Fifa và ‘đường đi’ của 10 triệu đôla

Fifa và ‘đường đi’ của 10 triệu đôla

Danny Jordaan là người rất xông xáo trong quá trình vận động giành quyền đăng cai cho Nam Phi

Một lá thư mới rò rỉ nội dung ra ngoài dường như cho thấy giới chức Nam Phi đã tìm cách gián tiếp chuyển khoản tiền 10 triệu đôla cho Fifa.

Lá thư được truyền thông Nam Phi tung ra được cho là do Chủ tịch Liên đoàn Bóng đá Nam Phi khi đó, Danny Jordaan viết ba tuần trước khi khoản thanh toán đầu tiên được thực hiện.

Cơ quan công tố Hoa Kỳ nói đây là khoản hối lộ các quan chức Fifa nhằm giành quyền đăng cai World Cup 2010 cho Nam Phi.

Nam Phi nói đó là khoản thanh toán hợp pháp nhằm tài trợ cho bóng đá vùng Caribbe.

Khoản 10 triệu đôla là điểm chủ chốt trong cuộc điều tra hình sự diện rộng mà Mỹ tiến hành, hiện đang đe dọa nhấn chìm cơ quan quản lý bóng đá thế giới.

Bảy quan chức hàng đầu của Fifa, gồm hai phó chủ tịch, đã bị bắt hồi tuần trước tại Thụy Sỹ.

Họ nằm trong số 14 người bị Hoa Kỳ cáo buộc với các tội danh nhận hối lộ và chi tiền “lại quả” với tổng trị giá ước tính hơn 150 triệu đôla trong thời gian 24 năm.

Bốn người khác trước đó đã bị buộc tội, trong đó cựu quan chức Fifa Chuck Blazer đã nhận tội tại Hoa Kỳ là có nhận hối lộ liên quan tới cuộc đua giành quyền đăng cai của Nam Phi.

‘Di sản hải ngoại’

Phóng viên BBC chuyên về khu vực Nam Phi, Karen Allen nói rằng lá thư bị tiết lộ mới nhất này càng củng cố cho các cáo buộc theo đó nói chính phủ Nam Phi đã tìm cách che giấu việc chuyển khoản 10 triệu đôla.

Lá thư do ông Jordaan ký và đề gửi cho Tổng thư ký Fifa Jerome Valcke.

Ông Jordaan nói Thứ trưởng Tài chính Jabu Moleketi khuyến nghị rằng khoản tiền được trả cho Fifa, nhưng Ngoại trưởng Nkosazana Dlamini Zuma nói cần “được trả qua Ủy ban Tổ chức World Cup Fifa 2010 của Nam Phi”.

Báo Nam Phi, tờ Mail và tờ Guardian dẫn lời ông Moleketi nói lá thư là “thêu dệt” và ông bác bỏ việc có “trao đổi về chuyện này” với ông Jordaan.

Cơ quan công tố Hoa Kỳ nói một quan chức cao cấp của Nam Phi đã tới Paris để trao tiền mặt được xếp thành từng cọc 10 ngàn đôla trong một phòng khách sạn cho một người không rõ danh tính nhưng làm việc cho ông Jack Warner, cựu phó chủ tịch Fifa và là người đứng đầu Liên đoàn Bóng đá Bắc, Trung Mỹ và Caribbe (CONCACAF).

Bộ trưởng Thể thao Nam Phi, Fikile Mbalula hôm thứ Tư nói các khoản thanh toán liên quan tới World Cup “hoàn toàn công khai trên mặt bàn” và không hề có chuyện trả tiền hối lộ.

Khoản tiền là nhằm tài trợ cho một “Chương trình Di sản Hải ngoại” qua đó hỗ trợ bóng đá cho người Phi ở vùng Caribbe. Nam Phi tự hào đã đăng cai World Cup đầu tiên ở châu Phi, và sẽ không để mình bị vướng vào cuộc chiến giữa Hoa Kỳ và Fifa, ông Mbalula nói.

Ông Valcke bác bỏ việc có bất kỳ hành vi sai trái nào có liên quan tới vụ việc.

Cơ quan công tố Hoa Kỳ hôm thứ Tư công bố bản ghi lời nhận tội của ông Blazer.

Ông Blazer nói: “Bắt đầu vào năm, hoặc khoảng năm 2004 rồi tiếp tục cho đến 2011, tôi và những người khác trong ủy ban điều hành Fifa đã đồng ý nhận các khoản hối lộ liên quan đến việc chọn Nam Phi làm nước đăng cai World Cup 2010.”

Ngoài cuộc điều tra của Hoa Kỳ, tin được công bố hôm thứ Năm rằng một đơn vị cảnh sát tinh nhuệ tại Nam Phi sẽ ra cuộc điều tra sơ bộ về cáo buộc nói các quan chức đã trả hối lộ trong cuộc chạy đua giành quyền đăng cai World Cup 2010.

Đề nghị truy tố cán bộ nhận hối lộ từ JTC

Đề nghị truy tố cán bộ nhận hối lộ từ JTC

Công an Việt Nam vừa hoàn tất điều tra vụ nhận hối lộ từ nhà thầu Nhật Bản trong một dự án đường sắt tại Hà Nội và đề nghị Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao truy tố 6 quan chức ngành đường sắt.

Đại sứ quán Nhật Bản tại Hà Nội nói với BBC rằng Tokyo “không có bình luận về vụ việc”.

“Đây là vấn đề của Việt Nam, hay nói cách khác là của chính phủ Việt Nam”, Bí thư thứ nhất phụ trách vấn đề vốn cho vay, ông Hayashi Hiroyuki, nói.

Phía Việt Nam đã mở cuộc điều tra sau khi các quan chức Tập đoàn tư vấn giao thông Nhật Bản (JTC) khai tại tòa án ở Nhật Bản rằng họ hối lộ quan chức Việt Nam để được Dự án đường sắt đô thị số 1 Hà Nội.

Báo Thanh Niên hôm 5/6 dẫn kết luận điều tra cho biết từ tháng 9/2009 đến tháng 2/2014, ông Phạm Hải Bằng đã chỉ đạo ông Duy và Thái nhận số tiền 69,9 triệu yen (khoảng 12 tỷ đồng) từ JTC.

Các bị can này khai đã sử dụng hết tiền vào các hoạt động liên quan đến dự án như tiếp khách, đối ngoại, tổ chức ký hợp đồng hoặc chi chung cho hoạt động của Ban Quản lý dự án đường sắt (RPMU) như đi nghỉ mát, thưởng dịp lễ tết.

Ông Bằng cũng khai đã đưa cho ông Trần Văn Lục 100 triệu đồng, ông Trần Quốc Đông 30 triệu đồng, Nguyễn Văn Hiếu 50 triệu đồng vào dịp Tết từ 2009 – 2014.

Sáu người bị đề nghị truy tố về tội ‘Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ’ bao gồm:

  • Ông Phạm Hải Bằng, nguyên Phó giám đốc Ban quản lý các dự án đường sắt
  • Phạm Quang Duy, nguyên Phó giám đốc Ban quản lý các dự án đường sắt
  • Nguyễn Nam Thái, Trưởng phòng Dự án 3 thuộc Ban quản lý các dự án đường sắt
  • Trần Văn Lục, nguyên Giám đốc Ban quản lý các dự án đường sắt
  • Nguyễn Văn Hiếu, nguyên Giám đốc Ban quản lý các dự án đường sắt
  • Trần Quốc Đông, Phó tổng giám đốc Tổng công ty đường sắt Việt Nam

Tướng Lê Minh Đảo tại Stanford

Tướng Lê Minh Đảo tại Stanford

Khôi An

Bài số 3533-16-29933vb5060415

Việt Báo ngày 3 tháng Sáu, tác giả Khôi An viết về Sinh Viên Gốc Việt tại Đại Học Stanford và Đêm Văn Hóa Việt 2015. Phần tiếp sau đây kể về Chiều Tưởng Niệm 30 Tháng Tư tại Stanford và tâm sự 40 năm sau của vị tướng VNCH từng sát cánh cùng đồng đội trong trận chiến sau cùng và trải qua 17 năm tù đầy. Bài được viết với tấm lòng của một phụ huynh “mong tiếp tục có dịp góp phần hướng dẫn để các em nhớ rằng nguồn gốc luôn luôn quan trọng vì nó tạo nên sắc thái độc đáo của mỗi người.”
***

image009
Thiếu Tướng Lê Minh Đảo (đứng giữa ở hàng nhất) với một số người tham dự Buổi Nói Chuyện và Tưởng Nhớ 30/4/2015

Buổi nói chuyện được tổ chức lúc sáu giờ chiều để tiện cho người đi học, đi làm. Vào giờ đó các xa lộ dẫn đến Stanford đều đông xe, nhưng mọi người đã dành thì giờ đi sớm để đến đúng giờ. Khuôn viên trường rộng mênh mông nhưng các em cử người đứng trước tòa nhà Kehillah để đón khách và còn đem cờ Việt Nam và cờ Mỹ thật to ra để ngay trên bãi cỏ gần đường (một cử chỉ thông minh và thật đáng yêu!) Nhờ thế, mọi người tìm ra nơi họp khá dễ dàng.

Buổi lễ năm nay đặc biệt vì mốc bốn mươi năm và sự có mặt của tướng Lê Minh Đảo. Ngoài các em sinh viên còn nhiều người lớn, phần đông là phụ huynh, và vài người Mỹ.

Phòng họp không lớn lắm nên không khí ấm cúng. Ở cuối phòng là một bàn dài với nước uống và thức ăn Việt Nam cho mọi người “nạp năng lượng” trước khi họp. Tuổi trẻ năng nổ, phóng khoáng, và thực tế  – học và làm việc rất hăng nhưng vẫn không quên rằng ăn cũng rất quan trọng! Một chi tiết nhỏ khác làm tôi vui vui là cách ăn mặc trang nhã của các em trong ban tổ chức. Vẻ lịch sự và trang trọng đúng mức cho dịp gặp gỡ vị khách đáng kính trong một ngày buồn của quê mẹ đã nói lên sự hiểu biết và trưởng thành của các em.

Buổi lễ bắt đầu đúng giờ theo chương trình đã soạn sẵn. Như một hình thức không bao giờ thiếu trong mỗi dịp quan trọng, phần đầu tiên là lễ chào cờ Mỹ Việt. Tiếp theo là phút yên lặng tưởng nhớ. Kế đó là một diễn giả trình bày ngắn gọn về cuộc chiến Việt Nam.

Rồi màn hình xuất hiện hình ảnh chiến trường Xuân Lộc đầu tháng Tư, 1975. Những cụm khói đen bốc lên cuồn cuộn. Tiếng đại bác nổ rền. Lời thuyết minh vang lên: The name Sai gon and the name Xuan Loc has become synonymous with hope and heroism. General Le Minh Dao defies the Communist… (Cái tên Sài gòn và Xuân Lộc đã trở thành đồng nghĩa với hy vọng và sự anh dũng. Tướng Lê Minh Đảo chống cự dũng mãnh trước Cộng quân…)

Trên màn ảnh, vị tướng xuất hiện. Nón sắt trên đầu hắt bóng xuống gương mặt căng thẳng nhưng quyết liệt, ông tuyên bố “Tôi sẽ giữ Long Khánh, dù đối phương đem tới đây hai hay ba sư đoàn”.

Đoạn phim dừng. Người giới thiệu chương trình tiếp lời:

“Đó là hình ảnh của thiếu tướng Lê Minh Đảo bốn mươi năm trước. Gần đây, tôi có xem những hình ảnh khác về ông trên You Tube. Trong một buổi nói chuyện vào tháng 4 năm 2000, ông nhắc đến cái chết của một người lính và ông đã nghẹn ngào. Từ đó, tôi hiểu ra rằng người anh hùng là người không sợ chết cho lý tưởng nhưng cũng không ngại khóc cho đau khổ của người khác. Với ý nghĩ đó, chúng ta hãy cùng chào đón Thiếu Tướng Lê Minh Đảo.”

Vị tướng tám mươi hai tuổi bước lên trong sự cảm động và tiếng vỗ tay nồng nhiệt của mọi người.

Ông khiêm tốn bắt đầu “Tôi rất vui mừng được gặp gỡ các em sinh viên của Stanford ngày hôm nay …”

Sau phần chào hỏi và nói tóm tắt về cuộc đời của mình, Thiếu Tướng Lê Minh Đảo chia sẻ qua những câu hỏi đã được các em gởi trước. Ông nói tiếng Việt với sự trang trọng, và có hai phụ huynh trực tiếp dịch lời ông ra tiếng Anh.
Câu hỏi của các em trải rộng từ những điều trong lịch sử như “Ông muốn chia sẻ bài học lớn nào về kinh nghiệm của ông trước, trong, và sau cuộc chiến? Thế hệ trẻ nên rút ra bài học gì từ cuộc chiến Việt Nam?” và “Ý nghĩa của trận Xuân Lộc” cho đến thắc mắc trong hiện tại “Chúng con nên nhớ gì về Tháng Tư Đen và tại sao cần phải ghi nhớ?”. Có một câu ngắn gọn và thoáng chút trẻ con như “Ở trong tù, ông sợ nhất là cái gì?”

Thiếu tướng Lê Minh Đảo trả lời với tâm tình của một cấp chỉ huy trong quân đội, của một người sống qua mấy chục năm chinh chiến điêu linh, của một người tù chính trị bị đày mười bảy năm, và của một người Việt tị nạn vẫn hết lòng với quê mẹ. Ông nói rõ kết quả của cuộc chiến Việt Nam là người dân của cả hai miền Nam Bắc Việt Nam đều thua, kẻ thắng cuộc duy nhất là thế lực Cộng Sản quốc tế. Ông nói về những tai ương chế độ Cộng Sản gây ra cho dân Việt, ông chia sẻ về kinh nghiệm khó khăn khi làm đồng minh với Mỹ, và ông trải lòng về lo lắng trước hiểm họa mất nước nếu chính quyền Việt Nam tiếp tục cúi đầu trước Bắc Kinh mà không đặt sự vẹn toàn lãnh thổ lên trên hết.

