Sự sụp đổ của các nước Cộng Sản Đông Âu

Sự sụp đổ của các nước Cộng Sản Đông Âu

Phạm Văn Tuấn

Những sự kiện này bắt đầu từ Ba Lan vào năm 1989, và tiếp tục ở Hungary, Đông Đức, Bungary, Tiệp Khắc và România.

Romania là nước Đông Âu duy nhất lật đổ chế độ Cộng sản của mình bằng bạo lực

Nổi tiếng nhất là sự sụp đổ của Bức tường Berlin, biểu tượng của việc thống nhất nước Đức vào năm 1990.

Việc Liên Xô bị giải thể vào cuối năm 1991 dẫn đến kết quả là Nga và 14 quốc gia tuyên bố độc lập của khỏi Liên Xô

1- Ba Lan 

Ba Lan là một lãnh thổ bằng phẳng nằm tại miền trung của châu Âu, rộng bằng nước Mễ Tây Cơ và có dân số là 37 triệu người. Từ 1,000 năm về trước và qua thời Trung Cổ, Ba Lan đã là một vương quốc quan trọng cho tới cuối thế kỷ 18, xứ sở này đã bị xóa tên trên bản đồ, bị chia ba giữa ba cường quốc là Nga, Áo và Phổ. Nhưng rồi người dân Ba Lan đã vùng lên, giành độc lập vào năm 1918.           

Vào tháng 9-1939, đất nước Ba Lan lại bị dẫm nát bởi quân đội nước ngoài: quân đội Quốc Xã Đức tiến vào từ hướng tây và quân đội Xô Viết từ hướng đông. Ba Lan đã là bãi chiến trường, là địa điểm của rất nhiều trại tập trung mà xấu xa nhất là trại Auschwitz, chuyên việc tận diệt các kẻ chống đối, các tù binh, các người Do Thái.           

Sau Thế Chiến Thứ Hai, Ba Lan đã lấy lại được phần đất đã mất trước kia do Quốc Xã Đức chiếm, nhưng từ năm 1948, các người cộng sản đã nắm được chính quyền, tạo nên một thể chế cộng sản theo kiểu mẫu Liên Xô. Tới năm 1956, không lâu sau khi ông Nikita Khrushchev tố cáo các tội ác khủng khiếp của Stalin, do tinh thần quốc gia tiềm ẩn, do lòng bất khuất và do nỗi bất mãn về kinh tế, người dân Ba Lan đã nổi dậy tại tỉnh Poznan. Các bạo loạn trong xứ đã làm cho Bộ Chính Trị phải thay đổi và ông Wladyslaw Gomulka được đưa ra lãnh đạo Đảng. Ông Gomulka liền bỏ chương trình tập thể hóa các nông trại, cho nới lỏng một số luật lệ và cải thiện liên lạc với Nhà Thờ Công Giáo. Nhưng trong cuộc nổi dậy của các công nhân tại Gdansk vào tháng 12-1970, các công nhân này đã bị đàn áp một cách tàn nhẫn, ít nhất có 44 người bị giết. Ông Gomulka sau đó bị thay thế bởi ông Edward Gierek, một người tìm cách hòa hoãn với khối tây phương. Nhưng tình trạng kinh tế tuột dốc đã gây nên nhiều làn sóng phản đối mới vào năm 1976.

            Năm 1978, người dân Ba Lan lại vui mừng vì vị Tổng Giám Mục miền Cracow trở nên Đức Giáo Hoàng John Paul II. Sự kiện này đã đóng một vai trò gián tiếp trong việc khai tử chế độ Cộng Sản tại Đông Âu bởi vì trong các năm dài sống dưới chế độ cộng sản, người dân Ba Lan vẫn duy trì niềm tin Công Giáo Catholic, họ lấy lại can đảm để đương đầu với các kẻ cầm quyền độc ác.

Ngày 14 tháng 8 năm 1980, Công Đoàn Đoàn Kết (Solidarity Trade Union) ra đời và ông Lech Walesa, một người thợ điện, là lãnh tụ của phong trào đòi Dân Chủ cho đất nước Ba Lan. Hoạt động của Công Đoàn kể trên đã chấm dứt sự nghiệp chính trị của ông Edward Gierek và ông Wojciech Jaruzelski thay thế. 15 tháng phát triển của Công Đoàn Đoàn Kết cũng là “điềm báo tử” cho chế độ Cộng Sản tại Ba Lan. Với số đoàn viên lên tới 10 triệu, Công Đoàn Đoàn Kết đã là một tổ chức có thực lực để đòi hỏi các cuộc bầu cử tự do và một chính quyền hợp pháp không cộng sản. Vào ngày 13-12-1981, dưới áp lực của Liên Xô lúc đó do ông Leonid Brezhnev lãnh đạo, Tướng Jaruzelski phải công bố tình trạng quân luật, giải tán Công Đoàn Đoàn Kết, bắt giam các lãnh tụ và các người hoạt động cho Công Đoàn, ra lệnh hủy bỏ mọi hình thức cởi mở mới được ban hành, tuy nhiên những mệnh lệnh này chưa thực sự tiêu diệt được Công Đoàn Đoàn Kết.

            Khi ông Mikhail S. Gorbachev lên nắm quyền tại Liên Xô, khi các áp lực Xô Viết tại Ba Lan giảm đi, Công Đoàn Đoàn Kết đã lấy lại được khí thế cũ. Mùa xuân năm 1989, Công Đoàn đã được chính thức công nhận và đã thắng gần hết các ghế đại biểu trong các cuộc bầu cử.

Tháng 8-1989, Ba Lan là nước đầu tiên có một thủ tướng không cộng sản kể từ năm 1948, đó là ông Tadeusz Mazowiecki, một nhà trí thức Catholic và cũng là một người bạn thân của ông Lech Walesa. Chính phủ mới này tập trung vào việc cải tổ kinh tế nên đã đưa ra nhiều biện pháp khắc khổ để khắc phục nạn lạm phát và đưa đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường. Tới mùa hè năm 1990, sau khi các người cộng sản bị gạt sang một bên rồi, nội bộ của Công Đoàn Đoàn Kết lại bị tách ra làm hai: phe khuynh hữu với ông Lech Walesa và phe khuynh tả với ông Mazowiecki nhưng cuối cùng ông Lech Walesa đã thắng trong cuộc bầu cử Tổng Thống năm 1990.

            Vào tháng 10 năm 1991 là cuộc bầu cử Quốc Hội tự do đầu tiên nhưng trong các năm sau, nước Ba Lan đã có rất nhiều đảng phái, có 5 thủ tướng, gặp nạn lạm phát và cảnh thất nghiệp cao, hàng ngàn nông trại trên bờ phá sản. 

2- Đông Đức

Nước Đức là quốc gia giàu có và đông dân nhất châu Âu, hiện nay gồm 77.5 triệu người. Nước Đức có lịch sử chính trị từ thời Vua Charlemagne, giống như nước Pháp, nhưng các lãnh địa đã bị chia rẽ và chỉ hợp lại thành một quốc gia thống nhất vào năm 1871. Sau đó Thủ Tướng Otto Bismark và các nhà lãnh đạo khác đã cố công theo đuổi các chính sách bành trướng lãnh thổ, dẫn tới Thế Chiến Thứ Nhất vào năm 1914. Sau khi thất trận, nước Đức lại cố gắng vươn lên rồi dân tộc Đức vì bị thất vọng về kinh tế suy kém, đã trông nhờ vào nhà độc tài Adolf Hitler.

Vào năm 1945, nước Đức Quốc Xã thất trận nên lãnh thổ Đức bị phân chia thành bốn khu vực chiếm đóng bởi Hoa Kỳ, Anh, Pháp và Liên Xô. Ba khu vực phia tây được phối hợp lại năm 1949 thành nước Cộng Hòa Liên Bang Đức hay nước Tây Đức rồi không lâu sau đó, Liên Xô cũng tạo nên nước Cộng Hòa Dân Chủ Đức (the German Democratic Republic) hay còn gọi là nước Đông Đức.

            Trong nửa thời gian đầu, Đông Đức ở dưới quyền cai trị cứng dắn của ông Walter Ulbricht, với đường lối thù nghịch Tây Đức và cao điểm của sự đối đầu là việc xây dựng nên Bức Tường Bá Linh. Vào nửa giai đoạn sau dưới quyền của ông Erich Honecker, Đông Đức đã dịu bớt sự căng thẳng vì chính sách hòa hoãn “Ostpolitik” giữa hai miền nước Đức của ông Willy Brandt.

            Giống như nước Đức bị chia cắt vào năm 1949, thành phố Bá Linh cũng bị phân chia và một khu vực của thành phố này thuộc về Đông Đức. Tuy nhiên, đường ranh giữa hai khu vực Đông và Tây Bá Linh vẫn là khe hở của Tấm Màn Sắt và các người sống dưới chế độ cộng sản Đông Đức thường trốn qua Tây Đức bằng khe hở này. Ngày 13 tháng 8 năm 1961, để chặn đứng những người vượt biên, chính quyền Đông Đức đã cho dựng nên Bức Tường ngăn cách Đông và Tây thành phố Bá Linh. Tại bức tường cao xây bằng bê-tông trên có hàng rào kẽm gai này, binh lính Đông Đức được lệnh bắn bỏ những người tìm cách leo qua tường, tìm tự do. Theo ước lượng vào năm 1992, đã có hơn 200 người dân Đông Đức bị bắn chết.

            Tại Đông Đức về kinh tế, người dân giàu có hơn tất cả các dân tộc theo xã hội chủ nghĩa khác, nhưng họ vẫn bất mãn khi so sánh với mức sống của người dân anh em Tây Đức, bất mãn khi không được phép đi ra nước ngoài. Vào mùa hè năm 1989, hàng ngàn người Đông Đức đã vượt sang nước Hungari và tràn vào các tòa đại sứ của Tây Đức tại hai thành phố Prague và Warsaw. Hàng triệu người trên thế giới đã chứng kiến cảnh tượng này trên màn ảnh vô tuyến truyền hình: đây là cảnh “bỏ phiếu bằng chân” của những người sống trong chế độ cộng sản! Tới tháng 9-1989, số người biểu tình tại các thành phố của Đông Đức đã gia tăng rất cao, họ hát câu “chúng tôi muốn ở lại” và đòi hỏi chính quyền cộng sản phải thay đổi đường lối cai trị. Ông Erich Honecker vì thế phải từ chức, thay thế bằng ông Egon Krenz và các nhà lãnh đạo Đông Đức phải ra lệnh mở Bức Tường Bá Linh. Trong vài ngày, hàng triệu người dân Đông Đức đã vượt qua khu Tây Bá Linh. Một câu chuyện vui kể lại rằng khi ông Erich Honecker tỉnh dậy, thấy khu Đông Bá Linh không còn bóng người nhưng vẫn còn thắp đèn sáng, ông bèn tới Bức Tường Bá Linh và thấy một mẩu giấy ghi rõ câu : “ai đi sau cùng nhớ tắt đèn”.

