Triệu phú ngành kinh doanh mỹ phẩm sắp trở thành linh mục
Việc Chúa làm quả là huyền nhiệm. Câu chuyện của thầy phó tế Scott – Vincent Borba là một câu chuyện như thế.
———————
Ngày 23/5/2026 tới đây, phó tế Scott – Vincent Borba, đồng sáng lập hãng elf Cosmetics, sẽ được thụ phong linh mục tại Giáo phận Fresno, California.
Phó tế Scott – Vincent Borba sinh ngày 23/6/1973. Thầy từng là một chuyên viên thẩm mỹ, diễn viên, người mẫu, nhà văn và ca sĩ, và đã từ bỏ sự nghiệp triệu đô của mình để đáp lại tiếng gọi của Chúa để trở thành linh mục.
Trước khi vào chủng viện, phó tế Scott Borba đã dành hơn 20 năm làm việc trong lãnh vực người mẫu, chăm sóc sắc đẹp và đã tạo lập được một sự nghiệp nổi bật khi còn khá trẻ.
Thầy từng là chuyên gia thẩm mỹ cho các ngôi sao, thậm chí còn thực hiện liệu trình chăm sóc da mặt trị giá 7.000 đô la cho nữ diễn viên Mila Kunis – sử dụng các tinh thể siêu nhỏ từ kim cương và hồng ngọc – cho lễ trao giải Quả cầu vàng năm 2011.
Thầy cũng có văn phòng ở Beverly Hills, một biệt thự ven biển không xa nơi làm việc, và một cuộc sống xã hội xa hoa, những bữa tiệc với Paris Hilton, cùng hàng triệu đô la trong tài khoản ngân hàng.
Ngoài ra, trước khi theo đuổi ơn gọi, thầy đang là giám đốc điều hành hãng mỹ phẩm quốc tế elf Cosmetics, với các dòng sản phẩm do chính thầy chế tạo.
Lạ lùng thay, giữa cuộc sống xa hoa, giữa ánh hào quang sân khấu, điều mà biết bao người ước mơ, thì thầy lại cảm thấy trống rỗng.
Có lúc thầy đã than thở với Chúa: “Chúa ơi! Nếu đây là cuộc sống, nơi tất cả những gì bạn làm là làm việc và tiệc tùng, rồi lặp lại điều đó và chết đi, thì đây không phải là cuộc sống mà con nghĩ Ngài đã dành cho con. Nhưng con chỉ có thể thay đổi nếu Ngài giúp con.”
Thế rồi, năm 2019, ở tuổi 46, đáp lại tiếng Chúa gọi, thầy đã bán một lượng lớn sản phẩm và quyên góp số tiền thu được cho từ thiện, đồng thời lên kế hoạch để trở thành một linh mục Công giáo.
Năm 2021, thầy chính thức gia nhập chủng viện St-Patrick và được chịu chức phó tế ngày 21/6/2025 vừa qua.
Câu chuyện thầy trở lại với đời sống đức tin sau bao năm xa lạ, nhất là việc thầy từ bỏ mọi sự để theo đuổi ơn gọi tu trì, đã trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều người và được Wikipia đưa lên thành sự kiện.
Tại TP. Sài Gòn, không xa dinh Độc Lập, ngay cạnh nhà thờ Đức Bà, bên trong đường sách Nguyễn Văn Bình, bạn sẽ tìm thấy những cuốn sách rất đắt tiền. Chúng đắt tiền không phải do chúng dày dặn, đẹp đẽ, mà vì một lẽ khác, bởi đó là những cuốn sách đã may mắn sống sót khỏi chảo lửa đốt sách điên cuồng tại miền Nam.
Năm 1977, một cán bộ tại TP. Sài Gòn khoe với báo chí quốc tế rằng khoảng 700 tấn sách của miền Nam đã bị tịch thu và nghiền nát sau hai năm “giải phóng”.
Trong cùng năm, một cán bộ ở Huế cho biết hàng chục nghìn cuốn sách và tranh ảnh “lạc hậu” về “tình yêu ủy mị” và “tìm kiếm niềm vui thể xác” đã bị đốt bỏ.
Một cuốn sách xuất bản vào năm 1976 của một nhà báo ngoại quốc đã kể lại chuyện một nhóm học sinh, sinh viên ở Sài Gòn chủ động tổ chức đốt sách nhằm xóa bỏ “văn chương né tránh hiện thực”.
Linh mục André Gelinas cho biết một số lượng lớn trong khoảng 80.000 cuốn sách của thư viện Trung tâm Giáo dục Alexandre de Rhodes tại Sài Gòn đã bị đốt bỏ theo chính sách tiêu diệt “văn hóa tư sản”.
Nhà báo Richard Dudman, phóng viên kỳ cựu của báo St. Louis Post-Dispatch, cho rằng chính quyền miền Bắc có lẽ đã không ngờ chiến thắng tại miền Nam lại đến nhanh như vậy, và họ đã không chuẩn bị kế hoạch tiếp quản phù hợp.
Một số hành động hấp tấp trên quy mô lớn để lại di chứng đời đời. Trong đó, sự kiện đốt sách đã mở đầu chiến dịch hủy diệt ngành xuất bản tư nhân đang phát triển ở miền Nam với kỹ thuật xuất bản hiện đại. Đau khổ hơn là những người cầm bút cũng có chung số phận với những cuốn sách.
Cho đến nay, sau 51 năm, Việt Nam vẫn chưa lấy lại được khí thế sôi động của ngành xuất bản tư nhân thời Việt Nam Cộng hòa.
Nền xuất bản rực rỡ của miền Nam:
Trước năm 1975, miền Nam có 44 tỉnh, thành từ tỉnh Quảng Trị đến tỉnh An Xuyên (địa phận Cà Mau hiện nay) với Sài Gòn là thủ đô. Tổng dân số năm 1971 là khoảng 18,7 triệu người.
Vào năm 1974, ông Lê Bá Kông, Chủ tịch Hội Các Nhà in và Xuất bản thời Việt Nam Cộng hòa cho biết miền Nam có khoảng 180 nhà xuất bản lớn nhỏ. Trong khi đó, miền Bắc chỉ có 21 nhà xuất bản.
Từ năm 1954 cho đến giữa năm 1972, trung bình mỗi năm miền Nam xuất bản hơn một nghìn tựa sách, tổng cộng 21.279 tựa sách đã được xuất bản. Một số tác giả dẫn số liệu năm 1972 của Ủy hội Quốc gia UNESCO Việt Nam thì có khoảng ba nghìn đầu sách được cấp phép xuất bản hàng năm.
Năm 1963, Đoàn Thêm cho biết chỉ trong ba năm (từ 1961 đến 1963) đã thấy 2.624 nhan đề sách, nhiều nhất là tiểu thuyết và thơ. Ông nhận định, sau năm 1954, văn nghệ miền Nam đã sống động hơn rất nhiều, nhờ sự đóng góp của các nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ di cư từ miền Bắc.
Trong ba năm 1965, 1970 và 1973, miền Nam đã nhập về tổng cộng 96.392 tấn giấy. Giấy được dùng để in nhiều ấn phẩm khác nhau, trong đó có sách.
Năm 1974, miền Nam có hơn 700 nhà in với 20 cơ sở có khả năng in một triệu cuốn sách mỗi năm. Các nhà in này đã in hơn 86 triệu cuốn sách của miền Nam, trung bình mỗi năm xuất bản khoảng 4,5 triệu cuốn sách.
Ở Sài Gòn mỗi ngày có khoảng 3.000 cuốn sách được bán ra. Số nhà sách ở miền Nam là 2.500 cửa hàng, đa số tập trung tại Sài Gòn, chưa tính đến các nhà cho thuê sách. Những nhà xuất bản, nhà in, hiệu sách ở miền Nam này dù khác nhau như thế nào nhưng đều có chung một ngày khai tử là ngày 30/4/1975.
Đốt sách trước năm 1975, chuyển sách ngoài Bắc vào
Năm 1977, báo London Telegraph cho biết chính quyền đã chuyển hàng trăm tấn sách “hợp pháp” của miền Bắc vào miền Nam.
Báo chí nhà nước cũng xác nhận “hàng trăm triệu bản sách” của miền Bắc đã được chuyển vào miền Nam ngay sau tháng 4/1975 để “phục vụ cho công tác tuyên truyền, giáo dục, xây dựng tư tưởng, tình cảm mới – xã hội chủ nghĩa”.
Điều nghịch lý là những cán bộ miền Bắc tại Sài Gòn đã không mặn mà với những cuốn sách từ miền Bắc, mà họ thích đọc và giữ lại những cuốn sách bị cấm ở miền Nam.
Theo Nguyễn Vy Khanh, ngay sau khi tiếp quản miền Nam, chính quyền quân quản đã ra chỉ thị cấm lưu hành và tàng trữ tất cả sách, báo trước ngày 30/4/1975. Chỉ trong một tuần, số sách tịch thu được tại một quận của Sài Gòn là 482.460 cuốn, ba tấn báo chí. Một nhà sách ở Nha Trang phải nộp 35.530 cuốn sách.
Năm 1976, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Việc xây dựng nền Văn Hóa mới được tiến hành trong cuộc đấu tranh quét sạch những tàn dư mà Mỹ đã gieo rắc ở miền Nam. Đó là thứ Văn Hóa nô dịch, lai căng, đồi trụy, cực kỳ phản động […]”
Đến tháng 1/1978, Bộ Văn hóa và Thông tin đã tổ chức “Hội nghị đấu tranh xóa bỏ tàn dư văn-hóa thực dân mới” tại TP. Sài Gòn. Hai tháng sau hội nghị, chính quyền TP. Sài Gòn đã mở chiến dịch hủy diệt sách lần thứ nhì. Lần này, chính quyền trung ương cho rằng việc tiêu hủy sách trước đó vẫn chưa được thực hiện một cách triệt để nên lần này phải hủy diệt tất cả các cuốn sách từ tiểu thuyết, thơ văn đến chính trị, kinh tế, luật, chỉ cho phép giữ lại các sách về khoa học tự nhiên.
Đến năm 1981, chính quyền trung ương đã công bố danh sách 122 tác giả có toàn bộ tác phẩm bị cấm lưu hành. Trong chiến dịch vào tháng 6/1981, chính quyền cho biết đã tịch thu khoảng 3 triệu ấn phẩm, trong đó tại Sài Gòn có khoảng 60 tấn sách, hàng chục nghìn cuộn băng nhạc, tranh ảnh và hơn 600 cuộn phim.
Nhiều tác giả cho biết chính quyền đã huy động thanh niên, thậm chí là trẻ em mang băng đỏ vào nhà của người dân để lục soát, tịch thu các thể loại sách vở, báo chí, băng đĩa. Có người kể rằng một chủ tiệm cho thuê sách cạnh nhà thờ Ba Chuông (Quận 3, TP. Sài Gòn) đã cho nổ một quả lựu đạn khi các em nhỏ đeo băng đỏ xông vào nhà để tịch thu sách.
