SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Khoảng 9 giờ tối 2 Tháng Chín, nhiều người dân sống ở đường Tân Sơn Hòa (phường 2, quận Tân Bình) nghe tiếng răng rắc phát ra từ căn nhà ba tầng, rồi bất ngờ đổ sập, đè lên một căn nhà khác.
Theo báo điện tử VietNamNet, người dân xung quanh phát giác căn nhà ba tầng, số 41 đường Tân Sơn Hòa, có dấu hiệu bị nghiêng nghiêm trọng. Nguyên nhân bị nghiêng là do bị ảnh hưởng của việc thi công đào móng, xây dựng một căn nhà tại hai địa chỉ, số 43 và 45.
Ngay sau đó, vết nứt ở nhà số 41 ngày càng lớn nên người dân hô hoán cho chủ nhà và nhiều người khác chạy ra ngoài. Chỉ một lúc, căn nhà ba tầng bất ngờ đổ sập.
Nhiều nhân chứng cho biết, có một cụ ông khoảng 70 tuổi, người Nam Hàn, trong căn nhà số 47 may mắn thoát chết.
Căn nhà 41 (phải) trước khi bị sập. (Hình: Báo điện tử VietNamNet)
Cũng theo nhân chứng, cụ ông trên bị tật ở chân nên di chuyển chậm. Khi căn nhà nghiêng, ông này được người dân phát giác cõng ra ngoài, ít lâu sau căn nhà đổ sập hoàn toàn.
Theo báo Thanh Niên, tại hiện trường căn nhà ba tầng bị vỡ nát hoàn toàn, nhiều đồ đạc bị chôn vùi trong đổ nát.
Do nhà có độ cao nên khi nghiêng và sập đã đè hoàn toàn lên công trình xây dựng nhà số 43 và 45 và vùi lấp căn nhà số 47.
Đến 11 giờ tối, cơ quan chức năng vẫn đang phong tỏa hiện trường vụ sập nhà trên đường Tân Sơn Hòa. Hiện chưa rõ có người bị mắc kẹt bên trong hay không, nên lực lượng cứu hộ – cứu nạn của sở Cảnh Sát Phòng Cháy Chữa Cháy Sài Gòn, nhân viên y tế vẫn đang túc trực tại hiện trường. (Q.D.)
Mai Thanh Truyết (Danlambao) – Người thiểu số miền Cao nguyên rất nhạy cảm và có mặc cảm đối với người Việt. Với diện tích Cao nguyên ngày càng thu hẹp vì di dân, từ 1,4 triệu trước năm 1975 cho đến 4 triệu năm 2009, người Thượng có khuynh hướng ngày càng rút sâu vào hướng Tây, đôi khi vượt qua biên giới Lào và Cambodia.
Mật độ người Thượng trước năm 1975 chiếm khoảng 90%. Ngày nay, chỉ còn ước tính khoảng 400 ngàn người sinh sống ở vùng Cao nguyên Trung phần Việt Nam. Điều nầy nói lên việc khai thác quặng bauxite tại vùng nầy càng làm cho sự việc càng nghiêm trọng hơn đối với họ. Theo thống kê của World Bank năm 2008, tỷ lệ người Thượng hiện đang sống dưới mức nghèo đói là 72%.
Đối với những người ở lại bám đất, vì đất canh tác càng bị thu hẹp, gia đình có nguy cơ làm không đủ ăn. Do đó, các lao động chính của gia đình cần phải tha phương cầu thực. Vô hình chung, gia đình sẽ bị xáo trộn và có thể đưa đến ly tan. Con cái của họ, vì thiếu vắng cột trụ của gia đình có thể đi vào vòng sa đọa. Đây có thể là viễn ảnh của xã hội trong một tương lai không xa nếu, TC “thực sự” khai thác hay “chiếm đóng” Cao nguyên Trung phần Việt Nam.
Đứng về phượng diện địa lý, tỉnh Đắk Nông được bao bọc bởi tỉnh Đắk Lắc về phía Bắc, Lâm Đồng về hướng Đông Nam, tỉnh Bình Phước và giáp với biên giới Cambodia về hướng Tây. Gia Nghĩa là trị trấn của Đắk Nông, cách Sài Gòn 245 km, Phan Thiết 180 km. Còn Lâm Đồng được bao bọc bởi các tỉnh Đắk Lắc, Khánh Hòa, Bình Thuận, Ninh Thuận, Đồng Nai, và Sông Bé.
Tỉnh Đắk Nông chiếm diện tích 6.510 km2, có độ cao trung bình từ 600 đến 700m, nhưng cũng có nhiều nơi chiếm cao độ trên 1.900m. Về dân số, có 417 người năm 2007 gồm đa số 80% người Kinh (Việt Nam) và 31 sắc tộc thiểu số trong đó người M’nong, Tay, Ede chiếm đa số. Mật độ trung bình là 64 người/km2 và có 15% dân sống trong các thành phố. Thu nhập đầu người cho năm 2006 là 7,7 triệu/năm (~US$350).
Đắk Nông được bao phủ bởi rừng rậm chiếm 64%, trong đó gồm 87% là rừng thiên nhiên, 2% rừng trồng cây công nghiệp, và 11% đất hoang.
Nói về ảnh hưởng của xã hội và xáo trộn văn hóa một khi CSVN cho TC khai thác bauxite vùng nầy, chúng ta, trước hết có thể nêu một thí dụ điển hình ở tỉnh Pleiku ảnh hưởng lên người dân Jarai chỉ sau một thời Việt Nam phát triển vùng từ sau 1975.
1- Tỉnh Pleiku
Tiến sĩ Matthieu Guérin, Giáo sư Trưởng khoa Sử Hiện đại của Viện Đại Học Caen và chuyên viên nghiên cứu nền Văn hóa dân tộc Jarai tại Pleiku nhấn mạnh “Chỉ cần có 30 năm là đủ để hủy hoại toàn bộ khu “Rừng Muôn Thánh” (la forêt des mille génies). “Cuộc tàn phá bắt đầu ngay vào những ngày đầu những ngày “Thống Nhất”đất nước Việt Nam năm 1975″ đã gây sự chú ý của các thính giả trong buổi nói chuyện ở Đại học Sorbonne vào tháng 2/2009 về cuộc tàn phá rừng già và cướp đất ở Cao nguyên Trung phần Việt Nam.
Hiện tượng một nền nông nghiệp lương thực (của người dân tộc Jarai) được biến thành một nền nông nghiệp công nghệ và thương mãi dài hạn ngày nay đã lên đến một mức độ trầm trọng có nguy cơ đến tương lai của người Jarai. “Trước hoàn cảnh bị cướp đất có kế hoạch, người dân Jarai trước chỉ biết lùi sâu vào vùng rừng già. Nhưng ngày nay, gần như không còn rừng già nữa, và họ đang bị đưa vào bẩy sập. Không biết làm sao hơn, hoặc là chấp nhận số phận, hoặc bị đồng hóa vào dân tộc Kinh, hoặc là kêu gọi mở ra một cuộc đấu tranh đầy tuyệt vọng”.
Thật vậy, đây là một nền Văn hóa đang bị hủy hoại. Cách đây không bao lâu, người dân tộc Jarai di săn cọp trong những khu rừng già (của họ), câu cá trên những dòng nước chảy xiết, hái hoa, hái trái, đốt rừng làm rẩy… và dân tộc Jarai, những đứa con của rừng lớn lên, sanh hoạt trong rừng, và sống với rừng. Và còn hơn thế nữa, dân tộc Jarai có một mối tương quan đặc biệt và mật thiết với rừng, họ với rừng mà một, như những tài liệu nghiên cứu của nhà truyền giáo – nhân chủng học Jacques Dournes đã chứng minh. Nhưng ngày nay “Hãy tưởng tượng rằng trong vòng chỉ 30 năm ngắn ngủi, quý bạn đang nhìn thấy gia tài văn hóa của quý bạn đang bị tiêu hủy và trên đường sụp đổ” – Tiến sĩ Matthieu Guérin nói tiếp. “Đó là những gì hiện đang xảy ra với dân tộc Jarai. Nếu họ không hòa đồng, nếu họ không chấp nhận lối sống của người Kinh, và nếu họ không chấp nhận lối sống định cư, họ sẽ không còn nơi cư ngụ. Và để kết luận chúng tôi gọi đây là một loại diệt nhân chủng (ethnocide)”.
Ngày nay tại thành phố Pleiku, thủ phủ Tỉnh Gia Rai, có 200 ngàn người Việt gốc Kinh và 40 ngàn người dân tộc Jarai. Để so sánh, trước Đệ nhị thế chiến, tỷ số dân Thượng ở Tây nguyên Trung Phần Việt Nam là 93%.
Ngày nay nếu ta đến viếng Pleiku, từng một thời được nhắc đến như là một thành “phố núi cao” thơ mộng, của các “em Pleiku má đỏ môi hồng”, thì nay, không còn cảnh thiên nhiên nên thơ gần gũi để chỉ “đi năm phút đã về chốn cũ” nữa, mà sẽ chỉ thấy một thị xã tân thời, đầy những cao ốc, với những nạn kẹt xe, bụi bặm, ồn ào bởi những tiếng xe gắn máy, chúng ta chỉ tìm thấy bóng người Thượng, người dân tộc Jarai ở tụ tập (bị vất) bên ven bờ thành phố, trong những nhà tôn, vách ván trên nền đất nện tạo thành những khu nhà bình dân (ghetto) điêu tàn, dơ dáy…
Đừng nghĩ rằng tình trạng kinh tế của dân tộc Jarai khá hơn lúc trước vì nhờ nền kinh tế vùng Cao nguyên đã phát triển. Rất ít gia đình người dân tộc có điện vào nhà, và rất hiếm nhà người dân tộc có TV, ta có thể kết luận nhà người dân tộc Jarai sống cũng giống như giấc mơ của họ: tí ti, tạm sống qua ngày.
