Đại hội Đảng và cái chết của một học sinh bị bức cung

Đại hội Đảng và cái chết của một học sinh bị bức cung

Nhà văn Võ Thị Hảo

RFA

“Sống không bằng chết“. Đó là tiếng kêu oan thấu trời xanh của một thanh niên 17 tuổi vì oan ức, vì bị bức cung, nhục hình mà phải tự sát ngay trước thềm ĐH Đảng.

Sống không bằng chết…

Trong khi Bộ chính trị và TW Đảng CS VN mở hết cuộc họp này đến cuộc khác, tiêu tốn vô số thì giờ và tiền bạc của dân chỉ để chia chác các ngôi vị, chuẩn bị cho Đại hội Đảng 12,  người dân VN cứ tiếp tục phải sống trong tình trạng có nhiều người vô tội bị tra tấn đến chết hoặc phải tự sát dưới bàn tay bức cung nhục hình của công an VN.

Những tiếng kêu oan của người sống và người chết, tiếng cảnh báo và phẫn nộ của dư luận trong nước và quốc tế đã rơi vào thinh không. Trong hàng ngũ lãnh đạo cao cấp của Đảng về dự Đại hội hôm nay đã không thấy ai làm gì để đáp lại tiếng kêu oan khẩn thiết, đớn đau quặn ruột của người dân VN!

Không kể mấy trăm vụ mà báo chí đã đưa tin trước đây, mới nhất, bản tin ngày 16/11/2016, báo Doisongphapluat.com cho biết,  em Nguyễn Tấn Tâm, đang ngồi học tại lớp 9 trường THCS xã Tịnh Bắc, tỉnh Quảng Ngãi thì bị công an xộc vào lớp bắt đưa ra trụ sở. Theo tố cáo của em Tâm trước khi chết thì em đã bị công an tra khảo, đánh đập, bức cung buộc em nhận tội ăn cắp tiền của người hàng xóm và 10 vụ trộm cắp khác rồi mới thả về nhà. Oan ức quá, lại bị làm nhục trước toàn trường cùng toàn xã, em đã phải uống thuốc diệt cỏ tự tử để minh oan rằng mình không trộm cắp.

“Ba má ơi, con xin lỗi con chưa báo hiếu được cho ba má. Con sống không được nữa. Mang nỗi oan ức vào người nhưng chẳng có ai tin con nên con xin lỗi ba má con đi trước đây. Sống không bằng chết“.

Đọc lá thư tuyệt mệnh của Tâm, biết rằng em là một người tử tế, hiếu thuận với cha mẹ. Người có lương tâm không thể không đau xé lòng và căm phẫn những kẻ đã vu cáo và truy bức em đến mức phải chết trong đớn đau quằn quại nhiều ngày.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Sơn Tịnh, một Đảng viên, một “phụ mẫu của dân“ đã làm gì trước những hành động gián tiếp giết người của những công an viên thuộc huyện ông ta quản lý? Ông ta có trái tim con người không?

Điều đầu tiên ông làm cũng chẳng khác gì nhiều Đảng viên cộng sản có chức quyền trước ông ta đã làm. Đó là dối trá và bao che cho những kẻ nằm trong bộ máy chính quyền đã giết dân trên đất nước VN dưới quyền lãnh đạo của đảng CS này. Ông ta nói rằng khi công an hỏi cung Nam, có mẹ và cậu ruột của em chứng kiến, không có chuyện đánh đập bức cung. Trong khi đó mẹ em khẳng định là không hề chứng kiến.

Công an ở Bộ, trung ương, tỉnh, huyện, công an thôn xã ở đâu cũng đều là Đảng viên CS. Chí ít, họ hoạt động dưới sự chỉ đạo nghiêm ngặt của tổ chức Đảng CS. Họ làm bất cứ điều gì Đảng cũng biết vì tổ chức mạng lưới Đảng là hết sức tinh vi và dày đặc, với kinh phí vô hạn định lấy từ tiền đóng thuế của dân.

Ngày 15/1/2016, một người dân vô tội cũng đã chết sau 10 ngày bị công an Quỳ Hợp – Nghệ An bắt tạm giam. Khi bị bắt, sức khỏe ông Đặng Văn Hạnh bình thường. Người nhà không được biết tin gì về ông. Họ được công an gọi đến để nhận xác ông đã bị bầm tím cùng nhiều vết thương trên thân thể, gan và dạ dày bị thủng.  (theo phapluatso.com, bài “Tử vong sau khi tạm giam, dạ dày bị thủng, mặt nhiều vết bầm tim“, 17/1/2016).

Công an Quỳ Hợp – những người đã tra tấn ông Hạnh đến chết, cũng là Đảng viên Đảng CS VN.

“Lập công dâng Đảng“ bằng cách giết dân và đánh linh mục?

Chỉ trong hơn 10 ngày trước Đại hội Đảng 12 mà lực lượng công an đã dùng bức cung và nhục hình giết chết hai người dân vô tội.

Sự hành hung của đám tay chân thuộc hệ thống chính quyền Đảng trị là có hệ thống, liên tục và ngày càng tăng về mức độ tàn nhẫn.

Mục sư Tin lành Nguyễn Hồng Quang đã bị hành hung tới 4 lần chỉ trong 3 tháng đầu năm 2015 tại thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương bởi một nhóm “côn đồ“ hơn 20 người. Máu ông chảy ướt đầm mặt và áo. Công an đến, chỉ lập biên bản và không làm gì “nhóm côn đồ“.(theo VRNs , 26/3/2015).

Ngày 31/12/2015, linh mục Anton Đặng Hữu Nam tại Nghệ An, trên đường đi từ bệnh viện về đã bị khoảng 20 tên côn đồ bao vây, đánh đập và đạp ngã xuống kênh nước ngay giữa trờ rét.  Công an xã đứng ngay đó mà vẫn để mặc! Đương nhiên dư luận không thể bác bỏ nhận định rằng công an với côn đồ là một trong vụ này.

Họ lập công dâng Đại hội Đảng bằng cách ra oai sinh sát vậy ư?

Lễ tế quỷ thần nào mà có tục hiến sinh dâng máu dân?

Một đất nước mà công an thì ngang nhiên giết dân và hành hung linh mục, giáo dân. Các luật sư lương thiện dám đứng ra bảo vệ người dân thì bị chính nhà cầm quyền vu cáo, hành hung và bắt giam, thì đất nước ấy đã thuộc về ác quỷ, đất nước của địa ngục.  Người lương thiện đương nhiên bị tước đoạt ngay cả chốn nương náu cuối cùng.

Họ lấy máu của dân để lập công dâng Đảng đấy.

Những Đảng viên giết dân hôm nay có khác gì cán bộ Đội cải cách giết dân thời Cả cách ruộng đất! Cũng vu cáo, cũng dùng bức cung nhục hình buộc họ phải nhận tội rồi giết chết, bỏ qua pháp luật, công lý và tòa án.

Họ làm thế vì tội vu cáo, tội giết người là được thể tất, được bao che. Nếu lỡ giết nhiều người quá, khi cấp trên bao che không nổi, thì cũng chỉ một lời xin lỗi hoặc một hình phạt nhẹ cho qua chuyện là xong.

Những kẻ giết người ấy đều là Đảng viên. Tầng tầng lớp lớp họ là Đảng viên, có chức có quyền, chí ít cũng có súng, nắm đấm và dùi cui trong tay.

Cái chính thể độc Đảng này đã ngầm cho phép họ muốn giết ai thì giết. Bằng cách khi có cướp và giết thì có cấp trên và đồng nghiệp cùng cả một hệ thống Đảng bao che thoát tội và họ vẫn nhơn nhơn hành nghề. Đó là bởi Đảng cộng sản đã đứng trên pháp luật và trên tất cả mọi người dân. Khi đã xác định địa vị như vậy, chẳng ai đụng được đến Đảng vì Đảng là tuyệt đối, là trời.

Không thể hiểu nổi tại sao các quan chức Đảng và nhà nước có thể vô cảm đến như vậy trước việc giết chóc dân ngang nhiên tại đồn công an, dưới sự lãnh đạo của Đảng và nhà nước VN?

Trong số những Đảng viên chức trọng quyền cao tham gia ĐH Đảng hôm nay,  thật lạ lùng là không thấy họ xúc động, bày tỏ cảm xúc của một con người trước nỗi đau và oan khuất của đồng loại, chưa nói đến việc trách nhiệm của họ là phải lên tiếng, phải chấn chỉnh lại đội ngũ lẽ ra bảo vệ dân thì lại ngang nhiên giết dân như vậy. Họ là người phải chịu trách nhiệm đầu tiên và cuối cùng của tỉnh trạng này.

Phải chăng, ngầm cho phép giết dân là một cách ra oai của hệ thống chính trị này?

Để cho người dân và đất nước bị rơi vào tình trạng hiện nay, những người có trách nhiệm không còn lý do tồn tại trong hệ thống lãnh đạo, chưa nói đến việc lẽ ra họ phải ra trước vành móng ngựa và đứng sau song sắt vì phạm tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng và tham nhũng.

Các hội nghị của Bộ chính trị và Trung ương cứ liên tục diễn ra.  Và nội bộ Đảng chỉ lo đấu đá để tranh giành ghế chức cao bổng lớn. Nào ai quan tâm đến việc dân chết oan cũng như dân tuyệt vọng chém giết nhau ngày ngày!

Không ai quan tâm việc dân bị hóa chất TQ đầu độc, đến ngay cả đồ chơi trẻ em, mì ăn liền và băng vệ sinh phụ nữ cũng bị phát hiện có chứa chất độc chết người. Dân VN đang phải sống trong một cuộc đại diệt chủng lâu dài, tinh vi, tàn ác nhất và không tiếng súng.

Vì thế, TQ thả sức lập đảo nhân tạo trong  lãnh hải VN, thả sức bắt giết ngư dân VN. Ngay cả tại một khu vực nhỏ như Đà Nẵng, đã có tới hơn 264 lượt tàu thuyền TQ xâm phạm vùng biển. Chỉ từ đầu năm 2016 đến nay đã có hàng chục chuyến máy bay TQ xâm phạm vùng trời VN, đe dọa an toàn bay VN và quốc tế. Nhưng lãnh đạo Đảng và nhà nước không quan tâm, không lên tiếng. Họ chỉ tung quân đội và công an ra để đàn áp dân và bảo vệ đại hội Đảng.

Đại hội lộ diện “Trần Ích Tắc“?