Việc đốt sách không chỉ hủy hoại nền xuất bản, tài sản của người dân, mà còn là hủy hoại nền tảng tri thức được gây dựng hơn 20 năm ở miền Nam trên nhiều lĩnh vực.
Nguyễn Văn Lục cho rằng chính quyền đã đốt sạch các sách của miền Nam mà không phân biệt thể loại, nội dung, chính trị hay không chính trị, kể cả những sách thiếu nhi có tính chất giáo dục cao cũng bị đốt bỏ. Chính quyền đã nhắm vào quan điểm, thái độ chính trị của tác giả hơn là nội dung của những cuốn sách.
Mãi đến năm 1985, chính quyền vẫn còn lo sợ về các loại sách, báo cũ của miền Nam, mặc dù vào lúc này, nhiều nhà văn, nhà thơ miền Nam vẫn còn bị giam giữ trong các trại cải tạo trên khắp đất nước.
Screenshot
Đẩy người trí thức vào tình thế quẫn bách, vong mạng:
Sự sụp đổ ngành xuất bản tư nhân ở miền Nam đã phủ một bóng đêm u ám, nặng nề lên các văn nghệ sĩ miền Nam. Việc bị cấm sáng tác, xuất bản sách đã sớm đẩy các tác giả vào hoàn cảnh khó khăn, túng quẫn.
Nguyễn Hiến Lê từng nói rằng sau ngày 30/4/1975 ông và nhiều tác giả khác tại miền Nam sống cũng như chết trước sự thù hận, phân biệt đối xử của chính quyền mới. Bên cạnh sự bức bối trong việc sáng tác, họ hồi hộp chờ đợi không biết ngày nào chính quyền đến gõ cửa nhà.
Tháng 4/1976, ngay trước cuộc bầu cử thống nhất hai miền Việt Nam, các nhà văn của phe chiến thắng như Vũ Hạnh, Sơn Nam đã liên tục đăng bài phỉ báng, kết tội các nhà văn miền Nam trên các mặt báo. Chính quyền đã lập ra một danh sách bắt giữ 44 nhà văn, nhà thơ, nhà báo miền Nam.
Trong hai tuần đầu tháng 4/1976, chính quyền vây bắt khoảng 70 văn nghệ sĩ với tội danh “văn nghệ sĩ chống cộng [của] chế độ cũ”.
Hàng loạt các nhà văn đã bị bắt như Vũ Hoàng Chương (5 tháng tù), Nguyễn Mạnh Côn (3 năm), Nhã Ca (2 năm), Trần Dạ Từ (12 năm), Mai Thảo (kịp trốn thoát), Duyên Anh (gần 6 năm), Dương Nghiễm Mậu (1 năm), Doãn Quốc Sĩ (5 năm), Nguyễn Sĩ Tế (11 năm), Thanh Thương Hoàng (8 năm), v.v.
Một số nhà văn, nhà thơ khác có lẽ cũng đã bị bắt trước hay trong cùng khoảng thời gian này như Phạm Thành Tài (8 năm tù), Trần Tuấn Kiệt (10 năm), Lê Xuyên, v.v. Một năm sau, chính quyền bắt thêm các nhà văn khác như Hồ Hữu Tường (2 năm tù giam), Hoàng Hải Thủy (bị bắt hai lần, 8 năm), v.v.
Những nhà văn, nhà thơ đã chết dưới điều kiện khắc nghiệt của trại cải tạo được biết đến là Vũ Hoàng Chương (qua đời tháng 9/1976), Ngọc Thứ Lang (1979), Nguyễn Mạnh Côn (tháng 6/1979), Hồ Hữu Tường (tháng 6/1980), Dương Hùng Cường (1987), Hiếu Chân (1986), v.v.
Số phận của các nhà văn quân đội miền Nam:
Một tháng sau ngày 30/4/1975, theo lệnh của Ủy ban Quân quản Sài Gòn – Gia Định, đã có hơn 44.000 cựu quân nhân, nhân viên và quan chức chế độ cũ ra trình diện chế độ mới.
Trong số những quân nhân này có những văn nghệ sĩ thuộc quân đội Việt Nam Cộng hòa, trong đó có một số là sĩ quan của Cục Tâm lý chiến, một cơ quan thuộc Tổng cục Chiến tranh Chính trị, Quân lực Việt Nam Cộng hòa.
Những văn nghệ sĩ của quân đội Việt Nam Cộng hòa có các sáng tác với xu hướng đa dạng, đương nhiên có cả những sáng tác được cho là chống cộng sản và các sáng tác theo rung cảm cá nhân của họ.
Nhà văn Nguyên Ngọc gần đây đã nhận xét về văn chương của quân nhân Việt Nam Cộng hòa: “Còn văn học miền Nam thì khác, họ viết thật về chiến tranh, về tâm trạng con người sống trong chiến tranh. Văn học miền Nam được đứng ngoài chính trị.”
Tuy nhiên, sau 30/4/1975, những văn nghệ sĩ là quân nhân thường phải chịu những bản án tù rất nặng nề.
Những nhà thơ là quân nhân miền Nam bị bắt giữ ngay sau 30/4/1975 được biết đến là Thanh Tâm Tuyền (cấp bậc đại úy, nhà báo của Tập san Quốc phòng, 7 năm tù), Phan Lạc Phúc (trung tá, biên tập viên của Tập san Quốc phòng, 10 năm), Cung Trầm Tưởng (trung tá Không quân, 10 năm), Hoàng Anh Tuấn (2 năm, nhờ Pháp can thiệp), v.v.
Trong đó, nhà thơ Tô Thùy Yên, thiếu tá, trưởng phòng Văn nghệ của Cục Tâm lý chiến thuộc Tổng cục Chiến tranh Chính trị, đã bị giam giữ ba lần với tổng cộng 13 năm tù giam.
Một số các nhà văn như Văn Quang (trung tá quản đốc Đài phát thanh Quân đội, 12 năm tù giam), Thế Uyên (trung úy, 3 năm), Phan Nhật Nam (đại úy Sư đoàn Nhảy dù, 14 năm), Thảo Trường (thiếu tá ngành chiến tranh chính trị thuộc Cục An ninh Quân đội, 17 năm), v.v.
Ông Đỗ Văn Phúc, quân nhân thuộc ngành chiến tranh chính trị, cựu tù cải tạo, cho biết sau năm 1975 những sĩ quan ngành chiến tranh chính trị là những người bị chính quyền cộng sản cầm tù lâu nhất rồi đến an ninh, tình báo, v.v. cùng với các yếu tố đi kèm khác như là người Công giáo, di cư từ miền Bắc, thuộc đảng Dân chủ của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, v.v.
Sau khi ra tù, những nhà văn, nhà thơ dù thuộc hay không thuộc quân đội đều không được phép sáng tác. Nếu muốn sống ở quê hương, cuộc sống của họ phải cắt đứt vĩnh viễn khỏi văn chương. Hầu hết các văn nghệ sĩ sau khi được trả tự do đã ra nước ngoài tị nạn.
Những nhà văn Việt Cộng nằm vùng:
Sau năm 1975, một số ít nhà văn miền Nam vẫn tiếp tục được chính quyền mới cho phép sáng tác.
Những người này là các cán bộ cách mạng “nằm vùng”, đã sáng tác công khai ở Sài Gòn trước năm 1975. Trong đó, nổi bật có nhà văn Vũ Hạnh là cán bộ văn hóa Khu ủy Sài Gòn – Gia Định, trước năm 1975 đã viết cho tờ Tin Văn, Bách Khoa, Mai, v.v. Hay Huỳnh Bá Thành, còn gọi là họa sĩ Ớt, là nhân viên tình báo, trước năm 1975 đã sáng tác cho tờ Điện Tín, Tin Sáng, Bút Thần, v.v.
Bên cạnh đó là các nhà văn thân Việt Cộng như Sơn Nam, Lữ Phương, Thẩm Thệ Hà, Tô Nguyệt Đình, Cung Văn, Ngụy Ngữ, v.v. Những người này sau năm 1975 đã tham gia vào các cơ quan văn hóa, nghệ thuật của chính quyền.
Những nhà văn này không chỉ sáng tác tự do trước năm 1975 mà còn thành lập các nhà xuất bản, phát hành các tạp chí. Các sáng tác của họ có xu hướng thân cách mạng, chỉ trích chính quyền miền Nam, kêu gọi hòa bình thống nhất.
Một số tác phẩm của họ bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa kiểm duyệt, gây khó khăn. Tuy nhiên, việc kiểm duyệt của chính quyền miền Nam không phân biệt, kỳ thị vào tác giả mà tập trung vào tác phẩm, kể cả văn nghệ sĩ là quân nhân Việt Nam Cộng hòa vẫn có tác phẩm bị kiểm duyệt.
Ở một mức độ nhất định, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã tôn trọng quyền tự do báo chí, tự do sáng tác, không có sự phân biệt, kỳ thị tác giả, cho phép tất cả các xu hướng sáng tác. Điều này tạo điều kiện thuận lợi và tương đối an toàn cho các văn nghệ sĩ nói trên hoạt động.
Tuy nhiên, sau năm 1975, chính quyền cách mạng đã không làm điều tương tự với các nhà văn khác của miền Nam. Trái lại, một số nhà văn miền Nam còn bị chính quyền mới áp bức cho đến chết, hoặc phải bỏ đất nước ra đi.
Nhà nước chiếm nhà in:
Từ 700 nhà in vào năm 1974, sau 30/4/1975, số nhà in lớn nhỏ chỉ tính riêng ở Sài Gòn đến kê khai với nhà nước là 932. Nhà nước đã chiếm dụng ngay lập tức những nhà in này, rồi tịch thu, tiến tới quốc hữu hóa tất cả các nhà in ở miền Nam.
Ngay sau 30/4/1975, chính quyền mới đã chiếm kho giấy, dùng các nhà in để in hàng loạt các ấn phẩm như 300.000 tờ báo đầu tiên của báo Sài Gòn Giải Phóng, in màu hai triệu tấm ảnh chân dung Hồ Chí Minh, in 7 triệu cuốn sách giáo khoa của miền Bắc chỉ trong 45 ngày, v.v.
Hai năm sau, số giấy trong kho ở miền Nam đã hết sạch, chính quyền thất bại trong việc nhập giấy từ nước ngoài. Việt Nam tập trung vào tự sản xuất giấy.
Tuy nhiên, nhiều sản phẩm xuất bản trong những năm 1980, 1990 dùng những loại giấy xấu hơn rất nhiều so với giấy in trước đó của miền Nam.
Những nhà in lớn được gộp lại thành các xí nghiệp công ty hợp doanh in từ số 1 đến số 7. Ví dụ như Xí nghiệp in số 1 gồm các nhà in mà nhà nước tịch thu như nhà in Tòng Bá, các cơ sở in Nam Đường, Huê Dương Ly Ky, Lương Hữu, Tân Đại Minh. Xí nghiệp in số 4 từ các nhà in đã tịch thu bao gồm Văn Hữu, Thanh niên, Trí Thức mới, Văn hóa Mỹ thuật. Các hộ in nhỏ khác được tập hợp lại rồi chia thành các xí nghiệp in tập thể từ số 1 đến số 10.
