Những ngày đầu tiên đến nước Mỹ – Tác giả: Phùng Văn Phụng

 Tác giả: Phùng Văn Phụng

              Mới đến Mỹ chừng một tháng, bà xã tôi đã cự nự: 

– “ Tôi đã bảo đi Mỹ mà làm gì, ở nhà buôn bán rần rần, đang sung sướng, bây giờ qua đây, ngồi “ trông ngốc ” trong phòng này như ở tù.” Bà xã tôi than phiền như vậy. 

         Tôi cứng họng không biết trả lời ra sao? 

          Bà xã nói tiếp: 

– “ Ði lên Tulsa ở tiểu bang Oklahoma với Hồng Thu, kiếm chuyện gì làm ăn, vô  hãng nào cũng được chứ ở đây làm gì để sống đây?”  Bà xã tôi cự tôi, đòi lên tiểu bang miền Bắc, ít người Việt, nhiều hãng xưởng may ra dễ tìm việc làm, có chỗ nào, hãng nào  mướn, làm gì cũng được.  

          Tất cả chúng tôi gồm có sáu người, hai vợ chồng bốn đứa con, hai trai, hai gái chen chút trong “apartment” hai phòng ở đường Town Park thành phố Houston, Texas ; cuối tháng lãnh tiền trợ cấp của chánh phủ Mỹ, trả tiền mướn phòng và nhận “ food tem ” để đi chợ cũng chỉ vừa đủ chi dùng trong tháng. Sau 8 tháng hết trợ cấp thì sống làm sao đây? tiền đâu trả tiền mướn nhà, tiền đâu mua thức ăn, trả tiền điện thoại v.v.? 

Ðó là câu hỏi thường xuyên trong đầu óc các thành viên trong gia đình tôi trong những ngày bước chân lên đất Mỹ . 

                                  ***** 

          Khi tôi được trả tự do từ trại tù Nam Hà đầu năm 1983, tôi đã nộp đơn chui qua tòa Ðại sứ Mỹ ở Thái Lan để xin tỵ nạn, bà xã tôi và thím tư mỗi lần gặp tôi cứ chọc quê tôi và nói đùa rằng: “lo làm ăn không lo chỉ lo chuyện mò kim đáy biển”. Tôi cũng có cảm tưởng như thím tư tôi nói nhưng hy vọng vẫn nhen nhúm dầu rất nhỏ trong lòng tôi cũng như vợ và các con của tôi đang sống trong khó khăn, cực nhọc và tôi thì đang bị mất quyền công dân. Từ năm 1983 tới năm 1990 đa số bà con cho rằng thành phần đi “cải tạo” về, những người được thả từ trong tù, trong trại cải tạo mà được đi Mỹ là chuyện “ mò kim đáy biển ”   

          Cho nên khi tất cả gia đình chồng vợ và các con đã lên được máy bay và khi máy bay cất cánh rồi vào cuối năm 1993, tôi mới biết rằng gia đình tôi thực sự được đi Mỹ, rời khỏi quê hương yêu dấu nơi mà tôi đã sinh ra và lớn lên thành người. 

          Ai mà không khỏi đau lòng khi rời bỏ nơi chôn nhau cắt rún, xa cha mẹ, xa bà con, dòng họ, xa anh chị em ruột thịt, xa bạn bè thân thương, xa những học trò cũ hàng ngày thường gặp mặt. Vậy mà phải rủ bỏ tất cả để ra đi. Ðang buôn bán làm ăn, công việc đang trôi chảy phát đạt, phải sang lại cho người em. 

          Tại sao phải dứt khoát ra đi? Tại sao không ở lại khi đang làm ăn được? Quyết định nào cũng có những khó khăn và quyết định ra đi càng khó khăn gấp bội. Nếu được đối xử tử tế, bình thường như bao nhiêu người dân khác thì đâu có ai phải bỏ nước ra đi. Người dân miền Nam còn không được đối xử bình thường, được xem như kẻ bị trị bởi những người cùng nòi giống, huống hồ là người chống đối lại họ.                                    

                                    ***** 

          Một hôm phòng bên cạnh có người cần khiêng đồ đạc trong nhà như bàn ghế, tủ giường v.v lên xe để di chuyển. Họ thấy gia đình tôi có hai cháu thanh niên nên gọi đi khiêng đồ đạc giúp. Tôi mới khiêng được mấy lần đã thấy nôn nao trong bụng, muốn ói vì khiêng nặng không quen. Hôm đó được mấy chục đô la coi như lần đầu tiên kiếm tiền ở nước Mỹ bằng nghề khuân vác. 

           Chú thím tư cùng người cháu bà con là người bảo trợ, đã  đi xin các bạn bè giường ngủ để ở hai phòng, có máy truyền hình cũ ở phòng khách cho nên khi vào nhà ở đường Town Park đã thấy rất ấm cúng. 

          Hình dung lại trước khi ra đi, sáng thứ bảy, đến sở nhà đất để lấy giấy tờ chứng nhận không thiếu thuế, phải đợi cho đến chiều tối khi giấy tờ họ đã có, để ở trên bàn nhưng họ không chịu đưa, cho nên phải ngồi ngoài sân mà đợi. Họ đòi tiền mà tôi không biết và lúc đó thật ra cũng không dám đưa vì có thể bị họ cho rằng mình đưa hối lộ sẽ làm khó dễ giữ mình ở lại thì phiền phức vô cùng. Nhưng cuối cùng rồi cũng phải chi cho họ một ít tiền mới lấy được giấy tờ để  lên máy bay vào ngày hôm sau.  Tôi nhận được giấy báo đình chỉ chuyến bay ngày thứ năm vì không có giấy chứng nhận không có chủ quyền nhà. Tới tối thứ bảy, tôi mới lấy được giấy chứng nhận này. Trong mấy tháng trước khi ra đi vì quá lo lắng, tôi bị bịnh cảm liên tục, không ăn uống được phải uống thuốc thường xuyên mà cũng không hết.  

Qua một chuyến đi dài lần đầu tiên đến Mỹ tôi cứ suy nghĩ miên man qua Mỹ làm sao mà sống đây? Mình không có nghề nghiệp chuyên môn nào cả, muốn trở lại nghề dạy học cũng phải mất bốn hay năm sáu năm nữa học lại Anh văn, học lại chuyên môn về giáo dục, mà mình cũng đã hơn năm mươi tuổi rồi sau khi học ra trường chắc gì ai mướn mình dạy học đây? 

Tôi suy nghĩ: mình chưa bao giờ lái xe hơi, làm sao học lái và chạy xe đây.?

           Cháu Trung, con anh Xin chở áo quần, đồ đạc lỉnh kỉnh từ phi trường Hobby về bằng xe truck. Hôm đi đón có anh Ðộ, bạn cũ ở quận 8 Sài gòn, vợ chồng chú tư và các con, vợ chồng Lẫm và các con, đến quán Ba Lẹ có thêm Ðoàn Hữu Ðức là cháu thầy Ðoàn Văn Nghĩa, thường gọi là ông Ðốc Nghĩa (thầy dạy Pháp văn của tôi lớp 6, lớp 7 ở trường trung học Cần Giuộc khoảng năm 1957-1958 ), lúc đó tôi mệt quá sau cuộc hành trình dài hơn 24 giờ đồng hồ. Thấy bà con đông đảo đến đón, thật là đượm tình nghĩa anh chị em, bạn hữu quá sức tưởng tượng của tôi. 

          Khi vào căn nhà do người cháu mướn giùm ở đường Town Park là một chung cư có nhiều dãy nhà sát liền nhau, xung quanh đa số là người Mỹ da đen chỉ có một ít người Mễ, làm cho tôi thấy lo âu, cảm thấy hơi sợ. 

         Ði tìm trường học Anh văn.

 Mới qua Mỹ chưa có xe hơi phải đi bằng xe bus. Từ nhà muốn đến trường phải đi bộ một đoạn đường khoảng một cây số mới tới được đường chính là Bellaire rồi từ đó đón xe bus đi đến đường Cookin mới có lớp ESL. Có người bạn cho biết có trường dạy Anh văn miễn phí nếu xin trợ cấp của chánh phủ ở gần đường Chimney Rock và Gulfton. Tôi không biết rõ trường nằm phía nào nên khi xuống Bellaire tìm được Gulfton rồi, thay vì đi bên phải một đoạn đường ngắn là đến trường Ðại học cộng đồng, tôi đi về phía trái cùng với con trai là Quốc đi hơn nửa giờ mà không tìm được trường đến nỗi Quốc mệt quá, cự nự, đành phải tìm đường trở về nhà. 

Muốn đi học tiếp để có thể nói được tiếng Anh nên tìm trường để học. Học ESL cùng với các em, các cháu khoảng chừng ba mươi tuổi chỉ cần vài tháng các em nói tiếng Anh khá nhanh, còn tôi viết thì đúng văn phạm nhưng nói thì cứ ngọng, có nói được câu nào cho trôi chảy đâu. Phân vân giữa đi học tiếp và đi làm. Ði học thì có thể xin vay tiền đóng học phí nhưng không làm ra tiền để trả “ bill ”. Làm sao làm ra tiền để có cuộc sống ổn định đây? 

          Làm cho tiệm grocery

           Tôi đi tìm việc làm, nộp đơn ở tiệm fast food “Jax in the Box” ở đường Gessner, nộp đơn ở hãng làm điện tử, ở hãng sản xuất vàng, vào chợ Auchun nộp đơn xin bán hàng hay làm bất cứ nghề gì cũng được nhưng ở đâu người ta cũng không nhận. Lý do tuổi đã lớn trên năm mươi, không có “ background ” quá khứ làm việc ở Mỹ, nói tiếng Anh không thông thạo, không có nghề gì chuyên môn. Cùng với con gái là Uyên Phương đi nộp đơn ở hảng K.Tec, hãng làm điện tử, con gái được nhận đi làm, còn tôi thì không. Ði nộp đơn ở hãng chuyên làm vàng mà chú tư đang làm hãng cũng không nhận. 

          Ðành đi “fill” hàng cho tiện Grocery ở đường Dairy Asford. Sáng sớm mặc áo lạnh đi bộ từ nhà ra bến xe bus khoảng hai dặm, đứng đợi xe bus chừng 10, 20 phút, xe bus chạy khoảng 15 phút, xuống xe bus, lại đi bộ khoảng hai dặm đến chỗ làm. Bữa nào gặp mưa gió, trời lạnh mùa đông, gió rít từng cơn, gió rét căm căm mới thấy nỗi lòng nhớ nhung quê hương, nhớ bà con, nhớ ba má, anh chị em bạn bè v.v. của người xa xứ. Rồi khi vô chỗ làm cần phải đeo kính để đọc tên của món hàng, sắp xếp hàng hóa lên kệ tủ, nên làm khá chậm chạp không bằng những người trẻ không đeo kính. Do đó anh Vương, chủ tiệm bảo: “Sao chú làm chậm quá vậy, mai về nghỉ đi.” 