2- Giấc mơ thực sự của họ ư?
Họ mong Nhà nước CSVN trả đất lại cho họ. Trả đất của tổ tiên họ cho họ. Và có thể cho phép họ được tự do thờ phượng, như Hiến Pháp nước “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” đã quy định. Họ có xin quyền Tự chủ không? Thật sự mà nói cũng có vài người có nghĩ đến, nhưng đó là một chuyện khác. Tuy không nói ra, nhưng trong thâm tâm họ, chắc chắn là họ xót xa vì mảnh đất quê hương họ bị giày xéo. Ước mơ giản dị nhất của người Jarai không gì khác hơn là được sống yên ổn làm ăn. Nhưng nào có được?
Trước những tình trạng đói khổ và những đòi hỏi nhân quyền này, rất dễ đưa đến những sự xung đột; và quả thật điều này đã xảy ra: Cuộc cưỡng chiếm đất của Nhà nước để quy hoạch cho công nghệ, một chuyện ép giá của một chủ xí nghiệp tư để mua đất,… và còn nhiều chuyện không được các cơ quan cầm quyền địa phương xử lý công bằng đã đem lại một cuộc nổi dậy và cuộc đàn áp dữ dội đổ máu vào năm 2001.
Trở qua vấn đề khai thác quặng bauxite tại Cao nguyên Trung phần Việt Nam, hay đúng hơn tại Tân Rai (Lâm Đồng) và Nhân Cơ (Đắk Nông), người Thượng là tiếng gọi chung để gọi toàn thể các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên Trung phần Việt nam: Jarai, Bahnar, Rhadé, Sédang, Koho, Bru, Pacoh, Katu, Sré. Có tất cả là 31 dân tộc khác nhau gọi chung theo một từ chung (cấm) là Degar, có nghĩa là “những người con của rừng núi”.
Tưởng cũng nên nhắc lại rằng trước khi xảy ra “chiến dịch rêu rao” “khai thác quặng Bauxite” này của nhà nước CSVN, họ cũng đã từng bị chèn ép lấn đất, lấn rừng, cấm đạo rồi… Nhưng vì thấp cổ bé miệng họ đành nhẫn nhục chịu đựng, sau khi đã chống đối không xong. Cuối cùng, rất nhiều người đã phải bỏ rừng bỏ rẫy tìm đường ra đi. Ra đi trong uất ức và đau xót vì có lắm người đã phải để vợ, con ở lại. Hiện nay Canada là nơi đang đón nhận người tị nạn Jarai từ mấy năm nay. Cho đến bây giờ thì tình trạng cưỡng bức đã trở nên toàn diện, lộ liễu và có kế hoạch.
Vậy thì xin hỏi: Đằng sau tất cả mọi sự cưỡng chiếm đất đai của đồng bào thiểu số, và vụ “khai thác quặng bauxit” ở Cao nguyên Nam Trung phần là do thế lực nào thúc đẩy, và với mục đích gì?
Bài học ở Pleiku kể trên, cho thấy sự việc lại tái diễn ở hai vùng đất nêu trên (Tân Rai và Nhân Cơ) nhưng dưới một hình thức khác. Nói theo kiểu quân sự thì việc CSVN bề ngoài thì hô hào việc khai thác Bauxite (gọi là “DIỆN”) mà kỳ thực bên trong là nhà nước CSVN đã giao khoán cho TC toàn quyền khai thác hai vùng nầy (tức là “ĐIỂM”). Do đó, nhiều vấn đề không thuận lợi cho người địa phương tức người Thượng có thể nảy sinh trước sự hiện diện của một dân tộc ngoại quốc chiếm đóng và khai thác.
3- Tập quán người thiểu số ở Cao nguyên Trung phần Việt Nam
Người Thượng là tên gọi chung của hơn 20 sắc tộc thiểu số sống ở cao nguyên Trung phần Việt Nam. Ngày hôm nay, căn cứ vào Hiến chương LHQ vào năm 1986, họ còn có được tên gọi là “dân tộc bản địa” (indigenous people). Họ sống theo từng bản làng, canh tác và chăn nuôi vẫn còn mang tính cách du mục nghĩa là canh tác theo mùa. Sau mỗi mùa thu hoạch, họ di chuyển và canh tác ở một nơi khác. Thông thường, một chu kỳ đất của họ là ba năm, nghĩa là họ để cho đất nghị ban mùa rổi trở lại khai thác nghề trồng trọt.
Sau năm 1975, CSVN cho di dân từ miền Bắc vào. Khi thấy một mãnh đất trống nào do người Thượng vừa rời khỏi để đi canh tác ở một nơi khác, những người di dân mới tới chiếm đất, và họ giữ luôn để làm tài sản cho riêng họ. Chính vì vậy mà sau chu kỳ ba năm, người Thượng không còn nơi canh tác nữa.
Chu kỳ bị tắt nghẻn. Và đây chính là một trong những lý do khiến người Thượng phải “di chuyển” vào tận rừng sâu.
Ngay cả từ thời Đệ nhất và Đệ nhị Cộng hòa, chính phủ cũng đã thiết lập những khu “Sinh sống chính” cho đồng bào Thượng. Nhưng cũng có những lạm dụng của một số nhà cầm quyền địa phương và tướng lãnh, lợi dụng uy thế, chiếm một số không nhỏ đất đai dành cho người Thượng. Điều nầy cũng là nguyên nhân đẩy họ phải vào rừng sâu.
Và nguyên nhân sau cùng và tệ hại hơn cả là các dự án khai thác Bauxite ở Lâm Đồng và Đắk Nông… khiến cho người Thượng hầu như không còn đất sống. Rất nhiều bản làng “phải” trốn chạy qua Lào, hoặc Cao Miên và xin tỵ nạn tai Hoa Ky.. Tình trạng nầy vẫn còn tiếp tục cho đến tận hôm nay.
Người Thượng ở Việt Nam có nhiều phong tục, tập quán, cung cách sống và sinh hoạt đặc biệt khác xa với người Kinh (người Việt Nam). Nhiều chương trình phát triển miền Cao nguyên dưới thời Việt Nam Cộng Hòa cũng không đem lại sự ổn định hay làm tăng mức sống của người Thượng cũng vì không nghiên cứu tường tận nhu cầu thực sự của họ.
Hai địa điểm hiện đang được khai thác là Nhân Cơ, Đắk Nông nằm về phía Tây của thị xã Đà Lạt và cách trung tâm này khoảng 40 Km. Còn địa điểm Tân Rai ở xã Lộc Thắng nằm về phía Bắc của thị xã Bảo Lộc và cách 15 Km.
Ngày nay, CSVN lại áp dụng một chính sách áp đặt và cung cách cư xử với họ càng khắc nghiệt hơn hoàn toàn không ứng hợp với nguyện vọng của họ. Từ đó nảy sinh ra nhiều hệ lụy có thể gây ra sự đổ vỡ mối liên hệ Kinh-Thượng vốn đã không thể hiện một cách công bằng và bình đẳng.
Sau đây là những sự kiện và hệ lụy đang và tiếp tục xảy ra khi sự xâm nhập của TC vào công cuộc khai thác bauxite ở vùng cao nguyên.
– Việc chiếm đất để làm công trường khai thác hay xây dựng cơ xưởng của TC và Việt Nam, cũng như việc áp đặt và chuyển dời người thiểu số là một vần đề hệ trọng chứ không đơn thuần là một bài toán cần phải giải quyết như tịch thu đất đai và đền bù cũng như di dời người thiểu số.
– Việc chọn chỗ mới cho việc di dời theo quan điểm của CSVN chỉ là một việc đơn giản, nghĩa là tìm cho họ một vùng đất nào đó để họ ở, sinh sống, và “tìm miếng ăn”. Nhưng thực sự, người Thượng chú trọng nhiều đến phong tục, thổ nhưỡng, và nhất là truyền thống sinh hoạt thôn xóm ngay cả việc đào giếng hay làm cổng vào làng cũng là một việc hết sức tế nhị cần nghiên cứu. Nếu không, họ, sau khi bị tập trung lại, sẽ chỉ ở một thời gian ngắn rồi bỏ đi…
– Đối với việc di dời, ai là người chịu trách nhiệm trực tiếp? Đất đã khoán cho TC, mà sao trách nhiệm di dời lại để cho nhà cầm quyền địa phương, một cơ quan không có phương tiện tài chánh để thực hiện việc di dời cũng như đền bù thiệt hại. Địa phương chỉ có khả năng cung cấp “đất hoang” mà thôi, hoàn toàn không đủ nghiên cứu để cứu xét tính cách khả thi của đất cho nông nghiệp hay không, một việc cốt lỏi của sự sinh tồn của người Thượng. Do đó, sự di dời đã xảy ra từ 2006 đến nay vẫn còn tồn đọng và hiện tại vẫn còn hơn 500 gia đình người Thượng vẫn chưa được sắp xếp và đang còn trong vòng tranh chấp.
– So với phong tục đặc biệt của người Thượng, việc thay đổi nếp sống “văn minh” chưa hẳn làm cho họ có thêm nguồn phúc lợi và hạnh phúc; nhưng trái lại, có thể làm cho việc di dời trở nên phức tạp hơn. Kinh nghiệm của Việt Nam Cộng Hòa trong việc làm nhà mái tole, dẫn nước sinh hoạt vào nhà, làm nhà vệ sinh bên trong nhà hoàn toàn không ứng hợp với tập quán của họ. Việc rời bỏ các khu định cư để đi sâu vào rừng trước năm 1975 là một kinh nghiệm quý báu cho nhà cầm quyền hiện tại trong chính sách đối với người Thượng.
