Một bà mẹ ở Kansas City nướng con chết trong lò

Ba’o Nguoi-Viet

February 11, 2024

KANSAS CITY, Missouri (NV) – Một bà mẹ ở thành phố Kansas City bị cáo buộc đã giết em bé gái một tháng tuổi bằng cách đưa vào lò nướng, theo hồ sơ tòa án nộp tại Jackson County, Missouri, NBC News loan tin hôm Chủ Nhật, 11 Tháng Hai.

Người mẹ bị bắt và bị buộc tội trọng tội gây nguy hiểm cho trẻ em cấp độ một, theo hồ sơ nộp hôm Thứ Sáu tại tòa án Jackson County.

(Hình minh hoạ: Patrick T. Fallon/AFP via Getty Images)

Cảnh sát thành phố Kansas City đã đến nhà vào chiều Thứ Sáu sau khi nhận được báo cáo về một “trẻ sơ sinh không còn thở,” hồ sơ toà nêu rõ.

“Quan sát thấy vết bỏng rõ ràng trên cơ thể nạn nhân,” một cảnh sát cho biết trong báo cáo. “Sở Cứu Hỏa Thành Phố Kansas (KCFD) tuyên bố nạn nhân đã chết tại hiện trường.”

Hồ sơ cho biết những nhân viên cấp cứu được biết người mẹ “đi đặt đứa trẻ ngủ trưa và vô tình đặt con vào lò nướng thay vì cũi.”

Ông bà của đứa bé nói với cảnh sát rằng họ đã ra khỏi ngôi nhà mà họ ở chung với con gái vào sáng sớm hôm đó.

Người bà của đứa trẻ nhận được cú điện thoại của con gái, mẹ của đứa trẻ, trong tâm trạng bị cuồng loạn và nói rằng “con đã để em bé vào lò nướng thay vì cũi”.

Hồ sơ tòa án cho biết người ông trở về nhà sau khi người bà gọi điện thoại và nói với ông rằng “có điều gì đó không ổn với đứa bé.”

Ông ngoại nói với các cảnh sát rằng ông ngửi thấy mùi khét trong nhà và phát hiện đứa bé đã chết trong cũi.

Người mẹ của đứa bé nói với ông ngoại rằng cô “đã vô tình cho em bé vào lò nướng.”

Cảnh sát cho biết đã tìm thấy đứa trẻ sơ sinh trên xe tập đi trong phòng khách với “những vết thương do bị phỏng ở nhiều bộ phận trên cơ thể.”

Hồ sơ cho biết, quần áo của đứa bé dường như tan chảy trên tã đang mặc và cảnh sát cũng tìm thấy một chiếc chăn trẻ em có vết cháy.

Cho đến Chủ Nhật vẫn chưa rõ liệu người mẹ có thuê được luật sư hay không.

Nếu bị kết tội, người mẹ này phải đối mặt với án tù từ 10 năm đến chung thân. (MPL) [kn]


 

NHỮNG NGƯỜI VIỆT XẤU XÍ

Theo báo mạng DH*Canada, ngày 6 tháng 2 năm 2024, Jakie Nguyễn, một phụ nữ chơi TikTok, đã cho hay là cô đã trả lại Costco môt cái sofa sau hai năm rưỡi sử dụng. Cô nói: “Tôi không thích nó nữa!” Cô còn ngang ngược chua thêm: “Điều đó rất khó chịu, nhiều người chăm chăm nhìn vào bạn, nhưng để ý làm quái gì (who cares?) Cứ trả lại đi. Họ có hệ thống rất đặc biệt. Hãy đọc trên “online”, tôi không nghĩ bạn có thể làm như thế với điện tử, thuốc lá, rượu mạnh.” Bà Jackie Nguyễn còn khuyên mọi người: “Nhưng nếu bạn mua đồ đạc trong nhà từ Costco, các cô gái ơi! Bạn có thể trả lại chúng khi không thích nữa.” Lời khuyên này chắc chắn đã phát ra từ tâm hồn của cô, vì theo dõi cái “clip” TikTok, thấy vẻ mặt cô tươi hơn hớn, không có gì là ngượng cả.

Tờ báo trên, sau khi đưa tin, đã không có lời bình luận nào, nhưng trên Youtube, MT1CC// Người Việt Trả Ghế Sofa Sau 2 Năm Sử dụng vì Không Thích Màu Sắc (1), người làm Youtube đã có những lời phê bình sâu sắc và nặng nề về vụ việc bần tiện này. Nói chung, việc làm này đã gây sự bất thiện cảm với người trả hàng, có thể nói là bất kỳ ai chứng kiến sự việc, không cần phải là nhân viên nhận hàng của Costco, cũng có cái nhìn khinh bỉ kẻ lợi dụng sự tử tế của Costco, nếu không muốn nói là tất cả chỉ nhìn qua mầu da, qua tên họ Nguyễn, mà trong thoáng chốc, đã gộp toàn bộ người Việt vào môt khối tầm thường, đáng xấu hổ.

Điều làm cho những người Mỹ gốc Việt có tư cách cảm thấy nhục khi cô nàng còn khuyến khích mọi người làm theo mình. Ngay cả những người Mỹ gốc Việt di tản được xứ sở này dung dưỡng vào lúc tuổi đã cao, không còn thời gian để đi học lại, cũng không có một ai hành xử kém cỏi như Jackie Nguyễn. Cách đây hai năm rưỡi, thì giá trị của cái sofa vải chỉ chừng hơn một, hai trăm đô la mà thôi. Số tiền này không thể nuôi Jackie Nguyễn cả đời, nhưng tiếng xấu thì cô nàng sẽ mang theo suốt kiếp.

Thật ra, việc mua Sofa xài đã rồi đem trả cũng  không nhục bằng mua hoa Cúc về trưng Tết, sau Tết đem trả lại. Nhục nhã vô cùng vì những nhân viên Costco nhìn người Việt mình như khi xưa, người Việt Nam nhìn người những dân tộc kém văn minh ở Á Châu, Phi Châu…

Trong sinh hoạt thường ngày, một số người Việt cũng có những hành động làm cho người bản xứ hoặc người của cộng đồng khác khinh khi. Một lần, đi chợ Đại Hàn mua trái cây, chính người viết bài này đã chứng kiến ba phụ nữ Việt bóc từng thùng Lê ra và chọn từng trái một, trái nào đẹp thì gom vào một thùng, trái nào không đẹp thì bỏ vào thùng khác, trong khi ngay trước mặt khu bán Lê đã có một tấm biển nhỏ đề chữ: “Pear sells in box. Don’t select” nghĩa là Lê bán theo thùng, không được lựa. Ba phụ nữ này, sau khi lựa xong môt thùng toàn trái ngon, đã cười hí hí, đắc chí, dắt tay nhau về.

Tuy không nói ra nhưng ai cũng đoán được họ nói thầm với nhau là: “Phen này trúng mánh”. Mấy người tham lam này, không biết rằng chợ có Camera, biết hết từng hành động của họ, nhưng nếu người Cashier cho qua, thì chỉ vì họ khinh dân tộc mình mà thôi. Nhưng không phải lần nào cũng thoát. Một lần kia, môt phụ nữ đứng tuổi đến chỗ Cashier, bầy hết trái cây, rau quả ra cho tính tiền, nhưng bất ngờ, cô Cashier hỏi: “Còn con dao nhỏ, bà chưa mang ra?” Lúc bấy giờ, bà này mới líu ríu lấy ra con dao nhỏ dấu trong ví của mình ra và để trên quầy. Người phụ nữ này đã làm mất danh dự của mình chỉ vì con dao giá hơn Một đôla.

Ồn ào nhất là tại các trung tâm thể dục như “24 fitness”, “Chuze”. Người Việt mình đam mê thể dục là điều đáng hoan nghênh, nhưng nếu hành xử không đúng sẽ làm cho người khác cười chê. Một phụ nữ trẻ chạy trên Treatmil, vừa chạy vừa nói điện thoại um xùm, chẳng may hụt chân, bị máy lôi xuống té nằm dài trên băng chuyền, một chân kẹt vào máy, la khóc inh ỏi. Mấy nhân viên chạy đến cố cứu cô ra, nhưng không làm được gì vì hai tay cô bám chặt lấy tay họ và gào thét kinh hoàng. Một thanh niên phải hét lên: “Shut up! Let me do it”, mấy người Việt đứng cạnh cũng bảo cô im đi cho người ta làm việc, cô mới ngậm miệng.

Trong phòng bơi và phòng xông hơi cũng thế, mấy bà mấy ông xồn xồn tán nhau ỏm tỏi, nhất là trong phòng Steam Room, phòng nhỏ xíu mà nói oang oang, người Mỹ họ bỏ ra hết. Một trung niên đứng úp mặt vào góc tường, dạng háng che chỗ hơi nước nóng phun ra, làm mấy người khác nhăn nhó, sợ hãi. Người viết phải nói nhỏ: “Anh đừng đứng như thế, nếu anh không muốn người khác phải hít phải hơi mồ hôi của anh!”, anh ta mới đứng dang ra.

Ngay trước cửa vào phòng xông hơi, đã có hai hàng chữ Anh và Việt: “Xin đừng đổ nước vào cái Sensor!” vậy mà các ông Việt ta cứ tỉnh bơ đổ nước vào cái Sensor để cho hơi nước nóng mau phun lên, làm như thế, cái Sensor chóng hư, cứ môt hai tuần, phòng xông hơi lại đóng cửa để sửa Sensor.

Cũng trong phòng xông hơi nhỏ xíu, có ba cái băng dài để dọc theo tường, cho khoảng 8,9 người ngồi, môt phụ nữ Viêt mặc Bikini hai mảnh, nằm tênh hênh trên một băng, chân co, chân duỗi, một tay để thòng xuống đất, một tay gác lên bụng trông thật chướng, trong khi những người khác phải đứng chờ chỗ ngồi. Cô nàng ngủ thật hay ngủ giả thì không biết, nhưng kiểu nằm như thế trông rất thô tục. Tại hồ nước nóng của Chuze Fitness ở Garden Grove, chỗ bậc bước xuống hồ, có gắn hai trụ “inox” hình chữ U cong cong để cho người bước xuống bậc có chỗ vịn, môt cô khoảng 40,50, mặc bikini, hai tay bám vào thanh inox đu đưa qua lại, có lúc cô ưỡn người chui qua chui lại, y như mấy cô vũ nữ xếch xi múa cột tại các Bar rượu.
Những hành động như thế cũng chưa nham nhở bằng một cô gái, khoảng 30, xinh đẹp, mặc bikini, ngồi trên thành hồ nước nóng, đong đưa hai chân dưới nước, ngay chỗ đám thanh niên đang đứng ngâm nước, nói tỉnh bơ: “Các anh ơi! Em đang available, anh nào ngon, nhào dô!” Mấy thanh niên chưng hửng, không đáp ứng, có lẽ đã có kinh nghiệm cho rằng em đã móc được ông chồng già nào đưa em sang Mỹ, để rồi em đá đít, đi kiếm trai tơ. (Chuyện bỏ chồng già để kiếm trai xẩy ra rất nhiều, không thể đếm).

Người Mỹ gốc Việt, đặc biệt là thành phần di tản, thường mang theo mình dòng máu anh hùng, cho nên đã sản sinh ra một thế hệ thứ hai thành công về mọi mặt, đem lại danh dự rất lớn cho cộng đồng Việt.

Sau gần nửa thế kỷ, cộng đồng người Việt đã hãnh diện trên mọi phương diện: chính trị, văn hóa, xã hội, và nhất là về Quân Sự đã có nhiều cấp Tướng Lãnh trong Quân đội Hoa Kỳ. Bên cạnh Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh với chức vụ tương đương cấp Tướng, một phụ nữ Việt đã là Tướng Tư Lệnh môt Sư Đoàn chiến đấu thực sự, môt phụ nữ khác là Tổng Giám Đốc Hàng Không Mẫu Hạm.

Nhiều Khoa Học Gia gốc Việt đang được trọng nể không những trên toàn nước Mỹ mà cả thế giới. Năm 2024, trong cuộc bầu cử căng thẳng này sẽ có vài chục ứng cử viên gốc Việt với các họ Nguyễn, Trần… Cộng đồng người Việt di tản hoàn toàn không mang tiếng xấu như những người Việt ở trong nước đi làm ở nước ngoài, nhất là nước Nhật, khiến cho người Nhật đã phải viết bằng tiếng Việt “cấm ăn cắp”.

Cộng đồng Việt cũng không có phi hành đoàn buôn ma túy lậu, không tổ chức băng đảng như ở Đức. Cho nên, rất mong cộng đồng người Việt di tản đã mang dòng máu Việt anh hùng, cố gắng xử sự sao cho người Mỹ và các cộng đồng khác nể nang dân tộc Việt, không nên để các vết nhơ trong lịch sử người Việt hải ngoại, trên hết là tránh các cuộc đấu đá lẫn nhau, chỉ vì Tiền hay Danh do bọn nằm vùng bố thí, để thực thi Nghị Quyết 36, phá tan sự đoàn kết hải ngoại, khiến cho công cuộc đòi Tự Do, Dân Chủ cho dân tộc bị ngưng trệ.

From: giang pham & KimBang Nguyen

(MT1CC// Người Việt Trả Ghế Sofa Sau 2 Năm Sử dụng vì Không Thích Màu Sắc)


 

 Gần 4.000 trường hợp cấp cứu do tai nạn giao thông trong hai ngày Tế

 RFA

2024.02.11

Đường phố Hà Nội hôm 5/2/2024, dịp cận Tết Nguyên đán (minh hoạ)

 AFP

Các bệnh viện ở Việt Nam tiếp nhận 3.782 trường hợp tai nạn giao thông trong hai ngày 30 và mùng 1 Tết vừa qua, 1.500 người phải nhập viện điều trị.

Báo Nhà nước dẫn thông tin từ Cục Quản lý Khám chữa bệnh, Bộ Y tế, cho biết số người nhập viện do tai nạn giao thông dịp Tết năm nay cao hơn so với con số 3.318 ca trong năm ngoái.