          Tôi làm cho tiệm Grocery khoảng hai tuần lễ thì mất việc. 

          Ði làm tiệm sang băng nhạc. 

          Bà xã thấy tôi không có chuyện gì làm nên nhờ người quen giới thiệu đi làm ở tiệm sang băng nhạc ở trong khu chợ Hồng Kông 1 ở đường Gessner. Nghề máy móc tôi đâu có biết vì gốc gác là thầy giáo chỉ biết đi dạy học mà thôi. Khi sang băng dĩ nhiên rất chậm chạp thời gian làm việc từ 10 giờ sáng cho đến 8 giờ tối. Tiền lương mỗi tháng được trả là 600 đô la.  Ngày đầu tiên tôi đến làm việc đã được em của bà chủ hay là em của ông chủ? hạch sách ngay. 

Anh ta nói: “ Ở Việt Nam sướng quá mà qua đây làm gì cho khổ.? Ði qua đây chỉ có nước đi làm công, làm mướn chứ làm được gì? 

Tôi tức lắm nhưng không muốn tranh luận với anh này làm gì. Khi thấy tôi lớ ngớ, không biết làm gì, thì anh ra lịnh ngay: 

-“Anh phải lau bàn ghế, lau tủ cho sạch sẽ đi chớ ”. 

Tôi vội vã cầm khăn lau bàn ghế, lau tủ kiếng, sau một lúc anh bắt tôi sang băng cải lương, phim chưởng, phim Trung Quốc  để cho mướn. 

          Anh đâu có hiểu rằng tôi ra đi là vì tôi không thể sống với Cộng Sản được. Tôi là kẻ từng chống đối với chế độ, một con người bị để ý, canh chừng. Làm sao sống được khi mình luôn luôn bị nghi ngờ, bị thường xuyên theo dõi. Một lần tôi đến thăm anh Ngọc, trước cũng ở trong Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến thì công an khu vực đã hỏi anh Ngọc: “ Ông Phụng đến nhà anh làm gì đó. Có âm mưu gì không?” Anh Ngọc sợ quá bảo :  “Thôi anh đừng đến thăm tôi nữa, công an khu vực hỏi thăm tôi về anh đó. Hắn hỏi anh đến đây là gì, bàn tính, âm mưu chuyện gì ? 

          Một số bạn bè sĩ quan thường đến thăm tôi thì công an khu vực hỏi thăm ông bảy Bích là tổ trưởng ở sát bên nhà: “ Anh thấy ông Phụng thế nào.? Tại sao nhiều sĩ quan chế độ cũ cứ đến thăm và theo ông thì ông Phụng này có tính toán chuyện gì chống đối nhà nước không? 

          Ông tổ trưởng phải trả lời là ông Phụng có giấy tờ đi Mỹ rồi còn tính toán chuyện gì nữa. Nói như vậy nhưng anh công an khu vực có  tin điều đó không? 

Lúc nào tôi cũng lo âu, hồi hộp không biết bị bắt lại bất cứ lúc nào. Thường xuyên tôi bị theo dõi. 

          Ði bán bảo hiểm 

          Tình cờ, đúng hơn là  Thiên Chúa  sắp xếp, tôi gặp ông Ðoàn Hữu Ðức vừa mới mở văn phòng Ðoàn Agency nên rất cần người. Tôi đã phải thi 8 lần mới đậu bằng “ group one ” để được bán bảo hiểm. Mất gần một năm trời mới xong bằng và được tiểu bang chấp nhận cấp giấp phép hành nghề. Ðoàn Hữu Ðức là cháu ông Ðốc Nghĩa, dạy pháp văn  trường trung học Cần Giuộc. 

          Những ngày đầu đi làm, đi bán bảo hiểm là một thách đố lớn. Nhiều khi bị trời mưa tầm tã cũng phải cố gắng đến nhà bà con vì mình lỡ hẹn rồi. Có khi đến nơi rồi tìm không ra nhà dưới trời mưa không dứt hột, cũng phải đi kiếm địa chỉ của khách hàng, vì Apartment ở khu làng Park Place phòng này sát với phòng kia nhưng cách một dãy nhà thành ra tìm không ra. Kiếm nhà không được, đi dưới trời mưa đến cây xăng gần đó dọc Freeway  South  45 và đường Broadway, bỏ 25 cents vào điện thoại công cộng để hỏi, anh chỉ giùm căn nhà đó chỗ nào?. Sau khi anh bạn mình chỉ thì mình mới biết rằng mình cũng vừa đứng ở chỗ đó vậy mà không thấy được số nhà vì lúc đó trời đang mưa mà ban đêm, trời lại tối nữa. Sau khi bán được chương trình bảo hiểm 25,000 đô la, hảng đã thuận, lúc đem “policy” là sổ hợp đồng hay giao kèo đến cho anh thì anh lại không nhận, công của mình đã trở thành vô ích, nhưng lâu lâu mới gặp trường hợp như thế chứ nếu ngày nào cũng như vậy chắc đã bỏ nghề đã từ lâu.   

Tôi có cái hẹn vô nhà người khách hàng để giới thiệu chương trình bảo hiểm nhân thọ. Tôi đang giải thích nhu cầu bảo hiểm cho người con vừa mới mua nhà, nếu có mệnh hệ nào thì vợ làm sao có tiền để trả nợ  nhà. Tôi chỉ mới hỏi vài câu và vừa mở máy computer ra; người cha từ bên kia đường bước qua lớn tiếng nói với người con: “ Mầy đi qua đây, ăn cơm. Không được mua bán gì hết. Ðến đây để lường gạt con tao hả?.” 

Thấy không khí có vẻ căng thẳng, tôi gấp máy computer lại, bước ra khỏi nhà, mở cửa xe sẵn có mấy tờ báo trên xe, tôi lấy hai cuốn báo đem đến cho người này. 

   –   “ Cháu xin gởi bác hai tờ báo này ” 

       –   “ Ði đi , đi đi  tao kêu cảnh sát bắt mầy bây giờ, đến đây để dụ dỗ, gạt gẫm con tao hả.?” . Lần đầu tiên tôi bị cự nự dữ dội như vậy. Hết sức tức giận nhưng tôi cố gắng tự trầm tĩnh , mở máy xe, hít thật dài hơi và tự nhủ: “ tự nhiên bị hiểu lầm, bị cự nự vô lý, nếu mình giận ông này mình cũng điên như ông ấy vậy. Thôi bỏ qua đi. Tai nạn nghề nghiệp mà. Tuy nhiên phải mất hơn mười phút tôi mới lấy lại được bình tĩnh  mà lái xe về văn phòng. 

Một lần khác ghé nhà một người quen do anh Tommy làm nghề bán xe hơi giới thiệu, vừa bước vô nhà, mới hỏi thăm sơ sơ về hoàn cảnh gia đình, bà vợ đứng ở bếp đang nấu ăn, nói lớn tiếng: 

–  “Mấy thằng bán bảo hiểm là những thằng lường gạt, tôi mua bảo hiểm mấy năm trước ở Cali, bây giờ tăng giá, lúc mua nó không nói. Tôi đã bỏ rồi không đóng tiền nữa. Toàn là những đứa lường gạt.” Vì mới vào nghề bảo hiểm tôi chẳng biết phải trả lời thế nào, cứng họng, vội bỏ tài liệu vào cặp và rút êm ra khỏi nhà anh chị này mà trong lòng tức tối lắm vì chị quơ đủa cả nắm ai làm nghề bảo hiểm đều xấu xa cả. Chị ấy chửi mình mà mình chẳng biết trả lời ra sao. 

          Kết: Tạ ơn Chúa

 Hiện nay tôi đã và đang sống trong nghề bảo hiểm hơn 12 năm. Có ba cháu lập gia đình, được ba cháu ngoại và một cháu nội. Bà xã tôi dứt khoát không muốn về Việt Nam ở luôn nếu có về chỉ muốn ở một, hai tháng như đi du lịch mà thôi vì các con, các cháu đều hiện sống ở Houston, Texas. 

Tạ ơn Thượng Ðế ban gia đình của con, các con, các cháu đều khỏe mạnh và bình an. Xin cám ơn nước Mỹ, chánh quyền và người dân Mỹ đã chấp nhận gia đình chúng tôi đến định cư ở quốc gia này như là một quê hương thứ hai của tôi. 

Xin cám ơn những chú thím tư, gia đình Lẫm, gia đình anh Độ, Đoàn Hữu Đức, những người bà con, bạn bè, anh chị em, các cháu đã giúp đỡ tôi trong những ngày đầu tiên đến nước Mỹ. 

Ngày 14 tháng 02 năm 2007

 Tác giả: Phùng Văn Phụng

Trích trong sách: “Tâm Tình Gởi Lại” của tác giả Phùng Văn Phụng  


 

HỌ CHỈ CÓ THỂ LÀ “SẢN PHẨM” CỦA MỘT CHẾ ĐỘ XÃ HỘI TỰ DO, NHÂN BẢN VÀ KHAI PHÓNG-Song Chi

Song Chi

 HỌ CHỈ CÓ THỂ LÀ “SẢN PHẨM” CỦA MỘT CHẾ ĐỘ XÃ HỘI TỰ DO, NHÂN BẢN VÀ KHAI PHÓNG

Mấy ngày qua có khá nhiều bài viết về nhà thơ Phạm Thiên Thư sau khi ông ra đi, phần lớn là bài viết của những người từng sống ở miền Nam trước năm 1975. Với đa số người miền Bắc và nhất là những người sinh ra sau năm 1975 chắc chẳng mấy ai biết đến ông, chợt nhớ lại khi Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ viên tịch, có những người là trí thức, Giáo sư, Tiến sĩ…mà đến lúc đó mới nghe đến tên của Hòa thượng, mới biết là có một GHPGVNTN tồn tại bao nhiêu năm nay, bên ngoài cái GHPGVN mà nhiều người vẫn gọi là Giáo hội Phật giáo “quốc doanh”.

Sau hơn nửa thế kỷ, có thể nói đảng CSVN đã thành công rất lớn trong việc “tẩy não” người dân, xóa bỏ lịch sử, xóa bỏ tất cả những gì mà đảng và nhà nước này không muốn người dân được biết.

