Dồn dập đơn thư về lãnh đạo Việt Nam

Dồn dập đơn thư về lãnh đạo Việt Nam

xinhuanet

Vài tuần trước khi Đại hội Đảng 12 khai mạc tại Hà Nội, mạng xã hội xuất hiện nhiều đơn thư, status ‘liên quan đến lãnh đạo’.

Hôm 30/12, báo Tuổi Trẻ thông báo một lãnh đạo Văn phòng Chính phủ cho mô tả điều họ gọi là đơn thư xuất hiện trên mạng internet tố cáo Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc là đơn thư ‘mạo danh’.

Đơn thư theo vị lãnh đạo Văn phòng Chính phủ khẳng định là ‘mạo danh’ đã xuất hiện trên một số trang blog và mạng xã hội gần đây”, Tuổi Trẻ viết.

Theo lá đơn đề ngày 9/12, ông Phúc bị một người tự nhận là ‘cán bộ lão thành nghỉ hưu tại Tam Kỳ, Quảng Nam’ đề nghị thanh tra “khối tài sản khổng lồ của ông”.

“Người ký tên đơn thư tố cáo này là ‘Nguyễn Đức Hạnh, cán bộ Văn phòng Chính phủ’ với nội dung về việc sắp xếp cán bộ của tổ chức này.

Tuổi Trẻ đưa tin lãnh đạo Văn phòng Chính phủ đã giao Vụ Tổ chức cán bộ xác minh thông tin, cho thấy Văn phòng Chính phủ không có cán bộ như nêu trên.

Hôm 28/12, tại hội nghị trực tuyến của Chính phủ với 63 tỉnh thành, Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang nói: “Tình hình lộ, lọt bí mật nhà nước xảy ra rất nghiêm trọng”.

‘Suy đoán không có cơ sở’

Trả lời phỏng vấn của BBC hôm 29/12, Luật sư Trần Quốc Thuận, nguyên Phó Chủ nhiệm Thường trực Văn phòng Quốc hội Việt Nam, bình luận:

“Bây giờ trên trang mạng đưa nhiều thông tin của người này, người kia, những người lãnh đạo Đảng và nhà nước phát biểu thế này, phát biểu thế kia, theo văn bản này kia.

“Mà tôi nghĩ theo quy định của Việt Nam, những văn bản đó là văn bản tối mật, mà tự nhiên lại bị bung lên trên mạng…

“Đó là những tài liệu thuộc loại gọi là bí mật, mà bây giờ tự nhiên lại đưa ra công khai, thì đó là hoạt động không bình thường, và như vậy thì an ninh, an toàn trong các chủ trương, chính sách, các văn bản này nọ thì không biết thực giả như thế nào…

“Có một phát biểu của ông Bộ trưởng Bộ Công an như thế, thì chắc là ông phải có trách nhiệm điều tra, làm rõ hoặc là có biện pháp ngăn chặn hiệu quả…

“Tôi đã từng trả lời là phải khởi tố vụ án làm lộ bí mật của cơ quan nhà nước, thì lúc đó mới điều tra biết được ai là ai và tại sao và ai đứng đằng sau được, chứ bây giờ suy đoán thì không có cơ sở,” luật sư Thuận nói.

Giới quan sát đánh giá tranh giành quyền lực cho các vị trí lãnh đạo cao nhất thường được gọi là “tứ trụ” là nguyên nhân chính dẫn tới sự trì hoãn và kéo dài thêm các hội nghị trung ương so với các kỳ đại hội trước.

Trong giai đoạn diễn ra Hội nghị Trung ương 13, một bức thư được mô tả của một ủy viên Bộ Chính trị gửi Tổng bí thư Trọng xuất hiện trên mạng xã hội gây xôn xao và được chia sẻ nhiều.

Một trang tin tiếng Anh đã tóm tắt lại nội dung lá thư trong đó người được cho là Thủ tướng Dũng giãi bày một loạt những cáo buộc liên quan đến phát biểu của ông về Trung Quốc và cuộc sống gia đình ông.

Cách đây khoảng một năm trên mạng xuất hiện một trang tin có tên Chân dung Quyền lực cũng từng phát tán các cáo buộc liên quan tới một số chính khách cấp cao, tài sản của gia đình họ và con cái họ tại Việt Nam mặc dù không đăng tải bài nào về cá nhân Thủ tướng Dũng.

Trang này ngưng cập nhật từ cuối tháng Một năm nay và không bị chặn tại Việt Nam.

Báo trong nước xác nhận đơn thư tố cáo Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc (trái) là ‘mạo danh’.

Trung Quốc: Thiếu vắng niềm tin và sự tử tế

Trung Quốc: Thiếu vắng niềm tin và sự tử tế

Gary Feuerberg

Phạm Nguyên Trường dịch

He Huaihong (bên trái), Giáo sư triết học tại Đại học Bắc Kinh và Cheng Li, Cheng Li, giám đốc Trung tâm Trung Quốc mang tên L. Thornton John ở Brookings đang thảo luận về sự suy đồi và thức tỉnh về mặt đạo ở Trung Quốc, Brookings, ngày 6 tháng 11 (ảnh của Gary Feuerberg).

Trong cuốn sách do Brookings Press mới xuất bản gần đây, một vị giáo sư Trung Quốc, ông He Huaihong đề xuất một nền đạo đức xã hội mới cho cái xã hội mà nhiều nhà quan sát, cả bên trong lẫn bên ngoài Trung Quốc, cho là đang ở trong tình trạng khủng hoảng về mặt đạo đức.

Nhà sử học, đạo đức học, phê bình xã hội, và người bảo vệ không khoan nhượng Nho giáo, giáo sư He đưa ra khuôn khổ trí tuệ nhằm định hướng hành vi của người dân và khôi phục lại nền đạo đức xã hội để Trung Quốc có thể giành được vị trí của mình trong cộng đồng các quốc gia khác mà không phải xấu hổ. Giáo sư He nói tại Viện Brookings vào ngày 06 tháng 11, nhân dịp xuất bản cuốn sách mới của mình: “Đạo đức xã hội ở nước Trung Quốc đang thay đổi: Suy đồi đạo đức hay sự thức tỉnh về đạo đức?”

He Huaihong là giáo sư triết học tại Đại học Bắc Kinh. Cuốn sách gồm 19 bài tiểu luận, trừ hai bài, đều được viết trong khoảng thời gian từ năm 2002 đến năm 2013.

“Hiện nay, trong xã hội Trung Quốc, chúng tôi gặp vấn đề khá nghiêm trọng về mặt đạo đức. Những vấn đề chính là chúng tôi thiếu niềm tin và chúng tôi thiếu tử tế”, He nói như thế, đấy là qua lời người dịch tiếng Anh.

Đặc biệt là niềm tin của nhân dân đối với các nhà lãnh đạo chính trị. “Dù chính phủ có nói gì thì dân chúng cũng không tin. Ngay cả khi họ nói sự thật thì người dân vẫn không tin”. Các đảng viên và quan chức nhà nước cũng nghi ngờ, ông nói.

“Hiện nay, ở Trung Quốc, chủ đề về suy đồi đạo đức và thiếu niềm tin không còn là những chủ đề nhạy cảm và chắc chắn không phải điều cấm kỵ về mặt chính trị nữa”, Cheng Li, giám đốc Trung tâm Trung Quốc mang tên L. Thornton John ở Brookings, người giới thiệu giáo sư He nói như thế.

Trong phần giới thiệu cuốn sách, Li đưa ra một danh sách dài những hiện tượng chứng tỏ đang có những vấn đề đạo đức nghiêm trọng: “Gian lận thương mại, gian lận thuế, lừa dối tài chính, những dự án kỹ thuật kém chất lượng và nguy hiểm, sản phẩm giả, sữa nhiễm độc, bánh mì độc, thuốc độc, và sự suy giảm đạo đức nghề nghiệp trong giáo viên, bác sĩ, luật sư, các nhà sư Phật giáo, và đặc biệt là các quan chức chính phủ”.

Giáo sư He viết rằng, tham nhũng là không chỉ giới hạn trong những quan chức cao cấp nhất. Ngay cả “trưởng thôn, thị trưởng, các nhà quản lý ngân hàng địa phương có thể có hàng chục hoặc thậm chí hàng trăm triệu nhân dân tệ tiền hối lộ. Một trưởng văn phòng huyện có thể sở hữu hàng chục ngôi nhà”.

Giáo sư He đặc biệt lo lắng về việc xã hội Trung Quốc đang mất dần sự tử tế. Trong buổi nói chuyện, ông có nói rằng nếu người ta nhìn thấy một người già ngã, rất nhiều người sẽ không dám đỡ dậy vì sợ bị tống tiền. Họ có thể sẽ phải trả tiền viện phí. Trong cuốn sách, ông đã dẫn ra một trường hợp có thể làm người ta choáng váng: một bé gái 2 tuổi bị hai ô tô cán lên người, hàng chục người đi qua mà không ai giúp đỡ.

“Nhiều vụ tai nạn với xe chở trẻ con lớp mẫu giáo; khi xe tải đâm vào, người qua đường không những không cứu nạn nhân mà nhảy vào hôi của”, ông viết trong bài tiểu luận thứ tám. “Trong xã hội Trung Quốc, đang xảy ra khủng hoảng đạo đức”.

“Sự thờ ơ đối với tha nhân… đang lan tràn, không quan tâm tới đời sống của con người, không quan tâm tới tục lệ xã hội và luật pháp”, He viết.

Cách mạng Văn hóa

Giáo sư He chỉ ra nhiều nguồn gốc có tính lịch sử làm cho đạo đức suy đồi, nhưng chủ yếu là Cách mạng Văn hóa (1966-1976), khi đất nước rơi vào tình trạng suy đồi đạo đức tồi tệ nhất. Chiến dịch “tiêu diệt bốn cái cũ” – tư tưởng cũ, văn hóa cũ, phong tục cũ, và thói quen cũ – trên thực tế là tiêu diệt đạo đức truyền thống.

“Nhiều cuốn sách lịch sử, nhiều hiện vật và địa điểm lịch sử bị phá hủy. Mộ của một số nhân vật lịch sử được nhân dân kính trọng bị đập phá và thậm chí đôi khi hài cốt của họ còn bị đào lên. … Trẻ con được lệnh phải báo cáo về gia đình của mình và đôi khi thậm chí còn tham gia đánh đập người thân trong gia đình. … Chính trị hoàn toàn thay thế đạo đức. Tiêu chí duy nhất để đánh giá về đạo đức là lòng trung thành với lãnh tụ Mao Trạch Đông”.

Thành phần chủ chốt của Cách mạng Văn hóa là Hồng vệ binh, đỉnh điểm là trong hai năm đầu tiên 1966-1968, lúc đó “đất nước thực ra là đã lâm vào tình trạng hỗn loạn”. Hoạt động của chúng chỉ giảm từ tháng bảy năm 1968, đấy là lúc Mao đưa hầu hết Hồng vệ binh về các vùng nông thôn. He trở thành Hồng vệ binh khi vừa tròn 12 tuổi và đã chứng kiến hoạt động và bạo lực quá mức của tổ chức này. Ông nói rằng đã tìm cách lảng tránh và đóng vai quan sát viên là chính.

Đặc điểm quan trọng nhất của Hồng vệ binh là “xu hướng bạo lực”. Một trong những khẩu hiệu yêu thích của nó là: “Khủng bố đỏ muôn năm!” Trong cuốn sách, He đã dẫn ra một trường hợp khi trở thành người sợ hãi “bạo lực bừa bãi”.

“Đạo đức đứng sau chính trị”, ông nói. Từ sau sự sụp đổ của triều đại nhà Thanh và kháng chiến chống Nhật, các giá trị được mượn từ Liên Xô và Stalin, “Trong thế kỷ XX, Trung Quốc đã hoàn toàn từ bỏ các giá trị truyền thống và cổ xưa của mình”.

Trong vụ Hồng vệ binh, ông cho rằng chỉ một mình Mao có lỗi và đã bỏ qua vai trò của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Nhưng những lời chỉ trích Đảng Cộng sản, tuy không được nói rõ, lại nằm ngay bên dưới bề mặt. Ông nhắc đến 100 năm hỗn loạn trước khi áp dụng nền kinh tế thị trường trong 30 năm vừa qua, mà theo ông đã để lại một di sản đáng ngờ. Những lời kêu gọi về bình đẳng của thế kỷ trước phải được đưa vào nền đạo đức sẽ được tái thiết, ông nói, nhưng “lý thuyết cực đoan về đấu tranh giai cấp và triết lý về xung đột không phải là di sản mà chúng ta phải chấp nhận (trang 77)”, He viết như thế, mà đấy chính học thuyết cơ bản của Cộng sản.

Tuy không gọi tên Đảng cộng sản Trung Quốc, He cho rằng hệ tư tưởng cũ sinh ra từ lý thuyết về cách mạng, chứ không phải là lý thuyết về quản trị. “Nó bắt đầu như là món hàng nhập khẩu từ nước ngoài, và ban đầu đã chú tâm vào cuộc tấn công vào truyền thống văn hóa của Trung Quốc”. He nói rằng ngay cả những lý tưởng chính trị gần đây, ví dụ như “xã hội hài hòa” cũng “luôn luôn là ý thức hệ và mâu thuẫn với thực tế của đời sống của người Trung Quốc”.

