Góc Nhìn Của Một “Thùng Nhân” Quá Hãi Hùng / Thụy My Biên Tập 

Góc Nhìn Của Một “Thùng Nhân” Quá Hãi Hùng / Thụy My Biên Tập 

Nội dung : tại sao đã 51 năm rồi kể từ ngày cộng sản chiếm miền Nam mà người VN vẫn tìm đường ra nước ngoài. Như vậy chế độ cộng sản có mang lại cho cơm no áo ấm và hạnh phúc cho người dân chưa thì bài viết này đã là một câu trả lời. Thương dân Việt quá. Trước năm 1975 dưới chính thể của VNCH không ai muốn ra nước ngoài cả. Đi du học xong là quay về đóng góp và phục vụ cho đất nước.

Nhìn lại dòng nhạc miền Nam từ bước khởi đầu với triển vọng sau này như một giấc mơ trong niềm hãnh diện sáng ngời

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Nguyễn Văn Lục

21/05/2026

Nhìn lại hơn nửa thế kỷ, dòng nhạc miền Nam từ bước khởi đầu với triển vọng sau này như một giấc mơ trong niềm hãnh diện sáng ngời…với giới nhạc sĩ và những ca sĩ quyện vào nhau tuyệt vời

  • Sau này, may mắn là tất cả các nhạc sĩ lẫn các ca sĩ đã lần lượt được các chương trình Paris By Night của trung tâm Thúy Nga giới thiệu. Nhờ thế, các dòng nhạc VN còn được ghi lại một cách sống động đến ngày nay.
  • Những bước khởi đầu của một thời kỳ hồng hoang.

Trong giai đoạn hòa trộn dòng nhạc cổ điển Tây Phương với những với Tino Rossy bên cạnh dòng nhạc ca trù, hát chèo, hát quan họ với cây đàn bầu, đàn nhị..Một số nhạc sĩ trẻ đã chọn cho bản thân một lối đi riêng mở đường  cho một dòng nhạc Việt Nam: Dzõan Mẫn, Đặng Thế Phong và Hùng Lân.

  • Nhạc sĩ Dzoãn Mẫn (15-10-1919). Với một bài hát nhẹ nhàng, nhìn thấy các buổi chia tay của các đôi lứa chia tay trên ga xe lửa Hàng Cỏ. Ông đã viết bài Biệt Ly..Biệt ly nhớ nhung từ đây.. chiếc lá rơi theo mong manh người về có hay…( Bài Biệt ly đã bị cấm trình bày một thời gian dài ở ngoài Bắc. Nhưng tại miền Nam, nó đã được Thái Thanh hát tự do.)
  • Nhạc sĩ Đặng Thế Phong (16-4- 1918. Ông lìa đời ở tuổi 24, năm 2-8-1942, ông mất vì bệnh lao phối.

Ông xuất thân ở Nam Định, học trường St. Thomas d’Aquin, ông chỉ để lại cho đời có ba bài hát: Con thuyền không bến, Đêm thu, Giọt mưa thu.

Những bài này sau này đã được thể hiện qua giọng hát của Khánh Ly, Thái Thanh, Thanh Thúy, Ngọc Hạ.

Con thuyền không bến:

Đêm nay thu sang cùng heo mây… Đêm nay sương lam mờ trên mây.Thuyền ai lờ lững trôi theo dòng..

 Lướt theo chiều gió.. Trôi trên sông Tương, nước chảy đôi dòng. Nào ai biết nông sâu.

Bài giọt mưa thu:  Ngoài kia giọt mưa thu thánh thót rơi.. Trời nắng u buồn mây hắt hiu buồn trôi. Nghe gió thoảng mơ hồ..

Bài nào cũng nhẹ nhàng, ngọt ngào đi vào não trạng con người

Ông có người yêu là cô Tuyết. Cô Tuyết yêu ông nên cô đã túc trực ngày đêm trên giường bệnh để chăm sóc ông trong những ngày cuối đời.

Khi ông tắt thở, cô xin phép gia đình đôi bên, cầm bó hoa trắng, chít khăn tang đi đầu như một người vợ, mặc dầu chính thức họ chưa hề kết hôn.

Cảnh ấy xót thương làm sao và cũng đẹp làm sao!!

Đó một mối tình như thể thiên thu bất tận! Đẹp làm sao mà cũng não lòng làm sao..

Vài nhận xét: Mặc dầu ông không được học âm nhạc một cách bài bản.. Nhưng những dòng nhạc của Đặng Thế Phong đượm u buồn man mát, lắng sâu và đi vào lòng người. Và những nét buồn ấy ảnh hưởng tới hoặc gợi cảm hứng có thể cho các nhạc sĩ như Văn Cao, Cung Tiến và Trịnh Công Sơn sau này.

  • Nhạc sĩ Hùng Lân(Tên Phê rô Hoàng Văn Hường- 1986-2022)

Ông thuộc một gia đình công giáo với nhiều sáng tác cho thiếu niên, thanh niên với giọng điệu hùng mạnh, lý tưởng cứu quốc, sôi sục ý chí thanh niên và tinh thần quốc gia khác hẳn với những ca từ của Đặng Thế Phong. Như:Khỏe vì nước, Hè về, Việt Nam Minh chầu trời đông và bản dịch bài Silent night- Đêm thánh vô cùng.

Xin giới thiệu bài Khỏe vì nước:

Khỏe vì nước kiến thiết quốc gia

Đoàn thanh niên ta góp tài ba

Tạo nguồn dân sinh mới hùng mạnh trong nam giới.

Hợp lực xây dựng hưng thịnh chung quốc gia

Khỏe vì nước, ý chí cương kiên

Giống lạc hồng uy hùng vô biên

Trong khốn nguy can trường sống thác ta coi thường

Việt nam thanh niên anh dũng muôn năm.

Ông cũng là người thành lập ra Nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh 1945. Cũng như mở nhiều lớp nhạc cho thanh niên thiếu nữ.

Giữa Hùng Lân và Đặng Thế Phong là những người mở đường cho âm nhạc Việt. Khác nhau, nhưng không có vấn đề hơn kém, chỉ có vấn đề bổ túc và bù trừ cho buổi bình minh của dòng nhạc Việt mở đường sau này cho những Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Cung Tiến, Từ Công Phụng.

  • Dòng nhạc Phạm Duy

Phạm Duy là một thiên tài đa dạng, nhiều cung bậc… Ông để lại gần 1000 bài ca phổ nhạc đủ loại. Hùng mạnh có, ý nghĩa thâm trầm có, da diết có, buồn vui có nhớ thương khôn cùng. Thiền ca, đạo ca cũng không thiếu. Ông là cả một bầu trời ca nhạc bao la. Trước ông và sau ông không có ai- trừ Trịnh Công Sơn.

Bài tiêu biểu:

Tôi xin chọn bài: Việt Nam, Việt Nam ngay từ vào đời. Việt Nam hai câu nói trên vành môi. Việt Nam nước tôi, Việt Nam quê hương đất nước sáng ngời. Việt Nam tên gọi là Người.. ( Hùng ca sử Việt.)

Nhạc sĩ Trúc Hồ, trên SBTN coi bài này của Phạm Duy như bài quốc ca của VN.. Và sau này, đi đâu, trong các buổi lễ, các chương trình thường dùng bài ca này như một kết thúc cho chương trình.

Cá nhân tôi khi nghe bài này, như nổi da gà vì rúng động như đụng chạm tới tâm hồn tuổi trẻ VN.

Thật không diễn tả nổi và không có ngôn từ nào có thể sánh bì.

Ông cũng là người đưa Phạm Thiên Thu và Nguyễn Tất Nhiên chấp cho họ đôi cánh, đưa thi  ca và âm nhạc của họ cùng cất cánh bay lên!!!

Phạm Thiên Thu với người yêu Hoàng Thị Ngọ qua bài thơ: Ngày xưa Hoàng thị:

Em tan trường về

Đường xưa nho nhỏ

Mà thương mà nhớ

Dáng em nho nhỏ trong cõi xa vời…

Đó là lời tỏ tình dệt bằng hoa gấm, dễ thương và say nắng của một thời tuổi trẻ không gì hay hơn được…

Tiếp đến là nhà thơ Nguyễn  Tất  Nhiên,- học trò trường  Ngô quyền mà nay nhiều người đã từng sống như những nhân chứng một thời với nhà thơ.

Tôi từng được nghe nữ ca sĩ Thanh Lan, người ca sĩ không có tuổi với nốt ruồi trên khóe môi trái, duyên dáng và mời gọi đã hát chung với Vũ Khanh như thể một đôi tình nhân:

Đưa em về dưới mưa. Nói năng chi cũng thừa.. Đôi ta vào quán trưa.. Em hiền như ma sơ

Thật hồn nhiên và cảm động mà không ngôn từ nào nói cho đủ.

Tôi ngậm ngùi thương tiếc một tài năng thiên bẩm đã vội vã ra đi khỏi cõi trần thế ô trọc này..

Tôi cũng đã đôi lần gặp lại nhà thơ tại Cali, nơi báo Saigòn Nhỏ nơi mà mà tôi cộng tác.

Tôi cũng tiếc nguồi nguội là chỉ có 6 bài của nhà thơ được Phạm Duy phổ nhạc.

Nhưng cũng phải nhìn nhận một sự thật rằng: không có Phạm Duy phổ nhạc, không  thể có một Ngày xưa Hoàng Thị cũng không có Em hiền như ma sơ của Nguyễn Tất Nhiên…

Tôi viết vài dòng cảm tưởng này để gửi đến các học sinh Ngô Quyền đã học tôi trong 5 niên khóa vắn vỏi… mà không thể nói lên lời ( 1970-1975)

Sau này, tôi cũng lại có dịp  nghe Thanh Lan và Vũ Khanh đã cùng hát bài Trả lại em yêu của nhạc sĩ Phạm Duy. (Trung tâm Asia. )

Trả lại em yêu, khung trời đại học. Con đường Duy Tân, cây dài bóng mát.. tóc em thơm nồng, dáng em hiền hòa..Anh sẽ ra đi về miền mông muối..

Chủ nhật hẹn hò đây đó, uống ly chanh đường.Uống môi em ngọt ngào..

Tình yêu như thể không có tuổi. Tôi uống những lời ca ngọt ngào như thể hóa thân là chính mình là người trong cuộc. Ký ức của cả một thời mômg muội.. ngậm ngùi nhớ lại cho riêng mình, cho tuổi trẻ miền Nam, cho đất nước chia đôi, cho một một thời đã không còn nữa..

Bài phổ nhạc: Kiếp nào có yêu nhau.  (thơ Minh đức Hoài Trinh. Phạm Duy phổ nhạc)

Bài này đã được nhiều ca sĩ như Thái Thanh, Lệ Thu trình diễn. Một lần nữa cho thấy thiên tài phổ nhạc của Pham Duy.

Đừng nhìn em nữa anh ơi. Hoa xanh đã phai rồi, hương trinh đã tan rồi. Đừng nhìn em, đừng nhìn em nữa anh ơi đôi mi đã buông xuôi, môi răng đã quên…

Giọng hát của một nữ ca  sĩ Lệ Thu như xé nát con tim, như van nài, thổn thức.

Tôi nghe mà lòng thổn thức.

Điều này cho thấy, người nghe thường có thói quen gắn cặp Trịnh Công Sơn-Khánh Ly, Phạm Duy-Thái Thanh. Điều này thoạt đầu như thể là thật.

Tôi nhớ lại, Trịnh Công Sơn cầm cây đàn Guitare, Khánh ly đi chân trần, say sưa hát trên sân cỏ trường đại học văn khoa.

Nó vừa thật một cách hoang dại tuổi trẻ, nó vừa hòa đồng vào tuổi trẻ sinh viên miền Nam đã một thời như vậy..

Phải nhìn nhận, nó thật đẹp, lãng mạn và quyến rũ.

Nó là cả một thời, nhưng thời gian qua đi xem ra đã không còn như thế nữa.

Nhiều ca sĩ thế hệ sau đã thể hiện một cách bài bản và trọn vẹn trong giọng ca, trong cách thể hiện, cách ăn mặc kín đáo mà vẫn thể hiện được phong cách người phụ nữ..

Tôi vẫn không chia xẻ được những sô trình diễn trên Paris By Night của một số diễn viên, ca sĩ một cách phản cảm. Hình như thể, họ dùng thân xác phô bày như một cách lôi cuốn người xem vốn được nhiều khán giả ưa chuộng.

Xin minh chứng bằng trường hợp nữ ca sĩ Mộc San-Đà Lạt.

Cô ăn mặc rất đẹp mà kín đáo. Trình diễn có nghệ thuật, hấp dẫn, lôi cuốn với chỉ một tiếng đàn guitare làm nền.