Còn đối với tất cả những ai từng biết và may mắn hơn nữa, được đọc, nghe tác phẩm của những khuôn mặt xuất chúng của miền Nam trước 1975, dù là một vị chân tu trí tuệ cao vời, một nhạc sĩ, hay một thi sĩ…thì đều ngậm ngùi hiểu rất rõ rằng mỗi một người như vậy ra đi, là mất luôn không bao giờ có nữa. Bởi vì, họ chỉ có thể là “sản phẩm” của một chế độ tự do, nhân bản và khai phóng đã không còn tồn tại.

Chắc chắn, nếu không có 20 năm của chế độ VNCH đó, đã không thể có hàng trăm hàng ngàn tài năng độc đáo trong mọi lĩnh vực từ báo chí đến văn học nghệ thuật…Sẽ không có Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Phạm Đình Chương, Từ Công Phụng, Cung Tiến, Lam Phương…Sẽ không có Nguyễn Tất Nhiên, Phạm Thiên Thư, Bùi Giáng, Trần Dạ Từ, Cung Trầm Tưởng, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Sao Trên Rừng (Nguyễn Đức Sơn), Du Tử Lê….; Nhã Ca, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Túy Hồng, Trần Thị NgH, Nguyễn Thị Hoàng, Mai Thảo, Võ Phiến, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sỹ, Phan Nhật Nam, Cung Tích Biền, Hoàng Ngọc Biên… Sẽ không có những tên tuổi trong mảng nghiên cứu, phê bình, dịch thuật, triết học phật giáo và công giáo như Nguyễn Đăng Thục, Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi, Nhất Hạnh, Võ Hồng, Hoài Khanh, Phạm Công Thiện, các giáo sư và linh mục Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm, Cao Văn Luận, Nguyễn Văn Thích, Hoàng Sỹ Quý, Nguyễn Khắc Xuyên, Kim Định… Sẽ không có nhiều nhóm văn nghệ, tư tưởng ra đời như nhóm Bách Khoa, Nhân Loại, Nhận Thức (Huế), Sống Đạo, Phương Đông, Đối Diện, Sáng Tạo, Hiện Đại, Thế Kỷ Hai Mươi, Gió Mới, Nghệ Thuật…các tạp chí chuyên về tư tưởng, triết học như Tư Tưởng, Vạn Hạnh, Giữ Thơm Quê Mẹ, các nhà xuất bản Lá Bối, An Tiêm, Ca Dao…, và vô số những tờ báo, tạp chí văn học nghệ thuật như Sáng Tạo, Quan Điểm, Văn Hóa Ngày Nay, Nhân Loại, Văn Đàn, Bách Khoa, Văn Học, Văn, Nghệ Thuật, Tiếng Nói… Sẽ không có một nền phật học rực rỡ, những vị chân tu lừng lững cả về trí tuệ, kiến thức và nhân cách v.v…Không thể kể hết những thành tựu về con người, về văn học nghệ thuật trong 20 năm ngắn ngủi của chế độ VNCH.

Đó là bởi vì, dù ngay trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt nhất, chế độ VNCH vẫn cố gắng xây dựng một xã hội bình thường. Trẻ em vẫn được sống hồn nhiên đúng lứa tuổi, không bị nhồi nhét lòng căm thù quá sớm, vẫn được dạy dỗ từ những điều nhân ái nhỏ nhặt hàng ngày, sách báo truyện nhạc dành cho thiếu nhi, thiếu niên, tuổi mới lớn từ truyện tranh, truyện cổ tích thế giới, tuần báo Thiếu Nhi, tuần báo Tuổi Ngọc, tủ sách Tuổi Hoa – Hoa Đỏ, Hoa Xanh, Hoa Tím…chỉ toàn dạy điều thiện, dạy thương yêu, dạy sống tử tế, không có một chút gì vẩn đục bởi lòng căm thù địch–ta, lý thuyết cách mạng nọ kia… Thanh niên vẫn có khung trời dành cho tình yêu lãng mạn mộng mơ trong sáng và những lý tưởng, hoài bão lớn; trí thức vẫn được đọc được nghe đủ loại báo đài quốc tế, viết, tranh luận về đủ loại triết học Đông-Tây, đủ loại lý thuyết chính trị kể cả học thuyết Mác Lenin, tư tưởng của Mao…

Chế độ VNCH đã không biến cả xã hội thành trại lính, trong đó tất cả chỉ được phép suy nghĩ một chiều, mọi tình cảm, cảm xúc cá nhân, mọi suy nghĩ khác, mọi tự do đều bị kìm hãm, cấm đoán triệt tiêu; ngược lại, con người vẫn được sống như là con người, ai chiến đấu cứ chiến đấu, ai làm thơ, nhạc lãng mạn cứ làm, ai mơ mộng suy tư cứ mơ mộng, có lẽ đó cũng là một trong những lý do mà chế độ VNCH đã thua. Nhưng bù lại, chế độ đã để lại cả một di sản văn học nghệ thuật và dòng chảy đó ít nhất vẫn không chết yểu mà vẫn âm thầm tồn tại trong nước và phần nào được tiếp nối ở hải ngoại 50 năm qua. 

Xã hội VN bây giờ đã hơn 50 năm trong thời bình. Bề mặt của nhiều thành phố, tỉnh thành đã thay đổi rất nhiều. Số người giàu hơn ngày xưa cũng nhiều, thậm chí phải nói là giàu kinh khủng, một ông cán bộ cấp huyện cũng còn giàu hơn cả tướng tá VNCH thời xưa và cách nhiều người xài tiền có lẽ ngay dân Mỹ cũng choáng; rồi thơ văn nhạc họa phim… tính về số lượng đều nhiều. Nhưng trong thơ ca văn học nghệ thuật bây giờ vẫn thiếu: thiếu sự trong trẻo lãng mạn, thiếu tính thiền, tính triết học, tính tư tưởng, tính khai phóng…Nhiều về số lượng nhưng những tác phẩm thực sự nâng con người lên cao cả hơn, đẹp hơn thì hiếm. Nó vừa là hậu quả của một chế độ độc tài toàn trị, vừa là hậu quả của một nền giáo dục nhồi nhét, ngu dân, chạy theo điểm số, thành tích, bằng cấp, hoàn toàn không có một triết lý giáo dục đúng đắn, và là hậu quả của một xã hội thực dụng, nơi mà mọi người đua nhau chạy theo tiền, chạy theo “ghế”, chạy theo những giá trị vật chất, giá trị ảo bên ngoài, thì làm gì còn có chỗ để sống chậm, làm gì còn có chỗ cho mơ mộng, lãng mạn, suy tư, và lắng đọng? 


 

Duyên Kỳ Ngộ – Bài viết của Đặng Thái Sơn

Duyên Kỳ Ngộ

(Giữa thầy Phùng Văn Phụng và học trò Đặng Thái Sơn, K’75)

Bài viết của Đặng Thái Sơn

Lời phi lộ:

Lời phi lộ: Tình cờ đọc Bản Tin của Cựu Học sinh Trường Lương Văn Can số 19, Xuân Mậu Tuất, năm 2018, thấy bài viết “Duyên Kỳ Ngộ” của Đặng Thái Sơn.
Nhớ lại lúc về từ trại cải tạo đầu năm 1983, không có nghề gì để sống, đành phải đi bán vé số. Đến nhà người bạn thầu vé số, nhận 200 tờ, sáng sớm, đi qua quận 5 hy vọng sẽ không gặp người quen nhất là học trò cũ vì vốn mắc cở. Đi thật xa khỏi quận 8, vừa cầm xấp vé số ra bán thì gặp ngay Đặng Thái Sơn.

Chuyện được kể như dưới đây.

 Phùng Văn Phụng

Cách nay khoảng trên 30 năm, thường ngày, tôi và một số anh em hành nghề phu xích lô, cứ mỗi sáng gặp nhau uống cà phê ở một quán vĩa hè bên quận 5. Xong chầu cà phê thì anh em tản lạc, rong ruổi khắp nẻo đường để kiếm cơm.

Vào một buổi sáng nọ, đang ngồi uống cà phê, tôi thấy một người quen quen từ xa đi tới, trong lòng ngạc nhiên, chẳng lẽ thầy Phụng đây sao? Định thần nhìn kỹ, đúng là thầy Phùng Văn Phụng, dạy môn công dân ở trường mình. Thầy đến trước mặt tôi, tay thọc vào túi quần móc ra xấp vé số, mời mua. Tôi bối rối, nhưng không dám gọi bằng thầy, sợ thầy ái ngại! Tôi nói lớn:“ Người bán vé số với dân đạp xích lô là anh em nhau cả, xin mời uống ly cà phê. Là dân lao động mời thật tình đừng ngại nha!…”

Thầy ngồi vào bàn, tôi mời thầy ly cà phê sữa nóng, cố ý để thầy tự nhiên. Sau vài ngụm cà phê, tôi nói: “Dạ thưa, thầy là thầy Phùng Văn Phụng, dạy môn Công dân, em là học trò của thầy đây. Em học chung lớp với Phùng Hoàng Kiệt, em của thầy…”

Lúc này thầy tỏ ra bối rối, ngại ngùng…Tôi nói lớn với anh em phu xe xích lô: “Đây là thầy dạy học của tôi, bây giờ bán vé số. Mời các anh em mua ủng hộ thầy tôi vài tờ cho vui!…” Thế là ai nấy xúm lại mua ủng hộ giúp thầy.

Sau này tôi có gặp bạn Trần Minh Tùng, học cùng lớp kể cho Tùng nghe. Tùng hiểu chuyện vì Tùng với thầy Phụng khá thân nhau. Tùng nói rằng thầy Phụng sau khi đi “học tập cải tạo” về, không có việc làm nên đi bán vé số. Mà phải bán ở địa phương khác, không dám bán ở quận 8, sợ gặp học trò cũ hoặc người quen ngại lắm.

Thời gian sau, tôi chuyển qua bán cà phê ở trước nhà trên đường Phạm Thế Hiển, hằng ngày lại thấy thầy Phụng đèo hai thùng nước ngọt trên chiếc xe đạp đi giao hàng tận nơi cho khách.

Rồi thầy định cư ở Hoa Kỳ theo chương trình HO.

*****

Lần đầu thầy về Việt Nam, tổ chức họp mặt giao lưu ở nhà hàng 241, gặp gỡ lại thầy cô và học trò năm xưa, trong đó có tôi. Đến lượt tôi kể thầy nghe giai đoạn bán vé số… Thầy đứng lên tỏ ra vui mừng khôn tả.!

–          Nhớ rồi, nhớ rồi!…

–          Thầy nói, chụp hình, chụp hình…

–          Thầy trò ôm nhau, mừng cuộc hạnh ngộ mà thầy cũng không ngờ trước! Thế là bao nhiêu ánh đèn loé sáng, ghi dấu kỷ niệm tình thầy trò. Rồi thầy hỏi thăm về cuộc sống của tôi, của bạn bè “phu xích lô” ngày xưa.

