Chỉ vì một câu nói: “Hitler là một tai họa đối với châu Âu.”

My Lan Pham

 Cô chỉ nói một câu trong một cửa hàng ở làng quê. Và cái giá phải trả là bốn năm trong địa ngục.

Ngày 10 tháng 8 năm 1940, tại Mötz, một ngôi làng nhỏ ở vùng Tyrol.

Nữ tu Angela Maria Autsch bước vào cửa hàng để mua sữa. Bà 40 tuổi, thuộc dòng Trinitarian, đã sống trong tu viện bảy năm.

Trong cửa hàng, bà gặp vài người quen. Họ đang nói về chiến tranh. Một con tàu Đức vừa bị đánh chìm ngoài khơi Na Uy, nhiều thủy thủ đã thiệt mạng.

Nữ tu Angela nói: “Hitler là một tai họa đối với châu Âu.”

Chỉ một câu. Một câu nói thật. Trong một cửa hàng. Với những người bà quen biết.

Một trong số họ đã tố cáo bà với Gestapo.

Hai ngày sau, Gestapo đến bắt bà.

Tội danh: “xúc phạm Führer” và “kích động nổi loạn.”

Không xét xử. Không luật sư. Không cơ hội tự bào chữa.

Bà bị đưa đến trại tập trung Ravensbrück concentration camp. Tù nhân số 4651. Tam giác đỏ. Tù nhân chính trị.

Bà 40 tuổi. Một nữ tu đã dành cả đời dạy trẻ mẫu giáo và chăm sóc người bệnh.

Giờ đây bà ở trong một nơi được tạo ra để hủy diệt con người.

Và bà bắt đầu hành động ngay lập tức.

Bà làm việc tại khu y tế. Chăm sóc phụ nữ mang thai. Chăm sóc những người đang hấp hối. Lén lấy thuốc từ kho của SS và chuyển cho các tù nhân bệnh. Lấy trộm xà phòng. Lấy thức ăn thừa. Rồi cho đi tất cả.

Bà thường xuyên bị lính canh đánh đập. Nhưng bà vẫn mỉm cười.

Một tù nhân sau này nói: “Nụ cười và lòng can đảm của bà là một tia nắng giữa địa ngục sâu thẳm.”

Tháng 3 năm 1942, Đức Quốc xã chuyển bà đến một trại mới đang được xây dựng.

Auschwitz concentration camp.

Bà làm việc tại khu y tế, điều trị cho những phụ nữ đang chết dần vì sốt phát ban, đói khát, đòn roi và các thí nghiệm y khoa.

Tại đây, bà gặp Margarita Schwalbova, một bác sĩ Do Thái đến từ Slovakia. Bị giam vì là người Do Thái. Bị buộc làm việc trong bệnh xá trại. Một người vô thần đã mất hết hy vọng.

Một ngày nọ, nữ tu Angela bước đến gần bà. Nhẹ nhàng vuốt tóc bà. Không nói một lời. Chỉ là một cái chạm đầy dịu dàng.

Phẩm giá con người được trao lại cho một người đã bị tước đoạt tất cả.

Bác sĩ Schwalbova không bao giờ quên điều đó.

Họ trở thành bạn. Một bác sĩ Do Thái vô thần và một nữ tu Công giáo. Trong Auschwitz. Giữ cho nhau sống tiếp.

Khi Schwalbova bị bệnh, Angela chia sẻ khẩu phần ít ỏi của mình. Điều này bị cấm tuyệt đối và có thể bị xử tử. Nhưng bà vẫn làm.

Tháng 5 năm 1943, SS chuyển bà đến bệnh viện của chính họ làm y tá. Bà chăm sóc cho chính những kẻ đã hành hạ mình, những người đã đánh bà, những kẻ điều hành các buồng hơi ngạt.

SS đưa ra một đề nghị.

Từ bỏ lời khấn. Rời bỏ đời sống tu trì. Họ sẽ thả bà. Bà có thể về nhà.

Bà từ chối.

Bà đã tuyên khấn với Chúa. Bà không phá bỏ lời hứa đó để thoát khỏi trại của Đức Quốc xã.

Bà ở lại thêm 19 tháng nữa.

Các tù nhân bắt đầu gọi bà bằng một cái tên.

Thiên thần của Auschwitz.

Câu chuyện của bà lan khắp các barrack. Tù nhân Do Thái, Ba Lan, người Roma, tù nhân chính trị. Ai cũng biết về nữ tu Công giáo luôn mỉm cười với bạn khi bạn đang hấp hối.

Ngày 23 tháng 12 năm 1944, quân Đồng Minh ném bom khu công nghiệp Auschwitz.

Bà đang ở trong bệnh viện, chăm sóc bệnh nhân.

Một mảnh đạn xuyên qua ngực bà.

Bà chết ngay lập tức.

Thi thể của bà bị thiêu trong lò hỏa táng của trại, cùng những lò đã thiêu hơn một triệu người Do Thái.

Ba mươi bốn ngày sau, Hồng quân Liên Xô giải phóng Auschwitz.

Bà đã lỡ ngày tự do đúng 34 ngày.

Bà 44 tuổi.

Điều khiến câu chuyện này trở nên đau lòng là:

Bà không tổ chức kháng chiến. Không che giấu người Do Thái. Không buôn lậu vũ khí.

Bà chỉ nói một câu. Trong một cửa hàng làng quê. Với những người quen.

“Hitler là một tai họa đối với châu Âu.”

Và bà đã trải qua bốn năm trong các trại tập trung. Bị đánh đập. Mắc bệnh. Chứng kiến hàng ngàn cái chết. Và chết trước ngày tự do chỉ 34 ngày.

Chỉ vì một câu nói.

Đó chính là bản chất của chế độ toàn trị. Không chỉ là trại tử thần, mà là một hệ thống nơi việc nói ra sự thật trong một cửa hàng cũng có thể khiến bạn mất tất cả.

Bác sĩ Schwalbova đã sống sót. Trở về Slovakia. Làm việc như một bác sĩ. Và kể cho mọi người nghe về nữ tu đã vuốt tóc bà khi mọi hy vọng đã biến mất.

Tháng 5 năm 2018, Pope Francis tuyên bố Angela là “Đáng kính”, bước đầu trong tiến trình phong thánh.

Nhưng bà vẫn gần như vô danh.

Phần lớn mọi người chưa từng nghe về bà. Tu viện của bà ở Áo vẫn gìn giữ ký ức. Có vài cuốn sách bằng tiếng Đức. Chưa có nhiều tài liệu phổ biến rộng rãi.

Thiên thần của Auschwitz. Đã qua đời hơn 80 năm. Vẫn chờ thế giới nhớ đến.

Angela Maria Autsch. 44 tuổi. Chết tại Auschwitz. Vì đã nói một câu sự thật.

Nữ tu đã vuốt tóc một bác sĩ Do Thái


 

Những người bán vé số dạo – vẫn nặng đầy nỗi xót xa chua cay.

Nguyen Thi Chau

Ở miền Nam, ra đường một chút là thấy cảnh người nghèo mời mọc mua vé số. Ngồi cà phê hay nhậu nhẹt vỉa hè thì cái đầu phải lắc hoặc cái tay móc túi lấy tiền ra, rồi cất vé số vô hoài.

