LỄ THÁNH TERESA AVILA 15-10

From facebook:   Hoa Kim Ngo added 2 new photos — with Anhhong Laithi and 4 others.

LỄ THÁNH TERESA AVILA 15-10 

Hôm nay là ngày lễ Thánh Teresa Avila, thánh bổn mạng của Sương Quỳnh. Năm nào vào ngày này mình cũng về Dòng Cát Minh đi lễ. 
Tên Thánh Teresa Avila là do cha Giuse Đặng Chí San – cha đỡ đầu của mình đặt. Khi mình ra gặp Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt, ngài hỏi tên thánh của mình, mình kể cho Đức Cha nghe, ngài khen cha San khéo chọn tên cho mình. Một người nữa là cha Giuse Thoai Huu Dinh cũng rất thích tên Thánh của mình khi mình nói với ngài xin đặt tên Thánh là Teresa Avila – ngài và cha San là những người đầu tiên mình thổ lộ ước nguyện xin được rửa tội. Sương Quỳnh vinh hạnh được hai cha bề trên là cha Vincent Phạm Trung Thành và cha Giuse Hồ Đắc Tâm ban Bí Tích Thánh Tẩy và Thêm Sức trong đêm Vọng Phục Sinh năm 2015.
Thánh Teresa Avila viết nhiều sách, bà được phong làTiến Sĩ Giáo Hội. Sách của bà đã ảnh hưởng đến các nhà thần học, các thi hào và các nhà tư tưởng như Pascal, Malebranche, Leibnitz, cả Voltaire.
Hôm nay mình mua mấy cuốn sách do bà viết, để tìm hiểu thêm tư tường của bà.
Nguyện xin Thánh Teresa Avila luôn sáng soi và dẫn dắt con đi trên con đường YÊU THƯƠNG – THIÊN CHÚA.
Con xin làm nô lệ của Tình yêu
Con xin làm khí cụ của Tình Yêu
Để cho mọi người nhận biết Chúa yêu thương..
* Trích trong bài “Lậy đấng tình quân con tôn thờ…” của TG Ân Đức
Teresa Avila Sương Quỳnh

Image may contain: 2 people, text
Image may contain: 4 people, text
 
 

Y PHỤC XỨNG KỲ ĐỨC

 Y PHỤC XỨNG KỲ ĐỨC

Tin mừng hôm nay là sự nối kết của hai dụ ngôn “hai người con” và “các tá điền sát nhân” thành một đề tài giáo huấn về tính phổ quát của ơn cứu độ, con người cần phải thống hối, ăn năn, hoán cải, phục thiện, phải cố gắng không những vào số những người được gọi, mà còn phải vào số những người được chọn nữa, bởi lẽ gọi thì nhiều mà chọn thì ít.

  1. Tính phổ quát của ơn cứu độ

Câu chuyện Tin mừng gồm hai phần rõ rệt.  Nhà vua mời thực khách dự tiệc cưới của hoàng tử (câu 1-10) và người khách không mặc y phục lễ cưới (câu 11-14).

  1. Điều khó hiểu

– Thái độ của khách mời: Bình thường khi được các bậc vị vọng mời dự tiệc, khách được mời sẽ rất hãnh diện.  Ở đây nhà vua mời dự tiệc cưới của hoàng tử.  Vậy mà các khách được mời đều từ chối.  Thánh Mátthêu ghi lại hai lý do: “người thì đi thăm trại, người thì đi buôn bán.”  Họ khước từ vì lo làm ăn và hưởng thụ cá nhân.  Họ bận rộn, mải mê kiếm sống, không còn giờ cho tình người.  Một số khách được mời nóng nảy quá khích, đã không dự tiệc vua mời còn bắt đầy tớ của vua, đánh đập, sỉ nhục và giết chết.

– Hành động của ông vua: Ông mời khách đến mấy lần, mời đi mời lại, năn nỉ họ tham dự.  Ông còn tỏ ra hào phóng là thu nạp mọi người, bất luận tốt xấu, giàu nghèo.  Thế nhưng, khi thấy một thực khách không mặc y phục lễ cưới ông ra lệnh trói chân tay, bỏ vào nơi tối tăm bên ngoài mà khóc lóc nghiến răng.  Người đọc cảm thấy thật khó hiểu: những người đang ở ngoài đường đột nhiên được mời vào dự tiệc cưới thì làm sao có sẵn áo lễ mà mặc?

  1. Ý nghĩa dụ ngôn

Nên nhớ, đây là một dụ ngôn nằm trong chuỗi ba dụ ngôn theo cùng một chủ đề mà Chúa Giêsu kể cho các thượng tế, và kỳ mục Do thái khi họ đến chất vấn Người về thẩm quyền của Người (x. Mt 21,23). Hai Chúa Nhật trước qua hai dụ ngôn “hai người con” (21,28-32) và “các tá điền sát nhân” (21,33-43). Dụ ngôn “tiệc cưới” (22,1-14) là câu trả lời cho những thái độ của các thượng tế và Pharisiêu.  Thiên Chúa ban hạnh phúc Nước Trời trước tiên cho dân Do Thái, nhưng họ đã từ chối vì chuộng những giá trị trần gian hơn; Thiên Chúa lại ban hạnh phúc ấy cho muôn dân.  Tuy nhiên, cũng như người dự tiệc cưới phải mặc áo cưới, tượng trưng cho cách sống.  Những người được mời gia nhập Nước Trời cũng phải có một nếp sống mới phù hợp với Tin Mừng.

  1. Được mời dự tiệc là niềm vinh dự và là hạnh phúc

Người Do Thái được Thiên Chúa tuyển chọn làm dân riêng của Ngài để chuẩn bị ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại.  Thế nhưng họ đã từ chối đặc ân.  Họ thờ ơ, không đếm xỉa gì đến lời mời gọi dự tiệc cưới: người thì đi thăm trại, kẻ thì đi buôn, người khác thì bắt đầy tớ nhục mạ và giết đi…

Con người có thái độ thờ ơ, lãnh đạm và coi thường như thế bởi vì họ không yêu mến Thiên Chúa, không cần Thiên Chúa.  Nếu yêu thương, tôn trọng người chủ tiệc thì chắc chắn cho dù có vướng bận đến đâu họ cũng sẵn sàng sắp xếp công việc, thời gian để đi dự tiệc.  Được mời là một vinh dự, nhưng đáp lời mời là biểu lộ tình cảm của bản thân dành cho gia chủ.  Cũng thế, Thiên Chúa mời gọi con người vào hưởng hạnh phúc Nước Trời là do tình yêu của Ngài dành cho nhân loại, còn đáp lời mời này để hân hoan tiến vào Nước Chúa là lời đáp trả tình yêu của con người với Thiên Chúa.

