Lạm phát tăng 3.8%, lương người Mỹ đuổi theo không kịp

Ba’o Nguoi-Viet

May 12, 2026

WASHINGTON, DC (NV) – Theo dữ liệu mới nhất về Chỉ Số Giá Tiêu dùng do Cục Thống kê Lao Động công bố hôm Thứ Ba, 11 Tháng Năm, giá tiêu dùng đã tăng 0.6% so với tháng trước, đẩy tỷ lệ lạm phát hàng năm lên mức 3.8%, mức cao nhất kể từ Tháng Năm, năm 2023.

Theo CNN loan tin, đây là lần đầu tiên sau ba năm, tiền lương của người Mỹ không tăng kịp với mức lạm phát.

Người dân đang chọn mua thực phẩm rau củ ở siêu thị Lidl Supermarket ngày 11 Tháng Năm, Brooklyn, New York City. (Hình: Michael M. Santiago/Getty Images)

Thêm vào đó, đội ngũ nhân viên kinh tế tại RSM, một công ty tư vấn chuyên về dự báo, nói rằng khi cú sốc nguồn cung từ cuộc chiến tại Trung Đông tác động xuyên suốt nền kinh tế Hoa Kỳ, lạm phát sẽ đạt đỉnh “ở mức hoặc trên” 4.5% tính theo cơ sở hàng năm vào khoảng thời gian nào đó trong mùa hè này.

Nhật báo The New York Times (NYTimes) cũng đưa ra phân tích tương tự, cho biết giá cả leo thang đồng nghĩa với việc tiền lương của người lao động lại không bắt kịp đà lạm phát. Mức thu nhập bình quân theo giờ đang tăng chậm lại, chỉ tăng 3.6% trong năm qua và 0.2% trong tháng vừa qua.

Mức thu nhập giảm, kết hợp với đà tăng vọt của giá năng lượng, khiến cho thu nhập theo giờ (sau khi đã điều chỉnh theo lạm phát) sụt giảm 0.5% trong Tháng Tư, đánh dấu tháng thứ hai giảm liên tiếp. Tiền lương thực tế từng sụt giảm mạnh mẽ trong giai đoạn lạm phát bùng phát đỉnh điểm sau đại dịch, nhưng đã ổn định trong những năm gần đây.

Trước khi các cuộc tấn công của Mỹ và Israel nhằm vào Iran diễn ra vào ngày 28 Tháng Hai, lạm phát đã hạ nhiệt xuống mức 2.4%. Giờ đây, cú sốc về giá năng lượng do cuộc chiến tại Iran gây ra đang càng làm trầm trọng thêm những lo ngại dai dẳng về khả năng chi trả đối với người dân Mỹ, những người vốn đang phải oằn mình gánh chịu gánh nặng giá cả leo thang nhanh chóng suốt nhiều năm qua.

Cũng theo CNN, ít nhất là trong những năm gần đây, mức tăng thu nhập của người Mỹ đã vượt tốc độ lạm phát. Nhưng điều này đã thay đổi vào tháng trước: mức tăng lương giờ bình quân (đã điều chỉnh theo lạm phát) tính theo năm đã chuyển sang mức âm lần đầu tiên kể từ Tháng Tư, năm 2023.

Cà chua giờ ‘rất chua’

Tình hình này diễn ra trong bối cảnh người dân Mỹ còn phải đối mặt với cú sốc về giá năng lượng đang lan tỏa khắp nền kinh tế, khiến cho một số mặt hàng tiêu dùng phổ biến nhất trở nên đắt đỏ hơn nữa.

Chẳng hạn, theo dữ liệu từ BLS, giá các loại rau củ và trái cây tươi, vốn thường được vận chuyển bằng xe tải chạy dầu diesel có hệ thống làm lạnh, đã tăng 2.3%.

Giá cà chua đã tăng vọt gần 40% trong Tháng Tư so với cùng kỳ năm ngoái, do sự kết hợp của thời tiết bất lợi, thuế quan cao và chi phí vận chuyển leo thang, theo NYTimes.

Giá thực phẩm tại các siêu thị đã tăng 2.9% trong Tháng Tư so với một năm trước đó. Đây là mức tăng hàng tháng cao nhất của nhóm hàng này kể từ năm 2010, cũng theo NYTimes.

Trong khi giá năng lượng tăng chiếm 40% mức tăng lạm phát trong Tháng Tư, một yếu tố đóng góp khác là sự leo thang của các mức giá liên quan đến nhà ở (được BLS phân loại là “nơi cư trú”). Tình hình leo thang này do đợt điều chỉnh mang tính một lần liên quan đến đợt đóng cửa chính phủ mang tính lịch sử diễn ra vào năm ngoái thúc đẩy, theo tin của CNN.

Thị trường chứng khoán vẫn chìm trong sắc đỏ vào sáng Thứ Ba. Chỉ số Dow giảm 18 điểm. S&P 500 giảm 0.3% và Nasdaq 100 giảm 0.75%.

Trách nhiệm thuộc về ai?

Phúc trình lạm phát mới nhất vừa công bố đi cùng với những phản ứng trái chiều gay gắt tại lưỡng đảng ở Quốc Hội, theo NYTimes. Phe Dân Chủ đổ lỗi cho người đứng đầu quốc gia về tình trạng giá cả leo thang, trong khi phe Cộng Hòa dường như lại xem nhẹ một số dữ liệu được công bố.

“Các chính sách kinh tế thất bại của ông Trump không chỉ làm tăng chi phí sinh hoạt, mà còn đang làm hao hụt thu nhập của các gia đình,” Thượng Nghị Sĩ Elizabeth Warren (Dân Chủ, Massachusetts) phát biểu. Bà cũng nói thêm trong một tuyên bố rằng các mức thuế quan do tổng thống áp đặt, cùng cuộc đối đầu đang diễn ra với Iran, chính là một trong những nguyên nhân đến tình trạng này.

“Dữ liệu lạm phát công bố hôm nay đã xác nhận điều mà ai cũng có thể thấy: Chi phí đang vượt khỏi tầm kiểm soát, và Tổng Thống Trump phải chịu trách nhiệm,” Dân Biểu Brendan Boyle (Dân Chủ, – Pennsylvania), thành viên cấp cao của Ủy Ban Ngân Sách Hạ Viện, phát biểu trong một tuyên bố.

Phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc Kush Desai đã tái khẳng định lập trường của ông Trump, cho rằng những gián đoạn bắt nguồn từ cuộc xung đột chỉ mang tính tạm thời và rằng “chương trình nghị sự kinh tế dài hạn” của tổng thống vẫn đang tiếp tục mang lại hiệu quả, theo tờ Politico. (K.L)


 

TẬN CÙNG SỰ KHỐN NẠN

Xuyên Sơn

 TẬN CÙNG SỰ KHỐN NẠN.

Chuyện những cây cầu ở Miền Tây.

Cầu Mỹ Thuận, bắc qua sông Tiền, nối hai tỉnh Vĩnh Long và Tiền Giang, được khởi công ngày 06/7/1997 do nước Australia tài trợ, khánh thành ngày 21/5/2000.

Người dân Miền Tây vui mừng chưa hết nụ cười thì ngay lập tức trạm thu phí phía Tiền Giang hoạt động.

Dĩ nhiên, Australia phản đối việc thu phí do cây cầu này được xây từ nguồn vốn viện trợ không hoàn lại của Australia, họ muốn giúp đỡ dân Miền tây vốn đã quá vất vả với hạ tầng giao thông kém cỏi.

Phía VN viện cớ phải thu phí để trang trải tiền bảo trì, duy tu, điện chiếu sáng nên cù nhây quyết không buông, người Úc lại bảo “thế chúng mày thu thuế để làm gì?” Phía VN vẫn chây lì , Người Úc đành âm thầm rút khỏi dự án cầu Cao Lãnh và Vàm Cống.

Mãi đến 01.01.2013, trạm thu phí cầu Mỹ Thuận mới chính thức dừng thu phí, khi đã áp phí bảo trì đường bộ bắt buộc.

Năm 2010, cầu Cần Thơ khánh thành, bằng nguồn vốn của người Nhật,

nếu người Nhật không đến có lẽ việc nối hai bờ sông Hậu mãi là giấc mơ. Cầu xây chưa xong nhưng trạm thu phí thì đã nhanh nhẩu xây xong trước đó.

Người Nhật cũng phản đối giống như người Úc, chắc họ ngạc nhiên với cái chính quyền đã thu thuế phí các loại lại còn tận thu phí qua cầu.

Năm 2011 Hầm Thủ Thiêm và Đại lộ Đông tây khánh thành, trước đó trạm thu phí đã mọc lên, phía Nhật gởi công hàm phản đối kịch liệt.

Kết quả:

ngày 22/11/2012, UBND TP HCM quyết định chưa thu phí hầm Thủ Thiêm (đường hầm sông Sài Gòn) “để chia sẻ khó khăn với người dân”, nghe mà rớt nước mắt, nuốt không trôi thì chia sẻ vậy!!!.

Trạm thu phí này phải dỡ bỏ vào năm 2018, mất 53 tỷ đồng tiền xây dựng.

