Duyên Kỳ Ngộ – Bài viết của Đặng Thái Sơn

Duyên Kỳ Ngộ

(Giữa thầy Phùng Văn Phụng và học trò Đặng Thái Sơn, K’75)

Bài viết của Đặng Thái Sơn

Lời phi lộ:

Lời phi lộ: Tình cờ đọc Bản Tin của Cựu Học sinh Trường Lương Văn Can số 19, Xuân Mậu Tuất, năm 2018, thấy bài viết “Duyên Kỳ Ngộ” của Đặng Thái Sơn.
Nhớ lại lúc về từ trại cải tạo đầu năm 1983, không có nghề gì để sống, đành phải đi bán vé số. Đến nhà người bạn thầu vé số, nhận 200 tờ, sáng sớm, đi qua quận 5 hy vọng sẽ không gặp người quen nhất là học trò cũ vì vốn mắc cở. Đi thật xa khỏi quận 8, vừa cầm xấp vé số ra bán thì gặp ngay Đặng Thái Sơn.

Chuyện được kể như dưới đây.

 Phùng Văn Phụng

Cách nay khoảng trên 30 năm, thường ngày, tôi và một số anh em hành nghề phu xích lô, cứ mỗi sáng gặp nhau uống cà phê ở một quán vĩa hè bên quận 5. Xong chầu cà phê thì anh em tản lạc, rong ruổi khắp nẻo đường để kiếm cơm.

Vào một buổi sáng nọ, đang ngồi uống cà phê, tôi thấy một người quen quen từ xa đi tới, trong lòng ngạc nhiên, chẳng lẽ thầy Phụng đây sao? Định thần nhìn kỹ, đúng là thầy Phùng Văn Phụng, dạy môn công dân ở trường mình. Thầy đến trước mặt tôi, tay thọc vào túi quần móc ra xấp vé số, mời mua. Tôi bối rối, nhưng không dám gọi bằng thầy, sợ thầy ái ngại! Tôi nói lớn:“ Người bán vé số với dân đạp xích lô là anh em nhau cả, xin mời uống ly cà phê. Là dân lao động mời thật tình đừng ngại nha!…”

Thầy ngồi vào bàn, tôi mời thầy ly cà phê sữa nóng, cố ý để thầy tự nhiên. Sau vài ngụm cà phê, tôi nói: “Dạ thưa, thầy là thầy Phùng Văn Phụng, dạy môn Công dân, em là học trò của thầy đây. Em học chung lớp với Phùng Hoàng Kiệt, em của thầy…”

Lúc này thầy tỏ ra bối rối, ngại ngùng…Tôi nói lớn với anh em phu xe xích lô: “Đây là thầy dạy học của tôi, bây giờ bán vé số. Mời các anh em mua ủng hộ thầy tôi vài tờ cho vui!…” Thế là ai nấy xúm lại mua ủng hộ giúp thầy.

Sau này tôi có gặp bạn Trần Minh Tùng, học cùng lớp kể cho Tùng nghe. Tùng hiểu chuyện vì Tùng với thầy Phụng khá thân nhau. Tùng nói rằng thầy Phụng sau khi đi “học tập cải tạo” về, không có việc làm nên đi bán vé số. Mà phải bán ở địa phương khác, không dám bán ở quận 8, sợ gặp học trò cũ hoặc người quen ngại lắm.

Thời gian sau, tôi chuyển qua bán cà phê ở trước nhà trên đường Phạm Thế Hiển, hằng ngày lại thấy thầy Phụng đèo hai thùng nước ngọt trên chiếc xe đạp đi giao hàng tận nơi cho khách.

Rồi thầy định cư ở Hoa Kỳ theo chương trình HO.

*****

Lần đầu thầy về Việt Nam, tổ chức họp mặt giao lưu ở nhà hàng 241, gặp gỡ lại thầy cô và học trò năm xưa, trong đó có tôi. Đến lượt tôi kể thầy nghe giai đoạn bán vé số… Thầy đứng lên tỏ ra vui mừng khôn tả.!

–          Nhớ rồi, nhớ rồi!…

–          Thầy nói, chụp hình, chụp hình…

–          Thầy trò ôm nhau, mừng cuộc hạnh ngộ mà thầy cũng không ngờ trước! Thế là bao nhiêu ánh đèn loé sáng, ghi dấu kỷ niệm tình thầy trò. Rồi thầy hỏi thăm về cuộc sống của tôi, của bạn bè “phu xích lô” ngày xưa.

      

Trong buổi tiệc vui, thầy nói, nếu bây giờ đi bán vé số trở lại, vẫn dám làm, không ngại ngùng gì nữa, mà càng vui hơn…

Xin nói thêm rằng trước kia tôi cũng như thầy, làm phu xích lô hay bán vé số thì mắc cở lắm, sợ gặp người quen, bạn cũ. Đôi lúc thấy bạn hay người quen từ xa, vội kéo nón xuống tận mi mắt, cúi gầm mặt, để không ai phát hiện ra mình.!

Bây giờ nhìn lại mới thấy mọi việc cũng bình thường. Đôi lúc đạp xích lô rong ruổi trên từng nẻo đường, gặp lại bạn cũ mừng lắm vì lâu ngày không gặp rồi vào quán uống cà phê, hỏi thăm nhau.

– Có gặp thầy cô, bạn học cũ không mậy?

      Nhắc lại chuyện xưa, bây giờ mới kể, để cảm ơn người và tạ ơn Trời đã cho qua đi cái thời cơ cực và được tồn tại cho đến ngày hôm nay.

Đặng Thái Sơn

Bài này đăng trong Bản Tin số 19, Xuận Mậu Tuất 2018 của Cựu Học Sinh Trường Lương Văn Can, Quận 8, Sài gòn.


 

Vượt biển do nhà nước tổ chức và những cái chết tang thương

Trần Trân

 Đêm chồn dầu vượt biển

Vượt biển do nhà nước tổ chức và những cái chết tang thương

Những ngày qua thế giới đang xót thương cho 39 người xấu số trong một nỗ lực thoát nghèo với một cuộc đào thoát khỏi đất nước nhược tiểu. Thế giới cũng đang dồn sự căm phẫn lên lũ buôn người của đất nước Trung Cộng hiếu chiến. Đọc lại “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức, tôi nhớ lại những cái chết tang thương giống như vậy trong cuộc vượt biển do nhà cầm quyền Việt Nam tổ chức dưới cái tên Đi Bán Chính Thức.

Đi Bán Chính Thức hay Phương Án II

Sau khi chiếm được miền Nam Việt Nam, mâu thuẫn giữa Việt Nam và Trung Cộng ngày càng tăng cao. Trung Cộng lên án Việt Nam đàn áp Hoa Kiều và muốn đem Hoa Kiều về nước. Trong khi đó, Trung ương Đảng CSVN coi người Hoa là đạo quân thứ V và muốn “tương kế, tựu kế” để trả họ về cố quốc.

Thêm vào đó, chính sách cải tạo công thương nghiệp đã đẩy người Hoa Chợ Lớn đi đến chỗ khánh kiệt và họ quyết định vượt biên thay vì về với Trung Cộng mà với họ không khác gì xuống địa ngục. Người Hoa ra đi ngày càng nhiều, chết trên biển cả rất nhiều, Việt Nam bị thế giới lên án. Để đối phó, Việt Nam tổ chức cho họ ra đi bán chính thức, người CS gọi là Phương Án II, ban đầu xem ra là một chủ trương thiện chí.

Phương án II là kế hoạch tuyệt mật, phổ biến miệng, chỉ có bí thư, chủ tịch và giám đốc CA thành phố HCM biết, sau kế hoạch này được thực hiện ở các tỉnh thành phía Nam. Đó là chủ trương “đưa đối tượng ra khỏi điểm nóng”. Đối tượng ở đây là hàng triệu người Hoa chủ yếu sống ở Chợ Lớn. Theo đó, công an thu 8-10 lạng vàng cho một đầu người, rồi dùng tiền để mua tàu hay đóng tàu, tổ chức bến bãi rồi đẩy họ ra biển với cam kết không bắt tàu trong lãnh thổ Việt Nam.

