Nỗi khó xử của Giáo sư Lý Chánh Trung

Nỗi khó xử của Giáo sư Lý Chánh Trung

 Đòan Thanh Liêm

 Cũng như Nguyễn Văn Trung, Lý Chánh Trung là giáo sư dậy môn Triết học

tại các Đại học ở miền Nam Việt nam trước năm 1975. Vì cả hai người đều

có tên là Trung, nên để phân biệt thì bà con thường gọi là Trung Lý, Trung

Nguyễn. Trung Lý thì viết ít, nhưng các bài nhận định thời sự đày tràn nhiệt

huyết của ông được nhiều giới trẻ hồi đó rất hâm mộ. Còn Trung Nguyễn thì

lại là một nhà biên khảo nổi tiếng với nhiều tác phẩm được phổ biến khá

rộng rãi trước 1975. Cả hai ông đều xuất thân từ trường đại học Louvain nổi

tiếng ở nước Belgique hồi đầu thập niên 1950. Nói chung, thì cả hai ông

giáo sư này là những trí thức có đầu óc cởi mở tiến bộ, chịu ảnh hưởng của

“phe tả, không cộng sản” ở Âu châu sau thế chiến, và không có mấy thiện

cảm với chính sách của người Mỹ ở Việt nam. Cả hai ông còn là thành viên

họat động của Phong trào Trí thức Công giáo Pax Romana, thời Đệ nhất

Cộng hòa, cùng với các Bác sĩ Nguyễn Văn Ái, Nguyễn Văn Thơ, Luật sư

Nguyễn Văn Huyền, các Giáo sư Phạm Thị Tự, Phó Bá Long, Trần Long,

các chuyên gia kinh tế Lâm Võ Hòang, Anh Tôn Trang, kỹ sư Võ Long Triều

v.v…

Lại nữa, có hai Dân biểu trẻ tuổi, năng động, người miền Nam với lập

trường đối lập với phe đa số thân chánh quyền của Tổng thống Nguyễn Văn

Thiệu mà hay được báo chí nhắc đến, thì cũng có tên là Chung, đó là Lý

Quý Chung và Nguyễn Hữu Chung. Đọc lên, thì tên Chung nghe cũng tương

tự như tên Trung, nên nhiều người khó phân biệt được. Cả hai ông Chung

này cũng vừa qua đời cách nay mấy năm rồi : Nguyễn Hữu Chung thì mất ở

Canada, còn Lý Quý Chung thì mất ở Saigon.

Lý Chánh Trung, ngòai việc đi dậy học lại còn làm việc lâu năm tại Bộ Quốc

gia Giáo dục với các chức vụ Công cán Ủy viên, Giám đốc Nha Trung học

và làm cả Đổng Lý Văn Phòng tại bộ này. Vào thời Đệ nhị Cộng hòa, ông

còn hay viết bài cho các nhật báo, tạp chí có khuynh hướng đối lập với

chánh quyền Nguyễn Văn Thiệu. Là người xuất thân từ miền Trà Vinh –

Vĩnh Bình, ông Trung Lý sát cánh gần gũi với “ Nhóm Liên Trường” của

các nhà họat động chính trị xã hội của miền Nam trước năm 1975. Và một

bộ phận không nhỏ của Nhóm Liên Trường này đã vận động cho “giải pháp

Dương Văn Minh” để thay thế cho chánh quyền Nguyễn Văn Thiệu.

Sau năm 1975, thì Lý Chánh Trung được cử làm Phó chủ tịch Hội Trí thức

Yêu nước và đặc biệt được sắp xếp ra tranh cử chức vụ Đại biểu Quốc hộ

tại một đơn vị bàu cử ở Saigon. Ông còn điều hành một văn phòng thường

trực của Đòan Đại biểu Quốc hội , tọa lạc tại đường Thống Nhất, nơi căn

nhà của vị mục sư phụ trách Nhà Thờ Tin Lành của những người nói tiếng

Pháp (Eglise Réformée de Langue Francaise). Vào hồi đầu thập niên 1980,

ông sát cạnh với cánh miền Nam để đòi hỏi cho có chánh sách phù hợp hơn

với người dân Nam bộ, mà sau này nổi bật nhất là “Nhóm Câu lạc bộ Kháng

chiến” do các đảng viên kỳ cựu như Nguyễn Hộ, Tạ Bá Tòng… lãnh đạo.

Và trong những năm tháng cộng tác với chánh quyền cộng sản sau năm

1975, ông Lý Chánh Trung đã gặp phải nhiều điều phiền phức khó xử, mà

điển hình là một số sự việc được mô tả như sau đây.

 

1/ “Triết học Mác Lênin là môn chẳng ai muốn học, mà cũng chẳng ai muốn

dậy”.

Vào năm 1988, báo Tuổi Trẻ có đăng một bài báo gây chấn động dư luận ở

miền Nam, đó là bài viết của Giáo sư Lý Chánh Trung có nội dung đại khái

như trên. Ông viết đại ý như sau : Là một nhà giáo dậy môn triết học đã lâu,

ông thấy hiện nay cái môn Triết học Mác Lênin đang được giảng dậy ở các

trường Trung cũng như Đại học ở Việt nam thì là điều áp đặt miễn cưỡng,

học trò chẳng ai muốn học, mà thầy giáo cũng chẳng ai thực sự còn muốn

dậy nữa. Lời phát biểu này quả là một trái bom nổ, phủ nhận hòan tòan cái

lối giáo dục “giáo điều, nhồi sọ “ cứng nhắc của người cộng sản.

Một ông cụ ngòai tuổi 70 mà đã rất phấn khởi khi được đọc bài báo này. Cụ

đã trao cho tôi một số tiền nhỏ và nhờ tôi gửi đến vị giáo sư tác giả bài báo.

Cụ nói với tôi : “Tôi chưa bao giờ quen biết với giáo sư Trung, nên phải cậy

nhờ đến ông vốn là chỗ thân quen lâu ngày với giáo sư, để trao đến tay tác

giả món quà nhỏ này, vốn chỉ là tượng trưng cho sự quý mến và khâm phục

của một ông già đã vào tuổi thất thập đối với vị giáo sư đã có sự can đảm nói

lên tiếng nói lương tâm như vậy…” Và tôi đã làm theo lời của vị bô lão này,

để trao tận tay cho giáo sư Trung nơi văn phòng của ông tại đường Thống

Nhất như đã ghi ở trên.

Nghe tôi trình bày, anh Trung đâm nghi ngờ và nói : “Món tiền này là của

chính anh có ý muốn tặng riêng cho tôi. Chứ làm gì mà lại có một ông cụ già

lạ hoắc nào rút bóp đem tặng tiền bạc cho tôi?” Tôi phải trả lời : “Anh

Trung, chúng ta quen biết nhau từ mấy chục năm rồi, việc gì mà tôi phải bày

ra cái trò này đối với một người bạn thân thiết của mình, để làm gì cơ chứ?

Anh không nên đa nghi như Tào Tháo ấy. Ông cụ là người đáng kính, là

người đồng hương đáng bậc vị anh cả của tôi. Cụ tuy chưa bao giờ gặp gỡ

anh, nhưng qua bài báo này, cụ cảm phục và muốn bày tỏ tấm lòng quý mến

đối với anh vậy thôi. Đó là tiêu biểu cho số quần chúng nhân dân tại thành

phố Saigon này, tôi nghĩ anh là một người Đại biểu Quốc hội, anh phải nhận

ra và trân quý đến cái tình cảm chân thật, sâu sắc như thế này chứ?…”Và rút

cục, anh Trung đã hoan hỉ tiếp nhận món quà và nhờ tôi gứi lời cảm ơn vị ân

nhân.

Ông cụ nay đã quy tiên từ lâu, nên bây giờ tôi có thể nêu danh tánh của

cụ.Đó là cụ Đinh Văn Năm, nguyên trước năm 1954 cụ đã giữ chức vụ Phó

Tỉnh trưởng Tỉnh Bùi chu, mà người dân địa phương đều biết đến và mến

chuộng đức độ và sự tận tâm phục vụ của cụ cả trong việc đời, lẫn việc đạo.

 

2/ “ May mà bây giờ có sự Đổi mới rồi, nếu không thì mình đã bị mất cái

đầu đi rồi”.

Vào đầu năm 1989, có tin đồn là ông Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh có rày

rà, ám chỉ giáo sư Lý Chánh Trung sao đó, ông nói đại ý như : “Có một số

người trước đây là đồng minh với chúng ta trong cuộc chiến đấu chống đế

quốc, thực dân. Nhưng bây giờ họ lại có lập trường khác, làm cản trở sự

nghiệp xây dựng đất nước của ta v.v…” Nghe vậy, tôi có đến gặp anh Trung

và nói ngay : “Tôi nghe thiên hạ đồn rằng bây giờ ông bạn giáo sư đang bị

“rét”, vì bị Tổng bí thư ” xát xà bông” làm sao đó. Sự thực ra sao vậy?” Anh

Trung liền trả lời : “Quả là bây giờ có sự Đổi mới rồi, chứ nếu không, thì

mình bị “ lấy mất cái đầu đi rồi” đấy! Nói xong anh bèn rút từ ngăn kéo ra

bức thư viết tay của ông Nguyễn Van Linh gửi cho anh và trao cho tôi. Bì

thư cũng như giấy viết đều là của một khách sạn ở Ấn Độ, nơi mà Tổng bí

thư mới đi thăm vào năm 1988. Bì thư cũng như lá thư đều được viết bằng

tay, nắn nót cẩn thận, có đề “ Xin gửi Anh Lý Chánh Trung (Nhờ các Anh

Thành Ủy chuyển giao). Nội dung bức thư hòan tòan có tính cách trấn an,

xoa dịu do ông Nguyễn Văn Linh gửi riêng đến với Lý Chánh Trung. Anh

Trung giải thích : “Đây là thư hồi âm của ông Linh gửi cho mình, vì trước đó

mình đã gửi thư cho ông ấy, nêu thắc mắc về sự ám chỉ trong bài nói chuyện

với cán bộ đảng viên, mà có liên hệ đến mình. Sự việc như vậy, kể như đã

tạm yên, thiết nghĩ chẳng cần phải bận tâm thắc mắc gì thêm nữa…”

 

3/ “Các anh định bắt tôi ư?”

Tháng Tư năm 1990, tôi bị công an bắt và đưa vào trại tạm giam trong khu

Tổng Nha Cảnh sát cũ. Đó là trong vụ càn quét bắt giữ các cán bộ đảng viên

nòng cốt như Nguyễn Hộ, Tạ Bá Tòng, Đỗ Trung Hiếu …, và bắt quản chế

linh mục Chân Tín, giáo sư Nguyễn Ngọc Lan… Trong suốt 3 tháng điều

tra, người phụ trách thẩm vấn tôi là Đại tá Quang Minh (tên thật là Ngô Văn

Dần). Có lần ông Quang Minh cho tôi biết là ông có đến tận nhà các anh Lý

Chánh Trung, Ngô Công Đức để cật vấn họ về họat động liên quan đến âm

mưu đòi “đa nguyên, đa đảng” sao đó. Ông kể lại : Ông Lý Chánh Trung có

ý thách thức tôi với câu hỏi rằng “Các anh định bắt tôi ư?” Tôi phải trả lời

rằng :”Nếu cần phải làm điều đó, thì chúng tôi vẫn có thể “rút lại cái quyền

bất khả xâm phạm của người đại biểu Quốc hội như anh đang nắm giữ hiện

nay được lắm chứ”. Ông Quang Minh mô tả là cuộc trao đổi giữa hai người

lúc đầu khá căng thẳng, gay gắt; nhưng về sau thì cũng ổn thỏa êm diụ thôi.

Chỉ có Ngô Công Đức, thì ông ta nói hơi sỗ sàng, đại khái ông Đức nói :

“Tôi có 2 điều không ưa : đó là tôi không ưa thích mấy người công an, và tôi

cũng không ưa thích người Bắc kỳ”. Tôi phải giải thích với ông Đức là “Phải

tốn biết bao xương máu, bây giờ nước nhà mới thống nhất. Thái độ kỳ thị

Nam/Bắc của ông như vậy là đi ngược lại với chiều hướng đòan kết, thống

nhất của tòan thể dân tộc chúng ta…”

 

4/ “Anh Trung Lý bây giờ bị lẫn mất rồi”

Đó là lời mô tả của anh chị Phó Bá Long nói với tôi vào giữa năm 2008, lúc

tôi đến thăm và ở lại nhà anh chị tại Virginia. Anh Long kể lại là vào năm

2007, anh chị có về Việt nam thăm lại bà con, bạn hữu. Và anh có đến thăm

gia đình Lý Chánh Trung vẫn ở căn nhà cũ tại khu Làng Đại học Thủ Đức

gần với xa lộ Biên hòa. Ban bè lâu ngày mới gặp nhau, nên có dịp tâm sự

nhiều. Thế mà anh Trung đã quên lãng rất nhiều, đến nỗi đi ra khỏi nhà

không xa bao nhiêu, mà anh cũng quên luôn lối trở về nhà nữa. Năm nay anh

Trung mới chỉ cỡ 83-84 tuổi thôi à!