Người miền Nam xởi lởi bao dung, chạy xe giữa đường thấy người nghèo bán vé số dạo còn dừng lại mua giúp. Sáng mua vé số thì chiều chẳng cần biết trúng hay không, có người mua quên dò cả tháng, có khi trúng mấy giải nhỏ thì hạn lãnh tiền đã hết.

Người Sài Gòn mua vé số cốt chỉ để ủng hộ người nghèo sống qua bữa. Mua vé số chỉ để nghe bước chân người bán vé số dạo bớt nặng, chỉ để bớt nghe tiếng thở dài, để né ánh mắt buồn khổ tủi đau nhìn mình, chỉ để lòng thấy nhẹ nỗi xót xa.

Người Sài Gòn đủ lý do để mua tờ vé số của người nghèo bán dạo. Mua để thấy lòng vui mà trúng trật gì cũng vui. Người miền Tây thì có thêm lý do mua vé số để mong trúng đổi đời. Mua vé số đem về để lên bàn thờ ông thần tài thổ địa thắp hương khấn vái, mơ về con độc đắc hai tỷ xa vời đang đợi ở tết Công-gô.

Thị trường tiêu thụ vé số chính là ở Sài Gòn. Nhưng người Sài Gòn có mấy ai mua vé số để muốn đánh cược với các công ty XSKT bao giờ. Còn các công ty XSKT thì dường như đánh cược với thân phận của người đi bán vé số. Mới trước đó in 10 triệu tờ vé số (tương đương 100 tỷ đồng/kỳ/Công ty XSKT), giờ tăng lên 11 triệu tờ (tương đương 110 tỷ đồng/kỳ).

Vé số in tăng nhưng tỷ lệ vé tồn bán không hết trong ngày được trả rất thấp, thậm chí có công ty không cho trả vé tồn khiến áp lực đè nặng lên các đại lý. Rồi đại lý cấp cao đè cấp thấp, cấp thấp bóp cổ người nghèo cắt giảm hoa hồng bán vé số, từ được hưởng 1.100đ/vé giờ còn 1.050đ, có nơi còn 1.000đ/vé. Người nghèo vốn đã khổ càng thêm đói rách.

Rồi người Sài Gòn vẫn phải mua, người bán vé số dạo vẫn phải bán, các công ty XSKT vẫn phải thu lợi nhuận, các đại lý vẫn phải ngồi rung đùi chờ bóp cổ người nghèo. Con tạo khổ đau vẫn phải cứ xoay vòng. Đời người bán vé số cũng mãi chỉ quẩn quanh phận nghèo.

Nước mắt khó nhọc vẫn phải cứ nuốt vào trong, nụ cười vẫn lẩn khuất trong bụi rậm cõi đời, nét mặt vẫn hằn thêm khắc khổ, mồ hôi vẫn nhễ nhại trên làn da sạm nắng, bước chân và tiếng thở dài của họ – những người bán vé số dạo – vẫn nặng đầy nỗi xót xa chua cay.

Làm người, dẫu có ác, cũng đừng học theo kiểu của chó cứ cắn vào áo rách, tỏ ra không phải người.

Nguồn Mệ – Võ Đức Phúc

Tố Ngọc Trần Sưu tầm


 

NHỮNG CÂY BÚT BỊ BẺ NGÒI…

8 SÀI GÒN

Hôm qua, tôi viết bài “Văn chương miền Nam trong mắt một đứa trẻ”, thì có người hỏi tôi: “Anh có biết số phận của những văn nghệ sĩ miền Nam sau ngày 30/4/1975 như thế nào không?”

Sau 75, hầu hết những cây bút gạo cội của nền văn chương miền Nam đều trải qua những tháng ngày trong lao tù của trại cải tạo. Bởi chính quyền mới cho rằng: cây bút của họ còn gây “tội ác” nặng nề hơn cả cây súng và chế độ mới gọi họ với cái tên: “Biệt kích văn hoá”.

Ta thử tìm lại một giai đoạn lịch sử, một đoạn đường đời đau thương của một vài người trong số họ:

Doãn quốc Sỹ:

Sau 30/4/75, Thầy – tôi gọi là Thầy vì những cuốn Việt văn tôi học ở Chủng viện đều do Thầy biên soạn – ở lại Sài gòn và tiếp tục giảng dạy một thời gian ngắn trước khi bị bắt.Thầy bị bắt ngày 3/4/1976 trong chiến dịch nhắm vào “biệt kích văn hoá” của chính quyền mới. Thầy bị giam từ 1976  tại trại giam Gia Trung – Tây Nguyên và được thả vào năm 1980 nhờ sự can thiệp của các tổ chức quốc tế. Trong khi chờ bảo lãnh sang Úc, thầy viết tác phẩm “Đi” dưới bút hiệu Hồ Khanh và gửi ra nước ngoài xuất bản. Vì lý do này, thầy bị bắt lại vào tháng 5/1984 và bị thêm nhiều năm tù đày. Dù trải qua hơn 14 năm tù, thầy luôn giữ phong thái ung dung tự tại, dùng nhân cách kẻ sĩ để đối đầu với bão táp, nên bạn bè văn hữu gọi là người “Thung Dung Trượng Nghĩa”.

Duyên Anh:

Sau 75, ông bị bắt đi cải tạo 6 năm từ 76 đến 81. Ông bị giam tại trại giam Đầm Đùn , mà sau này ông mô tả trong cuốn “Trại Đầm Đùn” đầy sự kinh khủng của cái đói, cái rét và sự khắc nghiệt. Năm 1983, ông vượt biên sang Pháp. Năm 1988, ông bị hành hung bởi những người Việt cực đoan tại Mỹ vì những quan điểm chính trị trong quá khứ và hiện tại. Cuộc hành hung gây cho ông thương tích khá nặng, nên sau đó ông bị tai biến và mất khả năng nói và qua đời tại Pháp trong sự lặng lẽ.

Mai Thảo:

Chỉ có cây đại thụ này né được nhà tù cải tạo nhờ trốn tránh ẩn dật với nhiều tên giả ở Việt Nam sau 75. Đến năm 1977, ông đã trốn thoát khỏi VN bằng đường biển. Sang Mỹ, ông sống cô độc và làm bạn với rượu và cây viết. Ông định cư tại Cali và tiếp tục mở lại tạp chí Văn để gom góp những mảnh vỡ của văn học miền Nam. Khi mất, ông để lại tập thơ “Ta thấy hình ta là những miếu đền” – như một tiếng thở dài về sự tàn phai và thân phận lưu vong.

Tô Thùy Yên:

Ông được coi là nhà thơ lớn nhất với tư duy triết học sâu sắc của miền Nam, nên ông là nhà thơ bị đi cải tạo lâu nhất, tổng cộng 13 năm.  Năm 88, ông ra tù, ông viết ” Bài thơ Ta về”_ một kiệt tác thời hậu chiến. Bài thơ không  có sự hận thù, chỉ có bao dung và nỗi buồn trước vận nước và lòng người. Năm 1993, ông sang Mỹ và sống lặng lẽ trong tâm thế một người đã đi đến tận cùng khổ đau.

