‘Chuyện cổ tích’ cuối đời của bà Liêng Lê, chủ Café Bích Nga 86 tuổi – Kalynh Ngô/Người Việt

Nguoi-Viet

Kalynh Ngô/Người Việt

PINELLAS PARK, Florida (NV) – “Tôi chảy nước mắt. Tôi vậy chứ…tôi già chứ…tôi cũng mạnh mẽ lắm. Tôi cố gắng vui, nhưng trong lòng tôi bùi ngùi nghen cô. Vui quá nên bùi ngùi đó cô.”

Bà Liêng Lê, 86 tuổi, người phụ nữ gốc Việt “homeless” nhiều năm ở Pinellas Park, Florida, chủ của nhà hàng Café Bích Nga, nói với nhật báo Người Việt về cảm xúc của bà khi đứng trước ngôi nhà mơ ước của đời mình và tấm ngân phiếu trị giá $205,441. Đó là món quà từ hàng triệu cư dân mạng xã hội tặng bà sau một chiến dịch gây quỹ do nhà sáng tạo nội dung Julian Becerra kêu gọi.

Sự sắp đặt của Chúa

Bà Liêng Lê đối diện với cảm xúc “vui quá nên bùi ngùi” ở tuổi 86, cái tuổi đã vượt xa mức “thất thập cổ lai hy.” Lời chia sẻ chân tình khiến câu chuyện dẫn vào cuộc đời của người phụ nữ này trở nên nhẹ nhàng và gần gũi.

Bà vừa trở về sau một tuần nằm bệnh viện. Những căn bệnh cũ cộng với tuổi già, lao lực, làm cho bà kiệt sức. Trong một tuần đó, người đến thăm bà thường xuyên chính là anh Julian Becerra, người mà bà gọi là “Chúa đã đưa ông ấy đến gặp tôi.”

“Ngày hôm đó rất ế, không một bóng người,” bà Liêng kể lại. “Cậu ấy vào quán khoảng hai, ba tiếng cũng không có một người khách nào. Cậu ấy ngồi ăn, tôi đâu có biết cậu ấy quay phim tôi. Tôi dốt những chuyện đó lắm,” bà Liêng kể lại cái ngày “định mệnh” thay đổi cuộc đời bà.

Chính người khách này, anh Julian Becerra, cũng tin rằng Thượng Đế đã sắp đặt điều này.

Anh chia sẻ với nhật báo Người Việt: “Tôi đã gặp một người phụ nữ bị lãng quên nhiều năm, một người sống điềm tĩnh, đầy phẩm giá, mà mọi người vô tình lướt qua. Khi biết câu chuyện của bà, tôi không hề nghĩ đến việc làm nội dung hay bất cứ điều gì tương tự. Cảm giác lúc đó giống như là cần phải có ai đó hành động, và tôi nghĩ mình phải là người đó. Tôi thực sự tin rằng Chúa đặt những khoảnh khắc này ngay trước mắt chúng ta và chờ xem chúng ta sẽ thực sự làm gì. Đây chính là một khoảnh khắc như vậy, và tôi không muốn trở thành kẻ chỉ biết lướt màn hình rồi bỏ qua.”

Đó là ngày 23 Tháng Tư. Người khách duy nhất của quán lúc đó hỏi bà Liêng nhiều thứ, từ cách đọc tên quán, ý nghĩa của chữ Bích Nga, cho đến cách đọc món “phở đặc biệt.”

Bà Liêng giải thích: “Bích Nga là cái tên chỉ một người con gái đẹp.”

Trong video, anh Julian thể hiện những biểu cảm vô cùng thích thú khi thưởng thức món “phở đặc biệt” đã chọn. Khi đứng lên trả tiền, anh vẫn là người khách duy nhất.

Nhưng bà chủ 86 tuổi vẫn nhất quyết không nhận tiền, thay vào đó, bà nói “hãy giới thiệu cho nhiều người nào đói bụng đến đây nhé.”

Đúng lời hứa, hai ngày sau, người khách quay lại. Chủ quán và nhân viên vui mừng cảm ơn. Quán Café Bích Nga đã thật sự “bận rộn với những chiếc bàn không còn chỗ trống vào giờ cao điểm,” người nhân viên cảm ơn và nói. Khi đó, bà Liêng lại có dịp trò chuyện với người khách trẻ tuổi, to cao gấp ba lần trọng lượng cơ thể của bà.

“Tôi thành thật nói tôi nghèo lắm, không có tiền, tôi ‘hôm lét’. Cậu ấy hỏi thiệt không. Tôi nói thiệt, tôi ‘no hôm,’” bà kể.

Sau cuộc trò chuyện này, anh Julian đăng đoạn video thứ hai trên trang mạng Instagram juulianbecerra, kể rằng bà Liêng “đã sống vô gia cư nhiều năm, ngủ trên chiếc ghế xếp ở sảnh nhà hàng vào ban đêm, sau khi làm việc nhiều giờ liền mỗi ngày.”

Anh kêu gọi một đợt gây quỹ. Chỉ trong vòng 24 giờ, số tiền quyên góp đạt gần $127,000. Vài tuần sau đó, con số này đã vượt mốc $200,000.

Vào ngày 1 Tháng Sáu, với sự hỗ trợ từ một số tổ chức phi lợi nhuận và doanh nghiệp tại địa phương, anh Julian mang đến tặng cho bà Liêng tấm ngân phiếu chứa toàn bộ số tiền này, cùng với một ngôi nhà đã được trang bị đầy đủ tiện nghi, chu đáo từ trang trí cho đến vật dụng cần thiết trong nhà.

Ngày anh Julian đón bà Liêng từ bệnh viện trở về, cũng là ngày anh chở bà đến ngôi nhà mới, cách quán Café Bích Nga vài phút lái xe.

“Không ngờ đó cô à. Sự may mắn đó cô. Tôi tự nhủ với mình trước giờ mình có giúp ai gì đâu. Mình nghèo quá mà, tiền ăn không có thì lấy gì giúp thiên hạ, sao mình lại được cái phước như vầy,” bà Liêng nói.

Không phải chỉ riêng người nhận ơn lành, mà người mang đến cho bà câu chuyện cổ tích cuối đời cũng xúc động không kém. Khi được hỏi về cảm giác như thế nào khi nhìn thấy bà Liêng có được ngôi nhà của bà, anh Julian nói đó là “lòng biết ơn, và thú thật là cả sự xúc động nghẹn ngào nữa.”

“Đó là một trong những khoảnh khắc mạnh mẽ và đáng nhớ nhất đời tôi. Nhưng điều khiến tôi thực sự xúc động là việc này không chỉ do một mình tôi làm. Hàng ngàn người xa lạ đã chung tay đóng góp vì họ tin rằng cuộc đời bà thực sự đáng quý. Đó mới là điều cốt lõi. Mọi chuyện chưa bao giờ là về việc tôi trở thành người hùng nào cả. Vấn đề là cho mọi người thấy rằng khi những người bình thường cùng chung sức, họ có thể thay đổi hoàn toàn thế giới của một ai đó. Đó chính là ý nghĩa mà tôi muốn dành cho cuộc đời mình,” anh Julian nói.

Xem tiếp trên trang Nguoi-viet.com.


 

POL POT – CON ĐƯỜNG TỘI ÁC

Tâm Như Thanh Nghị is with Philip Le.

Bóng ma Pol Pot vĩnh viễn bị xóa sổ, kết thúc một thời kỳ tăm tối và rùng rợn bậc nhất trong lịch sử nhân loại thế kỷ 20.

Nhưng tiếng khóc của những vong linh oan khuất, và bài học về sự cảnh giác trước những học thuyết cực đoan, lừa mị sẽ còn lưu lại trong dòng chảy lịch sử.

POL POT – CON ĐƯỜNG TỘI ÁC

Tháng 4 năm 1975, dòng người từ Thủ đô Nam Vang rồng rắn nhích từng bước một trên các ngả đường mòn lởm chởm.

Nếu ai đó kiệt sức mà quỵ xuống, những họng súng AK-47 của bọn lính thiếu niên áo đen sẽ lập tức hành động…

Những xác người bị gạt vội sang vệ đường, lấy chỗ cho dòng người tiếp tục tiến bước.

Bi kịch chỉ thực sự bắt đầu, khi những người sống sót lết được đến các “công xã” ở vùng nông thôn. Tại đây, Pol Pot bắt đầu áp dụng chính sách phân loại giai cấp cực đoan và tàn bạo nhất chưa từng có trong lịch sử nhân loại.

Những người nông dân nghèo ở nông thôn, những kẻ mù chữ và đi theo Khmer Đỏ từ đầu được gọi là “Cựu dân” (Người cũ/Người cơ bản). Họ được trao quyền lực, trở thành những kẻ cai quản mạng sống của người khác.

Ngược lại, 2,5 triệu người dân thành thị vừa bị lùa về, bất kể là giáo sư, bác sĩ hay thợ thủ công, đều bị gắn mác “Tân dân” (Người mới/Người 17 tháng 4).

Trong mắt “Angkar” (Tổ chức), Tân dân không phải là con người. Họ là “ký sinh trùng”, những kẻ mang mầm mống của tư bản thối nát cần phải được tẩy rửa, hoặc… tiêu diệt.

Khmer Đỏ có một khẩu hiệu dành cho Tân dân, được phát đi phát lại trên loa phóng thanh:

“Giữ mày lại cũng chẳng ích gì, tiêu diệt mày cũng chẳng tổn thất chi”.

Và thế là, một cuộc săn lùng trí thức phi lý bậc nhất bắt đầu.

Ở các công xã, những toán lính áo đen đa phần là những thanh thiếu niên thất học được giao nhiệm vụ “thanh lọc” đội ngũ Tân dân.

Chúng đi dọc các hàng người đang rũ rượi, săm soi từng khuôn mặt. Bất cứ ai đeo kính cận đều lập tức bị lôi ra khỏi hàng.

Bởi theo tư duy nguyên thủy của Khmer Đỏ: Đeo kính nghĩa là có đọc sách. Đọc sách nghĩa là trí thức. Mà trí thức thì chắc chắn là phản động, là kẻ thù của Angkar.

Không cần xét hỏi, không cần tòa án, những người đeo kính bị đưa thẳng ra bìa rừng, và thứ chờ đợi họ là những nhát cuốc đập thẳng vào sọ để… tiết kiệm đạn.

Nhiều giáo sư, bác sĩ, kỹ sư đã nhanh trí vứt bỏ kính cận, vứt bỏ bằng cấp, xé nát những cuốn sách yêu quý để đóng giả làm người lái xích lô hay nông dân mù chữ.

Nhưng bọn lính áo đen bắt đầu đi tuần và ra lệnh: “Đưa tay đây tao xem!”.

Chúng lật ngửa bàn tay của từng người lên. Bàn tay nào thô ráp, chai sần, nhuốm màu bùn đất, kẻ đó được sống. Bàn tay nào trắng trẻo, mềm mại, không có vết chai mười ngón, kẻ đó lập tức bị kết án tử hình.

Bởi bàn tay mềm là minh chứng rõ nhất cho việc kẻ đó chưa từng cầm cuốc, chỉ biết ngồi văn phòng bóc lột sức lao động của người khác.

Đã có những người trí thức tuyệt vọng đến mức lén lấy đá mài vào tay cho rướm máu, nhét đất cát vào móng tay để giả làm bần nông, thoi thóp giành giật từng hơi thở qua những đợt kiểm tra tử thần ấy.

Những kẻ may mắn qua lọt cửa ải phân loại thì bị tống vào một lò đày đọa thể xác.

Trong “Năm Số Không”, Pol Pot xóa sổ tiền tệ, đóng cửa trường học, đập phá đền chùa.

Mọi người phải lao động khổ sai từ 12 đến 14 tiếng mỗi ngày trên những cánh đồng chiêm trũng.

Hệ thống gia đình bị phá vỡ hoàn toàn. Đàn ông, đàn bà, trẻ em bị tách ra ở các trại riêng biệt.

Họ không được phép nấu ăn ở nhà mà phải ăn chung tại nhà ăn công xã.

Mỗi ngày, phần ăn của một người lao động kiệt lực chỉ là hai bát nước cháo lỏng loẹt, đếm được vài hạt gạo trôi nổi lẫn với vài cọng rau muống hoang.

Cái đói cào xé tâm can, biến con người thành những bộ xương khô biết đi.

Hàng trăm ngàn người đã gục chết ngay trên bờ ruộng vì đói khát, kiệt sức và bệnh tật mà không có một viên thuốc cứu chữa.

Khắp đất nước Chùa Tháp biến thành một trại tập trung khổng lồ, một “Cánh đồng chết” không có lối thoát.

Thế nhưng, máu của hàng triệu Tân dân dường như vẫn chưa đủ để làm thỏa mãn cơn khát của ác quỷ.

Cỗ máy giết người càng vận hành, Pol Pot càng trở nên hoang tưởng và đa nghi bệnh hoạn.

Hắn bắt đầu nhìn thấy kẻ thù ở khắp mọi nơi, ngay cả trong những cái bóng của chính mình.

Sự hoang tưởng ấy đã châm ngòi cho một cuộc tàn sát còn man rợ hơn: Thanh trừng nội bộ.

Hàng triệu người dân Campuchia đang chết mòn vì đói khát trên những cánh đồng lao động khổ sai, vẫn chưa đủ để xoa dịu cơn hoang tưởng đa nghi của Saloth Sâr (Pol Pot). Ác quỷ bắt đầu nhìn thấy kẻ thù ở khắp mọi nơi, ngay trong chính những chiếc bóng của đồng chí mình….