Sự đê tiện của Bộ GTVT và chính quyền được nâng cao thêm một mức khi thông cầu Vàm Cống và Cao Lãnh, họ liền đặt trạm BOT T2 ngay ngã ba lộ tẻ để chặn dòng xe qua cầu Vàm Cống đi về hướng Long Xuyên, trước đó đã có trạm thu phí trên QL 80 đi Rạch Giá và QL 91 đi Cần Thơ, lập trạm BOT T2 này chẳng khác nào hành động của bọn lục lâm thảo khấu, một hành vi trấn lột đê tiện.

Cầu Vàm Cống và Cao Lãnh do chính phủ Hàn Quốc tài trợ, trước sự phản đối của phía Hàn Quốc và người dân, trạm này phải đóng cửa.

Cái bản chất gian xảo, lưu manh nó có từ thời nào?

Các nước Úc, Nhật và Hàn Quốc muốn giúp đỡ người dân Miền Tây nên đã dùng tiền thuế của dân họ tài trợ xây ba cây cầu huyết mạch, giúp việc lưu thông thuận tiện, giúp cho người dân cải thiện đời sống của mình.

Nhà nước VN do dân, vì dân, thấy dân đi đường của bọn tư bản viện trợ mà không thu thì rất phí nên bất chấp liêm sỉ, bằng mọi giá lập trạm thu phí, dù sau đó phải ăn cái tát từ các nhà tài trợ!!!

Cây cầu thứ tư khá nổi tiếng ở Miền Tây, khi nhắc đến nó chúng ta sẽ nghĩ đến một điểm kẹt xe nổi tiếng.

Cầu Rạch Miễu nối hai tỉnh Tiền Giang và Bến Tre, là niềm tự hào của ngành xây dựng giao thông VN, đây là công trình do Việt Nam tự đầu tư, với thiết kế và tổng thầu là các công ty Việt Nam.

Tiếc thay “niềm tự hào” nãy đã lỗi thời từ ngay từ khi thiết kế và trở thành cây cầu nguy hiểm nhất Miền Tây.

Rạch Miễu được khởi công năm 2002, tuy nhiên nó lại sử dụng số liệu khảo sát về lưu lượng xe từ năm 1995!, khánh thành năm 2009 nó đã trở nên lạc hậu.

Cầu chỉ có một làn xe cho mỗi chiều và một dẻo nhỏ hai bên cho xe máy đi, mặt đường nhỏ.

Độ dốc cao nên xe tải chỉ có thể bò lên cầu, độ tĩnh không cao nên khi trời mưa hay gió lớn xe máy di chuyển qua đây có thể bị thổi ngã, tuy vậy khi thiết kế và ngay cả bây giờ họ cũng không gắn các miếng che gió bảo đảm an toàn cho người đi đường.

Mặc dù xây cầu để không phải đi phà, nhưng đến năm 2021, ngân sách

(lại là tiền thuế của dân) chi 100 tỷ để làm lại bến phà nhằm giải tỏa cho Cầu Rạch Miễu, cái vòng lẫn quẩn.

Bọn đầy tớ phá thật! não trạng chỉ toàn “phí, thuế”.

Không có khả năng hoạch định chính sách nhưng rất điếm đàng trong việc dựng BOT.

Từ fb Chế Quốc Long


 

 NẰM MƠ HOÁ RỒNG…!

Xuyên Sơn

 NẰM MƠ HOÁ RỒNG…!

“Chẳng có quốc gia nào mà suốt ngày đi xin, đi vay.

Chẳng có chính phủ nào vay tiền để trả nợ mà đòi đưa đất nước hóa rồng, hóa hổ.. này nọ.!”

Nằm mơ hóa rồng …!

Đất nước gì mà một chiếc Opel của Đức được bán tại nước Đức với giá chỉ 5100 EURO, đem về Việt Nam dán chữ VINFAST bán với giá 450 triệu đồng.

Một chiếc tivi từ Trung Quốc được tháo rời đem về Việt Nam sắp lại dán chữ Asanzo hàng Việt Nam chất lượng cao mới ghê… cú lừa năm 2019 của thời đại cái này quá tàn nhẫn với người tiêu dùng Việt Nam…..

Gạo ngon đem xuất khẩu chỉ khoảng 7000 VNĐ/kg, trong khi đó người dân phải mua tại siêu thị tới 13.000-15.000 cho 1 kg gạo loại thường.

Một con gà, một cân thịt khi được đưa lên bàn ăn thì nó bị thu tới gần 20 loại phí.

Bên cạnh giá thuốc, sữa vào loại cao nhất thế giới thì người VN chúng ta đang bị “đánh thuế vô cùng tàn bạo” từ cái ăn, cái mặc, cái dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho tới cái phương tiện đi lại…..

Theo thống kê thì gộp tất cả công chức, viên chức, công an, bộ đội, người nghỉ hưu, ban bệ, các đoàn thể… thì có gần 12 triệu người ăn lương từ ngân sách Nhà nước.

Mỗi năm tiêu tốn hơn 60,000 tỷ tiền thuế của nhân dân nhưng nghịch lý là chúng nó chẳng tạo ra được điều tốt đẹp gì cho an sinh xã hội.

Năm 2019 là năm đáo hạn vốn vay ODA, cũng năm 2019 thì VN chúng ta bị cắt các khoản vay ưu đãi, chính phủ các nước đã siết chặt vốn ODA cho VN.

Không phải ngẫu nhiên mà những thương hiệu làm ra ăn nên như Sabeco, Habeco, Vinamilk, FPT… những con gà biết đẻ trứng vàng hiếm hoi của nhà nước cũng bị đem bán,

đơn giản chính phủ đã cạn kiệt tiền sau những năm tháng mà quan chức rất tích cực tàn phá, tích cực tham nhũng, tích cực biển thủ công quỹ làm của riêng…..

Chẳng có quốc gia nào mà suốt ngày đi xin, đi vay.

Chẳng có chính phủ nào vay tiền để trả nợ mà đòi đưa đất nước hóa rồng,

hóa hổ.. này nọ.!

Chẳng có dẫn chứng khoa học nào khiến đồng tiền mất đi cả, nó chỉ chuyển hóa từ nơi này sang nơi khác, từ túi người này sang người khác mà thôi.

Hàng vạn ngôi biệt thư, xe hơi, các vật phẩm xa xỉ, khối vàng ròng giấu trong két sắt của đảng viên chính là sự chuyển hóa ấy.

Khi nợ quốc gia chất cao như núi, tình cảnh “vỡ nợ” đang dần hiện hữu, thì không còn cách nào khác là chính phủ phải tiếp tục “bóp cổ người dân”

để lấy tiền nuôi bộ máy quan chức.

Theo đó thì phí BHXH, BHYT, phí cầu đường, phí đăng ký ô tô, xe máy, giá điện, nước… cứ thế mà tăng giá phi mã.

Vậy thôi, ai có sức ăn được thì cứ ăn, tội vạ đâu dân gánh hết.

Ngẫm mà buồn cho mình dân Việt…

Như Linh

Hình minh họa: Internet

Nguồn fb Lời Nguyền


 

TIẾNG “DẠ” THÂN THƯƠNG

Xuyên Sơn

 

TIẾNG “DẠ” THÂN THƯƠNG

Nghe tiếng “Dạ” sao mà thương đến lạ. Người Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung, có thói quen dùng từ “dạ” khi nói chuyện, khác với người miền Bắc lại dùng từ “vâng”.

Để ý sẽ thấy ít có người Sài Gòn nào nói từ “vâng”.

Khi có ai gọi, một người Sài Gòn nói “vâng!” là trong dáng dấp của câu nói đó có giọng đùa, cười cợt.

Khi nói chuyện với người lớn hơn mình, người dưới thường đệm từ “dạ” vào mỗi câu nói:

”Mày ăn cơm chưa con ?

– Dạ, chưa!”

“Mới dìa/dzề hả nhóc?

– Dạ, con mới!”…

Cái tiếng “dạ” đó, không biết sao trong cảm giác nghe của một người Sài Gòn với một người Sài Gòn thấy nó “thương” lạ…dễ chịu mà gần gũi, nhẹ nhàng mà tình cảm lắm lắm.

Cảm giác nó thật riêng so với những nơi khác.

Nghe một tiếng “dạ” là biết ngay tên này là dân miền Nam cái đã rồi hẵng hay…

Một người miền khác, có thể là Bắc hoặc Trung, diễn tả một khoảng thời gian ngắn vài ngày thì nói:

“Từ bữa đó đến bữa nay”, còn người Sài Gòn thì nói:

“Hổm rày”, “dạo này”…

Người khác nghe sẽ không hiểu, vì nói chi mà ngắn gọn ghê.

(Lại phát hiện thêm một điều là người Sài Gòn hay dùng từ “ghê” phía sau câu nói để diễn tả một sắc thái tình cảm riêng.

Tiếng “ghê” đó chẳng hàm ý gì nhiều, nó mang ý nghĩa là “nhiều” là “lắm”.

Nói ”Nhỏ đó xinh ghê!”, nghĩa là khen cô bé đó xinh lắm vậy.

Lại so sánh từ “hổm nay” với “hổm rày” hay nghe ở các vùng quê Nam Bộ, cũng một ý nghĩa như nhau, nhưng lại không hoàn toàn giống nhau.