Thiên Chúa mời con người đến tham dự tiệc cưới.  Tiệc cưới là tiệc vui tươi, chúc mừng tình yêu của cô dâu chú rể.  Chúa Giêsu là chàng rể, Giáo hội là cô dâu.  Thiên Chúa đã mời gọi các Kitô hữu đến bàn tiệc để chia sẽ niềm vui và hạnh phúc vĩnh cửu với Ngài (GLCG # 1384).

Được mời và đón nhận lời mời là một biểu lộ của tình yêu từ hai phía, Thiên Chúa và con người dành cho nhau.  Thế nhưng, trong cuộc sống Kitô hữu ngày hôm nay, thái độ từ chối Thiên Chúa, thờ ơ với lời mời gọi của Ngài vẫn còn tiếp diễn nơi nhiều người.

Dụ ngôn tiệc cưới luôn mang tính thời sự.  Những người từ chối dự tiệc cưới đã viện dẫn nhiều lý do chỉ vì họ không muốn đến.  Những người không tham dự Thánh Lễ ngày Chúa nhật cũng có rất nhiều lý do để biện minh.  Người ta có trăm ngàn lý do để từ chối lời mời tha thiết của Chúa đến dự bàn tiệc Thánh Thể, bàn tiệc Lời Chúa.  Nào là chuyện gia đình, bạn bè, chuyện làm ăn, chuyện học hành, chuyện giải trí, chuyện tương lai… nào là quá bận rộn không có thời gian.  Có khi chỉ là một cuốn phim đang xem, một trận đá bóng trên tivi, một bữa nhậu… nhiều người đã bỏ lễ Chúa nhật.

Người ta nại vào rất nhiều lý do từ công ăn việc làm đến những lý do bận rộn với những sinh hoạt xã hội để từ chối các sinh hoạt đạo đức, từ chối tham dự Thánh Lễ.  Người ta nại đến nhiều lý do, nhiều hoàn cảnh khó khăn để từ chối gặp gỡ, đón nhận Chúa qua anh chị em chung quanh, để khước từ sống giới răn yêu thương của Chúa.

Là Kitô hữu, chúng ta cần xét mình về thái độ của bản thân trước những lời mời gọi dấn thân vì Nước Trời, vì tha nhân của Chúa.  Đừng lấy lý do tôi quá bận rộn với công việc làm, với gia đình mà không dành giờ cho Thiên Chúa, không dành giờ cho Nước Trời, không dành giờ lo đến linh hồn mình.  Bận rộn chỉ là bình phong che đậy những lười biếng, những ích kỷ.  Đừng hỏi tôi có bận hay không, nhưng hãy hỏi tôi có muốn hay không?  Vì lòng muốn sẽ thắng vượt mọi trở ngại, mọi toan tính.

Thánh lễ chính là tiệc cưới Nước Trời mà Thiên Chúa thiết đãi cho chúng ta hưởng nếm trước hạnh phúc, vinh quang và sự sống thần linh.  Vậy chúng ta hãy dẹp bỏ đi mọi lo toan của công việc, mọi vướng bận của cuộc sống đời thường để hân hoan tiến đến tham dự bàn tiệc Thánh Thể.  Sau khi đã vui hưởng Tiệc Thánh, mỗi người sẽ thêm nghị lực, thêm niềm tin, thêm tình yêu.

  1. Đến dự tiệc cưới phải mặc áo cưới.

Muốn tham dự tiệc cưới, vào bàn tiệc chưa đủ mà còn phải mặc y phục cho thích hợp.  Y phục đó tượng trưng cung cách sống đạo, trang phục bằng những đức tính và tinh thần của Đức Kitô.  Là người Kitô hữu, cần sống cho xứng đáng với danh hiệu Kitô hữu mới được vào Nước Trời.  Ân sủng không chỉ là một quà tặng mà còn là một trách nhiệm phải chu toàn.

Chiếc áo cưới vào dự tiệc Nước Trời chính là ơn Thánh tẩy của Bí tích Rửa Tội.  Ngày chịu phép rửa tội, tất cả mọi Kitô hữu được nhắn nhủ: “Con đã trở nên tạo vật mới và đã mặc lấy Đức Ktiô.  Chiếc áo trắng này là dấu chỉ tước vị của con.  Nhờ lời chỉ bảo và gương lành của thân nhân giúp đỡ, con hãy mang nó tinh tuyền mãi cho đến cõi trường sinh.”

Mỗi một Kitô hữu đều có một bộ y phục lễ cưới, đó là chiếc áo tắng ngày chịu phép Rửa tội.  Chiếc áo trắng ấy là tâm hồn thanh khiết của những người con cái Chúa đã được tẩy trắng trong máu Con Chiên.  Chiếc áo trắng ấy được dệt bằng sợi tơ Lời Chúa mà người tín hữu phải nâng niu, gìn giữ suốt cuộc đời.  Chiếc áo trắng ấy phải tinh tuyền cho đến ngày bước vào dự tiệc cưới trong Nước Trời.

Có người đã vào phòng tiệc mà vẫn bị mời ra, vì không mang y phục lễ cưới.  Có người theo đạo mà vẫn không được vào Nước Trời vì họ đánh mất chiếc áo trắng ngày Rửa tội.  Theo ý kiến của một số giáo phụ, chiếc áo cưới ám chỉ đức ái, tối thiểu là cuộc sống ăn ngay ở lành.  Còn theo ý kiến của các nhà chú giải Kinh Thánh hiện đại, thì chiếc áo cưới ám chỉ sự hoán cải hay sự trở về, tức là tinh thần sám hối chân thật.  Như thế, chiếc áo cưới ám chỉ sự hoán cải tâm hồn, một tâm hồn trong sạch, một tấm lòng bác ái yêu thương và một đức tin vững mạnh.

