GEORGE WASHINGTON VÀ KHOẢNH KHẮC ÔNG TỪ CHỐI TRỞ THÀNH VUA

My Lan Pham

Năm 1783, tại Newburgh, bang New York, George Washington đứng trước một lựa chọn có thể làm rẽ hướng lịch sử nước Mỹ.

Ông nắm trong tay sự trung thành tuyệt đối của quân đội ,đủ để chiếm lấy quyền lực tối cao. Nhưng ông đã chọn kết thúc chiến tranh và bảo vệ nền cộng hòa non trẻ, thay vì trở thành vị vua đầu tiên của nước Mỹ.

Khoảnh khắc ấy nguy hiểm hơn nhiều so với cách sách lịch sử thường kể lại.

Chiến tranh giành độc lập về cơ bản đã kết thúc, nhưng đất nước thì chưa ổn định. Quốc hội cạn tiền. Binh sĩ nhiều tháng, thậm chí nhiều năm không được trả lương. Sự phẫn nộ lan rộng trong quân đội. Một số sĩ quan bắt đầu bàn bạc việc kéo quân về Washington, giải tán chính quyền dân sự và trao quyền lực cho Washington như một nhà vua hoặc lãnh tụ quân sự.

Âm mưu ấy có tên gọi: Âm mưu Newburgh.

Mọi cuộc cách mạng đều có khoảnh khắc này ,nơi lý tưởng va chạm trực diện với quyền lực.

Washington hiểu rõ điều đó. Quân đội yêu mến ông. Ông đã cùng họ chịu đựng mùa đông khắc nghiệt ở Valley Forge, bệnh tật, đói khát và những thất bại cay đắng. Nếu ông muốn nắm quyền, không ai có thể ngăn cản. Nền cộng hòa khi ấy vẫn chỉ là một ý tưởng mong manh. Còn Washington thì là một con người thật, với quyền lực thật trong tay.

Ngày 15 tháng 3 năm 1783, Washington bước vào căn phòng nơi các sĩ quan đang chờ đợi.

Họ mong ông ủng hộ.

Họ mong ông nổi giận.

Họ mong ông cho phép.

Nhưng ông đã làm điều ngược lại.

Washington lên tiếng một cách điềm tĩnh. Ông bác bỏ âm mưu, nhắc nhở họ về mục tiêu của cuộc chiến và cảnh báo hậu quả nếu quân đội quay lưng lại với chính quyền dân sự. Căn phòng vẫn căng thẳng. Không ai lay chuyển.

Rồi Washington làm một điều không ai ngờ tới.

Ông lấy ra một lá thư để đọc. Ông nhìn xuống, dừng lại một chút, rồi đeo kính vào. Sau đó, ông nói chậm rãi:

“Thưa các ngài, xin hãy thứ lỗi cho tôi.

Tôi đã già đi trong sự phục vụ các ngài,

và giờ đây, đôi mắt tôi cũng không còn như trước nữa.”

Căn phòng lặng đi hoàn toàn.

Đó không phải là diễn xuất.

Đó là sự thật được nói ra đúng lúc.

Lần đầu tiên, các sĩ quan nhìn thấy cái giá của cuộc chiến hiện rõ trên chính cơ thể người chỉ huy của họ: tuổi trẻ đã mất, sức khỏe suy kiệt, một đời sống bị bào mòn bởi trách nhiệm. Washington không xin sự phục tùng. Ông nhắc họ rằng quyền lực không kiểm soát sẽ phá hủy chính điều họ đã chiến đấu để giành lấy.

Âm mưu Newburgh chấm dứt ngay trong khoảnh khắc đó.

Cuối năm ấy, Washington từ chức Tổng tư lệnh quân đội và trở về Mount Vernon. Vua George III của Anh, khi nghe tin này, đã nói rằng nếu Washington thật sự từ bỏ quyền lực, “ông ta sẽ là người vĩ đại nhất thế giới.” Đó không phải lời khen ,mà là sự kinh ngạc. Bởi quyền lực hiếm khi tự nguyện được đặt xuống.

Sau này, khi được mời làm Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, Washington chấp nhận một cách miễn cưỡng. Và rồi ông lại làm điều khác thường thêm một lần nữa: ông rời nhiệm sở sau hai nhiệm kỳ, dù không có điều luật nào buộc ông phải làm vậy. Ông hiểu rằng ở lại lâu hơn sẽ làm suy yếu nền cộng hòa mà ông góp phần tạo dựng.

George Washington không phải con người hoàn hảo.

Ông sở hữu nô lệ.

Ông từng đưa ra những quyết định quân sự sai lầm.

Ông có thể cứng rắn đến tàn nhẫn khi cho rằng sự sống còn của quốc gia bị đe dọa.

Chính vì thế, bài học từ ông không nằm ở sự hoàn hảo ,mà ở sự kiềm chế.

Sự vĩ đại của Washington không nằm ở việc giành chiến thắng.

Nó nằm ở chỗ ông biết khi nào phải buông tay khỏi quyền lực.

Đế chế được tạo ra khi lãnh đạo bám víu quyền lực.

Cộng hòa tồn tại khi họ biết rời đi.

George Washington không được nhớ đến chỉ vì ông đã thắng một cuộc chiến.

Ông xứng đáng được nhớ đến vì, khi chiến tranh kết thúc, ông từ chối trở thành thứ mà mình đã chiến đấu để lật đổ.

Theo True Stories

My Lan Phạm


 

CHUYẾN ĐI TRÊN LƯNG NGỰA TỪ HÀ NỘI TỚI ĐÀ NẴNG CỦA MỘT TỔNG THỐNG PHÁP

My Lan Pham

CHUYẾN ĐI TRÊN LƯNG NGỰA TỪ HÀ NỘI TỚI ĐÀ NẴNG CỦA MỘT TỔNG THỐNG PHÁP

Nhiều nhân vật nổi tiếng thế giới đã tới Việt Nam để khám phá vẻ đẹp của đất nước chúng ta. Nhưng ít người biết, một chính trị gia từng làm tới chức Tổng thống Cộng hòa Pháp, đã có chuyến đi dã ngoại suốt từ Hà Nội vào Đà Nẵng trên ngựa trong một tuần!

Người đó là ông Paul Doumer (1857-1932), Toàn quyền Đông Dương giai đoạn 1897-1902, sau là Tổng thống Pháp từ 1931-1932. Ông tiến hành chuyến đi nói trên, vì mục đích khám phá, không cần tiện nghi, khi mới sang Đông Dương nhậm chức chưa lâu.

Ông Doumer là chính trị gia thuộc nhóm cấp tiến tại Paris. Xuất thân trong gia đình lao động, ông tốt nghiệp cử nhân Toán học, sau đó lấy thêm bằng Luật rồi trở thành chuyên gia tài chính. Ông cũng là nhà báo. Năm 1895, ông là Bộ trưởng Tài chính.

Ông Doumer sang làm Toàn quyền Đông Dương khi mới 38 tuổi, để lại 5 người con đang học tập tại Paris. Sau này trong chiến tranh thế giới thứ nhất, 4 người con của ông đã hy sinh trong cuộc chiến đấu bảo vệ nước Pháp.

“NGỰA SẢI THẲNG ĐÉT”

Câu chuyện về chuyến đi suốt từ Bắc vào Trung của viên Toàn quyền được ông ghi lại trong cuốn hồi ký L’Indochine Française (Souvenirs) kể lại đoạn đường 800 km mà ông cùng người tùy tùng, thiếu tá Nicolas, trải qua (từ trang 232 đến 236). (1)

Thực ra không phải ông đi vì thú du sơn ngoạn thủy. Ông đi vì công việc. Ông muốn tự mình xem xét địa thế để xây dựng con đường xe lửa xuyên Đông Dương.

“Vào mùa khô ráo trên đất Bắc (Tonkin), tức tháng Giêng, tháng Hai dương lịch, có một lần tôi thử cưỡi ngựa chạy từ Hà Nội xuống đến Đà Nẵng, đường dài độ tám trăm cây số”, ông viết. “Ấy là tôi muốn tận mắt xem xét lấy phong cảnh và địa hình địa thế những nơi nào thuận tiện để đặt con đường sắt, phóng tàu hỏa xuyên Đông Dương, trước khi các kỹ sư chuyên môn dâng đồ án thiết kế cho tôi sau này. Tôi không cần nghi lễ đón tiếp long trọng, không cần cờ xí, kèn trống và tiệc tùng linh đình. Hành lý của viên võ quan hộ vệ của tôi, chỉ thu gọn lại trong một cái túi da (serviette) treo bên hông ngựa là đủ”.

Ông Doumer chỉ cần các quan Nam triều sắp đặt sao cho mỗi dịch trạm có ngựa khỏe thay cho ngựa mỏi, vài tên quân lính biết săn sóc ngựa và rành rẽ đường sá để chỉ dẫn nếu cần.

Chắc rằng ban đầu, các nhà cầm quyền Pháp đã nhắm hướng tuyến xe lửa vòng từ Phủ Lý xuống Nam Định, khi ông Doumer kể rằng: “Cho ngựa phi nước đại suốt Nam Định qua Ninh Bình, trải qua các tỉnh lị từ Thanh Hóa đến Nghệ An, có dừng chân vài chỗ để xem xét những vị trí nên đặt đường xe lửa sau này. Nhờ khí trời mát mẻ, phong cảnh quang đãng, ngựa sải thẳng đét, chạy được suốt ngày đến cả trăm cây số mà không biết mệt”.

Ông mô tả khá kỹ lưỡng khí hậu ở các vùng đất đi qua: “Qua đến địa phận Hà Tĩnh thì trời đổi khác. Hết nắng tới mưa dạt dào. Đã có mươi phen, chúng tôi phải dùng đến chiếc áo mưa che bằng cao su, nhưng hễ tạnh đôi chút thì phải cởi, vì áo nặng trĩu trên vai khó chịu. Mặc dù vậy, nhờ đất cứng, ngựa chạy không lún móng, nên vẫn phi được nước đại như thường”.