Các máy móc in ấn hiện đại nhất trên cả nước khi đó tập trung tại Sài Gòn đã được chính quyền chuyển về Hà Nội và các tỉnh, thành khác.
Sau 30/4/1975, ngành in trên cả nước đã bị nhà nước độc quyền kinh doanh, hoàn toàn kiểm soát. Không có in ấn tư nhân thì cũng không có xuất bản tư nhân.
Xuất bản tư nhân tuyệt chủng
Người dân miền Nam trước năm 1975 là những người sau cùng còn nhìn thấy, trải nghiệm việc xuất bản tư nhân trên đất nước Việt Nam.
Sau năm 1975, 180 nhà xuất bản, hầu hết là nhà xuất bản tư nhân của miền Nam đã bị chính quyền mới giải thể. Đến năm 1985, tổng số nhà xuất bản trên cả nước là 40.
Theo Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, xuất bản tư nhân vẫn còn tồn tại sau năm 1954 ở miền Bắc, nhưng rất ít và hoạt động hạn chế, chủ yếu là các cơ sở in và buôn sách có từ thời Pháp thuộc. Xuất bản phục vụ sự phát triển của văn hóa cách mạng chiếm đa số.
Về mặt luật pháp, Sắc lệnh 003/SLT do Hồ Chí Minh ký năm 1957 vẫn thừa nhận xuất bản tư nhân, và cá nhân cũng có thể tự xuất bản tác phẩm.
Tuy nhiên, xuất bản tư nhân ở miền Bắc có lẽ đã teo tóp dần và đi vào ngõ cụt dưới bàn tay sắt của những người cộng sản. Điển hình như Nhà xuất bản Minh Đức đã xuất bản các tác phẩm của nhóm Nhân văn giai phẩm, bao gồm các trí thức nổi tiếng bị cầm tù, đàn áp vì chỉ trích nhà nước kiểm soát, chính trị hóa lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật.
Từ năm 1959, việc xuất bản đã bị chính trị hóa hoàn toàn. Nội dung xuất bản phải theo sát mục tiêu chính trị của đảng, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và lật đổ chính quyền miền Nam.
Từ năm 1993, chính quyền chính thức quy định rằng “nhà xuất bản là tổ chức thuộc cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội”, nói cách khác, nhà xuất bản phải thuộc hệ thống của nhà nước. Sau 30 năm, quy định này không có thay đổi nào đáng kể trong các lần sửa đổi luật về xuất bản.
Đến năm 2022, cả nước chỉ có 57 nhà xuất bản. Chính quyền vẫn dùng các cơ quan của nhà nước, tổ chức hội đoàn thuộc hệ thống của Mặt trận Tổ quốc để thành lập các nhà xuất bản. Việc này nhằm kiểm soát chặt chẽ quy trình bổ nhiệm nhân sự, định hướng hoạt động hay loại bỏ người đứng đầu các nhà xuất bản nếu không làm theo yêu cầu của chính quyền.
Một số nhà xuất bản hiện nay có xu hướng trở thành một cơ quan kiểm duyệt đơn thuần. Những nhà xuất bản này chịu trách nhiệm bán giấy phép xuất bản, kiểm duyệt tác phẩm của các công ty làm sách.
Từ sau ngày 30/4/1975, nền xuất bản tư nhân đã biến mất khỏi Việt Nam. Khí thế xuất bản sôi nổi một thời của Việt Nam Cộng hòa vẫn chưa thể phục hồi. Nỗi sợ hãi của chính quyền về xuất bản tư nhân đã tạo thành nhiều rào cản ngăn cấm người dân thưởng thức những tác phẩm đa dạng, nhốt tư tưởng người viết vào trong những chiếc lồng ý thức hệ và kéo lùi nền tri thức của cả đất nước.
Câu chuyện về người con gái ‘mang cha bỏ chùa’ tạo nên một cơn địa chấn tâm lý trong cộng đồng.
Hình ảnh người cha già ngã quỵ trước cổng chùa cùng mảnh giấy viết vội không chỉ là một bi kịch gia đình đau đớn, mà còn là hồi chuông cảnh báo về sự kiệt quệ của các trụ cột an sinh truyền thống trước áp lực của xã hội hiện đại và tốc độ già hóa dân số chóng mặt.
Khi đôi vai người trẻ không còn gánh nổi chữ hiếu
Câu chuyện về người con gái đưa cha già bệnh tật đến gửi lại nơi cửa chùa giữa lúc bản thân đang đối mặt với bạo bệnh và sự túng quẫn cùng cực đã tạo nên một cơn địa chấn tâm lý trong cộng đồng. Những lời chỉ trích về đạo hiếu, những phán xét về sự nhẫn tâm ban đầu dường như đã lùi lại, nhường chỗ cho một nỗi xót xa và một câu hỏi lớn hơn: Chúng ta đang ở đâu khi những tế bào của xã hội bị tổn thương đến mức không thể tự chữa lành?
Trong văn hóa Việt Nam, mái ấm gia đình luôn được coi là “thánh đường” của tình phụ tử, là nơi “trẻ cậy cha, già cậy con”. Thế nhưng, khi cái nghèo và bệnh tật bủa vây, khi người con gái vừa mới sinh con lại phải duy trì sự sống bằng những ca chạy thận liên miên, thì mái ấm ấy đã trở thành một pháo đài đổ nát. Sự lựa chọn đưa cha lên chùa, nhìn ở một góc độ nghiệt ngã, lại chính là nỗ lực cuối cùng của một tình thương đang tuyệt vọng, một sự “buông tay” để tìm cho người thân một con đường sống khi mọi nguồn lực cá nhân đã hoàn toàn cạn kiệt.
Hình ảnh người con mang cha bỏ chùa được cắt từ clip.
Tình phụ tử, vốn dĩ là thứ tình cảm thiêng liêng và bản năng nhất, đang bị đặt lên bàn cân với những áp lực mưu sinh khốc liệt của thời đại. Bi kịch “mang cha bỏ chùa” là minh chứng rõ nhất cho việc đạo đức và tình cảm gia đình, dù bền vững đến đâu, cũng có những giới hạn chịu đựng trước sức ép kinh tế.
Nhìn rộng hơn ra toàn xã hội, Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ thuộc hàng nhanh nhất thế giới. Điều này đồng nghĩa với việc gánh nặng chăm sóc người cao tuổi sẽ ngày càng đè nặng lên vai những gia đình trẻ. Trong khi đó, hệ thống an sinh xã hội và chế độ chăm sóc người già của chúng ta vẫn còn rất nhiều khoảng trống.
Chúng ta thiếu những trung tâm dưỡng lão cộng đồng có chi phí thấp, thiếu mạng lưới nhân viên xã hội hỗ trợ tại nhà và đặc biệt là thiếu một cơ chế bảo hiểm chăm sóc dài hạn. Ở các quốc gia phát triển như Nhật Bản hay Bắc Âu, việc chăm sóc người già không chỉ là trách nhiệm của riêng gia đình mà là trách nhiệm chung của toàn xã hội với sự điều tiết của nhà nước. Người già được coi là một tài sản cần được bảo vệ, và việc hỗ trợ họ là một phần tất yếu của nền kinh tế bền vững. Còn tại Việt Nam, khi hệ thống an sinh chưa kịp bao phủ, gia đình vẫn là đơn vị duy nhất phải gánh chịu mọi rủi ro. Khi gia đình sụp đổ, người già trở thành những phận đời bị bỏ lại phía sau.
Sự phẫn nộ trước hành vi vi phạm đạo đức truyền thống là cần thiết, nhưng sự thấu cảm và hành động để thay đổi hệ thống mới là điều quan trọng hơn cả. Hãy nhìn vào sự thật rằng, người con gái ấy đã bán sạch nhà cửa, đã kiệt sức vì chạy thận và chăm con nhỏ. Khi mọi cánh cửa đều đóng sập lại, cửa chùa là nơi cuối cùng cô tin rằng cha mình có thể được sống. Đó không phải là sự tàn nhẫn, đó là sự bất lực của một số phận bị đẩy vào ngõ cụt.
Chúng ta không thể chỉ đứng ngoài cuộc để phán xét khi những người trong cuộc đã bị dồn đến đường cùng. Mỗi người trong chúng ta rồi cũng sẽ già đi, cha mẹ chúng ta cũng không thể tránh khỏi quy luật của thời gian. Nếu hôm nay chúng ta không cùng nhau xây dựng một lưới an sinh vững chắc, thì bi kịch của gia đình nọ có thể sẽ là tương lai của bất kỳ ai trong chúng ta.
Xã hội công nghệ hiện đại sẽ nhân văn hay chỉ biết tạo áp lực?
Một xã hội văn minh là một xã hội mà ở đó, không ai phải chọn giữa việc sinh tồn của bản thân và việc chăm sóc đấng sinh thành. Nhiệm vụ của xã hội, của chính sách an sinh là phải mở ra những lối thoát khác, nhân văn hơn, an toàn hơn. Chúng ta cần những quỹ hỗ trợ người già bệnh tật, cần những trung tâm bảo trợ xã hội có sự tham gia của cả nhà nước và tư nhân để chia sẻ gánh nặng với các gia đình. Chỉ khi đó, tình phụ tử mới không bị bẻ gãy bởi những con số nợ nần hay những cơn đau bệnh tật.
Chúng ta sống trong thời công nghệ số, nơi mọi thứ chuyển động với tốc độ ánh sáng, nơi con người mải mê đuổi theo những giá trị vật chất và sự tiện nghi, nhưng lại dường như đang bỏ quên những giá trị cốt lõi về sự kết nối giữa người với người. Công nghệ có thể giúp chúng ta kết nối với cả thế giới chỉ bằng một cú chạm, nhưng nó không thể thay thế bàn tay chăm sóc của người thân, không thể làm dịu đi nỗi cô đơn của tuổi xế chiều hay nỗi lo âu của những người trẻ đang gánh trên vai “tứ thân phụ mẫu” cùng áp lực cơm áo gạo tiền.
Trong kỷ nguyên số, chúng ta thường tự hào về những thành tựu công nghệ, về y tế thông minh hay quản lý dữ liệu dân số hiện đại. Vậy nhưng, tại sao công nghệ chưa thể giúp chúng ta nhận diện sớm những gia đình đang đứng bên bờ vực thẳm như trường hợp của người phụ nữ kia? Tại sao chúng ta chưa có một hệ thống dữ liệu an sinh đủ nhạy bén để kết nối những hoàn cảnh ngặt nghèo với các nguồn lực hỗ trợ kịp thời?
Mảnh giấy ghi những dòng chữ và quần áo, sữa, tiền… của người cha khiến không ít người không khỏi xót xa.