Trả lời câu hỏi ông sợ gì khi ở trong tù, ông nói: “Tôi đã từng sẵn sàng chết cho đất nước, vì thế trong tù tôi không sợ gì cả. Hơn nữa, tôi tin ở Thượng Đế và số mạng, điều đó giúp tôi thấy bình an hơn. Tuy nhiên, tôi thường buồn khi nghĩ tới những người lính và sĩ quan đã nghe lời tôi ở lại chiến đấu, và kết quả là họ phải chết lần chết mòn trong tù đày trong khi gia đình họ cũng gánh chịu rất nhiều đau khổ.”
Tuy vậy, ông cũng chia sẻ rằng đồng đội – khi gặp lại sau mười mấy năm tù đày, đã không hề buồn ông. Vì ông đã sát vai với họ, cùng hy sinh với họ đến giờ phút cuối. Bốn mươi năm sau, Xuân Lộc vẫn là niềm tự hào của người dân miền Nam, là câu trả lời trước thế giới, và là một biểu tượng dựng bằng máu và mạng sống cho sức chiến đấu và tinh thần của quân đội miền Nam.
Ông cũng thiết tha nhắn nhủ lớp trẻ bằng tấm lòng của một người cha, người ông. Khi được hỏi “Ông nghĩ tuổi trẻ gốc Việt ở Mỹ nên làm gì để giúp đỡ sự độc lập của Việt Nam?” ông nói to “Trước hết là phải học cho thiệt giỏi” làm các em cười ồ. Bởi vì, dù biết tiếng Việt nhiều hay ít, các em đều hiểu câu nói hết sức quen thuộc đó, câu nói mà từ tấm bé các em đã nghe từ cha mẹ, ông bà. Ông nói tiếp rằng ông tin tưởng nhiều người trong các em sẽ có đủ kiến thức và uy tín để nắm giữ các chức vụ quan trọng trong chính quyền hay quân đội Hoa Kỳ. Ông dặn dò “khi các con đại diện cho Hoa Kỳ trong việc giao thiệp với thế giới, điều đầu tiên là phải giữ lời, đừng phản trắc”. Có thể các em sinh viên còn ngây thơ chưa cảm thấy, nhưng những phụ huynh như tôi thì nghe được chút cay đắng còn bàng bạc trong lời khuyên “đừng phản trắc” của ông. Tôi nghĩ cho dù các em không hiểu được hết nỗi lòng của vị tướng từng bị đồng minh bỏ rơi, lời tâm huyết của ông về cách sống có trước có sau, không vì quyền lợi mà quay lưng với những người chung sức với mình thì mãi mãi là điều đáng ghi nhớ ở mọi lúc, mọi chức vụ, và mọi cảnh đời.

Buổi nói chuyện kéo dài một tiếng rưỡi. Các em lắng nghe và tham gia đặt câu hỏi tới phút cuối, không một chút xao lãng dù trong lúc nghe tiếng Việt hay trong phần dịch ra tiếng Anh.

Kế tiếp hai phụ huynh và người thầy dạy tiếng Việt trong trường Stanford hát tặng các em bài “Nhớ Mẹ” của Tướng Lê Minh Đảo bằng tiếng Việt và tiếng Anh cùng với bài “Có Những Người Anh” để nhớ ơn các chiến sĩ đã hy sinh xương máu để chiến đấu giữ vững miền Nam hơn hai mươi năm.
image010

Thiếu Tướng Lê Minh Đảo trong một khoảnh khắc suy nghĩ trước khi trả lời một câu hỏi của sinh viên

Sau đó, đại diện của SVSA lên nói cảm nghĩ và lời cám ơn. Các em chia sẻ kinh nghiệm trong gia đình và tâm tình của những người trẻ lớn lên trên đất nước thanh bình nhưng vẫn thường xuyên nghe về những ký ức đau thương, thuờng xuyên chứng kiến sự phấn đấu cho tới ngày hôm nay của những thế hệ đi trước.

“ …Trong suốt mười tám năm đầu đời, tôi không thể hiểu bằng cách nào cha mẹ tôi có thể trải qua những biến cố kinh hoàng mà vẫn trở thành nguồn thương yêu và nâng đỡ cho chúng tôi hôm nay.

Tuy nhiên, trong vài năm qua khi đi học xa nhà, có lẽ tôi đã trưởng thành, tôi nhận thấy rằng cha mẹ tôi không phải là siêu nhân như tôi từng nghĩ; họ chỉ là con người và họ cũng chảy máu như tôi và quý vị. Họ đã rất khó khăn để hòa hợp nỗi đau mất nước với cơ hội tiến thân tại một nơi xa lạ, đôi khi lạnh lùng. Những kinh nghiệm đau thương đó đã thấm vào cuộc đời của chúng tôi, lặng lẽ tác động lên gia đình chúng tôi như những sợi dây kéo chân tay con rối. Đã đến lúc chúng ta nhận biết những biến cố trong quá khứ đã ảnh hưởng chúng ta ra sao…”

Các em cũng nói lên hiểu biết về trách nhiệm của mình, như lời của Lillian Vũ, đồng hội trưởng SVSA:

“… Không có thuốc nào để chữa lành vết thương mà chỉ có ký ức dẫn dắt chúng ta. Từ những ký ức đó, từ những câu chuyện giữa cha mẹ và những người hướng dẫn tinh thần với con cháu, chúng ta thấy được chúng ta đã đi một bước dài thế nào, và tại sao chúng ta ở đây hôm nay. Chúng ta không thể tránh né những điều làm chúng ta thấy không vui, những điều đòi hỏi chúng ta thương cảm những người mà chúng ta không biết và những điều chúng ta không trải qua. Bằng nhiều cách, chúng ta có trách nhiệm tiếp tục chia sẻ những câu chuyện này và tìm cơ hội để cùng nhìn lại lịch sử, văn hóa, và chính con người chúng ta. Với những cách đó, chúng ta, là một cộng đồng, sẽ lớn mạnh hơn và bước tới. “

image011
Thiếu Tướng Lê Minh Đảo đội mũ có tên trường Stanford do các em kính tặng. Chụp với một số em trong Ban Chấp Hành của SVSA

Cuối lễ là phần thắp nến. Đứng sát vai nhau trong cái mang mang lạnh của buổi tối mùa Xuân, ba thế hệ gốc Việt cùng tưởng nhớ hơn ba triệu người Việt ở cả hai miền cùng sáu mươi lăm ngàn lính Mỹ và đồng minh đã chết trong cuộc chiến, và những người đã gục ngã trong tù đày hay trên đường đi tìm tự do. Chúng tôi cũng cảm tạ ơn trên đã ban cho sức khỏe và sự may mắn để đứng bên nhau hôm nay, và cùng cầu nguyện cho sự tồn tại và ấm no của Việt Nam.

Sau đó, mọi người xếp nến thành số 40. Gió đêm nhè nhẹ thổi làm những ngọn nến lập lòe, và mọi người quyến luyến đứng nhìn, chưa muốn chia tay. Dù vui vì được cùng lớp trẻ làm việc có ý nghĩa, con số bốn mươi lại làm tôi nhớ rằng thời gian đi quá nhanh và không khỏi ngậm ngùi.

image013

Những ngọn nến được xếp thành số 40 để tưởng niệm bốn mươi năm mất miền Nam

*

Nếu Đêm Văn Hóa 2015 đem cho tôi xúc động và hy vọng vào lớp trẻ gốc Việt ở Stanford thì những gì diễn ra ngày 30 tháng Tư, 2015 đã cho tôi thấy sự hiểu biết của các em và nâng niềm hy vọng của tôi thành tin tưởng.

Thiếu Tướng Lê Minh Đảo cũng đồng ý với tôi. Ông lập lại mấy lần rằng sau khi gặp gỡ các em, ông vui mừng vì những suy nghĩ và kỳ vọng của ông vào thế hệ trẻ là không sai, và công sức của ông đi gặp gỡ và chia sẻ kinh nghiệm trong bao năm nay là có ý nghĩa.

Trước khi ra sân bay về lại Connecticut, Thiếu Tướng Lê Minh Đảo cho tôi xem vật mà ông thích nhất trong chuyến đi sang miền Tây Hoa Kỳ năm nay. Đó là tấm thiệp cám ơn của hội SVSA được viết tay bằng tiếng Việt.

Tấm thiệp mở đầu bằng “Chúng con xin trân thành cám ơn ông … “

Tôi và ông đều cười và trìu mến nhận xét rằng lỗi chính tả trong chữ “chân thành” làm cho tấm thiệp thêm đặc biệt, càng làm cho kỷ niệm thêm khó quên.

Tấm thiệp giống như hình ảnh của các em: trong sáng và có tấm lòng hướng về quê hương rất đáng quý, chỉ cần thêm một chút hướng dẫn. Và nhiệm vụ hướng dẫn đó được trông cậy vào thế hệ một – của ông, và một rưỡi – của chúng tôi.

Tuy nhiên, chúng tôi cũng luôn nhớ rằng lời khuyên sẽ thấm thía nhất khi gần gũi với thực tế. Trong mọi chia sẻ, Thiếu Tướng Lê Minh Đảo luôn xác định rằng ông hiểu các em là công dân Hoa Kỳ. Ông mong các em hết lòng xây dựng cuộc sống tốt đẹp, vun đắp sức mạnh và uy tín của chính mình và của cộng đồng Việt trên quê hương mới. Bên cạnh đó, cũng đừng quên Việt Nam, nơi đã góp bốn ngàn năm văn hiến cho tâm hồn các em hôm nay.

Ông tin tưởng mạnh mẽ rằng các em sẽ trở thành những người có ảnh hưởng trong chính sách của Hoa Kỳ, và lúc đó, ông mong các em nhớ bài học Tháng Tư Đen để làm những điều tử tế, tốt đẹp cho Việt Nam – nói riêng, và các nước nhỏ – nói chung. Đó cũng là chính sách ngoại giao hữu hiệu nhất để vun đắp uy tín của Hoa Kỳ và củng cố niềm tin tưởng của thế giới đối với đất nước này.

Tôi đồng ý với ông.

Vì thế, tôi mong tiếp tục có dịp để góp phần hướng dẫn để các em nhớ rằng nguồn gốc luôn luôn quan trọng vì nó tạo nên sắc thái độc đáo của mỗi người. Khi hiểu rõ nguồn gốc các em sẽ có thêm sức mạnh để vươn lên.

Tôi hy vọng rằng các thế hệ sau luôn nhớ đất nước Việt Nam nhỏ bé, gầy guộc, nhưng nằm tại một vị trí vô cùng quan trọng ở bờ Thái Bình Dương. Đất nước đó đứng mũi chịu sào cho cả bán đảo Đông Dương. Đất nước đó thường xuyên bị dùng làm trái độn trong tranh chấp giữa những quyền lực to lớn trên thế giới.

Mai này, khi có cơ hội, mong các em hết lòng làm điều tốt nhất cho sự tồn tại của Việt Nam, để người dân Việt không còn bị đàn áp, dày vò. Vì trong suốt lịch sự cận đại của Việt Nam, họ đã chịu quá nhiều đau khổ. Và, dù chiến tranh đã chấm dứt bốn mươi năm, cho tới nay, nước Việt và người dân Việt vẫn không ngừng chảy máu.

Khôi An

Unforgotten: Phim tài liệu về tù cải tạo

Unforgotten: Phim tài liệu về tù cải tạo

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2015-06-04

06042015-doc-abt-form-pris-of-war.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Tác giả bộ phim, nhà văn, nhà báo, người sáng lập kiêm đạo diện của Potbelly Pig Films, cô Diễm Thúy

Tác giả bộ phim, nhà văn, nhà báo, người sáng lập kiêm đạo diện của Potbelly Pig Films, cô Diễm Thúy

RFA files

Đó là bộ phim tài liệu mang tên Unforgotten, Không Bao Giờ Quên, như một đóng góp nhỏ nhoi nhưng cần thiết vào kho tài liệu về tù binh miền Nam trong những trại tập trung của miền Bắc sau 1975, để những người trong cuộc có thể trình bày những nỗi oan khuất họ phải chịu, và để thế hệ trẻ hiểu được suy nghĩ của cha chú là những người lính buộc phải buông súng với nỗi đau có thể không bao giờ phai nhòa.

Tâm tư và ước muốn

Đó cũng là tâm tư và ước muốn của tác giả bộ phim, nhà văn, nhà báo, người sáng lập kiêm đạo diện của Potbelly Pig Films, cô Diễm Thúy.

Đến Mỹ năm 1992 theo chương trình HO với thân phụ là cựu quân nhân miền Nam, Diễm Thúy tốt nghiệp cử nhân chuyên ngành kinh doanh và nghệ thuật tại đại học Ohio State, tiểu bang Ohio:

Đồng ý là cha của Thúy cũng đi tù ở ngoài Bắc nhưng cái động cơ mà Thúy làm là Thúy muốn những người đã bị tù có tiếng nói của mình. Những người đó, nếu nói thẳng ra, là phải phơi bày tội ác của cộng sản ra đó.

Thúy chỉ muốn thế hệ sau biết được những gì người cộng sản làm mà họ không bao giờ nhận. Thúy muốn giới trẻ ở Việt Nam hay ở hải ngoại hãy tìm hiểu vấn đề và thông qua phim của Thúy thì họ thấy được bằng chứng xác thực.

Một trong những tội ác đó, Diễm Thúy nói, đã in hằn trong trí nhớ non nớt của một đứa trẻ trong ngày mà tưởng không còn ai phải chết vì bom đạn:

Lúc Thúy còn nhỏ, mẹ chở Thúy từ Sài Gòn về quê nội là Hậu Nghĩa. Về ngày 29 thì trưa hôm sau, ngày 30 tháng Tư, có lịnh đầu hàng. Chiều 30 tháng Tư , khoảng năm sáu giờ chiều, có một người lính Việt Nam Cộng Hòa từ ngoài đường chạy vô cửa ngỏ nhà bà nội Thúy, chạy vô cái bồ lúa để trốn. Nội với bác của Thúy mới lấy những cái tấm che lại để mà dấu ông ta.

” Thúy chỉ muốn thế hệ sau biết được những gì người cộng sản làm mà họ không bao giờ nhận. Thúy muốn giới trẻ ở Việt Nam hay ở hải ngoại hãy tìm hiểu vấn đề và thông qua phim của Thúy thì họ thấy được bằng chứng xác thực.

Diễm Thúy “

Khi những người cộng sản rượt tới, tìm hoài không được, thấy cái bồ lúa thì chạy vô bồ lúa rồi lôi ông ta ra. Khi lôi ông ta ra, họ bắt bà nội với bác của Thúy quì xuống, bắt người lính quì xuống, hỏi là “bây giờ một trong hai người chết cho cái thằng này hay là cái thằng này chết cho hai người này?” Thì ông lính đó tội nghiệp cho bác với bà nội Thúy, ông nói là do ông chứ hai người này không dính líu gì hết. Lúc đó nó lôi người lính này ra xử bắn .

Dù còn nhỏ nhưng Thúy nghĩ ngày đó là ngày người ta được, theo lời của mấy ông, là được hưởng sự hòa bình, ngày đó là không ai được giết ai. Nhưng mà họ vẫn giết một người oan ức như vậy thì Thúy nghĩ những người đi tù cải tạo, họ đưa vô rừng sâu, thì họ có thể giết bằng bất cứ giá nào mà họ muốn. Thành ra Thúy mới quyết tâm, dù là bất cứ giá nào, nếu được thì Thúy phải làm cho được cái phim này.

Đầu tháng Năm vừa qua, bộ phim Không bao Giờ Quên, thời lượng chỉ 50 phút, được trình chiếu lần đầu tiên và chiếu miễn phí tại nhà hàng Paracel ở Nam California. Sau đó, do khá đông người yêu cầu, phim được chiếu lần thứ nhì tại trụ sở đài phát thanh VNCR cũng tại miền Nam California.