ƯỚT NHƯ CHUỘT LỘT

Qua những dòng nhật ký của Doumer, chúng ta cũng mới hình dung phong cảnh đèo Ngang hồi cuối thế kỷ 19:

“Đến dãy Hoành Sơn (Portes d’Annam) tức cửa ải để vào mấy tỉnh miền Trung, chúng tôi phải xuống ngựa đi bộ, leo triền núi dốc như thang đứng, tay nắm chặt sợi cương dắt ngựa, chân bước gập ghềnh, trời thì mưa tầm tã, rồi lại phải nương tay dắt ngựa xuống dốc, rồi gặp cả một vùng cát lún, nhưng cũng không có gì là khổ cực cho lắm.

Tuy nhiên, qua khỏi dãy Hoành Sơn thì khí hậu không còn như khí hậu xứ Bắc. Mưa ôi là mưa, nước ôi là nước. Nước từ trên trời rơi xuống, nước từ trong không khí thấm vào, nước từ dưới đất xông lên. Mưa như xối, mưa không dứt hột, mưa đầy đồng, đất mềm lún, nước chan hòa, ngựa không thấy đường… Khe rạch đều ngập.

Chưa đầy một giờ đi dưới cơn mưa trút nước này, những áo cao su của chúng tôi, tuy là thứ áo chắc chắn, chế tạo từ bên Pháp, đều thấm nước trở nên vô dụng. Nước mưa thấm vào vai, ướt dần vào, áo nỉ, áo lót đều ướt rượt, và từng giọt từng giọt, nước mưa chảy vào giày ống, biến nó thành “ống chứa nước”, hết còn là giày!

Tội nghiệp cho đôi ngựa, thấy nặng, chở thêm, rồi thấy thêm nặng vì đất thêm mềm, chân ngựa chạy lún, đất trở nên sình lầy, giữ chân ngựa lại”.

Đến thị xã Đồng Hới, trời vẫn mưa không ngớt, hai thầy trò nghỉ ngơi một giờ tại nha môn dinh Công sứ Quảng Bình, có cơm no, có lửa hơ sau lưng làm quần áo bớt ướt, rồi lại từ giã lên đường. Các khe suối đều tràn ngập, ngựa lội nước, ngập tới ức ngựa rồi tới bộ yên, khiến hai người “ướt như chuột lội” không còn chỗ nào có thể ướt thêm nữa. Sự mệt mỏi thể hiện qua từng dòng nhật ký:

“Chúng tôi cũng đã đi đến nước không còn thiết tha đến sự gì nữa, cũng không cần kéo chân lên, khi ngựa lội qua chỗ cạn cũng không cần tránh lúc ngựa làm nước văng tung tóe. Đến lúc hoàng hôn, chúng tôi đến một ngôi chùa dự định là nơi tá túc đêm này và cũng là nơi thay hai ngựa. Nhưng chỉ trơ trọi hai giường chõng bằng tre, vạt giường cũng bằng tre, chùa thì vách phên không có, trống trơn một nóc. Trời lạnh ở mức 8-10 độ, có thể ngủ lại trong bộ quần áo ướt rượt này không?”.

Vậy là hai thầy trò chỉ dừng chân nghỉ, rồi tiếp tục lên đường, vì tính toán khi ngựa chạy, máu huyết trong người cũng vận động, nên tuy dầm mưa, vẫn ấm người hơn.

Thầy trò ông Doumer đi suốt đêm không ngừng, tin cậy người lính An Nam đưa đường nói rằng biết đường rành rẽ. Hai ngựa cứ phi nước đại theo chân người lính trong màn đêm huyền bí, cho tới khi tới một nơi nghỉ chân mà theo dự kiến sẽ nghỉ vào sáng hôm sau. May là ngựa mới để thay đã có sẵn. Một chuyện đáng chú ý là khi người lính dẫn đường loay hoay chọn lối tại một ngã ba, nhiều dân làng (được báo trước là có quan lớn đi qua) đã đốt đuốc đưa đường dẫn quan Toàn quyền đi đến chốn. Khi tới trạm nghỉ, ông Doumer tặng họ mấy đồng bạc, họ đều lấy làm ngạc nhiên khi ông quan Tây to nhất xứ Đông Dương không những chịu dầm mưa dãi nắng mà còn đối xử tử tế với người phục dịch.

Đến một bến sông, cây cầu bị nước dâng ngập, trời tối không nhìn rõ, phải nhờ người vào làng tìm thuyền, ông tìm đến một túp lều sẵn có đống lửa.

Những dòng nhật ký cho thấy ông Doumer đúng kiểu là người rất thích hợp với các chuyến đi “bụi”, không nề hà chuyện thiếu tiện nghi:

“Tôi kéo lại gần nửa một cái ghế băng làm bằng cây tạp, bề ngang độ hai gang tay, rồi nằm trên băng ghế, quay mặt vào lửa. Ôi, nó êm khoái làm sao. Thật là sung sướng, hạnh phúc tràn trề… Tôi trở mình trên băng, cái băng vừa chật hẹp, tôi cố giữ thăng bằng rồi ngủ vùi lúc nào không hay.

Tôi dám khuyên các vị khách lữ hành, một khi đã chán chê với cảnh cực lạc nhung lụa của các nước văn minh, xin hãy nếm thử cảnh đìu hiu cô quạnh như tôi hôm nay vậy, họa may mới biết thú”.

Chiều hôm đó, thầy trò Doumer đến Huế, đồ hành lý chuyển theo tàu thủy đã đến nơi trước. Sau bữa tiệc chiêu đãi của Khâm sứ Trung kỳ, sáng hôm sau, thầy trò lại lên ngựa, chạy miết đến ba giờ chiều, hết quãng đường dài 110km đã sửa sang tốt đẹp, nối liền thành phố Huế, vượt đèo Hải Vân qua thành phố Đà Nẵng.

Như vậy, quãng đường 800km từ Hà Nội vào Đà Nẵng, ông Doumer cưỡi ngựa đi hết đúng một tuần.

MỘT NGƯỜI LIÊM KHIẾT VÀ KHÔNG VỤ LỢI

Tuy là người thay mặt nước Pháp cai trị cả 3 nước Đông Dương, nhưng ông là người không thích lễ nghi quan cách. Như lần triều đình Huế tiễn ông chính thức từ kinh đô vào Đà Nẵng để lên tàu đi công cán, cử phụ chánh đại thần Nguyễn Thân (ông viết “nhân vật đứng thứ 3 trong triều đình”) cùng đoàn tùy tùng võng lọng kèn nhạc hộ giá, với nghi lễ như của nhà vua tuần du, thì ông cùng sĩ quan tùy tùng quất ngựa chạy thẳng vào Đà Nẵng trước, để đoàn quân triều đình khiêng võng che tàn cho viên lính thủy đánh giày phục vụ Toàn quyền tên là Picard!

Paul Doumer là người để lại rất nhiều công trình có giá trị về nhiều mặt cho Việt Nam, như Viện Viễn đông Bác cổ, lập Trường Cao đẳng ở Hà Nội để học sinh không còn phải qua Trung Quốc học. Năm 1901, ông đã đến Đà Lạt và quyết định chọn nơi đây thành đô thị nghỉ mát cho người Pháp tại Đông Dương và tài trợ cho bác sĩ Yersin xúc tiến việc thành lập thành phố.

Ngoài ra ông còn là người rất chú trọng công tác xây dựng các công trình hạ tầng. Cùng với đường sắt xuyên Việt, ông còn để lại ba cây cầu ở ba miền là cầu Long Biên (sau được gọi tên là cầu Doumer), cầu Tràng Tiền, và cầu Bình Lợi cho xe lửa chạy ở Sài Gòn.

Ngoài ra, nhiều cây cầu khác cũng xuất hiện trong thời kỳ trị nhậm của ông như ở Hải Phòng, Hải Dương, Việt Trì, Lào Cai, cầu Hàm Rồng ở Thanh Hóa. Ông cũng là người chủ trương mở mang cảng Hải Phòng và xây dựng tuyến đường sắt lên Vân Nam để khai thác tài nguyên. Báo chí Pháp đã mỉa mai gọi ông là “người theo chủ nghĩa đường sắt”.

Dưới thời Paul Doumer, Hà Nội là một trong những thành phố đầu tiên tại Châu Á được lắp đặt hệ thống điện chiếu sáng, lập Trường Viễn Ðông Bác Cổ, nha khí tượng, nha địa chất, trường đại học Y Dược…

Ở miền Nam, năm 1901, ông còn cho khởi công con đường đá từ Sài Gòn đi Tây Ninh để thông thương với Campuchia. Tuy nhiên, để có tiền phục vụ các công trình này, ông cũng cho tăng các thứ thuế.

Henri Lamagat, tác giả cuốn Souvernirs d’un vieux Journalistre Indochinois, có nhận xét ông Doumer là “một nhân vật vĩ đại của nước Pháp và của thuộc địa Pháp, liêm khiết và không chút vụ lợi”. Ông Lamagat cho rằng ông Doumer chỉ có một lỗi duy nhất là chỉ chú tâm vun vén cho đất Bắc mà không bỏ phần cho đất Nam.

Từ năm 1902, sau khi về nước, với thành tích sáng chói ở Đông Dương ông lại sôi nổi tham gia hoạt động chính trị. Từ chức Chủ tịch Thượng viện, ông được bầu làm Tổng thống Pháp năm 1931, là tổng thống thứ 14 của Cộng hòa Pháp. Tuy nhiên, ngày 6.5.1932, Paul Doumer bị một người tâm thần là cựu y sĩ trong hồng quân Liên Xô tên là Gorguluff bắn, và qua đời vào ngày hôm sau, lúc đó ông 75 tuổi.