            Kể từ khi ông Egon Krenz quản trị Đông Đức, xứ sở này trong nhiều tháng vẫn chìm vào trong các rối loạn chính trị. Tháng 3 năm 1990, đã có các cuộc bầu cử tự do đầu tiên và Công Đoàn Dân Chủ Thiên Chúa Giáo (the Christian Democratic Union), một đảng phái mới được thành lập của những người Dân Chủ Thiên Chúa Giáo Tây Đức, đã chiếm được 41% số phiếu. Trong khi đó tại Tây Đức, Thủ Tướng Helmut Kohl không ngừng theo đuổi chương trình thống nhất nước Đức vì vậy vào tháng 3-1990, tại thành phố Bonn đã diễn ra các cuộc thảo luận “Hai cộng Bốn”, gồm 2 nước Đông và Tây Đức với 4 nước chiến thắng trong Thế Chiến Thứ Hai là Hoa Kỳ, Anh, Pháp và Liên Xô rồi vào ngày 12-9-1990, cả 6 nước kể trên đã ký tên vào “Hiệp Ước ổn định cuối cùng đối với nước Đức” (the Final Settlement with Respect to Germany) và sự kiện này chính thức chấm dứt Thế Chiến Thứ Hai.

            Hiệp ước Ổn Định kể trên đã mở đường cho việc thống nhất nước Đức, và bắt đầu từ nửa đêm ngày 2-10-1990, nước Đông Đức không còn hiện hữu nữa mà trở thành 5 tiểu bang mới của Cộng Hòa Liên Bang Đức.

            Kể từ ngày thành lập 7-10-1949, xứ sở cộng sản Đông Đức với dân số 16 triệu người và diện tích bằng tiểu bang Tennessee, với tên gọi là Cộng Hòa Dân Chủ Đức, đã cáo chung sau khi tồn tại được 40 năm và 360 ngày! 

3- Tiệp Khắc

Tiệp Khắc là quốc gia nằm giữa châu Âu, gồm ba xứ hợp lại là Bohemia, Moravia và Slovakia. Từ nhiều thế kỷ, Tiệp Khắc vẫn theo đuổi nền dân chủ cho tới khi bị Đức Quốc Xã tấn công vào năm 1938. Sau khi nước Đức bị thua trận, một chính quyền Cộng sản theo Stalin được thiết lập tại Tiệp Khắc từ tháng 2-1948 tới đầu thập niên 1960. Vào lúc này và do nền kinh tế suy sụp, các người cầm quyền cộng sản đã tìm cách cải tổ kinh tế và nới lỏng các kiểm soát chính trị. Tiến trình cải cách đã đi tới cao điểm gọi là “Mùa Xuân Praha” (the Prague Spring) của năm 1968 do nhân vật cộng sản cải cách lãnh đạo tên là Alexander Dubcek.

Ông Alexander Dubcek (1921-92) chào đời vài tháng sau khi cha mẹ của ông từ thành phố Chicago, Hoa Kỳ, trở về xứ Slovakia. Ông Dubcek đã trải qua tuổi trẻ tại Liên Xô. Đầu năm 1968, ông Dubcek công bố một chương trình cải tiến gọi là “Xã Hội Chủ Nghĩa với bộ mặt con người” (Socialism with a human face). Trong thời gian 8 tháng dễ thở này, từ tháng 1 tới ngày 20-8-1968, ông Dubcek là hình ảnh của hy vọng cho người dân Tiệp Khắc. Liên Xô, dưới quyền lãnh đạo của ông Leonid Brezhnev, coi các cải tiến tại Tiệp Khắc là “quá nguy hiểm” cho thể chế cộng sản, nên đã đàn áp phong trào “Mùa Xuân Praha” bằng 500,000 quân thuộc Minh Ước Warsaw (the Warsaw Pact).

            Warsaw là liên minh quân sự được thành lập năm 1955 để đối đầu với khối Nato. Các thành phần ban đầu của Minh Ước Warsaw gồm 8 nước: Tiệp Khắc, Đông Đức, Ba Lan, Hungari, Romania, Bulgaria, Albania và Liên Xô. Hành động quân sự duy nhất của liên minh này là cuộc xâm lăng Tiệp Khắc vào tháng 8-1968 trong đó Romania không tham gia. Vào đầu thập niên 1960, nước Albania không tham dự vào liên minh Warsaw rồi chính thức rút lui vào năm 1968. Minh Ước Warsaw bị giải thể vào tháng 7-1991.

            Năm 1987, khi bị hỏi về sự khác biệt giữa “Mùa Xuân Praha” của ông Dubcek và các chương trình “Glasnost” và “Perestroika” của ông Gorbachev, người phát ngôn thuộc Bộ Ngoại Giao Liên Xô đã trả lời rằng: “19 năm”!

            Sau khi ông Alexander Dubcek bị bắt về giam tại Liên Xô và phong trào “Mùa Xuân Praha” bị dẹp tan, một nhân vật cộng sản cứng dắn mới lên nắm quyền tại Tiệp Khắc, đó là ông Gustav Husak. Từ nay, tất cả những người có khuynh hướng cải tiến đều bị thanh trừng, hầu như mọi người dân Tiệp Khắc đều thu mình lại để được an toàn, thế nhưng vẫn còn một số ít người rất can đảm, cả nam lẫn nữ, đã tập hợp lại một cách lỏng lẻo để tạo nên một nhóm chống đối các kẻ đàn áp: “Nhóm Hiến Chương 77” (The Charter 77).

            Vào khoảng đầu tháng 1 năm 1977, một nhóm 242 người bất đồng chính kiến gốc Tiệp và Slovak, đã họp lại và ký tên vào một bản Tuyên Ngôn (manifesto) qua đó họ liệt kê các đòi hỏi căn bản về Nhân Quyền (basic human rights). Mặc dù đã được viết bằng những từ ngữ thận trọng, bản Hiến Chương 77 đã gây nên các hành động giận dữ của chính quyền Cộng Sản Tiệp Khắc: các người ký tên trong đó có ông Vaclav Havel, đều bị bắt, bị lưu đầy, bị xách nhiễu nhưng những nhân vật anh hùng này đã là hạt nhân cho phong trào phản kháng 12 năm về sau tại Tiệp Khắc.

            20 năm sau ngày quân đội của Hiệp Ước Warsaw xâm lăng Tiệp Khắc, đã có vào khoảng 20,000 người biểu tình đòi dân chủ, chống lại chế độ Cộng Sản vào ngày 21-8-1988 trước sự ngỡ ngàng của công an và đảng cộng sản cầm quyền. Đây là cuộc phản đối lớn nhất kể từ năm 1969 và cảnh sát đã phải dùng hơi cay để giải tán, 400 người bị bắt.

Tại thành phố Prague, cuộc biểu tình phản đối đã diễn ra từ ngày 15 tới ngày 20-1-1989 và cảnh sát cộng sản đã phải dùng dùi cui, hơi cay, vòi nước và chó dữ để dẹp biểu tình. Trong số người bị bắt lại có ông Vaclav Havel. Ngày 21-2, ông Havel bị tuyên án 8 tháng tù vì có hành vi “chống nhà nước và xã hội chủ nghĩa”. Nhiều người bất đồng chính kiến khác cũng bị tuyên án tương tự. Rồi 2,000 thanh niên đã tham gia biểu tình đòi dân chủ vào ngày 1-5-89, họ cũng bị đàn áp. Tới ngày 17-5-89, ông Havel được thả khỏi nhà tù vì đã “học tập tốt” theo lời của chính quyền cộng sản, nhưng thực ra là do sự chỉ trích của khối Tây Phương. Rồi 35,000 người bất đồng chính kiến, phản đối chế độ Cộng Sản, đòi hỏi Dân Chủ, đã ký tên vào một thỉnh nguyện thư yêu cầu phải “thay đổi tận gốc không khí xã hội và chính trị”.

            Các biểu tình phản kháng vẫn tiếp tục diễn ra tại Prague vào các ngày 28-8, 17-11, 20-11, 27-11-1989 rồi tới ngày 29-11, chính quyền cộng sản phải công nhận hủy bỏ vai trò lãnh đạo của đảng Cộng Sản. Ngày 10-12-1989, một chính quyền liên bang mới được thành lập và chủ tịch Husak từ chức. Ông Alexander Dubcek được bầu làm chủ tịch của Quốc Hội Liên Bang ngày 28-12 rồi ngày hôm sau, ông Vaclav Havel được bầu làm Tổng Thống của nước cộng hòa.

            Ông Havel đã thăm viếng Moscow vào hai ngày 26, 27-2-1990 và ký với ông Gorbachev một thỏa ước theo đó 73,500 quân Xô Viết phải rút khỏi Tiệp Khắc vào tháng 7 năm 1991. Nước Tiệp Khắc vào giai đoạn này đã gặp rất nhiều vấn đề khó giải quyết, chẳng hạn làm sao loại bỏ “giới cầm quyền cũ Nomenclatura” (nhóm cựu đảng viên C.S.)  ra khỏi các chức vụ cao, làm sao tháo gỡ được hệ thống kinh tế chỉ huy phức tạp và nặng nề và làm sao giải quyết êm đẹp các căng thẳng quốc gia với xứ Slovakia, rồi cuối cùng, nước Tiệp Khắc bị chia làm hai xứ riêng rẽ vào tháng 1-1993: đó là hai nước cộng hòa Tiệp (Czech) và Slovak

4 . Hungari              

Hungari là một quốc gia tại miền trung của châu Âu với diện tích nhỏ hơn tiểu bang Indiana và dân số 10 triệu người. Người Hungari có nguồn gốc từ bộ lạc du mục thiện chiến Magyar, từ châu Á tới châu Âu vào thế kỷ thứ 9 để rồi lập nên một vương quốc quan trọng. Khi đế quốc Áo-Hung bành trướng vào thế kỷ 19, Hungari là một miền đất tự trị, phát triển cho tới cuối Thế Chiến thứ nhất, khi đó hai phần ba diện tích bị cắt xén thành nước Tiệp Khắc, một phần của Nam Tư và một phần của Romania. Ngày nay, những người dân gốc Hungari vẫn còn sinh sống tại các quốc gia kể trên và đông đảo nhất tại vùng Transylvania thuộc nước Romania.              

Vào thập niên 1930, nhà độc tài Adolf Hitler đã hứa sẽ trả lại các miền đất mà Hungari bị mất vì Hiệp Ước Trianon, cho nên vào năm 1941, Hungari đã giúp Hitler tấn công Nam Tư và tham gia vào khối Trục. Tới năm 1943, Hitler không coi Hungari là một nước đồng minh, đã chiếm đóng nước này vào tháng 3-1944 rồi sau đó, nửa triệu người Do Thái sinh sống tại Hungari đã bị chở tới các trại tập trung đặt trên nước Đức và bị giết trong các phòng hơi ngạt.              

Sau khi Đức Quốc Xã thua trận, các người cộng sản Hungari đã chiếm chính quyền với sự giúp đỡ của quân đội Liên Xô. Ông Mathias Rakosi là lãnh tụ đảng Cộng Sản và cũng là người đứng đầu chính quyền Hungari, đã cai trị xứ sở này như một nhà độc tài. Chính sách cai trị khắc nghiệt của ông Rakosi đã khiến cho nền kinh tế Hungari đi dần tới chỗ kiệt quệ và dân chúng đều bất mãn.  