Nghe người Sài Gòn dùng một số từ “hổm rày, miết…” là người Sài Gòn bắt chước người miền sông nước vậy.

Nhưng nghe vẫn không trái tai, không cảm thấy gượng,

vì trong người Sài Gòn vẫn còn cái chất miền Nam chung mà.

Nghe một đứa con trai Sài Gòn nói về đứa bạn gái nào đó của mình xem… “Nhỏ đó dễ thương ghê!”,

“Nhỏ đó ngoan!”…

Tiếng “nhỏ” mang ý nghĩa như tiếng “cái” của người Hà Nội.

Người Sài Gòn gọi “nhỏ Thuý, nhỏ Lý, nhỏ Uyên” thì cũng như

“cái Thuý, cái Uyên, cái Lý” của người Hà Nội thôi.

Nói một ai đó chậm chạp, người Sài Gòn kêu

“Thằng đó làm gì mà cứ cà rề cà rề… nhìn phát bực!”

Nghe cứ như là đùa, chẳng làm câu nói nặng nề lắm.

Một người lớn hơn gọi:

“Ê, nhóc lại nói nghe!”

Hay gọi người bán hàng rong:

“Ê, cho chén chè nhiều nhiều tiền ít coi!”…

“Ê” là tiếng Sài Gòn đó, coi gọi trổng không vậy mà chẳng có ý gì đâu,

có thể nói đó là thói quen trong cách nói của người SàiGòn.

Mà người Sài Gòn cũng lạ, mua hàng gì đó, thường quên mất từ “bán”,

chỉ nói là:

“Cho chén chè, cho tô phở”…

“Cho” ở đây là mua đó nghen.

Nghe người Sài Gòn nói chuyện với nhau, thường bắt gặp thế này:

“Lấy cái tay ra coi!”

“Ngon làm thử coi!”

“Cho miếng coi!”

“Nói nghe coi!”…

“Làm thử” thì còn “coi” được, chứ “nói” thì làm sao mà “coi” cho được nè ?

Vậy mà người Sài Gòn lại nói, từ “coi”, cũng chỉ như là một từ đệm, dân Sài Gòn nói dzậy mà.

Ngồi mà nghe người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau thì quái lắm, lạ lắm,

không ít người sẽ hỏi:

“Mấy từ đó nghĩa là gì dzậy ta ?”

– Mà “dzậy ta” cũng là một thứ

“tiếng địa phương” của người Sài Gòn à.

Người Sài Gòn có thói quen hay nói:

“Sao kỳ dzậy ta?”

“Sao rồi ta?”

“Được hông ta?”…

Nghe như là hỏi chính mình vậy đó, mà…hổng phải dzậy đâu nghen,

kiểu như là nửa hỏi người, nửa đùa đùa vậy mà.

Tiếng Sài Gòn là thế đó, nếu bạn giả giọng Sài Gòn nói chuyện, dù có giống cách mấy mà bỏ quên mấy tiếng đệm, mấy tiếng Sài Gòn riêng riêng này thì đúng là…

“bạn hông biết gì hết chơn hết chọi!” Mà giọng Sài Gòn đã thế, cách người Sài Gòn xưng hô, gọi nhau cũng có phần mang “màu sắc” riêng.

Người Sài Gòn có cái kiểu gọi “Mày” xưng “Tao” rất “ngọt”.

Một vài lần gặp nhau, nói chuyện ý hợp tâm đầu một cái là người Saigon mày tao liền.

Nếu đúng là dân Sài Gòn, hiểu người Sài Gòn, yêu người Sài Gòn sẽ thấy cách xưng hô ấy chẳng những không có gì là thô mà còn rất ư là thân thiện và gần gũi.

Mày-tao là kiểu xưng hô hay thấy trong mối quan hệ bạn bè của người Sài Gòn.

Cách xưng hô này thấy dàn trải từ đủ các mối quan hệ bạn bè; từ bạn học giữa mấy đứa nhóc chút xíu,cho đến mấy bác mấy anh lớn lớn tuổi.

Hổng biết cái máu dân Sài Gòn nó chảy mạnh quá hay sao mà thấy mấy cách gọi này nó… tự nhiên và dễ nói hơn là mấy từ như “cậu cậu – tớ tớ” của miền Bắc.

Nói chuyện bạn bè với nhau, thân thiết mà gọi mấy tiếng mày mày tao tao thì nghe thật sướng, thật thoải mái tự nhiên, và khoai khoái làm sao ấy.

Gọi thế thì mới thiệt là dân Sài Gòn.

Đấy là ngang hàng, ngang vai vế mà gọi nhau, chứ còn như đám nho nhỏ mà gặp người lớn tuổi hơn, đáng bậc cha, chú thì khác.

Khi ấy “tụi nhỏ” sẽ gọi là chú, thím, cô, dì, hay bác và xưng “con” ngọt xớt.

Có vẻ như người Sài Gòn “ưa” tiếng chú, thím, dì, cô hơn;

cũng như đa phần dân miền Nam khác vậy mà.

Mà có lẽ cách gọi này cũng còn tuỳ vào việc ước lượng tuổi của người đối diện.

Gặp một người phụ nữ mà mình nhắm chừng tuổi nhỏ hơn mẹ mình ở nhà thì:

“Dì ơi dì…cho con hỏi chút…!” –

Còn lớn hơn thì dĩ nhiên là “Bác ơi bác…” rồi.

Những tiếng mợ, thím, cậu,… cũng tuỳ vào vai vế và người đối diện mà gọi.

Có người chẳng bà con thân thuộc gì, nhưng là bạn của ba mình, lại nhỏ tuổi hơn, thế là gọi là chú và vợ của chú đó cứ thế gọi luôn là thím.

Gọi thì gọi thế, còn xưng thì xưng “con” chứ không phải “cháu cháu” như một số vùng khác.

Cái tiếng “con” cất lên nó tạo cho người nghe cảm giác khoảng cách giữa mình với đứa nhỏ đang nói kia tự dưng… gần xịt lại.

Nghe sao mà quen thuộc, và gần gũi đến lạ lùng.

Tự dưng là thấy có cảm tình liền.

Nói tiếp chuyện xưng hô, người Sài Gòn có kiểu gọi thế này :

Ông đó = Ổng

Bà đó = Bả

Dì đó = Dỉ

Anh đó = Ảnh

Chị đó = Chỉ

Cô đó = Cổ

Còn nữa:

Ở bên đó = Ở bển

Ở trong đó = Ở trỏng

Ở ngoài đó = Ở ngoải

Hôm đó = Hổm.

Nói chung, khi cần lược bỏ chữ “đó”, người ta chuyển thanh ngang hoặc thanh huyền thành thanh hỏi.

Không hiểu sao mà dấu hỏi tự nhiên cái trở nên giữ vai trò quan trọng…

ngộ nghĩnh dzậy nữa.

Nhưng mà kêu lên nghe hay hay đúng hông?

Gọi vậy mới đúng là chất

miền Nam – Sài Gòn á nghen.

Người Sài Gòn cũng có thói quen gọi các người trong họ theo… số.

Như anh Hai, chị Ba, thím Tư, cô Chín, dượng Bảy, mợ Năm…

Mà nếu anh chị em họ hàng đông đông, sợ gọi cùng là chị Hai, anh Ba mà hổng biết nói về ai thì dzậy nè, thêm tên người đó vào.

Thành ra có cách gọi:

Chị Hai Lý, chị Hai Uyên, anh Ba Long, anh Ba Hùng…

Thêm nữa, nếu mà anh chị em cùng nhà thì tiếng “anh-chị-em” đôi khi được…giản lược mất luôn, trở thành:

“Hai ơi Hai, em nói nghe nè…”

và “Gì dzạ Út ?”…

Tôi thích cách gọi này, đâm ra ở nhà gọi Dì Út tôi chỉ là một tiếng Út gọn lỏn.

Có chuyện nhờ là cứ “Út ơi…con nhờ chút!” hoặc với mấy chị tôi thì

“Hai ơi Hai… em nói nghe nè!”.

Cách gọi này của người Sài Gòn nhiều khi làm người miền khác nghe hơi… rối.

Cách xưng hô của người Sài Gòn là vậy.

Nghe là thấy đặc trưng của cả một mảnh đất miền Nam sông nước.

Cứ thế, không sang trọng, điệu đà như giọng người dân đất Bắc,

cũng chẳng trầm lắng, thanh thanh như tiếng Huế Kinh Thành, cái giọng Sài Gòn đi vào tai, vào lòng, vào cách cảm, và nỗi nhớ nhung của người Sài Gòn lẫn dân miền khác bằng sự ngọt ngào của sông nước miền Nam, bằng cái chân chất thật thà của truyền thống xa xưa,

và bằng cả cái “chất Sài Gòn” chảy mạnh trong từng mạch máu người dân Sài Gòn.

Đi đâu, xa xa Sài Gòn, bỗng dưng nghe một tiếng “Dạ!” cùng những tiếng

“hen, nghen” lại thấy đất Sài Gòn như đang hiện ra trước mắt với những nhớ thương…

Tác giả : Quý Nguyễn 


 

BÍ ẨN THÁP THÁNH GIÁ KHÔNG THỂ PHÁ HUỶ trước Đại Học Luật Tp.HCM

NHỮNG BÀI POST HAY.