Mặt trái của Phương Án II

Khi những thuyền nhân đã đến các trại tỵ nạn an toàn thì Phương Án II không còn giấu được thế giới. Thủ tướng buộc cho dừng vào tháng 12/1978 rồi phải dời sang tháng 5/1979 do số tàu đã đóng cả trăm chiếc từ vàng thu của các thuyền nhân.

Phương Án II bắt đầu biến tướng. Người Việt với giấy tờ của người Hoa ra đi rất nhiều. Các tỉnh không có bờ biển cũng xin được làm Phương Án II. Thấy Phương Án II ngoài tầm kiểm soát, 20/03/1981 ông Trường Chinh (Chủ tịch nước) đã cho lập Ban Kiểm Tra 69 với mục đích chính là kiểm tra việc thu vàng.

Kết quả điều tra của Ban 69 khác xa với báo cáo của Bộ Nội Vụ cho thấy, Phương Án II đã làm hư hỏng công an CS nhanh chóng. Theo Ban 69, từ tháng 8/78 đến tháng 6/79 có 533 thuyền ra đi mang theo 134.322 người, thu được 16.181 kg vàng (16 tấn!) chưa kể ngoại tệ, nhà cửa được đóng thay cho vàng. Có 105 sĩ quan CA bị kỷ luật. Tất cả các tỉnh đều mắc tội gian lận và lập quỹ đen. Nghiêm trọng nhất phải kể đến tỉnh Minh Hải, giấu 48.195 lượng vàng, Cửu Long giấu 27.000 lượng, Nghĩa Bình giấu 27.000 lượng, Phú Khánh 10.987 lượng…

Công an các tỉnh thu vàng nhưng bội tín làm nhiều người mất cả vàng và cả nhà khi theo đuổi Phương Án II, số người lên đến 18.435 người. Phương Án II chỉ thực sự phá sản khi công an giao cho các thuyền nhân những con tàu không an toàn và nhét vào đó số lượng vượt quá tải trọng của con tàu. Tàu chìm ngay khi vừa rời bến làm hàng trăm người chết. Đắm tàu Cát Lái là một trường hợp tiêu biểu của một kiểu buôn người có giấy phép.

Tang thương Cát Lái

Một ngày thứ Bảy giữa năm 1979, cảng Cát Lái bất thường với hàng trăm công an canh gác nhiều vòng, trong và ngoài cảng. Bên trong, một con tàu dài 30m, rộng 10m, 3 tầng, sáng bóng vẫn còn mùi sơn mới. Tàu này nguyên thủy là một chiếc tàu kéo với khoang chứa đá để giữ thăng bằng được thay bằng khoang chứa nước. Cấu trúc các khoang được thay đổi để chứa được nhiều người nhất có thể được. Máy được thay mới để tăng sức kéo. Người đóng tàu dường như chỉ quan tâm đến khả năng nhét đủ số người chứ không tính toán khoa học về tải trọng của tàu và sự cân bằng khi hoạt động.

Đúng giờ hẹn, đám đông đã nằm suốt đêm tại cảng bắt đầu sốt ruột và tiến về con tàu. Người trưởng tàu bắt loa điểm danh, chỉ chờ như vậy đám đông lũ lượt nhanh chóng tràn xuống tàu. Với khoảng 280 người, con tàu ngay lập tức mất ổn định. Những thuyền nhân ngồi khoang dưới không chịu nổi nóng bức, khó thở đã leo lên trên mui ngồi làm cho con tàu thêm chao đảo. Tất cả những người trên thuyền, kể cả thuyền trưởng do không có kinh nghiệm sông nước, nên bắt đầu hoảng loạn, tìm đường thoát ra khỏi tàu. Con tàu chúi mũi xuống và từ từ cắm sâu vào trong bùn ở đáy sông. Những người ở tầng 1 và 2 không có đường thoát. Tiếng thét gào trên thuyền và tiếng kêu cứu bất lực trên bờ tạo nên một âm thanh thê lương bao trùm một vùng quê yên bình, để rồi thoáng chốc chỉ còn lại những tiếng khóc nấc nho nhỏ của những cư dân sống rải rác trên bờ sông Cát Lái. Hết rồi! Chết hết cả rồi!

Nhà cầm quyền lúc đó đã cho điều hai cần cẩu 60 tấn từ Vũng Tàu vào. Sau hai ngày di chuyển và ba ngày vật lộn, cần cẩu đã kéo con tàu xấu số lên khỏi mặt nước và cũng từ đây người ta biết chính xác có 227 người chết và hơn 40 người trở về từ cõi chết nhưng tất cả như những người mất trí trước thảm kịch gia đình. Xác chết nối tiếp xác chết, dãy hòm gom vội khắp nơi cùng mùi tử thi khiến người ta phải thốt lên: Ai đã đem một Tết Mậu Thân nữa đến với người dân Sài Gòn hiền hòa?

Những người khâm liệm kể rằng trong số xác được vớt lên, người ta thấy có 4 người mẹ ôm chặt con mình trong lòng như những nỗ lực cuối cùng với hy vọng giữ được đứa con thơ để hai mẹ con cùng nhau đoàn tụ ở bên kia thế giới. Trân trọng tình mẫu tử thiêng liêng, những người khâm liệm đã để cho hai mẹ con yên nghĩ cùng nhau trong một cỗ quan tài khô lạnh. Tất cả những người xấu số đã được an táng tại một khu đất cách cầu Giồng Ông Tố 500m.

Phương Án II không chỉ có một Cát Lái bi thảm. Theo báo cáo của Ban 69, chỉ trong vòng 1 năm có 9 tàu chìm làm chết 902 người khi những con tàu này chưa ra khỏi phao số 0. Thử điểm lại vài trường hợp đau lòng: Bến Tre có 1 tàu chìm với 54 người chết, Long An có 1 tàu chìm với người 38 chết, Nghĩa Bình 1 tàu chìm với 78 người chết nhưng khủng khiếp nhất là Tiền Giang có 3 tàu chìm với 504 người chết.

Những sự kiện của hơn 40 năm về trước đã dự báo chính xác một bức tranh đen tối cho một Việt Nam ngày nay.

Trích Bên Thắng Cuộc

-Huy Đức


 

NHÀ VUA ANH CÔNG KHAI NHẮC NHỞ CÁC NGHỊ SỸ ĐẢNG CỘNG HÒA…

Bang Uong

Luong Vu

 NHÀ VUA ANH CÔNG KHAI NHẮC NHỞ CÁC NGHỊ SỸ ĐẢNG CỘNG HÒA..

Vua Charles công khai “chỉnh đốn” các Hạ nghị sĩ Đảng Cộng hòa bằng cách nhắc nhở họ về bổn phận thực thi cơ chế kiểm soát và cân bằng quyền lực đối với ông Trump – ngay trước mặt họ – trong bài phát biểu mang tính lịch sử trước Quốc hội!

Trong bài phát biểu trước phiên họp chung của Quốc hội, Vua Charles III đã nhấn mạnh những cội rễ lịch sử sâu sắc gắn kết nền dân chủ Anh và Mỹ; ông lưu ý rằng Magna Carta – văn kiện cổ xưa có chức năng giới hạn quyền lực hoàng gia – đã được viện dẫn trong ít nhất 160 vụ án tại Tòa án Tối cao kể từ năm 1789.

Ông chỉ ra rằng Magna Carta, ra đời từ năm 1215, chính là nền tảng cho nguyên tắc khẳng định: quyền hành pháp phải có giới hạn, người dân được hưởng các quyền lợi, và nguyên thủ quốc gia cũng phải tuân thủ pháp luật.

Câu nói này đã nhận được sự hoan nghênh nhiệt liệt từ các nhà lập pháp, khiến tất cả phải đứng dậy vỗ tay tán thưởng.

Thông điệp được gửi gắm là vô cùng rõ ràng: không một ai – ngay cả một vị vua, và chắc chắn là cả một vị tổng thống – được phép đứng trên pháp luật hay Hiến pháp.