Càng gần đại hội Đảng, nhiều vị lãnh đạo cao nhất của Đảng CS VN đang liên tục đưa ra những quy định vi phạm điều lệ do chính họ đã đề ra nhằm tiếp tục dùng áp lực bấu chặt lấy địa vị của họ, dù đã quá tuổi được ở lại ứng cử.

Những ngày này, người  dân VN và quốc tế đã thêm tận mắt chứng kiến và phát hiện những trò giả dối, dương đông kích tây, muôn vàn mưu mô thủ đoạn, trong đó có cả một nhóm  “Trần Ích Tắc đua nhau “cõng rắn cắn gà nhà“ chỉ để bám lấy quyền lực! Bên ngoài, họ vờ vịt là những cuộc đại hội và bầu cử dân chủ, đoàn kết trong Đảng.

Đảng và thể chế chính trị độc tài của Đảng là như vậy. Sau hơn 85 năm tồn tại, thể chế ấy đã chuyển sang chế độ độc tài cộng sản phong kiến tập quyền trong đó con cháu được ông bà cha mẹ đặt vào vị trí lãnh đạo bằng những cách giành giật và cướp bóc những cơ hội đó của người có tài và những cuộc bầu cử thực sự dân chủ.

Khi công an đã mặc sức ra tay giết người và không ai ngăn chặn, trừng trị những kẻ giết người tập thể ấy.

Khi các luật sư có lương tâm đứng ra bênh vực người dân oan ức, bảo vệ công lý mà còn bị hành hung như luật sư Lê Quốc Quân, Lê Công Định, Trần Vũ Hải, Trần Thu Nam, Lê Văn Luân, Võ An Đôn,..đặc biệt là gần đây luật sư Nguyễn Văn Đài vừa bị bắt giam.

Những luật sư giỏi và có lương tâm nhất, hiếm hoi còn sót lại giữa một rừng luật sư vô cảm hoặc hèn nhát hoặc vô lương, thì bị chính những Đảng viên cộng sản hành hung hoặc bỏ tù họ. Mục đích của Đảng và chính quyền là để dọa dẫm các luật sư, tước đoạt của dân người bảo vệ cuối cùng cho sinh mạng mong manh của họ trước cả một núi côn đồ núp dưới bóng Đảng và chính  quyền.

Vậy thì dân cứ tiếp tục bị giết chết trong đồn công an hoặc bất cứ nơi nào khác.

Đại hội Đảng 12 sắp diễn ra. Và máu của người dân VN lại tiếp tục đổ ngay trong và sau ĐH để làm vinh thân phì gia cho một nhóm độc tài..

Cách hành xử của Đảng CSVN hiện nay chính là sự xỉ nhục đối những Đảng viên còn giữ được lương tâm và phẩm giá làm người. Một số Đảng viên biết phẫn nộ trước những việc làm sai trái, biết tự vấn lương tâm, thúc bách Đảng phải đổi mới. Vì nhu cầu này, họ đã bị rẻ rúng và bị gạt ra ngoài hệ thống quyền lực.

Đại hội Đảng này không phải là của họ.

“Sống không bằng chết“. Đó là tiếng kêu oan thấu trời xanh của một thanh niên 17 tuổi vì oan ức, vì bị bức cung, nhục hình mà phải tự sát ngay trước thềm ĐH Đảng.

Điều có ý nghĩa duy nhất mà ĐH này cần làm là phải giải tán Đảng CSVN, trả lại thể chế đa nguyên và dân chủ, tự do, nhân quyền cho người VN.

Thể chế độc tài này không có tư cách để tồn tại vì nó là cỗ máy càng vận hành càng nghiến nát nhân cách và nhân quyền. Nếu không nhanh chóng xóa bỏ thể chế độc tài này, sẽ đến lượt vô số dân VN khác là nạn nhân tiếp theo và phải kêu lên “sống không bằng chết“.

VTH

Sự thật có phép chữa lành

Sự thật có phép chữa lành

Tuankhanh

 RFA

Năm thứ 41, kể từ khi những người cộng sản toàn trị ở Việt Nam, ngày tưởng niệm Trung Quốc tấn công và cưỡng chiếm Hoàng Sa mới được công nhận chính thức bằng một tấm bia dựng lên ở đảo Lý Sơn. Nhiều năm nay, người dân miền Nam Việt Nam thường chỉ nhắc nhau trong im lặng, vì bởi chuyện Hoàng Sa mất như thế nào, ra sao… vẫn nằm trong vùng cấm kỵ của mối quan hệ anh em giữa Hà Nội và Bắc Kinh.

Năm thứ 41, sự thật mới được làm rõ và mạnh dạn trên mọi kênh thông tin của nhà nước quản lý. Trước đây, nếu như có đưa tin hay có dịp nói rõ về sự xâm lược của Trung Quốc, đó cũng chỉ là sự vượt rào của giới báo chí khi được lệnh để đối phó ngoại giao, hoặc là những cú dấn đầy tính thăm dò trong một nền chính trị hiện tại, mà những người cầm quyền luôn cân nhắc xem việc nhìn nhận thể chế Cộng hòa phía Nam như thế nào cho “đúng tầm” của mình.

41 năm, sự thật vẫn nguyên vẹn đó. Sự thật vẫn thì thầm trên môi của từng người Việt yêu nước mình. Sự thật vẫn trao lại cho nhau bởi những người Việt không chấp nhận cúi đầu trước kẻ xâm lược, và gọi đó là bạn. Sự thật như chân lý – chỉ khuất chứ không bao giờ tắt.

Sự thật đẩy lùi chữ “ngụy” trên báo chí và truyền thông nhà nước, trên câu nói của các quan chức, và thay vào đó bằng những chữ khác, chút đàng hoàng hơn. Bởi một chính thể “ngụy” thì sẽ không bao giờ dám đương đầu với một quốc gia hùng mạnh hơn mình, không dám liều chết với kẻ xâm lược quê hương mình. 74 anh linh người Việt trong quân phục Việt Nam Cộng Hòa đã ghi tên mình vào sử sách Việt, trong việc chống lại Trung Quốc năm 1974, hy sinh đời mình. Sự thật về họ là bằng chứng duy nhất và mạnh mẽ nhất để nhà nước Việt Nam hôm nay có thể nói không ngại miệng rằng Hoàng Sa đã bị xâm lược, Hoàng Sa là của Việt Nam.

74 người lính đó không phải là nghĩa sĩ. Tấm bia giả dối chỉ ghi một nửa sự thật đó, rồi một ngày sẽ phải thay đổi. Nghĩa sĩ chỉ là những người có tấm lòng, và hành động trong một bối cảnh bị dồn ép. Nhưng 74 anh linh đó là những quân nhân nhận được mệnh lệnh trực tiếp từ chỉ huy của họ, của tổ quốc mình, rằng phải sống mái với giặc thù để giành lại đảo, giành lại biển, và họ trở thành tử sĩ. Rõ ràng, quyết tâm và hành động của thiếu tá Ngụy Văn Thà và đồng đội của mình hoàn toàn khác hẳn với 64 binh sĩ của quân đội Nhân Dân Việt Nam trên đảo Gạc Ma, bị thảm sát năm 1988: đó là những người bộ đội bị giết chết uất ức vì theo lệnh của chỉ huy trên đất liền là không được đánh trả. Thậm chí xác của họ không được trục vớt, thông tin bị ém nhẹm suốt nhiều năm, họ từng bị bỏ quên trong trong nhiều năm một cách đau xót. Chính những người đó đã hy sinh trong vai trò của nghĩa sĩ. Ngày 19/1/1974 không có nghĩa sĩ, mà chỉ có những người hy sinh vì đất nước, những tử sĩ của quốc gia.

Sự thật sẽ trả lại sức mạnh cho nhân dân Việt, khi chính thức được nói rằng kẻ thù đang ở ngay bên cạnh, và được không ít kẻ trong nước ôm ấp, mơn trớn cho tư lợi. Sự thật sẽ mang lại đoàn kết cho dân tộc Việt, vốn đã rã rời bởi sự lừa dối có chủ đích của những kẻ có quyền, muốn bẻ cong lịch sử. Victor Hugo (1802-1885) có nói rằng “Nhân dân không bao giờ thiếu sức mạnh, nhân dân chỉ thiếu ý chí”. Sự thật trả lại ý chí và sức mạnh cho dân tộc này – ngoại trừ việc loại lãnh đạo nào đó căm ghét sức mạnh và ý chí của người Việt Nam trước kẻ xâm lược.

“Sự giả dối có vô vàn biến thể, nhưng sự thật chỉ có một thể tồn tại duy nhất”, Jean Jacques Rousseau (1712 – 1778) có nói vậy. Và một chính quyền, chỉ có thể chính danh khi đi cùng sự thật. 41 năm, sự kiện hải chiến Hoàng Sa của những quân nhân Việt Nam Cộng Hòa có thể được sử dụng như một đòn phép chính trị trong hay ngoài nước, được xuất hiện rõ ràng và công khai, nhưng phải là sự thật. Trong tin tức và video những ngày mà người dân được nhìn thấy, những vòng hoa cho ngày 19/1 bị những tên tay sai giằng xé, không cho đem ra lễ tưởng niệm. Những giờ thiêng mặc niệm cho anh linh của liệt sĩ bị bọn bán nước nói tiếng Việt đến quấy nhiễu. Thật nhục nhã và đồi bại. Tuồng trò chính trị có vô vàn biến thể – nhưng lòng yêu nước chỉ có một thể tồn tại duy nhất. Sự thật sẽ ghi lại và phỉ nhổ!

Nếu được tôn trọng, sự thật có phép chữa lành. Sự thật sẽ chữa lành cho các thế hệ cảm thấy mình vô can trước tổ quốc đang khốn khó. Sự thật gột rửa và cứu chuộc cho những kẻ tay sai truyền thông bị nhồi sọ, và cả những thế hệ trẻ bị tẩy não, chỉ còn biết thù ghét đồng bào của mình nhưng giỏi quỳ gối khom lưng trước quyền thế của bọn giặc phương Bắc. Sự thật cũng vén sương mờ và chọn người lãnh đạo cho quê hương này: một người biết yêu tổ quốc và quyết không nô lệ cho bất kỳ một lý tưởng nào.

Và sự thật, cũng sẽ cứu chuộc chính chúng ta.

Tháng chạp của những người già neo đơn

 Tháng chạp của những người già neo đơn

Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam
2016-01-17

000_Hkg9914181-630.jpg

Các cụ già hàng ngày phải vào rừng hái rau dại. (Minh họa)

AFP PHOTO

Your browser does not support the audio element.