BÍ ẨN THÁP THÁNH GIÁ KHÔNG THỂ PHÁ HUỶ trước Đại Học Luật Tp.HCM

  Những ai từng đi ngang qua Trường Đại học Luật – 123 Quốc lộ 13, P. Hiệp Bình Chánh, Thủ Đức, Tp.HCM – đều nhận thấy một điều kỳ lạ, đó chính là cây tháp chuông ở trên có Thánh Giá của Nhà thờ Fatima cũ vẫn án ngữ sừng sững ngay trước 3 tòa nhà của trường.

 Đằng sau lịch sử tháp chuông là một câu chuyện huyền bí khó lý giải.

Lịch sử Nhà Thờ Fatima, quận Thủ Đức

Nhà Thờ Fatima Bình Triệu là một nhà thờ Công giáo thuộc Tổng giáo phận Saigon, tọa lạc tại phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức, gần cầu Bình Triệu.

 Đây là một trong những nơi hành hương kính Đức Mẹ đồng trinh Maria nên còn được gọi là “Trung tâm hành hương Fatima Bình Triệu”.

  Vào tháng 5/1962, phong trào quốc tế Tông đồ Fatima tổ chức cung nghinh tượng Đức Mẹ Fatima đi nhiều quốc gia trên thế giới. Nhân dịp tượng này được rước qua Việt Nam, Linh mục Phaolô Võ Văn Bộ – trưởng ban tổ chức cuộc rước đã mua một khu đất rộng 12,5 mẫu gần Quốc lộ 13 và ga Bình Triệu để tiến hành xây dựng một trung tâm hành hương kính Đức Mẹ Fatima.

Nhà thờ Fatima Bình Triệu gắn liền với những câu chuyện kỳ bí.

   Trước khi đất nhà thờ được mua tại đây, có lần đoàn rước của giáo phận Sài Gòn kiệu Đức Mẹ Fatima từ Sài Gòn đến vùng Thủ Dầu Một đi ngang khu vực này. Bỗng dưng tất cả các xe của đoàn rước bị khựng lại, tắt máy, và làm thế nào cũng không đi tiếp được.

 Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình cũng có mặt trong đoàn rước hôm đó, liền cầu xin và nguyện rằng: “Xin Đức Mẹ cho hành trình của chúng con được tiếp tục tốt đẹp, sau này chúng con sẽ thành lập một trung tâm sùng kính Đức Mẹ ở vùng này”. Thế rồi tất cả các xe lại nổ máy lên đường dễ dàng.

 Sau đó, một bức tượng tạc theo nguyên mẫu tượng Đức Mẹ Fatima bên Bồ Đào Nha đã được dựng tại khu đất này để giáo dân đến kính viếng.

 Ngày 15/8/1966, Tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình đến làm phép tượng đài và cử hành thánh lễ đầu tiên tại đây.

 Ngày 8/12/1966, nhà thờ được khởi công xây dựng ngay tại khu đất mang tước hiệu “Nhà thờ Chúa Kitô” với một tháp chuông cao 30 mét, bên trên là Thánh Giá.  Những năm tiếp theo, các công trình phụ trợ khác như nhà tĩnh tâm, nhà thủy tạ, nhà mục vụ, nhà nguyện, giảng đường, phòng ăn, nhà bếp,… cũng được xây dựng.

  Ngày 7/1/1973, Tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình đến làm chủ lễ khánh thành và cung hiến Thánh đường. Từ đó Bình Triệu trở thành một trung tâm hành hương Đức Mẹ Fatima. Cha Võ Văn Bộ làm giám đốc trung tâm.

   Phá dỡ Nhà thờ Fatima để xây trường Đại học luật

  Sau năm 1975, chính quyền thu hồi đất của Nhà thờ Fatima để trưng dụng xây trường Đại học luật. Nhà trường cho đập phá hết Nhà thờ và nhà xứ tại đây để tiến hành xây mới hoàn toàn.

  Tuy nhiên, riêng tháp chuông có Thánh Giá ở trên thì làm cách nào cũng không thể đập phá được. Trường sử dụng mọi phương tiện, nhưng cứ cho máy xúc, máy ủi vào múc và đập là bị tắt máy. Lần nào cũng vậy, máy cứ khởi động cần lên đập phá tháp chuông là đột ngột tắt, không thể hoạt động.  

  Rút cục, người ta đành phải để tháp chuông cao sừng sững đứng giữa trung tâm sân trường.

 Trong trường có một phòng phải xây bịt kín lại và để nguyên đó vì không thể sử dụng. Đây cũng là nơi đặt bàn làm Lễ  trong Nhà thờ Fatima trước đây. Trường đã nhiều lần cho máy vào đập phá bàn làm Lễ nhưng không cách nào đập được nên đành phải xây bịt kín lại.

  Với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật ngày nay, rất nhiều điều kỳ lạ đều đã có lời giải đáp mang tính logic cao. Tuy nhiên, dù cho khoa học phát triển xa đến cấp độ nào, vẫn còn rất nhiều sự kiện phi thường vượt quá tầm kiểm soát của con người và chưa thể có được câu trả lời thỏa đáng. Và niềm tin vào những điều huyền bí vẫn tiếp tục…

Sưu tầm


 

Đức Thánh Cha ca ngợi Tây Ban Nha vì tiếp nhận con tàu có người nhiễm hantavirus

Tin Mừng Cho Người Nghèo

Đức Thánh Cha ca ngợi Tây Ban Nha vì tiếp nhận con tàu có người nhiễm hantavirus

Sau khi đọc kinh Lạy Nữ Vương (Regina Caeli) trưa Chúa Nhật, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã bất ngờ chuyển sang nói tiếng Tây Ban Nha để cám ơn người dân quần đảo Canary và bày tỏ niềm mong đợi được gặp họ trong chuyến viếng thăm vào tháng tới.

Đức Thánh Cha đặc biệt cám ơn người dân Tây Ban Nha vì đã đón nhận tàu du lịch “Hondius”, trên đó có hơn 100 hành khách từng tiếp xúc với virus hantavirus.

Hiện con tàu đang neo ngoài khơi đảo Tenerife thuộc quần đảo Canary – nơi Đức Thánh Cha sẽ đến thăm trong hơn một tháng nữa.

Ngài nói:

“Tôi muốn cám ơn người dân quần đảo Canary vì lòng hiếu khách đặc trưng của anh chị em trong việc đón nhận tàu du lịch ‘Hondius’ và các hành khách bị nhiễm hantavirus. Tôi mong được gặp tất cả anh chị em vào tháng tới trong chuyến viếng thăm quần đảo.”

Tổng Giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ông Tedros Adhanom Ghebreyesus, hiện cũng có mặt tại Tenerife để hỗ trợ chiến dịch đưa toàn bộ hành khách rời khỏi tàu và trở về quê hương để cách ly.

Ông ca ngợi chính quyền Tây Ban Nha vì “phản ứng vững chắc và hiệu quả” trước đợt bùng phát dịch bệnh này.

Con tàu rời Argentina vào ngày 1 tháng 4. Mười ngày sau, một hành khách đã tử vong vì virus; vợ ông cũng mắc bệnh và được đưa tới Nam Phi điều trị nhưng sau đó cũng qua đời. Đến ngày 2 tháng 5, thêm một người khác tử vong trên tàu.

Tại Tenerife, các chuyên gia y tế đã chuẩn bị sẵn sàng cho tình huống khẩn cấp này, với một khu cách ly nghiêm ngặt đã được thiết lập.

Bác sĩ trưởng khoa hồi sức tích cực Mar Martin nói với BBC:

“Chúng tôi hoàn toàn sẵn sàng.”

Nguồn: Aleteia


 

ĐI QUA CUỘC ĐỜI

Xuyên Sơn

ĐI QUA CUỘC ĐỜI

Cuộc sống không phải là chiến trường, nên không cần phải phân định thắng thua.

Giữa người với người, nếu cảm thông tăng lên thì hiểu lầm sẽ giảm xuống.

Giữa việc với việc, nếu nhường nhịn tăng lên thì đấu tranh sẽ giảm xuống.

Có một số việc cần phải nhẫncó một số người cần phải nhường, không thể tranh giành thấp cao!

Đừng bao giờ dùng ánh mắt và sự hiểu biết của mình đi bình luận chuyện đúng – sai của người khác.

Cũng không nhất thiết phải cầu xin sự tán đồng và thấu hiểu của ai cả, vì mỗi người đều có quan điểm và cá tính riêng.

Chúng ta thường quá xem trọng bản thân mới có chuyện lo buồn về được – mất,

rồi cho rằng người khác không hiểu mình.

Cho nên nói: càng mở lòng ra thì niềm vui càng lớn, bao dung càng rộng sẽ nhận được càng nhiều!

Đừng bàn luận chuyện sau lưng người khác, cũng không cần quá để tâm đến những lời đồn thổi về mình.

Vì một người vô dụng thì không có gì để nói, càng xuất sắc sẽ càng bị để ý và bình phẩm.