Đành rằng “chiếc áo dòng không làm nên thầy tu”, nhưng qua cách ăn mặc cũng chứng tỏ cho người khác thấy phần nào con người của mình.  Khi đến thăm gia đình của người bạn với quần áo lịch sự, chứng tỏ rằng chúng ta kính trọng người bạn đó.  Khi đến nhà thờ dâng thánh lễ ngày Chúa nhật, chúng ta mặc y phục đẹp nhất của mình, chứng tỏ mình kính trọng Thiên Chúa, tôn trọng anh chị trong cộng đoàn, và biểu lộ sự tự trọng đối với chính bản thân mình.

Quần áo bề ngoài xã hội như vậy, nhưng còn y phục của tinh thần và linh hồn nữa.  Mỗi lần đến tham dự bàn tiệc Thánh Thể, chúng ta cũng phải mặc lấy y phục phẩm hạnh của bàn tiệc mà Chúa Giêsu đòi hỏi.  Y phục của lòng tin, cậy, mến.  Y phục của lòng ăn năn sám hối và sự kính trọng đối với Thiên Chúa.

Y phục phải xứng với kỳ đức.  Chiếc áo cưới của Kitô hữu không được dệt bằng lụa là gấm vóc, không được mua từ hàng hiệu đắt tiền nhưng chính là lòng khiêm hạ, lòng tin, lòng cậy, lòng mến Chúa, lòng mến đối với mọi người.

****************************** *******

Lạy Chúa Giêsu, xin cho con biết con, xin cho con biết Chúa.  Xin cho con chỉ khao khát một mình Chúa, quên đi chính bản thân, yêu mến Chúa và làm mọi sự vì Chúa.  Xin cho con biết tự hạ, biết tán dương Chúa và chỉ nghĩ đến Chúa.  Ước gì con biết hãm mình và sống trong Chúa.  Ước gì con biết nhận từ Chúa tất cả những gì xảy đến cho con và biết chọn theo chân Chúa luôn.

Xin đừng để điều gì quyến rũ con, ngoài Chúa.

Xin Chúa hãy nhìn con, để con yêu mến Chúa.

Xin Chúa hãy gọi con, để con được thấy Chúa.

Và để con hưởng nhan Chúa đời đời.  Amen!  (Thánh Augustinô)

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Cái miệng…

From facebook:  Van Pham
 

Hạn hán chúng không xả nước cho dân trồng cấy…. Mưa to, giông lớn chúng thi nhau xả đập giết chết bao sinh mạng người dân và tài sản bị cuốn trôi, chúng bao biện “đúng quy trình”…. Vỡ đập thì chúng lươn lẹo là “vỡ đúng kế hoạch”.

Nay đăng lại bài viết dướiđây để thấy cái miệng khốn nạn của chế độ CSVN hiện nay còn đê tiện hơn “Miệng Quan, Trôn Trẻ” thời xưa gấp bội!!!
***************

Phiếm luận…. Tiểu Tử.

Cái miệng…

Cái miệng có hai chức năng chánh: ăn và nói. Xưa nay ít có ai để ý đến những chức năng phụ của cái miệng – tiếng là phụ nhưng cũng không kém phần quan trọng – như : ngáp, ợ, ho, khạc, thở khi nào bị nghẹt mũi v.v… Có lẽ tại vì nó…hạ cấp quá nên bị coi thường ! Và cũng tại vì có sự coi thường đó mà người ta chỉ chú trọng dạy trẻ con học ăn học nói thôi. Thành ra, lớn lên, phần đông ngáp ơi ới không che miệng, ợ ồng ộc nghe chỏi lỗ tai, ho thẳng vào mặt người đối diện, còn khạc nhổ thì tùm lum bất cứ chỗ nào…Trong chuyện phiếm này, tôi cũng theo “truyền thống” để chỉ viết về hai chức năng ” ăn và nói ” của cái miệng.

Ăn…Từ hồi còn nằm trong bụng mẹ, con người đã biết ăn ( Ông Trời sanh ra như vậy ! ) Mới lọt lòng, không ai dạy, kề vú vào miệng là đã biết…đớp (Về sau, khi đã thành nhơn, có đòi đớp như hồi bêbê là một…cái gì khác chớ không phải là ăn ! ) Thành ra ” ăn ” là một bản năng. Hễ đói là tự nhiên phải kiếm cái gì ăn, chưa biết rằng không ăn lần hồi rồi sẽ chết ( Ăn…hối lộ không nằm trong ” diện ” tự nhiên trời sanh này ! ) Khái niệm ” chết vì không có gì ăn hay có mà ăn không được ” chỉ đến với con người khi con người có đủ trí khôn. Khỗ nỗi, khi có đủ trí khôn, con người lại đòi ” ăn ngon “, biết chê biết khen, biết chế biến món này món nọ để ăn cho ” khoái khẩu “. Cái ” ăn “, vì vậy, đã chiếm…đỉnh cao của trí tuệ loài người, đến nỗi có câu “dĩ thực vi tiên” ( ăn trước đã ! ) và ở Việt Nam miền nào cũng quảng cáo rầm rộ ” món ăn đặc sản ” để làm…chảy nước miếng du khách ( Ở Hà Nội bây giờ “chảy nước miếng hay chảy nước dãi ” được gọi là ” toát mồ hôi lưỡi ” ! Từ ngữ cách mạng vốn…trừu tượng ! ) Trên thế giới, ngành du lịch xứ nào cũng giới thiệu thật nhiều về ” cái ăn ” ngay sau khi cho xem phong cảnh hùng vĩ hữu tình. Để thấy cái miệng tuy nhỏ xíu như vậy mà đã…đẻ ra chữ ” ăn ” thật to tổ chảng !

