Mạng xh Úc đang lan tin về cậu bé Austin Appelbee anh hùng

Nguyễn Thị Bích Hậu

Mạng xh Úc đang lan tin về cậu bé Austin Appelbee anh hùng. Cậu mới mười ba tuổi, sống ở Tây Úc.  Gia đình cậu gồm 4 người là mẹ và 2 em cậu cùng Austin ra biển chèo thuyền kayak. Không may họ rơi vào vùng biển động. Sóng càng lúc càng cuốn thuyền ra xa.

Austin đã quyết định nhảy xuống biển sau khi cả nhà chới với trên thuyền.

Cậu kiên cường bơi trong vùng biển có sóng lớn để tìm cứu hộ. Vừa bơi cậu vừa cầu nguyện.

Gần 4 h sau cậu vào được bờ. Cậu  vùng chạy tiếp 2 km tới nơi cầu cứu.

Những người cứu hộ đã tìm thấy mẹ, em   trai 12 tuổi và em gái 8 tuổi của Austin. Họ bị cuốn xa 14 km, đói lả, chịu lạnh giá nhưng còn sống sót.

Austin là một anh hùng.

Cậu nói cậu kiên trì bơi và cầu nguyện Đức Chúa.

“Tôi chỉ nghĩ rằng ‘cứ tiếp tục bơi, cứ tiếp tục bơi,'” sau đó cậu bé tâm sự với các phóng viên.

Austin khiêm tốn nói: “Tôi không nghĩ rằng chính tôi là người làm điều đó – đó là Chúa đã làm suốt thời gian qua. ” Cậu đã cầu nguyện trong suốt cuộc thử thách và hứa sẽ chịu lễ rửa tội.

Một con người bé nhỏ, vào giây phút sinh tử đã giữ vững kiên trì và Đức Tin. Vì vậy, cậu đã vượt qua cõi chết và cứu sống 3 nhân mạng là ruột thịt của mình.

Thật đáng khâm phục.

Hình từ trang traci cotton.


 

Giáo hội lo ngại về việc trục xuất hàng loạt người Haiti khỏi Hoa Kỳ-Vũ Văn An 

Vũ Văn An 

31/Jan/2026

Vietcatholic.net

Các thành viên của Đơn vị An ninh Tổng hợp Cung điện Quốc gia tại Port-au-Prince, Haiti, ngày 26 tháng 1 năm 2026. (Ảnh: Odelyn Joseph/AP.)

Eduardo Campos Lima, trong bản tin của Crux ngày 31 tháng 1 năm 2026, tường trình rằng: Khi người Haiti sắp mất Quy chế Bảo vệ Tạm thời (TPS) vào ngày 3 tháng 2, khoảng 330,000 người tị nạn và người nhập cư dự kiến sẽ bị buộc phải rời khỏi Hoa Kỳ và trở về quốc gia vùng Caribe đang bị tàn phá bởi bạo lực.

Giáo hội Haiti lo ngại về hậu quả của biện pháp này đối với các cộng đồng địa phương và công việc từ thiện của chính họ.

Khi Tổng thống Donald Trump nhậm chức vào tháng 1 năm 2025, việc thu hồi TPS của người Haiti là một trong những quyết định đầu tiên của ông.

Đã có những vụ kiện chống lại biện pháp này, và sự không chắc chắn về cách thức tiến trình sẽ diễn ra vẫn còn rất cao.

Viễn cảnh hàng trăm nghìn người Haiti mất quyền sinh sống tại Mỹ không chỉ gây lo ngại cho các cộng đồng định cư ở đó, mà còn cho cả người dân Haiti.

“Việc có thêm 300,000 người Haiti ở đây sẽ là một thảm họa,” Cha Gilbert Peltrop, tổng thư ký Hội đồng các Dòng tu Haiti, nói với Crux.

Ngài cho biết những khó khăn ở quốc gia vùng Caribe này đã quá lớn đến nỗi sự xuất hiện đột ngột của một số lượng lớn người như vậy sẽ càng làm trầm trọng thêm tình trạng hỗn loạn.

Ngài nói: “Những người di tản trong nước đang sống trong điều kiện rất khó khăn”.

Cha Peltrop nói thêm rằng Giáo hội sẽ không thể giúp đỡ nhiều trong tình huống đó.

Ngài cho biết: “Chúng tôi không có cơ sở hạ tầng đủ khả năng tiếp nhận một số lượng lớn người như vậy”.

Được thiết lập theo luật năm 1990, chương trình TPS (Tình trạng Bảo vệ Tạm thời) được áp dụng cho người Haiti sau trận động đất tàn phá đất nước năm 2010. Chương trình cho phép người nhập cư và người tị nạn được ở lại Mỹ hợp pháp trong một khoảng thời gian nhất định và có thể được gia hạn nếu tình hình ở quốc gia xuất xứ của họ vẫn còn nguy hiểm.

Những người chỉ trích chương trình, như cố vấn của Trump, Stephen Miller, đã lập luận trong nhiều năm rằng chương trình cho phép người nước ngoài có được việc làm gây bất lợi cho công dân Mỹ. Một lập luận thường xuyên khác chống lại TPS là chương trình này được duy trì cho công dân của các quốc gia mà tình trạng thảm khốc đã thay đổi từ lâu.

Nhưng điều đó chắc chắn không đúng với Haiti. Quốc gia này không chỉ vẫn phải đối mặt với hậu quả của trận động đất – với nhà cửa và cơ sở hạ tầng chưa bao giờ được xây dựng lại hoàn toàn – mà còn rơi vào tình trạng hỗn loạn xã hội ngày càng gia tăng kể từ vụ ám sát cựu Tổng thống Jovenel Moïse năm 2021.

Hiện tại, các băng đảng tội phạm như Viv Ansanm kiểm soát 90% thủ đô Port au Prince. Theo Văn phòng Tích hợp của Liên Hợp Quốc tại Haiti (BINUH), các cuộc tấn công do các nhóm vũ trang thực hiện nhằm vào thường dân đã dẫn đến ít nhất 8,100 người thiệt mạng từ tháng 1 đến tháng 11 năm 2025.

Bạo lực tình dục đã trở nên phổ biến. Từ tháng 1 đến tháng 9 năm 2025, đã có 7,470 trường hợp bạo lực dựa trên giới tính.

Sự kết hợp giữa bạo lực và thiên tai — Haiti bị lũ lụt ở tỉnh Đông Bắc vào tháng 5 và bị bão vào tháng 10 và tháng 11 — đã làm trầm trọng thêm điều kiện sống của hàng triệu người Haiti trong năm ngoái.

Theo Liên Hợp Quốc, 1.4 triệu người phải di dời — khoảng 12% tổng dân số — và 5.7 triệu người đang phải đối diện với tình trạng thiếu lương thực.

Các bệnh như dịch tả đã hoành hành ở nhiều vùng của đất nước. Trẻ em bị ảnh hưởng đặc biệt nghiêm trọng, với 3.3 triệu em cần một số hình thức hỗ trợ nhân đạo. Gần 330,000 trẻ em dưới 5 tuổi đang bị suy dinh dưỡng cấp tính.

Các quốc gia trong khu vực, đặc biệt là Cộng hòa Dominica, đã cưỡng chế hồi hương 270,000 người nhập cư và tị nạn Haiti vào năm ngoái.

Cha Agler Cherizier thuộc dòng Scalabrinian nói với Crux: “Thông thường, chúng ta không nên nói về việc trục xuất người Haiti về Haiti, vì đất nước đang trải qua thời kỳ cực kỳ khó khăn, cả về an ninh lẫn chính trị xã hội”.

Cha Cherizier nói thêm: Việc trục xuất sẽ làm tăng thêm khó khăn cho các gia đình, “vì mỗi người di cư sống ở nước ngoài đều là nguồn thu nhập cho gia đình họ”.

Haiti sẽ phải vật lộn để tiếp nhận những người bị trục xuất về mặt hỗ trợ và tạo việc làm cho họ, vị linh mục cho biết, nhưng đó không phải là nhiệm vụ dễ dàng.

Sản xuất và thương mại hầu như không thể thực hiện được ở nhiều vùng của Haiti do bạo lực băng đảng. Các nhóm tội phạm đang liên tục mở rộng phạm vi hoạt động sang các thành phố và vùng nông thôn khác.

Một nhà truyền giáo người Mỹ sống ở Haiti nói với Crux rằng một số cuộc đột kích trong vài tuần qua đã gây ra thương vong ở những nơi như Kenscoff, cách thủ đô vài dặm.

Vào đêm ngày 29 tháng 1, các thành viên của Viv Ansanm đã tấn công khu vực Kajak, thuộc Kenscoff, giết chết bảy người — sáu người lớn và một trẻ em. Nhà cửa bị đốt cháy và các cửa hàng bị phá hoại.

Nhà truyền giáo và nhóm của ngài đã tiếp nhận một số người sống sót. Một trong số họ bị mất một chân.

Một tuần trước đó, những người đàn ông có vũ trang đã đột kích vào cộng đồng Tabarre. Một phụ nữ chạy trốn khỏi những kẻ tấn công đã rơi xuống hố rác tự hoại và bị thương nặng, khiến khuôn mặt bị biến dạng. Bà đã được phẫu thuật với sự giúp đỡ của nhóm truyền giáo.

Ngài nói: “Đó là những ví dụ cho thấy tại sao việc hồi hương không an toàn”.

Ngày 29 tháng 1, Giám mục Brendan J. Cahill, chủ tịch Ủy ban Di cư của Hội đồng Giám mục Công Giáo Hoa Kỳ, và Giám mục A. Elias Zaidan, chủ tịch Ủy ban Công lý và Hòa bình Quốc tế của Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ, đã đưa ra một tuyên bố kêu gọi chính quyền Trump xem xét lại việc hủy bỏ quy chế TPS (Tình trạng bảo vệ tạm thời) cho người Haiti.

Tuyên bố nêu rõ: “Hiện tại đơn giản là không có cơ hội thực tế nào cho việc hồi hương an toàn và có trật tự của người dân Haiti”.

Cahill và Zaidan nói rằng “Chính quyền Trump vẫn có cơ hội làm điều đúng đắn – bảo vệ tính mạng con người, duy trì luật pháp và thúc đẩy sự ổn định lớn hơn cho người dân trong nước và trên toàn thế giới.”

Tại Haiti, Giáo hội sẽ tiếp tục đóng vai trò tương tự, Cha Cherizier nói, nhằm mục đích “đánh thức lương tâm của các nhà lãnh đạo chính trị”.

Ngài kết luận: “Ngoài ra, trong chừng mực có thể, thông qua các hoạt động xã hội của Giáo hội, Giáo hội có thể tiếp tục thực hiện các công việc bác ái để mang lại cho họ phần nào sự an ủi”.


 

Cambodia bắt giữ hơn 2,000 người tại trung tâm lừa đảo, có 177 người Việt

Ba’o Nguoi-Viet

February 1, 2026

PHNOM PENH, Cambodia (NV) – Cảnh sát Cambodia càn quét một trung tâm cờ bạc và lừa đảo ở tỉnh Sway Rieng bắt giữ hơn 2 ngàn người mà trong số đó có 177 người Việt Nam.