Miệng lưỡi người khác chúng ta không thể khống chế được, việc dễ dàng nhất là giữ cho mình một tấm lòng nhẹ nhõm, rồi bước qua những rối rắm cuộc đời…

Nguồn:

Trích sách THẢ TRÔI PHIỀN MUỘN của Ni Sư SUỐI THÔNG

(st)


 

MỘT NHÁT CHÉM ĐỔI LẤY SỰ SỐNG CỦA 37 ĐỨA TRẺ MỒ CÔI

  Đình Phùng 

MỘT NHÁT CHÉM ĐỔI LẤY SỰ SỐNG CỦA 37 ĐỨA TRẺ MỒ CÔI

 Từ Joseph Phạm Nguyên

Bạn sẽ làm gì khi đối mặt với 6 tên cướp có vũ khí để bảo vệ những người không cùng máu mủ? Với Anthony Omari, câu trả lời nằm ở vết sẹo dài vĩnh viễn trên khuôn mặt anh.

Đêm kinh hoàng tại trại trẻ Faraja (Kenya)

Khi đang ngủ say, chàng thanh niên 24 tuổi bỗng choàng tỉnh bởi tiếng động lạ. Trước mắt anh là 6 tên trộm hung hãn đã đột nhập vào mái ấm – nơi anh và mẹ đang cưu mang 37 đứa trẻ tội nghiệp.

Không một chút do dự, Omari vồ lấy chiếc búa dưới gầm giường, một mình lao vào chống trả quyết liệt để đuổi lũ thủ ác ra ngoài. Nhưng bi kịch xảy ra khi anh vừa quay lưng để dỗ dành những đứa trẻ đang hoảng loạn:

Một tên cướp lẻn lại, vung dao rựa chém thẳng vào mặt Omari.

Dù máu chảy đầm đìa và đau đớn tột cùng, anh vẫn dùng chút sức tàn cuối cùng để khóa chặt cánh cửa, ngăn không cho lũ cướp quay lại xâm hại bọn trẻ trước khi ngã gục.

Sức mạnh của lòng nhân ái: Khi thế giới cùng lên tiếng

Vết chém khiến Omari phải khâu 11 mũi và để lại vết sẹo rùng rợn. Thế nhưng, câu chuyện của anh đã chạm đến trái tim hàng triệu người khi được chia sẻ trên Reddit:

80.000 USD (gần 2 tỷ VNĐ) được quyên góp chỉ trong vài ngày.

3.600 nhà hảo tâm từ 46 quốc gia đã chung tay hành động.

Kết quả: Một hàng rào kiên cố được dựng lên, các em nhỏ lần đầu được ngủ trên giường ấm nệm êm thay vì sàn nhà lạnh lẽo.

Cái kết đẹp cho một “Thiên thần hộ mệnh”

Nhiều năm trôi qua, “người hùng có vết sẹo” năm nào giờ đã là một Kỹ sư dân dụng thành đạt với công ty xây dựng riêng. Dù bận rộn, anh vẫn luôn quay về thăm “gia đình lớn” tại Faraja – nơi anh đã từng suýt hy sinh mạng sống để bảo vệ.

Bài học rút ra: Lòng can đảm không phải là không biết sợ hãi, mà là khi bạn biết có thứ gì đó quan trọng hơn cả bản thân mình cần được bảo vệ.

Hãy chia sẻ câu chuyện truyền cảm hứng này nếu bạn thấy cảm phục hành động của Anthony Omari!

#AnthonyOmari #Hero #InspiringStory #LòngTốt #CâuChuyệnCảmĐộng #Kenya #FarajaOrphanage


 

Nhiều bạn hỏi mình có thật là thời VNCH học sinh đi học miễn phí, bệnh nhân đi bệnh viện miễn phí…

Xuyên Sơn

 Nhiều bạn hỏi mình có thật là thời VNCH học sinh đi học miễn phí,

bệnh nhân đi bệnh viện miễn phí (và còn nhiều thứ miễn phí khác).

Theo tài liệu mình nghiên cứu thì:

– Sau chi phí cho quân lực và vũ khí (chiếm khoảng 90% tổng chi phí), Hoa Kỳ chú trọng vào việc viện trợ giáo dục, y tế, đường sá và nhà cửa thời VNCH vì lý do họ muốn thắng “hearts and minds” (tâm và trí) của người Việt và cả những người chống đối. Ngoài ra, nguồn viện trợ dân sự cho giáo dục và y tế đến từ rất nhiều cơ quan thiện nguyện không riêng gì ở Hoa Kỳ mà nhiều quốc gia khác.

– VNCH cũng cố gắng đẩy mạnh giáo dục và y tế cho người dân VNCH, ngoài những chi phí phải đối phó với những hậu quả của chiến tranh.

Đặc biệt là chi phí cho dân tản cư, dân bị pháo kích, bị mất nhà cửa,

dân bỏ ruộng vườn, đất đai chạy về thành phố hay những nơi an toàn hơn.

———————

Theo bố mình (người đã từng là viên chức hành chánh cao cấp) thời VNCH:

– Thời gian đầu, Hoa Kỳ và VNCH đẩy mạnh cả giáo dục, y tế, nhà cửa và cầu cống vì họ tin rằng nếu giáo dục tốt, sức khoẻ tốt và môi trường tốt thì đó là kết quả chứng minh cho “phía bên kia” thấy được thiện chí và sự tốt đẹp của phía VNCH.

– Thời gian sau, chi phí cho cơ sở hạ tầng (đường sá, cầu cống) giảm sút vì Việt Cộng phá hoại nhiều quá (đấp mô, đặt mìn, phá cầu, phá đường rày tàu lửa…v.v..).

Tuy nhiên, vẫn duy trì ngân sách cho giáo dục, học đường và y tế.

Càng về sau, gánh nặng càng nặng vì chiến tranh leo thang, đồng tiền mất giá, dân di cư càng lúc càng đông và càng tạo gánh nặng rất lớn cho các thành phố trong khi nông thôn bị phía Việt Cộng o ép hoặc bị bỏ trống.

———————-

Đó là lý do tại sao 20 năm VNCH đã tạo ra những con người, tác phẩm, công trình và giáo dục mà cho đến ngày giờ này vẫn còn tiếp tục tồn tại và được nhớ tới.

Phía cộng sản thắng không phải họ thắng trên mặt trận vũ trang (đánh lén, du kích, chính quy) mà họ thắng trên mặt trận phá hoại. Chính họ đưa ra chính sách “lấy nông thôn bao vây thành thị”.

Nói thêm, Sau 1975, ông Trần Bạch Đằng (Trương Gia Triều), đã viết rằng VNCH “có hàng triệu đĩ điếm, ma cô và xì ke”.

Không may, những điều ông viết một cách phóng đại và vô trách nhiệm đã được nhiều cuốn sách hoặc tài liệu nói về Việt Nam của các tác giả tây phương đã dùng lại.

Ông Trần Bạch Đằng chưa bao giờ công nhận rằng VNCH đã cố gắng kiến tạo một xã hội nhân bản, khai phóng, đã đẩy mạnh giáo dục, sáng tạo và phát triển trí tuệ.

Cái gọi là “tệ nạn xã hội” mà ông phóng đại, tận cùng là hậu quả của cuộc chiến đẫm máu mà cộng sản cố tạo ra, cố duy trì.

Cuộc chiến đó đã khiến cho vô vàn những gia đình tan nát, con không cha, vợ không chồng, để rồi họ phải lâm vào cảnh “đĩ điếm và chích choát”.

Thật ra, giáo dục miễn phí và y tế miễn phí là “đơn vị đong đo” mang tính kinh tế.

Nói thẳng ra, một thứ “đong đo” hạn hẹp và thô bỉ.

Giá trị kiến tạo của một xã hội không nằm ở chỗ “miễn phí” mà ở chỗ họ muốn tạo ra cái đẹp, ngay cả trong thời chiến tranh đẫm máu.

Còn phía bên kia, “giết, giết nữa bàn tay không phút nghĩ”.

Đó nên là “đơn vị” để đánh giá.

—nguồn Hoang Ngoc  Dieu

====================

Cô giáo Việt Nam Cộng hòa và Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon.

Múa Voi

Trông kìa con voi, nó đứng rung rinh.

Nghiêng mình trông đám nhện đang vò tơ.

Anh chàng voi ta thích chí mê tơi (mê ly).

Bằng (Liền) mời anh khác từ xa vào chơi . . .

Kìa nhìn xem trên kia.

Có cái con chi to ghê.

Trông to lớn như.

Marines (Vietnam) Sep 8, 1965 – by Paul Schutzer.

Cựu Phó TT Nixon viếng thăm một lớp học ở miền Trung ngày 3-9-1965.

Ông làm Phó TT Mỹ 1953-1961 và Tổng Thống Mỹ 1969-1974.

Richard Nixon (1913-1994) là Tổng thống thứ 37 của Hoa Kỳ và là vị TT duy nhất của nước Mỹ phải từ chức.

Richard Nixon visiting children in Vietnam, 1965. Photo by Paul Schutzer.

