Tại sao phải giết Tổng thống Ngô Đình Diệm?

Tại sao phải giết Tổng thống Ngô Đình Diệm?

Ngo_Dinh_Diem_-_Thumbnail_-_ARC_542189-622.jpg

Tổng thống Ngô Đình Diệm tại Washington DC tháng 8 năm 1957.

Courtesy U.S. Air Force
Cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963 đã đưa đất nước Việt Nam vào một khúc quanh lịch sử. Cái chết của hai anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm và bào đệ của ông là Ngô Đình Nhu, những tướng lãnh tham gia cuộc đảo chánh không ai biết người ra lệnh thủ tiêu hai ông là ai nhưng sau khi tro bụi của cuộc cách mạng lắng xuống những gương mặt đứng phía sau giật dây cho cuộc tàn sát ấy bắt đầu được điểm danh và lịch sử luôn công bằng cho từng người một.

Mặc Lâm phỏng vấn ông Bùi Kiến Thành, một nhân chứng lịch sử, một người bạn, người cố vấn cho Tổng thống Ngô Đình Diệm từ những ngày đầu tiên khi từ Mỹ trở về Việt Nam chấp chính cho tới khi biến cố xảy ra.

Cái tốt và chưa tốt của chế độ Đệ nhất Cộng hòa

Mặc Lâm: Thưa ông Bùi Kiến Thành, xin cảm ơn ông cho phép chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn này. Ngày 1 tháng 11 hàng năm có lẽ ai theo dõi tình hình Việt Nam trong lịch sử đương đại đều nhớ là ngày mà cuộc đảo chính không những lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm mà còn giết cả hai anh em ông ấy tại Sài gòn vào năm 1963. Ông có nhận đình gì về ngày lịch sử này thưa ông?

Bùi Kiến Thành: Có lẽ cũng là một ngày chúng ta nên ôn lại cái được và cái chưa được cái tốt và cái chưa tốt của chế độ Đệ nhất Cộng hòa để chúng ta rút bài học.

Mặc Lâm: Vâng, trước khi đi sâu hơn vào chi tiết xin ông vui lòng cho biết về mối quan hệ của ông với Tổng thống Ngô Đình Diệm.

Bùi Kiến Thành: Trong khi tôi học ở Columbia vào những năm 1952 cho tới năm 1954 lúc đó thì chí sĩ Ngô Đình Diệm đang ở New Jersey. Cứ mỗi cuối tuần thì ông qua New York thăm chơi với tôi cùng một anh bạn nữa là anh Bùi Công Văn, ảnh là phóng viên của Đài Tiếng nói Hoa Kỳ. Cứ tối thứ Bảy thì ông qua ngồi nói chuyện suốt đêm cho tới sáng Chủ Nhật thì ông đi lễ, đi lễ về rồi lại nói chuyện suốt ngày, tới chiều Chúa Nhật thì ông trở lại tu viện Maryknoll.

Chúng tôi sống với nhau trong cảnh bạn cố tri trao đổi như thế trong suốt gần hai năm tại New York trước khi ông Diệm về bên Pháp và sau đó về làm Thủ tướng chánh phủ.

Sau khi ông Diệm về làm Thủ tướng chính phủ chấp chánh vào ngày mùng 7 tháng 7 thì ông Diệm gửi điện qua New York và Washington yêu cầu tôi trở về để giúp đỡ. Ngày 23 tháng 8 năm 1954 sáu anh em chúng tôi là cựu sinh viên của các đại học Mỹ về giúp cho ông Diệm trong thời kỳ rất là khó khăn. Làm Thủ tướng mà không có cảnh sát không có quân đội chỉ vỏn vẹn có 27 sĩ quan đi theo mà thôi.

Người Mỹ không chấp nhận cái lý luận của ông Ngô Đình Diệm nên họ tìm cách lật đổ ông Diệm đi, đó là vấn đề cốt lõi chứ không phải do bà Nhu thế này thế khác. Bà Nhu gây ra nhiều tai tiếng, nhưng không có vai trò chánh hay lý do chánh làm sụp đổ chính phủ Ngô Đình Diệm.
-Bùi Kiến Thành

Cả một đất nước do Pháp đang cai trị vì vậy khi nắm lại quyền tự do, quyền tự chủ, quyền độc lập trong thời kỳ đó rất là khó khăn vì vậy chúng ta phải đánh giá cao việc ông Diệm bình định được tình hình, đưa quân Pháp ra khỏi nước Việt Nam một cách ổn định và xây dựng nền đệ nhất cộng hòa. Điều này khi nghiên cứu lịch sử và đánh giá cao tinh thần của cả một thời kỳ không riêng gì ông Diệm mà những người đi theo hỗ trợ giúp đỡ cho ông Diệm, những nhân sĩ ở miền Nam, nhân sĩ ở miền Trung, miền Bắc… tất cả đều có công lớn đã xây dựng chế độ đệ nhất cộng hòa, nhưng rất tiếc rằng sau đó chúng ta không làm được những chuyện ta cần phải làm để đến nỗi bị đổ vỡ.

Mặc Lâm: Thưa ông trong khi gần gũi với Thủ tướng Ngô Đình Diệm ông và các người được Thủ tướng mời về cụ thể làm những việc gì để giúp cho chính phủ còn non nớt lúc ấy?

Bùi Kiến Thành: Tôi bên cạnh ông Diệm suốt ngày mà! Khi tôi về tại Dinh Gia Long ngày 23 tháng 8 đó ăn cơm trưa với ông Diệm và một số Bộ trưởng, Tổng trưởng, có những nhân hào nổi tiếng của Việt Nam như ông Phạm Duy Khiêm, Bác sĩ Bùi Kiến Tín, Nguyễn Văn Châu… chúng tôi hết sức khẩn thiết làm bất cứ việc gì để ổn định tình thế, tôi ở suốt ngày suốt đêm trong dinh một thời gian rồi sau đó tôi mới dời ra ngoài. Sau khi bố trí lại thì ngày nào đêm nào tôi cũng vào trong dinh để mà làm việc với Thủ Tướng rồi Tổng thống Ngô Đình Diệm.

Một là bên Dinh Gia Long, sau nữa khi dời sang Dinh Độc Lập tôi cũng sát cùng ông Diệm như một cộng sự đặc biệt vì cái chỗ thân tình từ khi còn nhỏ kia, khi tôi mới 15-16 tuổi, hồi đó gia đình tôi thân với ông Diệm lắm. Chính ông cụ tôi đã cất giấu ông Diệm trong khi bị Nhật tìm bắt ông. Sau này khi không còn tham chính nữa ông cụ tôi tiếp tục làm y sĩ riêng cho Tổng Thông đến ngay ông ấy bị sát hai. Cái thân tình ấy dẫn tới chỗ hết sức gần với nhau. Tất cả những chuyện thâm cung bí sử, khó khăn trong thời kỳ tháng 8 tháng 9 tới tháng 12 năm 1954 thì thật sự hội lại chỉ có 4 người trong Dinh Gia Long thôi: Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, Bác sĩ Bùi Kiến Tín và Bùi Kiến Thành. Chúng tôi bàn với nhau cái gì cần phải làm. Làm sao nắm được quân đội, làm sao đối kháng với Bình Xuyên, làm sao giải tỏa được thành phố Sài Gòn xây dựng lên một chính quyền được nhân dân ủng hộ.

Riêng về tôi đặc biệt là có trách nhiệm giúp cho Tổng thống, khi ấy là Thủ tướng, quan hệ với các phái bộ đặc biệt của Mỹ từ bên Mỹ gửi qua chứ không phải quan hệ với sứ quán Mỹ ở Sài Gòn. Sứ quán Mỹ tại Sài Gòn thân với Pháp, ông đại sứ Mỹ Donald Heath rất thân với Pháp, sau đó thì Lawton Collins cũng thân với ông Cao Ủy Pháp Paul Ely. Công việc của tôi và của ông Ngô Đình Nhu là bắc cây cầu trực tiếp với chính phủ Mỹ ở Washington, qua những phái bộ đặc biệt của Hoa Kỳ gửi qua trong đó có Trung tướng O’Daniel, Đại tá Lansdale sau này là General Lansdal, Paul Hardwood (Trưởng phái bộ CIA), việc của tôi làm lúc ấy cũng chỉ trong 4 người mà thôi bao nhiêu là công việc hết sức khó khăn.

Xây dựng được tờ báo Tự Do là việc tôi hết sức thú vị. Tôi nói với Thủ tướng mình cần có cơ quan ngôn luận tự do. Tờ báo đó được Bác sĩ Bùi Kiến Tín, lúc đó là Bộ Trưởng Bộ Thông tin, ký giấy phép. Tôi tập hợp những nhân sĩ ở Bắc Hà vào làm trong đó có Tam Lang, có Đinh Hùng, Mặc Đỗ, Mặc Thu, Như Phong, Vũ Khắc Khoan …làm ban biên tập để cho tờ báo Tự do có tiếng nói tự do trong thời kỳ hết sức khó khăn như thế. Chỉ có tờ báo Tự do lúc ấy là thực sự nổi tiếng, có tiếng nói tự do trong một khung cảnh rất khó khăn và để chống lại những tờ báo thiên Pháp hay thân các chế dộ trước kia của Sàigon và những đài phát thanh khi đó tại Sài Gòn theo phe quân đội chửi bới Ngô Đình Diệm suốt ngày. Tôi có nhiệm vụ lập nên đài phát thanh “Tiếng nói Quốc dân đoàn kết”, một đài phát thanh đặc biệt để nói lên những sự việc như thế nào trong khi chúng ta phải xây dựng một chính quyền độc lập đó là việc Thủ tướng Ngô Đình Diệm giao cho tôi làm.

Ngo_Dinh_Diem_at_Washington_-_ARC_542189-400.jpg
TT Ngô Đình Diệm bắt tay với Tổng thống Mỹ Dwight D. Eisenhower, tại sân bay Dulles, Washington DC năm 1957. Courtesy U.S. Air Force.

Mặc Lâm: Xin ông nói rõ hơn tại sao đã là thủ tướng mà còn bị đài phát thanh bên quân đội chống phá bằng cách chửi bới công khai như ông vừa nói, phải chăng còn một thế lực nào công khai chống lại Thủ tướng vào lúc sơ khai ấy hay không?

Bùi Kiến Thành: Thủ tướng Ngô Đình Diệm lúc ấy làm gì có quân? Thủ tướng mà không nắm cảnh sát, công an. Công an trong tay của Bình Xuyên là một đám giang hồ, cướp của. Pháp cho họ quản lý sòng bạc Đại thế giới, Kim Chung… Cảnh sát thì không nắm được còn quân đội thì trong tay của Trung tướng Nguyễn Văn Hinh. Trung tướng Hinh là một người thân Pháp con của ông Nguyễn Văn Tâm, không phải là người ủng hộ cho chính phủ Ngô Đình Diệm vì vậy khi làm Thủ tướng ông Ngô Đình Diệm ngồi trong dinh nhưng cái đài phát thanh là của người khác.

Đài Quốc gia cũng như đài quân đội thì người Pháp, hay thân Pháp, quản lý cứ mỗi ngày chửi bới Ngô Đình Diệm thế này, chửi bới Ngô Đình Diệm thế kia…ngồi trong dinh mà không giải quyết được vấn đề đó vì vậy phải kiên trì xây dựng lực lượng mình lên để giải quyết điều đó.

Xây dựng lực lượng bằng cách thu dụng những nhân sĩ tài ba của đất nước vào ủng hộ mình đồng thời cũng phải có tiếng nói qua cái đài phát thanh “Tiếng nói Quốc dân đoàn kết”, tiếng nói qua tờ báo Tự Do lúc đó đóng một vai trò quan trọng phổ biến tâm tư nguyện vọng, chính sách của Ngô Đình Diệm cho dân chúng được biết. Vấn đề đó cực kỳ quan trọng và tôi được giao trọng trách tổ chức hai việc đó trong những ngày đen tối nhất sau khi ông Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền, tức là những ngày trong tháng 8 tháng 9 năm 1954 cho tới đầu năm 1955 khi bình định xong thì trong hai cơ quan đó, “Đài Tiếng nói quốc dân đoàn kết” không tiếp tục nữa nhưng tờ báo Tự Do vẫn tiếp tục rất tốt. Tờ Tự Do là nguồn dư luận rất tốt trong thời kỳ đó, trong chánh thể đệ nhất cộng hòa.

Không có tổ chức chính trị nồng cốt

Mặc Lâm: Báo chí quốc tế cũng như giới tướng lãnh đa số cho rằng chính phủ Ngô Đình Diệm sụp đổ bởi những tuyên bố gây sự giận dữ trong và ngoài nước của bà Ngô Đình Nhu cùng với những hành động đàn áp Phật giáo của chính phủ Ngô Đình Diệm. Ông có chia sẻ gì về việc này?

Bùi Kiến Thành: Đấy chỉ là một phần thôi thực sự ra chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ còn nhiều vấn đề cốt lõi hơn nữa. Ông Ngô Đình Diệm là một người hết sức yêu nước và có công tâm nhưng ông Diệm không có kinh nghiệm tổ chức. Còn ông Nhu thì rất uyên thâm về vấn đề học thuật, ông học rất giỏi về tổ chức thư viện, ông nghiên cứu rất tốt nhưng không có tài năng tổ chức lực lượng chính trị. Nếu quản lý một nhà nước mà không có tổ chức thì làm sao? Vì vậy cho nên cái Đảng Cần lao của ông Nhu không có tổ chức tốt còn cái “Phong trào cách mạng quốc gia” mà ông Bác sĩ Tín làm chủ tịch sáng lập thì nó cũng chỉ là phong trào thôi. Sau một phong trào rồi thì nó lặng im. Quyền chính trị trong nước là ở trong đảng, mà Đảng Cần Lao không được tổ chức tốt vì vậy cho nên chế độ Ngô Đình Diệm không tồn tại được vì không có tổ chức chính trị nồng cốt để làm việc.