Mấy tháng trước đây, thì Lý Tiến Dũng lại bị mất chức Tổng biên tập báo

Đại Đòan Kết của Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam. Dũng

chính là con trai trưởng của Lý Chánh Trung. Cháu đã đi bộ đội tham gia

chiến đấu ở Cambodia trên 20 năm trước và sau này gia nhập ngành báo chí

của chánh quyền cộng sản. Nhưng có lẽ cũng vì tiếp nối cái tinh thần khí

phách của cha mình, mà Dũng đã có đường lối thông thóang không phù hợp

với chánh sách “xiết chặt tự do ngôn luận của đảng cộng sản”, cho nên mới

bị lọai bỏ khỏi chức vụ như vậy chăng?

Như vây là về cuối đời, lúc đã về nghỉ hưu rồi, ông bạn giáo sư của chúng

tôi vẫn còn gặp điều khó xử nữa, xuyên qua cái vụ việc bị cất chức của con

trai Lý Tiến Dũng này vậy.

Và để tóm tắt lại, xuyên qua trường hợp của giáo sư Lý Chánh Trung như

đã trình bày sơ lược trong bài này, chúng ta có thể ghi nhận rằng : Con

đường hợp tác với người cộng sản ở Việt nam quả thật vẫn đày dãy chông

gai, trắc trở và bạc bẽo lắm vậy đó !

California, Tháng Chín 2009

Đòan Thanh Liêm

Giải phóng hay ăn cướp?

Giải phóng hay ăn cướp?

Nguyên Thạch (Danlambao) – Đảng CSVN đã cướp miền Nam dưới mỹ từ giải phóng để từ đó biến miền Nam trở thành nghèo nàn lạc hậu giống với miền Bắc và đưa Việt Nam vào ngang hàng với những nước nghèo đói nhất thế giới. Ông Hồ Chí Minh đã không lường được rằng chính cái từ CUỚP chính quyền mà ông sử dụng, nó đã trở thành những phương thức, những “tư duy” cho đảng cộng sản cùng lớp hậu duệ học hỏi và noi theo để gọi là noi gương đạo đức Hồ Chí Minh. Quả vậy, đảng CSVN cùng những thành viên của nó là một đảng CƯỚP và những tên CƯỚP đúng nghĩa.

*

Tựa bài dưới dạng một câu hỏi nhưng thực chất đó là một câu khẳng định vì người cộng sản thường hay mụ mị che giấu những hành vi ăn cướp của chúng bằng những mỹ từ để khỏa lấp hành động xấu xa đáng khinh tởm.

Tập thể Quân Dân Cán Chính thuộc Việt Nam Cộng Hòa thường gọi cộng sản Bắc Việt là: Quân xâm lược, Quân xâm lăng, tệ hơn chút là Quân cướp nước hoặc Bọn cộng nô. Những cách nói ấy thường bị đối phương phê phán và cho rằng đó là biểu hiện của sự thù hận đầy xuyên tạc và bôi bác.

Để giải thích vấn đề một cách xác thật và khách quan hơn, chúng ta hãy nghe chính con người của bên kia chiến tuyến mà tiêu biểu là một vài nhân vật sau đây:

1- Nữ Nhà văn Dương Thu Hương người đã từng phục vụ cho chế độ cộng sản, “thuộc thế hệ xẻ Trường Sơn đánh Mỹ” đã có lần công khai bày tỏ rằng, tháng Tư năm 1975, khi từ Hà Nội tiến vào thành phố cùng đoàn quân “giải phóng”, bà đã ngồi trên lề đường của Sài Gòn ôm mặt khóc:

“Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người. Trong khi đó ở miền Nam người ta có thể nghe bất cứ thứ đài nào, Pháp, Anh, Mỹ… nếu người ta muốn. Ðó mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua chế độ man rợ. Ðó là sự hàm hồ và lầm lẫn của lịch sử. Ðó là bài học đắt giá và nhầm lẫn lớn nhất mà dân tộc Việt Nam phạm phải.”

2- Trung tướng Trần Độ: “Thực chất là chế độ thì rất dã man, cho nên phải dùng nhiều thủ đoạn để lừa bịp nhân dân,”

“Chế độ cộng sản như một sự kết hợp giữa cái ngu muội của Tần Thủy Hoàng với cái dã man của chế độ phát-xít Hitler”.

Và từ đó ông cũng đã yêu cầu

“Đảng Cộng sản phải tự mình từ bỏ chế độ độc đảng, toàn trị, khôi phục vai trò, vị trí vốn có của Quốc hội, Chính phủ. Phải thực hiện đúng Hiến pháp, tức là sửa chữa các đạo luật chưa đúng tinh thần Hiến pháp. Đó là phải có những đạo luật ban bố quyền tự do lập hội, lập đảng, tự do ngôn luận, luật báo chí, xuất bản. Sửa chữa các luật bầu cử ứng cử tự do, từ bỏ quyền quyết định của cơ quan tổ chức Đảng, trừ bỏ “hiệp thương” mà thực chất là gò ép”.

Nền chuyên chính vô sản này làm tê liệt toàn bộ đời sống tinh thần của một dân tộc, làm tê liệt sự hoạt động tinh thần của nhiều thế hệ, ra sức nô dịch toàn bộ tinh thần của nhiều thế hệ, làm nhiều thế hệ con người trở thành những con rối chỉ biết nhai như vẹt các nguyên lý bảo thủ giáo điều… Nó đang làm hại cả một nòi giống.”

Ăn cướp như thế nào và tại sao cộng sản Bắc Việt phải đi ăn cướp?. Để giải đáp cho những câu hỏi này, chúng ta hãy đi tìm nguyên nhân.

1- Miền Bắc trước 1975. Có quá nhiều tài liệu, sách vở, hình ảnh, thơ văn, chuyện kể về miền Bắc trước 75 qua các nhân vật sống mà phạm vi của một bài viết nhỏ bé không thể nào liệt kê ra hết được. Lớp người lớn tuổi thì đã mục kích qua thực tế cuộc sống, lớp người nhỏ tuổi hơn sinh sau 75 thì nghe lớp người đi trước kể lại hoặc cũng có thể nhìn thấy xã hội miền Bắc vào những đầu thập niên của 1975 – 1985 cái thời kỳ mà cả nước ăn chung một món canh “toàn quốc” (toàn nước) và toàn dân muốn tự tử tập thể. Lớp sinh sau vào những thập niên gần đây thì có thể tìm hiểu qua tiện ích của nền tin học mà nguồn cung cấp thông tin vô cùng phong phú.

Những câu chuyện và những hình ảnh tàn ác mà đảng cộng sản đã áp dụng trên miền Bắc, nổi bậc nhất là phải nói đến cuộc Cải Cách Ruộng Đất 1953 – 1956 đã giết 172.008 người là con số có thể gần với sự thật nhát. Tuy nhiên, theo Hoàng Văn Chí thì con số đã lên đến 675.000 người đã chết (1). Tà sách này đã là những ảnh hưởng cực kỳ ghê gớm đến đời sống của miền Bắc nói riêng và VN nói chung cho xã hội, phong tục tập quán, đạo lý truyền thống tốt đẹp lâu đời mà dân tộc có được và sự ảnh hưởng ấy vẫn còn kéo dài cho mãi đến tận ngày hôm nay, một xã hội ăn gian nói dối không hề biết ngượng miệng, đạo lý suy đồi cùng cực, cướp giựt hoành hành, con người ta sẵn sàng giẫm lên nhau để tranh giành sự tồn tại. cho dẫu sự tồn tại trong một CƠ CHẾ đầy BẤT CÔNG và NGHỊCH LÝ.

Cải Cách Ruộng Đất 1953-1956

Cải Cách Ruộng Đất và những giọt nước mắt cá sấu

Nói chung xã hội miền Bắc là một xã hội rất nghèo nàn lạc hậu mà nguyên nhân của mọi nguyên nhân là do ông Hồ đã du nhập một chủ thuyết hoang đường vào miền Bắc của Việt Nam thời bấy giờ để áp dụng và tập tành thực hiện những bước tiến của Chủ Nghĩa Xã Hội lấy kinh tế tập trung được chỉ đạo bởi đảng và nhà nước trong mô hình quốc hữu hóa, hợp tác xã và chế độ tem phiếu để cung cấp đến toàn hệ thống xã hội mà chúng ta có thể mường tượng ra hình ảnh của một xã hội qua 2 câu ca dao sau đây:

Một năm 2 thước vải thô

Em mặc không đủ, Bác Hồ lòi ra.

Một xã hội mà người phải thay trâu đi cày, đi chợ phải giấu thức ăn ngon dưới đáy rổ, đám cưới đám hỏi hay tiệc tùng giỗ ông bà muốn thịt con gà phải chờ tới nửa đêm mới dám vặn cổ nó cho thật nhanh, kẻo không nhỡ nó la thì người hàng xóm đi khai khai báo với ông tổ trưởng khu phố thì cũng bỏ mẹ, vặn cổ con gà xong tới khi trụng nhổ lông thì phải lén đi chôn lông, kẻo bị phát hiện được thì cũng chết chắc. Những mẩu truyện về sự bưng bít độc tài của đảng, cáo nghèo, cái khổ của xã hội miền Bắc mà những người đã từng chứng kiến hoặc am hiểu về nó, có thể bổ sung thêm để cho kho tàng dữ liệu càng thêm đầy đủ.

Trong đời thường, chúng ta thường nghe những bày tỏ về cảm xúc về những thứ gì rẻ và thối “rẻ như bèo, thối như cức”, thế nhưng ở miền Bắc lúc bấy giờ bèo cũng không rẻ và cức cũng rất quí. Xin xem bài viết “Nợ cứt” của tác giả Phạm Thế Việt (3)

2- Miền Nam trước 1975. Sau Hiệp định hiệp định genève năm 1954 chia đôi đất nước, miền Bắc theo chế độ XHCN, miền Nam theo chế độ tự do. Sự nổi bật nhất ở giai đoạn này là hình ảnh của số lượng khoảng 600.000 đến một triệu người miền Bắc di cư vào Nam,[5] trong khi đó 14.000–45.000 cư dân và 100.000 binh sĩ Việt Minh tập kết ra miền Bắc. (4). Con số khác biệt quá lớn này đã nói lên ý nguyện của người dân mong muốn được sống ở thể chế nào vào thời đó, còn ở thời điểm 2016 này, nếu có một Hiệp định tương tự như vậy thì có lẽ trên 40 triệu người miền Bắc sẽ di cư vào Nam và chọn thể chế Tự Do để mà sống. Sau một thời gian dài hơn 70 năm, người ta đã quá hiểu cộng sản là như thế nào và họ sẽ có thái độ dứt khoát, nghĩa là không bao giờ chấp nhận cộng sản.

Miền Nam Việt Nam qua 2 nền Đệ nhất và Đệ nhị cộng hòa, người dân đã được sống trong một chế độ đầy Tự Do và Nhân Bản với sự phát triển đầy hài hòa mặc dù vẫn luôn bị miền Bắc tấn công. Xã hội miền Nam mang đầy tính văn minh vì không theo một chủ thuyết cực đoan, sự tư hữu đã làm cho con người luôn cố gắng và năng động… đó là lý do miền Nam đã phát triển về nhiều mặt mà trong đó công nghệ sản xuất cung ứng gần đầy đủ để phục vụ cuộc sống. Chẳng những thế, miền Nam còn có khả năng phát triển về những công nghệ tiên tiến khiến Việt Nam Cộng Hòa đã vượt trội các nước trong khu vực Đông Nam Á Châu và tiến xa hơn cả Trung cộng. Hãy đơn cử một vài ví dụ trong thập niên 1960: Lý Quang Diệu từng mơ ước: Singapor một ngày nào đó sẽ được như Sài Gòn.

La Dalat trên đường phố Sài Gòn

Còn các nước láng giềng như Nam Dương, Thái Lan, Campuchia, Lào, Miến Điện thì không thể nào so sánh. Thế mà sau 40 năm dưới sự lãnh đạo tài tình của đảng CSVN quang vinh, Việt Nam giờ đây lẹt đẹt chạy theo ngửi khói các quốc gia này!.

Một thể chế mà người dân có cuộc sống ấm êm đầy hạnh phúc, trai không phải đi lao nô, gái không phải đi đánh đĩ xứ người. Một chế độ mà không ai muốn bỏ chạy trốn quê hương đất nước của mình cả.

1975 sau khi cướp được miền Nam, như vô số người đã nhìn thấy người Bắc 75 đã rất tích cực trong phong trào 4 V (Vào vơ vét về), họ vơ vét từng cái đồng hồ, từng chiếc xe đạp, từng chiếc radio cho đến vàng bạc của cải và chiếm hữu bao nhiêu công xưởng, cơ sở sản xuất, tài sản nhà cửa, biệt thự… và dùng tiêu chuẩn lý lịch để cưỡng bức và cai trị.