Để minh chứng rõ hơn về cách thể hiện, xin đưa ra trường hợp một ban nhạc đường phố tại Pháp, giọng một ca sĩ giọng nam, người Pháp với giọng ca mạnh và lôi cuốn đã hát bài Huế, Sài Gòn, Hà Nội của Trịnh Công sơn, anh vừa hát theo một bản dịch tiếng Pháp, vừa theo bản tiếng Việt cùng với 5,6 nhạc công phụ họa đã lôi kéo đám đông trên đường phố.

Tiếp đến là phần đầu của bản Gia Tài của mẹ cũng do nhóm nhạc đường phố trên trình diễn.

Nó cho tôi thấy rằng, bài hát hay không chỉ tùy thuộc vào tác giả sáng tác mà còn tùy thuộc vào cách thể hiện, cách trình bày.

Bằng chứng là nữ ca sĩ Mộc San cũng có dịp trình bày bài hát này.

Nhạc Trịnh, nhạc Phạm Duy đã có nhiều dịp tỏa sáng tại Pháp nhờ vào lối trình diễn sống động và lôi cuốn hòa nhịp vào đám đông..
Bản nhạc Diễm xưa của Trịnh Công Sơn cũng được một nữ ca sĩ người Nhật hát rất đạt.

Tôi cũng đã được nghe bài hát: Ta đã thấy gì trong đêm nay Qu,avons-nous vu dans cette nuit của Trịnh Công Sơn với nhiều ca sĩ tài tử và người nghe hát đồng loạt nhún nhảy theo điệu nhạc. Thật vui và ấn tượng.

Dòng nhạc như thể vượt mọi rào cản biên giới quốc tịch để dễ dàng chia xẻ và thấm nhập vào lòng người.

Tôi cũng rất thích thú nghe Trịnh Công Sơn, tự đánh đàn và hát bài: Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui.. với nhiều ý nghĩa..sâu đặm, với niềm vui chia xẻ đến mợi người.

Nhưng tôi cũng nhận thấy nhạc tình Việt đã không được trình bày tỏa sáng do các ca sĩ Mỹ hát.

Cuối cùng, phải nhìn nhận với nhau rằng hai nhạc sĩ Phạm Duy- Trịnh Công Sơn, mỗi người một cách thể hiện là những thiên tài trong âm nhạc miền Nam mà sau này cho đến bây giờ, khó có nhạc sĩ nào có thể thay thế được họ..

  • Dòng nhạc tình Việt Nam muôn thuở.

Có thể nói, nhạc VN là thứ nhạc tình thường đượm buồn nhẹ nhàng lay lắt, chia ly xa cách với mùa thu lá bay..

-Nhạc sĩ Hoàng Quý- Lê Thương.

– Cô láng giềng- một mối tình sôi động khi được tin người yêu đi lấy chồng.

Hôm này trời xuân bao tươi thắm.. Cô láng giềng ơi, không biết cô còn nhớ tới tôi.

  • Nhạc sĩ Lê Thương.

Em không nghe mùa thu, lá thu rơi xào xạc.. đạp trên lá vàng khô..

-Nhạc sĩ Văn Cao

Văn Cao là một con người đa tài, tài hoa, Văn, thi sĩ, họa sĩ, nhất là nhạc sĩ.(Sau này, những bức tranh ông vẽ sau này được triển lãm tại Hà Nội)

Đặng Thái Mai gọi ông là một viên ngọc trong giới nghệ sĩ.

Ông đã để lại cho đời những bản tình ca, nhẹ nhàng, buồn hiu hắt bất hủ như:  Suối mơ,Thu Cô Liêu, Buồn Tàn thu Làng tôi.

 Bên cạnh đó, còn những bản hùng ca, lẻ loi ca tụng Hồ Chí Minh..Bài tiếng Quân ca ông sáng tác năm 1944 sau này trở thành bài quốc ca.

Nhưng số phận ông không được may mắn như Phạm Duy ở miền Nam.

Năm 1958, tên ông bị rút ra khỏi danh sách giới nghệ sĩ mặc dù ông không bị đi tù hay tra khảo.

Cuộc sống bị hắt hủi, bỏ rơi trong nỗi cô tịch và túng thiếu.

Cây đàn piano ông xử dụng thật ra chỉ là thuê với giá 7 đồng rưỡi, cộng với tiền thuê nhà hàng tháng  là 15 đồng.

Thật tiếc cho một tài hoa đất Bắc không được trọng dụng.

Và đã có nhiều văn nghệ sĩ cũng chung số phận như Văn Cao.

Trong suốt 38 năm còn lại của cuộc đời, ông đã làm thinh, không còn sáng tác một bài nào nữa..

Phải chăng sự làm thinh ấy là một hình thức chống đối lại chế độ?

  • Ban Hợp ca Thăng Long

Đây là một ban Hợp ca xuất phát từ đất Bắc từ những năm 1946, đến năm 1951, sau đó như nhiều giới văn nghệ sĩ khác, họ dinh tê về Hà Nội, rồi khi vào Sài gòn, nơi có tự do, họ trở thành  ban nhạc danh tiếng như một huyền thoại.

Đặc biệt Ban Hợp ca này đều mang dòng họ Phạm. (hoặc dâu rể) như Phạm thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng (mất 1999), vợ Phạm Duy.

Hoài Trung Phạm Đình Viêm (2002). Con trai là nhạc sĩ Phạm Đình Chương ( mất 1991)- vợ là ca sĩ Khánh Ngọc ( mất 2021), Khánh Ngọc là ca sĩ, bà còn là một tài tử điện ảnh. Con gái út là Phạm thị Băng Thanh, tức ca sĩ Thái Thanh (2020).

Trong số ấy nổi bật ba người: Hoài Bắc Phạm Đình Chương- Thái Thanh-và Hoài Trung Phạm Đình Viêm.

Biến cố năm 1960, trong vụ được gọi là ăn chè nhà Bè giữa Pham Duy và Khánh Ngọc làm tan rã ban Hợp ca Thăng Long.

Sau đó Khánh Ngọc bỏ sang Mỹ. Cõi lòng Phạm Đình Chương tan nát đã để lại một số bài ca như: Người đi qua đời tôi, Khi cuộc tình đã chết, Nửa hồn thương đau.

  • Nhạc sĩ Từ Công Phụng (27-07-1942)

Nhạc sĩ Từ Công Phụng, tác gỉả những dòng nhạc trữ tình lãng mạn bất hủ như:  Bây giờ tháng mấy.. Tuổi xa người.. Giữ đời cho nhau.

Xin trích dẫn vài dòng nhạc:

Nếu có điều gì vĩnh cửu, thì em ơi. Đó là tình yêu chúng ta.. bờ vai ngoan.. Nếu có điều gì vĩnh cửu.. rồi mai đây, anh sẽ đón em về…

Tạ ơn em.. tạ ơn em

Bài giọt lệ cho ngàn sau. :

Mưa soi dấu em qua cầu..

Theo những cánh rong trôi mang niềm đau..

Đời em đã khép đi vội vàng..

Tình ta cũng lấp lối thiên đàng..

Lời nhạc của Từ Công Phụng hòa quyện với tiếng hát sang trọng của Lệ Thu tạo nên một tuyệt phẩm ít ai sánh bì..

Ông cũng là một nhạc sĩ sau 1975 vẫn còn sáng tác và điều đặc biệt hơn mọi nhạc sĩ khác, ông có một giọng ca đầy nam tính, trầm buồn, đầy ma mị.

Tôi yêu giọng ca ấy, thái độ ấy khi ông cất tiếng hát. Nó hòa quyện vào từng lời ca như hơi thở như từ xa vọng về..

  • Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông

Ông vốn  là một sĩ quan quân đội VNCH, sau này lên đến cấp bậc đại tá năm 30 tháng tư, 1975..

Những bản nhạc của ông mang bóng dáng người lính VNCH như, tôi ghi lại như một kỷ ức khó quên. Nó rất đẹp và nhẹ nhàng :

  • Chiều mưa biên giới.
  • Đêm gác

-Xác hoa mầu tím.

Chiều mưa biên giới anh đi về đâu…Sao còn đứng ngóng nơi giang đầu.. Kìa rừng chiều âm u rét mướt..

Bây giờ,  tôi ngồi một mình nghĩ lại, gậm nhấm với nỗi buồn xa xứ, nghe mà lòng đau thắt.

  • Nhạc sĩ Vũ Thành An

Ông để lại nhiều ca khúc là  Những bài ca không tên. Tôi gần như không nghe cũng như cuộc đời ông trong trại cải tạo mà tôi bỏ qua không xét đến.

Tôi chỉ giới thiệu một bài hát duy nhất : Rồi cũng già

Ngày mai rồi mình cũng già….Ngày xưa như mới hôm qua.. Thời gian như cánh chim bay. Tiếng cầu kinh đời đời vẫn vậy.. Được thua thì cũng thế thôi. Một tin yêu xin trao cho nhau…. Tạ ơn trên cho ta sống chốn này..

Nhận Xét

Bài ca như lời trăn trối, như gửi gắm lúc cuối đời. Được thua cũng thế thôi. Chỉ còn lại chút tin yêu cho nhau. Và cuối cùng tạ ơn trên đã cho ta cuộc sống ở chốn này..

Bài Rồi cũng già đã được nhiều ca sĩ hát và phổ biến.

Nhưng gây cho tôi nhiều xúc động là giọng ca nam như một lời nhắn gửi và chia xẻ lúc cuối đời.

  • Ban AVT

Có điều gì khác lạ, có điều gì gây ngạc nhiên..gây thich thú với việc xử dụng các cây đàn cổ truyền, thấm nhuần văn hóa dân gian với cuộc sống êm đềm,  tự do và thường được trình diễn trong các dịp lễ tết cuối năm. Đó là trường hợp ban AVT với sự kết hợp ba tài hoa là Trần Đăng, Lữ Liên và Vân Sơn.

Lời trình bày của tôi chắc không đủ để diễn tả.

Quý vị cần phải nghe chính họ trình diễn một cách nhịp nhàng, vui nhộn qua các bài như: Du xuân, Lời chúc xuân, một ông hai bà, Trấn thủ lưu đồn…
Xin mọi người hãy tự tìm đến mà nghe, mà thưởng thức cho đời thêm vui.

  • Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang(1944-2011)

Ông thuộc thế hệ đàn em của tôi học trường Trần Hưng Đạo Đà lạt. Gia đình có người anh cả và ba chị gái ở lại midền Bắc. Chỉ có Nguyễn Đức Quang và đứa em trai út vào miền Nam Sau này ban nhạc của ông có dịp trình diễn tại giảng đường Spellman của đại học Đà lạt, nơi tôi từng học.

Ông là người sáng lập và là linh hồn của Phong Trào Du Ca. Mục đích của phong trào là viết cho quê hương, cho giới thanh niên với tinh thần dân tộc.

Trong bối cảnh xã hội chính trị thời ấy.. Có một số thanh niên quá khích biểu tình, hô hào đả đảo chính quyền miền Nam, tôi gọi bọn họ là Bọn  xuống đường. Còn nhóm Nguyễn Đức Quang, tôi trân trọng gọi họ là nhóm Lên Đường.

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang tiêu biểu cho giới trẻ miền Nam thời ấy.

Những bản nhạc sáng tác của ông như : Về với mẹ cha- Bên kia sông-Xin chọn nơi này làm quê hương. Nhất là bài :Việt Nam quê hương ngạo nghễ.

Rất tiếc cho một thanh niên tài hoa, đầy nhiệt huyết, ông bị tai biến mạch máu não và qua đời ngày 27-5 -2011, tại California..
Còn một nhạc sĩ cuối cùng mà tôi không thể không nói đến: nhạc sĩ Cung Tiến. (1938-2022)

Cung Tiến- tức Cung Thúc Tiến, sinh tại Hà Nội, có dịp học nhạc với nhạc sĩ Chung Quân và Thẩm Oánh. Ngay từ lúc 14, 15 tuổi đã sáng tác các bài Thu Vàng..và Hương xưa.

“ Chiều hôm qua lang thang trên đường. hoàng hôn xuống chiều thắm muôn hương..Chiều hôm qua, mình tôi bâng khuâng…rồi:

Mùa thu vàng tới, nhặt lá vàng rơi.. có mùa thu vàng bao nhêu là thương..

Hương xưa: Ôi những đêm dài, một kiếp xa xôi..

Tôi lại yếu hèn, thổn thức theo dòng nhạc của tác giả..