Theo số liệu từ Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia, trong hai ngày mùng 1 và mùng 2 Tết, số tai nạn giao thông trên cả nước là 161 vụ khiến 49 người chết và 196 người bị thương.

Dịp Tết cũng là dịp cảnh sát giao thông gia tăng tuần tra phát hiện người có nồng độ cồn trong hơi thở nhưng vẫn điều khiển phương tiện giao thông. Theo thống kê được truyền thông Nhà nước đăng tải, trong ngày mùng 2 Tết (tức 11/2), cảnh sát giao thông trên cả nước đã phát hiện, xử lý hơn 7.800 trường hợp vi phạm trật tự, an toàn giao thông, trong đó có gần 4.000 tài xế vi phạm nồng độ cồn.

Luật của Việt Nam quy định, người lái xe có nồng độ cồn trong hơi thở vượt 0 sẽ bị phạt và đây là điều gây nhiều tranh cãi và phản đối vì có người cho rằng nhiều khi trong đồ ăn cũng có một chút cồn nhưng không đủ để gây say rượu.

Cũng trong ngày 30 và mùng 1 Tết, các bệnh viện Việt Nam đã phải tiếp nhận 280 trường hợp khám, cấp cứu do pháo nổ, chất nổ, trong đó có 163 trường hợp phải nhập viện điều trị, không có trường hợp tử vong.

Từ năm 1994, Chính phủ Việt Nam đã cấm việc sản xuất, vận chuyển, mua bán và đốt pháo trong dịp Tết vì những lo ngại về an toàn tính mạng. Tuy nhiên, đây là tập tục lâu đời của người dân nên vẫn xảy ra tình trạng người dân đốt pháo và vẫn có trường hợp mua bán và vận chuyển pháo lậu.


 

Vì sao Phan Châu Trinh chưa thành công?- Nguyễn Quang A

Ba’o Tieng Dan

Luật Khoa

Nguyễn Quang A

8-2-2024

  1. Tư tưởng Phan Châu Trinh

Phong trào phát triển đất nước (và dân chủ hóa) do Phan Châu Trinh khởi xướng đầu thế kỷ XX (1905-1907) ở Việt Nam là hết sức toàn diện và đúng đắn. Không những thế, thật đáng ngạc nhiên rằng các tư tưởng chính của ông được thuyết hiện đại hóa mới do Christian Welzel (2013) đúc kết xác nhận về mặt lý thuyết và thực tiễn trên quy mô toàn cầu. Thuyết hiện đại hóa mới được xem như một trong những lý thuyết toàn diện nhất về dân chủ hóa cho đến nay.

Vậy vì sao phong trào của cụ Phan chưa thành công và công cuộc dân chủ hóa ở Việt Nam sau đó một trăm năm vẫn chưa có kết quả?

Bài này thử tìm hiểu một số nguyên nhân của sự chưa thành công đó dựa vào khung khổ của chính thuyết hiện đại hóa mới.

Tôi từng có hai tiểu luận, “Phan Châu Trinh và thuyết hiện đại hóa mới” (2017) và “Tiananmen Protests and Lessons for Democratization in Vietnam” (2019), tóm tắt tư tưởng chính của Phan Châu Trinh về sự phát triển đất nước và dân chủ hóa Việt Nam. Các điểm chính của tư tưởng Phan Châu Trinh có thể được tóm tắt như sau.

  1. Phát triển kinh tế

Phan Châu Trinh, với khẩu hiệu “hậu dân sinh” (mà chúng tôi ở Diễn đàn Xã hội Dân sự cập nhật thành “cải thiện dân sinh”) đã luôn luôn chú tâm để nhân dân Việt Nam phát triển kinh tế; tạo dựng doanh nghiệp; cổ vũ thương mại, du lịch và buôn bán ở trong nước và với nước ngoài. Không chỉ nêu tư tưởng, cụ Phan cũng tích cực vận động mọi người khởi nghiệp (mà điển hình là công ty Liên Thành 1906 tại Phan Thiết).

  1. Nâng cao dân trí

Phát triển giáo dục là một phần cốt lõi của chủ trương nâng cao dân trí (“Khai dân trí”) của cụ. Không chỉ khởi xướng chủ trương, cụ Phan còn tích cực vận động lập trường (Đông Kinh Nghĩa Thục năm 1907 tại Hà Nội và đã giảng dạy ở đó; trường Dục Thanh Học Hiệu năm 1907 ở Phan Thiết). Tuy vậy, nâng cao dân trí không chỉ qua giáo dục chính thức mà còn được thực hiện qua thực hành (và chủ trương thực học của cụ là hết sức quan trọng), qua đọc sách, đọc báo, viết sách, viết báo, việc lập ra các hội đoàn, doanh nghiệp, phát triển kinh tế (như nêu ở điểm 1 ở trên).

  1. Chấn hưng dân khí

“Chấn dân khí,” nuôi dưỡng, khơi dậy tinh thần giải phóng, tinh thần tự do của nhân dân là một chủ trương rất quan trọng của cụ Phan (mà Liên Thành Thư Xã được thành lập năm 1905 tại Phan Thiết để truyền bá sách báo có nội dung yêu nước là một ví dụ).

  1. Vận động

Tổ chức các phong trào xã hội để buộc nhà cầm quyền (Pháp) cải cách.

  1. Chủ trương bất bạo động

Tuyệt đối bất bạo động, chỉ dùng phương pháp ôn hòa để thúc đẩy tất cả các việc trên để đưa nước ta vào nền văn minh mới, đủ sức đương đầu với kẻ thù (cũng bằng phương pháp bất bạo động) để giành độc lập chính trị.

  1. Chủ trương tự chủ

Không bài ngoại, không ỷ ngoại mà phải tự chủ.

Có thể thấy các chủ trương, tư tưởng của Phan Châu Trinh đã hình thành một cách hoàn chỉnh trong khoảng năm 1905-1907, và đã được bản thân cụ triển khai trên thực tế và cổ vũ, vận động nhân dân làm theo. Đây là cách tiếp cận hiện đại đối với ngay cả các học giả nghiên cứu về dân chủ hóa nếu xét theo các lý thuyết và thực tiễn dân chủ hóa hiện nay. Cũng hết sức đáng lưu ý rằng cụ Phan đã muốn nhân dân Việt Nam (hay số rất đông trong số họ) thực hiện các chủ trương trên chứ không chỉ một số ít người trở nên giàu có, hiểu biết rộng và có chí khí lớn.

  1. Thuyết hiện đại hoá mới

Lý thuyết hiện đại hóa, do Seymour Martin Lipset (1959) đưa ra, cho rằng “dân chủ là kết quả trực tiếp của sự tăng trưởng kinh tế”, và rằng “một quốc gia càng giàu, thì cơ hội càng lớn là nó sẽ giữ vững nền dân chủ”. Thuyết hiện đại hóa đã có ảnh hưởng lớn đến dân chủ hóa trên thế giới (và vẫn được một số chính trị gia đi theo), tuy sau đó bị nhiều người chỉ trích và sửa đổi, bổ sung.

Tóm lại, hiện đại hóa, theo lý thuyết của Lipset, không dẫn đến dân chủ, nó tạo ra một số điều kiện cần nhưng không đủ cho dân chủ hóa (chẳng hạn các nước rất giàu ở Vùng Vịnh hay Trung Quốc minh chứng rằng sự phát triển kinh tế, sự phát triển khoa học công nghệ, hiện đại hóa không trực tiếp dẫn đến dân chủ). Dù sao đi nữa, lý thuyết hiện đại hóa của Lipset là một đóng góp lớn.

Christian Welzel (2013) tổng kết những nghiên cứu của bản thân ông và nghiên cứu của ông với Ronald Inglehart để phát triển lý thuyết hiện đại hóa mới, mà nội dung chính có thể được tóm tắt như dưới đây.

  1. Các nguồn lực hành động

Theo Welzel, có ba nguồn lực hành động quan trọng nhất là: nguồn lực vật chấtnguồn lực trí tuệ, và nguồn lực kết nối.

Nguồn lực vật chất là các thiết bị, công cụ, tiền bạc… cần cho hành động.

Nguồn lực trí tuệ là sự hiểu biết, kiến thức, thông tin, kỹ năng… cần cho hành động.

Nguồn lực kết nối là các hoạt động, cơ chế tạo ra khả năng liên kết, tiếp xúc, hợp tác, tổ chức để hoạt động. Ví dụ: đô thị hóa, làm việc trong các nhà máy công sở giúp những người lao động liên kết với nhau, phối hợp với nhau, tổ chức lại để hành động; mạng lưới giao thông tốt tạo thuận tiện cho sự đi lại, tập hợp, cũng làm tăng nguồn lực kết nối; sự phát triển của các mạng truyền thông cũng thế. Nguồn lực kết nối có cả khía cạnh thể chế của nó, chẳng hạn, quyền tự do lập hội tăng cường nguồn lực kết nối, ngược lại sự cấm đoán làm giảm các nguồn lực kết nối.

Hiện đại hóa, sự phát triển của công nghệ tạo ra các nguồn lực hành động cho các chủ tư bản, cũng có thể (nhưng không nhất thiết) tạo ra các nguồn lực đó cho quảng đại nhân dân. Nó chỉ tạo ra các nguồn lực hành động cho quảng đại quần chúng khi hiện đại hóa và sự phát triển công nghệ nhắm tới phục vụ con người, bổ sung cho các năng lực con người, hơn là tự động hóa  chỉ nhằm để thay thế lao động con người và giám sát con người (xem Daron Acemoglu and Simon Johnson [2023]).

Cần lưu ý rằng các nguồn lực hành động của nhân dân (số đông người) cũng là kết quả của những cuộc đấu tranh chứ không phải do hiện đại hóa tự động mang lại. Đấy là một sự khác biệt quan trọng của thuyết hiện đại hóa mới so với thuyết hiện đại hóa ban đầu. Cả ba nguồn lực hành động đều quan trọng nhưng các nguồn lực trí tuệ và kết nối quan trọng hơn nguồn lực vật chất.

Chính trên nền của các nguồn lực hành động này của số đông người dân, công cuộc chấn dân khí mới có thể thành công. Đó là nơi các giá trị giải phóng bước vào và đóng vai trò lớn trên tầng văn hóa, và đây là điểm khác biệt thứ hai.

  1. Các giá trị giải phóng

Các giá trị giải phóng là các giá trị thúc đẩy các quyền tự do của con người.

Các giá trị giải phóng nhấn mạnh bốn khía cạnh về sự tự trị cá nhân, lựa chọn, bình đẳng, và sự lên tiếng, và có thể đo được bằng các cuộc khảo sát.

World Values Surveys đã đo các giá trị này trong khoảng 100 nước chiếm hơn 90% dân số thế giới. Từ năm 1981 đến nay (2024), họ đã khảo sát bảy đợt. Trên cơ sở đó, Welzel đã phát triển Chỉ số các Giá trị Giải phóng (EVI-Emancipative Values Index). Việt Nam đã tham gia vào ba trong bảy đợt khảo sát này trong các năm 2001 (đợt 4), 2006 (đợt 5) và 2020 (đợt 7). Nguyễn Quang A (2017) đã chỉ ra rằng EVI có thể được dùng như một chỉ số về dân khí. Nói cách khác, dân khí có thể đo được cho tất cả các nước trên thế giới và tạo cơ sở để tiến hành những nghiên cứu so sánh.

  1. Các phong trào xã hội

Trên bình diện tâm lý, các giá trị giải phóng trao quyền cho con người. Chúng thúc đẩy người dân thực hiện các quyền tự do phổ quát, tham gia tích cực vào các hoạt động phong trào xã hội, đòi nhà nước phải đáp ứng các quyền và lợi ích chính đáng của họ bằng cách bảo đảm về mặt pháp lý để người dân thực hiện các quyền tự do.

  1. Dân chủ hóa

Không có các phong trào xã hội sẽ không có dân chủ hóa. Chính các phong trào xã hội truyền đạt khát vọng của người dân (các giá trị giải phóng của họ), nhưng bản thân các giá trị giải phóng là động cơ thúc đẩy mạnh nhất trong những động cơ thúc đẩy nhân dân tham gia vào các phong trào xã hội, đấu tranh cho nhân quyền và dân chủ. Chính áp lực mạnh của nhân dân buộc các nhà chức trách phải ban hành luật pháp để tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân thực hiện các quyền của mình.

Khi các quyền dân sự và chính trị được pháp luật bảo đảm, được thực thi trong thực tế thì chúng ta có nền dân chủ. Nhưng dân chủ chỉ được củng cố và phát triển nếu nhân dân liên tục đấu tranh để tiếp tục cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí, tham gia vào các phong trào xã hội, liên tục gây áp lực để buộc những người cầm quyền phải duy trì, nâng cao những quyền đã đạt được, mở rộng các quyền khác của nhân dân. Nói cách khác, dân chủ hóa là một quá trình không bao giờ chấm dứt.

Chúng ta có thể tóm tắt tư tưởng của Phan Châu Trinh được thuyết hiện đại hóa mới đúc kết thành lý thuyết với hình sau đây:

Hình 1. Tóm tắt tư tưởng Phan Châu Trinh theo thuyết hiện đại hóa mới.

Chúng ta có thể thấy lý thuyết dân chủ hóa toàn diện nhất hiện nay – được công bố năm 2013 – minh họa rất rõ ràng các tư tưởng chính mà Phan Châu Trinh đưa ra hơn một trăm năm trước. Như thế, có thể xem Phan Châu Trinh là nhà cải cách sáng suốt nhất, nhà cách mạng triệt để nhất, người có tầm nhìn xa trông rộng nhất ở Việt Nam trong đầu thế kỷ thứ hai mươi, nếu không muốn nói là đạt tầm vóc của nhiều nhà cải cách có ảnh hưởng lớn trên thế giới thời kỳ đó.  Vậy vì sao cụ Phan chưa thành công và cho đến nay Việt Nam vẫn chưa có dân chủ?

III. Vì sao Phân Châu Trinh chưa thành công?

Có nhiều nguyên nhân cho sự nghiệp chưa thành công của Phan Châu Trinh.

