NGƯỜI SÀI GÒN

NGƯỜI SÀI GÒN

Lần đầu tiên lên Sài Gòn là để đi thi đại học. Tôi và một thằng bạn thi chung trường nên đi chung với nhau. Ở thì không lo vì đã có nhà người quen ở bên kia cầu chữ Y. Chỉ lo cái chuyện ăn uống giữa hai buổi thi. Ngay sau khi thi xong môn đầu tiên, hai đứa kéo nhau ra quán cạnh trường kêu hai dĩa cơm sườn. Cầm cái muỗng, cái nĩa để ăn cơm dĩa mà cứ lọng cọng. Ăn hết dĩa cơm, uống cạn mấy ly trà đá tự múc ở trong cái xô để ở góc quán, mà bụng vẫn trống không.

Nhỏ lớn ở quê khi nào đi đâu xa thì cơm đùm, cơm bới mang đi theo chứ có khi nào ăn cơm tiệm để mà biết kêu cơm thêm. Kêu thêm dĩa nữa thì không dám, vì sợ không đủ tiền ăn cho ngày mai, ngày kia… Ngó quanh ngó quất, thấy bàn nào cũng để một nải chuối, mọi người ăn xong cứ thuận tay bẻ, người một trái, người hai trái. Thế là hai đứa sáng mắt, chuối này chắc người ta cũng cho không như trà đá. Vậy là, chỉ một loáng nguyên cả nải chuối để trên bàn chỉ còn đống vỏ. Khi tính tiền, thấy phụ quán cứ đếm đi đếm lại mấy cái vỏ chuối để trên bàn rồi nhìn chằm chằm, thỉnh thoảng lại liếc qua bà chủ quán đang đứng gần đó cười mím chi thì đâm lo. Không biết tiền mang theo có đủ để trả không.

Nhìn hai đứa gom từng đồng bạc để bỏ lên bàn, bỗng nhiên chủ quán bước lại. Thôi, tính hai dĩa cơm thôi. Phần chuối chắc là không biết có tính tiền nên lỡ ăn, chị không tính. Ngày mai ăn có thiếu thì cứ kêu cơm thêm mà ăn, để bụng đói không làm bài được đâu.

Chỉ có nải chuối, cho thấy tính cách người Sài Gòn.

Cuộc sống không thẳng tắp. Bon chen lên Sài Gòn không phải lúc nào cũng dễ kiếm tiền. Cũng trong những năm thập niên 1980, có lần, tôi thử sức mình với nghề đạp xích lô. Mượn chiếc xe của ông chú vào buổi sáng, lúc ấy chú cho xe ở nhà để ngủ sau một đêm chạy mối chở hàng. Lần đầu tiên chạy xích lô chỉ có chạy xe không từ bên này sang bên kia cầu chữ Y đã muốn hụt hơi. Thế nhưng vẫn ráng vì trong túi không còn tiền. Chạy lòng vòng Sài Gòn cả tiếng đồng hồ, ngang qua rạp Quốc Thanh (đường Nguyễn Trãi), thấy một đôi nam nữ đi ra, tay ngoắt, miệng kêu: Xích lô !

Luồn tay kéo thắng ngừng xe lại hỏi: Anh chị đi đâu ?

-Cho ra Bến xe Miền Tây. Nhiêu ?

Dân miền Đông mới lên Sài Gòn tập tành chạy xe kiếm sống, biết Bến xe Miền Tây đâu mà cho giá. Thôi đành chơi trò may rủi: Dạ, em mới chạy xe chưa rành đường, anh chị chỉ đường em chở. Tới đó cho nhiêu thì cho.

Tưởng không biết đường thì người ta không đi, ai dè cả hai thản nhiên leo lên. Người con trai nói: -15 đồng mọi khi vẫn đi. Cứ chạy đi tui chỉ đường.

Sức trẻ, thế mà vẫn không chịu nổi đường xa, đạp xe chở hai người từ rạp Quốc Thanh đến chân cầu Phú Lâm thì đuối, liệu sức không thể nào qua khỏi dốc cầu đành tính chước bỏ của chạy lấy người. Xuống giọng: -Em mới chạy xe, đi xa không nổi. Anh chị thông cảm đi xe khác giùm.

Ai ngờ người con trai ngoái đầu lại: -Tui biết ông đuối từ hồi nãy rồi. Thôi leo lên đằng trước ngồi với bà xã tui. Đưa xe đây tui đạp cho. Tui cũng từng đạp xích lô mà !

Thế là, vừa được khách chở, lại vừa được lấy tiền. Không phải 15 đồng mà tới 20 đồng.

Chắc cũng chỉ có người Sài Gòn mới khoáng đạt như vậy !

Người Sài Gòn tốt bụng, chia xẻ không từ những chuyện cá biệt, người nơi khác vào Sài Gòn hỏi đường thật dễ chịu. Già trẻ, lớn bé, gặp ai hỏi người ta cũng chỉ dẫn tận tình. Có nhiều người còn bỏ cả công việc để dẫn kẻ lạc đường đi đến đúng địa chỉ cần tìm. Có những địa chỉ nhiều người hỏi quá, thế là người Sài Gòn nghĩ cách viết hoặc bỏ tiền ra đặt làm một cái bảng đặt bên lề đường, gắn vào gốc cây. Đôi khi, kèm theo một câu đùa, câu trách rất Sài Gòn ở cái bảng này khiến ai đọc cũng phì cười. Như cái bảng viết trên nắp thùng mốp trên đường Sư Vạn Hạnh mới đây: “Bà con nào đi photo thì qua bưu điện bên đường. Hỏi hoài mệt quá !

Đi xe ôm, taxi, gặp đúng dân Sài Gòn thì mười người hết chín không lo bị chặt chém, vẽ vời. Đôi khi, kêu giá là vậy, nhưng khách không có tiền lẻ hoặc hết tiền người ta còn bớt, thậm chí cho thiếu mà không cần biết khách ở đâu, có trả hay không. Với người Sài Gòn, đó là chuyện nhỏ.

Ở Sài Gòn, cho tới bây giờ vẫn còn nhiều nhà để một bình nước suối trước nhà, kèm thêm một cái ly, một cái bảng nước uống miễn phí.

Và bình nước này không bao giờ cạn, như lòng tốt của người Sài Gòn. Sẽ có nhiều người bảo cái ly nhiều người uống , bẩn chết đi được , nhưng không biết họ có cách nào hay hơn ? ( mua ly giấy , uống xong vứt : mời các người ấy về Saigon mua ly giấy cho khách thập phương dùng).

Có người đã phát hiện, khi bạn chạy xe trên đường phố Sài Gòn, nếu có ai đó chạy theo nhắc bạn gạt cái chân chống, hay nhét lại cái ví sâu vào túi quần thì đích thị đó là người Sài Gòn !.

Bi giờ còn vậy nữa không? cũng còn, nhưng mà nếu bà con không gặp người như vậy ở Sàigòn là vì những người bà con gặp đó không phải là người Sàigòn!

S.T.

Phụ nữ Việt bị bắt vì ‘giết người tình, phi tang xác’ ở Đài Loan

Phụ nữ Việt bị bắt vì ‘giết người tình, phi tang xác’ ở Đài Loan

Cô Soi đã bị bắt tại tơi làm việc ở thành phố Cao Hùng trong khi chuẩn bị về Việt Nam hôm 27/11.

Cô Soi đã bị bắt tại tơi làm việc ở thành phố Cao Hùng trong khi chuẩn bị về Việt Nam hôm 27/11.

Một phụ nữ người Việt bị bắt ở Đài Loan vì bị tình nghi giết bạn trai rồi chặt xác anh này sau một trận cãi vã, cảnh sát địa phương cho biết.

Tin cho hay, cô Nguyễn Thị Soi, 33 tuổi, đã bị bắt tại tơi làm việc ở thành phố Cao Hùng trong khi chuẩn bị về Việt Nam hôm qua, 27/11.

Cô Soi bị cáo buộc giết chết anh Kiều Văn Mạnh, 43 tuổi, trước khi chặt xác người đồng hương rồi sau đó vứt xuống rãnh.

Cả hai đến Đài Loan làm việc ở hai thời điểm khác nhau đầu năm nay, và cảnh sát cho hay, anh Kiều bị giết vì muốn chấm dứt quan hệ với cô Soi.

Vụ việc vỡ lở hôm 18/11 sau khi người ta thấy một con chó ngậm một cái sọ người. Phần còn lại thi thể của anh Kiều sau đó được tìm thấy đựng trong một trong bao tải dùng để đựng thức ăn cho heo.

Các điều tra viên sau đó lần theo manh mối và phát hiện ra một trại nuôi heo ở quận Lô Trúc nơi cô Soi làm việc.

Cảnh sát cho biết, anh Mạnh đã gặp cô này tại trang trại trên hôm 15/10, ngay trước khi anh mất tích.

Đài Loan là một trong những thị trường xuất khẩu lao động lớn nhất của Việt Nam. Theo số liệu thống kê được báo trong nước loan tải, có hàng chục nghìn công nhân người Việt đang làm việc ở Đài Loan.

Mới đây, chính quyền Đài Loan đã huy động lực lượng để truy tìm 4 công nhân người Việt bỏ trốn khỏi một nhà tù ở thành phố Đông San, trong khi đang chờ bị trục xuất về Việt Nam.

Tin cho hay, những người lao động bỏ trốn bằng cách dùng khí cụ để phá cửa sổ có chấn song sắt.

Trước đó, họ bị bắt vì làm việc trái phép ở Đài Loan sau khi tự động bỏ làm việc cho một công ty họ đã ký hợp đồng.

Theo CAN, Focus Taiwan News Channel, Taipei Times

Bình Thuận chính thức thừa nhận một tử tù bị kết án oan

Bình Thuận chính thức thừa nhận một tử tù bị kết án oan
Nguoi-viet.com
PHAN THIẾT (NV) – Cuối tuần qua, công an tỉnh Bình Thuận đã công bố quyết định “đình chỉ điều tra” đối với ông Huỳnh Văn Nén, một người từng bị kết án tử hình và bị giam 17 năm.

Ông Huỳnh Văn Nén (trái) mừng như điên khi nghe công an Bình Thuận quyết định “đình chỉ điều tra”
đối với mình. (Hình: Tuổi Trẻ)

Quyết định “đình chỉ điều tra” được xem là sự thừa nhận ông Nén vô tội. Cũng vì vậy, hệ thống tư pháp tỉnh Bình Thuận (bao gồm tòa án, viện kiểm sát, công an) loan báo, ngày 3 Tháng Mười Hai sắp tới, sẽ “tổ chức xin lỗi công khai đối với ông Huỳnh Văn Nén và gia đình.”

Cách nay 17 năm, vào một đêm của Tháng Tư, 1998, bà Lê Thị Bông ở xã Tân Minh, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận, bị giết, hung thủ lấy của bà một chiếc nhẫn vàng 24K.

Tháng sau, trong một cuộc nhậu, ông Nén nói đùa ông là hung thủ rồi bị công an Bình Thuận bắt khẩn cấp. Trong tù, ông Nén nhận tội nhưng tại tòa, ông kêu oan và giải thích, sở dĩ ông nhận tội vì bị tra tấn. Tố cáo của ông Nén không được hội đồng xét xử xem xét. Ông Nén bị phạt chung thân.

Chuyện vẫn chưa ngừng ở đó. Hồi Tháng Năm, 1993, năm năm trước ngày bà Bông bị giết, tại xã Tân Minh, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận, từng có một phụ nữ tên Dương Thị Mỹ bị giết và công an Bình Thuận bó tay, không tìm ra thủ phạm. Trong tù, ông Nén đột nhiên nhận thêm rằng, ông còn là thủ phạm giết bà Mỹ. Giúp ông thực hiện vụ án mạng này là tám thành viên trong gia đình của vợ ông.

Cũng vì vậy, toàn bộ gia đình bên vợ ông bị bắt, và sau đó, một trong tám người chết trong tù.

Bất chấp phân tích của các luật sư và báo giới về những điểm phi lý trong kết luận điều tra của công an và cáo trạng của viện kiểm sát, cũng như lời kêu oan, tố giác bị tra tấn để buộc phải nhận tội của các bị cáo, tòa án vẫn xác định họ là đồng phạm và phạt bảy người còn lại trong gia đình vợ ông Nén nhiều mức hình phạt khác nhau. Riêng ông Nén bị án tử hình.

Sau khi phải xử đi, xử lại nhiều lần do áp lực của công luận, tám năm sau, bản án kết tội ông Nén và các thành viên trong gia đình vợ của ông đã giết bà Dương Thị Mỹ bị hủy, vì không có căn cứ để kết luận họ giết người. Án tử hình đã tuyên đối với ông Nén được rút lại nhưng ông Nén vẫn phải ở tù vì “tội” giết bà Lê Thị Bông. Bảy người trong gia đình vợ của ông thì được trả tự do.

Bản án chung thân dành cho ông Nén đã khơi dậy lương tâm của một người tù. Khi ra tù ông viết thư, gửi cho nhiều nơi, kể rằng, hai người bạn của ông mới thực sự giết bà Lê Thị Bông. Hai thủ phạm không chỉ kể với ông về chuyện giết bà Bông, mà còn thuật lại tỉ mỉ về việc đã đem chiếc nhẫn vàng 24K đi bán thế nào.

Các con của bà Bông cũng gửi đơn kêu oan cho ông Nén. Một vài viên chức trong chính quyền xã cũng đề nghị xét lại bản án đã tuyên với ông Nén vì không ai tại nơi ông cư trú tin ông là thủ phạm giết bà Bông.

Đáp lại những đề nghị này, công an Bình Thuận cử chính điều tra viên đã từng bị ông Nén tố cáo là tra tấn, ép ông nhận tội đi… “xác minh.” Kết quả tất nhiên là không có cơ sở để xét lại vụ án.

Vụ Huỳnh Văn Nén “giết người, cướp tài sản” tiếp tục bị “nâng lên, đặt xuống” cho tới tháng trước thì công an Bình Thuận liên lạc với gia đình ông Nén, yêu cầu họ làm đơn xin cho ông tại ngoại để chữa bệnh. Đến hạ tuần tháng trước thì ông Nén được tạm tha.

Mới đây, cùng lúc với việc công bố quyết định “đình chỉ điều tra” đối với ông Nén, một phó giám đốc công an tỉnh Bình Thuận cho biết đã bắt được hung thủ giết bà Bông để cướp tài sản.

Chưa rõ những điều tra viên đã tra tấn ông Nén, bắt ông nhận tội cũng như những kiểm sát viên, thẩm phán, tham gia buộc tội, kết tội ông Nén, bất chấp chuyện ông kêu oan, các lời khai, bằng chứng mâu thuẫn nhau, sẽ bị xử lý thế nào. (G.Đ.)

“Phức tạp lắm, bức xúc lắm”?

“Phức tạp lắm, bức xúc lắm”?

Đôi lời: Có lẽ GS Nguyễn Văn Tuấn nhầm chỗ này: “Nên nhớ là sự việc xảy ra cách đảo Vành Khăn, nơi Tàu cộng đang xây dựng, chỉ có 29 hải lí (vậy thì ‘còn ai trồng khoai đất này’)“.

Theo thông tin trên báo Tuổi Trẻ, “ông Bảy bị bắn chết ngày 26-11 tại khu vực biển cách đá Suối Ngọc khoảng 30 hải lý”. Mà đá Suối Ngọc cách đá Vành Khăn 29 hải lý về phía Nam, như vậy chỗ TQ bắn chết ông Bảy cách đá Vành Khăn 59 hải lý về phía Nam, nhưng không rõ cách bờ biển VN là bao xa. Khu vực đó chỉ có “tàu quen” là Tàu Cộng, chứ không có “tàu lạ” nào hoạt động ở đó để bắn ngư dân VN.

___

Nguyễn Văn Tuấn

30-11-2015

Hôm nay, đọc tin thấy một ngư dân Quảng Ngãi bị bắn chết, chúng ta lại nghe điệp khúc “tàu lạ” trên báo chí, và những phát biểu ú ớ, lòng vòng, khó hiểu của vài người trong giới lãnh đạo. Không dám nêu đích danh tên của kẻ thù và lòng vòng càng làm cho câu nói vần điệu của Huy Đức, “sự hèn hạ thì quen”, càng hợp lí. Có nhiều lí do để gọi đích danh kẻ thù, và chúng ta hãy gọi như thế: Tàu cộng. Chẳng có gì phức tạp cả, và cũng chẳng cần “bức xúc.”

Hãy nêu đích danh kẻ thù!

Tôi hiểu các bạn trong giới báo chí (và cả chính quyền) phải cẩn thận trong cách dùng chữ trong khi chưa có đầy đủ thông tin. Mỗi lần ngư dân chúng ta bị tấn công, hoặc nghiêm trọng hơn là sát hại, người dân nghĩ ngay đến “chúng”, đến cái nhóm người đến từ cái nước dân ta quen gọi là “Tàu” (nhưng báo chí thì ấm ớ gọi là “lạ”).