Thay vì để họ phải chọn cách đau lòng nhất là “mang cha bỏ chùa”, xã hội cần một cơ chế để mái ấm không bị biến thành gánh nặng. Chăm sóc người già không thể chỉ dựa vào lòng tốt hay đạo đức cá nhân, mà cần phải được luật hóa và cụ thể hóa bằng các chính sách phúc lợi xã hội thực chất. Chúng ta cần những mô hình dưỡng lão không chỉ dành cho người giàu, mà còn phải bao dung cả những người yếu thế nhất.
Cuối cùng, dù xã hội có hiện đại đến đâu, dù công nghệ có thay đổi cuộc sống thế nào, thì mái ấm gia đình vẫn phải là nơi an trú cuối cùng của mỗi con người. Để giữ vững mái ấm ấy, tình thương thôi là chưa đủ, cần phải có sự đồng hành của cả cộng đồng. Đừng để những hồi chuông cảnh báo như vụ việc vừa qua trôi vào quên lãng sau những đợt sóng dư luận.
Hãy bắt đầu từ việc thay đổi góc nhìn về trách nhiệm chăm sóc người già, từ việc yêu cầu những chính sách an sinh công bằng và thiết thực hơn. Để không còn những người cha phải ngã sụp trước cổng chùa, và không còn những người con phải mang theo nỗi dằn vặt suốt đời vì đã phải buông tay người mình yêu thương nhất trong sự cùng cực của định mệnh.
Đó là lời của Thủ tướng Péter Magyar trong bài phát biểu tuyên thệ nhậm chức Thủ tướng Hungary: “Tôi sẽ phục vụ đất nước, chứ không cai trị đất nước”.
Sau khi các dân biểu quốc hội được bầu đã tuyên thệ nhậm chức, hôm thứ bảy, ngày 9 tháng 5, ông Péter Magyar được bầu làm Thủ tướng kế tiếp của Hungary với 140 phiếu thuận và 54 phiếu chống.
Tân thủ tướng Magyar phát biểu. Nguồn: János Bődey / Telex
Hàng ngàn người đã theo dõi diễn biến bên trong quốc hội qua các màn hình lớn tại Quảng trường Kossuth Lajos cạnh bên, nơi chính quyền mới mời tất cả người dân Hungary đến ăn mừng sự kết thúc của chế độ Orbán. Sau khi ông Magyar tuyên thệ nhậm chức, đám đông reo hò vang dội, trong khi các nghị sĩ đảng Tisza bên trong phòng họp vỗ tay và reo hò. Hầu hết các nghị sĩ đảng Fidesz, hiện đang là phe đối lập, đã không vỗ tay chúc mừng ông Magyar đắc cử.
Sau khi nhậm chức, ông Magyar có bài phát biểu đầu tiên của mình bằng cách tuyên bố rằng sự thay đổi chính phủ gần đây là lời cảnh báo cho mọi thủ tướng rằng quyền lực chỉ là tạm thời, trong khi hậu quả của các quyết định của chúng ta sẽ theo chúng ta đến nhiều thế hệ sau. “Tôi sẽ phục vụ đất nước, chứ không phải cai trị nó”, ông nói, giải thích rằng ông coi những lời của József Antall (Thủ tướng đầu tiên của Hungary được bầu cử một cách dân chủ) đã vạch ra con đường cho điều này:
“Tôi sẽ phục vụ cho tới khi nào sự phục vụ của tôi còn hữu ích; tôi sẽ làm điều này hết sức mình, cho tới khi tôi còn có thể làm được, và cho tới khi nào đất nước Hungary còn cần tôi làm điều đó”.
Ông Magyar nhấn mạnh rằng, ông không khác gì bất kỳ người dân nào trên đất nước này; lý do duy nhất khiến ông ngồi vào ghế thủ tướng hiện nay là vì hàng triệu người Hungary muốn có sự thay đổi. Đây là một vinh dự, một nghĩa vụ đạo đức, nhưng cũng là một cảm giác tuyệt vời. Ông nói: “Được phục vụ đất nước này là một niềm vinh hạnh đầy khích lệ. Tôi sẽ nỗ lực hết mình để xứng đáng với tấm gương của những bậc tiền bối như Lajos Batthyány, Imre Nagy và József Antall”.
Tầm quan trọng của việc đối mặt với quá khứ
Con đường mà Hungary và người dân Hungary đã đi trong hai năm qua là chưa từng có tiền lệ, ông nói, và bày tỏ lòng biết ơn đối với tất cả mọi người. Người dân Hungary đã trao cho chúng tôi quyền chấm dứt hàng thập niên trì trệ, không chỉ thay đổi chính phủ mà còn cả toàn bộ hệ thống.
Ông nhấn mạnh rằng sự thay đổi hệ thống và công lý không thể xảy ra nếu không có sự hòa giải, cũng như không thể đối mặt với quá khứ. Hai mươi hai năm sau khi Hungary được trao cơ hội lớn nhất trong lịch sử, giờ đây đất nước này đã trở thành một vùng đất bị cướp bóc, ông nói. Ông nói thêm rằng họ đã thừa hưởng một đất nước nơi 3 triệu người đang sống trong cảnh nghèo đói và sau đó đề cập đến sự thâm hụt ngân sách khổng lồ mà chính phủ tiền nhiệm đã tạo ra. Theo thủ tướng mới, hệ thống chăm sóc sức khỏe của đất nước đã bị vắt kiệt, và tuổi thọ trung bình của người dân Hungary ngắn hơn 5 năm so với tuổi thọ trung bình của người dân châu Âu.
Ông cũng đề cập đến vấn đề bảo vệ trẻ em, lưu ý rằng những đứa trẻ dễ bị tổn thương đã bị bỏ mặc cho chúng tự lo liệu trong khi hàng ngàn tỷ forint đã biến mất “từ các quỹ, từ Ngân hàng Trung ương, do các khoản đầu tư quá đắt đỏ và không cần thiết, và vào túi của những người thân hữu chính trị”. Hungary đã trở thành quốc gia tham nhũng nhất; theo ông Magyar, số tài sản mà chính phủ tiền nhiệm “đã cướp đoạt từ túi người dân Hungary” ước tính lên tới 20 ngàn tỷ forint (ND: Theo tỉ giá hiện tại, 1 đô la tương đương 302 forint. 20 ngàn tỷ forint, tương đương 66.16 tỉ đô la).
“Chúng ta thừa hưởng một đất nước mà chính trị cố tình chia rẽ người dân Hungary với nhau”, ông nói, mô tả cách thức truyền thông của chính phủ tiền nhiệm được xây dựng trên sự thù hận, sợ hãi và kích động.
“Một lần nữa, chúng ta sẽ học cách coi chính mình là một quốc gia”, ông hứa.
Các chính trị gia của đảng Fidesz cuối cùng sẽ phải đối mặt với hậu quả cho các hành động của mình. Thủ tướng Péter Magyar nói rằng, sau khi đối mặt với quá khứ—và “chỉ sau đó”—công lý phải được thực thi. “Công lý là một trong những điều kiện tiên quyết cơ bản cho việc tái thiết dân chủ”, điều đó có nghĩa là Hungary không thể xây dựng một tương lai mới trên nền tảng của những tội ác bị che đậy. Hungary sẽ không còn là một quốc gia [mà những kẻ tham nhũng] không phải gánh chịu hậu quả nữa.
Ông nói về việc người dân đã mất niềm tin vào tính độc lập của hàng chục thể chế công cộng, và hệ thống kiểm soát và cân bằng, nền tảng của dân chủ, đã bị phá hủy như thế nào. Ông kêu gọi các quan chức nhà nước từ chức trước cuối ngày hôm nay, hoặc chậm nhất là ngày 31 tháng 5, vì lợi ích của sự đổi mới dân chủ ở Hungary.
“Tổng thống Tamás Sulyok phải là người đầu tiên”, ông Magyar tuyên bố, trước khi dành vài phút liệt kê những lần Tổng thống, người đại diện cho toàn thể người dân Hungary, đã chọn sự im lặng kể từ khi nhậm chức, trong khi máy quay chiếu cận cảnh khuôn mặt ông Sulyok khi ông bối rối trong tình huống vô cùng nhục nhã này. Trong số những điều mà ông [Magyar] chỉ trích [Tổng thống] Sulyok là vì ông ta đã không lên tiếng khi Viktor Orbán gọi công dân Hungary là “sâu bọ”, vì [Tổng thống Sulyok] đã không đứng lên bảo vệ các nạn nhân trẻ em bị lạm dụng, và vì [Tổng thống Sulyok] đã không phản đối các quyết định vi hiến và sự tùy tiện về mặt pháp lý của chính phủ tiền nhiệm. “Thưa ngài Tổng thống, đã đến lúc ngài phải ra đi”.
Những lời xin lỗi
Tân Thủ tướng đã gửi lời xin lỗi tới tất cả những ai cảm thấy rằng trong những năm qua, nhà nước đã không đối xử bình đẳng với mọi công dân của mình. Ông đặc biệt gửi lời xin lỗi tới các nhà hoạt động thuộc các tổ chức phi chính phủ, giáo viên, nhà báo, nhân viên y tế và các nhân vật của công chúng, những người từng bị chính quyền tiền nhiệm kỳ thị hoặc bôi nhọ vì đã lên tiếng hay bày tỏ quan điểm khác biệt. [Các nghị sĩ thuộc đảng] Fidesz đã không vỗ tay cho bất kỳ lời xin lỗi nào cả.
Magyar cũng gửi lời xin lỗi tới các nạn nhân từng bị ngược đãi tại trại trẻ Bicske và khu vực phố Szőlő, cũng như tới tất cả những ai đã phải chịu đựng dưới hệ thống bảo vệ trẻ em của Hungary, bởi lẽ chính Nhà nước Hungary đã không đưa ra lời xin lỗi nào dành cho họ. Ông cũng chia sẻ về việc những năm gần đây, sự kỳ thị và lòng thù hận đã xé toạc các gia đình; về “những đứa trẻ lớn lên giữa vòng vây của những chiến dịch thù hận chính trị không ngừng nghỉ”, và về việc những người cao tuổi phải sống trong nỗi sợ hãi về tương lai cũng như viễn cảnh chiến tranh.
Ông nói: “Bằng cách lợi dụng nỗi sợ hãi được tạo ra một cách giả tạo, chính trị đã đầu độc tâm lý tập thể của cả một quốc gia. Nhà nước Hungary không bao giờ được phép làm điều này với chính công dân của mình nữa. Ngày 12 tháng 4, kỷ nguyên này đã chấm dứt hoàn toàn”.
Các ưu tiên của chính phủ mới
Ông chỉ ra rằng, người dân Hungary có quyền được biết công quỹ đã bị biến thành tài sản tư nhân, thành một hệ thống phong kiến, thành các đặc quyền và công cụ gây sức ép chính trị như thế nào. Chính vì lẽ đó, một trong những dự luật đầu tiên được trình lên Quốc hội khóa mới sẽ là đạo luật thành lập Văn phòng Thu hồi và Bảo vệ Tài sản Quốc gia. Thông báo này nhận được những tràng pháo tay vang dội từ các nghị sĩ thuộc đảng Tisza cũng như đám đông đang theo dõi bài phát biểu bên ngoài tòa nhà, trong khi các nghị sĩ của đảng Fidesz và Mi Hazánk lại không hề vỗ tay hưởng ứng.