Như tự bên trong tôi, tôi nhủ thầm được may mắn sinh sống tại một miền đất miền Nam tự do,đã nuôi dưỡng tôi thành một người trí thức miền Nam mà tôi tự hào không ngượng nghịu…với ký ức vàng son của một thời kỳ âm nhạc VN..

Để chấm dứt hơn nửa thế kỷ dòng âm nhạc miền Nam..

Xin được dùng bài hát của nghê sĩ Nam Lộc như khép lại bài viết này: Bài nhạc: Sài Gòn ơi!! Vĩnh biệt.


 

Quyền tự do căn bản của người Việt Nam trước năm 1975 – Phùng Văn Phụng

 Phùng Văn Phụng

Những ai có học trường Đại Học Luật Khoa Sài Gòn trước năm 1975 đều có biết cuốn sách Luật Hiến Pháp và Chính Trị Học của Giáo sư Nguyễn Văn Bông, có viết về Đối Lập chính trị.

Hiến Pháp ngày 01 tháng 04 năm 1967 (cách nay trên 60 năm) cũng ghi nhận đầy đủ quyền tự do của con người nhất là quyền đối lập chính trị, quyền thành lập đảng phái chính trị. Có tam quyền phân lập rõ ràng: Quyền Hành Pháp, Quyền Tư Pháp (Tối Cao Pháp Viện), Quyền Lập Pháp (Quốc Hội).

Do đó trước năm 1975 có rất nhiều đảng phái chính trị được hoạt động như Đai Việt, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đảng Nhân Xã, Đảng Tân Đại Việt, Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến v.v…

Báo chí hoàn toàn tự do cho nên có nhiều báo chí đối lập với chính quyền như báo Cấp Tiến, báo Đại Dân Tộc, báo Tin Sáng, báo Chính Luận v.v… và rất nhiều tờ báo khác nữa tôi không thể nhớ hết được.

Đúng là thời kỳ vàng son của tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do nghiệp đoàn, tự do tôn giáo, tự do thành lập đảng phái chính trị (phê bình, chỉ trích, nói khác với nhà cầm quyền không bị chụp mũ phản động và bỏ tù) v.v…

Hy vọng sẽ có ngày mọi người đều có được tự do như thế trên đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta???

Phùng Văn Phụng


 

VÌ SAO CHÍNH QUYỀN CSVN KHÔNG CHẤP NHẬN NHỮNG SO SÁNH VỚI NƯỚC MỸ SAU NỘI CHIẾN?

Hoai Linh Ngoc Duong 

VÌ SAO CHÍNH QUYỀN CSVN KHÔNG CHẤP NHẬN NHỮNG SO SÁNH VỚI NƯỚC MỸ SAU NỘI CHIẾN?

Bài viết về Abraham Lincoln mà người trí thức trong nước đăng tải thoạt nhìn chỉ là một câu chuyện lịch sử về tinh thần hòa giải sau nội chiến Mỹ. Nhưng điều khiến chính quyền khó chịu không nằm ở Lincoln, mà nằm ở thông điệp chính trị ẩn phía sau sự so sánh đó.

Bởi càng đọc kỹ người ta càng thấy: điều làm nước Mỹ mạnh sau nội chiến không đơn thuần là lòng nhân đạo của Lincoln, mà là mô hình quyền lực mà nước Mỹ lựa chọn sau chiến tranh — một nền cộng hòa đa đảng có hiến pháp kiểm soát quyền lực, nơi phe thua trận vẫn tiếp tục tồn tại về chính trị thay vì bị xóa sổ hoàn toàn.

Đó chính là điểm khác biệt căn bản giữa nước Mỹ sau năm 1865 và Việt Nam sau năm 1975.

Cuộc nội chiến Mỹ kết thúc với chiến thắng quân sự của miền Bắc Liên bang trước Liên minh miền Nam. Nhưng sau chiến tranh, nước Mỹ không xây dựng một chế độ độc đảng để cai trị vĩnh viễn phe thua trận. Họ không thủ tiêu toàn bộ đối lập chính trị miền Nam. Không cấm tuyệt đối tư tưởng bảo thủ miền Nam. Không tuyên bố chỉ duy nhất một đảng có quyền lãnh đạo đất nước đời đời.

Ngược lại, hệ thống hiến pháp Mỹ vẫn giữ nguyên bản chất “checks and balances” — tam quyền phân lập và cạnh tranh quyền lực.

Phe thất bại cuối cùng vẫn:

  • có quyền tham gia chính trị,
  • có quyền tranh cử,
  • có quyền kiểm soát chính quyền thông qua bầu cử,
  • và nhiều thập niên sau chính các bang miền Nam lại trở thành thành trì chính trị mạnh mẽ của phe bảo thủ Mỹ.

Điều quan trọng nhất là: nước Mỹ sau nội chiến không xây dựng một nhà nước dựa trên “chân lý độc quyền”.

Không có đảng nào được quyền tuyên bố:

“Chỉ có ta mới đại diện cho tổ quốc.”

“Chỉ dưới sự lãnh đạo của ta nhân dân mới hạnh phúc.”

“Phe còn lại mãi mãi là phản động.”

Đó là lý do hòa giải dân tộc ở Mỹ có thể diễn ra, dù vẫn đầy đau đớn và bất công lịch sử.

Ngược lại, sau năm 1975, chính quyền miền Bắc chiến thắng ở Việt Nam lại đi theo một con đường hoàn toàn khác:

– thiết lập chế độ độc đảng,

– xóa bỏ toàn bộ hệ thống chính trị miền Nam,

– cải tạo quân cán chính,

– kiểm soát báo chí,

– cấm đối lập,

– và đặt đảng lên trên nhà nước.

Nói cách khác, mục tiêu không phải là tạo ra một nền cộng hòa nơi các phe cạnh tranh quyền lực dưới hiến pháp, mà là xây dựng một hệ thống trong đó chỉ duy nhất một lực lượng được quyền lãnh đạo vĩnh viễn.

Đó là lý do nhiều lời kêu gọi “hòa hợp hòa giải” ở Việt Nam luôn gặp giới hạn rất lớn.

Bởi hòa giải thật sự chỉ có thể tồn tại khi:

– các bên được thừa nhận quyền tồn tại chính trị,

– có quyền tự do bày tỏ quan điểm,

– có quyền cạnh tranh quyền lực,

– và không phe nào độc quyền chân lý quốc gia.

Nếu một phía vẫn giữ toàn bộ quyền lực tuyệt đối và yêu cầu phía còn lại “hòa giải” trong khi không được phép:

– lập đảng,

– tranh cử,

– phản biện,

– hay kiểm soát quyền lực,

thì đó không phải hòa giải theo nghĩa chính trị hiện đại, mà gần hơn với yêu cầu “chấp nhận trật tự do bên thắng trận áp đặt”.

Chính vì vậy, những bài viết ca ngợi tinh thần Lincoln thường gây khó chịu cho hệ thống tuyên truyền chính thống.

Vì nếu người dân bắt đầu đặt câu hỏi:

“Tại sao Mỹ sau nội chiến vẫn cho phe thua trận quyền tham gia chính trị?”

“Tại sao nước Mỹ cần đối lập để kiểm soát quyền lực?”

“Tại sao hòa giải ở Mỹ gắn với hiến pháp và cạnh tranh bầu cử?”

thì họ sẽ tiếp tục đặt câu hỏi lớn hơn:

“Tại sao Việt Nam không như vậy?”

Đó mới là điều nhạy cảm nhất.

Nhiều trí thức Việt Nam thường nhìn vào tinh thần hòa giải của Lincoln mà quên mất nền tảng tạo ra hòa giải ấy chính là cấu trúc quyền lực của nền cộng hòa Mỹ.

Lincoln không hòa giải bằng cách yêu cầu dân miền Nam “tin tưởng tuyệt đối vào một đảng duy nhất”. Ông hòa giải bằng cách giữ cho nước Mỹ tiếp tục là một quốc gia pháp trị nơi mọi phe cuối cùng phải cạnh tranh dưới hiến pháp.

Chính “checks and balances” mới là điều quan trọng nhất.

Bởi nếu không có:

– bầu cử tự do,

–  báo chí độc lập,

– đối lập hợp pháp,

– và cơ chế thay đổi quyền lực hòa bình,

thì mọi lời kêu gọi hòa hợp cuối cùng rất dễ biến thành:

“Các anh hãy quên quá khứ và chấp nhận để chúng tôi cai trị mãi mãi.”

Đó là lý do nhiều người cho rằng:

muốn có hòa giải dân tộc thật sự trước hết phải có quyền lực thuộc về nhân dân chứ không thuộc độc quyền về một đảng.

Lịch sử cho thấy hầu như không có chế độ độc quyền quyền lực nào tự nguyện trao lại quyền kiểm soát cho dân nếu không chịu áp lực xã hội cực lớn.

Không phải vì cá nhân lãnh đạo tốt hay xấu, mà vì bản chất của quyền lực tuyệt đối luôn có xu hướng tự bảo vệ chính nó.

Và đó cũng là bài học lớn nhất từ nước Mỹ:

điều làm một quốc gia mạnh không phải chỉ là chiến thắng trong nội chiến, mà là khả năng xây dựng một hiến pháp khiến ngay cả phe thắng trận cũng không thể nắm quyền vĩnh viễn mà không bị kiểm soát. 

Screenshot
Screenshot
Screenshot

 

Bán con để tồn tại: Người cha Afghanistan đưa ra lựa chọn nghiệt ngã (BBC)

BBC

Abdul Rashid Azimi nói rằng ông sẵn sàng bán một trong những cô con gái của mình để nuôi những người còn lại

Abdul Rashid Azimi nói rằng ông sẵn sàng bán một trong những cô con gái của mình để nuôi những người còn lại

Tác giả, Yogita Limaye

Vai trò, Phóng viên Nam Á và Afghanistan

20 tháng 5 2026

Khi bình minh ló dạng, hàng trăm người đàn ông đi đến một quảng trường bụi bặm tại Chaghcharan, thủ phủ của tỉnh Ghor ở Afghanistan.

Họ đứng dọc đường với hy vọng có ai đó đến đề nghị giúp đỡ. Công việc này sẽ quyết định liệu gia đình họ có được ăn trong ngày hôm đó hay không.

Tuy nhiên, khả năng thành công rất thấp.

Juma Khan, 45 tuổi, chỉ tìm được việc làm trong ba ngày trong sáu tuần qua với mức lương từ khoảng 62.000-83.000 VND mỗi ngày.

“Các con tôi đã phải đi ngủ trong cơn đói ba đêm liên tiếp. Vợ tôi khóc, các con tôi cũng vậy. Thế nên tôi đã phải xin một người hàng xóm ít tiền để mua bột mì,” ông kể.

“Tôi sống trong nỗi sợ hãi rằng các con tôi sẽ chết đói.”

Câu chuyện của ông không phải là trường hợp cá biệt.

Cảnh báo: Bài viết này chứa những chi tiết đau lòng

 Tại Afghanistan ngày nay, theo Liên Hợp Quốc, có đến ba phần tư người dân không thể đáp ứng được các nhu cầu cơ bản của bản thân. Tỉ lệ thất nghiệp cao, hệ thống chăm sóc sức khỏe gặp nhiều khó khăn.

Các khoản trợ cấp từng cung cấp những nhu yếu phẩm cơ bản cho hàng triệu người nay đã giảm xuống chỉ còn một phần nhỏ so với trước đây.

Đất nước này hiện đang đối mặt với nạn đói ở mức độ kỷ lục, với 4,7 triệu người – hơn một phần mười dân số Afghanistan – được ước tính đang đứng trước nguy cơ chết đói.

Ghor là một trong những tỉnh bị ảnh hưởng nặng nề nhất.

Những người đàn ông ở đây đang tuyệt vọng.

“Tôi nhận được cuộc gọi nói rằng con mình đã không có gì ăn trong hai ngày,” Rabani nghẹn ngào nói.

“Tôi muốn tự tử. Nhưng rồi tự hỏi điều đó sẽ giúp ích gì cho gia đình tôi? Vì vậy, tôi ở đây để tìm việc làm.”

Nguồn hình ảnh,

Imogen Anderson/BBC

Ông Juma Khan (giữa), 45 tuổi, chỉ kiếm được ba ngày công trong sáu tuần

Ông Juma Khan (giữa), 45 tuổi, chỉ kiếm được ba ngày công trong sáu tuần

Khwaja Ahmad chỉ kịp nói vài lời trước khi bật khóc nức nở.

“Chúng tôi đang chết đói. Những đứa con lớn của tôi đã chết, nên tôi cần phải làm việc để nuôi sống gia đình. Mà tôi già rồi, nên chẳng ai muốn thuê tôi làm việc cả,” ông nói.