Không phải ngẫu nhiên mà người ta qui kết Tàu là thủ phạm, bởi vì những gì xảy ra trong quá khứ cung cấp những thông tin cho hiện tại. Cũng giống như định lí Bayes, chỉ cần xem qua vài đặc tính của các thư rác (spam mail), chúng ta có thể tính xác suất thư đang nhận là rác hay thư thật. Tương tự, những gì xảy ra trong quá khứ gần và ngay cả hiện nay ở Hoàng Sa và Trường Sa (như tàu của Tàu cộng mở bạt đe doạ tàu của Việt Nam, và hàng trăm vụ khủng bố, cướp biển) thì xác suất rất cao lần này thủ phạm giết chết ngư dân ta là Tàu cộng. Nên nhớ là sự việc xảy ra cách đảo Vành Khăn, nơi Tàu cộng đang xây dựng, chỉ có 29 hải lí (vậy thì “còn ai trồng khoai đất này”). Vậy thì tại sao báo chí không nêu đích danh chúng? Tôi đề nghị các bạn báo chí nên viết “Tàu chưa được xác minh danh tánh, nhưng khả năng cao là tàu của Trung Quốc”. Thêm câu “khả năng cao” đâu có hại ai và hoàn toàn có cơ sở thực tế.

Từ nay trở đi, đừng dùng chữ “tàu lạ” nữa, mà hãy dùng “khả năng cao là tàu của Trung Quốc” hay “tàu hải quân Trung Quốc giả dạng tàu đánh cá”. Nói và viết vậy để dễ hiểu.

Hãy gọi chúng là bully – du côn!

Cứ mỗi lần một ngư dân bị sát hại hay Tàu cộng tấn công là có những phát biểu khó hiểu của các vị lãnh đạo. Trả lời phỏng vấn về vấn đề tàu chiến của Tàu cộng đe doạ tàu của Việt Nam gần đây, ông cựu Bộ trưởng Quốc phòng Phạm Văn Trà nói những câu chẳng ai hiểu được ông muốn nói lên cái ý gì. Ông lặp đi lặp lại rằng hành xử của Tàu là hành xử của “nước lớn” (1). Ông không đưa ra được một giải pháp nào. Ông chỉ nói “Tư tưởng của họ như thế đấy. Thỉnh thoảng họ sẽ lại làm một cú như vậy để thăm dò, xem thái độ của Việt Nam thế nào”. Có nghĩa là gì? Tôi chẳng hiểu câu này nói lên cái điểm gì cả. Thế thì câu hỏi đặt ra là Việt Nam hành xử thế nào trước thách thức của Tàu? Chẳng hành xử thế nào cả, vì người đương nhiệm và thay thế ông Phạm Văn Trà chỉ nói (theo bài báo tường thuật): “phức tạp lắm, bức xúc lắm”!

Thì ai mà chẳng biết Tàu là nước lớn, nhưng chẳng lẽ hành xử của nước lớn là ăn cướp trên biển, ngạo mạn trong chính trị, thô lỗ trong ngoại giao? Đó không phải là cách hành xử “lớn”, mà là tiểu nhân. Tiếng Anh có chữ bully (du côn) để chỉ những hành động mà Tàu cộng áp dụng cho Việt Nam. Thật vậy, chỉ cần google hai chữ bully và china, sẽ thấy thế giới nói thẳng rằng Tàu chẳng những là một nước du côn, mà còn là du côn lớn nhất trong vùng – the biggest bully in the region. Ai cũng thấy Tàu cộng là du côn, nhưng nhiều người lãnh đạo Việt Nam thì không thấy; họ chỉ thấy Tàu là “nước lớn” (1).

Do đó, tôi đề nghị hãy cho báo chí và người dân gọi Tàu cộng là “du côn” hay bully. Cái danh đó rất đúng với những hành động của Tàu đối với Việt Nam, không chỉ trên biển, mà còn trên báo chí. Chúng đã cho cái loa Hoàn Cầu Thời Báo đe nẹt ta, thậm chí bêu rếu lãnh đạo Việt Nam. Đó là hành động của kẻ lưu manh chứ còn gì nữa. Vậy thì chúng ta hãy gọi đúng tên: Tàu du côn.

Hãy cho người dân lên tiếng!

Còn nhớ trước đây, một quan chức tên là Nguyễn Duy Chiến, Phó chủ nhiệm Ủy ban biên giới quốc gia của Bộ Ngoại giao Việt Nam, cũng có những phát biểu rất khó nghe khi tàu của Tàu cộng vào tận vùng biển của Việt Nam và táo tợn cắt cáp tàu của Việt Nam. Bình luận về sự kiện nghiêm trọng này, ông Chiến nói trước cửa toạ của ĐHQG Hà Nội rằng đó là hành động “Yêu cho đòn cho vọt” của Tàu cộng! Ông làm cho các giáo sư và sinh viên của ĐHQG Hà Nội sững sờ. Ông gián tiếp xem Tàu cộng là cha mẹ của Việt Nam.

Ông còn dám nói rằng người dân biểu tình chẳng làm được gì cả. Ông còn nói theo giọng điệu của Tàu cộng là Việt Nam chưa đầy 100 triệu dân, “mình biểu tình năm ngàn người thì họ biểu tình năm chục ngàn người … Kinh khủng hơn thế … Giải quyết vấn đề gì đâu”! Xin nhắc lại rằng ông này là một quan chức ăn lương từ thuế của dân, và có nhiệm vụ thương thảo về biên giới với Tàu.

Ông này hình như không thuộc sử, và nói trước quên sau. Nói như ông thì các phong trào xuống đường biểu tình ở miền Nam do sự xách động của cán bộ nằm vùng là vô dụng sao? Nói như ông thì tại sao khi người dân xuống đường biểu tình chống Tàu cộng làm cho báo chí bên Tàu chúng nó cay cú. Chúng cay cú và hặm hực là phải, bởi vì chúng sợ. Vâng, Tàu cộng không sợ mấy chiếc tàu chiến hay tàu lặn của VN đâu; chúng chỉ sợ người Việt đoàn kết thành một khối và trở thành bất khả xâm phạm.

Cái khối đoàn kết đó đã từng đánh bại Tàu trong quá khứ. Ông Chiến không thuộc sử, nên không nhớ rằng Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Lê Lợi đã từng đập tan quân Tàu lớn hơn VN lúc đó nhiều lần sao? Sở dĩ những bậc tiền nhân đó thắng Tàu là vì họ có sự ủng hộ của dân, và họ quyết chí chống kẻ xâm lược chứ không có “bạn” gì cả. Khi cả một khối dân tộc đoàn kết với nhau thì họ chẳng làm gì được. Tàu cộng có thể không sợ những người đang cầm quyền ở Việt Nam, cũng chẳng mấy quan tâm đến vài chiếc tàu chiến, tàu lặn mà VN thỉnh thoảng đem ra đe nẹt. Nhưng Tàu cộng rất sợ 90 triệu người đoàn kết thành một khối. Tàu cộng cũng rất ngại khi khối người đó đồng thanh cất tiếng tố cáo chúng trên trường quốc tế.

Trên trường quốc tế chỉ có Mĩ là có khả năng làm cho Tàu cộng chùn chân. Do đó, tôi rất đồng tình với tướng Lê Văn Cương khi ông khuyên chính phủ Việt Nam nên liên minh với Mĩ để bảo vệ biển đảo. Tướng Cương nói thẳng rằng “Nga bây giờ cũng đang khốn nạn đừng hi vọng gì ở Nga nữa, lợi ích của họ là tối thượng. Ấn độ thì ốc mang mình ốc chưa nổi nữa thì làm sao? Duy nhất trên hành tinh này chỉ có mình Mĩ thôi. Mở rộng quan hệ hợp tác với Mĩ mở toang cánh cửa ra. Phải tiến tới quan hệ Mĩ Việt mà trên bạn bè dưới liên minh, cứ nói thẳng như thế” (2).

Những nhận xét trên đây cho thấy vấn đề chẳng có gì là “phức tạp lắm”. Hãy gọi thẳng tên kẻ thù là Tàu cộng. Hãy dùng tính từ du côn cho chúng, vì nó đúng với bản chất của chúng. Hãy bật đèn xanh cho người dân bảy tỏ cảm xúc, kể cả xuống đường phản đối bọn lưu manh Tàu cộng. Hãy liên minh với Mĩ, chứ không nên đi hàng hai. Không nên để cho cái gọi là “tình bạn”, cái gọi là ý thức hệ cộng sản (vì Tàu chẳng còn tin và theo chủ nghĩa cộng sản; chúng theo chủ nghĩa chauvin) làm lu mờ phán xét và làm tổn hại đến lợi ích của dân tộc và đất nước.

____

(1) Đại tướng Phạm Văn Trà nói về vụ tàu chiến Trung Quốc đe doạ tàu Việt Nam (DT/ BS).

(2) Hãy chống Trung Quốc bằng sức mạnh ý chí (RFA/ BS).

Phải chăng đây là phép lạ của ĐGH Phanxicô với em bé Gianna ở Philadelphia

nguồn :Vietcatholic.net

Nguyễn Long Thao

ĐGH hôn em bé Gianna Masciantonio

Philadelphia –24/11/2015 Cơ quan truyền thông quốc tế như CNN.com, hệ thống truyền hình ABC, tờ New York Post, và nhiều báo chí và đài truyền hình địa phương ở Hoa Kỳ đã đồng loạt đưa tin ung bướu trong đầu một em bé được Đức Giáo Hoàng Phanxicô ôm hôn đã nhỏ teo lại

Cha mẹ của em bé cho các cơ quan truyền thông biết là con của họ tên Gianna Masciantonio, một tuổi, có ung bướu trong não khi mới sinh ra.

Vào tháng 9 vừa qua, khi Đức Giáo Hoàng Phanxicô đến Philadelphia dự Đại Hội Gia Đình Thế Giới và trên con đường Ngài đi chào đón khách hành hương, thì một nhân viên an ninh đã bế em bé Gianna Masciantonio đến để Đức Giáo Hoàng ôm hôn em bé.

Theo cha mẹ em nói với các cơ quan truyền thông thì sau giây phút ngắn ngủi con của họ được gần gũi Đức Thánh Cha, thì ung bướu trong não em Gianna Masciantonio đã nhỏ teo lại. Họ cho các cơ quan truyền thông xem hình ảnh MRI (Magnetic resonance imaging) chụp não bộ của em vào tháng 8 và hình MRI chụp vào tháng 11.

Hai hình MRI chụp tháng 8 và tháng 11 2015

So sánh hai tấm hình đó, ai cũng thấy ung bướu trong đầu em Gianna Masciantonio đã nhỏ teo lại. Em đã vui vẻ hơn trước nhiều.

Các bác sĩ y khoa không đưa ra lời giải thích nào về hiện tượng ung bướu trong đầu em Gianna Masciantonio teo nhỏ lại. Tuy nhiên gia đình thì tin rằng đó là phép lạ.

PHỎNG VẤN Đức Cha MICAE HOÀNG ĐỨC OANH

PHỎNG VẤN Đức Cha MICAE HOÀNG ĐỨC OANH

Ban mục vụ TTXH Kontum

11/28/2015

Ngày 27/11/2015 vừa qua, Ban Mục Vụ Truyền Thông Xã Hội Giáo phận Kontum có dịp gặp Đức Cha Micae Hoàng Đức Oanh, Giám mục Giáo Phận Kontum, đã được Đức Thánh Cha Phanxicô chập thuận đơn xin nghỉ hưu theo Giáo luật 104,1 từ ngày 07.10.2015.

Sau 12 năm coi sóc Giáo phận Kontum, Đức Cha đã chia sẻ những tâm tư, ước nguyện cũng như những trăn trở và thao thức của mình.

PV: Con xin kính chào Đức Cha! Lời đầu tiên con xin cảm ơn Đức Cha đã dành thời gian cho ban mục vụ truyền thông xã hội của Giáo phận để chia sẻ những tâm tư, tình cảm cũng như những trăn trở, thao thức của Đức Cha trong vai trò Giám mục Giáo phận trong thời gian qua.

PV: Trước hết, Đức Cha có thể chia sẻ cho chúng con những kỉ niệm sâu sắc nhất của Đức Cha trong thời gian làm Giám mục của mình?

Đức Cha: Xin chào cha và anh chị em.

Kỷ niệm thì nhiều. Với tôi, giờ phút này, tôi nhớ tới những người, những sự việc đã xảy ra ở nhiều nơi trong Giáo phận, nhất là ở những vùng sống “3 không” – không nơi thờ phượng, không linh mục, không sinh hoạt tôn giáo bình thường.

PV: Chúng con được biết, Đức Cha là một trong những người rất có hồn tông đồ, hay đúng hơn là lửa tông đồ, vậy trong những năm qua Đức Cha đã quan tâm, ưu tiên đến hoạt động Tông đồ trong Giáo phận như thế nào và điều gì làm cho Đức Cha thật sự hài lòng?

Đức Cha: Tôi đã chọn bậc thang giá trị đời mục vụ và truyền giáo theo thứ tự ưu tiên như sau :

1- Trước nhất là : Đào tạo nhân sự, đặc biệt giới trẻ, từ đó có ơn gọi linh mục tu sĩ thừa sai.

2- Thứ đến : góp phần nâng cao mực sống người dân.

3- Thứ ba là : Xây dựng cơ sở như nhà cửa, nơi thờ tự….

PV: Xin Đức Cha có thể chia sẻ một vài kinh nghiệm Tông đồ của mình cho chúng con.

Đức Cha: Nói về kinh nghiệm sống, tôi nghĩ tới 2 điều :

1- Nghĩ ngay tới Chúa Giêsu 3 Đ : Sinh ngoài đồng, sống ngoài đường, chết ngoài đồi! Tôi cố noi theo Ngài bằng cách đến thăm được càng nhiều anh chị em khắp mọi miền càng tốt! Với tôi : “Đường là nhà, xe là giường, máy bay là khách sạn”. Đến với dân để học làm người với dân : đó là khởi điểm của sứ vụ loan báo Tin Mừng.

2- “Chúa là chủ lích sử”. Ngay cả trên thập giá, Ngài cũng tha thứ và từ nấm mồ, Ngài đã phục sinh. “Chúa luôn viết chữ thẳng trên đường cong!”.

PV: Kết thúc thời gian coi sóc Giáo Phận Kontum trong vai trò Giám mục, bên cạnh những tâm tình về những điều Đức Cha vừa chia sẻ, vậy đâu là những trăn trở, thao thức của Đức Cha về công tác mục vụ của Giáo phận và cần phải quan tâm, ưu tiên hơn nữa?

Đức Cha: Điều tôi ưu tiên quan tâm hiện nay là : Làm sao đem Tin Mừng yêu thương và sự thật đến cho mọi người, cách riêng cho giới trẻ trong xã hội hôm nay? Cho tôi hỏi nhỏ : Anh chị em có thể ngồi viết lách hoặc dễ dàng đọc sách hay suy gẫm giữa nơi ồn áo náo nhiệt không? Tâm trạng tôi lúc này cũng thế!

Này nhé Đất Nước : Nhờ phương diện truyền thông hiện đại, nhiều sự kiện tiếp diễn làm cho những người thiết tha với đồng bào quê hương Việt Nam, KHÔNG THỂ vô cảm. Mật ước Thành Đô, với tôi, vẫn là một thắc mắc và một bận tâm : Nó có thật không? Nhà hữu trách tới nay không một ai lên tiếng? Những người bị ghép cho danh hiệu “phản quốc, bán nước”, không một ai cải chính!? Với những ai tha thiết tới tiền đồ Đất Nước không thể dửng dưng! Nếu đúng như mạng Internet nói, thì quả là khủng khiếp và nguy to! Nếu đúng thì thời điểm 2020 nó lù lù xấn tới nơi rồi! “Người phương bắc đang hiện diện như da beo” khắp nơi trên Đất Việt – từ hàng hoá cho chí con người – phải chăng là những dấu đáng nghi ngại?! Nghĩ đến đó làm sao an tâm chỉ lo cho việc đạo, việc riêng….!!! Mất Nước, mọi chuyện khác hoá ra “nhỏ”và rồi ở với ai, với kiếp nô lệ mới!? Mất nước là mất tất cả! Tôi có bi quan quá không?

Trong bối cảnh đó, tôi nghĩ và tự hỏi : Lớp trẻ – tương lai của Giáo Hội và Xã Hội – đang được hấp thụ một nền giáo dục nào? Một nền giáo dục quá nặng tính vật chất, công khai chống Trời (Thiên Chúa) chống Đất (môi trường sinh thái), một nền giáo dục coi nhẹ lịch sử và nặng tính chính trị phe phái, báo trước một tương lai đen tối cho mọi người cũng như cho tiền đồ Đất Nước. Các anh chị có nghĩ vậy không?

PV: Chúng con ghi nhận tất cả những tâm tình và thao thức của Đức Cha cũng như bao tâm tư của những người mang trong mình ý thức hệ, đều quan tâm, trăn trở với các thế hệ trẻ. Thưa Đức Cha, trải qua một thời gian khá dài trong vai trò Giám mục chánh tòa Giáo Phận Kontum, chắc hẳn Đức Cha có nhiều kinh nghiệm trong việc coi sóc Giáo phận, vậy Đức Cha có muốn chia sẻ một vài điều đối với vị Tân Giám mục, người sẽ kế nhiệm Đức Cha trong thời gian tới?

Đức Cha: Chúa Thánh Thần sẽ nói với Ngài. Khẩu hiệu Giám Mục của Ngài “Caritas in Veritate : Lòng Mến Trong Sự Thật” đã nói quá rõ con đường phục vụ Ngài đã chọn. Chính khẩu hiệu giới thiệu Ngài sẽ là một người mục tử khôn ngoan và hiền lành như lòng Chúa mong muốn vậy! (x. Mt 11, 29)!

PV: Một lần nữa chúng con rất cảm ơn về những chia sẻ thân tình và cởi mở của Đức Cha vừa rồi. Cầu xin Thiên Chúa ban nhiều ơn lành trên Đức Cha. Xin Đức Cha tiếp tục cầu nguyện để Giáo phận chúng ta ngày càng đón nhận nhiều hồng ân Thiên Chúa và mỗi Kitô hữu luôn cảm nghiệm sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời sống của mình./.