Trong bối cảnh ông Donald Trump liên tục thách thức các giới hạn của quyền hành pháp và công kích những thể chế vốn được thiết lập để kiểm soát quyền lực của ông, lời nhắc nhở từ Vua Charles càng trở nên đầy trọng lượng và ý nghĩa.

Đó là một sự tương phản đầy mạnh mẽ: trong khi ông Trump liên tục công kích các thẩm phán, giới truyền thông và bất kỳ ai dám tìm cách kiềm chế ông, thì vị quân vương nước Anh lại đứng trước Quốc hội để tôn vinh chính những giá trị cốt lõi của trách nhiệm giải trình và một chính quyền có giới hạn quyền lực. Dân chủ – một giá trị mà ngay cả một vị vua thực thụ cũng biết trân trọng.

Nếu bạn tán đồng lời nhắc nhở đầy tinh tế nhưng cũng vô cùng dứt khoát của Vua Charles về việc không ai được đứng trên pháp luật, xin hãy nhấn “Thích” và chia sẻ bài viết này.


 

Vĩnh biệt nhà thơ Phạm Thiên Thư

Khang Duy Nguyen

 Vĩnh biệt nhà thơ Phạm Thiên Thư – Phạm Thiên Thư tên thật là Phạm Kim Long, sinh ngày 1-1-1940 xuất thân trong một gia đình đông y. Quê cha: xã Đình Phùng, Kiến Xương, Thái Bình. Quê mẹ: xã Trung Mẫu, Từ Sơn, Bắc Ninh. Sinh quán: Lạc Viên, Hải Phòng. Trú quán: Trang trại Đá Trắng, Chi Ngãi, Hải Dương (1943-1951), Sài Gòn (1954 đến nay).

Từ 1964-1973: Tu sĩ Phật giáo, làm thơ. Năm 1973, đoạt giải nhất văn chương toàn quốc với tác phẩm Hậu Kiều – Đoạn trường vô thanh. Năm 1973-2000: Nghiên cứu, sáng lập và truyền bá môn Dưỡng sinh Điển công Phathata (viết tắt chữ Pháp-Thân-Tâm).

Tác phẩm đã in: Thơ Phạm Thiên Thư (1968); Kinh Ngọc (thi hoá Kinh Kim Cương); Động Hoa Vàng (thơ, 1971); Đạo ca (Nhạc Phạm Duy); Hậu Kiều – Đoạn trường vô thanh (1972); Kinh Thơ…

Nói về cõi thơ Phạm Thiên Thư, Hà Thi trong “Phạm Thiên Thư, người thi hoá kinh Phật” đã viết: “Nhà thơ họ Phạm này tuy xuất hiện khá muộn (1968), nhưng cũng đã đóng góp vào văn học khá nhiều tác phẩm, đặc biệt là những thi phẩm ở dạng khá độc đáo: thơ đạo!”

Một trong những tác phẩm ấy của Phạm Thiên Thư đã được giải thưởng Văn Học Toàn Quốc (miền Nam VN) vào năm 1973 (tác phẩm Đoạn Trường Vô Thanh). Một số thơ của ông được phổ thành ca khúc đã mang lại một số đông công chúng yêu thích thơ ông: “Em lễ chùa này”, “Ngày Xưa Hoàng Thị”, “Động Hoa Vàng”, “Gọi Em Là Đoá Hoa Sầu”…

Rằng xưa có gã từ quan

Lên non tìm động hoa vàng, ngủ say…

Sông này chảy một dòng thôi

Mây đầu sông thẫm tóc người cuối sông…

Ta về rũ áo mây trôi

Gối trăng đánh giấc bên đồi dạ lan…

Thơ Phạm Thiên Thư cứ vấn vít nửa đời nửa đạo như thế, thật là khác thường, làm cho độc giả ngẩn ngơ, bất ngờ… Quả là cõi thơ Phạm Thiên Thư đã giúp chúng ta khám phá thêm những cửa ngõ mới lạ, phong phú về tôn giáo, tình yêu và thiên nhiên…

Phải chăng khát vọng kiếm tìm là một yếu tính của tình yêu. Và khi nào còn khát vọng tìm kiếm thì tình yêu vẫn còn nguyên giá trị; vẫn mãi mãi là một tiếng gọi thao thiết trong cõi tâm linh của mỗi con người. Đó cũng là điều ta bắt gặp trong thơ Phạm Thiên Thư, một con người suốt đời đi tìm “bụi đỏ” khiến chúng ta không khỏi thấy se lòng. Để rồi cũng như thi nhân ta cứ mãi:

Tìm xưa quẩn quanh

Ai mang bụi đỏ

Dáng ai nho nhỏ

Trong cõi xa vời.

Tình ơi!… Tình ơi!…

(Ngày xưa Hoàng thị)

Hôm nay nghe tin ông mất,  xin thắp một nén hương lòng kính tiễn người đi thong dong bên trời quên lãng.

Sugar Land, Texas

 7 tháng 5 năm 2026

Nguyễn Duy Khang 


 

TỪ CÔ TIẾP VIÊN XINH ĐẸP CỦA HẢNG HÀNG KHÔNG MỸ TRỞ THÀNH THÁNH NỮ Ở VIỆT NAM…

Việt Luận – Viet’s Herald

TỪ CÔ TIẾP VIÊN XINH ĐẸP CỦA HẢNG HÀNG KHÔNG MỸ TRỞ THÀNH THÁNH NỮ Ở VIỆT NAM…

Đầu tháng 10 năm 1962, chiếc phi cơ hàng không Panam (Mỹ), chở mấy trăm Giám mục người Mỹ đi họp Công Đồng Chung Vatican II. Trong hai cô tiếp viên hàng không phục vụ hành khách, có một cô kiều diễm tuyệt vời. Đức Cha Fulton Sheen, Tổng Giám mục giáo phận New York đồng thời là một nhà văn và một nhà hùng biện nổi tiếng nước Mỹ, đã lưu ý đến sắc đẹp của cô tiếp viên này.

Vào một ngày cuối năm 1965. Trên một chuyến máy bay đưa các Giám mục người Mỹ trở về từ Ý sau khi đã dự Công Đồng Vatican II, có một nữ tiếp viên hàng không rất xinh đẹp, tận tình và nhã nhặn phục vụ hành khách. Thế nhưng, trong suốt hành trình, cô tiếp viên hàng không trẻ đẹp này rất bực bội và rất mất tự nhiên vì có một người đàn ông, xem ra thiếu đứng đắn, cứ liên tục đảo đôi mắt chăm chú nhìn mình.

Càng đáng bất bình hơn, khi đó là một người đàn ông đã lớn tuổi. Cô lại càng khó chịu hơn, vì ngay sau đó cô được biết, người đàn ông ấy chính là Đức cha Fulton Sheen, Tổng Giám mục thành New York, một con người nổi tiếng về khoa ăn nói, giảng dạy và đạo đức. Ngài là một Giám mục tông đồ lừng danh nước Mỹ.

Thật là quái gở không thể tưởng tượng! Một kẻ xem ra thiếu tư cách ấy, lại là con người của thành công, của sự nổi tiếng sao? Cô không hiểu nổi và thầm chê trách coi khinh vị Giám mục già kia.

Đến lúc chiếc phi cơ hạ cánh, kỳ quái thật, vị Giám mục già bị coi là “thiếu đứng đắn” kia lại không xuống cùng lúc với các hành khách. Không hiểu ngài có toan tính gì mà lại đợi mọi người trên máy bay xuống hết, chỉ còn mỗi mình ngài là vị khách xuống sau cùng. Đã vậy, khi đến cầu thang máy bay, Đức Cha Fulton Sheen còn ghé sát mặt mình vào tai cô tiếp viên hàng không nói thầm thì những lời gì đó, ngoài cô gái, chẳng ai có thể nghe thấy…

Câu chuyện đến đó, tưởng chừng kết thúc. Những tưởng sự khó chịu của cô gái tiếp viên hàng không rồi cũng trôi qua, cái nhìn tưởng như khiếm nhã của vị Giám mục già rồi cũng chẳng còn ai nhớ, có chăng một ánh mắt dù khiếm nhã (theo như ý nghĩ của cô gái), thì cũng chỉ là một ánh mắt thoáng qua như bao nhiêu ánh mắt mà cô gái bắt gặp trong đời mình?