Là con của một công nhân đường sắt, những công trình đường sắt mà ông Doumer xây dựng trên đất Việt Nam hơn 100 năm qua, đến nay vẫn còn có giá trị lớn.

(1). Nhà xuất bản Vuibert & Nony, Paris in năm 1903. Đã được học giả Vương Hồng Sển dịch lại một số phần đăng trong cuốn di cảo “Dỡ mắm”, NXB Trẻ, 2014.

Chuyện của Sơn

Ảnh: Paul Doumer và vua Thành Thái năm 1899 và Thái Sơn lên màu


 

Khi tiếng Việt bị biến thành cháo loãng – Đoàn Xuân Thu

Đoàn Xuân Thu

Tiếng Việt xưa nay vốn giàu đẹp, phong phú như một khu vườn trăm hoa đua nở. Có những chữ lấp lánh như ngọc, có những thành ngữ sâu sắc như triết lý sống. Từ ca dao tục ngữ cho đến văn chương bác học, tiếng Việt từng đủ sức mô tả sự uy nghi của sông núi, vẻ thanh lịch của người Tràng An, hay nét mộc mạc của hoa nhài đầu ngõ.

Ấy vậy mà từ khi rơi vào tay tập đoàn cai trị cộng sản, vốn từ ngữ ấy bị mổ xẻ, băm nát, chế biến dở tệ như mâm cơm tập thể của hợp tác xã. Ngôn ngữ biến thành cháo loãng, sính chữ kêu, lười tư duy. Người dân thì học nói theo báo đài tuyên truyền, còn bọn văn nô, bồi bút thì tha hồ bịa đặt, xào nấu chữ nghĩa để ca tụng cái hũ mắm thối thành sơn hào hải vị.

1.“Hoành tráng” – đặc sản của dân hang Pắc Bó.
Ngày xưa, muốn khen bữa tiệc, người ta dùng “linh đình, thịnh soạn.” Nói đến cung điện thì “nguy nga, tráng lệ.” Áo quần thì “sang trọng, lộng lẫy.” Tiếng Việt phong phú như thế, nhưng nay tất cả bị nấu chảy thành một chữ “hoành tráng”: Bữa tiệc hoành tráng; Biệt thự hoành tráng; Đám cưới hoành tráng. Thậm chí… cái nhà vệ sinh công cộng cũng “hoành tráng” tuốt!

Nguồn gốc chữ này vốn là từ Hán, nghĩa là “bề thế.” Nó chẳng hề có trong từ điển tiếng Việt cổ điển. Những người tự xưng là “người ngàn năm văn vật” nào có văn vật, chỉ có dịch vật, xài bừa bãi đến mức hễ cái gì to xác, lòe loẹt cũng được tôn vinh là “hoành tráng.” Người Tràng An xưa thanh lịch, ví hoa nhài trắng muốt, hương thơm thoang thoảng mà bền lâu. Còn “người Tràng An” thời nay chỉ biết gào “hoành tráng” như tiếng chó tru sủa trăng.

2.“Giọng ca đẹp” – trò lai căng mù chữ bắt chước Mỹ.
Các giám khảo gameshow ngày nay thi nhau khen thí sinh: “Giọng ca đẹp quá!”
Giọng hát chỉ có thể truyền cảm, du dương, trong trẻo, trầm ấm, có ai nhìn thấy đâu mà đẹp? Người Mỹ nói “beautiful voice” với nghĩa bóng. Nhưng đám dốt nát bắt chước Mỹ bê nguyên cái chữ “đẹp” về, tưởng thế là sang. Trong khi người Việt xưa vốn có bao nhiêu cách ví von: “Giọng ngọt như mía lùi,” “Giọng trong veo như suối đầu nguồn,” “Giọng oanh vàng véo von.”

Người Tràng An xưa biết phân biệt mười mấy cung bậc cái đẹp. Còn dân bây giờ cầm nguyên cái chổi “đẹp” quét sạch vốn từ cả ngàn năm.

3.“Tặc hóa” – bệnh dịch văn nô bồi bút.

Hễ có gì xấu là dán chữ “tặc” vào: Cát tặc, lâm tặc, đinh tặc, cáp tặc, chó tặc. Một thứ trò đùa vô văn hóa. “Tặc” vốn chỉ kẻ cướp, quân giặc. Thế mà nay, bọn bồi bút bôi ra như mắm nêm, khiến người nghe phát ngấy. Nếu cứ đà này, chắc sớm muộn gì ta cũng nghe: “Wifi tặc” (xài ké mạng). “Phở tặc” (ăn phở mà quỵt tiền). “Tình tặc” (cướp người yêu).

Ngôn ngữ bị biến thành trò hề, còn trí tuệ thì teo tóp. Người Tràng An xưa vốn biết gọi tên cho đúng bản chất: kẻ gian là “trộm,” kẻ dữ là “cướp.” Chế thêm “tặc” cho oai, chẳng khác nào con ếch cố phồng bụng để thành con bò.

4.“Hơi bị ngon” – kiểu ngược đời của kẻ rỗng óc.

Giới trẻ ngày nay chuộng câu “hơi bị ngon.” Nghe thì tưởng mới mẻ, thực ra chỉ là trò ngu ngốc. “Hơi bị” vốn mang nghĩa xấu: hơi bị hư, hơi bị dở. Ghép với “ngon” thì thành một thứ câu què quặt. Trong khi đó, người Việt xưa chỉ cần nói: “Ngon tuyệt,” “Món này rất ngon.” Ngắn gọn, sáng sủa, đầy đủ. Thế mà nay, khen món ăn ngon cũng phải đánh đu ngữ pháp. Đúng là cái thói thích làm màu, rốt cuộc chỉ để lòi cái dốt.

5.Những thói sính chữ rởm đời.
Ngoài các thảm họa kể trên, xã hội còn đầy rẫy cách dùng chữ trật lất: “Động não” – nói như thể bình thường người ta xài… não chết. “Manh động” – một chữ Hán để thay cho “hung hăng,” dùng cho oai. “Trẻ em hòa nhập” – nói như trước đó tụi nhỏ bị cách ly khỏi loài người. Những kiểu chữ nghĩa rởm này mọc lên như nấm, làm báo chí CS đỏ tràn ngập những bản sao chép vô hồn.

Ngôn ngữ xuống cấp, trí tuệ xuống cấp theo. Và đó mới chính là bi kịch. Dân tộc nào đánh mất sự tinh tế trong ngôn ngữ, dân tộc đó tự đánh mất trí tuệ và bản sắc.

Ngôn ngữ dĩ nhiên phải thay đổi theo thời đại, nhưng thay đổi không có nghĩa là phá hoại. Sáng tạo không đồng nghĩa với lười biếng. Đã đến lúc cần trả lại tiếng Việt cho đúng bản sắc: Khen bữa tiệc thì nói “linh đình.” Ngợi ca giọng hát thì gọi “truyền cảm,” “du dương.”
Chỉ mặt kẻ gian thì gọi đúng là “trộm,” “cướp.” Ăn món ngon cứ thẳng thắn: “ngon tuyệt.”

Không sửa, mai này tiếng Việt sẽ chỉ còn là thứ cháo loãng, trong đó mọi hương vị đều bị hòa tan.

Đoàn Xuân Thu

Khi tiếng Việt bị biến thành cháo loãng

From: Phi Phuong Nguyen

Trong lúc bão tuyết đang đến, Trump lại mỉa mai biến đổi khí hậu

Ba’o Nguoi-Viet

January 24, 2026

WASHINGTON, DC (NV) – Tổng Thống Donald Trump, vốn lâu nay vẫn bày tỏ hoài nghi đối với đồng thuận khoa học về biến đổi khí hậu, một lần nữa bác bỏ quan ngại này khi ngụ ý rằng cơn bão tuyết khổng lồ dự kiến đổ bộ lên phần lớn nước Mỹ vào cuối tuần này mâu thuẫn với hành tinh đang ấm lên, Time cho biết vào Thứ Sáu, 23 Tháng Giêng.

“Đợt lạnh kỷ lục dự kiến sẽ ảnh hưởng đến 40 tiểu bang. Hiếm khi thấy chuyện này trước đây,” ông Trump viết trên Truth Social. “Những kẻ nổi dậy môi trường có thể vui lòng giải thích – bất cứ chuyện gì xảy ra với sự ấm lên toàn cầu???”

Một người đàn ông quét tuyết trong xe của mình ở Brooklyn sau trận bão tuyết trong đêm hồi cuối Tháng Mười Hai năm ngoái ở New York. (Hình minh họa: Spencer Platt/Getty Images)

Trận bão tuyết này được dự báo sẽ mang theo băng gây hại, tuyết dày và gió giật mạnh với hơn 230 triệu người trên khắp đất nước bị ảnh hưởng từ Thứ Sáu đến Thứ Hai tuần sau. Ít nhất 14 tiểu bang, cùng với thủ đô Washington, D.C., đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp.

Tuy nhiên, các chuyên gia khí hậu cho rằng suy nghĩ mùa đông tàn khốc kiểu này có nghĩa là không có biến đổi khí hậu, như ông Trump nói, là quan niệm sai lầm.

“Là một ‘người nổi dậy môi trường’ tự hào, thật bực mình khi phải giải thích chuyện này mỗi khi mùa đông đến,” ông Christopher Callahan, giáo sư về khoa học khí hậu tại đại học Indiana University Bloomington, nói. “Trái Đất vẫn có các mùa, và chúng ta sẽ có thời tiết mùa đông bất kể chuyện gì xảy ra với biến đổi khí hậu.”

Như Giáo Sư Callahan giải thích, hành tinh nghiêng trên trục của nó, đó là lý do tại sao chúng ta có các mùa khác nhau. Và thậm chí ngay giữa biến đổi khí hậu, Trái Đất vẫn có các thay đổi thời tiết ngày qua ngày.”