Thanh Tâm Tuyền:

Vừa là sĩ quan tâm lý chiến cấp Đại úy, vừa được coi là nhà thơ khai phóng thể thơ tự do, vừa là nhà viết tiểu thuyết hiện sinh, nên ông bị bắt đi cải tạo ngay sau 30/4 suốt 7 năm từ 75 đến 82. Trong tù, ngoài nỗi đau thế xác, ông còn chịu một nỗi đau thầm kín là một người con ông bị mất tích trên đường đi tìm tự do. Năm 1990, ông sang Mỹ theo diện H.O. Ông qua đời năm 2006 vì ung thư phổi.

Phan Nhật Nam:

là sĩ quan binh chủng Dù và là nhà văn quân đội với những bút ký chiến sự rực lửa, ông bị đi học tập cải tạo ngay sau 30/4. Ông chịu cảnh tù đày suốt 14 năm qua nhiều trại giam khắc nghiệt từ nam ra bắc, trong đó có 8 năm biệt giam. Năm 1993, ông sang Mỹ định cư theo diện H.O.

Vợ chồng Trần Dạ Từ và Nhã Ca:

Sau 30/4, cả hai vợ chồng đều bị bắt và liệt vào “biệt kích văn hoá”. Nhã Ca bị giam khoảng 2 năm và được thả về chăm sóc cho 6 đứa con nhỏ. Còn Trần Dạ Từ phải chịu tù đày 12 năm từ 75 đến 88 tại nhiều trại giam. Nhờ sự vận động của các tổ chức quốc tế và sự can thiệp của chính phủ Thụy Điển, gia đình vợ chồng được bảo lãnh sang Thụy Điển vào tháng 9/1988.

Nhưng cũng có nhiều người không thể vượt qua sự khắc nghiệt của trại cải tạo và đã chết.

Nguyễn Mạnh Côn:

Ông bị bắt năm 1976 và đưa đi cải tạo ở trại giam Xuyên mộc. Để phản đối chính sách của trại giam, ông đã tuyệt thực, và rồi kiệt sức và qua đời ngày 1/6/1979. Khí tiết của ông được các bạn tù nhắc lại như một huyền thoại về phẩm giá.

Hồ Hữu Tường:

Một  nhà trí thức, một nhà văn lớn cũng qua đời năm 1980 trong thời gian giam giữ tại các trại cải tạo.

Vũ Hoàng Chương:

Bị bắt vào trại cải tạo sau 30/4 nhưng được  thả về năm 76 vì bệnh tật, nhưng vì quá suy sụp sau thời gian bị giam cầm khiến ông qua đời chỉ 5 ngày sau khi về nhà.

Hoạ sĩ Choé:

Tên thật là Nguyễn Hải Chí, là một tài năng bẩm sinh, nổi danh với những bức hí hoạ chính trị sắc sảo. Sau vài tháng làm báo với chế độ mới, ông bị bắt đi cải tạo từ 76 đến 85. Sau khi ra tù, ông tìm cách vượt biên nhưng không thành nên bị tù thêm một thời gian nữa. Năm 1997, ông bị đột quỵ và hai mắt vị loà nên ông chuyển qua làm thơ. Cuối năm 2002, ông được đưa sang Mỹ chữa trị nhưng không khỏi mù. Ông mất năm 2003 tại Virginia.

Số phận các nhà văn nữ ít nghiệt ngã hơn.

Nguyễn Thị Hoàng:

Sau 75 , bà cùng gia đình đi kinh tế mới ở Suối Dầu – Khánh Hòa khoảng 3 năm, làm đủ thứ nghề từ rẫy ruộng cho đến buôn bán nhỏ để nuôi con.

Túy Hồng:

Sau 75 định cư ở Mỹ. Bà tiếp tục viết văn và cộng tác với các tạp chí cho đến khi qua đời vào ngày 19/7/2020 tại Oregon, Hoa kỳ.

Lệ Hằng:

Bà rời VN sang Úc định cư 1989. Bà tiếp tục viết và cộng tác với các tạp chí văn học Việt.

Nguyễn Thị Thuỵ Vũ:

Riêng bà, là khổ. Sau 75 bà ở lại VN và trải qua những giai đoạn khó khăn, phải sống lê lết vì nuôi đứa con gái út bị bệnh. Hiện tại, bà sống ở Lộc ninh – Bình Phước với cuộc sống cũng tạm ổn nhờ sự giúp đỡ của bạn bè và các tổ chức văn bút.

Còn một số người ở lại VN như Sơn Nam, Võ Hồng, Quách Tấn, Vũ Hạnh. Có người hội nhập hợp tác với chế độ mới, có người lặng lẽ “gác bút”.

Câu chuyện về số phận của những văn nghệ sĩ miền Nam sau 30/4/1975 không chỉ là một câu chuyện văn chương, mà còn là những mảnh ghép từ nhiều phận đời với đầy đủ bi thương của một giai đoạn lịch sử vào thế kỷ 20, khi cây bút bị coi là “tội ác”.

DYNH ANH


 

Một người đàn ông đã chết cách đây hơn 5.300 năm

My Lan Pham

 Năm 1991, hai người leo núi tình cờ phát hiện một thi thể bị đóng băng trong dãy Alps. Ban đầu, họ nghĩ đó là một người hiện đại gặp nạn gần đây. Nhưng sự thật lại khiến cả giới khoa học kinh ngạc.

Đó là Ötzi, một người đàn ông đã chết cách đây hơn 5.300 năm.

Thi thể của ông được bảo quản gần như nguyên vẹn trong băng. Da, tóc, thậm chí cả dạ dày vẫn còn đủ để các nhà khoa học phân tích. Và từ đó, họ dần ghép lại câu chuyện về những giờ phút cuối cùng của ông.

Ông không phải là một con người “nguyên thủy” đơn giản như chúng ta thường tưởng. Trên người ông có hơn 60 hình xăm, nhiều trong số đó nằm ở những vị trí giống với điểm châm cứu, có thể liên quan đến việc chữa đau. Ông mang theo một chiếc rìu bằng đồng, một vật cực kỳ quý hiếm vào thời đó, cùng với dao đá, cung tên và các dụng cụ sinh tồn. Quần áo của ông được làm nhiều lớp, giày được thiết kế để giữ ấm ,tất cả cho thấy một mức độ hiểu biết và thích nghi đáng kinh ngạc.

Phân tích sâu hơn cho thấy một điều bất ngờ: ông không chết vì tai nạn.

Một mũi tên đã bắn trúng vai ông từ phía sau. Ông bị tấn công, và nhiều khả năng đã chết trong lúc cố gắng trốn thoát. Bữa ăn cuối cùng của ông vẫn còn trong dạ dày, cho thấy mọi thứ xảy ra rất nhanh, không có thời gian chuẩn bị.

Điều khiến câu chuyện này đặc biệt không chỉ là cái chết, mà là cách nó thay đổi góc nhìn của chúng ta về quá khứ.

Hơn 5.000 năm trước, con người đã có quần áo chuyên dụng, công cụ tinh vi, hiểu biết về cơ thể và có thể cả y học cơ bản. Họ không “đơn giản” như chúng ta vẫn nghĩ. Họ cũng sống, đấu tranh, bị truy đuổi và chết đi, giống như chúng ta hôm nay.