Cụ Phan Châu Trinh đã vượt quá xa tầm hiểu biết của các trí thức, những người yêu nước, và của nhân dân ta cũng như trình độ phát triển, hoàn cảnh chính trị và xã hội thời đó. Chính phải hiểu rõ những khó khăn đó chúng ta mới hiểu tầm vóc vĩ đại của Phan Châu Trinh. Cũng nên lưu ý rằng Phan Châu Trinh trẻ hơn Mahatma Gandhi ba tuổi và hai vị đưa ra phương pháp đấu tranh bất bạo động gần như đồng thời, Phan Châu Trinh năm  1905 và Mahatma Gandhi năm  1906. Tuy vậy, thế giới hình như biết đến Mahatma Gandhi, Martin Luther King, Dalai Lama, Václav Havel, Thích Nhất Hạnh và Aung San Suu Kyi nhiều hơn Phan Châu Trinh khi nói đến phương pháp đấu tranh bất bạo động.

Hầu như phần lớn những người yêu nước và trí thức thời đó đã không hiểu cụ và chủ trương các đường lối gần như ngược với đường lối của cụ (từ Phan Bội Châu chủ trương dùng bạo lực và nhờ nước ngoài, đến Hồ Chí Minh sau đó).

Nhân dân cũng vậy. Cụ chủ trương tuyệt đối bất bạo động, nhưng nhân dân chính quê cụ không kiên trì thực hiện. Phong trào chống sưu cao thuế nặng tháng Ba năm 1908 ban đầu diễn ra một cách ôn hòa nhưng sau đó đã trở nên hết sức bạo lực, vượt ngoài tầm kiểm soát của những người tổ chức (không có Phan Châu Trinh trong số những người tổ chức). Và phong trào đã bị dập tắt trong sự đàn áp dã man của chính quyền thuộc địa Pháp. Dù không tham gia tổ chức, cụ Phan, cùng nhiều nhân sĩ khác, đã bị bắt và nhiều người bị kết án tử hình, rồi cụ bị đày ra Côn Đảo. May nhờ sự can thiệp của Hội Nhân quyền Pháp, cụ thoát án nặng và bị quản thúc tại Mỹ Tho rồi đi Pháp (1/4/1911); xem Chu Hảo (2023).

Chính quyền thuộc địa Pháp và triều đình đã đàn áp rất quyết liệt, bắt, bỏ tù, xử tử hình hoặc lưu đày các trí thức yêu nước, kể cả Phan Châu Trinh.

Ngoài những nguyên nhân trên, có lẽ cũng bổ ích để xem xét các nguyên nhân, mà tôi cho là cốt lõi hơn, của sự chưa thành công theo khung khổ của chính tư tưởng của Phan Châu Trinh được lý thuyết hóa trong thuyết hiện đại hóa mới. Đầu tiên, hãy xem xét các điều kiện cần là các nguồn lực hành động, rồi đến dân khí khi đó.

  1. Nguồn lực vật chất

Đáng tiếc, chưa có những nghiên cứu lịch sử về vấn đề này ở Việt Nam, chí ít từ thế kỷ XIX cho đến giữa thế kỷ XX (các nhà nghiên cứu trẻ có thể dựa vào các tài liệu lưu trữ của Pháp may ra có thể dựng lại lịch sử phát triển kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn này). Vì thế chúng tôi phải chọn một biến đại diện (proxy variable) là GDP/đầu người tính theo sức mua (PPP) với giá trị đô-la một năm cố định nào đó (để tiện so sánh). Theo Madisson Project, dữ liệu về GDP/đầu người (PPP, theo đô-la 2011) của Việt Nam từ 1820 đến 2018 diễn biến như sau:

Hình 2. GDP/đầu người ở Việt Nam, theo sức mua (PPP) tính bằng đô-la 2011. Nguồn: Maddison Project

Hãy xem so sánh quốc tế với vài nước lân cận trên hình sau:

Hình 3: GDP/đầu người, so sánh quốc tế. Nguồn: Maddison Project.

Chúng ta thấy Nhật Bản vượt hẳn các nước khác trong khu vực trong thế kỷ XIX cho đến hết thế kỷ XX. Hàn Quốc và Đài Loan bắt kịp (và thậm chí vượt Nhật Bản) một cách ngoạn mục trong các thập niên đầu của thế kỷ XXI.

Cũng nên lưu ý rằng, mức nghèo tuyệt đối (đủ để tồn tại theo sức mua PPP) là 694 đô-la năm 2011. Theo Hình 2 và Hình 3, trong suốt một thế kỷ rưỡi, nguồn lực vật chất của người Việt Nam chỉ hơn mức sinh tồn một chút: mức năm 1975 là $1.132, cho đến đầu thời kỳ Đổi mới năm 1986 đều dưới mức $1.500 (là mức của năm 1987); cho đến năm 1993, mức này vẫn dưới 2.000 đô-la và vào năm 1994 chỉ đạt 2.018 đô-la. Có thể nói cho đến năm 1994, nguồn lực vật chất của người Việt Nam là rất eo hẹp, lo cái ăn là chính chứ lấy đâu thời gian để nghĩ đến chuyện gì khác.

Hình 3 cho thấy nguồn lực vật chất của người Việt Nam thấp thế nào so với các nước trong khu vực. Vào năm 1986, khi Philippines chuyển sang dân chủ, mức của họ là $3.161/đầu người, gấp hơn 2,1 lần của Việt Nam; Hàn Quốc khi chuyển đổi năm 1987 đạt $9.756/đầu người, còn hơn mức năm 2018 của Việt Nam.

Với trường hợp Đài Loan, khi Tưởng Giới Thạch mất năm 1975, GDP đầu người của họ đạt $5.614. Sau đó, Quốc Dân Đảng độc tài, một đảng Leninist đúng nghĩa, bắt đầu nới lỏng dần chính sách cai trị với việc đưa Lý Đăng Huy – người sinh ra ở Đài Loan – lên làm lãnh đạo cấp cao của đảng. Năm 1986, khi phong trào đối lập “Đảng ngoại” – khi đó vẫn bất hợp pháp – lập ra Dân Tiến Đảng và được chính quyền để yên cho hoạt động, GDP/đầu người của Đài Loan đạt $11.918. Và 14 năm sau, khi ứng cử viên Trần Thủy Biển của Dân Tiến Đảng được bầu làm tổng thống, chấm dứt sự độc quyền của Quốc Dân Đảng, GDP đầu người của Đài Loan đã là $26.787.

Cũng thật đáng lưu ý từ Hình 3 rằng xuất phát điểm của tất cả các nước này vào năm 1820 là gần như nhau: Nhật – $1.321, Đài Loan – $966; Malaysia – $960; Philippines – $931; Thái Lan – $909 và Việt Nam $840.  Đến đầu thế kỷ XX vẫn đại thể như vậy (trừ Nhật Bản)  với GDP/đầu người năm 1913 là $1.159 ở Việt Nam, $1.171 ở Hàn Quốc, $1.286 ở Đài Loan; $1.289 ở Malaysia; $1.341 ở Thái Lan; $1.575 ở Philippines, và $2.431 ở Nhật Bản. Nhưng, từ những năm 1950-1960 trở đi, sự phân kỳ là hết sức rõ rệt do những lựa chọn khác nhau của mỗi nước.

  1. Nguồn lực trí tuệ

Cũng tương tự như nguồn lực vật chất, chúng ta không có dữ liệu lịch sử chi tiết về nguồn lực trí tuệ, mà có thể dựa vào tỷ lệ biết chữ, số người đi học các cấp, thời gian học, số các trường học các loại, chương trình học, số sách báo, số sách báo người dân đọc, số sáng chế, v.v.

Trong hệ thống giáo dục truyền thống (trước khi Pháp xâm chiếm các vùng lãnh thổ Việt Nam), ngoài các trường công như Quốc Tử Giám (chủ yếu để dạy con cháu nhà vua), có nhiều thầy đồ ở các làng chủ yếu dạy chữ Nho, Khổng giáo. Hệ thống nhà chùa cũng là nơi việc học phật pháp diễn ra.

Tôi cố gắng tìm hiểu xem ngoài chữ Nho, Khổng giáo, Phật giáo và thơ văn ra các trường công, tư và cộng đồng này còn dạy gì khác không, chẳng hạn như toán, thiên văn học, các môn khoa học và kỹ thuật theo cách nhìn hiện nay. Rất ít tư liệu nói về các nội dung đào tạo này.

Theo Dân Việt, ba kỳ tài toán học Việt Nam là Vũ Hữu (1437-1530) có để lại tác phẩm Lập Thành Toán Pháp (立成算法) – cuốn sách toán học cổ nhất Việt Nam; Lương Thế Vinh (1441-1496) là trạng nguyên giỏi toán nhất; và Nguyễn Hữu Thận (1757-1831) nghiên cứu việc làm lịch và dịch các tác phẩm toán Trung Quốc, ông để lại tập sách “Ý Trai toán pháp”. Cả ba vị kỳ tài toán học này đều làm quan to trong các triều đình thời các cụ. Giá mà các cụ không làm quan mà chỉ chăm chú nghiên cứu toán, dạy toán, viết sách toán thì chắc nền toán học Việt Nam đã có thể khác đi, nhưng đáng tiếc mục tiêu học chỉ để làm quan (hay được vua phát hiện ra tài năng và bị bắt làm quan).

Gail Paradise Kelly (2000) cho rằng trong hệ thống giáo dục truyền thống của Việt Nam, các thầy đồ không chỉ đóng vai trò công cụ của chính quyền – dạy chữ Nho và Khổng giáo cho học sinh và chuẩn bị cho những người trẻ xuất sắc nhất để tiến những bước tiếp trên đường làm quan. Họ còn tạo thành các mạng lưới riêng của mình qua các mối quan hệ học hành để tập hợp phản kháng chính quyền khi cần thiết. Nói cách khác, thầy đồ đã là xương sống của một mạng lưới chính trị.

Hiểu vai trò này của hệ thống giáo dục truyền thống Việt Nam, chính quyền thực dân Pháp bắt đầu tổ chức hệ thống giáo dục của mình. Việc các trí thức Việt Nam xây dựng hệ thống giáo dục riêng, mà điển hình là phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, bị coi là nguy hiểm.  Vì thế, Đông Kinh Nghĩa Thục bị Pháp giải tán sau chỉ tám tháng tồn tại. Mặc dù vậy, đó vẫn là một áp lực quan trọng buộc chính quyền thực dân phải cải tổ giáo dục, nhất là bắt buộc dùng chữ Quốc ngữ tại trường, cải cách chế độ thi cử.

Gail Paradise Kelly (2000) cho chúng ta một phân tích khá toàn diện và khá nhiều dữ liệu về hệ thống giáo dục Việt Nam thời kỳ 1906-1939.

Hệ thống giáo dục quốc gia thống nhất chỉ bắt đầu hình thành sau năm 1917 với các nghị định cải cách của Toàn quyền Albert Sarraut. Hệ thống tiểu học 5 năm và sau đó là 5 năm trung học cơ sở và bậc đại học với một trường duy nhất ở Hà Nội (được thành lập từ 1906).

Chỉ xin trích vài dữ liệu năm 1926, năm cụ Phan mất, từ trang 84-85 của Gail Paradise Kelly (2000), Việt Nam có tổng cộng 3.053 trường tiểu học (3 năm) với 153.737 học sinh; 244 trường tiểu học đầy đủ (5 năm) với 65.329 học sinh; 17 trường trung học cơ sở (dạy 10 năm) với 3.656 học sinh, 2 trường cấp hai (secondary school, lycée) với 56 học sinh (năm 1923 lại có 83 học sinh).

Tuy nhiên, đây là vài số liệu rời rạc được trích ở trên và tóm tắt của World Bank 2010 Report (trang 2): “Vào thời kỳ thịnh vượng nhất của Đông Dương bị Pháp xâm chiếm, Việt Nam chỉ có 2.322 trường tiểu học (ba năm) và số học sinh chiếm 2% tổng dân số; 638 trường tiểu học cho 2 năm cuối của giáo dục tiểu học với số học sinh chiếm 0,4% tổng dân số; 16 trường trung học cơ sở (primary colleges cho 4 năm sau bậc tiểu học) chiếm 0,05% tổng dân số và 6 trường trung học phổ thông trong đó có 3 trường nhà nước với số học sinh học trường công chỉ chiếm 0,019% dân số. Toàn bộ Đông Dương thuộc Pháp chỉ có ba đại học (Luật, Y Dược, Khoa học) tại Hà Nội với 834 sinh viên, trong số đó có 628 sinh viên Việt Nam… Với một hệ thống giáo dục như vậy 95% dân Việt Nam đã mù chữ.”

Hãy so sánh với Nhật Bản đầu thế kỷ XX. Theo ước lượng của Giáo sư Tsujimoto Masashi (2000), tỷ lệ biết chữ của các thành phố lớn của Nhật vào đầu thế kỷ XIX là trên 70%, mức ở vùng nông thôn là khoảng 10 hay 20% hay thấp hơn. Tuy vậy, vào năm 1909 tỷ lệ dự học bắt buộc (6 năm lúc đó) là trên 98%.  Sự khác biệt giữa Nhật Bản và Việt Nam thật sự khủng khiếp.

Nói cách khác, hoàn cảnh kinh tế, xã hội và chính trị ở Việt Nam đầu thế kỷ XX hoàn toàn không thuận lợi ngay cả cho việc khai dân trí của Phan Châu Trinh, và chính biết rõ điều đó nên cụ đã chủ trương khai dân trí.

  1. Nguồn lực kết nối

Nguồn lực kết nối có thể được phản ánh khá tốt bằng tỷ lệ dân cư đô thị, số người làm trong các nhà máy, công sở (nơi có đông người tụ tập và sự kết nối dễ dàng hơn những người sống ở nông thôn, nhất là vùng sâu vùng xa), mạng lưới giao thông, số người dùng Internet (và cả các chính sách kiểm duyệt Internet), v.v. Hãy xét tỷ lệ dân cư đô thị.