“Bởi vì biến đổi khí hậu rốt cuộc là hiện tượng lâu dài, có thể có những lúc không theo quy luật; có thể có những lúc lên lúc xuống nhưng về lâu dài nhiệt độ vẫn tăng lên,” ông Callahan nói.

Các chuyên gia đồng ý rằng, trung bình, biến đổi khí hậu khiến cho mùa đông ngắn hơn và ôn hòa hơn. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng biến đổi khí hậu có thể làm một số hiện tượng thời tiết cực đoan – như đợt nóng, mưa lớn, lũ lụt nghiêm trọng, hạn hán, cháy rừng cực đoan và bão – dữ dội hơn và thường xuyên hơn. Một số chuyên gia đưa ra giả thuyết rằng biến đổi khí hậu cũng có thể làm cho các cơn trận bão tuyết trở nên dữ dội hơn.

Nhưng điều mà nhà khoa học đồng ý là, khi bầu khí quyển của Trái Đất ấm lên, nó mang theo nhiều hơi ẩm hơn, dẫn đến mưa và tuyết nhiều hơn.” (NNL)


 

Đọc mà nước mắt rơi…

Cuộc Sống Hằng Ngày

Người mẹ gầy gò, bước đi khó nhọc bước vào phòng gặp con trai trong trại giam. Vừa nhìn thấy Hồ Duy Hải bước ra, bà Nguyễn Thị Loan đã bật khóc nức nở, không kìm được. Bàn tay run rẩy nắm chặt tay con, nỗi đau đớn và bất lực hiện rõ. Luật sư đứng bên lặng lẽ chứng kiến giây phút đoàn tụ đầy nước mắt ấy

Gần 18 năm qua, bà Loan bán hết nhà cửa, ruộng vườn, cùng con gái đi khắp nơi kêu oan cho con trai mình. ‘Còn một hơi thở cuối cùng, tôi cũng phải đòi lại công lý cho Hồ Duy Hải’.

Một người mẹ, một gia đình tan nát vì vụ án kéo dài, đầy tranh cãi. Hy vọng một ngày nào đó, công lý thực sự được thực thi, để bà Loan được ôm con trai ngoài tự do, không còn phải khóc trong những cuộc gặp tù tội nữa

#HoDuyHai #KeuOan #CongLyChoHoDuyHai #MeConDoanTu


 

Việt kiều Mỹ đòi lại nhà ở Sài Gòn: Bị ‘đánh úp’ trước ngày cưỡng chế

Ba’o Nguoi-Viet

January 21, 2026

SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Sau 17 năm đi kiện đòi lại căn nhà mặt tiền ở Sài Gòn nhờ một người bạn đứng tên, khi chuẩn bị được nhận lại nhà, ông Việt kiều Mỹ bất ngờ bị “đánh úp” vào phút chót.

Theo báo VnExpress hôm 21 Tháng Giêng, Viện Kiểm Sát Tối Cao vừa chấp nhận đề nghị của bà Huỳnh Thị Minh Thư và ra quyết định kháng nghị bản án phúc thẩm của Tòa Án TP.HCM về việc tuyên buộc bà Lê Thị Vựng và các con (trong đó có bà Thư) giao trả lại căn biệt thự số 10A Cửu Long, phường 2, quận Tân Bình, nay là phường Tân Sơn Hòa, cho ông Huỳnh Larry Hưng, còn gọi là Huỳnh Hưng Lợi, 74 tuổi, Việt kiều Mỹ.

Ông Huỳnh Larry Hưng đứng trước căn biệt thự mua 20 năm trước, chờ cơ quan thi hành án cưỡng chế bàn giao cho mình, nhưng bất ngờ buổi làm việc bị tạm hoãn. (Hình: Hải Duyên/VnExpress)

Viện Kiểm Sát Tối Cao đề nghị Hội Đồng Thẩm Phán Tòa Án Tối Cao hủy bản án của Tòa Án TP.HCM, giao hồ sơ cho Tòa Án Khu Vực 4 thụ lý xét xử lại.

Trong kháng nghị lần này, Viện Kiểm Sát Tối Cao tiếp tục xác định “tòa án cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hưng, buộc bị đơn phải giao trả nhà là có căn cứ,” song quá trình giải quyết vụ án “có vi phạm tố tụng.”

Cụ thể, “tòa án các cấp không đưa Ủy Ban Nhân Dân có thẩm quyền tham gia tố tụng về tranh chấp đất được công nhận chủ quyền; không xem xét yêu cầu của bị đơn về việc “tính công sức, bảo quản gìn giữ tài sản…”

“Tòa chưa làm rõ diện tích đất khuôn viên có nhiều thay đổi qua các thời kỳ, dẫn đến phán quyết thiếu cơ sở và khó thi hành án,” kháng nghị nêu.

Đây là lần thứ ba vụ án bị kháng nghị “đúng vào phút chót” khi Cơ Quan Thi Hành Án TP.HCM chuẩn bị cưỡng chế để bàn giao cho ông Huỳnh Larry Hưng căn biệt thự ước trị giá gần trăm tỷ đồng.

Như vậy, vụ án ông Hưng 17 năm mòn mỏi đòi nhà nhờ bạn thân đứng tên với sáu bản án sơ thẩm, phúc thẩm và hai quyết định giám đốc thẩm, có nguy cơ quay về vạch xuất phát, mặc cho các bản án trước đó đều xác định ông Hưng là chủ sở hữu hợp pháp căn nhà và buộc bà Vựng, vợ của người đứng tên giúp (người này hiện đã chết) và các con phải trả lại.

Theo báo Pháp Luật TP.HCM, hồi năm 1995, khi còn đang định cư Mỹ, ông Hưng bỏ tiền mua căn nhà trên rồi nhờ một người bạn đứng tên và trông coi giùm. Đến khi ông trở về Việt Nam, muốn lấy lại nhà thì vợ của người bạn này (bà Vựng) từ chối trả nhà, thời điểm đó bạn ông đã qua đời.

Năm 2009, ông Hưng bắt đầu hành trình gian nan đi kiện để đòi nhà.

“Nhà đất này được mua bằng tiền mà tôi tích lũy được sau những năm tháng lao động chân tay với đủ nghề nơi xứ người, chỉ mong có được chốn an cư khi trở về Việt Nam dưỡng già. Tuy nhiên, gần 20 năm qua, tôi phải đi ở nhờ để theo đuổi vụ kiện đòi lại nhà mình. Nay đã 74 tuổi, sức yếu, tôi không biết còn sống được bao lâu, chỉ mong lúc nhắm mắt xuôi tay được ở trong căn nhà của mình,” ông Hưng nói.

Ông Hưng cũng cho hay, trong suốt quá trình giải quyết vụ án qua nhiều lần xét xử, bà Vựng và gia đình không đưa ra yêu cầu cụ thể nào về công sức đối với tài sản đứng tên giúp.

Hồi năm 2024, phán quyết của Tòa Án TP.HCM tuyên, tài sản thi hành án là toàn bộ căn nhà và đất tọa lạc tại 10A Cửu Long, nằm trên khu đất rộng 466.61 mét vuông. Tuy vậy, kết quả xác minh thực tế thì căn nhà và đất nêu trên rộng đến 716.6 mét vuông.

Quá trình giải quyết vụ án, gia đình bà Vựng không hợp tác cho tòa án vào đo vẽ, nên tòa phải sử dụng các bản vẽ do gia đình bà Vựng đã đo vẽ được kiểm tra nội nghiệp để giải quyết vụ án.

Ông Huỳnh Larry Hưng mất 17 năm đi kiện đòi nhà. (Hình: An Bình/Pháp Luật TP.HCM)

Hôm 18 Tháng Mười Hai, 2025, Cơ Quan Thi Hành Án Dân Sự TP.HCM đã lên kế hoạch cưỡng chế bàn giao căn nhà cho ông Hưng, song phải dừng vào phút chót để “xem xét yêu cầu kháng nghị của người liên quan.”

“Tôi kiệt sức vì phải theo đuổi vụ án suốt 17 năm qua. Nếu Tòa Án Tối Cao chấp nhận kháng nghị lần này, tôi có thể không chờ được đến ngày nhận lại ngôi nhà của mình nữa,” ông Hưng ngao ngán nói. (Tr.N) [kn]


 

Chính trong sự vô hình ấy, bà đã cứu lấy ký ức của cả một dân tộc.

My Lan Pham

Trong suốt bốn năm dài, một người phụ nữ ngồi lặng lẽ trong một bảo tàng ở Paris, trong khi phát xít Đức cướp bóc hàng nghìn tác phẩm nghệ thuật ngay xung quanh bà.

Chúng không bao giờ ngờ rằng bà hiểu từng lời chúng nói.

Tháng 10 năm 1940. Bảo tàng Jeu de Paume vừa bị chiếm đóng và biến thành trung tâm đầu não của mạng lưới buôn bán nghệ thuật bị cướp bóc: tại đây, những kiệt tác bị tước đoạt từ các gia đình Do Thái được phân loại trước khi chuyển về Đức.

Và người phụ nữ tưởng chừng tầm thường vẫn tiếp tục làm việc giữa những bức tường ấy là ai?

Đối với chúng, bà vô hình. Chỉ là một nhân viên quèn. Im lặng. Vô hại.

Nhưng chúng đã nhầm.

Bà tên là Rose Valland. Khi đó bà 42 tuổi, được đào tạo tinh hoa tại Sorbonne và École du Louvre, nhưng lúc ấy chỉ mang danh một tình nguyện viên không lương — ít nhất là bề ngoài.

Thực chất, bà đã chấp nhận một sứ mệnh có thể khiến mình mất mạng: ở lại, quan sát và ghi chép mọi tội ác.