Không phải thế. Mọi sự không trôi đi, không mất. Bởi vào một buổi trưa, Đức Cha Futon Sheen nghe tiếng gõ cửa, và sau đó là sự bất ngờ của Đức Cha khi ngài mở cửa. Trước mặt ngài là cô gái tiếp viên hàng không trẻ tuổi có sắc đẹp mặn mà trên chuyến bay hôm nào, đã từng có ánh mắt thiếu thiện cảm với ngài.

Cô gái lên tiếng chào Đức Cha và hỏi:

– Thưa Đức Cha, Đức Cha có nhớ con không?

Đức Cha Fulton Sheen từ tốn trả lời:

– Cha nhớ chứ. Con chính là cô gái tiếp viên hàng không trên chiếc máy bay đưa chúng tôi trở về từ Công Đồng Vatican II.

Cô gái nói tiếp:

– Vậy Đức Cha có nhớ Đức Cha đã nói nhỏ vào tai con điều gì không?

Đức Cha trả lời:

– Nhớ! Cha nhớ, Cha đã khen con đẹp lắm. Và cha hỏi con rằng, có bao giờ con đã cảm tạ Chúa vì Chúa đã ban cho con sắc đẹp tuyệt vời kia chưa?

Cô gái sung sướng nói tiếp:

– Kính thưa Đức Cha, điều Đức Cha nói đã làm con băn khoăn nhiều. Cũng chính vì điều đó mà hôm nay con đến gặp Đức Cha. Vậy, theo ý Đức Cha, con phải làm gì để tạ ơn Chúa?

Hơi bất ngờ, Đức Cha Fulton Sheen lặng người suy nghĩ một chút. Sau đó Đức Cha dẫn cô gái tới trước tấm bảng đồ thế giới treo trên tường, vẫn giọng nói ôn tồn, Đức Cha hỏi:

– Có bao giờ con nghe nói tới một trại phong cùi nào ở Việt Nam mang tên là trại phong Di Linh chưa?

Cô gái ngước đôi mắt xanh như dò hỏi:

– Kính thưa Đức Cha, có lần con đã đọc được trên báo. Con cũng đã được nghe ai đó kể một vài chuyện về trại cùi Di Linh.

Đức Cha dõi mắt nhìn vào khoảng xa xăm trước mặt:

– Này con, cách đây chưa lâu, cha nghe nói Đức Giám mục giáo phận Sài Gòn tên là Jean Cassaigne đã từ chức Giám mục Sài Gòn để đến phục vụ anh chị em trại phong Di Linh. Con có muốn cảm tạ Chúa bằng cách thử một lần đến trại phong Di Linh, gặp Đức Giám Mục Sài Gòn và ở lại với anh chị em bệnh phong khoảng sáu tháng không?

Quá bất ngờ trước lời đề nghị của Đức Giám Mục thành New York, cô gái không thốt lên một lời, lặng lẽ cúi chào Đức Cha rồi rút lui trong sự bàng hoàng của chính nội tâm của cô…

Một lần nữa, người ta cứ tưởng rằng câu chuyện thật nhẹ nhàng, nhưng cũng thật mãnh liệt của Đức Cha Fulton Sheen và cô tiếp viên hàng không kia đã chấm dứt.

Nhưng thật lạ lùng, chỉ bằng ấy lời đề nghị nhẹ nhàng, nhưng dứt khoát của Đức Cha, đã làm thay đổi hoàn toàn cuộc đời của cô tiếp viên hàng không xinh đẹp.

Những tháng đầu năm 1966, người ta đọc thấy một bảng tin đáng khâm phục trên các phương tiện truyền thông của Sài Gòn và của Việt Nam nói chung: Một nữ tiếp viên hàng không rất trẻ, rất đẹp của một hãng hàng không Hoa Kỳ đã xin nghỉ nghề làm tiếp viên hàng không để đến trại phong Di Linh của Việt Nam, tình nguyện chăm sóc các bệnh nhân phong.

Thật đẹp, đẹp làm sao. Chỉ chừng ấy lời của một vị Giám Mục khả kính thôi, tâm hồn quả cảm của một cô gái lãng du thích phiêu bồng khi chọn cho mình nghề tiếp viên, rày đây mai đó, đã có thể chấp nhận trút bỏ tất cả tương lai đẹp như chính cái vẻ đẹp của cô để sống, không phải sáu tháng, nhưng là suốt đời cho một lý tưởng cũng đẹp không kém: Tạ ơn Thiên Chúa.

Chỉ chừng ấy thôi, lời của một vị Giám mục khả kính đã biến một cô chiêu đãi viên hàng không xinh đẹp thành một nữ tu. Bởi chính cô, sau một thời gian phục vụ anh chị em phong, đã tự nguyện khoác lấy chiếc áo nữ tu trong Hội Dòng Nữ Tử Bác Ái Vinh Sơn Việt Nam. Từ nay, bước vào đời sống tu trì, Người Nữ Tu, cô gái xinh đẹp của chúng ta, hoàn toàn trút bỏ mọi vướng bận của đời thường để yên tâm sống lý trưởng cảm tạ Chúa bằng việc phục vụ anh chị em phong của mình. Người nữ tu đã từng làm tiếp viên hàng không ấy, đẹp quá. Chị đẹp, không chỉ là một sắc đẹp thân xác, mà chính là một vẻ đẹp lộng lẫy của tâm hồn. Người Nữ Tu ấy, không ai khác hơn, nhưng đó chính là Chị Louise Bannet.

Chị Louise Bannet đã tình nguyện ở lại trại phong Di Linh suốt đời. Nhưng biến cố của năm 1975 gây ra nhiều biến động, khiến Chị không thể tiếp tục ý nguyện của mình. Sau mười năm phục vụ người phong, Chị đã phải lên đường về nước. Một thời gian sau, Chị lại xin Nhà Dòng cho đi phục vụ bệnh nhân phong ở Tahiti.

Năm 1982, sau nhiều ngày bị căn bệnh ung thư quái ác hoành hành, Chị Louise Bannet đã qua đời giữa sự tiếc thương vô cùng của cộng đoàn anh chị em phong tại Tahiti. Và trong tình liên đới, cũng như trong lòng biết ơn của mình, cũng là chính lòng tiếc thương của các bệnh nhân phong Việt Nam nói chung và tất cả những ai sống tại trại phong Di Linh nói riêng.

Anthony Trung Thành 


CHÂU NHUẬN PHÁT: VỊ HIỀN TRIẾT TU ĐẠO BẰNG ĐỜI

CHÂU NHUẬN PHÁT: VỊ HIỀN TRIẾT TU ĐẠO BẰNG ĐỜI

 “Tiền không phải của tôi, tôi chỉ tạm thời giữ nó mà thôi.”

 Trong thế giới giải trí nơi nhiều ngôi sao gắn liền với sự xa hoa, Châu Nhuận Phát lại nổi bật theo một cách rất khác: sống giản dị, khiêm nhường và xem tiền bạc chỉ là thứ tạm giữ trước khi trao lại cho đời.

 Nam diễn viên huyền thoại của điện ảnh Hồng Kông từng tuyên bố ông sẽ tặng khoảng 99–100% tài sản của mình cho từ thiện sau khi qua đời. Khối tài sản của ông được ước tính khoảng 700–715 triệu USD (tương đương khoảng 17.000–18.000 tỉ đồng Việt Nam).

 Ông giải thích rất thẳng thắn:

 “This money isn’t something you possess forever. When you’re gone one day, you have to leave it to others to use it. You can’t bring the money in your bank account with you after you die.”