Vụ càn quét diễn ra sáng ngày 31 Tháng Giêng tại một trung tâm cờ bạc và lừa đảo trực tuyến rộng lớn với 22 tòa nhà cao tầng trong thị trấn Bavet, tỉnh Sway Rieng, gần biên giới với Việt Nam, đối diện với hai tỉnh Tây Ninh và Long An.

Một số người bị bắt khi 700 cảnh sát Cambodia bố ráp 22 tòa nhà thuộc trung tâm cờ bạc và lừa đảo trực tuyến thuộc thị trấn Bavet, tỉnh Sway Rieng. (Hình: SCMP/Bộ Nội Vụ Cambodia)

Báo chí Cambodia nói khoảng 700 cảnh sát đặc nhiệm đã được sử dụng trong cuộc càn quét này. Họ đã bắt giữ tất cả 2,044 người ngoại quốc thuộc chín quốc tịch khác nhau. Trong đó, người Trung Quốc bị bắt nhiều nhất với 1,792 người. Kế đến là 179 người Miến Điện, 177 người Việt Nam, 30 người Nepal, 5 người Đài Loan, một người Malaysia, hai người Lào, 36 người Ấn Độ và một người Mexico.

Báo South China Morning Post, ngày 1 Tháng Hai, dẫn lời phát ngôn viên Bộ Nội vụ Cambodia cho hay “Cambodia không phải nơi an toàn cho tội phạm mà là địa ngục của tội phạm.”

Người ta chỉ thấy nước này mạnh tay trấn áp các trung tâm cờ bạc và lừa đảo sau khi ông trùm Chen Zhi (Trần Chí) trùm các ông trùm cờ bạc và lừa đảo trực tuyến bị áp lực trục xuất và dẫn giải về Trung Quốc.

Ngày 7 Tháng Giêng vừa qua, Trần Chí, 38 tuổi, và hai phụ tá cũng người Hoa, bị Cambodia bắt giữ, lột quốc tịch, rồi chuyển giao cho Trung Quốc. Tay này từng bị chính phủ Mỹ cáo buộc lừa đảo, đánh cắp một số tiền điện tử (bitcoin) trị giá tới $15 tỷ. Ông sử dụng một mạng lưới khổng lồ các cơ sở cờ bạc, lừa đảo trực tuyến tại Cambodia và tại nhiều nước khác để hoạt động hơn chục năm qua trong sự làm ngơ của nước này.

Theo nhà cầm quyền Phnom Penh thống kê, để rửa nghi vấn tiếp tay băng đảng tội phạm quốc tế, chỉ riêng chín tháng đầu của năm 2025, họ đã phá vỡ 48 tổ chức lừa đảo trực tuyến và đưa ra tòa kết án 168 người. Gần 3,000 người ngoại quốc đã bị trục xuất về nguyên xứ. Cuộc bố ráp đầu năm nay tại thị trấn Bavet vốn nổi tiếng với các trung tâm lừa đảo trực tuyến và cờ bạc xuyên biên giới mà không ít người Việt là nạn nhân, rồi sau đó, bị ép buộc trở thành những kẻ tiếp tay lừa đảo người Việt tại quê nhà.

Không thấy có những thống kê chính thức nhưng người ta từng thấy có các vụ bắt giữ và trục xuất từ vài chục đến vài trăm người Việt từ các trung tâm cờ bạc và lừa đảo tại Cambodia trong những năm qua.

Cả trăm người xếp hàng trước trụ sở Tòa Đại Sứ Trung Quốc ở Khnom Penh ngày 19 Tháng Giêng, 2026. Phóng viên AFP hỏi thăm chi tiết thì tất cả đều từ chối trả lời. (Hình: AFP/Getty Images)

Báo chí tại Việt Nam từng đưa tin 177 người Việt Nam tại các trung tâm cờ bạc và lừa đảo trực tuyến bị Cambodia trục xuất ngày 12 Tháng Hai, 2025. Từ ngày 27 Tháng Sáu đến 18 Tháng Bảy, 2025, Cambodia đã bố ráp 45 địa điểm tại thủ đô Phnom Penh và 11 tỉnh, bắt giữ tổng cộng 2,270 người trong đó có 161 người Việt Nam.

Giữa Tháng Tám, 2025, Cambodia đã trục xuất 353 người Việt Nam sau một đợt truy soát ở một khu vực đối diện tỉnh Tây Ninh. Sau đó ngày cuối Tháng Mười năm này, báo Khmer Times đưa tin Cambodia trục xuất 63 người quốc tịch Việt Nam trong đó có 11 phụ nữ bị cáo buộc “cư trú bất hợp pháp và tham gia các hoạt động lừa đảo trực tuyến.”

Hàng ngàn người Việt Nam đã bị dụ dỗ “việc nhẹ lương cao” ở Cambodia. Ban đầu họ là nạn nhân, bị nhốt và bị thu hết giấy tờ tùy thân, hộ chiếu rồi bị ép trở thành những người lừa đảo các người đồng hương khác, theo lời khai của một số người khi bị trả về nước. Nếu không thi hành, họ bị tra tấn, đánh đập và bỏ đói. Gia đình một số người đã phải trả những số tiền lớn để giải thoát. (NTB) [kn]


 

Gởi Ai Đã Và Sắp Đến Tuổi Già

Chuyện tuổi Xế Chiều

Gởi Ai Đã Và Sắp Đến Tuổi Già

Bài viết của một tác giả không nhớ rõ tên, có một nội dung quá thâm thúy, dành cho những ai trong tuổi Cao Niên nếu muốn có một đời sống hạnh phúc trong những ngày còn lại trên trần gian này, trước khi thân xác trở về cát bụi thì nên suy luận những điều được nêu ra trong bài viết này.

Đời người thật ngắn ngủi. Nhớ lại vào lứa tuổi đôi mươi, chúng ta lang thang trong khuôn viên trường đại học, vui cười vô tư và bây giờ đã hơn 40 năm trôi qua rồi. Đời người thoáng chốc đã già !

Bây giờ, những năm còn lại trong cuộc đời của một người, chúng ta cần sống thanh thản, sống thoải mái, sống hạnh phúc vì qua một ngày, chúng ta đã mất một ngày. Vì vậy, một ngày đến, chúng ta vui một ngày. Vui một ngày… rồi không biết được bao nhiêu ngày nửa. Hạnh phúc là do chính mình tạo ra, vui sướng cũng do chính mình tìm lấy vì những niềm vui ấy đã ẩn chứa trong những sự việc nhỏ nhặt xảy ra trong đời sống.

Hạnh phúc là những gì hiện đang ở chung quanh chúng ta, trong tầm tay chúng ta. Nhà nho Nguyễn Công Trứ quan niệm: “Tri túc, đãi túc, tiện túc, hà thời túc. Tri nhàn, đãi nhàn, tiện nhàn, hà thời nhàn”…

Tiền rất quan trọng trong đời sống của con người nhưng tiền không phải là tất cả. Đừng quá coi trọng đồng tiền và cũng đừng lệ thuộc vào đồng tiền, mặc dù biết rằng nếu không có tiền thi làm sao chúng ta sống, làm sao để được thoải mái.

Ta vẫn biết khi ta ra đời, ta đâu có mang nó đến và khi ra đi, chúng ta cũng không mang nó theo. Đồng tiền có thể mua một lâu đài to lớn nhưng đồng tiền không mua được mái ấm gia đình. Đồng tiền giúp chúng ta mua được nhiều thứ tiện nghi trong cuộc sống nhưng đồng tiền không mua được sức khỏe cũng như hạnh phúc trong đời sống.

Quãng đời còn lại thì quá ngắn ngủi, ta phải sống những ngày tháng cho đáng sống, ta phải làm cho cuộc đời thêm phong phú.

Những gì cần ăn thì cứ ăn, cần mặc thì cứ mua sắm, muốn đi du lịch thì cứ đi. Tập cho mình có nhiều đam mê, tự tìm niềm vui cho chính mình.

Vào trong internet để gửi thư cho bạn bè, để chia sẻ một tin hay, một chuyện vui, một bản nhạc, đọc những bài viết có giá trị, hay “chat” với người quen biết. Chúng ta cần trao dồi bộ óc để trí nhớ vẫn còn sáng suốt.

Nếu có người bạn cần giúp, ta cứ mở lòng nhân ái, tốt bụng với mọi người. Rảnh rổi đi làm những việc từ thiện xã hội, giúp một tay tại những nơi tôn kính như nhà Chùa, nhà Thờ,… lấy việc giúp người làm niềm vui, đó là những thú vui trong tuổi già

Hơn nửa đời, chúng ta dành khá nhiều cho sự nghiệp, cho gia đình, cho con cái, bây giờ thời gian còn lại chẳng bao nhiêu nên dành cho chính mình, quan tâm bản thân, sống thế nào cho thanh thản, vui vẻ.

Việc gì muốn thì làm, ai nói sao thì mặc kệ vì mình đâu phải sống để người khác thích hay không thích, nên sống thật với mình. Sống phải năng hoạt động nhưng đừng quá mức, ăn uống quá kiêng cữ thì không đủ chất bổ dưởng, quá nhàn rỗi thì buồn tẻ, quá ồn ào thì khó chịu…

Cuộc sống tuổi già thật đa dạng, nhiều màu sắc nên ta cần có nhiều bạn bè, nhiều nhóm bạn bè hoặc tham dự vào những sinh hoạt trong các hội đoàn ái hữu lành mạnh. Gặp bạn, nói ra những điều phiền muộn cho nhau nghe. Hãy tìm cách gặp gỡ bạn bè và người thân vì không còn nhiều thời gian nữa.

Một người lớn tuổi, sống cô đơn, biệt lập, không đi ra ngoài, không giao thiệp với bạn hữu, thế nào cũng đi đến chổ tự than thân trách phận, bất an, lo âu, ủ dột và tuyệt vọng. Từ đó bắt nguồn của bao nhiêu căn bệnh. Đừng bao giờ nói, hay nghĩ là: “Tôi già rồi, tôi không giúp ích được cho ai nửa”. Đừng nói những lời hay những tư tưởng có ý tuyệt vọng.

Người già chỉ sảng khoái khi được có bạn tâm giao, đó là một liều thuốc bổ mà không bác sĩ nào có thể biên toa cho ta mua được.

Ở tuổi hiện tại, chúng ta đừng nghĩ đến đồng tiền, đừng nghĩ đến giàu hay nghèo nữa và cũng đừng than trách hay hối hận vì những lầm lỗi trong quá khứ và cũng đừng tự hỏi là tại sao bây giờ ta không có nhiều tiền. Đừng nói ta không có tiền.

Có những thứ hiện đang chung quanh ta rất quí giá mà có nhiều tiền cũng không mua được, đó là người phối ngẫu của chúng ta.