Đến năm 1976, Saloth Sâr lúc này đã chính thức sử dụng bí danh Pol Pot. Hắn mắc chứng hoang tưởng quyền lực nặng nề.

Dù đã tước đoạt mạng sống của vô số dân thường, gã vẫn mất ngủ mỗi đêm. Gã luôn ám ảnh bởi học thuyết thanh trừng mà Khang Sinh đã nhồi sọ ở Bắc Kinh:

“Kẻ thù nguy hiểm nhất không mang súng từ bên ngoài tới, mà chúng là những con vi trùng đang giấu mặt ngay trong hàng ngũ Trung ương Đảng”

Để truy lùng những con “vi trùng” tưởng tượng này, Pol Pot cần một bộ máy an ninh mật, một lò mổ kín đáo và một tên đao phủ có cái đầu lạnh đến mức tuyệt đối.

Và hắn đã chọn Kaing Guek Eav – bí danh là Duch (Đúc). 

Kaing Guek Eav vốn là một thầy giáo dạy toán cấp hai. Là người tỉ mỉ, ngăn nắp, chính xác đến từng con số và có khả năng tuân thủ mệnh lệnh một cách vô cảm.

Đối với Pol Pot, một thầy giáo toán là người hoàn hảo nhất để “tính toán” mạng sống con người.

Địa điểm được Duch chọn làm “phòng thí nghiệm tử thần” là trường Trung học Tuol Svay Prey, nằm ngay giữa thủ đô Nam Vang hoang vắng. Nơi đây được đổi tên thành Nhà tù S-21 (Tuol Sleng).

Nơi đây từng vang lên tiếng cười đùa của học sinh, nơi ươm mầm tri thức, nay bị bao bọc bởi lớp lớp hàng rào dây thép gai giăng điện.

Những lớp học sáng sủa bị xây gạch bịt kín cửa sổ, chia thành những xà lim chật chội, tối tăm.

Những tấm bảng đen từng dùng để viết công thức toán học, nay trở thành phông nền để chụp ảnh chân dung những tử tù trước khi bước vào cõi chết.

Khi những cán bộ cấp cao, những vị tư lệnh quân khu từng vào sinh ra tử cùng Pol Pot bị nghi ngờ, họ lập tức bị bịt mắt, trói giật cánh khuỷu và tống lên xe tải chở thẳng đến S-21.

Tại đây, Duch áp dụng một quy trình thủ tục hành chính của cõi âm.

Mọi tù nhân khi bước qua cổng S-21 đều bị lột sạch quần áo, đánh đập phủ đầu và bị đẩy ngồi lên một chiếc ghế gỗ để chụp ảnh.

Hàng chục ngàn bức ảnh đen trắng lưu giữ tại Tuol Sleng ngày nay vẫn còn ám ảnh cả nhân loại.

Trong những bức ảnh đó, ánh mắt của các nạn nhân mở to, hoang mang, kinh hoàng khi nhận ra mình sắp bị chính những người “đồng chí” xẻ thịt.

Dưới sự điều hành của thầy giáo toán Duch, các đòn tra tấn ở S-21 không dùng để trừng phạt, mà dùng để “sản xuất” ra những bản khẩu cung.

Pol Pot cần những bản khẩu cung viết tay để chứng minh rằng sự hoang tưởng của gã là đúng.

Duch đáp ứng điều đó bằng những nhục hình thời Trung cổ: rút móng tay, dìm nước, giật điện, hay treo ngược nạn nhân lên xà nhà cho đến khi họ bất tỉnh.

Không một ai có thể chịu đựng được đòn roi ở S-21.

Để được chết nhanh chóng, những vị chỉ huy dạn dày sương gió buộc phải tự nhận mình là gián điệp của CIA, của KGB, là tay sai phản động.

Và buộc phải viết ra những cái tên đồng chí khác để thế mạng, tạo thành một vòng xoáy thanh trừng nội bộ cắn xé lẫn nhau không có hồi kết.

Những bản khẩu cung đẫm máu ấy được Duch đóng tập cẩn thận, đánh số trang rành mạch và gửi thẳng lên bàn làm việc của Pol Pot.

Ngồi trong văn phòng tĩnh lặng, lật giở những lời thú tội được ép nặn bằng nhục hình, Pol Pot mỉm cười đắc ý, tin rằng mình đang “chữa bệnh” cho Đảng.

Nhưng, Khmer Đỏ có một câu khẩu hiệu lạnh sống lưng: “Nhổ cỏ phải nhổ tận gốc”.

Theo logic bệnh hoạn của Pol Pot, nếu xử tử một kẻ phản quốc, thì vợ, con cái, cha mẹ, thậm chí là trẻ sơ sinh của kẻ đó cũng mang “dòng máu phản trắc” và sẽ tìm cách trả thù trong tương lai. Do đó, phải quét sạch toàn bộ gia đình.

Những chuyến xe tải chở đầy phụ nữ và trẻ em vô tội chạy trong đêm về phía Cánh đồng buôn Choeung Ek (cách Nam Vang 15km).

Tại đó, những tên lính thiếu niên tay cầm những chiếc búa tạ, rìu, và nhíp xe tải cũ đập vỡ sọ từng người một, rồi đạp xác họ xuống những cái hố tập thể khổng lồ.

Những đứa trẻ sơ sinh bị cầm chân, quật thẳng đầu vào một thân cây cổ thụ (sau này được gọi là Cây Tàn Sát) cho đến chết để tiết kiệm đạn.

Tiếng thét của nạn nhân bị át đi bởi tiếng loa phát thanh mở max âm lượng những bài hát ngợi ca Angkar.

Chỉ trong hơn 3 năm, lò mổ S-21 đã nuốt chửng ít nhất 14.000 đến 20.000 sinh mạng. Trong số đó, chỉ có vỏn vẹn 7 người sống sót bước ra khỏi cánh cổng địa ngục.

Máu của chính đồng bào mình dường như đã làm gã bạo chúa Pol Pot say sưa đến mức mất trí.

Nhưng khi bóng ma S-21 không còn làm gã thỏa mãn, khi những “vi trùng” trong nước đã hết, con dã thú bắt đầu phóng ánh mắt đỏ ngầu ra ngoài biên giới.

Nó cần một kẻ thù mới, một cuộc chiến tranh mới để kích động tinh thần dân tộc cực đoan.

Và mục tiêu tiếp theo của Pol Pot nhắm thẳng vào dải đất hình chữ S ở phía Đông, nơi những ân nhân ngày xưa từng cưu mang hắn…

THẢM SÁT Ở BA CHÚC

Năm 1977, chính sách vắt kiệt sức lao động để trồng lúa của Pol Pot thất bại thảm hại. Người dân chết đói la liệt, hạn hán kéo dài, chỉ tiêu không đạt.

Tiếng oán thán, dù không dám thốt thành lời, đã âm ỉ râm ran khắp các công xã nông nghiệp.

Một bộ óc bệnh hoạn như Pol Pot không bao giờ nhận sai.

Gã cần một “con dê tế thần” để giải thích cho sự nghèo đói của đất nước và để kích động tinh thần dân tộc cực đoan, buộc người dân phải tiếp tục cắn răng phục tùng.

Và hắn đã chọn Việt Nam.

Pol Pot bắt đầu nhồi sọ thứ “thuốc độc” thù hằn dân tộc vào đầu những tên lính áo đen. Gã rêu rao trên đài phát thanh rằng:

Chính Việt Nam là kẻ thù truyền kiếp đang muốn nuốt chửng Campuchia, chính gián điệp Việt Nam đang phá hoại mùa màng.

Pol Pot vứt bỏ hoàn toàn ân tình năm xưa, khi quân du kích Việt Nam từng cưu mang, bảo vệ và nhường cơm sẻ áo cho hắn những ngày đầu luồn lách ở rừng sâu.

Lệnh bài tàn sát được ban ra: “Chỉ cần 2 triệu quân, mỗi người giết 30 người Việt Nam, thì chúng ta sẽ thắng!”.

Tháng 4 năm 1977, những tiếng súng khiêu khích đầu tiên vang lên dọc tuyến biên giới Tây Nam (Tây Ninh, An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp…).

Lúc bấy giờ, bộ đội và nhân dân Việt Nam ở vùng biên giới đã hoàn toàn bị bất ngờ. Chúng ta vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh ách liệt chưa đầy hai năm, khát vọng hòa bình đang cháy bỏng.

Hơn thế nữa, trong suy nghĩ của nhiều người, Khmer Đỏ vẫn là “người anh em, đồng chí” láng giềng.

Bọn lính áo đen không tấn công theo kiểu quân đội thông thường. Chúng chọn cách hành quyết của những bóng ma.

Chúng thường lén lút vượt biên vào nửa đêm về sáng, khi người dân các xóm ấp vùng biên đang say giấc nồng.

Đỉnh điểm của sự man rợ, câu chuyện khiến cả thế giới bàng hoàng rúng động, chính là Thảm sát Ba Chúc (Tri Tôn, An Giang) vào giữa tháng 4 năm 1978.

Khi quân Khmer Đỏ tràn vào xã Ba Chúc, những người dân hiền lành, từ cụ già đến trẻ nhỏ, đã chạy vào ẩn nấp trong chùa Phi Lai và chùa Tam Bửu.

Họ tin rằng, chốn cửa Phật linh thiêng sẽ che chở cho họ khỏi mũi súng của ác quỷ. Dù sao, Pol Pot cũng từng có thời gian tu tập ở chùa cơ mà?

Nhưng đạo quân vô hồn của Pol Pot không biết đến thần thánh. Chúng xông thẳng vào chánh điện.

Chỉ trong vỏn vẹn 12 ngày đêm, 3.157 người dân vô tội ở Ba Chúc đã bị tàn sát.

Máu chảy lênh láng nhuộm đỏ những bức tường rêu phong của chùa Phi Lai, đọng thành từng vũng đặc quánh trên sàn gạch.

Hàng ngàn thi thể nằm phơi mình dưới nắng gắt, mùi tử khí bốc lên nồng nặc bao trùm cả một vùng biên ải.

Cái chết của hơn 3.000 đồng bào Ba Chúc, cùng hàng ngàn sinh mạng khác dọc tuyến biên giới Tây Nam, giống như một giọt nước tràn ly.

Kẻ bên kia biên giới không còn là con người. Chúng là bầy ác thú say máu không thể cứu chữa bằng lời nói hay hiệp ước.

Hiểu rõ dã tâm của tập đoàn phản động Pol Pot – Ieng Sary, và đáp lời kêu gọi khẩn thiết của Mặt trận Đoàn kết Dân tộc Cứu nước Campuchia, Việt Nam quyết định không nhân nhượng thêm một phút giây nào nữa.

Giáng sinh năm 1978, trên đài phát thanh Nam Vang, Pol Pot vẫn đang thao thao bất tuyệt bằng một giọng điệu ngạo mạn điên rồ.

“Quân đội Kampuchea Dân chủ có thể đánh bại Việt Nam dễ như trở bàn tay. Một người Khmer có thể giết 30 người Việt!”.

Đáp lời kêu gọi khẩn thiết của Mặt trận Đoàn kết Dân tộc Cứu nước Campuchia, ngày 25 tháng 12 năm 1978 Quân tình nguyện Việt Nam mở cuộc tổng phản công trên toàn tuyến biên giới.

Những sư đoàn chủ lực đồng loạt tiến công với sức mạnh chẻ tre. Pháo binh gầm rít xé toạc bầu trời, xe tăng dẫn đầu đội hình bộ binh thọc sâu vào các phòng tuyến của Khmer Đỏ.

Khi phải đối đầu trực diện với một đội quân chính quy, thiện chiến, những tên lính vị thành niên của Pol Pot nhanh chóng vỡ trận.

Chúng hoảng loạn, vứt bỏ súng ống, cởi phăng bộ quần áo đen để tháo chạy thục mạng vào rừng. Hệ thống phòng ngự do cố vấn nước ngoài xây dựng bị đập vụn từng mảng.

Mới ngày hôm trước, Pol Pot còn hô hào “quyết tử”, thì nay, khi nghe tiếng đại bác của quân tình nguyện Việt Nam, bộ sậu Pol Pot, Ieng Sary, Nuon Chea đã cuống cuồng thu gói hành lý.

Sáng ngày 7 tháng 1 năm 1979, vài giờ trước khi xe tăng Việt Nam tiến vào trung tâm thủ đô Phnom penh.

Pol Pot – vị “Anh Cả” tối cao, kẻ từng tuyên bố không sợ trời không sợ đất đã lén lút trèo lên một chuyến tàu hỏa đặc biệt, mang theo vàng bạc và vây cánh, cắm đầu tháo chạy về phía biên giới Thái Lan, bỏ lại sau lưng hàng vạn binh lính đang chết thay cho mình.

Sự tháo chạy của giới chóp bu diễn ra gấp gáp và thảm hại đến mức, tại “lò mổ” S-21 (Tuol Sleng), tên đao phủ Duch (Đúc) cũng rơi vào thế mất trí.

Nhận lệnh từ cấp trên phải “xóa sổ mọi dấu vết”, Duch cuống cuồng ra lệnh hành quyết những tù nhân cuối cùng.

Nhưng quân tình nguyện Việt Nam tiến vào quá nhanh. Duch bỏ chạy vắt chân lên cổ, vứt lại toàn bộ hiện trường đẫm máu.

Nhờ sự tháo chạy nhục nhã ấy mà thế giới mới có bằng chứng để kết tội chúng sau này.

Hàng vạn tập hồ sơ khẩu cung dính máu, hàng ngàn bức ảnh chụp các nạn nhân trước giờ hành quyết bị bỏ lại vương vãi trên sàn nhà.