Đấy chỉ là một phần thôi thực sự ra chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ còn nhiều vấn đề cốt lõi hơn nữa. Ông Ngô Đình Diệm là một người hết sức yêu nước và có công tâm nhưng ông Diệm không có kinh nghiệm tổ chức.
-Bùi Kiến Thành

Sau nữa còn có cái lỗi ở chỗ lầm lẫn hai việc khác nhau: quản lý các vấn đề nhà nước là việc quản lý hành chính, còn tổ chức nồng cốt do một chính đảng đứng lên để đóng vai trò cột trụ cho một đất nước thì là một việc khác. Do lầm lẫn ở vai trò lãnh đạo chính trị và lãnh đạo hành chính cho nên chế độ Ngô Đình Diệm tập trung nhiều hơn về vấn đề hành chính mà quên đi vấn đề lãnh đạo chính trị, xây dựng nồng cốt tức là sự ủng hộ của nhân dân, làm sao để vấn đề đảng được nhân dân ủng hộ…

Chính phủ Ngô Đình Diệm không làm được, không xây dựng được một đảng chính trị thật sự của dân, do dân và vì dân vì vậy cho nên không đứng vững được và vì thế có thể nói sự sụp đổ của chế độ Ngô Đình Diệm không phải là vấn đề nhỏ bé như chuyện bà Nhu nói cái này cái kia. Có! nó có ảnh hưởng nhưng chuyện đó là chuyện nhỏ đối với khả năng xây dựng nên một chính đảng mạnh thì chính phủ Ngô Đình Diệm không làm được.

Mặc Lâm: Vậy phải chăng do điều mà người ta nhận xét về ông Ngô Đình Diệm là người theo chủ nghĩa dân tộc đã khiến ông bị người Mỹ lo sợ vì không theo sự dẫn dắt của họ, đặc biệt là khi Mỹ muốn đổ quân vào Việt Nam thưa ông?

Bùi Kiến Thành: Khi Mỹ muốn vào Việt Nam năm 1962 ông Diệm nói với người Mỹ rằng các ông nên nhớ trên đất nước tôi trong 4 nghìn năm lịch sử không có một chế độ nào đi theo quân đội nước ngoài mà có thể được nhân dân ủng hộ. Vì vậy ngày nào quân đội Mỹ đặt chân lên đất nước này chúng tôi sẽ mất chính nghĩa, mà khi mất chính nghĩa thì các ông không thể nào thắng được và chúng tôi cũng phải thua theo. Vì vậy ngày nào quân Mỹ đổ bộ lên đất nước này thì kể như ngày đó chính nghĩa Việt Nam đã mất rồi, chúng tôi không thể chấp nhận được.

Người Mỹ không chấp nhận cái lý luận của ông Ngô Đình Diệm nên họ tìm cách lật đổ ông Diệm đi, đó là vấn đề cốt lõi chứ không phải do bà Nhu thế này thế khác. Bà Nhu gây ra nhiều tai tiếng, nhưng không có vai trò chánh hay lý do chánh làm sụp đổ chính phủ Ngô Đình Diệm.

Mặc Lâm: Thưa ông, một câu hỏi cho tới ngày nay vẫn nằm trong bí mật, ông thân cận với Tổng thống Ngô Đình Diệm nên có lẽ hiểu được phần nào câu trả lời: ai ra lệnh giết anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm và tại sao phải giết họ khi đã nắm tất cả quân đội trong tay và họ đã bị bắt?

Bùi Kiến Thành: Tôi không có thông tin chính xác để nói về vấn đề này nhưng suy luận từ một lần đảo chính trước do Nguyễn Chánh Thi chủ mưu ông Diệm đã lập lại ván cờ bằng cách chỉnh đốn lại, thì lần này Dương Văn Minh và những người theo Dương Văn Minh nghĩ rằng khả năng ông Nhu ông Diệm có đủ bản lĩnh và đủ sự ủng hộ của những quân đoàn còn theo ông ta để lập lại thế cờ thì rất khó khăn cho phe đảo chính. Vì vậy người ta không chấp nhận để cho ông Diệm ông Nhu tồn tại để mà có cái rủi ro đấy. Tôi không có thông tin ai là người ra lệnh giết hai anh em ông Diệm nhưng tôi chắc chắn rằng những người theo phe đảo chánh và nhất là phía Mỹ, thấy nguy cơ Ngô Đình Diệm có thể lập lại thế cờ rất là nguy hiểm vì vậy không để cho Ngô Đình Diệm sống. Đấy là quyết định chính trị chiến lược trong tranh đấu chứ không phải ai làm, hay ai ra lệnh không quan trọng, vấn đề phải tiêu diệt anh em ông Ngô Đình Diệm là để tránh nguy cơ bị lật trở lại.

Mặc Lâm: Trong ngày đảo chánh 1 tháng 11 năm 1963 ông đang làm gì và có theo dõi hay tham gia trong một vai trò nào đó hay không?

Bùi Kiến Thành: Hôm đó tôi đang đi làm việc ở ngoài thì nghe phong phanh ngày hôm đó có bạo động. Tôi gọi về trong dinh thì gặp ông già Ẩn, tức là cận vệ của Tổng thống tôi hỏi anh Ẩn hiện giờ có vấn đề gì không vậy? tôi nghe ngoài này xào xáo lắm, thì ông Ẩn trả lời không có vấn đề gì đâu anh Thành ơi, mình hoàn toàn kiểm soát được mọi chuyện!

Đó là một cái chủ quan đầu tiên tại vì trong buổi sáng hôm ấy ông Nhu đã có sắp xếp một số chiến lược, chiến thuật nhằm giải quyết vấn đề bạo động nhưng vì chủ quan nên không thực hiện được. Tôi nói với ông Ẩn: coi chừng nhé nếu cần gì thì tôi vào trong dinh ngay để giúp cho các anh. Ông Ẩn nói không sao đâu anh Thành, nên tôi về nhà ăn cơm trưa và chờ cho tới hai ba giờ chiều không thấy gì xảy ra. Nhưng khoảng ba bốn giờ chiều tôi gọi lại thì tình hình bế tắc hết tôi không còn làm gì được nữa.

Ngày hôm đó tôi ở Sài Gòn, tôi muốn làm một cái gì đó để giúp đem lại trật tự an ninh nhưng mà cái thời thế có lẽ như là định mệnh của đất nước mình không cho mình làm gì được trong lúc ấy. Có làm gì được nữa trong lúc ấy khi thế lực của kẻ chủ mưu là người Mỹ đứng sau lưng những ông tướng của mình? thế lực ấy nó quá mạnh chúng ta không làm gì được.

Việc đảo chánh ông Ngô Đình Diệm không phải là chuyện của Dương Văn Minh, Dương Văn Minh chỉ là một con cờ thôi, cũng như Trần Văn Đỗ cũng như mấy ông kia củng chỉ là con cờ còn người chỉ huy, đưa ra tất cả những chiến thuật chiến lược để làm việc này. là người Mỹ mà người đại diện cho Mỹ làm việc này là đại tá Conein, ngồi thường trực tại Bộ Tổng tham mưu để điều khiển mấy ông tướng kia thành ra tất cả bộ tham mưu lúc đó nghe theo lời của một anh đại tá mật vụ của Mỹ, anh thấy có đau khổ chưa?

Mặc Lâm: Theo ông thì tại sao các tướng lĩnh lúc ấy lại nghe theo người Mỹ? Vì những hứa hẹn quyền lực hay âm mưu chính trị nào khiến họ trở thành như vậy?

Bùi Kiến Thành: Do những ông tướng không nghiên cứu tình hình đất nước, do không hiểu lý tưởng, không hiểu được chính nghĩa như thế nào mà đi theo lời của nước ngoài để mà sát hại một tổng thống, tưởng mình làm được cái gì nhưng cuối cùng cũng đầu hàng cộng sản mà thôi chứ làm được gì đâu.

Cái tội của những anh đảo chính Ngô Đình Diệm là tội ngu dốt không biết tình hình kinh tế, tình hình chính trị, tình hình chiến lược trên thế giới nó như thế nào, họ làm cái việc tự mình sát hại mình, đi đến chỗ 10 năm sau phải chắp tay đầu hàng cộng sản.

Đấy là cái tội của các anh làm cho bao nhiêu chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa phải chết, đó là tội của các anh vì các anh không hiểu gì về chính trị, hữu dũng vô mưu, đưa đất nước đến chỗ suy tàn.

Nếu chúng ta có cơ hội thì còn thương lượng được giữa miền Bắc với miền Nam, cũng như Tây Đức và Đông Đức có thể thương lượng với nhau. Chúng ta phải có nội lực có sức mạnh để mà thương lượng chứ không phải giao đất nước cho ngoại bang, giao cho Mỹ rồi đi đến chỗ chết.

Đó là tội của những người tự cho mình giỏi hơn người khác. Không thể nào một dân tộc một đất nước nào giữ được chính nghĩa của mình bằng cách bước theo những đội quân nước ngoài bắn phá làng xóm cả. Không thấy cái đó là mất chính nghĩa. Đầu óc các anh ở đâu mà anh vác súng đi theo người Mỹ vào trong làng xóm bắn giết dân chúng mình, như vậy là không thể được. Vì không thấy nên anh làm hại cả một thế hệ, làm hại cả một đất nước.

Mặc Lâm: Nhiều tài liệu lịch sử nói là chính phủ Ngô Đình Diệm từng có ý định nói chuyện với miền Bắc, ông có ý kiến gì về những chi tiết này?

Bùi Kiến Thành: Khi chính phủ Ngô Đình Diệm thấy cái nguy cơ lính Mỹ đổ bộ lên Việt Nam rồi mà không rút ra được thì chiến tranh sẽ tràn lan, mà chiến tranh khi đã tràn lan rồi thì dù cho quân đội Mỹ có đánh thẳng tới Hà Nội đi nữa thì chúng ta vẫn thua như thường tại vì quân đội Trung Quốc nó sẽ vào vì nó không để cho mình tiến qua biên giới của nó. Vì vậy Miền Bắc sẽ chiến đấu đến cùng để không cho quân của Trung Quốc qua chiếm đóng Việt Nam.

Vì vậy nhìn về chiến lược thì hai ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu thấy rõ ràng cái nguy cơ tác hại cho cả miền Nam và miền Bắc. Hà Nội cũng có những đầu óc thông minh để mà hiểu rõ sự nguy hiểm khi chiến tranh lan rộng như thế. Đó là đồng thuận về tinh thần là làm sao phải làm dịu chiến tranh xuống để tránh việc tàn phá đất nước. Giữa Nam Bắc Việt Nam phải có sự hiểu biết và tìm giải pháp tránh chiến tranh. Muốn làm việc đó thì Việt Nam phải mạnh, không mạnh thì không nói chuyện được.

Qua sự trung gian của đại sứ Ấn Độ trong Ủy ban Đình chiến, và Đại sứ Pháp…qua các cuộc đi săn bắn của ông Nhu trên vùng biên giới hai bên đã có những cuộc chia sẽ, chưa hẳn là thương thảo nhưng đã liên lạc được với nhau rồi. Khi Mỹ nghe như thế thì họ nói chính phủ Ngô Đình Diệm phản thùng và nó đưa việc này ra cho mấy ông tướng lãnh Việt Nam bảo là ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu bán nước cho cộng sản, vì vậy anh phải lật đổ Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Diệm đi để “cứu nước” không thì họ theo cộng sản,  “bán đứng” các anh cho cộng sản….

Những đầu óc suy yếu của những anh tướng hữu dũng vô mưu không biết gì cả, nghe như thế lại tưởng rằng mình là người ái quốc ái quần, lật đổ Ngô Đình Diệm để cứu đất nước khỏi họa cộng sản.

Tôi đề nghị anh đọc cuốn sách “Robert Kennedy and His Time” của Arthur Schlesinger Jr. viết, trong đó có một chương nói về tình hình Việt Nam. (*)

Trong chương đó có viết Bùi Kiến Thành nói cái gì, Ngô Đình Diệm nói cái gì và Tổng thống Kennedy đã quyết định cái gì. Rất tiếc rằng Tổng thống Mỹ không thực hiện được. Tháng 9 năm 1963 Tổng thống Kennedy đã quyết định rút quân ra khỏi Việt Nam rồi nhưng do cuộc bầu cử năm 1964 nên không thể làm được cho nên chờ tới năm 64 sau khi bầu xong thì sẽ làm, nhưng rất tiếc vận hạn của nước ta và nước Mỹ là Kennedy bị bắn chết, Ngô Đình Diệm bị lật đổ Việt Nam đi vào cuộc chiến tranh tàn khốc do sự thiếu hiểu biết của một số người nông cạn của phía Mỹ cũng như Việt Nam.

Mặc Lâm: Xin cám ơn ông

Trung Quốc chỉ trích Philippines và tòa trọng tài Liên Hiệp Quốc

Trung Quốc chỉ trích Philippines và tòa trọng tài Liên Hiệp Quốc

VOA

30-10-2015

Đảo Pag-asa, thuộc quần đảo Trường Sa, nơi đang có tranh chấp chủ quyền giữa Philippines và Trung Quốc ở Biển Đông. Ảnh: AP

Trung Quốc tuyên bố quan hệ với Philippines xuống ‘thấp nhất trong lịch sử’ sau khi tòa trọng tài Liên Hiệp Quốc chấp nhận vụ Manila kiện bản đồ lưỡi bò của Bắc Kinh và tàu Mỹ tuần tra các đảo nhân tạo của Trung Quốc.