Khi một tiệm bánh địa phương gần quảng trường mở cửa, chủ tiệm phân phát bánh mì cũ cho đám đông. Chỉ trong vài giây, những ổ bánh mì đã bị giật lấy, nửa tá người đàn ông tranh giành từng miếng bánh quý báu.

Đột nhiên, một cuộc chen lấn khác xảy ra. Một người đàn ông đi xe máy đến muốn thuê một người lao động để khiêng gạch. Hàng chục người đàn ông lao vào ông ta.

Trong hai giờ chúng tôi ở đó, chỉ có ba người được thuê.

Tại các cộng đồng lân cận – những ngôi nhà trống trải nằm rải rác trên những ngọn đồi cằn cỗi, màu nâu, đối lập với những đỉnh núi phủ tuyết của dãy núi Siah Koh – tác động tàn khốc của nạn thất nghiệp là điều rõ ràng.

Abdul Rashid Azimi dẫn chúng tôi vào nhà và chỉ hai đứa con của mình – cặp song sinh bảy tuổi Roqia và Rohila. Ông ôm chúng thật chặt, giải thích lý do tại sao ông lại phải đưa ra những lựa chọn khó khăn đến vậy.

“Tôi sẵn sàng bán cả con gái mình,” ông khóc nức nở. “Tôi nghèo, nợ nần chồng chất và bất lực.

Tôi đi làm về với đôi môi khô khốc, đói khát, đau khổ và hoang mang. Các con tôi đến nói với tôi: ‘Bố ơi, cho chúng con ít bánh mì’. Nhưng tôi biết cho gì đây? Công việc ở đâu chứ?”

Ông ôm Rohila, hôn cô bé trong khi khóc.

“Điều này làm tôi đau lòng nhưng đó là cách duy nhất để nuôi những đứa con khác của mình.”

Nguồn hình ảnh,

Imogen Anderson/BBC

Người lao động đến đây từ sớm với hy vọng tìm được công việc vốn đã khan hiếm

Người lao động đến đây từ sớm với hy vọng tìm được công việc vốn đã khan hiếm

“Chúng tôi chỉ có bánh mì và nước nóng để ăn uống, thậm chí không có cả trà,” mẹ của những đứa trẻ, Kayhan, nói.

Hai người con trai tuổi thiếu niên của bà làm nghề đánh giày ở trung tâm thị trấn. Một người khác thì đi nhặt rác, thứ mà Kayhan dùng làm nhiên liệu để nấu ăn.

Saeed Ahmad kể với chúng tôi rằng ông đã buộc phải bán con gái năm tuổi của mình, Shaiqa, sau khi cô bé bị viêm ruột thừa và u nang gan.

“Tôi không có tiền để trả chi phí y tế. Vì vậy, tôi đã bán con gái mình cho một người họ hàng,” ông kể lại.

Ca phẫu thuật của Shaiqa đã thành công. Số tiền cho ca phẫu thuật đến từ khoảng 3.200 USD mà cô bé được bán với giá đó.

“Nếu tôi lấy toàn bộ số tiền lúc đó, ông ta sẽ đưa con bé đi. Vì vậy, tôi nói với người đó chỉ cần đưa cho tôi đủ tiền chữa trị cho con bé bây giờ, và trong 5 năm tới ông có thể đưa cho tôi phần còn lại, sau đó anh ta có thể đưa con bé đi,” Saeed giải thích.

Cô bé vòng cánh tay nhỏ xíu của mình quanh cổ cha. Mối quan hệ thân thiết của họ rất rõ ràng, nhưng trong 5 năm nữa, cô bé sẽ phải rời đi và đến sống với người thân.

“Nếu tôi có tiền, tôi sẽ không bao giờ đưa ra quyết định này,” Saeed nói.

“Nhưng rồi tôi nghĩ, nếu con bé chết mà không được phẫu thuật thì sao? Bằng cách này, ít nhất con bé vẫn còn sống.”

Nguồn hình ảnh,

Imogen Anderson/BBC

Saeed Ahmad nói mình đã phải bán cô con gái năm tuổi Shaiqa

Saeed Ahmad nói mình đã phải bán cô con gái năm tuổi Shaiqa

Chỉ hai năm trước, Saeed vẫn nhận được một vài sự hỗ trợ.

Khi đó, ông và gia đình – giống như hàng triệu người Afghanistan khác – nhận được viện trợ lương thực: bột mì, dầu ăn, đậu lăng và thực phẩm bổ sung cho trẻ em.

Nhưng việc cắt giảm viện trợ mạnh mẽ trong vài năm qua đã tước đi phần lớn sự hỗ trợ cứu sinh này.

Mỹ – từng là nhà tài trợ hàng đầu cho Afghanistan – đã cắt giảm gần như toàn bộ viện trợ cho nước này vào năm ngoái. Nhiều nhà tài trợ quan trọng khác cũng đã giảm đáng kể đóng góp, bao gồm cả Anh.

Số liệu hiện tại của Liên Hợp Quốc cho thấy viện trợ nhận được cho đến nay trong năm nay thấp hơn 70% so với năm 2025.

Hạn hán nghiêm trọng – đã ảnh hưởng đến hơn một nửa số tỉnh thành trong cả nước – làm trầm trọng thêm vấn đề.

“Chúng tôi không nhận được sự giúp đỡ từ ai cả – không phải chính phủ, cũng không phải các tổ chức phi chính phủ,” người dân làng Abdul Malik nói.

Chính phủ Taliban, nắm quyền vào năm 2021, cũng đổ lỗi cho chính quyền tiền nhiệm của Afghanistan – bị buộc phải từ chức khi lực lượng nước ngoài rút khỏi đất nước.

“Trong suốt 20 năm xâm lược, một nền kinh tế nhân tạo đã được tạo ra nhờ dòng tiền đô la Mỹ đổ vào,” Hamdullah Fitrat, phó phát ngôn viên của chính phủ Taliban, nói với BBC.

“Sau khi cuộc xâm lược kết thúc, chúng tôi thừa hưởng sự nghèo đói, khó khăn, thất nghiệp và các vấn đề khác.”

Tuy nhiên, chính sách của Taliban, đặc biệt là những hạn chế đối với phụ nữ, cũng là một lý do chính khiến các nhà tài trợ quay lưng.

Khi được hỏi, chính phủ Taliban bác bỏ mọi trách nhiệm về việc các nhà tài trợ rút lui, thay vào đó tuyên bố rằng “viện trợ nhân đạo không nên bị chính trị hóa”.

Fitrat cũng chỉ ra các kế hoạch của Taliban “nhằm giảm nghèo và tạo việc làm bằng cách thực hiện các dự án kinh tế lớn”, nêu tên một vài dự án cơ sở hạ tầng và khai thác mỏ.

Nhưng trong khi các dự án dài hạn có thể giúp ích vào một ngày nào đó, rõ ràng là có hàng triệu người sẽ không thể sống sót nếu không có sự trợ giúp khẩn cấp.

Giống như Mohammad Hashem, người có con gái 14 tháng tuổi đã qua đời vài tuần trước.

“Con tôi chết vì đói và thiếu thuốc… Khi một đứa trẻ ốm yếu và đói khát, rõ ràng là chúng sẽ chết,” ông nói. Một vị trưởng lão địa phương cho biết tỉ lệ tử vong ở trẻ em, chủ yếu do suy dinh dưỡng, đã “tăng vọt” trong hai năm qua.

Tuy nhiên, ở đây không có hồ sơ chính thức nào về số người chết. Nghĩa trang là nơi duy nhất tìm thấy bằng chứng về sự gia tăng số ca tử vong ở trẻ em.

Vì vậy, giống như những lần trước, chúng tôi đã đếm riêng các ngôi mộ nhỏ và lớn. Số lượng mộ nhỏ nhiều gấp đôi số mộ lớn – cho thấy số trẻ em nhiều gấp đôi số người lớn.

Nguồn hình ảnh,

Imogen Anderson/BBC

Y tá Fatima Husseini cho biết việc trẻ sơ sinh tử vong đã trở thành điều bình thường

Y tá Fatima Husseini cho biết việc trẻ sơ sinh tử vong đã trở thành điều bình thường

Có thêm nhiều bằng chứng tại bệnh viện chính của tỉnh ở Chaghcharan.

Khoa sơ sinh là nơi bận rộn nhất. Mọi giường đều chật kín, có giường có hai em bé. Hầu hết đều nhẹ cân và đa số đều khó thở.

Một y tá đẩy vào một chiếc nôi nhỏ với hai bé gái sinh đôi. Hai em sinh non hai tháng. Một bé nặng 2kg, bé kia chỉ 1kg.

Tình trạng của hai em rất nguy kịch và ngay lập tức được thở oxy.

Mẹ của hai bé, Shakila 22 tuổi, đang hồi phục tại khoa sản.

“Con tôi yếu vì hầu như không ăn gì khi mang thai, chỉ có bánh mì và trà,” bà ngoại của hai bé, Gulbadan giải thích. “Đó là lý do tại sao các cháu tôi lại trong tình trạng như vậy.”

Vài giờ sau khi chúng tôi rời bệnh viện ngày hôm đó, bé gái nặng cân hơn đã qua đời trước khi kịp được đặt tên.

“Các bác sĩ đã cố gắng cứu cháu nhưng cháu đã chết,” bà ngoại đau khổ nói vào ngày hôm sau. “Tôi quấn lấy thân hình nhỏ bé của con bé và đưa về nhà. Khi mẹ nó biết chuyện thì liền ngất xỉu.”

Gulbadan chỉ vào đứa bé còn sống và nói thêm: “Tôi hy vọng ít nhất con bé sẽ sống sót.”

Nguồn hình ảnh,

Imogen Anderson/BBC

Hai bé sinh đôi chào đời non tháng và gặp khó khăn trong việc thở

Hai bé sinh đôi chào đời non tháng và gặp khó khăn trong việc thở

Y tá Fatima Husseini nói có những ngày có tới ba em bé tử vong.

“Lúc đầu, tôi thấy rất khó khăn khi chứng kiến ​​trẻ em chết. Nhưng giờ thì điều đó gần như đã trở nên bình thường với chúng tôi rồi,” cô nói.

Bác sĩ Muhammad Mosa Oldat, người điều hành khoa sơ sinh, cho biết tỉ lệ tử vong lên tới 10%, điều này là “không thể chấp nhận được”.

“Nhưng vì nghèo đói, số lượng bệnh nhân ngày càng tăng,” ông nói.

“Và ở đây chúng tôi cũng không có đủ nguồn lực để điều trị cho các em bé một cách đúng đắn.”

Trong phòng chăm sóc đặc biệt nhi khoa, bé Zameer sáu tuần tuổi đang bị viêm màng não và viêm phổi. Cả hai bệnh đều có thể chữa khỏi, nhưng các bác sĩ cần phải chụp cộng hưởng từ (MRI) và họ không có thiết bị phù hợp.

Nhưng có lẽ điều gây sốc nhất mà các nhân viên y tế nói với chúng tôi là bệnh viện công không có đủ thuốc cho hầu hết bệnh nhân, các gia đình phải mua thuốc từ các hiệu thuốc bên ngoài.

“Đôi khi, nếu còn thuốc thừa từ những em bé của gia đình khá giả, chúng tôi sẽ dùng cho những em bé mà gia đình không đủ khả năng mua thuốc,” Fatima nói.

Thiếu tiền đang buộc nhiều gia đình phải đưa ra những quyết định khó khăn.

Cháu gái còn sống của bà Gulbadan đã tăng cân một chút và nhịp thở ổn định hơn. Nhưng vài ngày sau, gia đình đã đưa em về nhà. Họ đơn giản là không đủ khả năng để giữ em ở lại bệnh viện.

Bé Zameer cũng được bố mẹ đưa về nhà vì lý do tương tự.

Những cơ thể nhỏ bé của hai em giờ đây sẽ phải tự mình chiến đấu để sinh tồn.

Imogen Anderson, Mahfouz Zubaide và Sanjay Ganguly tường thuật bổ sung


 

Nguồn gốc đích thực ngày 30 tháng 4

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Nguyễn Thị Cỏ May

19/05/2026

Một buổi họp mặt thân hữu giữa mươi người cộng sản tổ chức tại tư gia của bà Nguyễn thị Bình, Phó Chủ tịch nước, và do bà mời. Mọi người đang thảo luận về tình trạng đất nước bi đát: kinh tế tụt hậu, đạo đức băng hoại, chánh trị độc tài, … bổng bà Bình hỏi «Vậy, theo các anh, chúng ta sai từ bao giờ ?».