Và đặc biệt nhất, 7 tù nhân còn sống sót nhờ có “tay nghề” (người biết vẽ chân dung Pol Pot, người biết sửa máy đánh chữ…) đã may mắn thoát khỏi lưỡi hái tử thần trong gang tấc.

Trưa ngày 7 tháng 1 năm 1979, những chiếc xe tăng của Quân Tình nguyện VN, oai hùng lăn bánh vào trung tâm Nam Vang.

Chế độ diệt chủng Khmer Đỏ chính thức sụp đổ sau 3 năm, 8 tháng và 20 ngày tồn tại, để lại sau lưng gần 3 triệu xác người.

Nhưng ác quỷ chưa chết.

Pol Pot cùng tàn quân đã lủi sâu vào những vùng rừng núi hiểm trở dọc biên giới Thái Lan, vẫn giật dây những cuộc chiến tranh du kích ròng rã suốt những năm sau đó.

……

Sau khi tháo chạy khỏi Nam Vang, Pol Pot cùng tàn quân Khmer Đỏ co cụm về vùng rừng núi hiểm trở Anlong Veng, sát biên giới Thái Lan.

Lợi dụng sự đối đầu của các siêu cường trong Chiến tranh Lạnh, tàn quân Khmer Đỏ vẫn được cung cấp vũ khí, lương thực để tiếp tục tiến hành chiến tranh du kích, phá hoại công cuộc hồi sinh của đất nước Campuchia.

Trong suốt thập niên 1980 và đầu 1990, Pol Pot vẫn lấy thêm vợ bé, sinh con gái, và tiếp tục gieo rắc ảo mộng về việc lấy lại quyền lực.

Khi chiến tranh Lạnh kết thúc. Nguồn viện trợ bị cắt đứt hoàn toàn, tàn quân Khmer Đỏ lâm vào cảnh cùng quẫn, bệnh tật và đào ngũ hàng loạt.

Đối diện với sự suy tàn không thể vãn hồi, căn bệnh hoang tưởng, đa nghi của Pol Pot lại một lần nữa bùng phát dữ dội. Giống như một con thú bị dồn vào chân tường, gã bắt đầu cắn xé chính đồng loại của mình.

Tháng 6 năm 1997, sự kiện chấn động cuối cùng của Khmer Đỏ nổ ra.

Nghi ngờ người đồng chí vào sinh ra tử, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Son Sen đang bí mật đàm phán để đầu hàng chính phủ, Pol Pot đã ra một lệnh hành quyết.

Nửa đêm, tay sai của Pol Pot ập vào nhà Son Sen. Chúng bắn chết Son Sen cùng vợ và toàn bộ 13 người trong gia đình, bao gồm cả những đứa trẻ sơ sinh.

Man rợ hơn, Pol Pot còn ra lệnh cho xe tải cán qua cán lại thi thể của gia đình người đồng chí cũ.

Hành động giết hại dã man gia đình Son Sen đã làm giọt nước tràn ly, phá vỡ hoàn toàn chút trung thành cuối cùng của giới chóp bu Khmer Đỏ.

Tướng Ta Mok (kẻ mang biệt danh “Gã đồ tể”) đã quyết định làm binh biến.

Chỉ vài ngày sau, lực lượng của Ta Mok bao vây doanh trại, tước vũ khí và bắt sống chính “Anh Cả” Pol Pot.

Tháng 7 năm 1997, một phiên tòa “kỳ lân” diễn ra ngay giữa rừng sâu Anlong Veng. Kẻ bị đem ra xét xử là Pol Pot. Và những kẻ ngồi trên ghế quan tòa, chỉ tay kết án gã, lại chính là những tên đao phủ thủ hạ do gã nhào nặn ra!

Phiên tòa không hề kết án tội ác diệt chủng, gần 3 triệu người dân vô tội mà chỉ kết án gã vì tội “Phản bội tổ chức” (giết Son Sen).

Pol Pot bị kết án tù chung thân dưới hình thức quản thúc tại gia. Gã bị nhốt trong một căn lều gỗ lụp xụp, xung quanh là hàng rào kẽm gai và lính canh gác ngày đêm.

Từ một vị Chúa tể nắm quyền sinh sát cả quốc gia, Pol Pot giờ đây chỉ là một lão già 73 tuổi ốm yếu, rụng hết tóc, thở dốc từng cơn hôi hám và phải sống bằng những liều thuốc trợ tim.

Tối ngày 15 tháng 4 năm 1998, khi đang nằm thoi thóp trên giường bệnh, Pol Pot nghe được một bản tin trên đài tiếng nói Hoa Kỳ (VOA) mà vợ gã mở bên cạnh.

Bản tin thông báo rằng tàn quân Khmer Đỏ đã đạt được thỏa thuận: Chúng sẽ giao nộp gã cho Tòa án Công lý Quốc tế để đổi lấy sự ân xá.

Nghe xong tin sét đánh ấy, lão già bạo chúa nhắm mắt lại. Vài giờ sau, gã tắt thở.

Khmer Đỏ thông báo gã chết vì “đau tim”.

Nhưng rất nhiều nhà sử học và nhà báo độc lập tin rằng, một kẻ kiêu ngạo như Pol Pot đã tự kết liễu đời mình bằng một liều thuốc độc quá liều, hoặc bị chính thủ hạ đầu độc để bịt đầu mối trước khi gã bị đem ra quốc tế đối chất.

Dù nguyên nhân là gì, thì đám tang của tên ác quỷ kiến tạo nên “Cánh đồng chết” cũng là một bản án mỉa mai đến tận cùng.

Thi thể Pol Pot được bọc trong một tấm nilon, đặt trên một chiếc đệm rách. Vài tên lính khiêng xác gã ra một bãi đất trống bốc mùi.

Chúng xếp vài chiếc lốp xe ô tô cũ, vứt lên đó một đống củi mục và rác rưởi rồi châm lửa đốt. Khói đen cuồn cuộn bốc lên khét lẹt.

Một kẻ đã thiêu rụi cả nền văn minh của một quốc gia, cuối cùng lại hóa tro bụi trên một đống rác lốp xe. Tro cốt của gã bị gió rừng thổi bay tứ tán, không để lại dù chỉ là một nấm mồ.

“LẬT MỞ HỒ SƠ MẬT”

(Từ FB Lão Ngoan Đồng)

TN2:

Bài viết hay nhưng chưa đủ: Khmer Đỏ nổ súng xung đột với Vietnam ngay sau 4/1975 ở đảo Thổ Châu, rồi lẻ tẻ ở biên giới dưới sự xúi giục của Trung Quốc. Nhưng lãnh đạo VN khi đó không tin “anh em mình phản bội lại mình “, vẫn tiến hành học tập chính trị để thanh lọc thanh trừng hàng ngũ cán bộ quân đội sau chiến thắng; buộc các đơn vị làm nông trường, súng đạn rét sỉ, …

Dân chúng Việt Miên dọc biên giới biết Khmer Đỏ chuẩn bị đánh sang nên báo tin cho chính quyền và xin vũ trang tự vệ thì cán bộ chẳng những không tin , mà còn tỏ thù nghịch với dân …

Vì vậy mới có vụ thảm sát Ba Chúc vì bộ đội bỏ chạy, dân chúng lượm súng tự võ trang thì đã quá trễ (tháng 10/1978 tôi đến đơn vị E20 F4 ở Tri Tôn, Lương Phi, Ba Chúc (Tịnh Biên) được lính cũ cùng dân chúng kể lại. Sau đó chúng tôi tiến qua Kampuchea cho đến gần 10 năm sau)


 

LÀNG PHONG QUY HÒA BỊ LẤY ĐẤT ĐỂ XÂY DỰ ÁN NGHỈ DƯỠNG HẠNG SANG

Việt Tân 

LÀNG PHONG QUY HÒA BỊ LẤY ĐẤT ĐỂ XÂY DỰ ÁN NGHỈ DƯỠNG HẠNG SANG

Có những mảnh đất không được định giá bằng diện tích hay vị trí mặt tiền, mà bằng sức chứa của những nỗi đau, sự bao dung và lòng nhân ái mà con người đã gửi lại nơi đó qua nhiều thế hệ.

Làng phong Quy Hòa, nép mình bên bờ biển suốt gần một thế kỷ qua, không đơn thuần là một địa danh hành chính.

Đó là nơi cưu mang những con người từng bị xã hội xa lánh vì bệnh tật. Đó là chứng tích sống động về tình yêu thương vô điều kiện của các nữ tu, các bác sĩ và những người đã dành cả cuộc đời để chăm sóc những phận người bất hạnh. Đó cũng là mảnh đất lưu giữ những hơi thở cuối cùng của thi sĩ Hàn Mặc Tử, một phần ký ức văn hóa đặc biệt của dân tộc.

Vậy mà giờ đây, không gian ký ức ngưng đọng của thời gian ấy sắp phải xóa sổ để nhường chỗ cho Khu đô thị du lịch nghỉ dưỡng quốc tế biển Ghềnh Ráng – Vũng Chua. Một siêu dự án với quy mô khổng lồ gần 2.900 hecta sẽ nuốt chửng toàn bộ thung lũng yên bình này.

Chính quyền đem 20.000 tỷ đồng của tập đoàn Sun Group để đánh đổi lấy một di sản tinh thần vô giá mà không một dòng tiền nào có thể mua lại.

Một nơi vốn dĩ là thánh đường của sự xoa dịu, nơi tôn vinh những giá trị nhân văn thuần khiết nhất, nay lại được chuẩn bị để biến thành chốn xa hoa, phục vụ cho những kỳ nghỉ dưỡng của giới nhà giàu.

Cứ mỗi lần một di tích bị khai tử để dựng lên những tòa nhà cao tầng, chúng ta lại tự hỏi rồi đất nước này sẽ đi về đâu khi chỉ toàn những khối bê tông vô hồn chiếm lĩnh?

Sự phát triển sẽ chẳng còn ý nghĩa nếu nó được xây dựng trên sự lãng quên lịch sử và tước đoạt đi những giá trị nhân văn cốt lõi. Tiếng sóng Quy Hòa rồi đây vẫn sẽ vỗ vào bờ, nhưng liệu có còn giữ được tiếng lòng đầy trắc ẩn, hay chỉ còn là tiếng thở dài cay đắng của một di sản đã bị khai tử bởi cơn lốc thị trường?

#làngphongQuyHòa


 

Mỹ: Cháu và chắt của Kennedy chết trong lúc cách ly

Tác Giả: Đàn Chim Việt

09/04/2020

Chết chóc bám mãi theo gia đình kennedy?

Dường như số phận chưa buông tha cho gia đình Kennedy khi mới đây cháu và chắt của Robert Kennedy chết trong lúc cách ly.

Lực lượng cứu hộ vừa tìm thấy thi thể của Gideon McKean, 8 tuổi. Cậu bé biến mất một tuần trước, cùng với mẹ của mình, cháu gái của Robert Kennedy (người đã bị sát hại năm 1968). Thi thể của một người phụ nữ đã được tìm thấy vào thứ Hai. Hai mẹ con bà chèo thuyền kayak để chơi bóng dưới nước, họ đã đi quá xe bờ và tai nạn xảy ra.

Thi thể của Maeve McKean, 40 tuổi và con trai được tìm thấy ở vùng biển ngoài khơi Chesapeake, Maryland.

McKean là luật sư làm việc tại Đại học Georgetown; chuyên về sức khỏe cộng đồng và nhân quyền.

Trong thời gian bị hạn chế do dịch coronavirus, McKean đã đến nhà của mẹ cô, bà Kathleen Kennedy Townsend- con gái của Robert Kennedy – ở Shady Side, Maryland.

Chồng của cô David McKean đã báo cáo trên Facebook rằng, gia đình đi khỏi nơi thường trú của họ tại Washington trong thời gian cách ly để con cái có nhiều không gian hơn. Vợ và con trai của ông ta đã biến mất khi họ đang chơi bóng nước bằng thuyền. “Họ trèo lên thuyền kayak, đuổi theo quả bóng đang bị gió hoặc thủy triều cuốn ra xa”, ông viết vào hôm thứ Sáu. “Khoảng 30 phút sau, một người quan sát đất nhìn thấy họ ở quá xa bờ và gọi cảnh sát.”

Sự biến mất của cháu gái và cháu chắt của “RFK” được truyền thông Mỹ mô tả như một trường hợp tiếp theo  của “lời nguyền Kennedy”.

“RFK”, là tổng chưởng lý Hoa Kỳ năm 1961-64 và Thượng nghị sĩ bang New York. Ông bị bắn vào ngày 5 tháng 6 năm 1968 tại Los Angeles, ngay sau khi phát biểu liên quan đến chiến thắng của ông trong cuộc bầu cử tổng thống của Đảng Dân chủ California. Hai con trai của Robert chết sớm: David do quá liều ma túy năm 1984 ở tuổi 28 và Michael năm 1997 ở tuổi 39.

Anh trai của RFK, Tổng thống Hoa Kỳ thứ 35 John F. Kennedy, đã bị ám sát tại Dallas năm 1963 và con trai của ông là John Jr. tử vong cùng với vợ và chị dâu khi máy bay của ông bị rơi ở ngoài khơi bờ biển Massachusetts.

Cháu gái của Robert Kennedy, Saoirse Kennedy Hill, đã qua đời vào năm 2019 do sử dụng ma túy quá liều tại nhà của gia đình Kennedy ở Hyannis Port, Massachusetts.

