Gia đình Mỹ-Việt bán Pizza ở Lạc Dương, Đà Lạt

Gia đình Mỹ-Việt bán Pizza ở Lạc Dương, Đà Lạt

Nguoi-viet.com

Trần Tiến Dũng/Người Việt

ĐÀ LẠT (NV) – Trong tình trạng ham thích một cách hỗn độn các loại ẩm thực du nhập từ Âu Mỹ ở Việt Nam hiện nay, đến người Sài Gòn cũng cảm thấy bất ngờ khi biết rằng ở kề bên ngọn núi Lang Bian, thị trấn Lạc Dương heo hút lại có một lò bánh pizza đúng khẩu vị Mỹ gốc Ý.

Gia đình Mỹ-Việt mở lò bánh pizza ở thị trấn Lạc Dương- Đà Lạt.
(Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)

Khi ông chủ làng du lịch Cù Lần, Văn Tuấn Anh nói rằng sẽ mời chúng tôi ăn trưa bằng bánh pizza, chúng tôi tưởng mình nghe lầm, có người còn cho rằng chắc là món bánh xèo miền Trung thay tên đổi họ cho thêm phần vui lạ.

Nhưng khi cô gái người K’ Ho tên là RoLăn đưa chúng tôi đi dọc theo con đường lớn của thị trấn, trước mặt chúng tôi cái lò bánh pizza hiện ra với hình dáng không khác gì mọi cái quán hủ tiếu hay bún bò.

Giữa trưa, trong cái nắng nhưng lạnh của xứ Lạc Dương-Đà Lạt, lò bánh pizza không có một người khách nào. Phải một lúc sau người phụ nữ trung niên mặc tạp đề đầu bếp mới bước ra chào khách từ trong cái nhà lợp tôn có từ thời Đà Lạt trước 1975.

Chúng tôi chưa kịp biết bà là chủ hay chỉ là người thợ làm bánh thì đã bị cái bếp nướng bánh pizza xây bằng gạch thô, ống khói làm bằng mấy miếng tôn thiếc hút mất cái nhìn.

Bánh pizza được làm từ các nguyên liêu tươi sạch của cao nguyên
Đà Lạt. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)

Nhưng ấn tượng nhất vẫn là nguyên cái đầu trâu treo trang trí ngay trên lò bánh rất ư đúng kiểu quán trong một thị trấn của phim cao bồi miền Viễn Tây Hoa Kỳ.

Cả đoàn chúng tôi ngồi vào cái bàn được làm bằng miếng gỗ thông thô. Người đàn bà nướng bánh không nói không rằng gì với khách, bà tiếp tục làm cái việc nhồi bột bánh. Khi miếng bánh pizza với đầy đủ các phụ phẩm cần thiết, bà tiến lại mở cửa lò nướng bánh, lúc đó bà mới hỏi bằng giọng của người xứ Quảng. “Các anh mua mấy cái?”

Chúng tôi nhìn ánh lửa củi bừng cháy khi gió lùa vào trong lò, không cần tốn công sức thổi lửa cực nhọc thì đoán biết người xây lò nướng bánh này đúng là tay làm bánh có hạng.

Một lúc sau, chúng tôi được dịp tiếp xúc với ông chủ lò bánh. Người đàn ông trung niên này là một công dân Hoa Kỳ chính hiệu. Ông tên James Reelick, sinh ra và lớn lên ở Connecticut.

Ông cho biết, ông học ngành thảo mộc, ở Mỹ ông làm việc trong một công ty trồng hoa của gia đình. Ông đến Đà Lạt năm 2007 và chọn gắn bó với núi rừng Lang Bian-Lạc Dương từ đó.

Có không một ngày nào đó nông dân Lạc Dương ăn bánh pizza
của ông Mỹ thay cơm? (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)

Khi được hỏi vì sao ông đưa một thứ bánh đặc thù văn hóa Âu Mỹ đến một cái nơi mà món bánh mì du nhập có tuổi hơn trăm năm còn “khó sống” cạnh tranh bún, cơm và rau. Ông thành thật cho biết. Để tồn tại ở cao nguyên Lâm Viên tuyệt đẹp này, ông đã làm nhiều nghề nhưng khi rơi vào thế bí thì cái lò bánh pizza này lại cứu ông.

Người dân ở Lạc Dương gọi ông với cái tên thân mật là ông Tây Pizza. Ông giới thiệu cho chúng tôi biết người thợ phụ đang nướng bánh là vợ ông, một người phụ nữ quê Quảng Nam, bà có 2 đứa con riêng và hiện giờ có chung với ông một bé gái ba tuổi.

Ông cho biết, ông hiểu “hoàn cảnh khó” của cái bánh pizza rất Mỹ khi xuất hiện ở thị trấn miền núi này và ông cũng không ngờ sức sống của cái bánh pizza này lại vượt qua mọi trở ngại về văn hóa, chính trị… để trở thành quen thuộc với người dân Lạc Dương, khách du lịch và các du khách nước ngoài đến thành phố Đà Lạt.

Cái lò nướng bánh pizza trang trí đầu trâu cũng ra phong cách
miền Viễn Tây Mỹ. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)

Hiện tại nguồn thu nhập chính nuôi sống gia đình Mỹ-Việt của ông là lò bánh pizza và trong ông đang ấp ủ một số dự án du lịch nghỉ dưỡng khác mà ông tin rằng sẽ góp phần biến Lạc Dương- Đà Lạt thành một thị trấn đa văn hóa, bởi không đâu ở Việt Nam có phong cách văn hóa Tây phương bằng Đà Lạt.

Chúng tôi được mời ăn bánh, miếng bánh được nướng và cắt ngay trên một miếng gạch tàu của người Việt. Người đàn bà Việt được chồng Mỹ truyền nghề làm bánh pizza này tuy ít nói nhưng vẫn hỏi chúng tôi cho ra cái điều mà chị thắc mắc rằng: Bánh chị làm có ngon không, so với pizza ở Sài Gòn có bằng không?”

Chúng tôi trả lời cho chị yên lòng là bánh rất ngon. Rồi chị phân bua, trong các loại nguyên liệu làm bánh chỉ trừ dầu ô liu là đồ nhập, mọi thứ khác như cà chua, trứng, thịt, hải sản đều được chọn từ nguyên liệu tươi sạch của Đà Lạt.

Đoàn chúng tôi 6 người, ăn tất cả 3 cái bánh pizza của ông Tây, cảm giác lạ miệng, no; và rõ ràng thật thú vị khi nghĩ tới viễn cảnh một ngày nào đó các nông dân Đà Lạt gốc Bắc-Trung-Nam cùng bà con người dân tộc thiểu số ở vùng núi Lang Bian, Lạc Dương này mà chọn ăn bữa trưa bằng thức ăn nhanh pizza Mỹ.

Báo cáo về Tình Hình Nhân Quyền tại Việt Nam năm 2014.

Báo cáo về Tình Hình Nhân Quyền tại Việt Nam năm 2014.

*      *     *

Cũng như mọi năm, Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam có trụ sở chính tại miền Nam California vừa cho công bố vào đầu tháng 5/2015 Bản Báo Cáo về Tình Hình Nhân Quyền tại Việt Nam trong năm 2014. Bản Báo Cáo năm 2014 được trình bày khá chi tiết trải dài trong 90 trang kèm theo nhiều hình ảnh về các nhân vật đã tích cực tham gia tranh đấu cho Tự do, Dân chủ và Nhân quyền ở trong nước – với 2 ấn bản Việt ngữ và Anh ngữ.

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ XXI Ngày Nhân Quyền Việt Nam được tổ chức tại Thủ đô Washington DC vào đúng ngày 11 tháng 5 vừa qua, ấn bản tiếng Anh của Bản Báo Cáo này đã được phổ biến rộng rãi đến tận tay các Dân biểu, Nghị sĩ và các giới chức hàng đầu trong chính phủ Hoa Kỳ cũng như đại diện các cơ quan tranh đấu nhân quyền, giới truyền thông báo chí v.v…

Đặc biệt, trong Phần Phụ Lục một danh sách ghi rõ tên tuổi của hàng mấy trăm các tù nhân lương tâm hiện đang bị giam giữ trong các nhà tù ở Việt nam – cũng như của những tù nhân mới được trả tự do nhưng vẫn còn bị quản chế theo dõi ngặt nghèo ở Việt Nam.

Quí bạn đọc có thể tìm kiếm đày đủ các chi tiết của Bản Báo Cáo này trên địa chỉ website của Mạng Lưới Nhân Quyền VN như sau đây : www.vietnamhumanrights.net

Giới thiệu sách: Hồng phúc nước Mỹ

Giới thiệu sách: Hồng   phúc   nước   Mỹ

Nguyên tác tiếng Anh  :  American Grace

Tác giả : Robert D. Putnam & David E. Campbell

Nhà xuất bản : Simon & Schuster ấn hành năm 2010

Người giới thiệu : Đòan Thanh Liêm

Đây là một cuốn sách biên sọan rất công phu của hai nhà nghiên cứu xã hội học nổi danh hiện nay tại Mỹ. Cuốn sách trình bày những nhận định thật sâu sắc về sự biến chuyển trong đời sống tâm linh và văn hóa của người dân Mỹ, đặc biệt trong vòng 50 năm vào cuối thế kỷ XX gần đây.  Các tác giả đã dựa trên những thống kê, điều tra (survey), phỏng vấn gần đây nhất, và đã tham khảo đủ thứ tư liệu có giá trị trong suốt quá trình tìm hiểu cân nhắc, để rồi đi tới được những nhận định tổng hợp rành mạch về một trong những vấn đề rất quan trọng và phong phú của khu vực xã hội dân sự hiện nay tại nước Mỹ.