BAN MỤC VỤ TTXH

Giáo Phận Kontum thực hiện

Vấn nạn công dân bị chết ở nơi tạm giam, tạm giữ

Vấn nạn công dân bị chết ở nơi tạm giam, tạm giữ

Cái chết oan khuất của ông Trịnh Xuân Tùng trong tình trạng lạm quyền, sử dụng bạo lực thô bạo phổ biến của công an Việt Nam khi làm nhiệm vụ đã làm dư luận trong và ngoài nước phẫn nộ. Ảnh băng rôn của gia đình treo trước tòa.

Cái chết oan khuất của ông Trịnh Xuân Tùng trong tình trạng lạm quyền, sử dụng bạo lực thô bạo phổ biến của công an Việt Nam khi làm nhiệm vụ đã làm dư luận trong và ngoài nước phẫn nộ. Ảnh băng rôn của gia đình treo trước tòa.

Danlambao
 

Vấn nạn công dân bị chết bất thường tại nơi tạm giam, tạm giữ vẫn diễn ra thường xuyên tại Việt Nam.Đâu là nguyên nhân của tình trạng này.

Theo thống kê của bộ công an, trong ba năm (từ 2011- 2014) có khoảng 226 người bị chết bất minh tại nơi bị tạm giam, tạm giữ. Lý do của những cái chết bất minh thường được ngành công an giải thích rằng, nạn nhân chết do tử tự, chết do tập thể dục quá sức… Nhưng những nguyên nhân này không thuyết phục được thân nhân của nạn nhân và dư luận.

Nguyên nhân

Luật sư Nguyễn Văn Đài – người từng là nạn nhân của việc dùng nhục hình, bức cung, mớm cung ở nơi giam, tạm giữ cho rằng, trước đây người dân Việt Nam thường rất sợ hãi khi bị cơ quan an ninh mời, triệu tập đến nơi tạm giam, tạm giữ để hỏi cung. Và khi bị cơ quan an ninh điều tra, thẩm vấn họ thường ngoan ngoãn nghe theo, thậm chí có người còn trả lời theo kiểu ‘mớm cung’ của điều tra viên.

Tuy nhiên khoảng 4 năm lại đây, dưới sự tác động của các trang truyền thông, mạng xã hội, nên trình độ dân trí được nâng cao hơn trước. Do đó, khi bị đưa đến nơi tạm giam, tạm giữ người dân không làm những gì mà các điều tra viên mong muốn. Bởi người dân biết rằng họ không có nghĩa vụ phải khai báo, và yêu cầu điều tra viên đưa ra bằng chứng để kết tội. Điều này làm cho điều tra viên rất tức giận, vì họ đã quen với phong cách làm việc của họ, khi họ thẩm vấn bất kỳ người nào thì người đó phải ngoan ngoan trả lời câu hỏi của họ.

Chính sự tức giận của các điều tra viên đã gây nên cái chết của những người bị tạm giữ, tạm giam, Luật sư Nguyễn Văn Đài nói thêm:

“Họ (các điều tra viên) có những hành động bạo lực để đánh những người bị tạm giam, tạm giữ. Không may trong số viên đó đã đánh vào chỗ hiểm dẫn đến những nạn nhân bị trọng thương và qua đời”.

Chị Trịnh Kim Tiến – con gái của một nạn nhân bị điều tra viên đánh chết trong đồn công an cho rằng, nguyên nhân của những cái chết oan uổng ở nơi tạm giam, tạm giữ là do những điều tra viên muốn giải quyết nhanh sự việc để thăng chức, thói quen suy đoán có tội, bệnh thành tích, và tâm lý khinh thường pháp luật.

Chị Trịnh Kim Tiến nói thêm về nguyên nhân:

Vụ chết người mới nhất trong lúc bị công an Việt Nam tạm giam đã gây ra phẫn uất trong dư luận mấy ngày qua.Nạn nhân Đỗ Đăng Dư (17 tuổi) qua đời với nhiều vết bầm tím trên cơ thể trong khi bị tạm giam ngày 10 tháng 10, 2015
Vụ chết người mới nhất trong lúc bị công an Việt Nam tạm giam đã gây ra phẫn uất trong dư luận mấy ngày qua.Nạn nhân Đỗ Đăng Dư (17 tuổi) qua đời với nhiều vết bầm tím trên cơ thể trong khi bị tạm giam ngày 10 tháng 10, 2015

“Chưa kể đến những sự việc mà họ (điều tra viên) liên quan, họ bị mua chuộc trong đó để gây ra những thương tích và tang thương cho nạn nhân. Và hiện tại công an nắm quá nhiều quyền lực, khi nắm nhiều quyền lực sẽ dẫn đến việc lạm dụng quyền lực”.

Linh mục An Tôn Lê Ngọc Thanh – thuộc dòng Chúa Cứu Thế, một người hoạt động năng nổ trong việc bảo vệ ‘nhân quyền’ cho những công dân Việt Nam cho rằng, nguyên nhân đầu tiên là việc bắt giam người không đúng trình tự pháp luật của cơ quan an ninh điều tra. Vì cơ quan an ninh điều tra luôn tự ý bắt người trái pháp luật, trong khi dân chúng lại không biết pháp luật, nên cơ quan điều tra thỏa thích làm sai mà không sợ dân kiện tụng. Và khi bắt người rồi, cơ quan điều tra lại phải chứng minh rằng mình bắt đúng. Do đó họ sẽ ‘mớm cung’ rồi dùng nhục hình để ép cung nạn nhân.

Linh mục An Tôn Lê Ngọc Thanh nói thêm:

“Nguyên nhân thứ hai là công an có quyền giữ người độc lập quá lâu, và không có cơ quan nào khác giám sát. Từ khi bắt, quyết định khởi tố vụ án cho đến được đưa ra tòa, chỉ có một mình công an vừa giám sát, vừa điều tra, vừa quản lý, và công an làm những gì đối với những người bị tạm giam thì hoàn toàn không ai biết họ có được an toàn hay không? Chính vì vậy, họ có thể dùng các biện pháp nhục hình tra tấn, để mong có được kết quả, thậm chí là kết quả có được từ việc ép cung sau khi sử dụng nhục hình ”.

Cũng theo Linh mục An Tôn Lê Ngọc Thanh, ngoài hai nguyên nhân chính ở trên, việc hệ thống pháp luật Việt Nam (trước đây) chưa công nhận quyền ‘im lặng’ của công dân cũng làm cho tình trạng công dân bị chết ở nơi tạm giam, tạm giữ gia tăng. Và bởi vì Việt Nam vừa mới công nhận quyền ‘im lặng’ cách đây mấy ngày, cho nên vẫn chưa áp dụng được vào thực tế.

Giải pháp

Trước vấn nạn công dân bị chết bất minh ở nơi tạm giam, tạm giữ. Việc tìm giải pháp để hạn chế vấn nạn này đang được rất nhiều người quan tâm. Chị Trịnh Kim Tiến góp ý về việc điều tra với mong muốn không còn ai phải chịu đựng cảnh người thân bị chết bất minh trong đồn công an, chị nói:

Bố nạn nhân đau đớn trước cái chết của con trai, em Tu Ngọc Thạch, 14 tuổi, học sinh lớp 9 Trường trung học phổ thông Lương Thế Vinh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hoà, đã bị công an đánh chết
Bố nạn nhân đau đớn trước cái chết của con trai, em Tu Ngọc Thạch, 14 tuổi, học sinh lớp 9 Trường trung học phổ thông Lương Thế Vinh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hoà, đã bị công an đánh chết

“Điều tra là việc cần thời gian, không thể gấp gáp được, và việc điều tra cần tỉ mỉ, không phải anh cứ tra tấn cho người ta người ta và ép người ta nhận tội là có thể quy kết tội cho người ta được.”

Luật sư Nguyễn Văn Đài đề xuất những giải pháp để giảm tối thiểu vấn nạn công dân bị chết bất minh trong đồn công an, ông nói:

“Thứ nhất, khi một người khi bị tạm giữ, tạm giam thì người thi hành lệnh bắt phải nói rõ cho người bị bắt rằng, anh có quyền im lặng cho đến khi có luật sư. Phải nói rõ cho họ biết họ có quyền gì trước cơ quan điều tra.

Thứ hai, trong quá trình chờ đợi, điều tra viên không được phép tiến hành cuộc thẩm vấn nào cho đến khi có mặt luật sư của họ. Trong tất cả những cuộc hỏi cung, thẩm vấn đều phải có mặt của luật sư.

Thứ ba, trong quá trình thẩm phải được quay phim, thâu âm để đảm bảo tính khách quan.

Thứ tư, khi một người bị đưa đi thẩm vấn, phải đảm bảo có giấy cam kết ký về tình trạng sức khỏe trước khi bàn giao người cho điều tra viên. Và khi trở về thì phải có biên bản hay kiểm tra sức khỏe xem người đó có vấn đề gì hay không?”

Cũng theo Luật sư Nguyễn Văn Đài, đối với những trường hợp chưa nằm trong khung luật tạm giam, tạm giữ, khi nạn nhân ở đồn công an thì rất khó có cơ chế nào bảo vệ họ, bởi chỉ vài giờ làm việc với điều tra viên thì nạn nhân đã tử vong.

Trong những ngày qua, phía chính quyền Việt Nam đã thay đổi rất nhiều luật để hạn chế vấn nạn này như, công nhận quyền ‘im lặng’ của công dân, cho thâu hình và thâu âm khi thẩm vấn, hay việc tách nơi tạm giam, tạm giữ ra khỏi cơ quan điều tra nhưng vẫn thuộc sự quản lý của bộ công an.

Tuy nhiên, theo Linh mục An Tôn Lê Ngọc Thanh, những động thái của chính quyền là chưa đủ, và không cải thiện được được tình trạng bi đát trong các trại tạm giam, tạm giữ. Đặc biệt trong những vụ án bị chính quyền gọi là ‘vi phạm an ninh quốc gia’, thì ngành công an làm việc theo chỉ đạo của đảng và chính phủ. Với những vụ án như vậy, công an có thể xóa sạch những bản thâu của camera, rồi dùng nhục hình để bức cung… để điều tra theo hướng có lợi cho họ, do bộ công an vẫn một mình quản lý tất cả, nên việc này là quá dễ dàng.

Linh mục An Tôn Lê Ngọc Thanh nói tiếp:

“Giải pháp tốt khi tạm giam, tạm giữ là phải giao cho một bộ phận khác, hiện nay bộ phận tương đối có thể là bộ lao động thương binh xã hội, còn nếu không thì giao cho một tổ chức dân sự độc lập quản lý.”

Cuối cùng, Linh mục An Tôn Lê Ngọc Thanh nhấn mạnh rằng, pháp luật phải vì con người, để bảo vệ con người… Tuy nhiên tại Việt Nam, hệ thống giám sát và điều hành pháp luật hiện nay đang có vấn đề. Điều này khiến cho nhiều người dân đang rất hoang mang và lo lắng mỗi khi bị cơ quan điều tra mời lên làm việc. Và điều này đã trực tiếp tạo nên tình trạng rất nguy hiểm cho công dân Việt Nam trên khắp cả nước.

“Đại bác” Tập Cận Bình và họng pháo chĩa vào tàu Việt Nam

“Đại bác” Tập Cận Bình và họng pháo chĩa vào tàu Việt Nam

TTT/ Soha News

Hải Võ

29-11-2015

H1

Hôm 13/11, tàu tiếp tế Hải Đăng 05 của Việt Nam đã bị tàu chiến số 995 của Trung Quốc vây ép và chĩa súng khi đi qua khu vực đá Xu Bi, thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Trung Quốc bị cộng đồng quốc tế công kích chưa từng thấy

Thuyền trưởng tàu Hải Đăng 05 Trần Văn Nga cho biết, khoảng 9h30 sáng 13/11, khi tàu tiếp tế này đi ngang qua bãi đá Xu Bi (bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép-PV) khoảng 12 hải lý thì Trung Quốc điều một tàu nhỏ ra đuổi.

Đến khoảng 11h cùng ngày, hai tàu hải cảnh số hiệu 2305 và 35115 của Trung Quốc xuất hiện và tổ chức vây ép từ mũi và đuôi tàu Việt Nam.

Trao đổi với chúng tôi, chuyên gia Kiều Tỉnh – nguyên Trưởng phân xã TTXVN tại Bắc Kinh và Hồng Kông – chỉ ra, vụ việc diễn ra trong thời điểm chỉ 1 tuần sau chuyến thăm Việt Nam, Singapore của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (5-7/11) và trước thềm các hội nghị cấp cao ở Đông Nam Á từ 18/11.

Ông Kiều Tỉnh phân tích: “Vừa rời Việt Nam ngày 6/11 thì ngày 7/11 ông Tập Cận Bình tuyên bố ở Singapore rằng ‘các đảo ở Biển Đông là lãnh thổ của Trung Quốc từ thời cổ đại, và chính phủ Trung Quốc phải nhận trách nhiệm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và các lợi ích hàng hải hợp pháp’.

Sau đó, từ 12 đến 14/11 thì Trung Quốc cho hàng trăm tàu cá ra vây 5 tàu cá Việt Nam, phá nát hơn 40 tấm lưới ở vùng biển Vịnh Bắc Bộ. Vụ tàu Trung Quốc vây ép và chĩa súng vào tàu tiếp tế Việt Nam cũng xảy ra trong thời gian này.

Trung Quốc ngụy biện đây là vùng biển ‘mập mờ, không rõ’ nên khó tránh va chạm đáng tiếc. Nhưng thực tế, đây là hành động có ý đồ, có hệ thống và vẫn diễn ra thường xuyên, tuân theo chiến lược chung của Bắc Kinh tại biển Đông.”

Trước đó, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Trường – Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Phát triển Quan hệ Quốc tế (CSSD) – cho rằng tuyên bố trên của ông Tập “là luận điểm quan trọng nhất mà Trung Quốc sử dụng”.

Theo ông Trường, bối cảnh cộng đồng quốc tế chống lại sự bành trướng của Trung Quốc trong khu vực đã khiến đích thân người đứng đầu nhà nước Trung Quốc phải nhiều lần nhắc lại luận điệu vô căn cứ này trong thời gian qua.

“Trung Quốc đã phải dùng đến ‘đại bác’ (Tập Cận Bình-PV) để củng cố những lập luận sai trái của mình trước đây,” Tiến sĩ Trường đánh giá về phát ngôn của ông Tập tại Singapore hôm 7/11.

Quan trọng hơn, chuyên gia Kiều Tỉnh nhận định trong bối cảnh quốc tế thời gian qua, nhất là trước Hội nghị thượng đỉnh APEC (18-19/11) tại Philippines, Bắc Kinh đã phải tìm cách thỏa thuận để vấn đề biển Đông không lên bàn nghị sự.

“Nước chủ nhà APEC Philippines thỏa thuận với Trung Quốc không nêu vấn đề biển Đông trong chương trình nghị sự, nhưng rất nhiều nước đều nêu vấn đề này. Điều này khiến ông Tập Cận Bình bị cô lập và khó chịu.

Ngoài ra, khi đoàn Việt Nam sang tham dự hội nghị APEC tại Manila, ta và Philippines đã ký văn kiện nâng tầm quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện.”

Ông nói thêm: “Còn hội nghị cấp cao Đông Á (EAS) diễn ra sau đó tại Malaysia mà Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đi dự được truyền thông quốc tế bình luận là thắng lợi lớn của ASEAN.

Lý do bởi lần đầu tiên trong khuôn khổ hội nghị này, Trung Quốc đã bị tất cả các lãnh đạo châu Á-Thái Bình Dương công kích về vấn đề biển Đông.

Trong đó, Bắc Kinh bị chỉ trích về việc không tuân thủ luật pháp quốc tế, làm ảnh hưởng đến tự do hàng hải trên biển Đông.”

Tham gia các hội nghị cấp cao khu vực này, Mỹ và đồng minh thân cận đều tuyên bố “mạnh tay” hỗ trợ các nước Đông Nam Á.

Nhà Trắng cho biết Mỹ sẽ hỗ trợ 119 triệu USD để giúp ASEAN tăng cường an ninh trên biển trong năm tài chính 2015 và thêm 140 triệu USD trong 12 tháng tới. Mỹ cũng tái khởi động hoạt động tuần tra trên biển Đông.

H1

Bắc Kinh “ngôn hành bất nhất” chẳng có gì lạ

Trong bối cảnh Bắc Kinh bị cô lập bởi cộng đồng quốc tế châu Á-Thái Bình Dương về vấn đề biển Đông mà “đại bác” Tập Cận Bình đã phải “mở loa”, sự kết hợp của quân đội nước này bằng các “họng pháo thật” uy hiếp, đe dọa sai trái tàu thuyền láng giềng trên biển Đông không khó giải thích.

Ông Kiều Tỉnh đánh giá trong bối cảnh như vậy, có thể lý giải được động cơ hành động ngang ngược, phi pháp những ngày qua của Trung Quốc, bên cạnh ý đồ lớn của Bắc Kinh.

Ông cho biết: “Trước sự cô lập của cộng đồng quốc tế, tuyên bố mạnh miệng của Thứ trưởng ngoại giao Trung Quốc Lưu Chấn Dân tại EAS bao biện cho các hành động trái phép trên biển Đông cũng chỉ để có lệ và ‘nhai lại’ luận điệu cũ.”

“Chính quyền Trung Quốc có quyền và khả năng giành lại những quần đảo, rạn san hô bị các nước láng giềng chiếm đóng trái phép. Nhưng chúng tôi không làm như vậy. Chúng tôi đã kiềm chế rất nhiều vì mục đích duy trì hòa bình và ổn định ở biển Đông,” Lưu Chấn Dân lớn tiếng tại EAS.