Trong từ ngữ thông thường, chữ ” ăn ” lúc nào cũng thấy như người lãnh đạo, nghĩa là đứng trên đứng trước nhiều chữ diễn tả một hành động một sự kiện – không biết để làm gì nhưng vẫn phải…đứng trên đứng trước ! – Ví dụ như ” ăn quịt, ăn gian, ăn trộm, ăn cướp” v.v…Tiếng ” ăn “…ăn nhậu gì với những chuyện ” quịt, gian, trộm, cướp “, vậy mà phải có lãnh đạo ” ăn ” vào đó nghe nó mới…xuôi lỗ tai ! Rồi thì…ăn tùm lum, lúc nào ở đâu cũng thấy ăn: ăn giỗ, ăn cưới ( Hồi xưa còn nói “ăn đám ma ” nữa ! ) ăn khánh thành, ăn lên lon, ăn Tết, ăn đầy tháng , ăn thôi nôi, ăn…hối lộ v.v…Chỉ có ” ăn ” thôi, vậy mà cái miệng sao mà ” lắm chuyện ” !

Bây giờ, xin nói đến ” nói “.

Con người nếu sống một mình chắc không cần phải biết nói ! Thật vậy, biết nói để nói với ai ? Rồi, bởi vì con người cần sống với con người nên mới phải “nói ” để hiểu nhau. Mới đầu nói bằng…tay chân ( bây giờ gọi là ” ra dấu ” ) Lần hồi, chắc ra dấu…mỏi tay nên mới bày đặt tiếng nói ( Dầu sao, mỏi miệng vẫn…dễ chịu hơn mỏi tay ; cái trí khôn của con người bắt đầu…ló dạng ! ) Cái miệng , ngoài chức năng ” ăn ” của Trời cho, bây giờ có thêm chức năng ” nói ” do con người đẻ ra vì muốn người khác hiểu mình nghĩ gì muốn gì.

Con người mới sanh ra chưa biết nói, chỉ biết khóc ! Các nhà văn gọi đó là ” tiếng khóc chào đời “. Hay quá ! Thật vậy, nếu không có tiếng khóc thì làm gì có tiếng nói ? Rồi từ chỗ ” oa oa ” đó ọ ẹ riết rồi cũng ra chữ ra câu. Người ta dạy trẻ con học nói cho đúng cách, học nói cho có lễ độ, học nói cho thanh tao. Có một điều lạ là những tiếng…chửi thề chẳng thấy ai dạy mà sao ai ai cũng biết và biết sử dụng đúng nơi đúng lúc một cách ” tài tình ” ! Ngoài những từ ngữ thông dụng – không kể chửi thề, dĩ nhiên – Nhà Nước Việt Nam còn dạy trẻ con hô khẩu hiệu, nói những lời ” dao to búa lớn ” theo…phong cách xã hội chủ nghĩa, nghĩa là nói để cho có nói chớ không phải nói để cho người khác hiểu mình nghĩ gì muốn gì. Cái “nói” – một chức năng của cái miệng – cũng bị làm…cách mạng ! Than ôi !

Nói về ” nói “, con người nói thôi…đủ thứ. Nào là ” nói thánh nói tướng “,” nói láo nói phét “, ” nói hành nói tỏi “, ” nói trăng nói cuội “…Rồi ” nói phang ngang bửa củi “, ” nói dộng trong họng người ta”, ” nói trên trời dưới đất “, ” nói mà cái miệng không kịp kéo da non “, ” nói như con két “…v.v.. Cái miệng nói nhiều hơn ăn, bởi vì ăn no rồi là không ăn được nữa chớ còn nói thì có bao giờ bị…no nói đâu để mà phải ngừng ?

Tóm lại, cái miệng là để ăn và để nói. Vậy mà chính cái miệng nó “hành” con người. Ông bà mình hay nói :” Bịnh từ miệng mà vào, Vạ từ miệng mà ra “. Đúng quá ! Tại vì mình ăn mới đem mầm bịnh vào người và tại vì mình nói mới đụng chạm sanh chuyện. Biết như vậy nhưng làm sao con người sống mà không ăn không nói ?

Ở Việt Nam, Nhà Nước ta đã thấu triệt cái ” chân lý ” vừa kể cho nên đã…phân loại cái miệng : miệng của nhân dân và miệng của Nhà Nước. Cái miệng của nhân dân là cái miệng ” ăn ” còn cái miệng của Nhà Nước là cái miệng ” nói “. Nhà Nước ” quản lý ” cái miệng ăn nên chỉ cho ăn vừa phải, đúng tiêu chuẩn, để nhân dân đừng…bị bịnh ! ( Bệnh từ mồm mà vào, đúng thế đấy…Ta đã học tập và triển khai cái chân lý ấy từ thời…không có gì để ăn cơ ! ) Còn ” nói ” thì nhân dân không nên nói, bởi vì ” nói ” là mang vạ vào thân đấy thôi. Để Nhà Nước nói, bởi vì Nhà Nước, đã là đỉnh cao trí tuệ của loài người, biết nói thế nào để không bao giờ phải…mang vạ vào thân. Và bởi vì cái miệng của Nhà Nước là loại miệng nói không sợ…mòn, không phải tốn tiền mua và dự trữ đồ phụ tùng thay thế. Cho nên đừng ngạc nhiên sao ở Việt Nam chỉ nghe có Nhà Nước nói và nói không bao giờ…ngừng ! Ngoài ra, Nhà Nước vì thương dân nên khi thấy dân há miệng định nói là đưa tay bịt miệng ngay kẻo dân mang vạ vào thân, tội nghiệp ! Một cử chỉ…đẹp như vậy mà thiên hạ cứ…vo tròn bóp méo !

Nếu ” ăn ” là để sống thì ” nói ” là để cảm nhận rằng mình đang sống. Vậy mà người dân Việt Nam chỉ được phép dùng cái miệng để ăn thôi…

No automatic alt text available.
 

 

THẾ À!

THẾ À!


   Có một cô gái con nhà danh giá gần chùa bị chữa hoang, nên gia đình cô xem đây là việc xấu hổ, cha cô tra khảo, đánh đập rất bạo. Ban đầu cô định quyết tâm không khai nhưng sau đó cô thiết nghĩ nông cạn rằng khai đại thiền sư Hakuin ở chùa gần nhà là khỏe nhất. Vì thiền sư vốn nổi tiếng, đông đệ tử, ai cũng kính trọng, hơn nữa thiền sư vốn từ bi nên không chối, không kiện ngược hay làm khổ cô. Thế là cô khai đứa con ấy là con của thiền sư.