Nếu có chút ít đồng tiền thì cứ tiêu xài những gì ta cần vì sẽ có lúc chúng ta để lại cho người khác xài. Nếu hôm nay ta còn khỏe mạnh, còn ăn được những món ăn ta thích và ăn biết ngon là ta đã có một khối tài sản to lớn trong tuổi già.

Rồi ta tìm đến những người bạn cùng nhau uống tách trà nóng, ly cà phê buổi sáng, kể chuyện năm xưa hay trao đổi những kinh nghiệm trong cuộc sống hiện tại.

Cuối tuần, hẹn nhau với người bạn đi câu cá, hưởng không khí trong lành của thiên nhiên và cũng để cho tâm tư lắng đọng, tinh thần thanh thản. Đó là những niềm vui trong cuộc sống của tuổi già.

Bài và ảnh sưu tầm


 

Tổ chức Ân xá Quốc tế phác họa bức tranh rùng rợn về cuộc sống trong các “trung tâm lừa đảo” tại Campuchia

Tin Mừng Cho Người Nghèo

Tổ chức Ân xá Quốc tế phác họa bức tranh rùng rợn về cuộc sống trong các “trung tâm lừa đảo” tại Campuchia

Một báo cáo của Amnesty International (Tổ chức Ân xá Quốc tế) cho biết Campuchia đang đối diện với một “cuộc khủng hoảng nhân đạo” sau khi hàng ngàn người bị buôn người ép làm việc trong các khu lừa đảo trực tuyến đã trốn thoát khỏi cảnh giam cầm. Nhiều nạn nhân ra đi trong tình trạng sang chấn tâm lý nặng nề và hầu như không nhận được sự hỗ trợ từ chính phủ các nước quê hương của họ tại châu Á, châu Phi, châu Âu và châu Mỹ.

Theo báo cáo, một người trốn thoát bị rạch cổ, nhiều thi thể bị chất đống, phụ nữ bị hãm hiếp, có người bị chặt ngón tay. Cảnh sát Campuchia bị cáo buộc thường xuyên lui tới các khu phức hợp nơi nạn nhân bị ép thực hiện các trò lừa đảo trực tuyến, thường gọi là “pig butchering” (vỗ béo con mồi), nhưng không can thiệp.

Bà Montse Ferrer, Giám đốc Nghiên cứu Khu vực của Amnesty International (Tổ chức Ân xá Quốc tế), nhận định:

“Làn sóng người tháo chạy khỏi các khu lừa đảo này đã tạo ra một cuộc khủng hoảng nhân đạo trên đường phố, nhưng đang bị chính phủ Campuchia phớt lờ.

Giữa những cảnh hỗn loạn và đau khổ, hàng ngàn người sống sót mang sang chấn đang tự xoay xở mà không có hỗ trợ của nhà nước.

Đây là khủng hoảng quốc tế trên đất Campuchia. Các nạn nhân đến từ nhiều châu lục và rất cần sự hỗ trợ lãnh sự khẩn cấp để có thể hồi hương và thoát khỏi nguy hiểm.”

Làn sóng tháo chạy gia tăng sau khi ông trùm người Trung Quốc Trần Chí (Chen Zhi) bị trục xuất ngày 6-1. Ông là người sáng lập Prince Bank tại Campuchia và đã bị một tòa án Hoa Kỳ trừng phạt, truy tố; Bộ Tư pháp Mỹ tịch thu 15 tỷ USD tài sản liên quan.

Việc chính quyền Campuchia trấn áp các băng nhóm tội phạm cũng là điều khoản quan trọng trong lệnh ngừng bắn ngày 27-12 chấm dứt cuộc xung đột biên giới kéo dài sáu tháng giữa Thái Lan và Campuchia, nổ ra sau khi Bangkok ra lệnh truy quét xuyên biên giới các trung tâm lừa đảo.

Một nạn nhân tên Mehi kể với Ân xá Quốc tế:

“Tôi bị giam trong khu phức hợp 12 tháng, luôn sợ mất mạng. Rồi một ngày, chúng tôi thức dậy và thấy quản lý đã bỏ đi, bảo vệ cũng biến mất. Cửa cổng mở toang và chúng tôi đi bộ ra ngoài.”

Một người khác cho biết đã chứng kiến một vụ giết người khi một quản lý cắt cổ nạn nhân vì cố trốn thoát. Mười người sống sót khác nói rằng cảnh sát thường xuyên ghé thăm các khu phức hợp, kể cả để đưa thi thể đi, nhưng không có hành động bảo vệ.

Amnesty cho biết đã phỏng vấn 35 người sống sót đến từ nhiều quốc gia như Brazil, Indonesia, Myanmar, Nigeria, Sierra Leone, Liberia, Uganda, Kenya, Bangladesh, Ấn Độ, Philippines và Madagascar; ước tính họ đã thoát khỏi 17 trung tâm lừa đảo.

Một nạn nhân tên Delilah, trốn thoát khỏi khu phức hợp ở Prey Veng (cách Phnom Penh khoảng 90 km về phía đông), kể:

“Nhiều người đã chết. Chúng tôi còn phải góp tiền để đưa thi thể về nước. Người bệnh thì không được giúp đỡ. Tôi nói rằng tôi không thở được…

Khi chúng tôi phá cổng thoát ra, một bảo vệ bắn chỉ thiên. Chúng tôi buộc phải trốn vì có người bệnh nặng, không muốn chết trong đó.”

Các tổ chức chống buôn người tại địa phương nói với Amnesty rằng chính phủ Campuchia không bảo vệ cũng không nhận diện đúng nạn nhân buôn người, khiến họ thiếu hỗ trợ và dễ bị các băng nhóm tội phạm có tổ chức tiếp tục khai thác.

Bà Ferrer cho biết thêm:

“Những người chúng tôi gặp rất sợ hãi. Họ muốn về nhà nhưng không có hộ chiếu, không có tiền, thậm chí không đủ mua vé máy bay.

Chính quyền Campuchia dường như không làm gì, trong khi hỗ trợ của các NGO không đủ, nhất là sau các đợt cắt giảm tài trợ trong năm qua. Chính phủ các nước của họ cần khẩn cấp vào cuộc.”

Các đại sứ quán châu Á tại Phnom Penh đang quá tải vì số nạn nhân mắc kẹt cần trợ giúp. Nhiều người nói với UCA News rằng hộ chiếu bị tịch thu, không thể rời đi vì phạt quá hạn visa, và tay trắng.

Làn sóng tháo chạy tăng tốc sau khi Bộ Công an Trung Quốc ban hành “cảnh báo cứng rắn” ngày 15-1, đề nghị khoan hồng cho những người liên quan đến Chen Zhi nếu tự nguyện đầu thú. Trước các cổng sứ quán, trong đó có lãnh sự quán Trung Quốc, hàng dài người xếp hàng, nhiều người dựng lều chờ đợi. Indonesia xác nhận hơn 2.270 công dân của họ đã trốn thoát, có thời điểm 200 người mỗi ngày.

Những phát hiện của Amnesty phù hợp với nhiều báo cáo khác, trong đó có các bài điều tra và phỏng vấn do các NGO và lực lượng cứu hộ công bố trên UCA News. Một báo cáo của Liên Hiệp Quốc từng cho biết hơn 100.000 người đã bị buôn vào 50 trung tâm lừa đảo tại Campuchia.

Khoảng 130 công dân Hàn Quốc đã được giải cứu kể từ tháng 10, trong khi chính phủ Campuchia tuyên bố hơn 3.000 người đã được giải phóng khỏi các khu phức hợp trong năm 2025.

Nguồn: UCA News; Báo cáo của Tổ chức Ân xá Quốc tếl.


 

Những Ngày Cuối Đời Của Đại Tướng Cao Văn Viên (1921-2008) – Nhà văn Giao Chỉ

Hoang Le Thanh

Nhà văn Giao Chỉ

(tức cựu đại tá Vũ Văn Lộc)

(Tháng Giêng 2008)

Ai khanh ai tướng ai thầy thợ,

Cũng đều chung một số kiếp lưu vong! (NPN).

Bài viết của chúng tôi về đại tướng Cao văn Viên gồm có ba phần, ghi nhận vào ba thời gian khác nhau. Năm 2003, năm 2005 và năm 2008.

Mon General: (Tháng 10-2003)

Mùa Ðông năm nay, niên trưởng Cao Văn Viên sẽ trải qua những ngày băng giá khó khăn. Năm nay 82 tuổi, ông mới bị té ngã. Tưởng đã quỵ luôn, nhưng một lần nữa y khoa Hoa Kỳ đã đỡ vị Tổng Tham Mưu Trưởng cuối cùng của QLVNCH đứng lên để tập cho ông đi lại từng bước ngắn.

Chắc chắn là các bác sĩ và chuyên viên Mỹ đều không biết vị cao niên Á Châu này là người đã từng làm chức vụ gì ở Việt Nam. Bởi vì hàng ngày cũng không có nhiều người đến thăm ông. Sau trận té gẫy xương chậu, chân ông đã sưng thật to, nhưng mãi cả mấy tuần lễ sau ông mới có cơ hội chiếu điện và chữa trị chính thức. Trước đó ông tự soa lấy bằng dầu nóng và mùi Nhị Thiên Ðường thơm ngát cả căn phòng tại khu chung cư cao niên lầu hai của quận Fairfax miền Virginia. Ông đang cố gắng đứng lên tập đi trở lại trong một chương trình hồi phục để tránh phải ngồi xe lăn là điều mà tuổi già rất quản ngại.

30 năm trong quân ngũ, ông Cao Văn Viên chỉ sống với cấp trên và cấp dưới. Riêng cá nhân ông, gần như không có nhiều bằng hữu tương giao để chén tạc, chén thù. Gần 30 năm sống cuộc đời di tản, vị Ðại Tướng đứng đầu Bộ Tổng Tham Mưu, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bây giờ cũng vẫn tiếp tục độc hành. Ông luôn luôn cố tránh liên hệ vào các tranh chấp chính trị ngay từ lúc còn trong quân đội cũng như trong hoàn cảnh di dân tỵ nạn hiện nay.Từ khi người vợ quán xuyến của ông qua đời, rồi đến người con trai duy nhất của ông cũng vắn số, ông Cao văn Viên đã trải qua những mùa đông cô độc ở Nữu Ước, hoàn toàn xa cách mọi người. Ông đi chợ nấu ăn lấy, đóng vai ông già Á Châu vô danh giữa chốn đô thị phồn hoa đông đảo nhất thế giới. Những năm gần đây ông dọn về ở luôn trong một căn hộ của khu chung cư ở miền Ðông Hoa Kỳ, bên cạnh Thủ Ðô Hoa Thịnh Ðốn.