He nói rằng người Trung Quốc vừa mới thoát ra khỏi “thời kỳ quá độ đầy rối loạn” và mặc dù hiện nay đương là thời bình, “chúng ta phải thường xuyên cảnh giác nhằm chống lại sự trở về tình trạng hỗn loạn”. Vì vậy, cần phải xây dựng ngay một kiểu xã hội mới và “bước đầu tiên trong quá trình đó là tạo dựng nền tảng luân lý vững chắc”, ông viết.

Phê Khổng

Giáo sư He viết rằng “linh hồn” văn hóa truyền thống đã bị đánh bật gốc rễ, đấy là trong giai đoạn sau của Cách mạng văn hóa, khi những người cầm bút, từng tin tưởng Khổng giáo bắt đầu tham gia phê phán Khổng Tử.

“Trong nhân dân, Khổng Tử, Khổng giáo, những nghi thức của Nho giáo và đạo đức Nho giáo trở thành những từ ngữ rủa xả. Hiện nay [2013] vẫn còn cảm nhận được ảnh hưởng của việc phê Khổng và không được đánh giá thấp những tác hại mà nó gây ra đối với đạo đức xã hội”.

Không chỉ sự cuồng tín và bạo lực của Hồng vệ binh, sự thiếu giáo dục của cả một thế hệ trong Cách mạng Văn hóa, mà đạo đức truyền thống cũng bị ảnh hưởng trong suốt 30 năm, trước khi nền kinh tế Trung Quốc bùng nổ. “Đạo đức lại bị kinh tế và kinh tế thị trường chôn vùi một lần nữa”, giáo sư He nói. “Đó là lý do chính làm cho chúng tôi gặp phải những vấn đề đạo đức như hiện nay”, ông nói ở Brookings.

Khuôn khổ mới của đạo đức xã hội

Giáo sư He cố gắng kết hợp nền đạo đức cũ, từng được sử dụng trong suốt 3.000 năm, với thời hiện đại. Ông dẫn người đọc bài tiểu luận đầu tiên, “Những nguyên tắc mới: Hướng tới khuôn khổ mới của đạo đức xã hội ở Trung Quốc”, thông qua một khóa học ngắn về Nho giáo.

Khởi đầu là Mạnh Tử, học trò nổi tiếng nhất và có ảnh hưởng nhất của Khổng Tử. Mạnh Tử tin vào lòng tốt bẩm sinh của con người. “Mọi người đều có lòng từ bi”, He trích dẫn lời của Mạnh Tử.

Giáo sư He coi những “tính tốt không đổi” từ thời cổ đại và chỉ ra rằng những đức tính đó có thể được áp dụng cho thời kỳ hiện đại: nhân, nghĩa, lễ, trí, và tín. Năm đức đó vẫn còn giá trị, chỉ cần giải thích theo lối mới mà thôi, ông viết.

Ví dụ, lòng nhân có thể được coi là nguồn gốc của toàn bộ đạo đức. Khi lòng từ bi bị những yếu tố bên ngoài làm suy giảm thì nó không còn là động cơ cho hành vi nữa, như được thể hiện trong ở sự vô tâm trong những thí dụ được nói tới bên trên. Lễ là tỏ ra lịch sự. “Tự kiềm chế là một điều kiện tiên quyết cho lễ”, và cũng có nghĩa là hạn chế những ham muốn của chúng ta, đặc biệt là ham muốn vật chất của chúng ta, He nói. Trí là về công nhận những điều đúng đắn và có “ý trí và trí tuệ là để đánh giá về mặt đạo đức … trí còn để tìm ra sự cân bằng và tìm trung đạo”.

Một trong những tư tưởng của Nho giáo là “chính danh”. Giáo sư He nói rằng ý thức hệ chính trị không phù hợp với thực tế xã hội. “Ở đâu cũng đầy những lời sáo rỗng”, ông viết. Niềm tin trong xã hội, đặc biệt là giữa chính quyền và nhân dân, đã không còn, tạo ra khủng hoảng lòng tin. Giáo sư He nói rằng người Trung Quốc “đang thường xuyên gặp phải sự giả dối; chúng ta đang quen với nó”.

Ví dụ, chính quyền gọi các “quan chức” là “đầy tớ của nhân dân”, tạo ra sự bất tương thích giữa danh và thực. Các quan chức sử dụng quyền hạn một cách vô trách nhiệm và phi đạo đức, dẫn tới “sự tức giận và lòng hận thù chưa từng có đối với các quan chức đó”. Cách chữa trị: “Hãy để các quan chức là quan chức” và sửa lại tên gọi, một cách chính thức.

Nền đạo đức mới khác đạo đức cũ ở điểm quan trọng. Quan hệ cũ giữa kẻ cai trị và người bị trị có nghĩa là đưa ra những hướng dẫn cho người bị trị và người bị trị có trách nhiệm trước kẻ cai trị. Hiện nay, ngược lại, người cai trị phải làm tròn bổn phận của mình trước những người có địa vị thấp và chịu trách nhiệm trước các “công dân”. Các chính khách “phải coi nhân dân là ông chủ cao nhất của mình”, He viết. He coi đây là sự thay đổi lớn nhất giữa nền đạo đức cũ và mới. Ông nghĩ rằng với tình hình hiện nay ở Trung Quốc, trở thành chế độ dân chủ và pháp quyền là con đường khó khăn và lâu dài, nhưng đó là hướng đi của lịch sử Trung Quốc.

G.F.

Nguồn bản dịch: http://phamnguyentruong.blogspot.com/2015/12/trung-quoc-thieu-vang-niem-tin-va-su-tu.html

Nguồn bản gốc: http://www.theepochtimes.com/n3/1899732-confucian-scholar-confronts-the-lack-of-trust-and-kindness-in-china/

 

Thay Đổi và Cơ Hội

Thay Đổi và Cơ Hội

Lê Minh Nguyên

Thay đổi không có nghĩa là nó sẽ đương nhiên tốt hơn. Vậy tại sao phải thay đổi? Thay đổi để thoát ra được cái cũ, nhất là cái cũ đã 70 năm và có đầy lỗi hệ thống. Ít nhất, nó cho ra một cái gì mới, việc tốt/xấu tuy chưa rõ nhưng việc thích ứng với môi trường đương đại thì rất rõ. Khủng long dù rất to, nhưng không thay đổi theo môi trường sống thì đương nhiên bị diệt chủng. Đó là luật của tạo hoá mà sinh vật không thể cưỡng. Đảng CSVN là một sinh vật nên cũng vậy.

Trong chương trình giáo dục của ngành kinh tế thương mại (MBA) các sinh viên thường học qua về Phân tích SWOT (SWOT Analysis: Strengths/điểm mạnh, Weaknesses/điểm yếu, Opportunities/cơ hội, Threats/rũi ro) để có những động thái thích hợp khi thời thế đã đổi thay. Nó nhằm dạy cho sinh viên biết thay đổi và đạt được sự tốt đẹp sau khi thay đổi. Bởi vì trên thương trường, thay đổi là một hằng số, không thay đổi là thua cuộc, là bị đào thải.

Người Đông phương tin vào Dịch Học (hay Lẽ Biến Động) mà nguyên lý âm-dương không cho tách rời để chọn một bỏ một, cho nên giữ được sự thăng bằng động trong tương quan cả hai mới là tuyệt vời gần với lẽ đạo của Dịch Kinh. Nó có nghĩa là muốn thăng bằng phải thay đổi, trong tĩnh có động và trong động có tĩnh. Các chế độ dân chủ lấy cái động (biểu tình, tranh cử tự do) để duy trì cái tĩnh (ổn định chính trị thực sự). Các chế độ độc tài lấy cái tĩnh (ổn định chính trị giả tạo) để bóp nghẹt cái động (đàn áp các động tính tự nhiên của xã hội).

Người cộng sản biết rõ là môi trường sống chung quanh luôn luôn thay đổi, nếu không thì tại sao lý thuyết của họ đề cao biện chứng pháp (dialectics) mà trong đó luôn có biến động, vì nếu có chính đề (thesis) thì sẽ có phản đề (antithesis) và sự tương tác sẽ cho ra hợp đề (synthesis). Ví dụ dễ hiểu là nếu có một người độc thân (chính đề), thì sẽ có một người độc thân khác phái (phản đề) và sự tương tác như hôn nhân sẽ cho ra đứa con (hợp đề), qua thời gian thì đứa con sẽ là chính đề… và cứ thế mà lẽ biến động mở ra về phía trước.

Trớ trêu thay khi thực hành thì người Đông phương thường bảo thủ chống lại sự thay đổi, nhất là người cộng sản. Họ đề cao luật biện chứng nhưng họ cho luật biện chứng chết ở thế giới đại đồng, vì tới đó là “Ò e Rô-be đánh đu, Tạc-zăng nhảy dù… thằn lằn cụt đuôi” không thể biện chứng được nữa. Đó là chưa nói Darth Vader Lú ở hành tinh xa xôi nào đó trong Stars War 7 cương quyết không thay đổi, cho dù đến hết thế kỷ này không biết có gặp chủ nghĩa xã hội hay chưa.

Người Tây phương, nhất là Hoa Kỳ, không biết nói nhiều về Kinh Dịch, nhưng luôn thực hành nguyên tắc âm-dương trong đời sống. Họ có thuyết Tương Đối (Relativity) mà Albert Einstein làm cho chói lọi, họ áp dụng âm-dương để làm ra máy vi tính (0 và 1 trong hệ đếm hai/binary digit), họ xây dựng quốc gia (nation-state building) trên nền tảng âm-dương mà chính quyền và đối lập luôn thăng bằng. Họ rất lo sợ đối lập bị yếu và luôn tìm cách để bảo vệ đối lập. Hầu hết các điều khoản của Hiến pháp Hoa Kỳ là để bảo vệ thiểu số trong khi đất nước do đa số hướng dẫn. Giao thiệp với thế giới, trong khi cộng tác với đảng cầm quyền của một nước nào, họ luôn luôn tiếp xúc và giúp đỡ đối lập. Nếu chỉ nói bằng hai chữ thì đó là: thăng bằng.

Chuyến đi của ông Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng từ 23-27/12/2015 qua Bắc Kinh mà ông Hùng cho là vì “lợi ích chung của hai bên to lớn hơn nhiều so với bất đồng” (www.bbc.in/1Vn10tA), nhưng ông không cho biết lợi ích to lớn của dân tộc Việt Nam là lợi ích gì? Mong ông đừng đồng hoá nó với lợi ích của đảng CSVN muốn TQ chống lưng để tiếp tục cầm quyền!

Qua những gì ông nói và làm ở TQ thì hình như là một sự đồng hoá như vậy!

Đảng đã dứt khoát không thay đổi chính trị để VN độc lập với TQ hơn và đoàn kết nội lực dân tộc trong-ngoài hơn. Chuyến đi là một sự khẳng định Đảng (đúng hơn là phe bảo thủ trong Đảng) dựa vào TQ. Điều mà nhạc sĩ Việt Khang trong bài hát “Việt Nam Tôi Đâu” cho biết phải trãi qua quá nửa đời nguời để nghiệm ra.

“Việt Nam ơi!

Thời gian quá nửa đời người

Và ta đã tỏ tường rồi”

Ông Hùng giờ đây qua chuyến đi đã khẳng định, không cần chờ lâu để “tỏ tường” là đảng CSVN tiếp tục chọn con đường dựa vào Trung Quốc cho sự “hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài (?), hướng tới tương lai” như 16 chữ vàng cột chặt con thuyền đất nước VN vào mẫu hạm TQ. Dĩ nhiên, khi cột chặt vào mẫu hạm thì hướng đi tương lai là hướng của mẫu hạm. Nội tình TQ thì ông Tập Cận Bình đang ngồi trên lửa, đảng CSTQ đang hết xăng, vậy việc tiếp tục ôm TQ có phải là một giải pháp khôn ngoan cho đảng CSVN hay không?

Hôm 23/12 ông Hùng gặp ông Tập (bit.ly/1PlS9I5) và ông Tập “gởi lời thăm hỏi, lời chúc tốt đẹp đến TBT Nguyễn Phú Trọng và CTN Trương Tấn Sang”, không nhắc gì đến TT Nguyễn Tấn Dũng. Điều này chỉ có thể rơi vào một trong ba trường hợp: (1) ông Tập đã bỏ rơi ông Dũng do tam trụ Trọng-Sang-Hùng có thể đã nhượng gì với ông Tập có giá trị lớn hơn ông Dũng nhượng!? (2) ông Tập thăm VN hôm 5-6/11/2015 vừa qua, mời duy nhất ông Dũng đi thăm TQ và hai ông Tập-Dũng ôm nhau ba lần hết sức thắm thiết chỉ là đòn giả để hại ông Dũng, để chứng minh ông Dũng cũng cá mè một lứa quỵ luỵ TQ, (3) ông Tập có thể đã gởi lời thăm ông Dũng nhưng tam trụ Trọng-Sang-Hùng đang vây đánh nhất trụ Dũng nên cắt bỏ lời nhắn thăm ông Dũng khi đưa tin ra ngoài công chúng.