Tác giả thứ nhất, Robert Putnam là giáo sư kỳ cựu tại đại học Harvard, từng là khoa trưởng của Kennedy School of Government và là chủ tịch Hiệp hội Khoa học Chính trị Hoa kỳ. Ông cũng là tác giả của khá nhiều cuốn sách, trong đó cuốn “Bowling Alone : The Collapse and Revival of American Community” xuất bản năm 2000 thuộc lọai sách bán chạy nhất (bestseller). Trong cuốn này, tác giả cảnh báo về sự giảm sút nghiêm trọng về nguồn vốn xã hội (social capital) trong xã hội nước Mỹ vào cuối thế kỷ XX.

Tác giả khác, David Campbell cũng là một giáo sư tại đại học Notre Dame danh tiếng ở Indiana và là một chuyên gia về tôn giáo, chính trị và chính sách công cộng. Ông này cũng là tác giả của một số cuốn sách, trong đó có cuốn được nhiều người chú ý : “Why we vote : How Schools and Communities Shape Our Civic Life ?”

Ngay nhan đề tòan bộ của cuốn sách dài tổng cộng trên 680 trang cũng đã cho người đọc hình dung được giá trị của công trình nghiên cứu khoa học rất công phu, đồ sộ và nghiêm túc của hai tác giả lừng danh này, nhan đề đó ghi chi tiết như sau :

American Grace

How Religion Divides and Unites Us

(Hồng phúc nước Mỹ : Tôn giáo chia rẽ và kết hợp giữa chúng ta như thế nào).

Cuốn sách được phân bố chủ yếu trong 15 chương dài 550 trang, kèm theo 2 phần phụ lục và phần ghi chú xuất xứ dài khỏang 100 trang. Xin ghi tiêu đề của một số chương đáng chú ý như sau :

*Chương 1 : Sự Phân cực và Đa nguyên tôn giáo ở Mỹ (Religious Polarization and Pluralism).

*Chương 6 : Những sáng kiến đổi mới trong Tôn giáo  (Innovations in Religion).

*Chương 7 & 10 : Những đỏan văn minh họa : Sắc tộc, Giới tính và Tôn giáo  –  Tôn giáo và Chính trị đan kẽ với nhau ra sao? (Vignettes)

*Chương 11 : Tôn giáo trong Đời sống Chính trị nước Mỹ (Religion in American Politics).

*Chương 15 cuối cùng : Hồng phúc nước Mỹ : Một dân tộc bao dung nối kết những chia cách tôn giáo như thế nào (America ‘s Grace : How a Tolerant Nation Bridges Its Religious Divides)

A – Mấy nét chính yếu trong cuốn sách.

Nhìn qua cuốn sách, ta có thể ghi nhận một số điểm như sau :

–          Từ lâu, người Mỹ vẫn có niềm tin tôn giáo sâu sắc, nhưng cũng rất khác nhau trong cách hành đạo. Mà họ lại có tinh thần bao dung đặc biệt về tôn giáo. Trong mấy thập niên gần đây, bối cảnh sinh họat tôn giáo đã thay đổi rõ rệt.

–          Từ đầu thập niên 1960, nước Mỹ đã trải qua 3 cuộc chấn động thật mạnh mẽ về mặt tôn giáo. Trước hết, trong thập niên 1960 việc hành đạo bắt đầu giảm sút nhiều. Rồi vào thập niên 1970 và 1980, đã xảy ra phong trào phản ứng bảo thủ với sự phát triển mạnh mẽ của phái hữu, thường được gọi là truyền thống “ Tin Lành Evangelical”. Và từ thập niên 1990, thì giới trẻ bắt đầu tách khỏi sự liên kết giữa tôn giáo với chủ trương chính trị bảo thủ, họ xa rời các giáo hội, nhưng lại không nhất thiết từ bỏ niềm tin tôn giáo.

–           Hậu quả là đang có sự phân cực mỗi ngày một lớn rộng – hàng ngũ bảo thủ và thế tục phóng khóang mỗi bên đều có sự gia tăng về số lượng người theo, cùng lúc với số người ôn hòa ở vào phía giữa hai bên. Số người tự xếp mình không sinh họat với một nhà thờ nào – được tác giả gọi là “nones”- đã gia tăng trong vài chục năm gần đây từ 5% lên đến trên 25%, nhất là trong lớp người trẻ.

–          Với nhiều hôn nhân kết hợp giữa người theo tôn giáo khác nhau (Interfaith marriage), trong các gia đình đã có sự chấp thuận dễ dàng về sự khác biệt trong nếp sống tôn giáo. Tác giả nêu ra mô hình “Nguyên lý Dì Susan” (Aunt Susan Principle) để diễn tả hiện tượng trong nhà có một bà dì đạo đức, thánh thiện, nhưng mà lại có niềm tin tôn giáo khác biệt với đa số trong gia đình.

–          Trong suốt cuốn sách, người đọc có thể dễ dàng nhận ra những khám phá thật lý thú đến ngạc nhiên của các tác giả, điển hình như : * Có đến khỏang 40% các gia đình kết hôn giữa người thuộc tôn giáo khác nhau – * Có đến một phần ba dân Mỹ đã thay đổi tôn giáo cách này hay cách khác – * Cả những người sùng đạo cũng tin tưởng rằng người theo tôn giáo khác vẫn được lên thiên đàng – * Người theo đạo thường cũng là người láng giềng tốt và tham gia nhiều hơn vào các việc từ thiện nhân đạo…

–          Trong nhiều thập niên sắp tới, đây có thể coi như là cuốn sách quan trọng nhất trình bày về đời sống tôn giáo ở nước Mỹ, và cũng là một tài liệu thiết yếu cho sự tìm hiểu về văn hóa trong xã hội Mỹ hiện nay vậy.

B – Giới thiệu một vài chương điển hình.

Chương 9 : Tính Đa dạng, Sắc tộc và Tôn giáo (trang 260-319)

(Diversity, Ethnicity, and Religion)

Là một dân tộc gồm nhiều thế hệ người di dân từ các địa phương khác nhau trên thế giới tới lập nghiệp tại nước Mỹ, nên quốc gia này có tính chất đa dạng nổi bật về mặt chủng tộc, cũng như về truyền thống tôn giáo và văn hóa. Nói chung, thì người Mỹ có tinh thần tôn giáo cao độ (high religiosity) kết hợp với sự đa dạng về sắc tộc và chủng tộc (ethno-racial diversity). Người Tin Lành Da đen và người Do Thái đều có sự liên kết chặt chẽ về mặt chủng tộc và tôn giáo; mà hơn nữa, họ cũng thường có sự đồng nhất trong họat động chính trị.

Người Mỹ gốc Latinh hiện đang góp phần làm gia tăng ảnh hưởng của đạo Công giáo La mã trong xã hội Mỹ. Người di dân gốc từ miền Bắc Âu châu và nước Đức vẫn giữ được truyền thống của Tin Lành theo giáo phái Lutheran.

Và trong số người da trắng, thì từ ba chục năm nay, tỉ lệ chống hôn nhân dị chủng, cũng như nạn kỳ thị đánh giá thấp đối với người da đen đã giảm bớt đáng kể, hiện chỉ còn chừng 5% vẫn giữ thành kiến kỳ thị này.

Chương 13 – Tôn giáo và tính cách Láng giềng tốt (trang 442-492)

(Religion and Good Neighborliness)

Cuộc điều tra rất quy mô lấy tên là “Faith Matters Survey” thực hiện năm 2006 cho ta thấy rằng : người sùng đạo thì tham gia công việc thiện nguyện nhiều hơn và lại đóng góp vào các dự án từ thiện nhân đạo hơn là người không có niềm tin tôn giáo. Người ngoan đạo lại còn tham gia tích cực vào công tác phục vụ cộng đồng tại lối xóm địa phương nơi họ sinh sống.

Bằng nhiều biểu đồ thiết lập rất công phu, tác giả chứng minh sự đóng góp cho xã hội dưới nhiều hình thức như tiền bạc, thời gian công tác thiện nguyện do lớp người sùng đạo thực hiện thường xuyên. Tác giả còn nêu ra sự tín nhiệm của quần chúng thì thường ở mức cao đối với những người có lòng sùng đạo.

Các tác giả cũng xác nhận sự quan sát của nhà nghiên cứu thời danh Alexis de Tocqueville thực hiện vào hồi đầu thế kỷ XIX tại Mỹ rằng : “Tôn giáo đóng góp nhiều cho nền dân chủ ở nước Mỹ”. Bởi vì thông thường người Mỹ ngoan đạo nào thì cũng là một láng giềng tốt và là người công dân tích cực nữa. Lý do chính yếu là do sự gắn bó mật thiết với sinh họat trong cộng đòan tín hữu, nên người sùng đạo dễ dàng hưởng ứng với họat động từ thiện xã hội, thêm vào với công tác thuần túy tôn giáo.

Chương 15 –Nhận định tổng kết : Hồng phúc nước Mỹ (trang 516 -550)

(America’s Grace: How a Tolerant Nation Bridges Its Religious Divides)

Nước Mỹ chia rẽ về phương diện tôn giáo, nhưng so với các lãnh vực khác như chủng tộc, giai cấp hay chính trị, thì sự chia rẽ này cũng lại nhỏ hơn nhiều. Đa số người Mỹ vẫn coi Tôn giáo là một chất keo (glue) gắn liền các thành phần dân tộc lại với nhau. Và các nhà lãnh đạo quốc gia từ Tổng thống Jefferson hồi xưa cho đến Obama ngày nay, thì đều nói tới Thiên chúa, mỗi khi phải lên tiếng kêu gọi sự đòan kết của dân tộc trước những biến cố nghiêm trọng nào. Tu chính án số 1 vẫn được tôn trọng để bảo đảm tính chất đa nguyên về tôn giáo trong xã hội Mỹ. Thống kê mới nhất năm 2006 cho ta thấy có đến 80% người Mỹ coi trọng sự đa dạng về tôn giáo (religious diversity).