 Tạm dịch:

Tiền không phải thứ ta có thể sở hữu mãi. Khi rời khỏi thế gian, hãy để người khác sử dụng nó. Không ai mang tiền theo sau khi chết.

 

 Sống giản dị dù là siêu sao

 Dù là một trong những ngôi sao lớn nhất châu Á, Chow Yun-fat lại sống rất bình dân.

 Ông thường đi tàu điện, xe buýt, ăn ở quán bình thường và hiếm khi tiêu xài xa xỉ. Nhiều người dân Hong Kong từng bắt gặp ông tự đi dạo phố, leo núi hay chụp ảnh vui vẻ với người hâm mộ. 

Triết lý sống của ông được tóm gọn trong một câu nói nổi tiếng:

 “The money is not mine; I just keep it temporarily.”

 Tiền không phải của tôi – tôi chỉ giữ nó tạm thời.

 

 Chuẩn bị tài sản cho hoạt động từ thiện

 Trong những năm gần đây, Chow Yun-fat bắt đầu bán bớt bất động sản để chuyển tài sản thành tiền mặt phục vụ cho kế hoạch từ thiện lâu dài.

 Một căn hộ cao cấp tại khu Tây Bán Sơn (Hong Kong) vừa được bán khoảng 8 triệu HKD. Căn hộ này được vợ chồng ông mua từ năm 1995 với giá hơn 3 triệu HKD, và sau gần 30 năm giá trị đã tăng đáng kể.

 Ông và vợ dự định thành lập quỹ từ thiện, dùng tài sản của mình hỗ trợ các lĩnh vực như:

 * giáo dục

* y tế

* xóa đói giảm nghèo

 Đối với họ, di sản thật sự không phải là tài sản để lại cho gia đình, mà là những đóng góp cho xã hội.

 

 Bi kịch khiến ông không có con

 Chow Yun-fat kết hôn với Jasmine Tan. Hai người từng mong chờ một đứa con, nhưng năm 1991, bi kịch xảy ra khi em bé không sống được sau khi sinh dù thai kỳ đã gần đủ tháng.

 Sự mất mát này ảnh hưởng rất sâu sắc đến cả hai vợ chồng. Sau đó họ quyết định không cố gắng sinh thêm con, chọn sống bình an bên nhau thay vì tiếp tục đối mặt với nguy cơ tổn thương tương tự.

 Một triết lý sống rất giản dị

 Chow Yun-fat từng nói:

 “When we came into this world, we had nothing, and we will leave with nothing.”

 Chúng ta đến thế gian tay trắng, và cũng sẽ rời đi tay trắng.

 Có lẽ chính vì vậy mà ông chọn cách sống khác với nhiều ngôi sao:

Không bám vào tiền bạc, không chạy theo xa hoa, và xem tài sản chỉ là phương tiện để giúp đỡ người khác.

 Sau hàng chục năm nổi tiếng, nhiều người nhận ra rằng:

 Châu Nhuận Phát không chỉ là một minh tinh điện ảnh.

Ông là một người đang “tu đạo bằng chính cuộc đời mình.” ✨

 Theo: Vietgiaitri.com

From: taberd & NguyenNThu

CHUYỆN LÁ CỜ VÀNG VÀ ĐỪNG PHẠM TỘI VÌ THIẾU HIỂU BIẾT

Xuyên Sơn

 

CHUYỆN LÁ CỜ VÀNG VÀ ĐỪNG PHẠM TỘI VÌ THIẾU HIỂU BIẾT

Tôi dám cá với các bạn là hiện nay có rất nhiều người Việt mình

( con số có thể hàng triệu , trẻ có mà già cũng có )

nghĩ rằng lá cờ vàng ba sọc đỏ là cờ của chính phủ VNCH trước 1975 . Thậm chí cũng có trường hợp như thằng bạn chơi chung trong hội xe đạp của tôi, hơn 40 tuổi nhưng nó còn hỏi tôi cờ vàng ba sọc là cờ gì ?

    Chính gì hiểu sai và mù tịt về nguồn gốc cho nên hễ thấy ở đâu xuất hiện lá cờ vàng là trong đầu họ lởn vởn 2 chữ “ phản động” hoặc “Cờ của ngụy”

Rồi co rúm người lại , sợ hãi , ngó dáo dác xung  quanh coi có Công an không

     Thực trạng dốt nát , hiểu sai về nguồn gốc lá cờ vàng dân tộc

(và nhiều chuyện ghê gớm khác nữa ) của số đông người Việt chúng ta bởi vì liên tiếp từ thế hệ này đến thế hệ khác chúng ta bị nhà trường XHCN dạy những điều sai sự thật liên quan lịch sử

   Thú thật với các bạn là tôi cũng nằm trong số đông người Việt bị tiêm nhiễm kiến thức lịch sử đầy dối trá như thế .

Tôi cũng một thời u mê mụ mị, bởi cái tuổi tôi cũng học cùng 1 chương trình giáo dục đó thôi.

Tuy nhiên, ở đời khôn hay dại là do mình.

Chấp nhận làm cừu cho người ta dắt  hay muốn tự khai sáng là do mình . ….

Ngày nay phương tiện để khai sáng học hỏi nó ở ngay trong nhà mình . Thậm chí không cần đến trường vẫn có thể trở thành một người thông thái….

Trở lại câu chuyện lá cờ vàng, đó không phải là lá cờ do chế độ

“ mỹ ngụy “ sáng tác ra  như đám bò đỏ, dlv vẫn nghĩ .

Đó cũng không phải là lá cờ thù địch đáng ghét để xé để dẫm đạp lên để rồi phạm tội như 1 cậu du học sinh tại Úc đang ồn ào.

Mà đây chính là lá cờ của dân tộc Việt đã truyền qua nhiều chính thể mà chính phủ VNCH chỉ là sự tiếp nối theo dòng chảy lịch sử ( google)

Nếu được giáo dục đúng sự thật sẽ không có thái độ cực đoan và sẽ không phạm tội như chuyện đang xảy ra.

    Nền giáo dục XHCN phải chịu trách nhiệm về chuyện này.

Nhưng trước hết chúng ta phải tự cứu mình bằng cách mỗi người phải tự khai sáng cho bản thân

Ai đó đã nói rất đúng

“ Ngày xưa không có internet bị cộng sản lừa thì không phải lỗi của mình. Ngày nay có internet mà vẫn bị cộng sản lừa là tại mình …. quá ngu mà thôi”

Nguồn fb Hai Tran 


 

ÂN PHI HỒ THỊ CHỈ: YÊU VUA DUY TÂN, CƯỚI VUA KHẢI ĐỊNH,

 8 SÀI GÒN 

ÂN PHI HỒ THỊ CHỈ: YÊU VUA DUY TÂN, CƯỚI VUA KHẢI ĐỊNH, CUỐI ĐỜI RỐI LOẠN TÂM THẦN, KHÔNG CON CÁI, ĐI BÁN BÁNH DẠO…

Câu chuyện về Ân Phi Hồ Thị Chỉ (1902 – 1982) là một bi kịch. Bà yêu hoàng đế Duy Tân nhưng cuối cùng lại trở thành hoàng phi của vua Khải Định. Bà sống cuộc sống tẻ nhạt bên cạnh Khải Định, không con cái. Sau khi vua qua đời, bà phải dọn ra khỏi hoàng cung, mắc bệnh t^mthần, sống cô đơn cho đến cuối đời.

Hồ Thị Chỉ là con gái của Thượng thư bộ Học Hồ Đắc Trung và bà Châu Thị Ngọc Lương. Bà lớn lên trong gia tộc danh giá bậc nhất xứ Huế. Những người anh em của bà đều là bậc trí thức nổi tiếng như Hồ Đắc Di, Hồ Đắc Khải, Hồ Đắc Điềm… Nhưng giữa gia đình hào môn ấy, cuộc đời Hồ Thị Chỉ lại sớm bị định đoạt bởi những mối dây vô hình của hoàng tộc và chính trị.