Trong khi phát xít đóng gói tranh của Cézanne, Monet, Renoir như những món hàng vô tri, bà âm thầm ghi chép.

Ngày qua ngày, Hermann Göring — cánh tay phải của Hitler — đã đến bảo tàng 21 lần để chọn những tác phẩm treo trong lâu đài của hắn. Rose luôn ở đó. Trông có vẻ phục tùng, nhưng thực chất là tỉnh táo và quan sát từng chi tiết.

Bà nói tiếng Đức hoàn hảo. Nhưng không ai biết điều đó.

Bà ghi lại số toa tàu, tuyến đường sắt, tên người, từng chi tiết nhỏ. Ban đêm, bà viết tất cả vào những cuốn sổ bí mật. Nếu bị phát hiện, bà sẽ bị xử bắn như một gián điệp.

Thế nhưng, bà chưa từng dừng lại. Bà chuyển thông tin cho lực lượng Kháng chiến, cứu được nhiều đoàn tàu và những kho báu vô giá khỏi bị hủy hoại.

Tháng 7 năm 1943, bà chứng kiến điều không tưởng: 500 bức tranh của Picasso, Miró, Klee bị phát xít thiêu rụi trên mái bảo tàng, bị gán nhãn là “nghệ thuật suy đồi”.

Rose không thể làm gì. Nhưng bà không quay mặt đi. Bà ghi nhận mất mát ấy và tiếp tục bước tiếp.

Năm 1944, khi phát xít tìm cách tháo chạy cùng chiến lợi phẩm, Rose biết mọi thứ: số thùng, điểm đến, giờ tàu chạy. Bà cung cấp toàn bộ cho Kháng chiến. Đoàn tàu bị chặn lại. Nghệ thuật được cứu.

Thế nhưng sau khi Paris được giải phóng, bà lại bị bắt: có nghi ngờ đối với những ai từng làm việc dưới thời chiếm đóng.

Rồi sự thật được phơi bày — và gây chấn động.

Rose sở hữu một hồ sơ tỉ mỉ: hơn 20.000 tác phẩm được ghi lại với ngày tháng, địa điểm và lộ trình. Một bản đồ kho báu để thu hồi những gì đã bị cướp đoạt.

Năm 1945, bà được phong hàm trung úy quân đội Pháp.

Bà từ chối mọi đặc quyền. Bà trực tiếp tham gia các nhiệm vụ thu hồi cùng nhóm Monuments Men. Nhờ bà, các kho cất giấu bí mật trong lâu đài, mỏ đá và boongke đã được phát hiện.

Năm 1946, tại các phiên tòa Nürnberg, Rose đứng lên đối diện Hermann Göring.

Chính người đàn ông đã phớt lờ bà suốt nhiều năm. Và bà đánh gục hắn bằng những bằng chứng chi tiết.

Cuối cùng, bà đóng vai trò then chốt trong việc thu hồi 60.000 tác phẩm nghệ thuật, trong đó 45.000 được trả lại cho chủ nhân hợp pháp.

Rose Valland chưa từng cầm súng.

Không đặt bom.

Không có hành động phô trương.

Sự kháng cự của bà là sự im lặng.

Nhưng mỗi dòng ghi chép là một hành động phản kháng.

Mỗi ánh nhìn là một nhát dao vào trái tim của chế độ.

Và chính trong sự vô hình ấy, bà đã cứu lấy ký ức của cả một dân tộc.

Chia sẻ từ Magazine Fanpage

My Lan Phạm


 

CHUYỆN TÌNH SAU NGÔI MỘ CỔ CỦA CON TRAI NGƯỜI “GIÀU NHẤT TRỜI NAM”

Hai pho tượng, vợ trước mộ chồng và chồng trước mộ vợ

Hai bên hông thánh đường nhà thờ Hạnh Thông Tây nổi bật lên trước mắt mọi người những pho tượng đầy giá trị nghệ thuật và vô cùng sống động.

Từ ngoài vào, phía bên trái là bức tượng người phụ nữ quỳ trên gối, hai tay cầm 2 bó hoa huệ ôm choàng lấy tấm bia mộ. Đầu bà để trần, tóc búi cao, đầu hơi chếch hướng vào ngôi mộ phía sau.

Chiếc áo dài trên người bà bình dị. Trên cổ bà đeo sợi dây chuyền có mặt ngọc, dưới chân mang dép mũi hài…

Tượng trông như người thật khiến tôi ngẩn ngơ. “Anh có biết pho tượng này là ai không?”. Tôi quay người nhìn lại, đó là một cụ già.

Cụ cho biết, người phụ nữ ôm tấm bia là bà Trần Thị Thơ. Bà Thơ là vợ ông Lê Phát An – người nằm trong ngôi mộ phía sau. Từ đây nhìn thẳng sang phía đối diện, một người đàn ông đầu đội khăn đóng, mặc áo dài quỳ trên gối.

Trước gối quỳ có đặt bó hoa. Ông có ria mép và đôi mày rậm. Hai bàn tay ông không chấp lại mà lại đan vào nhau. Nét mặt ông thành kính, đôi mắt nhìn vào tấm bia như muốn thì thầm trò chuyện.

Người đàn ông ấy là ông Lê Phát An và người trong nấm mộ chính là vợ ông, bà Trần Thị Thơ. Cả hai pho tượng đều được làm bằng đá cẩm thạch trắng và mộ bằng đá hoa cương.

Tác giả của 2 ngôi mộ và 2 pho tượng này là hai nhà kiến trúc và điêu khắc nổi tiếng người Pháp là A.Contenay và Paul Ducuing. Hai ông đã thể hiện đầy đủ nét đặc trưng miền Nam qua chân dung của ông bà Lê Phát An.

Hai pho tượng, vợ trước mộ chồng và chồng trước mộ vợ đã nói lên tình cảm của 2 người lúc sinh thời. Trước mộ ông Lê Phát An có tượng bà mặc áo dài quỳ gối dâng bó hoa và cầu nguyện cho ông. Bên mộ bà Trần Thị Thơ thì có tượng của ông mặc áo dài quỳ phục dâng bó hoa và cầu nguyện cho bà.

Với nét tạc tượng điêu luyện, hai pho tượng nhìn vào rất sống động và toát lên được những tình cảm mà người thực hiện muốn phục dựng. Qua những dòng chữ khắc trên bia mộ chúng ta có thể nhẩm tính ra ông hơn bà 4 tuổi nhưng lại mất sau bà đến 14 năm.

*GẢ CHÁU GÁI CHO VUA*

Sinh ra trong gia đình giàu có nhất Đông Dương, ông Lê Phát An (1868-1946) là một phú hộ nổi tiếng thập niên 1930-1940 ở miền Nam. Cha ông là Lê Phát Đạt, còn gọi là Huyện Sĩ, là người đứng đầu của 4 người giàu nhất trong câu “Nhất Sĩ ( Sỹ) , Nhì Phương, Tam Xường, Tứ Hỏa”.

Ông Huyện Sĩ có cách giáo dục con cái rất nghiêm. Những người con của ông dù trai hay gái đều là những người thông minh, hiểu biết và biết phát huy tiềm lực kinh tế của gia đình.

Ông Lê Phát An từng được gia đình cho du học bên Pháp. Sau khi về nước, ông đã cùng vợ chồng người em là Lê Thị Bính lên Đà Lạt mở đồn điền trồng trà và cà phê. Người em này có một cô con gái vừa xinh đẹp vừa giỏi giang.

Theo nhiều tài liệu còn ghi lại, trong thời gian ở Đà Lạt, ông nhận được giấy mời của Đốc lý thành phố Đà Lạt là ông Darle. Darle mời ông An và cô cháu gái xinh đẹp đến dự dạ tiệc ở khách sạn Palace. Đặc biệt trong buổi dạ tiệc này có vua Bảo Đại tham dự.

Cháu gái ông – Nguyễn Hữu Thị Lan – không muốn dự nhưng được ông thuyết phục cũng đã miễn cưỡng đồng ý đến. Cô trang điểm nhẹ và mặc chiếc áo bình thường bằng lụa đen đến dự tiệc.

Nhờ được học qua các lễ nghi, cô Lan đã đến trước mặt hoàng thượng và hành lễ. Vua chào lại. Cũng vừa lúc ấy điệu nhạc tango vang lên. Vua mời cô cùng nhảy. Mối quan hệ bắt đầu nẩy nở từ đó cho đến năm 1934, Nguyễn Hữu Thị Lan trở thành Hoàng hậu Nam Phương.

Ngày cưới – cậu của hoàng hậu – ông An đã gởi đến cháu món quà mừng một triệu đồng bạc Đông Dương. Số tiền này tương đương với 20.000 lượng vàng.

Sau đó, Vua Bảo Đại đã phong tước An Định Vương, tước hiệu cao quý nhất của triều đình và chỉ phong cho một người duy nhất ở miền Nam thuộc hàng dân dã cho ông Lê Phát An.

Tuy có tước hiệu của triều đình nhưng ông An vẫn là một điền chủ. Ông được cha giao cho cai quản một khu đất rộng lớn ngày nay thuộc quận Gò Vấp, .

Nhờ biết làm ăn, ông đã đưa vùng đất này phát triển đến mức cực thịnh. Những việc làm của ông luôn được người dân đồng tình và ủng hộ. Vì là người có tước hiệu cao nhất trong triều đình, ông gặp nhiều thuận lợi trong việc thực hiện các chính sách đổi mới nhằm đưa mức sống của người dân lên cao.

Năm 1921, ông bỏ tiền ra thuê nhà thầu Baader và nhà thầu Lamorte xây dựng nhà thờ Hạnh Thông Tây trong 3 năm mới hoàn thành. Ngày 18/1/1932 bà Trần Thị Thơ mất. Sau 14 năm , ngày 17/9/1946, ông Lê Phát An qua đời.