Đảng CSVN thực chất chỉ là là một lũ ăn hại không hơn không kém, đây là tập hợp của rất nhiều tên bất tài vô tâm luôn mị dân với chiêu bài vì dân vì nước, vì sự công bằng và hạnh phúc nhưng trên thực tế đảng chẳng vì dân vì nước gì cả mà chỉ vì đảng là truớc nhất, điều 4 Hiến Pháp đã khẳng định điều đó. Chúng lại càng chẳng phải vì sự công bằng hay hạnh phúc của toàn dân vì tự CƠ CHẾ của chúng tạo ra vốn dĩ đã là BẤT CÔNG, chúng bỏ công sức để giành lấy hạnh phúc, tiền tài của cải cho bọn chúng là chính, ngoài ra dân chết mặc dân mà trên thực tế của xã hội VN hôm nay đã chứng minh một cách rõ nét nhất.

Đức Dalai Lama

Đảng cộng sản không tạo ra của cải cho xã hội. không phát minh hoặc sản xuất được bất cứ phần cứng phần mềm gì cho công nghệ, không sản xuất được xe hơi, vật dụng để phục vụ cho nhu cầu dân sinh mà ngược lại đảng chỉ là một đám quái đảng tự cho mình cái quyền ăn trên ngồi trốc, nắm đầu bàng dân để mà cai trị, để mà ra nghị quyết, nghị định mang đầy tính phá bỉnh đầy xuẩn ngốc. Chúng bày đủ thứ trò để tiêu xài ngân quỹ quốc gia, tụ tập bầy đàn băng đảng mánh mung, chúng vẽ vời nhiều cách để có dịp bòn tỉa rút ruột để làm giàu trên công lao và xương máu của nhân dân. Tóm lại đảng CSVN chỉ là một lũ vô tích sự, phá nhiều hơn xây cho nên đất nước mới lâm vào cảnh nợ nần, nghèo đói và tụt hậu. Chúng là những bầy chuột hôi tanh nhơ nhớp, tàn phá đất nước một cách kinh khủng bởi vì chúng quá đông.

Rồi đây nhằm mục đích Hán hóa, Thiên triều phương Bắc sẽ cho tiến hành mạnh hơn nữa về thể chế CÔN AN TRỊ và Việt Nam cũng sẽ như là Tân Cương, Nội Mông hay Tây Tạng mà tầng lớp tôi tớ đảng CSVN sẽ được giàu có một cách bất chánh, nhưng những tên tham quan này có biết rằng trong lầu son gác tía kia, từng viên gạch tự nó đã được đúc bằng xương thịt của bao triệu dân nghèo, nước sơn của những lâu đài hoàng tráng đã được pha trộn bởi màu máu và nước mắt của bao dân oan nghiệt ngả, những cổ xe hơi đắt tiền sang trọng có mùi mồ hôi cùng nước mắt của tầng lớp công nông dân vất vả chắt chiu từng hơi tàn sức kiệt, của những cụ già đói rét rau muối, của những em thơ dãi nắng dầm mưa lang thang đi bán vé số trên từng cây số của quê hương. Sự khắc khoải đợi chờ trong dồn nén bực tức của hơn 90 triệu tù nhân trong một nhà tù vĩ đại đã nung lên một bầu không khí ngột ngạt hận thù, sức bộc phá ấy rồi một ngày không xa sẽ như những trận cuồng phong, những đợt sóng nhầm cuồn cuộn trào dâng để cuốn trôi đi những tên bán nước hại dân để gom chúng trở lại đúng chỗ của rác rưởi hôi tanh trùng độc.

Ngẫm cho cùng, trong thời đại tiến bộ hôm nay thuyết quả báo vẫn còn ứng nghiệm. Cho nên những tham quan mà nhất là ngành CÔN AN nên chuẩn bị tinh thần để nhận lãnh sự trừng phạt từ những hành động vô nhân, hung ác mà lưới Trời đã lồng lộng bủa giăng một cách nhiệm mầu.

Tuy nhiên, việc Tàu cộng muốn, những tên tay sai như Nguyễn Phú Trọng, Hoàng Trung Hải, Nguyễn Xuân Phúc, Trần Đại Ngu muốn đó là chuyện của chúng còn được hay không là chuyện của Trời. Cho nên toàn Dân Tộc hãy mau thức tỉnh và vùng dậy là những việc phải làm ngay.

Đảng CSVN đã cướp miền Nam dưới mỹ từ giải phóng để từ đó biến miền Nam trở thành nghèo nàn lạc hậu giống với miền Bắc và đưa Việt Nam vào ngang hàng với những nước nghèo đói nhất thế giới. Ông Hồ Chí Minh đã không lường được rằng chính cái từ CUỚP chính quyền mà ông sử dụng, nó đã trở thành những phương thức, những “tư duy” cho đảng cộng sản cùng lớp hậu duệ học hỏi và noi theo để gọi là noi gương đạo đức Hồ Chí Minh. Quả vậy, đảng CSVN cùng những thành viên của nó là một đảng CƯỚP và những tên CƯỚP đúng nghĩa.

Nguyên Thạch

danlambaovn.blogspot.com

Ghi chú:

Tôi thiết tha đề nghị VN đổi chính sách’

Tôi thiết tha đề nghị VN đổi chính sách’

  • BBC      
  • GS. Nguyễn Khắc Nhẫn
  • Nguyễn Khắc Nhẫn ‘thiết tha’ đề nghị chính phủ Việt Nam thay đổi chiến lược về năng lượng, năng lượng hạt nhân, trước tình hình biến đổi khí hậu.

Trước diễn biến biến đổi khí hậu đang diễn ra phức tạp ở Việt Nam, nhân 5 năm đánh dấu thảm họa sóng thần và nhà máy điện hạt nhân Fukushima, một chuyên gia về chiến lược năng lượng từ Pháp ‘thiết tha’ đề nghị chính phủ Việt Nam thay đổi chiến lược năng lượng, đặc biệt là năng lượng hạt nhân.

“Tôi rất buồn vì thảm họa Fukushima không lay chuyển quyết định của Chính phủ Việt Nam: một hai vẫn muốn làm điện hạt nhân. Thật là sai lầm khi cho rằng hạt nhân có thể cứu được trái đất khỏi sự nóng lên của thời tiết,” đó là quan điểm của Giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn, chuyên gia về chiến lượng năng lượng, cựu cố vấn của hãng Năng lượng Quốc gia Pháp (EDF) và nguyên Giáo sư Đại học Bách khoa Grenoble.

Mời qu‎ý vị theo dõi toàn văn cuộc phỏng vấn của BBC với chuyên gia năng lượng sau đây.

BBC: Tại Hội thảo về chiến lược năng lượng cho Việt Nam tại Đại học Bách khoa Grenoble mới đây, sau Hội nghị Thượng đỉnh Quốc tế về Biến đổi khí hậu COP21, Giáo sư đã có những kiến nghị cụ thể gì?

“ Tôi đề nghị ba kế hoạch căn bản. Đó là khai thác và đầu tư mạnh vào năng lượng tái tạo, triệt để tiết kiệm năng lượng ở mọi lĩnh vực, khuyến khích việc nâng cao hiệu suất năng lượng.

Giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn “                   

Nguyễn Khắc Nhẫn: Tôi đề nghị ba kế hoạch căn bản. Đó là khai thác và đầu tư mạnh vào năng lượng tái tạo, triệt để tiết kiệm năng lượng ở mọi lĩnh vực, khuyến khích việc nâng cao hiệu suất năng lượng.

Muốn thành công, Việt Nam cần thành lập Bộ Năng lượng tái tạo (như ở Ấn Độ), tăng cường hỗ trợ năng lượng tái tạo, đơn giản hóa thủ tục hành chính để đẩy nhanh thời gian thực hiện các dự án, giảm tỷ số đàn hồi (coefficient d’élasticité), chống lãng phí, triển khai các dự án thí điểm về cộng đồng dân cư năng lượng sạch, không lãng phí, không rác thải, phát triển giao thông sạch và đào tạo đội ngũ cán bộ.

Làm gì để giảm nhẹ?

BBC: Việt Nam đang trải qua đợt hạn hán ở nhiều tỉnh Miền Trung và Tây Nguyên, ngập mặn và xâm nhập mặn ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, vựa lúa của cả nước, theo Giáo sư Việt Nam có thể làm gì để giảm nhẹ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu?

Nguyễn Khắc Nhẫn: Việt Nam là một quốc gia đối mặt với nguy cơ cao. Việt Nam xếp hạng thứ 26, nằm trong nhóm các nước có nguy cơ đặc biệt lớn. Những rủi ro cho Việt Nam cũng như các nước châu Á gồm bão ngày càng lớn và thường xuyên hơn, ngập lụt tăng cao do nước biển và sóng, lở đất do tan băng ở Himalaya, xói mòn, tài nguyên nước và dự trữ nước mềm giảm, mực nước biển tăng, ngập úng, mặn hóa, hiệu suất nông nghiệp giảm, đói kém, tử vong tăng, các bệnh tiêu chảy, dịch tả lan tràn do nhiệt độ tăng.

Ta hiểu tại sao phái đoàn Việt Nam, cũng như nhiều nước có nguy cơ lớn bị ảnh hưởng, tại COP21 đã đề nghị giảm ngưỡng từ 2°C xuống 1,5°C. Ngay trước ngày khai mạc Hội nghị ở Paris, Việt Nam đã quyết định ngày 25/11/2015, giảm lượng khí thải CO2, so với mức bình thường theo kế hoạch sau: 5% vào năm 2020, 25% năm 2030 và khoảng 45% năm 2050.

Khả năng thích ứng của Việt Nam thấp, do thiếu quyết tâm chính trị và tài chính. Những công việc đồ sộ cần thực hiện không được chậm trễ như : rà soát lại quy hoạch đô thị và kế hoạch phòng chống, xây dựng lại cầu đường và nhà cửa, bảo vệ các công trình, làm sạch hệ thống dẫn nước, bảo vệ các đê, đập, di chuyển dân cư… Đừng quên rằng nông nghiệp là nguồn sản xuất metan lớn (40 lần nguy hiểm hơn CO2). Các súc vật chăn thả gặm cỏ, đồng lúa, phân, và cây cỏ lên men cũng thải ra khí metan.

Cũng như các nước khác trên thế giới, Việt Nam phải xây dựng gấp rút nền kinh tế ít carbon. Nếu chúng ta càng trì hoãn, càng khó cho việc đối đầu với các đe dọa và thiệt hại sẽ lớn hơn, khó xử lý hơn. Tất nhiên, đó là một thách đố trường kỳ.

Không lay chuyển quyết định

BBC: Năm nay, Nhật Bản đánh dấu tròn 5 năm thảm họa sóng thần và sự cố nhà máy điện hạt nhân Fukushima, Việt Nam học được gì từ thảm họa này và theo Giáo sư, chương trình điện hạt nhân của Việt Nam có gì mới trước tình hình và xu hướng tới đây của biến đổi khí hậu?

“ Tôi rất buồn vì thảm họa Fukushima không lay chuyển quyết định của Chính phủ Việt Nam: một hai vẫn muốn làm điện hạt nhân. Thật là sai lầm khi cho rằng hạt nhân có thể cứu được trái đất khỏi sự nóng lên của thời tiết.          Nguyễn Khắc Nhẫn “

Nguyễn Khắc Nhẫn: 5 năm sau thảm họa, nhà máy Fukushima, với 8.000 nhân công (kĩ sư, chuyên gia, kĩ thuật viên) liên tục thay phiên nhau, vẫn còn là một công trường ngổn ngang với phóng xạ mạnh.

Bên ngoài, trên một diện tích rộng hơn 1.000 km2 bị ô nhiễm, hàng ngàn công nhân, kể cả SDF, bất kể nguy hiểm đã làm công việc khử nhiễm, cùng với 1000 công ty. Chi phí cho quá trình này ước tính chừng 25 tỷ euro. Đây chỉ là bước đầu vì chất phóng xạ (césium 134 và 137, strontium 90) đã ảnh hưởng 24 000 km2 trong những ngày đầu tiên của thảm họa.

Sự ô nhiễm lan đến phía nam, vùng Tokyo và đến 250 km về phía bắc. Cựu thủ tướng Naoto Kan, đương chức lúc xảy ra sóng thần, đã cho biết : thảm họa đã suýt khiến phải di tản 30 triệu dân vùng Tokyo, điều này có thể gây suy sụp quốc gia!

Tôi rất buồn vì thảm họa Fukushima không lay chuyển quyết định của Chính phủ Việt Nam: một hai vẫn muốn làm điện hạt nhân. Thật là sai lầm khi cho rằng hạt nhân có thể cứu được trái đất khỏi sự nóng lên của thời tiết. Thực ra, hạt nhân, trên đà suy thoái ngay cả trước thảm họa Fukushima, chỉ còn chiếm 11,7% tổng năng lượng điện thế giới (67,9% từ than, dầu mỏ, khí đốt – 16,3% thủy điện – 4,1% năng lượng mặt trời, gió, sinh khối). So với năng lượng sơ cấp toàn cầu, nó chỉ chiếm khoảng 5%.

Chuyên gia đề nghị Việt Nam hủy bỏ gấp chương trình hạt nhân 5 năm sau sự cố sóng thần và cháy lò phản ứng hạt nhân ở Fukushima, Nhật Bản.