Ông Magyar cho biết, nhiệm vụ của thể chế mới này là phơi bày những hành vi lạm dụng quyền lực đã diễn ra trong suốt 20 năm qua. Cơ quan này sẽ điều tra các vụ án tham nhũng, bao gồm vụ án liên quan đến Ngân hàng Quốc gia (MNB), các gói mua sắm công bị thổi phồng giá, các quỹ đầu tư tư nhân, và bất kỳ giao dịch nào có dấu hiệu nghi vấn về việc chiếm đoạt tài sản công, tham ô, rửa tiền hay gian lận ngân sách. Văn phòng này sẽ không chịu sự kiểm soát của chính phủ mà sẽ hoạt động như một thực thể độc lập. Ông Magyar cam kết sẽ bảo đảm sự độc lập, tính chuyên nghiệp và sự minh bạch trong hoạt động.
Ông kêu gọi cử tri hãy “quan sát và buộc các chính trị gia phải chịu trách nhiệm về các hành động của họ. Hãy cùng nhau rút ra bài học từ những sai lầm trong quá khứ; đừng phó mặc cho các chính trị gia tự tung tự tác trong nền chính trị!” Ông thúc giục công dân hãy luôn giám sát các chính trị gia của mình, hãy phê bình họ, và không cho phép bất kỳ ai lạm dụng trọng trách mà xã hội đã tin tưởng giao phó cho Quốc hội này.
“Chúng tôi sẽ làm việc cho mỗi người dân Hungary; chính phủ của đảng Tisza sẽ là chính phủ của toàn thể người dân Hungary”. Hướng lời kêu gọi tới cả cộng đồng người Hungary ở nước ngoài, ông cam kết sẽ xây dựng một đất nước sẵn sàng chào đón những người con Hungary ở nước ngoài, trở về quê hương. Ông khẳng định rằng, chính quyền Tisza sẽ nỗ lực bảo đảm rằng các công việc ở đây mang lại một cuộc sống ổn định và xứng đáng, nhờ vào một hệ thống thuế công bằng hơn.
“Chúng ta sẽ xây dựng một nước Hungary nơi mà ngân sách công thật sự trở lại là ngân sách công; chúng ta sẽ hàn gắn các mối quan hệ của Hungary và đưa nguồn vốn từ EU trở về phục vụ đất nước“. Ông cũng cho biết chính phủ mới sẽ củng cố hệ thống kiểm soát và cân bằng quyền lực, đồng thời đề xuất giới hạn số nhiệm kỳ mà một thủ tướng có thể đảm nhiệm.
“Tự do không phải là một danh từ, mà là một động từ”
Phần kết luận, một lần nữa ông nhắc đến phong trào quần chúng rộng lớn đã hình thành trên đất nước này trong hai năm qua: “Người dân Hungary đã quyết định chứng minh cho thế giới thấy rằng, tự do không phải là một danh từ, mà là một động từ—một hành động cao đẹp mà không thế lực nào có thể ngăn cản. Vì điều này, chúng ta xin gửi lời tri ân sâu sắc tới mỗi người dân Hungary”.
Ông nói rằng, giờ đây, trọng trách ấy thuộc về chính họ — những nhà lãnh đạo vừa đắc cử — trong việc vận dụng tinh thần đó để xây dựng một đất nước nhân văn hơn. Nếu thành công, chỉ vài năm nữa thôi, họ sẽ có thể tự hào mà tuyên bố rằng, họ không chỉ thay đổi được chính phủ, mà còn biến Hungary trở thành một nơi tốt đẹp hơn.
“Cầu Chúa ban phước lành cho Hungary, và cầu Chúa ban phước cho mỗi người dân Hungary—dù đang ở ngay tại đây, ở quê nhà hay ở bất cứ nơi nào trên thế giới”.
Sau nghi thức hát quốc ca, các thành viên của đảng Tisza đã bước ra hòa cùng đám đông đang tụ họp tại Quảng trường Kossuth Lajos; tại đây, ông Magyar đã có bài phát biểu thứ hai, tiếp nối bằng một chương trình văn nghệ ngắn.
Ông đã phát biểu trước những người đang tụ họp phía trước Tòa nhà Quốc hội với một giọng điệu hoàn toàn khác biệt, nhấn mạnh vào tinh thần hân hoan và ăn mừng. Ông nhấn mạnh rằng, nhiệm vụ quan trọng nhất trong những năm tới chính là việc người dân Hungary phải học cách nhìn nhận lại bản thân như một cộng đồng thống nhất. Ông kêu gọi mọi người hãy mở rộng vòng tay với những ai hiện đang cảm thấy thất vọng, sợ hãi, hay đang trải qua giai đoạn này như một sự mất mát. Ông nói: Đừng tìm cách hạ thấp hay làm họ bẽ mặt; thay vào đó, hãy lắng nghe và đối thoại cùng họ, bởi lẽ đây cũng là đất nước của họ, và sự đóng góp của họ cũng vô cùng cần thiết để cùng nhau tái thiết đất nước này.
Theo tân Thủ tướng, câu chuyện mà chúng ta đang chứng kiến hôm nay không phải do các tân nghị sĩ viết nên, cũng chẳng phải do những chiến lược gia hay chuyên gia tuyên truyền đứng sau hậu trường dàn dựng; mà đúng hơn, “chính là tất cả các bạn. Các bạn đã viết nên câu chuyện ấy—thông qua công sức lao động, niềm hy vọng, nỗi trăn trở và sự quyết tâm của chính mình. Bây giờ là cuộc chuyển đổi sang nền dân chủ của chính các bạn; đây là quê hương của các bạn, là Quốc hội của các bạn—và chúng tôi xin gửi lời cảm ơn đến các bạn!”
Theo ông Magyar, trong suốt nhiều năm qua, người dân Hungary đã liên tục bị nhồi nhét rằng chiến tranh chính là hòa bình, sự dốt nát chính là sức mạnh, và bất cứ ai có tư duy khác biệt đều là những kẻ kém cỏi hơn, không xứng đáng là người Hungary hơn. Tuy nhiên, chính quyền Orbán đã thất bại trong việc thuyết phục họ; và nền chuyên chế tàn bạo nhất rốt cuộc đã bị đánh bại bởi những con người bình thường, bằng xương bằng thịt, bởi lẽ chính họ mới đại diện cho sức mạnh vĩ đại nhất. “Những trang sử sau này sẽ viết về câu chuyện ánh sáng chiến thắng bóng tối”, ông nói.
Ông cũng chia sẻ rằng: “Sức mạnh thật sự của một quốc gia không được đo đếm bằng số lượng ghế mà đảng chiến thắng nắm giữ trong nghị viện, mà được đo đếm bằng cách quốc gia đó đối xử với những tầng lớp dễ bị tổn thương nhất trong xã hội như thế nào”.
Kết thúc bài diễn văn, ông nhắn nhủ mọi người hãy lưu giữ lại một điều gì đó từ ngày hôm nay: Niềm hân hoan, sự cởi mở và tình yêu thương; bởi lẽ trong những năm tháng sắp tới chính là những điều mà Hungary sẽ cần đến hơn bao giờ hết. “Hãy nhớ đến ngày hôm nay như một kỷ niệm; hãy ghi nhớ ngày này suốt phần đời còn lại của các bạn. Hãy nhớ mãi hình ảnh của đất nước Hungary trong ngày hôm nay. Có lẽ sau này, các bạn sẽ kể cho con cháu mình nghe rằng: Đây chính là diện mạo của ngày đầu tiên, ngày mở đầu cho một nước Hungary tự do và dân chủ”, ông nói lời kết, đồng thời chúc mọi người có một khoảng thời gian ăn mừng thật tuyệt vời, bình yên và tràn ngập niềm vui.
HOUSTON, Texas (NV) – Một cặp vợ chồng ở Texas kiện công ty OpenAI, chủ sở hữu ứng dụng trí tuệ nhân tạo ChatGPT, sau khi người con trai 19 tuổi chết vì dùng thuốc quá liều năm 2025, cáo buộc rằng ChatGPT đưa ra lời khuyên nguy hiểm về việc dùng các chất gây nghiện.
Vụ kiện này có thể làm nóng lại cuộc tranh luận về trách nhiệm pháp lý của các công ty trí tuệ nhân tạo khi trí tuệ nhân tạo (AI) được người dùng xem như nguồn tư vấn về y tế, tâm lý và hành vi nguy hiểm.
(Hình minh họa: Imen Ben Youssef / Hans Lucas / AFP via Getty Images)
Bà Leila Turner-Scott và chồng, Angus Scott, nộp đơn kiện OpenAI tại tòa tiểu bang California buộc công ty và những người tạo ra ChatGPT phải chịu trách nhiệm trong cái chết của người con trai là Sam Nelson, theo CBS News loan tin ngày Thứ Ba, 12 Tháng Năm. Cậu Sam qua đời khi mới 19 tuổi sau khi sử dụng ChatGPT để hỏi thông tin về chất gây nghiện.
Gia đình cáo buộc nền tảng trí tuệ nhân tạo này đã đưa ra lời khuyên mà họ cho rằng ChatGPT không đủ tư cách để cung cấp, và tuyên bố Sam vẫn còn sống nếu không vì “chương trình bị lỗi” của công cụ này.
Trọng tâm của đơn kiện là cáo buộc ChatGPT đã nói với Sam rằng việc dùng kratom cùng với Xanax là an toàn. Kratom là một loại thảo dược được dùng trong đồ uống, viên thuốc và nhiều sản phẩm khác. Xanax là thuốc chống lo âu được sử dụng rộng rãi.
Theo gia đình, lời khuyên của AI đó tạo ra một sự kết hợp chất gây chết người. CBS News cho biết vụ kiện không chỉ nhắm vào một câu trả lời cụ thể, mà còn vào cách thiết kế và vận hành của hệ thống, với lập luận rằng OpenAI có thể áp dụng các giới hạn an toàn mạnh hơn để ngăn các cuộc trao đổi kiểu này.
Trong cuộc phỏng vấn độc quyền với CBS News, người mẹ cho biết Sam dùng ChatGPT như một công cụ hỗ trợ học tập và tăng năng suất, nhưng không biết con trai dùng công cụ này để xin hướng dẫn về sử dụng các chất gây nghiện. Bà cáo buộc OpenAI “bỏ qua các hàng rào an toàn” và cho rằng công ty có khả năng lập trình chatbot để dừng lại trong các tình huống nguy hiểm, nhưng lại không duy trì hoặc không áp dụng đủ các cơ chế đó.
Ông Angus Scott, người cha, đặt vấn đề rằng ChatGPT hành động như một bác sĩ trong các trao đổi với Sam, dù công cụ này không có giấy phép để đưa ra lời khuyên y khoa. Ông nói chatbot cung cấp thông tin cho công chúng về an toàn, tương tác thuốc và các vấn đề y tế khác, nhưng nếu không có quy trình an toàn phù hợp và kiểm tra nghiêm ngặt hơn, những thông tin đó có thể được đưa ra theo cách “rất nguy hiểm cho con người.”