Theo Onet.pl


 

AI – robot : “ Vũ khí thần kỳ ” trong chiến tranh hiện đại ?(RFI)

RFI

Mỗi cuộc chiến tranh đều có những “vũ khí thần kỳ” của riêng mình. Chúng luôn được giới thiệu theo cùng một cách: hoặc sẽ chấm dứt mọi cuộc chiến tranh, hoặc ít nhất cũng giúp kết thúc chiến tranh với tổn thất tối thiểu cho phe sử dụng chúng.

Đăng ngày: 08/06/2026 

Thùy Dương

Trong nội chiến Hoa Kỳ thời trước, đó là các loại súng “liên thanh”, tàu bọc thép và tàu ngầm. Trong Thế chiến thứ nhất, đó là xe bọc thép, thời đó được ví như những “chiến hạm trên bộ”, và vũ khí hóa học. Khi Đệ Nhị Thế Chiến kết thúc, tổng thống Harry Truman thì cảm tạ Chúa vì sự ra đời của bom nguyên tử. Còn đối với các quân đội thời nay, trí tuệ nhân tạo (AI) chính là “vũ khí thần kỳ” phiên bản mới nhất.

Trên đây là nhận định của Paul Josephson trong bài viết “Vì sao robot không thể giành chiến thắng trong chiến tranh ?”. Bài viết đăng ngày 03/06/2026 trên trang mạng Pháp ngữ Le Grand continent, chuyên về địa-chính trị. Paul Josephson là giáo sư lịch sử tại trường đại học tư thục Colby College của Hoa Kỳ, và chuyên nghiên cứu về nước Nga và Liên Xô, lịch sử khoa học và công nghệ trong thế kỷ XX.

Một cách khái quát, AI được sử dụng thế nào trong chiến tranh ?

Những người ủng hộ AI cho rằng công nghệ này cho phép tiến hành các cuộc tấn công từ xa, giảm thiểu thương vong cho lực lượng của mình, thực hiện các đòn đánh chính xác mà vẫn bảo vệ được dân thường. Các drone và phương tiện tự hành có thể thực hiện các nhiệm vụ định vị mục tiêu và tiêu diệt mà không khiến binh sĩ gặp nguy hiểm.

Tuy nhiên, theo tác giả bài viết, AI thực chất là sản phẩm của một tổ hợp công nghiệp – quân sự – kỹ thuật số được hậu thuẫn bởi hàng chục tỷ đô la đầu tư, khuyến khích các hành động quân sự vội vã thay vì ngoại giao, tạo ra cảm giác bất khả chiến bại giả tạo và, giống như những “vũ khí thần kỳ” của thế kỷ XX, AI cũng dẫn đến các hành vi lạm dụng chống lại dân thường.

Theo các phương tiện truyền thông và nhiều nhà phân tích được sử gia Paul Josephson dẫn lại, AI hiện diện ở hầu hết các cuộc chiến tranh đương đại. Xuất phát từ lĩnh vực quân sự, các ứng dụng của AI được sử dụng để nhắm vào đối thủ ở nước ngoài hoặc để giám sát công dân trong nước. Các tập đoàn AI lớn và các nhà lãnh đạo của các công ty này, từ Palantir, OpenAI, cho đến Google, và nhiều công ty khác, đang đặt cược vào ý tưởng rằng AI có thể tiến hành chiến tranh thay cho con người, với chi phí thấp hơn và ít thương vong hơn.

Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu chuyên về lịch sử khoa học và công nghệ trong thế kỷ XX, đó là một giả định sai lầm.

Không chỉ có nguồn gốc quân sự, AI dường như còn lệ thuộc vào quân đội ?

Từ những năm 2010, drone bắt đầu bay trên các khu dân cư. Vừa là đồ chơi cho trẻ em vừa là công cụ giám sát, chúng dần dần hòa vào đời sống thường nhật. Tuy nhiên, nguồn gốc của chúng vẫn là quân sự. Thiết bị này được tạo ra để tấn công các mục tiêu ở xa mà không đặt binh lính vào cảnh nguy hiểm. Nhẹ và dễ điều khiển, drone đã đóng vai trò quan trọng trong các cuộc chiến tại Syria, Ukraina, Palestine, Venezuela và Iran trong thập kỷ này.

Xuất phát từ nhu cầu quân sự, cho đến nay AI vẫn phụ thuộc đáng kể vào nguồn tài trợ từ quân đội và phần lớn các ứng dụng của AI vẫn gắn với lĩnh vực chiến tranh.

Tác giả bài viết dẫn ví dụ tại Hoa Kỳ : Ngân sách nghiên cứu trong lĩnh vực quốc phòng của Mỹ vượt xa đáng kể ngân sách của Quỹ Khoa học Quốc gia (NSF). Nguồn tài trợ của bộ Quốc Phòng Mỹ dành cho trí tuệ nhân tạo hiện giờ vượt gấp 20 lần so với Quỹ Khoa học Quốc gia. Bên cạnh việc thúc đẩy sự phát triển của điện tử lượng tử- yếu tố thiết yếu cho các chất bán dẫn vận hành máy tính, điện thoại di động và các thiết bị viễn thông khác, các khoản tài trợ khổng lồ dành cho quốc phòng không còn chỉ hướng đến nghiên cứu cơ bản mà đã mở đường cho nghiên cứu ứng dụng.

Nghiên cứu trong lĩnh vực quân sự quyết định phần lớn các cách sử dụng và ứng dụng của trí tuệ nhân tạo (AI). Cũng theo sử gia này, Lầu Năm Góc giờ đây thậm chí còn hướng tới việc thay thế toàn bộ binh lính trên chiến trường.

Vai trò mới của AI trong chiến tranh hiện đại là gì ?

Chính quyền Mỹ của tổng thống Donald Trump không che giấu sự quan tâm đặc biệt đối với AI, một công nghệ được sử dụng không chỉ trong các chiến dịch quân sự ở nước ngoài mà còn trong chính sách đối nội, đặc biệt là các chiến dịch bắt giữ quy mô lớn do Cơ quan Thực thi Di trú và Hải quan Mỹ tiến hành.

Ngân sách dự kiến của Nhà Trắng dành cho Cơ quan Các Dự án Nghiên cứu Quốc phòng Tiên tiến (DARPA) trong năm 2027 lên tới hơn 5 tỷ đô la, tăng gần 20% so với năm 2026. Trên trang web chính thức, DARPA khẳng định các đổi mới của cơ quan này “đã trở thành một phần không thể thiếu của đời sống dân sự hiện đại”, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết phải “đưa các công nghệ mới phục vụ những người đang chiến đấu vì đất nước”.

Văn phòng Nghiên cứu Hải quân thuộc bộ Quốc Phòng Mỹ cũng xác định AI là ưu tiên trong phát triển các hệ thống hàng hải tự động, dù theo tác giả, quyết định này được đưa ra quá muộn để có thể giúp tái mở cửa eo biển Hormuz trong ngắn hạn.

Trong khi đó, Văn phòng Kỹ thuật số và Trí tuệ nhân tạo thông báo sẽ hợp tác với các công ty tư nhân chuyên về AI như Anthropic, OpenAI, Google và xAI nhằm phát triển các công cụ AI có khả năng sát thương.

Lầu Năm Góc cũng đang thúc đẩy dự án “Thunderforge”, một chương trình nhằm tự động hóa một số khâu trong chuỗi chỉ huy, đồng thời xây dựng các kế hoạch tác chiến và mô phỏng chiến tranh để dự báo các mối đe dọa khác nhau.

Marc Andreessen, một nhà tài trợ lớn của Donald Trump, người có tư tưởng “lạc quan về công nghệ” và ủng hộ việc đẩy nhanh phát triển AI, chỉ toàn nhìn thấy những mặt tích cực trong làn sóng đổi mới này của Lầu Năm Góc, cũng như trong các ứng dụng tiềm năng của AI đối với chiến tranh. Tương tự như những nhà hóa học từng cho rằng vũ khí hóa học là một phương tiện giết chóc “nhân đạo hơn” trong Đệ Nhất Thế chiến, Andreessen lập luận rằng AI sẽ “cải thiện chiến tranh” trong trường hợp không thể tránh khỏi chiến tranh, bằng cách làm giảm đáng kể tỷ lệ thương vong. Theo ông, điều đó có thể đạt được nhờ “những quyết định chiến lược và chiến thuật tốt hơn, giúp giảm thiểu rủi ro, sai sót và sự đổ máu không cần thiết”.

Tuy nhiên, Paul Josephson phản bác là nếu các “vũ khí thông minh” giúp binh sĩ tránh xa tuyến đầu, thì chúng cũng không làm giảm khả năng gây sát thương, mà ngược lại còn có thể khiến người sử dụng trở nên ít nhạy cảm hơn với hành vi giết chóc, đồng thời khuyến khích việc sử dụng vũ lực ở quy mô lớn hơn, kéo theo những “thiệt hại ngoài dự kiến” và ngày càng nghiêm trọng đối với dân thường.

Ví dụ, theo sử gia Paul Josephson, các loại vũ khí được mô tả là “thông minh” này đã góp phần gây ra cái chết của hàng ngàn người dân Iran, trong đó có nhiều học sinh.

Nhưng AI quân sự cũng làm dấy lên nhiều tranh luận về đạo đức ?

Ngày 15/05/2026, Giáo hoàng Lêô XIV đã công bố thông điệp đầu tiên của triều đại giáo hoàng của mình và lựa chọn chủ đề AI làm trọng tâm.

Nhắc đến tổ hợp công nghiệp – quân sự – kỹ thuật số, Giáo hoàng Lêô XIV đã cảnh báo rằng AI đang góp phần khiến “việc sử dụng các hệ thống vũ khí có khả năng tự chủ tác chiến trở nên dễ dàng hơn, qua đó khiến chiến tranh trở nên ‘dễ tiếp cận’ hơn và ngày càng ít chịu sự kiểm soát của con người”.

Ngài kêu gọi việc “phát triển và sử dụng AI trong lĩnh vực quân sự phải tuân thủ những chuẩn mực đạo đức nghiêm ngặt nhất, tôn trọng phẩm giá con người và tính thiêng liêng của sự sống, đồng thời tránh một cuộc chạy đua vũ trang”, đặc biệt là “không thể chấp nhận việc giao cho các hệ thống nhân tạo quyền đưa ra những quyết định liên quan đến sinh mạng con người hoặc những quyết định không thể đảo ngược. Không có thuật toán nào có thể khiến chiến tranh trở nên chấp nhận được về mặt đạo đức”.

Trên thực tế, sử gia Paul Jesephson lưu ý là trong một thời gian dài, các nhà lãnh đạo, nhà phát triển, lập trình viên và các nhà tài trợ cho các công cụ AI đã đánh giá quá cao năng lực nhận thức của máy móc, đến mức cho rằng có thể loại bỏ yếu tố con người khỏi quá trình ra quyết định. Trong lĩnh vực nghiên cứu và lập trình AI, các vấn đề đạo đức đặc biệt nghiêm trọng, bởi vì các thuật toán có thể nhanh chóng khuếch đại bạo lực, đưa ra những quyết định nhắm mục tiêu thiếu minh bạch hoặc mang định kiến, làm suy giảm trách nhiệm của con người và gia tăng nguy cơ xác định nhầm “kẻ thù”.

Một số ý kiến khác còn cho rằng các loại vũ khí tự động hoặc được hỗ trợ bởi AI tạo ra những rủi ro pháp lý và đạo đức không thể chấp nhận được, ngay cả khi chúng chỉ nhằm vào các mục tiêu quân sự.

Dĩ nhiên, các hệ thống phòng thủ, từ đánh chặn tên lửa, phát hiện mìn, tổ chức hậu cần sơ tán cho đến phòng thủ mạng, có thể cứu sống nhiều mạng người. Tuy nhiên, liệu việc các lập trình viên phát triển những thuật toán được thiết kế để tấn công dân thường có thể được coi là hành động phù hợp về mặt đạo đức hay không ?

Theo luật nhân đạo quốc tế của Liên Hiệp Quốc, dân thường phải được bảo vệ trong các cuộc xung đột vũ trang. Việc cố ý nhắm mục tiêu vào dân thường nhìn chung bị coi là tội ác chiến tranh. Các bên tham chiến phải phân biệt mục tiêu quân sự và mục tiêu dân sự, đồng thời tránh gây ra những thiệt hại quá mức đối với dân thường.

Chính các nhà sản xuất vũ khí và giới quân sự đang kêu gọi những “chính phủ có trách nhiệm” đầu tư nghiên cứu nhằm bảo đảm triển khai các hệ thống AI có khả năng phân biệt giữa mục tiêu hợp pháp và mục tiêu không hợp pháp, bao gồm cả dân thường. Tuy nhiên, những sai sót thường xuyên trong việc xác định mục tiêu của con người dù được hỗ trợ bởi các loại vũ khí thông minh, cùng với việc dân thường ngày càng bị biến thành mục tiêu chiến tranh cho thấy đó có thể chỉ là một ảo tưởng nguy hiểm và đầy bạo lực.

Điều đó có nghĩa là AI không khiến chiến tranh trở nên chính nghĩa hơn, cũng không hiệu quả hơn ?

Đối mặt với nước Nga của Vladimir Putin, các kỹ sư quân sự Ukraina đã khai thác đến cùng những tiến bộ trong lĩnh vực AI, khoa học vật liệu mới và công nghệ drone.