Nơi đây đa số là người già Ðại Hàn. Ông tiếp tục đi chợ và nấu ăn lấy. Cô con gái lớn trưởng thành của ông đã tốt nghiệp luật, đi dạy học, lập gia đình và làm việc ở nơi xa. Ðời sống đã không cho phép cha con được gần nhau và vị tướng già cũng đã quen sống như thế. Bây giờ thực ra ông cũng không có nhiều nhu cầu. Người già ở Hoa Kỳ lợi tức thấp hoặc không có lợi tức được lãnh bao nhiêu thì niên trưởng Viên của tôi cũng lãnh được bằng đó. Số tiền này đã dành trả hết cho gian phòng ông đang cư ngụ. Trung tá Tâm là một sĩ quan hiếm hoi trong số các thân hữu quân ngũ còn lại quanh ông. Vâng, chính cái anh Tâm đó đang tìm cách xin cho niên trưởng của anh vào một Nursing Home có người săn sóc ngày đêm. Ðó là nhu cầu thực tế và là một ước mơ nhỏ bé của một con người đã một thời mang hình ảnh lớn lao của quân đội chúng ta. Vào đầu thập niên 50, gặp nhau tại tiểu khu Hưng Yên, bên bờ sông Hồng Hà có 3 sĩ quan Việt Nam còn trẻ. Trung úy Nguyễn Văn Thiệu, quê Phan Rang miền Trung, lém lỉnh tinh ranh. Ðại úy Trần Thiện Khiêm quê miền Nam, ít nói, thâm trầm. Trung úy Cao Văn Viên, quê miền Bắc, cao lớn, trắng trẻo và đẹp trai nhất. Nếu coi đây là nhóm bạn đầu đời quân ngũ thì quả thực họ đã từng là chiến hữu. Và Trung úy Cao văn Viên lại là niên trưởng.

Ông Viên tuy người Bắc nhưng thực ra vì cha mẹ làm ăn bên Lào nên ông ra đời tại Vạn Tượng và Thủ Ðô Vientian là dấu ấn của thân phụ đặt tên cho con trai. Vào thời còn trẻ trung, các sĩ quan quốc gia bắt đầu trưởng thành trong vòng tay của quân đội Liên Hiệp Pháp. Các ông quan một, quan hai còn đeo trên vai những gạch kim tuyến vàng chóe với tương lai mở rộng một đời binh nghiệp. Nhưng không ai có thể nghĩ rằng Trung úy Thiệu sẽ trở thành Tổng Thống. Ðại úy Khiêm trở thành Thủ Tướng và Trung úy Viên trở thành Ðại Tướng, Tổng Tham Mưu Trưởng. Ðó là chuyện sau này. Ðịnh mệnh quả nhiên đã có những ước hẹn với lịch sử. Cả ba người chiến binh Bắc Trung Nam, cùng thăng trầm với chiến tranh, với đất nước để cùng thăng tiến. Họ làm việc với nhau, họ chia nhau những chức vụ tối cao của quân đội và chính quyền. Cùng yểm trợ nhau, nhưng đồng thời cũng rất xa cách dù ở bên trong hay bên ngoài công vụ. Họ không còn ngồi với nhau những giây phút tửu hậu trà dư. Ông Viên đã nói rằng mối liên hệ của ông với Tổng Thống Thiệu hoàn toàn là công vụ. Các niên trưởng của tôi khi nói chuyện đều thưa gửi với nhau bằng chức vụ. Thưa Tổng Thống, Thủ Tướng, Ðại Tướng vân vân. Khách sáo vô cùng. Cái thời “toa moa” ngày xưa ở Secteur Hưng Yên bây giờ đã xa lắm rồi, chẳng ai còn nhớ nữa.

Với sĩ quan Cao Văn Viên, từ cấp Úy lên cấp Tá, ông luôn luôn là người cần mẫn và hòa nhã. Bước ngoặt của đời ông là cánh chim bằng nhảy dù trên ngực áo. Khi ông còn là Trung Tá tại Tham Mưu Biệt Bộ lúc đó ông Nguyễn Chánh Thi đang coi Liên đoàn Nhảy dù. Cả hai cùng là bạn cũ. Thi rủ Viên học nhảy dù để gột rửa bớt cái vẻ sĩ quan văn phòng. Nhảy thì nhảy. Trung tá Viên lấy bằng Dù và tiếp tục ngồi bên Tham Mưu Biệt Bộ thời kỳ ông Diệm còn đang tại chức. Ðảo chính xẩy ra, Ðại tá Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Dù chạy qua Cam Bốt. Tổng thống Diệm vừa thoát nạn, ngó tới ngó lui thấy ông sĩ quan thân cận gần gũi có bằng cấp nhẩy dù bèn đưa qua nắm liên đoàn Mũ Ðỏ. Từ đó ông Cao Văn Viên bắt đầu làm tư lệnh và cuộc đời đi vào khúc quanh mới. Nhảy dù vốn là đơn vị ưu tú của quân đội, nhưng mũ đỏ đang bị thất sủng vì cú đảo chánh hụt. Giai đoạn này là lúc thử thách của cả vị tư lệnh lẫn các tiểu đoàn nhảy dù. Hai bên thăm dò lẫn nhau. Ông Viên trở thành một vị Ðại Tá tư lệnh hăng hái xông xáo từ kỹ thuật nhảy dù đến các chiến trường trên khắp bốn quân khu. Ông lấy bằng huấn luyện viên Dù và nhảy biểu diễn tự điều khiển cùng với các cố vấn Hoa Kỳ. Cuộc đảo chánh ông Diệm lần thứ hai mới là giai đoạn đặc biệt của Ðại tá Cao Văn Viên. Trong khi hầu hết các tư lệnh quân đội đều ngả theo cách mạng thì riêng mình ông từ chối. Ðó là hành động mà sau này ông cũng không chắc là một thái độ khôn ngoan.

Ông Viên thực sự cũng không muốn đóng vai anh hùng, nhưng chỉ muốn giữ tấm lòng chung thủy. Ðã có những người chống đảo chánh bị giết chết như vị Tư lệnh Hải quân, Tiểu đoàn trưởng Nhảy dù và sau này chính anh em Tổng thống Diệm cũng bị giết chết. Nếu viên Tư lệnh Nhảy dù không chịu theo cách mạng mà bị thanh toán thì cũng là chuyện có thể xảy ra. Nhưng chính bà vợ quán xuyến và can đảm đã lên tiếng khi ông chồng bị giam riêng một chỗ. Bà Viên đã quyết liệt can thiệp trực tiếp với tất cả các tướng lãnh đảo chánh mà ngày hôm trước vẫn còn là anh em thân hữu với gia đình ông. Cho đến sau này ông Viên vẫn còn ghi nhớ thái độ mạnh mẽ của người vợ đã cứu sống ông trong năm đảo chánh. Ông cũng không ngần ngại mà nói thẳng ra như thế. Sau khi cách mạng thành công, ngôi sao bản mệnh của ông lại trở nên rực rỡ. Phe thân hữu của Ðệ Nhất Cộng Hòa tuy đang bị thất thế nhưng vẫn kín đáo ca ngợi thái độ của vị Tư lệnh Nhảy dù. Ngay cả các tướng lãnh và sĩ quan phe cách mạng cũng đều vì nể thái độ của ông. Ông Cao Văn Viên gần như là người duy nhất không theo cách mạng nhưng vẫn được tiếp tục về chỉ huy nhảy dù.

Ðịnh mệnh vẫn tiếp tục chiều đãi. Ông tham dự hành quân Cao Lãnh miền Tây đạt chiến thắng và bị thương. Thêm vào chiến thương bội tinh với ngôi sao đỏ, ông lên Thiếu Tướng với hai sao lấp lánh trên cổ áo và nón đỏ vẫn đội trên đầu.Trong thời gian đảo chánh ông Diệm xảy ra, ông Cao Văn Viên đã không có những kỷ niệm tốt đẹp với tướng Dương Văn Minh. Mấy năm sau, vào giai đoạn chỉnh lý bắt các tướng cách mạng giam lỏng trên Ðà Lạt và cô lập Big Minh thì cũng toàn là lính Nhảy dù của ông Cao Văn Viên. Vì vậy lại thêm một kỷ niệm không đẹp giữa hai người.

Ðó cũng là lý do mà sau này ông nghĩ rằng không thể ngồi lại trong chính phủ Dương Văn Minh. Phải chăng đây cũng là một cái cớ chính thức để có thể ra đi vào đúng thời điểm cần thiết. Tuy nhiên, đó là câu chuyện 75. Trở lại với giai đoạn giữa thập niên 60, từ giã nhảy dù, tướng Viên về làm Tư lệnh Quân đoàn III và sau cùng lên chức Tổng Tham Mưu Trưởng. Với chức vụ quan trọng nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, tướng Viên là người có vóc dáng đường bệ nên trong các cuộc thăm viếng đơn vị, hình ảnh của ông cạnh các tướng lãnh Hoa Kỳ đem lại niềm hãnh diện cho các binh đoàn. Lớn tuổi hơn các tướng lãnh cùng thời, nhưng ông có khuôn mặt trẻ trung và giữ được thân thể gọn gàng của một cựu huấn luyện viên thể dục lúc còn niên thiếu. Và mặc dù có dư luận chê trách, nhưng tướng Viên vẫn thực sự là người hiếu học ngay từ lúc còn làm Tư lệnh Quân đoàn III. Ông rất chịu những bài giảng về triết học bay bướm của thầy Trần Bích Lan tức nhà thơ Nguyên Sa đã một thời là Trung úy Quân nhu. Phần lớn các tư lệnh quân chủng và các quân đoàn đều kính nể vị Ðại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng vốn từ bên Nhảy Dù đi lên. Ngay cả sau này khi các Tư lệnh Quân đoàn liên lạc thẳng với Tổng thống Thiệu những vẫn giữ lễ độ lịch sự với Bộ Tổng Tham Mưu. Tướng Viên có biệt nhãn với ngành Tiếp Vận vì ngày xưa ông đã từng là trưởng phòng 4 đầu tiên dưới thời quân đội quốc gia phôi thai năm 1954. Mặt khác, ông cũng giữ mối thiện cảm và theo dõi các hoạt động của binh chủng mũ đỏ mà ông luôn luôn hãnh diện đã góp phần trong binh nghiệp. Tướng Viên cũng được sự tin cậy và vị nể của các giới chức Hoa Kỳ. Tuy nhiên, chính ông cũng tự nhận thấy chưa bao giờ nghĩ đến ngày có thể lên đến chức tước lớn lao như vậy. Ông luôn luôn mong được làm tròn nhiệm vụ, nhưng ông không phải là hàng tướng lãnh nóng nẩy ồn ào, lấy gậy chỉ huy đập vào đầu sĩ quan, hay la hét thuộc cấp tối ngày. Tướng Viên cảm nhận vai trò phối hợp của một vị Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân như bên Ngũ Giác Ðài Hoa Kỳ chứ không phải là Tổng Tư Lệnh ban hành các lệnh trực tiếp. Như ông đã giãi bày trong tác phẩm mới xuất bản, khi nhận thấy bị Tổng thống Thiệu qua mặt dành trực tiếp quyền điều hành bộ máy chiến tranh thì ông lặng lẽ lui vào vai trò tư vấn cho đến khi xin từ nhiệm.