Công ty OpenAI, trong tuyên bố gửi CBS News, gọi đây là “một tình huống đau lòng” và nói công ty chia sẻ với gia đình. Công ty cho biết Sam tương tác với một phiên bản ChatGPT hiện đã được cập nhật và không còn cung cấp cho công chúng. OpenAI cũng nhấn mạnh ChatGPT không phải là sự thay thế cho chăm sóc y tế hoặc sức khỏe tâm thần, và công ty tiếp tục tăng cường cách hệ thống phản hồi trong các tình huống nhạy cảm hoặc cấp tính với sự góp ý từ các chuyên gia sức khỏe tâm thần.
Theo OpenAI, các hàng rào an toàn hiện nay trong ChatGPT được thiết kế để nhận diện tình trạng đau khổ, giải quyết an toàn các yêu cầu có hại và hướng người dùng đến sự trợ giúp trong đời thực. Công ty nói công việc này vẫn đang tiếp diễn và được cải thiện qua tham vấn với các bác sĩ lâm sàng. OpenAI cũng nói ChatGPT nhiều lần khuyến khích Sam tìm sự trợ giúp chuyên môn, gồm cả việc gọi các đường dây nóng khẩn cấp.
Vụ kiện đặt ra một câu hỏi pháp lý và đạo đức ngày càng lớn đó là khi người dùng, đặc biệt là thanh thiếu niên hoặc người đang ở trong tình trạng dễ tổn thương, tìm đến chatbot để hỏi về thuốc, ma túy, tự hại hoặc khủng hoảng tâm lý, trách nhiệm của công ty công nghệ dừng ở đâu?
Các nền tảng AI thường nói chúng không thay thế bác sĩ, luật sư hay chuyên gia trị liệu, nhưng thực tế là người dùng có thể trò chuyện với chúng bằng giọng thân mật, liên tục và riêng tư, khiến ranh giới giữa “thông tin tổng quát” và “lời khuyên cá nhân” trở nên rất mờ nhạt. (MPL) [kn]
Hãng sản xuất xe điện VinFast sẽ tái cấu trúc quy mô lớn bằng việc tách mảng sản xuất tại Việt Nam ra khỏi hệ thống trực thuộc để chuyển giao cho một nhóm nhà đầu tư mới, theo văn bản nộp Ủy ban Chứng khoán Mỹ (SEC).
Thương vụ này có giá trị khoảng 530 triệu USD, dự kiến hoàn tất trong quý 3/2026.
Sau tái cơ cấu, tỷ phú Phạm Nhật Vượng vẫn tham gia pháp nhân mới nhưng giảm tỷ lệ sở hữu.
Mục tiêu cốt lõi của bước đi này được cho là giúp VinFast thoát khỏi mô hình thâm dụng vốn cao từ các hoạt động sản xuất, từ đó có thể dùng nguồn lực vào phát triển thương hiệu, nghiên cứu sản phẩm và công nghệ.
Theo kế hoạch, VinFast sẽ thoái vốn toàn bộ khỏi Công ty cổ phần Sản xuất và Kinh doanh VinFast (VFTP) – đơn vị hiện nắm giữ mảng sản xuất và một số mảng phụ trợ khác.
Bên nhận chuyển nhượng là một nhóm công ty do Future Investment Research & Development dẫn đầu, trong đó nhà sáng lập VinFast Phạm Nhật Vượng cũng là một nhà đầu tư.
Bên cạnh thoái vốn, VinFast sẽ thành lập pháp nhân mới mang tên Công ty cổ phần VinFast Việt Nam (VFVN), tiếp quản nhiều tài sản quan trọng như hoạt động R&D toàn cầu, mảng kinh doanh bán hàng, dịch vụ hậu mãi,..
Hãng xe điện Việt Nam khẳng định việc thoái vốn tại mảng sản xuất trong nước sẽ không gây ảnh hưởng đến các hoạt động kinh doanh quốc tế hay các cơ sở sản xuất tại Ấn Độ và Indonesia.
Theo nguồn tin của Reuters vào hồi tháng 4, VinFast đặt mục tiêu đạt điểm hòa vốn sau năm 2027.
Dù đang phải đối mặt với áp lực chi phí leo thang, doanh nghiệp niêm yết trên sàn Nasdaq này vẫn quyết liệt đẩy mạnh sự hiện diện tại các thị trường khu vực như Indonesia, Ấn Độ và Philippines, đồng thời thực hiện các điều chỉnh chiến lược bằng cách thu hẹp quy mô tăng trưởng tại Mỹ và châu Âu.
Gần đây, chiến lược này dường như gặp thách thức khi một chiếc VinFast của Green SM – công ty gọi xe công nghệ của ông Vượng – vướng vào một vụ tai nạn đường sắt thảm khốc ở Jakarta, Indonesia và đang bị điều tra.
Theo đó, chiếc taxi này đã va chạm nhẹ với đoàn tàu ngoại ô tại một điểm giao cách nhà ga vài trăm mét.
Sự cố này đã khiến một đoàn tàu ngoại ô khác phải dừng lại tại ga và bị một chiếc tàu đường dài đâm vào phía sau chiếc tàu thứ hai này.
Việc tái cấu trúc diễn ra trong bối cảnh VinFast đang đối mặt với áp lực tài chính lớn khi ghi nhận mức lỗ lũy kế ngày càng lớn tính đến cuối năm 2025, dù doanh thu và thị phần tại Việt Nam tăng trưởng vượt bậc, chiếm đến 36% thị phần ô tô nội địa.
Tính đến hết năm 2025, hãng xe này lỗ lũy kế gần 171.600 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu âm hơn 90.000 tỷ đồng.
Trái với các cổ phiếu họ Vin đang tăng phi mã ở thị trường chứng khoán trong nước trong năm vừa qua, liên tục nâng hạng ông Phạm Nhật Vượng trên bảng xếp hạng tỷ phú thế giới, thì cổ phiếu VinFast trên sàn Nasdaq ở Mỹ dù tăng ấn tượng trong năm nhưng vẫn chưa trở lại đỉnh hồi tháng 9/2023.
Hiện giá mã VFS của VinFast đang ở mức 4,08 USD/cổ, mất 75,64% so với giá trị lúc cao nhất hồi tháng 9/2023.
Tài sản ông Vượng hiện ở mức 35,2 tỷ USD, xếp 62 thế giới, theo Forbes.
VÌ SAO PÉTRUS TRƯƠNG VĨNH KÝ BỊ ĐÈ BẸP TỚI NGÀY NAY?
Nguyễn Gia Việt
Người Nam Kỳ tự hào vì có Phan Thanh Giản, vì có Petrus Trương Vĩnh Ký. Nhưng vui làm sao! Sau 1975 hai nhơn vật Miền Nam này bị hạ bệ, miệt thị, truy sát lịch sử không thương tiếc, rất thô bạo.
Lịch sử thiệt là trớ trêu, sau 1975, “bác cả” cho quan Phan Thanh Giảnvô vòng lao lý lịch sử, hạ tượng xoá đường. “Bác cả” cũng cho học giả Trương Vĩnh Ký và nhà tư bản chủ chợ Bình Tây vô sân sau nhà chú Hoả đứng đối diện nhìn nhau say đắm ngày qua ngày với danh phận 2 con ma gác cửa sau nhà chú Hỏa.
Vì sao nhân vật lịch sử Miền Nam bị hạ bệ nhiều quá vậy? Ai giỏi giỏi nổi nổi là bị ha hết?
Pétrus Trương Vĩnh Ký (1837 – 1898), tên đủ là Jean-Baptiste Pétrus Trương Chánh Ký, sau này là Pétrus Trương Vĩnh Ký, gọi tắt là Pétrus Ký-một người quê Cái Mơn Bến Tre.
Ông thông thạo 27 ngoại ngữ, được Châu Âu liệt vào 18 nhà bác học trên thế giới, là ông tổ nghề báo Việt Nam, tham gia viết lách, thông ngôn, hoạt động chánh trị một thời gian và về già thì lấy sự dạy học làm vui.
Cái vĩ đại của Pétrus Trương Vĩnh Ký ngoài học thuật còn về cách sống, ông sống đơn sơ như một nho sinh sân Trình cửa Khổng, có vô số điều kiện làm giàu nhưng nhứt định từ chối, cuối đời sống thanh bần, lấy dạy học và viết sách làm vui.
Bài văn dưới đây là bài trích ông Jacques Lê Văn Đức ca ngợi học giả Petrus Ký ở những năm 20 của thế kỷ trước. Ông Jacques Lê Văn Đức người Mỹ Tho, con trai đốc phủ sứ Lê Văn Mầu, bản thân là hội đồng quản hạt Nam Kỳ- sanh thời cũng rất thông bác, được gọi là đồ đệ Petrus Ký.
Mọi người đọc lại cho biết cách diễn giải văn chương của năm 1920:
“Ai ai cũng đến cùng người vì biết người thông thái, khoan hậu niềm nỡ và hiền lành. Bởi sự đơn sơ, sự ngay thẳng của người, nên người mới được những kẻ một xứ sở cùng với người Pháp đều kính trọng vì nễ.
Petrus Trương Vĩnh Ký nhờ trí tuệ thông minh và cách làm việc rất chuyên chú của người nên được trở nên đơn sơ khiêm tốn nhơn lành khoan hậu, công bình thanh liêm khôn ngoan và xứng đáng, đầy lòng luân lý và cao vọng chớ chẳng phải toàn là vật chất chủ nghĩa.
Như tiên sanh, ở người tài ba đầy sự hiền vinh, tinh khiết, đã đế thế này rất sớm mà vội đi cũng sớm, chúng tôi muốn được biết cái cách ăn ở đơn sơ mà hữu chỉ cho người đồng loại.
Chúng tôi muốn được sự vui thỏa trọng những đức hạnh gia đình.
Chúng tôi muốn gieo rãi sự hạnh phúc khắp nơi, sự hạnh phúc thật của một đời kiểu mẫu, chớ không phải một đời không những vô ích, vô sự, ích kỷ.”
Pétrus Trương Vĩnh Ký là người Việt Nam làm nhựt trình (báo chí) đầu tiên, nhưng sau 1975 “bác cả” không liệt kê ra, “bác cả” chỉ liệt kê con cháu “bác”.
Pétrus Trương Vĩnh Ký và Phan Thanh Giản sau 1975 được ban tặng sự thù ghét, đê tiện, là “bán nước” theo ý chí của “bác cả”.
Tả Quân Lê Văn Duyệt đại diện quyền lực Miền Nam tiêu biểu cũng bị miệt thị trên mạng hàng ngày.
Các nhân vật lịch sử Miền Nam đều là thứ không ra gì trong mắt “bác cả”, và tới giờ họ vẫn rất sợ khi con cháu Miền Nam đã hiểu ra, tìm đọc, và đặt cha ông về đúng vị trí trang trọng.
Tạo sao cứ phải tỉa gọn như vậy?