– Thêm một hệ lụy có nhiều xác suất xảy ra là tiền đền bù. Theo như tin tức Việt Nam thì số tiền đền bù không xứng đáng với tài sản, đất đai, nhà cửa và hoa màu của người Thượng bị di dời. Nhiều vụ kiện đang còn kéo dài ở Tân Rai vì đất mới được cung cấp và số tiền bồi thường không đủ để cất nhà giống như ngôi nhà cũ lấy chi để tạo dựng lại cuộc sống mới. Cũng như cần phải tính thêm những sự ăn chận, tham những, ép buộc của địa phương trong việc áp dụng chính sách di dời.
– Từ những yếu tố vừa kể trên chúng ta thấy không thể khoán cho địa phương mà cần phải có chính sách chung và thống nhất từ trung ương cũng như việc thực hiện cần phải có sự giám sát chặt chẽ, nghiên cứu địa chất tường tận, và nhất là cần nghiên cứu yếu tố tôn giáo… để từ đó giải thích rõ ràng cho người dân lý do vì sao họ phải dời đi nơi khác. Làm được như thế thì sự dời đổi sẽ bớt đi nhiều khó khăn và cuộc sống người dân sẽ bớt phiền toái ngõ hầu có thể sớm được ổn định trong cuộc sống mới.)
– Sau cùng, đối với sự tín ngưỡng và phong tục của người Thượng, vai trò của ông “Già Làng” rất quan trọng, vì là một ngôi vị tối cao của một làng. Mọi người già trẻ lớn bé đều phải thực hiện, làm đúng những mệnh lệnh, khuyến cáo của “Già Làng”, hoàn toàn không có một ngoại lệ nào. Do đó, nhà cầm quyền cần phải giải thích, thuyết phục chính sách di dân, đừng để Già Làng còn nhiều nghi ngờ ảnh hưởng không tốt đến việc di chuyển, dời đổi người dân. Điều quan trọng nhứt là đừng dối gạt niềm tin của người Thượng qua sự chơn chất của họ. Nếu sai phạm, mọi chính sách di dời sẽ bị đổ vỡ và họ sẽ rút vào rừng sâu…
Qua những yếu tố phân tích trên đây, chúng ta thấy quả thật người Thượng rất nhạy cảm trong cung cách đối xử hiện tại của CSVN. Ngày nay, với sự hiện diện của ngoại bang, người Hán, chắc chắn trong tương lai sự mâu thuẫn giữa hai sắc dân kể trên sẽ làm cho vùng cao nguyên Trung phần Việt Nam biến thái theo chiều hướng bất thuận lợi cho người Thượng.
4- Chính sách Hoa Kỳ và Việt Nam đối với người thiểu số
Đặc biệt có hai điểm cần lưu ý về chính sách đối với người Thượng từ sau 1975 về phía Hoa Kỳ và CSVN.
– Do chính sách muốn tạo ảnh hưởng, ngay từ sau khi Việt Nam hoàn toàn nằm trong tay CS, Hoa Kỳ bằng mọi phương tiện đã đẩy mạnh mức độ xâm nhập vào miền Cao nguyên Trung phần qua sự phát triển phong trào gia nhập vào đạo Tin lành của dân tộc thiểu số. Có thể nói, sau hơn 40 năm, Hoa Kỳ đã đạt được thành quả là lực lượng tín đồ Thượng hiện nay là một lực lượng đáng kể ở vùng này nhất là ở những thị xã hoặc thành phố.
– Trong lúc đó, CSVN cũng cố gắng ngay từ đầu đào tạo một tầng lớp cán bộ người Thượng đề làm nồng cốt cho công cuộc “quản lý” người thiểu số.
Cà hai chính sách nầy đã đào tạo một số nhân sự có trình độ, tuy ở hai chiều hướng và mục đích khác nhau, nhưng rốt ráo lại, tuyệt đại đa số người Thượng vẫn không gia nhập vào hai khuynh hướng trên và tiếp tục theo sự hướng dẫn của Già Làng mà rút sâu vào nội địa.
Kết quả tiên liệu cho tương lai qua những hiện tượng đã xảy ra ngay từ sau khi chiếm toàn cõi Việt Nam, sĩ số người Thượng sống trong vùng nầy bị giảm đi hằn. Họ đã trốn chạy vào rừng sâu, qua Cambodia và Lào. Và cuối cùng, nhiều người đã phải xin tị nạn chính trị tại nước thứ ba, như đã nói trên.
Trong một tương lai không xa nữa, viễn ảnh không còn sự hiện diện của nhiều sắc dân thiểu số sống trên Cao nguyên Trung phần Việt Nam qua việc khai thác bauxite của TC không phải là điều không tưởng. Và nóc nhà của Việt Nam, thảm thực vật che chở cho sức sống của người Việt sẽ bị hủy diệt cả về hệ sinh thái lẫn tính đa dạng xã hội của vùng này…
5- Kết luận
Để kết luận, việc “giúp đỡ” người Thượng là giúp đỡ kinh tế cho họ cải thiện đời sống, là giúp họ hiểu và khai triển khái niệm về sự tiến bộ của con người. Nhưng tuyệt đối, phải biết tôn trọng dị biệt văn hóa của người Thượng, không được áp đặt những gì đi ngược lại truyền thống của họ. Hơn nữa, nếu những người cầm quyền hiện tại, nếu còn một chút nhứt điểm lương tâm để thấy rằng không nên đặt họ, những đồng bào thiểu số, những người con của đất trời thiên nhiên vào hoàn cảnh hay tâm trạng của những kẻ “mất” quê hương để phải “sống mãi trong tình thương nỗi nhớ”. Nhớ về nơi chôn nhau cắt rốn, với cái “cảnh sơn lâm bóng cả cây già”, với “tiếng gió gào ngàn”, với “giọng nguồn thét núi” như Hổ Nhớ Rừng của Thế Lữ. Tội nghiệp cho những đồng bào thiểu số bơ vơ nầy đã bị chèn ép, đàn áp đến “ba tầng áp bức” và đã bị dồn đến chân tường!
Và rốt ráo hơn nữa là đừng để Vùng Cao nguyên Nam Trung phần việt Nam biến thành những khu “biệt lập người Da đỏ” (Indian reserve) kiểu Mỹ, chuyên biểu diễn Múa Vũ Văn Hóa cho các đoàn du khách ngoại quốc đến thăm viếng.
Thiết nghĩ, hình ảnh của Người Thượng hiện tại như đã mô tả ở phần trên sẽ là hình ảnh trong tương lai của họ ở Việt Nam, nếu còn sự cai trị của Cộng sản Việt Nam.
Công nhân đô thị đang sắp xếp các chậu hoa trang trí nhân 72 năm quốc khánh hôm 31/8/2017 ở một công viên tại Hà Nội
AFP
Khi nào thì một dân tộc xem như đã mất nước?
Khi độc lập về chủ quyền, sự toàn vẹn lãnh thổ lãnh hải bị xâm phạm thường xuyên mà nhà cầm quyền của nước đó chả dám phản ứng gì.
Khi những người lãnh đạo cao nhất quỵ lụy, coi kẻ thù là thầy, là bạn, còn nhân dân lả kẻ thù.
Khi các quan chức từ trên xuống dưới bắt tay hợp tác với giặc, mở toang cửa cho giặc vào thuê đất dài hạn khắp nơi từ Nam ra Bắc, rước giặc vào nhà làm ăn, xả rác, gây ô nhiễm môi trường và gây ra đủ mọi tác hại lâu dài cho đất nước, dân tộc.
Khi các quan chức từ trên xuống dưới chỉ biết chạy theo chức tước và tiền, chỉ biết vơ vét, chụp giựt cho đầy túi tham, bất chấp hậu quả gây ra cho đất nước, nhân dân.
Khi người dân chỉ biết chịu đựng, và chỉ biết lo làm ăn để vun vén cho bản thân và gia đình, chuyện chính trị, chuyện lớn đã có nhà nước lo, chính phủ lo.
Khi những người có tài có tâm thật sự với nước với dân thì không được sử dụng hoặc tệ hơn, bị xách nhiễu, tống giam vào tù với những bản án bất công, man rợ chỉ vì dám lên tiếng nói sự thật, còn những kẻ bất tài, cơ hội, bán nước buôn dân thì lại chiếm lấy những chỗ ngồi cao nhất để tiếp tục vơ vét và phá hoại.
Khi trí thức, nghệ sĩ cũng chỉ lo kèn cựa nhau cái danh hão, cái bổng lộc, hoặc khúm núm xum xoe dùng ngòi bút, tiếng hát, nét vẽ…để phục vụ nhà cầm quyền, còn giới trẻ thì mãi ăn chơi, hưởng thụ, khóc cười với những “thần tượng” showbiz, bóng đá hay chuyện đời tư của giới biểu diễn…
Khi nỗi đau về mọi chuyện bất công, phi lý, trái tai gai mắt xảy ra hàng ngày chỉ còn đủ sức làm cho người ta xúc động trong giây lát rồi quên; khi nỗi nhục đất nước bị tụt hậu, thua kém xa các nước khác, hình ảnh đất nước cho tới người dân trong mắt thế giới chỉ toàn là tiêu cực, xấu xa, nhưng cũng chỉ đủ làm cho người ta phẫn nộ, tủi hổ trong giây lát rồi quên…
Khi đối với tất cả, Tổ Quốc không còn là giang sơn phải gìn giữ nâng niu, quê hương không còn là ngôi nhà chung phải vun đắp cho một tương lai chung. Trái lại, quê hương chỉ là cái quán trọ, là nơi ở tạm, còn tương lai lâu dài lại nằm ở một đất nước khác.