Ötzi không chỉ là một xác ướp trong băng.

Ông là một khoảnh khắc của lịch sử được đóng băng lại, nhắc chúng ta rằng con người, dù ở thời đại nào, vẫn luôn phức tạp, mong manh và đầy câu chuyện chưa kể.

My Lan Phạm

   Ảnh “xác ướp” là ảnh thật (chụp thi thể trong phòng thí nghiệm).

* Ảnh “khuôn mặt” :là tái dựng khoa học (dựa trên hộp sọ + dữ liệu DNA), không phải ảnh chụp khi còn sống.

* Các hình về quần áo, công cụ là hiện vật thật được tìm thấy cùng ông.


 

Mối tình xuyên thế kỷ và bi kịch nghiệt ngã tuổi 86: Khi “giấc mơ Mỹ” hóa thành cơn ác mộng

NHỮNG BÀI POST HAY.

Có những chuyện tình ngỡ chỉ tồn tại trên những thước phim điện ảnh kinh điển, nhưng lại bước ra đời thực với đầy đủ những dư vị từ ngọt ngào nhất đến đắng chát nhất. Đó là câu chuyện của bà Marie-Thérèse Abbey, một người phụ nữ Pháp đã dành cả đời để tìm lại mối tình đầu, để rồi nhận lấy một cái kết không ai có thể ngờ tới ở tuổi 86.

> Từ ly Ricard tại căn cứ NATO đến cuộc chia ly nửa thế kỷ

Câu chuyện bắt đầu vào cuối thập niên 1950, tại căn cứ quân sự NATO ở Fontainebleau, Pháp. Khi đó, Marie-Thérèse là một nữ thư ký song ngữ trẻ trung, thanh lịch. Cô gặp James Abbey, một sĩ quan quân đội Mỹ hào hoa đang đóng quân tại đây.

Giữa những căng thẳng của thời kỳ Chiến tranh Lạnh, tình yêu của họ nảy nở một cách giản dị: Ông mời bà uống Coca-Cola – biểu tượng của văn hóa Mỹ; bà mời ông nhấp ly rượu Ricard nồng đượm đặc trưng của nước Pháp. Thế nhưng, lịch sử đã rẽ hướng. Năm 1966, Pháp rút khỏi bộ chỉ huy NATO, các căn cứ đóng cửa. James phải theo đơn vị về nước, Marie-Thérèse ở lại. Những lá thư thưa dần rồi mất liên lạc, mỗi người tự xây dựng tổ ấm riêng ở hai bờ đại dương.

> Cuộc tái ngộ định mệnh sau 60 năm

Tưởng chừng thời gian đã vùi lấp tất cả, nhưng sau khi cả hai đều đã góa bụa ở tuổi xế chiều, định mệnh đã đưa họ tìm thấy nhau qua mạng xã hội vào năm 2022. Ở tuổi ngoài 80, ngọn lửa tình yêu cũ bùng cháy mãnh liệt hơn bao giờ hết. Chẳng nề hà khoảng cách, bà Marie-Thérèse quyết định rời bỏ quê hương để sang Alabama (Mỹ) đoàn tụ với James.

Cuối năm 2023, họ chính thức trở thành vợ chồng. Những tưởng đó là cái kết viên mãn cho “mối tình xuyên thế kỷ”, nơi họ sẽ cùng nhau đi nốt đoạn đường đời còn lại. Nhưng định mệnh một lần nữa trêu ngươi: Chỉ vài tháng sau đám cưới, ông James đột ngột qua đời vào tháng 5/2024.

Bi kịch từ lòng người và vòng xoáy pháp lý

Cái chết của người chồng cũng là lúc bà Marie-Thérèse rơi vào một “trận chiến” tàn khốc mà bà không hề chuẩn bị trước. Theo luật bang Alabama, bà có quyền hưởng một phần gia tài, bao gồm căn nhà trị giá khoảng $175.000. Thế nhưng, các con riêng của ông James đã ngay lập tức ra tay để gạt người mẹ kế ra khỏi di sản của cha mình.

Chỉ hai ngày sau tang lễ, họ cắt điện, nước, và thay đổi địa chỉ nhận thư chính thức để bà không thể nhận được các giấy tờ từ sở Di trú. Do nhập cảnh bằng visa du lịch (ESTA) và đã quá hạn 7 tháng trong khi thủ tục xin thẻ xanh chưa hoàn tất, bà Marie-Thérèse trở thành người cư trú bất hợp pháp.

Đỉnh điểm của sự tàn nhẫn diễn ra khi một người con của ông James, vốn là cựu cảnh sát, đã báo tin cho Cơ quan Di trú và Hải quan (ICE).

> Còng tay, xích chân và lệnh trục xuất

Hình ảnh một cụ bà 86 tuổi, đang mặc áo ngủ, bị nhân viên công vụ còng tay và xích chân dẫn đi đã làm rúng động truyền thông nước Pháp. Bà không được phép mang theo thuốc trị bệnh, bị giam giữ trong điều kiện khắc nghiệt suốt 2 tuần tại các trại tạm giam ở Alabama và Louisiana.

Bà chia sẻ trong nước mắt trên đài TF1 rằng bà bị đối xử như một tội phạm nguy hiểm. Phải đến khi Lãnh sự quán Pháp can thiệp quyết liệt, bà mới được trả tự do để… bị trục xuất về Pháp với lệnh cấm nhập cảnh vào Mỹ trong nhiều năm.

> Lời kết

Bà Marie-Thérèse hiện đã trở về Pháp, sống tại một viện dưỡng lão. Dù trắng tay về tài sản và mang theo nỗi đau bị đối xử tàn tệ tại nơi bà từng gọi là “quê hương thứ hai”, bà vẫn khẳng định mình không hối hận.

Câu chuyện của bà không chỉ là một bi kịch về di trú hay tranh chấp tài sản, mà còn là một nốt lặng buồn về lòng người. Ở tuổi 86, thay vì một cuộc sống bình yên, bà đã trải qua những cung bậc kinh khủng nhất: từ đỉnh cao hạnh phúc của ngày cưới đến sự lạnh lẽo của xiềng xích ICE. Nhưng sau tất cả, ít nhất bà đã được sống trọn vẹn những tháng ngày cuối cùng bên người mình yêu – một trải nghiệm mà có lẽ, không một quy định pháp lý hay sự nghiệt ngã nào có thể tước đoạt được trong ký ức của bà.

#anhpt_didyouknow

Mối tình xuyên thế kỷ và bi kịch nghiệt ngã tuổi 86: Khi “giấc mơ Mỹ” hóa thành cơn ác mộng

St


 

TẠI SAO CỘNG SẢN VIỆT NAM THỪA NHẬN SỰ THAM CHIẾN CỦA 310 NGHÌN BINH SĨ TRUNG CỘNG TRONG CUỘC CHIẾN VIỆT NAM?

Đặng Đình Mạnh

Bài viết đăng tải trên Người Việt

Sau 50 năm, kể từ khi cuộc chiến huynh đệ tương tàn tại miền Nam kéo dài gần hai thập kỷ kết thúc cho đến nay, truyền thông của nhà cầm quyền Cộng Sản trong nước đã công khai cho biết có đến 310 nghìn quân Trung Cộng đã từng được Hà Nội đưa vào lãnh thổ Việt Nam để tham chiến tại miền Nam.