“Phản ứng này không có gì đặc biệt hay mới mẻ, chủ yếu nhằm phát đi thông điệp thách thức rằng ‘Trung Quốc làm gì thì vẫn sẽ tiếp tục làm’,” ông Kiều Tỉnh nhận xét.

Bên cạnh đó, theo chuyên gia Kiều Tỉnh, một vấn đề nữa cũng khiến Bắc Kinh bất mãn trong thời gian qua là việc đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) đã bị “tụt hậu” trước Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Trường cũng cho rằng việc Trung Quốc hành động trái với những tuyên bố hữu hảo với Việt Nam như vụ chĩa súng vào tàu tiếp tế hôm 13/11 không còn là điều lạ lẫm.

Theo ông Trường: “Trước sau gì Trung Quốc cũng gây hấn và tìm cách chiếm những con đường biển giao thông, tiếp tế của ta. Điều này đã nằm trong ý đồ của Bắc Kinh và họ sẽ tiếp tục nếu không có sức ép từ cộng đồng quốc tế để ngăn chặn.”

Ông Kiều Tỉnh bổ sung: “Từ trước đến nay Trung Quốc vẫn hành động kiểu ‘ngôn hành bất nhất’ như vậy và chính truyền thông của họ cũng quan ngại về điều này.

Trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, ngày 15/10/2011, hai bên đã thỏa thuận 6 điểm về Biển Đông thì tới tháng 6/2012, Trung Quốc đã bất chấp thỏa thuận, tiến hành thăm dò dầu khí trên thềm lục địa của Việt Nam.

Cũng như vậy, hai bên đã thỏa thuận 3 biện pháp tăng cường hợp tác trên biển khi ông Lý Khắc Cường thăm Việt Nam tháng 10/2013, nhưng chưa được bao lâu thì tháng 5/2014, Trung Quốc đưa giàn khoan Hải dương 981 vào tác nghiệp trái phép ngay trong thềm lục địa của Việt Nam.”

Bầu cử ở Myanmar và những bài học cho Việt nam

Bầu cử ở Myanmar và những bài học cho Việt nam

Trước nhiều chỉ dấu cho thấy, chính quyền Hà nội đang có một số động thái sẽ nới rộng và đưa nền chính trị Việt nam xích gần lại các giá trị tiến bộ của thế giới hơn. Điều đó cho thấy, việc cải cách chính trị ở Myanmar, đưa đất nước này thoát ra khỏi chế độ độc tài quân sự để bước sang một nền chính trị đa nguyên, theo những tiêu chí của văn minh nhân loại là một bài học có giá trị rất lớn cho sự thay đổi tất yếu tại Việt nam trong thời gian tới.

Cụ thể, theo RFA cho biết, Luật sư Vũ Đức Khanh, hiện sống và làm việc ở Canada nói rằng ông nhận được điện thoại từ một lãnh đạo rất cao cấp của Đảng CSVN, đề nghị cho biết ý kiến về tiến trình dân chủ tại Miến Điện sau khi đảng đối lập thắng lớn. Không chỉ thế Luật sư Vũ Đức Khanh còn cho biết thêm là cuối buổi nói chuyện, vị lãnh đạo Việt Nam nói với ông rằng, ông hy vọng một ngày không xa luật sư Vũ Đức Khanh có thể ra tranh cử tại Việt Nam.

Ủy ban Bầu cử quốc gia của Myanmar đã chính thức công bố kết quả cuộc bầu cử mang tính lịch sử ngày 8/11/2015, đây là một cuộc bầu cử Quốc hội được đánh giá rằng tự do, dân chủ nhất trong lịch sử chính trị của Myanmar. Theo đó, đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (NLD) của bà Aung San Suu Kyi đã giành thắng lợi với 393 ghế trên tổng số 491 ghế, trong lúc đảng cầm quyền Liên minh Đoàn kết Phát triển (USDP) chỉ chiếm được 40 ghế. Theo dự kiến, việc chuyển giao quyền lực ở Myanmar sẽ hoàn tất vào tháng 4/2016, kể từ đó chính phủ mới của bà Aung San Suu Kyi sẽ chính thức nắm quyền lãnh đạo đất nước. Và người ta hy vọng lịch sử Myanmar sẽ bước sang một chương mới, kỷ nguyên của tự do, dan chủ và phát triển. Tuy nhiên trước mắt đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (NLD) của bà Aung San Suu Kyi còn những thách thức không nhỏ.

Sửa đổi Hiến pháp 2008 không dễ

Mục tiêu của NLD cũng như các đảng phái khác, cũng như của các nhóm sắc tộc tuyên bố trong thời gian vận động bầu cử là, họ sẽ tiến hành sửa đổi Hiến pháp Myanmar năm 2008, mà họ cho rằng chưa thực sự mang tính chất dân chủ. Như việc quy định để không cho phép bà Aung San Suu Kyi giữ chức vụ Tổng thống, hay quy định về quyền của các nhóm sắc tộc ở các vùng hiện đang thuộc quyền kiểm soát của họ v.v… là những nội dung cần được sửa đổi. Nếu căn cứ vào nội dung thỏa thuận ngưng bắn giữa chính quyền Myanmar và các các nhóm sắc tộc, có ghi rõ việc ngừng bắn dựa trên nền tảng một Hiến pháp Myanmar trong đó có các cam kết tôn trọng quyền tự trị (ban hành một số luật trong vùng của mình) ở một mức độ nhất định của các nhóm sắc tộc. Thì đây cũng là một lối thoát, có thể buộc phe quân đội ủng hộ cho việc sửa đổi Hiến pháp Myanmar năm 2008.

Theo các nhà phân tích chính trị Myanmar đều thấy rằng, việc sửa đổi Hiến pháp Myanmar năm 2008 là một việc hết sức khó khăn. Vì theo quy định, Hiến pháp Myanmar chỉ được sửa đổi khi có sự đồng thuận của trên 75% tổng số dân biểu, trong lúc theo quy định số ghế của quân đội trong cơ quan lập pháp đã là 25% . Trong lúc số ghế trong Quốc hội của đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (NLD) của bà Aung San Suu Kyi cũng chưa đạt đến mức 75%.

Do vậy, việc bà Aung San Suu Kyi sẽ nắm chức vụ Tổng thống Myanmar là một điều hầu như không thể và cũng hết sức khó khăn nếu như chính phủ mới không tiến hành được việc sửa đổi Hiến pháp Myanmar năm 2008. Tuy nhiên, việc sửa đổi Hiến pháp Myanmar năm 2008 còn là mong muốn của các nhóm sắc tộc ở Myanmar hiện nay, do đó nếu đảng NLD của bà Aung San Suu Kyi biết liên kết với các nhóm sắc tộc và giành được sự đồng thuận của quân đội, thì việc này vẫn có thể xảy ra.

NLD phải làm gì để tồn tại?

Đến nay, việc xác định ai sẽ là Tổng thống mới của Myanmar vẫn chưa có câu trả lời. Chỉ biết rằng gần đây, bà Aung San Suu Kyi đã tuyên bố rõ ràng rằng, nếu Đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ giành thắng lợi và nắm quyền lãnh đạo nhà nước thì bà sẽ nắm vai trò người lãnh đạo tối cao, trên cả Tổng thống Myanmar. Nhiều nguồn tin cho rằng, bà Aung San Suu Kyi sẽ nắm giữ chức Chủ tịch Quốc hội Myanmar theo thỏa thuận với các lãnh đạo Hội đồng An ninh Quốc gia.

Việc sửa đổi Hiến pháp Myanmar năm 2008 chắc chắn phải nhận được sự đồng tình của phe quân đội thì mới có thể tiến hành được. Do vậy, một gánh nặng được đặt lên vai của bà Aung San Suu Kyi là phải xử sự thế nào để giành được sự đồng thuận từ phe quân đội.

Tuy nhiên, việc thành lập chính phủ của đảng NLD sẽ không dễ dàng và thuận buồm xuôi gió, khi mà phe quân đội Myanmar vẫn nắm vai trò chủ đạo theo quy định của Hiến pháp Myanmar năm 2008. Theo đó, số ghế của quân đội trong cơ quan lập pháp là 25% theo quy định; cũng như các vị trị Bộ trưởng các bộ quan trọng như Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ và Bộ An ninh Biên giới phải do các tướng lĩnh Quân đội nắm giữ; hay cơ quan tối cao là Hội đồng An ninh Quốc gia Myanmar sẽ có 11 thành viên, trong đó 6 nhân vật là tướng lĩnh quân đội được chỉ định và 5 vị trí còn là do dân cử. Điều đó cho thấy quân đội Myanmar vẫn giữ một vai trò quan trọng trong chính trường của Myanmar. Nghĩa là con tàu Myanmar do đảng NLD của bà Aung San Suu Kyi lãnh đạo là người cầm lái sẽ gặp không ít sóng gió từ phe quân đội, một khi chính sách của NLD tỏ ra trái ý và có nguy cơ mang lại những bất lợi cho họ. Kể cả đánh đắm “con thuyền” này.

Tiến trình dân chủ hóa ở Myanmar hiện nay khó có thể đảo ngược, vì kết quả bầu cử vừa qua ở Myanmar đã cho thấy đã số cử tri Myanmar đã nói không với sự nắm quyền của quân đội và họ đã dồn toàn bộ sự ủng hộ cho đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (NLD) của bà Aung San Suu Kyi. Tuy vậy, việc cử tri Myanmar dồn toàn bộ sự ủng hộ cho đảng NLD, hoàn toàn không phải vì tất cả đều ủng hộ đảng của bà Aung San Suu Kyi, mà vì họ đã chán ghét chính quyền độc tài quân nhân Myanmar đã cai trị trong hơn 50 năm qua ở đất nước này nhưng không còn lựa chọn nào tốt hơn.

Gác lại quá khứ, nhìn về tương lai là nhiệm vụ của đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (NLD) của bà Aung San Suu Kyi sau khi nhận chuyển giao quyền lực. Điều đó cho thấy, chính phủ mới của bà Aung San Suu Kyi sẽ không thể có các chính sách nhằm “trả thù” chính quyền quân sự về những việc làm trong quá khứ. Mà quan trọng nhất là đảng NLD phải khôn khéo, biết dựa vào ảnh hưởng của phe quân đội để tiến hành các cải cách và quan trọng nhất là phải kéo dài thời gian cầm quyền của mình.

Bài học cho Việt nam

Kết quả bầu cử vừa qua ở Myanmar là kết quả mà phe quân sự không thể ngờ tới, vì trước ngày bầu cử họ vẫn công bố các kết quả điều tra xã hội học, mà theo đó cho thấy họ (đảng USDP) đã nhận được sự ủng hộ của dân chúng tới 60%, thậm chí có nơi là 80%. Lúc ấy, dư luận cho rằng vài tháng trước bầu cử đảng đảng cầm quyền Liên minh Đoàn kết Phát triển (USDP) đã lợi dụng danh nghĩa của chính quyền, để tiến hành các chính sách an sinh xã hội như: cho dân chúng vay một khoản tín dụng, thậm chi là chia tiền. Tuy vậy kết quả cuối cùng thì họ vẫn thất bại.

Kết quả này càng làm cho người ta hy vọng rằng, tiến trình dân chủ hóa ở Myanmar sẽ thu được những kết quả đáng khích lệ, tạo cơ sở cho sự chuyển mình của đất nước Myanmar sau hơn 50 năm được cai trị bởi tập đoàn quân sự. Dù rằng, sự so sánh giữa phong trào đấu tranh dân chủ ở Việt nam với Myanmar còn quá khập khiễng, vì sự khác nhau cơ bản về đẳng cấp và bài bản. Trong bài viết này, xin sẽ bỏ qua việc phân tích các nhược điểm cũng như sự tồn tại của lực lượng đấu tranh cho dân chủ ở VN, để đưa ra 03 bài học sau:

1. Sự thay đổi nhận thức của lãnh đạo

Đây là vấn đề quan trọng và mang ý nghĩa quyết định nhất, nếu không có sự thay đổi về nhận thức của ban lãnh đạo đương quyền thì tiến trình dân chủ hóa sẽ khó có thể xảy ra vì nó sẽ gặp phải muôn vàn các trở ngại từ phía chính quyền. Tuy vậy, sự thay đổi nhận thức của lãnh đạo cũng phải xuất phát trên nền tảng đòi hỏi cải cách chính trị của người dân. Như lời của ông Thein Sein, Thủ tướng Manmar nói với báo giới rằng “Đơn giản là chúng tôi chỉ đáp ứng mong muốn cải cách của người dân. Do vậy tương lai của (đất nước) chúng tôi phụ thuộc vào người dân và nguyện ước của họ”

Bài học các cuộc biểu tình phản đối sự quản lý kinh tế yếu kém và sự áp bức chính trị xảy ra vào năm 1988, mà đỉnh cao là việc quân đội Myanmar đã nổ súng vào những người biểu tình ngày 8 tháng 8 năm 1988. Máu đã đổ và biết bao nhiêu người đã ngã xuống, song cuộc biểu tình năm 1988 đã đẩy đất nước Myanmar tới bờ vực của một cuộc cách mạng. Để đối phó, các tướng lĩnh Manmar đã tiến hành một cuộc đảo chính nhằm để xoa dịu dân chúng. Và sau đó Myanmar quay trở lại quốc hiệu Liên bang Myanmar –  Union of Myanmar. Tuy vậy, cuộc cách mạng 2008 cũng đã dọn đường cho cuộc bầu cử Quốc hội Nhân dân năm 1990 với kết quả Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ – NLD của bà Aung San Suu Kyi lãnh đạo, thắng hơn 60% số phiếu và 80% ghế trong quốc hội trong cuộc bầu cử 1990. Đây là một cuộc bầu cử đầu tiên được tổ chức trong 30 năm dưới sự cầm quyền của chính phủ quân sự. Và tuy rằng kết quả của cuộc bẩu cử này sau đó đã bị chính quyền bác bỏ. Nhưng đã cho thấy rằng đòi hỏi cải cách chính trị của đông đảo người dân là yếu tố hết sức quan trọng. Điều này ở Việt nam mới ở mức nhen nhóm.

Như vây cho thấy, sự thay đổi nhận thức của lãnh đạo các chính quyền độc tài chỉ xuất hiện khi họ phải đối mặt với sức ép, cũng như sự thách thức của dư luận xã hội và sức ép của các tổ chức chính trị đối lập ở một mức độ cao, buộc họ phải chấp nhận sự thay đổi các chính sách về hệ thống chính trị. Đây là điều hiện còn thiếu ở Việt nam.

2. Chuyển đổi trong trật tự trên tinh thần xây dựng

Lịch sử chính trị thế giới trong những năm gần đây cho thấy, đa số các cuộc cách mạng nhằm chuyển đổi thể chế chính trị từ độc tài sang dân chủ luôn bị ảnh hưởng của bạo lực và xung đột vũ trang, không chỉ từ phía nhà cầm quyền mà còn xảy ra giữa các lực lượng làm cách mạng với nhau. Từ đó diễn ra tình trạng nội chiến và xung đột kéo dài không có hồi kết. Đây là nguy cơ trầm trọng và là sự thất bại, khi người ta đánh đổi sự độc tài bằng một cuộc nội chiến.

Ở Myanmar đã tiến hành chuyển đổi thành công trong trật tự và hòa bình, cho dù hiện nay ở Myanmar vẫn tồn tại tới 23 nhóm vũ trang của các sắc tộc ít người, đang hoạt động ở vùng rừng núi, cũng như việc Myanmar đã chịu sự nắm quyền của tập đoàn độc tài quân sự trong thời gian hơn 50 năm. Song các giá trị về dân chủ và khát vọng của người dân về một nền chính trị tiến bộ vẫn không hề bị dập tắt, bất chấp sự đàn áp không thương tiếc của nhà cầm quyền quân sự.

Bên cạnh cuộc đấu tranh vũ trang của các lực lượng phiến quân thì cuộc đấu tranh bất bạo động vẫn tồn tại, phát triển và giành được các kết quả ngoạn mục. Đó là cuộc đấu tranh không khoan nhượng, dựa trên nền tảng hòa hợp để xây dựng và phát triển của phong trào đấu tranh dân chủ ở Myanmar. Có những lúc một số đông sinh viên Myanmar, bị đàn áp đã không lựa chọn con đường định cư ở quốc gia thứ 3, mà họ lựa chọn tỵ nan tại Thái lan để tiếp tục tranh đấu với hy vọng cho sự chuyển biến chính trị cho Myanmar.

Đây có lẽ là điều khác hoàn toàn với phong trào tranh đấu cho dân chủ ở Việt nam, khi mà đến lúc này nhiều người chưa thấy ở họ một chủ trương cụ thể: đấu tranh để buộc nhà cầm quyền chuyển đổi hay đấu tranh để lật đổ chế độ hiện tại?

3. Hóa giải mối quan hệ với Trung quốc

Các nhà phân tích chính trị quốc tế đề có một nhận xét chung rằng, sự thay đổi chính trị ở Myanmar sẽ khó xảy ra, nếu ảnh hưởng và sự ủng hộ từ Trung Quốc vẫn tồn tại. Tuy vậy ban lãnh đạo của chính quyền quân sự Myanmar đã chuyển đổi chính sách đối ngoại, từ chính sách đóng cửa và dựa hẳn vào Trung quốc sang chính sách quan hệ hữu nghị với tất cả các nước trên thế giới đặc biệt với các nước láng giềng, khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm lược nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi. Đặc biệt là cở mở hơn với phương Tây, tuy nhiên mối quan hệ với Trung quốc vẫn được họ xử lý một cách khéo léo và hài hòa.