Hình 4. Dân số đô thị 1960-2020, so sánh quốc tế. Nguồn: Tác giả soạn theo dữ liệu của Macrotrends (trích dữ liệu của Ngân hàng Thế giới).

Có thể thấy nguồn lực kết nối của Việt Nam trong giai đoạn từ 1960 cho đến nay luôn luôn thấp hơn các nước trong khu vực. Lưu ý rằng vào năm 1986, khi chuyển đổi sang dân chủ, tỷ lệ dân cư đô thị của Philippines đạt 43,2%, còn tương tự tại Hàn Quốc trong năm 1987 là 68,56%, trong khi đó tỷ lệ hiện nay của Việt Nam cũng chỉ là 38,77%. Đó là chưa kể đến việc tự do tư tưởng và sự kết nối khác và tổ chức kết nối (như các tổ chức xã hội dân sự, các hội thảo, hội họp) mà ở nước ta là thấp hơn các nước được nhắc đến, và hiện nay có thể còn kém thời cụ Phan Châu Trinh.

  1. Dân khí

Đáng tiếc chúng ta không có những số đo lịch sử về dân khí (mà có quan hệ mật thiết với chỉ số các giá trị giải phóng (EVI), xem Nguyễn Quang A (2017), vì các giá trị này mới chỉ được đo từ năm 1981 đến nay trong bảy đợt.

Hãy xem xét EVI của vài nước trong khu vực để chúng ta có thể có chút cơ sở nào đó để mường tượng. Do các giá trị thường được thiết lập trong các năm hình thành (formative years, 0-8 tuổi; và môi trường kinh tế xã hội và nhất là môi trường gia đình, giáo dục ở tuổi trước khi đến trường và trong thời vị thành niên là hết sức quan trọng) và các giá trị của toàn xã hội (tức mức trung bình phổ biến của giá trị nào đó) thay đổi chủ yếu qua sự thay thế các nhóm tuổi, cho nên các giá trị, kể cả dân khí (EVI), thường thay đổi rất chậm.

Hình 5. EVI của một số nước trong khu vực được đo trong bảy đợt khảo sát của World Values Survey. Nguồn: Tác giả soạn dựa vào dữ liệu của World Values Survey.

Có thể thấy xu hướng tăng dài hạn của EVI trong tất cả các nước (chủ yếu do những thay đổi giá trị của các nhóm lứa tuổi [age cohort] trẻ bước vào tuổi trưởng thành và của các nhóm lứa tuổi già chết đi, hay nói cách khác sự thay đổi giá trị giữa các nhóm lứa tuổi). Nhưng, EVI cũng tăng hay giảm trong ngắn hạn do những thay đổi giá trị bên trong nhóm lứa tuổi phản ánh những biến động về những thay đổi về các nguồn lực hoạt động. Do EVI được chuẩn hóa (0 ≤EVI ≤ 1) nên sự thay đổi không nhiều trong thời gian ngắn, và sự chênh lệch 0,05 là rất lớn và thường xảy ra do sự thay thế nhóm lứa tuổi.

Với số điểm dữ liệu ít ỏi (Việt Nam 3 điểm, và Hàn Quốc 7 điểm trong 40 năm qua), khó có thể có những ước lượng lùi về quá khứ, thí dụ lùi lại khoảng một thế hệ quay lại các năm 1960. Nhưng dùng nhiều điểm dữ liệu hơn của các vùng văn hóa (với số điểm dữ liệu của mỗi vùng lên đến hàng trăm), Christian Welzel (2021) và các cộng sự của ông có thể làm việc này và cho chúng ta các ước lượng đáng tin cậy về EVI cho giai đoạn 1960-1980 cùng với EVI thực đo cho giai đoạn 1981-2020, cho chúng ta thấy rõ xu hướng tăng toàn cầu của các giá trị giải phóng trên Hình 6.

Hình 6. Sự thay đổi của EVI của các vùng văn hóa (1960-2000). Nguồn: Hình OA-9 của Christian Welzel (2021).

Việt Nam, dù có thuộc về vùng văn hóa Sinic East (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan) hay không, chắc nó nằm giữa vùng Indic East và Sinic East, có thể suy đoán rằng EVI là thấp cỡ 0,3 trong suốt giai đoạn đầu thế kỷ XX của cụ Phan và lên 0,34 năm 2001, 0,36 năm 2006, và 0,41 năm 2020.

  1. Các phong trào xã hội

Động cơ mạnh nhất, lâu bền nhất để tham gia các hoạt động phong trào xã hội là các giá trị giải phóng, hay dân khí. Ngoài ra, có các động cơ khác như lợi ích, sự bất bình, hận thù và chúng không mạnh như dân khí. Nếu hoạt động phong trào xã hội có động cơ chính là các giá trị giải phóng thì hoạt động đó chủ yếu là bất bạo động và kinh nghiệm thực tế chứng minh nó là phương pháp đấu tranh hiệu quả nhất.

Khi các nguồn lực hành động thấp, dân khí thấp thì quần chúng có thể dễ bị (các nhà hoạt động dân túy và/hay chủ trương bạo lực hoặc những kẻ khiêu khích do chính quyền cài vào) kích động tham gia vào các phong trào xã hội, với các động cơ khác với các giá trị giải phóng. Điều này dễ khiến các phong trào xã hội trở nên bạo động và/hay vượt khỏi tầm kiểm soát của những người chủ trương bất bạo động, và như thế tạo cớ cho nhà cầm quyền đàn áp thẳng tay.

Chiến lược chính của các nhà cầm quyền độc tài để bẻ gãy liên kết giữa các giá trị giải phóng và các hoạt động phong trào xã hội là tuyên truyền và đàn áp, xem Welzel (2013, tr.219). Dân khí càng cao thì tác dụng của sự tuyên truyền và đàn áp càng ít có hiệu quả, trong khi nếu dân trí thấp, kinh tế không phát triển và dân khí thấp thì hiệu quả của tuyên truyền và đàn áp rất cao.

Tóm lại, cho đến khi cụ Phan Châu Trinh mất năm 1926, các nguồn lực hành động của nhân dân tất cả các nước trong khu vực, kể cả dân khí đã rất thấp và chẳng nước nào đã dân chủ hóa thành công trong vòng 60 năm sau đó cả, nói chi đến Việt Nam.

Về phương pháp, ngược với chủ trương bất bạo động của Phan Châu Trinh các nhà cầm quyền ở Việt Nam trong suốt thế kỷ hai mươi đã sử dụng phương pháp bạo động.

Ngược với chủ trương chống bài ngoại và chống ỷ lại vào nước ngoài của Phan Châu Trinh, đáng tiếc tư tưởng bài ngoại và đôi khi ỷ ngoại đã phổ biến theo những thái cực khác nhau và các tàn dư của nó vẫn còn đến ngày nay.

  1. Vài suy ngẫm

Như thế, có thể dễ hiểu là cụ Phan Châu Trinh đã chưa thành công (nhưng dứt khoát không thất bại vì sự nghiệp đó đang và sẽ còn tiếp tục). Và suốt từ đó đến nay, nhất là từ thập niên 1990 khi Đổi mới thực sự bắt đầu, Việt Nam đã ngày càng đi theo các tư tưởng của cụ Phan Châu Trinh dù nhiều người không muốn thú nhận như thế.

Về nguồn lực vật chất, như Hình 3 cho thấy Việt Nam luôn luôn ở mức thấp nhất cho đến tận ngày nay, so với các nước trong khu vực. Dù ở miền Nam nền kinh tế thị trường được khuyến khích cho đến tận năm 1975 nhưng sau đó chính quyền đã tìm mọi cách hủy diệt nền kinh tế thị trường. Mãi đến năm 1986, do không “đổi mới” thì chết nên chính quyền đã buộc phải trả lại cho dân một phần các quyền kinh doanh của mình. Cuộc Đổi mới thực sự chỉ bắt đầu từ thập niên 1990: cởi trói kinh doanh, xóa bỏ ngăn sông cấm chợ, chú trọng thương mại, coi trọng doanh nhân, hợp tác kinh tế với nước ngoài, v.v. Xét cho cùng là chúng ta làm theo các tư tưởng của cụ Phan Châu Trinh đề ra gần 100 năm trước và đã mang lại sự phát triển kinh tế ngoạn mục cho Việt Nam trong hơn 30 năm qua. Tuy nhiên, xét về tất cả các nguồn lực vật chất, chúng ta vẫn còn yếu khi so sánh với các nước trong khu vực như được phân tích sơ bộ ở trên.

Về nguồn lực trí tuệ, kể từ phong trào xóa mù chữ năm 1945, tỷ lệ biết chữ được cải thiện đáng kể. Ngày nay, tỷ lệ biết chữ của Việt Nam đạt mức 98,85%. Tuy nhiên, nếu tính đến chất lượng giáo dục (đo bằng số năm học ở trường chẳng hạn và tính đến kết quả như số sách được viết, số bằng sáng chế) cũng như đóng góp thực cho trí tuệ nhân loại, cho phát triển kinh tế thì dân trí của chúng ta ngày nay vẫn rất thấp. Chẳng hạn, theo Wikipedia, tính trung bình thì một người ở Việt Nam đọc 0,8 cuốn sách/năm (không tính sách giáo khoa). So với Malaysia thì trung bình một người đọc 10-20 cuốn/năm (2012) và Thái Lan là 5 cuốn/năm.

Hiện nay và mãi mãi trong tương lai chúng ta vẫn phải tiếp tục thực hiện chủ trương khai dân trí của cụ Phan.

Về nguồn lực kết nối, như Hình 4 cho thấy, tỷ lệ đô thị hóa của chúng ta vẫn thấp nhất cho đến tận ngày nay so với các nước được so sánh. Đó là chưa nói đến các thành tố khác của nguồn lực kết nối như sự lập hội, các tổ chức công đoàn độc lập, các tổ chức xã hội dân sự không được khuyến khích, các cuộc hội họp cũng bị kiểm soát nên có lẽ lĩnh vực này hiện nay còn kém thời của Phan Châu Trinh.

Về phương pháp bất bạo động của cụ Phan Châu Trinh, có lẽ do người Việt Nam luôn sống trong văn hóa chống ngoại xâm từ hàng ngàn năm nay nên quá quen với từ ngữ mang tính chiến đấu (chiến sĩ, tấn công, mặt trận, chiến dịch, xung kích, ra quân, tiêu diệt, truy quét, báo thù…) cho đến tận ngày nay. Thậm chí, nhiều nhà lãnh đạo còn “sáng tạo” ra các từ ngữ mới sặc mùi chiến tranh như “tư lệnh ngành”. Các từ ngữ này được báo chí tuyên truyền rộng rãi nên việc chấp nhận phương pháp bất bạo động có thể không dễ. Việc giáo dục cho dân ta về tinh thần và phương pháp bất bạo động vẫn là một nhiệm vụ cam go và phải tích cực làm liên tục.

Chúng ta nên tỉnh táo chú ý đến các dấu ấn văn hóa và lịch sử không hay đó và từ từ thay đổi chúng một cách có chủ ý chứ không phải ngược lại dù vô tình hay cố ý.

Chúng ta còn chưa xét đến các yếu tố ảnh hưởng của quốc tế và địa chính trị mà có thể thuận lợi hay bất lợi cho sự phát triển và dân chủ hóa của Việt Nam. Và liên quan đến vấn đề này là câu hỏi được một số người đưa ra: dựa vào ai? Tất nhiên chúng ta nên tận dụng sự giúp đỡ và sự ủng hộ của tất cả các nước khác, tận dụng tất cả các cơ hội mà thế giới và khu vực tạo ra cho chúng ta, nhưng chúng ta phải dựa vào chính chúng ta. Đấy cũng là một tư tưởng chủ đạo của cụ Phan: “vọng ngoại tắc ngu, bạo động tắc tử”.

Nói cách khác, nội lực vẫn là chính, chúng ta phải dựa vào chính mình. Nếu các nguồn lực hành động thấp, dân khí không cao thì dù ai đó (một nhà độc tài nhân từ hay một lực lượng quốc tế) có đưa cho chúng ta nền dân chủ thì nền dân chủ đó cũng chỉ là phù du, sớm nở tối tàn. Dân chủ chỉ có thể hình thành qua cuộc đấu tranh liên tục, không biết mệt mỏi của chính người Việt Nam chúng ta để phát triển kinh tế, nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí và tích cực tham gia vào các phong trào xã hội, tức là liên tục làm theo các tư tưởng của Phan Châu Trinh.

Tóm lại, Phan Châu Trinh chưa thành công bởi vì người Việt chưa hiểu các ý tưởng của cụ. Thậm chí, các nhà cầm quyền ở Việt Nam đã làm ngược lại tư tưởng của cụ, dùng phương pháp bạo động, vọng ngoại, không chú ý đến việc xây dựng các nguồn lực hành động của nhân dân, thậm chí có những lúc đã hủy hoại chúng (cải tạo công thương, tiêu diệt khu vực kinh tế tư nhân, ngăn sông cấm chợ gây khó khăn cho phát triển kinh tế, cho các nguồn lực vật chất; ngăn cản sự phát triển lành mạnh của xã hội dân sự gây hại cho nguồn lực kết nối; đàn áp các phong trào xã hội). Muốn phát triển đất nước, chúng ta cần tiếp tục bổ sung, phát triển thêm, làm phong phú các tư tưởng của Phan Châu Trinh và thực hiện chúng ngay trong hiện nay và tương lai. Chúng ta đang tiếp tục con đường của Phan Châu Trinh. Lịch sử không lặp lại và không có chữ nếu, nhưng lịch sử có cho chúng ta những bài học quý giá nếu chúng ta muốn học và phát triển.

  1. Lời cảm ơn

Tác giả cảm ơn nhà thơ Hoàng Hưng, cựu đại sứ Nguyễn Trung và một số bạn trẻ đã góp ý cho vài bản thảo của bài viết này.