Để ghi lại công ơn của đôi vợ chồng trong việc xây dựng ngôi nhà thờ, ông bà được an táng ngay bên trong thánh đường với những pho tượng tuyệt đẹp…

Bích Hải Trần.


 

Cô bé ấy từng bị bán với giá 5 đô la trong một trại tị nạn…

My Lan Pham

Cô bé ấy từng bị bán với giá 5 đô la trong một trại tị nạn, rồi sau đó trở thành người phụ nữ khiến cả thế giới phải dừng lại và lắng nghe.

Trước khi là Waris Dirie, cô chỉ là một bé gái du mục trong sa mạc Somalia, một trong mười hai người con sinh ra trong một gia đình sống nay đây mai đó cùng lạc đà và dê, tồn tại nhờ sữa và sức chịu đựng. Khi mới năm tuổi, mẹ cô giữ chặt cô lại trong khi một người phụ nữ khác dùng dao lam thực hiện cắt xén bộ phận sinh dục nữ. Không có thuốc mê. Không có bệnh viện. Chỉ có nỗi đau không thể tưởng tượng nổi ,  nỗi đau sẽ ám ảnh cơ thể cô suốt cả đời.

Năm mười ba tuổi, cha cô thông báo rằng cô sẽ bị gả cho một người đàn ông sáu mươi tuổi để đổi lấy năm con lạc đà. Waris đã đưa ra một lựa chọn lẽ ra có thể giết chết cô: cô bỏ trốn, một mình, băng qua sa mạc Somalia vào ban đêm. Cô đi bộ suốt nhiều tuần lễ không thức ăn, không nước uống, không bản đồ. Cô bị sư tử rượt đuổi. Suýt chết vì mất nước. Nhưng cô vẫn tiếp tục bước đi, được thúc đẩy bởi thứ mạnh mẽ hơn cả nỗi sợ ,sự từ chối chấp nhận cuộc đời mà người khác đã áp đặt lên mình.

Cuối cùng, cô đến được Mogadishu, rồi sang London, nơi cô sống cùng những người họ hàng xa và làm giúp việc nhà. Cô không biết tiếng Anh. Không có học vấn. Ban ngày cô lau dọn nhà cửa, ban đêm tự học đọc chữ. Và rồi, trong một khoảnh khắc tưởng chừng như không thể có thật, cô được một nhiếp ảnh gia thời trang phát hiện khi đang làm việc tại McDonald’s vào năm 1987.

Chỉ trong vài tháng, Waris Dirie trở thành siêu mẫu quốc tế, xuất hiện trên trang bìa của Vogue, Elle và Glamour. Cô sải bước trên các sàn diễn ở Paris, Milan và New York. Cô xuất hiện trong một bộ phim James Bond. Thế giới thời trang tôn vinh vẻ đẹp lạ lẫm của cô, những đường nét sắc sảo, và sự “lột xác” ngoạn mục từ vô danh thành nổi tiếng toàn cầu.

Nhưng Waris mang trong mình một bí mật mà cô chưa từng kể với bất kỳ ai trong cuộc sống mới ấy. Những vết sẹo thể xác và tinh thần từ nạn cắt xén sinh dục nữ vẫn còn đó. Chấn thương luôn hiện diện, ẩn dưới những bộ váy hàng hiệu và ánh đèn máy ảnh. Và cô không thể ngừng nghĩ đến hàng triệu bé gái khác đang phải chịu đựng điều mà cô đã sống sót.

Năm 1997, ở đỉnh cao sự nghiệp người mẫu, Waris đã làm một việc khiến cả ngành thời trang chấn động: cô công khai nói về nạn cắt xén sinh dục nữ trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí Marie Claire. Cô kể với cả thế giới chính xác những gì đã xảy ra với mình khi mới năm tuổi. Cô mô tả nỗi đau, những biến chứng y tế kéo dài suốt đời, và tổn thương tâm lý. Cô gọi tên một tập tục đã được che giấu trong im lặng văn hóa suốt nhiều thế kỷ.

Phản ứng từ công chúng là cực kỳ dữ dội. Người quản lý của cô cảnh báo rằng sự nghiệp của cô sẽ kết thúc. Một số người trong cộng đồng của cô cáo buộc cô phản bội văn hóa Somalia. Nhưng cũng có một điều khác xảy ra: phụ nữ trên khắp thế giới bắt đầu lên tiếng. Những người sống sót bắt đầu chia sẻ câu chuyện của họ. Tập tục vốn được bảo vệ bởi sự xấu hổ và im lặng bỗng dưng bị đưa vào ánh sáng toàn cầu.

Waris không dừng lại. Năm 1997, cô trở thành Đại sứ Đặc biệt của Liên Hợp Quốc về việc loại bỏ nạn cắt xén bộ phận sinh dục nữ. Cô viết tự truyện Desert Flower, trở thành bestseller quốc tế và sau đó được chuyển thể thành phim. Năm 2002, cô thành lập Quỹ Desert Flower, dành riêng cho việc loại bỏ FGM và giúp những người sống sót tiếp cận chăm sóc y tế và tâm lý.

Hoạt động vận động của cô đã góp phần thay đổi luật pháp. Nhiều quốc gia châu Âu tăng cường luật chống FGM. Các quốc gia châu Phi lâu nay phớt lờ vấn đề bắt đầu ban hành lệnh cấm. Liên Hợp Quốc cũng đã công bố ngày 6 tháng 2 là Ngày Quốc tế “Không khoan nhượng” đối với nạn cắt xén bộ phận sinh dục nữ, một phần nhờ vào chiến dịch không mệt mỏi của cô.

Bạn có thể tưởng tượng đứng trên sàn diễn thời trang, nơi mọi người tôn vinh cơ thể bạn, trong khi bạn mang trong mình nỗi biết rằng thứ gì đó đã bị tước đoạt một cách bạo lực? Bạn có thể tưởng tượng đánh đổi tất cả những gì bạn đã xây dựng để nói ra một sự thật khiến người ta cảm thấy khó chịu?

Những con số chỉ phản ánh một phần câu chuyện: ước tính có khoảng 200 triệu bé gái và phụ nữ hiện đang sống đã trải qua FGM. Nhưng nhờ Waris và phong trào mà cô giúp khởi xướng, tỷ lệ này đang giảm. Ở một số quốc gia, tập tục này đã giảm hơn một nửa chỉ trong một thế hệ.

Waris Dirie không chỉ sống sót qua chấn thương ,cô đã biến nó thành một phong trào toàn cầu. Cô biến nỗi đau vốn định im lặng thành tiếng nói cho hàng triệu người. Cô chứng minh rằng đôi khi điều mạnh mẽ nhất bạn có thể làm là từ chối giữ bí mật xấu hổ của người khác.

Ngày nay, cô tiếp tục công việc vận động, chia thời gian giữa châu Âu và châu Phi. Cô không còn là cô bé mười ba tuổi sợ hãi chạy qua sa mạc. Cô cũng không chỉ là siêu mẫu rời bỏ danh vọng. Cô là người phụ nữ đã nhìn thẳng vào hàng thế kỷ bạo lực được bình thường hóa và nói: “Chuyện này kết thúc ở thế hệ của tôi.”

Cô từng bị bán với giá năm con lạc đà. Rồi cô trở thành vô giá.

Chia sẻ từ trang Virgins

My Lan Phạm


 

Hoan hô Đinh Văn Nơi – Nói được làm được!

Cuộc Sống Hằng Ngày

 Hoan hô Đinh Văn Nơi – Nói được làm được!

95 triệu dân Việt Nam đang chờ đợi vụ án này. Hàng chục năm lặng im, không ai giúp đỡ Hồ Duy Hải…

Bỗng nhiên Đinh Văn Nơi xuất hiện, bằng chứng được gửi tận tay Chủ tịch nước Lương Cường, khiến Nguyên H. Bình đứng ngồi không yên. Đinh Văn Nơi tiếp nhận và đưa ra, khiến dư luận đặc biệt chú ý!

Vụ án kéo dài hàng chục năm nay đang đứng trước những tình tiết có thể thay đổi cục diện.

Người dân kỳ vọng sự thật được soi chiếu đầy đủ, công lý không bị bỏ quên.

Với một con người, 20 năm tuổi xuân đã mất là không gì bù đắp được…

#HoDuyHai #CongLy #KieuOan #DinhVanNoi


 

Nguyễn Quốc Khải: Trump: Không có giải thưởng, không có hòa bình

Tiếng Dân News

Nguyễn Quốc Khải: Trump: Không có giải thưởng, không có hòa bình

Trong bức thư gửi cho Thủ Tướng Jonas Gahr Støre của Na Uy vào cuối tuần vừa qua, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump than phiền rằng, vì Na Uy không cho ông giải thưởng Hòa Bình, nên ông chỉ nghĩ đến quyền lợi của nước Mỹ, không cần phải tranh đấu cho hòa bình nữa. Lập trường của Trump là “No prize, No Peace”.

Ông ta viết nguyên văn trong thư như sau: “Xét thấy đất nước của các vị đã quyết định không trao cho tôi giải Nobel Hòa Bình dù [tôi] đã ngăn chặn hơn 8 cuộc chiến, tôi không còn cảm thấy có nghĩa vụ phải chỉ nghĩ đến hòa bình nữa, mặc dù hòa bình sẽ luôn là ưu tiên hàng đầu, giờ đây tôi có thể nghĩ đến những điều tốt đẹp và phù hợp cho Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ”.

Trump thực sự bị ám ảnh một cách điên cuồng về giải Nobel. Ông ta đã không hiểu được rằng Ủy Ban Nobel Na Uy, chứ không phải chính phủ Na Uy và chắc chắn không phải chính phủ Đan Mạch, mới là những người quyết định ai chiến thắng giải thưởng đó. Tuy nhiên, giờ đây ông không những đổ lỗi cho Na Uy vì đã không trao giải thưởng đó cho ông ta, mà còn sử dụng điều đó như một lý do để biện minh cho việc xâm lược Greenland.