Vì chánh trị, muốn con cháu người đó quên, thù nghịch với cha ông nó kiểu mả cha không khóc phải khóc đống mối để dễ dạy dỗ…thì cứ hạ bệ, cứ triệt gọn những nhân vật được yêu thương là xong.
VÌ SAO Ở MỸ, CHÍNH QUYỀN KHÔNG ĐƯỢC CƯỠNG CHẾ, ĐẬP PHÁ LẤY NHÀ, ĐẤT CỦA DÂN?!
*Đã có lần post bài này mấy năm về trước trên fb Pham Xen ngày xưa
(XS)
Hiến pháp nước Mỹ có 3 quyền cơ bản của người dân :
quyền được sống,
quyền được tự do
và
quyền được sở hữu.
Chính quyền tuyệt đối không bao giờ phạm luật để tiếp tay những ông chủ tư bản mua bán chiếm đoạt quyền sở hữu người dân.
*Mời đọc chuyện lạ nhưng không lạ :
Chuyện lạ chỉ có ở nước Mỹ …
Đây là ngôi nhà nổi tiếng của bà Edith Macefield ở Seatle, bang Washington, Hoa Kỳ.
Khi bà Macefield mới mua ngôi nhà này, vào khoảng năm 1950, thì con đường đó chỉ là con đường quê hẻo lánh.
Nhưng nửa thế kỷ sau thì nó đã trở thành khu trung tâm phố thị đông đúc và 1 công ty thầu đã mua lại nguyên 1 khúc đường để xây khu đô thị và thương xá cao 5 tầng.
Tất cả những hàng xóm của bà Macefield đều vui lòng bán nhà và dọn đi, nhưng bà thì nhất định không chịu đi.
Thậm chí khi chủ đầu tư ra giá 1 triệu đô (căn nhà chỉ đáng giá khoảng
$300 000) thì bà vẫn nhất định không chịu bán.
Bà nói bà già rồi, sống ở đó cả đời rồi, bà lại không có con cháu nên bà không muốn đi đâu hết .
Sau nhiều tháng ra giá và thuyết phục bà không được. Công ty thầu đành sửa lại dự án của mình, xây vòng quanh nhà bà, như hình bên dưới. Chính quyền địa phương đương nhiên là không làm khó gì bà, càng không bao giờ nhận tiền hối lộ của chủ đầu tư để cho cảnh sát đến cưỡng chế khiêng bà đi như ở 1 số nước .
Thái độ kiên quyết bảo vệ quyền làm chủ của mình của bà Macefield đã khiến cho người dân Mỹ cảm phục . Họ gọi bà là “anh hùng nhân dân”
( folk Hero )
và nói rằng đây chính là bằng chứng hùng hồn nhất cho tinh thần thượng tôn pháp luật, tôn trọng nhân quyền và quyền công dân của nước Mỹ .
Hãng phim Disney đã làm 1 bộ phim dựa trên câu chuyện của bà, mang tên “Up”, có nghĩa là “Lên” nói đến việc các tòa nhà chọc trời mọc lên như nấm xung quanh 1 bà già nhưng bà vẫn không vì đó mà phải chịu áp lực.
Mãi đến khi bà mất ở tuổi 83 vì bệnh ung thư thì căn nhà mới được dỡ đi. Bởi trước khi qua đời, bà Macefield đã viết giấy để hiến tặng lại căn nhà cho ông chủ đầu tư của khu đô thị, để cám ơn ông đã đối xử với bà rất tốt.
Bà đã viết trong di chúc: mặc dù việc bà nhất định không chịu bán nhà dọn đi đã gây cho ông rất nhiều phiền toái và cả thiệt hại về kinh tế, nhưng ông luôn đối xử với bà nhẹ nhàng và tôn trọng.
Thậm chí sau khi thương xá đã xây xong, ông vẫn cho người thường xuyên sang giúp bà dọn vườn, quét sân, quét vôi lại mặt tiền nhà, cũng là để giữ cho bộ mặt thẩm mỹ chung của cả khu phố !
UKRAINE CÔNG BỐ VIDEO PHỎNG VẤN CÔNG DÂN VIỆT NAM BỊ NGA ÉP RA CHIẾN TRƯỜNG
Ngày 11/5, phía Ukraine công bố video phỏng vấn ông Lương Minh Tuấn, 50 tuổi, người Việt đầu tiên được biết đến đã đầu hàng lực lượng Ukraine sau khi tham gia quân đội Nga.
Ông Tuấn sang Nga bằng visa du lịch để thăm con gái đang học ở Moscow. Khi visa hết hạn, ông bị bắt trong đợt truy quét người nhập cư và được gợi ý ký hợp đồng phục vụ quân đội Nga để tránh bị trục xuất.
Không biết tiếng Nga, tưởng chỉ làm hậu cần, nhưng cuối cùng ông bị đẩy thẳng ra mặt trận Kharkiv giữa lúc Nga thiếu quân. Trong video, ông tố cáo nhiều lính nước ngoài bị dùng như mồi nhử ở những vị trí nguy hiểm nhất.
Sau các đợt pháo kích khiến đơn vị tổn thất nặng, ông đào ngũ chạy sang phía Ukraine để giữ mạng sống. Phía Ukraine bắt giữ, chữa trị y tế và cho ông cơ hội lên tiếng.
Một người Việt sang Nga thăm con, cuối cùng lại bị biến thành bia đỡ đ-ạ-n cho cuộc chiến của Kremlin. Đó là sự thật cay đắng phía sau những mỹ từ như hữu nghị, đồng minh, người bạn lớn.
Trong khi lãnh đạo trong nước vẫn ca ngợi Nga, vẫn tham dự duyệt binh và nói về tình hữu nghị truyền thống, thì thực tế Nga sẵn sàng ném cả công dân Việt Nam ra chiến trường như vật hy sinh.
Trong khi đó, phía Ukraine, đất nước luôn bị truyền thông thân Nga ở Việt Nam mô tả như phát xít, tay sai phương Tây lại đối xử với tù binh theo hướng nhân đạo hơn nhiều so với những gì người đàn ông này phải chịu dưới quân đội Nga.
Đến cuối cùng, ai mới là phía tôn trọng con người hơn? Ai mới thật sự đối xử nhân đạo với người Việt?
Sự việc này không chỉ là câu chuyện của riêng ông Lương Minh Tuấn. Nó là lời cảnh tỉnh cho rất nhiều người Việt vẫn còn nhìn cuộc chiến Ukraine bằng lăng kính tuyên truyền cũ kỹ. Và cũng là câu hỏi lớn dành cho những người đang nhân danh tình bạn để ủng hộ một cuộc chiến tranh xâm lược.
WASHINGTON, DC (NV) – Theo dữ liệu mới nhất về Chỉ Số Giá Tiêu dùng do Cục Thống kê Lao Động công bố hôm Thứ Ba, 11 Tháng Năm, giá tiêu dùng đã tăng 0.6% so với tháng trước, đẩy tỷ lệ lạm phát hàng năm lên mức 3.8%, mức cao nhất kể từ Tháng Năm, năm 2023.
Theo CNN loan tin, đây là lần đầu tiên sau ba năm, tiền lương của người Mỹ không tăng kịp với mức lạm phát.
Người dân đang chọn mua thực phẩm rau củ ở siêu thị Lidl Supermarket ngày 11 Tháng Năm, Brooklyn, New York City. (Hình: Michael M. Santiago/Getty Images)
Thêm vào đó, đội ngũ nhân viên kinh tế tại RSM, một công ty tư vấn chuyên về dự báo, nói rằng khi cú sốc nguồn cung từ cuộc chiến tại Trung Đông tác động xuyên suốt nền kinh tế Hoa Kỳ, lạm phát sẽ đạt đỉnh “ở mức hoặc trên” 4.5% tính theo cơ sở hàng năm vào khoảng thời gian nào đó trong mùa hè này.
Nhật báo The New York Times (NYTimes) cũng đưa ra phân tích tương tự, cho biết giá cả leo thang đồng nghĩa với việc tiền lương của người lao động lại không bắt kịp đà lạm phát. Mức thu nhập bình quân theo giờ đang tăng chậm lại, chỉ tăng 3.6% trong năm qua và 0.2% trong tháng vừa qua.
Mức thu nhập giảm, kết hợp với đà tăng vọt của giá năng lượng, khiến cho thu nhập theo giờ (sau khi đã điều chỉnh theo lạm phát) sụt giảm 0.5% trong Tháng Tư, đánh dấu tháng thứ hai giảm liên tiếp. Tiền lương thực tế từng sụt giảm mạnh mẽ trong giai đoạn lạm phát bùng phát đỉnh điểm sau đại dịch, nhưng đã ổn định trong những năm gần đây.
Trước khi các cuộc tấn công của Mỹ và Israel nhằm vào Iran diễn ra vào ngày 28 Tháng Hai, lạm phát đã hạ nhiệt xuống mức 2.4%. Giờ đây, cú sốc về giá năng lượng do cuộc chiến tại Iran gây ra đang càng làm trầm trọng thêm những lo ngại dai dẳng về khả năng chi trả đối với người dân Mỹ, những người vốn đang phải oằn mình gánh chịu gánh nặng giá cả leo thang nhanh chóng suốt nhiều năm qua.
Cũng theo CNN, ít nhất là trong những năm gần đây, mức tăng thu nhập của người Mỹ đã vượt tốc độ lạm phát. Nhưng điều này đã thay đổi vào tháng trước: mức tăng lương giờ bình quân (đã điều chỉnh theo lạm phát) tính theo năm đã chuyển sang mức âm lần đầu tiên kể từ Tháng Tư, năm 2023.
Cà chua giờ ‘rất chua’
Tình hình này diễn ra trong bối cảnh người dân Mỹ còn phải đối mặt với cú sốc về giá năng lượng đang lan tỏa khắp nền kinh tế, khiến cho một số mặt hàng tiêu dùng phổ biến nhất trở nên đắt đỏ hơn nữa.
Chẳng hạn, theo dữ liệu từ BLS, giá các loại rau củ và trái cây tươi, vốn thường được vận chuyển bằng xe tải chạy dầu diesel có hệ thống làm lạnh, đã tăng 2.3%.
Giá cà chua đã tăng vọt gần 40% trong Tháng Tư so với cùng kỳ năm ngoái, do sự kết hợp của thời tiết bất lợi, thuế quan cao và chi phí vận chuyển leo thang, theo NYTimes.
Giá thực phẩm tại các siêu thị đã tăng 2.9% trong Tháng Tư so với một năm trước đó. Đây là mức tăng hàng tháng cao nhất của nhóm hàng này kể từ năm 2010, cũng theo NYTimes.
Trong khi giá năng lượng tăng chiếm 40% mức tăng lạm phát trong Tháng Tư, một yếu tố đóng góp khác là sự leo thang của các mức giá liên quan đến nhà ở (được BLS phân loại là “nơi cư trú”). Tình hình leo thang này do đợt điều chỉnh mang tính một lần liên quan đến đợt đóng cửa chính phủ mang tính lịch sử diễn ra vào năm ngoái thúc đẩy, theo tin của CNN.