Hôm 25/12 ông Chủ tịch Quốc hội TQ Trương Đức Giang nói với ông Hùng là VN cần củng cố niềm tin chính trị vào TQ và nên giữ cho “quan hệ song phương trở lại theo đúng hướng”, có nghĩa là VN tiếp tục ở trong quỹ đạo của TQ, không được chệch hướng về phía Hoa Kỳ (bit.ly/1Vn2vYF).

Ông Trương hướng VN đến tương lai bằng cách thúc ông Hùng là VN cộng tác trong khuôn khổ của sáng kiến TQ về “Vòng Đai và Con Đường (Belt and Road) cũng như phía VN “Hai Hành Lang và Một Vòng Tròn Kinh Tế” (Two Corridors and One Economic Circle). TQ gói bánh nhiều dây từ an ninh, quân sự, chính trị, kinh tế… với VN.

Theo Tân Hoa Xã, ông Hùng nói “Việt Nam sẵn sàng làm việc với Trung Quốc ‘để tăng cường quan hệ hợp tác…hầu có thể duy trì tình hữu nghị vĩnh cửu’” (bit.ly/1ZurXhk). Trong khi quy luật của bang giao quốc tế là “không có bạn muôn đời, cũng không có thù truyền kiếp, chỉ có quyền lợi quốc gia là vĩnh cửu”, nay ông Hùng hy sinh quyền lợi quốc gia ở Biển Đông để xin “duy trì tình hữu nghị vĩnh cửu”. Đau cho VN!

Hôm 25/12 ông Hùng tới quê hương Mao Trạch Đông để thăm và dâng hoa ở thành phố Thiều Sơn, tỉnh Hồ Nam. Nơi đây “Kính cẩn nghiêng mình trước tượng Chủ tịch Mao Trạch Đông, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng thành kính tưởng nhớ công lao to lớn của lãnh tụ vĩ đại…” (bit.ly/1Ja9DWz).

Ông Hùng đi TQ ngay thời điểm sau Hội Nghị Trung Ương 13 (ngày 14-21/12) mà các phe tranh nhau bất phân thắng bại, trước trận đánh kế tiếp ở Hội Nghị TU 14 vào khoảng đầu tháng Giêng, và chưa đầy một tháng trước Đại Hội 12, với nội dung vừa cậy dựa TQ vừa có vẻ muốn dồn ông Dũng vào chân tường. Ông muốn chứng tỏ cho dư luận là ông có hùng khí dám đặt vấn đề thẳng mặt với ông Tập về Biển Đông, nhưng nội dung thì co cụm và đùn đẩy cho hậu sinh, như “tích cực hợp tác”, “Vấn đề trên biển là vấn đề hệ trọng… Vì vậy, xử lý vấn đề trên biển cần được đặt trong tầm nhìn chiến lược lâu dài”. Khi ông Tập đến đọc diễn văn ở Quốc hội VN, không thấy Chủ tịch Hùng nêu lên vấn đề, tại sao? Chẳng lẽ chuyện biển đảo chỉ được dùng cho chính trị nội bộ?

Nhà dân chủ TQ, ông Nguỵ Kinh Sinh cho rằng ông Tập chỉ phung phí tiền bạc để tạo tiếng vang ở Biển Đông. Nơi đây, Hoa Kỳ đang đánh đòn giả với TQ (bluffing). HK không cần phải lo lắng mà chỉ cần duy trì áp lực miệng (HK thật sự lo lắng là vấn đề tin tặc). Nếu phải lo lắng là Việt Nam và Phi Luật Tân, và hai nước này nên mời HK vào Cam Ranh, Subic Bay và Clark Air Force Base. Ông Nguỵ cho rằng các đảo đó chẳng hữu ích gì cho TQ. HK sẽ chẳng thoả thuận gì (make a deal) với TQ ở Biển Đông trừ khi các chính khách HK bị bại não.

Ông Nguỵ cho rằng cốt lõi của vấn đề Biển Đông là chế độ CSTQ muốn kiểm soát yết hầu hàng hải ở Đông Á, tức là muốn kiểm soát các tuyến đường thương mại hàng hải của Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ và các nước ASEAN. Liệu ý đồ này có thành công hay không? Hiển nhiên là không. Đây là mưu tính của những người bị tàn tật não. Giả như một ngày nào đó chế độ CSTQ thực sự cắt đứt cái yết hầu hàng hải này, TQ đánh với một mình HK còn không lại thì làm sao đánh lại một liên minh gồm HK, Nhật, Hàn và các nước ASEAN?

Nếu có chiến tranh, nó sẽ đi cùng với sự trừng phạt kinh tế, và chế độ CSTQ sẽ sụp đổ ngay lập tức. Vì vậy, các cư dân mạng ở TQ đặc biệt muốn ông Tập gây chiến, qua đó để họ chứng kiến sự sụp đổ chế độ bằng việc sử dụng sức mạnh bên ngoài. Mưu tính này có thể làm cho ông Tập xem xét lại dàn cố vấn của ông để biết ai muốn TQ hỗn loạn và ai đang đánh lừa ông (bit.ly/1RLPKrF).

Ông Hùng và Đảng muốn dựa vào TQ là một sai lầm chiến lược nghiêm trọng cho VN. HK là siêu cường số một, không có tham vọng lãnh thổ, nhưng cũng không có bổn phận phải bảo vệ chủ quyền VN. VN cần HK chứ không phải HK cần VN.

Vì lợi ích cục bộ, CSVN cần TQ chống lưng hơn là cần nội lực dân tộc, trong khi việc bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ thì chính yếu là dân tộc chứ không phải ngoại bang, cho nên VN không thể vận công để đoàn kết dân tộc trên toàn quốc cũng như quốc nội-hải ngoại, trong khi khối người Mỹ gốc Việt càng ngày càng có nhiều ảnh hưởng hơn lên chính sách của HK đối với VN.

Thay đổi không phải chỉ có rũi ro mà là cơ hội. Những người cộng sản Đông Âu hay Liên Xô có viễn kiến đều thành công sau thay đổi. Một cá nhân cương quyết thay đổi, có thể từ đạp xích lô trở thành nhà khoa học. Một tập thể lãnh đạo mạnh dạn thay đổi, VN sẽ có cơ hội vươn vai Phù Đổng để trở thành một dân tộc mạnh trên trường thế giới.

Trên lãnh vực này, VN nên lãnh đạo TQ chứ không nên để TQ lãnh đạo VN. Đây là sinh lộ cho VN hưng thịnh, vì VN dân chủ dẫn theo một TQ dân chủ mới là sự ổn định thực sự, như HK nằm sandwiched hài hòa giữa Gia Nã Đại và Mễ Tây Cơ, chứ không “đại cục hữu nghị” mà thực chất là ỷ mạnh hiếp yếu như TQ đối với VN hiện nay.

Thay đổi là cơ hội để vượt qua sự bất hạnh cho một dân tộc thông minh, cần cù và dũng cảm.

L.M.N.

28/12/2015

Đại hội Đảng 12 có ‘hai điểm quan trọng’

Đại hội Đảng 12 có ‘hai điểm quan trọng’

AFP Ông Nguyễn Phú Trọng (giữa) sẽ tại vị chức Tổng Bí thư thêm nhiệm kỳ hay phải nhường ghế cho ông Nguyễn Tấn Dũng (phải) sau Đại hội Đảng 12?

Một nhà quan sát nước ngoài nói về điểm “chưa có tiền lệ” ở Đại hội 12 trong lúc con trai Tổng bí thư Lê Duẩn cảnh báo về vai trò nhân dân bị “lu mờ”.

Giáo sư Carl Thayer, nhà quan sát chính trị Việt Nam lâu năm, vừa có bài phân tích về Đại hội Đảng 12 trong đó ông mô tả đại hội này đặc biết quan trọng vì “hai lý do”.

“Thứ nhất, họ sẽ bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng mới. Những người này sẽ lần lượt bầu Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Uỷ ban kiểm tra Trung ương Đảng, tổng bí thư và thông qua các ứng viên chủ tịch nước, thủ tướng và chủ tịch quốc hội. Những ứng viên này sẽ được bầu vào tháng 5/2016.

“Các ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng vừa nhóm họp Hội nghị 13, bỏ phiếu chọn ứng viên cho bốn vị trí cao nhất của đảng và nhà nước. Việc lựa chọn lãnh đạo gây nhiều tranh cãi năm nay. Trên lý thuyết, điều lệ Đảng buộc những người đã phục vụ hai nhiệm kỳ và/hoặc hơn 65 tuổi phải nghỉ hưu.

“Tuy nhiên, thực tế có thể có ngoại lệ đặc biệt. Ví dụ, Đại hội Đảng 11 bầu ông Nguyễn Phú Trọng làm Tổng Bí thư dù năm đó ông đã hơn 65 tuổi.

“Có tin đồn rằng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng muốn là Tổng bí thư kế tiếp và ông có thể được miễn trừ quy định tuổi tác. Nhưng trường hợp của ông Dũng chưa có trong tiền lệ.

“Việt Nam chưa từng có nhà lãnh đạo ở chức vụ cao lại tìm kiếm sự miễn trừ [quy định tuổi tác] để khi rời ghế cũ lại chuyển sang ngồi một ghế khác cũng cao trong hàng ngũ chóp bu lãnh đạo. Trường hợp này tạo nên hiệu ứng phản đối ông Dũng dữ dội từ phía các đối thủ của ông là Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng,” ông Thayer viết.

Nhà quan sát này bình luận rằng có một điều không thể phủ nhận là Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay đã minh bạch hơn so với trước đây trong việc truyền thông đến người dân về cơ chế lựa chọn lãnh đạo.

Tuy nhiên, đến nay tên của các ứng viên được chọn bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và các vị trí cao hơn vẫn được giữ bí mật, ông Thayer nhận xét.

GETTY  Giáo sư Carl Thayer nói trường hợp của ông Nguyễn Tấn Dũng chưa có trong tiền lệ

Lý do thứ hai khiến Đại hội Đảng 12 quan trọng, theo Giáo sư Carl Thayer, là tại sự kiện này sẽ công bố hai văn kiện chính yếu -Báo cáo chính trị và Báo cáo Kinh tế-Xã hội 2016-2020. Dự thảo các văn kiện này đã được đưa ra tháng 9/2015 để thảo luận công khai.

Dự thảo Báo cáo Chính trị ưu tiên các vấn đề giáo dục và đào tạo, phát triển khoa học và công nghệ, chống tham nhũng, tăng cường các quy định pháp luật, đoàn kết dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa và xây dựng “đảng trong sạch vững mạnh”.

Báo cáo Kinh tế-Xã hội nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì kinh tế vĩ mô ổn định, kiểm soát nợ công và đặt mục tiêu phát triển Việt Nam thành quốc gia hiện đại và công nghiệp năm 2020.

Báo cáo cũng đặt mục tiêu tốc độ tăng trưởng GDP 6,5-7% trong 5 năm tiếp theo.

Đến năm 2020, GDP bình quân đầu người dự kiến đạt 3.670 – 3.750 đôla, đưa Việt Nam tiếp cận danh sách quốc gia thu nhập trung bình.

AP  Ai trong số bốn nhà lãnh đạo này sẽ tiếp bước sau Đại hội Đảng 12 vẫn còn là một ẩn số

Nhà báo Huy Đức vào hôm 30/12/2015 viết trên Facebook cá nhân đánh giá về con người và những chính sách của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

“Sau mười năm trở thành người có quyền lực nhất đất nước, ông Dũng đã có nhiều quyết định làm khánh kiệt nền kinh thế [đặc biệt là chính sách lập các tập đoàn kinh doanh đa ngành].

“Đã hai năm, kể từ ngày ông “gửi thông điệp cải cách” tới dân chúng, Chính phủ chưa hề có một hành động cải cách hữu hiệu nào trong khi các bộ ngành dưới trướng của ông tiếp tục “đẻ” thêm nhiều loại thủ tục nhũng nhiễu người dân và doanh nghiệp.

“Tính từ khi đứng trong top 5 người quyền lực nhất (ủy viên thường vụ Bộ chính trị – 1996), Nguyễn Tấn Dũng đã ở trên đỉnh cao quyền lực gần 20 năm.

“Sau 20 năm nhìn lại, đặc biệt là 10 năm làm thủ tướng, trong số các gia đình VN, có lẽ chỉ gia đình ông là thành công nhất,” nhà báo Huy Đức viết.

‘Bề trên’

Trong một diễn biến khác vào hôm 30/12/2015, một báo của Bộ Công an đăng bài bình luận ‘ Chúng ta thực sự tin nhân dân?‘ của ông Lê Kiên Thành, con trai cựu Tổng Bí thư Lê Duẩn.