_____

Chú thích:

– Daron Acemoglu and Simon Johnson (2023), POWER and PROGRESS, our Thousand-Year Struggle over Technology and Prosperity (TIẾN BỘ và QUYỀN LỰC, cuộc Chiến đấu Ngàn Năm của chúng ta về Công nghệ và sự Thịnh Vượng), PublicAfaire, New York

– Chu Hảo (2023), Phan Châu Trinh trước khi sang Pháp, Viện Phan Châu Trinh.

– Gail Paradise Kelly (2000), Frech Colonial Education: Essays on Vietnam and West Africa, AMS Press, Inc. 2000

– Seymour Martin Lipset (1959), Some Social Requisites of Democracy: Economic Development and Political Legitimacy, The American Political Science Review, Volume 53, Issue 1 (1959): 69-105.

– Nguyen Quang A (2019), Tiananmen Protests and Lessons for Democratization in Vietnam, Contemporary Chinese Political Economy and Strategic Relations: An International Journal, Vol.5. No.2, June/Aug. 2019, pp.745-763.

– Nguyễn Quang A (2017), Phan Châu Trinh và Thuyết Hiện đại hóa Mới, Tạp chí Dân trí

– Tsujimoto Masashi (2000), Maturing of a Lierate Society, Journal of Japanese Trade & Industies, March-April 2000, pp. 44-48. Truy cập online

– Christian Welzel (2013), Freedom Rising, Oxford University Press 2013 (Bản tiếng Việt 2017)

– Christian Welzel (2021), Why The Future is Democratic, Journal of Democracy, Volume 32, No. 2, April, 2021, pp. 132-144

– World Bank (2010), 2010 World Report: “Education in Vietnam”


 

 Luật sư môi trường tuyệt thực trong tù trong khi Hà Nội bị ô nhiễm không khí trầm trọng

Ba’o Tieng Dan

Thục Quyên

5-2-2024

Ô nhiễm không khí ở Hà Nội tệ đến mức hơn 100 chuyến bay phải chuyển hướng hoặc hoãn cất cánh, hạ cánh vì khói bụi dày đặc, bao trùm thủ đô Việt Nam (1), gây mất an toàn do tầm nhìn kém. Một số chuyến bay phải chuyển hướng đến các sân bay khác như Cát Bi ở Hải Phòng.

Vào lúc 4h30 sáng thứ sáu 2-2-2024, sân bay Nội Bài, Hà Nội tạm dừng đón khách. Các sân bay Thọ Xuân ở Thanh Hóa, Vinh ở Nghệ An và Phú Bài ở Huế cũng bị gián đoạn hoạt động, do khói bụi ô nhiễm. Bụi mịn (PM 2.5) ở Hà Nội cao hơn 11 lần so với mức an toàn.

Theo IQAir, trang web giám sát chất lượng không khí, bụi mịn (PM 2.5) ở Hà Nội cao hơn 11 lần so với mức an toàn do WHO xác định. Người dân được khuyến cáo đeo khẩu trang khi ra ngoài trời, cũng như tránh các hoạt động ngoài trời như tập thể dục, đóng cửa sổ khi ở trong nhà và chạy máy lọc không khí.

Nguyên nhân gây ô nhiễm trầm trọng ở Hà nội

Ô nhiễm đến từ một số vật liệu xây dựng độc hại, giao thông đông đúc, công nghiệp thép và xi măng, và các nhà máy nhiệt điện đốt than.

Báo cáo năm 2020 của Ngân hàng Thế giới cho biết, gần 35% lượng bụi mịn PM 2.5 đến từ các nhà máy điện và các ngành công nghiệp lớn quanh thành phố. Khoảng 25% đến từ giao thông; có gần 8 triệu chiếc xe được đăng ký ở Hà Nội.

Khí thải amoniac từ chăn nuôi và sử dụng phân bón tạo ra 20% lượng bụi mịn PM 2,5, trong khi 10% đến  từ các sinh hoạt như nấu ăn bằng than củi và khoảng 7% từ việc đốt chất thải nông nghiệp. Việc đốt rác trong và chung quanh thành phố càng làm tình trạng trở nên tồi tệ hơn.

Mức ô nhiễm cũng tăng trong mùa đông, khi mưa ít và nhiệt độ thấp giữ tầng khí ô nhiễm ở gần mặt đất. Ngoài ra, những cơn gió cuối năm 2023 và đầu năm 2024 được cho là đã mang các chất ô nhiễm từ các siêu đô thị phía nam Trung Quốc xuống Hà Nội.

Theo ước tính của WHO năm 2016, ô nhiễm không khí thường xuyên ở Việt Nam có liên quan đến hơn 60.000 trường hợp người trẻ tử vong mỗi năm.

Lập chương trình đối phó ô nhiễm

Để đối phó tình trạng ô nhiễm ngày càng tồi tệ hơn ở Hà Nội, chính phủ Việt Nam đề ra kế hoạch giảm khí carbon, bằng cách không phát triển các nhà máy điện than mới, đồng thời giảm lượng than từ 50% xuống còn 20% công suất, từ năm 2030.

Hà Nội đang nhận được sự hỗ trợ từ Ngân hàng Thế giới để thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm ô nhiễm không khí. Tổ chức tài chính quốc tế này đã khuyến nghị các biện pháp giảm phát thải khí nhà kính, chẳng hạn như chuyển hướng sử dụng năng lượng than, giảm tắc nghẽn giao thông, giảm khí thải giao thông và cải thiện các hoạt động trồng trọt và chăn nuôi.

Chính phủ Việt Nam cũng đang cố gắng lập chương trình xin tài trợ 15,5 tỷ đô la (14,25 tỷ euro) từ Đối tác Chuyển đổi Năng lượng Công bằng (JETP) liên chính phủ – do Vương quốc Anh và EU đồng chủ trì, để hướng tới quá trình chuyển đổi xanh: Phát triển năng lượng thủy điện, giảm thải khí nhà kính (bớt sử dụng năng lượng than), giảm tắc nghẽn giao thông, giảm khí thải giao thông và cải thiện các hoạt động trồng trọt và chăn nuôi.

Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội gần đây cũng thông báo rằng, họ đang nghiên cứu các chính sách đào tạo nông dân trồng lúa về cách giảm thiểu và tái sử dụng chất thải thay vì đốt chúng.

Nhưng bỏ tù nhà các hoạt động môi trường

Tuy nhiên, chương trình đối phó ô nhiễm môi trường của nhà cầm quyền Việt Nam không thuyết phục. Trong vài năm qua, một số nhà hoạt động và các chuyên gia môi trường bị nhà nước Việt Nam bắt giữ. Hàng loạt tổ chức phi chính phủ bảo vệ môi trường đã phải đóng cửa, ngưng hoạt động.

Một trong những nhà hoạt động môi trường tiêu biểu là luật sư Đặng Đình Bách, 46 tuổi. Ông Bách đã bị bắt vào ngày 2-7-2021, sau đó bị kết án 5 năm tù về tội “trốn thuế”. Gia đình ông Bách cho biết, sáng 2-2-2024, tại trại giam số 6, tỉnh Nghệ An, ông bắt đầu tuyệt thực, đòi chính quyền Việt Nam phải thực thi nghiêm túc hiến pháp và pháp luật, nhằm bảo vệ quyền con người.

Theo tin từ bà Kate Holcome, thuộc Liên minh Luật Môi trường Toàn cầu (ELAW Environmental Law Alliance Worldwide) cho biết, bà Trần phương Thảo, vợ của LS Đặng Đình Bách, đã gửi thư đến các toà Đại sứ tại Việt Nam, các tổ chức bảo vệ môi trường, các bạn và đồng nghiệp của chồng bà trên toàn cầu, loan tin ông Bách bắt đầu tuyệt thực ngày 2-2-2024 để phản đối trại giam không thực thi pháp luật, vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tù nhân. Bà Thảo kêu gọi sự giúp sức của mọi người trong cuộc tranh đấu đòi công lý và tự do cho chồng bà và cũng chuyển lời LS Bách đến chính quyền Việt Nam:

“Trên tinh thần xây dựng một nhà nước pháp quyền, Việt Nam cần bảo đảm thực thi nghiêm túc hiến pháp và pháp luật nhằm bảo vệ quyền con người, điều mà bấy lâu nay không được bảo vệ đầy đủ nên tạo ra những bức xúc và bất công trong toàn xã hội. Thực thi pháp luật là yếu tố tiên quyết thể hiện thiện chí của nhà nước Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế”.

Chương trình xin tài trợ 15,5 tỷ đô la từ JETP của chính phủ Việt Nam hiện đang gặp chống đối dữ dội từ Liên minh bảo vệ Khí hậu Việt Nam (VCDC – Vietnam Climate Defenders Coalition), gồm hàng trăm các tổ chức bảo vệ môi trường toàn cầu (2) vì trong hai năm qua nhiều chuyên gia hoạt động môi trường ở Việt Nam bị bắt giữ. Tổ chức này cho tuyên bố:

“Trong khi các quan chức công khai cam kết làm chậm lại vấn đề biến đổi khí hậu, thì chính phủ Việt Nam vẫn tiếp tục bắt và giam giữ những nhà hoạt động môi trường hàng đầu như LS môi trường Đặng Đình Bách“.

“Chính phủ Việt Nam hoan nghênh tài trợ từ các nỗ lực quốc tế như Đối tác Chuyển đổi Năng lượng Công bằng (JETP) trị giá 15,5 tỷ đô la, đồng thời bịt miệng các nhà hoạt động. Chính phủ Việt Nam đang cố che giấu điều gì với cộng đồng quốc tế và các nhà đầu tư?“

VCDC nêu lên sự vi phạm của chính phủ Việt Nam về khía cạnh “công bằng” của JETP khi xã hội dân sự ở Việt Nam bị hạn chế nghiêm trọng về khả năng tham gia vào quá trình này. VCDC cũng lên tiếng đòi hỏi sự giám sát của Nhóm Đối tác Quốc tế (G7 và Hoa Kỳ) và các nhà tài chính của JETP.

Để có một quá trình chuyển đổi năng lượng công bằng ở Việt Nam, các nhà chức trách cần:

– Tìm cách trả tự do ngay lập tức cho ông Đặng Đình Bạch, bà Hoàng Thị Minh Hồng và các nhà lãnh đạo xã hội dân sự khác đang bị cầm tù bất công ở Việt Nam.

– Tiến hành thẩm định nghiêm ngặt các mối đe dọa đối với những người bảo vệ môi trường và nhân quyền cũng như các hạn chế đối với hoạt động môi trường và sự tham gia của người dân ở Việt Nam, phù hợp với các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường và xã hội của các bên liên quan của JETP, vì chúng liên quan đến việc tài trợ và thực hiện dự án do JETP tài trợ.

– Bảo đảm tuân thủ nghiêm ngặt chính sách “tham gia cộng đồng mà không sợ bị trả thù“ được cam kết bởi các bên liên quan JETP, bao gồm IFC, ADB và Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP); và phát triển các quy tắc điều chỉnh cụ thể để chủ động ứng phó với các hành động trả thù nếu chúng xảy ra.

– Yêu cầu việc tài trợ và thực hiện dự án JETP phụ thuộc vào các biện pháp bảo vệ rõ ràng, chống lại sự trả thù và trả đũa đối với những người bảo vệ môi trường và các nhà hoạt động nhân quyền, cùng với các khung chính sách để xã hội dân sự tham gia một cách tự do và an toàn vào việc thiết kế, ra quyết định, giám sát và thực hiện dự án của JETP. 

– Thúc đẩy các điều kiện thuận lợi cho xã hội dân sự, được quy định bởi các tiêu chuẩn và hiệp ước quốc tế nhằm tạo ra và duy trì, về mặt luật pháp và trên thực tế, một môi trường thuận lợi an toàn cho xã hội dân sự tự do hoạt động, bao gồm cải cách luật pháp và chính sách liên quan đến đăng ký và các yêu cầu về thuế đối với dân sự, các hiệp hội xã hội quá nặng nề và không phù hợp với các quyền cơ bản, bao gồm quyền tự do hội họp, lập hội và biểu đạt.

Quá trình chuyển đổi năng lượng xanh sẽ không thành công cho đến khi các chuyên gia bảo vệ môi trường như LS Đặng Đình Bách và các nhà hoạt động môi trường được quyền lên tiếng công khai và tự do dẫn đầu phong trào.

_______

Ghi chú:

(1) https://www.euronews.com/green/2024/02/02/air-pollution-is-so-bad-in-this-asian-capital-that-flights-are-being-diverted-due-to-low-v

(2) https://www.standwithbach-viet.org/


 

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Chiều tảo mộ

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả:  Tưởng Năng Tiến

06/02/2024

“Vừa rồi tôi có đi Tây Nguyên dự lễ bỏ mả của gia đình ông Y Ngông Niết Đam. Người Eđê có một tục lệ rất đặc biệt. Khi nhà có người chết, gia đình con cháu hàng ngày vẫn nuôi nấng, vẫn mang cơm nước ra mộ, khi có điều kiện họ làm lễ bỏ mả.

Đó là bữa tiệc linh đình chia tay vĩnh viễn với người chết. Sau đó họ không quan tâm đến ngôi mộ ấy nữa, để linh hồn người chết được siêu thoát, không còn vướng víu cõi trần.” (Trần Đăng Khoa. Chân Dung và Đối Thoại. Nxb: Thanh Niên, 1988).

Bãi mả, thực ra, không phải là “một tục lệ rất đặc biệt của người Eđê” mà là tập tục chung của nhiều sắc dân bản địa – ở Việt Nam:

“Đối với người Roglai – sắc dân sống rải rác các tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, và Lâm Đồng – lễ cúng bỏ mả có nghĩa là người sống từ giã người chết. Lễ này được cử hành sau mùa gặt hái đầu tiên, tính từ ngày người chết qua đời.

Mùa gặt hái hoàn tất, mọi người đều rảnh rang nên lễ cúng bỏ mả làm linh đình lắm. Có giết trâu mổ bò, mời thầy cúng làm lễ cho người khuất rồi đãi làng nước. Sau lễ bỏ mả là hết, ngôi mộ không được ai chăm sóc nữa.