Trong nội bộ mỗi gia đình, thì đang có những người có niềm tin tôn giáo khác nhau, mà vẫn thuận thảo chấp nhận sự khác biệt đó. Mà trong số mấy bạn bè thân thiết nhất, thì cũng luôn có người bạn lại có niềm tin khác với mình. Tác giả còn nêu ra mô hình “Nguyên lý Bạn Al của tôi” (My Friend Al Principle) – cũng tương tự như “Nguyên lý Dì Susan” đã ghi ở trên – để làm nổi bật sự thân thiết trong mối quan hệ giữa bạn hữu, mặc dầu họ có niềm tin tôn giáo khác nhau.

Rõ ràng là Tôn giáo được coi như lãnh vực riêng tư của mỗi cá nhân (privacy), mà mọi người khác đều phải tôn trọng. Và đa số người Mỹ ngày nay đều công nhận rằng : “ Cũng có những chân lý căn bản ở trong nhiều tôn giáo khác ”,  chứ không phải chỉ duy nhất trong tôn giáo riêng của mình, thì mới có chân lý mà thôi.

Nói vắn tắt lại, các tác giả lạc quan trước sự kiện là nhờ mạng lưới các mối liên hệ thân thiết giữa các cá nhân đan kết chặt chẽ dày đặc với nhau, mà xã hội nước Mỹ ngày nay đang bảo đảm được tình trạng đa nguyên về tôn giáo. Các mối liên hệ thân thiết trong gia đình, cũng như giữa bạn hữu ngòai xã hội đã giúp cho sự kết hợp được tính cách đa dạng tôn giáo với lòng sùng đạo của các tín đồ theo đuổi các niềm tin tôn giáo khác nhau. Và đó mới chính là “Hồng phúc của nước Mỹ” ở vào đầu thế kỷ XXI vậy.

C – Một công trình nghiên cứu được đánh giá cao.

Cuốn sách American Grace vừa mới ra mắt công chúng chưa đày một năm, mà đã được nhiều thức giả và giới phê bình đánh giá rất cao.  Cụ thể như sử gia Doris Kearns Goodwin, thì bà ghi rằng : “Đây là một công trình vĩ đại, một mô tả dựa trên nền móng của sự nghiên cứu đồ sộ… Rõ rệt, đó là một chiến thắng.”

Học giả Cornel West thuộc Trung tâm Nghiên cứu  người Mỹ gốc Phi châu, Đại học Princeton, thì viết : “ American Grace tức thời đã trở thành một văn bản đúng tiêu chuẩn. Cuốn sách rất cần thiết cho sự tìm hiểu về nền văn hóa tôn giáo đa nguyên của chúng ta. Và sách này cũng gợi hứng cho chúng ta phải đào sâu thêm nữa nền dân chủ đại kết của chúng ta” (our ecumenical democracy).

Giáo sư Jim Cullen dậy tại Trường Fieldston, New York, thì viết : “ Bức thông điệp chính yếu của American Grace  là :” Những chia rẽ xã hội vì lý do tôn giáo trong lối sống ở Mỹ thì rõ rệt là không quan trọng bằng vai trò của Tôn giáo như là một thứ chất keo dính có khả năng gắn chặt trong xã hội “.

Vào đầu năm 2011, trong một cuộc phỏng vấn khá dài với chương trình “Faith and Leadership” (Niềm Tin và Lãnh đạo), tác giả Robert Putnam đã có dịp nhấn mạnh thêm rằng : “ Tác giả David Campbell và tôi đều có ấn tượng sâu sắc về mức độ các tôn giáo ở Mỹ đã luôn cố gắng thích nghi và rất sáng tạo từ nhiều thế kỷ nay. Đó là khía cạnh độc đáo gần như duy nhất của nước Mỹ, nếu so sánh với những nơi khác trên thế giới…” Giáo sư Putnam cũng lại cảnh giác rằng : “ Những tôn giáo mà không chịu thích nghi đổi mới, những tôn giáo mà quá dính líu với chính trị, thì nhất định là không thể tồn tại lâu bền được”.

Cũng trong cuộc phỏng vấn này, giáo sư Putnam còn giải thích rõ ràng thêm :  “Người Thiên chúa giáo da đen (Black Christians) có thái độ khá là khoan dung, hơn là người Thiên chúa giáo da trắng, đối với người Muslim. Tại sao vậy? Đó là do có người Muslim da đen ở Mỹ. Nhiều người da đen có Dì Susan theo đạo Muslim (Muslim Aunt Susan). Và tại nhiều nơi trong nước Mỹ mà vẫn còn sót lại nạn bất khoan dung về tôn giáo, cụ thể như đối với người theo đạo Mormon hay đạo Phật. Đó là vì chúng ta chưa có nhiều những Dì Susan theo đạo Mormon hay theo đạo Phật…” (Mormon Aunt Susan, Buddhist Aunt Susan).

Để tóm tắt lại, người viết xin nhắc thêm một lần nữa rằng : Đây là một cuốn sách nghiên cứu rất có giá trị về sinh họat tôn giáo trong xã hội Mỹ ngày nay ở vào đầu thế kỷ XXI. Các tác giả đã dày công sưu tầm nghiên cứu, và nghiêm túc phân tích nhận định tòan diện vấn đề theo đúng với phương pháp khoa học, khách quan và vô tư.

Và xin trân trọng giới thiệu cuốn sách quý báu này đến với quý bạn đọc muốn tìm hiểu sâu xa hơn về sinh họat của dòng chính trong xã hội nước Mỹ hiện nay vậy./

California, tháng Bảy năm 2011

Đòan Thanh Liêm

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ thăm Việt Nam

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ thăm Việt Nam

Ông Ashton (Ash) Carter làm bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ từ tháng 2/2015

Các nguồn tin cho hay Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Ashton Carter theo kế hoạch sẽ thăm Việt Nam đầu tuần tới.

Nguồn tin của BBC nói ông Carter sẽ tới Việt Nam vào ngày 31/5 từ Singapore, nơi ông tham dự diễn đàn an ninh khu vực Đối thoại Shangri-La.

Chi tiết chuyến thăm còn được giữ kín, nhưng ông được tin sẽ ở thăm Việt Nam hai ngày.

Ông bộ trưởng sẽ có các cuộc hội kiến với lãnh đạo chính phủ, nhà nước và quân đội Việt Nam nhằm thúc đẩy quan hệ quốc phòng giữa hai nước cựu thù.

Trong các cuộc tiếp xúc, chủ đề Biển Đông cũng được trông đợi sẽ nằm cao trên bàn nghị sự, nhất là sau khi Hoa Kỳ đã có các động thái phản đối cách hành xử hung hăng và quá trình xây đảo nhân tạo của Trung Quốc ở Biển Đông.

Ông bộ trưởng được trông đợi sẽ nhắc lại rằng Hoa Kỳ cổ súy tự do đi lại tại khu vực này.

Năm 2012, ông Leon Panetta, người lúc đó là bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ, cũng có chuyến thăm Việt Nam ngay sau khi tham dự Đối thoại Shangri-La.

Không rõ lần này ông Carter có tới thăm Cam Ranh như ông Panetta đã làm trong chuyến thăm lịch sử của mình hay không.

Quan hệ với Trung Quốc

Tham dự Đối thoại Shangri-La lần này còn có hai Thượng nghị sỹ Hoa Kỳ John McCain và Jack Reed.

Bộ trưởng Leon Panetta có ‘chuyến thăm lịch sử’ tới Cảng Cam Ranh năm 2012

Khác với Bộ trưởng Carter, hai ông tới Singapore từ Việt Nam, nơi họ có chuyến thăm trong tuần này.

Ông McCain là dân biểu Cộng hòa tiểu bang Arizona và là chủ tịch Ủy ban Quân lực thuộc Thượng viện Hoa Kỳ trong khi ông Reed, dân biểu Dân chủ Đảo Rhode, là thành viên cao cấp của ủy ban này.

Thông cáo từ văn phòng của ông Reed nói hai ông sẽ có các cuộc gặp với lãnh đạo Việt Nam tại Hà Nội và TP HCM để “thảo luận các vấn đề an ninh và kinh tế khu vực” châu Á-Thái Bình Dương.

Bên cạnh hai nhân vật chủ chốt này, đoàn Hoa Kỳ còn có thêm thượng nghị sỹ Joni Ernst (đảng Cộng hòa, bang Iowa), và Dan Sullivan, (đảng Cộng hòa, bang Arkansas).

Một điều đáng chú ý là hai ông McCain và Reed đều chia sẻ quan ngại về các hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông.

Hôm thứ Năm tuần trước, hai ông đã gửi thư lên Bộ trưởng Quốc phòng Ashton Carter yêu cầu rút lại lời mời Trung Quốc tham dự cuộc tập trận hải quân “Rim of the Pacific” — gọi tắt là RIMPAC — tại Hawaii năm 2016.

Bức thư của hai ông thượng nghị sỹ gọi quyết định mời Trung Quốc là sai lầm và “trước hành động khiêu khích của CHND Trung Hoa tại biển Hoa Đông và Biển Đông, chính phủ Mỹ cần xem xét các phương án chính sách khiến Trung Quốc phải trả giá về thái độ gây bất ổn chứ không phải khen thưởng họ”.

Các hoạt động cơi nới xây đảo nhân tạo của Trung Quốc đang gây căng thẳng trong khu vực.

Tờ Wall Street Journal hôm 12/5 đưa tin Lầu Năm Góc đang cân nhắc điều chiến đấu cơ và hải quân tới khu vực tranh chấp trong phạm vi 12 hải lý quanh các đảo nhân tạo mà Trung Quốc đang xây.

Mỗi năm, khoảng 150,000 người ở Việt Nam bị ung thư

Mỗi năm, khoảng 150,000 người ở Việt Nam bị ung thư

Nguoi-viet.com

SÀI GÒN (NV) – Mỗi năm, Việt Nam có từ 100,000-150,000 người mắc ung thư và khoảng 70,000 người chết vì căn bệnh này do liên quan đến ăn uống.