Bắc Kinh ngày 30/10 bác bỏ hai thách thức lớn đang đối mặt trong tranh chấp Biển Đông: hành động thực tiễn từ Hoa Kỳ đưa tàu chiến vào vùng biển Trung Quốc nhận chủ quyền và biện pháp pháp lý của Philippines khi tòa trọng tài Liên Hiệp Quốc tuyên bố có quyền phân xử vụ Manila kiện bản đồ 9 đoạn ở Biển Đông.

Sau khi chỉ trích các cuộc tuần tra của Mỹ là ‘táo tợn’ và ‘khiêu khích’, Bộ Ngoại giao Trung Quốc hôm nay lên án quyết định của tòa trọng tài Liên Hiệp Quốc là ‘vô giá trị, phi hiệu lực, không có tác động bắt buộc đối với Trung Quốc’.

Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố “Trong các vấn đề chủ quyền lãnh thổ, quyền và lợi ích hàng hải, Trung Quốc sẽ không công nhận bất kỳ giải pháp nào áp đặt lên Trung Quốc hoặc bất kỳ kế sách đơn phương nào mưu tìm một sự dàn xếp từ một bên thứ ba”.

Cơ quan thông tấn của nhà nước Trung Quốc nói hành động của Philippines làm phương hại tới lòng tin giữa Bắc Kinh với Manila và cảnh cáo Philippines chớ sa lầy ra khỏi con đường thương lượng song phương.

Bộ Ngoại giao Trung Quốc hôm nay lên tiếng thúc giục Manila quay lại đàm phán song phương với Bắc Kinh để giải quyết tranh chấp Biển Đông.

Đáp lại, Philippines hoan nghênh quyết định của tòa trọng tài và cho biết đã sẵn sàng đệ trình các hồ sơ luận cứ của mình.

Một giới chức quốc phòng cấp cao của Mỹ nhận xét phán quyết của tòa cho thấy phân xử các vấn đề tranh chấp dựa trên luật lệ và thực hành của quốc tế là khả dĩ để xử lý mâu thuẫn nếu không giải quyết được chúng.

Việt Nam, nước cũng có các tuyên bố chủ quyền chồng chéo với Philippines và Trung Quốc ở Biển Đông, chưa lên tiếng bình luận về vụ việc.

Một số nhà phân tích cho rằng chiến lược của hai đồng minh Mỹ và Philippines áp lực Trung Quốc phải xác minh các tuyên bố chủ quyền mơ hồ của họ ở Biển Đông dựa trên luật quốc tế.

Học giả Richard Javad Heydaria chuyên nghiên cứu về an ninh khu vực tại đại học De La Salle ở Manila nhận định Washington và Manila đang phối hợp hiệu quả trên bàn cờ Biển Đông.

Tuy nhiên, ít khả năng những diễn tiến này sẽ khiến Trung Quốc phải bẻ lái cho dù tòa có tuyên bố Philippines thắng kiện đi chăng nữa.

Phân tích gia về an ninh William Chooong thuộc Viện Quốc tế Nghiên cứu Chiến lược cho rằng “Không có gì đảm bảo là Trung Quốc sẽ tuân thủ bất kỳ phán quyết nào của tòa bất lợi cho họ”.

Tòa án ở La Haye tối ngày 29/10 tuyên bố có quyền tài phán trong vụ kiện của Manila chiếu theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển và bác lập luận của Trung Quốc rằng tranh chấp Biển Đông nằm ngoài thẩm quyền phân xử của tòa.

Theo Reuters, Manila Bulletin, Wall Street Journal.

Trung Quốc bị tứ bề thọ ‘địch’

Trung Quốc bị tứ bề thọ ‘địch’

BẮC KINH (NV) – Một thứ trưởng Ngoại Giao Trung Quốc vừa tuyên bố, Bắc Kinh sẽ không tham dự tiến trình phân xử và không chấp nhận bất kỳ phán quyết nào của Tòa Trọng Tài Về Luật Biển của Liên Hiệp Quốc.

Tổng Thống Benigno Akino của Philippines chỉ vào đường ranh giới trên bản đồ yêu
sách chủ quyền của Trung Quốc tại Biển Đông. (Hình: Ted Aljibe/AFP/Getty Images)

Hôm 29 Tháng Mười, tòa này chính thức tuyên bố họ có đầy đủ thẩm quyền để phân xử vụ Philippines kiện yêu sách của Trung Quốc về chủ quyền tại Biển Đông.

Tuyên bố vừa kể đẩy Trung Quốc lún sâu vào thế bất lợi trong quan hệ quốc tế.

Vì muốn độc chiếm Biển Đông, Trung Quốc hung hăng đối đầu với nhiều bên, đẩy Hoa Kỳ đến chỗ phải nhập cuộc để kiềm chế và nay, Trung Quốc phải đối diện với cơ quan tài phán quốc tế.

Năm 2013, sau khi nhận đơn kiện của Philippines, tòa đã vài lần yêu cầu cả Philippines lẫn Trung Quốc bổ túc bằng chứng, lý lẽ.

Dẫu khăng khăng khẳng định có đầy đủ bằng chứng không thể tranh cãi về chủ quyền tại Biển Đông, thậm chí tuyên bố Biển Đông là tài sản do tổ tiên để lại, nhưng Trung Quốc dứt khoát không đáp ứng yêu cầu của tòa.

Thậm chí Trung Quốc còn cho rằng, tòa vô năng, không có thẩm quyền phân xử.

Việc tòa khẳng định cơ quan này có thẩm quyền phân xử vụ kiện, với Philippines là nguyên đơn và Trung Quốc là bị đơn, khiến Bắc Kinh vất vả hơn trong việc chống đỡ để bảo vệ tham vọng độc chiếm Biển Đông.

Ông Lưu Chấn Dân, thứ trưởng Ngoại Giao Trung Quốc, chống chế, vụ kiện mà Tòa Trọng Tài Về Luật Biển của Liên Hiệp Quốc nhận thụ lý là một vụ phân xử thiếu thiện chí bởi vì không có sự thuận tình từ phía Trung Quốc. Philippines kiện Trung Quốc không phải vì muốn giải quyết các bất đồng mà chỉ nhằm phủ nhận chủ quyền của Trung Quốc.

Bởi vì thiếu các bằng chứng và lý lẽ biện bạch cho yêu sách về chủ quyền tại Biển Đông, Trung Quốc chỉ muốn đàm phán song phương với các quốc gia bị yêu sách này xâm hại chủ quyền. Nhiều chuyên gia về luật biển tin rằng, tòa sẽ bác yêu sách của Trung Quốc về chủ quyền tại Biển Đông.

Đó có thể cũng là lý do chính khiến ông Lưu Chấn Dân phải nói trước rằng, phán quyết của tòa sẽ không làm thay đổi quan điểm của Trung Quốc, cũng như không ảnh hưởng đến chủ quyền và quyền tài phán của Trung Quốc tại Biển Đông.

Ngay sau khi tòa tuyên bố, cơ quan này có đầy đủ thẩm quyền để phân xử vụ Philippines kiện yêu sách của Trung Quốc về chủ quyền tại Biển Đông, Bộ Ngoại Giao Trung Quốc đã đề nghị Philippines quay lại “con đường đúng đắn” là đàm phán trực tiếp với Trung Quốc để giải quyết bất đồng về chủ quyền.

Nếu tòa có phán quyết chính thức và phán quyết này phủ nhận yêu sách của Trung Quốc, Bắc Kinh sẽ không thể thuyết phục cộng đồng quốc tế rằng, tất cả những hành động của họ Biển Đông đều nằm trong khuôn khổ của luật pháp quốc tế, rằng Trung Quốc luôn có thiện chí duy trì hòa bình và giữ gìn sự ổn định trong khu vực.

Cần nói thêm là mới đây, khi đến thăm Trung Quốc, bà Angela Merkel, thủ tướng Đức, nhận định, tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông là một xung đột nghiêm trọng và nhấn mạnh là bà ngạc nhiên vì tại sao Trung Quốc luôn bảo rằng họ có thiện chí nhưng lại không chọn các tòa án quốc tế làm giải pháp giải quyết bất đồng. (G.Đ.)

Việt Nam phải tự bảo vệ chủ quyền của mình, thay vì phó mặc cho Mỹ!

Việt Nam phải tự bảo vệ chủ quyền của mình, thay vì phó mặc cho Mỹ!

Lê Minh Nguyên

29-10-2015

Nguồn ảnh: Island Tracker

Các cường quốc thường hay lấn luớt nhược tiểu và thường hay thương thảo để chia chác quyền lợi trên đầu nhược tiểu.

Khi soạn luật biển UNCLOS, các cường quốc biển mà trong đó có Hoa Kỳ muốn vùng nước chủ quyền thật nhỏ, vùng biển quốc tế thật to để tàu thuyền của họ dễ tung tăng không bị ràng buộc. Đã vậy mà HK cũng không phê chuẩn, nhưng lại tôn trọng UNCLOS trong thực tế. Ngược lại, Trung Quốc phê chuẩn nhưng không tôn trọng.

Nạn nhân rõ ràng nhất trong trò chơi quyền lực này là Việt Nam và Phi. TQ chiếm Hoàng Sa năm 1974, HK lúc đó đang đứng cạnh nhưng không can thiệp vì đã làm bạn với TQ để chống Liên Xô, nên có quyền lợi chiến lược lớn hơn. Tháng Hai năm 1979 TQ đánh VN thì ngày 29/1/1979 Đặng Tiểu Bình viếng thăm HK, thông báo TT Carter là ông sẽ đánh VN và nhờ HK giúp thông tin tình báo qua vệ tinh quan sát biên giới Nga – Hoa xem Liên Xô có động binh hay không. Năm 1988 TQ mượn cớ giúp Liên Hiệp Quốc lập trạm thăm dò khí tượng ở Trường Sa để bắn giết 64 binh sĩ VN, chiếm Gạc Ma và các đảo mà VN sở hữu, HK và các cường quốc tây phương làm lơ để mặc.

Năm 1995 TQ chiếm Vành Khăn, Phi viện dẫn hiệp ước liên minh quân sự với HK để cầu cứu TT Clinton, nhưng HK nói hiệp ước không bao gồm Vành Khăn. Năm 2012 TQ chiếm Scarborough và HK cũng làm lơ. Hiện giờ TQ đang bao vây Cỏ Mây không cho tiếp tế để Phi bỏ đảo và HK cũng đang làm lơ.

Trong khi đó thì HK, đứng trước đòi hỏi mạnh mẽ của Nhật sau khi Nhật nghi ngờ TT Obama đâm sau lưng mình khi đi bách bộ nói chuyện riêng với ông Tập Cận Bình ở Palm Springs ngày 7/6/2013, nên cuối cùng đã chính thức lên tiếng xác nhận là Senkaku có trong liên minh quân sự Mỹ-Nhật. HK có sự khác biệt đối xử vì Nhật là cường quốc, có sức mạnh nội lực và có vai trò an ninh chiến lược ở vùng Đông Bắc Á.

Tàu Lassen đi vào Trường Sa ngày 27/10/2015 mà theo các viên chức quốc phòng HK, có lộ trình 72 hải lý đi từ phía bắc đến phía tây nam, qua vùng chủ quyền 12 (CQ12) của các đảo mà Phi và Việt Nam có chủ quyền, và vào vùng 12 hải lý của đảo Subi, nhưng không vào vùng 12 của Vành Khăn (Reuters 27/10).

Mục đích chính yếu là để khẳng định quyền tự do hàng hải theo UNCLOS và không dính líu gì cả đến vấn đề chủ quyền, có nghĩa là các đảo ấy, hay cả quần đảo là của ai thì HK cũng chấp nhận thôi!

Vấn đề thực sự là lưu thông hàng hải theo UNCLOS mà HK và TQ thông dịch luật này khác nhau.

Lưu thông vô hại (innocent passage) hay chỉ cần đường đi ngang chứ không có ý đồ gì khác thì được đi vào vùng CQ12. TQ đã sử dụng quyền này tháng 8/2015 vừa qua ở eo biển Alaska, khi đi qua vùng quần đảo Aleutian. Tàu Lassen đi vào Subi thì cũng không khác gì mấy, nhưng để tránh va chạm hai bên đã chuẩn bị cho nhau cả tháng trước đó.

Vùng nước chủ quyền 12 hải lý chung quanh chỉ áp dụng cho đá/đảo nổi khi triều dâng và thiên nhiên chứ không do nhân tạo. Subi và Vành khăn không hội đủ điều kiện này vì nửa nổi nửa chìm nên chỉ có vùng nuớc chủ quyền 500 mét. TQ muốn nó là 12 hải lý nhưng mập mờ. Vì không có UNCLOS để bảo vệ Subi nên TQ nhuờng nhịn HK, nhưng với các nước khác thì không, kể cả Nhật, như TQ đã từng tuyên bố.

Vùng đặc quyền kinh tế EEZ 200 hải lý thì HK cho rằng nước chủ chỉ có chủ quyền trên tài nguyên (cá, khoáng sản) và nước chủ không được ngăn cản trên các lãnh vực khác như dọ thám, tập trận, vẽ bản đồ, nên tàu/máy bay đi vào không cần phải xin phép mà chỉ cần thông báo. Ngược lại, TQ thông dịch là hoạt động của các nước khác phải xin phép và đã rất khó chịu khi HK cho máy bay và tàu vào thám thính gần Hải Nam, nơi TQ đặt căn cứ tàu ngầm.

Theo Diplomat 27/10, kể từ chuyến thăm HK của ông Tập vào cuối tháng 9/2015, các viên chức giấu tên của HK cho biết là đã liên tục và đều đặn thông tin việc tàu HK sẽ vào vùng 12 ở Trường Sa. Sự loan báo của giới truyền thông có vai trò đếm ngược (countdown) đi từ vài tuần đến vài ngày rồi đến 24 giờ. Đó là một sự cố ý, thiết kế để cung cấp cho TQ đầy đủ sự báo trước – và đầy đủ thời gian để TQ hình thành các phản ứng chính thức (hơn là để trong tay các viên chức quân sự ở thực địa phản ứng).