Ai cũng đều nói chúng ta sai từ năm 1951, khi đại hội lần thứ hai của Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lê-nin và tư tưởng Mao Trạch-đông làm kim chỉ nam cho mọi đường lối chánh sách của mình. Riêng nhà văn Nguyên Ngọc lại nói: Ta sai từ đại hội Tours.

Bà Bình không đồng ý. Nhưng qua ngày hôm sau, bà Bình bảo ông Nguyên Ngọc: “Chị đã suy nghĩ suốt đêm qua, Nguyên Ngọc nói đúng đấy!”.

Câu chuyện «Ta sai từ đại hội Tours» (*) được nhà văn Lê Phú Khải kể lại trong «Lời Ai điếu » (Người Việt xb, Huê kỳ). Và ông còn cay đắng nhận xét thêm như một kết luận về sự chọn lựa đó “Một đất nước được lãnh đạo bởi những con người hoang tưởng và lố bịch như thế thì đất nước sẽ đi về đâu? Nhân dân sẽ sống thế nào? Còn đám trí thức kia thì chỉ ngậm miệng ăn tiền mà thôi.”

Ông Nguyên Ngọc có lý? Vậy nếu không có Hội nghị Tours và không theo cộng sản, Hồ Chí Minh có thể tìm ngỏ khác để giành độc lập được không? Và theo cộng sản phải chăng là để ông tìm con đường giải phóng Việt nam khỏi ách đô hộ thực dân pháp, chỉ vì thật lòng yêu nước?

Hội nghị Tours 1920

Hội nghị diễn ra từ 25 tới 30 tháng 12 năm 1920 ở Tours, Thành phố phía Tây-Nam Paris, cách Paris 230 km. Trong hội trường, treo hai biểu ngữ lớn «Hỡi vô sản toàn thế giới, các bạn hảy đoàn kết lại» và « Giải phóng thợ thuyền là sự nghiệp của anh em lao động».

Tháng 11 năm 1918, Đệ I Thế chiến kết thúc làm xáo trộn lớp chánh trị pháp, nhứt là những đảng phái của giới thợ thuyền. Đảng Lao động pháp (SFIO= Section Française Internationale Ouvrière – Phân Bộ Pháp Quốc tế Thợ thuyền), sau khi lãnh tụ Jean Jaurès bị ám sát, dần dần bị phân hóa. Ở Đại hội Tours, một bộ phận lớn của SFIO, do ảnh hưởng cách mạng bôn-sơ-vít nga 1917, chọn theo SFIC (Section Française Internationale Communiste – Phân bộ Pháp Quốc tế Cộng sản) của Lê-nin, tiền thân của đảng cộng sản pháp (PCF) ngày nay. Phần còn lại thiểu số cực lực chống lại Lê-nin ở Đại hội Tours, theo Leon Blum, giữ đảng Xã hội (Quốc tế II).

Hồ Chí Minh, năm 1919 đã gia nhập Đảng Xã hội pháp (SFIO), tham dự Đại hội Tours với tư cách Đại biểu ngoại vi của nhóm hoạt động thuộc địa, không phải Đại biểu cao cấp, nhưng có tiếng nói ở Đại hội Tours về vấn đề dân thuộc địa pháp. Khi Đại hội bỏ phiếu, Hồ Chí Minh ngả theo nhóm đa số của đảng Xã hội pháp, chọn cộng sản.

Bỏ phiếu chọn cộng sản, Hồ Chí Minh làm một chọn lựa có suy nghĩ hay chỉ theo xu hướng đa số?

Có nhiều ý kiến, nhứt là cộng sản hà nội, cho rằng Hồ Chí Minh bỏ phiếu theo đa số ở Hội nghị Tours, bỏ đảng Xã hội chọn chạy theo SFIC, cộng sản pháp, là một chọn lựa có hiểu biết, chớ không hoàn toàn vì xu hướng số đông.

Trước đó vài tháng, ông được đọc «Bản Luận cương của Lê-nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa» (Les Thèses de Lénine sur les Questions Nationales et Coloniales, L’Humanité 16-7/7/1920, Paris) trong đó, Lê-nin phê phán luận điểm sai lầm về vấn đề dân tộc và thuộc địa, như tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ích kỷ, đồng thời nhấn mạnh nhiệm vụ của đảng cộng sản là phải lãnh đạo thật sự phong trào cách mạng của các nước thuộc địa, giai cấp vô sản các nước tư bản phải đoàn kết chặt chẽ với quần chúng cần lao của tất cả các dân tộc để chống kẻ thù chung là đế quốc và phong kiến. Những luận điểm này của Lê-nin đã mê hoặc Hồ Chí Minh như đó là chơn lý ông vừa bắt được .Sau này, khi kể lại chuyện đó, ông không ngớt lời ca ngợi: “Luận cương của Lê-nin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta! Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”. 

Ông mê luận cương của Lê-nin cũng đúng vì Lê-nin là người mác-xit đầu tiên đặt thẳng vấn đề giải phóng các nước bị thực dân đô hộ trong lúc đó, Đệ II Quốc tế chỉ chủ trương uu tiên tranh đấu thăng tiến giới lao động và thợ thuyền .

Nhưng với vốn hiểu biết căn bản rất giới hạn và hoàn toàn bị mê hoặc bởi điều mới vừa bắt được, Hồ Chí Minh không đủ khả năng nhận thức rỏ hơn về cộng sản và Lê-nin . Như khi cộng sản nắm chánh quyền thì đất nước sẽ vận hành ra sao ? Đời sống xã hội sẽ như thế nào?

Ta sai từ Hội nghị Tours

Ông Nguyên Ngọc nói «Ta sai từ Hội nghị Tours», tức ý muốn nói mọi nguồn gốc gây ra tình trạng thảm hại của đất nước ngày nay là ở Hội nghị Tours, nơi và lúc Hồ Chí Minh chọn theo Quốc tế III, tức chấp nhận hệ tư tưởng léninisme, đặt đảng cộng sản trên dất nước dân tộc : vì « đảng cộng sản chủ trương độc quyền lãnh đạo, thực thi chuyên chính vô sản, bạo lực cách mạng, đặt lợi ích quốc tế III, tức cộng sản thế giới, lên trên lợi ích dân tộc » .

Từ đó, khi lợi dụng lòng yêu nước của toàn dân cướp được chánh quyền, Hồi Chí Minh đem áp dụng ngay mô hình xây dựng Việt nam rặp theo khuôn mẩu léniniste :

– Nhà nước và xã hội do Đảng kiểm soát tuyệt đối,

– Không có cạnh tranh chính trị. Ai lở có ý kiếng phê phán đảng và nhà nước bị tù vì tội chống nhơn dân,

– Xã hội vận hành theo ý thức hệ, làm lợi cho cộng sản là mục tiêu tối thượng, hòan toàn không cần biết pháp luật.

– Kinh tế kế hoạch hóa tập trung . (Việt nam, tới 1986, chịu không nổi nữa, bèn « đổi mới » thành kinh tế thị trường theo địng hướng xhcn) .

Dĩ nhiên một chế độ độc tài như vậy làm sao không đưa đất nước tới hệ quả về lâu về dài dẫn tới:

– kinh tế suy thoái,

– độc tài chính trị, xã hội bị kiểm soát bởi công an – tổ chức đảng,

– sự thật bị thay bằng “đường lối” dối trá,

– đạo đức suy đồi, tham nhủng lên ngôi, giá trị tiêu chuẩn là tiền qui định đẳng cấp xã hội

Đó đúng là ý của ông Nguyên Ngọc mà bà Nguyễn thị Bình, sau một đêm không ngủ, suy nghĩ, sáng ra, bảo với ông nguyên Ngọc «Em nói đúng!»

Nhưng sau đó, chỉ ít lâu thôi, trả lời phỏng vấn của ông Xuân Hồng trên đài BBC, cũng chính bà Nguyễn thị Bình đó, lại rất bình thường, bảo «suốt thời gian theo Hồ Chí Minh, hoạt động cách mạng giải phóng đất nước, bà hoàn toàn không làm điều gì sai trái để ngày nay phải hối hận, ngoài những trường hợp đáng lẽ ra bà đã làm tốt hơn nhiều!».

Nếu không có Hội nghị Tours

Giả thử không có Hội nghị Tours hay có mà Hồ Chí Minh không theo cộng sản, thật sự vì lòng yêu nước, ông có thể có những chọn lựa khác hơn để đem lại độc lập cho Việt nam không ?

Có thể lắm chớ . Và còn có nhiều cơ hội nữa .

Như Hồ Chí Minh vẫn đi theo chủ nghĩa Marx nhưng không theo Quốc tế III, như nhiều trí thức thật lòng yêu nước thời đó, tìm đọc Mác vì tác giả phê phán chủ nghĩa đế quốc . Mà « marxisme» không phải là thứ « léninisme » của Lénine . Mác-xít vẫn tả khuynh, chống tư bản, chống đế quốc thực dân, hô hào bảo vệ quyền lợi nhơn dân lao động, không quá khích ác ôn như lê-nin-nít, ngày nay hảy còn hoạt động ở Âu châu và giúp các nước đó phát triển tốt đẹp .

Đó là chủ nghĩa «xã hội dân chủ» ..

Nếu chỉ theo « marxisme »,tức « xã hội dân chủ », Việt nam vẫn độc lập mà không cộng sản, không bị đồng hóa «đảng=dân tộc» , «yêu đảng=yêu nước» . Hơn nữa, Hồ Chí Minh vẫn có thể không thèm theo mác-xít, chỉ làm người Việt nam thuần tứy yêu nước thật lòng, vẫn có thể góp công tiếp thu và xây dựng một Việt nam độc lập được mà không bị quá nhiều di hại như hàng mươi triệu thanh niên chết vì đánh nhau cho có ngày 30/04.

Thật vậy, năm 1941, khi Thế Chiến II còn đang tiếp diễn, theo đề nghị của Tổng Thống Huê Kỳ Franklin Roosevelt, các Đế quốc Tây phương Anh, Mỹ, Pháp, Hòa Lan đã họp nhau tại Newfoundland, Canada, để công bố « Hiến Chương Đại Tây Dương » theo đó các thuộc địa và bảo hộ sẽ được trao trả độc lập khi chiến tranh kết thúc .

Ngày 8 tháng 5 năm 1945, Đức Quốc xã đầu hàng, đồng minh họp Hội Nghị San Francisco để thành lập Liên Hiệp Quốc và long trọng ban hành « Quyền Dân Tộc Tự Quyết » (Quyền này vẫn còn giá trị pháp lý, nhưng thực tế ?) . Từ 1946 đến 1949, các Đế quốc Tây phương như Mỹ, Anh, Pháp, Hòa Lan đã lần lượt trao trả độc lập cho các thuộc địa ở Á châu :

-năm l946 : Phi-luật-tân thuộc Hoa kỳ, Syrie và Liban thuộc Pháp,

-năm l947: Ấn-độ và Đại hồi thuộc Anh,

-năm l948: Miến-điện, Tích-lan và Palestine thuộc Anh,

-năm l949 : Việt nam (Hiệp định Pháp-Việt, tức Hiệp định Elysee, ngày 8 tháng 3 năm 1949, Việt nam hoàn toàn độc lập, thu hồi hoàn toàn chủ quyền, kinh tế, ngoại giao, quân sự, thống nhứt Nam, Trung, Bắc), Ai-lao, Cao-mên thuộc Pháp, và Nam-dương thuộc Hoà-lan .

Nhưng Hồ Chí Minh không đồng ý vì độc lấp đó là của Việt nam, không phải của cộng sản đệ III . Đã có nhiều cơ hội Việt nam có độc lập và có thể giử được nền độc lập nếu đã có sự hợp tác với nhau vì lòng yêu nước . Hồ Chí Minh đã chọn cộng sản, theo cộng sản và tự tôi luyện từ làm chỉ điểm cho Quốc tế Nông hội dưới bí danh Ferdinand để từng bước trở thành người cộng sản tinh ròng, trước sau,ông chỉ biết phục vụ cộng sản và chết, cũng chỉ theo cụ Mác, cụ Lê, chớ không thèm theo ông bà ông vải .

Có người nói, giai đoạn đầu, Hồ Chí Minh theo chủ nghĩ dân tộc , tranh đấu giải phóng dân tộc, hoàn toàn không đúng vì léninisme chủ trương mượn chiêu bài dân tộc để tổ chức quần chúng, lãnh đạo quần chúng nhằm mục tiêu cộng sản .