Người Rhadé, đa số sinh sống tỉnh Darlac và Quảng Đức, cũng có lệ bỏ mả vào mùa gặt năm sau. Người nhà ra mộ khóc lóc một lần cuối rồi mộ bị bỏ hẳn. Kỷ niệm của người chết cũng chìm dần vào quên lãng.

Người Bahnar – sắc dân sống ở Đông Nam Kômtum, Tây Bắc Pleiku, và phía Tây Bình Định – cũng chỉ chăm sóc mộ phần một năm… Sau đó họ làm lễ tạ rồi san phẳng, và từ đây không còn ai ngó tới.” (Toan Ánh. “Tang Lễ Của Đồng Bào Thượng.” Nhật báo Cách Mạng Quốc Gia, Sài Gòn 01 Sept 1963).

Bỏ mả, hay bãi mả là điều bắt buộc trong nếp sống du canh. Tục tảo mộ hằng năm, chắc chắn, chỉ bắt đầu khi nhân loại tiến đến giai đoạn định canh. Còn tôi thì phải  mãi cho đến cuối năm 2014, mới được rủ đi tảo mộ (lần đầu) khi đang lơ ngơ giữa một chiều Xuân, nơi đất lạ.

Cái nắng của những buổi chiều cuối năm thường khiến tôi hay bị nặng lòng, dù ở bất cứ đâu. Nhưng phải trải qua một buổi chợ chiều, chợ tết, ở một làng quê nơi đất lạ thì mới hiểu ra thế nào là nỗi buồn xa xứ.

Dân Việt túm tụm dọc mé sông Tonle Sap, đoạn chảy qua xã Phsar Chhnang (tỉnh Kampong Chhnang) có thể đông đến vài ngàn. Tuy thế, cái đám người trôi sông lạc chợ nhếch nhác, te tua, rách nát này không tạo nổi không khí Tết cho khu chợ cạnh bờ.

May mà vẫn còn vài cái cặp đèn lồng đỏ, năm bẩy cây quất, và mấy chậu cúc vàng của những gia đình gốc Hoa nên hè phố trông cũng đỡ phần ảm đạm. Tôi cứ nhìn mãi một em gái nhỏ, đứng bán đôi cành mai đã héo mà không khỏi cảm thấy có đôi chút bận lòng.

Như mọi người Việt khác ở bến sông này, tôi cũng là kẻ phiêu bạt không nhà nên chả có chỗ để cắm hoa. Muốn biếu em một số tiền nho nhỏ, đủ để sắm sửa một bữa cơm chiều cuối năm tươm tất cho gia đình nhưng đang loay hoay chưa biết cách sao cho tế nhị thì chợt nghe tiếng đồng hương quen thuộc:

  • Sao ông thầy lang thang gì mình ên vậy ? Đi tảo mộ với tụi em nha, gần xịt thôi hà.

Thấy tôi hơi ngần ngừ, bà vợ rụt rè thêm:

  • Dạ, sẵn bữa nay có làm gà với mua được xị rượu để cúng nên mới dám mời ông thầy …

Nghe cách xưng hô thì tôi đoán là họ có con đang theo học ở trường làng Kandal, dưới bến sông. Không ai biết tôi tên gì cả, họ chỉ thấy ông già này thường lui tới ngôi trường này và hay chơi đùa với lũ trẻ con nên gọi tôi bằng “thầy” cho nó tiện việc sổ sách – thế thôi.

Phải nhìn thấy cảnh nuôi gà trên những túp lều nổi tả tơi, và những bữa cơm đạm bạc quanh năm (toàn với khô hay cá vụn nhỏ li ti) của những người suốt đời sống lênh đênh thì mới hiểu được rằng được mời ăn gà là một hân hạnh không thể chối từ – dù tôi chả mặn mà gì với gà và vịt!

May mà từ chợ đến nghĩa địa gần thật, chỉ chừng hơn cây số. Đang là mùa khô, nước rút nên mới lộ ra vài chục tấm mộ bia thô kệch và xấu xí. Chả ai sống qua tuổi sáu mươi. Khi còn tại thế (chắc) họ chưa bao giờ được giáp mặt với một ông nha sĩ, hay bác sĩ – dù chỉ một lần.

Sau khi thắp hương, nhổ cỏ, vun xới mộ phần, mọi người ngồi quanh chuyện trò ăn uống. Dường như ai cũng cảm thấy mãn nguyện vì đã làm xong chút bổn phận, cuối năm, với kẻ đã khuất.

Khó có thể ngờ rằng được đó là lần tảo mộ cuối cùng của cộng đồng người Việt ở xã Phsar Chhnang. Năm sau, từ Phnom Penh, thông tín viên Sơn Trung ̣(RFA) tường thuật: “Làng nổi của người Việt bị di dời… Theo thông báo của chính quyền tỉnh Kampong Chhnang thì việc di dời sẽ được thực hiện từ ngày 10 tháng 10 và chấm dứt trước ngày 25 tháng 10 năm 2015.”

Tháng 10 thì Á Châu vẫn còn mưa, và mưa tầm tã. Bia mộ vẫn còn chìm sâu dưới nước. Với cái “thông báo” bất ngờ (và bất nhơn) trên thì chắc chắn không ai có cơ hội tạ mả, trước khi tiếp tục trôi xuôi theo kiếp lục bình.

Ở trời Âu, có những kẻ may mắn hơn nên được nằm yên mãi mãi trong những mộ phần và được thăm viếng thường xuyên:

“Tôi vào tiệm tạp hóa Tàu ở Luân Đôn mua một thẻ nhang ngắn rồi xuống Portsmouth, bắt phà qua Normandy… Bây giờ là mùa đông. Khi phà tiến gần vào bờ cho đến khi cặp bến Ouistreham nằm phía cực đông của bờ biển Normandy, trời còn rất tối. Sao Mai sáng long lanh, các ngọn đèn rải thưa quanh bến tàu, ánh sáng vàng đứng bóng, không hắt hiu…

Tôi đi bộ dọc bờ biển từ hướng đông, bắt đầu từ chỗ giáp mép biển của con kênh đào từ Caen (cách biển chừng 16 cây số). Cứ khoảng 100 thước, một tấm biển tưởng niệm, hình ảnh thế hệ các người lính thuộc binh chủng đã đổ bộ, và tên tuổi của một người lính tử trận ngày 6.6.1944…

Từ nơi này đi bộ hai cây số đến nghĩa trang đồng minh ở làng Ranville, ngôi làng đầu tiên trên đất Pháp được giải phóng sau khi người lính Dù chiếm giữ cầu Pegasus. Trên bản đồ là nghĩa trang của Anh, nhưng ở góc bên trái từ cổng vào có 330 bia mộ người lính Đức, chia cùng mảnh đất nghĩa trang với 2.235 người lính nhảy dù thuộc quân đội Anh, Úc, New Zealand, Bỉ, Pháp, Ba Lan…

Mỗi ngôi mộ người lính Đức đều có bia như các ngôi mộ của người lính đồng minh, tên tuổi, ngày sinh và ngày chết, chỉ khác là huy hiệu binh chủng được thay bằng dấu Thập tự Sắt. Dưới bầu trời xám đục, đài thánh giá trắng có hình cây kiếm mũi hướng xuống đất nổi bật ngay giữa nghĩa trang. Những linh hồn nơi đây không còn chiến tranh nữa. Kiếm đã cắm hay cất. Không có một chữ ‘hòa giải’ nào trong nghĩa trang chung này. Nhưng các bia mộ của người lính Đức và người lính đồng minh nằm bên nhau. Người sống không thù hận nên người chết yên lành.” (Hồ Đắc Túc. “Những Mộ Phần Bên Nhau”. Dân Luận 01/01/201̣9).

Cùng lúc với Hồ Đắc Túc, Ngô Thanh Tú cũng đi tảo mộ ở quê nhà (Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà) nhưng với tâm trạng hoàn toàn không thư thái:

“Cứ mỗi bước chúng tôi đi đều phải chịu sự giám sát của ít nhất hai bảo vệ nơi này. Ánh mắt soi mói, những câu hỏi vô duyên, như : chụp hình để làm gì? Có động cơ gì không? làm chúng tôi vô cùng khó chịu. Người bạn đi cùng tôi nói, dường như cái chủ trương truy cùng giết tận còn được áp dụng cho cả người chết. Chế độ này ko chỉ trả thù người chết mà còn sợ họ đội mồ sống dậy nên kiểm soát rất chặt chẽ.”

FB Từ Đức Minh cho biết thêm : “Với bản chất thú tính, bất chấp luân lý và tình người. Người Cộng Sản không cần biết thế nào là nghĩa tử, nghĩa tận. Họ chủ động giáo dục cho đám con trẻ gọi mộ người lính Việt Nam Cộng Hòa là ‘mả ngụy’, ‘mả giặc’. Người ta canh tác rau trên mộ, tưới nước phân dơ bẩn, thả trâu bò lội giẫm đạp lên mộ. Khốn nạn hơn nữa, họ cho người đào giữa ngôi mộ và trồng lên đó những cây to. Mấy năm sau cây lớn làm xập mộ…”

Người đang sống ở Lộc Hưng mà họ còn ủi cho xập nhà, xập cửa thì xá gì đến chuyện mộ bia ở Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà!


 

CHUYẾN THĂM GẶP ANH PHƯỚC CUỐI NĂM !!

Chau Trieu is with Khai Nguyen

Cô giáo Hà Lê thuật lại chuyến thăm chồng là TNLT Nhà giáo Đặng Đăng Phước trước ngưỡng cửa năm Giáp Thìn nhiều băn khoăn, biến động.

Xin chia sẻ cùng cộng đồng toàn văn bài viết của cô giáo Hà như chia sẻ một nỗi lòng của gia đình người yêu nước và xin gửi nơi đây lời chúc lành xuất phát từ lòng yêu thương quý mến đến tất cả các TNLT và gia đình. Mong năm Giáp Thìn sẽ mang đến niềm vui thắng lợi đoàn viên cho tất cả chúng ta và đất nước!

Trần Bá Khánh

04.02.2024

CHUYẾN THĂM GẶP ANH PHƯỚC CUỐI NĂM !!

Những ngày giáp tết dòng người xối xả ngược xuôi, đường phố tấp nập, kẻ mua người bán. Phía trong trại giam cũng vậy, thân nhân thăm gặp người thân của mình lỉnh kỉnh những món quà tết, và tôi cũng không ngoại trừ.

10 giờ sáng mẹ con, bác cháu tôi tới trại giam. Tôi làm thủ tục thăm gặp ngay, ghi những mặt hàng gởi vào cho anh nhưng không kịp gặp, vậy là phải lay lắt ở căn tin của trại giam với cái nắng chang chang, ăn tạm tô mì gói và chờ đợi tới 2 giờ chiều mới thấy anh ra.

Thấy hai con trai và mọi người anh mừng vui khôn xiết. Nhìn anh hồng hào, khoẻ mạnh, tác phong nhanh nhẹn tôi cảm thấy thật an tâm

Câu chuyện của chúng tôi bắt đầu bằng những câu hỏi thăm sức khỏe, về tình hình sinh hoạt của anh và anh em cùng phòng, của tất cả anh em, bạn bè ở ngoài, mọi người đều mạnh khỏe nên ai cũng mừng. Chúng tôi trò chuyện với nhau vui vẻ, mà anh Phước cũng sướng thiệt á chứ, phía ngoài thì có anh em, vợ con cười nói, còn phía trong thì cán bộ trại giam ngồi sát bên híc…

_ Sao anh không viết thư về cho em ??

_ Anh không có giấy, bút !!

_ Sao anh không mua ở Căn tin của trại giam ??

_ Anh mua và chờ cả tháng rồi mà họ nói chưa có (Tôi hiểu), em mua giấy, bút gởi vào cho anh nha !!

_ Dạ, em sẽ mua và gởi qua đường bưu điện cho anh !!

Qui định của trại tháng này là được 30 phút trò chuyện, nhưng mới 24 phút là họ đã hối anh ra nhận đồ.

Trò chuyện trong vội vàng, nhận đồ trong vội vàng, những câu nói với theo trong vội vàng và những cái vẫy tay cũng rất vội vàng. Lần này tôi chẳng kịp nắm bàn tay anh chứ đừng nói tới ôm anh một miếng.

14 tiếng đồng hồ cho một chuyến đi để được nói chuyện với nhau 24 phút, thật là….

Cuối buổi trò chuyện anh Phước gởi lời thăm sức khoẻ, chúc bình an đến tất cả quý Thầy, quý Cha, quý Anh Chị Em Cô Dì Chú Bác ạ.

Tôi xin chân thành cám ơn quý vị đã luôn quan tâm, đồng hành và chia sẻ cùng gia đình tôi trong suốt thời gian qua.

Xin cám ơn !!

P/s:

_ Xà bông cục không cho gởi (mua ở căn tin).

_ Hạt điều, hạt hạnh nhân không cho gởi (mặc dù có nhãn mác và mã vạch).

_ đậu phụng hạt không cho gởi.

_ Hạt dưa, hạt hướng dương không cho gởi.

Vậy đó quý anh chị em!!


 

Luật gia Đặng Đình Bách tuyệt thực tiếp sức ông Trần Huỳnh Duy Thức đòi quyền lợi

Luật gia Đặng Đình Bách tuyệt thực tiếp sức ông Trần Huỳnh Duy Thức đòi quyền lợi

RFA
2024.02.05

Ông Trần Huỳnh Duy Thức (trái) và ông Đặng Đình Bách

 RFA edited

Ông Đặng Đình Bách, người đang thụ án tù năm năm, tuyên bố tuyệt thực từ ngày 02/02 để tiếp sức bạn tù cùng phòng Trần Huỳnh Duy Thức nhằm đòi quyền lợi của tù nhân, cũng như phản đối việc bị đối xử hà khắc bởi cán bộ Trại giam số 6 (huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An).

Tù nhân lương tâm Trần Huỳnh Duy Thức, người chỉ còn hơn một năm nữa sẽ mãn án tù 16 năm, cũng đã tuyệt thực từ ngày 27/1 để phản đối căng-tin từ chối bán thức ăn cho ông, trong khi ông cùng ba bạn tù khác ở cùng Phân trại 1 không nhận thức ăn của trại giam từ tháng 9/2023.