Ông Thành viết: ”Là con trai một người Cộng sản đã hy sinh cả cuộc đời mình cho đất nước, tôi có một khao khát tột cùng là Đảng sẽ thực sự vững mạnh, sẽ thực sự là Đảng của dân tộc, của nhân dân, quên mình vì lợi ích của dân tộc, của nhân dân…

“Nhưng những đêm vắt trán nằm suy nghĩ về đất nước, tôi hiểu chúng ta còn thiếu và sai nhiều. Một trong những cái sai đó là chúng ta chưa thực sự biết tin dân!”

“Nhưng khi sự nghiệp lớn đã thành công, những người Cộng sản trở thành những người lãnh đạo đất nước, họ dần dần trở thành giai cấp cầm quyền và có lúc ‘nhìn xuống’ nhân dân của mình.”

“Những cụm từ ‘Đảng soi đường’, ‘Đảng chỉ lối’, ‘Đảng dẫn dắt’ mà chúng ta vẫn hay dùng, vô hình trung đã khiến cho tất cả chúng ta đều có cảm giác Đảng đang vượt lên cả dân tộc và làm cho vai trò rất lớn của nhân dân phần nào bị lu mờ đi. Tôi rất lo sợ, qua năm tháng, chính những câu chữ đó cũng đã tạo ra sự ngộ nhận cho chính những người trong Đảng,” ông Thành viết.

Ông Lê Kiên Thành, một doanh nhân khá thành đạt, viết thêm rằng “Đảng sinh ra là từ dân tộc này, tồn tại được cũng nhờ dân tộc này, vinh quang được cũng là nhờ dân tộc này, thành công này cũng là do cả dân tộc cùng đồng lòng trả bằng xương bằng máu. Vượt lên trên dân tộc là điều không bao giờ được phép!

“Trước đây khi chúng ta muốn nói điều gì với dân, chỉ dùng một tờ truyền đơn là người dân tin. Trong khi đó hiện chúng ta có đến khoảng 800 đầu báo mà chúng ta lại lo sợ nhân dân sẽ hiểu sai về Đảng khi đọc những tiếng nói trái chiều trên những trang báo lề trái. Đó là điều phi lý mà tôi không cắt nghĩa được,” ông Thành viết.

Việt Nam có thể tiến hành cải cách chính trị hay không? (I)

Việt Nam có thể tiến hành cải cách chính trị hay không? (I)

nguyenthituhuy

RFA

Như đã có lần từng nói, phân tích chính trị Việt Nam là một việc khó, chính là vì mọi thứ diễn ra theo cách thức công khai một cách bí mật, hoặc bí mật một cách công khai, vì sự thật bị cất giấu ở đâu đó trong những góc khuất tối tăm, và những thông tin chính xác người dân không được biết. Báo chí thì chỉ đưa tin về các sự kiện với một lượng thông tin tối thiểu. Nếu độc giả sống ở một nước như Pháp hay Mỹ hay ở một nước dân chủ nào đó, sẽ thấy rõ sự khác biệt này : mỗi sự kiện khi được đưa ra bao giờ cũng kèm theo rất nhiều thông tin, và rất nhiều phân tích, bình luận, trong khi ở Việt Nam báo chí chỉ đưa tin về sự kiện chính trị, với một hàm lượng thông tin ít ỏi hết cỡ (dĩ nhiên là những tin được phép đưa), không có phân tích hoặc có rất ít phân tích, hoặc chỉ là các phân tích theo một chiều, cái chiều được chỉ đạo hoặc được cho phép, đây là điểm bất thường của báo chí chính thống Việt Nam. Nhưng điểm bất thường này hoàn toàn có thể giải thích được, và nó chính là một trong những đặc điểm căn bản của báo chí trong các thể chế độc tài.

Lấy một ví dụ về bầu cử cấp địa phương vừa diễn ra ở Pháp : ngay trong ngày chủ nhật (dân Pháp chỉ bỏ phiếu trong một ngày chủ nhật), sau khi có kết quả bỏ phiếu, thường là vào 20h tối cùng ngày, lập tức các đài truyền hình, các đài phát thanh tổ chức các cuộc thảo luận trực tuyến, mời các chuyên gia phân tích, bình luận gần như trực tiếp. Dĩ nhiên, sau đó báo chí tiếp tục phân tích. Đồng thời các nghiên cứu xã hội học về sự kiện cũng được triển khai ngay lập tức. Còn ở Việt Nam, nếu đọc tin về bầu cử cấp địa phương, cũng vừa diễn ra trong thời gian gần đây, ta sẽ thấy chỉ có tin và tin : ai được bầu, ở đâu, ai thôi chức vụ. Chỉ có vậy, hầu như không có phân tích, không có bình luận.

Tuy nhiên, dù khó khăn vẫn phải tiến hành các phân tích chính trị, hay nói cách khác, càng khó khăn càng cần học cách phân tích chính trị. Phân tích chứ không phải là chỉ trích hay ca tụng theo cảm tính. Việt Nam cần hình thành một tầng lớp những người có chuyên môn trong nghề phân tích chính trị. Điều này sẽ giúp ích không nhỏ cho chính phủ. Khi những người làm việc trong chính quyền hiểu rằng, dù muốn hay không, mọi hành động, mọi phát ngôn của họ đều được đưa ra phân tích thì có thể họ sẽ phải thận trọng hơn và có trách nhiệm hơn đối với hành động và phát ngôn của mình.

Dĩ nhiên, nếu chúng ta không muốn chính chúng ta bị người khác chỉ trích rằng « dân nào chính phủ ấy », thì cần chứng tỏ cho chính quyền biết dân trí của Việt Nam không thấp như chính quyền cố tình tuyên truyền, và những người dân bình thường trong xã hội có khả năng đòi hỏi chính quyền phải đáp ứng những yêu cầu rất cao của mình. Và nếu những người đứng ở vị trí lãnh đạo không đủ khả năng đáp ứng yêu cầu của người dân thì cần nhường chỗ cho những người có đủ năng lực để làm việc đó.

Trong bài này, tôi thử làm một phân tích để trả lời câu hỏi : liệu Việt Nam có thể có cải cách chính trị hay không, và ai là người có thể thực hiện cải cách chính trị, trong thời điểm này ?

Trước khi đi vào những câu hỏi này, tôi trở lại với trường hợp Gorbatchev, để minh định một điều : những người có khả năng tiến hành cải cách cần có một số phẩm chất nhất định.

Tháng 3 năm 1985 Ban Bí thư trung ương và Bộ chính trị Liên Xô đã chọn Mikhail Gorbatchev làm Tổng bí thư của đảng cộng sản Liên Xô, lúc ông chỉ mới 54 tuổi. Sự lựa chọn này được thúc đẩy bởi ý thức trách nhiệm đối với đất nước của ban lãnh đạo cũ. Gorbatchev sau khi nắm quyền đã tiến hành chương trình cải tổ perestroika. Chương trình không thành công như ông dự định, nhưng nó đã góp phần đưa nước Nga và Liên bang Xô viết thoát khỏi hệ thống toàn trị, mở ra một chương mới cho các sức mạnh Nga được phát triển.

Đã có nhiều sách viết về con người Gorbatchev để lý giải vì sao ông ta trở thành một huyền thoại. Ở đây xin giới thiệu một số nét trong chân dung của Gorbatchev, do Andreï Serafimovitch Gratchev miêu tả trong cuốn «Bí ẩn Gorbatchev : đất và số phận » (Le mystère Gorbatchev: la terre et le destin). Andreï Serafimovitch Gratchev là tiến sĩ lịch sử, có bằng đại học về ngành quan hệ quốc tế, từng là trợ lý và người phát ngôn của Gorbatchev.

Khi giữ chức vụ trong hàng lãnh đạo cao nhất ở địa phương, Gorbatchev đi bộ đến nơi làm việc. Ông không dùng đến xe công vụ. Ông gặp và tiếp chuyện người dân ngay trên đường phố. Vợ ông, bà Raissa, mua hàng trong những cửa hàng bình dân, tránh những nơi dành riêng cho những đảng viên có thế lực. Họ cho con đi học một trường bình thường trong khu phố chứ không chọn những trường mà giới lãnh đạo thường gửi con đến học.

Trong khi thực hiện tận tụy mọi công việc được giao, làm hết trách nhiệm với một thái độ trung thực và lương thiện, Gorbatchev đã gặp phải vô số vấn đề khiến ông cảm thấy khó hiểu và không đồng tình, một trong số những vấn đề đó là « sự kiêu căng và thụ động của những vị lãnh đạo bất tài ». Gorbatchev đã nung nấu suy nghĩ và tìm phương hướng giải quyết khi càng ngày ông càng lên cao trong bậc thang quyền lực.

Về phương diện trí tuệ, từ cuối 1978, khi chuyển lên Moscou, Gorbatchev đã đọc rất nhiều sách lúc bấy giờ bị cấm đối với đại chúng, cả những tác giả mac-xít lẫn những tác giả chống mac-xit, các triết gia mới như Sartre, Heidegger, Marcuse, những triết gia của trường phái Francfort. Gorbatchev cũng luôn tìm cách tận hưởng các hoạt động văn hóa. Và khi đứng ở vị trí lãnh đạo cao nhất, ông đã thường xuyên tiếp xúc với các nhân vật nổi tiếng trong các lĩnh vực khác nhau ở Moscou. Ông hiểu rõ giá trị của văn hóa và khoa học. Điều này được nhấn mạnh trong nhiều diễn văn của ông, trong cả cuốn sách dày do chính ông viết ra để giải thích về khái niệm và chương trình perestroika.

Và những chuyến đi công du nước ngoài, đặc biệt là các nước phương Tây, cho phép ông mở ra sự so sánh cần thiết. Vợ ông là người đã đặt cho ông câu hỏi : « Vì sao họ sống tốt hơn chúng ta? » Và ông sẽ tìm cách trả lời câu hỏi đó khi nhìn thấy tình trạng tù hãm, đình trệ của đất nước ông.

Sau khi được bầu vào vị trí quyền lực cao nhất, ông đã tiến hành những cải cách, như chúng ta biết, không chỉ làm thay đổi nước Nga, mà là cả cục diện thế giới. Điều cần nói ở đây là, những cải cách đó, không chỉ là mong muốn riêng của Gorbatchev, không chỉ là chương trình riêng của Gorbatchev. Những cải cách đó là sự thực hiện mong muốn chung của đa số những người dân Nga, nhất là của giới trẻ, những người, vào thời điểm đó, cảm thấy rằng « chúng ta không thể tiếp tục sống như thế này nữa », cảm thấy rằng không thể tiếp tục sống trong dối trá, trong sự băng hoại đạo đức và tinh thần. Ý nghĩa sâu xa và căn bản của chương trình Perestroika, như Gorbatchev nhấn mạnh, đó là « xây dựng đời sống tinh thần cho các cá nhân, trong khi tôn trọng đời sống nội tâm của họ và trao cho họ sức mạnh đạo đức. Chúng ta tìm cách khởi động tất cả mọi tiềm năng trí tuệ của xã hội chúng ta, tất cả mọi tiềm năng văn hoá, để tạo ra các cá nhân năng động về mặt xã hội, phong phú về tinh thần, công chính và có lương tâm. ». Nghĩa là cải cách chính trị được tiến hành, đáp ứng nguyện vọng của người dân, nhằm trả lại phẩm giá, đạo đức và các giá trị tinh thần cho các công dân trong xã hội, trả lại cho cuộc sống những giá trị nhân văn. Cuộc sống đúng nghĩa không thể chỉ là sự tồn tại vật lý trong một bầu khí quyển lừa dối và bạo lực. Và luôn biết rằng một chương trình cải cách như vậy sẽ gặp vô vàn khó khăn, nhưng ông đã cương quyết thực hiện.

Giới thiệu về con người Gorbatchev để thấy rằng cải cách thực sự phải gắn liền với những khát vọng nhân bản, nó được thực hiện bởi những người có hoài bão lớn, không vụ lợi cá nhân mà nghĩ tới các giá trị chung và các mục đích chung.

Vấn đề của Việt Nam chúng ta là : trong bộ máy lãnh đạo của chúng ta hiện nay, có những người như vậy hay không ? Liệu có ai trong số các lãnh đạo còn nghĩ đến đạo đức và các giá trị tinh thần ?

Barcelona, 29/12/2015

Nguyễn Thị Từ Huy

Bóng tối của đêm

Bóng tối của đêm

tuankhanh

RFA

Anh bạn có cái quán nước nho nhỏ ở tít vùng ngoại ô Sài Gòn, mới đây kể rằng có khách ghé vào, vừa kéo ghế ngồi vừa kêu nước “cho cái gì uống đi, cái gì cũng được miễn không phải là đồ của Tân Hiệp Phát”.

Ở cái quán bé tẹo ấy, chưa có đến 5 cái bàn, khoảng hai tuần nay đã tiếp nhận loại thông điệp xã hội dân sự ấy không phải một lần rồi thôi. Đi xa hơn nữa, cũng có những người bán hàng đã bị lời nhắc của khách hàng làm thức tỉnh, về một dòng chảy đang lớn dần, trong việc không nên dùng sản phẩm của Tân Hiệp Phát. Thái độ từ chối của nguòi dân ngày càng rộng không phải vì tin tức các loại nước của công ty này bị cặn, bị lỗi, mà rõ là một cách bày tỏ rất quyết liệt: Không muốn chung sống cùng một xã hội với loại thương hiệu với cách ứng xử khuất tất.