      

Trong buổi tiệc vui, thầy nói, nếu bây giờ đi bán vé số trở lại, vẫn dám làm, không ngại ngùng gì nữa, mà càng vui hơn…

Xin nói thêm rằng trước kia tôi cũng như thầy, làm phu xích lô hay bán vé số thì mắc cở lắm, sợ gặp người quen, bạn cũ. Đôi lúc thấy bạn hay người quen từ xa, vội kéo nón xuống tận mi mắt, cúi gầm mặt, để không ai phát hiện ra mình.!

Bây giờ nhìn lại mới thấy mọi việc cũng bình thường. Đôi lúc đạp xích lô rong ruổi trên từng nẻo đường, gặp lại bạn cũ mừng lắm vì lâu ngày không gặp rồi vào quán uống cà phê, hỏi thăm nhau.

– Có gặp thầy cô, bạn học cũ không mậy?

      Nhắc lại chuyện xưa, bây giờ mới kể, để cảm ơn người và tạ ơn Trời đã cho qua đi cái thời cơ cực và được tồn tại cho đến ngày hôm nay.

Đặng Thái Sơn

Bài này đăng trong Bản Tin số 19, Xuận Mậu Tuất 2018 của Cựu Học Sinh Trường Lương Văn Can, Quận 8, Sài gòn.


 

Vượt biển do nhà nước tổ chức và những cái chết tang thương

Trần Trân

 Đêm chồn dầu vượt biển

Vượt biển do nhà nước tổ chức và những cái chết tang thương

Những ngày qua thế giới đang xót thương cho 39 người xấu số trong một nỗ lực thoát nghèo với một cuộc đào thoát khỏi đất nước nhược tiểu. Thế giới cũng đang dồn sự căm phẫn lên lũ buôn người của đất nước Trung Cộng hiếu chiến. Đọc lại “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức, tôi nhớ lại những cái chết tang thương giống như vậy trong cuộc vượt biển do nhà cầm quyền Việt Nam tổ chức dưới cái tên Đi Bán Chính Thức.

Đi Bán Chính Thức hay Phương Án II

Sau khi chiếm được miền Nam Việt Nam, mâu thuẫn giữa Việt Nam và Trung Cộng ngày càng tăng cao. Trung Cộng lên án Việt Nam đàn áp Hoa Kiều và muốn đem Hoa Kiều về nước. Trong khi đó, Trung ương Đảng CSVN coi người Hoa là đạo quân thứ V và muốn “tương kế, tựu kế” để trả họ về cố quốc.

Thêm vào đó, chính sách cải tạo công thương nghiệp đã đẩy người Hoa Chợ Lớn đi đến chỗ khánh kiệt và họ quyết định vượt biên thay vì về với Trung Cộng mà với họ không khác gì xuống địa ngục. Người Hoa ra đi ngày càng nhiều, chết trên biển cả rất nhiều, Việt Nam bị thế giới lên án. Để đối phó, Việt Nam tổ chức cho họ ra đi bán chính thức, người CS gọi là Phương Án II, ban đầu xem ra là một chủ trương thiện chí.

Phương án II là kế hoạch tuyệt mật, phổ biến miệng, chỉ có bí thư, chủ tịch và giám đốc CA thành phố HCM biết, sau kế hoạch này được thực hiện ở các tỉnh thành phía Nam. Đó là chủ trương “đưa đối tượng ra khỏi điểm nóng”. Đối tượng ở đây là hàng triệu người Hoa chủ yếu sống ở Chợ Lớn. Theo đó, công an thu 8-10 lạng vàng cho một đầu người, rồi dùng tiền để mua tàu hay đóng tàu, tổ chức bến bãi rồi đẩy họ ra biển với cam kết không bắt tàu trong lãnh thổ Việt Nam.

Mặt trái của Phương Án II

Khi những thuyền nhân đã đến các trại tỵ nạn an toàn thì Phương Án II không còn giấu được thế giới. Thủ tướng buộc cho dừng vào tháng 12/1978 rồi phải dời sang tháng 5/1979 do số tàu đã đóng cả trăm chiếc từ vàng thu của các thuyền nhân.

Phương Án II bắt đầu biến tướng. Người Việt với giấy tờ của người Hoa ra đi rất nhiều. Các tỉnh không có bờ biển cũng xin được làm Phương Án II. Thấy Phương Án II ngoài tầm kiểm soát, 20/03/1981 ông Trường Chinh (Chủ tịch nước) đã cho lập Ban Kiểm Tra 69 với mục đích chính là kiểm tra việc thu vàng.

Kết quả điều tra của Ban 69 khác xa với báo cáo của Bộ Nội Vụ cho thấy, Phương Án II đã làm hư hỏng công an CS nhanh chóng. Theo Ban 69, từ tháng 8/78 đến tháng 6/79 có 533 thuyền ra đi mang theo 134.322 người, thu được 16.181 kg vàng (16 tấn!) chưa kể ngoại tệ, nhà cửa được đóng thay cho vàng. Có 105 sĩ quan CA bị kỷ luật. Tất cả các tỉnh đều mắc tội gian lận và lập quỹ đen. Nghiêm trọng nhất phải kể đến tỉnh Minh Hải, giấu 48.195 lượng vàng, Cửu Long giấu 27.000 lượng, Nghĩa Bình giấu 27.000 lượng, Phú Khánh 10.987 lượng…

Công an các tỉnh thu vàng nhưng bội tín làm nhiều người mất cả vàng và cả nhà khi theo đuổi Phương Án II, số người lên đến 18.435 người. Phương Án II chỉ thực sự phá sản khi công an giao cho các thuyền nhân những con tàu không an toàn và nhét vào đó số lượng vượt quá tải trọng của con tàu. Tàu chìm ngay khi vừa rời bến làm hàng trăm người chết. Đắm tàu Cát Lái là một trường hợp tiêu biểu của một kiểu buôn người có giấy phép.

Tang thương Cát Lái

Một ngày thứ Bảy giữa năm 1979, cảng Cát Lái bất thường với hàng trăm công an canh gác nhiều vòng, trong và ngoài cảng. Bên trong, một con tàu dài 30m, rộng 10m, 3 tầng, sáng bóng vẫn còn mùi sơn mới. Tàu này nguyên thủy là một chiếc tàu kéo với khoang chứa đá để giữ thăng bằng được thay bằng khoang chứa nước. Cấu trúc các khoang được thay đổi để chứa được nhiều người nhất có thể được. Máy được thay mới để tăng sức kéo. Người đóng tàu dường như chỉ quan tâm đến khả năng nhét đủ số người chứ không tính toán khoa học về tải trọng của tàu và sự cân bằng khi hoạt động.

Đúng giờ hẹn, đám đông đã nằm suốt đêm tại cảng bắt đầu sốt ruột và tiến về con tàu. Người trưởng tàu bắt loa điểm danh, chỉ chờ như vậy đám đông lũ lượt nhanh chóng tràn xuống tàu. Với khoảng 280 người, con tàu ngay lập tức mất ổn định. Những thuyền nhân ngồi khoang dưới không chịu nổi nóng bức, khó thở đã leo lên trên mui ngồi làm cho con tàu thêm chao đảo. Tất cả những người trên thuyền, kể cả thuyền trưởng do không có kinh nghiệm sông nước, nên bắt đầu hoảng loạn, tìm đường thoát ra khỏi tàu. Con tàu chúi mũi xuống và từ từ cắm sâu vào trong bùn ở đáy sông. Những người ở tầng 1 và 2 không có đường thoát. Tiếng thét gào trên thuyền và tiếng kêu cứu bất lực trên bờ tạo nên một âm thanh thê lương bao trùm một vùng quê yên bình, để rồi thoáng chốc chỉ còn lại những tiếng khóc nấc nho nhỏ của những cư dân sống rải rác trên bờ sông Cát Lái. Hết rồi! Chết hết cả rồi!

Nhà cầm quyền lúc đó đã cho điều hai cần cẩu 60 tấn từ Vũng Tàu vào. Sau hai ngày di chuyển và ba ngày vật lộn, cần cẩu đã kéo con tàu xấu số lên khỏi mặt nước và cũng từ đây người ta biết chính xác có 227 người chết và hơn 40 người trở về từ cõi chết nhưng tất cả như những người mất trí trước thảm kịch gia đình. Xác chết nối tiếp xác chết, dãy hòm gom vội khắp nơi cùng mùi tử thi khiến người ta phải thốt lên: Ai đã đem một Tết Mậu Thân nữa đến với người dân Sài Gòn hiền hòa?

Những người khâm liệm kể rằng trong số xác được vớt lên, người ta thấy có 4 người mẹ ôm chặt con mình trong lòng như những nỗ lực cuối cùng với hy vọng giữ được đứa con thơ để hai mẹ con cùng nhau đoàn tụ ở bên kia thế giới. Trân trọng tình mẫu tử thiêng liêng, những người khâm liệm đã để cho hai mẹ con yên nghĩ cùng nhau trong một cỗ quan tài khô lạnh. Tất cả những người xấu số đã được an táng tại một khu đất cách cầu Giồng Ông Tố 500m.

Phương Án II không chỉ có một Cát Lái bi thảm. Theo báo cáo của Ban 69, chỉ trong vòng 1 năm có 9 tàu chìm làm chết 902 người khi những con tàu này chưa ra khỏi phao số 0. Thử điểm lại vài trường hợp đau lòng: Bến Tre có 1 tàu chìm với 54 người chết, Long An có 1 tàu chìm với người 38 chết, Nghĩa Bình 1 tàu chìm với 78 người chết nhưng khủng khiếp nhất là Tiền Giang có 3 tàu chìm với 504 người chết.

Những sự kiện của hơn 40 năm về trước đã dự báo chính xác một bức tranh đen tối cho một Việt Nam ngày nay.

Trích Bên Thắng Cuộc

-Huy Đức


 

NHÀ VUA ANH CÔNG KHAI NHẮC NHỞ CÁC NGHỊ SỸ ĐẢNG CỘNG HÒA…

Bang Uong

Luong Vu

 NHÀ VUA ANH CÔNG KHAI NHẮC NHỞ CÁC NGHỊ SỸ ĐẢNG CỘNG HÒA..

Vua Charles công khai “chỉnh đốn” các Hạ nghị sĩ Đảng Cộng hòa bằng cách nhắc nhở họ về bổn phận thực thi cơ chế kiểm soát và cân bằng quyền lực đối với ông Trump – ngay trước mặt họ – trong bài phát biểu mang tính lịch sử trước Quốc hội!