Đây, để đừng mơ hồ về Hồ Chí Minh là người yêu nước, từng tranh đấu cho dân tộc độc lập, hảy nghe chính ông bộc bạch rỏ về tâm huyết của ông ta : “Người khẳng định Chủ nghĩa Lê-nin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái cẩm nang thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là “mặt trời” soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản” (hcm toàn tập, tập xii, xb chánh trị quốc gia, hà nôi, 2011)

Ông Nguyên Ngọc nói đúng . Thật đúng đấy, nên ngày nay, ông nằm ở nhà, bạn bè tới thăm không được phép lên nhà ông vì bị đám “dùi cui” ngăn chặn . Cả chị ở giúp việc trong nhà cũng có nhiệm vụ lo bảo vệ ông, không cho ông tiếp khách sợ ông mệt.

———————————————-

(*) Về chuyện ông Nguyên Ngọc nói “Ta sai từ Hội nghị Tours”, nhà thơ Thái Bá Tân có bài thơ kể rỏ lại câu chuyện rất đầy đủ

Nguyễn thị Cỏ May


 

LY HƯƠNG, SỰ LỰA CHỌN NGHIỆT NGÃ

Xuyên Sơn

 LY HƯƠNG, SỰ LỰA CHỌN NGHIỆT NGÃ

Cuối cùng cũng đến ngày em gái út cùng chồng và con sang Mỹ định cư. Thế là lại thêm một gia đình người thân nữa của tôi rời bỏ đất nước này.

43 tuổi, em đang có việc làm ổn định ở một doanh nghiệp với mức thu nhập vài chục triệu đồng mỗi tháng.

Hai vợ chồng có biệt thự, xe hơi và chồng còn sở hữu một cơ ngơi làm ăn riêng, tuy nhỏ nhưng cũng đáng để cho nhiều người phải mơ ước.

Vậy mà điều gì đã khiến các em bỏ hết mọi thứ và dắt díu ba đứa con nhỏ dại từ giã quê hương để bắt đầu làm lại cuộc sống nơi xứ người cách đây nửa vòng trái đất?

Câu trả lời nghe vẫn quen thuộc như nhiều lần tôi đã từng nghe:

“Vì tương lai con cái!”.

Vâng! Đó là lý do mà rất nhiều người Việt trong dòng chảy nhập cư nước ngoài những năm gần đây thường nêu lên để giải thích cho việc ra đi của mình.

Thật chua chát khi hơn 40 năm sau ngày 30-4-1975, ký ức “thuyền nhân” lại trở về dưới một dạng thức khác.

Lần này, các “thuyền nhân” ra đi không phải trong tâm thế trốn chạy hoảng loạn, vội vã mà là được cân nhắc, chuẩn bị cẩn thận.

Không phải trên những chiếc thuyền lênh đênh đầy bất trắc mà là trên những chuyến bay tiện nghi, an toàn. Không phải lén lút, vô định mà là công khai và được chuẩn bị sẵn mọi thứ cho đến khi cầm visa trong tay mới lên đường.

Các công ty tư vấn nhập cư dạo này nhan nhản khắp nơi với những chương trình mời gọi đi định cư châu Âu, Mỹ, Canada, Úc…

Giờ gặp nhau, người ta hỏi thăm đã có PR (permanent resident) của nước nọ nước kia chưa, như một điều bình thường!

Người có tài tìm đường đi theo dạng skill worker hoặc doanh nhân khởi nghiệp.

Người có tiền thì bỏ tiền ra mua quốc tịch hoặc “thẻ xanh” cho nhanh.

Người ít cả tiền và tài thì hy vọng kiếm được một suất đi lao động nước ngoài rồi tìm đường ở lại bằng đủ cách.

Lớp trẻ đi du học hầu hết cũng không muốn trở về.

Năm 2014, báo chí thông tin có 12/13 quán quân của cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia” không trở về nước sau khi kết thúc thời gian du học ở Úc với học bổng toàn phần cho người chiến thắng chung cuộc.

Con số đó đến nay chắc đã tăng thêm sau.

Tháng 7-2017, Hiệp hội Quốc gia chuyên viên địa ốc Hoa Kỳ công bố báo cáo hằng năm cho thấy Việt Nam đứng trong top 10 nước hàng đầu mua nhà tại Mỹ.

Trả lời BBC, tổ chức này cho biết chỉ trong thời gian từ tháng 4-2016 đến tháng 3-2017, công dân Việt Nam đã mua bất động sản tại Mỹ trị giá lên tới 3,06 tỷ USD.

Đó là mới tính số tiền chuyển đi để mua nhà tại Mỹ chứ chưa tính ở các nước khác và tất nhiên, đó cũng chỉ là phần nổi của tảng băng!

Đất nước như một bao gạo bị thủng để trí lực, tài lực cứ chảy dần ra nước ngoài cho đến khi rỗng ruột.

Quê hương chôn rau cắt rốn ở đây mà dường như chỉ là chốn dừng chân tạm bợ với rất nhiều người Việt bây giờ…

Làm sao có thể trách em tôi cũng như hàng triệu người dân khác đã và đang tính bỏ nước ra đi?

Bởi cái lý do “vì tương lai con cái” nghe nhẹ bâng vậy mà trĩu nặng quá chừng!

Sự lo toan và hy sinh vô bờ cho con cái vốn là nét văn hoá đặc trưng của người Việt.

Những bậc cha mẹ thuộc nhiều thế hệ đã trải qua các cuộc chiến tranh trên đất nước nhỏ bé này, càng khổ cực nhiều ở đời mình lại càng thấm thía sâu sắc ước mơ về một cuộc sống bình yên và hạnh phúc cho đời con cháu.

Nhưng nỗi lo bây giờ không còn là chuyện cơm ăn áo mặc hàng ngày cho phần “con”, như trong thời kỳ phải thắt lưng buộc bụng vì chiến tranh và sự mông muội.

Nỗi lo bây giờ là về chất lượng cuộc sống cho nhu cầu của phần “người”.

Có thể nào sống an yên khi môi trường bị phá hoại tàn khốc, tài nguyên đất nước bị khai thác tới cạn kiệt, thực phẩm bẩn tràn lan khắp nơi và tham nhũng thì như ổ dịch bệnh hoành hành từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài?

Có thể nào sống hạnh phúc khi nền giáo dục và y tế ngày càng xuống cấp,

các phúc lợi xã hội không chỉ kém chất lượng mà còn tiếp tục giảm sút,

các giá trị văn hoá – đạo đức bị tha hoá và đảo lộn?…

Bây giờ, bước ra đường là thấy lo:

Lo nạn cướp giật, móc túi; 

lo tai nạn giao thông;

lo ăn uống bị ngộ độc thực phẩm;

lo hít khói bụi bị ung thư;

lo bọn trẻ bị dụ dỗ sa vào ma túy hoặc bị xâm hại, bắt cóc…

Cứ thế mà ngút ngàn triền miên lo.

Thà chỉ phải lo cơm áo như ngày xưa còn dễ hơn bội phần!

Xã hội càng bất ổn, lòng người càng bất an. Làm sao có thể yên tâm để con cái lớn lên trong một môi trường sống như vậy?

Chưa kể, những lời đồn đoán về một tương lai xám xịt của đất nước gắn với những thỏa thuận của Việt Nam và Trung Quốc trong Hội nghị Thành Đô năm 1990 cũng là một trong những nguyên nhân gây hoang mang khiến cho nhiều người phải tính đường tháo chạy trước.

28 năm qua, Đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam vẫn giữ bí mật, nhất quyết không công khai những nội dung đã ký kết với Đảng cộng sản và Nhà nước Trung Quốc trong Hội nghị Thành Đô.

Vì thế, những đồn đãi càng ngày càng lan rộng, bất chấp mọi nỗ lực trấn an dân chúng của chính quyền.

Và dù đã bước sang thế kỷ 21, thế nhưng nhà nước Việt Nam vẫn chủ trương quản lý, định hướng về tư tưởng và bưng bít thông tin không khác gì ở trong thế kỷ trước.

Hôm biết tin Quốc hội đã thông qua Luật An ninh mạng, một người quen của tôi là tiến sĩ trong lĩnh vực tài chính từng hăm hở từ Mỹ trở về nước cách đây 10 năm ngậm ngùi chia sẻ:

“Em đã hoàn tất thủ tục cho cả gia đình trở lại Mỹ cách đây mấy tháng,

Znhưng vẫn còn cố nấn ná…

Giờ thì phải ra đi thôi chị ạ, không thể để bọn trẻ lớn lên trong bầu không khí ngày càng ngột ngạt thế này…”.

Bao nhiêu người trẻ có tri thức và nặng tình với quê hương đã “vội vã trở về, vội vã ra đi” như thế?

***

Hồi đi thăm Israel, tôi thường đứng lặng thật lâu trước hình ảnh những con tàu hồi hương hiện diện khắp mọi nơi, như một niềm kiêu hãnh trong lịch sử lập quốc của đất nước này.

Đó là những chuyến tàu từ châu Âu, châu Mỹ… đưa hàng triệu người Do Thái ở khắp nơi trên thế giới trở về xây dựng quê hương sau khi Israel chính thức được thành lập vào năm 1948.

Những gương mặt người Do Thái hồi hương khi ấy còn vương nét nhọc nhằn sau Thế chiến, nhưng vẫn bừng sáng niềm hy vọng vào tương lai và ý chí quyết tâm kiến thiết quốc gia.

70 năm sau khi lập quốc, ngày nay Israel đã trở thành một trong số các quốc gia phát triển hàng đầu và là nền kinh tế lớn thứ 34 thế giới (tính theo GDP danh nghĩa năm 2016). Những chuyến tàu hồi hương ngày đó đã mang về cho quốc gia này vốn liếng quý nhất là những con người tinh hoa để xây dựng thành công một đất nước đã từng không có tên trên bản đồ thế giới.

Còn chúng ta?

Sau hơn 73 năm thành lập và thống nhất đất nước (dài hơn thời gian lập quốc của Israel), những chuyến tàu (cả tàu thuỷ và tàu bay) sao lại chỉ mang dân ta ra đi mà không có trở về?

Lịch sử dân tộc Việt Nam dường như gắn liền với các cuộc di dân, nhưng chua xót hơn là cho tới tận bây giờ, những cuộc di dân ra nước ngoài vẫn chưa biết bao giờ mới dừng lại?

Bao câu hỏi cứ quay quắt trong tôi khi nghĩ đến em gái.

Ngoài kia, trời Sài Gòn vẫn vần vũ mưa. Tiếng hát Thái Thanh vọng từ nhà ai đó nghe nức nở:

“Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui, khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi…”.

Và trong tôi, không hiểu sao cứ thấp thoáng khôn nguôi hình ảnh những con tàu hồi hương về Israel cùng những con tàu ly hương rời Việt Nam…

Chúa Nhật, 12 tháng Tư năm 2020 

Tác Giả: Nguyễn Thị Oanh

http://saigonecho.com/images/ra_di.jpg 


 

Scott-Vincent Borba, đồng sáng lập e.l.f. Beauty… sẽ được phong chức linh mục.

Tuan Pham

 Ngày 23 tháng 5 năm 2026, tại Giáo phận Fresno, Cali… một người đàn ông từng sống giữa ánh đèn Hollywood, xe sang và những buổi tiệc xa hoa, sẽ quỳ xuống trước bàn thánh để được phong chức linh mục. Người ấy là Scott-Vincent Borba, đồng sáng lập e.l.f. Beauty, thương hiệu mỹ phẩm nổi tiếng từng mang về cho ông khối tài sản khổng lồ. Nhưng ít ai biết rằng, phía sau nụ cười thành đạt ấy là một khoảng trống mà tiền bạc không thể lấp đầy. 

⸻ Đêm đó ở Los Angeles, trong một buổi tiệc sang trọng đầy ánh đèn và tiếng nhạc, Scott đứng lặng bên ly rượu vang. Chung quanh ông là những ngôi sao điện ảnh, người mẫu, doanh nhân… tất cả đều cười nói vui vẻ. 

Một người bạn vỗ vai ông: — “Scott, anh đang sống giấc mơ của hàng triệu người đó! Nhà đẹp, xe sang, danh tiếng… còn thiếu gì nữa?” Scott im lặng vài giây rồi khẽ đáp:

 — “Thiếu bình an…” Người kia bật cười:

 — “Anh đùa sao? Người ta sẵn sàng đánh đổi cả đời để được như anh.” Scott nhìn xa xăm:

 — “Tôi cũng từng nghĩ vậy… cho đến khi có tất cả.” Đêm ấy, khi trở về căn biệt thự rộng lớn nhưng lạnh lẽo, ông ngồi một mình trong bóng tối rất lâu. Không tiếng nhạc. Không tiếng cười. Chỉ còn sự trống trải đè nặng trong tim. Ông kể rằng chính khoảnh khắc ấy, ký ức tuổi thơ bỗng ùa về. Một cậu bé 10 tuổi ngày nào từng quỳ trong nhà thờ, từng cảm nhận một tiếng gọi rất sâu trong lòng.