Những khó khăn

Thực hiện một cuốn phim, dù là phim tài liệu dài chỉ 50 phút, là chuyện rất khó khăn dù như vốn liếng do mình tự trang trải:

Ðạo diễn Diễm Thúy (thứ ba từ trái) và gia đình. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Ðạo diễn Diễm Thúy (thứ ba từ trái) và gia đình. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Thúy đã liên kết với những người làm phim của Mỹ ở Hollywood. Mặc dù nói là phim tài liệu nhưng tốn tiền nhiều vì những tài liệu đó phải có thời gian, rồi những người bạn Mỹ đó không biết tiếng Việt Nam, thành ra rất là mất thời gian, phải ngồi với họ để chỉ cho họ làm thế nào thế nào, rồi coi như họ cũng mất nhiều thời gian với mình. Thành ra tiền chi phí lên cao chứ không phải vì phim tài liệu mà nó không tốn so với những phim chuyện khác.

Cái khó thứ hai là tìm người cộng tác, người quay, người đóng và nhất là những nhân chứng được phỏng vấn. Chính vì thế mà dự định từ 2008 nhưng trải bao nhiêu thay đổi và trở ngại thì mãi đến tháng hai năm 2012 mới có thể bấm những thước phim đầu tiên tại Michigan. Đây là lúc cô đã có người đồng sản xuất, trợ giúp những bước đầu:

Những năm đó là Thúy đã viết Script nhưng chưa quay được. Bắt đầu quay vào năm 2012, người co-producer, Ian Taylor, không thích chính trị, không thích cái gì dính dáng đến chiến tranh. Cậu ta từ chối rất nhiều nhưng mà Thúy vẫn mời thì cuối cùng cậu ta đồng ý giúp. Nói chung cũng rất là khổ, chính vì lẽ đó thời gian chuẩn bị cho phim rất là lâu.

Đến lúc quay phim thì cũng không dễ dàng do là vì phải di chuyển nhiều:

Nhiều tiểu bang chứ không phải một. Mỗi lần đi thì những người quay phim có bận quay chỗ khác thì Thúy phải tìm cameraman khác rồi nhóm ê kíp khác. Những người đó phải đi với Thúy, xuống đó chờ cho đúng thời điểm, ngày giờ, tập trung được mọi người rồi thời tiết… Nói chung rất là khổ, Thúy chỉ kể một ví dụ như vậy thôi.

” Có người khi mà mình được giới thiệu thì họ không hiểu, không biết Thúy đang định làm gì, họ nghĩ có thể Thúy là người mà Việt cộng gài vô hay như thế nào… Có người đồng ý thì vẫn giữ, có người sau đó lại đổi ý. Thành ra công đoạn tập họp mọi người rất là khó.

Diễm Thúy”

Trong nhóm của Thúy lúc đầu có Ian Taylor rồi có Tuấn Nguyễn ở Chicago, Tú Nguyễn ở Minnesota.

Từ Michigan, đoàn làm phim Unforgotten và đạo diễn là cô Diễm Thúy, bay sang California. Năm 2013, đoàn quay kéo xuống Savannah, Georgia:

Có những chú những bác lúc đầu thì họ nhận lời, sau đó vì lý do gia đình họ phải từ chối. Hoặc là có những cô có chồng đi tù cải tạo, lúc đầu họ cũng nhận lời nhưng sau đó họ từ chối. Có nhiều người sau khi suy nghĩ họ nói họ không muốn tham dự tại vì sợ về Việt Nam hoặc ảnh hưởng tới thân nhân của họ ở Việt Nam.

Có người khi mà mình được giới thiệu thì họ không hiểu, không biết Thúy đang định làm gì, họ nghĩ có thể Thúy là người mà Việt cộng gài vô hay như thế nào… Có người đồng ý thì vẫn giữ, có người sau đó lại đổi ý. Thành ra công đoạn tập họp mọi người rất là khó.

Một phần của lịch sử

Vấn đề thứ ba, Diễm Thúy trình bày tiếp, là hoàn cảnh tù cải tạo của quân nhân miền Nam ít nhiều giống nhau, vì thế phải lắng nghe để:

Câu chuyện của họ có những chi tiết tư liệu mà mình thấy rất bổ ích. Thúy không có tiền để mời họ về một ngày, họ cũng không có thời gian để mà về một ngày, thành ra Thúy phải đi qua những tiểu bang nào mà người đó đã sẵn sàng thì Thúy mới đến để phỏng vấn họ.

Coi như chỉ có Ian là người Mỹ thôi, lúc đầu thì Ian không có hiểu . Ian học về Journalism and Camera, Thúy giảng cho anh ta biết là những người đó đi tù như thế nào, trong Tết Mậu Thân người Việt Nam chết như thế nào, sau đó thì Ian có cảm xúc. Khi mà Thúy viết script và đưa ra thì Ian cũng như mọi người đều cùng một hướng với Thúy hết. Họ nghĩ đó là một đề tài có giá trị lịch sử tại vì những người Thúy phỏng vấn là những người đứng mũi chịu sào, coi như ở lại Việt Nam để đánh những trận cuối cùng rồi phải chịu tù tội sau ngày 30 tháng Tư.

Đó là cảm tưởng của một người Mỹ như anh phóng viên Ian Taylor, đồng sản xuất phim Unfogotten với Diểm Thúy, còn những người chưa hề nếm mùi chiến tranh và bom đạn thì sao.

Hoặc cảm tưởng của người đã xem bộ phim tài liệu này tại miền Nam California, luật sư Nguyễn Quốc Lân, cựu ủy viên giáo dục học khu Garden Grove Nam California:

Về phương diện giáo dục thì phim Unforgotten đóng một vai trò rất tốt rất quan trọng để cho thế hệ trẻ cũng như thế hệ tương lai hiểu được những gì xảy ra sau khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc. Trong cuốn phim không ai có thể đặt nghi ngờ là những cái này có thật hay không có thật, không ai có thể phủ nhận được những chuyện như vậy.

” Về phương diện giáo dục thì phim Unforgotten đóng một vai trò rất tốt rất quan trọng để cho thế hệ trẻ cũng như thế hệ tương lai hiểu được những gì xảy ra sau khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc.

LS Nguyễn Quốc Lân”

Cái vấn đề thức tế là nó đóng góp và trình bày sự thật chứ không phải để thuyết phục chính quyền Việt Nam công nhận hay không công nhận. Tại vì họ biết chuyện này nhưng mà họ vẫn nhắm mắt làm ngơ, họ vẫn từ chối những thức tế của vấn đề từ bao lâu nay.

Hoặc là cảm nghĩ của cô Bri Demattio, được đạo diễn mời làm co-host buổi trình chiếu premiere của phim tài liệu Unforgotten:

Tôi thật hân hạnh có mặt ở đó, tôi hiểu tầm quan trọng của một cuốn phim tài liệu như Không Bao Giờ Quên, đặc biệt trong dịp tưởng niệm ngày Sài Gòn thất thủ.

Đó là một cuốn phim đặc sắc. Người Mỹ biết về Việt Nam, biết về cuộc chiến Việt Nam nhưng chẳng mấy ai hiểu rõ những gì đã xảy ra cho quân đội miền Nam Việt Nam khi đã im tiếng súng, thí dụ những trại tù tập trung lính miền Nam chẳng hạn. Những câu chuyện trong phim không chỉ làm người ta sáng mắt ra mà còn khiến người ta ngậm ngủi khôn tả. .

Điển hình câu chuyện một phụ nữ cùng mấy con nhỏ lặn lội cả ngày đường từ trong Nam ra ngoài Bắc để thăm chồng đang bị giam trong trại tập trung. Trên đường đi, bao nhiêu thức ăn gói ghém mang ra cho chồng bị đánh cắp sạch, quần áo giỏ xách của bà và mấy đứa nhỏ cũng bị lấy cắp, mẹ con phải ngủ bờ ngủ bụi và chờ sáng mai vào trại xin thăm nuôi. Bà đã phải chờ đợi tới 4 ngày mà vẫn không được gặp mặt chồng. Cuối cùng, khi biết bà có đứa con nhỏ 4 tuổi, cán bộ trại giam đồng ý cho vợ chồng cha con gặp nhau trong 10 phút rồi đuổi bà về.

Những chuyện như thế làm mọi người khóc, khi phim chấm dứt tôi thấy nhiều cựu quân nhân đến bắt tay đạo diễn với đôi mắt đầy lệ, còn những người trẻ sau khi xem đã không dấu được nỗi xúc động. Với tôi, phim Không bao Giờ Quên là một đề tài sống động cho tuổi trẻ thế hệ hai và ba muốn tìm hiểu về cuộc chiến Việt Nam.

Vào tuần lễ thứ ba của tháng này, bộ phim tài liệu Unforgotten, Không Bao Giờ Quên, sẽ được trình chiếu tại San Jose, Bắc California.

Cũng như ở miền Nam, đây là buổi chiếu thân hữu và hoàn toàn miễn phí. Một trong những người đang vận động cho buổi trình chiếu Không Bao Giờ Quên, Những Ngảy Không Quên, cô Hoàng Mộng Thu, thành viên của Biệt Đoàn Văn Nghệ Lam Sơn:

Bắc Cali có bà Lê Đình Vọng, sáng lập viên của chương trình Huynh Đệ Chi Binh, cô Cẩm Vân, ủy viên học khu, và đồng thời Biệt Đoàn Lam Sơn. Tinh thần của Biệt Đoàn Văn Nghệ Lam Sơn là lúc nào cũng nhớ trong thời chiến Việt Nam có rất nhiều, rất nhiều chị em mình là vợ lính hoặc là người yêu của lính. Thành ra khi chúng em kêu gọi chương trình này thì có rất nhiều chị hoan nghinh và sẵn sàng yểm trợ , tham dự,. Sẽ có một buổi tiện trà nhỏ để cô Diễm Thúy có thể tiếp tân cũng như giới thiệu bộ phim của mình.

Cô Cẩm Vân, chủ tịch học khu East Side:

Học khu East Side học sinh Việt Nam chiếm hàng nhì học khu. Vừa rồi Cẩm Vân được hân hạnh đem cuốn phim The Last Days In Vietnam của KQED vào trong học khu. Lần này , biết chị Diễm Thúy và phim Unforgotte, Cẩm Vân cũng muốn đem phim đến với trường học trong học khu East Side. Mục đích là cho các em hiểu được lịch sử, điều thứ nhất. Thứ hai là hiểu được làm sao các em qua được bên Mỹ để có một nền tự do cũng như nền học vấn tốt hơn là ở Việt Nam.

Câu chuyện của mục Đời Sống Người Việt Khắp Nơi tạm ngưng ở phút này. Thanh Trúc sẽ trở lại cùng quí thính giả tối thứ Năm tuần tới.

Báo VN hiểu chưa kỹ thông điệp Mỹ?

Báo VN hiểu chưa kỹ thông điệp Mỹ?

Nguyễn Giang bbcvietnamese.com

Trong chuyến thăm đến Việt Nam tuần này của Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ, tiến sỹ Ashton Carter, báo chí Việt Nam đồng loạt chạy tít rằng ông Carter “trao kỷ vật đặc biệt cho Bộ trưởng Phùng Quang Thanh” của Việt Nam.

Đó là cuốn nhật ký và thắt lưng của một chiến sỹ bộ đội cộng sản.

Trên trang Facebook của mình, ông Carter viết nguyên văn hôm 2/6:

“Hôm nay, tôi đã hồi hương một số di vật chiến tranh gồm cả cuốn nhật ký của một bộ đội Việt Nam cho Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam.” (Today I repatriated several war artifacts including a diary from a Vietnamese soldier to the Vietnamese MOD).

Ông Carter không hề nói rằng đây là một thứ quà tặng, kỷ vật đặc biệt và cách đặt tựa câu khách của một số tờ báo làm mất đi sự tôn trọng và ý nhị trong cử chỉ của ông.

Bộ Quốc phòng Việt Nam cho hay họ sẽ phân công người tìm lại đúng xem các di vật đó của gia đình ai để trao trả.

Là quan chức dân sự, ông Ashton Carter không chào mà đặt tay lên trái tim, gửi thông điệp qua cách biểu hiện tình cảm trân trọng cao nhất của người Mỹ tới tất cả các chiến sỹ Quân đội Nhân dân Việt Nam chứ không chỉ cho Bộ trưởng Thanh.

Việc trả hai các hiện vật từ thời chiến tranh thực ra không mới vì nhiều cựu binh Mỹ đã làm tương tự như bay về Việt Nam trả nhật ký, mũ của bộ đội Bắc Việt hy sinh nhưng vẫn đầy tính biểu tượng vì đến từ một bộ trưởng Hoa Kỳ.

Sinh năm 1952, ông Carter là Bộ trưởng Quốc phòng thứ 25 của nước Mỹ nhưng xuất thân trí thức, với các bằng cấp, nghiên cứu tại Oxford (học bổng Rhodes khóa 1976), và các trường hàng đầu của Mỹ, từ Harvard, Stanford tới Yale.

Ông Carter là một trí thức lỗi lạc trong nhiều lĩnh vực của Hoa Kỳ

Là giáo sư đại học và tác giả của 11 cuốn sách và hơn 100 bài nghiên cứu vật lý, công nghệ, an ninh và giáo dục quản trị, ông còn tham chính và phụ trách hậu cần và quân trang của Ngũ Giác Đài từ 2009 đến 2011.

Ngoài ra, chính ông đã giám sát chương trình đưa vũ khí nguyên tử khỏi Belarus, Kazakhstan và Ukraine sau khi Liên Xô sụp đổ.

Gần đây, ông tập trung nghiên cứu về chiến lược quân sự của Trung Quốc ở châu Á và là người cổ vũ cho chính sách xoay trục về quân sự của Hoa Kỳ sang các vùng biển Thái Bình Dương.

Cử một nhân vật khoa bảng và có tầm nhìn như thế sang Việt Nam, Hoa Kỳ hẳn đặt nhiều kỳ vọng vào chuyến đi.

Gọi chiếc thắt lưng và cuốn nhật ký là ‘artifact’ (di vật, cổ vật), hẳn ông Carter muốn nhấn mạnh hai bên nên khép lại quá khứ.

Ông cũng cảm ơn phía Việt Nam giúp cho công tác tìm kiếm hài cốt quân nhân Mỹ, việc đã diễn ra từ thời Clinton.

Tức là ông tế nhị nhắc đến mất mát của cả hai và bày tỏ mong muốn quan hệ Mỹ – Việt bước vào một giai đoạn mới.

Bang giao Hoa Kỳ – Việt Nam đang bước vào một giai đoạn quan trọng mang tính bước ngoặt nên các hoạt động ngoại giao hai bên được dư luận hai nước và quốc tế đặc biệt chú ý.

Những cử chỉ, biểu tượng sai hay đúng như cờ sáu sao, lễ kỷ niệm Thế chiến tại Quảng trường Đỏ, bình Trung Hoa, bức ảnh ông John McCain bên Hồ Tây…đều tạo ra các bình luận nhiều chiều về quan hệ của Việt Nam với các nước khác.

Cần thêm ngôn ngữ cử chỉ

Lịch sử ngành ngoại giao quốc tế cũng không thiếu những điều có thực hoặc ‘truyền kỳ’ mà ý nghĩa chỉ lộ ra sau nhiều thập niên.