Việc 5 tàu chiến TQ đi vào vùng CQ12 ở Alaska mà HK không phản ứng gì cả, nhất là khi đó TT Obama có mặt ở Alaska, làm cho người ta có cảm giác đây là một vở kịch được cẩn thận dàn dựng, có tính cách sòng phẳng ‘quid pro quo’ bánh ít đi bánh quy lại. Cho nên dù TQ có vẻ không chấp nhận Điều 17 của UNCLOS về ‘quyền đi qua vô hại’, TQ cũng đáp lễ lại HK khi tàu Lassen đi vào vùng 12 của đá Subi, bằng cách chỉ phản ứng chiếu lệ cho có, bỏ qua các tranh cãi là Subi có vùng CQ12 hay không. Theo báo Economist 27/10, các tranh chấp từ trước đến nay giữa HK và TQ không nhằm vào vùng CQ12 mà là vùng EEZ.

Một quan chức quốc phòng Mỹ giấu tên nói rằng “Đây không phải là cuộc tuần tiễu cuối cùng” và có khả năng trở nên thường xuyên hơn trong tương lai (VOA 28/10). Tuy nhiên nó không có giá trị gì nhiều cho các nước khác như Việt Nam vì:

Đây là vấn đề thông thương hàng hải chứ không phải là vấn đề chủ quyền, và là việc diễn dịch UNCLOS như thế nào để các bên đều đồng ý là đảo nào có vùng CQ12, đảo nào có EEZ và những giới hạn nào ở vùng EEZ.

TQ có một chính sách kỳ thị đối xử, dù việc đi phù hợp với UNCLOS nhưng chỉ HK mới được lưu thông bên trong quần đảo Trường Sa, còn các nước khác thì không, kể cả Nhật Bản. Hơn nữa, TQ cố tình mù mờ trong việc áp dụng UNCLOS để có thể giải thích theo ý riêng của kẻ mạnh và dùng UNCLOS làm bình phong. Thực tế là TQ áp dụng luật sức mạnh.

Nếu chỉ HK đi vào vùng và các nước khác không vào để tạo thành những tuyến qua lại thông thường thì HK chỉ cuỡi ngựa xem hoa, chủ vườn vẫn là TQ. TQ đã lập vùng nhận dạng phòng không ở biển Hoa Đông (ADIZ), HK không công nhận, cho B-52 bay qua nhưng chỉ một lần, còn các hãng hàng không dân sự HK được chính quyền HK khuyên là nên tuân thủ các quy định của TQ. Máy bay Lào hôm 25/7/2015 bị TQ đuổi trở lại Nam Hàn. HK đã đánh trống bỏ dùi và thực tế là ADIZ có hiệu lực.

HK không vào vùng 12 từ năm 2012 tức là đã 3 năm, đủ dài để TQ làm mưa làm gió trong vùng. Việc HK hứa hẹn trở lại, dù nói là thường xuyên cũng không ai biết là bao giờ, trong khi TQ có khả năng xây mỗi năm một thành phố lớn cỡ Los Angeles thì việc xây thêm các đảo nhân tạo ở Trường Sa là chuyện nhỏ.

HK chỉ muốn kiểm tra /ngó chừng TQ đừng dùng sức mạnh quá đáng hay vũ lực khi trỗi dậy thành siêu cường, chứ không có ý ngăn chặn TQ trở thành siêu cường, cho nên khi chưa có yếu tố vũ lực thì HK có lý cớ để ngó lơ, mà hệ quả là các nước nhỏ trong vùng bị thiệt hại qua chính sách ‘lát cá’ của TQ.

HK chỉ cho cần câu để những nước nhỏ như VN, Phi, Mã tự bắt cá chứ HK không cho cá. VN và các nước phải tự bảo vệ chủ quyền của nước mình. HK có thể giúp tàu, các khí cụ bảo vệ biển đảo, hay kỹ thuật chế tạo vũ khí, chứ HK không can thiệp quân sự thế cho những nước này.

Để kết luận, có thể nói rằng sự kiện Lassen 27/10 tuy cần thiết nhưng chỉ là bước đầu muộn màng mà Nghị sĩ John McCain nói, lẽ ra phải được thực hiện từ lâu và HK nên tiến hành những hoạt động tuần tiễu thường xuyên trên không, trên biển trong những tuần lễ và những tháng tới (VOA 28/10). Nó giúp kềm chế TQ trong vấn đề lập vùng kiểm soát quá lớn ở Trường Sa, vi phạm UNCLOS. Nó không cuốn lại (rollback) những gì TQ đã làm. Nó cũng không có khả năng làm TQ dừng xây dựng ở những nơi họ đã bồi đắp. Nó cũng không có khả năng ngăn chận TQ chiếm thêm trong số khoảng 209 rạn san hô chưa ai chiếm đóng và xây dựng chúng thành đảo nhân tạo.

Trong vấn đề chủ quyền, Việt Nam vẫn còn bơ vơ và càng ngày càng yếu đi khả năng bảo vệ Trường Sa, bởi do đảng CSVN không có khả năng xây dựng nội lực dân tộc.

Chính phủ mất khả năng kiểm soát chi tiêu

Chính phủ mất khả năng kiểm soát chi tiêu

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2015-10-28

000_Hkg10211130

Mô hình của một dự án phát triển khu dân cư ven biển ở thành phố Hạ Long. Ảnh chụp hôm 20/9/2015.

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

Việt Nam có thể lâm vào khủng hoảng ngân sách vì tình trạng bội chi triền miên; chính phủ không đủ tiền chi tiêu chưa nói tới trả nợ nước ngoài và tìm cách vay thêm.

Chính phủ vay Ngân hàng Nhà nước 30.000 tỉ đồng hồi gần đây để chi tiêu, kế tiếp dự kiến sử dụng 10.000 tỷ đồng từ tiền thoái vốn nhà nước ở các doanh nghiệp để bù đắp thiếu hụt ngân sách. Tuy vậy dư luận càng lo lắng hơn khi Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng vào tuần cuối của tháng 10 đã đại diện Chính phủ trình Quốc hội kế hoạch phát hành 3 tỷ USD trái phiếu quốc tế để đảo nợ, thực tế không đủ tiền trả nợ nên vay nợ mới để trả nợ cũ đáo hạn.

Theo số liệu chính thức của Bộ Tài Chính được các Đại biểu Quốc hội trích dẫn, năm 2015 chính phủ chỉ trả nợ được 150.000 tỷ nhưng lại vay giải quyết bội chi ngân sách tới 226.000 tỷ đồng và vay trái phiếu chính phủ 85.000 tỷ đồng. Số liệu này cho thấy tổng các khoản vay lớn hơn gấp đôi tổng nợ đã trả, hoặc nói cách khác vay rất nhiều để trả một phần nợ, phần còn lại để chi tiêu.

Tiến sĩ Vũ Quang Việt, nguyên Vụ trưởng Vụ tài khoản thống kê Liên Hiệp Quốc, một chuyên gia am hiểu tình hình kinh tế tài chính Việt Nam từ New York nhận định:

“Tôi có cảm tưởng chính phủ càng ngày càng mất khả năng kiểm soát chi tiêu của mình, hoặc nói ngược lại chính phủ rất muốn chi tiêu. Chính phủ Trung ương đồng ý với các địa phương, xây nhà, xây đường xá, ông nào cũng đòi xây cái này xây cái kia. Và nhiều khi họ chưa có ngân sách mà đã bắt đầu xây rồi. Do làm việc thiếu hiệu quả nên hầu như công trình nào chi phí cũng vượt dự toán ban đầu, công trình nào cũng vậy cả. Thành ra với tình trạng này tôi thấy rất là khó, khả năng nợ ngày càng tăng nhanh và hiệu quả thì thấp. Khả năng trả nợ chắc chắn là sẽ khó khăn.”

Tại kỳ họp cuối cùng Quốc hội Khóa 13, diễn ra từ ngày 20/10 vừa qua, nhiều số liệu được công bố làm nóng dư luận báo chí. Tình hình ngân sách 2015 u tối như thế được giải thích là nguồn thu có vấn đề, như giá dầu thô xuất khẩu giảm một nửa, cộng thêm lộ trình cắt giảm thuế quan với hàng hóa ASEAN và một số thị trường khác mà Việt Nam hội nhập.

“ Tôi có cảm tưởng chính phủ càng ngày càng mất khả năng kiểm soát chi tiêu của mình, hoặc nói ngược lại chính phủ rất muốn chi tiêu.
– Tiến sĩ Vũ Quang Việt”

Đối với ngân sách 2016, các báo cáo tại Quốc hội cho thấy còn nguy cấp hơn nữa. Theo đó trả nợ theo kế hoạch năm 2016 là 155.000 tỷ đồng, nhưng trong đó đảo nợ hay vay nợ mới để trả nợ cũ lên tới 95.000 tỷ đồng và bội chi ngân sách tới 254.000 tỷ đồng. Trong bối cảnh như vậy, chính phủ lên kế hoạch rút 100% vốn nhà nước ở 10 đại công ty như Vinamilk, Bảo Minh, FPT…nếu làm tốt nhà nước có thể thu được 4 tỷ USD cho ngân sách. Nhưng điều làm dư luận lo ngại nhất, chính là đề xuất phát hành 3 tỷ USD trái phiếu quốc tế để đảo nợ.

Đối với tình hình khủng hoảng ngân sách, TS kinh tế Phạm Chí Dũng, nhà hoạt động xã hội dân sự nằm ngoài sự kiểm soát của chính phủ, từ TP.HCM nhận định:

“Ngân sách bây giờ eo hẹp quá, yêu cầu thoái vốn từ hai năm rồi, đến giữa 2015 là phải thoái hết vốn, nhưng hiện nay chỉ mới thoái được 20%-25% vốn. Chẳng hạn Điện lực Việt Nam, Dầu khí trước kia đầu tư vào bất động sản, chứng khoán, tài chính ngân hàng khá nhiều nhưng cho tới nay chỉ thoái được từ 20-25% vốn còn lại vẫn bị chôn vốn. Như vậy tình hình ngân sách khó khăn làm cho nhà nước giật gấu vá vai, thoái vốn rồi xem bến cảng, đường xá chỗ nào bán được là bán hết để thu tiền cho ngân sách nhà nước, bù đắp những chỗ bị khuyết bội chi trầm trọng. Nhưng mà việc này hiện nay không còn toàn bộ nằm trong tay quyền hành của Chính phủ muốn quyết gì thì quyết, mà phải thông qua Ủy ban Thường vụ Quốc hội.”

Giải pháp

Dư luận báo chí có nhiều ngày nổi sóng về vấn đề chính phủ đề xuất phát hành 3 tỷ USD trái phiếu quốc tế để cứu ngân sách. Ngoài ra còn phát biểu của Bộ trưởng Bộ kế hoạch Đầu tư Bùi Quang Vinh tiết lộ Ngân sách chính phủ Trung ương 2016 chỉ còn một khoản tiền tươi thóc thật là 45.000 tỷ đồng, không thể điều tiết vào việc gì vì còn chưa trả nợ xây dựng cơ bản ở các địa phương.

SaigonTimes Online là tờ báo đưa tin này đầu tiên, sau đó đã giải thích là, chi ngân sách năm 2016 gần 1,3 triệu tỷ đồng nhưng phần lớn là chi thường xuyên và chỉ còn có 45.000 tỷ là Chính phủ có thể sử dụng cho mục đích đầu tư phát triển, số tiền này quá nhỏ bé khó thể tiến hành bất kỳ chương trình kích cầu nào.

“ Nếu không có các giải pháp kiểm soát một cách chặt chẽ nghiêm túc, không nhìn nhận bản chất vấn đề thì hậu quả khó lường.
– PGSTS Ngô Trí Long”

Về cơ cấu ngân sách của Chính phủ Việt Nam hiện nay, PGSTS Ngô Trí Long chuyên gia kinh tế ở Hà Nội từng nhận xét:

Trong thu ngân sách thì 75% là thu để chi còn lại là để trả nợ, như vậy thực chất không có đầu tư. Muốn đầu tư thì phải đi vay, trong bối cảnh làm không đủ ăn mà đầu tư lại đi vay thì nợ công là một gánh nặng. Nếu không có các giải pháp kiểm soát một cách chặt chẽ nghiêm túc, không nhìn nhận bản chất vấn đề thì hậu quả khó lường.”

Ngày 26/10/2015, hầu hết báo chí chính thức đưa tin về cuộc tiếp xúc báo chí của Thứ trưởng Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn. Theo đó, ông Tuấn khẳng định, kế hoạch phát hành 3 tỷ USD trái phiếu quốc tế nếu được Quốc hội cho phép, sẽ chỉ được thực hiện trên cơ sở bảo đảm an ninh tài chính quốc gia và không làm thay đổi tổng nợ.

Theo lời giải thích của Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn thì đây gọi là tái cơ cấu nợ ngắn hạn trong nước bằng vay quốc tế dài hạn. Tổng nợ không thay đổi, chỉ thay đổi chủ nợ và lãi suất. Tuy báo chí không giải thích rõ hơn, nhưng có thể hiểu là nợ ngắn hạn trong nước tới lúc phải trả lãi hoặc đáo hạn mà không có tiền thanh toán, nên phải vay nợ mới ở nước ngoài bằng phát hành trái phiếu quốc tế dài hạn.

Như thế câu hỏi đặt ra ai là người phải trả nợ trái phiếu quốc tế dài hạn? rõ ràng là các chính phủ tương lai và thế hệ con cháu của nhân dân Việt Nam phải đóng thuế để trả món nợ 3 tỷ USD này.