Khác với những lời tuyên truyền không đúng sự thật, lượng khí CO2 thải ra trong toàn bộ các khâu của quá trình hạt nhân không phải thấp! Từ đầu đến cuối: khai thác mỏ, vận chuyển Uranium từ nước ngoài đến tận nhà máy chế biến, tạo ra vật liệu với các thành phần khác nhau, công trường xây dựng của nhà máy (xi măng, thép), chu kì của nhiên liệu, khai thác, tháo gỡ, tái xử lý, quản lý chất thải… Tổng lượng carbon khó mà bỏ qua được!

Vì sự sống còn

Điện hạt nhân quá nguy hiểm và bắt đầu đắt hơn các nguồn điện khác, kể cả năng lượng tái tạo. Trong thời gian COP21, sử gia về khoa học của Hoa Kì, Naomi Oreskes, khẳng định nhiều nghiên cứu uy tín đã chỉ ra rằng có thể thực hiện được một nền kinh tế không carbon và không hạt nhân, bằng cách tập trung vào gió, mặt trời, thủy điện, kết hợp với việc kết nối tất cả các lưới điện, với hiệu quả năng lượng và với quản lý nhu cầu hiệu quả.

“ Vì sự sống còn của đất nước mến yêu, một lần nữa, tôi thiết tha trân trọng yêu cầu chính phủ Việt Nam hủy bỏ gấp chương trình điện hạt nhân .             

Nguyễn Khắc Nhẫn “

Dù sao, năm 2030, phần hạt nhân sẽ chỉ đóng góp tối đa là 10% lượng điện của Việt Nam. Con số này nhỏ hơn nhiều so với số tỷ kWh lãng phí ở Việt Nam. Việc tiết kiệm năng lượng không gây nguy hiểm gì và chi phí nhỏ hơn nhiều so với việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân.

Hàng chục và sau này sẽ là hàng trăm tỷ đô la đầu tư cho hạt nhân sẽ có hiệu quả kinh tế và xã hội lớn hơn nếu được dùng cho việc thích nghi với biến đổi khí hậu và phát triển mạnh mẽ năng lượng tái tạo của Việt Nam.

Không nên quên rằng khoảng thời gian từ khi lò phản ứng dân sự đầu tiên đưa vào hoạt động vào năm 1951 ở Mỹ đến thảm họa Fukushima ngày 11/3/2011 chỉ có 60 năm. Trong khoảng thời gian này, nhân loại chứng kiến 5 lần chảy tâm lò: 1 tại Three Miles Island, 1 tại Tchernobyl, 3 tại Fukushima. Trung bình, cứ 12 năm xảy ra một lần chảy tâm lò.

Vì sự sống còn của đất nước mến yêu, một lần nữa, tôi thiết tha trân trọng yêu cầu chính phủ Việt Nam hủy bỏ gấp chương trình điện hạt nhân.

Giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn nguyên là Giám đốc Trường Cao đẳng Điện học và Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú Thọ (hiện là Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh), Cố vấn Nha kinh tế, dự báo, chiến lược EDF Paris, Giáo sư Trường Đại học Bách khoa Grenoble và Viện kinh tế và chính sách năng lượng Grenoble.

AI CHỊU TRÁCH NHIỆM TRONG VIỆC IM LẶNG TRƯỚC HẢI CHIẾN HOÀNG SA – CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI PHÍA BẮC – TRẬN CHIẾN GẠC MA?

AI CHỊU TRÁCH NHIỆM TRONG VIỆC IM LẶNG TRƯỚC HẢI CHIẾN HOÀNG SA – CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI PHÍA BẮC – TRẬN CHIẾN GẠC MA?

Khi đó thì ông Phó chủ tịch Hội sưu tầm và nghiên cứu gốm sứ Singapore nói rằng: “Tôi toàn đọc sách, tài liệu, xem phim ảnh do Trung Quốc xuất bản, khẳng định rằng hai quần đảo đó là của Trung Quốc từ nghìn đời nay. Việt Nam nói các quần đảo này là của Việt Nam sao không xuất bản các cuốn sách bằng tiếng Hoa, tiếng Anh… để công bố cho thế giới biết về điều này?”.

____

Trần Đức Anh Sơn

NGƯỜI NƯỚC HUỆ

13-3-2016

Tháng 7/2013, tôi sang Singapore để thực hiện một số cuộc phỏng vấn các học giả chuyên nghiên cứu về tranh chấp trên Biển Đông tại Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á (ASEAN Studies Centre) cho bộ phim tài liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa do Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh (HTV) thực hiện. Sau giờ làm việc, tôi được Alex Giang, một người bạn Hà Nội đang làm luận án tiến sĩ ở ĐHQG Singapore mời đi uống trà và nói chuyện về gốm sứ cổ với ông Phó chủ tịch Hội sưu tầm và nghiên cứu gốm sứ Singapore.

Qua trò chuyện, khi biết mục đích chính của tôi đến Singapore là để phỏng vấn các học giả ở Singapore về vấn đề chủ quyền trên Biển Đông, ông Phó chủ tịch Hội sưu tầm và nghiên cứu gốm sứ Singapore nói: “Paracels (Hoàng Sa) và Spratlys (Trường Sa) là những hòn đảo của Trung Quốc, Việt Nam tranh với Trung Quốc làm gì và làm sao mà tranh được!”.

Tôi phải mất gần 15 phút để giải thích, đưa dẫn chứng và tranh luận với ông là Trung Quốc đã xâm lược, và chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa và một số thực thể trong quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Khi đó thì ông Phó chủ tịch Hội sưu tầm và nghiên cứu gốm sứ Singapore nói rằng: “Tôi toàn đọc sách, tài liệu, xem phim ảnh do Trung Quốc xuất bản, khẳng định rằng hai quần đảo đó là của Trung Quốc từ nghìn đời nay. Việt Nam nói các quần đảo này là của Việt Nam sao không xuất bản các cuốn sách bằng tiếng Hoa, tiếng Anh… để công bố cho thế giới biết về điều này?”.

Tôi nói: “Đó là sai lầm của Việt Nam. Vì thế, hiện nay chúng tôi đang khắc phục điều này bằng cách nghiên cứu, xuất bản và công bố ra quốc tế những cuốn sách, bộ phim tư liệu về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bộ phim mà chúng tôi đang thực hiện tại Singapore hôm nay là một nỗ lực để sửa chữa sai lầm đó”.

Tháng 6/2015, bộ phim BIỂN ĐẢO VIỆT NAM – NGUỒN CỘI TỰ BAO ĐỜI (5 tập) do HTV thực hiện từ đầu năm 2013, đã hoàn thành và đã được phát trên sóng của HTV, sau khi vượt qua nhiều gian truân, trắc trở.

Bộ phim cũng đã được nhiều đài truyền hình khác ở Việt Nam phát lại, được đưa lên Youtube và được nhiều webpage khác dẫn lại [như link này (đủ cả 5 tập)].

Tháng 9/2015, phiên bản tiếng Anh của bộ phim này được phát trên Youtube, thu hút hàng ngàn lượt người xem links tại đây:

https://www.youtube.com/watch?v=gTfnz7TSedk (tập 1);

https://www.youtube.com/watch?v=Cu00mR9X_NE (tập 2);

https://www.youtube.com/watch?v=i93hfKUrZP0 (tập 3);

https://www.youtube.com/watch?v=XYFCshLoEDY (tập 4);

https://www.youtube.com/watch?v=B22KfiCfDcU (tập 5)

Và, đến tháng 3/2016, phiên bản tiếng Hoa của bộ phim này tiếp tục được phát trên Youtube [links tại đây:

http://youtu.be/ox_vJn_itYk (tập 1);

http://youtu.be/JDQr_ODgd7o (tập 2);

http://youtu.be/_AyrCih9KIU (tập 3);

http://youtu.be/_SR6yCOEWTk (tập 4);

http://youtu.be/moNKQy1t6gM (tập 5)

Vậy, ai có bạn bè là người Trung Quốc hoặc là người sử dụng tiếng Hoa, thì giới thiệu cho họ xem để họ biết về lịch sử chiếm hữu, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và những vùng biển đảo khác của Việt Nam; để họ biết rằng những tuyên bố của Trung Quốc về chủ quyền của họ trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là hoàn toàn dối trá.

Tuy nhiên, cũng phải đau buồn mà thừa nhận rằng trong khi Trung Quốc đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền về “chủ quyền dối trá” của họ đối với những vùng biển và quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam, về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam tháng 2/1979, về trận hải chiến Hoàng Sa tháng 1/1974 và trận chiến Gạc Ma tháng 3/1988…, thì lãnh đạo Việt Nam lại im lặng.

Không thấy vị lãnh đạo cao cấp nào lên tiếng về những sự kiện trên, trong khi báo chí thì bị hạn chế đưa tin; dư luận bị dập tắt, nhân chứng không có cơ hội lên tiếng về các sự kiện này. Mãi cho đến vài năm gần đây thì chính quyền mới “nới lỏng” đôi chút trong những dịp kỷ niệm, nhưng đâu đó vẫn có cấm đoán, ngăn chặn, thậm chí cướp phá vòng hoa và hành hung người tham dự tưởng niệm các sự kiện này.

Những sự kiện này không được đưa vào sách giáo khoa để học sinh được học, được biết, được nhớ, được căm thù quân xâm lược và được nuôi dưỡng lòng yêu nước.

Những công trình nghiên cứu về những sự kiện này thì bị ngăn cấm xuất bản, mà điển hình nhất là vụ cuốn “Gạc Ma – Vòng tròn bất tử” do tướng Lê Mã Lương, anh hùng LLVTND chủ biên, đã không được Cục Xuất bản cấp giấy phép xuất bản.

Vậy thì, sự ngộ nhận của ông Phó chủ tịch Hội sưu tầm và nghiên cứu gốm sứ Singapore về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là hoàn toàn có lý.

Và sai lầm này thì ai phải chịu trách nhiệm? Tất nhiên là không ai khác ngoài giới lãnh đạo Việt Nam.

NGƯỜI NƯỚC HUỆ (Từ New Haven, Connecticut).

Mạn đàm về Đại học Việt Nam

Mạn đàm về Đại học Việt Nam

    Đoàn Thanh Liêm & Phạm Xuân Yêm

Bài này viết ra như một tiếp nối so với những gì mà GS Hoàng Tụy đã từ lâu nhận xét, đặc biệt câu sau đây trích trong Kỷ Yếu Sĩ phu Thời nay [1]: Thật ra, giáo dục và khoa học của ta không chỉ tụt hậu mà đi lạc ra ngoài con đường chung của thế giới, hết sức ‘không giống ai’ và đó là nguồn gốc của mọi vấp váp, khó khăn khi hội nhập nếu không kịp chấn chỉnh.”

1- Triết học không phải là một giáo điều

Đại cương, sinh viên ngành triết học được hướng dẫn về phương pháp suy luận và cách thức đặt vấn đề nhằm tìm hiểu sự thật trong cuộc sống nội tâm, cũng như khám phá ra những quy luật vận hành của xã hội, của vũ trụ nhân sinh. Triết học cũng trình bày cho sinh viên hiểu biết được lịch sử phát triển về tư duy và nhận thức của con người, nhờ vào những tìm kiếm nhẫn nại không ngừng của các triết gia tại Đông cũng như Tây phương, liên tục từ biết bao năm trường. Nói chung, môn triết học cung cấp cho chúng ta một chân trời luôn mãi mở rộng, một viễn tượng toàn cầu, một tầm nhìn thật là bao quát và thông thoáng. Đó là kim chỉ nam, tấm bản đồ giúp cho con người hướng thượng để đi tới mãi trong cuộc hành trình lâu dài của mỗi cá nhân, cũng như của toàn thể cộng đồng nhân lọai, mà không sợ bị lạc lối trong cái mê hồn trận của cuộc sống mỗi ngày một thêm phức tạp xáo động trong xã hội ngày nay.

Cũng như môn khoa học tự nhiên, triết học là cả một kho tàng kiến thức vô cùng phong phú và quý báu mà nhân lọai đã tích lũy được, trải qua bao nhiêu thế hệ tìm kiếm, phân tích và đãi lọc thành những sản phẩm tinh hoa của trí tuệ con người, không phân biệt sắc tộc, màu da hay khuynh hướng chính trị, học thuật và tôn giáo nào. Và như vậy, việc giảng dậy môn triết học không bao giờ chỉ tập trung, đóng khung chật hẹp vào một triết thuyết độc tôn duy nhất nào, mà trái lại cần phải giới thiệu cho các sinh viên tìm hiểu được nhiều trường phái triết học, các lý thuyết cổ xưa cũng như hiện đại của các nhà tư tưởng kiệt xuất của nhân lọai từ Đông sang Tây, Bắc xuống Nam.

Xin trích dẫn mấy dòng ngắn ngọn sau đây về sự tương đồng cũng như khác biệt giữa khoa học và triết học [2]:

Triết học nghiêm túc giống khoa học đích thực ở hai điểm:

1- đều dựa vào một số nguyên lý. Những nguyên lý này, ta chỉ có thể tán thành hay không, không chứng minh tuyệt đối, vĩnh viễn được. Do đó phát triển khoa học hay triết học đều đòi hỏi ý thức tự do và sáng tạo.