Cuộc gặp Nixon – Mao năm 1972 quyết định cả chiến tranh Việt Nam

Quan hệ Trung – Xô xuống dốc thảm hại sau khi Mao Trạch Đông coi mình là ‘Mặt trời Phương Đông’ ngạo nghễ ngồi bên bể bơi mặc quần đùi để đón Nikita Khrushchev ở Bắc Kinh năm 1958.

Năm 1971, cố vấn an ninh quốc gia Henry Kissinger đến gặp lần đầu với ông Mao không ở Đại lễ đường Nhân dân lúc ban ngày mà vào một buổi tối, trong căn phòng tối om, nồng mùi thuốc lá.

Không khí của các chuyến đi Kissinger bí mật thực hiện để dàn xếp cho chuyến thăm năm 1972 của Richard Nixon, người sau cũng mất chức tổng thống Mỹ vì nghe lén, đã cho thấy trước hai nước này làm gì ở châu Á, cả trong chiến tranh Việt Nam sau đó.

Ngược lại, chỉ một động tác quỳ gối trước tượng đài nạn nhân Do Thái ở Warsaw của Thủ tướng Tây Đức, Willy Brandt năm 1970 khiến mọi đau đớn thời chiến, các tranh cãi biên giới của người Ba Lan với hai nước Đức được hóa giải.

Các lãnh đạo Việt Nam vì thế cần chú tâm hơn đến các động tác mang tính biểu tượng, nhất là khi đứng trước những vấn đề có tranh cãi bằng lời mất nhiều năm cũng không xong.

Cùng lúc, báo chí rất nên chú ý chuyển tải chính xác, cả tinh thần và nội dung những hoạt động của các chính khách, đặc biệt là trong quan hệ Mỹ – Việt vốn còn đang cần rất nhiều nỗ lực hòa giải, vun đắp nếu hai bên thực sự cùng muốn điều đó.

LỜI NÓI THỰC TẾ CỦA MỘT NHÓM NGƯỜI GIÀ

LỜI NÓI THỰC TẾ CỦA MỘT NHÓM NGƯỜI GIÀ

Tác giả – không rõ tính danh

Có một tổ ấm của riêng ta, chưa đến lúc chết, xin nhớ muôn ngàn lần chớ bỏ mất nó đi.

Có một người bạn đời thân thiết, phải cùng đối đãi và chăm sóc tốt cho nhau,

Có một cái thân thể, tự mình phải biết bảo trọng, có một cái tâm thái tốt, tự mình vui sướng!

Chúng ta đã già rồi! Nhưng mà hiện tại sức khoẻ vẫn còn tốt, đầu óc hãy còn minh mẫn, già rồi trông cậy vào ai! Phải phân chia ra nhiều giai đoạn mà nói.

Giai đoạn thứ nhứt

Sau khi đã về hưu, tuổi từ 60 đến 70, sức khoẻ cũng như điều kiện hãy còn tốt. Thích ăn gì thì ăn, thích mặc gì thì cứ mặc, thích chơi đùa gì thì cứ chơi đùa, chẳng nên tự bạc đãi mình, vì những ngày giờ này sẽ không còn là bao lâu nữa, cần phải nắm lấy (cơ hội). Nắm giữ một ít tiền, giữ lại căn nhà, biết tự an bài tốt cho con đường sau cùng của mình.

Tình trạng kính tế của con cái được tốt là của chính chúng, con cái hiếu thuận là phẩm hạnh tốt của chúng. Chúng ta chẳng nên cự tuyệt sự giúp đỡ của con cái, không nên cự tuyệt sự hiếu kính của chúng. Nhưng quan trọng nhứt là phải biết tự nương tựa vào chính mình, tự an bài tốt cho sinh hoạt của chính chúng ta.

Giai đoạn thứ hai

Qua hết đoạn tuổi bảy mươi (tức ở vào tuổi bát tuần) mà không có bệnh hoạn gì, cuộc sống hãy còn được tự do, đó là không có những vấn đề gì lớn xảy ra, nhưng phải nên nhớ rằng mình đúng là đã già rồi, thể lực và tinh lực sẽ không còn tốt nữa, các phản ứng tự nhiên của mình cũng sẽ từ từ xấu đi.

Nên ăn cơm chậm lại để đề phòng mắc nghẹn; đi đứng cần chậm lại để đề phòng bị té ngã.

Chẳng nên tranh hơn người, cần biết tự chăm sóc cho chính bản thân mình!

Đừng nên đi “quán xuyến” việc này việc kia, lo lắng sinh hoạt của con cái. Có người còn đi giữ cháu nội cháu ngoại nữa.

Cần phải biết “ích kỷ” một chút để, tự chăm sóc, trông coi chính mình.

Mọi việc phải biết để cho nó hoà theo tự nhiên, phải làm tí công việc quét dọn rác, phải biết cố gắng giữ gìn cho cái trạng thái sức khoẻ của mình được lâu dài hơn.

Để cho cái năng lực tự chủ về cuộc sống của mình có thể kéo dài thêm, không phải nhờ vào sự chăm sóc của người khác, thì có phải là tốt hơn không?

Giai đoạn thứ ba

Sức khoẻ đã suy yếu rồi, phải cần đến người giúp chăm sóc cho mình, việc này nhất định phải được chuẩn bị từ trước, tuyệt đại đa số con người ít ai tránh khỏi được cái cửa ải này.

Phải biết điều chỉnh tốt cho lòng mình, phải biết thích ứng với hoàn cảnh, sinh lão bịnh tử, với cái Tử là cái việc thường tình của đời người.

Ta cứ thản nhiên mà đối diện với nó, vì đó là cái đoạn cuối của đời người, chẳng có gì mà phải sợ nó, đã có chuẩn bị trước rồi, thì chẳng có chi mà cảm thấy phải khó chịu.

Hoặc là vào viện dưỡng lão, hoặc là mướn người đến nhà trông coi chăm sóc cho mình, lượng sức lượng tình mà làm, nhất định là phải có biện pháp.

Nguyên tắc là chẳng nên “làm khổ” con cái của mình, đừng để con cái mang nặng cái tâm lý không tốt, làm thêm nhiều công việc nhà, gánh nặng thêm sự tốn hao tài chánh hạn hẹp của gia đình.

Tự mình phải biết khắc phục thêm một chút, cái cuộc đời nầy của mình, cái gì khổ, cái gì khó khăn cũng đã qua rồi, hãy tin tưởng rằng cái đoạn đường nhân sinh cuối cùng cũng sẽ dễ dàng mà bước qua.

Giai đoạn thứ tư

Đầu óc ta minh mẫn, bệnh tật đeo mang không cách nào thoát khỏi, lúc mà cái phẩm chất của sinh mạng đến điểm tệ hại nhất, phải biết dám đối diện với cái chết, cương quyết không để người nhà phải lao khổ tái cứu sinh, không để bà con thân hữu phải chịu hứng chịu những hao tốn vô ích.

“Già rồi” trông cậy vào ai? Chính mình, chính mình, lại vẫn là chính mình.

Già rồi thì phải làm sao?

Tại sao lại có cái ý nghĩ nầy, đó là do bởi tôi luôn nhận thấy, người già trên 80, không cần phải hạn chế đồ ăn của họ phải thanh đạm, cũng không cần phải giảm cân, ăn được là quan trọng nhứt

Muốn ăn gì thì cứ ăn, có thể cho là ăn được những món ngon của thế gian nầy, để cho cuộc sống càng thêm vui sướng và thích thú. Hạn chế người già không được làm cái nầy, ăn cái kia là đi ngược lại cái nhân tính của con người, mà lại cũng chẳng có gì gọi là căn cứ khoa học cả.

Trên thực tế, càng ngày càng có nhiều hiển thị chứng cứ của khoa học là, người già cần ăn ngon thêm một chút, cần mập thêm một tí, để cho cơ thể họ có thêm năng lực để đối kháng bệnh tật, đối kháng tính trầm cảm.

Tôi mong ước là, các cụ lão niên đều có thể hưởng thụ được sự tốt đẹp của đoạn cuối con đường nhân sinh của chính mình, mà không phải lưu lại bất cứ một điều gì hối tiếc.

Có thể cũng đừng kỳ vọng chờ đợi để lại cho thế hệ kế tiếp.

Lời kết luận:

Câu nói đúng của tục ngữ:“biết lo về tài chánh thì không nghèo, có kế hoạch thì không rối rắm, có chuẩn bị thì không bận rộn”. Chúng ta với tư cách là lão niên “dự bị quân” đã có ý tốt chuẩn bị hay chưa?

Chỉ cần sự việc chưa xảy ra, phải có chuẩn bị cho tốt, sau nầy sẽ khỏi phải lo lắng cho cuộc sống ở tuổi xế chiều.

Thứ nhất: Lão Kiện

Sự chuẩn bị trước tiên là cái khả năng làm cho sức khỏe tốt ở tuổi già, ngày thường cần chú ý đến “tam dưỡng”:

1-ăn uống dinh dưỡng,

2-chú trọng bảo dưỡng,

3-phải biết tu dưỡng.

Thứ hai: Lão Cư

a/- Đối với sự việc cùng con cháu ở chung, phải rán nhẫn nhịn bằng cách im hơi lặng tiếng trong cuộc sống, chi bằng

b/- Vui sống hưởng thụ với cuộc sống đơn lẻ độc thân, bất luận là trong thành phố hay khu ngoại ô, những nơi thích hợp cho chính bản thân mình, đồng thời là nơi có những quán ăn gần nhà mà mình ưa thích nhứt.

Thứ ba: Lão Bổn

– Đã nuôi dưỡng được con cái, mà không thể có cách nào để dưỡng già. Là cha mẹ của người ta thì phải nhớ biết tự lập tự cường, chưa vào trong quan tài thì đừng bao giờ chia gia sản.

Thứ tư: Lão Hữu

– Có được một người bạn tốt, người hảo hữu cùng ăn chung và người bạn đời đều quan trọng như nhau, bình thường cần phải biết kết rộng thiện duyên, nhận thức nhiều về các loại bằng hữu, là để hưởng thụ được cái bí quyết của nhân sinh.

Nói tóm lại, dù bạn là một trường thọ lão ông hay lão phụ, cuối cùng, bạn cũng chỉ là một con người.

Cái câu nói nầy thật không bi thiết chút nào, lại cũng không có gì phải lo sợ, hoàn toàn do bạn tự an bài cách sống như thế nào, để coi bạn có hay không có cái tâm lý thành thục, có yêu thích cái gì đó thì rất đáng để bạn trực tiếp đi làm.

Có được cái sức khoẻ tốt hay hạnh phúc, cũng đừng hy vọng để lại cho con cái.
Các lão bằng hữu ơi, cần phải ghi nhớ là chúng ta đều là những con người của cái thế hệ cuối cùng hiếu thuận với cha mẹ, lại cũng là những con người của cái thế hệ thứ nhất bị con cái bỏ rơi.

Xin đừng có “nhân tại thiên đàng, tiền tại ngân hàng”, cái gọi là “một mình rất buồn tẻ”, “già rồi mà chẳng có ai phục dịch”, những tín hiệu phiến diện v.v và v.v … đã là những câu nói lỗi thời từ lâu rồi.
Hãy nhận thức cách rõ ràng là: tiền tài, giàu sang chỉ là những số tự mà thôi, danh lợi cũng chỉ là một đoản kỳ tạm hư vinh, cuộc sống mới đúng là cái toàn diện của đời người,

Hãy là cái người “vui sống hưởng thụ cái cảnh già độc thân”, thì cuộc đời mình sẽ có những mùa Xuân rực rỡ trở lại, với chính mình, điều kiện là: thân thể cường tráng, có tiền, có thì giờ, có bạn bè, lại cũng có cái không gian chuyên thuộc của riêng mình.

Có đủ sức độc lập tự chủ, có được cái lạc thú nhân sinh, chắc chắn là tự mình cung cấp cho mình cái công đức tối đại vậy .

CÓ MỘT LỄ TẠ ƠN NHƯ THẾ

CÓ MỘT LỄ TẠ ƠN NHƯ THẾ

Cuộc đời mỗi người, có những mốc mà ta dừng lại để mừng, để tạ ơn nhân dịp mừng kỷ niệm đó, biến cố đó trong đời.

Sống đời hôn nhân, để đánh dấu giai đoạn chung sống 10, 25, 50 năm … nhiều gia đình, con cháu đã tổ chức những lễ tạ ơn mừng kỷ niệm cho cha mẹ mình thật hoành tráng. Đời tu, đờ tận hiến cũng thế. Khó để mà có được những dấu mốc kỷ niệm 25, 50 năm mừng … để rồi phải nói rằng được như thế lại càng có lý do để mừng hơn.

Thế nhưng, mừng kỷ niệm, mừng dấu ấn đó như thế nào lại là chuyện khác.

Thật giật mình khi vừa mới đến dự Thánh Lễ tạ ơn 25 năm linh mục của hai cha Giuse Nguyễn Ngọc Bích và Phan Đức Hiệp – Dòng Chúa Cứu Thế hôm nay.

Trong mối thân tình, Cha Giuse Ngọc Bích mời tôi. Tưởng nghĩ sau Lễ sẽ có “lạc” như bao nhiêu dịp mừng khác nhưng tôi hoàn toàn bất ngờ. Bất ngờ vì lẽ sau Lễ chỉ là ly nước trà với những mẫu chuyện tình thân chứ hoàn toàn không tiệc tùng, bia bọt như bao nơi mừng khác.

Cũng dễ hiểu bởi trong Thánh Lễ tạ ơn, cộng đoàn dân Chúa, có cả tôi được nghe kể về cuộc đời của những linh mục vào cái thời thập niên 90 đó.

Không cần phải nói nhiều, những thập niên 80, 90 của thế kỷ trước đã để lại nhiều dấu ấn đặc biệt là dấu ấn về một cuộc sống quá khó khăn trên những ai đã một thời sống trong giai đoạn đó.

Giai đoạn này, tu thì chỉ biết tu chứ không hề nghĩ đến ngày lãnh sứ vụ linh mục.

2 cha Giuse mừng kỷ niệm 25 năm nay chắc có lẽ cũng mang trong mình cảm nghĩ, kinh nghiệm, kỷ niệm như những cha lãnh sứ vụ linh mục cùng thời như thế này. Thời đó, các cha chỉ lãnh sự vụ một cách âm thầm chứ không hề công khai như bây giờ. Có những cha dù con mình được làm cha đó nhưng ông bà cố hoàn toàn không biết do hoàn cảnh không cho phép.

Sau những ngày tháng đó, mỗi người một nơi, mỗi người một việc để tìm kế sinh nhai chứ không còn được ở dưới mái trường đào tạo êm ấm như trước nữa. Thầy thì đi làm thuê, thầy thì đi dạy học để kiếm sống … trong đó, thầy Giuse Nguyễn Ngọc Bích lại “ôm” chiếc xích lô đầy kỷ niệm trong 5 năm trời ròng rã.