Tuy thông tin này không mới, vì một vài chính khách, hoặc học giả phương tây đã từng đưa tin này từ khá lâu, nhưng khi ấy, do thông tin được đưa từ một phía, nên vẫn còn gây nhiều nghi hoặc cho công chúng. Thế nhưng, khi lần này thông tin được thừa nhận chính thức từ truyền thông trong nước thì đây là lần đầu tiên.

Chúng đã giúp tái khẳng định một điều mà công chúng vốn đã nghi ngờ từ lâu về sự tham chiến trực tiếp của binh sĩ Trung Cộng, bên cạnh những sự trợ giúp về khí tài, phương tiện, tài chính, kỹ thuật và cố vấn quân sự từ một số quốc gia Cộng Sản như Liên Xô (cũ), Bắc Hàn, Trung Cộng…

Nghi vấn được đặt ra rằng tại sao sự việc đã được nhà cầm quyền Cộng Sản giấu diếm ngần ấy năm (hơn 50 năm), thì bây giờ lại sẵn sàng tự nhiên bạch hóa thông tin về chúng? Mặc cho việc bạch hóa thông tin này đã có thể bóc mẽ sự giả dối của chế độ về động cơ thúc đẩy cuộc cưỡng chiếm miền Nam dưới danh nghĩa “Đánh đuổi quân Mỹ xâm lược”.

Vì lẽ, với sự hiện diện, tham chiến trực tiếp của binh sĩ Trung Cộng trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam thì về bản chất pháp lý, chúng không có gì khác biệt đối với sự hiện diện, tham chiến của binh sĩ Hoa Kỳ cả. Cho nên, nếu nói quân Mỹ xâm lược thì cùng lúc đó, nói quân Trung Cộng xâm lược cũng chẳng có gì là sai.

Theo đó, khi thừa nhận công khai việc đưa hơn 310 nghìn binh sĩ Trung Cộng vào lãnh thổ Việt Nam tham chiến vào các năm 1965-1968, trong đó, trả giá bằng số thương vong lên đến gần 2.500 người. Xem ra, chế độ Hà Nội đang kể lể cho công chúng nghe về công trạng to lớn của Trung Cộng góp phần trong chiến thắng ngày 30 Tháng Tư 1975. Nhờ thế, giúp chế độ Cộng Sản nắm giữ độc quyền quyền lực chính trị trên toàn lãnh thổ Việt Nam trong suốt 50 năm qua.

Qua đó, đã gởi những tín hiệu rất đáng lo ngại cho đất nước trong những ngày sắp đến.

Một mặt, để chế độ Hà Nội thuyết phục người dân về tính chính đáng khi mời binh sĩ Trung Cộng vào lãnh thổ để tham gia diễn binh trong ngày kỷ niệm “chiến thắng” của chế độ.

Mặt khác, chuẩn bị tâm lý cho người dân để chấp nhận sự hà hiếp, lấn lướt của Trung Cộng trong mọi vấn đề, bao gồm cả vấn đề lãnh thổ, hải đảo trong tương lai như một cách để trả ơn.

Chưa kể đến việc tạo sự quen mắt cho công chúng khi trong tương lai, quân đội Trung Cộng có thể sẽ đổ bộ vào Việt Nam dưới danh nghĩa bảo vệ cho chế độ Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam “anh em” khi bị đe dọa về khả năng mất chính quyền.

Như để “thẩm định” điều này, ngày 24 Tháng Tư 2025, trong khi Trung Cộng gởi gần 120 binh sĩ qua Việt Nam để tập dượt, chuẩn bị cho buổi diễn binh tại Sài Gòn, thì mặt khác, truyền thông chính thức của Trung Cộng là Tân Hoa Xã cũng đã công khai thông tin về việc binh sĩ Trung Cộng đổ bộ lên bãi đá Hoài Ân, thuộc cụm đảo Thị Tứ, Trường Sa mà Việt Nam đã tuyên bố chủ quyền.

Kèm theo tin, báo Trung Cộng đăng ảnh 4 binh sĩ thuộc lực lượng hải cảnh Trung Cộng đang căng quốc kỳ trên bãi đá sau khi đã đổ bộ lên đây. Điều đáng nói, vẫn theo thông tin từ Tân Hoa Xã, việc đổ bộ trùng vào ngay thời điểm người đứng đầu Trung Cộng là Chủ Tịch nước Tập Cận Bình đang có chuyến thăm và làm việc chính thức tại Hà Nội.

Liệu chừng chế độ Hà Nội sẽ tiếp tục lên tiếng phê phán hành động xâm nhập hải đảo, tuyên bố chủ quyền trái phép của Trung Cộng để bảo lưu chủ quyền của đất nước theo công pháp quốc tế, hay sẽ phải giữ im lặng để… trả ơn cho món nợ chiến tranh?

Mặt khác, việc nhà cầm quyền Cộng Sản công khai thừa nhận những công ơn to lớn của Trung Cộng, đã hỗ trợ cho Hà Nội giành chiến thắng trong cuộc chiến Việt Nam, vô hình trung, làm lộ mặt trái trong mối quan hệ hai nước trong những năm cuối thập kỷ bảy mươi. Khi ấy, trong sự mâu thuẫn tột độ giữa hai quốc gia Cộng Sản là Liên Xô và Trung Cộng, thì Hà Nội đã công khai chọn phe đứng về phía Liên Xô.

Rõ ràng, sau khi đã đạt được mục đích của mình là cưỡng chiếm miền Nam, nắm giữ được quyền lực độc quyền trên toàn lãnh thổ, thì việc chế độ Hà Nội chọn theo phe Liên Xô để chống lại Trung Cộng. Đồng thời, đàn áp, xua đuổi Hoa Kiều về nước là thái độ “Ăn cháo, đá bát”, “Qua cầu rút ván” khiến Trung Cộng phải động binh, đưa quân đội tràn vào 6 tỉnh biên giới để “Dạy cho Việt Nam bài học” là có nguyên nhân chính đáng, không oan uổng gì cả.

Cái oan uổng là dân chúng của 6 tỉnh biên giới không có tội tình gì mà phải chết tức tưởi, tan cửa, nát nhà vì sự bất trung, bất tín của những kẻ lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam đối với đàn anh Trung Cộng.

Ngày nay, chế độ Hà Nội muốn dựa vào Trung Cộng để duy trì lâu hơn sự độc tài của mình trên đất nước, cho nên, phải ra mặt công khai kể lể ơn nghĩa ngày trước. Qua đó, ép buộc người dân phải chịu đựng những sự ức hiếp sắp tới sẽ càng ngày càng gia tăng của Trung Cộng trong tất cả các mặt đời sống xã hội, chứ không chỉ trong phạm vi chủ quyền lãnh thổ, biển đảo.

Thế nên, xét ra, công trạng của Trung Cộng chỉ mang lại lợi ích cho chế độ Cộng Sản Hà Nội, giúp Cộng Sản giành được chính quyền trên toàn lãnh thổ, giúp Cộng Sản duy trì sự độc tài để thu vén lợi ích cho đảng, cho cá nhân và đàn áp nhân dân.