Thì quốc gia ấy xem như đã mất, chỉ còn lại cái “vỏ” bên ngoài. Dân tộc ấy xem như đã lưu vong ngay trên chính quê hương mình.
Và đó chính là thành quả của đảng và nhà nước cộng sản sau 72 năm ngày 2.9 (2.9.1945-2.9.2017), ngày khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Con em mình đi học là vì đi học thêm kiến thức để nên người.
Đi học để lớn lên trở thành những người có ích cho xã hội và đất nước.
Cho con em đi học là nghĩa vụ của toàn dân và toàn đất nước.
Vậy mà con đường đi học lắm gian nan.
Học phí chỉ chiếm khoảng hơn 10 % tổng số chi phí Phải đóng để cho con em mình được đi học, cuối cùng con em chúng ta đi học vì cái gì? Nhà Trường thu tiền học vì cái gì?
Phải chăng đi học và thu tiền học là một hình thức cho ai đó kiếm thêm thu nhập?
Đối với những gia đình có hoàn cảnh khó khăn hoặc có từ hai con trở lên đi học phải chăng họ nên lựa chọn con đường chịu thất học vì không thể nào đáp ứng nổi lòng tham của một số bộ phận trong ngành giáo dục?
Hôm nay là tròn 64 năm, ngày cụ bà Nguyễn Thị Năm (Cát Hanh Long) bị xử tử. Làm cách nào một người yêu nước, góp cho cách mạng 800 lạng vàng như cụ bà lại bị cách mạng xử tử? Đó là những câu chuyện rất lạ của một thời lịch sử.
Bà Cát Hanh Long (tên hiệu trong buôn bán giao dịch của bà Năm) sinh năm 1906, quê ở Làng Bưởi, ngoại thành Hà Nội, vốn là một người đàn bà giỏi làm ăn trên đất cảng Hải Phòng, từ nhiều nghề khác nhau trong đó có buôn bán tơ, sắt vụn, bà đã sớm thành đạt trên thương trường, xây nhà tậu ruộng…
Nhà giàu, được giác ngộ nên bà Năm trở thành nguồn cung cấp tài chính cho cách mạng thời từ trước tháng 9 năm 1945 mà bây giờ gia đình tập hợp lại thành một hồ sơ dày đặc từ việc góp 20.000 đồng bạc Đông Dương tương đương bẩy trăm lạng vàng đến thóc gạo, vải vóc, nhà cửa …
Dù đã đứng tuổi theo quan niệm đương thời, nhưng người phụ nữ 40 tuổi của thành phố cảng ấy đã phóng xe nhà treo cờ đỏ sao vàng từ Hải Phòng lên thẳng chiến khu qua thành phố Thái Nguyên, nơi quân Nhật còn chiếm đóng đến Đồng Bẩm, Đình Cả, Võ Nhai để báo cho con trai và các đồng chí của mình tin Hà Nội đã giành được chính quyền.
Sau năm 1945, bà Năm tản cư theo cách mạng lên chiến khu, và mua lại hai đồn điền lớn của “một ông Tây què” tại Thái Nguyên. Hai con trai bà đều đi theo kháng chiến. Khi chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức “Tuần lễ vàng”, bà đóng góp hơn 100 lạng vàng. Trong suốt thời gian kháng chiến chống Pháp, bà Nguyễn Thị Năm tham gia các cấp lãnh đạo của Hội Phụ nữ của tỉnh Thái Nguyên và Liên khu Việt Bắc, trong đó có 3 năm làm Chủ tịch hội Phụ nữ tỉnh Thái Nguyên. Khi thực hiện lệnh “tiêu thổ kháng chiến”, bà đã cho san bằng khu biệt thự Đồng Bẩm tại Thái Nguyên..
Nhiều cán bộ cách mạng, nhiều đơn vị bộ đội thường tá túc trong đồn điền của bà. Bà Nguyễn Thị Năm cũng từng nuôi ăn, giúp đỡ nhiều cán bộ Việt Minh sau này giữ những cương vị quan trọng như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Hoàng Hữu Nhân, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Tùng, Vũ Quốc Uy, Hoàng Thế Thiện, Lê Thanh Nghị…
Khi Cuộc cải cách ruộng đất triển khai vào năm 1953, những hành động yêu nước của Nguyễn Thị Năm bị cho là “giả dối nhằm chui sâu, leo cao vào hàng ngũ cách mạng để phá hoại.” và bà trở thành địa chủ đầu tiên bị đem ra “xử lý”. Bà bị lên án với tội danh “tư sản địa chủ cường hào gian ác”.
Trong bài viết “Địa chủ ác ghê” của C.B trên báo Nhân dân ngày 21 tháng 7 năm 1953 có kể tội bà là “Làm chết 32 gia đình gồm có 200 người…Giết chết 14 nông dân, Tra tấn đánh đập hằng chục nông dân…”. Cũng theo đó, Nguyễn Thị Năm đã “thông đồng với Pháp và Nhật để bắt bớ cán bộ. Sau Cách mạng tháng Tám, chúng đã thông đồng với giặc Pháp và Việt gian bù nhìn để phá hoại kháng chiến” và cũng theo đó thì Nguyễn Thị Năm “không thể chối cãi, đã thú nhận thật cả những tội ác”.
Sau những cuộc đấu tố với đủ các thứ tội ác được gán ghép bà đã bị đem ra xử bắn ở Đồng Bẩm, tỉnh Thái Nguyên lúc 8 giờ tối ngày 29 tháng Năm Âm lịch năm 1953. Khi bà vừa tuổi 47.
“Khi du kích đến đưa bà ta đi, bà ta đã cảm thấy có gì nên cứ lạy van “các anh làm gì thì bảo em trước để em còn tụng kinh.” Du kích quát: “đưa đi chỗ giam khác thôi, im!.” Bà ta vừa quay người thì mấy loạt tiểu liên nổ ngay sát lưng. Mình được đội phân công ra Chùa Hang mua áo quan, chỉ thị chỉ mua áo tồi nhất. Và không được lộ là mua chôn địa chủ. Sợ như thế sẽ đề cao uy thế uy lực địa chủ mà. Khổ tớ, đi mua cứ bị nhà hàng thắc mắc chưa thấy ai đi mua áo cho người nhà mà cứ đòi cái rẻ tiền nhất. Mua áo quan được thì không cho bà ta vào lọt. Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô: “Chết còn ngoan cố này, ngoan cố nổi với các ông nông dân không này?” Nghe xương kêu răng rắc mà tớ không dám chạy, sợ bị quy là thương địa chủ. Cuối cùng bà ta cũng vào lọt, nằm vẹo vọ như con rối gẫy vậy…” – Hồi ký Đèn Cù của Trần Đĩnh.
Ông Nguyễn Hanh, con trai bà Năm kể rằng khi mẹ ông bị xử bắn, ông đang cùng đơn vị ở Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc. Người ta giấu ông mọi tin tức từ trong nước. Hai tháng sau, cuối tháng 6/1953 ông được đưa về nước, bị tống ngay vào trại giam ở Tuyên Quang vì là con của địa chủ gian ác. Năm 1954 ông mới được nghe bà vợ ông đến trại để thăm nuôi kể rõ về sự kiện bi thảm này. Em ruột ông Hanh là Nguyễn Cát, bí danh là Hoàng Công, cả 2 anh em đều hoạt động từ thời kỳ tiền khởi nghĩa 1944 ở vùng Đình Cả, Vũ Nhai. Hoàng Công từng là trung đoàn trưởng của sư đoàn Quân Tiên Phong 308, cũng bị đưa vào trại cải tạo năm 1953, năm 1956 mới được tự do, đau ốm, đến năm 1989 chết thảm trong một tai nạn xe máy.
Năm 1993, sau 40 năm tìm kiếm rất kiên trì, gia đình ông Hanh mới tìm thấy di hài bà Năm cạnh một ao sen, ở bên gốc cây phượng hoa đỏ nhờ chiếc vòng ngọc bám chặt cổ tay và chiếc răng vàng cũng như 2 đầu đạn, bà Cúc vợ ông Hanh cho hay sở dĩ chiếc vòng ấy còn vì bà Năm đeo từ hồi trẻ nó thít chặt vào cườm tay, khi đấu tố có người đã cố rút ra nhưng không được. Di hài bà Năm được đưa về nằm bên mộ chồng là làng Đại Kim, Thanh Trì, Hà Nội.
Cụ ông Nguyễn Hanh, người đảng viên Cộng sản khi mới 21 tuổi, người sỹ quan QĐND cấp trung đoàn khi mới 24 tuổi đã mất sạch mọi thứ, từ bà mẹ nhân hậu đảm đang bị 2 phát đạn oan khiên, đến nhà cửa, tiền bạc, công danh, nay thổ lộ rằng từ 1993 ông đã gửi hàng vài chục lá thư đề nghị các đời Tổng Bí thư, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng… xét cho 2 điều: công nhận mẹ ông, bà Nguyễn Thị Năm là người có thành tích, có công đóng góp cho cách mạng, truy thưởng cho bà Huân chương Kháng chiến, và công nhận Bà là Liệt sỹ, nhưng không một ai trả lời.
Điều duy nhất ông nhận được đến nay là công văn tháng 6 năm 1987 của ban tổ chức tỉnh ủy Thái Nguyên, quy định lại thành phần giai cấp của bà mẹ là “Tư sản – địa chủ kháng chiến”.
Ông than thở: “Mẹ tôi từng nuôi dưỡng, che chở cho cả sư đoàn bộ đội, cán bộ, nhiều người biết chuyện nhưng đã cao tuổi, nên sau khi họ mất đi thì mọi chuyện sẽ rơi vào quên lãng”.