Cuối năm, với những người già neo đơn, thiếu vắng bóng dáng con cái và người thân, thời khắc này bao giờ cũng lạnh và buồn hơn rất nhiều so với những người có đầy đủ con cháu và so với thời gian khác trong năm. Đặc biệt, với những người cao tuổi nghèo khổ, cái Tết đến với họ như những hạt muối rơi chạm vết thương. Sự nghèo khổ của những người già sống trên đất Hướng Hóa, Quảng Trị là một dấu lặng tháng Chạp.

Lo từng bữa ăn, thiếu thốn mọi bề

Cụ bà Hồ Thị Lữ, 75 tuổi, người xã A Dơi, huyện Hướng Hóa, Quảng Trị, chia sẻ: “Năm nay mệ (bà) 79 tuổi, sang năm mới được 80 tuổi. Khi được 80 tuổi thì hàng tháng mệ được cho một trăm mấy ngàn, chừ thì chưa, mệ chưa đủ tuổi, 80 mới đủ tuổi. Mệ chuẩn bị đi hái măng rừng với mấy đứa trong xóm, đi sớm, nó dậy rồi nó đợi mệ cùng đi, mệ hái được nhiều, ra sớm thì mệ lên chợ bán cũng được mấy chục.”

Theo cụ Lữ, suốt nhiều năm không có con cái, cụ sống một mình dưới mái nhà xập xệ do cha mẹ để lại. Nơi nào dột thì cụ mua tôn về lợp. Số tiền tích lũy được do bán rau rừng cũng đủ để vài năm mua một tấm tôn lợp dặm vào những chỗ nhìn thấy trời, mà che mưa che nắng.

Hằng ngày, cụ thức dậy lúc ba giờ sáng để quét dọn nhà cửa. Nói là quét dọn nhà cửa nhưng thực sự cũng chẳng có gì để quét dọn, chỉ làm việc giết thời gian đợi trời sáng vì không thể nào ngủ được. Đến khi trời hừng sáng, ăn vội miếng cơm nguội để lại từ tối qua với nước mắm kho quẹt hoặc chút cá kho khô để lâu ngày. Ăn xong lại lên đường vào rừng hái rau dại mang xuống chợ bán.

Mưa hay nắng, trừ những khi đau ốm không thể nhấc mình khỏi giường thì ở nhà, những ngày còn lại cụ đều đặn vào rừng hái rau rừng. Hái rau vừa giúp cho cụ có cái để ăn qua ngày, có cái để dành phòng khi đau ốm và giết ngày dài buồn tủi, cô đơn lúc tuổi già.

000_Hkg8227378-420.jpg

Sau khi vào rừng hái rau dại, các cụ phải mang xuống chợ bán. (Minh họa)

Trung bình mỗi ngày, đi từ lúc năm giờ sáng và về nhà lúc năm giờ chiều, cụ Lữ kiếm được từ mười ngàn đồng đến ba chục ngàn đồng. Bữa nào kiếm được mười ngàn đồng thì bỏ ra hai ngàn để mua gạo, hai ngàn mua gói mì ăn liền loại rẻ và cất dành sáu ngàn đồng bỏ ống.

Bữa nào kiếm được nhiều rau, kiếm thêm được măng rừng hay bắp chuối rừng, bán được từ hai lăm đến ba chục ngàn đồng, cụ Lữ tự thưởng cho mình một dĩa cơm mười ngàn đồng ở hàng cơm trong chợ. Với cụ, đó là bữa tiệc trọng đại trong tháng bởi vì có khi suốt cả tháng ròng mới có được ngày bán rau thu vào ba chục ngàn đồng.

Khi chúng tôi hỏi thăm về chế độ bảo hiểm dành cho người nghèo cũng như các khoản hỗ trợ người nghèo từ phía nhà nước. Cụ Lữ buồn bã nói rằng các khoản này không phải ai cũng có được, có thể người nghèo không bao giờ có nhưng nhưng người không nghèo lại hưởng được nhiều khoản trợ cấp của người nghèo. Cụ Lữ cho rằng nghèo là cái tội, và cụ mang tội rất lớn với tổ tiên, với đất nước bởi sự nghèo của cụ.

Giải thích về cái tội nghèo, cụ Lữ nói rằng nghèo thì không đóng góp được gì cho bà con, thậm chí làm cho bà con thấy ái ngại mỗi khi mình xuất hiện. Nhưng cái tội lớn nhất là tiếp tay cho tội ác. Bởi nhiều kẻ quyền thế đã lợi dụng cái nghèo để lấy tiền của nhà nước, của nhân dân. Nếu không còn những người nghèo như cụ thì những kẻ kia lấy đâu ra cái cớ để lợi dụng lòng thương, dựa vào nhà nước để ăn tiền.

Nhưng đó chỉ là câu nói đùa của cụ Lữ, cụ nói rằng trong sâu thẳm lòng mình, cụ vẫn thấy nghèo, cô đơn là một vết thương mà mỗi dịp Tết về, nhìn mọi gia đình khác đoàn viên, sum họp, cụ chỉ biết khóc thầm một mình. Ba ngày Tết cụ cũng không dám đến nhà ai vì sợ mình mang cái nghèo, cái neo đơn của mình đến nhà người khác đầu năm. Đã mấy mươi cái Tết như vậy đi qua cuộc đời cụ Lữ và gần như cụ đã quen với nỗi buồn hằng Tết.

Chứ cũng ứa nước mắt, mỗi ngày bán ngoài chợ được cỡ tám ngàn thôi, ăn hàng (ăn sáng) hai ngàn bạc cháo, hai ngàn tiền dù che mưa che nắng là bốn ngàn, một ngàn tiền thuế chợ là năm. Mà có ngày bán được chục ngàn, có ngày bán được có năm ngàn, lời không được năm ngàn bạc nữa, khổ ơi!

Chờ để được già

Cụ Dương, 79 tuổi, làm dâu trên đất Hướng Hóa, Quảng Trị gần sáu chục năm nay, buồn bã chia sẻ: “Chứ cũng ứa nước mắt, mỗi ngày bán ngoài chợ được cỡ tám ngàn thôi, ăn hàng (ăn sáng) hai ngàn bạc cháo, hai ngàn tiền dù che mưa che nắng là bốn ngàn, một ngàn tiền thuế chợ là năm. Mà có ngày bán được chục ngàn, có ngày bán được có năm ngàn, lời không được năm ngàn bạc nữa, khổ ơi!”

Theo cụ, phần đông người cao tuổi neo đơn ở đây không có đủ cơm để ăn và hằng ngày phải bươn bả đủ mọi việc để kiếm sống. Thu nhập trung bình của những người như cụ sẽ dao động từ mười ngàn đồng đến hai mươi ngàn đồng trên mỗi ngày, không thể nhiều hơn. Và hầu như không có ai được hưởng bất kì chế độ đãi ngộ nào từ phía nhà nước.

Bởi nếu muốn hưởng tiêu chuẩn của người cao tuổi, cụ phải đợi thêm sáu năm nữa, khi đó đủ tám mươi lăm tuổi thì sẽ hưởng được mỗi tháng một trăm tám mươi ngàn đồng trợ cấp của nhà nước. Và với số tiền một trăm tám mươi ngàn đồng đó, theo cụ Dương là không đủ để làm bất cứ việc gì. Nếu trong làng có đám cưới, có thiệp mời thì nhận xong một trăm tám mươi ngàn đồng của nhà nước, các cụ phải đi vay thêm hai mươi ngàn đồng nữa để bỏ phong bì tặng quà cưới. Bởi vì mức giá chung cho phong bì quà cưới hiện tại là hai trăm ngàn đồng.

Và cũng theo cụ Dương, với khoản tiền một trăm tám mươi ngàn đồng trên một tháng, cụ vẫn phải bươn bả ra rừng hái rau lên chợ bán hay mua củ quả của nhà vườn ra chợ ngồi bán. Bởi vì số tiền này nếu mua gạo thì thiếu mắm thiếu muối, nếu mua mắm muối thì thiếu gạo. Cụ nói rằng dù có thắt lưng buộc bụng gì đi nữa thì cũng không thể nào sống một tháng với một trăm tám mươi ngàn đồng.

Nhưng đó là chuyện của sáu năm nữa, còn hiện tại, cũng như nhiều người già neo đơn, không con không cháu khác, cụ Dương phải ra chợ eo sèo mua bán hoặc lên rừng lục lọi từng ngọn cỏ, lùm cây để theo mùa mà hái rau rừng về bán dưới chợ. Cũng may rau rừng bây giờ có giá nhưng người hái lại quá nhiều.

Thêm một cái Tết nữa đang về, hoàn cảnh của nhiều người già neo đơn vẫn chưa có gì thay đổi ngoài những bữa cơm hẩm hiu tự mình biết riêng mình. Và mỗi cái Tết như một lời thách thức của cái nghèo, sự cô đơn, cô độc và tuổi già trước thời gian, trước sự hờ hững của cuộc đời!

Chủ đề: Giấc mơ nước Mỹ

Chủ đề: Giấc mơ nước Mỹ

Tác giả : Nguyên Giang

Bài dự thi viết về nước Mỹ gửi từ Sài Gòn bằng email, được đăng nguyên văn, không thêm bớt. Bài viết ngắn, tác giả 30 tuổi, cho biết đây là những câu hỏi mong được các chú bác anh em ở Mỹ trả lời.

Tôi muốn được đặt chân tới Mỹ!

Đó là điều mơ ước cháy bỏng của tôi từ khi biết nhận thức sau khi rời Trung Học để bước vào đời. Vì sao ư? Để tôi tìm hiểu về nền văn hóa, chính trị, giáo dục, kinh tế của nước này. Để tôi tự trả lời cho nhiều câu hỏi cứ thôi thúc trong đầu mình bao nhiêu năm qua từ khi tôi biết nhận thức về đời sống.

Tôi muốn đến Mỹ, để tôi hỏi vì sao đồng bào tôi có mặt ở đây, và sự ra đi này kéo dài hơn một thế hệ rồi, mà đến bây giờ hằng ngày đi ngang Tòa Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn vẫn còn lũ lượt người chờ đợi một tấm vé đặt chân vào Mỹ, dù đất nước Việt tôi đã im tiếng súng đã lâu, từ khi tôi chưa chào đời.

Tôi muốn đến Mỹ xem coi có phải đó là Thiên Đường không mà đồng bào tôi, bạn bè tôi sau khi định cư vài năm có trở về thăm quê họ như một con người khác, lịch sự nhã nhặn, có kiến thức giỏi giang hơn rất nhiều. Tôi tự hỏi điều gì đã làm nên đôi hia bảy dăm đó?