Các drone của Ukraina sử dụng công nghệ nhận dạng mục tiêu bằng AI để phát hiện xe tăng được ngụy trang hoặc ẩn trong rừng. Ngày nay, các drone thường được trang bị những tay đòn bằng sợi carbon dài khoảng 2,5 mét mỗi bên, cùng với cánh quạt, dây cáp và ăng-ten. Chúng có khả năng tấn công mục tiêu với độ chính xác rất cao. Trước một đối thủ Nga đang tiến hành cuộc chiến nhằm hủy diệt một quốc gia có chủ quyền, rất khó để phủ nhận tính chính đáng của việc Ukraina sử dụng công nghệ này. Nhưng một câu hỏi được đặt ra là vấn đề đạo đức của việc sử dụng AI trong một cuộc chiến tranh bị coi là không có lý do chính đáng từ phía bị tấn công nằm ở đâu.

Theo sử gia Paul Josephson, chính sách địa chính trị của tổng thống Mỹ Donald Trump và thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu là một trường hợp nghiên cứu đáng chú ý, vừa cho thấy cách AI quân sự được triển khai trong các cuộc xung đột cường độ cao, vừa cho thấy vì sao công nghệ này có thể tỏ ra kém hiệu quả hơn kỳ vọng, hoặc ít nhất là nuôi dưỡng một ảo tưởng về hiệu quả.

Ông nhận định là các cuộc tấn công của Mỹ và Israel nhằm vào Iran được khởi động nhờ cơ hội công nghệ do những tiến bộ trong lĩnh vực AI tạo ra. Việc loại bỏ các lãnh đạo chính trị và quân sự Iran không hẳn xuất phát từ một nhu cầu quân sự cấp thiết, mà trước hết là tận dụng một cơ hội chiến thuật mang tính tạm thời. Trước và trong chiến dịch quân sự, các nhóm chuyên gia Mỹ và Israel đã sử dụng những công cụ này để thu thập thông tin tình báo, xác định mục tiêu, lập kế hoạch không kích và đánh giá thiệt hại chiến trường với tốc độ chưa từng có.

Nhờ khả năng xác định mục tiêu và mức độ sát thương chưa từng thấy, các nhà hoạch định chiến lược và giới lãnh đạo chính trị tin rằng họ có thể nhanh chóng kết thúc cuộc xung đột. Tuy nhiên, Washington đã mắc phải sai lầm quen thuộc của những người quá tin vào các “vũ khí thần kỳ”: bỏ qua những thách thức mới xuất hiện sau các “chiến thắng” ban đầu, khiến Mỹ rơi vào thế bế tắc về bước đi tiếp theo.

Chỉ trong hai ngày đầu của chiến dịch tấn công, Hoa Kỳ đã chi 5,6 tỷ đô la cho đạn dược. Hơn 2.000 đơn vị vũ khí đã được sử dụng nhằm vào những mục tiêu mà Lầu Năm Góc xác định là của Iran. Kể từ khi Donald Trump ra lệnh phát động chiến tranh chống Iran, Mỹ đã mất ít nhất 42 máy bay, làm cạn kiệt một phần đáng kể kho tên lửa và drone, đồng thời chi ít nhất 30 tỷ đô la cho cuộc xung đột.

Tuy nhiên, vũ khí không phải là nguồn lực vô hạn. Việc bổ sung kho dự trữ cần đến nhiều tháng, đặc biệt đối với các loại vũ khí chính xác cao được hỗ trợ bởi AI. Dường như Mỹ đã không nhận ra rằng công nghệ, tự nó, không thể mang lại chiến thắng trong chiến tranh. Sử gia Paul Josephson, chuyên về lịch sử công nghệ thế kỷ XX, kết luận : công nghệ cũng không thể ngăn chặn những chi phí khổng lồ mà mọi cuộc xung đột vũ trang đều gây ra. Niềm tin vào AI chắc chắn đã thúc đẩy việc sử dụng công nghệ này trên chiến trường, nhưng đồng thời cũng thổi phồng hiệu quả thực sự của nó.


 

Ông bà gốc Việt làm chủ hơn 60 tiệm nail nhận tội trốn thuế $32 triệu

Ba’o Nguoi-Viet

June 5, 2026

COLUMBUS, Ohio (NV) – Một người đàn ông và một phụ nữ gốc Việt ở Texas làm chủ hơn 60 tiệm nail vừa nhận tội gian lận và trốn thuế hàng chục triệu đô la bằng cách “trả lương chui” (under-the-table) cho nhân viên, thông cáo báo chí của Văn Phòng Bộ Tư Pháp Mỹ, chi nhánh Southern District of Ohio ở Columbus, cho biết hôm Thứ Tư, 3 Tháng Sáu.

Theo hồ sơ tòa án và các tuyên bố đưa ra tại tòa, ông Vinh Q. Hồ, 53 tuổi, và bà Thanh Lan Đỗ, 34 tuổi, làm chủ và quản lý một doanh nghiệp bao gồm hơn 60 tiệm nail cao cấp khắp Hoa Kỳ, với các tên như Anthony Vince’ Nail Spa, Prive Nail Spa, và Zen Nail & Spa.

 

Một tiệm nail Anthony Vince’ Nail Spa ở Santa Clarita, California. (Hình minh họa: Google Maps)

Ông Vinh là tổng giám đốc trên thực tế. Còn bà Thanh là người điều hành các tiệm nail.

Các tiệm nail này mướn nhân viên và trả tiền cho họ phần lớn bằng tiền mặt.

Vào cuối năm, tiệm nail của họ chuẩn bị hồ sơ khai thuế cho mỗi nhân viên.

Để giúp nhân viên che giấu thu nhập và trốn thuế, các hồ sơ thuế này không bao gồm số tiền lương trả bằng tiền mặt.

Ông Vinh và bà Thanh còn huấn luyện nhân viên quản lý tiệm cách “trả lương chui” cho nhân viên.

Ngoài ra, họ còn làm mẫu khai thuế 1099 giả và nói nhân viên không khai số tiền lương thật.

Thông cáo của Bộ Tư Pháp Mỹ liên quan vụ hơn 60 tiệm nail gian lận và trốn thuế. (Hình: Chụp từ màn hình trang web Bộ Tư Pháp)

Ông Vinh cũng không khai báo trung thực thu nhập trong hai năm 2020 và năm 2021 trong hồ sơ thuế.

Trong thỏa thuận nhận tội, bà Thanh đồng ý rằng từ năm 2016 đến năm 2024, các tiệm nail của họ trả lương bằng tiền mặt hơn $116 triệu, nhưng không khai báo với Sở Thuế IRS, nên không phải đóng một khoản tiền thuế ít nhất là $32 triệu.

Cả ông Vinh và bà Thành đều nhận một tội âm mưu lừa đảo nước Mỹ. Ông Vinh cũng nhận một tội trốn thuế.

Theo dự trù, cả hai sẽ bị tuyên án trong những ngày tới.

Ông Vinh Q. Hồ có thể bị tối đa 10 năm tù. Còn bà Thanh Lan Đỗ có thể bị tối đa 5 năm tù.

Một chánh án liên bang sẽ quyết định bản án với hai người gốc Việt này sau khi tham khảo hướng dẫn bản án tù của Hoa Kỳ và các yếu tố khác. (Đ.D.)


 

 TUỔI GIÀ VỚI BUÔNG BỎ & THA THỨ

Phạm Quốc Hùng

 TUỔI GIÀ VỚI BUÔNG BỎ & THA THỨ

Hồi trẻ cứ tưởng sống là phải “gom”. Gom tiền, gom chức tước danh phận, gom thật nhiều cho mình và cho con cho cháu.

Tới lúc tóc bạc,chân chùn gối mỏi, tui mới hiểu sống tới cuối đời cần học hai chữ: Buông bỏ và Tha thứ. Không học hai chữ đó thì già rồi mà lòng nặng như đá.

Hồi 30 tuổi, ai nói một câu không vừa ý là tui nhớ. Thằng bạn mượn tiền không trả, tui giạn không nhìn mặt nó luôn. Vợ cằn nhằn một buổi, tui dỗi cả tháng. Tui tưởng giữ cái giận đó là giữ cái “tôi” của mình. Giữ cho mình khỏi … thua.

Tới 60 tuổi, tui bệnh một trận thập tử nhất sinh. Nằm trên giường bệnh, tay chân không nhấc nổi, mắt nhìn lên trần nhà. Tự nhiên mấy chuyện hồi trẻ nó hiện về. Thằng bạn mượn tiền, vợ cằn nhằn,… Tất cả như mấy cuộn phim cũ. Tui muốn chửi, muốn tính sổ, mà miệng khô, họng nghẹn. Lúc đó tui mới thấy: giữ giận 30 năm, người chết trước là mình. Nó chết trước vì tim nó nghẹn, vì đêm nào cũng mất ngủ.

Từ giường bệnh bước xuống, tui tập buông. Buông không phải là thua. Buông là thấy cái gì không vác nổi nữa thì đặt xuống. Con cái lớn rồi, nó có đường nó. Đất đai tính toán chi cho mệt, chết có mang theo được đâu. Người ta nói xấu mình, kệ. Mình sống cho mình với trời đất, không sống để đóng vai “người hoàn hảo” trong mắt thiên hạ.

Buông bỏ của tuổi già nó nhẹ lắm. Nó không ồn ào như trai trẻ “bỏ là bỏ cho mày thấy”. Buông của người già giống như ông già quét lá. Lá rụng thì quét, quét rồi gió lại thổi rụng. Quét cho sân sạch để mình đi, không quét để lá nó đừng rụng nữa. Buông là chấp nhận “được thì ít, mất thì nhiều”. Mà mất rồi thì thôi, ôm vô làm gì cho mỏi tay.

Mà buông không thì chưa đủ. Buông xong, trong lòng còn cái cấn. Cái cấn đó tên là “hận”. Nên tuổi già phải học thêm chữ “tha thứ”.

Tha thứ khó hơn buông gấp chục lần. Buông là bỏ đồ vật. Tha thứ là bỏ người. Mà người đó có khi là vợ mình 40 năm, là anh em máu mủ, là thằng bạn ngồi chung chiến hào. Tha thứ không có nghĩa là nói “mày đúng”. Tha thứ là nói “tao mệt rồi, tao không muốn mang mày trong tim tao thêm ngày nào nữa”.

Tui có ông bạn, vợ ổng mất sớm. Ổng giận bà nhạc 20 năm vì bà ngăn cản ngày xưa. Giận tới mức con cháu lấy vợ lấy chồng ổng cũng không nhìn mặt sui gia. 70 tuổi, ổng tai biến, nằm một chỗ. Con cháu đẩy xe lăn đưa ổng qua nhà bà nhạc. Bà nhạc giờ cũng 85, lưng còng, mắt mờ. Hai người già ngồi nhìn nhau. Không ai nói “xin lỗi”. Bà nhạc chỉ rót ly nước: “Uống đi anh Sáu”. Ông bạn tui cầm ly nước, tay run, nước mắt chảy. Ổng nói với tui sau đó: “Tui tha cho bả, không phải vì bả xứng đáng. Tui tha vì tui muốn trước khi nhắm mắt, trong tim tui chỉ còn ấm, không còn đá”.

Đó, tha thứ của tuổi già là vậy. Không rình rang, không kể công. Tha để mình ngủ ngon. Tha để lúc con cháu hỏi “Ông bà có gì dặn không?”, mình chỉ cười, chứ không trăn trối chuyện thù hận.

Đàn ông tha thứ kiểu đàn ông. Giận thì mặt đỏ, tha thì một câu “bỏ đi”. Nói bỏ là bỏ, không nhắc lại. Đàn bà tha thứ kiểu đàn bà. Khóc ba đêm, nấu ba nồi cháo, rồi nói “tui tha”. Tha rồi nhưng vẫn nhớ, vẫn sợ. Khác nhau, nhưng cái đích thì một: cho lòng nhẹ.

Người trẻ sợ buông vì sợ mất. Người già buông vì biết giữ cũng không được bao lâu. Người trẻ khó tha vì còn sung, còn “cái tôi” to bằng cái đình. Người già dễ tha vì “cái tôi” đó theo năm tháng nó mòn, nó nhỏ lại bằng hạt đậu.

Tui nghiệm ra một điều: Quãng đời còn lại của mình ngắn lắm. Ngắn tới mức không đủ để giận ai thêm một lần, không đủ để ôm một cục than trong lòng thêm một đêm.

Buông bỏ để tay mình trống, còn nắm tay con cháu. 

Tha thứ để tim mình ấm, còn thương được người.

Tới tuổi này, tui không mong giàu, không mong thọ. Tui chỉ mong mỗi đêm nhắm mắt, trong lòng không còn ai để ghét, không còn chuyện gì để tiếc. Ngủ một giấc, sáng mai thức dậy, thấy nắng, thấy lá rụng, thấy lòng mình… không.

“Không” ở đây là không còn nặng. Vậy là đủ.


 

CÂU CHUYỆN VỀ VỊ LINH MỤC 27 TUỔI BIẾT TRƯỚC CÁI CHẾT CỦA MÌNH

Joseph Phạm Nguyên

CÂU CHUYỆN VỀ VỊ LINH MỤC 27 TUỔI BIẾT TRƯỚC CÁI CHẾT CỦA MÌNH

Một vị linh mục 27 tuổi biết rõ mình sắp chết.

Ba tháng trước khi nhắm mắt, ngài đã bình thản kể về điều đó với một người anh em linh mục. Một cách rõ ràng, điềm tĩnh. Không phải là một lời đoán mò — mà là một sự thật ngài đã hoàn toàn chấp nhận.

Ngài tên là Miroslav.