Năm 1953, ông Imre Nagy làm Thủ Tướng, Rakosi làm chủ tịch đảng Cộng Sản. Ông Nagy đã nới lỏng các kiểm soát, cho dân chúng Hungari đôi phần tự do hơn để cải thiện đời sống nhưng các cải tiến này đã bị ông Rakosi và các đảng viên cộng sản khác chống đối. Ông Nagy bị loại khỏi chính quyền và bị khai trừ khỏi đảng vào năm 1955. Các chính sách khắc nghiệt của ông Rakosi một lần nữa lại được áp đặt lên xứ sở Hungari khiến cho các thanh niên, các nhà văn… đều phản đối, nhất là về phạm vi nhân quyền và tự do tư tưởng, vì thế ông Rakosi bị loại khỏi chức vụ chủ tịch đảng Cộng Sản vào giữa năm 1956 nhưng các chính sách khắc nghiệt vẫn còn được duy trì khiến cho đã xẩy ra một cuộc nổi dậy, chống đối, tại thành phố Budapest.  

Cuộc cách mạng này đã lan ra khắp nước Hungari. Nhân dịp này nhiều tù nhân chính trị đã được trả tự do trong đó có cha Joseph Cardinal Mindszenty là người đứng đầu nhà thờ công giáo Catholic tại Hungari, đã bị giam cầm từ năm 1949. Cuộc nổi dậy của người dân Hungari đã khiến cho ông Imre Nagy lại trở nên Thủ Tướng và ông Nagy đã tuyên bố Hungari là một quốc gia trung lập, nhưng chính quyền này chỉ tồn tại được vài ngày, vì vào tháng 11 năm đó, quân đội Liên Xô đã tràn vào nước Hungari, đàn áp cuộc cách mạng. Số người bị giết trong cuộc tàn sát này từ 6,500 tới 32,000 người. Khoảng 250 người tích cực trong cuộc cách mạng kể trên, kể cả ông Imre Nagy, đã bị Liên Xô hành quyết vào năm 1958. 200,000 người Hungari đã bỏ xứ, chạy trốn.              

 Sau cuộc Cách Mạng năm 1956, Liên Xô đã kiểm soát chặt chẽ xứ Hungari và ông Janos Kadar là lãnh tụ đảng Cộng Sản mới, lãnh chức Thủ Tướng từ năm 1956 tới 1958 rồi từ năm 1961 tới 1965. Vào thập niên 1960, ông Kadar đã nới lỏng các kiểm soát về kinh tế, văn hóa và xã hội khiến cho chế độ cộng sản Hungari được coi là tiến bộ nhất. Năm 1987, ông Karoly Grosz được chọn làm Thủ Tướng rồi làm lãnh tụ đảng, thay thế ông Kadar. Vào cuối thập niên 1980 này, quyền lực của đảng Cộng Sản Hungari bị suy giảm, các đảng phái khác bắt đầu hoạt động trở lại. Vào tháng 6-1989, đảng Cộng Sản Hungari phải thảo luận với các đảng phái đối lập. Họ đã xét lại cuộc cách mạng năm 1956 và tuyên bố rằng vụ xét xử ông Imre Nagy và các đồng chí vào năm đó bị coi là bất hợp pháp và cuộc nổi dậy năm 1956 không bị coi là “phản cách mạng”. Ông Nagy và các đồng chí cũ được phục hồi danh dự và chôn cất long trọng vào tháng 6-1989.              

Mùa hè năm 1989, Hungari đã mở cửa biên giới với nước Áo khiến cho hàng ngàn người Đông Đức đã tràn qua các nước tây phương. Ngày 10-3-1990, Hungari đã ký với Liên Xô một thỏa ước về rút toàn bộ 52,000 quân Xô Viết ra khỏi lãnh thổ Hungari vào tháng 7-1991và xứ sở này chuyển sang chính thể dân chủ đa đảng, có Quốc Hội và Tổng Thống. Đảng Cộng Sản Hungari mặc dù đã cải tổ nội bộ, kể từ tháng 4-1990 chỉ chiếm được 11 % số phiếu bầu. Cũng từ năm 1990, Hungari đã theo đuổi các chính sách cải tổ kinh tế, tư hữu các xí nghiệp và trả lại đất đai cho nông dân.   
 

5. Albania             

Albania là quốc gia nghèo nhất của châu Âu, có diện tích vào khoảng tiểu bang Alabama với dân số hơn 3 triệu người. Albania tiếp giáp với các nước Nam Tư, Macedonia, Hy Lạp và biển Adriatic.              

Qua nhiều thế kỷ bị nước ngoài đô hộ, người dân Albania vẫn giữ được bản tính dân tộc nên đã giành được độc lập vào năm 1920 rồi tới Thế Chiến Thứ Hai, quốc gia nhỏ bé này bị Phát Xít Ý xâm lăng vào tháng 4-1939, rồi bị sát nhập vào nước Ý. Trong thời kỳ Thế Chiến Thứ Hai, có ba lực lượng kháng chiến chính trong xứ Albania: a) tổ chức Cộng Sản gọi là Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia NLF (the National Liberation Front) do Enver Hoxha lãnh đạo, b) lực lượng bảo hoàng gọi là Phong Trào Hợp Pháp (Legality) do Abas Kupi điều khiển, c) phong trào quốc gia gọi tên là Balli Kombetar do Midhat Frasheri chủ trương. Cả ba nhóm quân sự này vừa đánh quân đội Đức Quốc Xã chiếm đóng, vừa đánh lẫn nhau.              

Năm 1944, lực lượng Đức Quốc Xã bị đánh bật ra khỏi Albania và các người Cộng Sản kiểm soát được đất nước. Ông Hoxha đã thiết lập nên tại Tirana một chính quyền cộng sản và lãnh đạo đất nước với chức vụ Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản từ năm 1953. Ông Enver Hoxha (1908-1985), đã cai trị xứ Albania cho tới khi chết. Ông ta ủng hộ các chính sách của Joseph Stalin, nhà độc tài của Liên Xô. Từ nay, mọi ruộng đất đều bị tập trung thành các nông trại tập thể, các người chống đối đều bị cầm tù, các tài sản tư nhân bị tịch thu, mọi cơ sở tôn giáo đều bị đóng cửa, các hoạt động văn hóa và trí thức đều phải theo đường lối xã hội chủ nghĩa. Ông Hoxha đã cô lập xứ Albania, không cho giao tiếp với các quốc gia khác. Chính sách giới hạn mọi tự do cá nhân tại Albania đã khiến cho xứ sở này trở thành quốc gia nghèo đói nhất châu Âu, trong khi đó các đảng viên cộng sản vẫn tự hào rằng Albania là quốc gia duy nhất trên thế giới theo đúng các giáo điều Mác Xít Lê Nin Nít!              

Khi Albania giành được độc lập vào năm 1944, đảng Cộng Sản Nam Tư đã giúp đỡ các đảng viên cộng sản Albania tổ chức lại Mặt Trận Giải Phóng NLF nhưng tới năm 1948, sự rạn nứt đã xẩy ra giữa Nam Tư và Liên Xô khiến cho Nam Tư bị trục xuất khỏi Khối Cominform, một tổ chức gồm các đảng cộng sản châu Âu do Liên Xô lãnh đạo. Vào lúc này, Albania theo Liên Xô nên đã tuyệt giao với Nam Tư.              

Vào đầu thập niên 1960, đã xẩy ra một dạn nứt khác giữa Liên xô và Trung Cộng do khác biệt về cách giảng giải các giáo điều Cộng sản. Trung Cộng đả phá Liên Xô vì đã tìm cách sống chung với các quốc gia tây phương và Albania ủng hộ lập trường của Trung Cộng. Vào năm 1961, Albania đoạn giao với Liên Xô. Từ đó Trung Cộng cung cấp mọi trợ giúp cho Albania kể cả trợ giúp kỹ thuật. Tới cuối thập niên 1970, các nhà lãnh đạo cộng sản Albania lại chỉ trích Trung Cộng là đã không theo đúng các giáo điều Cộng Sản, đã liên lạc với Nam Tư và Hoa Kỳ. Trung Cộng bèn phản ứng lại bằng cách cắt hết viện trợ cho Albania.              

Năm 1985, ông Enver Hoxha chết sau khi đã cai trị Albania hơn 40 năm, đã bắt mọi người dân Albania phải thành kính tôn sùng lãnh tụ. Ông Ramiz Alia, nguyên là chủ tịch nước từ năm 1982, đã kế tiếp ông Hoxha làm Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản.              

Từ năm 1989, vì các quốc gia cộng sản Đông Âu bắt đầu tan rã nên xứ Albania cũng bị ảnh hưởng. Các cuộc biểu tình đã xẩy ra tại thủ đô Tirana, một sự việc không hề có trong 46 năm trường, một phần là do sự giảm bớt bóp nghẹt của cơ quan công an mật vụ Sigurimi. Vào mùa xuân năm 1990, chủ tịch Ramiz Alia công bố một chương trình “dân chủ hóa”, cho phép nông dân được quyền canh tác trên các mảnh đất tư hữu, chấp nhận việc du lịch ra nước ngoài và cho phép dân chúng thực hành tôn giáo tại gia đình. Một cải tiến khác của Albania là trả tiền thưởng cho các công nhân làm việc chăm chỉ, để sản xuất ra nhiều mặt hàng hơn. Thế nhưng, những cải cách này chưa thực sự mang lại các kết quả tốt.  

Vào tháng 7-1990, 5,000 người Albania đã xuống đường, phản đối chính quyền Cộng Sản, đập phá các tòa đại sứ để yêu cầu được ra các nước ngoài. Nhiều người liều mạng băng qua biên giới Nam Tư và Hy Lạp mà không có giấy tờ, để tìm tự do và tránh các hiểm nghèo kinh tế. Các xáo trộn vẫn tiếp tục tới cuối năm 1990 khiến cho đảng cộng sản cầm quyền phải đồng ý để các đảng phái chính trị khác tham gia vào các cuộc bầu cử đa đảng, diễn ra vào tháng 3-1991. Sau cuộc bầu cử này, đảng cộng sản thắng nhiều phiếu bởi vì các lực lượng đối lập đã không được tổ chức cẩn thận. Các bạo loạn chống cộng sản vẫn diễn ra tại Albania khiến cho một chính phủ mới được thành lập, bao gồm bên trong 9 nhân vật độc lập.  

Cuộc bầu cử kế tiếp diễn ra vào tháng 3-1992 và lần này, Đảng Dân Chủ Albania đối lập (the Albanian Democratic Party) đã thắng lớn trên toàn quốc. Ông Sali Berisha, một y sĩ giải phẫu tim, 47 tuổi, trở nên Tổng Thống không cộng sản đầu tiên vào tháng 4-1992. Sau khi trở thành nhà lãnh đạo của xứ Albania, ông Sali Berisha đã thực hiện nhiều chuyến công du ra các nước ngoài để xin trợ giúp, ngõ hầu ổn định xứ sở Albania quá nghèo đói.    

6. Bulgaria              

Bulgaria là một quốc gia thuộc vùng Balkan, lãnh thổ nhiều đồi núi này có diện tích vào khoảng tiểu bang Tennessee và dân số 9 triệu người, tiếp giáp với các nước Hy Lạp và Thổ Nhĩ kỳ ở phía nam, Nam Tư và Macedonia ở phía tây, Romania ở phía bắc và Biển Đen (the Black Sea) ở phía đông. Thủ đô của Bulgaria là thành phố Sofia, được người La Mã xây dựng nên vào thế kỷ thứ 2. Người Bulgaria có nguồn gốc pha trộn của các bộ lạc Slavic và Bulgars, và bộ lạc sau này từ Trung Á tới xâm chiếm bán đảo Balkan vào thế kỷ thứ 9. Bulgaria bị cai trị bởi các người nước khác và cuối cùng bị chinh phục bởi đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman. Năm 1878, nước Bulgaria giành được độc lập nhờ sự trợ giúp của người Nga vì thế người Bulgaria thường có thiện cảm với dân Nga.              