Có lẽ chính cái nghèo, cái khó khăn của thời đó đã đi vào tận xương tủy của các cha nên các cha khó quên cũng như sẽ diễn tả cung cách nghèo đó trong đời sống tu trì của mình. Chính vì thế, hai cha Giuse ngày hôm nay cùng nhau đi đến quyết định là không tổ chức “lạc” sau Thánh Lễ như bao Thánh Lễ tạ ơn khác.

Được biết, cũng gần đây, một số Thánh Lễ tạ ơn dấu ấn của đời linh mục được tổ chức không phải 1, 2 nơi mà là đến 5 nơi với số lượng bàn tiệc nghe xong … chóng mặt. Cha đã đánh dấu kỷ niệm đời linh mục của mình bằng nhiều bàn tiệc, nhiều nơi thật hoành tráng.

Cha mở tiệc mừng nhiều bàn và nhiều nơi theo tôi tưởng nghĩ cũng chẳng sai bởi lẽ đó là quyền của cha. Thế nhưng, xét trong cung cách của nhà tu, đứng ở góc cạnh của đời tu trì ta nên chăng nhìn lại cung cách tổ chức đó.

Hẳn nhiên, theo tôi nghĩ chẳng ai trách là sau Lễ mà không có “lạc”. Có chăng là trách là tại sao sau Lễ mà “lạc” lại nhiều quá ! “Lạc” nhiều kèm theo những hệ quả của nó là giáo dân phải đóng góp hay lại nhờ cậy vào sự giúp đỡ nào đó của những đại gia.

Trong cuộc sống, dĩ nhiên, ai cũng có quyền nhưng giữa cuộc sống bôn ba khó sống như bây giờ ta nên nhìn lại cách tổ chức “lạc” sau lễ tạ ơn như thế nào cho phù hợp với cung cách sống của ta. Có cần thiết phải yến tiệc linh đình trong khi nhiều mảng đời nghèo đói bên cạnh ta không đủ sống. Xung quanh ta vẫn còn biết bao nhiêu trái tim lỗi nhịp đập cần chỉnh sửa, bao nhiêu đôi mắt cần sáng nhờ sự chia sẻ của ta ? Bao nhiêu mái nhà rách nát đang cần ta chung tay xây sửa ?

Vẫn là quyền tự do lựa chọn của mỗi người, nhưng tôi vẫn thầm nghĩ rằng càng khiêm tốn, càng nhẹ nhàng bao nhiêu thì lòng càng thanh thản biết bao nhiêu.

Tham dự Thánh Lễ tạ ơn Ngân Khánh Linh Mục của 2 cha Giuse ngày hôm nay xong, tôi cảm thấy vui vì được chia sẻ, cảm nghiệm nghèo của đời linh mục của hai cha bằng ly nước trà đượm tình thắm thiết.

Vẫn mong có những Thánh lễ tạ ơn nhẹ nhàng và giản đơn như thế để nói lên tiếng nói, nói lên cung cách sống nghèo của Giáo Hội giữa cuộc đời mà người ta vẫn chạy theo phú quý giàu sang.

Mic Thanh Châu

Tác giả: Mic Thanh Châu

Trần Dạ Từ, Khánh Ly, Thương Linh cùng ‘Gội Đầu/Bay’

Trần Dạ Từ, Khánh Ly, Thương Linh cùng ‘Gội Đầu/Bay’
Nguoi-viet.com

Sổ tay phóng viên

Ngọc Lan/Người Việt

COSTA MESA, California (NV) – “Dòng sông biết bay. Biển khơi biết bay…” cái gì cũng có thể “bay” trong thế giới của thi nhân để rồi thành ca từ trong bao nhiêu bài hát.

Nhưng “Gội đầu” mà thành ca từ, rồi thành tên của ca khúc, tên của CD, và hơn nữa, tên của cả một chương trình được dày công tập luyện thì quả là… khó tưởng tượng được.

Tôi nghĩ, không ít người như tôi, cũng băn khoăn, cũng thắc mắc, cũng tò mò, nhưng mà ngại nói huỵch toẹt ngay ra là “Tên gì kỳ vậy, chẳng có hơi hướng nhạc nhí lãng mạn hay vui tươi gì hết!” khi mới thấy poster “Gội đầu/Bay”

Nhưng, nghe, rồi mới hiểu, mới thấm sâu, tại sao Khánh Ly nói “Tôi muốn hát Gội Đầu, bởi vì lời của nó chạm đến trái tim tôi.”

Và đâu chỉ có Khánh Ly, “Gội Đầu” – Gội cái đầu chua lè. Gội cái đầu cay sè. Đầu sạch rồi đi đâu. Đầu sạch rồi về đâu – còn chạm đến trái tim bao người khác nữa, với những gì vừa trần trụi, gần gũi, vừa khắc khoải, bàng hoàng.

***

Khánh Ly trong đêm ra mắt CD của thi sĩ/nhạc sĩ Trần Dạ Từ “Gội Đầu/Bay” (Hình: Nina Lê Hòa Bình cung cấp)

“Gội Đầu/Bay” là tên một CD mới nữa của thi sĩ/nhạc sĩ Trần Dạ Từ qua hai giọng ca chính là Khánh Ly và Thương Linh, sau CD đầu tiên, “Nụ Cười Trăm Năm,” ra mắt cách nay hơn bốn năm.

Nếu Khánh Ly cho rằng: “Một ông làm thơ mà đi làm nhạc thì những bài hát của ông chẳng bài nào giống bài nào, chẳng khúc nào giống khúc nào, khiến chúng tôi muốn chết luôn theo ông,” thì nhạc sĩ Hoàng Công Luận, người đứng mũi chịu sào cho việc dàn dựng hòa âm phối khí toàn chương trình chỉ thốt lên được mỗi câu “Nhạc của anh khó quá!”

Đó là nhận xét của người chuyên môn, người trong cuộc. Còn tôi, một kẻ ngoại đạo, đến với đêm ra mắt CD “Gội Đầu/Bay” trong tâm trạng vừa háo hức – bởi vì Samueli Theater lộng lẫy và sang trọng quá, vừa hồi hộp – liệu mình có nghe được, có cảm được những bài hát lạ huơ lạ hoắc của ông nhạc sĩ/thi sĩ này không. Nói đúng hơn, sự rộn ràng, sự công phu cho một quá trình dàn dựng và luyện tập khiến tôi thấy… lo dùm nhà tổ chức, bởi vì cái nhìn của người một nhà thì bao giờ cũng rộng lượng hơn cái nhìn của công chúng. Tôi thuộc về công chúng, mà công chúng thì đông hơn người nhà đến nhiều nhiều lần của một cấp số nhân.

Bỏ qua cái hớp hồn của khung cảnh vừa đài các vừa ấm cúng của khán phòng với ánh nến lung linh, với thái độ nghe khởi đi từ lòng tôn trọng lẫn ngưỡng mộ, từ bài hát thứ ba, “Thành Phố Tuyết,” khi tôi thoáng thấy có lúc mình chợt nổi da gà cũng là lúc tôi hiểu rằng những lời thơ, những dòng nhạc của Trần Dạ Từ đã đánh thức được một cõi nào đó, sâu thẳm, trong tôi.

Tình yêu trong thơ, trong nhạc Trần Dạ Từ có cái bàng bạc của một thời xa lắm nhẹ nhàng, có cái trải dài theo năm tháng, với những khắc nghiệt, những bể dâu, giông tố của cuộc đời, nhưng trước sau vẫn có “anh đi bên em” đơn giản chỉ vì “Anh yêu em, vậy thôi.”

“Nắng cháy da người, anh đi bên em.

Đêm đen gió hú, anh đi bên em.

Mặt đất đầy hoa nở, anh đi bên em.

Mặt đất đầy gai lửa, anh đi bên em”

Ca sĩ và khách mời đặc biệt trong đêm ra mắt CD “Gội Đầu/Bay” (Hình: Nina Lê Hòa Bình cung cấp)

Thơ vốn đã cô đọng, đã là một dạng “ý tại ngôn ngoại,” mà thơ của người đã thành danh thi sĩ thì chất “ngôn ngoại,” cái để người nghe thả hồn bay bổng trong suy tư, trong tưởng tượng, càng phong phú hơn. Điều này có thể bắt gặp được trong hầu hết ca khúc của Trần Dạ Từ, mà điển hình nhất là bài hát “Gội Đầu.”

“Gội Đầu” vừa có cái vẻ dí dỏm, têu tếu: “Gội đầu. Gội đầu thôi. Gội đầu thôi.” Rõ ràng không phải người ca sĩ đang hát, mà đang kêu, đang gọi, đang năn nỉ ai đó, hay chính mình đi “gội đầu.”

“Bê bết lâu rồi. Ơi cái đầu xấu xí

Cay cú, cuồng si.

Gội đầu. Gội đầu đi. Tử biệt. Sinh ly.

Gội đầu bằng bão tố. Gội đầu bằng nắng lửa

Ôi cái đầu bể dâu…”

Đến đây thì rõ ràng không chỉ đơn giản là chuyện đi gội cái đầu cái tóc nữa rồi, mà là “Gội cho ngày sau nhìn ra nhau.”

Giọng hát Khánh Ly, của một người đã ngoài 70, có cái ma lực của sự từng trải, có sự chất chứa của những nỗi niềm, có cái bình thản xen trong sự thảng thốt của người đã được 3/4chặng đường đời để có thể chuyển tải hết được sự thẫn thờ khi chợt nhận ra:

“Đầu sạch rồi đi đâu

Đầu sạch rồi về đâu”

Tôi nhớ có lần cách đây đã vài năm, trong một lần trò chuyện, cô nói: “Khánh Ly như trở thành một kỷ niệm của một thế hệ, chứ không còn là một cá nhân nào nữa. Họ đến nghe là để tìm về những kỷ niệm.”

Tôi không được là người cùng thế hệ Khánh Ly, để đến nghe cô và tìm về kỷ niệm không thuộc về mình.

Tôi nghe Khánh Ly là một Khánh Ly của hiện tại, cuốn hút, đam mê, với chất giọng khàn từ từ lôi tôi đến những ngóc ngách của cuộc đời, để hiểu hơn về ý nghĩa nhân sinh, về những được mất trong cõi ta bà này, qua thơ, qua nhạc Trần Dạ Từ.

Ca sĩ Thương Linh. (Hình: Nina Lê Hòa Bình cung cấp)

“Gọi Tên Dòng Sông” có thể xem là một sáng tác khá độc đáo của nhạc sĩ/thi sĩ Trần Dạ Từ.

Trong lời dẫn dắt chương trình, MC Lê Đình Y Sa cho rằng, “Bài này như một niệm khúc dành cho các văn nghệ sĩ Việt Nam. Đây là một phối hợp rất tài tình của các dòng thơ Mai Thảo, Nguyên Sa, Du Tử Lê, Trần Dạ Từ hòa quyện cùng dòng nhạc của Trần Dạ Từ và Phạm Duy”.

Bài hát được mở đầu bằng bốn câu thơ cuối đời của Mai Thảo qua giọng đọc ồ ề của Trần Dạ Từ:

“Thế giới có triệu điều không thể hiểu

Càng hiểu không ra lúc cuối đời

Chẳng sao, khi đã nằm trong đất

Ðọc ở sao trời sẽ hiểu thôi”

Để rồi phần nhạc trỗi lên là lời bài thơ “Tiễn Bạn” của Nguyên Sa, đi liền theo là “Tôi Trôi Theo Tôi – Con Sông” của Du Tử Lê và “Gọi tên dòng sông” của Trần Dạ Từ. Xen giữa đoạn ngừng nghỉ là giai điệu từ ca khúc “Chiều Về Trên Sông” của Phạm Duy.

Tôi nghĩ, Tuấn Ngọc, với một bài hát vẫn hãy còn quá mới với công chúng như thế này, đã thể hiện được trọn vẹn những gì khán giả mong đợi.

Tôi nhắm nghiền mắt chỉ để tai mình thả cùng những giai điệu ngân nga và để thấy mình trôi đâu đó trong bảng lãng hư không, trong chốn vô cùng: “Về đâu ôi giấc mơ. Chàng thi sĩ ngu ngơ. Và năm tháng bơ vơ/ Bờ nắng bờ mưa. Mẹ già khô héo/Nợ nần kêu réo. Ân oán mè nheo/ Xương máu hò reo… Bài ca sự sống. Trời đất mênh mông/Mảnh vỡ. Cơn giông. Anh nhớ gì không/ Gọi mãi dòng sông. Tình yêu của tôi/ Một đóa hư không. Về với vô cùng.”

Với bài “Bay,” có cảm tưởng như Trần Dạ Từ đo ni đóng giày sẵn cho riêng Thương Linh.

Bài hát có cái chơi vơi thanh thoát, vút lên. Và giọng hát Thương Linh cũng lãng đãng, bay lên, như cánh diều cứ lửng lơ giữa trời, chỉ cần chờ một cơn gió thổi tới là lại vút lên, soải cánh tự do giữa mênh mông trời.

“Dòng sông biết bay

Biển khơi biết bay

Chúng bay lên thành mây

Mây tím mây vàng mây xanh mây trắng mây bay vào mắt chàng

Em cười và mắt anh chàng bay bay theo em

Và em bay lung linh như giấc mơ”

Thương Linh, theo tôi, cũng là một giọng hát có chất gây nghiện. Nét đặc biệt ở người ca sĩ trẻ này là cô vừa khiến người nghe cảm nhận được chất jazz, blues huyền hoặc, ma quái, man dại, vừa có thể đưa lòng người vào dòng nhạc trữ tình thổn thức, mướt rượi.

“Lòng Ta Ở Với Người” qua tiếng hát Phạm Hà, “Ném Con Cho Giông Tố,” “Vầng Trăng Xưa” qua giọng ca Quang Tuấn cũng góp phần làm đậm thêm hương vị cho buổi yến nhạc tại đây.

Ca sĩ Lê Uyên trong “Tấm Lòng Phan Rang” (Hình: Nina Lê Hòa Bình cung cấp)

Riêng tôi, “Tấm Lòng Phan Rang” qua giọng ca Lê Uyên lại là bài hát khiến tôi rơi nước mắt. Đó là một câu chuyện, câu chuyện của năm 1977, những người tù cải tạo bị nhốt trong đoàn xe bít bùng, dừng lại đổ xăng ở Phan Rang, và họ chợt nhận ra những thứ mà người dân nơi đây đang cố gắng ném vào họ:

“Ném lên. Ném lên. Ném lên nữa

Từng điếu thuốc. Từng lát đường

Ném lên. Ném lên. Ném lên nữa

Từng gói bắp. Từng vắt cơm”

Giọng hát rất Lê Uyên, phong cách rất Lê Uyên khiến tôi nhận ra sự vỡ òa trong mình, không kìm được trong từng câu chữ cô buông ra:

“Ném cả gánh hàng rong. Ném tràn như nước mắt

Ném hết. Ném hết. Ném cho người đi đầy tấm lòng Phan Rang”

Trong tiếng hát nghe như có tiếng khóc. Câu chuyện của cha anh tôi, của người dân đất nước tôi. Đau thương, tê tái mà thấm đẫm tình người đến thấu buốc tim gan. Nước mắt tôi rơi khi mắt vẫn nhìn như hút hồn lên sân khấu. Cám ơn người ca sĩ từng làm tôi ngẩn ngơ với “Dạ Khúc Cho Tình Nhân” ngày nào.