Trump tuyên bố xạo láo rằng ông ta đã ngăn ngừa được hơn 8 cuộc chiến tranh trong nhiệm kỳ II. Tuyên bố của Donald không chính xác dựa trên thông tin từ cuối năm 2025 và đầu năm 2026. Mặc dù chính quyền Trump đã tuyên bố “chấm dứt 8 cuộc chiến tranh trong 8 tháng” (bao gồm Israel-Hamas, Israel-Iran, Rwanda-Cộng hòa Dân chủ Congo, Thái Lan-Campuchia, Pakistan-Ấn Độ, Armenia-Azerbaijan, Ai Cập-Ethiopia và Serbia-Kosovo), nhưng các chuyên gia kiểm chứng thông tin đã phát hiện ra rằng, đây là một sự phóng đại.

Trong một số trường hợp, giao tranh vẫn tiếp diễn bất chấp các thỏa thuận hòa bình. Trong một số cuộc xung đột, chẳng hạn như giữa Ấn Độ và Pakistan, các quan chức địa phương cho biết, mức độ can thiệp của ông Trump rất giới hạn. Một số cuộc xung đột được liệt kê là những tranh chấp kéo dài, cường độ thấp hoặc tranh chấp ngoại giao chứ không phải là những cuộc chiến tranh toàn diện, quy mô lớn. Các cuộc xung đột lớn ở Trung Đông vẫn tiếp diễn, và công việc giải quyết tình hình ở Gaza vẫn đang được tiến hành cho đến năm 2026.

Trong cùng bức thư, Trump xem ra không công nhận Greenland thuộc chủ quyền của Đan Mạch. Ông ta viết nguyên văn như sau:

“Đan Mạch không thể bảo vệ vùng đất đó khỏi Nga hoặc Trung Quốc, và tại sao họ lại có ‘quyền sở hữu’ vùng đất đó? Không có bất kỳ văn bản nào chứng minh điều đó, chỉ có một con thuyền cập bến ở đó cách đây hàng trăm năm, nhưng chúng tôi cũng từng có thuyền cập bến ở đó”.

Về mặt pháp lý, Greenland là một phần của Vương Quốc Đan Mạch nhưng hoạt động như một lãnh thổ tự trị với quyền tự quản rộng rãi, nghĩa là họ quản lý hầu hết các vấn đề nội bộ trong khi Đan Mạch phụ trách chính sách đối ngoại, quốc phòng và tiền tệ. Người dân Greenland là công dân Đan Mạch và có con đường dẫn đến độc lập thông qua Đạo luật Tự trị năm 2009, trong đó nếu có yêu cầu một cuộc trưng cầu dân ý và sự chấp thuận của Quốc Hội Đan Mạch để tách khỏi Đan Mạch hoàn toàn.

Vương Quốc Đan Mạch bao gồm ba phần: Đan Mạch, Quần đảo Faroe và Greenland. Tất cả đều nằm dưới sự cai trị của cùng một vị vua, nhưng hai quốc gia sau được hưởng quyền tự trị rộng rãi trong các vấn đề nội bộ. Liên minh này được gọi là Vương Quốc Đan Mạch (tiếng Đan Mạch: Rigsfællesskabet). Tiếng Đan Mạch là ngôn ngữ chính trên cả ba vùng.

Vương quốc Đan Mạch đã tồn tại hơn 1000 năm, với chế độ quân chủ thống nhất có nguồn gốc từ vua Viking Gorm the Old (mất khoảng năm 958) và Harald Bluetooth (người đã thống nhất Đan Mạch và du nhập Kitô giáo khoảng năm 965 sau Công nguyên). Đây là một trong những chế độ quân chủ liên tục lâu đời nhất châu Âu, mặc dù lãnh thổ và quyền lực của nó đã thay đổi đáng kể thông qua các liên minh (như Liên minh Kalmar) và các cuộc chiến tranh, và cuối cùng phát triển thành chế độ quân chủ lập hiến vào năm 1849.

Một lần nữa, trong bức thư Trump không quên nhắc tới tham vọng chiếm Greenland vì lý do an ninh của Hoa Kỳ và một phần vì Đan Mạch không đủ sức chống lại Nga và Trung Quốc. Ông viết: “Tôi đã làm nhiều hơn cho NATO so với bất kỳ người nào khác kể từ khi tổ chức này được thành lập, và giờ đây, NATO nên làm điều gì đó cho Hoa Kỳ. Thế giới sẽ không an toàn trừ khi chúng tôi kiểm soát hoàn toàn và tuyệt đối Greenland”.

Căng thẳng liên quan đến Greenland đã leo thang mạnh mẽ trong tuần qua, và thư của Trump đã tạo thêm mức độ bất ổn mới trong chiến dịch nhằm giành quyền kiểm soát hòn đảo này.

Trong một cuộc phỏng vấn ngắn qua điện thoại với NBC News, Donald Trump đã không loại trừ khả năng chiếm Greenland bằng vũ lực. Ông nói “Không bình luận”. Ông nhấn mạnh rằng ông sẽ “100%” tiếp tục thực hiện kế hoạch áp thuế đối với các quốc gia châu Âu nếu ông không có được Greenland”.

Chiến tranh nóng liên quan đến Greenland đang chuyển thành chiến tranh thương mại giữa Hoa Kỳ và Liên Âu. Trong khi đó, Trung Quốc kêu gọi Mỹ ngừng sử dụng cái gọi là “mối đe dọa từ Trung Quốc” làm lý do để áp thuế đối với các quốc gia châu Âu, những nước đã phản đối kế hoạch mua lại Greenland của Trump.

Cuối năm 2018, Trump yêu cầu Cố vấn An ninh Quốc gia John Bolton, xem xét một ý tưởng do một doanh nhân nổi tiếng đưa ra: Liệu Hoa Kỳ có nên mua Greenland hay không. Bolton nói, ông không xem xét vấn đề này. Ông nhớ lại mình đã nói: “Chúng ta có những lợi ích chiến lược quan trọng ở đó”.

Theo cựu Cố vấn An ninh Quốc gia John Bolton, doanh nhân đề nghị Donald Trump mua Greenland là Ronald Lauder, người thừa kế tập đoàn Mỹ phẩm Estée Lauder. Ông Lauder đưa ra ý tưởng này cho Trump trong nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên. Lauder là một người bạn lâu năm của Trump và là một nhà tài trợ lớn, đã đề nghị làm trung gian liên lạc với chính phủ Đan Mạch để đàm phán, mặc dù sau đó Trump lại nhận ý tưởng này là của mình.

Khi báo Wall Street Journal đăng tải câu chuyện này hồi tháng 8 năm 2019, “mọi chuyện bắt đầu tệ đi từ đó,” Bolton nhớ lại. Thủ Tướng Đan Mạch Mette Frederiksen gọi ý tưởng mua Greenland của Trump là “vô lý”. Trump gọi tuyên bố của thủ tướng là “xấu xa” và “không phù hợp”. Trump bảo Bolton hủy chuyến thăm Copenhagen.

Tuy nhiên, tám năm sau, việc Trump theo đuổi Greenland đã trở thành trọng tâm trong nhiệm kỳ tổng thống thứ hai của ông. Trong những ngày gần đây, ông đã tăng cường áp lực lên các nhà lãnh đạo châu Âu nhằm giành quyền kiểm soát hòn đảo lớn nhất thế giới này cho Hoa Kỳ.

Trump là một người có mong tham vọng bành trướng lãnh thổ và việc chiếm Greenland nằm trong tham vọng đế quốc này. James Polk, tổng thống thứ 11 của Mỹ, vào giữa thế kỷ 19, đã thực hiện mở rộng lãnh thổ lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Trump đã treo bức chân dung của Polk trong Phòng Bầu Dục.

James Polk đã mở rộng lãnh thổ nước Mỹ một cách đáng kể thông qua việc theo đuổi mạnh mẽ học thuyết “Vận Mệnh Hiển Nhiên” (Manifest Destiny), bằng cách sáp nhập Texas, giải quyết vấn đề biên giới Oregon với Anh và giành chiến thắng trong Chiến Tranh Mỹ-Mexico, dẫn đến việc Mexico nhượng lại California, New Mexico và nhiều vùng lãnh thổ khác, mở rộng lãnh thổ Hoa Kỳ từ Đại Tây Dương đến Thái Bình Dương và thêm vào diện tích hơn một triệu dặm vuông.

Thế kỷ 21 hoàn toàn khác biệt với thế kỷ 19. Điều đáng sợ là Trump không có kiến thức về lịch sử. Các nhà phê bình và các sử gia thấy rõ điều này qua những phát ngôn sai lầm của Trump về các nhân vật như Lincoln (không biết ông ấy là đảng viên Cộng Hòa), hay Nhà Trắng từng bị Canada, không phải Anh, đốt cháy và sự thiếu hiểu biết về các sự kiện phức tạp như nội chiến Mỹ. Ông từng mạnh mẽ bảo vệ các biểu tượng của Liên Minh Miền Nam và tấn công các dự án nghiên cứu lịch sử về vấn đề chủng tộc.

Sau khi thắng cử năm 2024, ngay lập tức Trump hướng sự chú ý đến việc mua lại Greenland của Đan Mạch, theo những người tham gia vào các cuộc thảo luận. Trump ám chỉ rằng nếu Đan Mạch không từ bỏ quyền kiểm soát Greenland, ông có thể sẽ dùng vũ lực để chiếm lấy.

Theo các thỏa thuận của NATO, Hoa Kỳ có thể đóng quân và triển khai các khí tài quân sự ở Greenland tùy thích. Việc chiếm Greenland không dễ và không cần thiết. Trump đang làm cho mối quan hệ của Hoa Kỳ với các đồng minh thân cận nhất trở nên xấu đi và bắt đầu một cuộc chiến thương mại tàn khốc.