Năm 1912, với hy vọng giành lại miền đất đã mất vì Hiệp Ước Berlin, Bulgaria cùng với các nước khác thuộc vùng Balkan tham gia vào trận chiến đánh đuổi quân đội Ottoman ra khỏi châu Âu và đây là Cuộc Chiến Balkan thứ nhất. Sau khi Thổ Nhĩ Kỳ thua trận, các nước chiến thắng lại tranh chấp nhau và vào năm 1913, Bulgaria tấn công Serbia và Hy Lạp trong Cuộc Chiến Balkan thứ hai. Vì bị thua trong cuộc chiến này, Bulgaria bị mất phần đất đã giành được trong cuộc chiến trước.              

Trong Thế Chiến Thứ Nhất, Bulgaria đứng về phe Đức vì hy vọng chiếm lại các phần đất đã mất nhưng đã thất bại. Tới Thế Chiến Thứ Hai, Bulgaria là đồng minh của Đức và Ý. Ngày 8-9-1944, quân đội Liên Xô xâm chiếm Bulgaria và các người cộng sản đã giành được chính quyền. Từ đây, các người dân bị phe cộng sản coi là chống đối đã bị giết, bị gửi đi các trại tù cải tạo, quyền tư hữu của dân chúng bị hủy bỏ, mọi tự do trong xứ bị giới hạn. Năm 1946, lãnh tụ cộng sản Georgi Dimitrov trở nên nhà cai trị xứ Bulgaria. Năm 1947, Bulgaria phê chuẩn Hiến Pháp giống như Hiến Pháp của Liên Xô rồi tới năm sau, 1948, các người cộng sản kiểm soát được hoàn toàn đất nước này. Ông Dimitrov chết vào năm 1949, năm sau ông Vulko Chervenkov lên nắm quyền. Từ năm 1950, nền kỹ nghệ của Bulgaria đã gia tăng nhưng mực sống của người dân xuống thấp dần.              

Năm 1954, ông Todor Zhivkov (1911-   ) trở nên lãnh tụ đảng Cộng Sản và đã cầm quyền từ năm này tới tháng 11-1989. Trong số các lãnh tụ cộng sản Đông Âu, ông Zhivkov là kẻ tham quyền cố vị lâu thứ hai, chỉ đứng sau ông Enver Hoxha của xứ Albania. Ông Zhivkov là lãnh tụ cộng sản đầu tiên bị xét xử công khai vào tháng 9-1992 vì lạm quyền và thâm lạm của công rồi bị kết án 7 năm tù quản thúc. Hai lãnh tụ khác là ông Nicolae Ceausescu bị xử bắn ngay sau một phiên tòa quân sự vào năm 1989 và ông Erich Honecker, cựu chủ tịch Đông Đức, bị kết án vào cuối năm 1992.              

Vào năm 1962, ông Zhivkov trở nên chủ tịch nước Bulgaria, đã theo đường lối thân Liên Xô. Trong thời gian Bulgaria sống dưới chế độ cộng sản, người dân phải chịu đựng mọi thiếu thốn về các nhu yếu phẩm căn bản và các dịch vụ sơ đẳng, khiến cho một số nhân viên chính quyền cộng sản cũng phải căm hờn đường lối bóp nghẹt của Liên Xô. Năm 1965, ông Zhivkov thoát nạn sau một cuộc đảo chính quân sự không thành.              

Tới cuối thập niên 1980, các chính sách cởi mở tại Liên Xô đã ảnh hưởng đến xứ Bulgaria. Vào tháng 10-1989, các nhóm phản đối chính quyền cộng sản đã xuất hiện tại thành phố Sofia nhân một cuộc hội nghị quốc tế về môi trường được tổ chức tại đây, bởi vì sự hiện diện của một số đại biểu ngoại quốc đã khiến cho giới cấm quyền cộng sản phải nhẹ tay trong việc đàn áp. Rồi tới ngày 3-11 năm đó, 4,000 người đã biểu tình trước Quốc Hội, đây là cuộc phản kháng lớn nhất kể từ năm 1947.              

Người dân trong nước Bulgaria đã biểu tình phản đối chính quyền cộng sản Zhivkov, đòi hỏi dân chủ và một số tự do căn bản. Cuộc phản kháng đã bắt đầu từ bên trong nội bộ đảng Cộng Sản, do Bộ Trưởng Ngoại Giao là ông Petar Mladenov. Do áp lực từ Liên Xô, ông Zhivkov phải rút lui khỏi chính quyền vào tháng 11-1989 và ông Mladenov trở nên chủ tịch đảng và chủ tịch nước.  

Từ tháng 1-1990, do các bất mãn từ dân chúng, đảng Cộng Sản bị bớt dần độc quyền và chịu chấp nhận hệ thống chính trị đa đảng. Tháng 4 năm đó, đảng Cộng Sản Bulgaria đổi tên thành Đảng Xã Hội rồi cũng vào tháng 4, Quốc Hội bầu lại ông Mladenov làm chủ tịch nước. Tháng 6-1990, các cuộc bầu cử tự do, đa đảng, được tổ chức lần đầu tiên tại Bulgaria sau 44 năm. Đảng Xã Hội đã chiếm được nhiều phiếu nhất, sau đó là đảng Liên Hiệp Các Lực Lượng Dân Chủ UDF (Union of Democratic Forces). Tới tháng 7, các sinh viên lại biểu tình, phản đối ông Mladenov, họ dựng nên các căn lều trong “Vùng Không Cộng Sản” (a Communist free zone) thuộc thành phố Sofia. Tháng 8-1990, ông Zhelyu Zhelev thuộc lực lượng UDF được Quốc Hội bầu làm Tổng Thống xứ Bulgaria và đây là vị nguyên thủ loại “không cộng sản” đầu tiên, kể từ năm 1944. Từ năm 1991, đảng Cộng Sản Bulgaria tự hủy diệt dần dần.   

Nguồn bài đăng

Bước đường cùng!

Bước đường cùng!

Tạp ghi Huy Phương

August 20, 2017

Một người homeless ở góc đường Bolsa- Brookhurst, Little Saigon. (Hình Huy Phương)

“Đoạn trường ai có qua cầu mới hay!”(Kiều)

Một đài phát thanh địa phương vừa mở ra chương trình hội thoại với gợi ý “hiện nay, vùng Little Saigon nhếch nhác vì có quá nhiều người không nhà mang bảng “homeless” đứng ở các góc đường, như vậy có nên cho tiền những người này không?”

Khoảng 80% thính giả gọi vào đều lên án những người này là chây lười, hút xách, cờ bạc, rượu chè, trộm cắp… và đi đến kết luận là nhất định không cho tiền những người này. Không cho tiền họ thì “tệ nạn” này sẽ chấm dứt, cho tiền là khuyến khích những người này tiếp tục “xuống đường” tạo nên một hình ảnh không đẹp mắt cho thủ đô tị nạn Little Saigon này.

Tôi thật xót xa khi điều này làm tôi liên tưởng đến các bà nội trợ thường căn dặn con cái, thu vén thực phẩm ngoài vườn để tránh chuyện ban đêm chuột ra ăn, thức ăn nhiều thì chuột càng sinh sôi nảy nở kéo nhau đến đây càng nhiều.

Nhiều người nghĩ đến mỹ quan của khu phố Little Saigon, nơi có hàng trăm nghìn người Việt, vì nếu hôm nay chúng ta thấy nhiều người không nhà hiện diện ở đầu đường thì chúng ta cảm thấy “mất mặt” chăng?

Trước hết, sở dĩ vùng Little Saigon càng ngày càng có nhiều người không nhà, đủ sắc dân đến đây đứng ở chỗ đèn xanh đèn đỏ, hay trước những khu chợ Việt Nam, ngửa bàn tay ra xin bố thí, vì họ nghĩ rằng cộng đồng người Việt mình dễ dãi, có lòng trắc ẩn, biết thương người nên họ có thể kiếm được chút tiền hơn là những khu vực khác.

Người Việt lại có tình đồng hương, biết đùm bọc nhau và người nghèo lại thường sĩ diện không dám chường mặt ra đứng đường, thậm chí cũng không dám chen chân đến chỗ Home Depot đợi người thuê mướn để sống tạm qua một ngày. Vậy mà trong một phóng sự mới đây trên trang địa phương báo Người Việt chúng ta lại thấy nhiều người Việt tỏ ra kỳ thị người Việt, nói rằng gặp người Việt đứng đường là họ nhất quyết không cho tiền.

Nước Mỹ cũng chưa phải là một đất nước hoàn hảo, cũng có kẻ sướng, người khổ, có băng đảng trộm cướp, nhưng cảnh sát chưa bao giờ nghĩ đến chuyện bài trừ, bắt bớ, nhốt tù những người không nhà đứng đường cho “đẹp mặt” xã hội của họ, trong khi chính phủ chưa đem lại sự no ấm cho tất cả mọi người. Ngay những người con yêu ưu tú của đất nước là những cựu chiến binh trở về từ những chiến trường xa nước Mỹ, trong đó có Việt Nam của chúng ta, chính phủ cũng bất lực chưa giải quyết nỗi cho đời sống của họ, để họ phải ra nằm đường.

Một sự thật phũ phàng, là theo một thống kê mới nhất, nước Mỹ hiện nay có 49,933 người vô gia cư là cựu chiến binh, chiếm 8.6% tổng người không nhà ở Mỹ.

Nhiều người nói nước Mỹ là một đất nước có chương trình an sinh xã hội tốt để giúp người nghèo có housing, thực phẩm, thuốc men, nên không ai chết đói. Nếu như vậy thì đã không có người xuống đường ăn xin như chúng ta đã thấy. Chúng ta thử hỏi một viên chức xã hội, nếu chúng ta không có một cái địa chỉ nhà, không có điện thoại, không có nổi một thẻ căn cước… chúng ta có đủ tiêu chuẩn để xin trợ cấp xã hội hay không?

Chúng ta sợ khuôn mặt khu phố của chúng ta mất vẻ mỹ quan khi có nhiều người homeless hiện diện trên đường, trong khi chúng ta cũng muốn che dấu đi những tệ nạn trong cộng đồng: gian lận, lường gạt, bội tín, trộm cắp… mà không muốn cho ai biết.

Chúng ta lấy cái đạo đức tốt đẹp, may mắn của cô con gái nhà lành để lên án những thiếu nữ sa chân vào vũng bùn dơ. Những người vô gia cư đã khởi đầu những bước đi như chúng ta, lương thiện, có học hành, có bằng cấp, có một mái ấm gia đình, có người còn được gọi là những anh hùng, nhưng giờ đây bị lâm vào hoàn cảnh rủi ro khắc nghiệt phải cầm tấm bảng homeless ra đứng đầu đường.

Có những người Việt Nam đã đến Mỹ, nuôi giác mộng bình an, hạnh phúc như chúng ta, nhưng rồi bị số phận vật ngã, không gượng đứng dậy được, bị dòng nước định mệnh cuốn trôi, chúng ta lấy tư cách gì để lên án họ.