Nhưng đối với nhân dân Việt Nam, công trạng của Trung Cộng không mạng lại lợi ích gì cho nhân dân cả, mà trái lại, còn là tai họa cho nhân dân. Theo đó, nhân dân Việt Nam không mang ơn gì của Trung Cộng cả.

Viết từ Hoa Thịnh Đốn, tháng 04/2025

* Ảnh binh sĩ Trung Cộng tham gia diễu binh tại Sài Gòn

Screenshot

 

Thủ phạm xả súng tại Nhà Trắng được xác định là kỹ sư hàng đầu liên quan đến NASA – Cole Tomas Allen.

Lê Thanh Hoàng Dân

“TIN NÓNG: Thủ phạm xả súng tại Nhà Trắng được xác định là kỹ sư hàng đầu liên quan đến NASA – Cole Tomas Allen, 31 tuổi, đến từ Torrance, California, đã bị bắt giữ với tư cách là nghi phạm cố gắng bắn Tổng thống Trump tại Bữa tối Phóng viên Nhà Trắng (White House Correspondents’ Dinner).

Tổng thống Trump đã được sơ tán an toàn sau khi tiếng súng nổ. Lực lượng thực thi pháp luật đã vô hiệu hóa mối đe dọa và bắt giữ Allen ngay tại hiện trường…”

Copy FB “David Thiên Ân”.

“Điều khiến câu chuyện này trở nên gây sốc: Allen sở hữu chính xác những kỹ năng chuyên môn mà drone cần. Hắn ta từng là Nghiên cứu sinh Hè tại Phòng thí nghiệm Sức đẩy Phản lực NASA (NASA JPL), làm kỹ sư cơ khí tại IJK Controls thiết kế hệ thống gimbal đa trục tiên tiến và hệ thống ổn định, thiết kế bàn quang học và hệ thống liên lạc laser tại Fluid Synchrony, đồng thời từng làm Trợ giảng tại Caltech.

Đây chính là những khả năng kỹ thuật chính xác cần thiết cho các pod nhắm mục tiêu chính xác, drone quân sự cao cấp, drone giám sát và drone cấp độ cartel — bao gồm định hướng chính xác, ổn định, liên lạc laser, quang học và các tải trọng ISR (Tình báo, Giám sát, Trinh sát) tiên tiến.

Tuy nhiên, dù có sự nghiệp kỹ thuật cao cấp, lương cao tại NASA, các nhà thầu hàng không vũ trụ và Caltech, hồ sơ công khai cho thấy đến năm 2025–2026, Allen chỉ làm việc bán thời gian với vai trò gia sư tại C2 Education, kiếm được một phần nhỏ so với mức lương tiềm năng của anh ta.

Một người 31 tuổi với chuyên môn NASA/JPL + gimbal + liên lạc laser lẽ ra phải làm việc tại Raytheon, Northrop Grumman hoặc các nhà thầu quốc phòng, kiếm 140.000–200.000 USD/năm kèm theo giấy phép an ninh. Thay vào đó, hồ sơ công khai cho thấy hắn ta gần như không có tài sản nào đáng kể, gần như không có dấu chân kỹ thuật số, và đột ngột chuyển sang làm gia sư với hồ sơ thấp.

Hiện tại hắn ta cũng đang phát triển một trò chơi điện tử mang tên “First Law” — một game về các robot phản loạn phá vỡ quy tắc đạo đức để làm hại con người. Hồ sơ này không khớp với nhau.

Cuộc điều tra đang tiếp tục và đang được mở rộng nhanh chóng.”

#CàPhêBuổiSáng #ĐiểmBáo


 

TIẾNG VỌNG CỦA THỜI GIAN….

8 SÀI GÒN 

Bà ấy không cố gắng làm nên lịch sử – bà chỉ cố gắng sống sót. Năm 1966 trong chiến tranh Việt Nam, một bà mẹ Nam Việt Nam đã nhảy xuống sông gần Qui Nhơn hướng về phía quân đội Sài Gòn. Bà ôm chặt bốn đứa con khi họ băng qua dòng nước sâu, bỏ lại phía sau tất cả nhà cửa ruộng vườn. Ngôi làng của họ bị pháo kích dữ dội, mang theo nỗi sợ hãi kinh hoàng.

Khoảnh khắc được ghi lại bởi nhiếp ảnh gia Kyoichi Sawada. Ông đã nhìn thấy một cảnh tượng ngoài sức tưởng tượng, một gia đình đang ôm chặt lấy nhau hỗn loạn giữa dòng nước sâu. Bức ảnh cho thấy không vũ khí, không chiến tuyến, chỉ có một người mẹ đang gánh vác cả thế giới của mình cố gắng vượt qua dòng nước và sự bất định. Sau đó, bức ảnh đã giành được giải Ảnh báo chí Thế giới của Năm, trở thành một trong những hình ảnh mạnh mẽ nhất thời điểm đó.

Những điều anh ấy làm tiếp theo còn quan trọng hơn. Thay vì giữ số tiền thưởng, Sawada đi tìm gia đình chạy giặc đó. Khi tìm thấy họ, anh ta đã trao cho họ tất cả mọi thứ – tiền, và bản sao bức ảnh. Với bức ảnh đó đã cho cả thế giới thấy nỗi đau và sợ hãi của họ. Đối với anh ấy, đó không phải vì danh tiếng vì anh ấy muốn làm điều gì đó đánh thức lương tri thế giới.

Nhiều năm sau, năm 1970, Sawada đã thiệt mạng khi vẫn đang tác nghiệp đưa tin về chiến tranh Việt Nam. Câu chuyện của anh ấy nhắc nhở chúng ta rằng đằng sau mỗi bức ảnh nổi tiếng là một cuộc đời thực sự – đầy sợ hãi, tình yêu và sức mạnh mà không bức ảnh nào có thể lột tả trọn vẹn.

CANG HUỲNH

lược dịch từ Échos du temps.


 

SÀI GÒN ƠI! TA MẤT NGƯỜI NHƯ NGƯỜI ĐÃ MẤT TÊN…

Việt Luận – Viet’s Herald

Nguyễn Tuấn

Nghe tin “Sài Gòn” được định danh cho một phường làm tôi liên tưởng đến ca khúc bất hủ: “Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên” của Nguyễn Đình Toàn. Và, một vấn đề lớn hơn: hoà giải dân tộc.

Tiếng súng chiến tranh đã lặng im nửa thế kỷ rồi. Nhưng những vết thương lòng của dân tộc vẫn chưa lành.

Sài Gòn là địa danh nổi tiếng, từng là nhịp tim của miền Nam, của Việt Nam Cộng Hòa. Sài Gòn, cùng với vài thành phố ở Đông Nam Á, từng được mệnh danh là “Hòn ngọc Viễn Đông” rực rỡ.

Sau 1975, Sài Gòn đã bị xóa khỏi bản đồ, nhường chỗ cho “Thành phố hcm”.

Sự đổi tên ấy, như một nhát dao cắt đứt sợi dây liên hệ với quá khứ, khiến người miền Nam thảng thốt.

Một nhà văn tài hoa đã cất tiếng than thành nhạc: “Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên”.