Xin mượn lời phát biểu của nhạc sĩ Đăng Khánh thay cho lời kết cho đêm nhạc “Gội Đầu/Bay”:

“Người viết ca khúc là người suốt đời đi tìm tòi và đuổi bắt giai điệu. Giai điệu Trần Dạ Từ trong những khuôn nhạc của ông hôm nay là những giai điệu tuyệt vời mà tôi tìm ra. Tôi cảm giác như âm nhạc Trần Dạ Từ đi trước thời gian sống của ông, âm nhạc mới trước thời đại mà ông viết ra nó. Tôi nghĩ có lẽ đó là do nhịp đập của trái tim trẻ mãi không giờ, không bao giờ già trong người thi sĩ/nhạc sĩ Trần Dạ Từ.”

—

Liên lạc tác giả: Ngoclan@nguoi-viet.com

Tù nhân lương tâm bị sách nhiễu

Tù nhân lương tâm bị sách nhiễu

Hoà Ái, phóng viên RFA
2015-06-02

06022015-priso-of-concien-harass.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Cô Phạm Thanh Nghiên hiện ở Hải Phòng

Cô Phạm Thanh Nghiên hiện ở Hải Phòng

RFA files

Trong bối cảnh thời gian vừa qua các phái đoàn Hoa Kỳ đến VN liên tiếp nêu vấn đề Hà Nội cần cải thiện tình hình dân chủ nhân quyền, đặc biệt đối với các tù nhân lương tâm nhưng chính phủ VN khẳng định tôn trọng tự do và quyền con người. Hòa Ái gửi đến thông tin cập nhật các trường hợp tù nhân lương tâm dù được trở lại xã hội nhưng vẫn bị sách nhiễu một cách nghiêm trọng ở VN hiện nay.

Án tù trong trại và án tù trong nhà

Hầu hết những tù nhân lương tâm sau khi mãn án tù giam được trở lại với gia đình và xã hội đều phải chịu thêm án lệnh quản chế. Theo luật quản chế, tù nhân lương tâm không được đi khỏi địa phương nơi cứ trú. Nhu cầu đi lại trong cuộc sống thường nhật ngoài phạm vi khu vực cấp phường, những tù nhân lương tâm chịu lệnh quản chế cần xin phép và phải có được sự đồng ý của chính quyền.

Trường hợp cô Phạm Thanh Nghiên ở Hải Phòng với bản án bốn năm tù giam, ba năm quản chế vì tội “tuyên truyền chống Nhà nước” theo Điều 88 Bộ Luật Hình sự, gặp rất nhiều trở ngại kể từ khi được về nhà hồi tháng 12 năm 2012.  Cô Thanh Nghiên chia sẻ với đài ACTD:

“Bởi vì tôi không thấy mình làm gì sai và bản án dành cho tôi rất bất công cho nên tôi không tuân thủ án quản chế. Chính vì thế mà tôi đã bị trên dưới 30 lần triệu tập, 2 lần bị bắt cóc giữa đường và bị phạt tiền vì họ cho rằng vì tôi đã đi khỏi địa phương mà không xin phép. Ngay cả khi tôi làm đơn theo yêu cầu của họ để được đi khám chữa bệnh thì họ thì cũng không đồng ý cả 2 lần. Lần thứ nhất, họ nói rằng tôi không viết ‘Cộng hòa-Xã hội-Chủ nghĩa Việt Nam’ nên không cho đi. Lần thứ hai, họ hoạnh họe câu chữ phải là ‘Đơn xin đi khám bệnh’ chứ không thể nào là “Đơn yêu cầu đi khám bệnh’”.

” Bởi vì tôi không thấy mình làm gì sai và bản án dành cho tôi rất bất công cho nên tôi không tuân thủ án quản chế. Chính vì thế mà tôi đã bị trên dưới 30 lần triệu tập, 2 lần bị bắt cóc giữa đường và bị phạt tiền vì họ cho rằng vì tôi đã đi khỏi địa phương mà không xin phép

Cô Thanh Nghiên”

Vì sức khỏe yếu kém do những năm tháng tù đày nhưng cô Thanh Nghiên vẫn không được chính quyền Thành phố Hải Phòng cho đi khám chữa bệnh ở phạm vi ngoài địa phương. Nữ tù nhân lương tâm này chỉ được đi khi có sự đồng ý của Giám đốc Công an Thành phố.  Kể cả những người quen biết đến thăm cũng bị chính quyền cản trở. Mới đây nhất, hôm mùng 2/6, bà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, tức Blogger Mẹ Nấm, đến gặp bị an ninh ngăn chận ngay trước ngõ nhà cô Thanh Nghiên. Blogger Mẹ Nấm kể lại vụ việc xảy ra:

Công an chìm và an ninh bao vây nhà cô Phan Thanh Nghiên hôm 2 tháng 6, 2015  sau đó tấn công đánh hội dồng cô Nghiên

Công an chìm và an ninh bao vây nhà cô Phan Thanh Nghiên hôm 2 tháng 6, 2015 sau đó tấn công đánh hội đồng cô Nghiên

“Bắt đầu ngay cái ngõ ngay khu nhà thì có rất đông an ninh thường phục đã chờ sẵn. Họ dừng xe không cho taxi cua vào đường đó và họ bảo chúng tôi phải đi khỏi khu vực này hoặc về phường làm việc. Tôi phản đối. Chị Phạm Thanh Nghiên ở trong nhà nghe được và đi ra khỏi nhà. Chị Nghiên nhận ra đó là những anh ninh đã bắt giữ, đã thường xuyên canh chừng nhà chị và chị phản ứng. Khi đó họ tách chúng tôi đứng yên ra 1 góc và đẩy chị Thanh Nghiên ra để đánh. Họ đánh đập chị Nghiên rất dã man. Có tới hơn 30 thanh niên đánh 3,4 chị em gái”.

Án lệnh quản chế

Trong khi đó, tại Thành phố Hồ Chí Minh, dù xin phép đúng theo thủ tục quy định của luật pháp VN nhưng tù nhân lương tâm-Luật sư Lê Công Định cho biết quyết định lý do hợp lý của chính quyền địa phương thật sự tùy tiện và theo cảm tính. Luật sư Lê Công Định nêu lên một tình huống ông xin đi ra khỏi địa phương để dự đám hỏi người cháu mà ông đại diện gia đình làm chủ hôn thì không được chuẩn thuận với lý do là “không hợp lý”trong khi trước đó ông xin đi đám cưới của 1 người bạn thì lại được đồng ý. Sau đó, Luật sư Lê Công Định mới tìm hiểu được lý do “không hợp lý” là vì ngày ông xin đi đám hỏi trùng hợp với ngày Blogger Nguyễn Ngọc Già bị bắt. Luật sư Lê Công Định cũng cho biết bản thân ông bị phạt vi phạm lệnh quản chế đã 3 lần với mức phạt cũng hết sức tùy tiện, không theo bất cứ quy định rõ ràng nào. Luật sư Lê Công Định nói:

” Chị Phạm Thanh Nghiên ở trong nhà nghe được và đi ra khỏi nhà. Chị Nghiên nhận ra đó là những anh ninh đã bắt giữ, đã thường xuyên canh chừng nhà chị và chị phản ứng. Khi đó họ tách chúng tôi đứng yên ra 1 góc và đẩy chị Thanh Nghiên ra để đánh. Họ đánh đập chị Nghiên rất dã man. Có tới hơn 30 thanh niên đánh 3,4 chị em gái

Blogger Mẹ Nấm”

“Lúc họ thích thì cho, lúc không thích thì họ không cho mà họ thích hay không thích thì tùy thuộc vào tháng đó tôi có viết bài gì, có trả lời phỏng vấn đài nước ngoài hay không, có làm họ mất lòng hay không. Hôm nào họ đã mất lòng thì lý do mình xin là hợp lý thì cũng trở thành vô lý. Ở đây không có luật lệ gì hết. Có một luật chung tổng quát là sự lượng định cái gọi là hợp lý hoàn toàn tùy thuộc vào sự quyết định của những người có chức quyền và cụ thể là an ninh chứ chẳng phải chính quyền địa phương nào hết”.

Tù nhân lương tâm Lê Công Định còn phải chịu hình thức kiểm tra việc thực thi lệnh quản chế bằng cách nhân viên đại diện chính quyền xông vô nhà vào lúc nửa đêm để kiểm tra.

Tù nhân lương lương tâm Trần Anh Kim ở Thái Bình vừa mãn hạn tù hơn 4 tháng qua không những gặp phải những hạn chế trong lệnh quản chế đi lại ở địa phương, bước chân ra đường là có người xuất hiện quanh quẩn bám theo canh chừng mà cuộc sống kinh tế của ông bị rơi vào khủng hoảng. Ông Trần Anh Kim trình bày hoàn cảnh của mình:

“Hơn 4 tháng ra rồi, tất cả tiền lương kể cả tiền xương máu của tôi đã bị nhà cầm quyền VN cắt không còn một xu. Thế nên cuộc sống của tôi bây giờ rất khó khăn, chủ yếu sống nhờ vợ, một tháng có 3 triệu ít ỏi cho vợ chồng sống thế thôi. Có 1 vấn đề là nhà tôi ngay ngã ba đường, khi tôi xây cái tường bao thì người ta gây khó khăn cho tôi suốt hàng tháng nay, không cho xây, cứ bắt đầu xây là ra phá. Cấp tỉnh thì họ rất quan tâm nhưng cấp phường, cấp thành phố lại gây rất nhiều khó khăn. Đã khó khăn thì lại chồng chất khó khăn. Đất của tôi là đất sinh lời, nếu họ cho tôi làm thì mỗi tháng tôi thu khoảng 7-8 triệu, có thể đủ sống nhưng họ không cho làm. Đây có thể coi như là hành vi tìm mọi cách triệt tiêu sự sống của tôi”.

Đài RFA liên lạc với người tù thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu và được cho biết sau vụ việc ông từ chối số tiền chiêu dụ 25 ngàn đô la của một nhóm người tự xưng danh “Lực lượng hòa hợp hòa giải” để đánh đổi một tấm hình có chữ viết “hối hận đã sáng tác bài ‘Kinh giàn khoan’” được cộng đồng mạng chia sẻ hồi tháng 11 năm 2014 thì ông thường xuyên nhận các tin nhắn hăm dọa đánh, giết qua điện thoại. Cuộc trao đổi giữa cựu tù nhân lương tâm Nguyễn Hữu Cầu với Hòa Ái chưa kịp bắt đầu thì phải vội vàng tạm ngưng vì:

“Bây giờ tôi tạm dừng vì công an khu vực xuất hiện đứng cười cười. Ông Thiếu tá công an khu vực đang đứng mời tôi ra uống cà phê. Đây nè, ông đang đứng trước mặt nè”.

Án lệnh quản chế nhà cầm quyền VN áp dụng đối với tù nhân lương tâm cũng như những biện pháp sách nhiễu trên đời sống của họ như các trường hợp vừa nêu bị dư luận quốc tế và Hòa Kỳ cho là vi phạm nhân quyền.

Tại cuộc họp báo ở Hà Nội hôm mùng 1 tháng 6 về chuyến viếng thăm và làm việc của Tổng trưởng Quốc phòng Mỹ, ông Ash Carter nhấn mạnh đến quan điểm của chính phủ Hoa Kỳ trong các cuộc thảo luận về quyền chính trị và quyền làm người với giới chức lãnh đạo VN, cho rằng co thể ảnh hưởng đến mối quan hệ song phương Việt-Mỹ.

Nỗi Buồn Duy Nhất

Nỗi Buồn Duy Nhất

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

Một đảng, một nhà nước kỳ lạ. Đánh người toàn bằng đánh trộm, thụi ngầm và phi tang.

Nguyên Ngọc

Thấy tôi đã bắt đầu có vẻ chán Thái Lan, Mặc Lâm gạ gẫm:

  • Muốn chạy qua Lào chơi chút xíu không?

Tôi còn đang ngần ngừ thì Anh Vũ đã sốt sắn bàn … vô:

  • Trước khi qua Lào, phải ghé tỉnh Nakhon Phanom. Ở đây có quán tiết canh và súp đuôi bò ngon lắm.

Thế là ba thằng hăm hở (hớn hở) và hùng hổ đi ngay. Sau 12 tiếng đồng hồ gà gật trên xe, chúng tôi đến nơi khi cả thành phố này vẫn còn đang ngái ngủ. Hotel Viewkong nằm sát cạnh bờ của Cửu Long Giang, nơi dòng chẩy là biên giới thiên nhiên giữa hai nước Thái/ Lào.

Đứng trên ban công khách sạn có thể nghe được tiếng gà rộn rã, vang vọng từ bên kia sông. Xa xa là dẫy Trường Sơn lô nhô, cao ngất, in đậm dáng dị kỳ giữa nền trời vừa (mới) lờ mờ sáng.

Trường Sơn nhìn từ đất Thái. Ảnh: Mặc Lâm

Cảnh đẹp như một bức tranh làm nao lòng lữ khách nhưng tôi không được ngắm nhìn lâu vì thái độ  “nóng như hơ” của hai ông bạn đồng hành. Tắm rửa xong là họ giục giã vù ngay ra quán. Cứ y như thể là tiết canh phải được thưởng thức trước khi mặt trời mọc thì mới còn nguyên hương vị.

Chủ quán không phiền hà gì ráo khi bị gõ cửa vào sáng tinh mơ. Đã thế, ông và mấy cô con gái còn tỏ ra vô cùng thích thú khi biết khách đã vượt gần ngàn cây số đến đây chỉ vì món ăn danh tiếng của gia đình mình. Nhanh như tép, chỉ năm mười lăm phút sau họ đã dọn ra ba bát tiết canh heo (cùng đĩa lòng lợn) và một rổ rau mùi xanh ngăn ngắt.

Khác với đám rau thơm đoảng vị ở California, ngò gai Nakhon Phanom lá dầy – xanh thẫm, nhỏ nhắn, xinh sắn – và “gai” đến độ có thể làm đứt lưỡi luôn. Ngò rí thì xanh rì, ngắn ngủn, loắt choắt chỉ bằng độ cây tăm. Răm, húng quế, húng nhũi, húng cây, kinh giới, tía tô … đều bé tí ti và thơm sực nức.

Vắt mấy giọt chanh vào nửa thìa tiết, ngắt thêm nửa lá ngò gai, vài cọng ngò rí, hai ba lá húng cây húng quế… rồi bỏ tất tần tật vào mồm. Chưa nhai mà đã cảm thấy như có cả một dòng suối nhỏ – dòng suối máu huyết của quê hương – len lách qua từng kẽ răng, rồi chầm chậm thấm đậm vào hàng tỉ tế bào (khô héo) của một kẻ chung thân viễn xứ.

Cả ba chúng tôi đều chết lặng!

Đ…mẹ, nó ngon hết biết luôn, và ngon chưa từng thấy. Ngon như thể là trên đời này không còn có thứ gì ngon hơn được nữa.