   Gia đình cô tức giận nhưng kiên nhẫn chờ đứa con được sinh ra buộc cô gái phải mang tới trả cho thiền sư.

   Khi gia đình cô mang đưa bé tới thả vào tay thiền sư và bảo: “Đấy, con của ông đấy, ông giữ mà nuôi lấy, đồ đạo đức giả”.

   Hakuin: “Thế à!”

   Thông tin  được loan ra và dân chúng dị nghị, nghi ngờ, xầm xì, khinh thường. Họ cho rằng ông ấy mà tu hành gì, đồ đạo đức giả… rồi đệ tử cũng dần dần bỏ ra đi gần hết.

   Không có sữa cho đứa bé, đệ tử xa lánh nên đích thân thiền sư phải bồng đứa bé ngày ngày đi xin sữa, bị người đời chê bai, dè bỉu.

   Một thời gian, cô gái thấy điều ấy thật nhẫn tâm và tội lỗi nên quyết tâm nói ra sự thật. Cô khai đứa bé đó là con của cô và chàng bán cá tanh hôi ở chợ.

   Cha mẹ cô nghe xong liền hoảng hốt, cảm thấy tội lỗi vô cùng nên tức tốc dẫn con gái tới chùa dập đầu sám hối với thiền sư và xin cháu về.

   Thiền sư nghe xong, bảo: “Thế à!”.

   Sự tình câu chuyện lại được loan ra và dân chúng cũng như đệ tử cảm phục đức nhẫn nhục và tâm lượng thản nhiên tốt đẹp của thiền sư nên lần lượt kéo về và danh tiếng lại hơn xưa.

MAO TRẠCH ĐÔNG.

 

From facebook:Thư Hiên Vũ shared a memory.
 

Xúc phạm Mao Chủ tịch vĩ đại, “người thầy của tất cả chúng ta” (Hồ Chí Minh), thì Trần Mạnh Hảo mới bị cho lên bờ xuống ruộng còn là may. Đã ở trong tù rồi, tôi còn bị những người cầm cân nảy mực đay nghiến nhiều lần, hứa hẹn cho “tù mọt gông” (sic) vì nên cạnh các tội mắc phải có cả tội dám gọi lãnh tụ họ Mao của họ là “Mao xếnh xáng”!

 
 
 

Trần Mạnh Hảo xin post lại bài thơ “MAO TRẠCH ĐÔNG” đã làm mình phải lên bờ xuống ruộng vì tội dám nói xấu Mao chủ tịch, người cha của cộng sản Trung Hoa – một bạo chúa đã giết hại hàng trăm triệu đồng bào mình chỉ vì ngu dốt, ảo tưởng và độc ác, áp đặt thiên đường cộng sản lên địa ngục Trung Hoa thời ông ta cai trị. Chủ nghĩa Mao đã gieo độc hại tang thương, nhồi da xáo thịt lên đất Trung Hoa, Việt Nam, Triều Tiên, Rumani, Anbani…và nhiều nước khác. Mao đã xúi cộng sản Việt Nam đánh Mỹ, đuổi Mỹ đi cho Mao dễ bề chiếm Biển Đông và Đông Nam Á
bằng khẩu hiệu diệt chủng dân Việt như sau : “Chúng ta sẽ đánh Mỹ tới người Việt Nam cuối cùng”.

MAO TRẠCH ĐÔNG.

Thơ Trần Mạnh Hảo.

Đề từ : ” Bác Mao không ở đâu xa
Bác Hồ ta đó chính là Bác Mao” ( Thơ Chế Lan Viên -1956)

Trán Người cao hơn nghìn núi sọ 
Mặt Người mênh mông hơn niềm hư vô thần linh 
Tháng chạp Hồ Nam tuyết rắc đầy lông cáo 
Sông Dương Tử ám như ma dìm chết đuối Động Đình

Người pha tư tưởng thành máu mực 
Loãng tâm hồn cháo huyết Trung Hoa 
Xã tắc đựng vừa tay nải 
Hành khất máu xương hề 
Người cái bang hề vĩ đại 
Cân hàng triệu sinh linh trên một chiếc cân ruồi

Vĩ nhân Diên An 
Đâu những đám mây ròng ròng phép lạ 
Có lời Người bàn 
Cá cũng hoá thành chim

Giang Thanh – Em – Nền Văn Nghệ mới 
Duy vật đôi mông nàng là biện chứng mù sương 
Lịch sử – con chiến mã Người phi nước đại 
Quất ngọn roi giai cấp hoá thiên đường

Cách Mạng là công cuộc bắt bướm 
Bắt sạch bướm trong giấc mơ thiên hạ 
Khinh bọn mây trắng phi lập trường, phi hiệu quả 
Con trâu điếc Lão Đam mê đàn Đông Phương Hồng 
Người xin thề với mênh mông: 
– Không đi chung đường cùng chim sẻ!

Vầng trăng Hạ Cơ điên đầu trời bể 
Thích thằng Cuội thủ dâm tư tưởng chị Hằng 
Người – bông lau đen đêm quạ trắng 
Người đếm cát Gô-Bi trong bão thốc trường thành 
Bão tuyết nuôi bạc đầu Bột Hải 
Thèm đập vỡ sọ người tìm mâu thuẫn trời xanh!

Máu Trung Hoa trắng rợn da ngựa 
Cho thuỳ dương xoã hết tóc Đường Thi 
Người mắc bệnh nghi mình là tượng 
Cả Trung Hoa lên cơn nghiền lý tưởng 
Người cầm cơn hồng vệ binh như cầm một tách trà 
Hoàng Hà đỏ đổ từ trời như bị cắt tiết

Tư duy là trò chơi chán chết 
Làm mặt trời hay hơn làm thơ 
Thử lấy máu tạo phản trò nước mắt 
Tiếc không Tần Thuỷ Hoàng toạ một ván cờ 
Buồn trời đất chỉ sinh mình Gia Cát 
Cười mẩu đại bàng cao hơn Thái Sơn

Đêm hồn Người chớp liên hồi như đạn hoả mai Thái Bình Thiên Quốc 
Đêm Hồ Nam khét lẹt tiếng mèo gào 
Phải ăn sạch giấc hoè thiên hạ 
Tuyết trái mùa làm đất mọc lông mao…

Sài Gòn 27-2-1994

T.M.H.