Người ta kể rằng, mùa hè năm 1913, khi vua Duy Tân còn là một thiếu niên, những buổi nghỉ mát ở Cửa Tùng đã vô tình mở ra một đoạn duyên kỳ lạ. Những đứa trẻ của gia đình Hồ Đắc Trung được đưa theo để bầu bạn với hoàng đế. Trong tiếng sóng biển rì rào và nắng hè chói chang, cô bé 11 tuổi Hồ Thị Chỉ mang vẻ đẹp e ấp, thẹn thùng đã khiến vị vua 14 tuổi chú ý.

Không phải một cuộc gặp gỡ của những lời thề non hẹn biển, không phải một khởi đầu được báo trước bằng nghi lễ, chỉ là một rung động âm thầm giữa hai đứa trẻ bị đặt vào vòng cung cấm của lễ nghi và thân phận. Về sau, chính sư bà Diệu Không, em ruột của Hồ Thị Chỉ, đã viết lại những ký ức ấy như một mảnh vỡ dịu dàng: Vua gọi các anh là “anh”, gọi Chỉ là “em”, ánh mắt dừng lại nơi bà nhiều hơn tất cả.

Mùa hè kết thúc, cuộc chia ly đến như một lưỡidao cắt ngang tuổi thơ. Hồ Thị Chỉ khóc. Vị vua trẻ lặng im. Và rồi lời hẹn “sang năm gặp lại” được thốt ra như một chiếc lá mong manh treo giữa trời, không ai biết sẽ rơi lúc nào.

Năm sau, khi Hồ Thị Chỉ đã lớn hơn, mẹ không cho phép bà trở lại Cửa Tùng gặp vua. Khi vua Duy Tân được hai bà Hoàng Thái Hậu cho phép nạp phi, ông đã chọn tiểu thư họ Hồ. Thế nhưng, trớ trêu là cuối năm 1915, vua Duy Tân đã mời Thượng thư Hồ Đắc Trung gặp riêng và nói lời rút lui việc hôn nhân với Hồ Thị Chỉ mà không cho biết lý do. Không một sự an ủi nào đủ sức làm dịu đi nỗi sững sờ của gia đình họ Hồ. Và rồi chỉ ít lâu sau, vua kết hôn, ngồi trong kiệu hoa bước vào hoàng cung không phải Hồ Thị Chỉ, mà là một cô gái khác.

Sau này, vua Duy Tân tham gia cuộc khởi nghĩa chống Pháp, rồi bị bắt lưu đày. Theo lời khai của nhà vua với người Pháp, sở dĩ ông thay đổi ý định kết hôn với con gái Thượng thư Hồ Đắc Trung vì lúc bấy giờ, ông đã nhận lời tham dự cuộc khởi nghĩa vũ trang do Quang Phục hội lãnh đạo, nên không muốn người yêu là Hồ Thị Chỉ và gia đình đông con của Thượng thư Hồ Đắc Trung phải gánh chịu liên lụy. Tiểu thư Hồ Thị Chỉ nghe vậy càng thêm cảm phục quý mến tình cảm của Duy Tân và nguyện một đời sốngchết vì vua.

Thế nhưng cuộc đời không đơn giản như vậy.

Vua Khải Định bước lên ngai vàng trong bối cảnh lịch sử đầy biến động. Ngài nhìn thấy Hồ Thị Chỉ trong một cuộc gặp mang tính nghi thức. Lời cầu hôn được đưa ra không phải như một lời hỏi han, mà như một mệnh lệnh. Trong căn nhà họ Hồ, không khí nặng trĩu. Cha bà hiểu rằng đây không còn là chuyện tình cảm đơn thuần. Đây là lựa chọn giữa danh dự và tai họa. Giữa sự sống còn của cả gia tộc và ý chí của một người con gái.

Hồ Thị Chỉ khóc, nói muốn ở lại bên cha mẹ suốt đời, không muốn bước vào bất kỳ cuộc hôn nhân nào, vì trong lòng chỉ yêu vua Duy Tân. Nhưng tiếng khóc ấy, dù xé lòng, vẫn không thể chống lại sức nặng của “khẩu dụ”. Trong triều đình, một lời của vua không chỉ là lời nói, nó là số phận.

Những ngày sau đó là chuỗi ngày dài như không có bình minh. Cả gia đình thay nhau thuyết phục. Cuối cùng, Hồ Thị Chỉ chấp nhận kết hôn với vua Khải Định.

Ngày 3 tháng 12 năm 1917, lễ nạp phi diễn ra long trọng. Hồ Thị Chỉ, 15 tuổi, trở thành Ân phi, Nhất giai Phi, bậc cao nhất trong hàng hậu cung, chỉ dưới Hoàng quý phi. Một danh vị mà người ngoài nhìn vào tưởng là vinh quang, nhưng với bà, đó là cánh cửa khép lại mọi con đường trở về.

Trong cung, bà được xem trọng do thông thạo chữ nghĩa, giỏi tiếng Pháp. Bà từng xuất hiện trong các buổi tiếp tân như gương mặt đại diện cho sự giao thoa Đông Tây. Nhưng phía sau những nghi lễ ấy là một đời tư trống rỗng. Không con cái. Không điểm tựa tình cảm. Không một tiếng gọi thân thuộc giữa bốn bức tường vàng son.

Một số giai thoại gây tranh cãi về vua Khải Định vẫn luôn khiến hậu thế xôn xao. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân từng ghi nhận những lời đồn rằng vị hoàng đế này có sở thích đặc biệt với nam giới, thậm chí trong suốt 10 năm trị vì (1916-1925) còn nuôi thị vệ Nguyễn Đắc Vọng bên cạnh. Ban đêm nhà vua thường gọi Vọng vào ngủ chung và ban thưởng hậu hĩnh. Các quan đại thần muốn đưa con gái mình vào làm vợ vua. Khó lòng chối từ, vua thường nói với các quan: “Nội cung của Trẫm là một cái chùa (ý nói không có chuyện ái ân), ai muốn tu thì cứ vào.”

Không dừng lại ở đó, nhiều tài liệu truyền miệng còn nói Khải Định đặc biệt mê hát bội nhưng chỉ chuộng gánh tuồng toàn nam, kể cả vai nữ cũng do nam giả trang. Bên cạnh đó, nhà vua còn bị mô tả là người ưa trang điểm, đeo trang sức cầu kỳ, ăn mặc sặc sỡ và thậm chí tự thiết kế y phục khác lạ, tạo nên hình ảnh một vị hoàng đế dị biệt.

Khải Định qua đời năm 1925. Triều đại đổi chủ. Bảo Đại lên ngôi, cải tổ nội cung. Những danh phận cũ bị sắp xếp lại như những quân cờ bị xáo trộn. Hồ Thị Chỉ phải rời khỏi hoàng cung. Không con cái, nỗi cô đơn ngày một lớn, bà mắc bệnh tr/cảm và rối loạn t^mthần.

Từ một Ân phi sống trong lầu son gác tía, bà trở thành một bóng dáng lặng lẽ, phiền muộn, sống lay lắt giữa đời. Mỗi ngày, bà mang một rổ bánh nậm ra chợ An Cựu, khi thì bán, khi thì cho, không màng lời lãi, áo quần và nơi ở xuề xòa, tạm bợ. Bệnhtinh thần theo năm tháng ngày càng nặng.

Năm 1975, cuộc đời bà như được kéo lại từ bờ vực khi hai người anh ruột là Hồ Đắc Điềm và Hồ Đắc Di từ Hà Nội vào Huế, tìm gặp lại em gái sau bao năm xa cách. Từ đó, bà dần được chăm sóc, bệnh ổn định hơn, không còn đi lang thang ngoài đường như trước.

80 tuổi, Ân phi suy kiệt vì tiêu chảy và qua đời tại Bệnh viện Trung ương Huế. Mộ phần của bà được an táng bên cạnh song thân trong khu lăngmộ họ Hồ trên đồi thông gần chùa Hồng Ân, nơi do ni trưởng Thích Nữ Diệu Không, em gái bà, sáng lập và trụ trì.