Trong lịch sử Việt Nam từ hơn 40 năm nay, người Việt chỉ chứng kiến hai lần phong trào tẩy chay hàng hoá ở mức độ toàn quốc. Đó là cuộc tẩy chay hàng bột ngọt Vedan bởi nhà máy của công ty này làm ô nhiễm sông Thị Vãi, Đồng Nai, vào năm 2010. Lúc đó, sự nổi giận của đám đông vì số phận của một con sông. Còn lần thứ hai này, người ta chứng kiến phong trào kêu gọi tẩy chay toàn dân với một thương hiệu, bùng phát từ cách chà đạp số phận của một con người.

Xét về ý thức công dân và thái độ trách nhiệm xã hội, rõ ràng có một bước tiến lớn trong cái nhìn của đám đông. Sự kiện Vedan bắt nguồn từ các bài báo điều tra và mọi người dễ dàng cùng chung một trận tuyến đối diện với Vedan – mà sai lầm của công ty đã thấy rõ. Còn với sự kiện con ruồi của sản phẩm Tân Hiệp Phát, rõ ràng là người dân ngày càng tinh tế hơn, thấu đáo hơn, bất chấp sự kiện được công ty dàn ra bằng cái vỏ bọc án hình sự và một mặt trận bồi bút tìm mọi cách nói ngược nói xuôi theo chiều của đồng tiền xoay, khiến từng không ít người phân vân.

Chống lại những kẻ to lớn hơn mình và nhiều tiền của, luôn là đề tài muôn thuở của của thế gian – như một sự thách thức sự thật và lẽ phải – mà kết quả không phải lúc nào cũng có hậu. Ngay cả cách thể hiện quyền lực muốn nhấn chìm người mua hàng trong sự kiêu ngạo và tàn nhẫn của Tân Hiệp Phát, vẫn có những luật sư, bồi bút lên giọng bảo vệ kẻ ác trước những người từng phát hiện sản phẩm hư hỏng của công ty này. Có ít nhất 3 khách hàng của Tân Hiệp Phát đã lao đao, chết đứng chết ngồi trước anh Võ Văn Minh (một người ở Đồng Nai và 2 người ở Tp.HCM), với cùng một thủ thuật. Từ năm 2011, công lý đã chìm ngập trong màu nước ngọt có ruồi, cho đến khi tin tức về các nạn nhân lan trên các trang mạng xã hội.

Không may mắn như Vedan, sự kiện Tân Hiệp Phát bẫy người tiêu dùng phát hiện sản phẩm lỗi của mình, được ghi lại khá chi tiết trên Wikipedia, bách khoa toàn thư điện tử với đủ các chi tiết, bao gồm phương thức giải quyết khủng hoảng qua cách đổi tên công ty thành Number One. Lưu danh muôn đời.

“Giờ thì còn tệ hơn, công ty này nói phạt những nơi mua hàng của họ, phát hiện sản phẩm lỗi, lấy lý do là các nơi ấy bảo quản sản phẩm của họ không đúng”, anh bạn có cái quán nhỏ tẹo ấy nói, “thôi giã từ luôn cho khỏi phiền”. Chắc rồi Wikipedia sẽ có thêm tình tiết độc đáo này cho thương hiệu nước giải khát cung đình hoá học ấy, bởi việc tự rửa mặt, bằng cách gây hấn với khách hàng và người phân phối cho mình. Câu chuyện này minh chứng rõ một điều: rõ ràng khi có nhiều tiền, không có nghĩa là kèm thêm trí thông minh.

Nhưng câu hỏi cần đặt ra ở đây, là một công ty có lối giải quyết khủng hoảng vừa quái gở, vừa ngu ngốc như vậy, sao lại được ủng hộ tuyệt đối dù mắc sai lầm từ nhiều năm nay bởi báo chí, thậm chí bởi các quan chức hớn hở ra mặt, cùng nhịp bước đều?

Cây bút điều tra Hoàng Khương của báo Tuổi Trẻ, mới đây có nhắc về một bài báo cũ, liên quan chuyện công ty Tân Hiệp Phát nhập hàng chục tấn “hoá chất cung đình” quá hạn từ năm 2009, nhưng rồi sau đó mọi thứ chìm dần một cách bí hiểm. Thậm chí một cán bộ C15, tức C46 (Cục CSĐT về quản lý kinh tế và chức vụ thuộc Bộ Công An) đang theo sát vụ này đã “được” chuyển công tác về Cục phòng chống ma tuý.

Một cây viết điều tra khác, từng làm cho một tờ báo điện tử lớn, kể rằng anh cũng từng đưa bài nói về khuất tất của Tân Hiệp Phát vào năm 2009, có kèm cả tư liệu của công an C49 (Cục cảnh sát môi trường), thế nhưng những người lãnh đạo bỏ bài viết ấy, sau khi nhận lời mời một chuyến tham quan “hữu nghị” công ty Tân Hiệp Phát. Tất cả những gì cần cảnh báo cho người dân Việt, cuối cùng đã được thay bằng tuyên bố vui vẻ của một lãnh đạo tờ báo sau khi tham quan đi về “nhà máy to lắm, phải đi bằng ô tô mới hết”.

Thấy được sự âm u của đêm là một chuyện, nhưng thấy được cả bóng tối của đêm thì không dễ. Con ruồi và bẫy rập thì không khó nhìn thấy, nhưng trong bóng tối của đêm, làm sao để thấy ai đã giao tặng cho luật sư Tân Hiệp Phát biên bản điều tra của công an với anh Võ Văn Minh, mà điều ấy là bất hợp pháp? Làm sao nhìn xuyên được qua bóng tối của đêm để hiểu được vì sao có những bài báo lên giọng nói tẩy chay không uống nước cung đình hoá học ấy là ngu dại! Bóng tối nào của đêm đủ sức nuôi dưỡng loại luật sư văng tục, tuyên bố trên trang mạnh cá nhân của mình rằng hàng triệu người Việt Nam có thể sẽ ngồi tù vì dám hưởng ứng phong trào tẩy chay Tân Hiệp Phát?

Ngay nơi này, trên đất nước này, sự thật và lẽ phải mỗi ngày đang bị thách thức không ngừng. Không chỉ có đêm tối đang phủ vây công lý và con người Việt Nam, mà chập chúng bóng tối sau đêm cũng đang chực chờ dùng thế và lực của mình để sẳn sàng xoá nhoà mọi ý nghĩa của lương tâm và lẽ phải.

Trên tờ Huffington Post, số tháng 11/2015, có ghi lại một bài nói chuyện của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14. Khi nhìn thấy rất nhiều người khóc và cầu nguyện sau vụ khủng bố tại Ba Lê, Pháp, ông đã nói rằng “con người không thể chỉ cầu nguyện để thoát khỏi kẻ ác”. Người lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng từng đoạt giải Nobel Hoà Bình năm 1989 nhấn mạnh rằng “khủng bố – cái ác do chính con người tạo ra, vậy thì hãy hành động chứ cầu nguyện thì không đủ. Tự con người phải tìm cách giải quyết nó chứ không thể đòi hỏi Thượng đế can thiệp”.

Tân Hiệp Phát lớn lên trên đất Việt, được nuôi lớn bằng sức mạnh tiêu thụ của người dân Việt. Nếu nơi đó không thể đồng hành cùng đồng bào mình phát triển bình ái, mà âm mưu dựa dẫm vào bóng tối của thế lực và tiền của để chà đạp con người, thì chúng ta – những cá nhân nhỏ bé – sẽ phải cùng đứng lại để đòi hỏi một kết cục khác. Chúng ta không thể mong chờ một ai khác.

Tân Hiệp Phát chỉ là một ví dụ khởi đầu trên con đường đất nước đi đến tương lai. Mai đây có thể sẽ còn có những tập đoàn khác, mang theo những chỉ dấu của chaebol kiểu Hàn Quốc hay mafia kinh tế kiểu Phương Tây, lớn lên trên quê hương này cùng những bóng tối trong đêm. Nhưng hôm nay chúng ta lại có thêm một kinh nghiệm: bất luận thế nào con người Việt Nam không thể bị chà đạp mãi, dù chỉ là một cá nhân rất nhỏ nhoi.

————————

(ảnh minh họa: Fury Wave của họa sĩ Kuang Biao (Trung Quốc)

Tuyên bố của Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Ted Osius

Tuyên bố của Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Ted Osius

FB Đại sứ Ted Osius

Thông cáo báo chí

Ngày 29 tháng 12 năm 2015

Tôi quan ngại sâu sắc do những báo cáo gần đây về các vụ sách nhiễu và giam giữ các nhà hoạt động nhân quyền ôn hòa, trong đó có vụ bắt giữ ông Nguyễn Văn Đài ngày 16 tháng 12, cũng như thông tin về việc ông Hoàng Đức Bình, bà Đỗ Thị Minh Hạnh và các nhà hoạt động vì quyền lao động ôn hòa khác bị cảnh sát hành hung ở thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 25 tháng 12.

Xu hướng đáng lo này, tại thời điểm này, đe dọa làm lu mờ sự tiến bộ của Việt Nam về nhân quyền trong những năm gần đây. Tôi thúc giục chính phủ Việt Nam điều tra các báo cáo về các cuộc hành hung ngay lập tức và buộc bất kỳ quan chức có trách nhiệm phải giải trình.

Hoa Kỳ kêu gọi Việt Nam đảm bảo rằng luật pháp và hành động của nước mình nhất quán với các nghĩa vụ và cam kết quốc tế của mình. Chúng tôi cũng thúc giục chính phủ thả vô điều kiện tất cả tù nhân lương tâm và cho phép mọi cá nhân ở Việt Nam bày tỏ quan điểm chính trị của họ mà không sợ bị trả thù.

MEDIA RELEASE:

Statement by U.S. Ambassador to Vietnam Ted Osius

December 29, 2015

I am deeply concerned by recent reports of harassment and detentions of peaceful human rights advocates, to include the December 16 arrest of Nguyen Van Dai, and information that Hoang Duc Binh, Do Thi Minh Hanh, and other peaceful labor rights activists reportedly were assaulted by police in Ho Chi Minh City on December 25.

This disturbing trend, at this time, threatens to overshadow Vietnam’s progress on human rights in recent years. I urge the Vietnamese government to investigate reports of these assaults immediately and to hold accountable any officials responsible.

The United States calls on Vietnam to ensure its laws and actions are consistent with its international obligations and commitments. We also urge the government to release unconditionally all prisoners of conscience and allow all individuals in Vietnam to express their political views without fear of retribution.

Việt Nam sẽ có thay đổi lớn về chính sách ngoại tệ

Việt Nam sẽ có thay đổi lớn về chính sách ngoại tệ

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2015-12-29

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

RFA

<

Mới đây ông Nguyễn Văn Bình, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết sẽ có thay đổi lớn về chính sách ngoại tệ đặc biệt là đồng đô la Mỹ. Cụ thể trong tương lai người gửi ngoại tệ vào ngân hàng có thể phải rút ra bằng tiền đồng Việt Nam và khi doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi ngoại tệ vào ngân hàng chẳng những không có lời mà còn phải trả lệ phí tiền gửi. Mặc Lâm phỏng vấn GSTS Vũ Văn Hóa, Trưởng khoa Kinh tế tài chánh ĐH Quản Lý Kinh Doanh để có thêm chi tiết về vấn đề này.

Mặc Lâm: Thưa Giáo sư, trước tuyên bố của Thống đốc Ngân hàng Việt Nam Nguyễn Văn Bình về việc siết chặt ngoại tệ khi người dân gửi đồng đô la vào thì khi rút ra không được lấy đô la mà phải lấy bằng tiền đồng Việt Nam. Kế đó, chằng những không có lãi mà còn phải trả phí tiền gửi. Xin ông cho biết mặt tích cực cũng như tiêu cực của chính sách này.

GSTS Vũ Văn Hóa: Chúng tôi cũng hơi bất ngờ. Trước hết là việc gởi ngoại tệ vào ngân hàng của cả doanh ngiệp và cá nhân với lãi suất bằng không. Thật ra thì cũng dễ giải thích thôi nhưng còn việc gửi vào mà rút ra có lệ phí thì việc này còn phải xem lại bởi vì sẽ làm cho người gởi tiền rất là thất vọng. Người sử dụng ngoại tệ có những mục đích khác nhau. Người ta có thể dự trữ ngoại tệ để dùng vào một việc nào đó mà bây giờ bắt người ta phải trả phí thì tôi cho là không hợp lý. Thứ hai, người ta gửi ngoại tệ mà bắt phải rút ra bằng tiền Việt thì quá vô lý bởi vì việc này vi phạm  sở hữu  về tiền tệ đối với các thể nhân và pháp nhân. Chúng tôi cũng còn nghiên cứu thêm về việc này nên chưa muốn giải thích chi tiết. Nói chung nhiều người cũng không đồng tình về vấn đề này.