Trung Quốc bị xếp hạng chót thế giới về tự do Internet

Trung Quốc bị xếp hạng chót thế giới về tự do Internet

VOA

Người sử dụng internet tại một quán cà phê internet ở thành phố Hợp Phì, tỉnh An Huy, Trung Quốc.Người sử dụng internet tại một quán cà phê internet ở thành phố Hợp Phì, tỉnh An Huy, Trung Quốc.

Richard Green

28.10.2015

Một bản phúc trình mới được công bố cho thấy mạng Internet đã trở nên ít tự do hơn cho hàng triệu người trên khắp thế giới trong năm 2015. Thông tín viên Richard Green của đài VOA gửi về bài tường thuật.

Trong bản phúc trình thường niên lần thứ 6 về quyền tự do diễn đạt trên Internet, Freedom House, một tổ chức bất vụ lợi ở Mỹ, cho biết tự do Internet đã bị sút giảm tại 32 trong số 65 quốc gia được khảo sát.

Bà Laura Reed, một nhà nghiên cứu của Freedom House cho bản báo cáo “Tự do Mạng 2015,” cho biết tình trạng này phát sinh phần lớn từ việc các cơ quan tình báo được dành cho nhiều quyền hạn hơn để thực hiện những hoạt động theo dõi điện tử nhắm vào công dân của họ.

Bà Reed cho biết: “Chúng tôi nhận thấy tình trạng này thông qua việc các chính phủ ban hành những luật lệ và chỉ thị mới để nới rộng khả năng pháp lý của họ để thực hiện hoạt động theo dõi, để lưu giữ các dữ liệu của người sử dụng. Chúng tôi cũng nhận thấy sự phổ biến của các loại kỹ thuật theo dõi trên khắp thế giới, cả ở những nước dân chủ hơn lẫn ở những nước mà chính phủ đã lạm dụng những kỹ thuật đó trong quá khứ và đã dùng chúng để đàn áp những nhân vật tranh đấu nhân quyền, những nhà báo phê phán chính quyền và những nhóm khác.”

Bà Reed cho hay các chính phủ cũng tăng cường những nỗ lực để loại hẳn ra khỏi Internet những nội dung mà họ cho là không phù hợp, thay vì chỉ ngăn chặn những nội dung đó. Ngoài ra, các chính phủ cũng đòi hỏi chính những công ty cung cấp dịch vụ Internet phải thực hiện việc này.

Bà Reed nói: “Và giờ đây, vì chúng tôi nhận thấy các chính phủ thật sự nhắm vào nội dung ngay tại nguồn của nó, cho nên đó là một việc hết sức đáng lo. Một mặt vì nội dung đó sẽ bị xoá bỏ vĩnh viễn, không ai có thể truy cập nó ở trong nước hay ở nước ngoài. Mặt khác, có những áp lực đi kèm đối với các công ty truyền thông xã hội, đối với các cá nhân thông qua những vụ truy tố hay những thủ đoạn hăm doạ khác. Do đó tôi nghĩ rằng điều đáng chú ý trong bản báo cáo năm nay là sự thay đổi trong cách thức thực hiện việc kiểm duyệt.”

Việt Nam cũng bị xếp vào danh sách các nước không có tự do Internet.

Việt Nam cũng bị xếp vào danh sách các nước không có tự do Internet.

​66 nước được khảo sát chiếm khoảng 88% số người sử dụng internet trên thế giới. 50 nước trong số đó bỏ tù những người sử dụng vì đã phổ biến trên mạng những ý kiến về các vấn đề chính trị, xã hội – tăng đáng kể so với con số 38 nước của năm ngoái.

Trung Quốc bị xếp hạng chót về tự do Internet. Kế đến là Syria và Iran. Việt Nam cũng bị xếp vào danh sách các nước không có tự do Internet.

Trung Đông là khu vực có tự do mạng ít nhất thế giới, vì Iran tiếp tục đàn áp những nhân vật bất đồng chính kiến trên mạng và Ả rập Xê út tuyên án đánh roi và thậm chí án tử hình cho một số người phê phán trên Internet.

Các tác giả của bản báo cáo ghi nhận rằng hoạt động tranh đấu tiếp tục là lực đẩy chính cho sự nới rộng của tự do Internet và tự do diễn đạt, chẳng hạn như phán quyết có tính chất dấu mốc của Toà án Âu châu trong vụ kiện về “quyền được lãng quên,” một vụ án thoạt đầu là do các nhân vật tranh đấu Internet khởi kiện.

Tập đoàn Cao su VN bị tước chứng chỉ ở Campuchia vì hoạt động bất hợp pháp

Tập đoàn Cao su VN bị tước chứng chỉ ở Campuchia vì hoạt động bất hợp pháp

Xe tải chở gỗ băng biên giới Campuchia vào Việt Nam (Ảnh tư liệu của AFP).

Xe tải chở gỗ băng biên giới Campuchia vào Việt Nam (Ảnh tư liệu của AFP).

Một tập đoàn cao su của nhà nước Việt Nam vừa bị Hội đồng Quản lý Rừng (FSC) – một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận của Mỹ chuyên cung cấp chứng chỉ cho các doanh nghiệp phát triển hoạt động quản lý rừng bền vững – tước chứng chỉ vì những hoạt động buôn lậu gỗ và vi phạm nhân quyền trên các đồn điền cao su ở Campuchia.

Theo thông báo đưa ra hôm thứ Ba, FSC cho biết ban giám đốc của tổ chức đã biểu quyết quyết định tước chứng chỉ của Tập đoàn Cao su Việt Nam (VRG) vào tháng 8, sau 5 tháng điều tra về những khiếu nại từ tổ chức chuyên hoạt động về môi trường có trụ sở tại Anh Global Witness về các hoạt động của tập đoàn này tại Campuchia.

FSC cáo buộc Tập đoàn Cao su Việt Nam đã dính líu tới các ‘hoạt động bất hợp pháp’, bao gồm chuyển đổi khoảng 50.000 ha rừng thành đồn điền cao su mà không có sự tham khảo ý kiến từ công chúng, làm ngơ những khiếu nại đất đai của người dân địa phương, cho phép khai thác gỗ lậu và phá hủy các khu bảo tồn động vật hoang dã.

Trong lúc chuyển đổi rừng thành đồn điền cao su, VRG đã phá hủy hàng chục ngàn cây lấy nhựa, vốn là nguồn sinh kế quan trọng của người dân địa phương, mà không đền bù thỏa đáng cho họ. Tập đoàn này còn cho phép lâm tặc trú ngụ trong khu vực rừng thuộc phạm vi kiểm soát của mình để khai thác và vận chuyển gỗ trái phép.

Thông báo của FSC cho biết Tập đoàn Cao su Việt Nam còn liên quan đến các hoạt động vi phạm nhân quyền nghiêm trọng, với sự thông đồng của chính quyền Campuchia. “Trong quá trình bảo vệ đất, đã có các cáo buộc rằng các lực lượng vũ trang của chính quyền đã đe dọa và sử dụng vũ lực để chống lại những người biểu tình”, thông báo cho biết.

FSC nói họ đã thu thập được những chứng cứ liên quan đến rất nhiều vụ vi phạm nhân quyền của tập đoàn này qua việc sử dụng bàn tay của giới hữu trách địa phương ở Campuchia. Thông báo đưa ra vụ một ngôi làng ở tỉnh Kompong Thom đã bị bao vây trong 2 tháng và không một nguồn lương thực hay thuốc men nào tiếp cận được với ngôi làng.

Thông báo của FSC nói Tập đoàn Cao su Việt Nam sẽ chính thức bị tước chứng chỉ đối với các đồn điền tại Việt Nam trong 3 tháng, và sẽ vĩnh viễn không được cấp chứng chỉ cho các hoạt động của tập đoàn tại Campuchia.

Phát ngôn viên chính phủ Campuchia Phay Siphan khẳng định chính quyền luôn đảm bảo các công ty phải tuân thủ các quy định, và nói rằng chính người dân địa phương là một phần nguyên nhân.

“Trước khi giao đất, chúng tôi luôn đảm bảo không có người sinh sống ở đó”, ông Phay Siphan được Phnom Penh Post trích lời nói, “nhưng người dân đôi khi đến khai hoang và chiếm đất đã được giao cho các công ty”.

Để giải quyết vấn đề này, chính quyền ra lệnh cho các công ty cho họ một số đất, bao gồm cả giấy chủ quyền, cho dù đó là đất bị chiếm dụng hợp pháp hay không.

Nhưng nhà lập pháp đối lập CNRP Son Chhay nói với Phnom Penh Post,
“Gần như mỗi vụ chuyển nhượng đất đều vi phạm đến quyền của người sở hữu lúc đầu và người dân bản địa, và chúng tôi chắc chắn không hưởng lợi gì từ những vụ sang nhượng này. Tôi không hiểu tại sao chính quyền lại nhắm mắt làm ngơ đối với doanh nghiệp này”.

Nhan Mao, một nông dân địa phương, nói với Cambodia Daily rằng tập đoàn cao su đã cướp hơn 1.000 ha đất của khoảng 200 hộ dân địa phương, những người đã canh tác ở đây qua nhiều thế hệ.

“Chúng tôi chẳng bao giờ được giải quyết gì kể từ khi mất đất vào năm 2012, vì nhà cầm quyền luôn bảo vệ công ty”, ông Mao cho tờ Cambodia Daily biết. “Khoảng một tháng trước, nhà cầm quyền đến gặp các dân làng và cảnh cáo họ là họ sẽ bị bắt nếu dám biểu tình chống công ty”.

Việc tước chứng chỉ tuy không làm cho VRG bị phạt gì nhưng tổ chức Global Witness nói nó sẽ ảnh hưởng đến tài chính của tập đoàn này vì FSC là tổ chức cấp chứng chỉ về công nghiệp rừng hàng đầu thế giới. Một khi đạt được chứng chỉ của FSC, công ty có được sự đảm bảo đối với các khách hàng lẫn nhà đầu tư.

Tập đoàn Cao su Việt Nam chưa đưa ra thông báo hay bình luận gì về vụ việc. Hiện VRG có khoảng 100.000 ha đồn điền trên nhiều tỉnh ở Campuchia.

Theo Phnom Penh Post, Cambodia Daily.

Cảnh sát viên ‘dùng bạo lực với học sinh’ bị sa thải

Cảnh sát viên ‘dùng bạo lực với học sinh’ bị sa thải

Nguoi-viet.com

COLUMBIA, South Carolina (AP) –  Sau khi kiểm tra lại băng video ghi hình, hôm Thứ Tư, sở cảnh sát địa phương đã quyết định sa thải viên cảnh sát quăng một nữ sinh ra ngoài cửa lớp học ở trường Spring Valley High School  tại Columbia, South Carolina.

Ba hình trích trong băng video cho thấy cảnh sát viên Ben Fields trấn áp và lôi một nữ sinh từ ghế ngồi trong lớp học ra ngoài. (Hình AP)

Cảnh Sát Trưởng Leon Lott của Richland County nói là cảnh sát viên Ben Fields hành động một cách tàn bạo không đúng thủ tục đã được huấn luyện và gây phẫn nộ trong dư luận công chúng..

Đoạn video cho thấy ông Ben Fields đứng phía trên cô học sinh đang ngồi ở ghế, quàng cánh tay gần cổ em rồi kéo giật về phía sau. Ghế em ngồi đổ xuống và em té nhào xuống đất. Sau đó, ông nhấc bổng cô nữ sinh và khi cô vùng vẫy chống cự, kéo lết cô ra ngoài cửa khiến cô trượt dài nhiều foot trên sàn nhà.

Sự việc bắt đầu khi cô nữ sinh 16 tuổi dùng điện thoại di động trong giờ học toán, không nghe lời giáo viên yêu cầu bỏ máy xuống, và giáo viên đã gọi cảnh sát. Theo ông Lott, một trong những đoạn video cho thấy học sinh này chống cự lại.

Ông nói: “Mới đầu khi cảnh sát viên đặt tay lên người em học sinh, em chồm người, tống về phía người này một nắm đấm.”

Cô nữ học sinh được trả về với cha mẹ và đang trực diện với tội quấy rối trong trường. Cảnh sát nói không có báo cáo về việc có ai bị thương hay không, nhưng luật sư của nữ học sinh này nói em bị gãy xương cánh tay và bị nhiều vết trầy trên mặt.

Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ cho biết FBI và văn phòng biện lý liên bang mở cuộc điều tra dân sự để xem có vi phạm luât dân quyền trong việc bắt  nữ sinh này hay không.

Ông Harry Houck, phân tích viên của CNN, nói rằng khi có một học sinh gây rối trong lớp  giáo viên đừng nên gọi ngay cảnh sát bởi vì đó không phải là nhiệm vụ của họ. Thế nhưng, tiểu bang South Carolina có luật bắt giữ học sinh gây xáo trộn ở trường học. (HC)

« Tòa án nhân dân » Trần Nhật Quang và những bi hài của nền tư pháp xã hội chủ nghĩa

« Tòa án nhân dân » Trần Nhật Quang và những bi hài của nền tư pháp xã hội chủ nghĩa

nguyenthituhuy

RFA

Vụ phe nhóm Trần Nhật Quang tấn công Nguyễn Lân Thắng và gia đình một lần nữa cho thấy chính quyền đương nhiệm muốn quay trở lại sử dụng một số biện pháp của chủ nghĩa toàn trị thời kỳ đầu, thời kỳ đẫm máu và tàn bạo với các vụ thanh trừng và giết người hàng loạt mà Việt Nam cũng không tránh khỏi, được thể hiện qua những vụ thanh trừng Nhân văn Giai phẩm và cải cách ruộng đất.

Vài năm nay dồn dập các vụ thanh trừng được thông báo rộng rãi trên các phương tiện tuyên truyền của nhà nước, mục đích của những vụ khủng bố này là để nhấn chìm toàn xã hội trong không khí sợ hãi, có thể nêu một số vụ việc : vụ Nhã Thuyên (giáo dục/văn học), vụ Kim Quốc Hoa (báo chí), vụ Nguyễn Đăng Trừng (luật), và gần đây nhất là vụ Đỗ Hùng (báo chí).