Nguồn fb Quan Nguyen Thanh

(Dân Saigon Xưa) 


 

Những ngày đầu tiên đến nước Mỹ – Tác giả: Phùng Văn Phụng

 Tác giả: Phùng Văn Phụng

              Mới đến Mỹ chừng một tháng, bà xã tôi đã cự nự: 

– “ Tôi đã bảo đi Mỹ mà làm gì, ở nhà buôn bán rần rần, đang sung sướng, bây giờ qua đây, ngồi “ trông ngốc ” trong phòng này như ở tù.” Bà xã tôi than phiền như vậy. 

         Tôi cứng họng không biết trả lời ra sao? 

          Bà xã nói tiếp: 

– “ Ði lên Tulsa ở tiểu bang Oklahoma với Hồng Thu, kiếm chuyện gì làm ăn, vô  hãng nào cũng được chứ ở đây làm gì để sống đây?”  Bà xã tôi cự tôi, đòi lên tiểu bang miền Bắc, ít người Việt, nhiều hãng xưởng may ra dễ tìm việc làm, có chỗ nào, hãng nào  mướn, làm gì cũng được.  

          Tất cả chúng tôi gồm có sáu người, hai vợ chồng bốn đứa con, hai trai, hai gái chen chút trong “apartment” hai phòng ở đường Town Park thành phố Houston, Texas ; cuối tháng lãnh tiền trợ cấp của chánh phủ Mỹ, trả tiền mướn phòng và nhận “ food tem ” để đi chợ cũng chỉ vừa đủ chi dùng trong tháng. Sau 8 tháng hết trợ cấp thì sống làm sao đây? tiền đâu trả tiền mướn nhà, tiền đâu mua thức ăn, trả tiền điện thoại v.v.? 

Ðó là câu hỏi thường xuyên trong đầu óc các thành viên trong gia đình tôi trong những ngày bước chân lên đất Mỹ . 

                                  ***** 

          Khi tôi được trả tự do từ trại tù Nam Hà đầu năm 1983, tôi đã nộp đơn chui qua tòa Ðại sứ Mỹ ở Thái Lan để xin tỵ nạn, bà xã tôi và thím tư mỗi lần gặp tôi cứ chọc quê tôi và nói đùa rằng: “lo làm ăn không lo chỉ lo chuyện mò kim đáy biển”. Tôi cũng có cảm tưởng như thím tư tôi nói nhưng hy vọng vẫn nhen nhúm dầu rất nhỏ trong lòng tôi cũng như vợ và các con của tôi đang sống trong khó khăn, cực nhọc và tôi thì đang bị mất quyền công dân. Từ năm 1983 tới năm 1990 đa số bà con cho rằng thành phần đi “cải tạo” về, những người được thả từ trong tù, trong trại cải tạo mà được đi Mỹ là chuyện “ mò kim đáy biển ”   

          Cho nên khi tất cả gia đình chồng vợ và các con đã lên được máy bay và khi máy bay cất cánh rồi vào cuối năm 1993, tôi mới biết rằng gia đình tôi thực sự được đi Mỹ, rời khỏi quê hương yêu dấu nơi mà tôi đã sinh ra và lớn lên thành người. 

          Ai mà không khỏi đau lòng khi rời bỏ nơi chôn nhau cắt rún, xa cha mẹ, xa bà con, dòng họ, xa anh chị em ruột thịt, xa bạn bè thân thương, xa những học trò cũ hàng ngày thường gặp mặt. Vậy mà phải rủ bỏ tất cả để ra đi. Ðang buôn bán làm ăn, công việc đang trôi chảy phát đạt, phải sang lại cho người em. 

          Tại sao phải dứt khoát ra đi? Tại sao không ở lại khi đang làm ăn được? Quyết định nào cũng có những khó khăn và quyết định ra đi càng khó khăn gấp bội. Nếu được đối xử tử tế, bình thường như bao nhiêu người dân khác thì đâu có ai phải bỏ nước ra đi. Người dân miền Nam còn không được đối xử bình thường, được xem như kẻ bị trị bởi những người cùng nòi giống, huống hồ là người chống đối lại họ.                                    

                                    ***** 

          Một hôm phòng bên cạnh có người cần khiêng đồ đạc trong nhà như bàn ghế, tủ giường v.v lên xe để di chuyển. Họ thấy gia đình tôi có hai cháu thanh niên nên gọi đi khiêng đồ đạc giúp. Tôi mới khiêng được mấy lần đã thấy nôn nao trong bụng, muốn ói vì khiêng nặng không quen. Hôm đó được mấy chục đô la coi như lần đầu tiên kiếm tiền ở nước Mỹ bằng nghề khuân vác. 

           Chú thím tư cùng người cháu bà con là người bảo trợ, đã  đi xin các bạn bè giường ngủ để ở hai phòng, có máy truyền hình cũ ở phòng khách cho nên khi vào nhà ở đường Town Park đã thấy rất ấm cúng. 

          Hình dung lại trước khi ra đi, sáng thứ bảy, đến sở nhà đất để lấy giấy tờ chứng nhận không thiếu thuế, phải đợi cho đến chiều tối khi giấy tờ họ đã có, để ở trên bàn nhưng họ không chịu đưa, cho nên phải ngồi ngoài sân mà đợi. Họ đòi tiền mà tôi không biết và lúc đó thật ra cũng không dám đưa vì có thể bị họ cho rằng mình đưa hối lộ sẽ làm khó dễ giữ mình ở lại thì phiền phức vô cùng. Nhưng cuối cùng rồi cũng phải chi cho họ một ít tiền mới lấy được giấy tờ để  lên máy bay vào ngày hôm sau.  Tôi nhận được giấy báo đình chỉ chuyến bay ngày thứ năm vì không có giấy chứng nhận không có chủ quyền nhà. Tới tối thứ bảy, tôi mới lấy được giấy chứng nhận này. Trong mấy tháng trước khi ra đi vì quá lo lắng, tôi bị bịnh cảm liên tục, không ăn uống được phải uống thuốc thường xuyên mà cũng không hết.  

Qua một chuyến đi dài lần đầu tiên đến Mỹ tôi cứ suy nghĩ miên man qua Mỹ làm sao mà sống đây? Mình không có nghề nghiệp chuyên môn nào cả, muốn trở lại nghề dạy học cũng phải mất bốn hay năm sáu năm nữa học lại Anh văn, học lại chuyên môn về giáo dục, mà mình cũng đã hơn năm mươi tuổi rồi sau khi học ra trường chắc gì ai mướn mình dạy học đây? 

Tôi suy nghĩ: mình chưa bao giờ lái xe hơi, làm sao học lái và chạy xe đây.?

           Cháu Trung, con anh Xin chở áo quần, đồ đạc lỉnh kỉnh từ phi trường Hobby về bằng xe truck. Hôm đi đón có anh Ðộ, bạn cũ ở quận 8 Sài gòn, vợ chồng chú tư và các con, vợ chồng Lẫm và các con, đến quán Ba Lẹ có thêm Ðoàn Hữu Ðức là cháu thầy Ðoàn Văn Nghĩa, thường gọi là ông Ðốc Nghĩa (thầy dạy Pháp văn của tôi lớp 6, lớp 7 ở trường trung học Cần Giuộc khoảng năm 1957-1958 ), lúc đó tôi mệt quá sau cuộc hành trình dài hơn 24 giờ đồng hồ. Thấy bà con đông đảo đến đón, thật là đượm tình nghĩa anh chị em, bạn hữu quá sức tưởng tượng của tôi. 

          Khi vào căn nhà do người cháu mướn giùm ở đường Town Park là một chung cư có nhiều dãy nhà sát liền nhau, xung quanh đa số là người Mỹ da đen chỉ có một ít người Mễ, làm cho tôi thấy lo âu, cảm thấy hơi sợ. 

         Ði tìm trường học Anh văn.

 Mới qua Mỹ chưa có xe hơi phải đi bằng xe bus. Từ nhà muốn đến trường phải đi bộ một đoạn đường khoảng một cây số mới tới được đường chính là Bellaire rồi từ đó đón xe bus đi đến đường Cookin mới có lớp ESL. Có người bạn cho biết có trường dạy Anh văn miễn phí nếu xin trợ cấp của chánh phủ ở gần đường Chimney Rock và Gulfton. Tôi không biết rõ trường nằm phía nào nên khi xuống Bellaire tìm được Gulfton rồi, thay vì đi bên phải một đoạn đường ngắn là đến trường Ðại học cộng đồng, tôi đi về phía trái cùng với con trai là Quốc đi hơn nửa giờ mà không tìm được trường đến nỗi Quốc mệt quá, cự nự, đành phải tìm đường trở về nhà. 

Muốn đi học tiếp để có thể nói được tiếng Anh nên tìm trường để học. Học ESL cùng với các em, các cháu khoảng chừng ba mươi tuổi chỉ cần vài tháng các em nói tiếng Anh khá nhanh, còn tôi viết thì đúng văn phạm nhưng nói thì cứ ngọng, có nói được câu nào cho trôi chảy đâu. Phân vân giữa đi học tiếp và đi làm. Ði học thì có thể xin vay tiền đóng học phí nhưng không làm ra tiền để trả “ bill ”. Làm sao làm ra tiền để có cuộc sống ổn định đây? 