Trong bài phát biểu trước phiên họp chung của Quốc hội, Vua Charles III đã nhấn mạnh những cội rễ lịch sử sâu sắc gắn kết nền dân chủ Anh và Mỹ; ông lưu ý rằng Magna Carta – văn kiện cổ xưa có chức năng giới hạn quyền lực hoàng gia – đã được viện dẫn trong ít nhất 160 vụ án tại Tòa án Tối cao kể từ năm 1789.

Ông chỉ ra rằng Magna Carta, ra đời từ năm 1215, chính là nền tảng cho nguyên tắc khẳng định: quyền hành pháp phải có giới hạn, người dân được hưởng các quyền lợi, và nguyên thủ quốc gia cũng phải tuân thủ pháp luật.

Câu nói này đã nhận được sự hoan nghênh nhiệt liệt từ các nhà lập pháp, khiến tất cả phải đứng dậy vỗ tay tán thưởng.

Thông điệp được gửi gắm là vô cùng rõ ràng: không một ai – ngay cả một vị vua, và chắc chắn là cả một vị tổng thống – được phép đứng trên pháp luật hay Hiến pháp.

Trong bối cảnh ông Donald Trump liên tục thách thức các giới hạn của quyền hành pháp và công kích những thể chế vốn được thiết lập để kiểm soát quyền lực của ông, lời nhắc nhở từ Vua Charles càng trở nên đầy trọng lượng và ý nghĩa.

Đó là một sự tương phản đầy mạnh mẽ: trong khi ông Trump liên tục công kích các thẩm phán, giới truyền thông và bất kỳ ai dám tìm cách kiềm chế ông, thì vị quân vương nước Anh lại đứng trước Quốc hội để tôn vinh chính những giá trị cốt lõi của trách nhiệm giải trình và một chính quyền có giới hạn quyền lực. Dân chủ – một giá trị mà ngay cả một vị vua thực thụ cũng biết trân trọng.

Nếu bạn tán đồng lời nhắc nhở đầy tinh tế nhưng cũng vô cùng dứt khoát của Vua Charles về việc không ai được đứng trên pháp luật, xin hãy nhấn “Thích” và chia sẻ bài viết này.


 

Vĩnh biệt nhà thơ Phạm Thiên Thư

Khang Duy Nguyen

 Vĩnh biệt nhà thơ Phạm Thiên Thư – Phạm Thiên Thư tên thật là Phạm Kim Long, sinh ngày 1-1-1940 xuất thân trong một gia đình đông y. Quê cha: xã Đình Phùng, Kiến Xương, Thái Bình. Quê mẹ: xã Trung Mẫu, Từ Sơn, Bắc Ninh. Sinh quán: Lạc Viên, Hải Phòng. Trú quán: Trang trại Đá Trắng, Chi Ngãi, Hải Dương (1943-1951), Sài Gòn (1954 đến nay).

Từ 1964-1973: Tu sĩ Phật giáo, làm thơ. Năm 1973, đoạt giải nhất văn chương toàn quốc với tác phẩm Hậu Kiều – Đoạn trường vô thanh. Năm 1973-2000: Nghiên cứu, sáng lập và truyền bá môn Dưỡng sinh Điển công Phathata (viết tắt chữ Pháp-Thân-Tâm).

Tác phẩm đã in: Thơ Phạm Thiên Thư (1968); Kinh Ngọc (thi hoá Kinh Kim Cương); Động Hoa Vàng (thơ, 1971); Đạo ca (Nhạc Phạm Duy); Hậu Kiều – Đoạn trường vô thanh (1972); Kinh Thơ…

Nói về cõi thơ Phạm Thiên Thư, Hà Thi trong “Phạm Thiên Thư, người thi hoá kinh Phật” đã viết: “Nhà thơ họ Phạm này tuy xuất hiện khá muộn (1968), nhưng cũng đã đóng góp vào văn học khá nhiều tác phẩm, đặc biệt là những thi phẩm ở dạng khá độc đáo: thơ đạo!”

Một trong những tác phẩm ấy của Phạm Thiên Thư đã được giải thưởng Văn Học Toàn Quốc (miền Nam VN) vào năm 1973 (tác phẩm Đoạn Trường Vô Thanh). Một số thơ của ông được phổ thành ca khúc đã mang lại một số đông công chúng yêu thích thơ ông: “Em lễ chùa này”, “Ngày Xưa Hoàng Thị”, “Động Hoa Vàng”, “Gọi Em Là Đoá Hoa Sầu”…

Rằng xưa có gã từ quan

Lên non tìm động hoa vàng, ngủ say…

Sông này chảy một dòng thôi

Mây đầu sông thẫm tóc người cuối sông…

Ta về rũ áo mây trôi

Gối trăng đánh giấc bên đồi dạ lan…

Thơ Phạm Thiên Thư cứ vấn vít nửa đời nửa đạo như thế, thật là khác thường, làm cho độc giả ngẩn ngơ, bất ngờ… Quả là cõi thơ Phạm Thiên Thư đã giúp chúng ta khám phá thêm những cửa ngõ mới lạ, phong phú về tôn giáo, tình yêu và thiên nhiên…

Phải chăng khát vọng kiếm tìm là một yếu tính của tình yêu. Và khi nào còn khát vọng tìm kiếm thì tình yêu vẫn còn nguyên giá trị; vẫn mãi mãi là một tiếng gọi thao thiết trong cõi tâm linh của mỗi con người. Đó cũng là điều ta bắt gặp trong thơ Phạm Thiên Thư, một con người suốt đời đi tìm “bụi đỏ” khiến chúng ta không khỏi thấy se lòng. Để rồi cũng như thi nhân ta cứ mãi:

Tìm xưa quẩn quanh

Ai mang bụi đỏ

Dáng ai nho nhỏ

Trong cõi xa vời.

Tình ơi!… Tình ơi!…

(Ngày xưa Hoàng thị)

Hôm nay nghe tin ông mất,  xin thắp một nén hương lòng kính tiễn người đi thong dong bên trời quên lãng.

Sugar Land, Texas

 7 tháng 5 năm 2026

Nguyễn Duy Khang 


 

TỪ CÔ TIẾP VIÊN XINH ĐẸP CỦA HẢNG HÀNG KHÔNG MỸ TRỞ THÀNH THÁNH NỮ Ở VIỆT NAM…

Việt Luận – Viet’s Herald

TỪ CÔ TIẾP VIÊN XINH ĐẸP CỦA HẢNG HÀNG KHÔNG MỸ TRỞ THÀNH THÁNH NỮ Ở VIỆT NAM…

Đầu tháng 10 năm 1962, chiếc phi cơ hàng không Panam (Mỹ), chở mấy trăm Giám mục người Mỹ đi họp Công Đồng Chung Vatican II. Trong hai cô tiếp viên hàng không phục vụ hành khách, có một cô kiều diễm tuyệt vời. Đức Cha Fulton Sheen, Tổng Giám mục giáo phận New York đồng thời là một nhà văn và một nhà hùng biện nổi tiếng nước Mỹ, đã lưu ý đến sắc đẹp của cô tiếp viên này.

Vào một ngày cuối năm 1965. Trên một chuyến máy bay đưa các Giám mục người Mỹ trở về từ Ý sau khi đã dự Công Đồng Vatican II, có một nữ tiếp viên hàng không rất xinh đẹp, tận tình và nhã nhặn phục vụ hành khách. Thế nhưng, trong suốt hành trình, cô tiếp viên hàng không trẻ đẹp này rất bực bội và rất mất tự nhiên vì có một người đàn ông, xem ra thiếu đứng đắn, cứ liên tục đảo đôi mắt chăm chú nhìn mình.

Càng đáng bất bình hơn, khi đó là một người đàn ông đã lớn tuổi. Cô lại càng khó chịu hơn, vì ngay sau đó cô được biết, người đàn ông ấy chính là Đức cha Fulton Sheen, Tổng Giám mục thành New York, một con người nổi tiếng về khoa ăn nói, giảng dạy và đạo đức. Ngài là một Giám mục tông đồ lừng danh nước Mỹ.

Thật là quái gở không thể tưởng tượng! Một kẻ xem ra thiếu tư cách ấy, lại là con người của thành công, của sự nổi tiếng sao? Cô không hiểu nổi và thầm chê trách coi khinh vị Giám mục già kia.

Đến lúc chiếc phi cơ hạ cánh, kỳ quái thật, vị Giám mục già bị coi là “thiếu đứng đắn” kia lại không xuống cùng lúc với các hành khách. Không hiểu ngài có toan tính gì mà lại đợi mọi người trên máy bay xuống hết, chỉ còn mỗi mình ngài là vị khách xuống sau cùng. Đã vậy, khi đến cầu thang máy bay, Đức Cha Fulton Sheen còn ghé sát mặt mình vào tai cô tiếp viên hàng không nói thầm thì những lời gì đó, ngoài cô gái, chẳng ai có thể nghe thấy…

Câu chuyện đến đó, tưởng chừng kết thúc. Những tưởng sự khó chịu của cô gái tiếp viên hàng không rồi cũng trôi qua, cái nhìn tưởng như khiếm nhã của vị Giám mục già rồi cũng chẳng còn ai nhớ, có chăng một ánh mắt dù khiếm nhã (theo như ý nghĩ của cô gái), thì cũng chỉ là một ánh mắt thoáng qua như bao nhiêu ánh mắt mà cô gái bắt gặp trong đời mình?

Không phải thế. Mọi sự không trôi đi, không mất. Bởi vào một buổi trưa, Đức Cha Futon Sheen nghe tiếng gõ cửa, và sau đó là sự bất ngờ của Đức Cha khi ngài mở cửa. Trước mặt ngài là cô gái tiếp viên hàng không trẻ tuổi có sắc đẹp mặn mà trên chuyến bay hôm nào, đã từng có ánh mắt thiếu thiện cảm với ngài.

Cô gái lên tiếng chào Đức Cha và hỏi:

– Thưa Đức Cha, Đức Cha có nhớ con không?

Đức Cha Fulton Sheen từ tốn trả lời:

– Cha nhớ chứ. Con chính là cô gái tiếp viên hàng không trên chiếc máy bay đưa chúng tôi trở về từ Công Đồng Vatican II.

Cô gái nói tiếp:

– Vậy Đức Cha có nhớ Đức Cha đã nói nhỏ vào tai con điều gì không?

Đức Cha trả lời:

– Nhớ! Cha nhớ, Cha đã khen con đẹp lắm. Và cha hỏi con rằng, có bao giờ con đã cảm tạ Chúa vì Chúa đã ban cho con sắc đẹp tuyệt vời kia chưa?