Người mắc bệnh ung thư ngày càng tăng. (Hình: Tuổi Trẻ)

Thông tin kể trên được công bố tại “Hội nghị khoa học lần thứ 20” tổ chức ở thành phố Sài Gòn vào ngày 21 tháng 5, một nhóm nghiên cứu của Bệnh Viện Quân Y 175 tổ chức.

Theo đó, trong 1,355 ca ung thư các loại được chẩn đoán và điều trị tại Trung Tâm Ung Bướu của Bệnh Viện Quân Y 175 từ tháng 1, 2005 đến tháng 10, 2009 cho thấy, tỉ lệ bệnh ung thư dạ dày, phổi, máu, hạch, gan, đại trực tràng ở nam giới có tỉ lệ cao hơn các bệnh ung thư khác.

Ở phụ nữ thì tỉ lệ mắc bệnh ung thư phổi, dạ dày, tử cung, vú, buồng trứng cao hơn.

Báo Tuổi Trẻ dẫn lời ông Đặng Huy Quốc Thịnh, phó giám đốc Bệnh Viện Ung Bướu Sài Gòn cho biết, số người bệnh ung thư đến điều trị tại đây đều tăng hằng năm với tốc độ ngày càng tăng rất đáng lo ngại.

Cụ thể, năm 2014 số bệnh nhân mắc bệnh ung thư được quản lý tại Bệnh Viện Ung Bướu Sài Gòn là khoảng 12,000 người. Thế nhưng, mới 5 tháng đầu năm 2015, số bệnh nhân ung thư được quản lý tại bệnh viện này đã lên tới gần 13,000 bệnh nhân.

Còn theo Cơ quan ghi nhận ung thư quốc tế Globocan, có trụ sở ở Pháp thì, năm 1998 tại Việt Nam có hơn 70,000 trường hợp mắc ung thư mới. Nhưng đến năm 2012, số ca mắc ung thư mới là trên 150,000.

Như vậy, chỉ trong 14 năm số người mắc bệnh ung thư tại Việt Nam đã tăng lên gấp đôi. Dù số cơ sở điều trị bệnh ung thư tại Việt Nam đã tăng hơn so với trước, nhưng hiện cơ sở điều trị bệnh ung thư nào cũng quá đông.

Ngoài ra, theo ông Thịnh còn có nhiều nguyên nhân khác khiến số người mắc bệnh ung thư gia tăng trong những năm gần đây là do số người hút thuốc, uống rượu bia nhiều, ăn thực phẩm bị mốc hoặc ăn những món chiên nướng, nướng đen, nhiều dầu béo, thói quen ăn thực phẩm phơi khô, muối mặn, những loại rau cải muối… đều có nguy cơ gây ung thư.

Đặc biệt, việc không kiểm soát được vệ sinh thực phẩm, thực phẩm có chứa những hóa chất độc hại, chẳng hạn lấy nguồn thịt đã bị thối rữa về ướp hóa chất độc hại để thịt dai hơn, thơm hơn, sau đó bán cho khách… cũng tăng nguy cơ ung thư.

Ông Thịnh cho biết thêm, theo số liệu nghiên cứu của Hiệp Hội Quốc Tế Phòng Chống Ung Thư (UICC) tại một hội nghị ở Úc năm 2014, có đến 30-50% các ca bệnh ung thư liên quan đến ăn uống, đặc biệt ở các nước đang phát triển như Việt Nam.

Hiện nay, ung thư phổi và ung thư gan đứng đầu ở cả hai giới nam và nữ tại Việt Nam do người Việt được xếp cao nhất, nhì trong khu vực về số lượng người hút thuốc lá, với hơn 50% dân số. Riêng phụ nữ bị ung thư phổi cao là do phải “hút thuốc thụ động” của những người xung quanh.

Ngoài ra, theo các chuyên gia, Việt Nam còn nằm trong khu vực có khả năng mắc bệnh viêm gan siêu vi B, siêu vi C rất cao. Nếu mắc các bệnh này mà điều trị không tốt, lâu ngày sẽ chuyển hóa thành ung thư gan. (Tr.N)

Nhiều tổ chức Xã Hội Dân Sự nêu 6 tội của công an

Nhiều tổ chức Xã Hội Dân Sự nêu 6 tội của công an

Nguoi-viet.com

SÀI GÒN (NV) .- Mười chín tổ chức Xã Hội Dân Sự tại Việt Nam gửi thư ngỏ cho Bộ trưởng Công An CSVN Trần Đại Quang nêu ra 6 tội của guồng máy đàn áp nhân dân và khuyến cáo phải thay đổi.

Bức thư ngỏ của 19 tổ chức Xã Hội dân Sự (XHDS) được phổ biến nhân chuyện 2 thành viên của xã hội dân sự là Nguyễn Chí Tuyến và Đinh Quang Tuyến bị công an thường phục CSVN chận đánh dã man ngay trên đường phố vào các ngày 11 và 19 tháng 5, 2015 vừa qua.

Bức thư nêu tóm tắt 6 tội chính của ngành công an, mà nhiệm vụ chính yếu thay vì bảo vệ nhân dân, giữ gìn an ninh trật tự, lại gây tội ác với nhân dân chỉ vì nhu cầu bảo vệ chế độ độc tài đảng trị.

Ông Nguyễn Chí Tuyến bị Công an CSVN hành hung tét đầu khi phụ tá Ngoại trưởng Mỹ đến Hà Nội đối thoại nhân quyền. (Hình: FB nguyễn Văn Đề)

Tội thứ nhất là bám chặt vào lời thề “Chỉ biết còn Đảng, còn mình”. Bức thư ngỏ của 19 tổ chức XHDS lên án rằng “Khẩu hiệu có tính nguyên tắc ấy ngoài ra còn giết chết lương tâm của những con người đang làm một nghề tự bản chất là cao quý lẫn cần thiết, và do đó mở đường cho bao thái độ kiêu căng hống hách, tham nhũng tống tiền, ứng xử vô luật (sử dụng côn đồ), hành động ám muội (giả dạng côn đồ), tàn bạo đối với nhân dân.

XHDS lên án tội thứ hai của công an  là “Chà đạp văn hóa đạo đức dân tộc” khi phá đám các đám tang của người dân, phá thối các cuộc tưởng niệm liệt sĩ chống ngoại xâm.

Tội thứ ba là “Đàn áp nhân dân đứng lên đòi quyền sống.” Dẫn chứng là đàn áp các cuộc biểu tình của dân oan khắp nơi trên cả nước. Dân bị nhà cầm quyền cướp đất cướp nhà rồi đền bù bằng những số tiền rất nhỏ, hoặc nhiều khi là không đền bù, đẩy người ta vào cảnh khốn cùng.

Tội thứ tư của công an là tra tấn, ép cung chết người. Báo cáo của nhà cầm quyền nói trong 3 năm qua hơn 260 người đã bị chết khi mới bị tạm giam trong đó không ít bị vu cho là tự tử mà không có một cuộc điều tra độc lập nào kiểm chứng.

Tội thứ năm là “Bạo hành đối với những người hoạt động nhân quyền”. Bức thư ngỏ nêu ra một số trường hợp điển hình như đàn áp các luật sư can đảm bảo vệ lẽ phải, đánh đập sách nhiễu hay ít nhất ngăn chặn những ai tham gia vận động nhân quyền.

Tội thứ sáu của công an là “Hành hạ các tù nhân lương tâm”. Bức thư ngỏ kể một số trường hợp điển hình như các tù nhân lê Công Định, Lê Thị Phương Anh bị khủng bố, tra tấn thể xác và tinh thần để kép cung.

“Hai trường hợp bức cung nổi tiếng nhất là buộc Nguyễn Văn Chưởng và Hồ Duy Hải vào tội giết người để nay bị tuyên án tử.” Bức thư ngỏ viết. “Một khi họ đã thụ án, công an tiếp tục cưỡng buộc nhận tội những tù nhân bất khuất, bằng nhiều biện pháp bất nhân bẩn thỉu như bỏ đói (Đặng Xuân Diệu), nhờ tù nhân hình sự đánh đập (Hồ Thị Bích Khương), biệt giam kỷ luật (Nguyễn Đặng Minh Mẫn), cắt thăm nuôi (Đinh Nguyên Kha), không chăm sóc y tế đầy đủ (Nguyễn Xuân Nghĩa), đày đi thật xa gia đình (Mai Thị Dung, Tạ Phong Tần). Đặc biệt là đầu độc cho chết trong tù (như Huỳnh Anh Trí, Đinh Đăng Định).”

Với những thành tích “còn đảng, còn mình” như thế, các tổ chức XHDS nói rằng coi dân “như kẻ thù chỉ làm suy giảm nguyên khí quốc gia, gây chán nản cho những công dân thiện chí, và dĩ nhiên chẳng thể nào làm đất nước phát triển. Rõ ràng công an đang bôi tro trét trấu vào mặt chế độ, đồng thời cho thấy công an chính là kẻ thù tàn hại Tổ quốc Dân tộc.” (TN)

Quốc tế kêu gọi thả ông Trần Huỳnh Duy Thức

Quốc tế kêu gọi thả ông Trần Huỳnh Duy Thức

Ông Thức từng là một doanh nhân

Gần 20 tổ chức quốc tế hoạt động vì quyền con người đã ký tên vào một tuyên bố kêu gọi chính quyền Việt Nam trả tự do cho ông Trần Huỳnh Duy Thức, người hiện đang thụ án tù về tội ‘Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân’.

Lời kêu gọi này được đưa ra nhân dịp tròn sáu năm ngày ông Thức bị bắt giữ và khởi tố – ngày 24/5 năm 2009.

Ông Thức đã bị đưa ra xét xử hồi đầu năm 2010 cùng với các ông Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung và Lê Thăng Long trong một vụ án chính trị lúc đó được dư luận đặc biệt quan tâm.

Ông Thức là người nhận mức án nặng nhất là 16 năm tù cùng với 5 năm quản chế, trong khi các bị cáo trong cùng vụ án với ông bị tuyên án từ năm đến bảy năm tù.