Và chỉ mới cách đây mấy ngày, xuất hiện nhóm « phản ứng nhanh tự phát » của Trần Nhật Quang. Dĩ nhiên, những người có biết chút ít lịch sử đều thấy ngay sáng kiến này (của ông Quang ?) được lấy cảm hứng từ hình thức toà án nhân dân thời kỳ cải cách ruộng đất.

Mô hình của nhóm này thực chất là mô hình « toà án nhân dân » tự phát đã được sử dụng trong cải cách ruộng đất. Mô hình đó để cho người dân tự đứng ra thành lập các nhóm tự phát với mục đích là tố cáo, kết tội, và xử tội. Tuy lần này không có màn xử tội, không có giết chóc (mặc dù không thiếu đe doạ, hành hung, theo kiểu sân khấu hề kịch, pha lẫn kịch hài dân gian và trí tuệ đỉnh cao xã hội chủ nghĩa), nhưng mục đích của toà án nhân dân tự phát do ông Trần Nhật Quang lập ra là nhằm kết tội Nguyễn Lân Thắng cùng những người bị ông ta xếp vào loại “phản động”. Và bi hài thay, ông ta cho rằng ông ta đang làm cái điều mà “chính quyền không làm được” (tôi trích nguyên văn lời ông ta).

Điều mà chúng ta, khán giả của vở bi hài kịch « toà án nhân dân Trần Nhật Quang », có thể chắc chắn, đó là : « phiên toà » của ông Quang không hề tự phát, nó được dàn dựng công phu và được cho phép. Nếu hoàn toàn tự phát và không được phép của những người có thẩm quyền thì hẳn giờ này nhóm « quần chúng tự phát » của ông Quang đã phải bị công an bắt giữ và xét hỏi, vì hành động ấy không phù hợp với luật pháp Việt Nam hiện tại.

Chúng ta cần hiểu rằng, sở dĩ vụ cải cách ruộng đất có thể diễn ra vì đó là một thời điểm đặc biệt của Việt Nam và của quốc tế. Châu Âu vừa qua khỏi đêm đen của chủ nghĩa toàn trị Đức Quốc xã, nhưng một nửa thế giới đang chìm trong thời thắng thế của toàn trị cộng sản. Còn Việt Nam, quốc gia non trẻ thành lập năm 1945, một năm sau ban hành hiến pháp, nhưng mãi đến năm 1985 mới có bộ luật hình sự đầu tiên, và mười năm sau, 1995, bộ luật dân sự đầu tiên mới được Quốc hội thông qua và đến tháng 7 năm 1996 mới có hiệu lực. Thời kỳ cải cách ruộng đất, bạo lực cách mạng lên ngôi, xã hội không được quản lý bằng luật. Vì thế mới có thể xảy ra việc chỉ cần người đứng đầu quốc gia quyết định giết những người thuộc thành phần địa chủ thì cả nước phải thi hành quyết định đó, và mới có thể xảy ra việc các « toà án nhân dân » được lập ra một cách tự phát, xét xử kết tội và tử hình không cần bằng chứng và không cần các thủ tục pháp lý, chỉ cần có người tố cáo là được.

Bối cảnh quốc tế và Việt Nam ở thập niên thứ hai của thế kỷ XXI này không cho phép diễn ra vụ việc tương tự cải cách ruộng đất.

Vậy mà «toà án nhân dân » của ông Trần Nhật Quang vẫn được lập ra ! Tình huống này quả là vừa bi đát vừa hài hước cho nền tư pháp Việt Nam. Có quá nhiều điều thú vị nếu ai đó định làm thao tác diễn giải vụ này.

Ông Thắng và gia đình hoàn toàn có thể dựa vào Bộ luật Việt Nam hiện hành để kiện ông Quang và nhóm « toà án nhân dân » của ông ta ra toà. Ông Thắng đã có đầy đủ bằng chứng để làm việc đó. Vụ kiện này có thể sẽ góp phần minh định bản chất của luật pháp Việt Nam thời xã hội chủ nghĩa. Nó cũng có thể sẽ đi vào lịch sử của ngành tư pháp quốc tế như một trường hợp đặc biệt có nhiều ý nghĩa, trở thành một « trường hợp nghiên cứu » (cas d’étude) thú vị.

Tôi ghi lại dưới đây phát ngôn của Trần Nhật Quang, làm tư liệu cho những ai muốn nghiên cứu để hiểu vận hành của xã hội Việt Nam đương đại (cá nhân tôi nhìn thấy rất nhiều điều ở vụ việc này, tôi sẽ trở lại vào một dịp khác) :

« Chúng tôi, một nhóm người dân ở Hà Nội, không liên quan đến chính quyền, đã thành lập nhóm phản ứng nhanh của người dân nhằm săn lùng những tên vi phạm một trong ba tiêu chí sau đây : 1/ Xúc phạm tổ quốc và lá cờ thiêng liêng của tổ quốc, nơi công cộng. 2/ Xúc phạm các anh hùng dân tộc và lãnh tụ anh hùng dân tộc Hồ Chí Minh, nơi công cộng. 3/Ca ngợi vinh danh chế độ tay sai bán nước ngụy- Việt Nam Cộng Hòa, nơi công cộng. Phạm vi săn lùng là nơi công cộng, trên đường phố, nhà riêng, hoặc nơi đối tượng đang làm việc hay là đang sinh hoạt. Mục đích là để hỏi tội. Phương pháp : 1/ Bắt xin nỗi (lỗi) vì tội tuyên truyền láo xược, nơi công cộng. 2/ Vạch tội và thông báo với chính quyền, nhân thân và hàng xóm láng giềng nơi sở tại của Nguyễn Lân Thắng nói riêng cũng như bọn phản động nói chung. Với tinh thần : chính quyền làm những việc người dân không làm được. Ngược lại, người dân chúng tôi sẽ làm những việc mà chính quyền không làm được. 3/ Chúng tôi sẽ không vi phạm pháp luật hình sự để gây khó khăn cho chính quyền : không đánh chết, không gây thương tích, không giam giữ đối tượng. Trước mắt chúng tôi mở chiến dịch « một tháng săn lùng hỏi tội Nguyễn Lân Thắng và những tên phản động xúc phạm chủ tịch Hồ Chí Minh. Đề nghị người dân cả nước : 1/ Hãy liên hệ với nhóm phản ứng nhanh của người dân thủ đô Hà Nội chúng tôi. 2/ Phát hiện Nguyễn Lân Thắng và những tên phản động khác ở bất kỳ đâu trên lãnh thổ Việt Nam, hãy gọi điện thoại cho chúng tôi và gọi điện cho nhau để cùng hỏi tội bọn chúng tại chỗ. 3/ Đề nghị mỗi tỉnh thành các bạn cũng nên lập nhóm. »

Quý độc giả có thể đối chiếu với vidéo clip được giới thiệu trong bài của Nguyễn Tường Thụy, tại link này : https://www.rfavietnam.com/node/2866

Paris, 28/10/2015

Nguyễn Thị Từ Huy

Một tử tù được hoãn thi hành án: Bàn thắng của xã hội dân sự VN?

Một tử tù được hoãn thi hành án: Bàn thắng của xã hội dân sự VN?

Bà Nguyễn Thị Việt, mẹ của tử tù Lê Văn Mạnh, cầm biểu ngữ kêu cứu cho con.

Bà Nguyễn Thị Việt, mẹ của tử tù Lê Văn Mạnh, cầm biểu ngữ kêu cứu cho con.

27.10.2015

Quyết định tạm hoãn thi hành án tử hình đối với tử tù Lê Văn Mạnh vừa được Chánh án TAND tỉnh Thanh Hóa xác nhận trên truyền thông khiến nhiều người vui mừng và xem đây là một chiến thắng bước đầu của xã hội dân sự khi sức mạnh truyền thông của mạng xã hội được khai thác. Phóng viên Khánh An của Ban Việt ngữ VOA tường thuật chi tiết.

Vụ án kéo dài 10 năm liên quan đến tử tù Lê Văn Mạnh, 32 tuổi, khiến dư luận trong và ngoài nước chú ý khi những hình ảnh, video kêu oan của người mẹ tử tù này lan truyền trên mạng xã hội mấy ngày qua. Nhóm luật sư của Ủy ban Luật gia Quốc tế (ICJ) và tổ chức Ân xá Quốc tế đã cùng gửi thư đến Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang kêu gọi dừng kế hoạch thi hành án tử hình đối với phạm nhân Lê Văn Mạnh và điều tra về những cáo buộc bị ép cung, nhục hình khiến phải nhận tội của tử tù này.

“Tôi khẳng định 100% con tôi bị oan là vì lúc vụ án xảy ra thì ở con tôi không có ở hiện trường, con tôi hoàn toàn vắng mặt. Con trai tôi đang chuyển nhà cho em gái. Nó đi làm với tôi từ lúc 9 giờ sáng đến 5:30 mới về đến nhà.

Mẹ của phạm nhân Lê Văn Mạnh nói.”

Phạm nhân Lê Văn Mạnh bị kết án tử hình vì tội giết người và hiếp dâm bé Hoàng Thị Loan, 14 tuổi, tại xã Yên Định, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa vào năm 2005. Nhưng trong tất cả các phiên tòa xét xử, ông Lê Văn Mạnh luôn kêu oan và nói rằng ông đã bị đánh đập dã man đến mức không thể chịu đựng được nữa nên buộc phải nhận tội.

Gia đình Lê Văn Mạnh đã liên tục gửi đơn đi các cơ quan thẩm quyền để kêu oan suốt cả chục năm nay. Bà Nguyễn Thị Việt, mẹ ông Lê Văn Mạnh, khẳng định chắc chắn về nỗi oan của con trai.

“Tôi khẳng định 100% con tôi bị oan là vì lúc vụ án xảy ra thì ở con tôi không có ở hiện trường, con tôi hoàn toàn vắng mặt. Con trai tôi đang chuyển nhà cho em gái. Nó đi làm với tôi từ lúc 9 giờ sáng đến 5:30 mới về đến nhà, nó tắm rửa để kịp xem phim Phong Vân vào lúc 6 giờ. Thời gian xảy ra vụ án theo pháp y mổ xẻ khẳng định là nạn nhân bị chết ngạt vào lúc 17:30”.

Từ năm 2005 – 2008, có tổng cộng 7 phiên tòa, gồm 3 phiên sơ thẩm, 3 phiên phúc thẩm và 1 phiên giám đốc thẩm đối với vụ án của Lê Văn Mạnh.

Tháng 7/2008, Tòa án Nhân dân tỉnh Thanh Hóa tuyên án tử hình đối với Lê Văn Mạnh. Tháng 11 cùng năm, Tòa án Nhân dân Hà Nội y án sơ thẩm đối với phạm nhân này.

Vào trung tuần tháng 10/2015, gia đình Lê Văn Mạnh nhận được giấy báo về việc thi hành án và yêu cầu gia đình nộp đơn nhận đưa tử thi về an táng vào ngày 26/10/2015.

Mẹ phạm nhân Lê Văn Mạnh nói bà cảm nhận được sự ‘dã man’ của lực lượng công an sau những ngày vác đơn đi khắp nơi kêu oan cho con.

“Mấy ngày hôm nay tôi nhận được thông báo là con tôi ngày 26 này thi hành án tử hình nên tôi ra ngoài đây [Hà Nội] thì các cơ quan công an đường phố ở đây đều bắt tôi đưa về đồn trại để giam tôi, ngày nào cũng đến 2:30, 3 giờ, có hôm 3 giờ mới thả chúng tôi ra. Trong khi bắt cũng đánh, đè nén tôi, tôi ngã xuống rồi thì bắt đầu khênh tôi lên xe, vứt tôi như thể người ta khênh con chó ném ra ngoài đường vậy, cho nên tôi mới biết các hành động của công an là quá dã man. Vì tôi là người dân thường, một bà mẹ đi kêu oan cho con, tôi đứng giữa đường tôi kêu cho bà con, cộng đồng người ta thấy nỗi oan sai của con trai tôi. Tôi chẳng làm gì vi phạm pháp luật cả, đến mức độ mà công an phải bắt tôi như thế.”

“ Trong khi bắt cũng đánh, đè nén tôi, tôi ngã xuống rồi thì bắt đầu khênh tôi lên xe, vứt tôi như thể người ta khênh con chó ném ra ngoài đường vậy, cho nên tôi mới biết các hành động của công an là quá dã man. Vì tôi là người dân thường, một bà mẹ đi kêu oan cho con, tôi đứng giữa đường tôi kêu cho bà con, cộng đồng người ta thấy nỗi oan sai của con trai tôi…

 Bà Nguyễn Thị Việt, mẹ của tù nhân Lê Văn Mạnh cho biết.”

Hình ảnh người mẹ tuyệt vọng đi kêu oan cho con của bà Việt đã lan truyền trên các trang mạng xã hội Youtube và Facebook, làm dấy lên làn sóng phản đối, kêu gọi ngừng thi hành án đối với ông Lê Văn Mạnh.

Nhiều luật sư Việt Nam đã cùng viết đơn gửi Chủ tịch Trương Tấn Sang và các cơ quan liên quan để đề nghị hoãn thi hành vì ‘chúng tôi nhận thấy trong các bản sơ thẩm cũng như phúc thẩm không có chứng cứ nào khác ngoài lời nhận tội của bị cáo, mà chính bị cáo phủ nhận toàn bộ tại phiên tòa’.

Hôm 26/10, Chánh án TAND tỉnh Thanh Hóa Phạm Quốc Bảo xác nhận với báo Tuổi Trẻ về việc hoãn kế hoạch tử hình ông Lê Văn Mạnh.