          Làm cho tiệm grocery

           Tôi đi tìm việc làm, nộp đơn ở tiệm fast food “Jax in the Box” ở đường Gessner, nộp đơn ở hãng làm điện tử, ở hãng sản xuất vàng, vào chợ Auchun nộp đơn xin bán hàng hay làm bất cứ nghề gì cũng được nhưng ở đâu người ta cũng không nhận. Lý do tuổi đã lớn trên năm mươi, không có “ background ” quá khứ làm việc ở Mỹ, nói tiếng Anh không thông thạo, không có nghề gì chuyên môn. Cùng với con gái là Uyên Phương đi nộp đơn ở hảng K.Tec, hãng làm điện tử, con gái được nhận đi làm, còn tôi thì không. Ði nộp đơn ở hãng chuyên làm vàng mà chú tư đang làm hãng cũng không nhận. 

          Ðành đi “fill” hàng cho tiện Grocery ở đường Dairy Asford. Sáng sớm mặc áo lạnh đi bộ từ nhà ra bến xe bus khoảng hai dặm, đứng đợi xe bus chừng 10, 20 phút, xe bus chạy khoảng 15 phút, xuống xe bus, lại đi bộ khoảng hai dặm đến chỗ làm. Bữa nào gặp mưa gió, trời lạnh mùa đông, gió rít từng cơn, gió rét căm căm mới thấy nỗi lòng nhớ nhung quê hương, nhớ bà con, nhớ ba má, anh chị em bạn bè v.v. của người xa xứ. Rồi khi vô chỗ làm cần phải đeo kính để đọc tên của món hàng, sắp xếp hàng hóa lên kệ tủ, nên làm khá chậm chạp không bằng những người trẻ không đeo kính. Do đó anh Vương, chủ tiệm bảo: “Sao chú làm chậm quá vậy, mai về nghỉ đi.” 

          Tôi làm cho tiệm Grocery khoảng hai tuần lễ thì mất việc. 

          Ði làm tiệm sang băng nhạc. 

          Bà xã thấy tôi không có chuyện gì làm nên nhờ người quen giới thiệu đi làm ở tiệm sang băng nhạc ở trong khu chợ Hồng Kông 1 ở đường Gessner. Nghề máy móc tôi đâu có biết vì gốc gác là thầy giáo chỉ biết đi dạy học mà thôi. Khi sang băng dĩ nhiên rất chậm chạp thời gian làm việc từ 10 giờ sáng cho đến 8 giờ tối. Tiền lương mỗi tháng được trả là 600 đô la.  Ngày đầu tiên tôi đến làm việc đã được em của bà chủ hay là em của ông chủ? hạch sách ngay. 

Anh ta nói: “ Ở Việt Nam sướng quá mà qua đây làm gì cho khổ.? Ði qua đây chỉ có nước đi làm công, làm mướn chứ làm được gì? 

Tôi tức lắm nhưng không muốn tranh luận với anh này làm gì. Khi thấy tôi lớ ngớ, không biết làm gì, thì anh ra lịnh ngay: 

-“Anh phải lau bàn ghế, lau tủ cho sạch sẽ đi chớ ”. 

Tôi vội vã cầm khăn lau bàn ghế, lau tủ kiếng, sau một lúc anh bắt tôi sang băng cải lương, phim chưởng, phim Trung Quốc  để cho mướn. 

          Anh đâu có hiểu rằng tôi ra đi là vì tôi không thể sống với Cộng Sản được. Tôi là kẻ từng chống đối với chế độ, một con người bị để ý, canh chừng. Làm sao sống được khi mình luôn luôn bị nghi ngờ, bị thường xuyên theo dõi. Một lần tôi đến thăm anh Ngọc, trước cũng ở trong Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến thì công an khu vực đã hỏi anh Ngọc: “ Ông Phụng đến nhà anh làm gì đó. Có âm mưu gì không?” Anh Ngọc sợ quá bảo :  “Thôi anh đừng đến thăm tôi nữa, công an khu vực hỏi thăm tôi về anh đó. Hắn hỏi anh đến đây là gì, bàn tính, âm mưu chuyện gì ? 

          Một số bạn bè sĩ quan thường đến thăm tôi thì công an khu vực hỏi thăm ông bảy Bích là tổ trưởng ở sát bên nhà: “ Anh thấy ông Phụng thế nào.? Tại sao nhiều sĩ quan chế độ cũ cứ đến thăm và theo ông thì ông Phụng này có tính toán chuyện gì chống đối nhà nước không? 

          Ông tổ trưởng phải trả lời là ông Phụng có giấy tờ đi Mỹ rồi còn tính toán chuyện gì nữa. Nói như vậy nhưng anh công an khu vực có  tin điều đó không? 

Lúc nào tôi cũng lo âu, hồi hộp không biết bị bắt lại bất cứ lúc nào. Thường xuyên tôi bị theo dõi. 

          Ði bán bảo hiểm 

          Tình cờ, đúng hơn là  Thiên Chúa  sắp xếp, tôi gặp ông Ðoàn Hữu Ðức vừa mới mở văn phòng Ðoàn Agency nên rất cần người. Tôi đã phải thi 8 lần mới đậu bằng “ group one ” để được bán bảo hiểm. Mất gần một năm trời mới xong bằng và được tiểu bang chấp nhận cấp giấp phép hành nghề. Ðoàn Hữu Ðức là cháu ông Ðốc Nghĩa, dạy pháp văn  trường trung học Cần Giuộc. 

          Những ngày đầu đi làm, đi bán bảo hiểm là một thách đố lớn. Nhiều khi bị trời mưa tầm tã cũng phải cố gắng đến nhà bà con vì mình lỡ hẹn rồi. Có khi đến nơi rồi tìm không ra nhà dưới trời mưa không dứt hột, cũng phải đi kiếm địa chỉ của khách hàng, vì Apartment ở khu làng Park Place phòng này sát với phòng kia nhưng cách một dãy nhà thành ra tìm không ra. Kiếm nhà không được, đi dưới trời mưa đến cây xăng gần đó dọc Freeway  South  45 và đường Broadway, bỏ 25 cents vào điện thoại công cộng để hỏi, anh chỉ giùm căn nhà đó chỗ nào?. Sau khi anh bạn mình chỉ thì mình mới biết rằng mình cũng vừa đứng ở chỗ đó vậy mà không thấy được số nhà vì lúc đó trời đang mưa mà ban đêm, trời lại tối nữa. Sau khi bán được chương trình bảo hiểm 25,000 đô la, hảng đã thuận, lúc đem “policy” là sổ hợp đồng hay giao kèo đến cho anh thì anh lại không nhận, công của mình đã trở thành vô ích, nhưng lâu lâu mới gặp trường hợp như thế chứ nếu ngày nào cũng như vậy chắc đã bỏ nghề đã từ lâu.   

Tôi có cái hẹn vô nhà người khách hàng để giới thiệu chương trình bảo hiểm nhân thọ. Tôi đang giải thích nhu cầu bảo hiểm cho người con vừa mới mua nhà, nếu có mệnh hệ nào thì vợ làm sao có tiền để trả nợ  nhà. Tôi chỉ mới hỏi vài câu và vừa mở máy computer ra; người cha từ bên kia đường bước qua lớn tiếng nói với người con: “ Mầy đi qua đây, ăn cơm. Không được mua bán gì hết. Ðến đây để lường gạt con tao hả?.” 

Thấy không khí có vẻ căng thẳng, tôi gấp máy computer lại, bước ra khỏi nhà, mở cửa xe sẵn có mấy tờ báo trên xe, tôi lấy hai cuốn báo đem đến cho người này. 

   –   “ Cháu xin gởi bác hai tờ báo này ” 

       –   “ Ði đi , đi đi  tao kêu cảnh sát bắt mầy bây giờ, đến đây để dụ dỗ, gạt gẫm con tao hả.?” . Lần đầu tiên tôi bị cự nự dữ dội như vậy. Hết sức tức giận nhưng tôi cố gắng tự trầm tĩnh , mở máy xe, hít thật dài hơi và tự nhủ: “ tự nhiên bị hiểu lầm, bị cự nự vô lý, nếu mình giận ông này mình cũng điên như ông ấy vậy. Thôi bỏ qua đi. Tai nạn nghề nghiệp mà. Tuy nhiên phải mất hơn mười phút tôi mới lấy lại được bình tĩnh  mà lái xe về văn phòng. 

Một lần khác ghé nhà một người quen do anh Tommy làm nghề bán xe hơi giới thiệu, vừa bước vô nhà, mới hỏi thăm sơ sơ về hoàn cảnh gia đình, bà vợ đứng ở bếp đang nấu ăn, nói lớn tiếng: 

–  “Mấy thằng bán bảo hiểm là những thằng lường gạt, tôi mua bảo hiểm mấy năm trước ở Cali, bây giờ tăng giá, lúc mua nó không nói. Tôi đã bỏ rồi không đóng tiền nữa. Toàn là những đứa lường gạt.” Vì mới vào nghề bảo hiểm tôi chẳng biết phải trả lời thế nào, cứng họng, vội bỏ tài liệu vào cặp và rút êm ra khỏi nhà anh chị này mà trong lòng tức tối lắm vì chị quơ đủa cả nắm ai làm nghề bảo hiểm đều xấu xa cả. Chị ấy chửi mình mà mình chẳng biết trả lời ra sao. 