Image may contain: 1 person

Thắng-Thua

From facebook:  Van Pham
GÓC SUY GẪM…

Thắng-Thua

Có một hòa thượng lên núi chặt củi, trên đường trở về, ông phát hiện cậu thiếu niên nọ đã bắt được một con bướm và đang cố gắng khom hai bàn tay lại để giữ cho nó khỏi bay.
Nhìn thấy người tu hành, cậu cất lời: “Thưa hòa thượng, cháu và ngài đánh cược một ván được không?”

Hòa thượng hỏi lại: “Cược thế nào?”

“Ngài đoán xem con bướm trong tay cháu sống hay chết? Nếu ngài đoán sai, bó củi sẽ thuộc về cháu”, – cậu thiếu niên trả lời.

Vị hòa thượng nọ đồng ý và đoán: “Con bướm trong tay cháu chết rồi.”
Cậu thiếu niên cười lớn đáp: “Ngài đoán sai rồi.” Nói đoạn, cậu mở tay ra, con bướm từ trong bay lên.

Hòa thượng nói: “Được, gánh củi này thuộc về cháu.” Nói xong, ông đặt gánh củi xuống, vui vẻ bước đi.

Cậu thiếu niên không biết vì sao hòa thượng lại có thể vui vẻ đến như vậy nhưng nhìn gánh củi trước mặt, cậu ta cũng không để tâm lắm mà vui vẻ gánh gánh củi về nhà.

Nhìn thấy con về, người cha liền hỏi số củi đó ở đâu ra, cậu mới đem chuyện kể lại cho cha nghe.

Nghe hết câu chuyện của con trai, đột nhiên ông nói, giọng giận dữ: “Con ơi là con! Con hồ đồ quá rồi! Con nghĩ là mình đã thắng sao? Ngay cả khi con đã thua, con cũng không hề biết mình đã thua đấy.”

Lời cha nói khiến cậu con trai ngơ ngác, không hiểu gì. Người cha liền lệnh cho cậu ta gánh bó củi lên vai, hai cha con mang củi đến trả cho nhà chùa.
Nhìn thấy vị hòa thượng nọ, người cha liền cất tiếng: “Thưa thầy, con trai tôi đắc tội với thầy, xin thầy lượng thứ.”

Hòa thượng gật đầu, mỉm cười nhưng không nói gì.

Trên đường trở về nhà, cậu thiếu niên sau một khoảng thời gian băn khoăn cuối cùng cũng đã nói ra những nghi vấn trong lòng.

Người cha thở dài, nói: “Vị hòa thượng đó cố ý đoán con bướm chết, như thế con mới thả nó ra và thắng được gánh củi. Nếu ông ấy nói con bướm còn sống, con sẽ bóp chết con bướm và con cũng sẽ thắng cược. Con cho rằng vị hòa thượng đó không biết con tính toán gì sao? Người ta thua một bó củi nhưng đã thắng được thứ giá trị hơn rất nhiều, đó là lòng từ bi. Còn con, con đã thua, đã để mất thứ quý giá đó mà chẳng hề hay biết.”

Câu chuyện có thể rất đơn giản nhưng đó là bài học cho chúng ta trong cuộc sống. Thắng, thua, thành, bại là những chuyện thường xuyên giày vò cuộc sống của con người. Có những lúc chúng ta tự cho rằng mình đã thắng nhưng trên thực tế, có khi chúng ta đã thua nhiều hơn mà chẳng hề hay biết.

Image may contain: one or more people

Khách hàng đi 30 km chỉ để được đổ xăng ở cây xăng Nhật Bản

Khách hàng đi 30 km chỉ để được đổ xăng ở cây xăng Nhật Bản

Nhiều khách hàng sau khi sử dụng dịch vụ của cây xăng Nhật Bản Idemitsu Q8 đều bất ngờ về thái độ nhân viên.

Anh Nguyễn Anh Tuấn (Dương Nội, Hà Đông, Hà Nội) cho biết, khi biết thông tin cây xăng Nhật Bản Idemitsu Q8 đi vào hoạt động, anh đã cất công đi từ nhà đến tận cây xăng, dù khoảng cách là gần 30km chỉ để đổ xăng.

Anh chia sẻ: “Khi đến cây xăng thì xe ô tô báo nhiên liệu chỉ còn đủ để đi được 1km. Sau khi đổ xăng, anh thấy rất tin tưởng, yên tâm về số lượng xăng mình đổ, khác với khi đổ ở ngoài (trạm xăng khác – PV). Cảm giác đổ ở ngoài cứ cảm thấy thiếu xăng so với lượng tiền mình bỏ ra”.

20171011_142922

 

TỔ QUỐC TRÊN HẾT.

From facebook:   Hoang Le Thanh is with Phan Thị Hồng.
TỔ QUỐC TRÊN HẾT.

“Đất nước còn, còn tất cả. Đất nước mất, mất tất cả”.
Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu

TỔ QUỐC TRÊN HẾT. 
Cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã đặt đất nước ở vị trí cao nhất và ông chỉ tâm huyết về đất nước.

CHẾ ĐỘ “TA”, ĐẢNG “TA”.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Hợp lòng dân thì dân tin, chế độ ta còn, Đảng ta còn…”
Nguyễn Phú Trọng thì chỉ nói đến chế độ “ta” và đảng của ông ta; mà đảng chỉ là tập hợp của một nhóm người theo đảng đó.

*
Tham khảo: Báo Người Lao Động
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Hợp lòng dân thì dân tin, chế độ ta còn, Đảng ta còn…”
http://nld.com.vn/…/tong-bi-thu-nguyen-phu-trong-lam-hop-lo…

Image may contain: 3 people, text
 

ĐỨC MẸ FATIMA: Lời nhắn nhủ của Mẹ vẫn còn mang tính thời sự

J.B Lê Đình Nam

Ngày 13. 10 năm nay đánh dấu đúng 100 năm Đức Mẹ hiện ra ở Fatima.  Con cái Mẹ khắp nơi sẽ mừng kính sự kiện đặc biệt này trong tâm tình tôn kính và mến yêu Mẹ.  Đây là dịp để mỗi người chúng ta bày tỏ tâm tình của mình lên Mẹ, cũng như nhìn lại sứ điệp mà Mẹ gửi đến cho toàn thế giới cách đây 100 năm.