Trong cuộc thăm gặp ngày 01/2, bà Trần Phương Thảo đã được chồng là luật gia Đặng Đình Bách chia sẻ kế hoạch của ông:

Anh Bách tuyên bố là sẽ bắt đầu tuyệt thực từ ngày 02/2 bởi vì Trại giam số 6 đã không tuân thủ pháp luật, không đảm bảo quyền của tù nhân.”

Bà Thảo ngày 02/02 cho phóng viên Đài Á Châu Tự Do (RFA) biết, mặc dù cán bộ trại giam kiểm soát chặt chẽ cuộc trò chuyện giữa hai người, thế nhưng ông Bách vẫn chia sẻ được lý do vì sao ông lại làm như vậy. Bà thuật lại thông tin nghe từ chồng:

Anh Thức đã nhịn ăn từ ngày 27/01 và hiện nay anh mệt lắm rồi, anh ấy yếu lắm và có những lúc anh ấy không thở được.

Anh Bách khuyên anh Thức dừng tuyệt thực từ hôm nay, anh Bách muốn tiếp sức để có thể thuyết phục được anh Thức dừng tuyệt thực và anh Bách sẽ tiếp sức để vẫn giúp đạt được mục đích.”

Bên cạnh lý do trên, ông Bách cũng muốn phản đối việc trại giam không bảo đảm quyền lợi trong việc gửi thư và gọi điện về nhà, cũng như căng-tin của trại giam không bán rau và hoa quả cho ông.

Ông Bách cho vợ biết trong tháng 12/2023, ông viết hai bức thư gửi về cho gia đình nhưng cho đến nay gia đình vẫn chưa nhận được.

Cuối tháng 1 vừa qua, ông đăng ký gọi điện về cho gia đình nhưng trại giam chỉ cho phép ông gọi về để trao đổi thông tin về sức khoẻ trong khi ông muốn nói những nội dung mà pháp luật không cấm. Do ông không đồng ý nên trại giam đã cắt quyền được gọi điện về nhà.

Bà Thảo cho biết từ tháng 9, ông Bách cùng ba bạn tù chính trị khác trong Phân trại 1 không nhận khẩu phần ăn từ trại giam.

Ông chỉ ăn thức ăn khô từ gia đình gửi vào, và muốn mua thêm rau và trái cây từ căng-tin của trại giam, tuy nhiên căng-tin luôn trả lời không có hàng để bán cho nhóm tù nhân chính trị này. Ông cho rằng đây là sự trù dập của cán bộ trại giam đối với bốn người tù bất khuất luôn phản đối sự đối xử vô nhân đạo của cơ sở giam giữ.

Trại giam còn không cung cấp nước sôi để ông Bách có thể chế biến đồ khô như bột đậu, bún miến khô… mà gia đình gửi vào, buộc ông phải dùng nước lạnh trong điều kiện mùa đông rét mướt ở khu vực miền núi của tỉnh Nghệ An.

Tuyên bố sẽ tuyệt thực đến cùng để đòi quyền lợi, ông Bách nói với vợ:

Nhà nước Việt Nam trên tinh thần xây dựng nhà nước pháp quyền cần đảm bảo thực thi nghiêm túc hiến pháp và pháp luật nhằm bảo vệ quyền con người điều mà bấy lâu nay tạo ra những bức xúc và bất công trong toàn xã hội nói chung và những người đang bị giam giữ nói riêng.”

Phóng viên không thể liên lạc với Trại giam số 6 qua điện thoại để hỏi về tình hình của ông Bách và ông Thức cũng như kiểm chứng tố cáo của hai ông.

Như đã đưa tin, ông Bách và ông Thức báo với gia đình việc có một nhóm người cầm dao nhảy vào khu giam giữ tù chính trị của Phân trại 1 trong một đêm cuối tháng 8/2023 để đe doạ bốn tù nhân ở đây sau khi họ đòi nhà tù niêm yết công khai khẩu phần ăn của tù nhân.

Ông Bách tố cáo đã bị quản giáo đánh vào đầu, gây thương tích nghiêm trọng khi ông thông báo tin này cho gia đình. Tuy nhiên, trại giam luôn bác bỏ cáo buộc của ông.

Gần đây, đại diện Viện Kiểm sát tỉnh Nghệ An có vào trại làm việc nhưng không gặp ông Bách để làm việc về đơn tố cáo của ông.

Ông Bách nhiều lần tuyệt thực dài ngày để phản đối việc bị đối xử bất công và vô nhân đạo ở Trại giam số 6. Lần gần đây nhất kéo dài một tháng và kết thúc giữa tháng 7/2023.

Không được cấp sổ hồng cho căn hộ trả góp và hệ luỵ

Ngoài việc bị kết án 5 năm tù giam, ông Bách còn bị buộc phải nộp số tiền 1,4 tỷ đồng trong vụ án “trốn thuế” cho các khoản tài trợ của các dự án xã hội thực hiện bởi Trung tâm Nghiên cứu Pháp luật & Chính sách Phát triển Bền vững (LPSD), nơi ông Bách làm giám đốc.

Trong nhiều tháng qua, Cục Thi hành án dân sự của Hà Nội đã yêu cầu bà Thảo nộp số tiền phạt nói trên. Gần đây, cơ quan này đã yêu cầu chủ toà nhà nơi có căn hộ trả góp của vợ chồng ông Bách bà Thảo không giao sổ hồng cho bà để gây sức ép.

Bà Thảo cho biết gia đình bà không thể đăng ký hộ khẩu thường trú do không có sổ hồng, dẫn đến hậu quả là con trai gần ba tuổi không thể đăng ký học trường công ở khu vực, ngoài ra gia đình bà không thể ký hợp đồng mua nước sạch với giá ưu đãi cho cư dân chung cư mà bị buộc phải trả tiền với giá cao.

Hiện tại, bà nuôi con nhỏ và không có thu nhập gì trong khi phải thăm nuôi chồng ở trại giam.

Phóng viên gọi điện đến Cục thi hành án dân sự của thành phố Hà Nội để hỏi về trường hợp của ông Bách thì người trực điện thoại yêu cầu phóng viên đến trụ sở cơ quan để được làm việc trực tiếp.


 

 Tương lai của đất nước…

Peter Nguyen

Trưa 23 tháng Chạp, người ta thấy một đứa bé ngủ ngon giấc, có lẽ là giấc ngủ rất bình an, gần chợ Gò Vấp, cạnh em có một ổ bánh mì chắc ai đó sợ em đói nên đặt đó, để em ăn khi tỉnh dậy.

Em nằm ngủ ngon lành, giữa một đất nước khi Tết đến xuân về cờ đỏ sao vàng bay phất phới, khẩu hiệu do Dân- vì Dân chăng đầy khắp các ngõ hẻm – Nơi cổng chào tượng đài ngàn tỉ nhiều hơn trường học, bệnh viện.

Và cách đó chỉ vài cây số đường chim bay, nơi có Nhà hát 2 ngàn tỉ đang xây dựng hùng vĩ, nhìn rất vĩ đại, giữa một thành phố có tên hồ chí minh, nơi mà 10m2 đất lên tới cả triệu đô la, đắt nhất hành tinh này.

Em sinh ra và lớn lên ở một đất nước có những người giàu họ sẵn sàng vung hàng ngàn tỉ để cho một trường học ở xứ giàu nhất Châu Âu, nơi, mà tỉ phú vung tiền cả trăm tỉ để đẻ ra một giải thưởng vinh danh các nhà khoa học, mặc dù điều đó chẳng mang lại lợi ích dù là khích lệ cho họ. Nơi, mà cả hệ thống chính trị áp phe để cùng xà xẻo 4 ngàn tỉ thuế Dân, qua một công ty có tên Việt Á.

Em sinh ra nơi mà lãnh đạo suốt ngày miệng thì nói những lời viển vông, hoa mỹ, có cánh để mị Dân – nào là: Không có ai bị bỏ lại phía sau, nhưng chỉ có em thì bị bỏ bên lề đường. Nào là trẻ em là tương lai của đất nước…mà một manh chiếu để nằm cũng không!

Miệng thì họ nói rất hay, nhưng tay thì tìm cách vơ vét, xà xẻo dù cho vét cả giang sơn, cả xương máu đồng bào. Dù cho đem cả Dân tộc này lên đoạn đầu đài thì quan chức, lãnh đạo cũng không chùn tay.

Em nằm đó, em nghĩ gì? Mặt trời có tỏa sáng lên lưng em? Em có nghĩ đã bao giờ đất nước ta có cơ đồ như hôm nay?

Cơ đồ ấy là gì? trẻ em người nghèo thì ngủ ở cầu cống, ở khắp các chợ, khu nhà hoang, ven đường, còn quan chức đảng viên thì ở các khu biệt phủ xa hoa, kín cổng cao tường đi đứng có người đón rước, kẻ hầu người hạ?

Trong khi đó một m2 đất hơn 2,4 tỉ nghĩa là đất nước đó phải phát triển lắm, hệ thống an sinh xã hội đáng ra phải có nguồn lực lớn, tại sao em lại ngủ ở ven đường?

Em phải ngủ ở đó, vì ngân sách đã bị quan tham vơ vét rồi còn đâu. Em phải nằm đó vì đất đai bị xà xẻo, phân lô và tiền cũng chạy vòng vào tay quan chức để gửi ra nước ngoài hết rồi còn đâu. Em nằm ngon giấc, mơ về thiên đường. Còn thiên đường thật thì quan đảng ta đã xây dựng ở trời Âu, ở bờ biển Síp, hay mùa thu sông Seine ở Paris rồi.

Có ai hỏi vì sao đất nước ta nguồn lực xã hội và tài nguyên trời phú như thế mà vẫn nghèo, hệ thống chính trị có lắm ban bệ đủ ban ngành mà nước ta vẫn nghèo?

Thưa chúng ta bộ gì cũng có, hơn hẳn nhiều quốc gia khác cả bộ chính trị và ban tuyên giáo, nhưng lãnh đạo ta thiếu bộ não. Cạnh đó thiếu cả lương tâm…

Chúng ta, hãy nhìn đứa bé này để thấy tương lai của đất nước ta, một tương lai nghèo đói ăn bờ ngủ bụi đang bao trùm lên đất nước ta một ngày không xa.

——-

Ảnh: Đình Bổn.

PHIẾM CUỐI NĂM: NGƯỜI GIÀ – PHONG CHÂU

PHONG CHÂU

Người già tức là người lớn tuổi, còn gọi là người nhiều tuổi hay người cao niên… Thế thì bao nhiêu tuổi mới được gọi là người già, người lớn tuổi hoặc người cao niên? Hồi xưa lúc còn ở Việt Nam tôi thường nghe nói đến những người từ 50 tuổi trở lên được (bị) gọi là người già. Chỉ gọi là “người già” chứ không ai gọi “người lớn tuổi” hay “người cao niên” như sau này. Ra đường thấy “người già” thì gọi “ông già” “bà già” chứ không ai gọi “ông cao niên” hoặc “bà cao niên”. Nhưng nói chung, cho dù gọi bằng thứ chữ nghĩa nào thì “ông già” vẫn là “ông già” và “bà già” vẫn cứ là “bà già”. Để biết được ai là người già, chỉ cần nhìn qua vóc dáng bên ngoài như tóc bạc, da nhăn, đi đứng chậm chạp, nói năng từ tốn, mắt kém, tai lảng…vân vân…Nhưng với những “xảo thuật” của văn minh nhân loại, người ta có thể biến “tóc bạc” thành “tóc đen”, biến “da nhăn” thành “da láng cón”, đôi mắt “lờ mờ” thành đôi mắt sáng, tai điếc thành tai hết điếc…Kể ra có rất nhiều món ăn chơi khiến mấy ông già bà già vực lại vóc dáng mĩ miều như xưa đôi chút và những cơ phận suy thoái trong cơ thể cũng được phục hồi phần nào.

Người già – đặc biệt là “các bác già gái” có thể ngụy trang bằng “tóc giả”, bằng “răng giả”, bằng “mắt giả”, bằng “tiền vệ giả”, bằng “hậu vệ giả…nhưng những bộ phận bên trong thì không thể nào có “đồ giả” được như trái tim, lá phổi, bộ não…Đó là chưa kể đến những thứ mà thời chưa phải là “ông già” hay “bà già” chưa có được, nay lại có để mang vào mình. Chẳng gì xa lạ! Đó là những “con bịnh”. Đây chính là kẻ thù của những ông già lẫn bà già. “Nam nữ bình quyền” nên “bịnh” không chừa một ai. Ba căn bịnh thông thường mà đa số người già thường mang “từ đầu đến chân” là: cao máu, cao mỡ và cao đường. Nhiều lần tôi nghe câu phán như đinh đóng cột này: “Ba cao một thấp” tức là ba loại “cao” nói trên cùng với một thấp là “thấp khớp”. Những bịnh khác đáng kể là đau cột sống, đau thần kinh tọa, trụy xương đầu gối… Đó là chưa kể một số bịnh “cao cấp” khiến ai cũng ngán như đau tim, liệt não, đau thận, ung thư…Có cả tá bịnh dành tặng cho người già kể ra không hết.