Không chỉ là mất đi một địa danh, mà là mất đi cả một phần hồn cốt, một bản sắc từng là niềm tự hào của bao thế hệ.

Hành động đổi tên này, khi đặt cạnh cách các nền văn hóa khác đối đãi với địa danh, càng làm nổi bật sự khắc nghiệt của nó.

Khi người Anh đặt chân đến Úc, họ không xóa sạch dấu vết của người thổ dân. Những cái tên như Canberra, Woolloomooloo, Cabramatta, Parramatta. v.v. vẫn vang vọng âm hưởng bản địa. Đó là một lời tri ân cho vùng đất và con người nơi đã tạo dựng nên những vùng đất đó.

Người Mỹ cũng vậy: giữ nguyên những San Francisco, San Diego, Los Angeles – những cái tên mang hơi thở Tây Ban Nha và bản địa. Đó là cách họ ôm lấy di sản của những nền văn hóa đã có trước.

Dù không hoàn hảo, những lựa chọn này là nhịp cầu nối giữa kẻ đến và người ở, là sự thừa nhận rằng lịch sử không phải là một bản nhạc độc tấu.

Ngược lại, sau 1975 khi nhà cầm quyền Bắc Việt mới bước vào Sài Gòn, họ vội vã đổi tên thành phố, như muốn xóa sạch ký ức của một miền Nam.

Thậm chí, những địa danh như Tân Sơn Nhứt – cách viết và phát âm thân thuộc của người miền Nam – cũng bị sửa thành Tân Sơn Nhất theo giọng điệu miền Bắc. Đó là một sự ngạo mạn với lịch sử.

Sự đồng hóa này, từ tên thành phố đến cách viết từng con chữ, là một tuyên ngôn về quyền lực.

Không chỉ quyền lực, đó cũng là một nhát cắt vào trái tim người miền Nam.

Không giống như người Anh hay người Mỹ, những người tìm cách dung hòa di sản, chánh quyền mới đã chọn cách áp đặt, biến Sài Gòn thành biểu tượng của sự chinh phục hơn là hòa giải và hoà hợp.

Dẫu vậy, trong tâm hồn người miền Nam, Sài Gòn vẫn sống. Họ vẫn nói “Đi Sài Gòn”, như một lời thì thầm của ký ức, một sự phản kháng thầm lặng trước dòng chảy của thời gian. Cái tên ấy là ngọn lửa không tắt, là minh chứng rằng hòa giải không thể nở hoa trên mảnh đất mà một phần lịch sử bị chôn vùi.

Phường Sài Gòn?

Gần đây, có đề xuất đặt tên một phường ở Quận 1, là phường “Sài Gòn”. Ý tưởng này đã khuấy động những con sóng cảm xúc.

Thoạt đầu nghe qua có vẻ là một nhành ô liu, một cử chỉ tưởng như muốn xoa dịu nỗi đau của quá khứ, nhưng trong thực tế đó lại là một một sự sỉ nhục và ngạo mạn trá hình.

Sài Gòn, từng là đô thành, nay bị thu nhỏ thành một phường! Một mảnh vỡ bé nhỏ của chính mình.

Đối với những trái tim vẫn khắc khoải cái tên Sài Gòn, đây không chỉ là sự hạ thấp, mà là một vết thương mới, như thể ký ức của họ bị giam cầm trong một góc nhỏ của lịch sử.

Ý tưởng này (lấy một phường đặt tên Sài Gòn), chẳng những thiếu sự nhạy cảm, mà còn xây thêm một bức tường ngăn cách. Hòa giải không thể đến từ những hành động làm mờ đi những địa danh lịch sử.

Cần những sáng kiến trân trọng di sản Sài Gòn, những bảo tàng kể câu chuyện miền Nam, những con đường mang tên những anh hùng đã có công mở rộng bờ cõi và bảo vệ miền Nam, hay những không gian công cộng nơi mọi tiếng nói được cất lên. Chỉ khi ấy, Sài Gòn mới có thể trở thành biểu tượng của hòa hợp, chứ không phải chia rẽ.

Sau 50 năm hoà bình, từ nỗi đau mất tên Sài Gòn, đến đề xuất “phường Sài Gòn” đầy tranh cãi, đất nước vẫn đang tìm lối vượt qua những lằn ranh của quá khứ. Bài học từ người Anh và người Mỹ, với sự tôn trọng dành cho địa danh bản địa, như ánh sao dẫn đường, nhắc nhở rằng hòa hợp nên bắt đầu từ việc ôm lấy di sản của nhau.

Bằng cách mở rộng trái tim và trí óc, lắng nghe mọi tiếng nói của lịch sử, Việt Nam có thể chữa lành những vết thương chia rẽ. Hòa giải không phải là xóa bỏ khác biệt, mà là để những khác biệt ấy cùng ngân vang trong bài ca dân tộc.

Nguyễn Tuấn


 

Người sống sót sau cú rơi từ độ cao nhất – (nữ tiếp viên 22 tuổi Vesna Vulović)

My Lan Pham

  Vào tháng 1 năm 1972, một sự nhầm lẫn đơn giản trong việc sắp xếp lịch làm việc đã khiến nữ tiếp viên 22 tuổi Vesna Vulović có mặt trên một chuyến bay mà lẽ ra cô không phải phục vụ.

Bốn mươi lăm phút sau khi chuyến bay JAT Flight 367 rời Copenhagen, một quả bom giấu trong vali ở khoang hành lý phía trước phát nổ.

Chiếc máy bay không hạ độ cao từ từ. Nó vỡ tung ngay lập tức ở độ cao 33.000 feet, phía trên những dãy núi phủ băng của Tiệp Khắc.

Tất cả mọi người trên khoang bị hất văng vào không trung.

Ngoại trừ Vesna.

Cô đang làm việc ở phần đuôi máy bay khi vụ nổ xảy ra. Một xe đẩy thức ăn đập mạnh vào người, ghim chặt cô vào thân máy bay. Trong khi những người khác biến mất giữa tầng mây, cô bị mắc kẹt bên trong một đoạn thân kim loại đang rơi tự do.

Phần đuôi rơi xuống từ độ cao hơn 10 km. Nó va vào sườn núi dốc phủ đầy tuyết gần một ngôi làng nhỏ ,độ dốc và lớp tuyết đã hấp thụ đủ lực va chạm để phần thân  còn lại không bị phá hủy hoàn toàn.

Trong bóng tối của đống đổ nát, giữa sự im lặng của rừng cây, có thứ gì đó chuyển động.

Cô đang la hét.

Một người đàn ông địa phương tên là Bruno Honke ,  cựu quân y thời Thế chiến II  là người đầu tiên nghe thấy. Ông băng qua tuyết và đống xác máy bay, và tìm thấy một cô gái trẻ còn sống sót trong một hoàn cảnh mà không ai đáng ra có thể sống được.

Chấn thương của cô vô cùng nghiêm trọng: vỡ hộp sọ, gãy ba đốt sống, cả hai chân đều gãy. Các bác sĩ nói với gia đình rằng hãy chuẩn bị tinh thần cho điều tồi tệ nhất và kể cả nếu sống sót, cô cũng sẽ không bao giờ có thể đi lại.