Có người than phiền bị những người vô gia cư lừa, như chuyện lấy cùng một lý do nào đó để than khổ và sau đó lập lại chuyện đó với một người khác, nhưng nếu chúng ta so sánh một kẻ cùng đường lừa bạn $5, với một bậc khoa bảng, có nhà bạc triệu trên đồi, có xe hơi lộng lẫy, lừa bạn qua một dịch vụ chuyên môn bạc nghìn, thì ai đáng lên án hơn ai?

Cũng có người yêu cầu giao tiền cho các tổ chức cộng đồng, tổ chức tôn giáo chứ không trao cho những người vô gia cư. Nhưng chúng ta nghĩ xem, cả hai cộng đồng người Việt ở đây đã có kế hoạch nào giúp đồng bào chưa? Chúng ta bỏ thùng “công đức” mỗi ngày rằm, mồng một, góp tiền cho nhà thờ, nhưng có nhà thờ hay ngôi chùa nào đêm nay mở cửa cho những người homeless vào ngủ qua đêm chưa? Có những chủ khu phố đổ dầu nhớt hay đóng đinh nhọn trước cửa tiệm mình để tránh những người không nhà đến ngủ. Liệu cái cộng đồng giàu có, xe cộ, phố xá nhộn nhịp, mang ơn nước Mỹ này đã giúp gì cho những kẻ bần cùng của xã hội này chưa? Liệu một vài tháng, mời người không nhà đến ăn một tô phở hay một bữa cơm chay đã đủ gọi là biết “chia cơm, xẻ áo” cho người khác chưa?

Liệu bạn có đồng ý cho một người homeless bẩn thỉu, hôi hám xin dùng phòng vệ sinh cửa tiệm hay nhà bạn, nói gì chuyện tắm rửa. Vậy trách gì họ râu tóc, áo quần hôi hám, bẩn thỉu! Và nếu họ có đủ tiền, muốn ăn một tô phở, là chủ tiệm bạn có vui lòng mời họ vào tiệm như đã tiếp đón những người khách lành lặn, sang trọng hay không?

Đứng trước một người vô gia cư đang cầm cái bảng “I’ll Work For Food,” có lẽ chúng ta cũng chẳng cần biết họ là ai, lý do để họ trở thành homeless, mà ngay lúc đó họ đang cần một đô la. Cho họ một đô la chúng ta không nghèo đi chút nào, mà người bất hạnh kia cũng không giàu có hơn lên, nhưng có điều chắc chắn, là cả hai, lòng người cho và người nhận đều cảm thấy vui.

Một phóng viên báo chí có làm một cuộc điều tra cho biết những người homeless đứng đầu đường kiếm “khá bộn” tiền vì sự hảo tâm của người qua đường. Khá bộn là bao nhiêu sau những giờ chạy lui chạy tới trên những giải phân cách giữa hai con đường xuôi ngược?

Bạn có dịp nào để đến thăm một khu tập trung những người vô gia cư chưa? Họ dựng lều hay kiếm băng đá góc cây, đắp trên mình một tấm bạt nhầu nát, cạnh mỗi người là một chiếc xe đẩy hàng lấy từ các siêu thị, chất đầy “gia tài,” chăn chiếu, áo quần, thức ăn, ve chai lọ.

Hoàng tử William của nước Anh đã có lần “vi hành,” trà trộn sống thử 24 tiếng đồng hồ với những người homeless để hiểu đời sống của họ ra sao. Ông có cái cảm giác sợ hãi, bất an, suốt đêm không ngủ. Có trò chuyện với họ anh mới thấu hiểu được cái khổ của đói lạnh, và sự nguy hiểm rình rập, chưa kể nỗi đau tinh thần, bệnh tật không có thuốc men. Những người khốn khổ này rất dễ dàng đi vào con đường nghiện ngập ma túy hay rượu, những chuyện có thể giúp họ quên đi số phận phiền não của mình.

Lên án người thì dễ, nhưng mở lòng cưu mang giúp đỡ họ mới là khó.

From : Do Tan Hung & Nguyen Kim Bang

23 tổ chức kêu gọi áp dụng Luật Magnitsky lên 15 quốc gia

23 tổ chức kêu gọi áp dụng Luật Magnitsky lên 15 quốc gia

  • Giới chức Việt Nam bị đề nghị trừng phạt: Giám Đốc Công An Tỉnh Gia Lai

Mạch Sống, ngày 13 tháng 9, 2017

http://machsongmedia.com

Hãng thông tấn Reuters hôm nay chạy tin về bức thư chung của 23 tổ chức nhân quyền hàng đầu của Hoa Kỳ, kêu gọi Hành Pháp Trump áp dụng các biện pháp trừng phạt của Luật Magnitsky Toàn Cầu lên 15 quốc gia. Xem: http://af.reuters.com/article/africaTech/idAFL2N1LS11A

“Là những tổ chức tập trung phát huy các quyền con người phổ cập và công cuộc chống tham nhũng, chúng tôi tán thán Quý Ngài về quyết tâm thực thi Luật Magnitsky Toàn Cầu (PL 114-­‐328, Subtitle F); luật này cho phép Tổng Thống áp đặt các biện pháp trừng phạt kinh tế và hạn chế cấp visa cho các người ngoại quốc để đáp trả một số vi phạm nhân quyền nghiêm trọng và hành vi tham nhũng lớn,” lá thư chung trình bày với Bộ Trưởng Ngoại Giao và Bộ Trưởng Ngân Khố Hoa Kỳ.

Tháng 4 vừa qua Tổng Thống Donald Trump đã gửi văn thư cho Quốc Hội, cam kết sẽ chấp hành một cách mạnh mẽ và triệt để Luật Magnitsky Toàn Cầu, được Quốc Hội thông qua vào cuối năm 2016 và Tổng Thống tiền nhiệm Barack Obama ký ban hành ngay trước Giáng Sinh.

Theo luật này, những giới chức chính quyền và kể cả các cộng tác viên ngoài chính quyền có thể bị Hoa Kỳ từ chối visa nhập cảnh, dù là đi công vụ, và đóng băng các tài sản ở hoặc đang trung chuyển qua Hoa Kỳ.

Bà Trần Thị Hồng sau một trận tra tấn, dưới sự chỉ huy của công an Tỉnh Gia Lai, ngày 14/04/2016 

“Các tổ chức đồng ký tên đã phối hợp chặt chẽ với nhau từ đầu năm nay để lọc ra 15 hồ sơ tiêu biểu cho 15 quốc gia và rồi cùng chung sức vận động,” Ts. Nguyễn Đình Thắng, Tổng Giám Đốc kiêm Chủ Tịch BPSOS, nói. “Đây cũng là các tổ chức đã cùng nhau vận động Quốc Hội thông qua Luật Magnitsky Toàn Cầu năm ngoái.”

Trong số 15 hồ sơ thì 10 hồ sơ liên quan đến vi phạm nhân quyền nghiêm trọng ở các quốc gia Azerbaijan, Bahrain, China, Egypt, Ethiopia, Mexico, Saudi Arabia, Tajikistan, Uzbekistan và Việt Nam.

Hồ sơ được chọn cho Việt Nam liên quan vụ tra tấn và khủng bố tinh thần Bà Trần Thị Hồng kéo dài suốt 2 tháng sau khi Bà tiếp xúc với phái đoàn Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ vào cuối tháng 3 năm 2016.

Theo Ts. Thắng, trước khi đưa một người vào hồ sơ, các tổ chức đã cùng nhau nghiên cứu kỹ lưỡng để quy trách nhiệm. Trong trường hợp kể trên, BPSOS đã cùng với Hội Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam gửi nhiều bản báo cáo liên tục đến các văn phòng đặc trách nhân quyền của Liên Hiệp Quốc và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Khi chính quyền Việt Nam ở cấp quốc gia trả lời Hoa Kỳ và LHQ, thì có nghĩa là họ đã phải hội ý với cấp tỉnh. Song song, Liên Minh Bài Trừ Tra Tấn ở Việt Nam giúp Bà Hồng thảo đơn tố giác gửi các cấp chính quyền phường, huyện, tỉnh và trung ương với giấy báo phát.

“Với phương pháp quy chiếu tam giác từ nhiều hướng, điểm giao nhau chính là đầu mối trách nhiệm”, Ts. Thắng giải thích.

Số 5 hồ sơ liên quan đến tham nhũng đáng kể bao gồm các quốc gia Congo, Liberia, Panama, Nga và Ukraine.

Liên minh 23 tổ chức nhân quyền Hoa Kỳ này đã chia nhau đi vận động các văn phòng dân biểu và thượng nghị sĩ để đôn đốc Bộ Ngoại Giao và Bộ Ngân Khố Hoa Kỳ thực thi nghiêm chỉnh và rốt ráo Luật Magnitsky Toàn Cầu. Hai Thượng Nghị Sĩ tác giả của Luật Magnitsky Toàn Cầu ở Thượng Viện cũng đã đưa ra một danh sách, phần lớn dựa vào danh sách của 23 tổ chức, để yêu cầu Hành Pháp Trump trừng phạt. Trong thời gian ngắn tới đây, các dân biểu đồng tác giả của Luật Magnitsky Toàn Cầu ở Hạ Viện cũng sẽ danh sách của họ cho Hành Pháp Trump.

“Chúng tôi sẽ tổ chức một buổi họp báo quy mô vào cuối tháng 10,” Ts. Thắng cho biết. “BPSOS đang thu xế để Ms. Nguyễn Công Chính và Bà Trần Thị Hồng hiện diện tại sự kiên quan trọng này.”  

Song song với nỗ lực chung với 22 tổ chức nhân quyền Hoa Kỳ, BPSOS thực hiện cuộc vận động nhắm riêng vào Việt Nam. Trong Ngày Vận Động Cho Việt Nam, ngày 29 tháng 6, vừa qua, hàng trăm người Mỹ gốc Việt đến từ 30 tiểu bang đã trao cho 70 văn phòng Dân Biểu và Thượng Nghị Sĩ danh sách gần 180 quan chức chính quyền Việt Nam với đề nghị trừng phạt.

Trong trường hợp vi phạm nhân quyền mang yếu tố tôn giáo thì biện pháp trừng phạt được bổ sung bởi Luật Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế: vợ, chồng, con của đương sự cũng bị cấm nhập cảnh Hoa Kỳ; nếu đang ở Hoa Kỳ thì bị trục xuất.

Nhiều tờ báo lớn của Hoa Kỳ và quốc tế đã chạy bản tin của Reuters. 

Tài liệu liên quan:

Thư chung của 23 tổ chức nhân quyền Hoa Kỳ và danh sách đề nghị trừng phạt: http://www.humanrightsfirst.org/sites/default/files/Global-Magnitsky-2017.pdf

Đề nghị trừng phạt theo Luật Magnitsky Toàn Cầu: Thêm 1 bước tiến
http://machsongmedia.com/vietnam/danchu/1239-2017-08-12-00-41-24.html

Liệu chế độ độc tài có ngại Luật Magnitsky?
http://machsongmedia.com/vietnam/nhanquyen/1233-2017-07-19-22-48-31.html

Bảo tàng vắng như… chùa Bà Đanh, vẫn ‘đòi’ 11.000 tỉ xây mới

From facebook:   Nguyễn Thúy Hạnh‘s post.

Y tế có tiền thuốc giả, giao thông có BOT, giáo dục có tiền “cải cách”… bộ văn hoá ko xây tượng đài và bảo tàng thì cạp đất mà ăn à, thắc mắc gì?