Qua bát thứ hai tôi mới nhớ đến nửa chai Johnnie Walker Double Black Label vẫn còn nằm ngủ ngoan trong sắc tay. Tôi ực hai ly rồi ngưng nhưng Mặc Lâm kèo nài:

  • Thêm một ly nữa nha.
  • Thôi đủ rồi cha. Tui theo chế độ “lưỡng đảng” nên uống cả rượu lẫn bia. Để dạ uống vài lon bia Lào coi nó ra sao chớ.
  • Nhưng bữa nay phải uống ly nữa để mừng Trương Duy nhất vừa mới ra tù.

Ồ, đúng vậy! Thế là chúng tôi lại cạn mấy ly đầy, rồi đầy mấy ly cạn, và tiếp tục cạn mấy ly đầy cho đến khi trong chai chả còn còn một giọt rượu nào mới “chuyển” qua bia. Bạn có thể than phiền hàng trăm chuyện về nước Lào, cũng như nước Thái nhưng bia bốc của cả hai quốc gia này thì thiệt là không có gì để mà phải phàn nàn.

Thành phố Thakkek, Lào. Ảnh: Mặc Lâm

Tôi có cái tật xấu là “rượu vào lời ra,” và uống càng nhiều thì nói năng càng … nhạt nhẽo, và vô vị:

  • Không biết sau vụ này rồi Trương Duy Nhất còn tiếp tục viết nữa không ta?

Anh Vũ ngó bộ bất bình thấy rõ vì câu hỏi vô duyên và lảng xẹt của tôi nên nên hơi sẵng giọng:

  • Sao không?  Em đố anh tìm được một nhân vật bất đồng chính kiến nào đã tắt tiếng, sau khi ra khỏi nha tù? Nói chi là Trương Duy Nhất.

Măc Lâm trung dung và thực tế:

  • Muốn biết chắc thì mình cứ hỏi thẳng thằng chả chớ có khó khăn gì đâu.

Miệng nói tay làm, Mặc Lâm cầm điện thoại bấm nhay nháy. Cứ y như là có phép lạ, chỉ vài chục giây sau là chúng tôi nghe rõ cái giọng “hùng hổ” quen thuộc của Trương Duy Nhất:

“Tới thời hạn trả tự do thì họ phải buộc trả tự do cho tôi thôi và tôi đang muốn có một cái cảm xúc, cảm xúc mạnh nhất mà tôi mong nhất là khi Trương Duy Nhất vừa bước chân ra khỏi tù thì những thằng ích kỷ ăn tàn phá hoại đất nước những thằng đang bắt dân vô tội thì nó phải vào tù thay tôi và đó là điều tôi đang mừng thế thôi!”

….

“Tôi ngại gì? Tôi có tội đâu mà tôi ngại? Còn giả sử nó bỏ tù tôi tiếp chung thân hay tử hình đi nữa thì tôi có một câu tôi từng nói mà chắc bạn đã thuộc rồi. “Có thể cưỡng bức được hành vi chứ không cưỡng bức nỗi tư tưởng”  (thôi tôi có vé rồi tôi phải vào lên máy bay) tôi chỉ gửi lời cảm ơn tất cả các bạn …

Mặc Lâm và Anh Vũ đều thích chí cười khằng khặc. Tôi chỉ gượng gạo cười theo vì chợt cảm thấy có đôi chút lo âu (xen lẫn buồn bã) khi nhớ đến sự háo hức của Trương Duy Nhất qua một bài báo cũ (Bút Chiến Trên Mạng, Tại Sao Không?) của ông:

Chỉ riêng Hà Nội, đã xây dựng được 19 trang tin điện tử, hơn 400 tài khoản trên mạng cùng nhóm “chuyên gia bút chiến.”

Phát biểu tại hội nghị công tác Tuyên giáo toàn quốc 2012 diễn ra sáng nay 9/12/2013, ông Hồ Quang Lợi, Trưởng ban Tuyên giáo thành ủy Hà Nội nói: “Đã tổ chức đội ngũ 900 dư luận viên trên toàn thành phố nhằm phát huy sức mạnh của đội ngũ tuyên truyền miệng. Trong khi đó, báo chí thủ đô thực hiện ý kiến chỉ đạo về những vụ việc nhạy cảm; thành lập các tổ phóng viên bấm nút, phản ứng nhanh. Tổ chức “nhóm chuyên gia” đấu tranh trực diện trên mạng internet, tham gia bút chiến trên internet…

Một thông tin khá bất ngờ, tạo cho tôi cảm giác thích thú…

Hãy công khai tranh luận một cách chính danh quân tử, thay vì sử dụng những biện pháp kỹ thuật lén lút cướp phá không khác gì bọn hacker, hoặc chụp mũ chính trị và kết án một cây bút chỉ vì những bài viết góp ý, phê bình phản biện của họ. Trước một thông tin, trước một tác phẩm, một bài viết, một cây bút, một góp bàn phản biện, chỉ được phép dùng chính phương cách truyền thông “tham chiến”, chứ không được phép dùng đến cái còng số 8, nòng súng và nhà giam…

Tiếc thay, Trương Duy Nhất đã lãnh đủ ca ba (“còng số 8, nòng súng và nhà giam”) trước khi ông có cơ hội bút chiến với đám dư luận viên của chế độ hiện hành. Tôi sợ là sẽ còn có điều đáng tiếc hơn nữa, nếu Trương Duy Nhất vẫn nghĩ rằng (nay mai) ông sẽ mở trận chiến trên mạng với cái đám bồi bút khốn nạn này.

Đây là lần đầu tiên trong đời tôi gọi một số những người cầm bút khác là “đám bồi bút” và “bọn khốn nạn,” với niềm xác tín rằng không có hạn từ nào thích hợp hơn để gọi tụi vô học và vô lại này. Hãy cùng đọc qua “văn phong” và “ý tưởng” của vài “chuyên gia” trong  “đội ngũ đấu tranh trực diện, tham gia bút chiến trên internet” xem họ vô liêm sỉ và sa đọa đến mức nào:

Phong Trào “Tôi Yêu Cây” Của Các Lều Dân Chủ

Sự kiện gây sự chú ý của dư luận trong nước, đặc biệt là người dân Thủ đô là Dự án Thay thế cây xanh tại Hà Nội. Không bàn đến chuyện chủ trương đúng – sai, phải – trái thế nào mà ở đây, tác giả muốn nói đến việc mượn sự việc này, đám zận chủ quậy phá, thể hiện cái mà chúng coi là “Tôi Yêu Cây”.

Đám zận chủ nhao nhác thể hiện “Tôi Yêu Cây” bằng đủ hình thức, có thể điểm lại các việc như sau:

– Zận chủ Lê Văn Dũng (facebookerLe Dung Vova), thành viên của NouFC đã giao mua trên mạng 1000 áo phông xanh để phát miễn phí cho những ai tham gia… tiền đâu ra mà hào phóng vậy Dũng Vova?

– Thắng mặt chuột (Nguyễn Lân Thắng) thì thể hiện tình yêu với cây theo cách khác, Thắng đã nhận lời để tham gia truyền thông quảng cáo cho hoạt động “buộc cây và tự trói mình” để phản đối việc chặt cây của nhóm zận chủ già tự xưng văn nghệ sỹ… không biết mỗi vụ được cát sê bao nhiêu hả Thắng mà khổ thế?

…

Vì sao Lập phò bị bắt?

Lập phò là con góp phần khá tởm trong việc phá nát cái tinh thần và tư duy dân chủ ở xứ này, vì đơn giản là cỏn lợi dụng nó để đánh đấm thuê đong xèng, thế thôi.

Đánh thuê không kín mõm thì bị túm, chả có dân chủ dân cheo hay chống đối gì ở đây cả, đừng hiểu lầm!

Tại sao Đinh Đăng Định sắp chết và nghèo thế.!.

Do bênh đau dạ dày (bao tử) cộng thêm tuyệt thực trong trại giam lâu ngày sinh ra ung thư?; Nếu như ông Đinh Đăng Định đang là giáo viên sẽ được đi khám bệnh định kỳ hàng năm, thì đã phát hiện bệnh sớm và được chữa kịp thời sẽ không có sự nguy kịch như hôm nay. Đấu tranh = nằm chờ chết…

Kết quả của sự ảo tưởng, chống đối nhà nước nên bản thân Đinh Đăng Định thời gian sống tính từng ngày. Hôm nay được vài nhóm người đến thăm, tung hô nhưng sau 49 ngày chết sẽ hết. Lúc đó “con bị mồ côi, nhà mất trụ cột”. Có thể cái nhà gỗ kia cũng phải bán và con thằng khác sai, vợ thằng khác xài, nhà thằng khác ở. Mai kia những những người con gái của Đinh Đăng Định sẽ ra sao?, có bị thằng khác lừa không?, lại ôm bầu thương nhớ. Ra đi có thanh thản không?

….

Bên dươi bài viết thượng dẫn là những  “nhận xét” sau của độc giả:

3 nhận xét :

Nặc danh17:59:00 18-07-2014

Lối viết quá bỉ ổi, ti tiện.

Nặc danh15:22:00 23-10-2014

Thật là ti tiện quá đi

Nặc danh00:29:00 02-05-2015

Người viết ra bài này thể hiện trình độ học vấn quá ngu si và hạn hẹp. Người này chắc tôi khẳng định chưa bao giờ được học hết cấp 3 chứ đừng nói đại học. Phí 2 phút cuộc đời để lướt qua những bài báo nhảm nhỉ như thế này.

Tôi chắc là Trương Duy Nhất sẽ buồn – và buồn lắm –  ngay sau khi ra khỏi nhà tù và biết ra rằng cái được mệnh danh là “đội ngũ chuyên gia để đấu tranh trực diện, tham gia bút chiến trên internet chống các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch” (đích  thực) chỉ là thứ quân vô lại, một đám giá áo túi cơm, chứ không phải là những người cầm bút để ông có thể bút chiến với họ, như đã từng mong mỏi.

Một bà vứt bỏ máy điện toán Apple cũ trị giá $200,000

Một bà vứt bỏ máy điện toán Apple cũ trị giá $200,000


MILPITAS, California (AP) – Một trung tâm tái chế phế liệu ở vùng Silicon Valley đang tìm kiếm một phụ nữ đã đem đến bỏ một máy điện toán Apple loại cũ nhưng bán được cho các nhà sưu tầm với giá $200,000.

Một máy điện toán Apple I. (Hình: Justin Sullivan/Getty Images)

Chiếc máy điện toán này được để trong hộp chứa các món đồ điện tử mà bà dọn dẹp từ trong nhà để xe sau khi ông chồng qua đời, theo lời ông Victor Gichun, phó chủ tịch công ty Clean Bay Area.

Bà này không muốn có giấy chứng nhận đã cho, hay để lại địa chỉ và điện thoại liên lạc, và chỉ mấy tuần sau đó nhân viên nơi đây khi mở hộp ra mới thấy có máy điện toán Apple I bên trong.

Tờ báo địa phương San Jose Mercury News cho hay đây là một trong khoảng 200 chiếc máy Apple đời đầu tiên được các ông Steve Jobs, Steve Wozniak và Ron Wayne lắp ráp vào năm 1976.

“Chúng tôi thật sự không thể tin được vào mắt mình. Chúng tôi nghĩ đây là đồ giả,” ông Gichun cho đài truyền hình KNTV-TV cho hay.

Công ty tái chế phế liệu này bán chiếc Apple I với giá $200,000 cho một nhà sưu tầm, và vì công ty đưa lại 50% số tiền bán được cho người chủ đã tặng, ông Gichun cho hay muốn chia số tiền này với người tặng bí ẩn kia.

Ông nói rằng ông nhớ rõ mặt của người phụ nữ và yêu cầu bà quay trở lại để nhận $100,000.

“Để chứng nhận đúng là bà, tôi chỉ cần nhìn thấy bà là được,” ông Gichun nói. (V.Giang)

Trần Trung Đạo: Tâm bút cùng Trà Kiệu

Trần Trung Đạo: Tâm bút cùng Trà Kiệu

– Tin nổi bật, Bình Luận

Làng Phật Giáo Mã Châu, nơi tôi sinh ra, cách làng Công Giáo Trà Kiệu, nơi Th., bạn tôi, sinh ra, khoảng mười cây số và một con sông. Trong làng tôi, ngoài trừ gia đình người chú họ, sau khi đi làm ăn xa trở về làng cũ, trong hành trang của chú còn có thêm một cây Thánh Giá và bức hình Đức Mẹ, tất cả bà con còn lại đều là Phật Tử. Đoạn đường từ trạm Nam Phước lên đến quận Duy Xuyên chỉ dài hơn năm cây số nhưng đã có đến bốn ngôi chùa. Các ngôi chùa làng rất nhỏ, mái ngói cong, thường xây cạnh những cây đa già. Tuổi thơ tôi lớn lên trong một môi trường Phật Giáo và dưới bóng mát của hồn quê hương đơn sơ chất phác đó.

Phần lớn bạn học các lớp trung học đệ nhất cấp ở trường quận Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, trong đó có cả Th., và Diệp đều là người Trà Kiệu. Ba của Diệp lái xe Lam ba bánh. Cuối tuần tôi thường ra Chợ Quận đứng chờ xe của bác đi ngang là tôi đi theo lên Trà Kiệu chơi với đám bạn. Từ Mã Châu đi Trà Kiệu không xa nhưng phải qua Cầu Chìm, một chiếc cầu nhỏ bắc ngang một trong những nhánh sông Thu Bồn chảy ra hướng Cửa Đại. Vì được xây quá gần với mặt nước nên mỗi khi trời mưa lớn là xảy ra cảnh nước chảy qua cầu. Đám học sinh bên kia sông buổi sáng đi bộ đến trường nhưng buổi chiều nhiều khi phải đi đò về nhà. Bên chân cầu là một chiếc lô-cốt bằng xi-măng, tàng tích của chế độ Thực Dân còn để lại và cũng là một nhắc nhở của vết thương hằn sâu trên da thịt quê hương tôi, làm nhức nhối bao nhiêu thế hệ đã qua và còn mưng mủ cho đến bây giờ.

Trà Kiệu, với diện tích khoảng một cây số vuông, đẹp một cách hùng vĩ và linh thiêng. Phía Tây Trà Kiệu là rặng núi Kim Sơn chạy dài, hút sâu vào dải Trường Sơn trùng điệp. Phía Nam là di tích thành lũy và hoàng cung của một thời vàng son trong lịch sử Chiêm Thành. Theo sử sách ghi lại, đồng bào Công Giáo Trà Kiệu phần lớn từ miền Bắc di cư vào miền Trung, bắt đầu là người ở Kẻ Chợ Hà Đông vào khoảng năm 1684. Họ sống tập trung nhau để dễ bề giữ đạo và giúp đỡ cho nhau. Trong tôi vẫn còn in lại hình ảnh những bậc tam cấp bằng đá của nhà thờ Trà Kiệu, nơi chúng tôi đã ngồi trong những buổi chiều vàng nhìn xuống xóm nhà của các bạn tôi, được dựng bên những thửa ruộng xanh bao vòng quanh chân núi.