2- trên cơ sở đó, đòi hỏi một kiểu suy luận khắt khe, chặt chẽ, nhất quán xuyên qua những bộ ngôn từ tương xứng. Thiếu ngôn ngữ khoa học, không thể tiếp thu và phát triển tư duy khoa học. Thiếu ngôn ngữ triết học “cho ra hồn”, không thể tiếp thu và phát triển tư duy triết.

Triết học và khoa học khác nhau ở hai điểm :

1 – Giá trị của lý thuyết khoa học được xác định bằng thử nghiệm : ứng dụng nó thì hành động đạt được kết quả đã dự đoán. Lý thuyết khoa học đúng hay sai là phải do thực nghiệm kiểm chứng được hay không.

2 -Giá trị của triết thuyết được xác định qua nghiệm sinh của con người ở đời. Có thể bỏ mạng mà vẫn đáng sống.

Cả hai đều cần thiết để làm người. Nếu chua thêm được tí ti văn nghệ trong cuộc sống thực thì tuyệt.

Vậy mà từ lâu rồi, theo Trần Đức Thảo : “ở Việt nam không có triết học, mà chỉ có chính trị”, nền giáo dục Việt Nam lại đặt nội dung giáo dục ý thức hệ Marx-Lenin làm trọng tâm. Trẻ vào mẫu giáo đã nghe những bài hát chính trị. Người soạn sách giáo khoa nhiều khi cũng cố lồng chính trị vào, coi đó là một thành tích [3]. Việc giảng dậy môn triết học Marx Lenin tại các trường ở Việt nam từ mấy chục năm nay là một hạn chế khiên cưỡng, sinh viên phải học tập duy nhất có một học thuyết mà không được tiếp cận trên cùng một bình diện cả một vườn hoa tư tưởng muôn màu muôn sắc của nhân lọai. Rõ ràng là triết học do Karl Marx khởi xướng từ trên 150 năm nay và sau đó bổ xung bởi Lenin đã và tiếp tục là một đóng góp đáng kể cho nhân lọai, tuy nhiên nó không phải là một đường lối tư tưởng duy nhất, tuyệt đối và vĩnh viễn. Như vậy, thì lại càng không thể đem học thuyết này mà áp đặt trên quần chúng học sinh, sinh viên, buộc thế hệ thanh niên phải chấp nhận nó như một giáo điều chính thức của quốc gia. Sự áp đặt như vậy nào có khác chi việc thiết lập một thứ quốc giáo độc quyền, độc tôn trên toàn thể dân tộc?

Qua sự trình bày trên, thiết nghĩ ta cần phải dứt khoát thay đổi lề lối và nội dung của việc giảng dậy môn triết học hiện nay. Cụ thể trong thời buổi hội nhập này là nên áp dụng các phương thức phổ quát trên thế giới, đó là hướng dẫn cho sinh viên nâng cao tầm nhận thức và trình độ hiểu biết rộng rãi, thấu đáo hơn mãi về lịch trình tiến triển của tư duy loài người từ xưa đến nay, thông qua những tìm kiếm vô cùng phong phú và kiên trì của biết bao lớp nhà tư tưởng ưu tú vĩ đại của nhân lọai. Chứ không phải chỉ đóng khung hạn hẹp trong bất kỳ một học thuyết duy nhất nào. Khác nào xưa kia thời quân chủ phong kiến hàng ngàn năm bên Đông Á, học thuyết cửa Khổng sân Trình đã thống trị tư duy thần dân. Cũng như Cơ đốc giáo với giả thuyết điạ tâm sai lầm bên Âu châu đã đưa Giordano Bruno lên dàn hỏa thiêu (1600) và Galileo Galilei (1633) phải quỳ gối tự chối bỏ tác phẩm nền tảng của Khoa học hiện đại như Vật lý, Cơ học, Thiên văn. Điển hình gần đây hơn là thời Stalin đã dùng quyền lực chính trị để áp đặt lý thuyết về di truyền của Lysenko, gây tai hại trầm trọng cho nền khoa học của Liên Xô vào giữa thế kỷ XX vậy. Cũng vậy giáo điều quốc xã thời phát xít Đức đã đẩy lùi nền khoa học Âu châu trong bao năm.

Chúng ta hãy lắng nghe ý kiến sau đây [4]:

“Tôi đề nghị chúng ta vẫn giữ học thuyết Marx – Lenin, nhưng chúng ta không chỉ biết và vận dụng duy nhất học thuyết Marx-Lenin, mà cần phải biết và vận dụng những học thuyết tinh hoa của nhân loại như chúng ta bắt đầu làm từ khi đổi mới. Từ đó Đảng ta mới phát huy được dân chủ, tự do trong Đảng, trong nhà nước và trong xã hội ta. Vì chỉ có dân chủ tự do mới có thể có điều kiện thật sự cho sự phát triển vững mạnh, mới có sức mạnh vô địch để vượt qua mọi khó khăn thử thách, bảo vệ được thành quả của Cách mạng và không ngừng đưa Cách mạng Việt Nam tiến lên phía trước cùng với bạn bè năm châu bốn biển ”.

Các nước tư bản họ cũng làm như vậy. Họ vẫn nghiên cứu và giảng dạy chủ nghĩa Mác-Lênin ở các trường đại học. “ Giữ học thuyết Marx – Lenin ” không phải để tôn sùng và mù quáng vâng theo mà có chăng chỉ để gạn đục khơi trong, để ôn cũ biết mới .

Điểm son của triết lý giáo dục tiến bộ trên thế giới là sự bao dung, tôn trọng và bàn cãi tự do những tư tưởng, văn hóa, chính kiến, tín ngưỡng khác nhau, chúng bổ túc cho nhau. Tư duy độc lập, phê phán, phản biện, tự vấn không ngừng là những yếu tố quyết định của một nền giáo dục tiến bộ và phổ quát. Không thể áp đặt một hệ tư tưởng bất luận nào đó – cho dù ưu việt đến mấy trong một thời – lên sự nghiệp giáo dục đào tạo con người. Nó chỉ kìm hãm tư duy sáng tạo. Triết lý giáo dục công lập ở Pháp dựa trên hai nền tảng : nhà trường thế tục và cộng hòa. Nhà nước tôn trọng và trung lập đối với mọi tín ngưỡng, chính kiến, tư tưởng, nhân sinh quan, triết học. Nhà trường là nơi hòa trộn mọi thành phần, không phân biệt nguồn gốc, chủng tộc, giai cấp xã hội của học sinh.

2- Nhân sự giảng dạy và nghiên cứu

Đại học, nơi tụ hội những tinh hoa của xã hội, mặc nhiên có vai trò làm gương mẫu cho mọi sinh hoạt. Nó phải là một môi trường lành mạnh, đạo đức để phục hồi và củng cố niềm tin của tuổi trẻ. Sự nghiệp của đại học là khai sáng tư duy, là đào tạo chất lượng cao về tri thức tổng quan và chuyên ngành. Những tiêu cực như giả dối, nạn dỏm trong nhân sự phải tuyệt đối vắng mặt, thày ra thày, trò ra trò. Đó là điều kiện tiên quyết của nền giáo dục nói chung mà đại học đi tiên phong. Người sinh viên phải được hưởng quyền nổi loạn trong học thuật. Họ có quyền tụ tập để tranh luận học thuật dưới mọi hình thức và về bất cứ chủ đề nào [5].

Đội ngũ nhân sự giảng dạy đại học cần phải có trình độ tiến sĩ theo tiêu chuẩn quốc tế, số lượng tiến sĩ đủ tiêu chuẩn này hiện nay quá nhỏ so với số sinh viên, hiện tượng thạc sĩ dạy cử nhân cần phải giảm đi đến mực tối thiểu. Chuyển giao tri thức chuyên môn cho sinh viên chỉ là một trong hai nhiệm vụ chính của giảng viên đại học, điều quan trọng không kém là nghiên cứu khoa học theo tiêu chuẩn quốc tế để cập nhật thường xuyên tri thức chuyên môn, đào sâu tăng trưởng kiến thức và tìm tòi sáng tạo. Tiến sĩ chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ để thành giảng viên đại học, chức vụ này đòi hỏi một thời gian ‘sau tiến sĩ ‘(postdoc) khá gian nan để đạt tới sự độc lập chín chắn trong quá trình giảng dạy và khám phá, mở rộng trao đổi với các môi trường khác nhau để sàng lọc, đua tranh lành mạnh nhưng gay gắt. Tiêu chuẩn quốc tế được hiểu theo nghĩa sau đây:

(a) công trình khảo cứu khoa học đăng trên các tạp chí đẳng cấp quốc tế (hầu hết bằng tiếng Anh mà ISI thu thập). Trong hàng chục ngàn tạp chí của ISI, có nhiều cái cũng chỉ vừa phải về chất lượng, vậy có lẽ nên linh động hơn, đừng thái quá về vai trò quyết định của ISI. Trong mỗi ngành chuyên môn, ai cũng rõ cấp bậc nọ kia (xếp loại theo impact factor cao là một thí dụ) của các tạp chí để tự mình chọn mặt gửi vàng đến các tạp chí với hệ thống bình duyệt và phản biện nghiêm túc. Mỗi ngành nghề chuyên hẹp chỉ có chừng vài chục tạp chí đủ chất lượng cao mà ta cần tập trung vào đó.  (b) số lần trích dẫn (hay/và H index) các công trình khoa học bởi đồng nghiệp khắp thế giới, (c) sách giáo trình cao học phát hành bởi các nhà xuất bản uy tín (d) báo cáo trong hội nghị quốc tế và sự giao lưu thường xuyên với các cơ quan giảng dạy-nghiên cứu trên thế giới, (e) sự nghiệp đào tạo các nghiên cứu sinh và tiến sĩ, (f) đối với các ngành khoa học ứng dụng, văn bằng sáng chế và cộng tác với các công ty kỹ nghệ mang lợi nhuận cho cơ quan.

Ðó là ít nhiều hành trang thông thường của nhân viên giảng dạy-nghiên cứu của một đại học chuẩn mực quốc tế mà nền đại học cần đạt tới. Qua các tiêu chí  (a) – (f), ta thấy rõ sự liên kết chặt chẽ giữa nghiên cứu và giảng dạy, sự thăng chức thăng ngạch trong mỗi hàm nên tùy thuộc chủ yếu vào các công trình nghiên cứu khoa học. Cũng như ở nhiều nước phát triển cao, tổng số giờ giảng dạy trong một năm của giáo sư đại học ở Pháp chỉ có khoảng 130 giờ để thấy rõ tầm quan trọng mà họ phải bỏ hết thời gian còn lại làm nghiên cứu. Vì thế họ mang tên gọi là nhân viên giảng dạy-nghiên cứu (enseignant-chercheur).

Chương trình dài hạn đào tạo theo tiêu chuẩn quốc tế (bằng cách tuyển chọn sinh viên tài năng gửi đi soạn cao học, tiến sĩ và hậu tiến sĩ ở các nước khoa học tiền tiến) một đội ngũ mới giảng viên đại học để tiếp nối dần thế hệ trước, phải là ưu tiên hàng đầu của nền đại học. Đội ngũ nhân viên giảng dạy cần được coi là trọng tâm của mọi sinh hoạt trong đại học, ban quản lý chỉ có nhiệm vụ duy nhất là hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi sao cho được tối ưu hai sự nghiệp chính của giảng viên là chuyển giao tri thức và nghiên cứu khám phá. Ngoài ra vai trò quan trọng của hai môn Lịch sử Đảng và Triết học Mác- Lê khoảng 15% trong học trình của các ngành khoa học tự nhiên là điều hoàn toàn khác lạ với tiêu chuẩn quốc tế. Nên coi môn trước nằm trong kiến thức chung của triết học nhân loại và môn sau trong lịch sử  thăng trầm quốc gia. Trong hồ sơ các sinh viên trong nước sang ghi tên du học về ngành khoa học tự nhiên, hai môn kể trên có hệ số tính điểm khá cao chẳng thua các hệ số về toán, lý, hoá, sinh, ngoại ngữ. Ở các nước phát triển, không đâu có hai môn bắt buộc này trong học trình của các ngành khoa học tự nhiên. Nhiều bạn bè trên thế giới đã mất công sức giải bầy với đồng nghiệp và bộ máy hành chính của đại học mình khi họ xét hồ sơ tuyển chọn sinh viên Việt Nam sang du học. Ðể so sánh công bằng với sinh viên các nước khác trong việc tuyển chọn vào đại học, hai môn ‘không khoa học tự nhiên’ này bị loại bỏ tự động, làm lãng phí thời gian tiền của.

