dữ dội bằng đôi môi bỏng cháy.

Sau cùng, cái tháp bằng sách đỏ rực như một trái tim để lộn ngược.

Ông tôi ngồi xếp bằng, cố giữ nét mặt trầm tĩnh một cách cao cả. Không một giọt nước mắt cho dù là vì khói cay xè. Ông như thượng tọa Thích Quảng Đức đang ngồi kiết già với ngọn lửa bao quanh. Có thể nói, chính ông cũng đang tự thiêu.

Bất giác tôi cảm thấy muốn khóc vì lo sợ. Đến một lúc nào đó, biết đâu ông đứng bật dậy bước thẳng vào ngọn lửa.

Ông chết theo sách.

Đó là một cái chết đẹp, xứng đáng với một người yêu sách như ông.

Nhưng ông chưa muốn chết vì ông còn phải để tang cho sách như một đứa con chí hiếu.

Ngay lúc lửa tàn, ông quỳ xuống lạy ba lạy. Rồi kiên nhẫn ngồi đợi cho đến khi tất cả biến thành tro nguội. Ông bảo tôi hốt tro vào bao, cất vào tủ rồi mới chịu đi vào nhà.

Lúc ấy, trời đã gần sáng.

Ông lặng lẽ pha trà, ngồi uống một mình.

Sau cùng ông mệt mỏi gục đầu xuống. Khi bà tôi đến lay ông dậy, mặt ông ràn rụa nước mắt chứ không phải nước trà.

Hai hôm sau, ông bảo tôi thuê thợ đóng nhiều chiếc hộp để đựng tro. Rồi ông đưa tôi một danh sách dài những quyển sách bị đốt, bảo tôi viết nhãn để dán lên. Những hộp tro lại được xếp ngay ngắn lên kệ tủ, giờ không phơi cái gáy mạ vàng như những chàng ngự lâm quân, mà là những chiếc quách của những sinh linh vừa chết tập thể. Cả viện sách của ông giờ đây biến thành một nghĩa trang.

Ông trịnh trọng chít khăn trắng, lên nhang đèn rồi cung kính khấn vái như trước bàn thờ tổ tiên. Trong những lời rì rầm, nhiều lúc bỗng vang lên như tiếng khóc, Ta là người có tội, có tội. Theo như tôi hiểu đó là cái tội không bảo vệ được sách, tội với các tác giả, tội với những thợ sắp chữ ở nhà in và xa hơn nữa là có tội với giấy và mực.

Ông biết ơn họ bao nhiêu thì bây giờ ông ray rứt vì mình có tội bấy nhiêu.

Từ đó ông ăn ít ngủ ít. Ông đem từng hộp tro đặt lên bàn, lặng lẽ ngồi ngắm hằng giờ như đang đọc sách. Mỗi cái nhãn gợi nhớ đến màu bìa, co chữ, tranh vẽ và cả nội dung mà chỉ có ông mới thấy được, hiểu được. Ông như sống lại những năm dài trước đó với những niềm vui kín đáo khi tìm được sách quý, hay mua được những sách hay. Những lần như thế, ông tự thưởng cho mình khi thì một bình trà, lúc một chung rượu hay tách cà phê và những điếu thuốc thơm thay cho hương trầm.

Rồi đến một lúc ông không ăn mà cũng chẳng ngủ. Người ông khô kiệt tái xám. Ba tôi và các chú đi cải tạo chưa về đương nhiên là khoét sâu vào hồn ông những nỗi buồn lo khôn nguôi. Nhưng dù vậy, tận cùng của đêm thì cũng phải sáng. Ông có thể đợi đến mười năm hay hai mươi năm. Chỉ có những quyển sách bị đốt là không đợi được. Ông nói với bà, biết trước như vầy tôi đã để hết tiền cho bà chớ mua sách làm chi. Bà tôi cay đắng, ai mà có con mắt sau lưng.

Buổi chiều cuối cùng ngồi bóp chân cho ông, tôi nghe ông hỏi, cháu thấy ông thế nào? Tôi nói, dạ, ông nên ăn chút cháo, trông ông gầy lắm. Không phải, ông nói, da ông thế nào, đã ngã thành màu đất chưa? Không biết da màu đất là màu gì, tôi nói đại, chưa ông à. Ngã màu đất là sắp chết đó cháu, ông nói. Ông đã có ý để lại sách cho cháu, nhưng ta tính làm sao được bằng trời tính. Cháu nhớ giữ giùm ông cái tủ và mấy cái hộp.