Ảnh Bà Nguyễn Thị Năm (1906-1953) lúc khoảng ngoài 40 tuổi.
Từ phải, ông Đoàn Tấn Nhiều, bà Thanh, và anh Khánh. (Hình: Đằng-Giao/Người Việt)
HOUSTON, Texas (NV) – Sau khi trải qua những ngày cuống cuồng sợ hãi, thấp thỏm lo âu vì trận bão Harvey, cư dân Houston phải đối phó với những khăn trong thảm cảnh quay về đời sống thường nhật. Đây là lúc họ bắt đầu trực diện những di hại, những hậu quả nặng nề của trận lụt.
Làng Fatima là một khu mobile home khiêm tốn nằm trên đường Gulf Bank.
Ngay từ đầu làng, một xóm đạo nho nhỏ, nơi gia đình ông Đoàn Tấn Nhiều vừa quay về sinh sống sau cuộc di tản, một núi rác gồm nệm giường và những đồ gia dụng bị cơn lụt tàn phá, xộc ra một mùi hôi thối rữa nát, nồng nặc cao độ.
Đây chỉ là một góc của những gì bị phế thải. Người ta chưa đem ra vứt kịp vì bận đi làm hoặc vì nhà chỉ toàn đàn bà, con nít, chưa nhờ ai khuân ra ấy thôi.
Đến chiều thì cái núi rác này sẽ cao và to hơn nhiều và cái mùi khó chịu sẽ đâm xộc vào mũi người qua đường một cách trâng tráo hơn nhiều.
Nước dâng bao nhiêu, nỗi lo tăng bấy nhiêu
Gia đình ba người, ông Nhiều, cùng vợ là bà Thanh, và con trai tên Khánh, phải rời khỏi nhà, cùng cả làng tìm nơi trú ẩn hôm Chủ Nhật.
Ngồi hồi tưởng lại những gì xảy ra, cả gia đình ông vẫn còn phảng phất nỗi kinh hoàng trên gương mặt, trong giọng nói dù cả ba cùng muốn bỏ những hãi hùng của mấy ngày qua sau lưng.
Harvey đến với gia đình ông từ tuần trước, khi truyền hình loan báo cơn bão đang tiến về Houston và khu vực ông đang ở.
Ông kể với giọng chưa khỏe hẳn: “Thứ Năm, ngày 24 Tháng Tám tuần rồi, chúng tôi đã chuẩn bị xong xuôi, sẵn sàng chạy bão nhưng tới Thứ Bảy, vẫn chưa thấy gì đáng ngại. Mưa không lớn lắm mà bầu trời rất yên lặng.”
Sau cơn bão là rác đầy làng. (Hình: Đằng-Giao/Người Việt)
Những trận bão trước đây ồn ào và gió thét gào gầm rú rất dữ dội. Có lần, bão cách đây cả trăm dặm mà chỉ cần nghe tiếng gió rít như xé toạc bầu trời, người ta cũng đủ thất kinh hồn vía rồi.
Lần này, gần như không có gió, trời yên lặng như rất hiền hòa làm nhiều người coi thường sự kinh hoàng khốc liệt của Harvey.
Chính vì vậy mà nhiều cư dân địa phương không gọi đây là trận bão mà lại gọi là trận lụt.
Ông hồi tưởng: “Không nghe tiếng gió gì hết mà nước cứ từ từ dâng lên. Đến khi nước bắt đầu dâng thì dâng rất nhanh. Nước ngoài đường, mới tới mắt cá mà quay qua, quay lại đã lên tới đầu gối tôi rồi.”
Vốn coi thường những trận bão nhiều lần trước, ông Nhiều chợt thấy lo sợ. Lo sợ là phải, ông bị thấp khớp nặng, chân trái đã mổ rồi mà vẫn còn đau, trong lúc chân phải đang chờ mổ cũng đang đau đớn dù đã bó lại thật chặt rồi.
Mấy năm nay, chỉ đi khập khễnh thật chậm ông cũng cảm thấy đau đớn nhiều thì làm sao mà chạy cho kịp với người ta.
“Từ Thứ Năm tuần rồi, tôi đã phụ vợ con cột cái tủ lạnh phía trước cho thật chắc rồi bỏ tất cả áo quần vào túi xách xong xuôi. Hai chân tôi đau lắm nhưng vẫn phải cắn răng mà làm việc,” ông khẽ nói. “Ngâm chân trong nước, tôi thấy đau lắm.”
Ở tuổi 65, cái tuổi mà bao nhiêu sức lực sung mãn tuổi niên thiếu dần dần trôi đi, ông Nhiều cảm thấy sự nguy hiểm như gần kề ông và vợ con.
Sáng Thứ Bảy, mưa rơi tầm tã từ sớm. Gia đình ông và cả làng càng cuống quít hơn khi theo dõi tin tức báo động tình hình khẩn cấp trên truyền hình.
Từ hội trường, nơi cao nhất trong làng, ông quyết định rằng cả làng phải cùng nhau di tản vì chậm trễ hơn sẽ ảnh hưởng đến tính mạng.
Nước đã ùa vào nhà bếp ông rồi. Mà nhà ông có bậc tam cấp, cao hơn mặt đường nhiều.
“Lúc ấy, một phụ nữ đang mang thai cảm thấy đau đau,” ông kể.
Không thể chần chừ nữa, cả làng cùng nắm tay nhau rướn đi trong nước lũ. Số phận của bao nhiêu người, lúc này, nhập vào làm một.
“Vì một người bị nước cuốn là cả làng 44 người kia sẽ bị kéo theo,” ông nói. “Tôi chỉ biết cầu nguyện ơn trên rồi phó mặc tất cả.”
Bà Thanh góp chuyện: “Nước cao đến hông, mọi người cầm chặt tay nhau, vừa đi, vừa cầu nguyện.”
Nước xoáy rất mạnh bên dưới. Không cẩn thận là bị cuốn phăng đi ngay.
“Mọi người hò hét nhắc nhau đừng để bị lọt xuống đường mương hai bên đường là chết ngay,” bà tiếp. “Tôi cố lắm mà cứ bị nước lôi hẳn qua một bên, bao lần xuýt lọt xuống mương.”
Chung quanh là biển nước đục ngầu, không thể thấy mặt đường nữa.
“Lúc ấy khoảng 3 giờ chiều. Trời còn sáng nhưng không ai biết mình có sắp bị lọt xuống hố hay không,” ông Nhiều kể một cách căng thẳng.
Hai chân thấp khớp gặp nước lạnh, ông lê bước không nổi nữa rồi.
“May quá, gặp một anh người Mễ ở đâu vô làng cho tôi lên ngồi trên cái phao rồi lôi tôi ra,” ông nở nụ cười nhỏ. “Vợ con tôi thì phải lội nước.”
Cả đoàn người, kể cả phụ nữ có thai đang đau bụng, tay nắm chặt tay nhau, bước đi từng bước, từng bước nặng nề trong cơn xoáy ngầm dữ dội, khi mực nước dâng lên gần ngực.
Cái chết thật gần gũi, thật dễ dàng.
May quá, vừa ra đến đến ngoài thì cả làng được lên xe xúc cát rồi đưa ra trường tiểu học Keeble gần đấy.
Trời vẫn tầm tã trút mưa xuống.
Nước vẫn lầm lì dâng lên.
Lúc này không còn phao nữa, ông Nhiều được hai người hai bên kè thật sát.
Bà Thanh: “Nước lên đến đây khi chúng tôi di tản.” (Hình: Đằng-Giao/Người Việt)
Ông thú thật: “Chân tôi bước không nổi nữa. Họ phải kéo tôi đi.”
“Chưa bao giờ tôi sợ như vậy. Cái chết ngay bên cạnh mình. Nhà tôi cũng sợ lắm,” ông thở hắt ra.
Anh Khánh ra vẻ can đảm nói: “Cháu có sợ nhưng chỉ chút chút thôi.”
Những lần bão trước chỉ là cơn mưa lớn đối với ông Nhiều. Đây là lần đầu tiên gia đình ông phải di cư tập thể nên ông vừa sợ vừa ngỡ ngàng.
Ông chợt rùng mình trong cơn gió.
Bất ngờ ấm áp tình người
Từ trường tiểu học, xe lớn đưa cả làng ông đến Gallery Furniture Store, một tiệm bán giường tủ bàn ghế lớn gần đó.
“Họ có xe giao bàn ghế rất lớn đến đón chúng tôi. Ông Mack, chủ tiệm người Mỹ này, tốt quá,” ông khen.
Làng ông có 45 người mà chỉ một lúc, Gallery Furniture Store đã có đến hàng trăm người.
Ông Mack, tên thật là Jim McIngvale, chào đón mọi người rồi cho phân phát quần áo khô, thức ăn, rồi còn nói ai thích giường nào thì toàn quyền nằm giường đó.
“Giường mới tinh đang bày bán mà ông ấy không tiếc gì cả, mời chúng tôi cứ tự nhiên,” bà Thanh kể.
Ông Mack từng mở cửa chào đón nhiều nạn nhân bão Katrina năm 2005. Nhiều cư dân New Orlean định cư tại Houston cả 12 năm nay.
Có được nơi tá túc qua đêm nhưng ông Nhiều vẫn canh cánh âu lo không biết có còn nhà để trở về hay không.
Cả sự nghiệp chỉ là căn nhà, nếu mất nhà thì ông còn gì cho vợ con. Ra đường mà ở hay sao?
Tìm về đất Chúa
Ông Nhiều tiếp: “Hôm sau, là Thứ Hai. Lúc 2 giờ, Cha Trần Thiên Ân (linh mục chánh xứ giáo xứ Đức Mẹ La Vang) gọi tôi. Cha hỏi chúng tôi có muốn đến nhà thờ không. Nếu muốn, cha cho người đến đón.”