Thế nhưng, không phải ai ở quê tôi cũng đối xử với nhau một cách vô tư, hồn nhiên và hòa đồng như tôi và đám bạn Trà Kiệu của tôi. Không ít người dân Quảng, vốn rất tự hào về truyền thống cách mạng, chống Thực Dân Pháp, Địa Linh Nhân Kiệt, Ngũ Phụng Tề Phi, thường nghĩ về Trà Kiệu như là một làng Công Giáo biệt lập. Càng tự hào với truyền thống chống Thực Dân bao nhiêu thì họ lại càng dễ có thái độ khắt khe, xa cách với đồng bào Trà Kiệu bấy nhiêu. Với những người mang nặng định kiến, hẹp hòi và bảo thủ, đồng bào Trà Kiệu, dù sống trên cùng một quê hương nhưng không cùng chung nhau trọn vẹn một chiều dài lịch sử. Sự xa cách đó không phải tự nhiên mà có, cũng không phải chỉ đơn giản là sự cách biệt lương giáo chung chung mà thôi, nhưng những chia rẽ giữa những người đã chôn khúc nhau trên cùng mảnh đất, bắt đầu bằng máu, đổ xuống trong đêm 1 tháng 9 năm 1885 và chảy dài suốt thời kỳ thực dân đầy thù hận, khổ đau, tang tóc.

Đêm đó nghĩa quân thuộc phong trào Văn Thân tỉnh Quảng Nam với khẩu hiệu Bình Tây Sát Tả đã mở liên tục các cuộc tấn công vào làng Công Giáo Trà Kiệu lúc bấy giờ đặt dưới sự lãnh đạo tinh thần của Linh Mục Bruyere, được gọi bằng tiếng Việt là Cố Nhơn, thuộc Hội Thừa Sai Pháp. Trong làng thời đó chỉ có khoảng 370 thanh niên có thể chiến đấu với vỏn vẹn 5 khẩu súng. Họ phải tự rèn gươm giáo, đúc súng đạn, dành dụm từng chút lương khô trong cuộc chiến tranh tự vệ khó khăn và quyết liệt. Sau lưng là núi, trước mặt là con đường độc nhất dẫn ra tỉnh đã bị bao vây. Họ không có đường lui và cũng không còn đường tiến. Cuộc chiến đấu của họ mang trọn vẹn ý nghĩa của “tự do tôn giáo hay là chết”.

Sau 21 ngày tấn công và chống đỡ đẫm máu giữa người Quảng và người Quảng, giữa người Việt và người Việt, giữa những tín đồ Thiên Chúa Giáo và các đơn vị Văn Thân Bình Tây Sát Tả, đã gây ra rất nhiều thiệt hại, mất mát cho cả hai bên. Máu người dân Quảng đã chảy trên đồi Bửu Châu thiêng liêng, xương người dân Quảng đã phơi trên cố đô Chiêm Thành huyền bí.

Cuối tháng 9 năm 1885, sau gần một tháng tấn công không thành công, các đơn vị Văn Thân rút lui. Đồng bào Công Giáo Trà Kiệu tin rằng Đức Mẹ đã hiện ra trong những đêm 10 và 11 tháng 9 năm 1885 để che chở cho con cái của Mẹ và giúp đẩy lui quân đội của cả một phong trào Văn Thân rộng lớn của tỉnh Quảng Nam đông gấp trăm lần. Từ đó, hằng năm vào ngày 31 tháng 5, ngày cuối của tháng Hoa, người dân Công Giáo Trà Kiệu tổ chức lễ cung nghinh Đức Mẹ để ghi ơn Mẹ đã cứu giúp Trà Kiệu thoát khỏi bị tận diệt.

Trong cái nhìn của riêng tôi, đồng bào Trà Kiệu thời bấy giờ không có một chọn lựa nào khác. Họ đã phải chiến đấu trong một hoàn cảnh tự vệ, không những để bảo vệ niềm tin Thiên Chúa mà còn vì mạng sống của chính họ và gia đình họ. Nhiều trong số họ đã ngã xuống cho niềm tin mà họ tôn thờ. Nếu họ thua, có thể làng Công Giáo Trà Kiệu không còn hiện diện trên bản đồ như ngày nay nữa. Niềm tin đã giúp Trà Kiệu đứng vững. Ngày 31 tháng 5, trong bình diện tôn giáo, vì thế, phải được hiểu như là ngày của Niềm Tin hơn là một chiến thắng quân sự chống lại Văn Thân. Niềm tin tôn giáo đó vô cùng cao cả và trong sáng. Đồng bào xứ Quảng thời đó đã sống có niềm tin và đã chết vì niềm tin. Những hy sinh của họ xứng đáng được kính trọng và phải được nhìn từ khía cạnh thuần túy tâm linh.

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc ít may mắn. Rất hiếm hoi trong mấy ngàn năm lịch sử, dân tộc ta có được một thời bình yên và ổn định đủ dài để xây dựng đất nước hay ít ra đủ kết hợp một tiềm năng, như trường hợp Nhật Bản, đủ sức chống chỏi với các áp lực từ bên ngoài. Sau suốt cả ngàn năm Bắc thuộc là Trịnh Nguyễn phân tranh. Khi cuộc nội chiến vừa yên thì các chiến hạm Pháp cũng vừa thả neo dòm ngó ngoài cửa biển. Nói ra có vẻ cải lương nhưng quả thật dân tộc Việt Nam đúng là một dân tộc đã trưởng thành trong khói lửa.

Tôn giáo tại Việt Nam đã chia xẻ trọn vẹn những bất hạnh chung của dân tộc. Phần lớn các tôn giáo lớn được truyền vào Việt Nam cùng lúc với những biến động lịch sử lớn của đất nước. Theo các quy luật kinh tế đã được các nhà kinh tế thuộc mọi trường phái thừa nhận, chủ nghĩa thực dân là một bệnh chứng tất yếu trong quá trình tiến hóa của nhân loại. Với hệ thống giáo dục lỗi thời và chính sách đối ngoại vô cùng thiếu ngôn ngoan của triều đình nhà Nguyễn cộng với các kỹ thuật chiến tranh cách biệt quá xa về kỹ thuật giữa tây phương và của các quốc gia khu vực Nam Á thời bấy giờ, dù có hay không có sự xuất hiện của Thiên Chúa Giáo tại Việt Nam trong giai đoạn đó thì nước ta vẫn mất, nhà ta vẫn tan.

Chỉ tiếc là chúng ta không có những ông vua sáng suốt như Minh Trị Thiên Hoàng (1852-1912) biết nhìn xa hiểu rộng, kịp thời canh tân đất nước. Chúng ta cũng không có được những ông vua như Rama IV (1851-1868) của Thái đủ khôn ngoan để thấy được xu thế chính trị kinh tế của thời đại, ngõ hầu dung hóa các ngoại lực. Thay vào đó, các vua nhà Nguyễn đã theo đuổi chính sách bế môn tỏa cảng để rồi cuối cùng dẫn đến mất nước. Tiếng súng của Đô Đốc Perry đã đánh thức nước Nhật nhưng tiếng đại bác của viên sĩ quan Pháp, Le Lieur, bắn vào Đà Nẵng năm 1856 không lay tỉnh một triều đại ngủ quên trong cái học từ chương, thi phú cung đình. Những bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Đức Hậu, Nguyễn Điều … chỉ là vài giọt nước tan loãng vào biển hủ nho phong kiến. Tương tự, những lời can gián cương trực của hai danh sĩ Quảng Nam, Phó Sứ Phạm Phú Thứ và Binh Bộ Thượng Thư Lê Đĩnh, chẳng đủ công hiệu để giết hết được loại vi trùng định kiến, hoài nghi, bảo thủ, lo sợ mất quyền, mất nước truyền trong máu từ bao đời trước.

Thế nhưng, nói như thế, cũng không có nghĩa, tôi đang trách tổ tiên ông bà chúng ta trong phong trào Văn Thân, Cần Vương kháng Pháp. Thảm cảnh, trong đó hàng vạn người Việt Nam được trang bị bằng dao mác, tầm vông, đã gục xuống như rơm rạ trước nòng đại bác thực dân, đã làm sục sôi máu hờn căm của những người dân Việt đang đau vì vận nước. Ông bà chúng ta thời đó, ngoài giặc Pháp, chẳng còn một nơi nào hay một ai để trút lòng phẩn uất, lửa căm thù của họ, khác hơn là các giáo sĩ Tây phương và những người theo đạo từ Tây phương truyền đến.

Và để nghĩ cho cùng, chúng ta cũng không thể trách các vua nhà Nguyễn đã bế quan trong bốn bức tường thành. Làm sao các vị đó hiểu được những gì đang xảy ra trên thế giới và cho vận nước khi cả đời vùi mài trong tứ thư ngũ kinh. Làm sao các vị đó có được chọn lựa sáng suốt hơn khi mang trong người dòng máu sợ người ngoài như sợ thú dữ, truyền lại từ suốt ngàn năm lệ thuộc Bắc phương.

Trở lại với Trà Kiệu, đồng bào Công Giáo Trà Kiệu thời bấy giờ đã dù bị bạc đãi, dù chịu đựng trấn áp nhưng đã không vì thế mà bỏ rơi đất nước. Các tín đồ Thiên Chúa Giáo Quảng Nam đã không nghe lời Giám Mục Pellerin làm nội gián cho quân của tướng Rigault De Genouilly khi viên tướng nầy đem quân đánh Đà Nẵng vào ngày 1 tháng 9 năm 1857. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Phạm Văn Sơn: “Viên Trung Tướng nầy [Rigault De Genouilly] còn thất vọng thêm ở chỗ không thấy có giáo dân nổi lên hưởng ứng nên đã kỳ kèo giám mục Pellerin vì trước đây giám mục đã đoan quyết như vậy. Lúc nầy giám mục cũng theo quân đội (Pháp) và có mặt trên chiếc tàu Némésic. Giám mục vừa xấu hổ vừa tức giận nên bỏ về ở nhà tu Pinang tại Mã Lai“.

Hẳn nhiên không phải ở đâu cũng có những người Việt Nam như thế, không phải nơi nào dân tộc ta cũng may mắn có được những người con biết làm ngơ trước vinh hoa để bảo vệ sự sống còn lâu dài của dân tộc như thế. Trong suốt 40 năm chiến đấu trong gian nan tuyệt vọng để ngăn chận bước chân của thực dân Pháp (1847-1887), bao nhiêu mẩu chuyện đầy bẽ bàng chua xót, bao nhiêu việc làm đáng trách của một số người Việt còn ghi lại trong sử sách.

Nhắc lại những điều đáng ca ngợi hay nêu lên đôi điều đáng trách đó, tôi không có ý định đào sâu những vết thương đã một thời lở lói trong lòng dân tộc. Nhưng để chúng ta cùng nhìn về quá khứ một cách khách quan, chân thành, bao dung và trân trọng, để từ đó biết tránh xa những ổ gà, những hầm hố, những vết xe đổ, trên đường đi tới một tương lai tươi sáng cho đời sau. Không ai muốn giết nhau. Không ai muốn tàn sát nhau. Định mệnh lịch sử đã bẫy dân tộc ta vào một căn hầm không lối thoát, trong đó, các thành phần dân tộc vừa là nạn nhân, vừa là nhân chứng, vừa là đồng lõa và nhiều khi cũng vừa là tội phạm. Đọc lại lịch sử Việt Nam các thế kỷ 17, 18 để thấy ông bà chúng ta đáng thương và tội nghiệp biết bao nhiêu. Cả dân tộc, thời bấy giờ, như một bầy cừu non, không hề chuẩn bị, trước nanh vuốt của Thực Dân Pháp.

Tôi chỉ mong có một ngày những người dân Quảng sẽ cùng về lại Trà Kiệu, cùng nhau lau sạch những bậc đá trên đồi Bửu Châu như lau đi những vết thương hằn sâu nhiều thế kỷ. Tôi vẫn mơ có một ngày cùng nhau xây lại đình làng Ngũ Xã Hoàng Châu và các làng mạc chung quanh Trà Kiệu, nơi đã từng là bãi chiến trường, là biên giới của phân ly, hoài nghi, xa cách. Trà Kiệu, Mã Châu, Thi Lai, Hà Mật, Kỳ Lam, Giao Thủy, Đà Nẵng, Hội An….là những phần thân thể đáng yêu và bất khả phân ly của xứ Quảng. Tôi yêu Trà Kiệu như yêu chính ngôi làng Mã Châu nhỏ bé của tôi.

Chiều hôm qua, đọc bài viết công phu của linh mục Trần Quý Thiện về nhà thơ Công Giáo Hàn Mặc Tử, tôi xúc động và hãnh diện khi biết rằng mẹ của nhà thơ Hàn Mặc Tử, cụ bà Nguyễn Thị Duy, sinh năm 1881, là người Trà Kiệu. Thân phụ của tác giả Đây Thôn Vỹ Dạ nổi tiếng, cụ Vinh Sơn Phaolô Phạm Toản (1882-1926) vì chống Pháp phải thay đổi họ từ Phạm sang họ Nguyễn. Giọt sữa mẹ và hùng khí quê ngoại Quảng Nam đã góp phần tạo nên Hàn Mặc Tử, nhà thơ lớn của Việt Nam đầu thế kỷ 20.

Chúng ta không thể sửa lại quá khứ, chúng ta không thể làm lại lịch sử, chúng ta không thể xoay ngược bánh xe thời gian, chúng ta cũng không thể nào quên đi quá khứ, nhưng xin hứa với nhau, chúng ta sẽ không sống bằng quá khứ.

Chúng ta sẽ học những bài học đắng cay của cha ông chúng ta một cách nghiêm túc, chân thành và trân trọng. Nhưng không phải học để rồi khóc than thương tiếc, mà để từ đó xây dựng một Việt Nam thương yêu, đoàn kết trong tương lai, kính Chúa nếu là con cái Chúa, kính Phật nếu là đệ tử Phật, tương kính đạo của nhau giữa những người khác đạo, và biết vượt qua mọi khó khăn để gìn giữ căn nhà chung của mẹ Việt Nam.

Các tôn giáo sẽ mãi mãi là những dòng suối của tình thương, những dòng sông của bác ái, hòa vào mạch sống chung của dân tộc, đem lại dòng sinh khí cho quê hương vốn đã bao năm chìm đắm trong hận thù tang tóc. Các vị lãnh đạo tinh thần tôn giáo trong Việt Nam tương lai sẽ là những cột kèo, mái vách gìn giữ cho căn nhà đạo đức Việt Nam mỗi ngày một thêm bền vững. Các ngài sẽ là những bậc thầy đáng kính dạy dỗ cho các thế hệ Việt Nam mai sau được lớn lên trong tình đồng bào ruột thịt, biết yêu thương nhau và che chở cho nhau.

Khoảng cách không phải một sớm một chiều mà xóa hết nhưng vẫn còn đó trong mỗi chúng ta chung một niềm hy vọng. Xin cầu nguyện.

Trần Trung Đạo

http://www.trantrungdao.com/?p=3161