Ông nội tôi | Truyện 18

Nghe ông nói, tôi thấy da ông quả thật rất giống với màu đất bạc phếch, lạnh lẽo ở nghĩa địa. Da ông là da của một người đã chết từ lâu nhưng chưa chôn. Hay là ông đã chết từ cái đêm hôm ấy. Hồn ông đã cùng với hồn sách nương theo khói bay lên tận trời cao. Cái miền đất ồn ào đầy ô trọc và thù hận này biết đến bao giờ mới lại có được những con người, những quyển sách biết yêu quý tương kính lẫn nhau như thế. Chính lúc này tôi mới thấy thấm thía nỗi đau mất sách của ông.

Tôi vừa buông tay ra thì ông ngừng thở. Ông chết nhẹ nhàng như gấp lại một cuốn sách. Tính ra, ông đã để tang cho sách đúng một trăm ngày.

Hơn ba mươi năm sau, cái tủ đựng đầy những hộp tro vẫn đứng im đó như một nhà mồ. Ngày giỗ ông, chúng tôi cũng đem một bát nhang đến thắp trên đầu tủ.

Có cảm giác như hồn ông và hồn sách cùng lãng đãng bay về.

K.Đ.

Kể từ ngày 31 tháng Tư – Ngô Nhân Dụng

 Báo Quyền Được Biết

Học giả Vương Hồng Sển – nguồn Internet.

Ngô Nhân Dụng

   VOA Blog

Vương Hồng Sển đã mô tả các hành động gọi là “Giải phóng.” Sau khi kể chuyện cà kê Kép Tư Út hát bài Anh Khóa đời xưa, tiếp đến chuyện bây giờ ngôi nhà Tổng Đốc Phương bị tháo gỡ bán qua Đài Loan, bỗng nhiên cụ Vương viết…

Xin nói ngay, không có ngày 31 tháng Tư trong dương lịch, được Giáo Hoàng Gregory XIII áp dụng từ ngày 24 tháng Hai năm 1582.

Nhà văn Vương Hồng Sển là người sáng tác ra câu “ngày 31 tháng Tư năm 1975,” trong hồi ký Nửa Đời Còn Lại. Cụ tự giới thiệu là người “máu Hoa pha máu Việt đã bốn đời không nói được tiếng Phước Kiến” (trang 21, Văn Nghệ, California, 1995). Cụ mang tên Hán Việt là Vương Hồng Thạnh (hay Thịnh), nhưng khi làm giấy khai sanh viết thành Sển theo cách nói tiếng Phúc Kiến. Cụ đã nổi tiếng với những cuốn Sài Gòn Năm XưaThú Chơi Sách, Thú Chơi Cổ Ngoạn và nhiều bài báo về các thú chơi này từ trước năm 1975. Cuốn Hơn Nửa Đời Hư, in năm 1993 ở Sài Gòn và bị kiểm duyệt xóa bỏ rất nhiều, hai năm sau được nhà Văn Nghệ tái bản ở Mỹ, mới được đầy đủ.

Vương Hồng Sển chia sẻ được nỗi niềm của người dân miền Nam ngậm ngùi nghĩ tới “buổi sau ngày 30 tháng Tư!”

Năm 1993, đã ngoài 90 tuổi, cụ vẫn gắng sức ngồi viết kể tiếp những chuyện đời mình qua cuốn Nửa Đời Còn Lại (Văn Nghệ, California, 1996). Trong cuốn tự truyện thứ nhì này, có hai chỗ Vương Hồng Sển nhắc đến ngày 31 (sic) tháng Tư năm 1975! Lần đầu, cụ viết: “… tôi xin được lẩn thẩn lấy theo sức học đáy giếng mà luận việc trên cao để được tỏ chút nỗi lòng một dân Nam thấp hèn buổi 31 – 4 – 1975.” (trang 285). Nhắc lại: một dân Nam thấp hèn buổi 31 tháng Tư 1975!

Lần viết lộn thứ hai là đoạn Vương Hồng Sển bàn về các cựu thần Nhà Lê đầu thế kỷ 19, qua câu thơ Truyện Kiều “hàng thần lơ láo phận mình ra đâu!” khi họ phải làm bầy tôi triều Nguyễn. Cụ kể, “… tôi đây đã trải cảnh chịu đựng sau ngày 31 – 4 – 1975 ở Sài Gòn, làm tôi bắt nhớ Nguyễn Du năm 1802, …” (trang 291) Vương Hồng Sển đã viết rất dài về tâm sự Nguyễn Du; biện luận rằng trong thân phận “hàng thần lơ láo” đó Tố Như không thể bình tâm mà sáng tác truyện Kiều được.

Vương Hồng Sển nhắc đến ngày “đổi đời” này một lần nữa khi mô tả quang cảnh một khu phố Sài Gòn đang thay đổi. Lần thứ ba này thì cụ viết đúng, “… từ ngày 30 – 4 – 1975 và hiện nay đã trở nên phố xá tấp nập lớp buôn bán, lớp làm cửa hàng to …” (trang 333).