Cô gái sung sướng nói tiếp:

– Kính thưa Đức Cha, điều Đức Cha nói đã làm con băn khoăn nhiều. Cũng chính vì điều đó mà hôm nay con đến gặp Đức Cha. Vậy, theo ý Đức Cha, con phải làm gì để tạ ơn Chúa?

Hơi bất ngờ, Đức Cha Fulton Sheen lặng người suy nghĩ một chút. Sau đó Đức Cha dẫn cô gái tới trước tấm bảng đồ thế giới treo trên tường, vẫn giọng nói ôn tồn, Đức Cha hỏi:

– Có bao giờ con nghe nói tới một trại phong cùi nào ở Việt Nam mang tên là trại phong Di Linh chưa?

Cô gái ngước đôi mắt xanh như dò hỏi:

– Kính thưa Đức Cha, có lần con đã đọc được trên báo. Con cũng đã được nghe ai đó kể một vài chuyện về trại cùi Di Linh.

Đức Cha dõi mắt nhìn vào khoảng xa xăm trước mặt:

– Này con, cách đây chưa lâu, cha nghe nói Đức Giám mục giáo phận Sài Gòn tên là Jean Cassaigne đã từ chức Giám mục Sài Gòn để đến phục vụ anh chị em trại phong Di Linh. Con có muốn cảm tạ Chúa bằng cách thử một lần đến trại phong Di Linh, gặp Đức Giám Mục Sài Gòn và ở lại với anh chị em bệnh phong khoảng sáu tháng không?

Quá bất ngờ trước lời đề nghị của Đức Giám Mục thành New York, cô gái không thốt lên một lời, lặng lẽ cúi chào Đức Cha rồi rút lui trong sự bàng hoàng của chính nội tâm của cô…

Một lần nữa, người ta cứ tưởng rằng câu chuyện thật nhẹ nhàng, nhưng cũng thật mãnh liệt của Đức Cha Fulton Sheen và cô tiếp viên hàng không kia đã chấm dứt.

Nhưng thật lạ lùng, chỉ bằng ấy lời đề nghị nhẹ nhàng, nhưng dứt khoát của Đức Cha, đã làm thay đổi hoàn toàn cuộc đời của cô tiếp viên hàng không xinh đẹp.

Những tháng đầu năm 1966, người ta đọc thấy một bảng tin đáng khâm phục trên các phương tiện truyền thông của Sài Gòn và của Việt Nam nói chung: Một nữ tiếp viên hàng không rất trẻ, rất đẹp của một hãng hàng không Hoa Kỳ đã xin nghỉ nghề làm tiếp viên hàng không để đến trại phong Di Linh của Việt Nam, tình nguyện chăm sóc các bệnh nhân phong.

Thật đẹp, đẹp làm sao. Chỉ chừng ấy lời của một vị Giám Mục khả kính thôi, tâm hồn quả cảm của một cô gái lãng du thích phiêu bồng khi chọn cho mình nghề tiếp viên, rày đây mai đó, đã có thể chấp nhận trút bỏ tất cả tương lai đẹp như chính cái vẻ đẹp của cô để sống, không phải sáu tháng, nhưng là suốt đời cho một lý tưởng cũng đẹp không kém: Tạ ơn Thiên Chúa.

Chỉ chừng ấy thôi, lời của một vị Giám mục khả kính đã biến một cô chiêu đãi viên hàng không xinh đẹp thành một nữ tu. Bởi chính cô, sau một thời gian phục vụ anh chị em phong, đã tự nguyện khoác lấy chiếc áo nữ tu trong Hội Dòng Nữ Tử Bác Ái Vinh Sơn Việt Nam. Từ nay, bước vào đời sống tu trì, Người Nữ Tu, cô gái xinh đẹp của chúng ta, hoàn toàn trút bỏ mọi vướng bận của đời thường để yên tâm sống lý trưởng cảm tạ Chúa bằng việc phục vụ anh chị em phong của mình. Người nữ tu đã từng làm tiếp viên hàng không ấy, đẹp quá. Chị đẹp, không chỉ là một sắc đẹp thân xác, mà chính là một vẻ đẹp lộng lẫy của tâm hồn. Người Nữ Tu ấy, không ai khác hơn, nhưng đó chính là Chị Louise Bannet.

Chị Louise Bannet đã tình nguyện ở lại trại phong Di Linh suốt đời. Nhưng biến cố của năm 1975 gây ra nhiều biến động, khiến Chị không thể tiếp tục ý nguyện của mình. Sau mười năm phục vụ người phong, Chị đã phải lên đường về nước. Một thời gian sau, Chị lại xin Nhà Dòng cho đi phục vụ bệnh nhân phong ở Tahiti.

Năm 1982, sau nhiều ngày bị căn bệnh ung thư quái ác hoành hành, Chị Louise Bannet đã qua đời giữa sự tiếc thương vô cùng của cộng đoàn anh chị em phong tại Tahiti. Và trong tình liên đới, cũng như trong lòng biết ơn của mình, cũng là chính lòng tiếc thương của các bệnh nhân phong Việt Nam nói chung và tất cả những ai sống tại trại phong Di Linh nói riêng.

Anthony Trung Thành 


CHÂU NHUẬN PHÁT: VỊ HIỀN TRIẾT TU ĐẠO BẰNG ĐỜI

CHÂU NHUẬN PHÁT: VỊ HIỀN TRIẾT TU ĐẠO BẰNG ĐỜI

 “Tiền không phải của tôi, tôi chỉ tạm thời giữ nó mà thôi.”

 Trong thế giới giải trí nơi nhiều ngôi sao gắn liền với sự xa hoa, Châu Nhuận Phát lại nổi bật theo một cách rất khác: sống giản dị, khiêm nhường và xem tiền bạc chỉ là thứ tạm giữ trước khi trao lại cho đời.

 Nam diễn viên huyền thoại của điện ảnh Hồng Kông từng tuyên bố ông sẽ tặng khoảng 99–100% tài sản của mình cho từ thiện sau khi qua đời. Khối tài sản của ông được ước tính khoảng 700–715 triệu USD (tương đương khoảng 17.000–18.000 tỉ đồng Việt Nam).

 Ông giải thích rất thẳng thắn:

 “This money isn’t something you possess forever. When you’re gone one day, you have to leave it to others to use it. You can’t bring the money in your bank account with you after you die.”

 Tạm dịch:

Tiền không phải thứ ta có thể sở hữu mãi. Khi rời khỏi thế gian, hãy để người khác sử dụng nó. Không ai mang tiền theo sau khi chết.

 

 Sống giản dị dù là siêu sao

 Dù là một trong những ngôi sao lớn nhất châu Á, Chow Yun-fat lại sống rất bình dân.

 Ông thường đi tàu điện, xe buýt, ăn ở quán bình thường và hiếm khi tiêu xài xa xỉ. Nhiều người dân Hong Kong từng bắt gặp ông tự đi dạo phố, leo núi hay chụp ảnh vui vẻ với người hâm mộ. 

Triết lý sống của ông được tóm gọn trong một câu nói nổi tiếng:

 “The money is not mine; I just keep it temporarily.”

 Tiền không phải của tôi – tôi chỉ giữ nó tạm thời.

 

 Chuẩn bị tài sản cho hoạt động từ thiện

 Trong những năm gần đây, Chow Yun-fat bắt đầu bán bớt bất động sản để chuyển tài sản thành tiền mặt phục vụ cho kế hoạch từ thiện lâu dài.

 Một căn hộ cao cấp tại khu Tây Bán Sơn (Hong Kong) vừa được bán khoảng 8 triệu HKD. Căn hộ này được vợ chồng ông mua từ năm 1995 với giá hơn 3 triệu HKD, và sau gần 30 năm giá trị đã tăng đáng kể.

 Ông và vợ dự định thành lập quỹ từ thiện, dùng tài sản của mình hỗ trợ các lĩnh vực như:

 * giáo dục

* y tế

* xóa đói giảm nghèo

 Đối với họ, di sản thật sự không phải là tài sản để lại cho gia đình, mà là những đóng góp cho xã hội.

 

 Bi kịch khiến ông không có con

 Chow Yun-fat kết hôn với Jasmine Tan. Hai người từng mong chờ một đứa con, nhưng năm 1991, bi kịch xảy ra khi em bé không sống được sau khi sinh dù thai kỳ đã gần đủ tháng.

 Sự mất mát này ảnh hưởng rất sâu sắc đến cả hai vợ chồng. Sau đó họ quyết định không cố gắng sinh thêm con, chọn sống bình an bên nhau thay vì tiếp tục đối mặt với nguy cơ tổn thương tương tự.

 Một triết lý sống rất giản dị

 Chow Yun-fat từng nói:

 “When we came into this world, we had nothing, and we will leave with nothing.”

 Chúng ta đến thế gian tay trắng, và cũng sẽ rời đi tay trắng.

 Có lẽ chính vì vậy mà ông chọn cách sống khác với nhiều ngôi sao:

Không bám vào tiền bạc, không chạy theo xa hoa, và xem tài sản chỉ là phương tiện để giúp đỡ người khác.

 Sau hàng chục năm nổi tiếng, nhiều người nhận ra rằng:

 Châu Nhuận Phát không chỉ là một minh tinh điện ảnh.

Ông là một người đang “tu đạo bằng chính cuộc đời mình.” ✨

 Theo: Vietgiaitri.com

From: taberd & NguyenNThu

CHUYỆN LÁ CỜ VÀNG VÀ ĐỪNG PHẠM TỘI VÌ THIẾU HIỂU BIẾT

Xuyên Sơn

 

CHUYỆN LÁ CỜ VÀNG VÀ ĐỪNG PHẠM TỘI VÌ THIẾU HIỂU BIẾT

Tôi dám cá với các bạn là hiện nay có rất nhiều người Việt mình

( con số có thể hàng triệu , trẻ có mà già cũng có )

nghĩ rằng lá cờ vàng ba sọc đỏ là cờ của chính phủ VNCH trước 1975 . Thậm chí cũng có trường hợp như thằng bạn chơi chung trong hội xe đạp của tôi, hơn 40 tuổi nhưng nó còn hỏi tôi cờ vàng ba sọc là cờ gì ?

    Chính gì hiểu sai và mù tịt về nguồn gốc cho nên hễ thấy ở đâu xuất hiện lá cờ vàng là trong đầu họ lởn vởn 2 chữ “ phản động” hoặc “Cờ của ngụy”

Rồi co rúm người lại , sợ hãi , ngó dáo dác xung  quanh coi có Công an không

     Thực trạng dốt nát , hiểu sai về nguồn gốc lá cờ vàng dân tộc

(và nhiều chuyện ghê gớm khác nữa ) của số đông người Việt chúng ta bởi vì liên tiếp từ thế hệ này đến thế hệ khác chúng ta bị nhà trường XHCN dạy những điều sai sự thật liên quan lịch sử

   Thú thật với các bạn là tôi cũng nằm trong số đông người Việt bị tiêm nhiễm kiến thức lịch sử đầy dối trá như thế .