Tháng 10-2003 khi dịch giả Nguyễn Kỳ Phong cho phát hành bản Việt ngữ tác phẩm của Ðại tướng Cao Văn Viên, phóng viên BBC Luân Ðôn có hỏi đi hỏi lại Kỳ Phong nhiều lần một câu hỏi. Ðó cũng là thắc mắc của rất nhiều thính giả và độc giả. Tại sao Ðại Tướng bị thất sủng, xin từ nhiệm lại không được chấp thuận. Dịch giả Kỳ Phong không thể thay mặt tác giả mà trả lời cho suôi câu hỏi phức tạp này. Quả thực đã có lúc ông Thiệu muốn tìm người thay ông Viên nhưng không phải là dễ dàng. Chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng phải lựa chọn trong các Tư lệnh Quân đoàn xuất sắc. Tướng Ngô Quang Trưởng với sự yểm trợ của phía Hoa Kỳ cũng không phải là người làm ông Thiệu an tâm. Tướng Ðỗ Cao Trí cũng đã được phía Hoa kỳ tiến cử trong danh sách nhưng ông Trí vừa nghe tin đã tuyên bố lăng nhăng nên đã làm ông Thiệu quản ngại và gạch tên ngay cả trước khi trực thăng của ông Trí lâm nạn.

Ðối với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, việc thay thế tướng Cao Văn Viên chưa phải là nhu cầu cấp thiết. Ông Thiệu hoàn toàn yên tâm với một vị Tổng Tham Mưu Trưởng dứt khoát không chịu tham dự vào các cuộc đảo chánh chính trị. Ông không sợ ông Viên làm phản. Trước sau như một tướng Viên đã kiên định như thế. Thông thường ông Viên thân với tướng Kỳ hơn là gần gũi ông Thiệu. Nhưng không bao giờ ông Kỳ rủ được ông Viên tham gia đảo chánh ông Thiệu, ngay như vào giờ thứ 25 của thời điểm năm 75. Ông Thiệu và ông Viên, như trên đã viết ra, các niên trưởng của tôi sinh hoạt xa cách và khách sáo. Không có cái kiểu như thời kỳ còn ở Hưng Yên: “Này, Moi làm ở État Major lâu quá, thôi Toi kiếm thằng khác để Moi nghỉ một thời gian. Việc gì Toi cũng chơi thẳng với các Quân đoàn như thế thì còn cần Moi ở đây làm gì?” Không, các Xếp của tôi không ăn nói lăng nhăng như vậy. Ðại Tướng thưa rằng xin Tổng Thống cho tôi tạm nghỉ vì sức khỏe. Tổng Thống nói là xin Ðại Tướng vui lòng tiếp tục ở lại một thời gian. Bây giờ là lúc khó khăn, quân đội cần ổn định v.v… Và Ðại tướng Viên có lúc đã nhờ quân nhu tìm cho một số dụng cụ làm vườn để thực sự chuẩn bị vui thú điền viên, nhưng khi ông Thiệu nói như vậy đành chần chờ ở lại Bộ Tổng Tham Mưu cho qua ngày.

Cũng phải ghi lại là trong chức vụ cao cấp nhất của quân đội, tướng Viên đã có lần phác thảo kế hoạch tấn công ra Bắc và đó là một trong các phương cách tự vệ mãnh liệt nhất. Tuy nhiên chắc chắn rằng phía Hoa Kỳ hoàn toàn không yểm trợ và ông Thiệu không thể nào đơn phương quyết định được. Thêm vào đó, một trong các quyết định quan trọng nhất của tướng Cao Văn Viên là xử dụng tướng Ðồng Văn Khuyên từ Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 3 Tiếp Vận lên Tổng Cục Trưởng, Tổng Cục Tiếp Vận rồi là Tham Mưu Trưởng Liên Quân. Ông Khuyên đã không phụ lòng tin cậy của tướng Viên trong các chức vụ này và đặc biệt ông cũng được Hoa Kỳ hoàn toàn yểm trợ. Và chính guồng máy Tiếp Vận với viện trợ Mỹ là con bài tẩy của chiến tranh Việt Nam.

Trong phần ghi chú của tác giả Cao Văn Viên viết trong tác phẩm Việt ngữ mới phát hành, một đề nghị chiến lược tối mật quan trọng nhất cho chiến tranh Việt Nam là việc bỏ đất, triệt thoái do Tổng Cục Tiếp Vận, Tổng Tham Mưu soạn thảo. Hoàn toàn dựa vào bài toán quân viện, nghiên cứu khả năng thực sự giữ đất, giữ dân, Việt Nam Cộng Hòa muốn tồn tại thì phải thu về các vùng đồng bằng và duyên hải. Kế hoạch phải áp dụng ngay từ sau Hiệp Ðịnh Paris chứ không thể căng mỏng quân lực ra khắp nơi theo kiểu dành dân lấn đất và chôn chân các đơn vị Tổng Trừ Bị tại các tiền đồn. Ðại tướng Viên đã chỉ thị tướng Ðồng Văn Khuyên lên trình riêng Tổng Thống để rồi không hề nghe được bất cứ một chỉ dấu gì của ông Thiệu cho đến những ngày đau thương 30 tháng 4-1975.

Chuyến đi thăm: (Tháng 4-2005)

Ba mươi năm trôi qua như một giấc mộng dài. Tháng tư năm 2005 từ San Jose CA, chúng tôi lên thủ đô tổ chức họp mặt anh em chiến hữu trại Trần Hưng Ðạo. Ðây chính là tổng hành dinh của bộ Tổng tham Mưu ngày xưa. Ba mươi năm hội ngộ, gặp lại lần đầu nhưng ai cũng biết đây là lần cuối. Ðại tướng lấy lý do già yếu nên không đến được. Hội họp xong, tôi nhờ trung tá Tâm đưa đến thăm ông. Tháng tư là tháng không vui mà cảnh trí nơi ông ở trông thật là buồn. Tâm nói rằng, đại tướng rất đúng hẹn và rất nguyên tắc. Khi chúng tôi bước vào phòng khách của khu cao niên Á châu, “Mon General” đã đứng chờ sẵn, quần áo chỉnh tề. Hình ảnh của vị tướng lãnh cao lớn mang 4 sao, áo hoa dù, mũ đỏ không còn nữa.

Ðại tướng của tôi bây giờ là một cụ già tóc bạc lưng còng, vóc dáng nhỏ bé, chỉ còn lại cặp mắt long lanh, và tiếng nói dịu dàng. Chúng tôi ngồi xuống bên nhau nói chuyện không có chủ đề. Trung tá Tâm ngồi một bên luôn luôn để ý săn sóc cho ông cụ.

Bao nhiêu câu hỏi cần tìm hiểu vị niên trưởng mà tôi đã chuẩn bị bây giờ buông suôi hết. Nào là rút quân, nào là tử thủ, từ chuyện ông Thiệu đến chuyện ông Kỳ, chuyện Mỹ, chuyện Tàu. Trong cái buổi chiều buồn và ảm đạm đó, tôi chợt thấy tất cả đều trở nên vô nghĩa. Toàn quân, toàn dân, cấp trên cấp dưới, bây giờ không quá khứ, chẳng vị lai.

Lời người xưa còn vẳng bên tai. Bại binh chi tướng, bất khả ngôn dũng. Tướng lãnh thua trận, không thể nói mạnh. Bây giờ là tháng tư, 30 năm sau ngồi đây mà đổ tội cho ai. Nhất tướng công thành, vạn cốt khô. Mà công thành, có thành công cho cam. Tôi không hỏi và ông cũng chẳng nói. Tôi đưa cả hai tay cho ông nắm thật chặt. Hình như có một lời ca từ 50 năm trước trong bài Tình Lính: Thương nhau, tay nắm lấy bàn tay; Ông nắm thật chặt và Ông bắt đầu giảng cho tôi về Thiền Tông và Phật Pháp. Chẳng có thu thanh, thu hình phỏng vấn gì cả.

Đ/Tướng Cao văn Viên đi giữa hai thân hữu

Hai mươi năm chinh chiến điêu linh và ba mươi năm lưu lạc tù đầy của cả đạo quân nay bỏ qua một bên để ngồi bàn về đường đi của Phật. Trước khi chia tay, tôi ngỏ lời xin đại tướng một di vật cho viện Bảo tàng. Ông nói: Tôi có còn gì đâu. Bèn hỏi rằng hôm niên trưởng ra đi đem theo cái gì. Ông cho biết có cầm cái cặp. Bên trong có cuốn sách viết về đạo Phật. Tôi xin ông cuốn sách đó, có bút tự ghi dấu của đại tướng. Quay sang anh Tâm, tôi xin xác nhận, khi nào, … Chúng tôi ra xe, ông cụ đứng ngó theo… Giữa những người lính trẻ ngày xưa, cuộc ra đi nào cũng có thể là lần cuối.

Bây giờ chúng tôi là những người lính già, chắc chắn phải hẹn nhau gặp lại ở nơi khác.

Lần cuối. (Tháng Giêng 2008)

Giây phút … khi nào … đã đến. Ðại tướng Cao văn Viên ra đi ngày 22 tháng 1 năm 2008 tại Fairfax, VA. cũng không xa nơi ông cư ngụ những ngày sau cùng. Gia đình tuy đơn chiếc nhưng chiến hữu rất đông đảo.

Những vị niên trưởng lừng lẫy của tôi, quý vị do thời thế tạo nên. Lúc còn trẻ tôi có thể đã kỳ vọng và trách cứ quý vị rất nhiều, nhưng bây giờ cấp dưới chúng tôi cũng già rồi, tôi đã suy nghĩ khác đi nhiều. Quả thực chúng ta không thay đổi được định mệnh và không vượt qua được thời thế. Tôi cũng đã từng là anh Thiếu Úy trẻ Bắc kỳ của mùa thu 54, bây giờ cũng đã cao niên như mọi người. Tôi bao dung với chính tấm thân già của mình.

Nhìn cuộc đời nhẹ nhàng hơn và tôi thông cảm với niên trưởng Cao Văn Viên. Tôi vẫn hình dung những buổi chào cờ đầu năm ở Bộ Tổng Tham Mưu. Lá cờ sao của Ðại Tướng Tổng Tư Lệnh bay trên nhà lầu chính. Tướng Cao Văn Viên đội mũ đỏ, áo hoa dù đứng giữa hàng quân để đọc nhật lệnh tại Vũ Ðình Trường Tổng Tham Mưu mênh mông. Hàng chục ông tướng xếp hàng ngang. Trên 50 cấp Ðại Tá xếp hàng dọc. Các sĩ quan, HSQ và binh sĩ của các phòng sở với đủ mọi loại quân phục Liên Quân. Bên trái là đoàn xe với quân cảnh hộ tống thật uy nghi lẫm liệt. Phía xa là trực thăng riêng đậu chờ sẵn.

Cách đó thật xa hơn nữa về cả không gian lẫn thời gian là hình ảnh Trung úy Cao Văn Viên trẻ trung của Secteur Hưng Yên trên chiến trường Bắc Việt. Rồi đến những ngày qua khi niên trưởng Cao Văn Viên sống một mình từ Nữu Ước đến DC. Ông chậm chạp đi bộ từ chợ về nhà, leo lên lầu hai của căn phòng nhỏ, tự mình chuẩn bị bữa ăn. Sáng nay ông ăn món gì? Bánh mì trứng hay trứng bánh mì? Ông có uống sữa hay không? Ông còn nhớ gì đến chuyện di tản ở miền Bắc 54.