Rồi chuyện học hàm học vị nhiêu khê của hệ thống giáo dục hiện nay; nhiều người có học vấn thật bị đứng vào chỗ văn hoá giả tạo, và ngược lại. Chức giáo sư, phó giáo sư đại học cần phải hiểu theo những tiêu chuẩn phổ quát quốc tế, đó chỉ là chức vụ để giảng dạy-nghiên cứu với trách nhiệm cụ thể trong các đại học, chứ không phải là phẩm hàm quí tộc hình thức để quản lý hay hoạt động ngoài môi trường đại học. Nguyên tắc để xác nhận hai khả năng giảng dạy-nghiên cứu nói trên cần giản dị, minh bạch, không gây khó khăn bởi những thủ tục hành chính xa lạ với chất lượng nghiêm túc.

Ngoài vấn đề đội ngũ giảng dạy ra, quy chế tự chủ và tự do trong môi trường học thuật, chính sách đãi ngộ và đồng lương tương xứng, hướng nghiên cứu và phương pháp đào tạo, mở rộng cộng tác (theo hợp đồng dài ngắn hạn) với các cơ quan và chuyên gia nước ngoài là những điều vô cùng quan trọng cần thực hiện để đảm bảo cho sự thành công của đại học chất lượng cao theo tiêu chuẩn quốc tế. Sự liên kết mật thiết giữa Đại học và viện Khoa Học & Công Nghệ (VAST) nên phát huy tận lực, cơ chế hành chính của hai cơ quan cần điều hòa ra sao để hai bên cùng có lợi trong sự nghiệp nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu. Đó là điều mà các nước khoa học tiền tiến đã từ lâu thực hiện.

Tăng cường và xây dựng nhanh chóng cơ sở vật chất, phòng làm việc thường trực của nhân viên giảng dạy-nghiên cứu, thư viện phong phú với sách giáo trình và tạp chí khoa học quốc tế, máy tính và truy cập internet, cư xá cho sinh viên thuê giá rẻ, học bổng trợ cấp sinh viên chăm chỉ tài năng mà gia cảnh thiếu thốn.

Với hàng ngàn vạn tuổi trẻ trong và ngoài nước đang thành công tốt đẹp trong nhiều lãnh vực trên trường quốc tế, chúng ta tin tưởng rằng khi có môi trường thuận lợi, con người Việt còn có thể vươn cao hơn nữa. Thí dụ tượng trưng, trong các cựu sinh viên sang du học ở Pháp khoảng hơn mươi năm nay gần đây, một số đã trở thành giảng sư các Đại học hay nghiên cứu viên của Trung tâm Quốc gia Khảo cứu Khoa học (CNRS). Ðó là tiềm năng chất xám quý báu của dân tộc ta, chất xám ấy lại mang thêm một đặc điểm nữa mà hiếm các quốc gia khác có được, đó là sự phong phú đa dạng của các thành phần đến từ nhiều chân trời văn hóa khác nhau nhưng bổ túc cho nhau, từ Ðông qua Tây Âu, từ Bắc đến Nam Mỹ, Đông Bắc đến Tây Nam Á, Úc, được thử thách chọn lọc theo tiêu chuẩn quốc tế. Lại thêm biết bao tài năng, đặc biệt với thế hệ thứ hai, nằm trong cộng đồng ba triệu người Việt ở nước ngoài sinh hoạt trên khắp năm châu.

Thực ra vấn đề xuất cảng rồi sớm muộn trở thành giao lưu chất xám đã xảy ra từ lâu rồi ở các nước lân cận Việt Nam. Do lòng gắn bó với cội nguồn, môi trường hoạt động thoải mái thoáng đãng và chính sách đãi ngộ thích ứng ở các nước đó, phần đông các nhân tài đã trở về cố hương đóng góp cho sự phát triển kỳ diệu của nước họ, trong đó các đại học và viện công nghệ mang tầm quốc tế giữ vai trò không nhỏ.

Người viết tâm tình với lòng thành là nền đại học Việt Nam không thể không đạt tới chuẩn quốc tế, vấn đề chỉ là thời gian khoảng mươi năm. Nó đến sớm hay muộn là ở trong tay chúng ta từ chính quyền đến người dân hữu trách, và lời chúc đầu năm là chúng ta sẽ thành công nhanh hơn và trội hơn ước tính.

Tham khảo

[1] Kỷ Yếu Sĩ phu Thời nay, nxb Tri Thức (2008) Hà Nội, trang 161

[2] Phan Huy Đường, Tạp chí Tia Sáng (2010),

http://amvc.free.fr/PHD/LangThangChuNghia/TrietHoc-KhoaHoc.htm

[3 ] Trong cuốn giáo trình “Nhiệt động lực học và Vật lý thống kê, nxb Đại học Quốc gia Hà Nội (1996), ngay ở trang 11, tác giả, một nhà vật lý, viết: Như Lenin đã chỉ rõ “ Khái niệm nhân quả của con người …”, điều chẳng liên đới chút nào đến toàn bộ nội dung cuốn sách.

[4] Nguyễn Văn An, nguyên ủy viên Bộ Chính trị, nguyên trưởng Ban Tổ chức TƯ Đảng, nguyên Chủ tịch Quốc hội qua những trả lời phỏng vấn “ Tuần Việt Nam ” ngày 12 tháng 12 năm 2010.

[5] Phạm Anh Tuấn, hội thảo “Sự xuống cấp văn hóa và đạo đức trong xã hội ngày nay” do Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh tổ chức ngày 27.11.2010 tại Hà Nội.

http://boxitvn.wordpress.com/2010/11/30/khi-tm-h%E1%BB%93n-con-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-b%E1%BB%8B-t%C6%B0%E1%BB%9Bc-do%E1%BA%A1t/

Nguyễn Phú Trọng lại chọc cho dân chửi

Nguyễn Phú Trọng lại chọc cho dân chửi
Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) – Ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư Đảng CSVN, đang bị chỉ trích kịch liệt vì tuyên bố: “Không để lọt các phần tử ‘thế này thế khác’ vào Quốc Hội.”

Ông Nguyễn Phú Trọng, tuy có học vị tiến sĩ về “xây dựng Đảng” nhưng thường có những phát biểu giống như chọc cho dân chửi. (Hình: Getty Images)

Mới đây, trong một cuộc trò chuyện với VOA, ông Nguyễn Quang A, một trong những trí thức được nhiều người biết và cũng là người tự ứng cứ vào Quốc Hội Việt Nam trong kỳ bầu cử sẽ diễn ra vào cuối tháng 5 sắp tới, nhận định, tuyên bố vừa kể của ông Trọng là một sự lạm quyền, xem thường các qui định pháp luật hiện hành.

Ứng cử hay bầu cử vốn đã có những tiêu chí rõ ràng thành ra theo ông A, “thế này, thế khác” là một “khái niệm tù mù.” Nó biểu lộ sự coi thường cả luật pháp lẫn thiên hạ. Nếu không xem thường như thế, ông Trọng không phát biểu tùy tiện như vậy.

Đây không phải là lần đầu tiên, ông Trọng, một người có học vị tiến sĩ về chuyên ngành… “xây dựng Đảng,” đưa ra những tuyên bố khiến thiên hạ chưng hửng như vậy.

Chưa bao giờ tại Việt Nam, cuộc bầu cử Quốc Hội sẽ diễn ra vào cuối tháng 5 sắp tới lại có nhiều người tự ứng cử như vậy. Nguyên nhân chính là từ ông Trọng.

Cuối tháng 1 vừa qua, sau khi tái đắc cử vào vị trí tổng bí thư Đảng CSVN, ông Nguyễn Phú Trọng đọc một diễn văn ca ngợi “tự do, dân chủ” ở Việt Nam và khẳng định, Việt Nam “dân chủ đến thế là cùng!”

Chính tuyên bố đó đã khiến ông A soạn một thư ngỏ, đề nghị các công dân Việt Nam hội đủ tiêu chuẩn trở thành đại biểu Quốc Hội Việt Nam hãy tích cực “tự ứng cử.” Ông A khẳng định, phong trào tự ứng cử là một phương pháp thử yếu tố “dân chủ” mà ông Trọng nhấn mạnh “đến thế là cùng.”

Dẫu những người thật sự tự ứng cử luôn luôn bị loại bỏ bằng đủ mọi cách, trong đó chủ yếu là “hiệp thương” để mặt trận tổ quốc các cấp tổ chức thu thập ý kiến “cử tri” – diễn ra y như “đấu tố” – để lựa chọn, tiến cử ứng cử viên chính thức nhưng ông A kêu gọi mọi người đừng ngần ngại.

Chuyện nhiều người tham gia tự ứng cử, những người khác theo sát, ghi âm – ghi hình các buổi “hiệp thương,” công khai nội dung của những buổi “hiệp thương” này sẽ giúp mọi người nhận ra hình dạng “dân chủ đến thế là cùng” tại Việt Nam như thế nào.

Ông A nói thẳng, ông không tin việc tự ứng cử sẽ thành công song thất bại hàng loạt có giá trị riêng của nó. Ít nhất mọi người cũng sẽ nhận ra, “tự ứng cử” là một “quyền hão.” Càng nhiều người nhận ra tính chất “hão” của quyền này thì như cầu đòi thực quyền mới hình thành và phát triển.

Trên thực tế, chính quyền Việt Nam đang khắc họa những đường nét chính của cái mà ông Nguyễn Phú Trọng khẳng định “dân chủ đến thế là cùng.”

Do “dân chủ đến thế là cùng” nên hệ thông truyền thông của chính quyền Việt Nam có quyền bôi nhọ những cá nhân tự ứng cử. Chẳng hạn, tờ Năng Lượng Mới đăng một bài với tựa “Quốc Hội không phải là phường chèo,” chỉ trích nghệ sĩ hài Nguyễn Công Vượng dám “tự ứng cử.” Nghệ sĩ này bị xem là “lộng ngôn,” “đốt đền,” tuy cha mẹ đều là đảng viên nhưng “phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng,” “vu khống Đảng và chính quyền hèn với giặc, ác với dân, dâng biển đảo cho giặc.” Tờ Năng Lượng Mới cho rằng, nghệ sĩ này “bất tài,” không thành công trên sân khấu thật mới nhảy sang “sân khấu chính trị.”

Trong bài “Quốc Hội không phải là phường chèo,” tờ Năng Lượng Mới còn chỉ trích một loạt những cá nhân khác đã tuyên bộ tự ứng cử như: Nguyễn Quang A, Nguyễn Tường Thụy, Đặng Bích Phượng,… vì “đang phá hoại cuộc bầu cử Quốc Hội.” Theo tờ báo này thì những cá nhân tự ứng cử đều hám danh nên mới tham gia các hoạt động đòi phải bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại Biển Đông, đòi phải cương quyết với Trung Quốc, đòi phải tôn trọng nhân quyền! Tờ Năng Lượng Mới xem việc tự ứng cử, trình bày nhận định về thời cuộc, kế hoạch hành động nếu đắc cử là “trò lố!”

Cũng do “dân chủ đến thế là cùng,” nên Ủy Ban Bầu Cử thành phố Hà Nội đòi bà Đặng Bích Phượng phải xin xác nhận lại lý lịch tại một phường nơi bà… không có hộ khẩu thường trú nên tất nhiên là không thể được xác nhận để có hồ sơ ứng cử hợp lệ. Một cá nhân khác, ông Nguyễn Tường Thụy thì bị chính quyền địa phương ghi vào lý lịch gửi cho Ủy Ban Bầu Cử rằng ông có “tiền sự” (hai lần bị cảnh cáo do tham gia biểu tình chống Trung Quốc). Với những “tiền sự” này, ông Thụy không có quyền tự ứng cử.

Trong một xã hội “dân chủ đến thế là cùng” như Việt Nam, công an cũng đã vô cớ ập vào nhà ông Phan Văn Bách để kiểm tra hành chính sau khi ông nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc Hội. Ông Võ An Đôn, một luật sư ở Phú Yên thì được mời đến làm việc với an ninh của tỉnh này sau khi ông tuyên bố sẽ tự ứng cử.

Diễn biến mới nhất liên quan tới “dân chủ đến thế là cùng” là người xuất hiện trong video clip, nhận định ông A “bất xứng, không nên chọn làm đại biểu Quốc Hội,” tuy sắm vai hàng xóm của ông A nhưng cả tổ trưởng tổ dân phố lẫn trưởng Ban Mặt Trận Tổ Quốc phường nơi ông A cư ngụ, thừa nhận không biết anh ta là ai. (G.Đ)

Đảng CSVN lãnh đạo đã đưa đất nước đến nguy cơ diệt vong

Đảng CSVN lãnh đạo đã đưa đất nước đến nguy cơ diệt vong

FB Trương Nhân Tuấn

9-3-2016

Đến bây giờ, khi nước mặn xâm nhập ngược dòng sông Cửu Long, vào đất liền, nhiều nơi hàng trăm cây số, thì ông X mới bắt đầu gởi “công hàm” yêu cầu các nước ở thượng nguồn xả nước ở những con đập thủy điện nhằm cứu vãn tình trạng.

Vấn đề cực kỳ nghiêm trọng vì đời sống hàng chục triệu người dân miền Nam bị đe dọa, cũng như nền kinh tế của đất nước có thể bị sụp đổ.