Tôi cũng một thời u mê mụ mị, bởi cái tuổi tôi cũng học cùng 1 chương trình giáo dục đó thôi.

Tuy nhiên, ở đời khôn hay dại là do mình.

Chấp nhận làm cừu cho người ta dắt  hay muốn tự khai sáng là do mình . ….

Ngày nay phương tiện để khai sáng học hỏi nó ở ngay trong nhà mình . Thậm chí không cần đến trường vẫn có thể trở thành một người thông thái….

Trở lại câu chuyện lá cờ vàng, đó không phải là lá cờ do chế độ

“ mỹ ngụy “ sáng tác ra  như đám bò đỏ, dlv vẫn nghĩ .

Đó cũng không phải là lá cờ thù địch đáng ghét để xé để dẫm đạp lên để rồi phạm tội như 1 cậu du học sinh tại Úc đang ồn ào.

Mà đây chính là lá cờ của dân tộc Việt đã truyền qua nhiều chính thể mà chính phủ VNCH chỉ là sự tiếp nối theo dòng chảy lịch sử ( google)

Nếu được giáo dục đúng sự thật sẽ không có thái độ cực đoan và sẽ không phạm tội như chuyện đang xảy ra.

    Nền giáo dục XHCN phải chịu trách nhiệm về chuyện này.

Nhưng trước hết chúng ta phải tự cứu mình bằng cách mỗi người phải tự khai sáng cho bản thân

Ai đó đã nói rất đúng

“ Ngày xưa không có internet bị cộng sản lừa thì không phải lỗi của mình. Ngày nay có internet mà vẫn bị cộng sản lừa là tại mình …. quá ngu mà thôi”

Nguồn fb Hai Tran 


 

ÂN PHI HỒ THỊ CHỈ: YÊU VUA DUY TÂN, CƯỚI VUA KHẢI ĐỊNH,

 8 SÀI GÒN 

ÂN PHI HỒ THỊ CHỈ: YÊU VUA DUY TÂN, CƯỚI VUA KHẢI ĐỊNH, CUỐI ĐỜI RỐI LOẠN TÂM THẦN, KHÔNG CON CÁI, ĐI BÁN BÁNH DẠO…

Câu chuyện về Ân Phi Hồ Thị Chỉ (1902 – 1982) là một bi kịch. Bà yêu hoàng đế Duy Tân nhưng cuối cùng lại trở thành hoàng phi của vua Khải Định. Bà sống cuộc sống tẻ nhạt bên cạnh Khải Định, không con cái. Sau khi vua qua đời, bà phải dọn ra khỏi hoàng cung, mắc bệnh t^mthần, sống cô đơn cho đến cuối đời.

Hồ Thị Chỉ là con gái của Thượng thư bộ Học Hồ Đắc Trung và bà Châu Thị Ngọc Lương. Bà lớn lên trong gia tộc danh giá bậc nhất xứ Huế. Những người anh em của bà đều là bậc trí thức nổi tiếng như Hồ Đắc Di, Hồ Đắc Khải, Hồ Đắc Điềm… Nhưng giữa gia đình hào môn ấy, cuộc đời Hồ Thị Chỉ lại sớm bị định đoạt bởi những mối dây vô hình của hoàng tộc và chính trị.

Người ta kể rằng, mùa hè năm 1913, khi vua Duy Tân còn là một thiếu niên, những buổi nghỉ mát ở Cửa Tùng đã vô tình mở ra một đoạn duyên kỳ lạ. Những đứa trẻ của gia đình Hồ Đắc Trung được đưa theo để bầu bạn với hoàng đế. Trong tiếng sóng biển rì rào và nắng hè chói chang, cô bé 11 tuổi Hồ Thị Chỉ mang vẻ đẹp e ấp, thẹn thùng đã khiến vị vua 14 tuổi chú ý.

Không phải một cuộc gặp gỡ của những lời thề non hẹn biển, không phải một khởi đầu được báo trước bằng nghi lễ, chỉ là một rung động âm thầm giữa hai đứa trẻ bị đặt vào vòng cung cấm của lễ nghi và thân phận. Về sau, chính sư bà Diệu Không, em ruột của Hồ Thị Chỉ, đã viết lại những ký ức ấy như một mảnh vỡ dịu dàng: Vua gọi các anh là “anh”, gọi Chỉ là “em”, ánh mắt dừng lại nơi bà nhiều hơn tất cả.

Mùa hè kết thúc, cuộc chia ly đến như một lưỡidao cắt ngang tuổi thơ. Hồ Thị Chỉ khóc. Vị vua trẻ lặng im. Và rồi lời hẹn “sang năm gặp lại” được thốt ra như một chiếc lá mong manh treo giữa trời, không ai biết sẽ rơi lúc nào.

Năm sau, khi Hồ Thị Chỉ đã lớn hơn, mẹ không cho phép bà trở lại Cửa Tùng gặp vua. Khi vua Duy Tân được hai bà Hoàng Thái Hậu cho phép nạp phi, ông đã chọn tiểu thư họ Hồ. Thế nhưng, trớ trêu là cuối năm 1915, vua Duy Tân đã mời Thượng thư Hồ Đắc Trung gặp riêng và nói lời rút lui việc hôn nhân với Hồ Thị Chỉ mà không cho biết lý do. Không một sự an ủi nào đủ sức làm dịu đi nỗi sững sờ của gia đình họ Hồ. Và rồi chỉ ít lâu sau, vua kết hôn, ngồi trong kiệu hoa bước vào hoàng cung không phải Hồ Thị Chỉ, mà là một cô gái khác.

Sau này, vua Duy Tân tham gia cuộc khởi nghĩa chống Pháp, rồi bị bắt lưu đày. Theo lời khai của nhà vua với người Pháp, sở dĩ ông thay đổi ý định kết hôn với con gái Thượng thư Hồ Đắc Trung vì lúc bấy giờ, ông đã nhận lời tham dự cuộc khởi nghĩa vũ trang do Quang Phục hội lãnh đạo, nên không muốn người yêu là Hồ Thị Chỉ và gia đình đông con của Thượng thư Hồ Đắc Trung phải gánh chịu liên lụy. Tiểu thư Hồ Thị Chỉ nghe vậy càng thêm cảm phục quý mến tình cảm của Duy Tân và nguyện một đời sốngchết vì vua.

Thế nhưng cuộc đời không đơn giản như vậy.

Vua Khải Định bước lên ngai vàng trong bối cảnh lịch sử đầy biến động. Ngài nhìn thấy Hồ Thị Chỉ trong một cuộc gặp mang tính nghi thức. Lời cầu hôn được đưa ra không phải như một lời hỏi han, mà như một mệnh lệnh. Trong căn nhà họ Hồ, không khí nặng trĩu. Cha bà hiểu rằng đây không còn là chuyện tình cảm đơn thuần. Đây là lựa chọn giữa danh dự và tai họa. Giữa sự sống còn của cả gia tộc và ý chí của một người con gái.

Hồ Thị Chỉ khóc, nói muốn ở lại bên cha mẹ suốt đời, không muốn bước vào bất kỳ cuộc hôn nhân nào, vì trong lòng chỉ yêu vua Duy Tân. Nhưng tiếng khóc ấy, dù xé lòng, vẫn không thể chống lại sức nặng của “khẩu dụ”. Trong triều đình, một lời của vua không chỉ là lời nói, nó là số phận.

Những ngày sau đó là chuỗi ngày dài như không có bình minh. Cả gia đình thay nhau thuyết phục. Cuối cùng, Hồ Thị Chỉ chấp nhận kết hôn với vua Khải Định.

Ngày 3 tháng 12 năm 1917, lễ nạp phi diễn ra long trọng. Hồ Thị Chỉ, 15 tuổi, trở thành Ân phi, Nhất giai Phi, bậc cao nhất trong hàng hậu cung, chỉ dưới Hoàng quý phi. Một danh vị mà người ngoài nhìn vào tưởng là vinh quang, nhưng với bà, đó là cánh cửa khép lại mọi con đường trở về.

Trong cung, bà được xem trọng do thông thạo chữ nghĩa, giỏi tiếng Pháp. Bà từng xuất hiện trong các buổi tiếp tân như gương mặt đại diện cho sự giao thoa Đông Tây. Nhưng phía sau những nghi lễ ấy là một đời tư trống rỗng. Không con cái. Không điểm tựa tình cảm. Không một tiếng gọi thân thuộc giữa bốn bức tường vàng son.

Một số giai thoại gây tranh cãi về vua Khải Định vẫn luôn khiến hậu thế xôn xao. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân từng ghi nhận những lời đồn rằng vị hoàng đế này có sở thích đặc biệt với nam giới, thậm chí trong suốt 10 năm trị vì (1916-1925) còn nuôi thị vệ Nguyễn Đắc Vọng bên cạnh. Ban đêm nhà vua thường gọi Vọng vào ngủ chung và ban thưởng hậu hĩnh. Các quan đại thần muốn đưa con gái mình vào làm vợ vua. Khó lòng chối từ, vua thường nói với các quan: “Nội cung của Trẫm là một cái chùa (ý nói không có chuyện ái ân), ai muốn tu thì cứ vào.”

Không dừng lại ở đó, nhiều tài liệu truyền miệng còn nói Khải Định đặc biệt mê hát bội nhưng chỉ chuộng gánh tuồng toàn nam, kể cả vai nữ cũng do nam giả trang. Bên cạnh đó, nhà vua còn bị mô tả là người ưa trang điểm, đeo trang sức cầu kỳ, ăn mặc sặc sỡ và thậm chí tự thiết kế y phục khác lạ, tạo nên hình ảnh một vị hoàng đế dị biệt.

Khải Định qua đời năm 1925. Triều đại đổi chủ. Bảo Đại lên ngôi, cải tổ nội cung. Những danh phận cũ bị sắp xếp lại như những quân cờ bị xáo trộn. Hồ Thị Chỉ phải rời khỏi hoàng cung. Không con cái, nỗi cô đơn ngày một lớn, bà mắc bệnh tr/cảm và rối loạn t^mthần.

Từ một Ân phi sống trong lầu son gác tía, bà trở thành một bóng dáng lặng lẽ, phiền muộn, sống lay lắt giữa đời. Mỗi ngày, bà mang một rổ bánh nậm ra chợ An Cựu, khi thì bán, khi thì cho, không màng lời lãi, áo quần và nơi ở xuề xòa, tạm bợ. Bệnhtinh thần theo năm tháng ngày càng nặng.