Chủ trương của chính quyền Hà nội đến nay đối với Trung quốc hiện nay cũng đã rõ ràng hơn, cho dù chỉ là ở mức khiêm tốn, song cũng cho thấy sự thao túng của Trung quốc vào nền chính trị Việt nam cũng chỉ ở mức độ, mà không có tình trạng làm mưa làm gió như trước đây. Đặc biệt là thái độ cứng rắn và cương quyết hơn của ông Nguyễn Tấn Dũng, người được đồn đoán rằng sẽ nắm chức vụ cao nhất của Đảng CSVN trong năm 2016. Đây cũng là một tiền đề cần thiết cho sự chuyển đổi chính trị ở Việt nam nếu có trong tương lai.

Kết

Hiện nay ở Việt nam cho dù chưa có một khảo sát xã hội học nào khẳng định tỷ lệ % người dân ủng hộ Đảng CSVN là bao nhiêu? Song có ý kiến  cho rằng sự ủng hộ đó ít nhất sẽ trên 50 %. Tuy vậy, sự chần chừ trong việc cải cách chính trị của ban lãnh đạo Việt nam cho thấy, nhận xét đó ít có khả năng thuyết phục. Vì nếu như sự ủng hộ của dân chúng cho Đrng CSVN ở mức như vậy thì lý do nào khiến họ không dám cải cách chính trị? Hay là họ biết rằng sự ủng hộ của dân chúng ở Việt nam cũng sẽ theo như kết quả bầu cử ở Myanmar vừa qua?

Dù sao đi chăng nữa, tiến trình dân chủ hóa ở Việt nam là con đường tất yếu và đúng đắn. Nhất là trong lúc nền kinh tế Việt nam đang chao đảo bởi nợ nần, do sự hoạt động kém hiệu quả của các doang nghiệp nhà nước và sự quản lý yếu kém. Trong lúc xã hội bát nháo, các quan chức nhà nước ngày một lộng hành trong việc bắt nạt dân, cũng do hậu quả của một hệ thống luật pháp không nghiêm minh, công lý không được tôn trọng thì việc cải cách chính trị để chuyển đổi từ nền chính trị độc tài một đảng sang đa nguyên dân chủ là việc làm hết sức cần thiết. Nó cũng là giải pháp nhằm tháo ngòi nổ cho quả “bom”, khi mà mọi áp lực xã hội và sự bất mãn của dân chúng ngày càng tăng cao.

Đổi mới thể chế chính trị, xóa bỏ độc tài chuyên chế theo mô hình nhà nước XHCN của chủ nghĩa Marx – Lenin để tiến tới một nền chính trị dân chủ, tự do như hầu hết các quốc gia trên thế giới đã theo đuổi và đạt được những thành tựu to lớn. Nền chính trị dân chủ thực chất là sự tôn trọng và coi quyền lực nhà nước phải thuộc về nhân dân, và phải do nhân dân quyết định và lựa chọn. Trong nhiều chục năm trở lại đây, Đảng CSVN đã đưa đất nước đi từ hết sai lầm này đến sai lầm khác. Và đến nay Việt nam đã chính thức tụt hâu với thế giới và khu vực, kể cả Lào, Campuchia… cũng đã vượt chúng ta. Do vậy, Đảng CSVN không còn bất kể lý do gì để bám chặt vào quyền lực một cách độc tôn như hiện nay.

Ngày 28/11/2015

© Kami

Bảo vệ Quyền Trẻ em: kết án nặng hơn người lớn

Bảo vệ Quyền Trẻ em: kết án nặng hơn người lớn

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2015-11-27

Em Nguyễn Mai Trung Tuấn 15 tuổi bị một tòa án huyện ở Long An hôm 24/11/2015 kết án sơ thẩm 4 năm 6 tháng tù- Người tù dân oan trẻ tuổi nhất Việt Nam

Danlambao

Khác với sự thương cảm và phẫn nộ của mạng xã hội, báo chí thuộc hệ thống chính thức đưa tin khá đơn giản về vụ thiếu niên Nguyễn Mai Trung Tuấn 15 tuổi bị một tòa án huyện ở Long An hôm 24/11/2015 kết án sơ thẩm 4 năm 6 tháng tù vì tạt a xít chống cán bộ cưỡng chế đất. Bố mẹ em Tuấn dù cũng đang ngồi tù sẽ phải thay em bồi thường 42 triệu 600 ngàn đồng cho ông  Nguyễn Văn Thủy Trưởng công an xã bị phỏng.

Phán quyết quá nặng cho thiếu niên

Các báo Pháp Luật Thành phố Online, Người Lao Động Online khi đưa tin vụ xử án hiếm có này, đã bỏ qua các chi tiết quan trọng mà Luật sư Nguyễn Văn Miếng thuộc Đoàn Luật sư TP.HCM trình bày trước tòa để bảo vệ em Nguyễn Mai Trung Tuấn.

Nhận định về vấn đề thực thi công lý mà giới luật gia cho rằng rất thiếu sót trong vụ xử em Nguyễn Mai Trung Tuấn, LS Trần Thu Nam hiện sống và làm việc ở Hà Nội cho rằng, trẻ em vị thành niên mà đưa ra một án nặng như thế sẽ có nhiều tác động đến tâm lý của trẻ em, tác động đến dư luận xã hội, đề ra một vấn đề là tại sao một đứa trẻ như thế lại phải chịu một mức án rất là cao…nguyên nhân lý do làm sao mà một đứa trẻ thực hiện hành vi, có phạm tội hay không phạm tội thì phải chứng minh.

Tuy không trực tiếp tham gia hồ sơ vụ án của em Tuấn nhưng LS Trần Thu Nam qua trao đổi với  LS Nguyễn Văn Miếng người bào chữa cho em Tuấn, ghi nhận rằng trong quá trình bào chữa cho em Tuấn đã có nhiều vấn đề, như đề nghị triệu tập người giám định đến phiên tòa nhưng không được đáp ứng. cũng như một số thủ tục khác không được đầy đủ. Cho nên việc ra một phán quyết với một đưa trẻ như thế thì cần phải xem xét. LS Trần Thu Nam nhấn mạnh:

“ Việt Nam tham gia Công ước về quyền của trẻ em, thế thì việc bảo vệ ở đây đã được đặt ra hay chưa mà tại sao lại đưa ra một phán quyết nặng như vậy. Có nhất thiết phải phán quyết nặng đến thế không vì nó làm ảnh hưởng tới tương lai của đứa trẻ, ảnh hưởng tới tự do cũng như học tập

LS Trần Thu Nam”

“ Việt Nam tham gia Công ước về quyền của trẻ em, thế thì việc bảo vệ ở đây đã được đặt ra hay chưa mà tại sao lại đưa ra một phán quyết nặng như vậy. Có nhất thiết phải phán quyết nặng đến thế không vì nó làm ảnh hưởng tới tương lai của đứa trẻ, ảnh hưởng tới tự do cũng như học tập, tất cả những vấn đề đó chúng ta cần phải cân nhắc cho kỹ .”

Đây là lần đầu tiên một trẻ vị thành niên ở Việt Nam bị kết án nặng hơn cha mẹ mình 1 năm, khi gia đình này chống đối đoàn cưỡng chế đất bằng bom xăng và a xít vào ngày 14/4/2015. Bản án ngày 24/11 dành cho em Tuấn là án sơ thẩm khi em ra tòa một mình về tội cố ý gây thương tích. Ngày 25/11/2015 Tòa án Tỉnh Long An xử chung thẩm đã y án bà Mai Thị Kim Hương mẹ em Tuấn bị 3 năm 6 tháng tù và ông Nguyễn Trung Can bị 3 năm tù. Hai ông bà ở trong số 12 người đã bị bắt và ra tòa sơ thẩm ngày 15 và 16/9/2015 vừa qua. Lúc đầu em Nguyễn Mai Trung Tuấn được nhà ngoại bảo lãnh cho về nhà. Tuy vậy Tuấn sau này đã bị bắt ở Bình Thuận theo lệnh truy nã và ra tòa Thạnh Hóa Long An hôm 24/11/2015.

Đền bù đất đai theo kiểu ăn cướp

Câu chuyện của em Nguyễn Mai Trung Tuấn và 12 người khác trong vụ chống đối cưỡng chế đất xảy ra ngày 14/4/2015 ở Thị trấn Thạnh Hóa Long An là câu chuyện chung của hàng chục ngàn dân oan mất đất ở Việt Nam. TS Phạm Chí Dũng, Chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập một tổ chức xã hội dân sự nằm ngoài sự kiểm soát của Chính phủ, nhận định:

Gia đình dân oan Mai Thị Kim Hương – Nguyễn Trung Can cùng hai con là Nguyễn Mai Trung Tuấn, Nguyễn Mai Thảo Vy bên căn lều tạm bợ

Gia đình dân oan Mai Thị Kim Hương – Nguyễn Trung Can cùng hai con là Nguyễn Mai Trung Tuấn, Nguyễn Mai Thảo Vy bên căn lều tạm bợ

“ Gốc của vấn đề nằm ở Hiến pháp, quyền sở hữu đất đai là thuộc toàn dân có nghĩa là thuộc nhà nước mà không có quyền sở hữu tư nhân về đất đai. Một khi thuộc về toàn dân thuộc về nhà nước cũng có nghĩa thuộc về những tập đoàn những nhóm lợi ích hiện nay. Những nhóm lợi ích kinh tế lại móc xích với nhóm lợi ích chính trị và hai bên cùng ra chính sách để đền bù với giá rẻ mạt và sau đó bán ra thị trường với giá cao ngất có thể lên tới hàng chục lần hàng trăm lần. Tình hình Việt Nam cũng như ở Trung Quốc là đền bù đất đai rẻ mạt và gần như là cướp đất không của người dân.”

Báo chí chính thức cho biết vụ chống cưỡng chế ở Thạnh Hóa Long An là chống lại dự án giải tỏa đất để làm đê bao chống lũ. Gia đình em Nguyễn Mai Trung Tuấn, từng giải thích là chống cưỡng chế vì tiền đền bù quá thấp chỉ 300.000 đồng/m2 trong khi chính quyền bán đất tái định cư ở khu vực liền kề với giá 25 triệu/m2. TS Phạm Chí Dũng nhận định về trường hợp này:

“ Theo tôi biết thì đối với bất kỳ loại đất nào và sử dụng cho mục đích gì thì nguyên tắc cũng phải là ngang giá thị trường khi đền bù. Chứ không thể lạm dụng lợi dụng chuyện các công trình công ích mà có thể đền bù thấp được. Cho nên việc này tôi cho là chính quyền địa phương ở Long An, cũng giống như chính quyền nhiều địa phương khác lợi dụng chính sách làm dự án công ích để đền bù với giá rất thấp. Nhưng mà cũng có rất nhiều trường hợp là những dự án công ích sau khi bị đền bù với giá thấp thì bị xẻ ra một phần làm công ích thôi. Có thể 60%-70% làm công ích trong khi đó sử dụng diện tích còn lại 30% tới 40% làm đất kinh doanh mà đất kinh doanh bán không hề rẻ một chút nào, có thể ngay ngày hôm sau người ta đến mua với giá cao hơn gấp 10 lần hoặc 20 lần như vậy. Thành thử ở đây là một sự lạm dụng và lợi dụng.”

“ Những nhóm lợi ích kinh tế lại móc xích với nhóm lợi ích chính trị và hai bên cùng ra chính sách để đền bù với giá rẻ mạt và sau đó bán ra thị trường với giá cao ngất có thể lên tới hàng chục lần hàng trăm lần. Tình hình Việt Nam cũng như ở Trung Quốc là đền bù đất đai rẻ mạt và gần như là cướp đất không của người dân

TS Phạm Chí Dũng”

Trở lại tình tiết vụ cưỡng chế ngày 14/4/2015, Pháp Luật Thành Phố Online dẫn hồ sơ cáo trạng mô tả là vào ngày 14/4/2015 khi đoàn cưỡng chế tiến vào khu vực ba gia đình bị cưỡng chế gồm các hộ Nguyễn Trung Can, Nguyễn Thị Nhanh và Nguyễn Trung Tài ở thị trấn Thạnh Hóa Long An thì bị các gia đình này phản kháng chống đối, hất a xít vào cán bộ. Các báo cũng nói tới việc ném bom xăng nhưng không có một chi tiết nào mô tả việc này. Em Nguyễn Mai Trung Tuấn bị cáo buộc đã hất ca a xít làm bị thương ông Nguyễn Văn Thủy trưởng công an xã, tỷ lệ thương tích giám định là 35%.

Ngay sau khi tòa án huyện Thạnh Hóa tỉnh Long An tuyên án sơ thẩm thiếu niên Nguyễn Mai Trung Tuấn 4 năm 6 tháng tù, em Nguyễn Mai Thảo Vy em gái của Tuấn đã phát biểu với Đài ACTD:

“ Cháu thấy bản án bất công đối với anh cháu, tại vì hành vi của anh cháu là hành vi bảo vệ gia đình, tự vệ. Khi cưỡng chế có hai chiếc xe tải chở từ 100 đến 200 cảnh sát cơ động đến ập vào nhà. Họ uy hiếp, đánh đập gia đình rất dã man. Anh Hai thấy họ bắt mẹ và đập đầu xuống đường nên anh Hai, với tư cách người con phải cứu mẹ. Hành động mà anh Hai tạt acid ông công an là để cứu mẹ thôi.”

Theo thông tin ghi nhận, nếu gia đình em Nguyễn Mai Trung Tuấn quyết định ủy nhiệm luật sư kháng cáo trong hạn định 15 ngày kể từ ngày 24/11/2015, thì có hy vọng những lập luận của luật sư bào chữa được tòa trên tức Tòa án Nhân dân Tỉnh Long An lưu ý. Trong trường hợp này em Tuấn là người chưa thành niên. Thông thường chỉ chịu một nửa án phạt người lớn.

Trên các mạng xã hội, giới luật gia cũng đề cập tới vấn đề, nếu tòa xác định hành vi hất ca a xít của em Tuấn là không cố ý thì em không chịu trách nhiệm hình sự. Ngoài ra nếu tỷ lệ thương tích của Trưởng công an xã Nguyễn Văn Thủy được giám định là 30% thay vì 35% thì Tuấn cũng thoát tội. Trong phiên xử sơ thẩm ngày 24/11/2015, Tòa đã bác yêu cầu của LS Nguyễn Văn Miếng xin triệu tập hai nhân viên giám định pháp y liên quan tới bản giám định.

CHIA SẺ CỦA NGƯỜI SỐNG SÓT TRONG ĐÊM 13.11.2015 Ở PARIS

CHIA SẺ CỦA NGƯỜI SỐNG SÓT TRONG ĐÊM 13.11.2015 Ở PARIS

ISABEL BOWDER

Trích EPHATA 669

Isabel Bowdery, cô gái người Nam Phi, sinh viên mới tốt nghiệp, 22 tuổi, đã đến xem buổi biểu diễn nhạc rock ở nhà hát Bataclan vào thời điểm các tay súng xông vào tấn công. Chính quyền Paris xác nhận 89 người thiệt mạng tại hiện trường xả súng ở nhà hát Bataclan. Đây là điểm tấn công có thương vong cao nhất trong đêm Paris bị khủng bố ngày 13.11.2015. Bài viết của Isabel Bowdery đã được chia sẻ hơn 400.000 lần trên Facebook và được rất nhiều người quan tâm.

Hàng chục người bị bắn chết trước mặt

“…Bạn không hình dung nổi chuyện này sẽ xảy ra với mình. Đó là một đêm nhạc rock cuối tuần. Không khí thật tưng bừng, ai nấy đều nhảy múa, vui cười rộn rã. Ngay cả khi những gã kia (khủng bố) đi vào lối cửa trước, bắt đầu bắn giết, chúng tôi vẫn còn ngây thơ nghĩ đó là một phần của tiết mục. Đó chính xác là một vụ thảm sát. Hàng chục người bị bắn ngã ngay trước mặt tôi. Máu chảy tràn sàn nhà. Tiếng nức nở từ những người đàn ông ôm chặt thi thể còn ấm nóng của bạn gái mình như chọc thủng bầu không khí của nhà hát.

Chỉ trong một thoáng, bao dự định bỗng nát tan, bao gia đình bỗng bị nhấn chìm trong đau khổ.

Tôi nằm giả chết suốt một tiếng đồng hồ, cô độc và hoảng loạn, giữa những người không còn thấy người thương yêu của mình động cựa gì nữa. Tôi nín thở, ráng không cử động, không khóc, không cho lũ khốn kia thấy nỗi sợ hãi mà chúng muốn gieo rắc.

Tôi đã may mắn thoát chết một cách diệu kỳ. Nhưng rất nhiều người khác thì không. Những

người vô tội ấy cũng ở đây đêm nay đơn giản chỉ vì họ muốn có một buổi cuối tuần vui vẻ. Thế giới thật tàn nhẫn. Và những tội ác thế này diễn ra là minh chứng mạnh mẽ cho sự tồi bại của loài người. Hình ảnh của những kẻ khủng bố kia vây quanh như một lũ kền kền rồi sẽ ám ảnh tôi suốt cuộc đời còn lại. Cách chúng vẫn lăm lăm nhắm vào những người đã bị bắn gục, không gợn chút áy náy cho mạng sống con người. Tôi cảm giác như tất cả chuyện này đều không thực. Tôi mỏi mòn nằm đợi khoảnh khắc ai đó đứng lên nói không phải đâu, đây chỉ là một cơn ác mộng.