TTO – Việc Bộ Xây dựng vừa gửi văn bản lên Thủ tướng xin tháo gỡ về vốn để tiếp tục triển khai dự án xây dựng Bảo tàng Lịch sử quốc gia đã vấp phải phản…
TUOITRE.VN

THI SĨ HỮU LOAN VÀ VỢ LÀ NHÂN CHỨNG, LÀ NẠN NHÂN TRONG CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT

From facebook:    Tai Nguyen shared Quốc Trần‘s post.

Image may contain: 2 people, people sitting

Quốc Trần

 

Đạo đức Hồ Chí Minh trong thực hành

THI SĨ HỮU LOAN VÀ VỢ LÀ NHÂN CHỨNG, LÀ NẠN NHÂN TRONG CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT

Hãy nghe ông kể:  

“Lúc đó còn là chính trị viên của tiểu đoàn, tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học, lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa. Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng.

Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần 500 mẫu tư điền. Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn, nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chỗ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông.

Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại 2 cái đầu đó, cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng.

Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ, nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn.

Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói.

Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ.

Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó, bữa đói bữa no … Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai, 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa…”

Khi con mình đã chết !!!

From fgacebook:   Dang Van Tuan‘s post.

 
Image may contain: 1 person, sitting
Image may contain: one or more people
Image may contain: 1 person, text
Image may contain: one or more people and text

Dang Van Tuan added 4 photos and a video — with Lê Hữu Nghiệp 

Khi con mình đã chết !!!

Khi được báo , con mình đã chết
Mẹ bàng hoàng , không nghỉ đó là con
Con tôi đang mạnh khoẻ đó mà
Sao lại chết ? Hay là lầm ai đó
Mẹ bôn ba đến bệnh viện nhận con
Con nằm đó , ôi mình đầy thương tích
Ôi con tôi , ôi khúc ruột của tôi !
Mẹ lặng chết bên cạnh con lạnh giá
Đồn công an , mầy đã giết con tao
Trên đầu có một đường dài rạn nứt
Não nát nhừ , có còn ven nữa đâu
Hai buồng phổi cũng sưng phù trương nước
Con của tôi , ôi khúc ruột của tôi
Chúng gian ác , chúng đánh bằng roi điện
Thi thể nầy có trăm vết bầm thâm
Và dấu tích còng chân tay còn đó
Con của tôi , tội tình gì phải chết
Chết âm thầm trong đồn của công an
Điều tra chi mà đánh đập bạo tàn
Mang cái chết ức oan đầy ai oán ?
Xin thượng đế dùm thương cho dân chúng
Nước Việt Nam đầy rẩy những dân oan
Xin hãy xoá chế độ chuyên giết chóc
Chúng giết dân , rồi đổ lổi tại dân

Việt Nam trở thành thiên đường của sự giả dối

Việt Nam trở thành thiên đường của sự giả dối

 
Hải Âu (Danlambao)  Có thể nói Việt Nam là một thiên đường của những điều, những thứ giả tạo. Trong thiên đường xã nghĩa của đảng cộng sản, người ta có thể nhìn thấy con người đối xử với nhau bằng đạo đức giả, trao đổi với nhau bằng tiền giả, chữa trị cho nhau bằng thuốc giả… Những điều, những thứ giả dối ấy rồi cũng có ngày được phơi bày trước ánh sáng của sự thật và công lý. Nhưng trớ trêu thay, trong thiên đường của sự dối trá được đảng cộng sản định hướng xã hội chủ nghĩa thì ánh sáng của sự thật cũng bị che phủ bởi cái bằng giả của những kẻ cầm cán cân công lý.
Với một người có chức vụ thẩm phán nhưng lại sử dụng bằng giả thì quả thật là điều tồi tệ cho ngành toà án nói riêng và nền tư pháp Việt Nam nói chung. Đó cũng chính là điều khủng khiếp cho những người không may được phán xử bởi những kẻ sử dụng bằng giả như Nguyễn Thị Nga-Thẩm phán sơ cấp TAND Tp Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Nguyễn Thị Nga (SN 19/7/1976 tại Thái Nguyên), tốt nghiệp năm 1998 chuyên ngành Tư pháp, hạng Trung bình, số hiệu bằng B36704. Thẩm phán TAND thành phố Thái Nguyên bị tố cáo là sử dụng bằng tốt nghiệp cấp ba giả. Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thái Nguyên khẳng định: “Kỳ thi tốt nghiệp PTTH diễn ra ngày 3/6/1994, thí sinh Nguyễn Thị Nga (học sinh Trường PTTH Đồng Hỷ, tỉnh Bắc Thái cũ) đạt 6 điểm môn Văn, 2 điểm môn Hoá học, 4 điểm môn Toán học và 5,5 điểm môn Nga văn. Tổng điểm thi của thí sinh Nguyễn Thị Nga là 17,5 điểm. “Với kết quả thi như vậy, thí sinh Nga không thể được cấp Bằng tốt nghiệp PTTH”.
“Việt Nam có cả rừng luật nhưng những kẻ cầm quyền chỉ xài luật rừng”. Một nhận định vừa mang tính châm biếm, vừa nói lên thực trạng của nền tư pháp dưới sự cai trị của đảng cộng sản. Không biết bao nhiêu công dân trở thành nạn nhân của những vụ án oan do những kẻ đại diện pháp luật gây ra. Cuộc sống của những tù nhân oan sai là sự chia cách tình thân, gia đình tan nát, làng xóm nguyền rủa, xã hội khinh bỉ cùng với những điều tồi tệ nơi chốn lao tù. Đó là tất cả những gì họ nhận được sau lời tuyên án được thẩm phán xướng lên trước khi kết thúc phiên toà.
Nguyễn Thanh Trấn, Huỳnh Văn Nén, Nguyễn Minh Hùng, Hàn Đức Long, Trần Văn Chiến, Bùi Minh Hải… là những cái tên trong vô số những vụ án oan gây trấn động dư luận Việt Nam. Dù rằng họ đã may mắn được minh oan sau hàng năm trời chịu cảnh tù tội với những tội danh khủng khiếp: giết người, cướp của, hiếp dâm. Nhưng với những gì họ phải chịu đựng trong suốt quá trình tù tội oan thì không gì có thể bù đắp nổi.
Những kẻ nhân danh pháp luật với chức vụ thẩm phán đã vội vàng kết án khi tình tiết vụ việc còn uẩn khúc. Nhiều vụ án cho thấy có sự thông đồng giữa cơ quan điều tra và viện kiểm sát nhằm sớm kết thúc vụ án. Bên cạnh đó khả năng, trình độ cũng như tư cách đạo đức của thẩm phán cũng là một vấn nạn trong nền tư pháp tại Việt Nam.
Vụ việc Thẩm phán TAND thành phố Thái Nguyên sử dụng bằng cấp ba giả chỉ là một trong vô số điều bất cập của nền tư pháp. Ngành toà án đã để lại quá nhiều vết nhơ khi những kẻ cầm cán cân công lý nhưng lại bất chấp sự thật, sử dụng bằng giả để thực thi pháp luật. Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhiều vụ án oan. Chắc chắn nhân dân Việt Nam sẽ còn phải chứng kiến những vụ án oan khi nền tư pháp vốn dĩ chỉ là công cụ của một chế độ được hình thành từ sự dối trá. Để rồi những cái tên tử từ oan như Hồ Duy Hải, Nguyễn Văn Chưởng vẫn đang để lại dấu chấm hỏi lớn cho nền công lý bị điều khiển dưới ách của đảng cộng sản.
12/9/2017

Lịch sử nào, mà tha thứ cho ngày hôm nay? (*)

 
 
From facebook: Hoang Le Thanh

Lịch sử nào, mà tha thứ cho ngày hôm nay? (*)

Tuấn Khanh – 12-9-2017

Thật khó tưởng tượng được rằng, khi chứng kiến đồng loại với những dấu vết bị trói và đánh đập đến chết nhưng ông Nguyễn Tiến Hải, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận lại nhanh chóng đưa ra một kết luận đơn giản rằng “đã xảy ra một vụ đánh nhau” tại nhà tạm giữ công an của TP Phan Thiết.

Hình ảnh: Anh Võ Tấn Minh bị đánh chết ở đồn công an. Ảnh: FB Châu Đoàn

Ông Hải nói rằng “trích xuất” qua camera an ninh của nhà giam (chứ không là nguyên bản), cho thấy. Nhưng nghe sao mà khó tin đến vậy. Một nghi phạm bị đưa đi vào nhà giam của công an, sau đó lại bất ngờ xảy ra một “vụ đánh nhau” không xác định – lời của ông Hải mô tả – khiến người ta rùng mình. Vì bởi nếu có một vụ đánh nhau như vậy, nạn nhân Võ Tấn Minh, 25 tuổi, chắc chắn đã bị không ít người tổ chức cùng đánh đến chết. Các dấu vết để lại cho thấy có từ phía sau đầu, đánh vào chân, ngực, tay đầy chủ đích… Đồn công an của nhà nước Việt Nam sao lại có sẳn một lực lượng “đánh nhau” sẳn sàng và chuyên nghiệp để kết liễu con người đến vậy?

Còn nếu trại giam không có “đánh nhau”, anh Võ Tấn Minh chỉ có thể bị trói và đánh đập đến chết. Vì qua video gia đình của anh quay lại vào ngày 10/9/2017, rất chi tiết, cho thấy hai cổ tay anh Minh bị xiết chặt và hằn đầy máu bầm của dây trói. Ông Nguyễn Tiến Hải nhân danh sự nghiệp của mình, hay bằng “lương tâm” loại gì để tuyên bố thật nhanh cho một nghi án mà bất kỳ người dân thường ít học, xem qua vẫn có được các suy đoán khác?

Mà bất luận là lý do gì đi nữa, cái chết của một công dân chưa bị kết án trong sự quản thúc của công an, là trách nhiệm và danh dự của ngành này. Giải thích như thế nào đi nữa, một khi đồn công an đưa người sống vào, trả xác chết ra là một dấu hiệu suy đồi và đen tối của ngành, mà cụ thể lúc này, trách nhiệm của công an tỉnh Ninh Thuận phải chia đủ cho từng người.

Tính từ đầu năm đến nay, ở Việt Nam, trung bình mỗi tháng có một vụ chết người đầy ẩn ức trong trại tạm giam. Nhưng riêng nhà tạm giam tạm giữ ở Phan Rang, Ninh Thuận gần đây đã tỏa sáng bất thường trên đất nước, trong việc góp 2 nạn nhân trong vòng 2 tháng. Nhắc lại cho rõ, đó là cái chết của anh Nguyễn Hồng Đê, 25 tuổi, vào tháng 7 vừa rồi. Và nay là đến anh Võ Tấn Minh, 25 tuổi, mà công an nói miệng là nghi can có chứa heroin trong người.

Cũng chưa có ai quên nổi chuyện cái chết rùng rợn đau thương của anh Nguyễn Hữu Tấn vào ngày 3/5/2017. Khi công an trả xác về, gia đình anh Tấn nhìn thấy trên cổ của anh chi chít những vết cắt bất thường không thuận tay. Dĩ nhiên, một kịch bản được dựng nên để diễn giải cho sự vô can, nhưng không ai tin nổi lời giải thích của các điều tra viên ở Vĩnh Long là anh Tấn chết do tự cắt cổ, từ dao rọc giấy của họ.