Hành động của nhà nước CSVN đúng là chuyện chờ nước đến chân mới nhảy. Trong khi nhiều người VN đã cảnh báo tình trạng “sông Cửu Long cạn dòng”, vì hậu quả việc xây đập bừa bãi của các quốc gia trên thượng nguồn.

Cá nhân tôi, từ khoảng 15 năm trước, đã có bài viết cảnh báo. VN không thể ngăn chận các quốc gia xây dựng các đập thủy điện ở thượng nguồn sông Cửu Long. Vì vậy VN bằng mọi cách phải “kiểm soát” nguồn nước này, điển hình là đầu tư xây dựng những con đập ở Lào.

Rốt cục VN đã không thực hiện việc này. Các con đập ở Lào đều do Thái Lan và TQ đầu tư (và làm chủ).

VN đã để vận mạng của đất nước mình cho người ngoài nắm giữ.

Vấn đề là tầm nhìn của lãnh đạo.

Ông X gởi công hàm yêu cầu, điều chắc chắn là các quốc gia này sẽ không đáp ứng. VN không có cách gì, ngoài cách sử dụng chiến tranh để giải quyết. Nhiều nhà tương lai học quốc tế dự đoán, chiến tranh thế kỷ 21 bắt nguồn từ việc tranh chấp các nguồn nước.

VN không có khả năng dùng chiến tranh như là một biện pháp răn đe hữu hiệu.

Tình hình sẽ tệ hại hơn, nếu các quốc gia thượng nguồn dẫn nước sông Cửu Long vào một hệ thống dẫn thủy khác. Lúc đó sông này sẽ cạn. Lúc đó VN cũng không làm gì được.

Hệ quả của việc sông Cửu Long cạn dòng là ruộng vườn ở nhiều tỉnh miền Nam sẽ bị nhiễm mặn. Cái tên gọi là “miệt vườn” ở miền Nam sẽ xóa sổ. Bởi vì khi đất vườn bị nước biển xâm thực, đất này sẽ trở nên vô dụng, không còn trồng trọt được thứ gì. Ruộng nương cũng vậy, khi muối đã thấm nhập vào đất thì ruộng đó cũng bỏ không. Muốn “cải tạo” lại, hàng chục năm sau chưa chắc đã khắc phục.

Nhiều biện pháp đã đề nghị, như đào hồ chứa nước mưa. Vấn đề là các hồ nước này có thể thỏa mãn việc tiêu tưới, nhưng không thể ngăn nước biển chảy ngược vào sông Cửu Long.

Trong khi VN, với trình độ kỹ thuật hiện tại, không thể xây dựng những hệ thống đê, đập trị thủy như ở Hòa Lan.

Đảng CSVN lãnh đạo đã đưa đất nước đến nguy cơ diệt vong. Về giáo dục, họ đào tạo ra những con người không có giá trị (kinh tế). Về kinh tế họ đã đưa VN xuống hàng chót ASEAN. Về xã hội, họ hứa hẹn thiên đàng nhưng họ xây dựng một đia ngục. Về việc bảo vệ lãnh thổ, họ đã dâng hiến Biển Đông cho TQ…

Về chính trị, những ngươi cộng sản miền Bắc đã sử dụng đảng để loại dân miền Nam ra khỏi cuộc chơi. Theo tập quáng, bí thư tỉnh ủy (hay thành ủy) đều là người địa phương. Bây giờ ông Trọng (và đồng bọn) chỉ sử dụng người miền Bắc, như trường hợp Đinh La Thăng, người Bắc lên nắm Sài Gòn. Sắp tới, ông Trọng (và đồng bọn) sẽ phất ngọn cờ chống tham nhũng để triệt hạ và loại trừ dân miền Nam ra khỏi các vị trí lãnh đạo.

Miền Nam ngập mặn, đe dọa đã hiện hữu từ nhiều thập niên, nhưng ngân sách dành cho miền Nam (nhằm đối phó việc nhiễm mặn) là con số không to tướng. Miền Nam kho gạo thế giới, kho dầu khu vực, kho dự trữ cá mắm… quan trọng… GDP đóng góp thì nhiều, mà ngân sách đầu tư môi trường, giáo dục, hạ tầng cơ sở… thì không có bao nhiêu…

Sắp tới, con số nhỏ nhoi “không có bao nhiêu” cũng không còn. Dân miền Bắc do ông Trọng thống lĩnh chính trị, sẽ thâu tóm tất cả.

Tương lai của dân miền Nam có nên để cho miền Nam tự quyết ? Câu hỏi trở thành cấp thiết đặt ra, nếu chủ trương “thống lĩnh” của chính trị “người Bắc kỳ biết lý luận” tiếp tục áp dụng.

TÔI ĐÃ RA KHỎI TRỤ SỞ CÔNG AN

TÔI ĐÃ RA KHỎI TRỤ SỞ CÔNG AN

Đôi lời: “Xin lỗi cộng đồng vì hôm nay tôi đã nói dối!” Tại sao LS Võ An Đôn phải nói dối? Nếu tôi (Ngọc Thu) là ông thì tôi sẽ nói thật, rằng tài khoản Facebook Đôn An Võ là của tôi, rằng những gì tôi viết trên Facebook không vi phạm bất cứ điều luật nào, rằng đó là quyền tự do ngôn luận của người dân, đã được ghi nhận tại điều 25, hiến pháp mới, năm 2013: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình”. Những bài viết trên Facebook của tôi không vi phạm pháp luật vì nó nói lên sự thật. Còn nếu có thông tin nào trong những bài viết kia là sai thì hãy cho tôi biết, tôi sẽ đính chính hoặc nghiêm trọng hơn, có thể căn cứ vào luật pháp để xử lý.

Thiết nghĩ, là luật sư, ông Võ An Đôn cần sử dụng luật pháp để biện hộ cho mình, thay vì dùng “thủ thuật” nói dối. Ông cần phải chỉ ra những kẻ vi phạm pháp luật chính là những viên công an kia. Những kẻ vi phạm pháp luật chính là những người đang thực thi luật pháp (law enforcement), không phải ông Võ An Đôn. Còn nếu ông không thể sử dụng luật pháp biện hộ cho chính mình, thì khó có thể tin rằng ông có thể sử dụng luật pháp để biện hộ cho các thân chủ của ông, là những người dân thấp cổ bé họng!

Không nên từ bỏ quyền tự do ngôn luận, cụ thể trong trường hợp này là quyền được viết trên Facebook! Vì cái quyền đó đã được quy định trong hiến pháp và người dân không phải xin phép ai để sử dụng chính cái quyền mà mình có.

____

FB LS Võ An Đôn

7-3-2016

LS Võ An Đôn. Ảnh trên FB cá nhân của tác giả.

Tôi đến trụ sở Công an tỉnh Phú Yên đúng 08 giờ sáng, mới bước vào Phòng an ninh Chính trị nội bộ, tôi đã nhìn thấy 03 cán bộ điều tra an ninh ngồi chờ, cùng với máy camera đặt sẵn quay về phía ghế tôi ngồi.

Sau khi mời tôi ngồi, các anh an ninh điều tra làm việc ngay. Họ hỏi tài khoản Facebook Đôn An Võ có phải của tôi không ? tôi trả lời là không phải. Họ hỏi hiện nay tôi có sử dụng tài khoản Facebook nào không ? tôi trả lời cách đây khoảng một năm tôi có lập một tài khoản Facebook mang tên Luật sư Võ An Đôn, dùng được chừng một tháng thì bị cướp mất mật khẩu. Họ hỏi tiếp còn những hình ảnh, bài viết, lịch trình công việc nếu không phải của tôi thì của ai ? tôi trả lời Facebook là trang mạng ảo, nhiều người có thể làm giả tên tôi. Họ hỏi tiếp Facebook Đôn An Võ mạo danh tôi đăng nhiều nội dung ảnh hưởng đến uy tín tôi, có cần nhờ Công an điều tra ra người sử dụng không? Tôi trả lời là không cần, vì các bài viết không ảnh hưởng đến tôi và bất kỳ ai.

Sau khi hỏi tôi xong, các anh an ninh điều tra cho in toàn bộ các bài viết đăng trên Facebook Đôn An Võ ra đưa cho tôi ký xác nhận với nội dung là Facebook Đôn An Võ và các bài viết không phải của tôi. Đến 10 giờ 30 phút thì kết thúc buổi làm việc, tôi ra về.

Công an tỉnh Phú Yên mời tôi làm việc liên quan đến Facebook của tôi đã vi phạm pháp luật trắng trợn, cụ thể là quyền tự do ngôn luận và tự do bày tỏ quan điểm của mỗi công dân đã được Hiến pháp và pháp luật qui định, cũng như Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948 mà Việt Nam đã ký kết. Hơn nữa, việc này còn nhằm mục đích giằng mặt vì tôi nộp đơn tự ứng cử đại biểu Quốc hội khóa 14 này.

Tôi là người trung thực không biết nói dối, hôm nay là lần đầu tiên trong đời tôi nói dối, không phải tôi hèn nhát không dám nhận Facebook Đôn An Võ là của mình, mà chính là tôi muốn tiếp tục được làm luật sư bào chữa cho dân nghèo và người cô thân yếu thế trong xã hội. Nếu hôm nay tôi thừa nhận Facebook Đôn An Võ là của tôi, thì họ sẽ tìm cách tước Thẻ luật sư của tôi và vĩnh viễn tôi không bao giờ giúp được người dân.

Xin lỗi cộng đồng vì hôm nay tôi đã nói dối !

Ông Trọng chỉ thị cấm cửa các phần tử ‘thế này thế khác’ vào Quốc hội

Ông Trọng chỉ thị cấm cửa các phần tử ‘thế này thế khác’ vào Quốc hội

Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng.

Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng.

VOA Tiếng Việt

09.03.2016

Tiến sĩ Nguyễn Quang A, một trong các ứng viên tự ứng cử vào Quốc hội Việt Nam sắp tới, nói phát biểu ‘Không để lọt các phần tử ‘thế này thế khác’ vào Quốc hội’ của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng là một sự tùy tiện và lạm quyền hết sức nghiêm trọng.

Tiếp xúc với cử tri ở Hà Nội trước kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa 13, hôm 8/3, Tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng được báo chí trong nước trích lời nói: “Không để lọt vào cơ quan lãnh đạo cao nhất của đảng, nhà nước những phần tử thế này thế khác”.

Phát biểu của người đứng đầu đảng Cộng sản lập tức gặp nhiều chỉ trích và phản ứng trên các diễn đàn mạng xã hội.

Tiến sĩ Nguyễn Quang A, một nhà hoạt động dân sự, cũng là một ứng viên tự ứng cử vào Quốc hội khóa tới, cho rằng phát biểu của ông Trọng là tùy tiện và lạm quyền nghiêm trọng. Ông nói:

“Tôi nghĩ ông Nguyễn Phú Trọng đã có một phát biểu và chỉ thị cho bộ máy của Đảng Cộng sản Việt Nam làm những việc mà tôi nghĩ là vô cùng tùy tiện. Thế nào là ‘thế này thế kia’? Với chỉ thị của một người đứng đầu đảng như thế thì các đảng viên, có thể tuân theo hoặc có khi buộc phải tuân theo, có thể tùy ý lý giải ‘thế này thế kia’. ‘Thế này thế kia’ là một khái niệm như thế nào? Cho nên tôi nghĩ đây là một sự lạm quyền hết sức nghiêm trọng của ông Nguyễn Phú Trọng và ông ấy coi thường pháp luật. Bởi vì những cái đấy là nó phải theo một tiêu chuẩn nhất định, không thể đưa ra một khái niệm rất tù mù rằng ‘thế này thế nọ’ hay ‘thế này thế kia’. Đây là não trạng của những người mà người ta nghĩ rằng người ta đứng trên hết thiên hạ và không coi pháp luật ra gì thì mới có thể phát biểu một cách rất tùy tiện như vậy.”

Tờ New America Media hôm 7/3 đăng bài viết của nhà báo Đoan Trang nói về những khó khăn, trở ngại mà các ứng viên tự ứng cử vào Quốc hội tại Việt Nam đang gặp phải, từ các thủ tục đăng ký, hành chính, cho đến việc bị tấn công bởi truyền thông.

‘Thế này thế kia’ là một khái niệm như thế nào? Cho nên tôi nghĩ đây là một sự lạm quyền hết sức nghiêm trọng của ông Nguyễn Phú Trọng và ông ấy coi thường pháp luật. Bởi vì những cái đấy là nó phải theo một tiêu chuẩn nhất định, không thể đưa ra một khái niệm rất tù mù rằng ‘thế này thế nọ’ hay ‘thế này thế kia’. Đây là não trạng của những người mà người ta nghĩ rằng người ta đứng trên hết thiên hạ và không coi pháp luật ra gì thì mới có thể phát biểu một cách rất tùy tiện như vậy.

Tiến sĩ Nguyễn Quang A nói.”

Ứng cử viên Nguyễn Quang A nói những khó khăn về thủ tục đăng ký, khai lý lịch là những trở ngại chung mà bất kể ai cũng sẽ gặp phải. Riêng các ứng viên tự ứng cử, họ gặp một số ‘bất lợi’ trong hồ sơ lý lịch khi cơ quan chính quyền tự ‘ghi thêm’ những chi tiết không được yêu cầu trong hồ sơ.