TIẾNG GỌI

Ngài sinh năm 1920 tại một ngôi làng nhỏ ở Istria, Croatia. Một người trẻ mang trong mình tiếng gọi thiêng liêng. Ngài sang Rome học thần học để trở thành linh mục. Khi Thế chiến II bùng nổ, ngài được gọi về quê hương và được thụ phong vào năm 1943, ngay giữa khói lửa chiến tranh.

Ngài trở thành một hình mẫu hiếm hoi: một vị mục tử được giáo dân yêu mến sâu sắc. Ngài làm sống dậy các giáo xứ mình đi qua. Ngài thắp sáng nơi đó bằng các bí tích, bằng đức tin và niềm hy vọng. Ngài không sợ hãi, đầy tài năng và chỉ mới bắt đầu hành trình của mình.

Thế rồi chiến tranh kết thúc.

Một thế lực mới lên nắm quyền.

ÁP LỰC

Chính quyền Cộng sản Nam Tư tiếp quản đất nước vào năm 1945. Sứ mệnh của họ rất rõ ràng: đàn áp Giáo hội. Xóa sổ, kiểm soát và khiến Giáo hội biến mất.

Các Giám mục bị bắt giữ. Linh mục bị quấy rối, bị đánh đập, bị bỏ tù. Đức Tổng Giám mục vĩ đại của Zagreb bị tống giam. Thông điệp đưa ra là không thể nhầm lẫn: cúi đầu trước chính quyền, hoặc bị hủy diệt.

Hầu hết các linh mục chọn cách im lặng. Đó là cách duy nhất để sinh tồn.

Nhưng Miroslav thì không.

SỰ KIÊN CƯỜNG

Ngài lên tiếng. Ngài công khai bảo vệ đức tin. Ngài che chở cho các linh mục trẻ khỏi sự bách hại. Ngài đứng ra làm lá chắn giữa chính quyền và những người giáo dân đang bị áp bức.

Điều đó khiến ngài lọt vào tầm ngắm. Điều đó khiến ngài trở nên nguy hiểm.

Đến mùa hè năm 1947, khi chứng kiến chế độ siết chặt gọng kìm và hiểm nguy ngày càng cận kề, có điều gì đó trong ngài đã dịch chuyển. Ngài không sợ hãi. Ngài đã sẵn sàng.

Ngài nói với các chủng sinh của mình: “Làm linh mục nghĩa là sẵn sàng đổ máu vì đức tin.”

Vào tháng Sáu, ngài viết trong nhật ký dâng lên Chúa: “Nếu đó là ý Ngài, con ước được về bên Ngài càng sớm càng tốt.”

Ngài biết trước mọi chuyện. Và ngài bình an.

KHOẢNH KHẮC

Ngày 24 tháng 8 năm 1947, ngài đến một ngôi làng nhỏ tên là Lanišće.

Sứ mệnh của ngài rất đơn giản nhưng tuyệt đẹp, điều mà các linh mục đã làm suốt hàng thế kỷ qua: ban bí tích Thêm Sức cho các em nhỏ. Đặt tay lên các tín hữu trẻ và củng cố đức tin Công giáo cho các em. Trao ban những bí tích mà chính quyền muốn dập tắt.

Ngài vẫn làm điều đó. Công khai. Không chút sợ hãi.

Sau thánh lễ, ngài cùng một linh mục khác đến nhà xứ để ban bí tích cho những em đến muộn. Lúc đó vào khoảng 11 giờ trưa.

Bất ngờ, cánh cửa bị đạp tung.

Một nhóm người ủng hộ chính quyền xông vào. Họ bắt giữ ngài. Họ vật ngài xuống đất và ghìm chặt ngài lại.

Và họ đâm ngài. Hết nhát này đến nhát khác. Ngay vào cổ.

Máu ngài chảy dài trên sàn nhà và bắn lên cả những bức tường.

Và khi sự sống dần rời bỏ thân xác, Miroslav đã hét lên hai lần:

“Lạy Chúa Giêsu, xin đón nhận linh hồn con.”

Rồi ngài ra đi.

SỰ IM LẶNG

Chính quyền cố gắng xóa sạch sự hiện diện của ngài. Gia đình muốn chôn cất ngài tại quê nhà, nhưng họ từ chối. Họ biến ngôi mộ của ngài thành một thứ để kiểm soát, một biểu tượng cho quyền lực của họ.

Trong nhiều thập kỷ, câu chuyện của ngài chỉ tồn tại qua những lời thì thầm. Ở một góc nhỏ của Croatia. Giữa những con người yêu kính ngài và quyết không lãng quên.

Phần còn lại của thế giới chưa từng biết đến tên ngài.

SỰ PHỤC SINH

Thế rồi chế độ cộng sản sụp đổ.

Và vào năm 2013, 66 năm sau ngày ngài hy sinh, sự thật cuối cùng đã được đưa ra ánh sáng.

Giáo hội Công giáo tuyên phong Miroslav Bulešić là vị Tử đạo. Bậc Chân phước. Cuối cùng ngài đã được tôn vinh.

Buổi lễ diễn ra tại Pula, trong một đấu trường La Mã cổ đại được xây dựng từ hai ngàn năm trước. Hai mươi ngàn người đã tụ họp tại giảng đường ấy để tuyên bố rằng: tên của người đàn ông này sẽ không bị lãng quên. Máu của ngài không đổ xuống vô ích.

Những kẻ giết ngài muốn xóa sổ ngài mãi mãi.

Nhưng giờ đây, tên ngài được xướng lên trong các nhà thờ trên khắp thế giới.

Ngài đã có thể chọn im lặng. Chọn giải pháp an toàn. Chọn sống sót.

Nhưng ngài đã chọn trung kiên. Chọn bảo vệ người khác. Chọn đứng về phía một điều gì đó lớn lao hơn chính bản thân mình. Ngay cả khi biết trước lưỡi dao đang đợi sẵn.

“Tội danh” của ngài là gì? Ban bí tích Thêm Sức cho trẻ em.

Di sản ngài để lại là gì? Một người trẻ nhìn thấy cái chết cận kề mà không hề chớp mắt. Người vẫn cầu nguyện ngay cả khi đang trút hơi thở cuối cùng. Hơi thở cuối cùng là một lời kinh, chứ không phải một tiếng thét gào đau đớn.

“Lạy Chúa Giêsu, xin đón nhận linh hồn con.”

Họ đã cố chôn vùi ngài hai lần. Một lần dưới lòng đất. Một lần trong sự im lặng.

Nhưng ngài đã phục sinh trên cả hai.

#MiroslavBulesic #TuDao #DucTin #CauChuyenCamHung See less


 

TRUNG CỘNG PHẢI SỤP ĐỔ – Trần Trung Đạo

Trần Trung Đạo 

 TRUNG CỘNG PHẢI SỤP ĐỔ

Ngân sách quốc phòng của Trung Cộng (TC) khác nhau tùy theo nguồn ước lượng và gia tăng hàng năm. Năm 2023, trên giấy tờ ngân sách gia tăng 7.7 phần trăm, tính theo dollar lên đến 227.9 tỷ. Năm nay, 2026, theo Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (The International Institute for Strategic Studies (IISS)), ngân sách quốc phòng TC lên đến 277 tỉ dollar. Lần nữa đó cũng chỉ là thông tin “chính thức” từ nhà nước, con số thật sự sẽ cao hơn.

TC có quân đội hiện dịch khoảng 2.3 triệu quân với 500 ngàn quân trừ bị. TC có kho vũ khí và phương tiện chiến tranh tối tân và hiện đại hơn tất cả các quốc gia khác ở Á Châu. Quân đội Giải phóng Nhân dân (PLA) có hơn hai triệu nam và nữ được đào tạo đang tại ngũ, khiến lực lượng này trở thành lực lượng vũ trang lớn nhất thế giới.

Nhưng cho dù tối tân bao nhiêu và đông đảo bao nhiêu cũng không thể so với 27 ngàn đầu đạn nguyên tử, các hạm đội hùng mạnh và 250 sư đoàn bộ binh được trang bị tận răng của Liên Xô trước ngày 25 tháng 12 năm 1991.

Liên Xô đã sụp đổ.

Lý do? LX sụp đổ do ung thối từ bên trong.

Mùa đông 1985, Eduard Shevardnadze, lúc đó là Bộ trưởng Ngoại Giao Liên Xô chia sẻ với Gorbachev, tân Chủ tịch Liên Xô, “mọi thứ đã bị ung thối và phải cần thay đổi”. Gorbachev cũng đã nhận ra điều đó và họ đã hợp tác để thúc đẩy những thay đổi cấp bách qua các cải tổ kinh tế chính trị (Perestroika) và công khai hóa các hoạt động thông tin ngôn luận (Glasnost).

Perestroika có lý do vì vào thời điểm đó Liên Xô đang chịu đựng sự suy thoái kinh tế như giá dầu thô giảm xuống mức thấp kỷ lục, chi phí chiến tranh Afghanistan, chạy đua vũ trang vô cùng tốn kém với Mỹ, nuôi một đạo quân hiện dịch trên bốn triệu người v.v…

Nhưng tại sao kinh tế Perestroika phải tiến hành đồng thời với công khai hóa Glasnost?

Liên Xô thập niên 1980 mặt ngoài khá “ổn định”. Ngoại trừ nhà trí thức lớn Andrei Sakharov đang bị lưu đày ở Gorky, tại Liên Xô không có một phong trào dân chủ nào nổi bật có khả năng thách thức sự cai trị của đảng CS. 

Nhưng Gorbachev biết sự băng hoại của văn hóa xã hội Liên Xô không biểu hiện qua các phong trào, qua vài nhân vật bất đồng chính kiến mà trong mọi mặt, mọi ngõ ngách của đời sống.

Perestroika và Glasnost ra đời quá trễ nên chẳng những không cứu được LX mà lại đẩy LX sụp nhanh hơn.

Nhiều năm sau, Gorbachev trả lời câu hỏi này: “Cái khuôn mẫu Soviet thất bại không chỉ ở mức độ kinh tế xã hội mà thất bại ở mức độ văn hóa. Trong xã hội Liên Xô, các tầng lớp người dân, các thành phần có học, thành phần trí thức đã từ chối một chế độ không tôn trọng quyền làm người, trấn áp người dân cả về vật chất lẫn tinh thần.”

Các đế quốc La Mã, Ottomans, Áo-Hung chết trước, LX chết sau và Trung Cộng đang bước trên ngõ cụt.  Ngày cuối của TC cũng sẽ ảm đạm không khác.

Năm 1989, Trung Cộng đã bước một bước khá dài trên con đường “tự diễn biến” về cả kinh tế lẫn xã hội. Năm 1978, khi Đặng Tiểu Bình thúc đẩy Bốn Hiện Đại Hóa do Chu Ân Lai đề ra từ 1963, lợi tức tính theo đầu người Trung Quốc chưa đến 100 dollars và nhiều khu vực còn chìm trong đói khát. Mười năm sau lợi tức đầu người đã tăng gấp ba lần và Trung Cộng tạm gọi đang bước qua khỏi thời kỳ nghèo đói. Về mặt quốc tế, họ Đặng mở rộng quan hệ hợp tác với nhiều nước trong đó có những nước cựu thù như Mỹ, Nhật và hòa hoãn với Liên Xô.

Trung Quốc trong giai đoạn 1989 cũng trong thời kỳ “ổn định” nhưng biến cố Thiên An Môn bùng nổ giữa sự ngạc nhiên của giới cai trị Bắc Kinh.

Sau biến cố Thiên An Môn, Trung Cộng áp dụng chính sách “bế môn tỏa cảng” về mặt tự do nhân quyền và văn hóa xã hội. Hệ thống tuyên truyền đã từng bước chuyển hướng nhận thức của các thế hệ trẻ Trung Quốc từ yêu tự do dân chủ thời 1989 sang chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Giáo sư Zheng Wang, người đã dạy tại một số đại học Trung Cộng viết trên tạp chí Time rằng ông rất ngạc nhiên ngay cả những sinh viên ưu tú nhất cũng biết rất ít về sự kiện Thiên An Môn mới xảy ra vài năm trước trong khi biết rất chi tiết cuộc kháng chiến chống Nhật cách đây trên 70 năm.

Trung Cộng hiện đang trong thời kỳ “ổn định” nhưng qua chính sách bưng bít thông tin tuyệt đối hiện nay tại Trung Cộng cho thấy Tập Cận Bình cũng biết một Thiên An Môn khác có thể xảy ra bất cứ lúc nào.

Bằng chứng tại Bắc Hàn, mục tiêu thuần hóa dân tộc do ba đời độc tài họ Kim chủ trương, diễn ra suốt hơn 70 năm nhưng vẫn không và sẽ không bao giờ thắng được sự đối kháng trong lòng người. Nếu có cơ hội dù nguy hiểm bao nhiêu, người dân Bắc Hàn vẫn sẽ vượt thoát. Điều đó chứng minh, không bao giờ có “ổn định” trong một xã hội độc tài toàn trị.

Sức phản kháng trong từng con người là một sức mạnh thiêng liêng và luôn âm ỉ cháy. Cách thể hiện ở mỗi người mỗi khác nhưng giống như những cành hướng dương, khát vọng của con người dù là ai đều hướng tới tự do.

Yếu tố chính tác động vào sự sụp đổ của Liên Xô, hệ thống CS tại châu Âu và sẽ diễn ra tại Trung Cộng chính là nội lực phát xuất từ xã hội, kết quả của các phong trào xã hội và sự chuyển hóa không ngừng của xã hội.

Cuộc chiến xoi mòn từng mảng của chế độ độc tài đang diễn ra từng giờ, từng phút và phần thắng đang nghiêng dần về phía người dân. Mỗi người Việt yêu tự do và yêu quê hương, thay vì ngồi chờ mặt trời rồi sẽ mọc hãy thắp lên một ngọn nến bằng khả năng và điều kiện của mình.