Năm 1975, cuộc đời bà như được kéo lại từ bờ vực khi hai người anh ruột là Hồ Đắc Điềm và Hồ Đắc Di từ Hà Nội vào Huế, tìm gặp lại em gái sau bao năm xa cách. Từ đó, bà dần được chăm sóc, bệnh ổn định hơn, không còn đi lang thang ngoài đường như trước.

80 tuổi, Ân phi suy kiệt vì tiêu chảy và qua đời tại Bệnh viện Trung ương Huế. Mộ phần của bà được an táng bên cạnh song thân trong khu lăngmộ họ Hồ trên đồi thông gần chùa Hồng Ân, nơi do ni trưởng Thích Nữ Diệu Không, em gái bà, sáng lập và trụ trì.

Cuộc đời bà, nếu nhìn bằng mắt thường, là một chuỗi vinh hiển: Từ con gái quan lớn, đến Ân phi quyền quý, rồi sống trong những dinh thự sang trọng. Nhưng nếu nhìn bằng trái tim, đó là một bi kịch kéo dài, bi kịch của một người phụ nữ bị đặt giữa những vòng xoáy của lịch sử, nơi tình yêu đầu đời bị cắt đứt, hạnh phúc bị định đoạt và cô đơn trở thành bạn đồng hành cuối cùng.

Trong những bức tường thành cung điện Huế hôm nay, đâu đó như còn vang lên tiếng thở dài rất khẽ của một người con gái từng sống một đời rực rỡ bên ngoài, nhưng cô quạnh, đau khổ sâu trong tâm khảm.

Thu Hằng (Tổng hợp)

SÀI GÒN KỶ – NIỆM


 

Mexico City lún nhanh tới mức có thể nhìn thấy từ không trung

Ba’o Nguoi-Viet

May 6, 2026

MEXICO CITY, Mexico (NV) – Mexico City, thủ đô Mexico, đang lún nhanh tới mức có thể nhìn thấy từ không trung, theo CNN hôm Thứ Ba, 5 Tháng Năm.

Hình chụp bằng hệ thống radar rất mạnh của Cơ Quan Hàng Không và Vũ Trụ Quốc Gia của Mỹ (NASA) cho thấy Mexico City đang lún hơn nửa inch một tháng – trở thành một trong những thủ đô lún nhanh nhất thế giới.

Đường sá bị nứt tại quảng trường Zocalo ở Mexico City, Mexico. (Hình: Hector Vivas/Getty Images)

Mexico City, cũng là một trong những thành phố lớn nhất thế giới, trải dài khắp một hồ nước ở trên cao và nằm bên trên tầng nước ngầm cổ, cung cấp khoảng 60% lượng nước uống cho 22 triệu cư dân siêu đô thị này.

Qua nhiều năm, tầng nước ngầm bị bơm quá mức, làm đất bên trên bị lún. Tình trạng bơm nước quá mức còn góp phần gây ra khủng hoảng nước triền miên, khiến Mexico City có nguy cơ không lâu nữa sẽ hết nước uống.

Tình trạng sụt lún nhanh của Mexico City càng thêm trầm trọng do việc đô thị hóa không ngừng vì cơ sở hạ tầng mới làm tăng sức nặng đè lên lớp đất đầy đất sét của thành phố này.

Tình trạng sụt lún của Mexico City được lưu vào hồ sơ lần đầu tiên vào những năm 1920. Kể từ đó, cư dân bắt đầu chứng kiến hậu quả: Đường sá bị nứt, nhà cửa bị nghiêng và hệ thống đường rầy bị hư hại.

Hình ảnh mới từ vệ tinh NISAR, dự án của NASA với Tổ Chức Nghiên Cứu Vũ Trụ Ấn Độ, cho thấy thành phố này lún nhanh tới mức đáng giật mình.

Từ Tháng Mười, 2025 tới Tháng Giêng, 2026, giữa mùa khô ở Mexico City, hình ảnh do NISAR chụp cho thấy nhiều nơi ở thành phố này lún khoảng 0.8 inch một tháng, tương đương hơn 9.5 inch một năm.

Trong những nơi bị lún nặng nhất, có Phi Trường Quốc Tế Benito Juarez, phi trường chính của Mexico City.

Tượng đài Thiên Thần Độc Lập, công trình biểu tượng của Mexico City, cho thấy rõ hậu quả. Được xây dựng năm 1910 để kỷ niệm 100 năm ngày Mexico độc lập khỏi Tây Ban Nha, công trình cao 114 foot này phải xây thêm 14 bậc thềm dưới chân do mặt đất bị lún. (Th.Long)


 

AI LÀ TÊN SÁT NHÂN SỐ 1 THẾ GIỚI THẾ KỶ 20?

Việt Tân 

AI LÀ TÊN SÁT NHÂN SỐ 1 THẾ GIỚI THẾ KỶ 20?

Giết người – Một tội ác ghê rợn khi chính con người cướp đi mạng sống của đồng loại mình. Người ta có thể giết nhau bằng rất nhiều cách:

  1. Tự sát: giết hại chính bản thân mình.
  2. Dùng các loại vũ khí, sức lực hoặc kỹ năng để trực tiếp giết người.
  3. Dùng trí thông minh để gián tiếp giết người.

Nhưng có 1 loại sát nhân tàn bạo với số lượng nạn nhân vô cùng lớn. Đó là cách người ta dùng 1 thứ vũ khí vô hình nhưng có sức hủy diệt lớn gấp nhiều lần bom nguyên tử. Đó là thể loại gì?

ĐÓ LÀ DÙNG TƯ TƯỞNG ĐỂ GIẾT NGƯỜI

Lịch sử ghi nhận 2 tên sát nhân tầm cỡ nhất của thế kỷ 20. Thật tình cờ cả 2 đều đến từ nước Đức. Đó là ai?

  1. Người đầu tiên không thể không nhắc đến đó là Adolf Hitler – Chủ tịch đảng công nhân Đức quốc gia xã hội chủ nghĩa – Quốc trưởng của Phát xít Đức

Vũ khí mạnh nhất ông ta dùng không phải là vũ khí hay khoa học kỹ thuật mà nước Đức sở hữu thời bấy giờ. Vũ khí lớn nhất của ông ta là 1 quyển sách tên là “Mein Kampf”. Nó chứa đựng tư tưởng của ông ta tư tưởng CHỦNG TỘC. Ông ta cho rằng dân tộc ông ta là dân tộc thượng đẳng và có kiếm đi xâm chiếm và đô hộ người khác. Nghe có vẻ lố bịch nhưng hàng triệu người Đức thời điểm ấy sau khi đọc cuốn sách đó lại tiếp thu một cách cuồng tín.

Kết hợp cùng với tư tưởng bài Do Thái của mình (một trong những bí mật vẫn chưa được giải đáp tại sao Hitler lại căm thù người Do Thái?), ông ta tiến hành giết chóc trên diện rộng. Hậu quả có khoảng 26 triệu người Do Thái bị sát hại và khoảng 50 triệu người chết trong thế chiến thứ 2 – cuộc chiến do chính Hitler và tư tưởng của ông ta phát động.

  1. Người thứ 2, người gây rất nhiều tranh cãi mặc dù chết vào năm 1883 nhưng những hậu quả của ông gây ra chủ yếu trong thế kỷ 20. Đó là Karl Marx

Vũ khí ông ta sử dụng đó là học thuyết về “Chủ nghĩa xã hội khoa học”, một tư tưởng mà thậm chí còn được nhiều triệu người tin tưởng đi theo. Đó là chủ nghĩa xây dựng 1 xã hội dựa trên tiêu chí chủ yếu “Làm theo năng lực. hưởng theo nhu cầu”, xóa bỏ giai cấp tư sản.

Ông ta có một số lượng học trò đông đảo trên nhiều quốc gia, học thuyết được thấm đẫm trong đầu óc của nhiều người. Và chắc bạn thắc mắc tại sao ông ta lại có thể giết được người. Cái ông ta đặt nền móng là chủ nghĩa cộng sản. Ông ta hoàn toàn phải chịu trách nhiệm do những tội ác mà cộng sản gây ra. Hãy cùng điểm qua những vụ thảm sát của cộng sản.

– Liên Xô: Dưới sự lãnh đạo của Stalin – Tổng bí thư đảng cộng sản Liên Xô, ông ta ra sức đàn áp các thế lực chống đối trong nước. Những người không theo ông ta chỉ có 1 con đường chết. Qua những cuộc thanh trừng “Khủng bố đỏ”, “Đại thanh trừng” diễn ra trên diện rộng khắp đất nước mà theo ước tính có khoảng 20 triệu người đã bị giết hại.

– Trung Quốc: Trung Quốc vốn nổi tiếng bởi sự tàn bạo của mình. Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản những vụ thảm sát diễn ra còn tinh vi và kín kẽ hơn nhiều.

o Đầu tiên là “Cách mạng văn hóa”: Do Mao Trạch Đông – Chủ tịch đảng cộng sản Trung Quốc khởi xướng, mục tiêu là loại bỏ những thành phần tư sản tự do nhưng thực chất là để củng cố địa vị của tên đồ tể này. Hậu quả có 40 triệu người chết vì chết đói! Vâng, chết đói.

o Thảm sát Thiên An Môn: Vụ đàn áp những thành phần sinh viên, trí thức đòi dân chủ. Có khoảng 10.000 chết tại chỗ và khoảng 2 triệu người bị bắt bớ và tra tấn sau vụ việc này.

o Đàn áp Pháp Luân Công: Đây vẫn là một trong những vụ thảm sát khó hiểu nhất lịch sử nhân loại được khởi xướng bởi Giang Trạch Dân – Chủ tịch đảng cộng sản Trung Quốc – khi một tổ chức chính trị đàn áp 1 môn khí công phi chính trị. Hậu quả rất nhiều học viên môn khí công này bị bỏ tù, tra tấn đến chết, mổ lấy nội tạng bán.

– Bắc Việt: Cải Cách Ruộng Đất được khởi xướng bởi Hồ Chí Minh, là phong trào xóa bỏ phong kiến. Có khoảng 50.000 người bị giết.

– Campuchia: Được khởi xướng bởi Pol Pot (người Campuchia gốc Trung Quốc) – Chủ tịch đảng cộng sản Campuchia – gây ra cái chết của khoảng 1,5 triệu người.

Nhìn những con số nạn nhân có thể thấy sự tàn bạo và hậu quả không lường của một tư tưởng. Nó có sức tàn phá lớn gấp nhiều lần bất cứ loại vũ khí nào con người có thể chế tạo ra.

Bạn thì sao? Quan điểm của bạn là gì?

Bài của LUBI, độc giả gửi đến FB/VT