Sự hiện ra tại Fatima không chỉ có ý nghĩa sâu sắc về mặt tôn giáo, nhưng hơn thế sự kiện đó còn mang những thông điệp quan trọng đến với toàn nhân loại trên cả phương diện xã hội lẫn chính trị.

Tại Fatima cách đây 100 năm, qua sự hiện ra với ba đứa trẻ, Mẹ đã mang đến cho con người những lời cảnh báo kèm theo những yêu cầu cần thiết để cứu vớt nhân loại khỏi biến động bất an, tai họa chiến tranh và sự diệt vong.

Nhân dịp kỷ niệm 100 năm Đức Mẹ hiện ra tại Fatima, chúng ta được mời gọi nhìn lại những lời kêu gọi của Mẹ dưới một vài khía cạnh trong đời sống của mỗi người cũng như của toàn nhân loại hôm nay.

ĐỨC TIN

Đức tin là cội nguồn và khởi đầu cho mỗi người và là lời kêu gọi đầu tiên mà Mẹ gửi đến nhân loại tại Fatima.

Nhìn chung, đức tin của con người trên thế giới đang xuống dốc một cách nhanh chóng.  Tỷ lệ chối bỏ đức tin đang ngày một tăng cao, và các phe nhóm chống Giáo Hội ngày càng tinh vi dưới nhiều hình thức.  Đức tin Công giáo đang giảm sút đáng kể trên nhiều nước, đặc biệt là Âu Châu.

Con người dần dần chối bỏ Thiên Chúa, khước từ Tin Mừng, chạy theo những ngẫu tượng và tôn thờ các giá trị vật chất.  Không còn đức tin, con người đi đến sự lạc giáo, mê tín và ảo tưởng.  Điều này khiến cho các giá trị tâm linh cũng như nhân phẩm con người  bị đảo lộn và lệch lạc.

Nhìn lại mới thấy sứ điệp Mẹ cách đây 100 năm còn mang tính cấp thiết cho thế giới hôm nay.  Thật thế, con người cần đức tin thực sự để tin tưởng vào một điều gì đó.  Tin vào Thiên Chúa để nhận ra những giá trị căn bản nơi cuộc sống.  Tin vào Thiên Chúa để nhận ra mỗi chúng ta là anh em của nhau và là con cái của Thiên Chúa.

Đức tin hướng dẫn con người đến với những giá trị chân – thiện – mỹ.  Đức tin đưa ta về với Chúa là cội nguồn của tình yêu.  Và cũng chính đức tin đưa ta về với nhau trong tình nghĩa anh em con cùng một Chúa.

HOÁN CẢI

Hoán cải là lời kêu gọi thực sự quan trọng cho con người hôm nay.  Mẹ Maria đã nhiều lần nhắc lại rằng: con người cần phải hoán cải.

Sự phát triển của thế giới không những đưa con người đến sự xa lìa Thiên Chúa mà con mang lại cho con người sự tự cao tự đại.  Con người đang chối bỏ Đấng Tạo Hóa, đi vào con đường tội lỗi, và đề cao chính mình.

Đón nhận Thiên Chúa vốn dĩ không dễ thì hoán cải để trở về với Thiên Chúa lại càng khó khăn hơn.  Con người ngày một xa dần Thiên Chúa.  Bao lâu con người xa Thiên Chúa thì bấy nhiêu khó khăn cho sự hoán cải trở về.  Những hệ lụy đau thương của sự không hoán cải đang ngày càng thấy rõ nơi cuộc sống nhân loại hôm nay.

Con người cần sự hoán cải để trở về với cội nguồn của mình là Thiên Chúa, trở về với những giá trị nhân linh của con người.  Từ đó sự hoán cải đích thực đưa con người xích lại gần nhau trong tình huynh đệ và tình thương.

BÌNH AN

Bình an là điều mà ai cũng ao ước, cách riêng là giữa một thế giới nhiều hỗn loạn như hôm nay.  Mẹ đã kêu gọi mọi người chuyên chăm cầu nguyện cho sự bình an của con người và của toàn thế giới.

Con người đang đối điện với sự bất bình an bởi khủng bố, bạo lực và chiến tranh đang hoành hành khắp nơi.  Kỳ thị tôn giáo, phân biệt chủng tộc, cũng như chủ nghĩa vật chất đang đưa thế giới đến sự thờ ơ, lãnh đạm và ích kỷ.

Con người đánh mất Thiên Chúa, đồng nghĩa với việc đánh mất những giá trị cao cả nơi con người. Vật chất thay thế những giá trị luân lý.  Tình thương bị thay thế bằng hận thù.  Hòa bình bị phá hủy bởi bạo lực.

Bình an chỉ đến với con người khi con người biết tìm về cội nguồn bình an là Thiên Chúa.  Khi bình an con người sẽ đi đến với nhau bằng tình thương và lòng nhân ái.  Mang trong mình sự bình an thì bạo lực và chiến tranh sẽ không còn chỗ để ngự trị nơi con người và xã hội.

HY VỌNG

Con người hôm nay đang dần đánh mất nhiều phẩm giá tốt đẹp, nhưng trên hết đó là đánh mất hy vọng.  Niềm hy vọng cũng là lời mời gọi được Mẹ nhắc đến trong sự hiện ra tại Fatima.

Trước nhiều khó khăn và thử thách, con người dường như sống một cuộc sống không có tương lai, chẳng mong chờ gì trong ngày mai!  Cuộc sống nổi trôi một cách vô định, bỏ mặc cho hoàn cảnh và số phận.

Thế giới với quá nhiều biến động, kèm theo thiếu niềm tin vào một tương lai phía trước, con người đang sống một cuộc sống vô nghĩa, không mối tương quan.  Để rồi giữa những lúc bế tắc, con người chỉ nghĩ đến việc kết liễu đời mình trong sự tuyệt vọng.  Và thực tế cho thấy, xu thế tự tử đang tăng một cách đáng báo động ở nhiều nước phương Tây.