Hiện tại, các ông Long, Trung và Định đều đã được trả tự do sau một thời gian thụ án.

‘Chỉ là viết blog’

Bản tuyên bố nói rõ ông Thức bị bắt và khởi tố ‘chỉ vì ông thực hiện quyền tự tự do biểu đạt của mình một cách ôn hòa’.

“Trái ngược với bản án tuyên tội hoạt động nhằm ‘lật đổ’ chính quyền, các hoạt động bị đưa ra truy tố của ông Thức và những người bị kết án cùng ông thực chất chỉ là viết blog kêu gọi cải cách chính trị và tôn trọng quyền con người,” bản tuyên bố viết.

” Trái ngược với bản án tuyên tội hoạt động nhằm ‘lật đổ’ chính quyền, các hoạt động bị đưa ra truy tố của ông Thức và những người bị kết án cùng ông thực chất chỉ là viết blog kêu gọi cải cách chính trị và tôn trọng quyền con người.

Bản tuyên bố yêu cầu thả Trần Huỳnh Duy Thức”

“Các bị cáo đã không được đưa ra xét xử trong một phiên tòa công bằng, khi mà thân nhân của họ cũng như các ký giả nước ngoài không được cho vào phòng xử án.”

Bản tuyên bố cũng lưu ý việc trong phiên tòa xét xử vụ án này, ‘micro của các bị cáo thường xuyên ngưng hoạt động mỗi khi đến lượt trình bày của luật sư bào chữa cho ông Thức hay khi ông Long có ý định công khai trước tòa việc ông cùng các bị cáo khác đã bị bức cung để khai nhận tội’.

“Theo các nhân chứng có mặt tại phiên xét xử, các thẩm phán chỉ dành ra 15 phút nghị án trong khi lại mất đến 45 phút đọc bản tuyên án, qua đó cho thấy khả năng bản án đã được chuẩn bị trước thời điểm phiên tòa diễn ra,” bản tuyên bố nhận định.

Bản tuyên bố nhắc lại việc hồi cuối năm 2012 Nhóm Làm việc chống Giam giữ Tùy tiện của Liên hiệp Quốc đã kết luận việc kết án ông Thức là ‘vi phạm quyền tự do tư tưởng và biểu đạt vốn được đảm bảo tại Điều 19 Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị’.

“Chúng tôi kêu gọi nhà nước Việt Nam tuân thủ các nghĩa vụ quốc tế lẫn trong nước của mình bằng cách trả tự do ngay lập tức cho ông Thức,” tuyên bố viết và yêu cầu ‘trả lại công lý’ cho ông Thức bằng cách hủy bỏ bản án dành cho ông.

Bản tuyên bố này được các tổ chức như Ân xá Quốc tế, Những người bảo vệ Quyền Dân sự, Căn nhà Tự do, Ủy ban Nhân quyền châu Á, Diễn đàn châu Á vì Nhân quyền và Phát triển, Công dân vì Công lý và Hòa bình… đồng ký tên.

Ngoài ra một số tổ chức xã hội dân sự, hội đoàn và các giáo hội tôn giáo không do Nhà nước kiểm soát ở Việt Nam cũng ký tên vào bản tuyên bố này.

‘Bị cầm tù oan sai’

Ông Thức là người nhận bản án nặng nhất trong bốn bị cáo

Trao đổi với BBC, ông Trần Văn Huỳnh, thân phụ ông Trần Huỳnh Duy Thức, nói trong bối cảnh hiện nay khi mà Việt Nam đang đàm phán Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) với Hoa Kỳ, thì ông hy vọng con trai ông cùng các tù nhân lương tâm khác sẽ được trả tự do trước thời hạn.

“Con tôi cũng mong muốn được như vậy và đã có đơn xin xem xét lại theo thủ tục Giám đốc thẩm,” ông Huỳnh cho biết, “Con tôi khẳng định là mình bị kết tội oan sai theo kết luận của Tòa sơ thẩm và Tòa phúc thẩm và hy vọng bản án sẽ được xem xét lại theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam.”

Ông cho biết là lá đơn ông Thức gửi đến Quốc hội đã được Ủy ban Tư pháp Quốc hội chuyển sang cho Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao và Tòa án Nhân dân Tối cao nhưng đến nay ‘vẫn chưa có câu trả lời’.

“Sáu năm con tôi bị cầm tù là oan sai. Tôi và gia đình luôn mong muốn có sự lắng nghe từ phía chính quyền Việt Nam,” ông Huỳnh nói thêm.

Huế: Việt Kiều Bị Cháu Ngoại Lục Túi, Chôm 2,500 Đôla

Huế: Việt Kiều Bị Cháu Ngoại Lục Túi, Chôm 2,500 Đôla

Vietbao.com

HUẾ — Việt kiều về nước, coi chừng bị trộm… ngay chính trong dòng họ gia đình…

Báo Công an Nhân dân kể rằng lợi dụng lúc ông ngoại (Việt kiều Australia) ra sân nhà hóng mát, Tường lẻn vào phòng ngủ của ông rồi lục túi lấy trộm 2.500 đô la Australia để trang trải tiền “bóng bánh”.

Bản tin báo này nói là vào ngày 21/5, Công an huyện Phú Vang, Thừa Thiên-Huế cho biết, đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối tượng Nguyễn Tường (21 tuổi, trú xã Phú An, Phú Vang) về hành vi trộm cắp tài sản.

Ông Lê Xuân Đỗ, Việt kiều Australia, về thăm quê, ở tại nhà cháu ngoại là Tường, sau đó bị mất trộm 2.500 đô la Australia và 3 triệu đồng Việt Nam, tương đương khoảng 47 triệu đồng.

Nhận được tin báo, Công an huyện Phú Vang tổ chức điều tra và xác định Tường là thủ phạm vụ trộm.

Bản tin thêm, ghi lời Tường khai, do thua độ bóng đá, ngày 12/5, lợi dụng lúc ông Đỗ ra trước sân nhà hóng mát, Tường lẻn vào phòng ông Đỗ ngủ lục túi lấy trộm số tiền trên.

8 sĩ quan Hải Quân gốc Việt cùng tốt nghiệp, lần đầu tiên tại Mỹ

8 sĩ quan Hải Quân gốc Việt cùng tốt nghiệp, lần đầu tiên tại Mỹ

Nguoi-viet.com

Linh Nguyễn/Người Việt

ANNAPOLIS, Maryland (NV) – Lần đầu trong lịch sử Hoa Kỳ, số sĩ quan Hải Quân Mỹ gốc Việt khóa 2015, tốt nghiệp đông nhất, tám người, và ra trường vào lúc 10 giờ sáng hôm nay, Thứ Sáu, 22 Tháng Năm, tại sân vận động Navy-Marine Corps Memorial của Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ ở Annapolis, Maryland.

Theo cựu Trung Tá Ross Nguyễn, chủ tịch Hội Quân Nhân Mỹ Gốc Việt (VAUSA), danh sách các tân thiếu úy hải quân Mỹ gốc Việt và (nguyên quán), gồm có Heather Bùi (San Diego, CA), Tina Kiều (Garden Grove, CA), Brandon Trần (Montebello, CA), Ryan Trần (Quartz Hill, CA), Andrew Trương (Marriottsville, MD), Ryan Lê (High Point, NC), Jake Ðặng (Annandale, VA), và Amanda Thạch (Seattle, WA).


Heather Bùi. (Hình: VAUSA cung cấp)

 


Tina Kiều. (Hình: VAUSA cung cấp)

“Cứ mỗi lễ ra trường của học viện, thành phố Annapolis tưng bừng cả tuần lễ trước. Giây phút mở đầu chương trình mãn khóa dự trù sẽ rất ngoạn mục với màn biểu diễn của đội phản lực cơ Navy Blue Angels, xuất xứ từ năm 1946, tính đến nay đã thu hút 463 triệu khán giả,” Trung Tá Hải Quân Tuấn Nguyễn, giám đốc điều hành hội VAUSA, cho nhật báo Người Việt biết.

Nói về kinh nghiệm gặp gỡ các sinh viên sĩ quan gốc Việt khi còn trong thời gian huấn luyện, Trung Tá Tuấn nhận xét: “Các em có thiện cảm khi thấy tôi mặc quân phục hải quân nên không ngần ngại tâm sự khi được chúng tôi mời sinh hoạt chung. Các em còn rất trẻ, thuộc thế hệ thứ ba, rất dễ thương và lý tưởng. Ða số các sinh viên là cháu của các cựu quân nhân QLVNCH.”


Brandon Trần. (Hình: VAUSA cung cấp)

 


Ryan Trần. (Hình: VAUSA cung cấp)

Ðể bày tỏ sự ủng hộ, vị trung tá gốc Việt cho biết thêm: “Chúng tôi có xin được 50 vé để các bác, các chú trong cộng đồng người Việt có thể tham dự vào ngày mãn khóa. Ai cũng vui và nô nức đón chờ nhìn các con cháu tung nón, làm rạng danh nòi giống.”

Ông cho biết, ông Ðoàn Hữu Ðịnh, chủ tịch cộng đồng Việt Nam vùng Washington, DC, Virginia, và Maryland, cũng sẽ tham dự lễ tốt nghiệp của các tân sĩ quan.

Muốn được nhận làm sinh viên sĩ quan, ứng viên phải là công dân Mỹ, ít nhất 17 tuổi và không quá 23 tuổi tính đến ngày 1 Tháng Bảy năm nhập trường; phải có giấy giới thiệu chính thức, thường từ một dân biểu, hai thượng nghị sĩ của Quốc Hội Hoa Kỳ và phó tổng thống Hoa Kỳ. Không cần quen biết nhưng được chọn theo thành tích cá nhân.

Mỗi khóa có khoảng trên 2,000 sinh viên sĩ quan cho hai ngành Hải Quân hay Thủy Quân Lục Chiến.