Cuộc đời bà, nếu nhìn bằng mắt thường, là một chuỗi vinh hiển: Từ con gái quan lớn, đến Ân phi quyền quý, rồi sống trong những dinh thự sang trọng. Nhưng nếu nhìn bằng trái tim, đó là một bi kịch kéo dài, bi kịch của một người phụ nữ bị đặt giữa những vòng xoáy của lịch sử, nơi tình yêu đầu đời bị cắt đứt, hạnh phúc bị định đoạt và cô đơn trở thành bạn đồng hành cuối cùng.

Trong những bức tường thành cung điện Huế hôm nay, đâu đó như còn vang lên tiếng thở dài rất khẽ của một người con gái từng sống một đời rực rỡ bên ngoài, nhưng cô quạnh, đau khổ sâu trong tâm khảm.

Thu Hằng (Tổng hợp)

SÀI GÒN KỶ – NIỆM


 

Mexico City lún nhanh tới mức có thể nhìn thấy từ không trung

Ba’o Nguoi-Viet

May 6, 2026

MEXICO CITY, Mexico (NV) – Mexico City, thủ đô Mexico, đang lún nhanh tới mức có thể nhìn thấy từ không trung, theo CNN hôm Thứ Ba, 5 Tháng Năm.

Hình chụp bằng hệ thống radar rất mạnh của Cơ Quan Hàng Không và Vũ Trụ Quốc Gia của Mỹ (NASA) cho thấy Mexico City đang lún hơn nửa inch một tháng – trở thành một trong những thủ đô lún nhanh nhất thế giới.

Đường sá bị nứt tại quảng trường Zocalo ở Mexico City, Mexico. (Hình: Hector Vivas/Getty Images)

Mexico City, cũng là một trong những thành phố lớn nhất thế giới, trải dài khắp một hồ nước ở trên cao và nằm bên trên tầng nước ngầm cổ, cung cấp khoảng 60% lượng nước uống cho 22 triệu cư dân siêu đô thị này.

Qua nhiều năm, tầng nước ngầm bị bơm quá mức, làm đất bên trên bị lún. Tình trạng bơm nước quá mức còn góp phần gây ra khủng hoảng nước triền miên, khiến Mexico City có nguy cơ không lâu nữa sẽ hết nước uống.

Tình trạng sụt lún nhanh của Mexico City càng thêm trầm trọng do việc đô thị hóa không ngừng vì cơ sở hạ tầng mới làm tăng sức nặng đè lên lớp đất đầy đất sét của thành phố này.

Tình trạng sụt lún của Mexico City được lưu vào hồ sơ lần đầu tiên vào những năm 1920. Kể từ đó, cư dân bắt đầu chứng kiến hậu quả: Đường sá bị nứt, nhà cửa bị nghiêng và hệ thống đường rầy bị hư hại.

Hình ảnh mới từ vệ tinh NISAR, dự án của NASA với Tổ Chức Nghiên Cứu Vũ Trụ Ấn Độ, cho thấy thành phố này lún nhanh tới mức đáng giật mình.

Từ Tháng Mười, 2025 tới Tháng Giêng, 2026, giữa mùa khô ở Mexico City, hình ảnh do NISAR chụp cho thấy nhiều nơi ở thành phố này lún khoảng 0.8 inch một tháng, tương đương hơn 9.5 inch một năm.

Trong những nơi bị lún nặng nhất, có Phi Trường Quốc Tế Benito Juarez, phi trường chính của Mexico City.

Tượng đài Thiên Thần Độc Lập, công trình biểu tượng của Mexico City, cho thấy rõ hậu quả. Được xây dựng năm 1910 để kỷ niệm 100 năm ngày Mexico độc lập khỏi Tây Ban Nha, công trình cao 114 foot này phải xây thêm 14 bậc thềm dưới chân do mặt đất bị lún. (Th.Long)


 

AI LÀ TÊN SÁT NHÂN SỐ 1 THẾ GIỚI THẾ KỶ 20?

Việt Tân 

AI LÀ TÊN SÁT NHÂN SỐ 1 THẾ GIỚI THẾ KỶ 20?

Giết người – Một tội ác ghê rợn khi chính con người cướp đi mạng sống của đồng loại mình. Người ta có thể giết nhau bằng rất nhiều cách:

  1. Tự sát: giết hại chính bản thân mình.
  2. Dùng các loại vũ khí, sức lực hoặc kỹ năng để trực tiếp giết người.
  3. Dùng trí thông minh để gián tiếp giết người.

Nhưng có 1 loại sát nhân tàn bạo với số lượng nạn nhân vô cùng lớn. Đó là cách người ta dùng 1 thứ vũ khí vô hình nhưng có sức hủy diệt lớn gấp nhiều lần bom nguyên tử. Đó là thể loại gì?

ĐÓ LÀ DÙNG TƯ TƯỞNG ĐỂ GIẾT NGƯỜI

Lịch sử ghi nhận 2 tên sát nhân tầm cỡ nhất của thế kỷ 20. Thật tình cờ cả 2 đều đến từ nước Đức. Đó là ai?

  1. Người đầu tiên không thể không nhắc đến đó là Adolf Hitler – Chủ tịch đảng công nhân Đức quốc gia xã hội chủ nghĩa – Quốc trưởng của Phát xít Đức

Vũ khí mạnh nhất ông ta dùng không phải là vũ khí hay khoa học kỹ thuật mà nước Đức sở hữu thời bấy giờ. Vũ khí lớn nhất của ông ta là 1 quyển sách tên là “Mein Kampf”. Nó chứa đựng tư tưởng của ông ta tư tưởng CHỦNG TỘC. Ông ta cho rằng dân tộc ông ta là dân tộc thượng đẳng và có kiếm đi xâm chiếm và đô hộ người khác. Nghe có vẻ lố bịch nhưng hàng triệu người Đức thời điểm ấy sau khi đọc cuốn sách đó lại tiếp thu một cách cuồng tín.

Kết hợp cùng với tư tưởng bài Do Thái của mình (một trong những bí mật vẫn chưa được giải đáp tại sao Hitler lại căm thù người Do Thái?), ông ta tiến hành giết chóc trên diện rộng. Hậu quả có khoảng 26 triệu người Do Thái bị sát hại và khoảng 50 triệu người chết trong thế chiến thứ 2 – cuộc chiến do chính Hitler và tư tưởng của ông ta phát động.

  1. Người thứ 2, người gây rất nhiều tranh cãi mặc dù chết vào năm 1883 nhưng những hậu quả của ông gây ra chủ yếu trong thế kỷ 20. Đó là Karl Marx

Vũ khí ông ta sử dụng đó là học thuyết về “Chủ nghĩa xã hội khoa học”, một tư tưởng mà thậm chí còn được nhiều triệu người tin tưởng đi theo. Đó là chủ nghĩa xây dựng 1 xã hội dựa trên tiêu chí chủ yếu “Làm theo năng lực. hưởng theo nhu cầu”, xóa bỏ giai cấp tư sản.

Ông ta có một số lượng học trò đông đảo trên nhiều quốc gia, học thuyết được thấm đẫm trong đầu óc của nhiều người. Và chắc bạn thắc mắc tại sao ông ta lại có thể giết được người. Cái ông ta đặt nền móng là chủ nghĩa cộng sản. Ông ta hoàn toàn phải chịu trách nhiệm do những tội ác mà cộng sản gây ra. Hãy cùng điểm qua những vụ thảm sát của cộng sản.

– Liên Xô: Dưới sự lãnh đạo của Stalin – Tổng bí thư đảng cộng sản Liên Xô, ông ta ra sức đàn áp các thế lực chống đối trong nước. Những người không theo ông ta chỉ có 1 con đường chết. Qua những cuộc thanh trừng “Khủng bố đỏ”, “Đại thanh trừng” diễn ra trên diện rộng khắp đất nước mà theo ước tính có khoảng 20 triệu người đã bị giết hại.