Tôi muốn đi để hỏi các cô gái lấy chồng “Việt Kiều Mỹ” niềm vui rạng ngời hơn các cô gái phải bán thân đi Đài Loan, Hàn Quốc, Campuchia?

Tôi muốn đi để thấy, để biết Tổng Thống Mỹ có phải ông Trời không mà sao cả thế giới phải nghe ngóng, chờ đợi mỗi mùa bầu cử Tổng Thống Mỹ?

Và tôi muốn đi để hỏi các Chú Bác những chiến hữu của Ba tôi ngày xưa được chìa khóa HO để đến thiên đường nước Mỹ, có còn nhớ đến bạn bè chiến hữu, quê hương hay không. Mà sao ai cũng chen chân bỏ lại “chùm khế ngọt” mà hân hoan làm kẻ lưu vong?

Tôi muốn gặp những người cùng lứa tuổi tôi là Người Mỹ Gốc Việt để thử xem cách xa hai nửa bán cầu, tuổi trẻ có gì giống và khác nhau.

Cuối cùng tôi muốn đi để xem vì sao, hấp lực gì mà hàng triệu người miền Nam đổ xô ra biển không định hướng những năm sau 1975 đến những năm 1990 và tiếp tục đến bây giờ bằng nhiều cách.

Nhưng đường đến nước Mỹ với mình chắc xa diệu vợi. Thôi thì các Chú, Bác anh em đồng bào ở Mỹ có ai còn tâm tình với những người bên này vui lòng trả lời dùm tôi, một thanh niên 30 tuổi những câu hỏi vừa nêu, để tôi khỏi khắc khoải về một nước Mỹ vô cùng lạ lẫm, và thần kỳ. Nếu vậy thì âu cũng là một niềm vui lớn rồi, chứ chưa dám nghĩ ngày nào đó mình đạt chân đến Mỹ quốc!

Mong lắm thay!

Nguyên Giang

Trung Quốc bắt đầu dùng thường dân để ‘hợp thức hóa’ biển Đông

Trung Quốc bắt đầu dùng thường dân để ‘hợp thức hóa’ biển Đông
Nguoi-viet.com

SINGAPORE (NV) – Chuyện Trung Quốc sử dụng thường dân để “hợp thức hóa” biển Đông có vẻ như đã bắt đầu. Đúng như dự đoán của ông Ian Storey, chuyên gia của Viện Nghiên Cứu Đông Nam Á ở Singapore.

Thân nhân của lính Trung Quốc đóng tại đảo nhân tạo Đá Thập được đưa tới đây để tuyên truyền. (Hình: shanghaiist.com)

Hồi tháng 5 năm ngoái, ông Storey từng nói với Reuters rằng, Trung Quốc sẽ gia tăng sự hiện diện của thường dân trên các thực thể mà Trung Quốc thủ đắc trái phép tại biển Đông, bởi sự hiện diện ấy sẽ khắc họa việc Trung Quốc thực sự đã quản lý những thực thể này cả về quân sự lẫn dân sự. Yếu tố này sẽ giúp Trung Quốc củng cố yêu sách chủ quyền về mặt pháp lý.

Kể từ năm 2012, Trung Quốc đã bắt đầu đưa du khách đến du lịch tại quần đảo Hoàng Sa. Gần đây, Trung Quốc đã thiết lập xong hệ thống hạ tầng để đưa thường dân đến cả quần đảo Hoàng Sa lẫn quần đảo Trường Sa.

Truyền thông Trung Quốc vừa giới thiệu một loạt hình ảnh về việc du khách mà đa số là thân nhân của những quân nhân Trung Quốc đóng tại bãi đá Chữ Thập được phi cơ dân sự chở đến thăm nơi này. Chuyến “du lịch” bãi đá Chữ Thập diễn ra ngay sau khi Trung Quốc tổ chức cho ba phi cơ dân sự thử hạ và cất cánh ở đó.

Song song với sự kiện vừa kể, truyền thông Trung Quốc còn loan báo, chính quyền “thành phố Tam Sa” đã thảo xong kế hoạch kêu gọi tư nhân đầu tư phát triển hạ tầng trên những hòn đảo ở biển Đông.

Tam Sa là tên một “thành phố” cấp huyện được Trung Quốc thành lập vào tháng 7 năm 2012. Thành phố này thuộc tỉnh Hải Nam và bao gồm quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa cùng với tất cả các bãi đá nằm trong phạm vi mà Trung Quốc đòi chủ quyền tại biển Đông. Thủ phủ của “thành phố Tam Sa” được đặt tại đảo Phú Lâm mà Trung Quốc cưỡng đoạt của Việt Nam hồi tháng giêng năm 1974 khi thôn tính toàn bộ quần đảo Hoàng Sa.

Theo một phó thị trưởng của “thành phố Tam Sa” thì chính quyền “thành phố Tam Sa” muốn mời gọi đầu tư từ tư nhân để xây dựng Trung Tâm Cấp Cứu về Y Tế và Hàng Hải, kéo cáp quang và phủ sóng wifi trên tất cả các đảo, bãi đá có hay không có người ở,… Kế hoạch mang tên “chương trình đối tác công-tư” này sẽ được thực hiện ngay trong năm nay và kể từ năm nay, Trung Quốc sẽ thiết lập một đường bay, thường xuyên thực hiện các chuyên bay đưa người đến “thành phố Tam Sa.”

Trước đây, chuyện đến “thành phố Tam Sa” du lịch khó khăn vì chỉ có tàu. Nay, ngoài phi trường trên đảo Phú Lâm ở quần đảo Hoàng Sa còn có các phi trường Chữ Thập, Vành Khăn, Xu Bi ở quần đảo Trường Sa. Chính quyền “thành phố Tam Sa” không giấu diếm hi vọng lượng du khách sẽ tăng gấp nhiều lần so với trước.

Người ta tin rằng, Trung Quốc sẽ hành xử tại quần đảo Trường Sa y hệt như những gì đã từng làm đối với quần đảo Hoàng Sa: Cưỡng chiếm – dung sức mạnh quân sự để giữ và củng cố, phát triển hạ tầng – tạo ra nhận thức rằng chuyện đã rồi nên xem thực tại như điều đương nhiên. (G.Đ)

 

 

VĂN TẾ 74 TỬ SĨ TRONG TRẬN HẢI CHIẾN HOÀNG SA ngày 17 – 19.01.1974

VĂN TẾ 74 TỬ SĨ TRONG TRẬN HẢI CHIẾN HOÀNG SA ngày 17 – 19.01.1974

H1Hỡi ơi!

Nhẹ tựa lông hồng,

Nặng tày non Thái.

Những cái chết đã đi vào quốc sử, con cháu nghe mà xót dạ bàng hoàng,

Bao con người vì gánh vác giang sơn, cây cỏ thấy cũng chạnh lòng tê tái.

Anh linh kia hoài phảng phất thiên phương,

Chính khí đó sẽ trường tồn vạn tải.

Mới hay,

Giòng giống Việt luôn còn nòi nghĩa dũng, thịt tan xương nát sá chi,

Trời đất Nam đâu thiếu bậc anh hùng, máu đổ thây rơi nào ngại.

Kính các anh vị quốc thân vong

Bày một lễ thâm tình cung bái. 

Nhớ các anh xưa,

Tuổi trẻ thanh xuân,

Khí hùng chí đại.

Thời binh hỏa đâu màng gì nhung gấm, chọn tri âm tri kỷ chốn sa trường,

Thuở can qua há tiếc chút bình an, nguyền báo quốc báo dân nơi hiểm ải.

Một tấc đất vẫn là cương thổ, ông cha xưa bao đời gầy dựng, sao cam lòng để vuột mất đi.

Dăm hòn đảo ấy vốn bản hương, anh em nay mấy độ canh cày, quyết tận sức ra gìn giữ mãi.

Từ Chúa Nguyễn sách văn1 chép rõ, nhân dân Nam từng khai thác làm ăn,

Đến Pháp Thanh công ước2 còn ghi, chủ quyền Việt chẳng luận bàn tranh cãi.

San Francisco hội nghị3, mừng biết bao, thấy thế giới đồng lòng,

Việt Nam Quốc gia chính quyền4, vui xiết kể, đón sơn hà trở lại.

Thế nên,

Đất cát ông cha thì phải giữ, dẫu mũi tên hòn đạn không sờn,

Núi sông tiên tổ sao chẳng gìn, mặc ăn gió nằm mưa chi nại.

Trùng dương sóng dữ, mập mờ thuyền viễn thú, thân trai há sợ kiếp gian nan,

Hải đảo gió cuồng, vời vợi biển quê hương, vai lính thêm bền lòng hăng hái.

Hội khao lề lại trống chiêng bi tráng, tiễn người đi mờ bóng cuối chân trời,

Nơi quê nhà đành con vợ u buồn, thương kẻ đợi trông buồm về trước bãi.

Có ngờ đâu,

Giặc ác hiểm quen tuồng xâm lược, máu tham tàn không giấu kín ý gian,

Ta hiền lương chuộng đạo hiếu hòa, tình hữu nghị có đâu ngoài lẽ phải.

Địch thả câu nước đục, hai ba lần chiếm đảo5, xây đồn đắp lũy đó đây,

Chúng luồn gió bẻ măng, bốn năm dạo lên bờ, dựng trại cắm cờ lải rải.

Ngày 16 Quang Hòa, Hữu Nhật6,… giặc đã nuốt tươi,

Đến 17 Duy Mộng, Quang Ảnh6,.. chúng đang xơi tái.

Lửa hờn bốc tận thanh vân.

Khí uất tràn đầy thương hải.

Ghìm máu nóng, thông tin bằng quang hiệu, giặc cứ ngang tàng,

Hạ quyết tâm, biệt hải tiến vào bờ, ta ôm thất bại.

Không nản chí, Thường Kiệt, Nhật Tảo băng băng pháo đạn xông pha,

Chẳng dùi lòng Bình Trọng, Khánh Dư7 né né tiễn lôi lèo lái.

Vẳng đôi tai còn nghe khúc “Thuật Hoài”8

Bừng con mắt đà thấy câu “Trung Ngãi”9

Thế nhưng,

Lực bất tòng tâm,

Thiên dung vô lại10.

Giặc đã nhiều chuẩn bị, nào tảo lôi, nào liệp đỉnh, tàu nhiều quân bộn giàn hàng,

Ta mất thế thượng phong, này sóng dữ, này đá ngầm, biển rộng đường xa phải trải.