Tôi chỉ là dân thường. Thậm chí rất tầm thường. Nên tôi không bao giờ có thể đi qua nổi cảm giác đau đớn và tức giận khi nhìn thấy đồng loại của mình chết nghẹn ngào và oan khuất. Đặc biệt là nghẹn ngào và oan khuất từ chốn công quyền.

Lâu nay, những vụ chết người, khổ nạn như vậy nếu như không có tin tức từ cộng đồng mạng dấy lên, thì thường báo chí nhà nước cũng chỉ đưa tin qua loa lấy lệ. Các quan chức liên đới, đại biểu quốc hội… thì chỉ dám mở miệng bàn chuyện gái mại dâm hay quần bò, bất chấp những chuyện như bị thương nặng, chết người trong đồn công an diễn ra đều đặn, quặn căm lòng xã hội.

Tiếng khóc từ video của gia đình anh Võ Tấn Minh vang vọng, gào thét “anh thức dậy đi anh ơi” khiến tim tôi thắt lại. Không có loại âm nhạc nào mô tả được nỗi đau, kinh hoàng bằng tiếng khóc của mẹ, của vợ, của chị… Tiếng kêu gào của người dân tuyệt vọng tận đáy xã hội cứ nhắc tôi về những hình ảnh đẹp đẽ của các nhà lãnh đạo, quan chức cao cấp của Việt Nam, kể cả trong ngành công an, vẫn cung kính thắng nhang cúng chùa, xây đền, góp tiền cho tượng tháp… Mọi thứ đó trong thoáng chốc đã bật ra sự lố bịch, rẻ rúng. Đồng loại thì khốn khổ, trò mua hình bán dạng ấy, liệu có ích gì?

Tôi không tin rằng chuyện cái chết của anh Võ Tấn Minh, anh Nguyễn Hữu Tấn… hay còn nhiều người khác nữa sẽ sớm được minh bạch, oan hồn của người đã khuất khó mà sớm được thảnh thơi. Vì những lời nói dối vẫn luôn chực chờ đâu đó. Thậm chí, những hàng hàng dùi cui và khiên chắn vẫn luôn được chuẩn bị để bảo vệ cho những lời nói dối như thế.

Nhưng dù sao đi nữa, xin mọi người đừng quên ghi lại. Mọi sự kiện vẫn cần được ghi lại về ngày đen đúa, tuyệt vọng của đất. Xin đừng để mọi thứ bị lãng quên. Những học trò ở Hàm Dương truớc khi bị chôn sống, vẫn ghi lại mọi thứ, để triều đại cao ngất của Tần Hủy Hoàng mãi mãi không bao giờ thoát khỏi lời nguyền rủa của nhân loại về sau. Nỗi đau và oan khiên cũng cần được trở thành lịch sử. Kẻ ác có thể dựng nên những loại lịch sử để ca tụng và lừa dối. Nhưng nhân dân cũng có những phiên bản lịch sử của sự thật được ghi xuống và lưu truyền. Lịch sử truyền đời từ hôm nay, nhắc rằng nền văn minh nhân loại không bao giờ lãng quên, không bao giờ dung thứ cho kẻ ác.

Clip nạn nhân Võ Tấn Minh bị đánh chết trong đồn công an ở thành phố Phan Rang, Tháp Chàm từ FB Châu Đoàn:

(*) Mượn lời bài hát “Im lặng là đồng lõa” của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang

Nguồn: http://baotiengdan.com/…/lich-su-nao-ma-tha-thu-cho-ngay-h…/

Image may contain: one or more people
 

Dư luận nói gì về việc giảng dạy nhân quyền trong học đường?

Dư luận nói gì về việc giảng dạy nhân quyền trong học đường?

Hòa Ái, phóng viên RFA
2017-09-08
 
Ảnh minh họa: Blogger Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy tại phiên tòa phúc thẩm ở Hà Nội ngày 22/9/2016.

Ảnh minh họa: Blogger Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy tại phiên tòa phúc thẩm ở Hà Nội ngày 22/9/2016.

Photo: AFP
 

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt đề án giảng dạy nhân quyền trong trường học từ cấp mẫu giáo đến bậc đại học, sẽ được thực hiện từ năm 2025.

Dạy thí điểm từ 2017 đến 2020

Đề án giảng dạy nhân quyền trong học đường vừa được Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phê duyệt sẽ được thí điểm ở ba tỉnh tại ba khu vực, giai đoạn 2017 đến 2020 và sẽ thực hiện đồng bộ trong hệ thống trường học phổ thông, các trường đại học và dạy nghề kể từ năm 2025.

Truyền thông trong nước nêu rõ nội dung của đề án bao gồm cấp mẫu giáo sẽ được học các yếu tố cơ bản về quyền và trách nhiệm; cấp tiểu học sẽ được dạy một số kiến thức căn bản liên quan các nguyên tắc cũng như giá trị về nhân quyền; cấp trung học cơ sở sẽ được học các chuẩn mực về công bằng, khoan dung và tôn trọng sự khác biệt và cấp trung học phổ thông sẽ học về các định chế bảo vệ nhân quyền. Các trường dạy nghề sẽ truyền bá kiến thức cho học viên liên quan nội dung cơ bản của các quyền con người và quyền dân sự, quyền và nghĩa vụ của nhà tuyển dụng lẫn nhân viên trong mối liên hệ lao động. Bên cạnh đó, sinh viên các trường đại học và cao đẳng sẽ phải học cách thức áp dụng nhân quyền cũng như chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong bảo vệ dân sự và nhân quyền.

Mừng là mình đi theo các nước tiến bộ, học hỏi những điều hay để áp dụng vào giáo dục cho học sinh từ bé như thế thì tốt. Nhưng bên cạnh đó, tôi cũng có sự lo lắng vì những người truyền đạt về nhân quyền có đúng theo tiêu chuẩn quốc tế hay không? Thế hệ mà từ trước đến giờ không biết nhân quyền là gì hay họ không được tiếp thu đúng nghĩa của nhân quyền mà bây giờ họ truyền dạy lại thì không rõ hai chữ ‘nhân quyền’ có bị méo mó hay không
-Một phụ huynh

Đài Á Châu Tự Do ghi nhận hầu hết phụ huynh, những người chú trọng đến việc học hành của con em mình, mà chúng tôi tiếp xúc đều bày tỏ sự vui mừng. Có cả những phụ huynh cho biết họ trông đợi điều này đã từ lâu vì các thế hệ thanh thiếu niên Việt Nam được giảng dạy về bạo lực cách mạng, tôn sùng cá nhân đã và đang dẫn đến hậu quả không ít thành phần trẻ của đất nước sống một cách hiếu chiến, bạo lực, ích kỷ, thậm chí thờ ơ và vô trách nhiệm với cộng đồng…Một phụ huynh ở Sài Gòn nói rằng bà rất phấn khởi khi nghe được thông tin về đề án giảng dạy nhân quyền trong học đường. Phụ huynh này chia sẻ:

“Mừng là mình đi theo các nước tiến bộ, học hỏi những điều hay để áp dụng vào giáo dục cho học sinh từ bé như thế thì tốt. Nhưng bên cạnh đó, tôi cũng có sự lo lắng vì những người truyền đạt về nhân quyền có đúng theo tiêu chuẩn quốc tế hay không? Thế hệ mà từ trước đến giờ không biết nhân quyền là gì hay họ không được tiếp thu đúng nghĩa của nhân quyền mà bây giờ họ truyền dạy lại thì không rõ hai chữ ‘nhân quyền’ có bị méo mó hay không? Chương trình giảng dạy nhân quyền áp dụng từ cấp mẫu giáo cho đến bậc đại học, mà nếu không khéo thành ra vô tình ươm sự tai hại vào đầu con trẻ.”

Chúng tôi đặt vấn đề với Giáo sư Vũ Phương Anh, Phó Giám đốc Trung tâm Bồi dưỡng và Bảo trợ Chất lượng Giáo dục về nỗi lo lắng của phụ huynh liên quan đề án giảng dạy nhân quyền trong học đường, được thực hiện vào năm 2025. Ý kiến của Giáo sư Vũ Phương Anh về nỗi lo lắng của phụ huynh là hợp lẽ và bà Giáo sư còn đưa ra nhận định đề án không mang lại hiệu quả, với lý do:

“Tôi chỉ lấy một ví dụ rất gần gũi là Việt Nam trong nhiều năm nói rằng phải đẩy mạnh việc giảng dạy cho sinh viên ‘kỹ năng mềm’. Nhưng thật ra nói như vậy theo chủ trương, mà thực hiện thì dạy ‘kỷ năng mềm’ một cách rất là ‘không mềm’. Rồi có một dạo thì giáo dục pháp luật vào học đường cũng vậy. Tức là mọi điều chủ trương được viết trên giấy thì nghe rất hay, nhưng lúc làm thì không đến đâu cả, mang tính hình thức, không thực sự có hiệu quả.”

Hiệu quả của đề án là gì?

e3798ae7-1e35-4720-9e1b-58dba07fa0f1.jpeg
Luật sư Nguyễn Văn Đài, người được Đức trao giải thưởng Nhân quyền năm 2017, tại Tòa án Nhân dân Hà Nội, ngày 11 tháng 5 năm 2007.Photo: AFP

Trong khi đó, những người cổ súy và ủng hộ phong trào dân chủ trong nước cho rằng đây là một bước ngoặc quan trọng của ngành giáo dục Việt Nam. Nhà báo tự do Võ Văn Tạo nói với RFA ông tin là những ai có thiện chí với xã hội, khi nghe thông tin về đề án dạy nhân quyền trong học đường cũng đều phấn khởi vì đề án này theo ông có thể nói mang ý nghĩa rất nhân văn và khai phóng. Với kinh nghiệm sống của một người ở độ tuổi ngoài lục tuần, nhà báo Võ Văn Tạo lý giải vì sao xã hội Việt Nam hiện thời tồn tại quá nhiều vấn nạn, mà trong đó nguyên nhân chủ yếu là do cách hành xử của con người:

“Tôi đã sống ở ngoài Bắc nhiều năm và sau này ở miền Nam thì tôi có cảm tưởng như nền giáo dục của Nhà nước Cộng Sản Việt Nam không đào tạo ra những con người theo hướng nhân bản và khai phóng, mà chỉ muốn đào tạo ra những robot, chứ không phải những con người thực sự. Bản chất của con người là tự do nhưng nền giáo dục trong các nhà nước cộng sản, trong đó có Nhà nước Cộng Sản Việt Nam chỉ muốn tạo ra các robot biết tuân lệnh thôi. Tức là họ không cho người dân tự do làm điều gì cả. Mọi điều là do họ nghĩ ra và ra lệnh, bắt buộc người dân làm. Bản chất của Cộng Sản là như thế.”