Nếu đúng vậy thì bao giờ TC sụp đổ?

Gordon Chang, nhà phân tích kinh tế chính trị đã làm việc 20 năm tại lục địa Trung Quốc, trong tác phẩm The Coming Collapse of China, xuất bản 2001, tiên đoán TC sẽ đổ vào năm 2011.

Lý do, theo Chang trong phần hỏi đáp về tác phẩm của ông, đã viết: “Mao Trạch Đông, người sáng lập ra TC, xây dựng một xã hội bất bình thường và cô lập chính nó từ các quốc gia khác. Hệ thống đó có thể tồn tại mãi cho đến khi TC biệt lập từ thế giới, nhưng những người kế tục Mao đã tìm cách mở cửa ra thế giới bên ngoài. Khi một quốc gia trở nên hội nhập nhiều hơn với các quốc gia khác, một lực đẩy áp dụng cho toàn thế giới – chính trị, kinh tế và xã hội – cũng ảnh hưởng TC. Tại một điểm trong tiến trình này, hệ thống bất bình thường của Mao sẽ bị bỏ rơi vì về căn bản không thích hợp với vai trò mà TC tìm kiếm trong hệ thống quốc tế. Một thời gian ngắn, chính phủ TC sẽ không còn khả năng để đáp ứng với các thách thức của một xã hội mở rộng và năng động.”

TC không đổ như Gordon Chang đoán.

Thận trọng hơn Gordon Chang, công ty Stratfor, một công ty thông tin tình báo chiến lược toàn cầu trong Dự đoán Thập niên công bố ngày 21 tháng Giêng, 2010 cho rằng nền kinh tế TC sẽ đổ trong vòng 10 năm tới. Trả lời thay mặt cho Stratfor, Peter Zeihan, phó chủ tịch công ty, giải thích lý do: “Chúng tôi đã phân tích vấn đề này trước đây về một hệ thống kinh tế Trung Quốc bất ổn và chúng tôi nghĩ sự bất ổn đó đạt điểm vỡ khi các mâu thuẫn nội tại của Trung Quốc bùng ra và tan nát.”

TC vẫn chưa đổ theo ước tính của Stratfor.

Tuy nhiên, dù không xảy ra như Gordon Chang dự đoán hay chưa xảy ra như Stratfor ước tính, cả hai và nhiều các nhà phân tích kinh tế chính trị đều có một nhận xét căn bản rất giống nhau rằng TC sớm muộn cũng sẽ đổ vì phải đương đầu với những khó khăn không thể vượt qua.

Một chế độ khi sinh ra đã mang mầm mống của những mâu thuẫn tiệt tiêu có tính bản chất, chế độ đó sẽ phải sụp đổ.

Những vấn đề của TC:

Dân Số Già Nua

Dân số tại các quốc gia tiên tiến có khuynh hướng tăng chậm và điều này có nghĩa tỉ lệ người cao tuổi ngày tăng cao so với thế hệ vừa sanh. Theo ước tính của đề án Pew Research Global Attitudes Project, năm 2050 TC sẽ chỉ tăng 25 triệu so với 400 triệu của Ấn Độ. Các phân tích dân số ước tính TC đang trở nên quốc gia không chỉ già nhất thế giới mà còn già nhanh nhất thế giới. Trong thời gian vài năm nữa, TC sẽ là viện dưỡng lão khổng lồ. Một quốc gia già nua có nghĩa các chi phí an sinh xã hội, dịch vụ y tế cũng gia tăng một cách tương ứng và là một gánh nặng không chịu nổi cho đất nước 1.4 tỉ dân. Lực lượng lao động phần lớn được dùng trong giai đoạn sản xuất dây chuyền, thiếu sáng tạo kỹ nghệ mang tính tiên tiến và khai phá. Phần lớn hàng hóa, dù tiêu dùng hay kỹ thuật cao cấp cũng được phát minh, sáng chế từ nhiều nước khác.

Theo WHO (World Health Organization): “Trung Quốc là một trong những quốc gia có dân số già đi nhanh nhất thế giới. Dân số trên 60 tuổi ở Trung Quốc dự kiến sẽ đạt 28% vào năm 2040 do tuổi thọ cao hơn và tỷ lệ sinh giảm. Sự thay đổi nhân khẩu học to lớn này đặt ra nhiều thách thức và cơ hội mới cho phát triển y tế công cộng và kinh tế xã hội – đặc biệt là phát triển một hệ thống tích hợp phục vụ nhu cầu sức khỏe và xã hội của người cao tuổi, với khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe bình đẳng bất kể khu vực địa lý.” (WHO, Ageing and health in China, 1 October 2022)

Tham Nhũng

Tham nhũng xảy ra ở mọi quốc gia trên thế giới nhưng tại các nước do đảng CS cai trị tham nhũng không chỉ trầm trọng mà còn có tính đảng. Gọi là tính đảng bởi vì tình trạng tham nhũng phát sinh ngay trong lòng cơ chế chính trị, do cơ chế nuôi dưỡng, tràn lan sang các bộ phận của hệ thống và dần dần làm hư thối toàn xã hội.

Đầu năm 2015, trước áp lực quốc tế và sức phản kháng của người dân như mạch nước ngầm đang chuyển động, Tập Cận Bình lo lắng và tuyên bố sẽ đẩy mạnh chính sách chống tham nhũng. Tuy nhiên, hành động của họ Tập chỉ nhằm mục đích thanh trừng các phần tử chống đối và củng cố quyền lực cá nhân hơn là gia tăng minh bạch trong chính phủ.

Sự phân cách giàu nghèo xảy ra tại hầu hết các nước phát triển, trong đó, một vài phần trăm người dân sở hữu một nguồn lớn của cải xã hội. Tại TC, chỉ một phần trăm trong tổng số trên một tỉ người sở hữu 40 phần trăm của cải. Điều khác giữa TC và các quốc gia tư bản là số tài sản mà một phần trăm nắm giữ tại TC phần đông là do tham ô, hủ hóa, là do bóc lột máu xương, mồ hôi nước mắt của người dân làm ra.

Thiếu Tính Chính Danh Lãnh Đạo Đất Nước

Theo tác giả Ross Terrill trong tác phẩm The New Chinese Empire tại TC chủ quyền của con người không tồn tại ngay cả trong lý thuyết chứ đừng nói chi là thực tế. Mọi quyền hạn đều tập trung trong tay đảng nhưng không ai bầu đảng CS, không ai trao cho đảng quyền lãnh đạo. Trong thời kỳ mới mở cửa, người dân tập trung xây dựng cuộc sống sau khi vừa bước ra khỏi thời tem phiếu nên có khuynh hướng chấp nhận hay không quá quan tâm đến việc ai lãnh đạo mình nhưng thái độ đó đang thay đổi nhanh chóng.

Tại TC không có một cơ quan, đoàn thể xã hội nào mà không đặt dưới sự lãnh đạo của đảng CS. Mặc dù quốc gia có nhiều ngàn tờ báo nhưng không có tờ báo nào đưa vấn đề chính sách ra bàn cãi. Khi mức độ hội nhập vào thế giới gia tăng, sự bất mãn trong quần chúng đối với đảng và nhà nước CS cũng gia tăng.

Bất Ổn Xã Hội

Theo Gini Index, tiêu chuẩn đo lường mức độ mất cân xứng trong việc phân phối lợi tức gia đình, TC là một trong số mười phần trăm mất cân xứng nhất trên thế giới. Hiện nay các sinh viên tốt nghiệp đại học không có công ăn việc làm tốt như các thế hệ sinh viên trước đây. Nhà báo Peter Aitken trích dữ liệu từ Trung Quốc cho biết “ tỷ lệ thất nghiệp của những người từ 16 đến 24 tuổi đã tăng từ 15,3% vào năm 2022 lên mức đáng kinh ngạc là 21,3% vào tháng 6, đánh dấu con số này tăng vọt 25%, theo dữ liệu từ Trung Quốc – mức cao kỷ lục khiến Bắc Kinh ngừng công bố thêm số liệu.”

Theo South China Morning Post đăng ngày 21 tháng 4,, 2026: “Tỷ lệ thất nghiệp chính thức của thanh niên Trung Quốc đã tăng lên 16,9% trong tháng 3, với thêm 12,7 triệu sinh viên tốt nghiệp dự kiến sẽ gia nhập thị trường lao động vào mùa hè này.”

Các thành phần giàu có đang tìm cách chuyển tiền ra nước ngoài để mua tài sản cố định và tìm cách định cư. TC có nhiều tỉ phú nhất thế giới nhưng đa số dân TC vẫn phải sống với lợi tức trung bình khoảng 10 dollar một ngày.

Xã hội bưng bít TC không thể thích nghi với thế giới luôn đổi thay và sinh động. Các chính sách tự diễn biến của các lãnh đạo TC đều có tính cách chiến thuật, phòng thủ, vá víu từng giai đoạn. Trong giai đoạn đầu của toàn cầu hóa TC gặp ít nhiều may mắn về cung ứng hàng hóa rẻ cho thị trường thế giới nhưng về lâu dài khi mức cung cầu được bão hòa, mức độ phát triển kinh tế sẽ chậm lại.

Ô Nhiễm

Đây là lãnh vực mà TC giữ kỷ lục hàng đầu thế giới trong nhiều năm chưa có đối thủ tranh giành được. Điều kiện an toàn hầm mỏ, TC cũng được liệt vào mức tệ hại nhất thế giới. Nước, không khí, kỹ nghệ bị ô nhiễm là nguồn của các bệnh ung thư và các bệnh liên quan đến bộ phận hô hấp.

Hai tác giả Joseph Kahn và Jim Yardley của The New York Times trong bài điều tra năm 2007 cho rằng tình trạng ô nhiễm đe dọa vai trò lãnh đạo của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Cũng theo bài điều tra này, 500 triệu người dân Trung Quốc không có nước uống an toàn vệ sinh. Chỉ vỏn vẹn 1 phần trăm dân chúng thở không khí với mức độ trong lành tương tự như một người dân Âu Châu thở. Đảng và nhà nước CSTQ công bố hàng loạt các chương trình bảo vệ môi trường nhưng không đạt kết quả bởi vì người dân không có quyền góp ý và báo chí không được phép phê bình.

Vì có nhiều ẩn số chưa giải đáp được nên không ai có thể có một câu trả lời dứt khoát TC sẽ chuyển hóa qua tự do dân chủ trong hòa bình hay sẽ trở thành một hay nhiều nước tự do sau một cuộc chiến tranh đẫm máu. Về mặt đối nội, để tồn tại, các cải cách kinh tế chính trị sẽ diễn ra tại TC trước mắt cũng như lâu dài nhưng kinh nghiệm “đổi mới” tại Liên Xô trước năm 1991 cho lãnh đạo CSTQ biết “đổi mới” quá đà sẽ dẫn đến những phản ứng xã hội ngoài tầm kiểm soát của đảng.

Lịch sử Trung Quốc cho thấy rất ít khi một biến cố chính trị diễn ra trong êm đẹp. Xác suất rất thấp cho một cuộc cách mạng nhung, cách mạng da cam, hoa lài diễn ra tại TC. Cách mạng tại TC sẽ là cách mạng máu. Vũ khí của giới cầm quyền dù có hiện đại bao nhiêu cũng không thể ngăn chặn được sức mạnh của toàn dân khi họ đã quyết tâm đứng dậy.

Một yếu tố mà lãnh đạo TC không dự đoán được là sự phẫn uất bùng nổ của 1.4 tỉ dân. “Năm nọc độc” như bộ máy tuyên truyền TC gọi gồm Đài Loan, Tây Tạng ly khai, thiểu số Uighurs, Pháp Luân Công, các nhà tranh đấu dân chủ. Trong số đó bốn “nọc độc” nằm ngay trong lục địa và sẽ trở thành lực lượng quyết định số phận của đảng CSTQ.

TC theo lý thuyết buộc sẽ giảm cường độ các xung đột và tranh chấp với các nước láng giềng để tập trung giải quyết các vấn đề nội bộ. Tuy nhiên, theo Andy Morimoto phân tích trong “Can China Fall Peacefully?” đăng trong The National Interest lúc đó TC sẽ phát động chiến tranh để hợp thức hóa vai trò lãnh đạo của đảng CS. “Sự xúi giục của nước ngoài” thường là bình phong để thanh trừng nội bộ đảng.

Theo Andy Morimoto, làm việc tại Hội Đồng Chicago Về Các Vấn Đề Thế Giới, “viễn ảnh hòa bình tại Á Châu không nhiều hứa hẹn” và ông đề nghị chính phủ Hoa Kỳ nên tập trung vào việc tăng cường quân sự tại Á Châu bởi vì tiên đoán hợp lý nhất vẫn là chiến tranh sẽ bùng nổ trong tương lai.

Lối thoát của Việt Nam?

Để giới hạn hay giảm nhẹ mức ảnh hưởng của chiến tranh, chọn lựa duy nhất của Việt Nam là phải thoát ra khỏi quỹ đạo TC trước khi TC đổ.  Lich sử nhân loai đã chứng minh mọi chế độ chà đạp lên quyền con người sớm hay muộn đều phải đổ. Một người yêu nước, khôn ngoan, thức thời là người biết chọn một chỗ đứng, một hướng đi về phía dân tộc vì tương lai tự do, dân chủ và thịnh vượng cho con cháu mai sau.