Phía chếch đông tàu Mỹ đứng mà nhìn,

Phương chính bắc hạm Tàu nằm sắp phái.

Dù như thế ta vẫn quyết thư hùng

Có ra sao mình cứ liều sống mái.

Đùng đoành trọng pháo nổ thấp cao,

Sàn sạt hỏa tiễn bay trái phải,

Ngụy Văn Thà11 trúng thương trước ngực, máu anh hùng đẫm ướt chiến y,

Lý Thường Kiệt12 lãnh đạn ngang hông, nước đại hải ngập đầy buồng máy.

Khói mù tàu giặc cháy bốc lên,

Pháo nổ thuyền mình câu vọng lại.

Thương ơi!

Thế lực không cân

Thời cơ cũng trái.

Bảy tư người bỏ mình vì nước, biển sâu ký gởi thân phàm,

Cả bốn tàu trúng pháo quân thù, bờ cạn lui về gác mái.

Cờ quốc gia phủ người ra trận, toàn quân dân uất ức trẻ như già

Vành khăn tang chít tóc đang xanh, bao thân quyến nghẹn ngào trai lẫn gái.

Công các anh,

Tổ quốc thề không quên,

Toàn dân nguyền nhớ mãi.

Chống ngoại xâm là truyền thống muôn đời

Giữ lãnh thổ vốn luân thường vạn đại.

Máu tử sĩ sẽ nuôi khôn dân tộc, mau kiên trì giành lại giang sơn,

Xương anh linh rồi nung chín hùng tâm, sớm quyết liệt san bằng oan trái.

Nước cường thịnh khi dân biết kết đoàn,

Dân phú túc lúc người luôn thân ái.

Hôm nay.

Sơ sài lời điếu câu văn,

Đạm bạc chùm hoa dĩa trái.

Xót uy linh, xin tượng tạc bia xây,

Tỏ thâm tạ, khiến dân quì quan vái.

Mong các anh siêu độ tái sinh,

Cầu đất nước dân an quốc thái.

Hỡi ơi!

Xót xa tiếng mất ý còn,

Tha thiết lòng phơi ruột trải.

Hồn có linh thiêng

Niệm tình thụ bái.

Huế, ngày 18.01.2014

Nguyễn Phúc Vĩnh Ba

_____

Ghi chú:

  1. Đầu TK 17, Chúa Nguyễn tổ chức khai thác trên các đảo. Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải có nhiệm vụ ra đóng ở hai quần đảo, mỗi năm 8 tháng để khai thác các nguồn lợi: đánh cá, thâu lượm những  tài nguyên của đảo và những hoá vật do lấy được từ những tàu đắm.

Năm 1816: Vua Gia Long chính thức chiếm hữu đảo, ra lệnh cắm cờ trên đảo và đo thuỷ trình. Năm 1835: Vua Minh Mạng cho xây đền, đặt bia đá, đóng cọc, và trồng cây. Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải được trao nhiều nhiệm vụ hơn: khai thác, tuần tiễu, thu thuế dân trên đảo và nhiệm vụ biên phòng bảo vệ hai quần đảo. Hai đội này tiếp tục hoạt động cho đến khi người Pháp vào Đông Dương.

  1. Ngày 9 tháng 6 năm 1885: Hòa ước Thiên Tân kết thúc chiến tranh Pháp Thanh. Ngày 26 tháng 6 năm 1887: Pháp và nhà Thanh xúc tiến ấn định biên giới giữa Bắc Kỳ và Trung Hoa.
  2. Ngày 6 tháng 9 năm 1951: Tại Hội nghị San Francisco về Hiệp ước Hòa bình với Nhật Bản, vốn không chính thức xác định rõ các quốc gia nào có chủ quyền trên quần đảo, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu tuyên bố rằng cả quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa đều thuộc lãnh thổ Việt Nam, và không gặp phải kháng nghị hay bảo lưu nào từ 51 nước tham dự hội nghị.
  3. Năm 1954 – Hiệp định Geneva quy định lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới quân sự tạm thời (bao gồm cả trên đất liền và trên biển). Quần đảo Hoàng Sa nằm ở phía Nam vĩ tuyến 17, được giao cho chính quyền Quốc gia Việt Nam (quốc trưởng Bảo Đại đứng đầu) quản lý.
  4. Năm 1956, lợi dụng tình hình quân đội Pháp phải rút khỏi Đông Dương theo quy định của Hiệp định Geneva và trong khi chính quyền miền Nam Việt Nam chưa kịp tiếp quản quần đảo Hoàng Sa theo như thỏa thuận của hiệp định này, Trung Quốc đã thừa cơ đưa quân ra chiếm đóng bất hợp pháp nhóm đảo phía Đông quần đảo Hoàng Sa bao gồm Phú Lâm và Linh Côn. (Trần Công Trực)
  5. Tên các hòn đảo bị Trung Quốc xâm chiếm.
  6. Tên bốn chiến hạm tham gia trận hải chiến Hoàng Sa: HQ4 (Trần Khánh Dư), HQ5 (Trần Bình Trọng), HQ10 (Nhật Tảo), và HQ16 (Lý Thường Kiệt).
  7. Tên bài thơ của danh tướng Phạm Ngũ Lão đời Trần được Hạm trưởng HQ4 Trung tá Vũ Hữu San đọc để cổ võ tinh thần binh sĩ trước giờ khai hỏa.
  8. Tức là Trung Nghĩa, bổn phận của người lính.
  9. Trời dung tha phường vô lại.
  10. Thiếu tá Ngụy Văn Thà là hạm trưởng HQ10 Nhật Tảo.
  11. Lý Thường Kiệt là tàu HQ16.

Dầu sụt dưới 28 đô sau khi bỏ cấm vận Iran

Dầu sụt dưới 28 đô sau khi bỏ cấm vận Iran

Iran được gỡ bỏ cấm vận và sẵn sàng xuất khẩu dầu thô trở lại

Giá dầu tiếp tục sụt giảm xuống mức dưới 28 đô la một thùng, trong bối cảnh phương Tây gỡ bỏ cấm vận Iran có thể gây ra tình trạng thừa nguồn cung dầu mỏ.

Giá dầu thô Brent, đơn vị đo chuẩn quốc tế, có lúc xuống tới mức 27,67 USD/thùng, mức thấp nhất từ năm 2003, trước khi tăng nhẹ trờ lại, lên giá 28,17 USD/thùng.

Giá dầu thô của Mỹ sụt giá, còn 28,86 USD/thùng.

Các nhà phân tích nói việc gỡ bỏ cấm vận Iran có nghĩa sẽ có thêm nửa triệu thùng dầu được sản xuất mỗi ngày.

Daniel Ang, chuyên viên phân tích từ hãng Phillip Futures nhận định:

“Giá dầu sụt giảm vì phương Tây đã gỡ bỏ cấm vận với Iran. Điều này có nghĩa là chúng ta sẽ thấy một lượng dư thừa dầu thô lớn khi dầu của Iran xuất hiện trở lại trên thị trường.”

Image copyright Reuters Image caption IAEA nói Iran đã tuân thủ thỏa thuận hạn chế phát triển vũ khí hạt nhân

Gỡ bỏ cấm vận

Quyết định gỡ bỏ cấm vận cho Iran được đưa ra hôm Chủ Nhật, sau khi Cơ quan Nguyên tử năng Quốc tế (IAEA) nói Iran đã tuân thủ thỏa thuận hạn chế Tehran phát triển vũ khí hạt nhân.

Iran có trữ lượng dầu mỏ lớn thứ tư thế giới, theo Cơ quan Quản lý Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ, và bất cứ động thái thêm lượng dầu sản xuất ra sẽ thêm vào con số một triệu thùng dầu dư thừa, đang gây ra hiện tượng làm giá dầu sụt giảm hơn 70% từ giữa năm 2014.

Các nhà phân tích nói Iran đã có sẵn khá nhiều dầu để bán ra.

Ric Spoon, phân tích gia trưởng của công ty CMC Markets, nói: “Hiện Iran có lượng dầu khá lớn trong kho để bán ra. Họ có thể bán ra ngay nếu muốn, và điều đó sẽ khiến nguồn cung tăng lên rất nhanh.”

Giá dầu sụt giảm liên tiếp đến từ việc thừa nguồn cung, chủ yếu là do dầu đá phiến của Mỹ tràn ngập thị trường.

Chủ tịch Tập Cận Bình sẽ tới Ả-rập Saudi, Iran và Ai Cập trong tuần này, Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố

Trong khi đó, nhu cầu với dầu thô lại sụt giảm vì các nền kinh tế như Trung Quốc và Châu Âu đang phát triển chậm lại.

Trong một diễn biến riêng rẽ, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình sẽ có chuyến thăm bất thường tới Ả-rập Saudi và Iran, hai nước hiện đang có cuộc tranh cãi gay gắt sau vụ Ả-rập Saudi xử tử giáo sỹ Shia nổi tiếng Nimr al-Nimr.

Chuyến đi được cho là nỗ lực của Bắc Kinh nhằm đóng vai trò một “nhà trung gian hòa giải chân thành”, theo hãng tin Reuters.

Tuyên bố vắn tắt của Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói ông Tập sẽ tới Ả-rập Saudi, Iran và Ai Cập trong chuyến công du năm ngày, 19-23/1.

Trung Quốc hồi tháng Tư 2015 đã trở thành nhà nhập khẩu dầu thô lớn nhất thế giới, và trước đó chỉ đứng sau Hoa Kỳ mà thôi.

Sự tăng trưởng chậm lại của kinh tế Trung Quốc trong thời gian gần đây khiến cơn khát dầu thô của Bắc Kinh dịu lại đôi chút, nhưng nhu cầu năng lượng vẫn đóng vai trò to lớn trong sự phát triển của nước này.

28/1 Đại hội XII ‘chuẩn thuận’ Tổng bí thư

28/1 Đại hội XII ‘chuẩn thuận’ Tổng bí thư

Trung tâm báo chí Đại hội XII đã được khai trương sáng 18/1

Theo kế hoạch, ngày 27/1 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa mới sẽ bầu Tổng bí thư nhưng phải qua Đại hội chuẩn thuận.

Phó Chánh văn phòng Trung ương Đảng CSVN Lê Quang Vĩnh cho báo chí trong nước biết rằng sau phiên khai mạc chính thức ngày 21/1, Đại hội XII sẽ dành hai ngày để thảo luận về văn kiện Đại hội.