“ Người ta có thể dự trữ ngoại tệ để dùng vào một việc nào đó mà bây giờ bắt người ta phải trả phí thì tôi cho là không hợp lý. Thứ hai, người ta gửi ngoại tệ mà bắt phải rút ra bằng tiền Việt thì quá vô lý bởi vì việc này vi phạm sở hữu về tiền tệ đối với các thể nhân và pháp nhân

GSTS Vũ Văn Hóa”

Mặc Lâm: Nhiều người cho rằng quyết định này sẽ ảnh hưởng trầm trọng đến doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu vì ngoại tệ gửi vào để thanh toán hay rút ra để trang trải đều phải rút bằng tiền Việt Nam. Điều này sẽ gây trở ngại và nhất là doanh nghiệp nước ngòai sẽ gặp rắc rối dẫn đến những tiêu cực phát sinh trong ngành ngân hàng. GS có thêm ý kiến gì không?

GSTS Vũ Văn Hóa: Vâng, tôi cũng đồng tình với ý kiến của anh. Tôi nghĩ là những đơn vị đã gởi ngoại tệ vào, như đã nói ở trên, thì người ta đã có mục đích sử dụng riêng. Ví dụ là thể nhân thì người ta cũng có thể đi nước ngoài hoặc là gởi cho con cái người ta đi du học. Đó là một mục đích. Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thì việc sử dụng ngoại tệ là việc rất là thường xuyên. Do vậy, bây giờ anh gởi vào mà lại bắt rút ra bằng tiền Việt thì tôi cho là không hợp lý bởi vì như vậy thì tỉ giá anh tính tỉ giá như thế nào và cũng có lúc lên lúc xuống. Nhìn chung, lợi ích đối với các doanh nghiệp thì tôi là nó bị tác động. Do đó, việc này rất không hợp lý trong điều kiện Việt Nam và anh có thể dùng cái từ gọi là “ cưỡng chế” và như vậy có thể nói là mất cái quyền dân chủ đối với những người có tài sản ở trên đất nước Việt Nam.

Khách hàng đổi tiền ở ngân hàng (minh họa)

Khách hàng đổi tiền ở ngân hàng (minh họa)

Mặc Lâm:Theo lập luận của ông Bình thì tỉ giá sẽ thay đổi hàng ngày nhằm chống lại đầu cơ đồng tiền đô la vì khi ấy không ai dám găm lại để kiếm lời. Theo GS thì đây co phải là một biện pháp cần thiết trong lúc này hay không?

GSTS Vũ Văn Hóa: Không phải là vì đầu cơ. Bây giờ người ta đã gởi vào ngân hàng thì còn đầu cơ cái gì. Người ta dùng để kinh doanh mà. Anh có thể sử dụng tiền đó của người ta bởi vì tiền trên tài khoản thì ngân hàng có quyền sử dụng như một phương tiện tín dụng để anh có thể dùng vào việc nào đó. Khi nào các chủ sở hữu của những đồng tiền đó người ta có nhu cầu thì lúc ấy ngân hàng trả về cho người ta theo số dư ban đầu. Tôi nghĩ việc đó là toàn quyền của ngân hàng. Tuy nhiên, chúng ta không thể nào sử dụng tiền của người ta mà chúng ta ép buộc theo cách tỉ giá áp đặt. Tôi nghĩ là không nên.

“ Tôi cho là đồng tiền của tất cả các nước chậm phát triển trong đó có VN đều không ổn định bền vững bởi vì nó tùy thuộc vào tình trạng kinh tế của đất nước ấy. Thứ nhất là về tâm lý, người ta cũng chưa tin tưởng lắm. Thứ hai, rõ ràng là tình trạng kinh tế của anh cũng không ổn định…Hai lý do đó khiến người ta chưa tin tưởng lắm bằng việc người ta tự giữ ngoại tệ

GSTS Vũ Văn Hóa”

Mặc Lâm: Ông Bình cũng cho rằng biện pháp này sẽ làm cho người có đô la sẽ bất an vì cảm thấy giữ đô la không chắc chắn mà nên đổi ra tiền đồng để ký gửi. Sự thật dòng tiền ngoài xã hội có nhu cầu đúng như lập luận của ông Thống đốc này không?

GSTS Vũ Văn Hóa: Bây giờ đối với đô la hay Euro hay đồng bảng Anh thì tôi cho đấy là đồng tiền của quốc gia nhưng mà nó có vai trò quốc tế của nó và nó được đảm bảo rất là tốt. Mình cũng không thể lấy nội tệ của mình để áp đảo và bắt người ta phải tuân theo. Như vậy là mất quyền tự chủ nên phải xem lại. Nếu mà dân chúng không đồng tình với việc đó thì chính sách đó là chính sách không hợp lòng dân.

Mặc Lâm: Sự thật cho thấy là đồng tiền Việt Nam vẫn chưa mạnh như vài nước trong khu vực để có thể tự tin giao dịch ngoài thị trường. Chính sách này có làm cho thị trường tài chánh Việt Nam trở nên bất ổn hay không?

GSTS Vũ Văn Hóa: Tôi cho là đồng tiền của tất cả các nước chậm phát triển trong đó có Việt Nam đều không ổn định bền vững bởi vì nó tùy thuộc vào tình trạng kinh tế của đất nước ấy. Thứ nhất là về tâm lý, người ta cũng chưa tin tưởng lắm. Thứ hai, rõ ràng là tình trạng kinh tế của anh cũng không ổn định một cách vững chắc. Hai lý do đó khiến người ta chưa tin tưởng lắm bằng việc người ta tự giữ ngoại tệ. Nếu như chính sách này còn tồn tại thì tôi cho rằng lượng ngoại tệ gởi vào ngân hàng sẽ ít đi chứ không phải như hiện nay.

Mặc Lâm: Là một chuyên gia tài chánh ông có ý kiến gì cho người dân cũng như cho chính phủ về chính sách này?

GSTS Vũ Văn Hóa: Bây giờ chính sách đã như vậy thì có thể giải thích nhưng mà có thể chính phủ chưa nghe và ngân hàng chưa thực hiện. Việc này phải chờ dư luận của công luận. Chính sách này phải liên quan đến việc ngoại tệ gởi vào ngân hàng; Nó sẽ giảm đi một cách nhanh chóng thì các ông ấy mới tỉnh ra và sẽ có một chính sách khác.

Mặc Lâm: Xin cám ơn GSTS Vũ Văn Hóa

Ðại sứ Mỹ đòi CSVN thả hết tù nhân lương tâm

Ðại sứ Mỹ đòi CSVN thả hết tù nhân lương tâm
Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) Ðại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam kêu gọi nhà cầm quyền CSVN thực hiện đúng các cam kết nhân quyền quốc tế và trả tự do cho hết tất cả các tù nhân lương tâm đang bị giam cầm.

Hôm Thứ Ba, 29 tháng 12, ông Ted Osius, đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam phổ biến một bản tuyên bố nói rằng ông “quan ngại sâu sắc do những báo cáo gần đây về các vụ sách nhiễu và giam giữ các nhà hoạt động nhân quyền ôn hòa, trong đó có vụ bắt giữ ông Nguyễn Văn Ðài ngày 16 tháng 12, cũng như thông tin về việc ông Hoàng Ðức Bình, bà Ðỗ Thị Minh Hạnh và các nhà hoạt động vì quyền lao động ôn hòa khác bị cảnh sát hành hung ở thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 25 tháng 12.”


Hàng ngàn giáo dân và những người đấu tranh dân chủ tham dự thánh lễ cầu nguyện cho công lý và hòa bình tại nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế tại Sài Gòn ngày 27 tháng 12, 2015. (Hình: GNsP)

Các vụ bắt giữ và hành hung những người vận động nhân quyền, dân chủ tại Việt Nam vẫn diễn ra dù nhà cầm quyền đã ký vào bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, Công Ước Quốc Tế về Các Quyền Dân Sự và Chính Trị từ nhiều chục năm trước và mới năm 2013, ký vào bản Công Ước Quốc Tế Chống Tra Tấn.

Nhưng trên thực tế, CSVN vẫn kết án tù các người vận động nhân quyền, dân chủ hóa đất nước. Những ai không nằm trong nhà tù thì bị công an theo dõi, hành hung dã man ngay trên đường phố, đời sống kinh tế bị siết chặt. Công an vẫn tra tấn chết hàng chục người mỗi năm rồi đổ cho người ta chết bệnh hoặc tự tử dù thi thể của họ đầy dấu tích nhục hình.

“Xu hướng đáng lo này, tại thời điểm này, đe dọa làm lu mờ sự tiến bộ của Việt Nam về nhân quyền trong những năm gần đây. Tôi thúc giục chính phủ Việt Nam điều tra các báo cáo về các cuộc hành hung ngay lập tức và buộc bất kỳ quan chức có trách nhiệm phải giải trình,” ông Ted Asius viết trong bản tuyên bố.

“Hoa Kỳ kêu gọi Việt Nam đảm bảo rằng luật pháp và hành động của nước mình nhất quán với các nghĩa vụ và cam kết quốc tế của mình. Chúng tôi cũng thúc giục chính phủ thả vô điều kiện tất cả tù nhân lương tâm và cho phép mọi cá nhân ở Việt Nam bày tỏ quan điểm chính trị của họ mà không sợ bị trả thù” bản tuyên bố nói trên thúc giục.

Ðây không phải lần đầu người ta thấy tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội hay các tòa đại sứ phương Tây khác, nhân danh chính phủ của họ kêu gọi CSVN tôn trọng nhân quyền đúng như các cam kết quốc tế mà họ đã ký tên trên đó. Họ đã kêu gọi rất nhiều lần suốt mấy chục năm qua nhưng không có bao nhiêu tác dụng.

Vì bị đả kích quá nhiều, CSVN thả bớt một ít người thì lại bắt ngay một số người khác giống như họ luôn có một số con tin sử dụng làm con bài mặc cả trong các lần cò kè đàm phán các hiệp định.

Ngày 22 tháng 12, 2015, chị Vũ Minh Khánh, vợ Luật Sư Nguyễn Văn Ðài đã tiếp xúc với đại sứ Ted Osius. Dịp này ông đại sứ Mỹ đưa ra nhận xét rằng nhà cầm quyền CSVN “đang chơi một trò rất nguy hiểm. Họ đang liều cả với TPP, cả với tương lai kinh tế trước mắt.”

Ngày 17 tháng 12, 2015, Dân Biểu Alan Lowenthal, đơn vị Quận Cam California, và 3 dân biểu khác thuộc cả hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa, đã phổ biến bản tuyên bố lên án CSVN bắt giam và khởi tố Luật Sư Nguyễn Văn Ðài.

“Tôi cùng với cộng đồng người Mỹ gốc Việt, và rất nhiều người trong cộng đồng quốc tế, xúc động và tức giận về việc ông Nguyễn Văn Ðài đã bị bắt dù ông chẳng làm điều gì hơn là tranh đấu cho tự do và nhân quyền ở nước của ông.” Dân Biểu Lowenthal viết trong bản tuyên bố. “Ðáng buồn thay, đây là thí dụ mới nhất về hồ sơ nhân quyền tồi tệ của nhà cầm quyền Hà Nội và nêu một điểm nhấn lộ liễu về các trường hợp vi phạm và đàn áp nhân quyền do nhà nước bảo trợ tại Việt Nam”.

DB Lowenthal kêu gọi trả tự do cho LS Nguyễn Văn Ðài ngay lập tức, bãi bỏ tất cả mọi cáo buộc đối với ông và chấm dứt mọi cuộc tấn công nhắm vào những người vận động nhân quyền. Ông cảnh cáo chế độ Hà Nội rằng các hành động đàn áp nhân quyền chỉ làm cho mối bang giao giữa hai nước không thể lên cao hơn khi họ tiếp tục tấn công chính người dân của họ dù người ta chỉ thực thi các quyền tự do căn bản của công dân.

Cuối tuần vừa qua, hàng ngàn giáo dân và những người ủng hộ dân chủ, nhân quyền đã đến các nhà thờ thuộc Dòng Chúa Cứu Thế ở Sài Gòn và Hà Nội cầu nguyện cho công lý và hòa bình cũng như cầu nguyện cho Luật Sư Nguyễn Văn Ðài, chị Lê Thu Hà.

Cả hai bị bắt ngày 16 tháng 12, 2015 nhưng chỉ thấy công an nói bắt giam LS Nguyễn Văn Ðài và khởi tố tội “Tuyên truyền chống nhà nước…” theo điều 88 của Luật Hình Sự. Cho tới nay, người ta vẫn không biết chị Lê Thu Hà bị quy chụp tội danh gì.

Nhiều năm trước, một viên chức Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ mô tả các buổi đối thoại nhân quyền với chế độ Hà Nội như “cuộc đối thoại giữa hai người điếc.” (TN)

Lọt, lộ bí mật nội bộ CSVN xảy ra rất nghiêm trọng

Lọt, lộ bí mật nội bộ CSVN xảy ra rất nghiêm trọng
Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV)Bộ Trưởng Công An CSVN Trần Ðại Quang “cảnh báo tình hình lộ lọt bí mật nhà nước xảy ra rất nghiêm trọng” tại “hội nghị trực tuyến của chính phủ với 63 tỉnh thành” ngày Thứ Hai, 28 tháng 12, 2015.