 “Con hãy theo Ta…” 

⸻ Sáng hôm sau, Scott đến thăm mẹ. Người mẹ già ngạc nhiên khi thấy con trai ngồi trầm lặng khác thường. 

— “Con ổn không Scott?” Ông nhìn mẹ, đôi mắt đỏ hoe: 

— “Mẹ… nếu một ngày con bỏ hết mọi thứ thì sao?” Bà sững người:

 — “Ý con là gì?” Scott cúi đầu: 

— “Con nghĩ Chúa đã gọi con từ rất lâu rồi… chỉ là con trả lời quá muộn.” Người mẹ lặng im. Rồi bà nắm lấy tay con trai:

 — “Nếu đó là điều làm con bình an… mẹ sẽ cầu nguyện cho con.” ⸻ Ít lâu sau, giới kinh doanh Hollywood chấn động. Scott-Vincent Borba bán xe sang. Rời bỏ công ty. Từ bỏ thế giới hào nhoáng. Và trao phần lớn tài sản của mình cho từ thiện. Nhiều người không tin nổi. Một cộng sự cũ từng gọi cho ông: 

— “Scott, anh điên rồi sao? Anh đang đứng trên đỉnh cao!” Ở đầu dây bên kia, Scott nhẹ giọng: 

— “Không… lần đầu tiên trong đời, tôi mới thật sự biết mình đang đi đâu.” 

“Anh bỏ hàng triệu đô để đổi lấy cuộc sống tu viện nghèo khó?” Scott mỉm cười:

 — “Tiền bạc cho tôi tiện nghi… nhưng không cho tôi ý nghĩa.” 

Ở tuổi 42, ông bước vào chủng viện St. Patrick’s Seminary, Menlo Park, California. Từ một doanh nhân nổi tiếng, ông trở thành một chủng sinh sống đời giản dị như bao người khác. Không còn vest đắt tiền. Không còn tiệc xa hoa. Không còn những cuộc họp triệu đô. Chỉ còn tiếng chuông nhà nguyện, những giờ cầu nguyện lặng lẽ và cuộc sống phục vụ tha nhân. Một người sống gần chủng viện từng hỏi ông:

 — “ Thầy có bao giờ nhớ cuộc sống cũ không?” Scott nhìn cây thánh giá trên tường rồi đáp: 

— “Có chứ… nhưng tôi không nhớ tiền bạc. Tôi chỉ tiếc mình đã không đáp lời Chúa sớm hơn.”

 ⸻ Ngày phong chức đang đến gần. Nhiều người xem hành trình của Scott-Vincent Borba như một phép lạ giữa thời đại mà con người chạy theo danh vọng và vật chất. Một người đàn ông đã có tất cả… nhưng vẫn dám từ bỏ tất cả… để tìm điều mà tiền không mua được: 

Đức tin. Sự bình an. Và ý nghĩa thật sự của cuộc đời. Có lẽ câu nói của ông sẽ còn làm nhiều người suy nghĩ mãi: 

— “Chúa gọi tôi từ năm tôi 10 tuổi… chỉ là tôi trả lời quá muộn.”

Giuse Phạm Sơn liêm

Chủng sinh Scott Borba trong ngày thụ phong phó tế June 21-2025. 

Ảnh EWTN #linhmuc #jesus #ongoithanhhien

 


 

Nữ tu Công giáo mang hy vọng đến vùng quê Zimbabwe

Tin Mừng Cho Người Nghèo

 Nữ tu Công giáo mang hy vọng đến vùng quê Zimbabwe

Vùng Matabele ở miền nam Zimbabwe là một miền đất khô cằn, đầy gió và im lặng. Nơi đây từng chìm trong tuyệt vọng khi đại dịch HIV/AIDS đạt đến đỉnh điểm tại châu Phi. Nhưng giữa bóng tối ấy, một tia hy vọng đã được khơi lên nhờ trái tim đầy lòng trắc ẩn của nữ tu Ludbirga Schumacher. Chính chị đã thành lập Trung tâm Sketimpilo, mở ra con đường hy vọng cho biết bao người nghèo khổ và bị bỏ rơi.

—–

Trung tâm Sketimpilo, do các Nữ tu Thừa sai Máu Châu Báu điều hành dưới sự quản lý của nữ tu Felistar Dube, CPS, đã trở thành biểu tượng của niềm hy vọng được tái sinh. “Sketimpilo” có nghĩa là “hãy chọn sự sống” – và đó cũng là tinh thần được sống mỗi ngày tại nơi đây.

Trung tâm được thành lập năm 1998 bởi nữ tu Ludbirga Schumacher, người Đức, trong giai đoạn đen tối nhất của Zimbabwe khi HIV/AIDS tàn phá đất nước, để lại phía sau biết bao trẻ mồ côi, người bệnh tật, bị loại trừ và gạt ra bên lề xã hội. Khi ấy, sự kỳ thị còn mạnh hơn lòng cảm thương, và nhiều người đã hoàn toàn mất hy vọng.

Một gốc cây khô lại đâm chồi

Nữ tu Ludbirga nhận ra nhu cầu cấp thiết phải nâng đỡ những trẻ em và người lớn nghèo khổ, dễ bị tổn thương, đang nhiễm bệnh hoặc chịu ảnh hưởng bởi HIV/AIDS.

Chị quy tụ các nhóm thiện nguyện, đào tạo những người chăm sóc cộng đồng, tổ chức các chuyến thăm viếng tại gia đình và dần khôi phục phẩm giá cho những người từng bị đánh mất giá trị của mình. Chị luôn nhắc nhở họ rằng, dù bị kỳ thị và xa lánh, cuộc đời họ vẫn có giá trị trước mặt Thiên Chúa.

Niềm hy vọng dần được hồi sinh. Hình ảnh một gốc cây khô mọc lên những chồi non trở thành biểu tượng của dự án – dấu chỉ rằng ngay giữa đổ vỡ và đau khổ, sự sống vẫn có thể nảy mầm. Hơn hai thập niên sau, nữ tu Felistar vẫn tiếp tục sứ mạng ấy với cùng một lòng can đảm.

Trung tâm của sự phát triển

Sketimpilo không tách trẻ em khỏi cộng đồng của các em, nhưng đem sự trợ giúp đến tận gia đình của những người dễ bị tổn thương. Nhờ sự hỗ trợ của các ân nhân, đặc biệt từ Đức và Tây Ban Nha, trung tâm hiện đóng học phí cho gần 120 trẻ em, hỗ trợ tâm lý và giúp các em không cảm thấy bị bỏ rơi trong đau khổ.

Những hoa trái đã dần xuất hiện. Hai em từng được trung tâm hỗ trợ hiện đã vào đại học – một em học ngành công tác xã hội, em còn lại học ngành phát triển cộng đồng – và nay chính các em quay trở về để phục vụ nơi từng nâng đỡ mình.

Những kỹ năng làm thay đổi cộng đồng

Một trong những sáng kiến nổi bật nhất của trung tâm là chương trình đào tạo kỹ năng thực hành. Mỗi năm, khoảng 60 bạn trẻ được đào tạo về may mặc, nông nghiệp, điện dân dụng, xây dựng và làm bánh.

Những người học xây dựng giúp dựng nhà cho các gia đình khó khăn, còn các học viên ngành điện lắp đặt hệ thống năng lượng mặt trời cho trường học và nhà dân ở vùng quê.

Một số học viên tốt nghiệp từ Sketimpilo hiện đang làm việc cho các công ty lớn trong nước, kể cả ngành điện lực Zimbabwe, qua đó xây dựng tương lai cho chính họ và cộng đồng của mình.

Đức tin và sự kiên trì

Điều hành một sứ mạng như thế giữa vùng đất đầy khó khăn kinh tế không phải điều dễ dàng. Nguồn nước khan hiếm, tài trợ luôn bấp bênh, và các gia đình đông con chỉ có thể sống tạm nhờ phần lương thực ít ỏi trung tâm phân phát mỗi tháng.

Tuy nhiên, giữa muôn vàn thử thách ấy, nữ tu Felistar vẫn nhìn thấy bàn tay Thiên Chúa hoạt động.

“Có những lúc chúng tôi nghĩ mình không thể tiếp tục nữa: không lương, không tiền, không có cả thực phẩm để phân phát,” chị chia sẻ. “Nhưng lời cầu nguyện giúp chúng tôi đứng vững, và niềm tín thác vào Thiên Chúa giúp chúng tôi tiếp tục bước đi.”

Niềm xác tín của chị thật đơn sơ nhưng sâu sắc: Thiên Chúa luôn mở đường cho những ai biết chọn sự sống.

Một nơi âm thầm nhưng tạo ảnh hưởng lớn

Do tình hình kinh tế khó khăn tại Zimbabwe và nguồn tài trợ quốc tế ngày càng giảm, các nữ tu cố gắng giúp người dân tự lập bằng cách trao cho họ kỹ năng và cơ hội việc làm.

Để duy trì các hoạt động bác ái, Sketimpilo hiện có một số phòng lưu trú, một hội trường nhỏ và dịch vụ nấu ăn. Nguồn thu từ đó được dùng để trả lương nhân viên và duy trì hoạt động của trung tâm.

Dẫu vậy, nhiều khó khăn vẫn còn đó. Các tòa nhà đã cũ kỹ, nhiều nơi được xây từ những ngày đầu năm 1998 và cần được sửa chữa. Chung quanh trung tâm cũng đã xuất hiện nhiều cơ sở hiện đại hơn, nhưng nhiều người vẫn chọn Sketimpilo bởi sự bình an, tinh thần phục vụ và lòng hiếu khách nơi đây.

“Nhiều người biết rằng đây là nơi của sự chăm sóc,” nữ tu Felistar nói, “và họ đến vì họ cảm thấy an toàn.”

Luôn sống với một mục đích

Hiện nay, nữ tu Felistar là nữ tu duy nhất phục vụ toàn thời gian tại trung tâm. Dù cộng đoàn nhỏ bé, chị vẫn mang trong mình một quyết tâm lớn lao. Chị hy vọng một ngày nào đó Sketimpilo sẽ phát triển thành một trung tâm đào tạo nghề – điều mà giới trẻ trong vùng đang rất cần.

“Chúng tôi cùng nhau làm việc như những nữ tu và những người được phục vụ; tất cả đều là của lễ dâng lên Thiên Chúa,” chị nói trong tâm tình biết ơn. “Tôi cảm ơn các gia đình mà chúng tôi đang hỗ trợ – ngay cả những điều nhỏ bé chúng tôi trao tặng, quý vị luôn trân trọng. Chính lòng biết ơn ấy tiếp thêm sức mạnh cho chúng tôi. Và với các ân nhân, chúng tôi không thể đứng vững nếu thiếu quý vị. Xin Thiên Chúa chúc lành dồi dào cho quý vị.”

Công việc của Sketimpilo hiện được nâng đỡ nhờ sự quảng đại của các đối tác như German Friends và Manus Unitas. Nhờ đó, các nữ tu CPS tiếp tục mang đến sự sống, giáo dục và phẩm giá cho những người dễ bị tổn thương nhất.

Nữ tu Christine Masivo, CPS

Nguồn: Vatican News 


 

  73, ai bảo đã già?

Nguoi-Viet

   73, ai bảo đã già?

Ở tuổi 73, hầu như mọi người đều đã tận hưởng những năm tháng nghỉ hưu. Nhưng với bà Dawn Zuidgeest-Craft thì không như vậy. Mùa hè này, bà sẽ bắt đầu chương trình nội trú tại các cơ sở y tế ở vùng Tây Michigan sau khi hoàn thành chương trình trường y, và theo đó, trở thành sinh viên y khoa tốt nghiệp lớn tuổi nhất thế giới từ trước đến nay.

“Tôi đang phá vỡ mọi kỷ lục,” bà Zuidgeest-Craft chia sẻ với đài địa phương 13 ABC NewsNow hôm Thứ Năm, 14 Tháng Năm. “Tôi sẽ là sinh viên y khoa tốt nghiệp lớn tuổi nhất thế giới, theo những gì chúng tôi có thể tìm hiểu được.”

Đến Tháng Bản này, khi chính thức bắt đầu công việc của một bác sĩ nội trú, bà sẽ bước sang tuổi 73. Nhưng với bà, điều đó hoàn toàn không phải là rào cản. “Có những người không sinh ra để nghỉ hưu, đó không phải là một phần của họ,” bà nói với đài 13 ABC NewsNow. “Và đó chắc chắn là tôi.”