Chuyện di tản ở miền Nam 75. Trung úy Thiệu ngày xưa nay đã đi xa rồi, Ðại úy Khiêm ngày xưa vẫn im lìm như thuở nào. Và Trung úy Viên ngày xưa mãi mãi vẫn cô đơn. Tuổi trẻ và danh vọng rồi cũng qua đi. Ai rồi cũng chỉ còn lại một mình. Khi ra đi lần cuối cũng chỉ có một mình. Tất cả quý niên trưởng và chúng tôi ai cũng muốn sống lại cái thời đeo lon cấp Úy của tuổi hoa niên. Phải mà được làm lại từ đầu thì chúng ta sẽ làm biết bao nhiêu điều tử tế hơn, đẹp đẽ hơn, cho bản thân, cho chiến hữu và cho đất nước.“ Tuổi hoa niên cùng mặc áo chinh y. Lòng mở rộng giữa dòng đời ấm áp. Tám mươi năm, kiếp người như gió thoảng. Chiều cô đơn về chậm hồn cao niên”.

Giao Chỉ – San Jose.


 

Giáo Sư Đoàn Khoách, nguyên phụ tá khoa trưởng Đại Học Sư Phạm Huế, qua đời

Ba’o Nguoi-Viet

January 29, 2026

SAN DIEGO, California (NV) – Giáo Sư Đoàn Khoách, tốt nghiệp thủ khoa Viện Hán Học Huế, từng làm giảng viên, trưởng ban Việt Hán, và là cựu phụ tá khoa trưởng Đại Học Sư Phạm Huế, vừa qua đời ở San Diego hôm 25 Tháng Giêng, hưởng thọ 96 tuổi, theo cáo phó của gia đình cho biết.

Giáo Sư Đoàn Khoách sinh năm 1930 tại Dương Nỗ, Phú Vang, Thừa Thiên.

Giáo Sư Đoàn Khoách. (Hình: Lấy từ cáo phó của gia đình)

Ngoài những thông tin nêu trên, theo tác giả Ngô Văn Ban trong bài viết “Tưởng nhớ Thầy Đoàn Khoách” đăng trên trang web namkyluctinh.org, Giáo Sư Đoàn Khoách từng là trợ lý nghiên cứu viên tại Tân Á Nghiên Cứu Sở thuộc Đại Học Trung Văn (Hồng Kông), là giám khảo chính cho International Baccalaureate Organization ở St. Mellons (Anh), và là giảng viên Việt Việt Học (Westminster).

Ông đến Hoa Kỳ năm 1989, và cư ngụ tại San Diego.

Ông từng có bài viết đăng trong các tạp chí Đại Học, Văn Học, Văn Lang, Tiếng Sông Hương, Đất Lành, Nhớ Huế, Dòng Việt, …

Các tác phẩm của ông đã phát hành là Nguyễn Trãi Dữ Kỳ Ức Trai Thi Tập (Hồng Kông, 1965), Văn Tịch Chí (Huế, 1970), Thư Mục Nguyễn Trãi (Sài Gòn, 1979), Thư Mục Nguyễn Đình Chiểu (Sài Gòn, 1981), Nguyễn Đình Chiểu Toàn Tập (Long An và Bến Tre 1982, hợp soạn), Sảng Đình Thi Tập (San Diego, 2002), Nhàn Trung Tùy Bút (San Diego, 2007, hợp soạn), Tiên Hoa Lục Khảo Chú (SEACAEF, 2008), và Mạnh Nghị Tuyển Tập (Viện Việt Học, Westminster, 2011).

Tang lễ vị giáo sư quá cố sẽ được tổ chức trong hai ngày 5 và 6 Tháng Hai, tại nhà quàn Peek Family, Westminster, theo cáo phó. (Đ.D.)


 

Quyết định từ chối của bà (Tiến sĩ Frances Kelsey) đã cứu sống hàng nghìn người.

My Lan Pham

 Bà vừa nhận việc thì một hãng dược lớn đòi phê duyệt “thuốc bom tấn”.

Quyết định từ chối của bà đã cứu sống hàng nghìn người.

Tháng 9 năm 1960. Washington, D.C.

Tiến sĩ Frances Kelsey bước vào Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) trong ngày làm việc đầu tiên. Khi đó bà 46 tuổi, là một nhà dược lý học có bằng bác sĩ y khoa, và là một trong số rất ít phụ nữ làm việc trong lĩnh vực quản lý dược phẩm liên bang.

Cấp trên giao cho bà một hồ sơ tưởng chừng rất bình thường.

Một công ty dược mang tên Richardson-Merrell đang xin phép lưu hành một loại thuốc an thần mới có tên Kevadon. Hoạt chất của nó là thalidomide ,loại thuốc khi đó đã gây “cơn sốt” tại châu Âu và Canada. Các bác sĩ kê đơn rộng rãi để điều trị lo âu, mất ngủ, đặc biệt là ốm nghén ở phụ nữ mang thai. Thuốc được cho là an toàn đến mức ở một số quốc gia, người dân có thể mua không cần toa bác sĩ.

Công ty dự báo doanh thu khổng lồ tại Mỹ. Họ muốn thuốc có mặt trên kệ hiệu thuốc trước Giáng sinh. Họ tin rằng quá trình phê duyệt chỉ mất vài tuần, thậm chí vài ngày.

Họ không hề biết mình đang đối mặt với ai.

Tiến sĩ Kelsey bắt đầu xem xét hồ sơ. Bà cảm thấy có điều gì đó không ổn. Các nghiên cứu an toàn quá sơ sài. Dữ liệu về cách thuốc được chuyển hóa trong cơ thể rất mơ hồ. Đáng lo ngại nhất, gần như không có thông tin nào về tác động của thuốc đối với phụ nữ mang thai ,dù đây lại là nhóm đối tượng sử dụng chính.

Bà gửi trả hồ sơ với một dòng ngắn gọn:

“Dữ liệu không đầy đủ. Từ chối phê duyệt.”

Richardson-Merrell choáng váng. Đây không phải cách mọi thứ vẫn diễn ra. Thuốc đã được phê duyệt ở hàng chục quốc gia. Doanh thu đã lên đến hàng triệu USD. Vậy mà một viên chức FDA ,lại còn là phụ nữ ,dám chặn đường họ chỉ vì những “chi tiết giấy tờ”.

Công ty lập tức mở một chiến dịch gây áp lực dữ dội ,đủ sức khiến hầu hết mọi người phải khuất phục.

Lãnh đạo công ty gọi điện cho cấp trên của bà, yêu cầu đảo ngược quyết định. Họ đích thân đến văn phòng, dùng dáng vẻ và quyền lực để đe dọa. Họ gọi bà là “quan chức tiểu tiết”, “bới lông tìm vết” vì những điều vô nghĩa. Họ nói bà thiếu kinh nghiệm, cứng nhắc, và đang gây hại cho bệnh nhân khi giữ lại một loại thuốc có lợi.

Các tạp chí chuyên ngành cũng nhập cuộc. Báo chí ngành dược công khai nghi ngờ năng lực chuyên môn của bà. Công ty ám chỉ rằng bà đang “say quyền lực”, lạm dụng thẩm quyền mới có.

Hãy thử đặt mình vào vị trí của bà: mới đi làm, giữa một môi trường gần như toàn đàn ông trong thời kỳ phụ nữ làm khoa học thường xuyên bị xem nhẹ. Không mạng lưới hỗ trợ. Không tiền lệ. Cả ngành công nghiệp dược nói rằng bà sai. Chỉ cần ký giấy là xong. Chỉ cần tự nhủ: “Thuốc đã được phê duyệt khắp nơi rồi, chắc chắn là an toàn.”

Nhưng Frances Kelsey có một thứ không thể bị bắt nạt hay thương lượng: liêm chính khoa học.

Bà yêu cầu bổ sung nghiên cứu. Khi công ty gửi dữ liệu không đạt yêu cầu, bà lại từ chối. Hết lần này đến lần khác. Bà đặt thêm câu hỏi về các báo cáo tổn thương thần kinh ở bệnh nhân Anh sử dụng thuốc lâu dài. Bà chỉ ra những điểm mâu thuẫn trong nghiên cứu. Bà kéo dài quy trình suốt 11 tháng căng thẳng, bất chấp những lời đe dọa và công kích.

Rồi tháng 11 năm 1961.

Những báo cáo đầu tiên xuất hiện từ Đức. Các bác sĩ nhận ra một mô hình kinh hoàng: trẻ sơ sinh chào đời với phocomelia ,một dị tật bẩm sinh hiếm và cực kỳ nghiêm trọng. Tay chân của các em bị teo ngắn hoặc không hình thành. Có trẻ tay chỉ dừng lại ở vai với bàn tay nhỏ như vây cá. Chân còi cọc hoặc biến mất hoàn toàn. Nhiều em còn bị tổn thương nội tạng nặng.

Con số nạn nhân tăng vọt. Và rồi mối liên hệ được xác nhận: mẹ của các em đã dùng thalidomide khi mang thai.

Sự thật lan khắp châu Âu và Australia như một cơn ác mộng. Hơn 10.000 trẻ em bị ảnh hưởng. Một nửa không sống sót qua những năm đầu đời. Những em còn sống phải đối mặt với tàn tật suốt đời. Hình ảnh những cơ thể non nớt khiếm khuyết khiến cả thế giới bàng hoàng.

Ngành dược chấn động. Các chính phủ vội vàng thu hồi thuốc. Kiện tụng bùng nổ. Sự nghiệp của nhiều người chấm dứt. Nhưng thiệt hại thì không thể đảo ngược. Cả một thế hệ gia đình bị hủy hoại.

Tại Mỹ, thảm kịch này hầu như không xảy ra.

Chỉ có một vài trường hợp do các mẫu thuốc mà công ty phát cho bác sĩ trong thời gian chờ phê duyệt. Nhưng thảm họa trên diện rộng từng tàn phá châu Âu? Nó đã không bao giờ diễn ra tại Hoa Kỳ.

Chỉ vì một người phụ nữ ngồi sau bàn làm việc đã từ chối bị khuất phục.

Năm 1962, Tổng thống John F. Kennedy mời Tiến sĩ Kelsey đến Nhà Trắng và trao cho bà Huân chương Dịch vụ Dân sự Liên bang Xuất sắc ,một trong những phần thưởng cao quý nhất dành cho công chức Mỹ. Bà là người phụ nữ thứ hai từng nhận được vinh dự này.

Nhưng với Frances Kelsey, phần thưởng lớn nhất không phải là huy chương hay sự tôn vinh. Đó là việc bà biết rằng, ở đâu đó trên nước Mỹ, hàng nghìn đứa trẻ đang chạy nhảy, vui chơi, sống trọn vẹn, mà không hề hay biết họ đã từng ở rất gần một số phận hoàn toàn khác.