          Kết: Tạ ơn Chúa

 Hiện nay tôi đã và đang sống trong nghề bảo hiểm hơn 12 năm. Có ba cháu lập gia đình, được ba cháu ngoại và một cháu nội. Bà xã tôi dứt khoát không muốn về Việt Nam ở luôn nếu có về chỉ muốn ở một, hai tháng như đi du lịch mà thôi vì các con, các cháu đều hiện sống ở Houston, Texas. 

Tạ ơn Thượng Ðế ban gia đình của con, các con, các cháu đều khỏe mạnh và bình an. Xin cám ơn nước Mỹ, chánh quyền và người dân Mỹ đã chấp nhận gia đình chúng tôi đến định cư ở quốc gia này như là một quê hương thứ hai của tôi. 

Xin cám ơn những chú thím tư, gia đình Lẫm, gia đình anh Độ, Đoàn Hữu Đức, những người bà con, bạn bè, anh chị em, các cháu đã giúp đỡ tôi trong những ngày đầu tiên đến nước Mỹ. 

Ngày 14 tháng 02 năm 2007

 Tác giả: Phùng Văn Phụng

Trích trong sách: “Tâm Tình Gởi Lại” của tác giả Phùng Văn Phụng  


 

HỌ CHỈ CÓ THỂ LÀ “SẢN PHẨM” CỦA MỘT CHẾ ĐỘ XÃ HỘI TỰ DO, NHÂN BẢN VÀ KHAI PHÓNG-Song Chi

Song Chi

 HỌ CHỈ CÓ THỂ LÀ “SẢN PHẨM” CỦA MỘT CHẾ ĐỘ XÃ HỘI TỰ DO, NHÂN BẢN VÀ KHAI PHÓNG

Mấy ngày qua có khá nhiều bài viết về nhà thơ Phạm Thiên Thư sau khi ông ra đi, phần lớn là bài viết của những người từng sống ở miền Nam trước năm 1975. Với đa số người miền Bắc và nhất là những người sinh ra sau năm 1975 chắc chẳng mấy ai biết đến ông, chợt nhớ lại khi Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ viên tịch, có những người là trí thức, Giáo sư, Tiến sĩ…mà đến lúc đó mới nghe đến tên của Hòa thượng, mới biết là có một GHPGVNTN tồn tại bao nhiêu năm nay, bên ngoài cái GHPGVN mà nhiều người vẫn gọi là Giáo hội Phật giáo “quốc doanh”.

Sau hơn nửa thế kỷ, có thể nói đảng CSVN đã thành công rất lớn trong việc “tẩy não” người dân, xóa bỏ lịch sử, xóa bỏ tất cả những gì mà đảng và nhà nước này không muốn người dân được biết.

Còn đối với tất cả những ai từng biết và may mắn hơn nữa, được đọc, nghe tác phẩm của những khuôn mặt xuất chúng của miền Nam trước 1975, dù là một vị chân tu trí tuệ cao vời, một nhạc sĩ, hay một thi sĩ…thì đều ngậm ngùi hiểu rất rõ rằng mỗi một người như vậy ra đi, là mất luôn không bao giờ có nữa. Bởi vì, họ chỉ có thể là “sản phẩm” của một chế độ tự do, nhân bản và khai phóng đã không còn tồn tại.

Chắc chắn, nếu không có 20 năm của chế độ VNCH đó, đã không thể có hàng trăm hàng ngàn tài năng độc đáo trong mọi lĩnh vực từ báo chí đến văn học nghệ thuật…Sẽ không có Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Phạm Đình Chương, Từ Công Phụng, Cung Tiến, Lam Phương…Sẽ không có Nguyễn Tất Nhiên, Phạm Thiên Thư, Bùi Giáng, Trần Dạ Từ, Cung Trầm Tưởng, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Sao Trên Rừng (Nguyễn Đức Sơn), Du Tử Lê….; Nhã Ca, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Túy Hồng, Trần Thị NgH, Nguyễn Thị Hoàng, Mai Thảo, Võ Phiến, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sỹ, Phan Nhật Nam, Cung Tích Biền, Hoàng Ngọc Biên… Sẽ không có những tên tuổi trong mảng nghiên cứu, phê bình, dịch thuật, triết học phật giáo và công giáo như Nguyễn Đăng Thục, Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi, Nhất Hạnh, Võ Hồng, Hoài Khanh, Phạm Công Thiện, các giáo sư và linh mục Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm, Cao Văn Luận, Nguyễn Văn Thích, Hoàng Sỹ Quý, Nguyễn Khắc Xuyên, Kim Định… Sẽ không có nhiều nhóm văn nghệ, tư tưởng ra đời như nhóm Bách Khoa, Nhân Loại, Nhận Thức (Huế), Sống Đạo, Phương Đông, Đối Diện, Sáng Tạo, Hiện Đại, Thế Kỷ Hai Mươi, Gió Mới, Nghệ Thuật…các tạp chí chuyên về tư tưởng, triết học như Tư Tưởng, Vạn Hạnh, Giữ Thơm Quê Mẹ, các nhà xuất bản Lá Bối, An Tiêm, Ca Dao…, và vô số những tờ báo, tạp chí văn học nghệ thuật như Sáng Tạo, Quan Điểm, Văn Hóa Ngày Nay, Nhân Loại, Văn Đàn, Bách Khoa, Văn Học, Văn, Nghệ Thuật, Tiếng Nói… Sẽ không có một nền phật học rực rỡ, những vị chân tu lừng lững cả về trí tuệ, kiến thức và nhân cách v.v…Không thể kể hết những thành tựu về con người, về văn học nghệ thuật trong 20 năm ngắn ngủi của chế độ VNCH.

Đó là bởi vì, dù ngay trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt nhất, chế độ VNCH vẫn cố gắng xây dựng một xã hội bình thường. Trẻ em vẫn được sống hồn nhiên đúng lứa tuổi, không bị nhồi nhét lòng căm thù quá sớm, vẫn được dạy dỗ từ những điều nhân ái nhỏ nhặt hàng ngày, sách báo truyện nhạc dành cho thiếu nhi, thiếu niên, tuổi mới lớn từ truyện tranh, truyện cổ tích thế giới, tuần báo Thiếu Nhi, tuần báo Tuổi Ngọc, tủ sách Tuổi Hoa – Hoa Đỏ, Hoa Xanh, Hoa Tím…chỉ toàn dạy điều thiện, dạy thương yêu, dạy sống tử tế, không có một chút gì vẩn đục bởi lòng căm thù địch–ta, lý thuyết cách mạng nọ kia… Thanh niên vẫn có khung trời dành cho tình yêu lãng mạn mộng mơ trong sáng và những lý tưởng, hoài bão lớn; trí thức vẫn được đọc được nghe đủ loại báo đài quốc tế, viết, tranh luận về đủ loại triết học Đông-Tây, đủ loại lý thuyết chính trị kể cả học thuyết Mác Lenin, tư tưởng của Mao…

Chế độ VNCH đã không biến cả xã hội thành trại lính, trong đó tất cả chỉ được phép suy nghĩ một chiều, mọi tình cảm, cảm xúc cá nhân, mọi suy nghĩ khác, mọi tự do đều bị kìm hãm, cấm đoán triệt tiêu; ngược lại, con người vẫn được sống như là con người, ai chiến đấu cứ chiến đấu, ai làm thơ, nhạc lãng mạn cứ làm, ai mơ mộng suy tư cứ mơ mộng, có lẽ đó cũng là một trong những lý do mà chế độ VNCH đã thua. Nhưng bù lại, chế độ đã để lại cả một di sản văn học nghệ thuật và dòng chảy đó ít nhất vẫn không chết yểu mà vẫn âm thầm tồn tại trong nước và phần nào được tiếp nối ở hải ngoại 50 năm qua. 

Xã hội VN bây giờ đã hơn 50 năm trong thời bình. Bề mặt của nhiều thành phố, tỉnh thành đã thay đổi rất nhiều. Số người giàu hơn ngày xưa cũng nhiều, thậm chí phải nói là giàu kinh khủng, một ông cán bộ cấp huyện cũng còn giàu hơn cả tướng tá VNCH thời xưa và cách nhiều người xài tiền có lẽ ngay dân Mỹ cũng choáng; rồi thơ văn nhạc họa phim… tính về số lượng đều nhiều. Nhưng trong thơ ca văn học nghệ thuật bây giờ vẫn thiếu: thiếu sự trong trẻo lãng mạn, thiếu tính thiền, tính triết học, tính tư tưởng, tính khai phóng…Nhiều về số lượng nhưng những tác phẩm thực sự nâng con người lên cao cả hơn, đẹp hơn thì hiếm. Nó vừa là hậu quả của một chế độ độc tài toàn trị, vừa là hậu quả của một nền giáo dục nhồi nhét, ngu dân, chạy theo điểm số, thành tích, bằng cấp, hoàn toàn không có một triết lý giáo dục đúng đắn, và là hậu quả của một xã hội thực dụng, nơi mà mọi người đua nhau chạy theo tiền, chạy theo “ghế”, chạy theo những giá trị vật chất, giá trị ảo bên ngoài, thì làm gì còn có chỗ để sống chậm, làm gì còn có chỗ cho mơ mộng, lãng mạn, suy tư, và lắng đọng?