Những người hùng thầm lặng Việc sống sót trong thảm hoạ này cho tôi cơ hội để nhắc đến những người hùng thầm lặng. Nhắc đến một người đàn ông đã dỗ dành tôi, liều mạng để che chắn cho tôi khi tôi đang nức nở.

Nhắc đến một cặp đôi nọ, trong phút sinh ly tử biệt vẫn nói những lời yêu, để tôi vững tin cái THIỆN sẽ mãi còn. Nhắc đến những cảnh sát đã cứu thoát hàng trăm con tin.

Nhắc đến một người xa lạ đã nâng tôi đứng lên khỏi vệ đường, an ủi tôi suốt 45 phút khi tôi nghĩ người mình yêu đã chết. Nhắc đến một người đàn ông bị thương mà tôi tưởng đó là người yêu mình; khi tôi nhận ra mình lầm, anh vẫn ôm chặt lấy tôi và bảo mọi thứ sẽ ổn, sẽ ổn, dù chính anh cũng đang cô độc và hoảng loạn.

Nhắc đến người phụ nữ nọ đã mở cửa nhà cho những người sống sót vào trú ngụ. Nhắc đến

người bạn cho tôi ở tạm và chạy ra ngoài mua quần áo mới, để tôi không phải mặc một chiếc áo vấy máu.

Nhắc đến tất cả các bạn – những người đã gửi tin nhắn ủi an động viên. Các bạn làm tôi tin thế giới này còn cơ hội để tốt lên, để chuyện kinh khủng thế này không bao giờ xảy ra nữa.

Hãy ngủ yên ! Nhưng trên hết, những lời này tôi xin dành cho hơn 89 người bị giết trong nhà hát, những người đã không đủ may mắn để còn được thức dậy hôm nay. Xin dành cho nỗi đau mà gia đình, người thân họ đang phải gánh chịu. Tôi hiểu không gì có thể xoa dịu được nỗi đau này.

Tôi có cơ duyên được kề vai cùng họ trong những giây phút cuối đời. Giây phút đó, khi nghĩ mình sắp chết, tôi cam đoan những ý nghĩ sau cuối không phải về lũ súc vật đã gây ra thảm hoạ này, mà là về những người mình thương yêu.

Khi nằm trên vũng máu của những người xa lạ, chờ viên đạn định mệnh bay đến kết thúc 22 năm ngắn ngủi đời mình, tôi nhớ lại từng gương mặt thân thương và thì thầm nhắc đi nhắc lại “I love you”.

Tôi nhìn lại những phút giây đáng nhớ của đời mình, ước sao những người thân thương biết tôi yêu họ dường nào, và ước họ hiểu rằng dù bất cứ điều gì xảy ra với tôi, tôi cũng mong họ đừng đánh mất niềm tin vào tính THIỆN ở con người.

Đêm qua, cuộc sống của nhiều người đã thay đổi mãi mãi. Và có một điều hoàn toàn phụ thuộc

vào chúng ta: Chúng ta có đủ can đảm để sống tốt hơn, sống tử tế hơn, để viết tiếp một tương lai mà những người đã khuất mơ về nhưng không bao giờ có cơ hội được sống trọn vẹn ?

Hãy ngủ yên. Chúng tôi không bao giờ quên các bạn”.

ISABEL BOWDER

Nhóm lợi ích ở Việt Nam hiện nay

Nhóm lợi ích ở Việt Nam hiện nay

Viet-studies

Hạ Mai

Từ sau Đại hội XI (2011) của Đảng CSVN, thuật ngữ “lợi ích nhóm” và “nhóm lợi ích” bắt đầu được sử dụng và cũng từ đó thuật ngữ này được sử dụng khá thường xuyên. Nếu như ở trên thế giới, đa phần “nhóm lợi ích” được hiểu theo cả hai nghĩa tích cực và tiêu cực, thì ở Việt Nam, đặc biệt là trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) Đảng CSVN “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, thuật ngữ này hầu như được nhận thức theo nghĩa tiêu cực. Dư luận xã hội chủ yếu tập trung vào các nhóm lợi ích hoạt động ngầm trong lĩnh vực kinh tế, cấu kết với những “nhân vật” có thẩm quyền ra quyết định hoặc có khả năng tác động đến chính sách vì lợi ích riêng, làm tổn hại đến lợi ích của các nhóm khác, lợi ích của số đông và đặc biệt là lợi ích quốc gia. TS. Lê Đăng Doanh đã nhận diện nhóm lợi ích hiện nay ở Việt Nam như sau:  “Lợi ích nhóm ở Việt Nam có đặc trưng là liên quan đến những người có chức, có quyền, nhất là quyền liên quan đến cán bộ, tài chính, ngân sách, đầu tư, đất đai, hầm mỏ, rừng, biển, v.v… Những người này có thể ở cấp trung ương, tỉnh, huyện, xã phường hay ở cấp sở, phòng, thậm chí cá nhân thanh tra, cảnh sát hay ở doanh nghiệp nhà nước, tập đoàn, dự án, v.v…”[1].

Như vậy, “lợi ích nhóm” tiêu cực hàm chỉ lợi ích cục bộ của những nhóm người xác định, xung đột, mâu thuẫn với lợi ích chung của nhân dân, của xã hội và thậm chí với quốc gia, dân tộc. Đó là thứ lợi ích chỉ phục vụ cho một nhóm người nhất định dựa vào quyền lực để tạo lập cơ chế, chính sách thuận lợi nhất nhằm mang lại lợi ích từ việc bòn rút, chia chác của công, tìm mọi cách để thâu tóm lợi ích, đặt lợi ích của nhóm mình lên trên lợi ích chung. Những nhóm lợi ích này bành trướng thế lực, thao túng và độc quyền trong một số lĩnh vực, đặc biệt là chính trị- kinh tế, thương mại hóa quyền lực chính trị. Lưu ý thêm rằng, ở Việt Nam, rất nhiều quan chức cao cấp trong các bộ ngành quản lý hiện nay đều có nguốn gốc từ lãnh đạo doanh nghiệp, từ lĩnh vực kinh tế – đây là cơ sở và điều kiện thuận lợi để các nhóm lợi ích – thân hữu trục lợi từ kết nối kinh tế với chính trị, kết nối kinh tế với hoạch định chính sách.

Cũng như ở nhiều nước khác trên thế giới, lợi ích mà các nhóm lợi ích ở Việt Nam theo đuổi không chỉ là lợi ích vật chất mà bao hàm tất cả những lợi ích con người muốn có, như danh tiếng, quyền lực, điều kiện thuận lợi, sự thăng tiến, vị trí làm việc cho bản thân, gia đình, thân hữu… Các nhóm lợi ích tiêu cực ở Việt Nam thường nhân danh hoặc núp bóng những nghĩa cử cao đẹp, nhân danh lợi ích tập thể, thậm chí nhân danh lợi ích quốc gia để giành giật, chiếm đoạt mọi hình thức và loại hình lợi ích khác nhau.

Các nhóm lợi ích ở Việt Nam được hình thành một cách mạnh mẽ và chủ yếu trong thời kỳ chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, định hướng XHCN (hiện giờ gọi là kinh tế thị trường định hướng XHCN). Quá trình chuẩn bị các nhân tố kinh tế – kỹ thuật, quản lý xã hội và xây dựng những tiền đề mới về cơ sở hạ tầng kỹ thuật, môi trường vĩ mô cho việc phát triển kinh tế hàng hoá – dịch vụ vận hành theo cơ chế thị trường đã tạo ra những cơ hội, những bước ngoặt phát triển quan trọng, nhưng đồng thời cũng bộc lộ những “lỗ hổng” trong cơ chế quản lý, trong hệ thống chính sách, pháp luật… Giai  đoạn chuyển đổi này diễn ra nhanh chóng và  đầy kịch tính (khủng hoảng, lạm phát, biến động giá cả – tiền tệ, đầu tư vào Việt Nam, đẩy mạnh xuất nhập khẩu…) trở thành mảnh đất mầu mỡ cho những nhóm lợi ích bất minh xuất hiện, tồn tại và củng cố vị trí của mình.

Cần nói thêm rằng, các nhóm trục lợi đầu tiên chủ yếu liên quan đến buôn bán qua con đường phi hạn ngạch, kinh tế ngầm hoặc núp bóng tín dụng, gây hậu quả lớn nhưng chưa trầm trọng. Khi Chính phủ Việt Nam đẩy mạnh các cải cách kinh tế nhằm nhanh chóng thúc đẩy hình thành và phát triển đồng bộ các nhân tố thị trường phù hợp với xu thế toàn cầu hóa, các nhóm trục lợi gia tăng nhanh chóng. Việc đầu tư trong nước và nước ngoài, thị trường hàng hóa xuất nhập khẩu, thị trường lao động, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội ngày càng mở rộng quy mô và sự xuất hiện ngày một nhiều các vùng kinh tế trọng điểm (Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa-Vũng Tàu, Đồng Nai – Bình Dương, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Vĩnh Phúc…), một mặt, tạo động lực phát triển vì lợi ích chung. Bên cạnh đó, trong điều kiện chức năng, cơ chế quản lý của nhà nước chưa theo kịp tiến trình vận động, Đổi mới cũng góp phần cho ra đời hàng loạt nhóm lợi ích thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều địa phương, nhiều cấp độ lợi dụng mọi cơ hội, mọi phương thức (hợp pháp, phi pháp, công khai, bí mật…) để trục lợi ở mọi quy mô và mọi lĩnh vực. Đặc biệt, các nhóm lợi ích trở nên hết sức nguy hiểm, hoạt động tinh vi, có tác động và gây hậu quả nghiêm trọng đến bình ổn xã hội, phát triển kinh tế, quản lý xã hội chính vào thời điểm tái cấu trúc, chuyển hướng nền kinh tế trong bóng tối nhá nhem của tha hóa quyền lực nhà nước. Các nhóm trục lợi bám sát những chuyển động có lợi và bất lợi trong quản lý kinh tế, trong quản lý nhà nước, nhanh chóng đưa ra các kịch bản liên kết thị trường, liên kết kinh tế với chính trị, thao túng chính trị và kinh tế để kiếm chác lợi ích ngày càng lớn, ngày càng ngang nhiên.

Theo nhận xét của TS. Lê Đăng Doanh, nhóm lợi ích ở Việt Nam hoạt động rất linh hoạt, theo từng vụ, việc, vây quanh một số cá nhân nhất định. Lợi dụng tính thiếu công khai, minh bạch, các nhóm lợi ích thường tiếp xúc theo “quan hệ” cá nhân, với chất kết dính là lợi ích tiền bạc. Lợi ích càng lớn thì nhóm lợi ích hoạt động càng mạnh; luật pháp càng lỏng lẻo hay quyền lực ít bị giám sát thì nhóm lợi  ích hoạt động càng trắng trợn, liều lĩnh. TS. Lê Đăng Doanh nhấn mạnh: “Nhóm lợi ích ở Việt Nam hoạt  động trong một không gian chủ yếu phi chính thức, bất hợp pháp, trong không ít trường hợp có quan hệ đến buôn lậu hay các hoạt động có tính chất phạm pháp ở mức độ khác nhau[2].

Những nhóm lợi ích này trục lợi với rất nhiều thủ đoạn tinh vi, biến hóa khôn lường. Điển hình là một số thủ đoạn thu lợi bất chính cơ bản nhất như sau: (1) Lợi  dụng và lạm dụng quyền lực (quyền lực kinh tế, quyền lực chính trị); (2) Lợi dụng bất cập và yếu kém trong quản lý của Nhà nước; (3) Mua bán quan chức, chạy chức, chạy quyền, hối lộ, tha hóa cán bộ lãnh đạo; (4) Liên kết ngầm, hoạt động ngầm dưới vỏ bọc hợp pháp….Đâu đó, người ta đã bàn về sự xuất hiện của một tầng lớp “tư bản đỏ” và maphia chính trị với sự cấu kết chặt chẽ để thực hiện những phi vụ làm ăn lớn, rung động cả nền kinh tế. Trong một bài báo nhan đề “Vietnam’s New Money“, Bill Hayton đã chỉ ra sự liên minh lợi ích ở Việt Nam thông qua hình tượng “cuộc hôn nhân giữa chính quyền và lợi ích cá nhân”, khẳng định cuộc hôn nhân đó “đang làm méo mó nền kinh tế, khiến nền kinh tế ấy hương  tới việc phục vụ lợi ích của số ít hơn là đáp ứng nhu cầu của số đông”[3]. Theo Bill Hayton, chính liên minh lợi ích ấy đã khiến “các Tổng công ty Nhà nước lớn nhất thiết lập kênh hỗ trợ vốn để tài trợ cho các dự án vô trách nhiệm với logic kinh tế tối thiểu”[4] – đó hoàn toàn có thể là một hình thức câu kết giữa những cơ sở quốc doanh hùng mạnh với những cá nhân có quyền lực lớn thông qua con em, người thân của mình.

Các nhóm trục lợi ở Việt Nam có nguồn gốc khá đa dạng, tồn tại trong mọi lĩnh vực, song chủ yếu và nổi cộm nhất là những nhóm lợi ích gắn với thị trường, với lợi ích công, ra đời từ bất cập cơ chế, bất cập thể chế và tha hóa chính trị. Những công ty Nhà nước và công ty “sân sau” của các công ty Nhà nước hoặc cổ phần Nhà nước thường là “địa bàn” ảnh hưởng, hoạt động phổ biến của nhóm lợi ích “thân hữu”.

Những nhóm lợi ích “thân hữu” hoạt động trên các lĩnh vực sử dụng tài nguyên hoặc phân bố tài sản quốc gia. Một hệ thống pháp luật chưa đủ mạnh, vai trò độc quyền của Nhà nước, kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, sở hữu tập thể, tư duy nhiệm kỳ trong đầu tư công , trong quy hoạch, trong kế hoạch kinh tế – xã hội, cơ chế xin – cho… là mảnh đất màu mỡ cho sự hình thành và phát triển các nhóm “thân hữu”.

Nhóm lợi ích doanh nghiệp Nhà nước đang duy trì những đặc quyền và thu hút nhiều nguồn lực từ ngân sách Nhà nước. Đây cũng là nhóm đã lên tiếng mạnh mẽ nhất để giữ “vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước”. Nhóm lợi ích doanh nghiệp cũng chính là cơ sở kinh tế hỗ trợ cực kỳ đắc lực cho quyền lực chính trị thông qua những cá nhân cụ thể của bộ máy chính quyền, nhà nước. Không phải ngẫu nhiên mà khi sóng gió chính trường nổi lên, nhiều nhân vật trong bộ máy quyền lực có thể trụ vững, thậm chí “lật cánh” ngoạn mục vào “phút thứ 89”.

Việc cho thành lập hàng loạt tập đoàn kinh tế nhà nước lớn thuộc về những ngành then chốt và nắm giữ những nguồn lực chủ yếu của đất nước cho thấy vị trí vững vàng và “hợp pháp” của nhóm lợi ích này. Quả thật, năm 2014, Chính phủ tăng khoảng 170 ngàn tỷ (trong tình trạng bội chi ngân sách) cho đầu tư  và chắc chắn phần lớn tiền bạc sẽ được rót vào ngân quỹ các doanh nghiệp Nhà nước. Các vụ đại án tham nhũng đều có bóng dáng của quan chức cấp cao, các nhóm lợi ích đặc quyền, nhóm thân hữu. Tham nhũng tiền bạc, đất đai, tham nhũng quyền lực, chính sách là hiện tượng phổ biến, thường ngày. Những tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước làm ăn lỗ với những con số “khủng” là kết quả xâu xé của tham nhũng dưới hình thức nhóm lợi ích[5]. Làn sóng “tái cấu trúc” hệ thống Ngân hàng (Eximbank, Techcombank, Phương Nam, Bản Việt, Vietinbank, BIDV, Bắc Á…) hoặc để thôn tính, hoặc để trốn nợ xấu cũng được diễn ra  dưới “chiếc đũa thần” đầy quyền năng của các nhóm thân hữu. Tham nhũng – lợi ích nhóm góp phần đẩy Việt Nam trượt nhanh trên thang bậc xếp hạng tham nhũng: Năm 2013, theo chỉ số tham nhũng, Việt Nam xếp thứ 116/176 quốc gia được khảo sát; nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam hết sức bất ổn, chứa đựng nguy cơ rủi ro, suy thoái; tăng trưởng GDP giảm mạnh (năm 2007: 8,46%[6], năm 2011: 5,89%[7]; 2013: 5,4%[8]). Nợ công của Việt Nam đã ở mức trên 81,885 tỷ USD, bình quân nợ công theo đầu người là 905,18USD, chiếm 47,7% GDP, tăng 10,9% so với năm 2013 (tính đến ngày 13-6-2014)[9]. Việt Nam là một trong 20 nước có khả năng vỡ nợ lớn nhất trên thế giới[10], người dân Việt Nam có gánh nặng thuế và chi phí cao bậc nhất khu vực[11].

Hành vi thao túng của các nhóm lợi ích đối với bất động sản, tài nguyên, ngân hàng, tài chính… – những lĩnh vực kinh tế trọng yếu, gây không ít khó khăn, cản trở cho sự tồn tại, phát triển lành mạnh của đất nước. Những năm gần đây (2006-2015), các chủ đầu tư là trụ cột của nền kinh tế như Tập đoàn Than – Khoáng sản, Tập đoàn Dầu khí, Tập đoàn Điện lực, Tổng công ty Thép, Tổng công ty Hóa chất[12]. để Trung Quốc trúng thầu tới 90% các công trình điện, khai khoáng, dầu khí, luyện kim, hóa chất… trong các dự án kinh tế Việt Nam trọng điểm, hoặc dự án thượng nguồn, liên quan mật thiết tới tài nguyên quốc gia và an ninh năng lượng không khỏi khiến dư luận quan ngại và đặt câu hỏi về những nhóm lợi ích quan chức cấp cao đứng sau.