Nhà báo Võ Văn Tạo cùng một số nhà đấu tranh dân chủ nêu ra lập luận trong trường hợp giới chức lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam quyết tâm muốn cải thiện tình hình dân chủ của nước nhà thì việc giảng dạy nhân quyền trong học đường cũng khó mang lại kết quả trong một sớm một chiều. Nhà báo Võ Văn Tạo giải thích:

Nhà cầm quyền Việt Nam phải thực thi tòa án độc lập và nền báo chí tự do để người dân có thể được xét xử một cách công bằng, nếu như dính dáng đến tòa án cũng như họ được quyền lên tiếng khi họ bị oan sai. Chỉ khi nào hai điều kiện tối thiểu đó được đáp ứng thì mới có nhân quyền ở Việt Nam. Tôi nghĩ Nhà nước Việt Nam cần phải có lộ trình rõ ràng để thực thi từng bước cho hai điều kiện tối thiểu này
-Thạc sĩ Nguyễn Tiến Trung

“Bởi vì suốt bao nhiêu năm qua, miền Bắc Việt Nam từ năm 1955 trở đi và miền Nam từ năm 1975 trở đi, tư duy của nền giáo dục hủy hoại toàn bộ văn hóa và phẩm chất của người Việt Nam. Thế thì việc dựng lại không hề dễ dàng, thậm chí một, hai thế hệ mà khôi phục được. Dù họ có thực lòng.”

Lên tiếng liên quan việc giảng dạy nhân quyền trong trường học, cựu tù nhân lương tâm-Thạc sĩ Nguyễn Tiến Trung cho biết thế hệ 8X của anh từng được học về tôn trọng nhân quyền. Nhưng đối với anh, đó cách dạy nhồi sọ và bóp méo, làm cho nhiều thế hệ hiểu sai ý nghĩa thực sự của nhân quyền. Thạc sĩ Nguyễn Tiến Trung nêu ra một ví dụ như học sinh được học khái niệm quốc gia đánh đồng với Đảng Cộng Sản và quyền con người phải đặt dưới quyền độc lập tự chủ của quốc gia.

Là một người bị kết án tù vì theo đuổi lý tưởng tự do-dân chủ cho Việt Nam, cựu tù nhân lương tâm Nguyễn Tiến Trung khẳng định đề án giảng dạy nhân quyền trong trường học, mà Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vừa phê duyệt, sẽ góp phần cải thiện tình hình nhân quyền Việt Nam một cách tích cực, chỉ khi nào nhà cầm quyền Hà Nội thực thi hai điều kiện chính yếu:

“Nhà cầm quyền Việt Nam phải thực thi tòa án độc lập và nền báo chí tự do để người dân có thể được xét xử một cách công bằng, nếu như dính dáng đến tòa án cũng như họ được quyền lên tiếng khi họ bị oan sai. Chỉ khi nào hai điều kiện tối thiểu đó được đáp ứng thì mới có nhân quyền ở Việt Nam. Tôi nghĩ Nhà nước Việt Nam cần phải có lộ trình rõ ràng để thực thi từng bước cho hai điều kiện tối thiểu này.”

Mặc dù dư luận trong nước bày tỏ niềm hân hoan đối với thông tin nhân quyền sẽ được đưa vào giáo trình giảng dạy trong trường học và bắt đầu thí điểm ngay trong năm nay; tuy nhiên theo ghi nhận của RFA thì cộng đồng cư dân mạng và những người quan tâm đến đề án này lại tỏ ra hoài nghi trước tin tức một cô giáo tại Ninh Bình bị công an đến trường áp giải ngay sau lễ Khai giảng năm học mới, vào ngày 6 tháng 9 để làm việc, do “phương hại đến an ninh chính trị” qua những chia sẻ trên mạng xã hội của cô về hiện tình đất nước liên quan giảm biên chế giáo viên, nợ công, thực phẩm bẩn…Một số người cho rằng Nhà nước Việt Nam muốn tỏ rõ thực tâm để dân chúng nâng cao sự hiểu biết và tôn trọng nhân quyền thì cần phải xóa tan định kiến của dư luận vẫn thường nói, như nhà báo tự do Võ Văn Tạo bảo với chúng tôi “Họ nói một đằng nhưng họ làm một nẻo.”

Người Việt trả tới hơn 30 ngàn bảng để vào Anh lậu

Người Việt trả tới hơn 30 ngàn bảng để vào Anh lậu

Nhiều người Việt được đưa lậu vào Anh bị ép làm việc trong các trang trại trồng cần sa

Người Việt trả tới hơn 30.000 bảng Anh cho các đường dây buôn người để vào Anh, với hy vọng sẽ có một cuộc sống ‘vương giả’ ở nước này, một báo cáo mới cho hay.

Theo báo cáo của Trưởng Cao ủy chống Nô lệ tại Anh Quốc ông Kevin Hyland, có một hệ thống đưa lậu người Việt sang Anh với hai mức giá khác nhau, phóng viên chuyên về nội vụ của Press Association, Hayden Smith viết.

Bài viết mô tả rằng những ai chọn dịch vụ “cao cấp” sẽ phải trả khoảng 33.000 bảng Anh và được hứa hẹn sang Anh với con đường ngắn nhất và mức rủi ro thấp nhất.

Còn những ai chọn dịch vụ “phổ thông” nộp từ 10 nghìn đến 20 nghìn bảng.

Báo cáo này mô tả việc đưa người lậu vào Anh như một ngành kinh doanh lớn, và đưa ra bằng chứng rằng các tổ chức buôn lậu người ở Việt Nam phóng đại về độ tin cậy với dịch vụ của họ và các nguồn lợi ích tài chính có thể kiếm được ở Anh.

Văn bản này dẫn lời của một người được phỏng vấn cho biết cô ta trả 25.000 USD (khoảng 19.000 bảng) cho đường dây buôn người nhưng con đường sang Anh và kết quả “không được như lời quảng cáo”.

Người phụ nữ này nói:

“Tôi được hứa hẹn là cuộc sống tương lại sẽ như một bà hoàng ở Anh (a queen in the UK), thức ăn ngon, quần áo đẹp, công việc nhẹ nhàng với mức lương cao.”

“Tôi kỳ vọng sẽ có một mức sống cao. Tôi lên máy bay, sau đó lên xe hơi rồi xe tải – nhưng tôi không biết họ đã đưa tôi đi qua những nước nào.”

“Tôi đi mất hai tháng. Không có chuyện bạo lực hay bóc lột trên đường nhưng chuyến đi đó rất vất vả. Chuyến đi tốn kém hơn thỏa thuận lúc đầu và tôi không có được công việc mà họ hứa hẹn với tôi.” 

Ngày mai chắc gì còn gặp lại!

Ngày mai chắc gì còn gặp lại!

GNsP – “Hôm nay chúng ta gặp nhau đây và ăn với nhau một bữa cơm là quý lắm rồi, vì không biết ngày mai có còn cơ hội gặp nhau không!” Cha Vinhsơn Phạm Trung Thành, linh mục điều phối chương trình Tri Ân TPB – VNCH, mở lời như trên trong buổi khám sức khỏe tổng quát lần thứ 10 trong năm 2017 dành cho các ông TPB – VNCH vào sáng thứ Hai 11/09/2017 tại DCCT Sài Gòn.

Bữa cơm nghĩa tình, hội ngộ, chắc gì ngày mai ta còn gặp lại nhau

Cha Vinhsơn Thành có lý để nói điều đó vì trong tháng qua, có nhiều ông TPB đã từ giã cõi trần. Ngoại lệ, có trường hợp khi nhân viên văn phòng gọi điện mời ông về Sài Gòn để khám chữa bệnh thì mới hay ông đã vĩnh viễn ra đi! Phận người quá mong manh. Với các ông TPB vốn đã thương tật và mang đủ thứ bệnh trong người thì sự sống lại càng mong manh như mành treo trước gió.

ông TPB Vũ Văn Đại

Con số TPB ghi danh tại văn phòng CLHB – nơi phụ trách chương trình Tri ân TPB – VNCH- đã hơn 5.500 người. Dù đã cố gắng một tháng khám chữa bệnh tổng quát hai lần, với mỗi lần khoảng 130 người thì cũng phải hơn 2 năm các ông mới quay lại phiên của mình. Đã có nhiều TPB không còn cơ hội quay lại lần hai, nên mỗi dịp còn gặp mặt nhau là một cơ hội quý báu. Được ngồi với nhau ôn chuyện xưa, chia sẻ với nhau một bữa ăn huynh đệ là những phút giây hạnh phúc. Bữa cơm đạm bạc nhưng chất chứa nghĩa tình, vì chính những người làm chương trình này đã đặt mục đích phục hồi phẩm giá, danh dự của người lính VNCH mà trong mấy chục năm ròng đã bị xã hội lãng quên hay thậm chí loại trừ. Việc cố gắng chăm sóc y tế, chia sẻ một chút vật chất, hay trao cho phương tiện di chuyển, muốn diễn tả rằng đây là những người lính đáng trân trọng, đáng tri ân vì chính họ đã hy sinh một phần thân thể để bảo vệ sự yên bình cho nền chính thể VNCH.

Ròng rã những năm trường sau cuộc chiến, đâu cần ai tri ân, đâu cần ai biết đến, các ông vẫn “lê lết” phận người đi qua giữa thị phi cuộc đời đó sao! “Lê lết” là từ đúng nghĩa dành cho hai ông TPB Trần Trọng Đa và ông Vũ Văn Đại mà chúng tôi được gặp gỡ sáng nay.

Hình ảnh ông Vũ Văn Đại, cụt cả hai chân, “lê” đến với chương trình sáng hôm nay khiến những ai bắt gặp không khỏi chạnh lòng. Dù trải qua cuộc sống nghiệt ngã, nhưng nụ cười vẫn không hề tắt trên môi ông. Bằng nụ cười hiền hòa ông nói: “Còn sống được là hạnh phúc rồi!” Với ông sự sống là điều quý giá nhất. Sau ngày 30/4/75, ông bị ném ra đường khi đang điều trị vết thương tại quân y viện. Ông tự lê lết về nhà, tự băng bó vết thương và giành giật sự sống từng ngày. Khi vết thương đã khô và lành, ông lại lê từ vỉa hè này lết sang vỉa hè khác hát rong xin ăn. Khi đã có một số vốn, ông chuyển qua nghề sửa xe đạp. Khi nghề sửa xe đạp không còn sống được nữa, ông lại “đi” bán vé số. Lê lết thương tật, vá víu cuộc sống, nhưng ông không hề oán hận hay than trách cuộc đời. Cười vẫn tươi và đời vẫn vui là triết lý sống nơi người TPB này.

Còn TPB Trần Trọng Đa là một tín hữu Công Giáo thì nói rằng: “Tạ ơn Chúa vì đã cho mình được sống đến ngày hôm nay!” Lời tạ ơn của ông rất đơn sơ nhưng chất chứa cả niềm tín thác vào Thượng Đế. Với ông, cuộc sống dù giàu hay nghèo, sướng hay khổ điều ấy không quan trọng. Quan trọng là mỗi ngày ta sống trọn vẹn với nó trong lời tạ ơn. Ông chia sẻ rằng, khi cưới vợ chưa được bao lâu thì bị thương cụt cả hai chân. Người vợ vẫn đón nhận ông và trong chừng ấy năm chung sống, đã cùng ông vượt qua gian khổ để nuôi dạy con cái nên người. Đến hôm nay, những người con của ông đã yên bề gia thất. Hai vợ chồng già sống với nhau những ngày êm đẹp ở cuối chặng đường đời…

Hai ông TPB trên trong số gần 120 ông đến khám chữa bệnh sáng nay là điển hình cho triết lý sự sống nơi những người TPB còn lại này. Xin được một lần nữa nói lời tri ân đến các ông, xin được gói ghém trong bữa cơm trưa này: bữa cơm gắn kết tình thân, sẻ chia nghĩa tình, là một cơ hội quý giá, vì chắc gì ngay mai ta còn dịp gặp lại.

Vũ Hoàng Trương