Trần Trung Đạo

(Viết thêm từ Chính Luận Trần Trung Đạo) 


 

Tuổi già … bắt đầu từ cách chúng ta sống ở tuổi 35, 40, 50…

Chuyện tuổi Xế Chiều – Anh Thu Nguyen

 Ở quốc gia phát triển như Singapore, tuổi thọ trung bình gần 85 tuổi.

Nhưng tuổi thọ khoẻ mạnh chỉ dừng lại ở khoảng 74.

Ở Việt Nam, tuổi thọ trung bình khoảng 74 tuổi…

nhưng tuổi khoẻ mạnh cũng chỉ khoảng 64.

Điều đó có nghĩa là rất nhiều người phải sống cùng bệnh tật suốt… 10 năm cuối đời……

10 năm…

…là khoảng thời gian đủ để một đứa trẻ sinh ra rồi lớn lên đi học.

Quảng đường dài

Có những người chỉ là đau lưng, nhức gối, mất ngủ, đi chậm hơn, mệt hơn.

Nhưng cũng có rất rất nhiều người… đặc biệt là phụ nữ… sau cả một đời hy sinh cho chồng con, lại nằm trên giường bệnh những năm cuối đời.

Tay yếu chân run … mắt mờ…

Một cú ngã thôi.

….. cần người chăm sóc hỗ trợ…

Rủi ro nằm 1 chỗ

Rồi bắt đầu chuỗi ngày: loét tì đè, tiểu không tự chủ, phụ thuộc hoàn toàn vào con cháu… thậm chí có người dần mất trí nhớ, mất nhận thức, không còn biết mình là ai nữa.

Thực lòng mà nói… tôi không muốn dùng những từ quá nặng nề hay thương cảm.

Nhưng đó thật sự là……một bi kịch mà chẳng ai muốn bước vào.

====

Điều đau lòng nhất là: rất nhiều người nghĩ tuổi già bệnh tật là “đương nhiên”.

KHÔNG!!!!!

Rất nhiều thứ chúng ta hoàn toàn có thể làm sớm hơn… để cơ thể già đi chậm hơn.

– Ăn đủ đạm để giữ cơ.

– Đi bộ, tập kháng lực để giữ xương.

– Ngủ đủ để não được nghỉ ngơi.

– Bỏ bớt đường ngọt, rượu bia, thuốc lá.

– Kiểm tra sức khoẻ định kỳ.

– Bổ sung vitamin D, omega 3, canxi, glu.tathione, nội tiết… đúng cách khi cơ thể bắt đầu thiếu hụt.

Đừng đợi đến lúc đau mới chăm mình.

Vì tuổi già không đến vào năm 60 tuổi.

Nó bắt đầu từ cách chúng ta sống ở tuổi 35, 40, 50…

Tôi gặp rất nhiều phụ nữ:

Cả đời lo cho chồng con ăn ngon, ngủ ngon… nhưng bản thân thì ăn qua loa, thiếu chất, không vận động, không khám bệnh.

Đến khi cơ thể “đòi nợ” thì đã quá muộn!

Nên nếu hôm nay bạn còn đi lại được, còn tự chăm sóc được bản thân, còn khỏe để ôm con cháu…

Thì xin hãy bắt đầu yêu lấy cơ thể mình từ bây giờ.

Không phải để sống thật lâu.

Mà để những năm cuối đời… vẫn còn được sống như một con người khỏe mạnh, minh mẫn và có kí ức!


 

Cô gái hôn mê sâu tỉnh lại nhờ sự chuyển cầu của Thánh Carlo Acutis

Joseph Phạm Nguyên

Phép lạ chấn động: Cô gái hôn mê sâu tỉnh lại nhờ sự chuyển cầu của Thánh Carlo Acutis

Vào tháng 7 năm 2022, Valeria Valverde (21 tuổi) – một sinh viên đại học người Costa Rica đang du học tại Florence – đã bị ngã xe đạp và đập đầu xuống đất. Cú ngã khiến cô bị chấn thương sọ não nghiêm trọng và xuất huyết não diện rộng, rơi vào tình trạng hôn mê sâu. Các bác sĩ nói với bà Liliana, mẹ của Valeria, rằng cơ hội sống sót của cô gần như bằng không.

Trong niềm tuyệt vọng, bà Liliana đã thực hiện một cuộc hành hương đến mộ Chân phước Carlo Acutis tại Assisi. Bà đã dành nhiều giờ đồng hồ để cầu nguyện, tha thiết xin vị “tông đồ mạng” trẻ tuổi – người nổi tiếng với lòng sùng kính Bí tích Thánh Thể – chuyển cầu cho con gái mình.

Và điều xảy ra tiếp theo là một phép lạ đã được Giáo hội chứng thực!

Chỉ vài giờ sau lời cầu nguyện của người mẹ, Valeria bắt đầu tự thở được. Trong vòng 10 ngày, cô tỉnh lại sau cơn hôn mê, phục hồi hoàn toàn khả năng vận động thần kinh. Kết quả chụp phim cho thấy khối xuất huyết đại não đã hoàn toàn tan biến mà không để lại bất kỳ di chứng nào. Cô bình phục một cách thần kỳ và sau đó đã cùng mẹ trở lại Assisi để tạ ơn Thánh Carlo.

Phép lạ này đã được Vatican chính thức công nhận và là điều kiện quyết định dẫn đến việc phong Thánh cho Carlo Acutis. Trong Thánh lễ tuyên thánh, chính Valeria là người đã lên đọc lời nguyện tín hữu.

Bài học cho chúng ta:

Các Thánh vẫn luôn đồng hành: Các vị Thánh, ngay cả những vị trẻ tuổi như Carlo (qua đời khi mới 15 tuổi), vẫn luôn chuyển cầu một cách mạnh mẽ cho chúng ta từ Thiên đàng.

Sức mạnh của lời cầu nguyện: Lời cầu nguyện kiên trì của một người mẹ hòa quyện với niềm tín thác sâu xa thực sự có thể “lay chuyển cả núi non”.

Chúa vẫn đang hành động: Trên hết, Thiên Chúa vẫn đang thực hiện những phép lạ thời hiện đại để củng cố đức tin của chúng ta và nhắc nhở chúng ta về sự hiện diện đầy yêu thương của Ngài.

Lời Nguyện:

Lạy Thánh Carlo Acutis, vị tông đồ của Bí tích Thánh Thể, xin chuyển cầu cho tất cả những ai đang đau yếu hoặc tuyệt vọng. Lạy Chúa Giêsu, xin chữa lành chúng con qua lời cầu bầu của ngài. Amen.

Bạn hoặc người thân đã từng trải qua ơn chữa lành nào nhờ sự chuyển cầu của các Thánh chưa? Hãy chia sẻ câu chuyện của bạn ở bên dưới nhé — lời chứng của bạn có thể truyền cảm hứng cho rất nhiều người đấy!

Joseph Phạm Nguyên

Nguyện xin Thiên Chúa ban phước lành cho bạn!

#PhepLa #CacThanh #ThanhCarloAcutis #DucTin #TinThacVaoChua #CongGia


 

Florida: cụ bà 86 tuổi, chủ tiệm ăn gốc Việt…được tặng lại một căn nhà

Sự Thật Lề Đường (STLĐ)Hai Phan

 Florida: cụ bà 86 tuổi, chủ tiệm ăn gốc Việt (đang sống vô gia cư, phải ngủ trong tiệm), tặng bữa ăn miễn phí, vài tuần sau được tặng lại một căn nhà

Theo bản tin GMA và ABC News hôm 4/6/2026, bản tin của phóng viên Shafiq Najib, tựa đề “Vietnamese restaurant owner gave a free meal. Weeks later, her life changed” (Chủ nhà hàng người Việt tặng bữa ăn miễn phí; vài tuần sau, cuộc đời bà đã thay đổi).

Một cụ bà, chủ tiệm ăn người Việt 86 tuổi – người có lòng hào phóng từng lay động hàng triệu trái tim trên mạng – vừa nhận được món quà thay đổi cuộc đời mình, nhờ vào một chiến dịch gây quỹ lan truyền rộng rãi giúp bà có được một ngôi nhà mới.

Cụ bà Lieng Le, chủ quán Café Bích Nga ở Pinellas Park, tiểu bang Florida, đã trở thành hiện tượng mạng vào tháng 4/2026 vừa qua. Sự việc bắt đầu khi Julian Becerra, một nhà sáng tạo nội dung 24 tuổi, đăng tải video quay cảnh bà từ chối nhận tiền cho bữa ăn tại quán, dù anh là vị khách đầu tiên ghé đến sau nhiều giờ vắng vẻ.

Trong video, bà Lieng từ chối nhận tiền boa từ Becerra – người đã dành lời khen ngợi cho món ăn của bà.

“Sẽ thật tuyệt vời biết bao nếu quay lại đây sau một tuần nữa và thấy quán đông nghịt khách. Hãy cùng biến điều đó thành hiện thực nhé,” Becerra viết trong phần chú thích bài đăng.

Vài ngày sau, trong phần bình luận của một video tiếp theo về nhà hàng, Becerra chia sẻ rằng anh “vừa biết tin bà Lieng đã rơi vào cảnh vô gia cư suốt thời gian qua” và phải ngủ trên chiếc ghế xếp tại sảnh nhà hàng mỗi đêm sau khi làm việc vất vả cả ngày.

Becerra cho biết anh đã khởi xướng một chiến dịch gây quỹ “để giúp đỡ bà,” đồng thời kêu gọi mọi người cùng chia sẻ và quyên góp.

Theo Becerra, chỉ trong vòng 24 giờ, số tiền quyên góp đã đạt gần 127.000 USD. Vài tuần sau đó, con số này đã vượt mốc 200.000 USD.

Vào ngày 1 tháng 6/2026, với sự hỗ trợ từ các tổ chức phi lợi nhuận và doanh nghiệp địa phương, Becerra đã trao tận tay bà Lieng tấm séc chứa số tiền quyên góp, cùng một ngôi nhà đầy đủ tiện nghi chỉ cách Café Bích Nga vài phút di chuyển.

Cũng trong ngày hôm đó, Becerra đã thông báo cột mốc đáng nhớ này qua một bài đăng đầy xúc động trên mạng xã hội.

“Cộng đồng mạng ơi, chúng ta đã làm được rồi,” anh viết trên Instagram. “4 tuần trước, tôi đăng bài về một người phụ nữ sống ngay trong quán cà phê của mình mà không có bất cứ tài sản nào. Còn hôm nay, bà đã có một mái nhà.”

“Cả thế giới đã chung tay quyên góp đủ số tiền để bà Lieng không bao giờ phải lo lắng về các hóa đơn chi phí trong suốt phần đời còn lại của mình,” anh chia sẻ thêm. Chia sẻ với ABC News về sự bất ngờ này, bà Lieng gửi lời cảm ơn đến những người đã ủng hộ và quyên góp cho mình; bà bày tỏ niềm hạnh phúc, nói rằng mình “vui, thực sự rất vui”.

Cụ bà Lieng kể với ABC News rằng bà đã không có nơi ở ổn định trong nhiều năm sau khi gặp khó khăn tài chính do đại dịch COVID-19, khiến bà chật vật xoay xở tiền thuê nhà và các nhu yếu phẩm khác.

“Không có tiền trả hóa đơn, không có tiền trả tiền thuê nhà… không có tiền,” bà nói. “Cũng không có tiền mua thức ăn nữa.”

Ông Becerra chia sẻ với ABC News rằng sau khi dành thời gian trò chuyện với bà Lieng, ông biết được bà làm việc hơn 90 giờ mỗi tuần và hiếm khi nghỉ ngơi, ngay cả khi gặp vấn đề về sức khỏe, bao gồm cả bệnh viêm phổi.

Bất chấp mọi khó khăn đó, ông cho biết bà Lieng vẫn luôn chú tâm vào việc giúp đỡ người khác.

“Bà Lieng là kiểu người sẵn sàng nhường cả chiếc áo đang mặc trên người cho người khác nếu cần thiết,” ông nói. “Lý do câu chuyện của bà chạm đến trái tim mọi người là vì xét về mặt vật chất, bà Lieng chẳng có gì nhiều cả. Tuy nhiên, điều duy nhất bà sở hữu chính là nụ cười. Mỗi ngày trôi qua, bà đều cảm thấy biết ơn vì mình vẫn đang sống.”

Chủ quán ăn này cho biết bà đã di cư đến Hoa Kỳ sau Chiến tranh Việt Nam và điều hành quán Café Bích Nga từ năm 2009.

Khi được hỏi tại sao lại mời ông Becerra một bữa ăn miễn phí trong lần đầu gặp gỡ, bà Lieng đáp: “Tại sao lại không mang lại niềm vui chứ? Miễn là mọi người cảm thấy vui vẻ là được.”

Giờ đây khi đã ổn định cuộc sống tại ngôi nhà mới, bà Lieng cho biết bà vẫn vô cùng xúc động trước sự ủng hộ mà mình nhận được.

“Tôi xin cảm ơn tất cả mọi người,” bà nói. “Tôi xin cảm ơn.”

Đối với ông Becerra, câu chuyện này suy cho cùng là về lòng biết ơn.

“Mong muốn một cuộc sống tốt đẹp hơn không có gì sai cả, nhưng điều đó không nên đánh đổi bằng sự hài lòng với những gì mình đang có ở hiện tại,” ông nói. “Tôi nghĩ đó mới chính là chìa khóa thực sự dẫn đến hạnh phúc.”

PHOTO: Cụ bà Liêng Lê và Becerra, người YouTuber phỏng vấn cụ bà. (Hình YouTube).

XEM TIẾP: https://vietbao.com/a325460/fl