Thị trường chứng khoán vẫn chìm trong sắc đỏ vào sáng Thứ Ba. Chỉ số Dow giảm 18 điểm. S&P 500 giảm 0.3% và Nasdaq 100 giảm 0.75%.
Trách nhiệm thuộc về ai?
Phúc trình lạm phát mới nhất vừa công bố đi cùng với những phản ứng trái chiều gay gắt tại lưỡng đảng ở Quốc Hội, theo NYTimes. Phe Dân Chủ đổ lỗi cho người đứng đầu quốc gia về tình trạng giá cả leo thang, trong khi phe Cộng Hòa dường như lại xem nhẹ một số dữ liệu được công bố.
“Các chính sách kinh tế thất bại của ông Trump không chỉ làm tăng chi phí sinh hoạt, mà còn đang làm hao hụt thu nhập của các gia đình,” Thượng Nghị Sĩ Elizabeth Warren (Dân Chủ, Massachusetts) phát biểu. Bà cũng nói thêm trong một tuyên bố rằng các mức thuế quan do tổng thống áp đặt, cùng cuộc đối đầu đang diễn ra với Iran, chính là một trong những nguyên nhân đến tình trạng này.
“Dữ liệu lạm phát công bố hôm nay đã xác nhận điều mà ai cũng có thể thấy: Chi phí đang vượt khỏi tầm kiểm soát, và Tổng Thống Trump phải chịu trách nhiệm,” Dân Biểu Brendan Boyle (Dân Chủ, – Pennsylvania), thành viên cấp cao của Ủy Ban Ngân Sách Hạ Viện, phát biểu trong một tuyên bố.
Phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc Kush Desai đã tái khẳng định lập trường của ông Trump, cho rằng những gián đoạn bắt nguồn từ cuộc xung đột chỉ mang tính tạm thời và rằng “chương trình nghị sự kinh tế dài hạn” của tổng thống vẫn đang tiếp tục mang lại hiệu quả, theo tờ Politico. (K.L)
Cầu Mỹ Thuận, bắc qua sông Tiền, nối hai tỉnh Vĩnh Long và Tiền Giang, được khởi công ngày 06/7/1997 do nước Australia tài trợ, khánh thành ngày 21/5/2000.
Người dân Miền Tây vui mừng chưa hết nụ cười thì ngay lập tức trạm thu phí phía Tiền Giang hoạt động.
Dĩ nhiên, Australia phản đối việc thu phí do cây cầu này được xây từ nguồn vốn viện trợ không hoàn lại của Australia, họ muốn giúp đỡ dân Miền tây vốn đã quá vất vả với hạ tầng giao thông kém cỏi.
Phía VN viện cớ phải thu phí để trang trải tiền bảo trì, duy tu, điện chiếu sáng nên cù nhây quyết không buông, người Úc lại bảo “thế chúng mày thu thuế để làm gì?” Phía VN vẫn chây lì , Người Úc đành âm thầm rút khỏi dự án cầu Cao Lãnh và Vàm Cống.
Mãi đến 01.01.2013, trạm thu phí cầu Mỹ Thuận mới chính thức dừng thu phí, khi đã áp phí bảo trì đường bộ bắt buộc.
Năm 2010, cầu Cần Thơ khánh thành, bằng nguồn vốn của người Nhật,
nếu người Nhật không đến có lẽ việc nối hai bờ sông Hậu mãi là giấc mơ. Cầu xây chưa xong nhưng trạm thu phí thì đã nhanh nhẩu xây xong trước đó.
Người Nhật cũng phản đối giống như người Úc, chắc họ ngạc nhiên với cái chính quyền đã thu thuế phí các loại lại còn tận thu phí qua cầu.
Năm 2011 Hầm Thủ Thiêm và Đại lộ Đông tây khánh thành, trước đó trạm thu phí đã mọc lên, phía Nhật gởi công hàm phản đối kịch liệt.
Kết quả:
ngày 22/11/2012, UBND TP HCM quyết định chưa thu phí hầm Thủ Thiêm (đường hầm sông Sài Gòn) “để chia sẻ khó khăn với người dân”, nghe mà rớt nước mắt, nuốt không trôi thì chia sẻ vậy!!!.
Trạm thu phí này phải dỡ bỏ vào năm 2018, mất 53 tỷ đồng tiền xây dựng.
Sự đê tiện của Bộ GTVT và chính quyền được nâng cao thêm một mức khi thông cầu Vàm Cống và Cao Lãnh, họ liền đặt trạm BOT T2 ngay ngã ba lộ tẻ để chặn dòng xe qua cầu Vàm Cống đi về hướng Long Xuyên, trước đó đã có trạm thu phí trên QL 80 đi Rạch Giá và QL 91 đi Cần Thơ, lập trạm BOT T2 này chẳng khác nào hành động của bọn lục lâm thảo khấu, một hành vi trấn lột đê tiện.
Cầu Vàm Cống và Cao Lãnh do chính phủ Hàn Quốc tài trợ, trước sự phản đối của phía Hàn Quốc và người dân, trạm này phải đóng cửa.
Cái bản chất gian xảo, lưu manh nó có từ thời nào?
Các nước Úc, Nhật và Hàn Quốc muốn giúp đỡ người dân Miền Tây nên đã dùng tiền thuế của dân họ tài trợ xây ba cây cầu huyết mạch, giúp việc lưu thông thuận tiện, giúp cho người dân cải thiện đời sống của mình.
Nhà nước VN do dân, vì dân, thấy dân đi đường của bọn tư bản viện trợ mà không thu thì rất phí nên bất chấp liêm sỉ, bằng mọi giá lập trạm thu phí, dù sau đó phải ăn cái tát từ các nhà tài trợ!!!
Cây cầu thứ tư khá nổi tiếng ở Miền Tây, khi nhắc đến nó chúng ta sẽ nghĩ đến một điểm kẹt xe nổi tiếng.
Cầu Rạch Miễu nối hai tỉnh Tiền Giang và Bến Tre, là niềm tự hào của ngành xây dựng giao thông VN, đây là công trình do Việt Nam tự đầu tư, với thiết kế và tổng thầu là các công ty Việt Nam.
Tiếc thay “niềm tự hào” nãy đã lỗi thời từ ngay từ khi thiết kế và trở thành cây cầu nguy hiểm nhất Miền Tây.
Rạch Miễu được khởi công năm 2002, tuy nhiên nó lại sử dụng số liệu khảo sát về lưu lượng xe từ năm 1995!, khánh thành năm 2009 nó đã trở nên lạc hậu.
Cầu chỉ có một làn xe cho mỗi chiều và một dẻo nhỏ hai bên cho xe máy đi, mặt đường nhỏ.
Độ dốc cao nên xe tải chỉ có thể bò lên cầu, độ tĩnh không cao nên khi trời mưa hay gió lớn xe máy di chuyển qua đây có thể bị thổi ngã, tuy vậy khi thiết kế và ngay cả bây giờ họ cũng không gắn các miếng che gió bảo đảm an toàn cho người đi đường.
Mặc dù xây cầu để không phải đi phà, nhưng đến năm 2021, ngân sách
(lại là tiền thuế của dân) chi 100 tỷ để làm lại bến phà nhằm giải tỏa cho Cầu Rạch Miễu, cái vòng lẫn quẩn.
Bọn đầy tớ phá thật! não trạng chỉ toàn “phí, thuế”.
Không có khả năng hoạch định chính sách nhưng rất điếm đàng trong việc dựng BOT.
“Chẳng có quốc gia nào mà suốt ngày đi xin, đi vay.
Chẳng có chính phủ nào vay tiền để trả nợ mà đòi đưa đất nước hóa rồng, hóa hổ.. này nọ.!”
Nằm mơ hóa rồng …!
Đất nước gì mà một chiếc Opel của Đức được bán tại nước Đức với giá chỉ 5100 EURO, đem về Việt Nam dán chữ VINFAST bán với giá 450 triệu đồng.
Một chiếc tivi từ Trung Quốc được tháo rời đem về Việt Nam sắp lại dán chữ Asanzo hàng Việt Nam chất lượng cao mới ghê… cú lừa năm 2019 của thời đại cái này quá tàn nhẫn với người tiêu dùng Việt Nam…..
Gạo ngon đem xuất khẩu chỉ khoảng 7000 VNĐ/kg, trong khi đó người dân phải mua tại siêu thị tới 13.000-15.000 cho 1 kg gạo loại thường.
Một con gà, một cân thịt khi được đưa lên bàn ăn thì nó bị thu tới gần 20 loại phí.
Bên cạnh giá thuốc, sữa vào loại cao nhất thế giới thì người VN chúng ta đang bị “đánh thuế vô cùng tàn bạo” từ cái ăn, cái mặc, cái dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho tới cái phương tiện đi lại…..
Theo thống kê thì gộp tất cả công chức, viên chức, công an, bộ đội, người nghỉ hưu, ban bệ, các đoàn thể… thì có gần 12 triệu người ăn lương từ ngân sách Nhà nước.
Mỗi năm tiêu tốn hơn 60,000 tỷ tiền thuế của nhân dân nhưng nghịch lý là chúng nó chẳng tạo ra được điều tốt đẹp gì cho an sinh xã hội.
Năm 2019 là năm đáo hạn vốn vay ODA, cũng năm 2019 thì VN chúng ta bị cắt các khoản vay ưu đãi, chính phủ các nước đã siết chặt vốn ODA cho VN.
Không phải ngẫu nhiên mà những thương hiệu làm ra ăn nên như Sabeco, Habeco, Vinamilk, FPT… những con gà biết đẻ trứng vàng hiếm hoi của nhà nước cũng bị đem bán,
đơn giản chính phủ đã cạn kiệt tiền sau những năm tháng mà quan chức rất tích cực tàn phá, tích cực tham nhũng, tích cực biển thủ công quỹ làm của riêng…..
Chẳng có quốc gia nào mà suốt ngày đi xin, đi vay.
Chẳng có chính phủ nào vay tiền để trả nợ mà đòi đưa đất nước hóa rồng,
hóa hổ.. này nọ.!
Chẳng có dẫn chứng khoa học nào khiến đồng tiền mất đi cả, nó chỉ chuyển hóa từ nơi này sang nơi khác, từ túi người này sang người khác mà thôi.
Hàng vạn ngôi biệt thư, xe hơi, các vật phẩm xa xỉ, khối vàng ròng giấu trong két sắt của đảng viên chính là sự chuyển hóa ấy.
Khi nợ quốc gia chất cao như núi, tình cảnh “vỡ nợ” đang dần hiện hữu, thì không còn cách nào khác là chính phủ phải tiếp tục “bóp cổ người dân”
để lấy tiền nuôi bộ máy quan chức.
Theo đó thì phí BHXH, BHYT, phí cầu đường, phí đăng ký ô tô, xe máy, giá điện, nước… cứ thế mà tăng giá phi mã.
Vậy thôi, ai có sức ăn được thì cứ ăn, tội vạ đâu dân gánh hết.