Về thị trường, nhóm trục lợi có mặt ở mọi loại thị trường (thị trường lao động, thị trường chứng khoán, thị trường khoa học – công nghệ, thị trường hàng hóa – dịch vụ…), song hoạt động mạnh mẽ và gây ra những hậu quả lâu dài, khó khắc phục là những nhóm trục lợi gắn với thị trường bất động sản và tài chính- tiền tệ (hai thị trường quan trọng nhất của nền kinh tế thị trường).

Quá trình đô thị hóa đã khiến đất đai có giá trị cực kỳ to lớn, đầu tư nhà đất trở thành hình thức kinh doanh kiếm lời nhanh nhất. Nắm bắt đặc điểm đó,  nhóm lợi ích bất động sản (gồm giới nhà giàu và nhiều quan chức tham nhũng) không bỏ qua cơ hội hốt bạc. Lập khu, cụm công nghiệp, cảng, sân bay là biện pháp, bước đi để các nhóm lợi ích bắt tay với giới quan chức ăn chênh lệch giá đất. Tình trạng này diễn ra khá thường xuyên, vì tuy có hiệu quả rất thấp về kinh tế – xã hội, nhưng do “muốn đạt chỉ tiêu tăng trưởng cao, tăng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ để bằng và hơn các địa phương khác”[13] nên các tỉnh thành, địa phương đua nhau quy hoạch, xây dựng, đô thị hóa. Mỗi năm Việt Nam có gần 200.000 ha đất nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử dụng, trong đó có nhiều phần trăm được các nhóm lợi ích “phù phép”dưới bóng “chuyển đổi mục đích sử dụng”, mua rẻ, bán đắt kiếm lời.

Với tính chất phi thị trường nhất, kém hiệu quả nhất, thị trường bất động sản đầy rẫy những bất cập, không đủ điều kiện để hoạt động bình thường như thị trường các nước khác bởi theo luật pháp, Nhà nước quản lý đất đai và quyền lực Nhà nước thường bị thâu tóm. Bài toán địa tô chênh lệch[14] là bài toán thường gặp nhất trong chuyển đổi mục đích sử dụng đất- nó cũng là ví dụ tập trung nhất cho việc các nhóm lợi ích đứng đằng sau các cấp hoạch định và thực hiện chính sách trong các dự án đất đai.

Giá trị to lớn của đất – “tấc đất tấc vàng” đã khiến chính những thửa đất “bờ xôi ruộng mật” bị “khai tử” bởi những nhóm lợi ích bất động sản. Dưới ô dù của quyền lực chính trị, nhóm lợi ích bất động sản đứng sau nhiều vụ thu hồi đất với danh sách tên đất, tên làng dài theo thời gian: Văn Giang, Dương Nội, Bắc Giang, Mễ Trì, Mỹ Đức, Bắc Sơn (Thạch Hà, Hà Tĩnh), Vũng Áng, Đắc Nông, Ninh Thuận… Quy hoạch Hà Nội mở rộng, nhập Hà Tây vào Hà Nội cũng là một cơ hội để nhóm lợi ích bất động sản trục lợi – thực tiễn diễn ra ở thị trường đất đai Hà Tây trước và sau khi sáp nhập đã minh chứng một cách thuyết phục cho nhận định đó. Mất đất, không có việc làm, người nông dân chỉ còn con đường hoặc làm thuê ngay trên mảnh đất của mình, hoặc tha phương. Những năm gần đây, mỗi năm có trên 3 vạn người lao động từ nông thôn đến ở Hà Nội, còn đến thành phố Hồ Chí Minh con số đó là trên 6 vạn. Tháng 8-2013, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Việt Nam công bố con số di cư tự do từ nông thôn ra thành thị là vào khoảng 8 triệu người. Các thành phố lớn với các khu công nghiệp mọc lên nhanh chóng như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai…… trở thành thành nam châm, lực hút, thành “miền đất hứa” đẫm nước mắt của nhiều lao động nông dân nhập cư.

Trong lĩnh vực tín dụng – ngân hàng, hệ quả các hoạt động của nhóm trục lợi để lại là khá nghiêm trọng. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Nguyễn Văn Bình đã thừa nhận: “Có những ngân hàng chỉ do một vài cổ đông hoặc một nhóm cổ đông chi phối, dư nợ ngân hàng lên tới 70 – 90% phục vụ cho nhóm cổ đông đó; điều lo ngại là các nhóm cổ đông này gây thất thoát vốn lớn; lợi ích nhóm thao túng ngân hàng và làm ảnh hưởng xấu đến cả hệ thống…”[15]. Các thương vụ thâu tóm ngân hàng Sacombank, Eximbank, Bảo Việt…đang làm một số “đại gia” nhẵn túi; đồng thời, làm căng hầu bao của những ông chủ mới đằng sau thấp thoáng bóng liên minh lợi ích mờ ám của giới mafia tài chính và những quan chức giấu mặt.

Trong quá trình phát triển và trục lợi, các nhóm trục lợi có sự liên kết khá bền chặt, có tính “tổ chức” tương đối cao, câu kết, lôi kéo, vận động, thậm chí là ép buộc cá nhân, tập thể, bành trướng thế lực, làm méo mó chính sách, làm suy yếu chính quyền, lũng đoạn nhiều lĩnh vực, có cả những lĩnh vực trọng yếu liên quan đến an ninh – quốc phòng, an ninh quốc gia.

Vốn ra đời, tồn tại và hoạt động trên nền tảng lợi ích, nhất là những lợi ích hết sức béo bở và đa dạng nên cùng với sự phát triển của các nhóm lợi ích tất yếu xuất hiện mâu thuẫn, xung đột lợi ích một bên là  giữa các nhóm lợi ích với nhau và một bên là giữa nhóm trục lợi với những nhóm bị xâm hại lợi ích (bị thiệt hại lợi ích). Trong các xung đột lợi ích, nhóm nào yếu thế hơn sẽ bị thiệt hại nhiều hơn và trong tổng thể, thiệt hại chung thuộc về toàn thể xã hội.

Nếu coi sự phát triển xã hội như là một tổng thể hữu cơ các quá trình vận động xã hội theo chiều thăng tiến, thì các nhóm lợi ích – trục lợi là một bộ phận tham gia vào đời sống xã hội và tác động trực tiếp đến quá trình vận động xã hội, kìm hãm xu hướng phát triển lành mạnh của nó trong thời kỳ chuyển đổi nền kinh tế do thể chế lỏng lẻo, các chế định giám sát lạc hậu, thiếu tính minh bạch trong nhiều lĩnh vực, nhất là trong những lĩnh vực trọng yếu. Trên nền tảng ấy, các nhóm lợi ích tiêu cực xuất hiện ngày càng nhiều với những sắc thái đa dạng (nhóm thân hữu, nhóm lợi ích cục bộ giữa quan chức với quan chức, quan chức với doanh nghiệp…) ảnh hưởng trực tiếp tới sự vận hành bình thường của nền kinh tế, chính trị, xã hội và thậm chí cả văn hóa. Bên cạnh đó, trong một số trường hợp, có thể đang tồn tại một liên minh không chính thức giữa các nhóm lợi ích ở Việt Nam với các nhóm lợi ích ở nước ngoài. Khai thác bôxit ở Tây Nguyên, việc Trung Quốc trúng thầu tới 90% các công trình điện, khai khoáng, dầu khí, luyện kim, hóa chất… trong các dự án kinh tế trọng điểm, hay như Trung Quốc xuất lậu vào Việt Nam trên 5,2 tỷ USD hàng hóa qua biên giới và Việt Nam xuất lậu 5,3 tỷ USD sang Trung Quốc[16] … là những minh chứng điển hình. Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cho rằng, Việt Nam “đã trao quá nhiều công trình cho nhà thầu Trung Quốc theo hình thức EPC[17]”.  Con số này là 23/24 nhà máy xi măng; 15/20 dự án nhiệt điện đốt than, giao thông, khai khoáng, cho thuê rừng và đất rừng ở vùng biên giới[18]. TS. Lê Đăng Doanh đã đặt câu hỏi: “Tại sao chúng ta giao quá nhiều dự án cho nhà thầu Trung Quốc như vậy. Có bao nhiêu lợi ích quốc gia, bao nhiêu lợi ích cho ai?” [19].

Nhìn chung, các nhóm trục lợi đều có khả năng cộng sinh và ký sinh rất cao, bám chặt vào kẽ hở chính sách, pháp luật, nắm bắt nhanh chóng những thời cơ và cơ hội thuận lợi, linh hoạt trong liên kết, chuyển hướng, trắng trợn trong tha hóa bộ máy công quyền…làm mọi việc trong khả năng, điều kiện có thể để tồn tại, phát triển và trục lợi. Lợi dụng những kẽ hở pháp lý trong quản lý đất đai, tiền tệ, sự thoái hóa, biến chất của tầng lớp có chức, có quyền, sự ấu trĩ và bảo thủ trong tư duy lãnh đạo, các nhóm trục lợi thao túng, mua bán chiếm đoạt đất đai, bất động sản, thao túng ngân hàng…, làm giàu bất chính và càng giàu bao nhiêu, các nhóm lợi ích lại có điều kiện, khả năng cũng như khao khát thao túng quyền lực chính trị, thao túng chính quyền. Đối với phát triển xã hội và quản trị xã hội, các nhóm trục lợi trở thành lực cản lớn trong quá trình thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật của Nhà nước, gây thiệt hại lớn đối với tài sản của nhà nước, xã hội, tập thể và công dân, xâm phạm quyền và lợi ích của công dân, tha hóa đội ngũ cán bộ, công chức, đảo lộn những chuẩn mực, giá trị đạo đức xã hội, là nguy cơ trực tiếp đối với  sự lành mạnh của nền kinh tế, đe dọa lợi ích toàn dân, lợi ích quốc gia dân tộc. Hệ quả cuối cùng là ngày càng nhiều thêm các nhóm thiệt lợi, các nhóm thất thế, xã hội nghèo đi, bất công và bất bình  đẳng xã hội, phân hóa giàu nghèo, phân hóa giai tầng tăng lên không ngừng; trong lòng xã hội âm ỉ những mâu thuẫn gay gắt – một hiện tượng mà các nhà nghiên cứu quen gọi là “hiện tượng thùng thuốc súng”.

Điều nguy hiểm là ở chỗ, mờ mắt tham, nhằm thỏa mãn lòng tham vô đáy, các nhóm lợi ích này không thể liên kết lâu dài, giữa chúng luôn diễn ra âm thầm “những trận chiến sau bức màn nhung” để cuối cùng “xã hội sẽ biến đổi  theo những thắng thế của phe nhóm mạnh nhất”[20]. Nếu mục tiêu của “phe nhóm mạnh nhất” phù hợp với “sự đổi mới và tiến bộ của quốc gia, thì dân chúng vô cùng may mắn. Ngược lại, vấn nạn của xứ sở sẽ kéo dài, vì trên thực tế, đại đa số người dân không bao giờ đủ quyền lực và kiến thức để thay đổi một cơ chế, kể cả những nước dân chủ Tây Phương”[21].

Không còn nghi ngờ gì nữa, hoạt động của các nhóm lợi ích trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội thông qua việc cấu kết tinh vi giữa những chủ đầu tư với các quan chức trong bộ máy Đảng và Nhà nước là một trong những nguyên nhân cơ bản làm đất nước khánh kiệt, gia tăng khoảng cách giàu nghèo, tích tụ bất ổn xã hội, làm trầm trọng thêm các mâu thuẫn giữa các tầng/lớp trong xã hội. Hưởng lợi từ kết quả lao động không chính đáng, với quyền lực cực lớn có thể làm khuynh đảo hệ thống công quyền (quy hoạch đô thị, giao thông, các dự án xây dựng lớn), nhóm lợi ích – nhóm thân hữu trở thành nhân tố trực tiếp đẩy nhanh cuộc khủng hoảng tín nhiệm xã hội[22] dẫn đến nguy cơ rạn vỡ xã hội. Nếu không có những thay đổi căn bản, thích hợp, sáng suốt, đột phá vì lợi ích chung của quốc gia, của nhân dân, của dân tộc, đất nước sẽ trở thành con tin của những nhóm lợi ích, xã hội đứng trên bờ vực thẳm của những đổ nát, xung đột. Đất nước đang thụt lùi tỷ lệ thuận với sự phát triển và lớn mạnh của những nhóm lợi ích bất chính.

Việt Nam hiện đang đứng trước những thách thức về đồng thuận xã hội khi các nhóm/tầng lớp trong xã hội đang có sự khác biệt lớn về vị trí xã hội, mức sống, nghề nghiệp, học vấn…  Lợi ích và cách thức chiếm đoạt lợi ích, bảo vệ lợi ích của nhóm đặc quyền, đặc lợi đẩy họ đứng đối lập với đa số tập hợp người khác trong xã hội.

Nhóm lợi ích có tính lịch sử phát triển và chỉ có thể phù hợp với xã hội nếu lợi ích của nó phù hợp đa phần trong tương quan với các nhóm lợi ích và cá nhân khác. Chính vì thế, vấn đề quan trọng nhất, song cũng khó khăn, phức tạp nhất của vận hành, quản trị xã hội là thực hiện phối, kết hợp lợi ích của các nhóm cụ thể với lợi ích của xã hội như một toàn thể. Kết quả của thao tác chính trị đó quy định sự ổn định xã hội, của toàn bộ hệ thống chính trị, tính hợp pháp, hiệu quả của chính phủ, sự năng động của phong trào xã hội và uy tín của Đảng cầm quyền. Xã hội tuy bị ràng buộc, chế định, chi phối bởi điều kiện kinh tế – văn hóa, chuẩn mực pháp luật và đạo đức, song yếu tố chi phối quyết định nhất, căn bản nhất, trực tiếp nhất là hệ thống chính trị; trong đó, vấn đề sâu xa, cội rễ nhất là vấn đề quyền lực chính trị/quyền lực nhà nước.

Quyền lực chính trị thiếu kiểm soát, hoặc kiểm soát không chặt chẽ là bà đỡ của những nhóm lợi ích bất minh – điều đó đang diễn ra trong thực tiễn xã hội Việt Nam. Có một hiện thực là ở Việt Nam hiện nay, cơ chế vận hành xã hội, hệ thống chính sách, pháp luật chưa hoàn thiện, phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước còn nhiều hạn chế, thiếu hiệu quả là “cơ hội vàng” để các nhóm lợi ích hoạt động ngầm, thao túng, thâu tóm những lợi ích của sự phát triển, tạo sự bất công, bất bình đẳng trong xã hội, làm tăng khoảng cách giàu nghèo, làm méo mó quan hệ xã hội, xói mòn lòng tin của nhân dân, gây bất ổn xã hội, thậm chí đẩy Nhà nước đứng đối lập với nhân dân.

Để đấu tranh với các nhóm lợi ích tiêu cực, thúc đẩy xã hội phát triển bền vững, vấn đề chất lượng thể chế chính trị thể hiện qua khả năng, mức độ kiểm soát quyền lực chính trị/quyền lực nhà nước và chống độc quyền quyền lực có ý nghĩa sống còn.

Nếu “thể chế chính trị là tổng hợp các phương pháp và cách thức thực hiện quyền lực nhà nước do tình hình chính trị trong nước chi phối”[23], thì “điểm cốt yếu nhất, quyết định nhất đến thể chế chính trị là bản chất, hình thức, tính chất của quyền lực nhà nước, quyền lực chính trị”[24]; do đó, để “bản chất, hình thức, tính chất của quyền lực nhà nước” thực sự thuộc về số đông, đảm bảo lợi ích cho số đông, đảm bảo công bằng xã hội cho tất cả mọi người, vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước, chống tập trung quyền lực được đặt ra từ rất sớm và luôn luôn tồn tại một khi còn tồn tại nhà nước. Ở nhiều quốc gia, kể cả các quốc gia có thể chế chính trị tương đối hoàn thiện, việc tiếp tục xây dựng, hiện đại hóa cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước – tạo lập một cơ chế có khả năng khuyến khích tối đa ảnh hưởng tích cực của nhóm lợi ích (phân bổ công bằng lợi ích nhóm), cũng như giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực của nhóm lợi ích (giảm thiểu phân bổ lợi ích bất công giữa các nhóm, kìm chế tiềm năng, tước đoạt điều kiện phát triển) vẫn luôn được chú trọng. Bàn về vấn đề này, nhà xã hội học người Mỹ Frank Scarpatti nêu quan điểm: “Mục tiêu của công bằng xã hội chỉ có thể thực hiện thông qua một chính sách làm giảm sự tập trung quyền lực và những nguồn tài nguyên kinh tế trong tay một tầng lớp nhỏ đặc quyền của xã hội”[25].