Andrew Trương. (Hình: VAUSA cung cấp)

 


Ryan Lê. (Hình: VAUSA cung cấp)

Chương trình học bốn năm, ngoài thuật lãnh đạo chỉ huy, sinh viên sĩ quan được đào tạo các ngành học chính như kỹ sư, khoa học tự nhiên, nhân văn, và xã hội học, giống như tại các trường đại học dân sự hàng đầu.

Sinh viên cũng được học những kỹ năng chuyên môn cần thiết cho một sĩ quan Hải Quân hay Thủy Quân Lục Chiến, và có những lớp cao cấp chuẩn bị cho sinh viên chương trình cao học. Khi tốt nghiệp sinh viên được cấp văn bằng cử nhân và mang cấp bậc thiếu úy.

Hải Quân đài thọ 100% học phí và sinh viên sĩ quan được trả mỗi tháng $920.49, và trừ từ lương, các phí tổn, như hớt tóc, giặt quần áo, lệ phí sách lưu niệm, và các hoạt động khác trong thời gian huấn luyện. Tiền mặt thật sự một sinh viên sĩ quan năm thứ nhất nhận được là $100/tháng và tăng dần trong những năm sau.

Ban đầu, học viện được gọi là Trường Hải Quân, do ông George Bancroft, bộ trưởng Hải Quân Hoa Kỳ, thành lập năm 1845 tại Fort Severn, Annapolis. Chỉ huy trưởng đầu tiên là ông Franklin Buchanan với ban giảng huấn gồm bốn sĩ quan và ba giảng viên dân chính. Số sinh viên theo học chỉ có 50 người. Chương trình học kéo dài năm năm, với năm đầu và năm cuối học tại Annapolis, ba năm thực tập hải hành.


Jake Ðặng. (Hình: VAUSA cung cấp)

 


Amanda Thạch (trái). (Hình: VAUSA cung cấp)

Năm 1850, trường Hải Quân trở thành Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ. Một năm sau, học viện chuyển sang chương trình đào tạo bốn năm như hiện nay tại Annapolis, với chương trình thực tập hải hành vào các mùa hè của khóa học.

Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ được tạp chí U.S. News & World Report xếp hạng trường công số một trong ba năm liền, và từng đào tạo những lãnh đạo nổi tiếng, gồm một tổng thống Hoa Kỳ, 16 đại sứ, 24 dân cử Quốc Hội Hoa Kỳ, năm thống đốc tiểu bang, năm bộ trưởng hải quân, một bộ trưởng không quân, năm tổng tham mưu trưởng, 52 phi hành gia, hai người được giải Nobel, và nhiều học giả các ngành khác, trong đó có những tên tuổi quen thuộc như Tổng Thống Jimmy Carter, Tướng Charles Bolden, Thượng Nghị Sĩ John McCain, Tư Lệnh Hạm Ðội Chester W. Nimitz, ông H. Ross Perot, v.v…

Chỉ huy trưởng hiện tại của trung đoàn sinh viên sĩ quan ngành hải quân là Ðại Tá William D. Byrne, Jr. và chỉ huy phó ngành thủy quân lục chiến là nữ Ðại Tá Bobbi Shea.

Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ tọa lạc tại số 121 Blake Road, Annapolis, MD 21402.

Phái đoàn nhân quyền Mỹ gặp gỡ Hội Đồng Liên Tôn tại Sài Gòn

Phái đoàn nhân quyền Mỹ gặp gỡ Hội Đồng Liên Tôn tại Sài Gòn

Nguoi-viet.com

Việt Hùng/Người Việt

SÀI GÒN (NV) – Ngày 21 Tháng Năm, 2015, phái đoàn nhân quyền Hoa Kỳ do Đại Sứ Lưu Động về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế Hoa Kỳ David Saperstein dẫn đầu đã có buổi gặp gỡ và trao đổi với Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam tại Dòng Chúa Cứu Thế số 38 Kỳ Đồng, quận 3, Sài Gòn.

Từ trái sang: Phụ tá đặc biệt của Đại Sứ Victoria Thoman, ông Lê Văn Sóc,
Hòa Thượng Thích Không Tánh, Đại Sứ Lưu Động về Tự Do Tôn Giáo
Quốc Tế Hoa Kỳ David Saperstein, Chánh Trị Sự Hứa Phi, Mục Sư
Nguyễn Mạnh Hùng, Trưởng Phòng Chính Trị Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ
Charles Sellers và ông Lê Quang Hiển. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)

Phái đoàn Hoa Kỳ gồm có: Đại Sứ Lưu Động về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế Hoa Kỳ David Saperstein, phụ tá đặc biệt của Đại Sứ Victoria Thoman, Trưởng Phòng Chính Trị Tổng Lãnh Sứ Quán Hoa Kỳ Charles Sellers.

Phái đoàn Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam (HĐLTVN) gồm có: Hòa thượng Thích Không Tánh, Mục Sư (MS) Nguyễn Mạnh Hùng, Chánh Trị Sự Hứa Phi (Đạo Cao Đài), ông Lê Văn Sóc và ông Lê Quang Hiển (Phật Giáo Hòa Hảo).

Trao đổi thẳng thắn

Hoạt động chính trong buổi tiếp xúc này là gặp gỡ, trò chuyện trao đổi những vấn đề liên quan đến tự do tôn giáo, nhân quyền. Giúp cho phái đoàn Hoa Kỳ hiểu hết tình hình ở Việt Nam, nhằm tìm một giải pháp tối ưu trong vấn đề cần trao đổi giữa chính phủ Hòa Kỳ và Việt Nam về Hiệp Định TPP sắp tới.

Hòa Thượng Thích Không Tánh cảm ơn ngài đại sứ lưu động và phái đoàn đã dành thời gian để tiếp xúc và lắng nghe ý kiến của các tôn giáo độc lập tại Việt Nam. Hòa thượng cũng bày tỏ rất tiếc là dịp này vì các Linh Mục Dòng Chúa Cứu Thế (DCCT) bận tĩnh tâm nên phái đoàn của Công Giáo không tham gia được mà chỉ có 4 tôn giáo tham gia tiếp xúc.

“Sự thật mà nói, không có cái gọi là ‘tự do tôn giáo ở Việt Nam.’ Chỉ có các tôn giáo quốc doanh mới được chính quyền tạo điều kiện, các tôn giáo độc lập nói chung và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất nói riêng, từ sau 30 Tháng Tư năm 1975 đến nay đều bị nhà cầm quyền CSVN đàn áp tịch thu tài sản, đất đai, các cơ sở thờ tự” – Thầy Thích Không Tánh trình bày.

Hòa Thượng cho biết thêm, “Hiện nay Chùa Liên Trì do tôi làm trụ trì luôn luôn bị an ninh canh gác, cô lập và ngăn cản gây khó khăn khi phát quà cứu tế cho quý anh em thương phế binh VNCH, các bệnh nhi ung thư, bà con dân oan và các gia đình thuyền nhân bị cưỡng bức hồi hương.”

Còn Chánh Trị Sự Hứa Phi bày tỏ, “Việc nhà cầm quyền CSVN cam kết về tự do tôn giáo, nhân quyền để được vào TPP là đánh lừa quốc tế. Thực tế họ cũng đã cam kết để được vào WTO và mới đây được làm thành viên của Hội Đồng Nhân Quyền LHQ nhưng sau khi được vào họ vẫn tiếp tục đàn áp các tôn giáo độc lập, các tổ chức và những cá nhân đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền.”

Cũng tâm tình như vậy, Hòa Thượng Thích Không Tánh cho biết, “Việc đàn áp càng ngày càng tàn nhẫn và tinh vi hơn như dùng côn đồ đập phá một số cơ sở thờ tự của giáo hội Mennonite độc lập và hành hung chức sắc tôn giáo, những nhà hoạt động dân chủ. Mới đây, chính quyền Quận 2 đã đưa cho chùa Liên Trì quyết định và một thông báo nhằm cưỡng chiếm nhà, giải tỏa chùa Liên Trì. Họ báo cho phật tử biết sau khi Việt Nam được vào TPP thì sẽ cưỡng chế giải tỏa chùa.”

Còn Mục Sư Nguyễn Mạnh Hùng, “Hiện nay nhà cầm quyền CSVN đặt ra những văn bản pháp luật trái với các Công Ước Quốc Tế, vi phạm nghiêm trọng quyền con người nhằm bóp nghẹt và triệt tiêu các tôn giáo độc lập.”

Mục sư cũng trình bày chi tiết về các vụ việc công an và chính quyền địa phương dùng côn đồ tấn công, đập phá tan hoang hội thánh Mennonite Bến Cát, Bình Dương và hội thánh Chuồng Bò. Họ bắt bớ, hành hung, đánh đập các mục sư, có trường hợp phải nhập viện cấp cứu như Mục Sư Nguyễn Hồng Quang.

Ngài đại sứ rất quan tâm tới các trường hợp này và hỏi có bằng chứng gì chứng tỏ có sự hiện diện của công an không?

Sau khi Mục Sư Hùng phân tích các chứng cứ và ông Hứa Phi đưa ra hình ảnh chứng minh thì ngài đại sứ chấp nhận và tỏ ra rất quan tâm.

Mục Sư Hùng cũng trình bày về trường hợp Mục Sư Nguyễn Công Chính và Mục Sư Dương Kim Khải còn đang bị cầm tù và đặc biệt Mục Sư Chính bị phân biệt đối xử, bị hành hạ dã man trong tù cũng như đã bị kết án mấy năm rồi mà đến nay vẫn chưa được nhận bản án để kêu oan.

Hoa Kỳ luôn coi trọng nhân quyền và tự do tôn giáo

Trưởng phòng chính trị Tổng Lãnh Sự Mỹ tại Sài Gòn Charles Sellers cho biết, “Hôm nay tôi rất ngạc nhiên khi nghe các trình bày của quí vị. Nó hoàn toàn trái ngược với các văn bản mà chính quyền Việt Nam cung cấp cho chúng tôi. Chắc chắn những gì quí vị trao đổi hôm nay đều được chúng tôi ghi nhận.”