Các văn kiện hoàn thiện sẽ được trình Đại hội thông qua vào ngày 28/1. Đại hội XII có sự tham gia của 1.510 đại biểu.

Ban Chấp hành Trung ương khóa mới được lựa chọn sẽ có Phiên họp thứ nhất vào chiều 27/1. Tại đây, Ban Chấp hành sẽ bầu vị trí Tổng bí thư.

Tuy nhiên, theo ông Vĩnh, kết quả bầu sẽ được Ban Chấp hành Trung ương báo cáo và xin ý kiến Đại hội vào sáng 28/1 để chuẩn thuận trước khi được công bố.

Ông Lê Quang Vĩnh không nói trong trường hợp Đại hội không chuẩn thuận phương án xử lý sẽ như thế nào.

‘Không giới hạn tuổi tác’

Ông Vĩnh nói với báo Zing rằng “Tổng bí thư phải là người tiêu biểu nhất cho toàn Đảng, phải là nhà lãnh đạo xứng tầm”.

Ông khẳng định: “Không có giới hạn về tuổi đối với chức danh này.”

Theo ông Lê Quang Vĩnh, Hội nghị Trung ương 14 kết thúc hôm 13/1 vừa qua đã xem xét các trường hợp đặc biệt là “các đồng chí quá tuổi trong phương án nhân sự” ở cả Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư.

Ông hé lộ: “Đối với việc xin rút hay không xin rút, các đồng chí đều xin rút hết. Nhưng rút hay không do Ban chấp hành quyết định”.

Ngay cả việc rút hay không cũng do Đại hội quyết định, Đại hội có cho rút hay không chứ không phải là nguyện vọng của cá nhân. Muốn rút mà Đại hội không cho thì cũng không được. Quyết định cuối cùng là do Đại hội đưa ra, không phải do cấp dưới Đại hội.

Lê Quang Vĩnh, Phó Chánh văn phòng Trung ương Đảng

Phó Chánh văn phòng Trung ương Đảng cũng nhấn mạnh quyền quyết định của Đại hội.

“Với những người chưa được trung ương giới thiệu, Đại hội sẽ quyết định giới thiệu hay không để đưa vào danh sách bầu. Có thể nói, việc bầu cử tiến hành dân chủ và thực sự tôn trọng quyền của đại biểu và Đại hội.”

Theo Quyết định 244 ngày 9/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN, do Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng ký, “Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư không được đề cử nhân sự ngoài danh sách do Bộ Chính trị đề cử; không được ứng cử và nhận đề cử nếu không có tên trong danh sách đề cử của Bộ Chính trị”.

Tuy nhiên, ông Lê Quang Vĩnh nói bầu cử theo quy định nào và có tuân thủ Quyết định 244 hay không “Đại hội sẽ quyết định”.

Ông nói: “Quyết định 244 rất khoa học, phù hợp tình hình, dân chủ nhưng phải chặt chẽ, tránh rối loạn xã hội”.

“Ngay cả việc rút hay không cũng do Đại hội quyết định, Đại hội có cho rút hay không chứ không phải là nguyện vọng của cá nhân. Muốn rút mà Đại hội không cho thì cũng không được.”

“Quyết định cuối cùng là do Đại hội đưa ra, không phải do cấp dưới Đại hội.”

Như vậy có thể hiểu cho tới nay, các vị trí chủ chốt nhất vẫn chưa được định đoạt.

Hôm 16/1, ông Nguyễn Đức Hà, hàm vụ trưởng, Ban Tổ chức Trung ương Đảng, nói với báo Tiền Phong rằng “bỏ phiếu quyết định trúng hay không trúng vẫn là Đại hội, chứ không phải cứ Trung ương giới thiệu là đã trúng”.

Ông Lê Quang Vĩnh thì nói trên báo Zing rằng đã có một số “trường hợp đặc biệt” (tức quá tuổi) thuộc Bộ Chính trị khóa XI được giới thiệu ra Đại hội lần này nhưng đây là “một vài trường hợp đặc biệt và rất ít thôi”.

Trong một cuộc bầu cử dân chủ, người dân Đài Loan chọn Tổng thống phụ nữ đầu tiên

Trong một cuộc bầu cử dân chủ, người dân Đài Loan chọn Tổng thống phụ nữ đầu tiên

CTV Danlambao – Ông Chu Lập Luân (Eric Chu) của Quốc Dân Đảng đã chấp nhận thua cuộc và chúc mừng bà Thái Anh Văn (Tsai Ing-wen) của Dân Tiến Đảng trở thành người phụ nữ Đài Loan đầu tiên được người dân tín nhiệm vào vai trò lãnh đạo quốc gia.

Chiến thắng của bà Thái Anh Văn đã là mối quan ngoại của Bắc Kinh khi bà và Dân Tiến Đảng (DPP – Democratic Progressive Party) chấm dứt 8 năm cầm quyền của Quốc Dân Đảng (KMT – Kuomintang) là đảng cầm quyền vốn có khuynh hướng phò Bắc Kinh.

Dân Tiến Đảng do bà Thái Anh Văn lãnh đạo được xem là đảng có truyền thống bảo vệ nền độc lập của Đài Loan đối với Trung hoa lục địa và không chấp nhận tuyên bố của Bắc Kinh về việc quốc đảo này là một phần của Trung cộng.

Trong những năm vừa qua, việc cựu tổng thống Mã Anh Cửu thuộc Quốc Dân Đảng thúc đẩy mối quan hệ gần gủi hơn với Bắc Kinh đã dẫn đến nhiều cuộc biểu tình phản đối của dân chúng Đài Loan.

Do đó, chiến thắng của bà Thái Anh Văn là một thông điệp hùng hồn nhất của người dân Đài Loan gửi đến Bắc Kinh về khát vọng độc lập của họ.

Đây cũng là một thông điệp gửi đến những chính trị gia Đài Loan thoả hiệp với Bắc Kinh làm tổn hại đến nền độc lập của Đài Loan.

Không những thất bại với cuộc tranh cử chức vụ Tổng thống, Quốc Dân Đảng cũng đang đối diện với nguy cơ mất ghế đa số trong cuộc bầu cử quốc hội với 556 ứng viên từ nhiều đảng khác nhau đang tranh cử cho 113 ghế.

Ngay trong tuyên bố đầu tiên với báo chí sau khi thắng cử, bà Thái Anh Văn đã cảnh báo Bắc Kinh rằng mọi hành vi gây hấn từ Bắc Kinh sẽ làm tổn hại đến quan hệ hai nước.

Phát ngôn nhân Trung cộng là Hồng Lỗi trước đó đã tuyên bố gây hấn: “Chính phủ Trung Quốc rất cứng rắn và không bao giờ chấp nhận bất kỳ hành hoạt động ly khai nào của một Đài Loan độc lập”.

Bắc Kinh vẫn luôn xem Đài Loan là một tỉnh ly khai và không công nhận Đài Loan là một quốc gia độc lập.

Bà Thái Anh Văn, 59 tuổi, là con gái nhỏ nhất trong một gia đình 9 người con. Bà tốt nghiệp cử nhân luật tại đại học Quốc gia Đài Loan, thạc sỹ luật tại đại học nổi tiếng Cornell, Hoa Kỳ và tiến sỹ tại Đại học Kinh tế Luân Đôn.

Trở về nước năm 1984, bà là giáo sư đại học và sau đó làm việc cho chính phủ, trở thành cố vấn an ninh cho tổng thống Lý Đăng Huy thuộc Quốc Dân Đảng.

Năm 2008 bà trở thành chủ tịch Dân Tiến Đảng. Bà là tổng thống thứ 2 của Đài Loan thuộc Dân Tiến Đảng. Người đầu tiên là tổng thống Trần Thủy Biển đã thắng cử nhờ vào chủ trương độc lập của ông và là tổng thống Đài Loan từ năm 2000 – 2008.

17.01.2016

Hàng ngàn phụ nữ, trẻ em Việt bị ép bán dâm, lao động khổ sai

Hàng ngàn phụ nữ, trẻ em Việt bị ép bán dâm, lao động khổ sai
Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) – Đó là thông tin do Bộ Công An Việt Nam công bố khi thảo luận về việc chống buôn người ở khu vực biên giới Việt Nam-Cambodia-Lào giữa cơ quan bảo vệ pháp luật của ba quốc gia.

Công an Việt Nam đang lấy lời khai của một nhóm thiếu nữ Việt Nam bị bán sang Malaysia. (Hình: An Ninh Hải Phòng)

Một viên thiếu tướng là cục trưởng Cục Hình Sự của Bộ Công An Việt Nam cho biết, mỗi năm, số vụ buôn người xảy ra ở khu vực biên giới Việt Nam-Cambodia-Lào chiếm khoảng 6% tổng số vụ buôn người bị phát giác tại Việt Nam.

Nạn nhân của các vụ buôn người qua Cambodia và Lào sống tại nhiều tỉnh, thuộc nhiều khu vực: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông (Tây Nguyên), Bình Phước, Tây Ninh (Đông Nam bộ), Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang (Tây Nam bộ), Điện Biên, Sơn La (Tây Bắc), Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Huế, Quảng Nam (miền Trung)…

Đáng chú ý đa số nạn nhân đều là phụ nữ, trẻ em. Khi sập bẫy của các tổ chức buôn người, các nạn nhân bị ép làm mại dâm trong các tiệm cắt tóc, gội đầu, massage trá hình hoặc bị ép buộc làm việc trong các cơ sở kinh doanh, dịch vụ, công trường, đặc biệt là các mỏ.

Viên cục trưởng Cục Hình Sự của Bộ Công An Việt Nam thừa nhận, các tổ chức buôn người đã móc nối, câu kết chặt chẽ với nhau, tạo thành những đường dây buôn người xuyên quốc gia, theo một quy trình khép kín từ khâu tuyển chọn, lừa gạt, vận chuyển, đến giao dịch và bóc lột.

Một viên thượng tá của công an tỉnh Nghệ An, nói thêm, tham gia buôn người có cả những người từng là nạn nhân. Đây là những người có mặc cảm bị bỏ rơi, lại nắm được phương thức, thủ đoạn lừa gạt phụ nữ và trẻ em, am hiểu địa bàn và nhu cầu của “con mồi” nên khi được những kẻ từng buôn bán mình móc nối, họ thực hiện nhiều phương thức hữu hiệu trong lừa gạt, khống chế các nạn nhân mới và điều tra rất khó khăn.