Ông hỏi ý cả làng. Mọi người cùng đồng lòng đi La Vang.
Ngay đúng lúc ấy, người phụ nữ mang thai đau bụng từ nãy, bị băng huyết. Có người gọi xe thành phố đưa hai vợ chồng đến trại tạm cư GRB (George R. Brown Convention Center) ở trung tâm Houston, nơi hôm sau chứa đến 10,000 người di tản.
“Khổ thân, đang có bầu mà gặp cảnh xô đẩy và trèo lên xe, nhảy xuống xe, chị ấy bị như vậy,” bà Thanh bày tỏ lòng thương cho người làng.
Ông Nhiều kể tiếp chuyện Linh Mục Thiên Ân ở La Vang: “Cha cử một người là anh Tài lo cho chúng tôi. Anh Tài gọi cho chính quyền thành phố cho xe lớn đến đón chúng tôi. Nhưng lúc ấy họ bận đi chở người cấp cứu. Thấy lâu quá, anh Tài nhờ mấy người quen đem xe riêng đến vì anh ấy nóng ruột cho chúng tôi.”
Bà Thanh thêm: “Có một cái xe van 15 chỗ và một xe truck nhỏ thôi mà cả làng 45 người nhét vào đủ mới lạ.”
Khoảng 5 giờ chiều Thứ Hai, vừa đến La Vang, linh mục chánh xứ cho chuẩn bị mọi thứ sẵn sàng. Giường chiếu sẵn sàng, áo quần sẵn sàng và thức ăn sẵn sàng.
“Cha lo lắng cho chúng tôi rất kỹ lưỡng. Hai đêm chúng tôi ở đó, cha thức trắng cả hai đêm, ngồi cùng cảnh sát canh cho chúng tôi ngủ,” ông rưng rưng cảm động.
Nước rút, mọi người nóng ruột muốn về nhà.
Khi không giữ họ ở lại được nữa, Linh Mục Thiên Ân đành nhắc nhở họ nên về cùng một lượt.
“Cha sợ nếu kẻ gian đột nhập vào nhà hôi của thấy chúng tôi về lẻ tẻ, có thể làm hại,” ông kể.
Trong nhà ông Nhiều. Bao giờ ở được? (Hình: Đằng-Giao/Người Việt)
Quay về mái ấm
Về làng, ông thấy trước hết là những cái tủ lạnh trôi lều bều từ xa.
Ông nói: “May mà cái tủ lạnh nhà tôi đã được cột rất kỹ, không trôi đi đâu cả.”
Tủ lạnh ông cột ở hông nhà, tuy không trôi đi đâu, nhưng bị lật úp và nổi bập bềnh ở đó.
Vào nhà, sàn nhà phủ đầy bùn. Từ trên xuống dưới, căn nhà ảm đạm một sự tan hoang, hỗn loạn.
Và mùi xú uế nồng nặc bao trùm cả khu xóm. Một cái mùi rất khó mà tả chính xác. Cái mùi có thể gây ung thư phổi, khiến người không nghiện phải thèm thuốc lá.
Tất cả gối chăn, giường nệm đều ướt sũng và sặc mùi.
Phải mất hai hôm cả nhà mới lau chùi trên dưới được. Nhưng đây chỉ mới là tạm thời thôi vì còn nhiều chỗ khó khăn, chưa ai có thời giờ lau tới được, theo lời bà Thanh.
Nhớ lại những ngày qua, ông Nhiều nói: “Trận lụt này là tai họa cho nhiều người. Nhưng qua đó, chúng tôi mới thấy được tình người. Gia đình tôi cảm ơn cha Thiên Ân, đã cho chúng tôi tá túc mà còn hy sinh không biết bao nhiêu thời giờ và nhân lực.”
Ông vô cùng cảm kích những chia sẻ của mọi người trong giáo xứ La Vang.
“Sau khi ăn uống xong, trong Thánh Lễ 5 giờ chiều, cha Thiên Ân khuyên mọi người giúp đỡ cộng đoàn Fatima. Thế là mọi người đem không biết bao nhiêu là áo quần, giày dép, và thức ăn đến cho chúng tôi.”
Ông nói thật khẽ: “Không bao giờ chúng tôi quên chuyện này.”
Bà Thanh thì vẫn lo cho phụ nữ láng giềng có thai.
“Cho đến ngày hôm nay, Thứ Sáu, 1 Tháng Chín, chị ấy vẫn chưa được cứu chữa vì bệnh viện chỉ nhận cấp cứu thôi. Hiện chị về nhà nhưng vẫn đang đau bụng và nằm đấy chờ bệnh viện có chỗ,” bà Thanh cho biết.
Ngày mai vẫn bấp bênh
Được trở về căn nhà mobile home của mình nhưng cả ba người cùng biết rằng trước mắt họ còn cả trăm ngàn việc quanh nhà thì mới trở về đời sống bình thường như trước đấy vài hôm.
Cả Houston cùng đang thở dài ngao ngán trước công việc lau chùi, vứt đồ hư và sửa chữa căn nhà mình.
Ấy là chưa nói đến hơn 500,000 chiếc xe hư hại, không thể nào sửa được.
Không biết số tiền hàng tỷ đô la trợ cấp của liên bang sẽ giúp được gì được cho họ.
Người Việt tại nhiều vùng của tiểu bang Texas đối mặt với tình trạng nhà cửa bị ngập lụt, giữa lúc có tin nhiều người không dám ra đường vì rắn và cá sấu.
Anh Antin Huỳnh, sống ở một vùng thôn quê ngoại ô thành phố Houston, nơi hứng chịu thiệt hại do cơn bão Harvey gây ra mấy ngày qua, nói rằng đường xá, nhà cửa xung quanh khu vực của anh bị ngập nặng và có xuất hiện cả rắn và cá sấu ở phía nam thành phố.
Anh kể lại:
“Khu vực này mưa nhiều. Mưa kéo dài 3-4 ngày nay gây ngập lụt. Tất cả các cơ sở công ăn việc làm, trường học đã đóng cửa một tuần nay. Có một vài cá sấu bơi qua khi nước ngập đường, tràn vào khu vực có dân cư.”
Tại khu phía bắc của thành phố, nhà của anh Khoa Ngô rất may mắn không bị lụt, nhưng nhà của bạn anh, cũng ở gần đó, thì bị ngập rất sâu.
Anh cho biết:
“Nhà mình không bị gì hết, nhưng cô bạn của mình cũng ở gần đây thôi bị ngập vì ở khu vực thấp hơn – nước dâng lên trên mức cảnh báo ngập lụt – 12 feet (3,6 mét). Đây là một vụ ngập kỷ lục.”
Người dân Houston đi qua vùng nước ngập hôm 27/8.
Anh Khoa cho biết thêm về hoàn cảnh của người dân vùng ngập lụt: “Nếu đi vào nước thì có thể gặp rắn và kiến lửa. Cá sấu thì hiếm hơn nhưng cũng có thể xảy ra. Nếu ra vùng ngoại ô thì thấy nhiều đàn bò lên trên đường để trốn nước, do đó lúc lái xe thì phải cẩn thận.”
Anh Khoa còn cho hay rằng bạn bè của anh phải di chuyển vào khách sạn ở tạm, chờ nước rút xuống, sửa chữa nhà cửa rồi mới dọn vào ở lại.
Là chủ một doanh nghiệp ở Houston, anh Khoa hôm 28/8 nói rằng khách hàng của anh không ai ra đường cho nên văn phòng của anh phải đóng cửa.
“Mình xem tình hình và hỏi tất cả nhân viên, biết rằng nhiều người còn bị kẹt, không vào văn phòng được. Khách hàng không tới nên mình đóng cửa luôn hôm nay.”
Ông Đặng Quốc Việt, một thành viên cộng đồng người Việt tại thành phố Houston nói rằng dù cơn bão gây ngập lụt nghiêm trọng khắp cả thành phố. Tuy nhiên, theo ông, đến sáng ngày 28/8, cũng rất may mắn là chưa có tin về thương vong trong cộng đồng người Việt.
Ông nói:
“Cho đến thời điểm này thì mọi sự điều tốt đẹp, mặc dù cơn bão gây tác hại rất lớn, lụt lội ngập nhà cửa rất nhiều. Một điều may mắn cho tất cả mọi người là chính quyền địa phương của Hoa Kỳ luôn luôn chuẩn bị sẵn sàng và hỗ trợ tích cực.”
Ông Việt chia sẻ thêm:
“Hầu hết người Việt trong cộng đồng không bị ảnh hưởng nặng lắm. Số người di tản hầu hết là dân địa phương. Hiện tại các trung tâm cứu nạn, trại lánh nạn rất đông người. Tôi chưa có thông tin nào về trường hợp người Việt bị bắt buộc phải di tản.”
Theo nhận định của anh Antin Huỳnh, cơn bão Harvey dù gây mưa kéo dài nhưng không nguy hiểm bằng bão Katrina năm 2005.
“Cơn bão này không mạnh như cơn bão Katrina, nhưng cơn bão này gây ngập nước trên diện rộng.”
Một người Mỹ gốc Việt, cô Catherine Phạm và con trai Aiden, 13 tháng tuổi, được đưa khỏi ngôi nhà bị ngập ở Houston hôm 27/8 sau khi bão Harvey tràn qua.
Bão Harvey di chuyển vào bang Texas tối 25/8 với sức gió lên tới 210 km/h. Đây là cơn bão mạnh nhất Mỹ phải hứng chịu trong 12 năm và là cơn bão mạnh nhất đổ bộ vào bang Texas trong hơn 50 năm qua.