Nhiều người xem đây là một tia hy vọng giữa lúc tuyệt vọng, trong lúc một số người khác xem đây là ‘bàn thắng’ đẹp mắt của xã hội dân sự.

Luật sư Nguyễn Văn Đài nhận xét trên trang Facebook cá nhân:

“Với nỗ lực của gia đình tử tù Lê Văn Mạnh, các luật sư, các tổ chức XHDS, lời cầu nguyện của Giáo hội Công giáo, và hàng ngàn người yêu chuộng công lý ở trong và ngoài nước, các tổ chức quốc tế. Mạng sống của anh Lê Văn Mạnh được tạm thời giữ lại để chờ điều tra. Sức mạnh của truyền thông lề dân đã được ghi nhận. Nếu tất cả mọi người dân đều đồng lòng và mạnh mẽ như thế này. Việt nam có tự do, dân chủ, nhân quyền chỉ là chuyện của ngày hôm sau.”

“ Mạng sống của anh Lê Văn Mạnh được tạm thời giữ lại để chờ điều tra. Sức mạnh của truyền thông lề dân đã được ghi nhận. Nếu tất cả mọi người dân đều đồng lòng và mạnh mẽ như thế này. Việt nam có tự do, dân chủ, nhân quyền chỉ là chuyện của ngày hôm sau.”

 Luật sư Nguyễn Văn Đài viết trên Facebook.”

Còn người mẹ nhiều năm đi kêu oan cho con rất cảm kích trước sự giúp đỡ của cộng đồng:

“Cũng do bà con cộng đồng trong và ngoài nước đăng tin lên, cho nên mới có tin này đến các nơi có chức có quyền nên con tôi mới được hoãn thi hành án, chứ không ngày hôm nay con tôi đã bị bắn oan rồi.”

Cả hai tổ chức Ân xá Quốc tế và Ủy ban Luật gia Quốc tế đều nhắc nhở Việt Nam về các công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký với tư cách thành viên, trong đó có Công ước Liên Hiệp Quốc về Chống tra tấn và dùng nhục hình, Công ước quốc tế.

Hơn 9.000 giáo sư sao không có bằng sáng chế?

Hơn 9.000 giáo sư sao không có bằng sáng chế?

– Từ năm 2006 – 2010, Việt Nam chỉ có 5 bằng sáng chế được đăng ký tại Mỹ, trung bình mỗi năm có 1 bằng sáng chế. Trong khi đó, năm 2011, chúng ta không có bằng sáng chế nào được đăng ký.

Không bằng sáng chế là chuyện… bình thường?!

 
Việt Nam không có bất cứ bằng sáng chế nào được đăng ký tại Mỹ trong năm 2011. Ảnh minh họa.

Một chỉ số quan trọng và khách quan để đánh giá thành tựu khoa học của một nước là số bằng sáng chế. Số bằng sáng chế không chỉ phản ánh hiệu quả thực tiễn của các kết quả nghiên cứu lý thuyết, mà còn cho biết tiềm lực về nghiên cứu ứng dụng. Thực tế cho thấy những nước có nhiều bằng sáng chế thì thường xuất khẩu những sản phẩm công nghệ cao và thu được nhiều lợi nhuận.

Bằng sáng chế là hình thức sở hữu trí tuệ. Nó bao gồm một tập hợp các quyền độc quyền được cấp bởi một nhà nước có chủ quyền cho một nhà phát minh, hoặc nhận chuyển nhượng của họ trong một khoảng thời gian giới hạn để đổi lấy việc công bố công khai một kết quả sáng chế. Trong bài viết này, người viết chỉ đề cập bằng sáng chế Mỹ (US patent) bởi uy tín của nó.

Để bảo đảm tính “khách quan”, người viết không thống kê số bằng sáng chế Mỹ của chính nước Mỹ. Bài viết chỉ đề cập số bằng sáng chế Mỹ trong năm 2011, và được trích lục từ Văn phòng thương hiệu và bằng sáng chế Mỹ (USPTO). Dữ liệu về dân số và thu nhập được lấy từ BBC.

Theo thống kê, Nhật Bản là nước đứng đầu với 46139 bằng sáng chế, kế đến là Hàn Quốc với 12262 bằng sáng chế. Điều đáng lưu ý là Trung Quốc được xếp thứ 8 với 3174 bằng sáng chế; trong năm 2010, Trung Quốc cũng được xếp thứ 8 với 2657 bằng sáng chế.

Bảng 1: Nhóm 10 nước dẫn đầu (trừ Mỹ):

Hạng  Nước Dân số (triệu)  Số bằng sáng chế 2011
 1  Nhật Bản 126.9  46139
 2  Hàn Quốc  48.9  12262
 3  Đức 82.1  11920
 4  Đài Loan 23 8781
 5  Canada  34.3  5012
 6 Pháp  62.6  4531
 7 Vương Quốc Anh 62.4 4307
 8 Trung Quốc 1,350  3174
 9 Israel 7.3  1981
 10 Úc 21.5 1919

(Trung Quốc: không tính Hồng Kông và Ma Cao)

Trong khu vực Đông Nam Á, đất nước nhỏ bé Singapore với 4.8 triệu dân có 647 bằng sáng chế (một đất nước xa xôi ở Bắc Âu với dân số tương đương, Phần Lan với 5.3 triệu dân cũng có 951 bằng sáng chế). Đứng thứ hai là Malaysia với 161 bằng sáng chế. Trong khi đó, Việt Nam không có bằng sáng chế nào đăng kí ở Mỹ trong năm 2011.

Bảng 2: Nhóm vài nước Đông Nam Á:

Hạng Nước Dân số (triệu) Số bằng sáng chế 2011
 1 Singapore 4.8  647
 2 Malaysia 27.9  161
 3 Thái Lan 68.1  53
 4 Philippines 93.6 27
 5 Indonesia 232 7
 6 Brunei 0.407  1
 7 Việt Nam 89  0

Trong bối cảnh Việt Nam phải hội nhập với thế giới bên ngoài về mọi mặt, đặc biệt là về khoa học và công nghệ, kết quả thống kê trên thật sự đáng ngại cho khoa học Việt Nam. Chia sẽ vấn đề này, PGS. Phạm Đức Chính (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) cho biết: “Nghiên cứu cơ bản của Việt Nam chúng ta so sánh trong khu vực, trên cơ sở thống kê công bố quốc tế ISI, thua kém khá xa so với Singapore, Malaysia và Thái Lan. Về mặt công nghệ, ứng dụng thì tình hình còn tệ hơn, như theo một chỉ số quan trọng mà thống kê này cho thấy. Nếu như cứ cho rằng tiềm năng thực của chúng ta không tệ tới mức như vậy, thì năng lực hội nhập của chúng ta lại còn yếu hơn nữa. Mà yếu tố sống còn và đi lên của Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh mọi mặt hiện nay, là chúng ta phải hội nhập được với thế giới.

Tuy nhiên, một thực tế là vấn đề tác quyền ở Việt Nam chưa được xem trọng một cách đúng mức. GS. Nguyễn Đăng Hưng (nguyên Trưởng khoa Cơ học phá hủy, Đại học Liège, Bỉ) chia sẻ: “Tôi không ngạc nhiên về những con số thống kê mà các tác giả đã có công tra cứu tham khảo. Bằng sáng chế là thước đo đẳng cấp công nghệ kỹ thuật của một nước. Việt Nam kém cỏi về công bố quốc tế về khoa học. Nhưng tụt hậu về khâu công nghệ kỹ thuật, không có bằng sáng chế đăng ký thì quả là trầm trọng hơn”.

Nhà dưỡng lão ở Mỹ

Nhà dưỡng lão ở Mỹ

Tác giả: BS Trần Công Bảo đã từng là giám đóc y tế của nhiều viện dưỡng lão với bài viết dưới đây, Ông trình bày ngọn nguồn rất thực tế , cơ quan mà người già hay người tàn tật đã có lần nghĩ thoáng qua ,nhưng dĩ nhiên lờ mờ chua rõ …

                Người già ở hải ngoại: sự am hiểu về VDL là nên ! ,vì không ai  biết đươc tương lai ..!?

Nếu còn có thể ở nhà được mà vẫn an toàn thì ở nhà tốt hơn. Nếu tài chánh cho phép, thì dù mình không đủ khả năng lo cho mình, mình vẫn có thể mướn người “bán thời gian” (part time) đến lo cho mình vài giờ mỗi ngày, giúp ăn uống, tắm rửa, dọn dẹp trong nhà, thuốc men, chở đi bác sĩ…

Nursing Home – Viện Dưỡng Lão

Bs Trần Công Bảo

Cổ nhân có câu: “sinh, bệnh, lão, tử”. Bốn giai đoạn này không ai có thể tránh khỏi. Chuẩn bị ứng phó với bệnh tật và tuổi già của mình và của thân nhân mình là điều ai cũng có dịp nghĩ tới, kể cả chính kẻ viết bài này là tôi cũng đang sắp sửa bước vào tuổi “thất thập cổ lai hi”.

Anh bạn thân của tôi, Bs. TNT từ lâu có đề nghị tôi viết một bài về “Viện Dưỡng Lão” (VDL) để giúp bà con mình có thêm một chút khái niệm về VDL vì anh biết trong suốt 27 năm qua tôi đã liên tục săn sóc cho các cụ già tại các viện dưỡng lão, và cũng đã là “Giám Đốc Y Tế” (Medical Director) của nhiều VDL trong vùng. Nay tôi muốn chia sẻ cùng qúy bạn một số kinh nghiệm và hiểu biết về VDL.

Trong Việt ngữ chúng ta thường dùng từ Viện Dưỡng Lão, nhưng trong Anh ngữ thì có nhiều từ khác nhau như Nursing home, Convalescent home, Rehabilitation and Nursing center, Skilled nursing facility (SNF), Rest home… Nói chung, VDL là một nơi cho những người bị yếu kém về thể xác không thể tự săn sóc cho mình được trong cuộc sống hàng ngày. Thí dụ như không thể nấu nướng, giặt giũ, đi chợ…  nặng hơn nữa như không đủ sức để làm những việc tối cần thiết cho cuộc sống như ăn uống, đi tiêu, đi tiểu… hoặc cần phải có thuốc men đúng lúc mà không thể tự làm được.

Khi nói tới VDL người ta thường chỉ nghĩ tới những người già mà thôi. Thật ra có nhiều người “trẻ” nhưng vì tật bệnh không thể tự lo cho mình được cần phải có sự giúp đỡ của SNF (skilled nursing facility). Vậy thế nào là VDL?

VDL là nơi cung cấp những dịch vụ cần thiết cho cuộc sống hàng ngày cho những người không đủ khả năng lo cho chính mình. Tùy theo mức độ trầm trọng của bệnh tật mà có những VDL khác nhau:

1- Skilled Nursing Facility (SKF): là nơi cung cấp những dịch vụ cho những người bị khuyết tật nặng như tai biến mạch máu não gây nên bán thân bất toại, hôn mê lâu dài, hoàn toàn không còn khả năng ngay cả trong việc ăn, nuốt, tiêu, tiểu… Thường thường tại SNF có hai phần: phục hồi (rehabilitation) và săn sóc sức khỏe (nursing care). Có những người sau khi được giải phẫu thay xương khớp háng (hip replacement), thay đầu gối (knee replacement), hay mổ tim (bypass, thay valve tim) … cần thời gian tập dượt để phục hồi (rehabilitation). Sau đó họ có thể về nhà sinh hoạt bình thường cùng gia đình.

2- Intermediate care facility (ICF) : cung cấp dịch vụ cho những người bệnh như tật nguyền, già cả nhưng không cần săn sóc cao cấp (intensive care). Thường thường những người này không có thân nhân để lo cho mình nên phải vào đây ở cho đến ngày cuối cùng (custody care).

3- Assisted living facility (ALF): Thường thường những người vào ALF vẫn còn khả năng tự lo những nhu cầu căn bản như tắm rửa, thay quần áo, đi tiêu, đi tiểu một mình được. Họ chỉ cần giúp đỡ trong việc bếp núc, theo dõi thuốc men và chuyên chở đi thăm bác sĩ, nhà thờ, chùa chiền hay mua sắm lặt vặt. Họ vẫn còn phần nào “độc lập”.

4-  VDL cho những người quá lú lẫn (Alzheimer facility):có những bệnh nhân bị lú lẫn nặng, đến nỗi không nhận ra người thân như vợ, chồng, con cháu nữa. Không biết tự đi vào buồng tắm, phòng vệ sinh để làm những công việc tối thiểu. Họ không biết họ ở đâu, dễ đi lang thang và lạc đường. Nếu ở nhà thì phải có người lo cho 24/24. Những VDL dành riêng cho những bệnh nhân này, thường là “locked facilty”, cửa ra vào được khóa lại để bệnh nhân không thể đi lạc ra ngoài. Cách đây khá lâu đã có trường hợp một bệnh nhân đi ra khỏi viện, lạc đường, bị xe lửa cán chết! Từ đó có locked facilty. Đôi khi cũng có những viện bệnh nhân được gắn alarm vào cổ chân. Nếu bệnh nhân đi qua cửa thì alarm sẽ báo động và nhân viên sẽ kịp thời mang về lại.

NHỮNG DỊCH VỤ ĐƯỢC CUNG CẤP TẠI VDL : Điều này tùy theo từng viện. Tuy nhiên những dịch vụ sau đây là cần thiết:

1- Phòng ngủ.

2- Ăn uống

3 – Theo dõi thuốc men

4- Những điều tối thiểu hàng ngày như tắm rửa, thay quần áo, vệ sinh cá nhân…

5- 24/24 lo cho những trường hợp bệnh khẩn cấp.