“Họ chỉ xác minh người đó đúng là người đó rồi ký vào, chứ không phải ghi thêm điều này điều kia, nhất là những nhận xét, đánh giá mà thường là nhận xét, đánh giá của bên an ninh người ta đưa vào về thái độ chính trị… mà mẫu làm sơ yếu lý lịch thường không bao giờ yêu cầu như thế cả. Trường hợp đó không xảy ra với tôi mà với một số người khác, chẳng hạn như trường hợp đi biểu tình, rồi người ta kêu là gây rối mất trật tự, phạt hành chính gì gì đấy… chuyện đấy là 4, 5 năm trước cơ, mà trong yêu cầu là chỉ có 1 năm trở lại đây, thì họ cũng cứ ghi vào và ghi thêm những cái khác nữa.”

Ứng viên tự ứng cử Nguyễn Quang A cho rằng việc ‘ghi thêm’ không đúng yêu cầu như vậy sẽ ‘gây khó’ cho các ứng cử viên.

Gần đây, một bài viết mang tựa đề “Quốc hội không phải là phường chèo” của báo Petrotimes đã bị Luật sư Lê Văn Luân, một trong những nhân vật được bài viết đề cập tới, viết đơn khiếu nại gửi đến tòa soạn và đòi kiện vì nội dung ‘quy chụp, vu khống và bịa đặt’.

Riêng bản thân TS. Nguyễn Quang A, còn xuất hiện hẳn một video trong đó phỏng vấn một số người được cho là cư dân cùng khu phố với ông Nguyễn Quang A. Trong 5 người được phỏng vấn, có 3 người là lãnh đạo ở tổ dân phố nơi ông Nguyễn Quang A cư ngụ, 1 phụ nữ tên Hoan và 1 thanh niên.

“Có một người thứ 5 là một anh thanh niên đeo khuyên tai. Người ấy nói rằng anh ta ở tổ dân phố số 13 là nơi tôi đang ở. Nhưng tôi hỏi chính ông tổ trưởng tổ dân phố và ông trưởng ban công tác mặt trận thì họ nói ở trong tổ dân phố này không có một người nào như thế cả.”

Cũng trong cuộc tiếp xúc các cử tri ở Hà Nội, ông Nguyễn Phú Trọng còn được Báo Xây Dựng trích lời dặn dò “phải xử lý chất lượng và cơ cấu đại biểu Quốc hội tinh thần như các cử tri nói là cố gắng làm như tiến hành Đại hội 12 của đảng thật sự dân chủ, công tâm, khách quan, kỹ lưỡng.

Những người đi bầu cử cũng phải lựa chọn, công tâm, kỹ càng, xứng đáng với các tiêu chuẩn chọn những đại biểu xứng đáng với nhân dân”.

Dự kiến, cuộc bầu cử Quốc hội Việt Nam khóa 14 sẽ diễn ra vào ngày 22/5 tới.

Luật hóa mạng xã hội: Thừa nhận báo chí tư nhân?

Luật hóa mạng xã hội: Thừa nhận báo chí tư nhân?

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2016-03-03

000_8E2CT-620

Biểu tượng khổng lồ được tạo ra với hình ảnh của người dùng Facebook trên toàn thế giới đặt tại Trung tâm dữ liệu Thụy Điển hôm 7/11/2013.

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

Bất đồng quan điểm với Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam hôm 2/3/2016 xin ý kiến các đại biểu để đưa các trang thông tin điện tử tổng hợp và thông tin có tính chất báo chí trên mạng xã hội vào Dự thảo Luật báo chí. Đây là vấn đề từng gây nhiều tranh cãi vì luật hóa các loại hình thông tin vừa nêu là bước vào ranh giới mỏng manh của sự thừa nhận báo chí tư nhân.

Dự luật Báo chí đã được Chính phủ chuyển qua Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, theo nghị trình thì vào kỳ họp thứ 11 từ ngày 21/3/2016 sắp tới Quốc hội sẽ thảo luận và thông qua. Tuy vậy Dự luật này được cho là có quá nhiều thiếu sót, mặc dù đây là lần soạn thảo thứ 19. Ngay sau đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã tiếp thu ý kiến, chỉnh lý Dự thảo Luật báo chí theo hướng tôn trọng quyền cơ bản của công dân và theo tinh thần Hiến pháp 2013 việc hạn chế quyền công dân phải được qui định bằng Luật chứ không phải theo Nghị định.

Tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ ngày 18/2 vừa qua, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng phê phán việc Dự luật Báo chí không có nội dung nào liên quan tới các trang thông tin điện tử và mạng xã hội. Theo báo mạng VnEconomy, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng khi đó đã  nói rằng, Hiến pháp qui định quyền dân chủ trong đó có quyền tự do ngôn luận của nhân dân và không thể quan niệm truyền thông xã hội không phải là báo chí. Bộ trưởng Thông tin Truyền thông Nguyễn Bắc Son lúc ấy đã lập đi lập lại chỉ thị của Bộ Chính trị, là Việt Nam không thừa nhận báo chí tư nhân, do vậy Luật Báo chí chỉ quản lý các loại hình báo chí còn các loại hình khác thì theo Nghị định 72. Ông Son nhấn mạnh, nếu đưa trang thông tin điện tử vào Luật Báo chí thì vô hình chung thừa nhận truyền thông xã hội là báo chí.

Phải thừa nhận tự do ngôn luận và tự do báo chí là hai vế của một vấn đề. Thực ra khái niệm báo chí thời mới đã khác xa thời cũ.
– Luật sư Trần Vũ Hải

Trả lời chúng tôi vào tối 2/3/2016, Luật sư Trần Vũ Hải từ Hà Nội nói rằng cần rõ về hơn Dự luật Báo chí và các nội dung chỉnh lý thì mới có thể bình luận sâu. Tuy vậy ông phát biểu:

“Phải thừa nhận tự do ngôn luận và tự do báo chí là hai vế của một vấn đề. Thực ra khái niệm báo chí thời mới đã khác xa thời cũ. Báo chí thời cũ thường là báo giấy, báo in, báo hình, báo tiếng. Nhưng hiện nay báo trên mạng xã hội, mỗi một cá nhân có thể tạo được một tờ báo cho chính mình. Cho nên họ lo ngại gì bên trong thì tôi chưa rõ được, nhưng thực sự họ phải thừa nhận là có báo chí tư nhân nhân. Nếu mà mạng xã hội được đưa vào luật thì thừa nhận báo chí tư nhân và báo chí tư nhân cần phải được thể hiện không chỉ qua báo mạng xã hội mà còn ở những lĩnh vực khác.”

Khi chỉnh lý Dự Thảo Luật báo chí do Chính phủ trình, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thể hiện quan niệm khá cởi mở. Theo đó, bên cạnh sản phẩm thông tin do cơ quan báo chí thực hiện, còn có nhiều sản phẩm thông tin có tính chất báo chí do cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp thực hiện như đặc san, bản tin, trang thông tin điện tử tổng hợp và mạng xã hội.

Theo báo mạng VnEconomy, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quan niệm những hình thức thông tin vừa nêu hiện đang được sử dụng phổ biến, đáp ứng nhu cầu thông tin của nhân dân và là kênh quan trọng để người dân thể hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của mình.

Nhận định về việc Bộ trưởng Thông tin Truyền Thông Nguyễn Bắc Son nhất mực dẫn chỉ thị Bộ Chính trị là Việt Nam không thừa nhận báo tư nhân và vì thế không đưa các loại hình truyền thông mạng xã hội vào Luật Báo chí, Nhà báo tự do Phạm Thành từ Hà Nội phát biểu:

Hiện nay báo chí tư nhân mặc dù nhà nước không cho thành lập, nhưng báo chí tư nhân tràn ngập. …trên thực tế bây giờ mấy triệu facebook, hàng chục trang blog cá nhân, nhà nước muốn dẹp cũng không dẹp được…
– Nhà báo tự do Phạm Thành

“Hiện nay báo chí tư nhân mặc dù nhà nước không cho thành lập, nhưng báo chí tư nhân tràn ngập. Thí dụ mỗi một ông chủ facebook, một chủ blog là một tờ báo tư nhân. Trên thực tế những tờ báo đó vẫn hoạt động công khai, cũng tác động dư luận hướng dẫn dư luận, cũng làm vai trò thực như báo chí như của bên lề phải quản lý. Thế thì ông Bắc Son không nhìn thấy thực tế đó mà ông ấy cứ tưởng rằng chỉ có báo chí nhà nước mới làm chức năng thông tin, hướng dẫn dư luận, tổ chức quần chúng…trên thực tế bây giờ mấy triệu facebook, hàng chục trang blog cá nhân, nhà nước muốn dẹp cũng không dẹp được…”

Trong báo cáo chỉnh lý Dự luật Báo chí, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng ràng buộc truyền thông xã hội theo Luật Báo chí và các qui định khác của pháp luật có liên quan của Việt Nam. Theo đó, các trang thông tin điện tử tổng hợp phải trích dẫn nguyên văn, chính xác nguồn tin báo chí, ghi rõ tên tác giả hoặc tên cơ quan báo chí, thời gian đã đăng, phát thông tin đó. Ngoài ra người sử dụng mạng xã hội tại Việt Nam khi đăng thông tin có tính chất báo chí trên mạng xã hội do các tổ chức, các doanh nghiệp nước ngoài hay các cá nhân nước ngoài cung cấp, phải tuân thủ các qui định của Luật Báo chí và các qui định khác có liên quan của pháp luật Việt Nam…

Nếu như Ủy ban Thường vụ Quốc hội thành công trong việc chỉnh lý Dự luật Báo chí, thêm vào các nội dung liên quan đến truyền thông xã hội, để cuối cùng được Quốc hội khóa 13 thông qua và thành luật, thì đây sẽ là cải cách lớn lao trong công tác lập pháp ở Việt Nam.

Lần đầu tại Việt Nam: Hai bé sinh đôi có 2 bố khác nhau

Lần đầu tại Việt Nam: Hai bé sinh đôi có 2 bố khác nhau

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) – Giám đốc Trung Tâm Kỹ Thuật và Phân Tích Gen ở Hà Nội, ông Lê Ðình Lương, xác nhận rằng hai trẻ sinh đôi vừa được nghiên cứu là từ hai ông bố khác nhau.

Hai em nhỏ này được gia đình đưa đến trung tâm và thử nghiệm DNA cho biết kết quả như vậy. Theo lời ông Lương, không có sự lầm lẫn của bệnh viện khi giao hai đứa bé sơ sinh, thử nghiệm xác định là chúng có cùng mẹ nhưng khác cha.


Các em nhỏ mới sinh và mẹ tại một bệnh viện phụ sản ở Hà Nội. (Hình minh họa: Getty Images)

Ông từ chối không cho biết thêm chi tiết gì hơn vì tôn trọng thỏa thuận với gia đình về việc bảo vệ tính cách riêng tư.

Tuy nhiên Thông Tấn Xã Việt Nam tiết lộ gia đình này ở tỉnh Hòa Bình và hai đứa trẻ hiện được 2 tuổi. Ðiều khiến gia đình chúng ngạc nhiên là hai đứa bé sinh đôi nhưng hoàn toàn khác hẳn nhau, không có nét gì giống nhau như thông thường. Một đứa mập và tóc quăn, đứa kia gầy và tóc thẳng.

Ðây không phải là trường hợp đầu tiên được biết trên thế giới. Năm ngoái tại New Jersey đã có một vụ rắc rối như vậy được đưa ra tòa án để giải quyết vấn đề trách nhiệm cấp dưỡng. Thẩm Phán Sohai Mohammed phán quyết rằng đương sự được biết với tên là “A.S.” không phải chi tiền cấp dưỡng cho cả hai đưa bé, chỉ trả $28 một tuần về phần đứa bé qua thử nghiệm DNA được xác định là con của đương sự.

Nghiên cứu của Bác Sĩ Karl-Hanz Wurzinger, chuyên gia DNA, ước lượng rằng trong 13,000 trường hợp sinh đôi có 1 là do từ hai người cha. Tuy nhiên hầu hết những trường hợp như vậy không được biết hoặc không được công bố, và vụ việc New Jersey năm ngoái là trường hợp thứ ba được biết trên thế giới.

Một nghiên cứu khác nói rằng trong 400 cặp trẻ song sinh có thể một cặp có hai người cha khác nhau. Nguyên nhân đơn giản là hai trứng của người mẹ đã thụ tinh từ hai người đàn ông. Nhiều động vật, chẳng hạn như chó có thể rụng nhiều trứng nhưng với con người, thường chỉ có một trứng mạnh khỏe mỗi chu kỳ rụng trứng. Nếu có hai trứng mạnh và cùng thụ tinh cùng một lúc thì đưa đến sinh đôi như bình thường. Nhưng trứng rụng có thời gian sống tới 5 ngày, và do đó hiếm thấy hơn nhiều, là mỗi trứng có đủ thời gian để chờ đợi chấp thuận một người cha khác. (HC)