Ba lần viết đến ngày 30 tháng Tư, hai lần lộn thành ngày 31.

Có phải cụ Vương Hồng Sển tuổi già nên viết lộn? Hay là người đánh máy bấm lộn nút số 0 thành số 1?

Giả thuyết thứ hai không đáng tin. Vì nếu người đánh máy bấm ngón tay sai thì chắc có thể bấm lộn số zero qua số 9 chứ không thể là số 1, vì trên bàn máy hai số zero và số 1 xa nhau, một ở đầu, một ở cuối hàng số.

Giả thuyết thứ nhất cũng khó tin. Tác giả có thể tuổi già đã lẫn, nhưng viết sai tới hai lần, đúng vào những chỗ khiến con số 30 viết thành 31 rất có ý nghĩa, thì khó tin. Hơn nữa, Vương Hồng Sển là nhà văn rất thích hài hước, thường dùng ngôn ngữ châm chọc từ các vua, quan tay sai, bọn háo danh, trọc phú, cho tới cả bạn bè.

Khi đọc cả cuốn Nửa Đời Còn Lại này, chúng ta thấy ông già rất minh mẫn. Ông nhắc lại những chuyện thời 1922, 1946, vẫn nhớ và ghi lại từng chi tiết. Vương Hồng Sển nổi tiếng là người có thói quen ky cóp cất giữ các kỷ vật, ghi chép các biến cố trong đời mình rất cẩn thận. Ông còn giữ cái toa thuốc của Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh viết ngày 17 Septembre 1924. Cho nên, có thể đoán khi cụ Vương viết hai lần ngày 30 ra 31 như vậy, phải là cố ý. Đó là một cách phát biểu ý kiến về chính trị.

Cuốn hồi ký vẫn theo “lối văn Vương Hồng Sển!” Tức là cụ kể chuyện miên man, chuyện nọ xọ chuyện kia, lối văn “cà rởn, cà tửng”, nhái giọng Phuc Kiến, Triều Châu theo phong thái Miệt Vườn. Lâu lâu, tác giả “đánh du kích” một câu thấm thía. Đó là những lúc bàn xéo về chính trị! Viết 30 thành 31 là một lối cà rởn để gửi một thông điệp cho những người đồng cảnh, đồng điệu cùng cười với nhau!

Hai lần “cố ý” viết ngày 30 ra ngày 31, tác giả kể lể tâm tình như đang muốn trút ra những “nỗi riêng lớp lớp sóng vùi.” Lần thứ nhất, cụ tự nhận mình thấp hèn như ốc ngồi đáy giếng đòi bàn luận việc “trên cao,” dù chỉ bàn một câu chuyện văn học. Tự nhận mình làm thân “ốc ngồi đáy giếng”, là cách người miền Bắc gọi là “nói kháy.” Không biết các quan ở trên hay thằng dân ở dưới đứa nào mới đúng là ốc ngồi đáy giếng! Cụ đổi thành ngữ “ếch ngồi đáy giếng” thành “ốc” cũng cố ý. Con ếch còn được kêu oang, con ốc chỉ ngậm miệng!

Lần viết lộn thứ hai, Vương Hồng Sển nhắc đến thời đoàn quân của Nguyễn Ánh ra chiếm Bắc Hà. Khi quân miền Bắc thất trận, chỉ có hai người trong giới sĩ phu bị chế độ mới hành hạ. Một là Phan Huy Ích, cựu thần Nhà Lê bị bỏ tù; hai là Cống Chỉnh, theo nhà Tây Sơn, bị đánh đến chết vì thù riêng. Cụ Vương nhắc chuyện cũ, chính là để so sánh với chính sách lừa bắt hàng trăm ngàn sĩ quan, công chức miền Nam cho vào tù mút mùa sau năm 1975!

Vương Hồng Sển thấm thía thân phận đau đớn vì mất tự do của một trí thức miền Nam. Có lúc đang bàn chuyện Phạm Quỳnh, cụ đánh một câu: “trong nầy ngày nay có miệng mà khó nói nên lời, có tay cầm viết mà khó ghi lời nào khỏi bị sửa chữa, cắt xén – vả lại tôi là người gì mà được phép nói …?” (trang 267). Viết hai chữ “trong nầy” tức là trong miền Nam. Viết “ngày nay” tức thời cộng sản đô hộ, khác thời trước 1975. Chỉ viết bốn chữ, “trong nầy”và “ngày nay” đủ tả nỗi niềm một nhà văn “không được phép nói!”