Ngài David Saperstein thay mặt phái đoàn Hoa Kỳ, “Cám ơn các chức sắc Hội Đồng Liên Tôn đã dành thời gian cung cấp cho đoàn những thông tin rất quý giá. Chúng tôi sẽ đưa thông tin này vào nội dung cuộc đàm phán thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) với Việt Nam. Hoa Kỳ mong muốn Việt Nam sẽ trả tự do cho một số tù nhân lương tâm trong nay mai.”

Ông cho biết thêm, “TPP có thể đem lại cơ hội phát triển kinh tế cho Việt Nam. Nhưng quyền lợi luôn đi đôi với trách nhiệm, chúng tôi muốn thúc đẩy Hà Nội phải cải tiến các điều kiện nhân quyền, tự do tôn giáo trong nước.”

Sau đó ngài khẳng định, “Nếu Việt Nam được chấp thuận vào TPP thì sẽ có một hiệp định, với những cam kết cụ thể về cải thiện nhân quyền, đặc biệt về vấn đề quyền lao động và quyền lập hội. Tôi có thể khẳng định là chúng tôi sẽ giám sát việc Việt Nam thực thi các cam kết sau khi vào TPP, nếu hiệp định kia được ký kết. Nếu Việt Nam không thực hiện thì chính phủ Hoa Kỳ sẽ có biện pháp trừng phạt.”

Tị nạn giáo dục : Còn đi nhiều, đi trống rỗng, đi hết…

Tị nạn giáo dục : Còn đi nhiều, đi trống rỗng, đi hết…

Bình Luận

Phù Sa phỏng vấn nhà văn Dạ Ngân

Du học để “tị nạn giáo dục”

Các ông bố, bà mẹ hiện đại ở các đô thị đang có xu hướng “ấn” con đi du học càng sớm càng tốt ? Xu hướng này phản ánh điều gì về tâm lý và sự thay đổi trong xã hội hiện nay ?

Xin đừng quên người Việt mình rất chăm con, bất đắc dĩ người ta mới chịu xa con sớm và họ biết rõ, con mình sẽ “lóng ngóng” ở xứ người một thời gian dài.

Nhưng tại sao có tâm lý đua nhau cho con đi sớm ? Là vì cung cách của nền giáo dục không còn khiến người ta an tâm.

Tính hiếu học của người Việt đang bị thách thức. Những người có tiền không dại gì để con mình chịu đựng sự thể nghiệm mãi của những nhà cải cách và phải học theo kiểu “nhồi sọ” ở trường, lại còn phải học thêm học nếm mãi.

Ở khía cạnh giáo dục, chị lý giải hiện tượng này như thế nào ?

Ngày nay, nhiều người Việt ra nước ngoài là để tị nạn giáo dục.

Tình hình đã mười mươi như vậy, nhưng hình như phía vĩ mô không muốn thay đổi. Làm giáo dục mà không triết lý giáo dục thì sao thiết kế được?

Sao các môn xã hội không có sức hấp dẫn mà còn khiến Học Sinh bội thực, ngán ngẩm ? Các em không thích môn văn, không yêu môn sử, không thiết tha môn địa, không “vào” với môn đạo đức công dân? Vậy thì giỏi toán và giỏi các môn tự nhiên để làm gì, để làm người Việt ngô ngọng hay làm rô – bốt ?

Tôi thấy bất an với kiểu làm sách giáo khoa, tôi ngạc nhiên với sự im lặng của chính các thầy cô trong ngành giáo dục. Họ biết cả đấy, họ chán đấy mà họ không làm gì, không ai lên tiếng, họ sợ họ hèn hay họ đã chai lì cả rồi ?

Nếu tôi là một quan chức trong ngành giáo dục thì chắc chắn tôi sẽ từ chức. Không làm gì nổi nữa, chỉ có cách cho con cho cháu “tị nạn” mà thôi.

Không phải chép văn mẫu đã là “được làm người”

Một gia đình có con trúng học bổng Singapore năm 14 tuổi đã phấn khích thốt lên: “ôi, cháu tôi đã được làm người”.

“Ôi, cháu tôi được làm người” là một câu nói có vẻ quá lên nhưng bên trong nó có sự thật đó chứ!

Hãy xem trường điểm và trường chuyên đã làm cho cha mẹ các em phải chạy chọt và gây thêm ách tắc giao thông như thế nào? Hãy xem tuổi thơ của các em nhỏ đang được chơi hay đang bị học kiểu “nhồi thức ăn cho ngỗng”? Một cô cháu họ của tôi kể, trong thực hành môn Văn lớp 4 của con nó có thứ đề đại loại: “Hãy viết một bức điện tín”. Chính tôi đã từng giúp cho đứa cháu ngoại học lớp 5 ở Hà Nội làm đề ngoại khóa là “Hãy viết suy nghĩ của em về chiến thắng của trận Điện Biên Phủ trên không?”.

Có phải bắt các em làm chính trị gia hay làm công dân sớm? Sao không để cho các em tiểu học được phát triển tự nhiên cả trong tình yêu đất nước, gia đình, thầy cô và tiếng Việt mà cứ làm cho chúng chán ngấy lên vậy?

Cho con du học là xu hướng đã có từ thời thuộc Pháp, để con cái được học cái văn minh, được sống và được thụ hưởng môi trường văn hóa cao. Tại sao người ta thích cho con đi Singapore, đảo quốc ấy có đúng là thiên đường ở châu Á mà chúng ta đang mơ ước không?

Nhưng chị có nghĩ rằng bọn trẻ sẽ có những tổn thương tâm lý vì xa bố mẹ từ khi còn quá nhỏ?

Tôi không có con nhỏ nhưng tôi đã khuyến khích và đóng góp cho cháu ngoại của tôi vào trường quốc tế từ đầu cấp II. Vì sao? Vì ở đó nó được học chương trình giảm tải, nó được học tiếng Anh bằng phương pháp đúng và không phải làm văn mẫu.

A ha! Riêng việc không phải làm văn kiểu học thuộc lòng và chép nguyên xi văn mẫu đã là “được làm người” rồi. Nó học văn một cách hào hứng và tiếng Việt của nó dậy hương là vì nó được làm văn theo suy nghĩ của mình. Cả nhà xúm nuôi một đứa bé, cực nhưng mà vui, không bị sốc, không bị stress vì “né” được nhiều “ngón hành hạ” của ngành giáo dục trong nước.

Các trường ở Singapore họ hay nhảy vào các trường điểm và trường chuyên của chúng ta để “hớt váng” từ năm lớp 9 hoặc lớp 10.

Số đi du học tự túc thì đủ lứa tuổi. Các em phải chịu thiệt thòi nhưng nền giáo dục của các nước văn minh rèn người khá hay.

Theo tôi, đi từ đầu cấp III là vừa, cho đi sớm hơn là sẽ có hậu quả.

Con mình nuôi lớn mà người ta “dùng”

Việc mỗi gia đình tự lo cho tương lai của con cái như vậy sẽ tạo ra một nguồn nhân lực tốt cho đất nước ?

Rõ ràng là nhân tài sẽ thất thoát. Con cái mình nuôi lớn mà người ta dùng, toàn là người thông minh và nhiều người tài đấy chứ. Có đau không, có ức không? Đành chịu.

Các vị ở trên cao có xót không, xót sao không tìm cách và không thay đổi?

Liệu gia đình và chính các em Học Sinh đó có phải trả cái giá nào không ?

Đừng có mà đùa dai với truyền thống hiếu học của người Việt. Sẽ còn đi nhiều, đi trống rỗng, đi bằng hết, nếu những người cầm trịch của chúng ta không giật mình thì sẽ không cứu vãn được làn sóng tị nạn này đâu.

Rồi sẽ có thêm những thế hệ Việt kiều không biết tiếng Việt, quê hương đất nước xa vời. Đừng nghĩ người Việt sẽ cố kết tình quê hương và đất nước như cộng đồng người Tàu. Chúng ta là những người Việt trần ai, rất dễ bời rời và mất gốc khi ở xứ người.

Nhà văn, nhà báo Dạ Ngân sinh năm 1952, từng tốt nghiệp trường viết văn Nguyễn Du. Là tác giả của nhiều truyện ngắn, truyện dài và tiểu thuyết nổi tiếng. Trong đó, đặc biệt và gây tiếng vang nhất là tiểu thuyết “Gia đình bé mọn” đã đoạt giải thưởng của Hội nhà văn Hà Nội.

Cảnh giác truyền thống hứa hão của Trung Quốc

Cảnh giác truyền thống hứa hão của Trung Quốc

Anh Vũ, thông tín viên RFA
2015-05-23

Cần cảnh giác truyền thống hứa hão của Trung Quốc Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (trái) Tổng thư ký Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, trao đổi cùng Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Tổng thư ký của Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, tại Bắc Kinh, Trung Quốc, ngày 07 tháng tư, năm 2015

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (trái) tiếp Ông Nguyễn Phú Trọng tại Bắc Kinh, Trung Quốc, ngày 07 tháng 4 năm 2015.

AFP

Your browser does not support the audio element.

Trung Quốc đang ráo riết biến đảo chìm thành đảo nổi ở vùng biển Trường Sa của Việt Nam. Điều đó cho thấy, Trung Quốc đã bộc lộ “truyền thống hứa hão” của họ, sẵn sàng quên ngay những điều cam kết trong Thông cáo chung Tập Cận Bình – Nguyễn Phú Trọng vừa ký kết rất hữu hảo cách đây không lâu. Các nhà bình luận chính trị nói gì về việc này?

Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong bối cảnh hiện nay

Kể từ khi bình thường hóa quan hệ vào năm 1990,  đến tháng 5/2014 sau việc Trung Quốc đưa giàn khoan HD-981 vào Biển Đông, quan hệ Việt Nam – Trung Quốc xấu đi chưa từng có.