Câu chuyện của bà cho thấy một điều sâu sắc về chủ nghĩa anh hùng. Nó không phải lúc nào cũng kịch tính. Đôi khi, nó rất lặng lẽ. Đôi khi, đó chỉ là ngồi trước một tập hồ sơ, nhìn vào dữ liệu chưa đầy đủ, và có đủ dũng khí đạo đức để nói “không” khi mọi người đều đang hét “có”.

Đôi khi, anh hùng là người bị cho là khó tính, cố chấp, quá thận trọng.

Đôi khi, anh hùng là người tin vào chuyên môn, trực giác và trách nhiệm với những con người mình sẽ không bao giờ gặp, hơn là tin vào những tiếng nói quyền lực đang đòi hỏi sự tuân phục.

Tiến sĩ Frances Kelsey làm việc tại FDA cho đến năm 90 tuổi. Bà dành cả sự nghiệp để bảo vệ những con người không hề biết tên bà. Và mọi đứa trẻ sinh ra khỏe mạnh tại Mỹ sau năm 1960 đều mang ơn bà ,một món nợ mà họ sẽ không bao giờ có thể hiểu hết.

Bà không chặn một viên đạn.

Bà chặn một cây bút khỏi ký vào một tờ giấy.

Và điều đó đã thay đổi tất cả.

Theo curiously Unusual Wonders

My Lan Phạm


 

Bắn chết người gần Little Saigon, trốn về Việt Nam, nghi can gốc Việt bị giải về Mỹ

Ba’o Nguoi-Viet

January 26, 2026

ORANGE COUNTY, California (NV) – Lê Việt Quốc Bảo, 21 tuổi, bị tình nghi bắn hai thiếu niên ở Stanton, California, làm một người chết và một bị thương nặng, sau đó trốn về Việt Nam, rồi bị bắt và bị giải giao về Mỹ hôm 21 Tháng Giêng, theo Văn Phòng Biện Lý Orange County (OCDA) cho biết hôm Thứ Hai, 26 Tháng Giêng.

Nghi can đang bị giam tại nhà tù Orange County và sẽ bị truy tố tội giết người và âm mưu giết người.

Nghi can Lê Việt Quốc Bảo. (Hình: OCDA)

Ngoài ra, còn có hai nghi can gốc Việt khác trong án mạng này là Danny Huỳnh và Troy Quang Lư cũng bị giam ở nhà tù quận hạt.

Theo OCDA, nghi can Lê Việt Quốc Bảo bị tố cáo là một trong năm đồng phạm và là một trong hai người nổ súng bắn chết em Samuel Vidal, 15 tuổi, cư dân San Bernardino, vào ngày 5 Tháng Bảy, 2025.

Sự việc xảy ra vào khoảng 2 giờ trưa ở khu nhà có dãy số 11000 đường Court, giữa đường Beach với trường trung học Rancho Alamitos High School.

Bốn ngày sau, nghi can gốc Việt trốn về Việt Nam, FBI được xác nhận với sự trợ giúp của cơ quan điều tra phía Việt Nam.

Bắt đầu từ Tháng Mười, 2025, FBI, cùng với sự trợ giúp của Sở Cảnh Sát Orange County và đơn vị điều tra tội phạm của Biện Lý Cuộc Orange County, bắt đầu cuộc truy lùng quốc tế đối với nghi can Lê Việt Quốc Bảo.

Theo yêu cầu của FBI, an ninh Việt Nam bắt Lê Việt Quốc Bảo, rồi Bộ Công An phối hợp với Bộ Ngoại Giao Việt Nam tiến hành giải giao nghi can về Mỹ.

Ngày 21 Tháng Giêng, nghi can Lê Việt Quốc Bảo được đưa lên máy bay về Mỹ và đưa vào nhà tù Orange County qua sự phối hợp của nhiều cơ quan liên bang và địa phương.

Nghi can Ali Ibrahim Alsouqi. (Hình: OCDA)

Hai nghi can gốc Việt khác – Danny Huỳnh, 24 tuổi, bị tố cáo là người nổ súng, và Troy Quang Lư, 21 tuổi, bị tố cáo là người lái xe cùng đồng bạn bỏ trốn lúc xảy ra sự việc – cũng bị truy tố nhiều tội hình, bao gồm giết người và có ý định giết người, và đang bị giam tại nhà tù Orange County.

Còn nghi can thứ tư, Ali Ibrahim Alsouqi, đang trốn ở Jordan, OCDA tin là như vậy. 

Nghi can thứ năm chưa được xác định, vẫn theo OCDA. 

Theo thông cáo, vào ngày 5 Tháng Bảy, 2025, Ali Ibrahim Alsouqi dàn xếp cho bốn người khác đến nhà anh ở Garden Grove, nơi họ lên kế hoạch bắn các thành viên băng đảng đối thủ.

Hôm đó, nghi can Lê Việt Quốc Bảo gặp Danny Huỳnh, Troy Quang Lư, và một người chưa được xác định tại nhà nghi can Alsouqi.

Tất cả năm người sau đó lên chiếc Mercedes Benz màu đen của Troy Quang Lư. Chủ xe sau đó che bảng số xe trước khi lái đến Stanton để thực hiện kế hoạch.

Khoảng 2 giờ chiều, Vidal và người bạn 13 tuổi đụng độ những thanh niên che mặt trên chiếc Mercedez ở đường Court. Danny Huỳnh bước ra khỏi xe, bắt đầu nổ súng vào hai thiếu niên.

Lê Việt Quốc Bảo, lúc đó ngồi phía trước, bên cạnh người lái xe Troy Quang Lư, nổ súng ra.

Nạn nhân Vidal bị bắn năm phát, thủng tim, phổi, gan, và tụy, chết tại chỗ.

Thiếu niên 13 tuổi bị bắn vào ngực, nhưng sống sót.

Vài giờ sau, Troy Quang Lư bị bắt.

Đoạn đường ở Stanton, nơi xảy ra án mạng. (Hình: Google Maps)

Các nhà điều tra xác nhận Danny Huỳnh, Lê Việt Quốc Bảo, Ali Ibrahim Alsouqi, và một người chưa xác định là những người ngồi trong xe cùng với Troy Quang Lư.

Nếu bị kết tội, nghi can Lê Việt Quốc Bảo có thể bị tối đa từ 50 năm tù tới chung thân vì đồng lõa với bốn người khác trong án mạng ngày 5 Tháng Bảy, 2025, giết chết Samuel Vidal, và làm bị thương nặng thiếu niên 13 tuổi, bạn của nạn nhân.

Troy Quang Lư có thể bị tối đa từ 25 năm tù tới chung thân và Danny Huỳnh có thể bị tối đa từ 50 năm tù tới chung thân.

Nghi can Alsouqi bị truy tố một tội âm mưu giết người và có thể bị tối đa từ 25 năm tù tới chung thân, nếu bị kết tội.

Stanton có khoảng 40,000 cư dân, tọa lạc sát phía Bắc Little Saigon, nơi có cộng đồng người Việt lớn nhất hải ngoại.

Thành phố từng có một nghị viên gốc Việt đầu tiên và duy nhất vào năm 2019. (Đ.D.)


 

Linh Mục Pietro Palazzini đang rửa bát trong nhà bếp Vatican thì nghe thấy những tiếng la hét.

Gieo Mầm Ơn Gọi

Linh Mục Pietro Palazzini đang rửa bát trong nhà bếp Vatican thì nghe thấy những tiếng la hét.

Ngày 16/10/1943. Rome vừa rơi vào tay phát xít Đức được năm tuần. Pietro chạy đến cửa sổ.

Những gì ông nhìn thấy đã thay đổi cuộc đời mình mãi mãi.

Xe tải quân sự lấp đầy những con phố hẹp của khu Do Thái. Lính SS lôi các gia đình ra khỏi nhà. Trẻ em gào khóc gọi cha mẹ khi bị đẩy lên xe. Người già loạng choạng, hai tay bị trói quặt ra sau lưng.

Pietro chứng kiến hơn 1.200 người bị bắt đi. Ông hiểu rất rõ điều đó có nghĩa là gì.

Hai ngày sau, những chuyến tàu rời Rome hướng về Auschwitz. Chỉ có 16 người sống sót trở về.

Nhưng điều ám ảnh Pietro nhất là những người đã thoát được trong hỗn loạn ,các gia đình tản mác trốn chạy. Họ đang ở đâu? Họ có thể sống sót được bao lâu trong một thành phố đầy rẫy lính Đức Quốc xã?

Đêm đó, Pietro đưa ra một quyết định.

Chủng viện chỉ cách nơi lùng bắt vài dãy nhà. Những bức tường đá dày, các phòng ngủ bỏ trống ,và một thứ mà Đức Quốc xã không dễ chạm tới: sự bảo hộ của Vatican.

Pietro bắt đầu âm thầm, trò chuyện với các linh mục khác. Không lâu sau, gia đình đầu tiên xuất hiện ,một gia đình Do Thái tuyệt vọng tìm nơi trú ẩn.

Ông dẫn họ lên căn phòng tầng ba. “Ở đây các bạn sẽ an toàn,” ông nói. Nhưng chính ông cũng hiểu: sự bảo vệ của Vatican không phải là tuyệt đối.

Rồi nhiều gia đình nữa đến. Nhà Rosenberg. Nhà Cohen. Nhà Segre. Mỗi người chạy trốn, chỉ mang theo những gì kịp vơ lấy. Pietro biến chủng viện thành nơi trú ẩn bí mật. Phòng ngủ thành nơi ở. Kho chứa thành bếp. Trẻ con được dạy phải nói thì thầm ,ngay cả khi chơi đùa.

Nhưng ẩn náu thôi chưa đủ. Họ cần giấy tờ.

Pietro chưa từng làm giả giấy tờ bao giờ. Nhưng nỗi sợ là một người thầy rất nhanh. Ông nghiên cứu giấy chứng nhận rửa tội cho đến khi có thể sao chép hoàn hảo. Ông làm việc dưới ánh nến, xóa đi những danh tính cũ và tạo ra những cuộc đời mới.

Gia đình Rosenberg trở thành Romano.

Sarah Cohen trở thành Maria Colombo.

Mỗi tờ giấy là một canh bạc. Nếu bị phát hiện, cái chết là điều chắc chắn.

Mỗi ngày trôi qua là một cuộc đếm ngược. Tuần tra. Lục soát. Tin đồn. Mỗi đêm, Pietro lắng nghe, sợ hãi tiếng giày đinh vang lên trên nền đá.

Ba mươi bảy người. Mười hai đứa trẻ.

Mùa đông đến sớm. Thức ăn cạn dần. Hệ thống sưởi gần như không hoạt động. Sốt lan rộng. Cha mẹ ôm con khóc trong im lặng, hiểu rằng cuộc sống cũ đã không còn.

Nhưng họ vẫn còn sống.

Tháng Hai, Pietro nghe tin về một cuộc đột kích tại San Lorenzo ,mười hai gia đình bị phát hiện và trục xuất. Ông quen các linh mục ở đó. Những người đã đưa ra lựa chọn giống mình.