Đừng nói chi đâu xa, như tôi đây cũng được ông trời tự động cho đứng chung hàng ngũ với những người già mà không cần phải làm đơn cứu xét gì cả. Cách nay chừng hơn ba mươi năm lúc còn ở Việt Nam, một hôm đang ngồi nghỉ trưa ở ghế thì bỗng dưng nghe cái đầu bừng bừng khó chịu. Đi cho bác sĩ khám. Kết quả: cao máu! Ở Mỹ dạo còn đi làm, giờ nghỉ ăn trưa xong độ ba mươi phút sau thấy ruột cồn cào, người mệt, toát mồ hôi, về nhà mét vợ, vợ phán: tiểu đường! Khuya đang ngủ bỗng nghe ngón chân cái đau điếng như có ai lấy miểng chai rạch vào. Hôm sau đi bác sĩ lại nghe phán: gout! Đại khái đó là những con bịnh chính, còn những bịnh khác thì tính ra cũng kha khá chẳng hạn như có một ngày đẹp trời, lái xe ghé phòng bác sĩ khám mắt. Khám xong phán: mắt cườm! Phải mổ. Mổ thì mỗ. Mỗi tuần mổ một con. Rồi cầm cái toa đi làm kiếng, mỗi bên mỗi độ khác nhau. Lại bày đặt làm cái kiếng hai tròng. Tròng trên đeo vào để thấy đường lái xe. Tròng dưới mang vào để đọc sách, đọc email, đọc facebook, đọc đủ loại messages, messengers từ bốn phương trời gửi tới …nhưng không có ai gửi thư viết tay như thư tình chẳng hạn để đọc…Chưa hết…cũng vào một ngày đẹp trời…vợ từ dưới nhà gọi vọng lên lầu. Nghe thoang thoảng tưởng nàng đang cất giọng hát “anh có nghe mùa thu mưa giăng lá đổ…Anh có nghe nai vàng hát khúc yêu đương…Và anh có nghe…”. Cứ tưởng tiếng ca du dương đang lọt vào tai nên cứ ngồi yên thưởng thức. Chừng phút sau tiếng hát trở thành tiếng quát “Anh có nghe hay không? Xuống bưng dùm nồi canh…” Thế là xuống lầu bê nồi canh nóng hổi ra khỏi bếp điện. Mà chẳng phải một lần đâu! Nhiều và rất nhiều lần như thế. Chán mớ đời! Cho đến một ngày vợ xúi đi bác sĩ khám tai. Đốc tờ làm hai ba cái test xong phán: điếc tai bên trái! Phải mang trợ thính! Mang thì mang sợ gì (chữ ‘sợ gì’ học được của ông Chính Đầu Đò). Nhét hai máy trợ thính vào hai tai thì nghe toàn những tiếng lao xao, xì xào, rột rẹt, cót két…đôi khi nghe như tiếng sắt tiếng chì khiến nhức cả cái đầu. Rồi ba lần bốn lượt thay đổi máy, vẫn đâu vào đấy! Cho đến một hôm cũng đẹp trời, con gái rõ chuyện nên mời bố già lên xe và chở thẳng vào nhà thương khám tai làm test rồi cũng phán: đeo trợ thính! Chiếc máy này giá cả làm tôi đau cái bụng quá nhưng đành phải mang vì con gái lo cho cha già nên nỡ nào không đeo. Ban đầu bà đốc tờ dụ khị mua hai cái và cho đeo thử, không thích thì mang trả. Mang được vài ngày nghe êm êm nhưng tai bên phải vốn nghe rõ, nay mang vào nghe cũng không tác dụng gì hơn, phí tiền nên mang trả. Kết quả là máy mới này khi đeo vào nghe nó êm tai chứ không còn nghe tiếng rì rào xột xoạt gì nữa. Tuy vậy nhiều lúc ở nhà cũng quên đeo nên vợ phải lên tiếng “gọi người yêu dấu xa vời…” Lúc đi ra ngoài gặp gỡ bạn bè thì mang nhưng lắm lúc quên đeo nên bạn bè cứ nói và ta cứ làm bộ như đang nghe rõ và gật gật cái đầu như người đã hiểu chuyện. Vụ này có thể nào là tội “gian dối” với bạn bè? Nghĩ lại, bạn bè già nhiều khi chỉ nói những chuyện “trời ơi đất hỡi” nên không lọt vô hai lỗ nhĩ cũng không sao…

Chẳng những một mình tôi bị điếc mà tôi biết chính xác trong đám bạn bè của tôi cũng có cả đám điếc, có đứa mang máy, có đứa không nên cũng sinh ra nhiều chuyện tức cười. Hôm tháng mười tôi đi dự một đám cưới, có hai anh bạn tôi biết là điếc ngồi gần nhau, không biết có mang máy điếc hay không nhưng hai người nói chuyện ra điều tâm đắc lắm…nói nói cười cười và người nào cũng chăm chú nghe. Khi tan tiệc tôi hỏi anh A (giấu tên): bồ nói chuyện gì với ông B mà thấy vui quá vậy? Anh ta trả lời: “Có nghe mẹ gì đâu!”. Tôi lại hỏi anh B: Ông và ông A nói chuyện gì mà vui vẻ thế? Anh B trả lời: Có nghe mẹ gì đâu! Thật chán mớ đời cho mấy ông già điếc…như tôi.

Chuyện của người già là chuyện dài bất tận. Vui có. Buồn có. Nhưng vui ít buồn nhiều. Mỗi người một hoàn cảnh. Mỗi người lãnh vào người năm ba thứ bịnh khác nhau. Tôi có nhiều bạn ở khắp nơi, thường liên lạc nên biết người này mới bị đột quỵ, người kia mới mổ tim, kẻ ngồi xe lăn, người đi chống gậy…Mới đây tôi làm một chuyến du hành sang California để tham gia sinh hoạt hội đoàn vừa thăm viếng bạn bè. Đến San Jose có bạn bệnh nặng không ra ngoài gặp bạn bè được, người khác vừa mổ tim hai tháng, ốm tong teo như cây sậy, đang phục hồi. Một trự khác vừa gặp bèn cầm bàn tay tôi đặt vào ngực chàng, thì ra chàng đang mang máy trợ tim. Xuống tới nam California gặp người bạn thân mới biết anh bị đột quỵ nặng, chữa khỏi và sức khỏe kém xưa rất nhiều. Cầu cho các bạn tôi chóng phục hồi sức khỏe. Như vậy, so với một số bạn của tôi, tôi vẫn là người tuy có mang những bệnh trời cho nhưng sức khỏe của tôi vẫn hơn một số bạn bè.

Tiếp tục câu chuyện người già. Cũng không đâu xa. Nơi tôi ở cũng nhiều bạn bè, già có, trẻ có. Đặc biệt là các bạn già thân thiết. Vài trường hợp đang diễn ra như sau:

Thứ nhất, bạn tôi từ thời trung học người rất khỏe, ăn nói hoạt bát, thể dục đều đặn và thường xuyên khuyên tôi phải ăn thứ này phải uống thứ nọ cho khỏe. Bỗng có một thời gian chừng hơn hai tháng không gặp nên tôi lái xe đến nhà thăm thì biết anh đột quỵ nhẹ và đã chữa khỏi hoàn toàn, sức khỏe bình thường trở lại. Nhưng anh cho biết là vợ con của anh không cho anh lái xe nữa! Anh rất buồn. Tôi hỏi “mày còn lái được hay không?”. Anh trả lời: Được chứ sao không! Tao vẫn còn khỏe mà…”. Vài lần tôi khuyên chị vợ nên để cho anh tiếp tục lái xe, chỉ lái vòng vòng gần nhà nhưng chị bảo con chị đã giấu chìa khóa xe. Anh ta than với tôi về điều này và từ đó anh chỉ loanh quanh trong nhà, thỉnh thoảng con cái đến rước đi ra ngoài ăn uống rồi thảy lại về nhà. Chuyện đã hơn ba năm và mỗi lần tôi ghé thăm anh mừng lắm và chuyện trò vui vẻ. Như tôi đã đoán là anh sẽ lâm tình trạng “trầm cảm” nếu vợ con anh cứ nhất mực nhốt anh ở nhà. Mới đây tôi ghé thăm anh. Thấy lưng anh khòm, bước đi chậm chạp hẳn, giọng nói yếu ớt… Hỏi đến đâu anh trả lời đến đó, tôi gợi lại vài chuyện xưa, anh cũng nhớ. Nói xong anh ngồi im, quay mặt đi chỗ khác, mặt đờ đẫn trông rất tội nghiệp… Trường hợp thứ hai, tôi chơi rất thân với một anh bạn vong niên. 90 tuổi nhưng anh vẫn khỏe mạnh, thường lái xe đi đường xa đường gần và có mặt trong các cuộc sinh hoạt với bạn bè. Thế mà vào mùa xuân năm nay (2023) anh cho biết là đôi chân của anh tự dưng yếu hẳn, không bước đi được mà phải chống gậy “bước từng bước thầm” trong nhà. Anh không lái xe được nữa! Anh yêu cầu tôi nếu có gặp gỡ bạn bè trong nhóm thì ghé nhà chở anh đi. Tôi đã làm theo lời yêucầu của anh lâu nay.

Trường hợp thứ ba. Bạn tôi là một nhà văn, nhà thơ nổi tiếng, trước ở Sacramento, sau dời về Houston. Chúng tôi thường gặp nhau trong các buổi sinh hoạt văn nghệ, đi cắm trại…mặc dầu đôi chân của anh yếu, phải có gậy chống mỗi khi đi ra ngoài. Anh không còn lái xe được nữa! Thế rồi một hôm – anh kể – mở cửa bước đi thì bị vấp té – lý do là mắt anh không còn thấy rõ nữa. Tôi ghé thăm và thấy anh mò mẫm viết trên những trang giấy không hàng không lối. Con anh chở đi bác sĩ suốt cả năm trời nhưng bệnh tình không có dấu hiệu thuyên giảm. Anh rất buồn và mỗi lần muốn gặp bạn bè thì tôi ghé nhà chở anh đi. Cách nay hai năm anh di chuyển về tiểu bang North Carolina để tiếp tục điều trị nhưng, theo lời anh “mắt không bớt mù mà lại còn mù thêm! Tôi có hỏi “thị lực” của anh bây giờ ra sao? Anh cho biết “khoảng chừng 20 đến 25 phần trăm”. Vào thượng tuần tháng 11 vừa rồi anh gọi điện thoại cho tôi và báo:”Tôi đã đi được nửa đường”. Tôi hỏi: “Nửa đường là sao? Anh trả lời” “tôi đang trên đường về lại Houston…đi bằng Greyhound…”. Hôm sau tôi ghé nhà con anh để đón anh đi uống cà phê. Anh nói ở bên đó (North Carolina) buồn quá nên về lại đây thỉnh thoảng gặp anh em cho vui. Anh kể cho tôi nghe anh nghĩ ra cách để xử dụng bàn phím computer để tiếp tục viết truyện. Anh đã hoàn thành truyện ngắn “Người Mù” và về Houston anh sẽ tiếp tục viết và đặc biệt viết về đề tài “Mù”.

Do “Duyên”, tôi đã trở thành tài xế Uber cho ba người bạn của tôi. Tôi thương và quý trọng họ. Ngày nào tôi còn lái xe được, tôi vẫn đến đón họ – âu đó cũng là một việc Thiện mà trong Hướng Đạo dùng hai chữ “Giúp Ích”.

Cần nói thêm việc người già và thuốc men. Dĩ nhiên bịnh là phải uống thuốc. Đối với tôi, tôi thi hành khá đứng đắn việc uống thuốc, nhất là các loại thuốc nằm trong nhóm “ba cao”: máu – mỡ – đường. Nếu chỉ tính từ ngày qua Mỹ đến nay là 32 năm, mỗi ngày uống một viên thuốc cao máu, cho đến nay tôi đã ních hết 11,650 viên. Thuốc cao mỡ mỗi ngày 4 viên, 32 năm xơi đủ 46, 600 viên. Thuốc trị cao đường mới uống 22 năm, tính ra tổng cộng là 8,030 viên nằm trong bụng! Chưa kể những loại thuốc khác để trị các bịnh loại linh tinh như nhức xương, đau khớp, đau vai, đau bàn tay, nhức đầu sổ mũi hay bệnh gout…tổng cộng sơ sơ cả ngàn viên. Tạm đúc kết cho đến nay khi đang ngồi gõ gõ trên máy tôi đã nhét vào trong bao tử 86,280 viên thuốc đủ các loại! Riêng về món thuốc trị gout, theo chỉ dẫn của đốc tờ thì mỗi ngày ních một viên. Dĩ nhiên tôi thi hành đúng khi hai ngón chân đang quằn quại. Sau một tuần hết đau thì tôi ngưng uống thuốc một thời gian khá lâu, chừng cả năm. Sau đó tôi bắt đầu uống lại dù bịnh chưa tái phát nhưng chỉ uống hai viên mỗi tuần. Tôi tự giải thích như sau: vì tôi khoái xơi món phở bò và thích uống rượu vang là hai món giúp làm tăng lượng Acid uric trong máu nên phải uống cầm chừng cả vài năm nay, thấy cũng phê! Phở bò là món “quốc hồn quốc túy” khó mà từ bỏ được. Còn món rượu vang thì theo nhà báo Lê Văn là “Món Quà Của Thượng Đế”. Thượng Đế đã ban cho nhân loại mà không nhận hưởng thì khi chết xuống địa ngục hay leo lên được Thiên đàng e rằng khó trả lời với Ngài…

Trở lại chuyện của tôi “đáng ghét”. Trước ngày lễ Tạ Ơn vừa qua trong khu vực tôi ở “Berkshire Community” có tổ chức “Chạy bộ” và “Đi bộ”. Để rà soát sức khỏe của mình nên tôi liều ghi danh môn “Chạy bộ”. Chạy hai miles. Đi bộ chỉ một mile. Khoảng ba mươi người chạy bộ đủ lứa tuổi già trẻ lớn bé nam nữ. Tôi chạy theo đám đông và không thể nào theo kịp mấy ông Mỹ ông Mễ nhưng cố bám sát, có lúc phải bước sãi rồi lại lết tiếp cho đến khi về đến đích. Đến nơi ban tổ chức tròng vào cổ tôi một chiếc Medal. Tối hôm đó nằm ngủ nghe hai bắp vế đau nhức dữ dội nên hôm sau lái xe vào Gym ngồi trong Spa cho nước nóng nựng hai bắp đùi. Liên tục ba ngày thấy hết đau hết nhức. Gặp bạn bè, người quen ai cũng bảo sức khỏe tôi tốt! Mừng ghê đi! Năm tới tôi sẽ bước lên bục tuổi tám bó…

Phong Châu
Tháng 12 – 2023

From: NGOC PHAN & KimBang Nguyen