6- Sinh hoạt hàng ngày như giải trí, tôn giáo…

7- Vật lý trị liệu. Dịch vụ này rất quan trọng để giúp người bệnh có thể phục hồi càng nhiều càng tốt. Trong vật lý trị liệu có nhiều dịch vụ khác nhau:

a- Tập dượt (physical therapy): như tập đi, tập lên xuống cầu thang, tập tự vào giường ngủ hay ra khỏi giường một cách an toàn, không vấp ngã…

b- Speech therapy: tập nói, tập nuốt khi ăn uống… Có những bệnh nhân bị stroke, không thể nói hay ăn được, cần được tập để phục hồi chức năng này.

c- Occupational therapy: Tập mang giầy, bí tất (vớ)… Tập sử dụng bếp gaz, bếp điện cho an toàn để tránh bị tai nạn.

AI TRẢ TIỀN CHO VDL? Có nhiều nguồn tài trợ khác nhau:

1- Medicare

2- Medicaid (ở California là Medi-Cal).

3- Bảo hiểm tư, có nhiều người mua sẵn bảo hiểm cho VDL.

4- Tiền để dành của người bệnh (personal funds).

MEDICARE là do qũy liên bang, chỉ trả tối đa 100 ngày cho những bệnh nhân cần tập dượt để phục hồi chức năng tại một skilled nursing facility (SNF). Thường những bệnh nhân bị stroke, gãy xương…  cần dịch vụ này. Medicare KHÔNG TRẢ cho custody care.

MEDICAID là do qũy liên bang và tiểu bang. Qũy này trả nhiều hay ít là tùy từng tiểu bang.  Medicaid trả cho dịch vụ y tế và custody care.

BẢO HIỂM TƯ  thì tuy theo từng trường hợp sẽ có những quyền lợi khác nhau, nhưng thường rất hạn chế.

Hiện nay người ta ước lượng trên nước Mỹ có khoảng 1.4 triệu người sống trong 15,800 VDL.  Các VDL này đặt dưới sự kiểm soát của bộ y tế, đặc biệt là do Centers for Medicare & Medicaid Services (CMS) giám sát. Hàng năm các VDL đều phải trải qua một cuộc kiểm tra rất gắt gao (survey) của CMS. VDL nào không đúng tiêu chuẩn thì có thể bị đóng cửa! Mục đích kiểm tra của CMS là để bảo đảm cho các bệnh nhân tại VDL được săn sóc an toàn, đầy đủ với chất lượng cao. Đồng thời tránh những trường hợp bị bỏ bê (negligence) hay bạo hành (abuse) về thể xác lẫn tinh thần. Tại mỗi VDL đều có lưu trữ hồ sơ kiểm tra cho công chúng xem. Bất cứ ai cũng có thể xem kết quả của các cuộc kiểm tra này. Tất cả các VDL đều phải có các biện pháp để bảo đảm sự săn sóc cho bệnh nhân theo đúng tiêu chuẩn. Nếu không sẽ bị phạt tiền, và có những trường hợp bị đóng cửa.

Trên đây tôi đã trình bày sơ qua về những điểm chính của VDL. Tuy nhiên, như quý bạn đã từng nghe và biết, có nhiều khác biệt giữa những VDL. Theo tôi nhận xét thì quan niệm chung của mọi người là “không muốn vào VDL”. Chúng ta từng nghe những chuyện không tốt thì nhiều, mà những chuyện tốt thì ít. “Tiếng lành đồn gần, tiếng dữ đồn xa”, là câu ngạn ngữ người mình vẫn nói từ xa xưa đến nay. Tôi đã đọc không biết bao nhiêu là bài viết về việc con cái “bất hiếu”, bỏ bố mẹ, ông bà vào VDL rồi không đoái hoài tới. Tôi cũng thấy nhiều trường hợp các cụ vào VDL một thời gian rồi không muốn về nhà với con cháu nữa!  Trên đời này không có gì là tuyệt đối cả, trong cái hay có cái dở, và trong cái dở lại có thể tìm ra cái hay. Vậy chúng ta rút tỉa được kinh nghiệm gì trong vấn đề này? Tôi chỉ xin nêu lên những nhận xét chủ quan của riêng tôi mà thôi. Có thể quý vị không đồng ý hết, nhưng nếu rút tỉa được ít nhiều ý kiến xây dựng thì “cũng tốt thôi”.

NHỮNG “BỆNH” CÓ THỂ DO VDL GÂY RA:

1- Lo lắng (anxiety): Trong tháng 9/2011 những nhà nghiên cứu hỏi ý kiến của 378 bệnh nhân trên 60 tuổi nằm VDL tại thành phố Rochester, New York. Kết qủa là có trên 27.3% trả lời là họ bị bệnh lo lắng, từ vừa đến nặng. Nếu không được chữa trị sẽ đưa đến bệnh trầm cảm (depression). Nên nhớ là 378 bệnh nhân này là người Mỹ chính cống, sinh ra và lớn lên tại Mỹ. Chúng ta hãy tưởng tượng người Việt mình không biết rành tiếng Anh, không hợp phong tục, tập quán thì sự khó khăn sẽ nhiều như thế nào! Còn một vấn đề nữa là thức ăn, chúng ta quen “nước mắm, thịt kho”…, làm sao mà có thể nuốt hamburger, sandwich… ngày này qua ngày khác! Các vấn đề này càng làm bệnh lo lắng, trầm cảm nặng thêm!

2- Phản ứng của thuốc (adverse drug reactions): Trong tháng 1/2012 ngưòi ta theo dõi các bệnh nhân tại VDL, kết qủa là ít nhất 40% các bệnh nhân dùng trên 9 loại thuốc khác nhau. Uống càng nhiều thuốc thì phản ứng càng nhiều. Có ba loại phản ứng khác nhau:

a- Phản ứng phụ (side effects): thí dụ như uống aspirin làm bao tử khó chịu, thuốc cao máu làm táo bón… Loại này thường xảy ra, không cần phải ngưng thuốc.

b- Drug interference: (tạm dịch là thuốc đối tác với nhau): có nhiều loại thuốc uống chung với nhau sẽ làm tăng hoặc giảm sức tác dụng. Thí dụ thuốc loãng máu coumadin mà uống chung với thuốc tim như amiodarone sẽ làm dễ chảy máu. Có những thức ăn hay nước uống dùng chung với thuốc cũng ảnh hưởng đến thuốc. Thí dụ uống nước bưởi hay nho với một vài loại thuốc cũng sẽ tăng sức tác dụng của thuốc, dễ gây ngộ độc.

c- Dị ứng với thuốc (allergic reaction): Loại này nguy hiểm hơn, thường làm da nổi mề đay, đỏ, ngứa. Nếu nặng thì có thể chết được như phản ứng với penicillin chẳng hạn. Nếu bị dị ứng thì phải ngưng thuốc ngay.

3- Ngã té (fall): Người già rất dễ bị té ngã gây nên nhiều biến chứng quan trọng như chảy máu trong đầu (intracranial bleeding), gãy xương (như gãy cổ xương đùi, tay…). Khi già quá hoặc có những bệnh ảnh hưởng đến sự di chuyển, không còn đi lại vững vàng, nhanh nhẹn như lúc trẻ nên dễ vấp, té ngã.

4- Da bị lở loét (decubitus ulcers): Những người bị liệt giường, không đủ sức để tự mình xoay trở trên giường, rất dễ bị lở loét da gây nên nhiều biến chứng tai hại.

5- Nhiễm trùng (infection): như sưng phổi, nhiễm trùng đường tiểu…nhất là những người cần phải dùng máy móc như máy thở (respirator), ống thông tiểu (Folley catheter)…

6- Thiếu dinh dưỡng, thiếu nước (malnutrition, dehydration): Ở các cụ già thì trung tâm khát (thirst center) trong não không còn nhạy cảm nữa, nên nhiều khi cơ thể cần nước mà không thấy khát không uống nên bị thiếu nước. Cái cảm giác “ngon miệng (appetite) cũng giảm đi nên không muốn ăn nhiều gây nên tình trạng thiếu dinh dưỡng.

VẬY CÓ NÊN VÀO VDL KHÔNG? Việc này thì tùy trường hợp. Theo tôi:

1- Nếu còn có thể ở nhà được mà vẫn an toàn thì ở nhà tốt hơn. Nếu tài chánh cho phép, thì dù mình không đủ khả năng lo cho mình, mình vẫn có thể mướn người “bán thời gian” (part time) đến lo cho mình vài giờ mỗi ngày, giúp ăn uống, tắm rửa, dọn dẹp trong nhà, thuốc men, chở đi bác sĩ…

2- Nếu không thể ở nhà được, mà tài chánh cho phép thì có thể ở những assisted living facilities. Ở đây thường họ chỉ nhận tiền (personal funds) chứ không nhận medicare & medicaid. Tại đây thì sự săn sóc sẽ tốt hơn.

3- Group homes (nhà tư): Có những người nhận săn sóc cho chừng 4-6 người mỗi nhà. Họ cũng lo việc ăn uống, chỗ ở, thuốc men, chở đi bác sĩ…Thường thì rẻ hơn tùy từng group.

4- Nếu “chẳng đặng đừng” phải vào VDL thì phải làm sao để có được sự săn sóc “tốt nhất”?

                a- Làm sao để lựa chọn VDL:

* Vào internet để xem ranking của VDL (tương tự như các tiệm ăn có xếp loại A, B, C…)

* Mỗi VDL đều phải có cuốn sổ phúc trình về các cuộc kiểm tra (survey) do bộ y tế làm hàng năm. Trong đó bộ y tế sẽ nêu lên những khuyết điểm mà họ đã tìm thấy. Cuốn sổ này được để ở khu công cộng (public area) trong khuôn viên của VDL. Hỏi receptionist thì họ sẽ chỉ cho.

* Hỏi ý kiến thân nhân những người có thân nhân đang nằm tại đó.

* Quan sát bên trong và ngoài của VDL: xem có sạch sẽ, không mùi hôi, nước tiểu. Theo dõi cách đối xử, săn sóc của nhân viên với bệnh nhân.

* Nếu có thể thì tìm một VDL có nhiều người Việt đang ở để có nhân viên nói tiếng Việt, có thức ăn Việt, có chương trình giải trí theo kiểu Việt.

                b- Nếu đã quyết định chọn VDL cho người thân rồi thì phải làm gì sau đó?

 * Chuẩn bị tư tưởng không những cho bệnh nhân mà con cho cả chính mình và mọi người trong gia đình để có được sự chấp nhận (acceptance) càng nhiều càng tốt.

* Thăm viếng thường xuyên: Nếu nhà đông con cháu thì không nên đến thật đông một lần rồi sau đó nhiều ngày không có ai đến. Nếu được, nhất là trong vài tháng đầu, luân phiên nhau tới, mỗi ngày một lần một vài người. Làm lịch trình ai đi thăm ngày nào, giờ nào…

* Nên làm một cuốn sổ “thông tin” (communication book) để cạnh giường. Trong cuốn sổ này mỗi khi ai đến thăm thì viết ngày giờ, tên người đến thăm, và nhận xét xem bệnh nhân có vấn đề gì cần lưu ý, giải quyết. Nếu không có vấn đề gì thì cũng nên viết vào là không có hoặc cho nhận xét về vui, buồn, than thở của bệnh nhân…

* Cuối tuần hay ngày lễ: nên có người vào hoặc mang bệnh nhân về nhà nửa buổi để được sống với không khí gia đình dù ngắn ngủi, hay đưa ra khỏi VDL để làm đầu, tóc hoặc tới tiệm ăn cho khuây khỏa…

* Nên sắp xếp để bệnh nhân có sách báo, băng nhạc bằng tiếng Việt cho bệnh nhân giải trí.

* Cho dù có những bệnh nhân bị hôn mê bất tỉnh lâu dài, nhưng khi đến thăm hãy cứ thì thầm bên tai họ những lời yêu thương, những kỷ niệm cũ. Nắm tay, xoa dầu để tỏ tình thương yêu. Tuy họ không có thể cảm thấy được 100% nhưng chắc chắn họ vẫn còn một chút nhận thức, làm họ hạnh phúc hơn, mặc dù mình không nhận thấy. Để bên đầu giường những băng nhạc, câu kinh mà khi còn khỏe họ đã thích nghe.

* Một điều chót mà theo kinh nghiệm của tôi, rất có hiệu quả: đối xử tốt nhưng nghiêm túc với nhân viên của VDL:

– Đối xử tốt: lịch sự, nhẹ nhàng, không thiếu những lời cám ơn cho những nhân viên phục vụ tốt. Thỉnh thoảng mua một vài món quà nhỏ cho họ (tôi xin nhấn mạnh “nhỏ thôi”– đừng nên coi đây là hối lộ) như đồ ăn, thức uống …  để bày tỏ lòng biết ơn của mình. Mình tốt với họ thì họ sẽ quan tâm đến mình nhiều hơn. Người mình vẫn nói: “Có qua có lại mới toại lòng nhau”).

– Tuy nhiên đối xử tốt không có nghĩa là mình chấp nhận những sai trái của họ. Thí dụ mình đã báo cáo những thay đổi về sức khỏe của bệnh nhân cho họ mà không ai quan tâm giải quyết thì mình phải lịch sự nêu ra liền. Nếu cần thì gặp ngay những người có trách nhiệm như charge nurse, nursing director và ngay cả giám đốc của VDL để được giải quyết. Nên nhớ là phải lịch sự, nhã nhặn nhưng cương quyết thì họ sẽ nể phục mình. Tôi đã thấy nhiều trường hợp đạt yêu cầu một cách rất khả quan.

Trên đây là những kinh nghiệm của tôi xin chia sẻ với quý bạn. Dĩ nhiên là không hoàn toàn đầy đủ tất cả những gì quý bạn mong muốn, nhưng hy vọng cũng đáp ứng được phần nào những ưu tư, lo lắng cho người thân của quý bạn.

Bs. Trần Công Bảo