Đêm đó, nỗi sợ suýt đánh gục ông. Ông đã nghĩ đến việc yêu cầu các gia đình rời đi. Rủi ro quá lớn.

Nhưng rồi bé Sarah ,giờ là Maria ,đưa cho ông một bức vẽ: hình ảnh chủng viện, phía dưới là hai từ viết nguệch ngoạc:

“Ngôi nhà an toàn.”

Pietro giữ bức vẽ ấy suốt phần đời còn lại.

Đến mùa xuân, hy vọng xuất hiện. Quân Đồng minh đang tiến gần. Các gia đình bắt đầu dám nói về “sau này”.

Ngày 4/6/1944, xe tăng Mỹ tiến vào Rome.

Pietro đứng trước cổng chủng viện khi các gia đình bước ra ánh sáng lần đầu tiên sau tám tháng. Họ khóc. Họ ôm chầm lấy ông, hứa sẽ không bao giờ quên.

Ba mươi bảy người bước vào với thân phận kẻ chạy trốn.

Họ rời đi với tư cách những người sống sót.

Sau chiến tranh, Pietro trở lại cuộc sống bình thường: giảng dạy chủng sinh, lo những công việc thường nhật. Năm 1973, Giáo Hoàng Paul VI phong ông làm Hồng y.

Pietro hiếm khi nhắc đến chiến tranh. Ngay cả khi các nhà báo tìm đến “vị linh mục anh hùng”, ông vẫn kín tiếng.

Ông mang ký ức ấy một mình ,tiếng trẻ con khóc, những giấy tờ giả trong túi áo, và gương mặt của những người không kịp đến cửa ông đúng lúc.

Năm 1985, khi 73 tuổi, Israel vinh danh ông là Người Công Chính giữa các Dân Tộc. Ông gặp lại những người mình từng che chở và bế trên tay những đứa cháu ,tương lai được tạo nên từ những lựa chọn của ông.

“Tôi chỉ làm điều mà bất kỳ ai cũng nên làm,” ông nói.

Nhưng ai cũng biết đó không phải là sự thật giản đơn.

Không phải ai cũng dám liều mạng vì người xa lạ.

Không phải ai cũng biến nơi làm việc thành nơi trú ẩn.

Không phải ai cũng tạo dựng lại những cuộc đời khi Đức Quốc xã đang tuần tra ngoài kia.

Pietro Palazzini qua đời năm 2000, hưởng thọ 88 tuổi ,56 năm sau ngày những chuyến xe lăn bánh về Auschwitz.

Tại lễ tang của ông, người đứng lên phát biểu không phải là các Hồng y hay chức sắc cao cấp.

Mà là những gia đình.

Những đứa trẻ năm xưa giờ đã là người lớn. Những người từng thì thầm tên thật của mình sau cánh cửa chủng viện, nay bế trên tay chính các cháu của họ.

Họ nói về một linh mục trẻ đã chọn mở cửa giúp người khác, vào thời điểm mà quay lưng làm ngơ mới là lựa chọn an toàn và dễ dàng nhất.

Pietro Palazzini chưa bao giờ chắc chắn rằng mình đã cứu được đủ người. Ông mang theo suốt đời nỗi day dứt về những người không kịp gõ cửa. Nhưng có một điều không thể phủ nhận:

Ba mươi bảy con người đã sống sót vì ông đã hành động.

Và từ ba mươi bảy sinh mạng ấy, hàng chục, rồi hàng trăm cuộc đời khác đã được sinh ra.

Họ mang theo ký ức, sự sống và lòng can đảm ấy đi tiếp.

Điều đó quan trọng hơn mọi danh hiệu.

Quan trọng hơn mọi lời ca ngợi.

Vì trong một thời đại mà im lặng đồng nghĩa với an toàn,

Pietro Palazzini đã chọn can đảm.

Và nhờ vậy, lịch sử có thêm những người được sống.

(Theo Inspire Daily )


 

Ít nhất 34 người chết vì bão tuyết, hơn 11,000 chuyến bay bị hủy hoặc trễ

Ba’o Nguoi-Viet

January 26, 2026

NEW YORK, New York (NV) Hàng ngàn người ở Mỹ sẽ trải qua một đêm lạnh cóng nữa mà không có điện sau khi bão mùa Đông lớn trút thêm tuyết xuống vùng Đông Bắc và phủ băng giá tại nơi ở miền Nam hôm Thứ Hai, 26 Tháng Giêng, theo AP.

Tính tới 7 giờ tối Thứ Hai (giờ miền Tây Hoa Kỳ), ít nhất 34 người thiệt mạng ở những tiểu bang bị ảnh hưởng, theo USA TODAY.

Công nhân dọn dẹp tuyết trên vỉa hè sau trận bão tuyết ở Silver Spring, Maryland, hôm Thứ Hai, 26 Tháng Giêng. (Hình: Chip Somodevilla/Getty Images)

Tuyết rơi dày đặc, hơn 1 foot trải dài 1,300 dặm từ Arkansas  tới vùng New England, làm giao thông bị ngưng trệ, hàng loạt chuyến bay bị hủy và  trường học khắp nơi phải đóng cửa hôm Thứ Hai. Cơ Quan Khí Tượng Quốc Gia (NWS) dự báo nhiều nơi phía Bắc Pittsburgh, Pennsylvania, tuyết rơi tới 20 inche và gió lạnh tới âm 25 độ F cuối hôm Thứ Hai tới Thứ Ba.

Cái lạnh khắc nghiệt ảnh hưởng tới 2/3 nước Mỹ này chưa dứt. Hôm Thứ Hai, NWS cho hay một đợt không khí lạnh khác từ Bắc Cực dự trù sẽ giữ nhiệt độ lạnh cóng ở những nơi hiện đã bị tuyết và băng đá bao phủ. Và chuyên gia dự báo thời tiết cho biết một trận bão mùa Đông khác có thể ập vào nhiều khu vực miền Đông cuối tuần này.

Trong ít nhất 29 người chết, có hai người bị xe cào tuyết cán ở Massachusetts và Ohio, một số người thiệt mạng do tai nạn xe trượt tuyết ở Arkansas và Texas, và thi thể một phụ nữ bị tuyết chôn vùi được cảnh sát tìm thấy sau khi người ta nhìn thấy phụ nữ này ra khỏi quán rượu ở Kansas. Ở thành phố New York, giới chức loan báo tám người được phát giác thiệt mạng ngoài trời cuối tuần qua.

Tính tới tối Thứ Hai, hơn 670,000 căn nhà vẫn còn bị cúp điện, theo poweroutage.com, hầu hết ở miền Nam, nơi mưa tuyết làm cành cây bị gãy và dây điện bị đứt, khiến phía Bắc Mississippi và nhiều nơi ở Tennessee bị cúp điện.

Hôm Thứ Hai, hơn 11,000 chuyến bay khắp nước Mỹ bị hủy hoặc bị hoãn, theo trang web theo dõi chuyến bay flightaware.com. Trước đó, hôm Chủ Nhật, 45% chuyến bay ở Mỹ bị hủy, nhiều nhất kể từ đại dịch COVID-19, theo công ty phân tích hàng không Cirium.

Theo dự báo, tuyết tiếp tục rơi từ nhẹ tới trung bình ở vùng New England tới hết tối Thứ Hai.

Hàng loạt văn phòng liên bang, tiểu bang, địa phương và trường học loan báo đóng cửa ít nhất tới hết Thứ Hai tuần này, theo USA Today.

Vì nhiều vụ cúp điện xảy ra khắp miền Đông đất nước, chuyên gia khí tượng và giới chức tình trạng khẩn cấp đang ngày càng lo ngại về cái lạnh khắc nghiệt theo sau trận bão này vào Thứ Hai.

“Vẫn chưa hết nguy hiểm cho dù bão tan,” ông Brian Hurley, chuyên gia Cơ Quan Khí Tượng Quốc Gia (NWS), nói với USA Today. “Nhiều nơi vẫn còn bị đóng băng nặng nề, mưa lạnh cóng, mưa tuyết và tuyết rơi, sẽ tiếp tục lạnh dưới mức đóng băng tới hết tuần làm việc.”

“Chúng tôi đang lo người dân sẽ hứng nhiệt thời tiết lạnh cóng mà không có điện,” ông Hurley nói.

Trận bão tuyết này lan qua vùng Trung Đại Tây Dương nửa đêm hôm Thứ Bảy rồi di chuyển qua vùng Đông Bắc hôm Chủ Nhật. (Th.Long) [kn]


 

ĐÊM Ở BỆNH VIỆN CHỢ RẪY…

8 SÀI GÒN

ĐÊM Ở BỆNH VIỆN CHỢ RẪY…

Ở Bệnh viện Chợ Rẫy, dường như người ta không đo thời gian bằng đồng hồ, mà bằng những cái thở dài, những tiếng gọi khẽ trong đêm, và bằng ánh mắt chờ đợi, sợ hãi và hy vọng của người thân ngồi co ro ngoài hành lang.

Tôi thấy những chiếc giường kê sát nhau, trong và cả ngoài hành lang, thấy người nhà ngủ gục trên ghế nhựa, trên sàn lạnh, thấy những bữa ăn vội, những chai nước truyền chậm từng giọt.

Lên xuống cầu thang hay bước qua văn phòng các Khoa, tôi gặp các bác sĩ bước nhanh giữa ca trực đêm, mắt đỏ vì thiếu ngủ, tay vẫn vững khi ghi hồ sơ.

Có những y tá, điều dưỡng cúi xuống chỉnh lại tấm mền cho bệnh nhân, nhẹ như sợ làm đau thêm một niềm hy vọng mong manh.

Chợ Rẫy quá tải – vâng, đã quá tải thật sự – điều đó ai cũng biết. Nhưng giữa sự quá tải ấy, người ta vẫn thấy sự tận tâm không hề cạn.

Không phải ai đến đây cũng vì bệnh nặng nhất, nhưng ai đến đây cũng mang theo nỗi sợ lớn nhất của đời mình.

Và khi đứng giữa ranh giới mong manh của sinh vs tử, người ta chọn nơi mà họ tin là “còn nước còn tát”.

Chợ Rẫy không chỉ chữa bệnh, Chợ Rẫy đang gánh niềm tin của cả một xã hội – niềm tin rằng khi khó khăn nhất, vẫn có một nơi để họ gửi gắm hy vọng.

Nếu có điều gì khiến người ta lặng đi khi rời bệnh viện, thì đó không chỉ là nỗi mệt mỏi, mà là một suy nghĩ rất dài: “Làm sao để những nơi như thế này bớt gánh nặng, để những con người thầm lặng này được làm việc trong điều kiện xứng đáng hơn?”

Bởi y tế không chỉ là chữa bệnh. Y tế là nơi người dân gửi gắm niềm hy vọng cuối cùng. Và Chợ Rẫy – trong sự chật chội và ồn ào của mình – vẫn đang làm điều đó, mỗi ngày.

LÊ TUẤN