Tôi là người gì mà dám nói? Nhưng có lúc cụ Vương vẫn phải nói, như khi cụ lên tiếng bênh vực một danh nhân Miền Nam vẫn bị Cộng Sản buộc tội và bêu riếu một cách thô bạo, bất công, là Phan Thanh Giản. Bênh vực Phan Thanh Giản là táo bạo, chống lại cả guồng máy “tuyên giáo” của Đảng Cộng Sản! Sau khi biện luận để phục hồi danh dự Phan Thanh Giản, Vương Hồng Sển viết: “… người đời nay học thuyết mới, tư tưởng theo mới, quên ơn kẻ trồng cây, quên ơn sanh thành đào tạo, …” Những “học thuyết mới, tư tưởng theo mới” này là chủ nghĩa Mác xít!

Năm 1975, lẫn trong đám các nhà văn, nhà thơ và học giả miền Bắc vào Sài Gòn, có nhiều người mang thái độ kiêu ngạo của đoàn quân thắng trận. Họ lên mặt “dạy dỗ, cải tạo” giới văn nghệ và học thuật miền Nam theo đúng đường lối đảng. Nhiều người làm công tác rồi phải “báo cáo” lên cấp trên. Cảnh tiếp xúc hai miền Nam Bắc lúc đó, Vũ Hoàng Chương đã diễn tả qua hai câu: “Rằng vách có tai, thơ có họa – Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh!”

Những người trí thức Sài Gòn như Vương Hồng Sển, cùng Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Thụy Long, Bình Nguyên Lộc, Dương Nghiễm Mậu,vân vân, chọn sống ẩn dật, không chịu ra hợp tác với bọn vua quan mới. Cụ Vương viết: “Tôi dư biết cho thân, thà làm dế sống trong hang, có lẽ được yên thân hơn là múa gáy cho trẻ nhỏ nó biết chỗ trốn, chúng đổ nước ngập hang, bắt dế về nuôi trong hộp diêm, hộp quẹt, thỉnh thoảng bắt ra đá độ, gãy càng queo râu toi mạng” (trang 84). Nói đến thân phận con dế “nuôi trong hộp quẹt, thỉnh thoảng bắt ra đá độ,” cũng là một cách “nói móc” những nhà văn theo đuôi cộng sản.

Vương Hồng Sển đã mô tả các hành động gọi là “Giải phóng.” Sau khi kể chuyện cà kê Kép Tư Út hát bài Anh Khóa đời xưa, tiếp đến chuyện bây giờ ngôi nhà Tổng Đốc Phương bị tháo gỡ bán qua Đài Loan, bỗng nhiên cụ Vương viết: “Dân Sài Gòn tự khoe tiến bộ ký quỹ, gửi tiền nhà băng, Giải phóng vào, hốt sạch sành sanh, thua xa dân Thổ Trà Vinh, Sốc Trăng … bán lúa mùa nầy xong, chôn bạc giữa lẫm rồi đổ lúa mới lên trên …” (trang 57) Nhắc lại phương cách cất giấu tiền của dân Thổ đời xưa, để so sánh với dân Sài Gòn thời 1975, chỉ cốt viết một câu kết án: “Giải phóng vào, hốt sạch sành sanh!” Trong 7 chữ, Vương Hồng Sển cực tả một vụ cướp bóc đại quy mô, bây giờ còn gọi là “ăn cướp hoành tráng.” Hốt sạch sành sanh! Như vậy gọi là “giải phóng!” Ai đọc tới câu này mà không nghĩ ra, là phụ lòng Vương Hồng Sển!

Vương Hồng Sển chia sẻ được nỗi niềm của người dân miền Nam ngậm ngùi nghĩ tới “buổi sau ngày 30 tháng Tư!” Có lúc kể chuyện Sài Gòn đời xưa, từ năm 1867, trải qua trào Tây, trào Nhật, cụ lại quay qua nói chuyện vua Napoleon III bên Pháp. Rồi chợt cảm khái: “Trở lại người dân đất Sài Gòn, như tôi đã nói, dám chắc không dân nào trí lanh tay xảo hơn. Khi bỏ áo giáp, tuột giầy trận, chịu đi đầy, bán từ bàn thờ tổ tiên, bán ván gõ để nằm dưới gạch, căn đầy kiếp đọa, tiếc đã muộn …” (trang 55). Những nét chấm phá độc đáo: Kẻ thì “bỏ áo giáp, tuột giầy trận, chịu đi đầy;” người ở lại nhà thì “bán bàn thờ tổ tiên, căn đầy kiếp đọa!” Và tất cả đều “tiếc đã muộn!” Nếu trước đây mọi người biết đoàn kết với nhau hơn, cùng chung sức chống lại một chế độ, một chủ nghĩa lạc hậu, man rợ, hiếu chiến và tàn ác, thì đâu đến nỗi này!

Tiếc đã muộn! Chỉ ba chữ, ba chữ gói ghém bao nhiêu nỗi đoạn trường của cái thời buổi “31 tháng Tư!”