Một số cơ quan truyền thông chính thống của chế độ Hà Nội thuật lời ông Trần Ðại Quang như thế và nói ông “đề nghị các địa phương, bộ, ngành cần quan tâm, bảo vệ công tác chính trị nội bộ, nâng cao nhận thức, trình độ của cán bộ về công nghệ thông tin nói chung và an toàn an ninh mạng nói riêng. Trong đó đặc biệt chú ý đến công tác bảo vệ bí mật nhà nước trên không gian mạng.”


Một trong những bài viết tố cáo các đảng viên chóp bu của đảng CSVN có tài sản khổng lồ nhờ tham nhũng. Bài này tố cáo cha con Bộ Trưởng Quốc Phòng Phùng Quanh Thanh, Phùng Quang Hải. (Hình: Chân Dung Quyền Lực)

Không thấy ông này đưa ra thí dụ nào về những cái gì của chế độ bị “lọt, lộ bí mật” và những ai đã bị bắt, truy tố ngay ở trong nội bộ guồng máy đảng và nhà nước hoặc các cá nhân nào ở bên ngoài.

Chỉ thấy ông ta kêu gọi các cơ quan ban ngành khác của chế độ “phối hợp với lực lượng công an kịp thời, cảnh báo những bất thường liên quan đến công tác bảo mật, rà soát và phát hiện, phòng ngừa sự cố, khắc phục lỗ hổng bảo mật.”

Dịp này bộ trưởng công an CSVN khuyến cáo chú trọng kiểm soát chặt chẽ việc truy cập khai thác thông tin qua mạng Internet nhằm hạn chế thấp nhất tác động xấu vào nội bộ và lộ bí mật nhà nước, bí mật nội bộ của chế độ.

“Ta truy cập vào Internet để lấy thông tin thì đồng thời đối phương cũng lấy được tất cả những thứ trong mạng nội bộ của chúng ta, kể cả USB. Hơn nữa, thông tin trên mạng rất phong phú, đa dạng, có cả tốt cả xấu, nhưng hết sức chú ý tránh những luận điệu sai trái, thù địch, thông tin độc hại, đả kích, chia rẽ, bôi nhọ, xuyên tạc nội bộ,” Tướng Công an Trần Ðại Quang được dẫn lời trên báo điện tử VietNamNet.

Ông này nói thêm rằng, “Có thể thấy có rất nhiều loại thông tin như thế, gây tác động rất xấu trong nội bộ, cần lên án và ngăn chặn, giảm thiểu sự độc hại tác động vào nội bộ.”

Giữa năm 2014 sang đầu năm 2015, người ta thấy xuất hiện trang mạng “Chân Dung Quyền Lực.” Tất cả các bài viết trên trang này phơi bày tài sản không lồ của đám quan chức, đảng viên chóp bu CSVN nhờ tham nhũng, ăn hối lộ mà có. Người ta mới chỉ thấy một số bài kèm theo tài liệu và hình ảnh chứng minh tài sản khổng lồ của Bộ Trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh và con trai Trần Quang Hải, tài sản của Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc, của “viện trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao” Nguyễn Hòa Bình. Một vài bài đả kích Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng và Chủ Tịch Nhà Nước Trương Tấn Sang.

Chỉ sau ít tháng, xuất hiện trang mạng “Chân Dung Quyền Lực” không còn thấy cập nhật thêm bài viết nào khác. Một số người cho rằng kẻ hay những kẻ bí mật đằng sau trang mạng này đã “làm xong sứ mạng lịch sử” nên ngừng tại đó. Những tài liệu và hình ảnh được phơi bày tố cáo tham nhũng trên “Chân Dung Quyền Lực” không phải ai cũng có thể tiếp cận được nếu không là từ các cơ quan an ninh, tình báo của chế độ.

Trước cuộc họp trực tuyến mà ông bộ trưởng Công An hô hào “khắc phục lỗ hổng bảo mật,” ngày 25 tháng 12, 2015, ông Phó Thủ Tướng Vũ Ðức Ðam, trong “hội nghị triển khai nhiệm vụ 2015 của Bộ Thông Tin và Truyền Thông” kêu gọi cán bộ tuyên truyền của chế độ “cần chú trọng đấu tranh chống lại những thông tin không đúng sự thật, bất lợi, gây chia rẽ, nhụt chí.”

Càng gần tới ngày đại hội đảng, CSVN càng đưa ra các biện pháp tăng cường an ninh mọi mặt mà ông bộ trưởng Công An kêu gọi “chủ động phát hiện các bức xúc nảy sinh, không để phần tử xấu kích động gây phức tạp, không để tình trạng tụ tập đông người… nhất là dịp đại hội đảng toàn quốc và bầu cử quốc hội khóa tới.” (TN)

Vượt qua hận thù trường hợp của nước Pháp và Đức

Vượt qua hận thù trường hợp của nước Pháp và Đức

( sau thế chiến thứ hai )

Bài viết của : Đoàn Thanh Liêm

LIEM DOAN

Giữa hai dân tộc nước Pháp và nước Đức đã từng có một sự hận thù nặng nề ghê gớm kéo dài trong nhiều thế hệ, phát sinh từ ba cuộc chiến tranh liên tục, bắt đầu từ năm 1870 với cuộc chiến tranh Pháp – Phổ (franco-prussian war), rồi đến đệ nhất thế chiến 1914 –

1918, và sau cùng là đệ nhị thế chiến 1939 – 1945. Nhưng kể từ giữa thập niên 1950, hai nước này đã vượt qua được sự thù hận ân oán lâu đời đó, để mà cùng hợp tác chặt chẽ với nhau nhằm góp phần cực kỳ quan trọng vào việc xây dựng được một khối thị trường chung Âu châu (European Common Market). Và rồi tiến tới thêm một bước kỳ diệu nữa, đó là thiết lập được một thực thể chính trị kinh tế quan trọng bậc nhất trong thế giới hiện đại, tức là tổ chức Liên Hiệp Âu châu (European Union EU), mà hiện gồm có 27 quốc gia thành viên, với dân số tổng cộng là 500 triệu người, với đơn vị tiền tệ chung gọi là đồng euro, và tổng sản lượng quốc gia GDP lên đến 20 ngàn tỷ dollar (20 trillion).

Sự hòa giải và hợp tác giữa hai quốc gia cựu thù này có thể được coi là một sự kiện nổi bật nhất trong lịch sử của Âu châu nói riêng, cũng như của cả thế giới nói chung, trong thời cận đại kể từ khi thế chiến thứ hai chấm dứt vào năm 1945, cho đến đầu thế kỷ XXI của chúng ta ngày nay. Cái thành tựu vĩ đại và ngoạn mục như thế là do sự đóng góp về cả trí tuệ và về cả tâm hồn của biết bao nhiêu nhân vật xuất chúng từ phía cả hai dân tộc Pháp và Đức. Và bài viết này xin được ghi lại cái quá trình phục hồi và xây dựng hết

sức tích cực của một số nhân vật kiệt xuất đó.

Để bạn đọc dễ dàng theo dõi câu chuyện, người viết xin trình bày sơ lược về bối cảnh lịch sử tại khu vực Tây Âu, trước khi mô tả chi tiết về tiến trình hòa giải và hợp tác của hai nước Pháp và Đức trong nửa sau của thế kỷ XX.

I – Bối cảnh lịch sử cận đại tại Tây Âu.

  • Như ta đã biết vào năm 1870, nước Pháp do Napoleon III lãnh đạo đã bị thất trận nhục nhã trước đội quân tinh nhuệ của nước Phổ  (Prussia) dưới thời cầm đầu của thủ tướng Bismarck. Việc thất trận này đưa đến sự thóai vị của Hòang Đế Napoleon III và sự giải thể của nền Đệ nhị Đế chế ( the Second Empire) và sự ra đời cùa nền Đệ Tam Cộng Hòa ( the Third Republic) của nước Pháp. Nhưng nước Pháp lại còn mất cả vùng đất Alsace-Lorraine ở phía đông bị chuyển vào tay người Đức – (do nước Phổ sáp nhập hợp thành

nước Đức thống nhất vào đầu thập niên 1870)-. Đây là cả một nỗi cay đắng hận thù sâu đậm của dân Pháp đối với người Đức. Chỉ cần đọc bài viết “ Buổi học cuối cùng” (La derniere classe) của nhà văn Alphonse Daudet, ta cũng đủ thấm thía cái nỗi niềm tủi nhục

uất hận của người dân Pháp trong vùng đất bị tước đọat này.

Tiếp theo vào năm 1914 – 18, lại xảy ra cuộc thế chiến thứ nhất giữa phe Đức – Áo và phe Đồng Minh do Pháp – Anh đứng đầu. Cuộc chiến tranh này gây thiệt hại rất nặng cho cả hai nước Đức và Pháp. Vì Đức cuối cùng bị thua trận, nên vùng đất Alsace-Lorraine

lại trở về với Pháp. Nhưng vì nước Đức bại trận bị đối xử quá khắc nghiệt, nên người Đức thật bất mãn, hận thù phe Đồng Minh, đặc biệt đối với dân tộc láng giềng là Pháp.

Cho nên, đến năm 1939 lại xảy ra thế chiến thứ hai rất tàn bạo khủng khiếp, mà bắt đầu vào năm 1940 nước Pháp thua trận và bị quân đội Đức quốc xã của Hitler chiếm đóng với sự đàn áp hết sức tàn bạo khốc liệt. Vì thế mà mối hận thù giữa hai dân tộc Pháp- Đức lại càng thêm nặng nề bi đát. Rốt cuộc, năm 1945 nước Đức lại thua trận nữa, và cả Âu châu bị tàn phá kiệt quệ với hàng chục triệu nhân mạng bị tiêu vong.

Như vậy là chỉ trong vòng 70 năm từ năm 1870 đến năm 1940, giữa hai dân tộc Pháp và Đức đã xảy ra 3 cuộc chiến tranh đẫm máu với bao nhiêu triệu người bị giết và tàn phế, bao nhiêu tài sản bị hủy họai, và nhất là sự căm thù giận ghét mỗi ngày lại càng

thêm chồng chất tích lũy giữa hai bên.

II – Quá trình Hòa giải và Hợp tác Pháp – Đức sau năm 1945.

Sau khi cuộc chiến tàn bạo dã man kết thúc, người dân hai nước bàng hòang trước sự đổ nát hoang tàn và kiệt quệ về mọi mặt. Rồi tiếp liền theo là cuộc chiến tranh lạnh gay go căng thẳng giữa hai phe cộng sản do Liên Xô lãnh đạo và phe tư bản do Mỹ dẫn đầu.

Nhằm lôi kéo khu vực Tây Âu về phía mình, kể từ năm 1948 nước Mỹ đã hào phóng viện trợ đến trên 13 tỉ dollar cho các quốc gia đồng minh tại đây thông qua một chương trình tái thiết Âu châu, mà thường được gọi là kế hoạch Marshall. Nhưng vai trò chủ yếu trong công cuộc phục hồi, tái thiết và hòa giải ở Tây Âu là do các nhà lãnh đạo chính trị có tầm vóc đặc biệt lớn lao, điển hình như thủ tướng Konrad Adenauer của Tây Đức, ngọai trưởng Robert Schuman của Pháp, và đặc biệt là kế hoạch gia đại tài với viễn kiến sâu sắc Jean Monnet người Pháp. Đã có quá nhiều sách báo viết về sự đóng góp đồ sộ làm nền móng vững chắc cho sự tiến bộ của Âu châu từ trên 65 năm nay của những nhân vật chính trị kiệt xuất này, cho nên tôi thấy không cần phải trình bày dài dòng chi tiết thêm nữa về họ.

Mà đúng theo với nhan đề của bài này, tôi muốn viết về một nhân vật tiêu biểu của Xã hội Dân sự ở Âu châu, mà có sự đóng góp thật vĩ đại vào tiến trình hòa giải của hai dân tộc Pháp và Đức trong mấy thập niên gần đây. Nhân vật lỗi lạc đó chính là bà Irène Laure người Pháp, mà tôi xin dành được đề cập đến với nhiều chi tiết hơn trong phần tiếp theo liền sau đây.

III – Câu chuyện của Irène Laure (1898 – 1987).

Irene Laure xuất thân là một cán sự điều dưỡng và đã từng giữ nhiệm vụ quản lý bệnh viện. Victor người chồng của bà là một thủy thủ và là môn đệ của nhà lãnh đạo cộng sản Pháp Marcel Cachin. Trong thế chiến thứ hai, Irène tranh đấu trong hàng ngũ kháng chiến tại vùng hải cảng Marseille chống lại quân Đức quốc xã. Bà có người con trai bị mật vụ Gestapo tra tấn tàn bạo, nên đã có sự căm thù tột cùng đến độ mong cho mọi người dân Đức phải chết hết, và “quốc gia này phải bị xóa bỏ khỏi bản đồ của Âu

châu”. Sau khi chiến tranh kết thúc, Irène được bầu vào Quốc hội Lập hiến và làm Tổng thư ký của tổ chức “Phụ nữ Xã hội Pháp” với số đòan viên thời đó lên tới 3 triệu người.