– Trung Quốc: Trung Quốc vốn nổi tiếng bởi sự tàn bạo của mình. Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản những vụ thảm sát diễn ra còn tinh vi và kín kẽ hơn nhiều.

o Đầu tiên là “Cách mạng văn hóa”: Do Mao Trạch Đông – Chủ tịch đảng cộng sản Trung Quốc khởi xướng, mục tiêu là loại bỏ những thành phần tư sản tự do nhưng thực chất là để củng cố địa vị của tên đồ tể này. Hậu quả có 40 triệu người chết vì chết đói! Vâng, chết đói.

o Thảm sát Thiên An Môn: Vụ đàn áp những thành phần sinh viên, trí thức đòi dân chủ. Có khoảng 10.000 chết tại chỗ và khoảng 2 triệu người bị bắt bớ và tra tấn sau vụ việc này.

o Đàn áp Pháp Luân Công: Đây vẫn là một trong những vụ thảm sát khó hiểu nhất lịch sử nhân loại được khởi xướng bởi Giang Trạch Dân – Chủ tịch đảng cộng sản Trung Quốc – khi một tổ chức chính trị đàn áp 1 môn khí công phi chính trị. Hậu quả rất nhiều học viên môn khí công này bị bỏ tù, tra tấn đến chết, mổ lấy nội tạng bán.

– Bắc Việt: Cải Cách Ruộng Đất được khởi xướng bởi Hồ Chí Minh, là phong trào xóa bỏ phong kiến. Có khoảng 50.000 người bị giết.

– Campuchia: Được khởi xướng bởi Pol Pot (người Campuchia gốc Trung Quốc) – Chủ tịch đảng cộng sản Campuchia – gây ra cái chết của khoảng 1,5 triệu người.

Nhìn những con số nạn nhân có thể thấy sự tàn bạo và hậu quả không lường của một tư tưởng. Nó có sức tàn phá lớn gấp nhiều lần bất cứ loại vũ khí nào con người có thể chế tạo ra.

Bạn thì sao? Quan điểm của bạn là gì?

Bài của LUBI, độc giả gửi đến FB/VT


 

LÝ QUANG DIỆU…

8 SÀI GÒN 

LÝ QUANG DIỆU…

Lee Kuan Yew (Lý Quang Diệu)  biến đảo cá đầm lầy thành nền kinh tế thứ nhất ASEAN trong 31 năm

Lee Kuan Yew (李光耀, 1923-2015) sinh ngày 16/9/1923 tại Singapore, gia đình gốc Khách Gia (Hakka) từ tỉnh Quảng Đông Trung Quốc. Cha là người buôn bán nhỏ, gia đình thường xuyên thiếu tiền.

Lee học Raffles Institution xuất sắc, nhận học bổng Cambridge học Luật năm 1946 sau Thế Chiến II. Tốt nghiệp double first class honours  danh hiệu cao nhất Cambridge.

### Singapore trước Lee  đảo cá đầm lầy

1959, khi Lee 35 tuổi nhận chức Thủ tướng đầu tiên của Singapore dưới quyền tự trị Anh:

* Singapore là thuộc địa Anh với 1.6 triệu dân, chia 4 dân tộc thù ghét nhau (Hoa, Mã, Ấn, Anh)

* Diện tích chỉ 581 km²  không tài nguyên, không nông sản, không ngay cả nước uống (phải mua từ Malaysia)

* Tỉ lệ thất nghiệp 20%, GDP đầu người 400 USD/năm (gần Việt Nam thời đó)

* 80% dân sống trong nhà ổ chuột ven sông

* Nội chiến giữa các nhóm Cộng sản và phe ủng hộ Anh

### 1965  bị “đuổi” khỏi Liên bang Mã Lai

Năm 1963, Singapore gia nhập Liên bang Mã Lai với hy vọng kinh tế. Nhưng Thủ tướng Tunku Abdul Rahman không chịu nổi:

* Kinh tế Singapore (đa số người Hoa) vượt kinh tế Mã Lai (đa số Hồi giáo)

* Lee Kuan Yew công khai phê bình chính sách đặc quyền cho người Mã

9/8/1965, Tunku ra đơn phương quyết định: tống Singapore ra khỏi Liên bang. Singapore trở thành QUỐC GIA ĐỘC LẬP  không tự nguyện.

Lee Kuan Yew ra TV truyền hình quốc gia, khóc trên TV  lần duy nhất trong đời:

> “Đối với tôi, đây là khoảnh khắc đau khổ. Cả đời tôi tin tưởng việc Mã Lai và Singapore là một… Bây giờ chúng ta phải đi một mình.”

Singapore một mình, không quân đội, không nước, không tài nguyên. Cả thế giới dự đoán: trong 5 năm sẽ rơi vào tay Cộng sản hoặc bị Indonesia/Malaysia nuốt.

### 31 năm cải cách thần kỳ

1959-1990, Lee làm Thủ tướng 31 NĂM liên tục  kỷ lục dài nhất của một thủ tướng dân chủ trong thời hiện đại.

Chiến lược “First-World Oasis”:

  1. Chống tham nhũng tuyệt đối: Lee thành lập CPIB (Cơ quan Điều tra Tham nhũng) năm 1952, không chừa ai. Ông xử bộ trưởng Bộ Phát triển nội thành Wee Toon Boon đi tù 4 năm vì nhận quà bằng nhà. Singapore từ tham nhũng cao nhất ASEAN trở thành #5 trong sạch nhất thế giới (2024).
  2. Nhà ở công cộng: chương trình HDB (Housing Development Board)  xây căn hộ giá rẻ cho dân nghèo. 80% dân Singapore ngày nay sống trong HDB, sở hữu nhà.
  3. Tiếng Anh là ngôn ngữ chính: vượt qua phản đối từ phe người Hoa, Lee áp đặt tiếng Anh làm ngôn ngữ giáo dục. Ông tin: tiếng Anh là chìa khóa vào kinh tế toàn cầu.
  4. Mời các tập đoàn đa quốc gia: Singapore giảm thuế + xây khu công nghiệp Jurong + đảm bảo không đình công. Texas Instruments, Hewlett-Packard, ExxonMobil đặt trụ sở khu vực ở Singapore.
  5. Cảnh sát dùng roi mây: hình phạt thân thể nghiêm khắc cho tội nhỏ  vẽ bậy xử 3 roi + tù. Singapore an toàn nhất thế giới.

### Kết quả 1990  “From Third World to First”

Khi Lee từ chức năm 1990 (vẫn giữ chức Bộ trưởng Cao cấp đến 2011):

* GDP đầu người: 400 USD → 12.000 USD (tăng 30 lần)

* Hiện 2024: GDP đầu người 84.000 USD/năm  #7 thế giới, vượt Mỹ

* Sân bay Changi xếp hạng #1 thế giới mỗi năm (Skytrax)

* Cảng Singapore = cảng container lớn thứ 2 thế giới

* Tuổi thọ trung bình: 84 tuổi (cao thứ 4 thế giới)

H

* 0 người vô gia cư chính thức

Cuốn sách của ông “From Third World to First” (2000) bán hàng triệu bản, trở thành sách giáo khoa cho lãnh đạo Đông Nam Á.

### Lee Kuan Yew nói về Việt Nam

Ông nhiều lần khen ngợi và phê bình Việt Nam. Năm 2007: “Việt Nam có tiềm năng lớn. Nhưng tham nhũng + bộ máy chậm chạp đang cản trở. Nếu Việt Nam giải quyết được, sẽ vượt Singapore trong 1 thế hệ.”

### Cái ch*t

23/3/2015, Lee Kuan Yew qua đời ở 91 tuổi vì viêm phổi. 1.4 triệu người Singapore đứng đường viếng tang lễ  40% dân số.

Tang lễ Tổng thống Mỹ Obama đến viếng. Trên thế giới, ông được coi là kiến trúc sư của một quốc gia mà Henry Kissinger viết: “Không ai khác trong thế kỷ 20 đã tạo ra một quốc gia từ con số không như Lee Kuan Yew.”

Singapore  đảo nhỏ không tài nguyên  giờ là gia đình của 6 triệu người giàu, vì 1 người đàn ông tin rằng không có lý do gì để chấp nhận thua kém.

HALAB CREATIVE