Tính đến tối 27/8, cơn bão làm mất 5 người thiệt mạng, 14 người bị thương, và khoảng 240.000 người phải sống trong tình trạng không có điện.
Cơ quan Thời tiết Quốc gia Mỹ ngày 27/8 cho biết lượng mưa tại nhiều khu vực ở thành phố Houston trong 48 giờ trước đó là 76 cm. Dự báo, mưa lớn sẽ còn tiếp diễn.
Tổng thống Mỹ Donald Trump đã ký ban hành tuyên bố thảm họa cho bang Texas và dự kiến sẽ tới bang này vào ngày 29/8 để kiểm tra thiệt hại do bão Harvey gây ra.
Ông Trịnh Xuân Thanh được truyền hình Việt Nam nói là ra đầu thú.
AFP
Thêm năm cán bộ cao cấp của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) bị khởi tố, liên quan đến những vụ bê bối tài chính ở ngân hàng Đại Dương.
Đó là các ông Nguyễn Xuân Sơn, nguyên Chủ tịch Hội Đồng Thành Viên của PVN, ông Ninh Văn Quỳnh nguyên kế toán trưởng, đương kim phó Tổng Giám đốc, các ông Nguyễn Xuân Thắng, Nguyễn Thanh Liêm và Vũ Khánh Trường là nguyên ủy viên Hội Đồng Thành Viên hoặc Hội Đồng Quản Trị của PVN.
Trong số những người này thì ông Nguyễn Xuân Sơn đang bị tạm giam để điều tra việc ông đã chi tiền lời ngoài sổ sách cho PVN.
Hai ông Ninh Văn Quỳnh và Nguyễn Xuân Thắng bị bắt tạm giam trong ngày 1 tháng Chín.
Hai người còn lại bị cấm đi khỏi nơi cư trú.
Theo cáo trạng được truyền thông nhà nước loan tải thì năm người này bị qui kết cố ý làm trái, gây thiệt hại số tiền trị giá 800 tỉ đồng khi đóng góp vốn điều lệ vào Ngân hàng Đại dương- Oceanbank.
Trước vụ việc này, Tập Đoàn Dầu Khí Việt Nam lên tiếng cho biết PVN đang hợp tác với cơ quan điều tra, và những vụ bắt bớ trên không ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất và kinh doanh của tập đoàn này. PVN cũng lên tiếng kêu gọi sự cảm thông của người Việt trong nước.
Trong suốt hai năm qua nhiều viên chức hoặc cựu viên chức của Tập đoàn dầu khí Việt Nam bị truy tố, bắt giam hay bỏ trốn ra nước ngoài, trong đó nổi tiếng nhất là ông Trịnh Xuân Thanh, nguyên Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị Tổng Công ty Xây Lắp Dầu Khí, bỏ trốn sang Đức, rồi được cho là bị bắt cóc để đưa về Việt Nam hồi cuối tháng 7 vừa qua.
Ngoài ra người từng chịu trách nhiệm cao nhất của Tập đoàn dầu khí là ông Đinh La Thăng cũng bị kỷ luật, mất chức Ủy viên Bộ chính trị đảng cộng sản cũng như chức Bí thư thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh.
Việc công ty dược nhập loại không chữa được ung thư về bán cho dân chữa ung thư gây nhiều tranh cãi.
– Thứ trưởng Bộ Y khẳng định: “Đó không phải thuốc giả mà là thuốc kém chất lượng”. Nhiều người phản đối nhưng tôi cho là tay thứ trưởng này nói đúng. Vì nếu thuốc giả thì chắc ngoài vỏ bao bì phải ghi là “Thuốc giả” mới được, nhưng ở đây đâu có ghi.
Việc đưa thuốc không chữa được bệnh vào chữa bệnh thì chỉ giống như việc đổ xăng cho xe chạy dầu hoặc việc dùng nước mùn thớt chữa bệnh cho người nôn mửa thôi chứ. Kết quả cuối cùng thì người ung thư cũng khỏi bệnh sau khi chết do… số phận.
Quy trình đúng hiện nay sẽ là: DÂN LÀNH ===> FORMOSA ĐẦU ĐỘC ==> UNG THƯ ==> THUỐC DỞM ==> CHẾT ĐEM CHÔN.
2- Bộ trưởng Bộ Y là em Tiến bị cộng đồng kêu gọi từ chức là sự vô lý. Tại sao cứ đòi em từ chức khi đảng vẫn giao cho em làm. Cùng lắm thì em “chịu trách nhiệm chính trị” mà thôi. Chết dân chứ người nhà em và các quan chức nhà nước có chết đâu mà em phải từ chức. Em được giao nhiệm vụ chỉ phục vụ băng đảng thôi chứ. Bao lần kêu gọi mà e vẫn trơ cái mặt… nốt ruồi đấy thì làm đíu gì em?
3 – Em bộ trưởng Kim Tiến khẳng định không biết cái công ty buôn thuốc giả vì nó quá nhỏ và em không có ai là người nhà người thân ở đó. Thế mà nhiều người phản đối là do họ không hiểu em. Lý do:
– Những cái công ty to khủng đem lại nhiều quyền lợi nhất cho em, làm khốn đốn và dẫn cả mấy chục triệu người vào chỗ bần hàn khốn nạn rồi chết mà không thằng nào dám xử – do một thằng lú làm Chủ tịch HĐQT kiêm TGĐ – thì cái công ty con con hối lộ vài ba trăm tỷ chỉ là cái đinh.
– Báo chí moi ra khẳng định em chồng em Kim Tiến là Phó Giám đốc kinh doanh ở Cty đó rồi dân chửi em là dối trá, không nhận người thân. Đó là vì dân không hiểu ở nhà em. Bởi vì ở nhà chồng em, từ ngày chồng em lấy em thì trong gia đình anh em đã không nhìn mặt nhau từ lâu, đã đoạn tình tuyệt nghĩa, đã coi nhau là thế lực thù địch… Do vậy em quyết tâm nêu cao đạo đức cách mạng của người cộng sản là từ mặt chết không qua giỗ không đến.
Thế thì sao em phải nhận người thân hay người nhà?
Nói dại mồm chứ chẳng may bố chồng em chưa chết mà vào làm ở đó rồi bị lộ thì e cũng chối ngay: Tớ đéo biết thằng ấy là thằng nào.
Ngập trong biển tin dậy mùi từ một thể chế đã đến hồi ung nhọt, tôi chú ý nhiều hơn đến việc một tù nhân chính trị nhỏ tuổi mãn hạn trở về hôm nay: Nguyễn Mai Trung Tuấn. Một tấm gương trẻ tuổi kiên cường bất khuất.
Những bản án tù đày, không bao giờ khiến họ sợ hãi. Ngược lại, chỉ đốt nóng thêm lòng căm thù chế độ.
Hình ảnh Nguyễn Mai Trung Tuấn (và trước đó là nữ sinh Nguyễn Phương Uyên), liệu có đánh thức được điều gì trong giới cầm bút, những trí nhân khoa bảng luôn ưỡn ngực xưng danh như chúng ta?
Hình ảnh chống đường lưỡi bò của Trung Quốc trên một trang Facebook cá nhân. Hà Nội, 2011.
AFP
mang_xa_hoi
00:50/07:08
Gần đây Chủ tịch nước Trần Đại Quang có một bài viết nói rằng phải kiểm soát các thông tin độc hại trên Internet.
Báo chí Việt Nam cũng loan tin chính phủ Hà Nội đề nghị các đại công ty như Facebook và Google hợp tác trong vấn đề ngăn chận thông tin bị gọi là độc hại.
Sau đây là một số ý kiến cho rằng Việt Nam không thành công trong ý định ngăn chận mạng xã hội.
Một ước vọng cũ xưa
Một người sử dụng mạng xã hội Facebook rất tích cực tại Sài Gòn là anh Nguyễn Lâm Duy nhận xét về bài viết của Chủ tịch Trần Đại Quang:
“Thực ra việc thắt chặt thông tin trên mạng xã hội, trên internet nói chung thì đảng cộng sản đã thực hiện rất là lâu rồi ở Việt Nam, đặc biệt là thắt chặt thông tin do chính quyền quản lý, đưa ra cái cách họ đưa tin như thế nào. Đã có việc xét xử hay kết án tù rất nặng nề những người phát biểu trên mạng. Bài viết mới đây được cho là của ông Trần Đại Quang về việc thắt chặt những thông tin độc hại trên internet thì không có gì mới.”
Anh nói rằng đối với nhà nước Việt Nam hiện nay thì những tin tức có thể làm ảnh hưởng tới hình ảnh của đảng cộng sản, hay những lời phê bình chỉ trích nhà cầm quyền cũng được đảng cộng sản Việt Nam xếp vào loại thông tin độc hại.
Thực ra việc thắt chặt thông tin trên mạng xã hội, trên internet nói chung thì đảng cộng sản đã thực hiện rất là lâu rồi ở Việt Nam. -Anh Nguyễn Lâm Duy.
Một người dùng Facebook tại Hà Nội là anh Nguyễn Chí Tuyến nói thêm là một số người nghi ngờ rằng bài viết của Chủ tịch Trần Đại Quang là một bài viết cũ cách đây vài năm được dùng lại. Anh cũng có nhận xét rằng khuynh hướng kiểm soát tư tưởng con người vốn là một đặc điểm của đảng cộng sản nên họ lúc nào cũng muốn kiểm soát thông tin và quan điểm của mọi người.
Anh Nguyễn Chí Tuyến là một thành viên rất tích cực của một tổ chức xã hội dân sự NoU, hoạt động bảo vệ môi trường, giúp đỡ người nghèo, đấu tranh chống sự chèn ép của Trung Quốc trên Biển Đông. Các thành viên nhóm này sử dụng phương tiện mạng xã hội rất tích cực để tổ chức các hoạt động của mình.