Tháng chín năm 1947, Irène đến tham dự một hội nghị quốc tế tại thành phố Caux Thụy sĩ, cùng với nhiều đại biểu từ các nước Âu châu. Hội nghị này là do tổ chức Moral Re-Armament MRA (Tái Võ trang Tinh thần) đảm trách, nhằm quy tụ nhiều nhân vật văn

hóa xã hội, tôn giáo để cùng nhau trao đổi về vấn đề tái thiết Âu châu. Sẵn có sự căm thù đối với người Đức, Irène đã chuẩn bị rời bỏ Hội nghị khi được biết là có một số người dân Đức cũng tham dự cuôc gặp mặt này. Nhưng bà đã ngưng chuyện bỏ về, khi được

một người trong Ban Tổ chức nói với Irène rằng : “Bà là một người theo khuynh hướng quốc tế xã hội, làm sao mà bà lại có thể tái thiết được Âu châu, nếu bà loại trừ cả một dân tộc Đức?”

Dẫu vậy, khi được mời ăn bữa trưa với một phụ nữ Đức, thì Irène đã bị “xốc rất nặng”, đến nỗi phải nằm lì trong phòng suốt hai ngàyđêm liền, không ăn không ngủ. Bà bị dằn vặt trăn trở với lửa hận thù còn ngùn ngụt nóng chảy trong tâm can, và cầu xin ơn trên

hướng dẫn soi sáng cho mình. Sau cuộc tranh đấu nội tâm gay go căng thẳng này, Irène đã lấy lại được sự bình tĩnh và chấp nhận đến gặp người phụ nữ Đức như đã được giới thiệu cách đó mấy bữa.

Trong bữa ăn này, Irene không hề động đến món nào, mà lại xổ ra tất cả những gì đã chất chứa trong lòng mình sau khi đã trải qua bao nhiêu sự tàn bạo của quân đội Đức quốc xã. Rồi bà nói với người đối diện : “Tôi phải nói ra tất cả chuyện này, vì tôi muốn

được giải thoát khỏi nỗi giận ghét này “ (I want to be free of this hate).

Một sự im lặng kéo dài. Thế rồi người phụ nữ Đức mới lên tiếng, chia sẻ với Irène về những gì bản thân mình đã trải qua trong thời chiến tranh. Bà này tên là Clarita von Trott có chồng tên là Adam vốn là một người chủ chốt trong vụ âm mưu ám sát Hitler vào ngày 20 tháng Bảy năm 1944. Âm mưu thất bại và Adam bị tử hình, để cho một mình Clarita phải nuôi nấng hai đứa con. Clarita tâm sự với Irène : “Người Đức chúng tôi đã không chống đối đủ, đã không chống lại chế độ quốc xã sớm hơn và với quy mô đủ lớn, và chúng tôi đã đem lại cho chị và cho chính mình và cho cả thế giới những đau khổ đầy đọa dằn vặt không sao kể cho xiết được. Tôi muốn nói lời xin lỗi với chị “ (I want to say I am sorry).

Sau bữa ăn này, hai bà phụ nữ cùng các thông dịch viên đã yên lặng ngồi trên gác thượng nhìn xuống hồ Geneva. Rồi Irène lên tiếng nói với người bạn mới người Đức rằng bà tin tưởng là nếu cả hai người cùng cầu nguyện, thì Thiên chúa sẽ giúp họ. Irène cầu kinh trước, xin cho mình được giải thoát khỏi lòng hận thù để có thể còn xây dựng được tương lai. Và rồi đến lượt Clarita cầu nguyện bằng tiếng Pháp. Irène bất giác đặt tay trên đầu gối của kẻ thù địch trước đây của mình. Sau này, Irène tâm sự : “Từ lúc đó, cây cầu bác ngang qua sông Rhin đã được xây dựng, và cây cầu đó đã đứng vững mãi, không bao giờ gẫy đổ được.” (And that bridge always held, never broke)- (Ghi chú : Sông Rhin là biên giới giữa hai nước Pháp và Đức).

Cuối cùng Irène đã phát biểu trong một phiên họp khoáng đại của Hội nghị trước sự hiện diện của 600 tham dự viên. Bà nói : “Tôi đã thù ghét nước Đức đến độ muốn thấy nước này bị xóa bỏ khỏi bản đồ châu Âu. Nhưng tại đây, tôi thấy sự hận thù của mình là điều sai lầm. Tôi xin lỗi và tôi mong được xin tất cả các bạn người Đức có mặt nơi đây tha thứ cho tôi…” Liền sau đó, một phụ nữ Đức bước lên và nắm tay bà Irène. Sau này Irène thuật lại : “Lúc đó, tôi biết rằng tôi sẽ dành hết cuộc đời còn lại của mình để đem cái thông điệp của sự tha thứ và hòa giải này đến khắp thế giới.”

Và quả thật vào năm sau 1948, Irène cùng chồng là Victor đã qua bên nước Đức suốt 3 tháng , đi khắp nơi để tham dự 200 phiên họp và phát biểu tại Quốc hội của 10 tỉnh bang của xứ này. Ở đâu, bà cũng nói lời xin lỗi của mình. Và đổi lại, thì cũng có rất nhiều vị

tướng lãnh và sĩ quan, cùng các chính khách người Đức cũng đều lên tiếng xin lỗi với bà.

Và đó là bước khởi đầu cho cả một quá trình lâu dài của sự hòa giải và hàn gắn giữa hai dân tộc Pháp và Đức, ngay từ hạ tầng cơ sở của quảng đại quần chúng nhân dân tại hai nước. Giới nghiên cứu chính trị xã hội tại Âu châu đã ghi nhận rõ rệt sự kiện tích cực

hết sức quan trọng này là: Có đến trên 5,000 những Hội Thân Hữu Đức – Pháp tại khắp các địa phương của hai nước và tất cả đều hăng say hoạt động cổ võ cho tinh thần hiếu hòa thông cảm và hiểu biết chân thành giữa hai dân tộc Pháp và Đức.

Vì thế mà chúng ta có thể nói là cái “phong trào quần chúng tự phát này” là một biểu hiện sinh động của Xã hội Dân sự tại hai quốc gia vốn là cựu thù lâu năm với nhau. Và phong trào đó thực sự đã có tác động mãnh liệt thúc đảy cho tầng lớp lãnh đạo chính trị tại hai quốc gia này thực hiện mau chóng sự Hòa giải và Hợp tác Hội nhập giữa hai dân tộc và rõ ràng cũng đã góp phần chủ yếu vào công cuộc xây dựng thành công cho Liên Hiệp Âu châu như ta thấy ngày nay ở thế kỷ XXI vậy./

California, Tháng Hai 2011

Đoàn Thanh Liêm

Ghi Chú

(Được ghi thêm vào cuối năm 2015)

1 – Vào năm 2002, nhân tham dự khóa Hội thảo được tổ chức mỗi năm vào tháng 5 và 6 bởi Viện Xây Dựng Hòa Bình Mùa Hè (SPI =Summer Peacebuilding Istitute) thuộc Đại Học Eastern Mennonite University (EMU) tại thành phố Harrisonburg, Virginia – tôi được xem một video trình bày về hoạt động của Bà Irene Laure nhằm góp phần hòa giải giữa hai dân tộc Pháp và Đức sau thế chiến 2. Rồi qua sự tìm kiếm thêm thông tin trên Internet, tôi lại có thêm được tài liệu để hoàn thành được bài viết này.

Bạn đọc có thể đào sâu vấn đề bằng cách gõ chữ Irene Laure trên Internet, thì sẽ được hướng dẫn tìm kiếm thêm nhiều chi tiết lý thú liên quan đến nhân vật kiệt xuất này, kể cả hình ảnh của bà nữa.

2 – Nhân tiện, tôi cũng xin giới thiệu sơ lược về Viện SPI là một cơ sở thuộc Đại Học EMU. Từ trên 20 năm nay, SPI đều tổ chức những khóa Hội thảo hàng năm vào các mùa hè – nhằm quy tụ những sinh viên cũng như những nhà hoạt động văn hóa xã hội từ nhiều quốc gia trên thế giới để cùng trao đổi học hỏi với nhau về những kinh nghiệm cụ thể trong các lãnh vực Chuyển Hóa Tranh Chấp (Conflict Transformation), Hàn Gắn Chấn Thương (Trauma Healing), Trung Gian Hòa Giải (Mediation) v.v…

Các cuộc Hội thảo này đều được chuẩn bị khá chu đáo và do các giảng viên của EMU đảm trách việc hướng dẫn điều khiển những cuộc thảo luận theo chủ đề riêng biệt cho từng lãnh vực cụ thể.

  • Thủ tục ghi danh tham dự SPI thường được phổ biến vào Tháng Giêng mỗi năm. Xin mở website www.emu.edu/spi để biết thêm các chi tiết.

Trong nhiều năm gần đây, đã có một số tu sĩ, sinh viên và nhà hoạt động xã hội người Việt tham dự các khóa Hội thảo SPI này Bản thân tôi đã tham dự tất cả 4 khóa của SPI trong các năm 2001, 2002, 2007 và 2008 và đã quen biết được rất nhiều bạn hữu quốc tế

qua những khóa Hội thảo này của SPI./

Con Thứ trưởng VN ‘du học không về’

Con Thứ trưởng VN ‘du học không về’

 

Hoang Dinh Nam AFP

Một thứ trưởng Việt Nam cho biết ông có hai người con đi du học nhưng không về nước, và đặt ra vấn đề sử dụng nhân tài, trong phiên giải trình của chính phủ trước Quốc hội hôm 29/12.

Thứ trưởng Nội vụ Nguyễn Duy Thăng nói: “Tôi nghĩ con em nhiều người ngồi ở đây cũng không về. Cá nhân gia đình tôi cũng vậy, 2 đứa không về. Ví dụ như thế thì thấy khó thật.

“Bây giờ tạo việc làm thế nào, thu hút ra làm sao, chúng tôi sẽ có báo cáo Chính phủ để xem lại chính sách,” báo Tiền Phong dẫn lời ông Thăng trong cuộc họp trả lời chất vấn của các đại biểu quốc hội liên quan tới luật về thanh niên.

Vị thứ trưởng cũng cho rằng đa số các trường hợp đi du học từ cấp phổ thông và đại học không về.

“Quan điểm của cá nhân tôi là cần phải có tư duy thoáng ra. Không phải không về nước là không đóng góp cho đất nước. Không phải không về nước là không yêu nước. Đây là sự cống hiến chung cho nhân loại. Có những trường hợp đưa hình ảnh Việt Nam lên rất cao, ví dụ như giáo sư Ngô Bảo Châu,” trang Vietnamnet dẫn lời.

Theo Nhóm công tác Giáo dục và Đào tạo thuộc Diễn đàn doanh nghiệp thường niên (VBF) 2015, Việt Nam hiện có hơn 110.000 học sinh du học với mức học phí từ 30.000 đến 40.000 USD mỗi năm. Như vậy, người Việt mỗi năm chi gần 3 tỷ USD cho việc du học.

Số lượng sinh viên Việt Nam theo học tại Mỹ cũng lên tới 16.500 người, đứng đầu các nước Đông Nam Á và thứ 8 trên thế giới.

‘Giấc mơ Mỹ

Theo phân tích năm 2013 của tổ chức ICEF Monitor – chuyên theo dõi ngành công nghiệp giáo dục quốc tế, “phụ huynh Việt Nam tiêu một khoản tiền khổng lồ cho con đi học nước ngoài, so với tỉ lệ thu nhập bình quân đầu người. Tóm gọn trong một câu, giáo dục là quan trọng và cha mẹ đang đặt tiền của họ vào nơi mà họ ưu tiên và cho là có giá trị.”

Trang ICEF Monitor cũng phân tích, tuy vào năm 2012, Úc là nơi có đông du học sinh người Việt nhất, nhưng học sinh, sinh viên Việt Nam vẫn mang theo ‘giấc mơ Mỹ’.

“Sinh viên Việt Nam đánh giá học cao học ở Hoa Kỳ là “tốt nhất thế giới” và “là ưu tiên đáng được đầu tư tài chính lớn”.

ICEF Monitor giải thích lý do học sinh Việt Nam chọn ra nước ngoài dù tốn kém, có đoạn viết về tỷ lệ thấp đối với số lượng đăng ký học cao học ở Việt Nam:

“…Cũng giống như nhiều phương diện khác của xã hội Việt Nam, đang diễn ra cuộc chạy đua điên cuồng nhằm bù lại thời gian đã mất, tranh thủ rất nhiều cơ hội mới, và đáp lại nhu cầu ngày càng lớn đối về giáo dục và đào tạo – mà không có được cơ sở hạ tầng cần thiết hay kiểm soát chất lượng.

“Không mấy ngạc nhiên, kết quả cuối cùng là “thiếu sót trong cơ sở hạ tầng và giảng dạy”, là một trong những lý do khiến lượng đăng ký dừng lại.”