Dẫu có ít nhất 3,000 phụ nữ, trẻ em Việt Nam đang bị ép bán dâm, lao động khổ sai nhưng cả năm vừa qua, công an Việt Nam chỉ giải cứu được 40 nạn nhân. Sở dĩ số nạn nhân được giải cứu thấp là vì “nghiệp vụ điều tra chưa cao.” Quản lý trong lĩnh vực xuất cảnh – nhập cảnh và quản lý các cơ sở kinh doanh như nhà hàng, khách sạn, quán bar, casino,… dọc biên giới còn lỏng lẻo.

Con số 3,000 tuy đã là rất lớn nhưng không thấm vào đâu so với thực tế của tệ nạn buôn người tại Việt Nam. Nếu công an Việt Nam thống kê và loan báo cả số nạn nhân bị bán từ Việt Nam sang Trung Quốc thì chắc chắn con số đó sẽ làm nhiều người kinh hoàng.

Chính quyền Việt Nam từng công bố một thống kê, theo đó, trong thập niên vừa qua, có đến 22,000 phụ nữ và trẻ em bị bán sang Trung Quốc, bị ép làm vợ đàn ông Trung Quốc, bị ép hành nghề mại dâm. Trong số 22,000 nạn nhân này, phần lớn là phụ nữ và trẻ em thuộc các sắc tộc thiểu số ở Việt Nam. Tuy nhiên ít ai tin rằng số nạn nhân chỉ ngừng lại ở con số vừa kể. Nhiều chuyên gia khẳng định, rất khó xác định chính xác con số nạn nhân Việt Nam bị các tổ chức buôn người lừa gạt, cưỡng ép đưa sang Trung Quốc bởi họ sống tại các vùng hẻo lánh, nên không được ghi nhận đầy đủ.

Ngoài Cambodia, Lào, Trung Quốc, các tổ chức chống buôn người trên thế giới cũng đã từng nhiều lần cảnh báo về thực trạng phụ nữ, trẻ em Việt Nam bị lừa bán sang nhiều quốc gia Đông Nam Á khác như: Indonesia, Malaysia, Nga, Anh,… (G.Đ)

Bèo Giạt

Bèo Giạt

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

đều mang gốc gác Việt

liều lĩnh bỏ quê nhà

bằng đường dây người lậu

đi cầu thực phương xa

những con người khốn khó

tâm hồn rách tả tơi

xuất xứ từ nghèo đói

mang giấc mơ đổi đời

Bắc Phong – “Những Người Rơm”

Cuối năm, blogger Hoàng Giang gửi đến độc giả một câu chuyện rất “nhẹ nhàng” và “đáng yêu” ngăn ngắn:

Tôi mới đọc được mẩu tin nho nhỏ, mà chắc chả mấy ai bận tâm, mẩu tin cũng nhẹ nhàng tình “củm” có tựa đề là “How did this Swedish cat turn up in south France?”. Tức là có một chú mèo tên là Glitter sống ở Bromolla, miền nam Thụy Điển mất tích đã 8 tuần. Anh chủ Sammy Karlsson tưởng chừng như sẽ không có hy vọng tìm lại được Glitter nữa thì bỗng dưng vào đúng tuần lễ Thanksgiving, anh nhận được một cuộc gọi từ vùng Nimes tại miền nam nước Pháp hỏi anh về chú mèo lông xù này.

Sammy ngạc nhiên tới mức anh tưởng người ta đang đùa cợt mình, nhưng khi bức hình được gửi đến, thì chú mèo đó chính xác là Glitter của anh. Trong một bài phỏng vẫn, anh nói đùa rằng “Có lẽ Glitter đã phải lòng một cô gái Pháp nào đó, và chàng quyết định đội chiếc mũ bê rê.” Hiện chàng mèo đang được tiêm phòng và làm quốc tịch Pháp sau đó sẽ được gửi trả về với chủ tại Thụy Điển.

Câu chuyện mới đáng yêu làm sao, cứ tưởng tượng một chú mèo thong dong trên khắp nẻo phố châu Âu, chu du hơn 1,700km, mà tự dưng cũng muốn mình được như thế, vô lo vô nghĩ…

Ước muốn được “thong dong trên khắp nẻo phố châu Âu” của Hoàng Giang tuy không có gì là viển vông nhưng vẫn rất xa vời, và mỗi lúc một thêm xa, nếu chúng ta (chả may) sinh ra là … người Việt Nam – cái xứ sở mà nhiều người dân phải cầm cố nhà cửa/ruộng vườn mới đủ chi trả cho con cái một chuyến đi ra khỏi nước.

Dù giá quá đắt nhưng không phải ai đi (rồi) cũng đến. Hãy nghe qua một mẩu đối thoại giữa một cô gái Việt, và người bạn trai (đồng cảnh) từ hai phòng giam sát cạnh nhau – trong một nhà tù nào đó ở Âu Châu:

Tuyết ho, tôi xót ruột. Ho xong, nó nói:

“Em mơ còn nằm trong cái xe thùng chở em sang đây. Ðứa con gái nằm ngay bên cạnh em chết ngạt.”

“Chết!?”

“Chết. Bị nhốt trong thùng xe hai ngày hai đêm. Khi bọn đầu gấu mở cửa xe ra, thấy bốn người chết từ bao giờ. Con ấy thân với em nhất. Chúng em đã từng chia phiên nhau kề mũi vào cái lỗ nhỏ để thở.

The Vietnamese girl, believed to be 16, had been crammed into a tiny space behind the dashboard of a car stopped at Dover. Ảnh & chú thích: dailymail.co.uk

Thương hại nó hay nhường cho em thở lâu hơn. Dọc đường nó cứ đòi về, không muốn đi nữa. Nhưng em biết về thế nào được với bọn đường dây. Nó mà sống sót cũng bị đường dây hành tới chết về cái tội đòi về… Anh có nghe không đấy?”

“Nghe rõ cả.”

“Nó nói khổ đều quanh năm chịu được, dồn vào một ngày thì chết. Anh nghĩ có đúng không?”

“Chắc đúng.”

“Mẹ nó bán ruộng, bán vườn để chung tiền cho nó đi, cứ mong nó mang đôla về chuộc đất, xây nhà như những người có thân nhân Việt kiều. Bây giờ nó chết, chưa kịp nhìn thấy tờ đôla xanh. Trước khi chết nó tựa vai em lầm bầm ‘Mẹ ơi! Con không muốn làm Việt kiều. Con muốn về nhà. Con muốn cơ cực ở nhà với mẹ suốt đời.’ Giọng nó như đứa trẻ con ba tuổi.” (Tâm Thanh – “Người Rơm”).

Người rơm còn có một tên gọi khác, dễ nghe hơn, theo ngoại ngữ: nouveaux boat people – những thuyền nhân mới. Khác với lớp người tị nạn từ Việt Nam vào cuối thế kỷ trước, những kẻ đến sau không còn được thế giới chào đón nữa.

Nhân loại, xem chừng, đã oải. Không ai còn đủ kiên nhẫn và bao dung với những kẻ khốn cùng, (không vốn liếng, không ngoại ngữ, không nghề nghiệp, không cả một mảnh giấy tùy thân) cứ tiếp tục đến mãi từ một xứ sở… Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc!

Thêm một điều khác biệt nữa là tuy được gọi tên “những thuyền nhân mới” nhưng họ không vượt biên bằng thuyền.

Trong cuộc hành trình dài bằng phần nửa vòng trái đất, họ thường bám trên các xe vận tải hạng nặng xuyên qua Châu Âu. Trốn trong những thùng chứa hàng trong xe, họ phải ép xác, có khi chịu đựng không ăn uống trong nhiều ngày…” (PhươngVũ Võ Tam Anh, “Người Việt Khốn Khổ Tại Paris”).

Sau khi đặt chân được đến miền đất hứa (Anh Quốc) có một hiện tượng lạ xẩy ra là lớp người rơm, ở tuổi vị thành niên, đều mất biến – theo bài tường thuật (Missing Kids UK) của Sam Judah, qua Tạp Chí Thời Sự BBC:

“Người ta tin rằng hầu hết các trường hợp đều được các băng đảng đưa lậu vào Anh, bị cảnh sát phát hiện và đưa vào các trung tâm chăm sóc.

Các em rõ ràng là không bỏ trốn khỏi những kẻ bắt giữ mình, mà còn thường trốn khỏi các gia đình nhận nuôi dưỡng mình và các trung tâm chăm sóc để trở lại với những kẻ đó, nhằm tìm cách trả các khoản nợ lớn và nhằm để gia đình ở Việt Nam khỏi bị trả thù.

Văn, một cậu bé người Việt 15 tuổi, mà dường như được đăng tải trên trang mạng trẻ mất tích dưới một cái tên khác, đã được đưa lậu vào Anh bằng xe tải và đã bị buộc phải giúp việc nhà cho những kẻ đã đưa cậu vào. Sau đó, cậu được đưa vào làm ‘thợ vườn’ ở một số trại trồng cần sa trên cả nước…

Hồi năm ngoái, 96 thiếu niên người Việt đã được chuyển tới cho cơ quan quản lý tình trạng buôn bán người của chính phủ, khiến Việt Nam trở thành quốc gia có nhiều đối tượng được cho là nạn nhân ở tuổi vị thành niên nhất tại Anh.

BBC, nghe được hôm 18 tháng 2 năm 2014, còn cho biết thêm một khía cạnh tồi tệ khác: “Số liệu từ Cơ quan Tội phạm Quốc gia Anh Quốc (NCA) cho thấy trẻ em từ Việt Nam nằm đầu bảng danh sách bị đưa lậu vào Anh vì mục đích lạm dụng tình dục.”