Thật vậy, tập trung quyền lực vượt ngưỡng/vượt chỉ giới gắn liền với tha hóa tinh thần, đạo đức, bởi đã là con người thì khó tránh khỏi ít nhiều thiên kiến và vị kỷ. Một trong những yếu điểm của con người là bị chi phối, điều khiển bởi khát vọng quyền lực. Khi quyền lực tập trung ở những con người khát quyền lực trong môi trường thiếu cơ chế kiểm soát quyền lực, hoặc cơ chế kiểm soát quyền lực yếu kém sẽ trở thành thứ “ma túy” mạnh đẩy con người vào ảo giác, ngộ nhận, đánh đồng lợi ích xã hội với lợi ích cá nhân vị kỷ, bước một bước đến độc tài quyền lực. Trong đại đa số trường hợp, tập trung quyền lực là cha đẻ của độc tài và gia đình trị. Philippines là một ví dụ điển hình: 178 gia tộc[26] kiểm soát 72 tỉnh (94%) của Philippines; trong số 178 gia tộc, 100 gia tộc là giới tinh hoa cũ (thuộc những tập đoàn chính trị hàng đầu của Philippines từ sau chiến tranh thế giới thứ hai), 78 gia tộc còn lại là giới tinh hoa mới (sau năm 1986)[27]. Cựu Cố vấn An ninh Quốc gia Philippines Jose Almonte nhận xét: “Độc quyền quyền lực chính trị cản trở dân chủ hóa đời sống chính trị, sinh ra và nuôi dưỡng chế độ gia đình trị”[28].

Con ông cháu cha

Ở trên thế giới nói chung, ở Việt Nam nói riêng, xây dựng pháp luật cùng với thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật là những hoạt động cơ bản, đặc biệt quan trọng, thể hiện khả năng nhận thức, khả năng mô hình hóa các quan hệ xã hội của cơ quan lập pháp, hình thành các qui phạm pháp luật để điều chỉnh xã hội, tạo ra khuôn khổ pháp lý cho sự phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm việc thực hiện lợi ích của giai tầng, các nhóm xã hội. Hệ thống pháp luật là “chân đế” của thể chế chính trị, đế có vững, thể chế mới bền; tuy nhiên, luật pháp và các quy định của bộ máy hành chính Việt Nam có bốn nhược điểm: (1) Hết sức cồng kềnh, rườm rà, đa dạng về thể loại văn bản và khổng lồ về số lượng văn bản quy phạm pháp luật gây khó khăn trong thực hiện[29]; (2) Tính minh xác, tính minh định, phạm vi điều chỉnh, tác động nhiều khi chưa thực rõ ràng[30]; (3) Thường xuyên thay đổi, tính ổn định không cao; (4) Xây dựng pháp luật chưa gắn với quản lý thi hành pháp luật. Theo điều tra của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, thực trạng kém chất lượng của hệ thống pháp luật hiện hành có thể gói gọn trong “chín không”: Không đầy đủ, không rõ ràng, không cụ thể, không tương thích, không minh bạch, không tiên liệu trước, không hợp lý, không hiệu quả và không hiệu lực. Như thế, tình trạng pháp quyền (lập pháp, hành pháp, tư pháp) của hệ thống chính trị Việt Nam vẫn tồn tại không ít “kẽ hở”, “lỗ hổng”, chưa đóng vai trò thực sự điều chỉnh hành vi, nhận thức của xã hội, cá nhân và tổ chức, chưa làm tròn vai trò phản tỉnh đối với xã hội – đó là một chính phủ yếu kém! Về thứ hạng hiệu quả khuôn khổ luật Pháp, Việt Nam từ hạng 57 năm 2009 xuống 74 năm 2012; tính minh bạch của Chính phủ giảm từ hạng 58 năm 2007 xuống 91 năm 2012[31].

Một hệ thống pháp luật như vậy tạo điều kiện cho bộ máy quyền lực ngày càng phình to trên cả phương diện bộ máy hành chính lẫn công cụ bạo lực. Không hiếm gặp trường hợp “tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Quyền lực nhà nước là thống nhất”[32] bị bóp méo, bẻ cong, bị lợi dụng, dẫn đến dân chủ hình thức, tập trung quyền lực, độc quyền quyền lực, lũng đoạn chính sách, biến quyền lực được nhân dân và Nhà nước giao phó thành quyền lực cá nhân, trục lợi cho bản thân, cho nhóm lợi ích mà họ thuộc về. Một cách tổng quát, thể chế chính trị Việt Nam có hàng loạt khiếm khuyết: Tiếng nói của người dân chưa được chú ý lắng nghe; các cơ quan nhà nước được “ưu ái” về trách nhiệm giải trình; chất lượng chính sách và năng lực điều hành của cơ quan công quyền thấp, chậm được cải thiện; chống tham nhũng hầu như không có tiến bộ; tính công khai minh bạch thấp; hiệu quả của Chính phủ và chất lượng của các văn bản pháp quy thấp, chưa đáp ứng yêu cầu. Bộ máy công quyền ngày càng xa dân, quản lý đất nước kém hiệu quả, quyền lực bị thả lỏng không được giám sát, thiếu công khai, minh bạch. Một khi “chế độ tước đoạt lên nắm quyền, tức là quyền lực chính trị bị tập trung trong một nhóm nhỏ thì không có sự thịnh vượng hay quyền tư hữu nào có thể cứu đất nước đó khỏi kết cục suy tàn vì quyền sở hữu có thể bị thao túng”[33] – Việt Nam đang ở trong tình trạng này.

Một thể chế chính trị văn minh và tương đối hoàn bị khi có hệ thống pháp luật hoàn thiện, tạo thế đối trọng giữa các nhóm lợi ích; “chủ động phát triển cơ chế đề kháng thông qua các quá trình tự cải tổ, đổi mới liên tục, thường xuyên, lâu dài, không ngừng trệ”[34]; đồng thời, phân chia quyền lực cho các thành phần khác nhau của bộ máy công quyền – giám sát và cân bằng quyền lực. Thể chế chính trị được coi là minh bạch, tiến bộ khi có khả năng hóa giải xung đột nhóm lợi ích, đạt tới cách thức phân bổ lợi ích thỏa đáng, làm cho lợi ích phát huy giá trị động lực, kích thích tối đa khả năng đóng góp, hạn chế tối đa khả năng gây hại của các nhóm lợi ích cho xã hội. Trên nền tảng ấy, xây dựng cơ chế giám sát hữu hiệu trong bản thân bộ máy nhà nước là thao tác đầu tiên để kiểm soát quyền lực nhà nước. Những lập luận nêu trên cho phép kết luận: Ở Việt Nam hiện nay, để giảm thiểu và đi đến loại trừ tác động tiêu cực của các nhóm lợi ích đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội, điều hòa phân tầng xã hội và phân hóa giàu nghèo theo chiều hướng tạo động lực, thể chế chính trị hiện hành phải được thay đổi căn bản hoặc thay thế với sự ra đời của một nhà nước lấy sự công bằng là một trong những mục tiêu, tôn chỉ tối cao trong tổ chức và hoạt động. Nhà nước ấy coi “sự phân quyền với nghĩa phân công chức năng và kiểm soát quyền lực trở thành phương thức tồn tại” [35], của chính mình.

Nhấn mạnh thêm rằng, nguyên tắc phân chia quyền lực, kiểm tra và giám sát, kiềm chế và đối trọng giữa các nhánh quyền lực trong xây dựng nhà nước pháp quyền đảm bảo ngăn chặn nguy cơ tập trung quyền lực nhà nước trong tay một cá nhân, cơ quan hay một lực lượng chính trị – xã hội nào đó như là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự lạm quyền, chuyên quyền, dẫn đến những lỗ hổng luật pháp. Bên cạnh đó, nguyên tắc phân quyền còn có khả năng bảo vệ nhân dân khỏi sự tùy tiện, độc đoán, mang tính quan liêu, phiền nhiễu của các cơ quan và công chức trong bộ máy nhà nước, đảm bảo các cơ quan và công chức này luôn luôn chỉ thực hiện tuân theo pháp luật. Một thể chế dân chủ có bộ máy nhà nước xây dựng trên nguyên tắc tam quyền phân lập một cách thực sự đi cùng với xã hội dân sự[36] là những gì người dân Việt Nam cần và mong đợi lúc này.

____

[1] TS. Lê Đăng Doanh: “Đổi mới tư duy và cải cách thể chế những yêu cầu từ thực tiễn”, Từ bất ổn vĩ mô đến con đường tái cơ cấu, Dự án “Hỗ trợ nâng cao năng lực tham mưu, thẩm tra và giám sát chính sách kinh tế vĩ mô” do Ủy ban Kinh tế của Quốc hội chủ trì với sự tài trợ của Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc tại Việt Nam (UNDP), tr.277-278.

[2] Như trên, Tlđd, tr.278.

[3] Bill Hayton: Vietnam’s New Money, Foreign Policy, 21-1-2010.

[4] Bill Hayton: Vietnam’s New Money, Ibid.

[5] Năm 2010, Vinashin  lỗ 4,5 tỉ USD, năm 2011, EVN lỗ  3.500 tỷ đồng, năm 2012, các tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước lỗ khoảng 2.253 tỷ đồng… Tính chung hai năm 2011- 2012, tổng số doanh nghiệp rời khỏi thị trường bằng 20 năm trước đó; trong số gần 500.000 doanh nghiệp đang hoạt động, tỷ lệ thua lỗ cũng rất cao (Nguồn: Chi phí vốn của doanh nghiệp Việt cao gấp 10 lần công ty đa quốc gia, Cafef.vn, 24-11-2012).

[6]Tổng cục Thống kê: Kinh tế – xã hội thời kỳ 2006-2010 qua số liệu một số chỉ tiêu thống kê chủ yếu, http://www.gso.gov.vn.

[7] Tăng trưởng GDP năm 2011 đạt 5,89%, VnEconomy, 29-12-2011.

[8] GDP năm 2013 tăng hơn 5,4%, VnExpress.net, 23-12-203.

[9] Nợ công ở ngưỡng nguy hiểm: Công bố các khoản nợ để xã hội giám sát, Nhanh.net.vn, 16-6-2014. Khối nợ xấu khổng lồ “có thể lên đến trên 500.000 tỷ đồng; nợ công quốc gia có thể lên đến 95-106% GDP – theo tiêu chuẩn Liên Hợp Quốc” (Nguồn: Phạm Chí Dũng: Liệu sẽ xảy ra khủng hoảng kinh tế dẫn đến khủng hoảng chính trị ở Việt Nam? Tạp chí Thời đại mới, số 28/tháng 8-2013).

[10] Kinh tế Việt Nam, Wikipedia.

[11] Việt Nam nhiều dân nghèo gần nhất khu vực, BBC Vietnamese, 7-9-2012.

[12] Trung Quốc trúng thầu 90% công trình thượng nguồn của Việt Nam, Vieetnam Economic Forum, 32-7-2010.

[13] TS. Lê Đăng Doanh: “Đổi mới tư duy và cải cách thể chế những yêu cầu từ thực tiễn”, Tlđd, tr.270.

[14] Ví dụ như thu hồi đất đai của người dân đền bù cho họ 1 triệu đồng/m2, bán lại cho một người khác là 3 triệu đồng/m2, sau đó người này lại bán đi với giá 25 triệu đồng/m2. Đa phần 22 triệu đồng chênh lệch địa tô là rơi vào tay nhóm lợi ích.

[15] Thống đốc: “Có lợi ích nhóm trong ngân hàng”, Tin mới, 8-10-2012.

[16] Kỳ Duyên: Vận mệnh nước Việt và lợi ích nhóm, vietnamnet.vn, 12-7-2014.

[17] Loại hợp đồng nhà thầu thực hiện toàn bộ các công việc từ thiết kế kỹ thuật đến thi công xây dựng công trình, hạng mục công trình và chạy thử bàn giao cho chủ đầu tư.

[18] Kỳ Duyên: Vận mệnh nước Việt và lợi ích nhóm, Tlđd.

[19] Kỳ Duyên: Vận mệnh nước Việt và lợi ích nhóm, Tlđd.

[20] TS. Alan Phan: Lợi ích từ… các nhóm lợi ích, Vietnam.net, 26-5-2011.

[21] Như trên, Tlđd.

[22] “Khủng hoảng tín nhiệm xã hội” có nghĩa là chính quyền không nhận được sự tín nhiệm của người dân, một bộ phận quần chúng nhân dân cho rằng chính quyền không thể hiện được ý chí của họ. Một cuộc khủng hoảng tín nhiệm xã hội sẽ gây ra sự nhiễu loạn về tư tưởng, gây mất niềm tin của dân chúng , có thể dẫn đến khủng hoảng chính trị.

[23] http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn

[24] Như trên, Tlđd.

[25] Frank Scarpatti: Social Problems, Dreyden Press USA, 1977, p. 632.

[26] Một dòng họ/gia đình/gia tộc được liệt vào hệ thống gia đình trị (political family) khi có hai thành viên trở lên (tính đến huyết thống đời thứ ba) chiếm giữ vị trí trong quốc hội hoặc bộ máy chính quyền bang.

[27] Monopoly of political power,  GMA News, 6-11-2012.

[28] Ibid.

[29] Trong vòng 10 năm (1988-2008), chỉ tính riêng văn bản pháp luật do các cơ quan Trung ương ban hành, thì hệ thống pháp luật Việt Nam đã có tới 19.126 văn bản, trong đó có 208 luật, bộ luật, 192 pháp lệnh, 2.097 nghị định, 267 nghị quyết và 36 thông tư, 1.213 thông tư liên tịch. Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 đã cần đến trên 40 văn bản pháp luật khác nhau để hướng dẫn thi hành. Luật Đất đai năm 2003 muốn được thực hiện phải dựa trên 126 văn bản. Trong lĩnh vực môi trường, có đến khoảng 300 văn bản pháp luật khác nhau đang còn hiệu lực. Trong khi đó, nếu kể cả các văn bản pháp luật do các cấp chính quyền địa phương ban hành, trung bình mỗi năm lại “mọc” thêm 4.000 văn bản quy phạm pháp luật mới (Nguồn, Cơ sở liệu pháp luật, http://www.vbqppl.moj.gov.vn; Hà Phong, Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chồng chéo: Khốn khổ với “9 không, Hà Nội mới Online, 31-3-2012).

[30] Chất lượng văn bản quy phạm pháp luật cũng chưa cao, nhiều quy định pháp luật không rõ ràng, thiếu ổn định, gây khó khăn cho việc tiếp cận, nhận thức và thực hiện pháp luật. Do đó, trên thực tế, pháp luật nước ta xảy ra tình trạng luật ra đời phải chờ nghị định hướng dẫn và nghị định chờ thông tư mới thi hành được…Theo Báo cáo tổng kết của Cục kiểm tra văn bản, Bộ Tư­ pháp, năm 2004, các cơ quan chức năng đã thực hiện kiểm tra trên 21.000 văn bản quy phạm pháp luật từ cấp bộ trở xuống và đã phát hiện trên 3.000 văn bản trái với quy định của pháp luật.

[31] TS. Lê Đăng Doanh: “Đổi mới tư duy và cải cách thể chế những yêu cầu từ thực tiễn”, Tlđd, tr.280.

[32] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, 2011, tr. 52.

[33] D.Acemoglu và J.Robinson, Why Nations fail, The Origins of Power, Prosperity, and Poverty, Crown Publishers, New York, 2012.

[34]  Rawls, J. A: Theory of justice, N. Y, 1971, p. 60.

[35] Đào Trí Úc:  Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Sđd, tr.39.

[36] Nội dung căn bản của việc kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên trong là giải quyết mối quan hệ phân công, phân quyền giữa các cơ quan nắm giữ quyền lực nhà nước; trong đó, vấn đề phân định, kết hợp các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là nội dung cốt lõi. Quyền lập pháp là quyền đại diện cho nhân dân thể hiện ý chí chung của quốc gia. Những người được nhân dân trao quyền này là những người do phổ thông đầu phiếu bầu ra hợp thành cơ quan gọi là Quốc hội. Thuộc tính cơ bản, xuyên suốt mọi hoạt động của quyền này là đại diện cho nhân dân, bảo đảm cho ý chí chung của nhân dân được thể hiện trong các đạo luật mà mình là cơ quan duy nhất được nhân dân giao quyền biểu quyết thông qua luật là quyền lập pháp; đồng thời, là người thay mặt nhân dân giám sát tối cao mọi hoạt động của Nhà nước, nhất là hoạt động thực hiện quyền hành pháp. Quyền hành pháp là quyền tổ chức thực hiện ý chí chung của quốc gia do Chính phủ đảm trách. Thuộc tính cơ bản, xuyên suốt mọi hoạt động của quyền này là quản lý nhà nước (hay cai trị) mà thực chất là tổ chức thực hiện pháp luật để bảo đảm an ninh, an toàn và phát triển xã hội. Quyền tư pháp là quyền xét xử, được nhân dân giao cho Tòa án và các cơ quan tư pháp, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là nguyên tắc xuyên suốt và cao nhất trong tổ chức thực hiện quyền này. Mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức không được phép can thiệp vào hoạt động xét xử của Tòa án. Đây thực chất là quyền bảo vệ ý chí chung của quốc gia bằng việc xét xử các hành vi vi phạm Hiến pháp, pháp luật từ phía công dân và cơ quan nhà nước. Xã hội dân sự cấu thành từ tổng thể của các tổ chức xã hội và dân sự tự nguyện mà các tổ chức này tạo nên cơ sở của một xã hội tự vận hành, khác với các cấu trúc quyền lực của một nhà nước (bất kể hệ thống chính trị của nhà nước này thuộc kiểu gì) và các thể chế thương mại của thị trường. Nhìn chung, đó là lãnh vực bên ngoài gia đình, nhà nước và thị trường, nơi người dân kết hợp hoạt động nhằm thăng tiến các lợi ích chung. Thành tố quan yếu nhất của xã hội dân sự, do đó, chính là mỗi công dân, ý thức được trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với bản thân và xã hội, tự nguyện tham gia vào các sinh hoạt giúp cho xã hội tốt đẹp hơn.