Cuối tuần qua, hàng ngàn người tập trung trước Đại sứ quán Mỹ ở thủ đô Copenhagen của Đan Mạch và thủ đô Nuuk của Greenland để biểu tình phản đối tham vọng đế quốc của Trump đối với Greenland. Một số người đội những chiếc mũ đỏ nhại lại khẩu hiệu nổi tiếng MAGA với dòng chữ “Make America Go Away” (Làm cho Mỹ biến đi).

Nếu Trump có chiếm được Greenland (xác suất 0%), an ninh của Mỹ cũng sẽ bị suy yếu vì Mỹ có thể mất các căn cứ ở lục địa Âu châu, mất luôn cả hai nước láng giềng gần, mất cả sự tin cậy của đồng minh. Sau canh bạc này, Trump và Mỹ trắng tay, khó có thể khôi phục lại NATO như xưa. Đó là cái giá phải trả vì dân Mỹ đưa một nhân vật đần độn và điên khùng lên làm tổng thống.

Nếu Trump phải chiếm Greenland vì an ninh của Mỹ, Nga cũng sẽ nêu lý do tương tự để chiếm Ukraine, và Trung Quốc cũng có cớ để chiếm Đài Loan. Ảnh hưởng dây chuyền sẽ tiếp diễn không bao giờ ngừng. Sau Greenland sẽ là Canada và Mexico. Sau Ukraine sẽ là các nước Baltic. Sau Đài Loan sẽ là Việt Nam và Phi Luật Tân. Tóm lại, cá lớn sẽ nuốt cá bé và thế giới sẽ hỗn loạn.

Các dân biểu Cộng Hòa thường không muốn công khai phản đối tổng thống, người đã nhiều lần kêu gọi loại bỏ những người bất đồng chính kiến ​​trong đảng khỏi chức vụ. Sau nhiều cuộc thăm dò dư luận đều cho thấy, hầu hết công chúng Mỹ phản đối việc mua Greenland hay chiếm hòn đảo này bằng võ lực. Các nhà lập pháp Cộng Hòa đã thay nhau chỉ trích ý kiến điên rồ của Trump.

Thượng nghị sĩ Thom Tillis (Cộng Hòa, North Carolina) phát biểu trong bài diễn thuyết trước Thượng viện tuần vừa qua: “Ý nghĩ rằng Hoa Kỳ sẽ chiếm Greenland, một lãnh thổ tự trị thuộc Vương quốc Đan Mạch, là điều vô lý. Ai đó cần phải nói với tổng thống rằng người dân Greenland, cho đến thời điểm hiện tại, thực sự rất ủng hộ Mỹ và rất ủng hộ sự hiện diện của Mỹ”.

Dân biểu Don Bacon (Cộng Hòa, Nebraska) nói với báo Omaha World-Herald: “Nếu ông ta thực hiện những lời đe dọa đó, tôi nghĩ đó sẽ là dấu chấm hết cho nhiệm kỳ tổng thống của ông ta. Và ông ta cần phải biết: Lối thoát duy nhất là nhận ra rằng Đảng Cộng Hòa sẽ không dung thứ cho điều này và ông ta sẽ phải lùi bước. Ông ta ghét bị từ chối, nhưng trong trường hợp này, tôi nghĩ Đảng Cộng Hòa cần phải kiên quyết”.

“Với tư cách là người đứng đầu phái đoàn Hoa Kỳ tại [Hội đồng Nghị viện NATO], tôi không thể nhấn mạnh hết tầm quan trọng của mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương của chúng ta”, dân biểu Mike Turner (Cộng Hòa, Ohio) viết trên X. “Chúng ta phải tôn trọng chủ quyền của người dân Đan Mạch và Greenland”.

Trong một cuộc phỏng vấn với CNN tuần trước, Thượng nghị sĩ John Kennedy (Cộng Hòa, Louisiana) cho biết: “Việc xâm lược Greenland và tấn công chủ quyền của một quốc gia thành viên NATO khác sẽ là hành động cực kỳ ngu ngốc. Tổng thống Trump không phải là người ngu ngốc đến mức đó”.

Ngày nào Trump còn ngồi trong phòng bầu dục, ngày đó dân Mỹ còn khốn khổ với những vấn đề cơm áo gạo tiền, ngoài ra còn phải lo những chuyện biến động trên thế giới do chính Trump gây ra, mặc dù ông hứa không can thiệp vào chuyện của các nước khác để lo cho dân Mỹ. Cử tri Mỹ có cơ hội trục xuất Trump ra khỏi Nhà Trắng vào tháng 11 sắp tới.

__________

Tham khảo:

– Chris Stein, “Republican dissent as key figures warn Trump against Greenland pursuit”. The Guardian, January 17, 2026.

– Meridith McGraw, Alex Leary, Josh Dawsey, “Why an Emboldened Trump Set His Sights on Greenland”. WSJ, January 19, 2026.

– James C. Reynolds, “Trump links Greenland pursuit to Nobel Peace Prize snub in extraordinary letter to Norway’s PM”. The Independent, January 19, 2026.

– Jeffrey Gettleman, Henrik Pryser Libell, “Trump Links His Push for Greenland to Not Winning Nobel Peace Prize”. New York Times, January 19, 2026.

– Ellen Francis, Steve Hendrix, “Trump ties Greenland takeover bid to Nobel Prize in text to Norway leader”. Washington Post, January 20, 2026.

– Anne Applebaum, “Trump’s Letter to Norway Should Be the Last Straw”. The Atlantic, January 19, 2026.

https://baotiengdan.com/…/trump-khong-co-giai-thuong…/

Tiếng Dân News

News & media website


 

Trump đối mặt lời kêu gọi phế truất sau khi gửi thư ‘bắt đền’ thủ tướng Na Uy

Ba’o Nguoi-Viet

January 20, 2026

WASHINGTON, DC (NV) – Thượng Nghị Sĩ Ed Markey (Dân Chủ-Massachussetts), người sẽ phải trải qua kỳ bầu cử sơ bộ trước đối thủ cùng đảng trong năm nay, kêu gọi phế truất Tổng Thống Donald Trump theo Tu Chính Án thứ 25 sau khi ông Trump “bắt đền” thủ tướng Na Uy.

Trong thư, ông Trump thừa nhận rằng ông có lẽ sẽ không gây áp lực buộc Đan Mạch nhượng lại Greenland nếu ông được Ủy Ban Nobel Na Uy trao giải Nobel Hòa Bình năm 2025, theo báo mạng The Hill hôm Thứ Ba, 20 Tháng Giêng.

Thượng Nghị Sĩ Ed Markey phát biểu tại một buổi họp báo tại Quốc Hội hồi Tháng Năm, 2025. (Hình minh họa: Kayla Bartkowski/Getty Images)

“Hãy vận dụng Tu Chính Án thứ 25,” ông Markey viết trên mạng xã hội bên cạnh hình ảnh bài báo của nhật báo The New York Times đưa tin ông Trump liên kết việc ông đòi thâu tóm Greenland với việc không được trao giải Nobel trong một tin nhắn gửi cho lãnh đạo Na Uy, Thủ Tướng Jonas Gahr Store.

NYT đưa tin rằng ông Store nhận được một lá thư từ ông Trump hôm Chủ Nhật, 18 Tháng Giêng, trong đó ông nói thẳng rằng việc ông không được giải Nobel thúc đẩy ông có thái độ quyết liệt đòi chiếm Greenland, vùng lãnh thổ của Đan Mạch.

Trong thư trả lời, Thủ Tướng Store nói rằng chính phủ Na Uy không có quyền hạn gì trong việc trao giải Nobel, và Ủy Ban Nobel Na Uy hoạt động độc lập với chính phủ.

Lời kêu gọi này của ông Markey về việc vận dụng Tu Chính Án 25 để phế truất ông Trump có thể sẽ không đi đến đâu.

Làm như vậy sẽ đòi hỏi Phó Tổng Thống JD Vance và đa số thành viên nội các của ông Trump phải chuyển đến Quốc Hội tuyên bố rằng tổng thống không thể thực hiện quyền hạn và nhiệm vụ theo chức trách của mình.

Sau đó, ngay lập tức quyền lực sẽ được chuyển giao cho phó tổng thống.

Tu Chính Án 25 yêu cầu Quốc Hội phê chuẩn quyết định phế truất ông Trump trong vòng 21 ngày kể từ ngày nhận được thông báo từ phó tổng thống và nội các.

Quyết định này cần được đa số tuyệt đối, tức hai phần ba lưỡng viện Quốc Hội thông qua. Nếu không, tổng thống sẽ vẫn nắm quyền.

Tuy nhiên, Thượng Nghị Sĩ Ed Markey không phải là thành viên Quốc Hội duy nhất kêu gọi phế truất ông Trump.

 “Tổng thống Mỹ bị tâm thần nghiêm trọng và điều đó đang khiến tất cả tính mạng của chúng ta gặp nguy hiểm. Có Tu Chính Án thứ 25 là có lý do của nó – chúng ta cần vận dụng nó ngay lập tức,” Dân Biểu Yassamin Ansari (Dân Chủ-Arizona) viết trên X trong khi chia sẻ bức thư ông Trump gửi cho Thủ Tướng Store.

Trong một diễn biến khác, Tiến Sĩ Jonathan Reiner, bác sĩ tim của cố phó Tổng Thống Dick Cheney, hôm Thứ Hai kêu Quốc Hội mở điều tra khả năng thực thi chức vụ của ông Trump.

“Bức thư này, và thực tế là tổng thống đã chỉ đạo nó, được gửi đến các nước Châu Âu khác, cần kích hoạt một cuộc điều tra lưỡng đảng của Quốc Hội về khả năng thực thi chức vụ của tổng thống,” ông Reiner viết trên X. (NNL) [đ.d.]