Người rơm ở rừng Calais, Pháp Quốc. Ảnh: radiochantroimoi

Cập nhật hơn, The Guardian, số ra ngày 23 tháng 5 năm 2015, có bài tường thuật (“3,000 children enslaved in Britain after being trafficked from Vietnam”) của hai ký giả Annie Kelly và Mei-Ling McNamara. Xin ghi lại vài đoạn ngắn, theo bản dịch (“3.000 trẻ em bị buôn bán từ ‘đất nước Hồ Chí Minh’ sang Anh làm nô lệ”) của blogger Nguyễn Công Huân:

Giống như nhiều trẻ em Việt Nam khác, Hiền đã được đưa đến Anh để sống một cuộc đời nô lệ hiện đại. Em cuối cùng phải vào tù về tội trồng cần sa…

Chuyến đi của Hiền tới Anh Quốc bắt đầu khi em bị bắt cóc khỏi làng lúc 5 tuổi bởi một người nói rằng ông ta là chú của em. Như một đứa trẻ mồ côi, em không còn lựa chọn nào khác ngoài làm theo những mệnh lệnh của người khác. Em đã mất năm năm đi qua nhiều quốc gia bằng đường bộ, hoàn toàn không biết mình đã đi qua những đâu, từ Việt Nam qua biên giới giữa Pháp và Anh để tới một căn nhà ở London. Ở đây em phải làm nô lệ trong nhà trong 3 năm, nấu ăn và dọn dẹp cho nhóm những người Việt đi ra vào ngôi nhà em bị giam giữ…

Trong lời khai với cảnh sát, Hiền nói rằng em vẫn không hiểu chính xác loại cây em trồng là cây gì, mặc dù em hiểu rằng nó rất có giá trị. Em chăm sóc đám cây, sử dụng thuốc trừ sâu khiến em bị ốm, và chỉ rời căn hộ khi em giúp chuyển các cây cần sa này tới nơi khác để sấy khô. Em bị khóa trong nhà, bị đe dọa, bị đánh đập và bị cô lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài.

Ảnh: theguardian

Ước mơ của đám trẻ con Việt Nam đang bị giam giữ trong những trang trại trồng cần sa, hay những nơi mua bán tình dục – nếu có – hẳn không phải là được “thong dong trên khắp nẻo phố châu Âu” (như chú mèo Glitter trong câu chuyện của Hoàng Giang) mà là được trở lại quê hương. Được “cơ cực ở nhà với mẹ suốt đời,” như nguyên văn tâm sự của một nhân vật (dẫn thượng) của nhà văn Tâm Thanh.

Chuyện hồi hương, buồn thay, cũng không dễ dàng chi – theo tường trình của thông tín viên Lê Hải, từ Luân Đôn:

“Khi đã vào đến nước Anh rồi thì tùy thuộc vào chính quyền Việt Nam có chịu nhận những người này về hay không. Thường thì số lượng người bị trục xuất về Việt Nam gia tăng khi giữa hai nước có các đoàn công tác cấp cao, và chính phủ Anh có thể đề nghị tăng viện trợ để đổi lại bằng chuyện Việt Nam nhận người về.”

Cách ứng xử của những người lãnh đạo ở Việt Nam hiện nay (Luân Đôn phải tăng viện trợ Hà Nội mới chịu nhận người về) dễ làm người ta liên tưởng đến lời lẽ cứng rắn trong bức thư mà ông Lý Quang Diệu gửi cho bà Thủ Tướng Anh, về vấn đề thuyền nhân Việt Nam, vào ngày 5 tháng 6 năm 1979. Xin được trích dẫn đôi dòng, theo bản Việt Ngữ của nhà văn Phạm Thị Hoài:

“Phải nói, phải nhắc đi nhắc lại, cho nhân dân và các nhà lãnh đạo trên toàn thế giới biết rằng chính quyền nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam chính là kẻ tích cực xúc tiến cuộc di tản ồ ạt này, gây thiệt hại nặng nề cho các nước Đông Nam Á…

Họ có đầu óc lạnh lùng tính toán, không hề biết động lòng với chính đồng bào mình, nhưng làm phép tính giữa chi phí và lời thu về thì rất nhanh.”

(People and leadears throughout the world must be told, again and again, that this is the government of the Socialist Republic of Vietnam which has actively promoted this massive migration, causing havoc to the countries of Southeast Asia…

They have cold, calculating minds, which, whilst incapable of compassion to their own people, are nevertheless most acute in computing cost-benefits.)

Nguồn: Margaret Thatcher Foundation

Từ 1979 đến nay là gần nửa thế kỷ. Trong khoảng thời gian này  đã có hai đợt di dân tập thể từ Việt Nam: thuyền nhân cũ và những thuyền nhân mới – ancient boat people and nouveaux boat people.

Giữa hai lớp người này có nhiều điểm dị biệt nhưng chính sách của nhà đương cuộc Hà Nội thì trước sau như một, hoàn toàn xuyên suốt và nhất quán: “Họ có đầu óc lạnh lùng tính toán, không hề biết động lòng với chính đồng bào mình, nhưng làm phép tính giữa chi phí và lời lãi thu về thì rất nhanh.”

Nói cho nó gọn thì đây là một hình thức buôn dân của giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay. Nước họ còn dám bán thì buôn dân, tất nhiên, chỉ là chuyện nhỏ.

Rạp Hưng Đạo ngày xưa của ai ?

Rạp Hưng Đạo ngày xưa của ai ?

Năm 1940 tại góc đường Général Marchand và Gallieni (Nguyễn C…ư Trinh và Trần Hưng Đạo ngày nay) thường ngày vẫn có một cậu con trai khoảng 18 – 20 tuổi ngồi cặm cụi sửa vá xe đạp bên vệ đường. Thời đó người dân chính gốc thành phố còn thất nghiệp dài dài, nói chi đến những dân nhập cư từ tỉnh thành xa, do đó người ta xem việc một thanh niên sửa xe như vậy là chuyện bình thường.Những người lui tới con đường đó, đặc biệt là những khách hàng từng đôi ba lần xe đến sửa xe ấy là một chàng trai hiền hậu, dễ thương, lại chăm chỉ, cẩn thận. Xe hư đâu sửa đó, đảm bảo chất lượng, tiền công vừa phải, đôi khi với những khách hàng già cậu ta còn tự nguyện sửa miễn phí “để làm quen”. Lâu dần, khách hàng càng lúc càng đông, thậm chí có người bị hư xe ở xa cũng ráng dẫn bộ tới, để cậu sửa. Chàng trai ấy tên là Niệm.
Một năm sau ngày ra nghề, người ta thấy chỗ bức tường phía sau lưng anh thợ sửa xe ngồi, có treo lủng lẳng vài chiếc vỏ, ruột xe đạp, cùng với một ít những phụ tùng khác. Anh giải thích “Để khi nào khách có cần thì mình thay cho tiện”. Thời đó không có chợ phụ tùng hoặc các loại phụ tùng xe được bày bán khắp nơi như ngày nay, cho nên việc phục vụ linh hoạt của cậu Niệm được bà con ủng hộ. Hai năm sau, khách hàng nhìn thấy có thêm một hai chiếc xe đạp lắp ráp hoàn chỉnh dựng ở đó. Cậu Niệm lại giới thiệu “Nhân tiện ráp sẵn, nếu bà con nào có cần thì mình nhường lại, giá phải chăng”. Tất nhiên, bởi sẵn có uy tín hàng của cậu ta ráp đến đâu bán được đến đó.
Sau khi Nhật đảo chính Pháp, trong lúc Sài Gòn đang hoảng loạn vì những cuộc dội bom của phi cơ đồng minh xuống thành phố, dân chúng lo chạy tránh bom, thì góc đường đó, chàng trai sửa xe vẫn cứ bám trụ với “cơ ngơi của mình, gồm 4 chiếc xe đạp vừa mới ráp, cộng với một thùng phụ tùng mới. Với cậu giữa cái chết do bom đạm và chết đói, cậu ta sợ chết đói hơn, vả lại trong đầu cậu trai nghèo này, chừng như còn nuôi một hoài bão.
Chiến tranh thế giới thứ hai vừa kết thúc, cũng là lúc người ta ngạc nhiên khi thấy chàng trai đó đứng ra thuê hẳn một góc nhà (chỗ căn phố mà suốt mấy năm qua cậu ta vẫn ngồi phía trước hiên nhà để hành nghề) và khai trương bảng hiệu: “Nguyễn Thành Niệm, sửa xe và bán phụ tùng xe đạp”. Thì ra, do khéo dành dụm trong nhiều năm qua, đến lúc đó cậu ta đã có được số vốn nho nhỏ, đủ để “dựng tiệm”. Cậu tâm sự với những người quen biết “Cái nghèo nó làm cho mình phải bỏ dở chuyện học hành, mà không học thì khó bề lập thân. Bây giờ chỉ có một cách là phải chí thú làm ăn phải đi lên con đường thương mại….”. 5 năm sau, đầu thập niên 50, cả một dãy phố từ đầu đường Nguyễn Cư Trinh chạy dọc theo đường Trần Hưng Đạo, đến gần đường hẻm Nguyễn Văn Dụng, đã quy về một mối, do một người làm chủ: Nguyễn Thành Niệm.
Cậu ta trúng nghề phụ tùng xe đạp là chủ yếu, nhưng cũng phải kể đến yếu tố cần kiệm và óc nhạy bén với thị trường. Chỉ trong vòng 10 năm, từ một chàng sửa xe đạp tầm thường, Nguyễn Thành Niệm tậu được đến gần 30 căn phố mặt tiền đường Gallieni (Trần Hưng Đaọ). Có người nói, sở dĩ Nguyễn Thành Niệm mua được nhiều nhà như thế là bởi vì thời đó mọi người vừa trải qua một giai đoạn khủng hoảng do cuộc chiến tranh, bị lung lạc tinh thần, muốn bán rẻ nhà cửa để hồi hương lập nghiệp, nên giá nhà rẻ, và Niệm đã chộp đúng thời cơ.
Con đường “lập thân” của Nguyễn Thành Niệm đã mở rộng. Anh ta chuyển sang kinh đoanh đa dạng hơn, gồm cả phụ tùng xe gắn máy, xe hơi, máy móc cơ giới nói chung. Và thế là một công ty nhập khẩu phụ tùng xe, máy được hình thành. Công ty Indo – Comptoir của Nguyễn Thành Niệm cuối thập niên 50 là một trong 10 công ty xuất nhập khẩu phụ tùng xe cơ giới lớn nhất Sài Gòn có chi nhánh ở khắp miền Nam, vươn tới Nam Vang, Vientian, Pakse (Lào). Nguyễn Thành Niệm trở thành một tỷ phú.
Đầu thập niên 60, tại dãy phố góc đường Nguyễn Cư Trinh – Trần Hưng Đạo, cạnh trụ sở của công ty Nguyễn Thành Niệm, người ta thấy mọc lên một toà nhà đồ sộ với chữ hiệu trên mặt tiền rất nổi: Rạp hát Hưng Đạo. Thì ra, đúng nơi mấy chục năm trước Niệm ngồi sửa se đạp, giờ đã được dựng lên một rạp hát lớn nhất thành phố, lại do chính ông làm chủ. Có lần Nguyễn Thành Niệm đã nói với bạn bè “Cuộc đời cũng giống như một sân khấu, mình cố làm sao cho sân khấu lộng lẫy thì càng hay…”
Thượng Hồng