Anh Tuyến nhận xét cách mà người Việt Nam hiện nay bày tỏ quan niệm của mình trên mạng xã hội:
“Ở một góc độ nào đó, mạng xã hội ở Việt Nam lại thể hiện thật hơn là cuộc sống thật. Tức là người ta tìm thấy một sự can đảm, một sự cởi mở, hay là một luồng sinh khí tiếp sức cho người ta, làm cho người ta dám bày tỏ quan điểm một cách sòng phẳng, hơn là người ta dám bày tỏ những quan điểm ấy trong các cuộc họp hay là những cái đơn từ, xảy ra trong đời sống thực của người ta.”
Mô hình Trung Quốc
Theo một số nguồn tin khác nhau thì hiện Việt Nam có đến hơn 52 triệu tài khoản Facebook, mạng xã hội phổ biến nhất tại Việt Nam. Điều này trái ngược hẳn với Trung Quốc, nước láng giềng có cùng mô hình chính trị do đảng cộng sản độc quyền cai trị. Trung Quốc đã không cho phép các mạng xã hội nước ngoài hoạt động ở Trung Quốc, mà thành lập riêng các mạng xã hội cho riêng mình.
Khi được hỏi liệu mô hình Trung Quốc có được Việt Nam áp dụng hay không, anh Nguyễn Chí Tuyến cho biết:
“Những gì Trung Quốc làm để cai trị người dân, hay quản trị đất nước, tùy theo cách hiểu, thì phía đảng cộng sản Việt Nam đều học hỏi theo họ. Nhưng mà học là một chuyện, còn có đem về thực hiện được trên đất nước Việt Nam trong thời điểm hiện tại hay không lại là một chuyện khác.
Điều đó rất là khó đối với một đất nước như Việt Nam. Có thể là những người cầm quyền Việt Nam, đảng cộng sản Việt Nam cũng muốn làm điều đó, nhưng mà với tiềm lực và vị thế của Việt Nam, cũng như là qui mô dân số, lãnh thổ, thì họ không thế làm giống như Trung Quốc được.”
Anh Nguyễn Lâm Duy đồng ý điều này và nêu một dẫn chứng là cách đây vài năm chính phủ Việt Nam đã nổ lực thành lập một mạng xã hội riêng cho mình có tên gọi Việt Nam Go, nhưng hoàn toàn thất bại.
Ngoài ra vào năm 2013, Việt Nam cũng đưa ra một công cụ tìm kiếm trên internet với sự hợp tác với nước Nga mang tên Cốc Cốc, nhưng cho đến nay vẫn không thấy công cụ này được người Việt Nam sử dụng một cách phổ biến.
Trong thời gian gần đây, có tin từ báo chí Việt Nam nói rằng các công ty lớn từ nước ngoài như Facebook và Google đồng ý hợp tác với Chính phủ Việt Nam để ngăn chận những thông tin độc hại. Từ đó có lo lắng rằng các công ty này sẽ cho chính quyền Việt Nam kiểm soát tài khoản trên mạng xã hội của người dùng Việt Nam.
Anh Nguyễn Lâm Duy nói các công ty đó không nên làm như vậy:
Chính phủ Việt Nam, đảng cộng sản Việt Nam chưa đủ tầm để mặc cả với các công ty kia (Facebook, Google). -Anh Nguyễn Chí Tuyến.
“Những công ty như Facebook hay Google không nên đánh đổi quyền lợi của người tiêu dùng với những lợi nhuận mà họ có thể có bằng cách đạt được thỏa thuận nào đó với chính quyền, làm tổn hại đến quyền tiếp cận thông tin của khách hàng.”
Anh Nguyễn Chí Tuyến cho biết một số nhà báo nước ngoài tại Hà Nội nói với anh rằng các công ty này chưa có một thỏa thuận nào rõ ràng. Trong bài phân tích ngày 30 tháng Tám, hãng tin Reuters cũng cho rằng các áp lực của chính phủ Việt Nam lên hai công ty Facebook và Google chỉ có tác dụng một cách giới hạn, mặc dù hai công ty này từ chối không trả lời hãng tin Anh quốc về vấn đề này.
Anh Nguyễn Chí Tuyến cho rằng:
“Chính phủ Việt Nam, đảng cộng sản Việt Nam chưa đủ tầm để mặc cả với các công ty kia, như là đảng cộng sản Trung Quốc, nhà cầm quyền Trung Quốc. Cho nên họ muốn nhưng không thể thực hiện được.”
Cũng từ Trung Quốc, tin cho hay mới đây Bắc Kinh bắt buộc tất cả những người sử dụng mạng xã hội của Trung Quốc phải công khai danh tính của mình khi ghi tên sử dụng mạng xã hội. Khi được hỏi liệu điều này sẽ được Việt Nam làm theo không, anh Nguyễn Lâm Duy đáp:
“Đó là một cái luật mà Trung Quốc áp đặt lên một công ty do chính quyền kiểm soát. Tôi nghĩ là trong tương lai gần chính quyền Việt Nam có thể bắt tất cả những người dùng Facebook sử dụng tên thật trên trang mạng xã hội này, vì công ty này ở nước ngoài hoạt động trên luật pháp của nơi mà họ đóng công ty. Tôi không nghĩ rằng yêu cầu đó của Việt Nam sẽ được Facebook đáp ứng.”
Bên cạnh những điều mà hai anh Tuyến và Duy cho rằng vượt qua ngoài khả năng của Chính phủ Việt Nam trong việc kiểm soát hoặc ngăn chận mạng xã hội, Reuters còn cho biết các công ty Việt Nam có nhu cầu sử dụng mạng xã hội rất lớn trong hoạt động thương mại của họ, điều đó dẫn đến việc ngăn chận mạng xã hội tại Việt Nam là không thể được.
Một yếu tố khác nữa là chính các giới chức chính quyền cũng sử dụng mạng xã hội, xem đó như một kênh để thu thập thông tin, như hai nhà báo tại Việt Nam là Trương Duy Nhất tại Đà Nẵng, và Phạm Chí Dũng tại Sài gòn cho chúng tôi biết.
Anh Nguyễn Chí Tuyến nhận xét:
“Mặc dù họ có thể nói mạng xã hội nó làm một điều gì đó nó không tốt đẹp, hay là tác động xấu, tiêu cực đến cuộc sống con người nọ kia, nhưng họ lại theo dõi rất kỹ, mà nói theo ngôn ngữ đời thường là họ hóng, họ hóng tin tức trên mạng xã hội.”
Anh Nguyễn Lâm Duy cho biết là sau khi dự án xây dựng tượng đài hàng ngàn tỉ đồng tại tỉnh Sơn La bị chỉ trích mạnh mẽ từ mạng xã hội, nhà nước Việt Nam dường như đã dừng lại dự án này.
Theo một số nhà hoạt động xã hội thì để ngăn chận những điều bất lợi cho mình gây ra bởi mạng xã hội, chính quyền Việt nam hiện nay sử dụng biện pháp ngăn chận một cách không thường xuyên, khi có các sự kiện được xem là nhạy cảm chính trị.
Người quản trị trang Facebook mang tên Nhật ký Yêu nước, không muốn nêu danh tánh, thì nói với chúng tôi rằng việc ngăn chận mạng xã hội chỉ tạo điều kiện cho người sử dụng Việt Nam ngày càng thành thạo hơn trong việc sử dụng các công cụ vượt tường lửa mà thôi.
Ngày cận tết năm nay, tôi và các bạn đã vào bệnh viện ung bướu TP HCM để phát phiếu nhận quà. Tôi cũng đã từng thăm nuôi một người bác bị ung thư bao tử trong bệnh viện đó. Thảm cảnh trong bệnh viện ấy tôi chứng kiến khá rõ: Sự quá tải lên tới mức kinh hoàng.
Người bệnh nằm ba bốn người một giường, la liệt khắp các hành lang, chân cầu thang, thậm chí ngay gần nhà vệ sinh. Chuột cống chạy từng đàn, chí chóe. Toilet ngập ngụa nước. Tiếng khóc của trẻ nhỏ bị đau đớn sau khi vô thuốc. Những cái đầu trọc lóc do vô hóa chất. Những vết loét trên cơ thể, những con mắt lồi ra, những gương mặt biến dạng…. Thật là tận cùng của đau khổ.
Biết bao đứa trẻ, bao con người hy vọng được sống, càng gần tới cái chết khát vọng sống càng bùng lên mãnh liệt hơn bao giờ hết. Bao gia đình phải bán nhà, cầm cố ruộng vườn, vay mượn khắp nơi cứu lấy chồng mình, cứu lấy cha mình, cứu lấy con mình…. Cho dù một năm, cho dù một tháng, cho dù một tuần, người ta vẫn không thôi hy vọng nhìn người thân khỏe mạnh trở lại….
Vậy mà bộ trưởng Kim Tiến cùng đồng bọn Pharma làm giàu trên máu xương của người bệnh, trên sự sống của cả chục ngàn số phận cùng khổ nhất, đau đớn nhất, kiệt quệ nhất. Thật không thể tưởng tượng nỗi sự tàn nhẫn và vô nhân tính đó của một bè lũ mặt người dạ thú, một lũ giòi bọ đáng khinh.
Tại sao những gia đình có người thân ung thư chết không cùng nhau khởi kiện chính mụ bộ trưởng nhỉ? Hãy đòi hỏi sự công bằng cho chính mình và gia đình mình chứ. Nếu chúng ta im lặng thì mụ Kim Tiến này bị đồng bọn đạp xuống cũng sẽ có một Kim Tiến khác tàn ác hơn, trơ trẽn và vô liêm sĩ hơn xuất hiện kinh doanh trên mạng sống người dân lương thiện.