Nhưng họ không biết Vesna Vulović là ai.

Sau 16 tháng phẫu thuật và phục hồi chức năng không ngừng nghỉ, cô đã tự mình bước ra khỏi bệnh viện. Những nhân viên y tế từng nghi ngờ khả năng sống sót của cô chỉ còn biết lặng im kinh ngạc.

Cô quay lại làm việc cho chính hãng hàng không đó.

Cô không bao giờ phát triển nỗi sợ bay.

Cô trở thành anh hùng quốc gia tại Nam Tư.

Và cô nắm giữ một kỷ lục tồn tại hơn 50 năm: người sống sót sau cú rơi từ độ cao lớn nhất mà không có dù được công nhận bởi Guinness World Records.

Sự nhầm lẫn đã đưa cô lên chuyến bay ấy lẽ ra có thể kết thúc cuộc đời cô trước khi nó thực sự bắt đầu.

Nhưng thay vào đó, nó đã mang đến cho thế giới một trong những câu chuyện sống sót phi thường nhất từng được ghi nhận.

Có những con người… đơn giản là chưa đến lúc kết thúc thúc

My Lan Pham


 

Nhà đầu tư tỷ phú kiện công ty tiền mã hóa của gia đình ông Trump, cáo buộc ‘cưỡng đoạt’ (BBC)

BBC Vietnamese

Ông Justin Sun tại một hội nghị về tiền điện tử vào năm 2025

Tác giả, Archie Mitchell

Vai trò,Phóng viên Kinh tế

23 tháng 4 2026

Công ty tiền mã hóa World Liberty Financial của gia đình Trump đang bị một trong các nhà đầu tư tỷ phú kiện vì cáo buộc cưỡng đoạt tài sản.

Ông Justin Sun đã cáo buộc World Liberty thực hiện một “âm mưu bất hợp pháp” để chiếm đoạt token WLFI – một loại tiền mã hóa do World Liberty Financial phát hành – của ông.

Ông Sun cáo buộc công ty, do Tổng thống Mỹ Donald Trump và con trai Eric Trump đồng sáng lập, đã “đóng băng” tất cả token của ông và tước quyền bỏ phiếu của ông về các vấn đề quản trị.

World Liberty đã phủ nhận các cáo buộc nói trên.

Công ty này tuyên bố rằng ông Sun “đóng vai nạn nhân trong khi đưa ra những cáo buộc vô căn cứ để che đậy hành vi sai trái của chính mình”.

Ông Sun là một người nhiệt thành ủng hộ Tổng thống Donald Trump và lập trường của ông Trump về tiền điện tử, nhưng cáo buộc “một số cá nhân” liên quan đến World Liberty đã hành động trái với các giá trị của tổng thống.

“Họ đã đóng băng tất cả token của tôi một cách bất hợp pháp, tước bỏ quyền bỏ phiếu của tôi đối với các đề xuất quản trị, và đe dọa sẽ đốt token của tôi, xóa bỏ vĩnh viễn – tất cả đều không có lý do chính đáng,” ông cho biết trong một bài đăng trên mạng xã hội thông báo về vụ kiện.

Ông Sun là người sáng lập một dự án tiền mã hóa hàng tỷ USD khác, TRON.

Ban đầu, ông đầu tư 45 triệu USD vào World Liberty và cho biết, có thời điểm, token WLFI của ông được định giá hơn 1 tỷ USD.

Kể từ tháng Chín, giá của một token WLFI đã giảm mạnh từ 31 cent xuống chỉ còn dưới 8 cent.

Ông Sun cho biết sự ủng hộ của ông xuất phát từ mối liên hệ của gia đình ông Trump với dự án và sự ủng hộ lâu dài của ông đối với tiền mã hóa.

Ông cũng đã mua 100 triệu USD tiền mã hóa meme (meme coin) của ông Trump vào tháng 7/2025.

Những người đồng sáng lập World Liberty bao gồm ông Donald Trump và ông Eric Trump

Tuy nhiên, ông Sun cáo buộc những người điều hành World Liberty, trong đó có một người đồng sáng lập khác là Chase Herro, đang sử dụng công ty này như một “cơ hội vàng để tận dụng thương hiệu Trump nhằm thu lợi bằng cách gian lận”.

Trong đơn kiện được đệ trình hôm 21/4 tại một tòa án liên bang ở San Francisco, ông Sun lập luận rằng những lời hứa ban đầu về việc cho phép người nắm giữ token có quyền giao dịch loại tiền này trong tương lai “là sai sự thật và gây hiểu lầm”.

Mặc dù các token nói chung đã có thể giao dịch được, ông Sun cho biết World Liberty đã ngăn cản ông bán bất kỳ token nào và hiện đang đe dọa sẽ đốt số này – nghĩa là xóa bỏ hoàn toàn.

Ông Zach Witkoff, một người đồng sáng lập khác của World Liberty và là con trai của ông Steve Witkoff – đặc phái viên Trung Đông của Tổng thống Trump – nói rằng vụ kiện của ông Sun là một “nỗ lực tuyệt vọng nhằm đánh lạc hướng sự chú ý khỏi hành vi sai trái của chính ông này”.

“Những tuyên bố của ông ấy hoàn toàn vô căn cứ, và World Liberty mong muốn vụ kiện sẽ sớm bị bác bỏ”, ông Zach Witkoff nói, đồng thời khẳng định ông Sun đã có “hành vi sai trái buộc World Liberty phải hành động để bảo vệ chính mình và người dùng của mình”.

Ông Eric Trump nói thêm: “Điều duy nhất nực cười hơn vụ kiện này là việc bỏ ra sáu triệu USD cho một quả chuối được dán băng keo vào tường.”

Năm 2024, ông Sun đã mua, rồi ăn, một tác phẩm nghệ thuật của Maurizio Cattelan gồm một quả chuối được dán băng keo vào tường.

Các nhà đầu tư cũng tỏ ý ngày càng lo ngại về việc World Liberty vay tiền dựa trên giá trị token của mình.

Trong khi đó, Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch (SEC) đã đình chỉ cuộc điều tra đối với ông Sun.

Thượng nghị sĩ Elizabeth Warren, một đảng viên Dân chủ, đặt câu hỏi liệu vụ việc có liên quan đến các khoản đầu tư của ông vào các dự án tiền điện tử của ông Trump hay không.

Ông Sun đã bị cáo buộc trả tiền cho những người có tầm ảnh hưởng lớn để quảng bá các công ty của mình trên mạng xã hội mà không tiết lộ các khoản thanh toán đó.

Trong một diễn biến khác, công ty của ông Trump đứng sau nền tảng Truth Social đã thay thế giám đốc điều hành Devin Nunes sau khi giá cổ phiếu giảm mạnh.

Ông Kevin McGurn, người từng làm việc tại Hulu, Vevo và T-Mobile, sẽ tạm thời tiếp quản vị trí của cựu nghị sĩ California.

Trong năm qua, giá cổ phiếu của Trump Media & Technology đã giảm gần hai phần ba do công ty này gặp khó khăn trong việc thu hút thêm người dùng ngoài tổng thống Mỹ, người thường xuyên sử dụng nền tảng này để đưa ra các thông báo.