Theo cuộc phỏng vấn, bà Dawn Zuidgeest-Craft không phải là người xa lạ với ngành y. Bà đã dành phần lớn cuộc đời mình trong lĩnh vực này, làm y tá chuyên khoa sơ sinh tại các đơn vị chăm sóc tích cực sơ sinh (NICU) ở vùng Tây Michigan trong nhiều thập niên. Sau khi hoàn thành chương trình y tá thực hành sơ sinh, bà bắt đầu làm việc tại vệnh viện Blodgett ở Grand Rapids từ năm 1982.

Nhưng ước mơ trở thành bác sĩ chưa bao giờ tắt trong người phụ nữ này, và cả với người chồng của bà. Vì vậy, ở tuổi 69, bà quyết định thực hiện điều đó. Bà ghi danh nhập học tại một trường y ở vùng Caribe như một phần trong danh sách những điều cần làm trước khi chết của cả hai vợ chồng.

“Đó là một hòn đảo tên Anguilla, nằm đối diện với St. Martin,” bà kể lại. “Cảnh đẹp tuyệt vời. Tôi đã làm bạn với những con cá. Thật tuyệt. Tôi phải vượt qua cùng kỳ thi USMLE, phải hoàn thành cùng số giờ học và cùng số lượng nghiên cứu như tất cả những sinh viên khác.”

Sau giai đoạn học lý thuyết, bà thực hiện các ca lâm sàng tại Chicago, West Virginia, New York và Nam Texas. Dù nhiều người đã gọi bà là “điên rồ”, bà Zuidgeest-Craft không hề nản lòng. Bà cho biết mình muốn dùng tấm bằng y khoa để hành nghề và mang những trải nghiệm, sự khôn ngoan của mình vào công việc chăm sóc bệnh nhân.

“Với tôi, được chăm sóc người khác về mặt y tế là một đặc quyền,” bà chia sẻ. “Nhiều bệnh nhân của tôi sẽ ở độ tuổi xấp xỉ tôi, lớn hơn hoặc nhỏ hơn một chút.”

Bà Zuidgeest-Craft có bốn người con, trong đó có cô Ginger Zee, nhà khí tượng học trưởng đầu tiên là nữ giới tại một mạng truyền hình lớn của Mỹ, hiện đang công tác tại đài ABC.  Tài năng cũng như tinh thần không đầu hàng rõ ràng là di sản chảy trong huyết mạch của cả gia đình.

Trong một đoạn video nhắn gửi đến mẹ mà đài 13 ABC NewsNow thu thập được, cô Ginger Zee đã không giấu được xúc động: “Điều quan trọng nhất mà con muốn mẹ biết là con đã được truyền cảm hứng suốt cả cuộc đời, không chỉ từ những gì mẹ đang làm bây giờ, mà từ chính con người của mẹ mỗi ngày, và tất nhiên cả việc mẹ vẫn theo đuổi ước mơ ở độ tuổi này. Con biết tuổi tác đang là tâm điểm chú ý, và có lẽ mẹ không muốn điều đó, nhưng thật sự rất tuyệt vời khi được chứng kiến. Con hy vọng mọi người đều học được điều gì đó từ câu chuyện này. Điều mà mẹ đã dạy con là không bao giờ được nói ‘không thể’. Đừng để ai nói với bạn rằng điều đó là không thể, vì nó hoàn toàn có thể, và Dawn sẽ làm được. Con hứa đấy. Con yêu mẹ.”

Câu chuyện của bà Dawn Zuidgeest-Craft không chỉ là kỳ tích cá nhân, mà còn là lời nhắc nhở đầy sức mạnh rằng không có giới hạn nào là tuyệt đối. Nếu bạn còn đam mê và quyết tâm, thì chưa bao giờ là quá muộn.

https://www.nguoi-viet.com/…/cu-ba-73-tuoi-sinh-vien…/ 


 

10 năm trước, mình tốt nghiệp trường Y ở Mỹ và mình nghĩ rằng mình đã đến đích rồi.

Dr. Christina Nguyen 

10 năm trước, mình tốt nghiệp trường Y ở Mỹ,và mình nghĩ rằng mình đã đến đích rồi.

10 năm sau, mình tham dự lễ tốt nghiệp của Creighton University School of Medicine với tư cách là một giảng viên, mình mới nhận ra rằng: Hồi đó mình ngây thơ thật.

Vì có những thứ trong nghề Y không ai dạy trong trường lớp. Có những bài học mà phải mất nhiều năm mới hiểu.

Và đây là 7 điều mình ước gì mình biết 10 năm về trước, cũng như một lời nhắn gửi đến các bạn bác sĩ vừa mới tốt nghiệp.

  1. Tấm bằng bác sĩ không phải là đích đến. Nó chỉ là tấm vé bước vào một hành trình khó hơn.

– Ngày tốt nghiệp rất đẹp.

– Gia đình tự hào.

– Bạn bè chúc mừng.

– Ai cũng nói: “Giỏi quá, thành bác sĩ rồi.”

Nhưng thật ra, ngày đó không phải là ngày ta “đã xong.”

Đó là ngày cuộc đời bắt đầu hỏi ta một câu khó hơn: “Bây giờ, bạn sẽ trở thành con người như thế nào khi mang trên mình trách nhiệm này?”

Bởi vì từ giây phút đó trở đi, chữ “bác sĩ” không còn chỉ là một danh xưng.

– Nó là trách nhiệm.

– Là niềm tin người khác đặt vào mình.

– Là những quyết định dù rất nhỏ, nhưng có thể ảnh hưởng rất lớn đến cuộc đời của một bệnh nhân.

  1. Trong nghề Y, giỏi thôi chưa đủ. Bền mới quan trọng.

– Trong Y khoa, chúng ta sẽ gặp rất nhiều người giỏi.

– Ai cũng học rất chăm.

– Ai cũng từng là người nổi bật ở đâu đó.

– Ai cũng từng quen với việc cố thêm một chút, chịu thêm một chút, làm thêm một chút.

Nhưng đi đường dài, thứ giữ chúng ta lại với nghề không chỉ là trí thông minh.

– Mà là sức bền.

– Là khả năng đứng dậy sau một ngày tồi tệ.

– Là khả năng không đánh mất sự tử tế khi bản thân đang mệt mỏi.

– Là khả năng tiếp tục học, tiếp tục sửa, tiếp tục trưởng thành, dù đôi khi bên trong mình cũng đầy hoang mang.

Nghề Y không chỉ cần những người giỏi.

Nghề Y cần những người đủ bền để không trở nên chai sạn.

  1. Đừng đợi đến khi kiệt sức mới học cách chăm sóc bản thân.

10 năm trước, mình từng nghĩ hy sinh sức khỏe là một phần của sự tận tụy.

– Thức khuya là bình thường.

– Ăn vội là bình thường.

– Không tập thể dục là bình thường.

– Mình luôn tự nói: “Mình bận lắm.”

Mình đã từng đi khuyên bệnh nhân ngủ đủ, ăn uống điều độ, vận động thường xuyên, trong khi chính mình thì làm ngược lại.

– Sau này mình mới hiểu:

Một bác sĩ kiệt sức có thể vẫn làm việc, vẫn khám bệnh, vẫn làm xong hồ sơ bệnh án.

Nhưng sự thật là chúng ta không thể chăm sóc người khác lâu dài nếu bản thân mình cứ dần cạn kiệt.

Chăm sóc bản thân không phải là ích kỷ.

Đó là một phần của trách nhiệm nghề nghiệp.

  1. Không phải mạnh mẽ là không đau. Có khi chỉ là giỏi che giấu.

– Trong nghề Y, chúng ta sẽ gặp rất nhiều người nhìn bên ngoài rất ổn.

– Rất bình tĩnh.

– Rất chuyên nghiệp.

– Rất giỏi tay nghề.

Nhưng đằng sau vẻ ngoài đó, có thể là những đêm mất ngủ.

Những ca bệnh ám ảnh.

Những lần tự nghi ngờ bản thân.

Nếu có lúc bạn thấy mình yếu đuối, điều đó không có nghĩa là bạn không phù hợp với nghề này.

Mà chỉ có nghĩa rằng bạn cũng là một con người.

Và nghề Y, dù cao quý đến đâu, cũng vẫn được làm bởi những con người bằng xương bằng thịt.

  1. Sẽ có những ngày bạn tự hỏi: “Mình có thật sự thuộc về nơi này không?”

– Nhất là nếu bạn là người nhập cư.

– Nếu tiếng Anh không phải tiếng mẹ đẻ.

– Nếu bạn không lớn lên trong hệ thống này.

– Nếu bạn phải học không chỉ kiến thức y khoa, mà còn học cả văn hóa giao tiếp, cách kết nối, cách đọc những tín hiệu không ai nói thẳng.

Sẽ có lúc bạn bước vào một căn phòng và thấy mình khác những người khác.

– Khác giọng nói.

– Khác nền tảng.

– Khác trải nghiệm.

– Khác cách người ta nhìn mình.

Nhưng cảm giác “không thuộc về” không phải lúc nào cũng là sự thật.

Đôi khi nó chỉ là dấu hiệu bạn đang bước vào một căn phòng lớn hơn phiên bản cũ của chính mình.

Hãy tin rằng “Mình cũng có quyền có mặt ở đây vì mình xứng đáng.”

  1. Đừng đánh mất bản thân chỉ để trở thành một “bác sĩ tốt.”

– Bạn có thể là bác sĩ, nhưng bạn vẫn là một con người.

– Bạn vẫn cần ngủ.

– Cần nghỉ.

– Cần bạn bè.

– Cần gia đình.

– Cần niềm vui.

– Cần một cuộc đời ngoài bệnh viện.

– Cần những ngày không phải gồng.

Nghề Y là một phần rất lớn của cuộc đời bạn.

Nhưng nó không nên nuốt chửng toàn bộ con người bạn.

Bởi vì một bác sĩ mất đi sự kết nối với chính mình, sớm muộn cũng sẽ khó kết nối sâu sắc với bệnh nhân.

Giữ lại một phần đời sống cho bản thân không làm bạn bớt tận tụy.

Nhưng có thể giúp bạn còn đủ đầy để tiếp tục tận tụy lâu dài.

  1. Thành công không chỉ là match được vào nội trú, tốt nghiệp, hay trở thành bác sĩ chính thức. Thành công là sau tất cả, có khi chỉ là vẫn còn muốn làm điều tử tế.

10 năm nhìn lại, mình nhận ra có rất nhiều cột mốc mình từng tưởng là “đích đến.”

– Tốt nghiệp trường Y.

– Vào nội trú

– Tốt nghiệp nội trú

– Trở thành bác sĩ chính thức

– Làm giảng viên

– Hướng dẫn thế hệ sau.

Mỗi cột mốc đều đáng tự hào.

Nhưng cột mốc quan trọng nhất có lẽ không nằm trên CV.

Mà là:

– Sau những năm tháng áp lực đó, mình có còn giữ được trái tim ấm áp không?

– Mình có còn nhìn bệnh nhân như một con người không?

– Mình có còn nhìn các bạn sinh viên với sự bao dung không?

– Mình có còn nhớ mình đã từng bắt đầu như thế nào không?

Bởi vì cuối cùng, nghề Y không chỉ thử thách kiến thức của mình.

Nó thử thách cả nhân cách, lòng kiên nhẫn, sự tử tế, và khả năng giữ mình không trở nên lạnh lùng sau quá nhiều mệt mỏi.

10 năm trước, mình nghĩ tấm bằng Y khoa là bằng chứng rằng mình đã đi rất xa.

10 năm sau, mình mới hiểu, đi xa không chỉ là có thêm chức danh, thêm kinh nghiệm, hay thêm những dòng trên CV.

Mà đôi khi đi xa là sau tất cả những áp lực, va vấp, mất ngủ, nghi ngờ bản thân, mình vẫn còn giữ được một trái tim đủ mềm để thương người, và một cái lưng đủ thẳng để tiếp tục bước tiếp.

Nhân dịp mùa tốt nghiệp năm nay, mình mến gửi đến các bạn tân bác sĩ hôm nay:

Chúc mừng các bạn. Các bạn không cần phải hoàn hảo ngay từ đầu. Chỉ cần đừng ngừng học, đừng ngừng trưởng thành, và quan trọng nhất là đừng để những thử thách của nghề Y khiến bạn quên mất lý do vì sao mình đã bắt đầu.

Welcome to Medicine!

Bạn nghĩ gì về những chia sẻ này? Hãy chia sẻ cho mình biết nhé.

Nếu bạn có người thân và bạn bè trong ngành Y, hãy chia sẻ bài viết cho họ.

Dr. Christina Nguyễn

Hình: Bs. Sidra Akhter và mình trước khi vào lễ tốt nghiệp.