Để khôi phục và củng cố quan hệ giữa 2 đảng cộng sản, từ ngày 7-10/4/2015, Tổng BT Đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng đã tiến hành thăm chính thức Trung Quốc.

Trong chuyến thăm này, việc giải quyết các bất đồng về vấn đề Biển Đông là vấn đề trọng tâm của hai bên, điều này đã được thể hiện trong Thông cáo chung giữa hai bên ghi rõ: “…hai bên kiên trì thông qua hiệp thương và đàm phán hữu nghị, tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai bên đều có thể chấp nhận được”.

” Thực tế thì nhà cầm quyền Trung Quốc luôn hành động ngược lại, hơn một năm qua, họ đã vừa công khai, vừa âm thầm bồi đắp các đảo chìm thành những đảo nổi, những cái thực thể trên vùng biển Trường sa của Việt Nam. Điều đó đã vi phạm chủ quyền của Việt Nam và luật quốc tế.
-Đại tá Nguyễn Đăng Quang”

Đánh giá về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong bối cảnh hiện nay, từ Hà nội Đại tá Nguyễn Đăng Quang, nguyên sĩ quan công an đã nghỉ hưu nhận định:

“Hiện nay quan hệ Việt Nam – Trung Quốc không có gì nổi cộm lên hay cấn cá nhiều, và hai bên tôi cảm thấy cố giữ tình trạng này kéo dài càng tốt. Nhưng trên thực tế Trung Quốc không từ bỏ tham vọng của họ đối với Biển Đông. Hai bên đếu ra sức có những lời lẽ thận trọng để giữ hòa hiếu với nhau và quan hệ tốt và người ta không quên nói to với thế giới rằng Trung Quốc luôn luôn giữ hòa hiếu với Việt Nam. Nhưng thực tế thì nhà cầm quyền Trung Quốc luôn hành động ngược lại, hơn một năm qua, họ đã vừa công khai, vừa âm thầm bồi đắp các đảo chìm thành những đảo nổi, những cái thực thể trên vùng biển Trường sa của Việt Nam. Điều đó đã vi phạm chủ quyền của Việt Nam và luật quốc tế.”

Việc gần đây Trung Quốc đang ráo riết tiến hành việc biến các đảo chìm ở vùng biển Trường Sa của Việt Nam thành các đảo nổi, để có thể tiến tới thiết lập vúng cấm bay (ADIZ) trên Biển Đông. Điều đó đã cho thấy Trung Quốc sẵn sàng quên ngay những điều đã cam kết trong bản Thông cáo chung.

Từ Hà nội, Đại tá Phạm Xuân Phương nguyên sĩ quan cao cấp thuộc Tổng cục Chính trị, cảnh báo:

000_Hkg9812263.jpg

Vùng đảo Gạc Ma nhìn từ trên cao, ảnh minh họa chụp hôm 15/5/2014.

“Trung Quốc đã thực hiện một cuộc chiến không tuyên bố, nhằm mục đích áp đặt và buộc Việt Nam phải khuất phục, đó là điều rõ như ban ngày. Cho nên là chúng tôi cũng đã nhận thức một cách tỉnh táo, minh bạch rõ ràng rằng tình hình quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc đang xấu đi một cách nghiêm trọng và nguy hiểm.”

Đây là một âm mưu hết sức nguy hiểm của Trung Quốc nhằm biến Biển Đông thành của riêng, đồng thời để đẩy Việt Nam vào thế rất bất lợi. Ông Nguyễn Đăng Quang ghi nhận:

“Bây giờ Trung Quốc đã bồi đắp một diện tích rất lớn để biến các đảo chìm thành đảo nổi, ở trên đó người ta xây dựng nhà cửa, thậm chí có những tòa nhà cao 8-9 tầng và những cái cảng để tàu chiến có thể neo đậu được. Họ biến những cái thực thể để sau này họ có lý do để tuyên bố chủ quyền, mà đây thực chất là những căn cứ quân sự. Nhưng tôi nghĩ rằng, đây là một ý đồ của Trung Quốc để người ta có cở sở để thiết lập một vùng nhận diện phòng không (ADIZ). Nếu một khi Trung Quốc tuyên bố điều đó thì sẽ ảnh hưởng ngay đến quyền lợi, lợi ích và sự tự do đi lại về hàng hải và hàng không của Việt Nam.”

“Chính quyền không thể im lặng…”

Dưới nhan đề “Chính quyền không thể im lặng…” tác giả Mai Tú Ân đã bày tỏ sự lo lắng của mình về việc Trung Quốc ra lệnh cấm đánh bắt cá trên Biển Đông, khi cho rằng: “Cùng với việc xây dựng kiên cố các đảo, thì giờ đây Trung Cộng lại ngang ngược ra một mệnh lệnh thuần túy hành chánh và bắt chúng ta phải thực hiện, y như Việt Nam chúng ta đã trở thành đất phiên thuộc hàng rào của chúng rồi. Chẳng biết lòng tham của những kẻ bá quyền này đến đâu, và Biển Đông dậy sóng đến bao giờ…”

Trả lời câu hỏi vì sao trước tình hình nghiêm trọng như vậy, phía chính quyền Việt Nam vẫn chưa có các phản ứng phù hợp?

PGS. Hoàng Ngọc Giao, nguyên Vụ trưởng Ban biên giới Chính phủ, trong một cuộc phỏng vấn gần đây đã cho RFA biết lý do. Ông nói:

“Tuy nhiên điều đáng tiếc là quan hệ chính trị cho nên chính phủ Việt Nam nhiều lúc cân nhắc đến chuyện quan hệ đối ngoại đối với Trung Quốc, giữ lấy khẩu hiệu 16 chữ vàng và 4 tốt. Và việc họ nêu ra như thế nhưng họ áp đặt chính phủ Việt Nam theo đường lối gọi là hữu hảo. Đây là một âm mưu một sách lược vừa đánh vừa trói buộc đối phương của Trung Quốc.”

” Rất rõ ràng rồi, toàn thế giới họ đã biết rằng Trung Quốc toàn nói một đằng làm một nẻo, đó là bản chất của nhà cầm quyền Trung Quốc hiện nay. Cho nên là các nước láng giềng của Trung Quốc, đặc biệt là Việt Nam phải hết sức cảnh giác về việc này.
-Đại tá Nguyễn Đăng Quang”

Khi được hỏi, ông có đánh giá gì về truyền thống hứa hão và chuyên nói một đằng làm một nẻo của nhà cầm quyền Trung Quốc?

Phải hết sức cảnh giác, Trung Quốc luôn dùng chiêu bài nói một đằng nhưng làm một nẻo, đây là vấn đề bản chất của nhà cầm quyền Trung Quốc từ xưa đến nay. Ông Nguyễn Đăng Quang khẳng định:

“Rất rõ ràng rồi, toàn thế giới họ đã biết rằng Trung Quốc toàn nói một đằng làm một nẻo, đó là bản chất của nhà cầm quyền Trung Quốc hiện nay. Cho nên là các nước láng giềng của Trung Quốc, đặc biệt là Việt Nam phải hết sức cảnh giác về việc này. Tức là chúng ta phải hành động sao cho đừng tin những gì họ nói, đừng tin những gì họ viết, đừng tin những gì họ tuyên bố, mà hày nhìn vào những việc làm để phán xử hành động của họ. Cho nên nếu cứ tin vào Trung Quốc rồi sẽ bị họ lừa, rồi họ ép mình để đẩy mình vào thế không cưỡng lại được.”

Trong bài viết “Quan hệ Việt-Trung: Bằng mặt, không bằng lòng?” trên trang VOA mới đây, Nhà nghiên cứu Dương Danh Dy đã khẳng định: “Từ lâu Trung Quốc không phải là nước XHCN, mà nó là nước đại Hán. Cho nên là chuyện nó lấn át được Việt Nam nó cứ lấn át. Lấn được bước nào thì cứ lấn. Cái chuyện mà lúc nó chơi cái này, nó thỏa hiệp cái này, làm ra vẻ hòa hoãn cái này, trong khi đó nó lại chơi cái chuyện khác thì là chuyện tất nhiên. Biên giới trên bộ thì Bộ trưởng hai bên gặp nhau, thỏa thuận, ra vẻ hòa bình, hữu nghị lắm, nhưng trên biển họ vẫn gây sự, cấm đánh bắt cá ở vùng biển của Việt Nam…”

Thế giới đã thay đổi, trong lúc này không thể nhìn nhận quan hệ Việt Nam – Trung Quốc theo lối cũ. Đại tá Phạm Xuân Phương ghi nhận:

“Chúng tôi không tin tưởng vì thực tế đã diễn ra không như họ dạy chúng tôi, họ dạy chúng tôi nhiều lắm chứ. Họ dạy chúng tôi về tinh thần quốc tế vô sản, về Chủ nghĩa Marx-Lenin, họ dạy chúng tôi nhiều thứ lắm. Nhưng thực tế diễn biến theo sự cảm nhận của chúng tôi không phải là như vậy. Thế giới đã thay đổi, song họ vẫn cứ nghĩ rằng thế giới không thay đổi, họ cứ nghĩ Trung Quốc và Việt Nam có cùng ý thức hệ. Đó là họ nhầm, không có đâu.”

Là hai nước láng giềng, chung biên giới trên bộ và trên biển, lại có quá trình gắn bó tương tác về văn hóa lịch sử, cũng như các cuộc chiến tranh qua lại giữa hai nước. Tuy vậy mọi hành động của Trung Quốc luôn cho người ta thấy rằng, nó thể hiện chủ nghĩa bá quyền Đại Hán, dùng bạo quyền để mở rộng biên giới, mở rộng vùng ảnh hưởng. Chính vì thế, người Việt Nam luôn phải cảnh giác đối với mọi âm mưu và thủ đoạn của người đồng chí phương Bắc.