Thật thế, niềm hy vọng như là nguồn lực cho cuộc sống một lối đi.  Hy vọng đưa mục đích và ý nghĩa vào cuộc sống.  Hy vọng là sức mạnh đưa con người ra khỏi những vũng lầy của thất vọng và động lực đưa con người đến với nhau.  Hy vọng trong cuộc sống sẽ đưa con người đến với Đức Kitô là Niềm Hy vọng đích thực của mỗi người chúng ta.

Sư điệp của Mẹ tại Fatima vẫn luôn mang tính thời sự đối với con người và nhân loại hôm nay.  Mẹ đã mời gọi chuyên cần cầu nguyện.  Cầu nguyện cho con người biết ăn năn và sám hối, biết hoán cải để trở về với một sống đời sống đức tin sâu sắc, và luôn mang trong tình một tia hy vọng lớn lao.  Nhờ đó, tình nghĩa huynh đệ được triển nở và bình an được hiện hữu nơi mỗi con người cũng như trên toàn nhân loại.

 Sứ điệp của Mẹ không chỉ dừng lại đối với những người Công Giáo, nhưng đó là lời mời gọi được dành cho cả nhân loại hôm nay.  Tình hình thế giới và nhân loại vẫn nguy kịch như xưa.  Lời Mẹ kêu mời càng tha thiết hơn xưa.

 Trước tình cảnh đó, chúng ta được mời gọi thực hiện ngay lời dạy của Mẹ: hãy ăn năn sám hối, hãy siêng năng lần hạt Mân Côi, hãy tôn sùng đền tạ Trái Tim Đức Mẹ, và hãy dâng loài người cho Trái Tim Mẹ.

 J.B Lê Đình Nam

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến: Berlin Wall và những bức tường lòng

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến: Berlin Wall và những bức tường lòng

 

Du khách đi qua một đoạn của bức tường Berlin cũ ở thủ đô Đức. (Hình minh họa: Sean Gallup/Getty Images)

Khi còn bị bức tường Berlin phân chia, dân Ðức hay kể câu chuyện giễu sau:

“Có một con chó chui tường từ Ðông sang Tây. Thấy khách lạ nên lũ chó bên Tây Ðức xúm xít lại, tíu tít hỏi thăm:

– Bên ấy có hội bảo vệ súc vật không?

– Có chứ.

– Có bác sĩ thú y không?

– Có luôn.

– Có thẩm mỹ viện và nghĩa trang dành riêng cho chó không?

– Có tuốt.

– Thế thì việc gì đằng ấy phải vất vả chui tường sang đây?

– Tại vì bên ấy chúng cấm không cho… sủa!”

Tháng Chín, 1989, bức tường Berlin bị đập đổ. Dân Ðông Ðức được giải phóng. Từ đây, người được quyền ăn nói tự do, và chó có quyền… được sủa.

Ngày 3 Tháng Mười, nước Đức thống nhất được 27 năm. Ngày ấy người dân Đông Đức chẳng hề đao to búa lớn, chẳng đòi lật đổ hay đa đảng, họ chỉ hô to: Chúng tôi là nhân dân! (Wir sind das Volk) và lịch sử đã sang trang.- Nguyễn Thọ

Sự thống nhất nước Ðức về thể chế, cũng như về nhân tâm, tuy không phải là một tiến trình toàn hảo nhưng có thể được coi như là ổn thỏa – ngoại trừ đối với một số người. Họ là những di dân đến từ Việt Nam, theo như tường thuật của Alisa Roth – qua bài báo “Bức Tường Ô Nhục Vẫn Ngăn Chia Người Việt,” như sau:

“Người Việt vẫn đang là nhóm Á Châu lớn nhất tại thành phố Berlin. Những nguời được mệnh danh là người Việt miền Tây là những người miền Nam Việt Nam, hầu hết là thuyền nhân mà trong những năm tiếp theo chiến thắng 1975 của Cộng Sản, họ đã đổ đến những vùng bây giờ là Tây Ðức.

Còn nguời Việt miền Ðông là những nguời đến Ðông Ðức vào thập niên 1960 và 1970 cùng với các công nhân xuất khẩu từ những quốc gia Cộng Sản đang phát triển tới làm việc trong các nhà máy.

“…Cái cộng đồng nhỏ bé này hãy còn duy trì sự chia cắt với hai thế giới, hai phương trời cách biệt. Những ý thức hệ – từng xé nát nước Ðức và nước Việt Nam ra làm đôi – hiện vẫn còn luân lưu mạnh mẽ tại nơi đây…”

Nó “mạnh mẽ” tới độ khiến một người dân bản xứ phải thốt lên rằng: “Bức tường Berlin nằm trong đầu óc của người Việt miền Ðông với người Việt miền Tây còn cao hơn cả bức tường của người dân Ðức đối với người dân Ðức.” (“Berlin’s Divide Lingers For Vietnamese Expatriates Capital’s East – West Gap Reflects Cold War Past,” San Jose Mercury News, 12 Jul. 2002:A1/ Việt Mercury 12 Jul. 2002: 1 + 69. Trans. Nguyễn Bá Trạc.)

Nói như thế, nghe đã phũ phàng nhưng (vẫn) chưa… hết ý! Trong cuốn Tổ Quốc Ăn Năn của Nguyễn Gia Kiểng – ấn bản 2001, Paris, nơi trang 70 – tác giả còn trích dẫn nhận xét của một người ngoại quốc khác về dân Việt – như sau: “Ils ne s’aiment pas.” (Chúng nó không ưa nhau đâu).

Cha nội Parisien nào đó nói bậy bạ vậy mà… trúng phóc. Những phương tiện truyền thông và giao thông của thời hiện đại quả có làm cho trái đất nhỏ lại, và khiến cho loài người gần gũi với nhau hơn. Nhưng riêng với với dân Việt thì không. Nhất định là không.

Người ngoài có vẻ “hơi” ngạc nhiên về thái độ “rất kém thân thiện” của dân Việt đối với nhau, trên bước đường lưu lạc. Họ sẽ ngạc nhiên chết (mẹ) luôn nếu biết rằng những “bức tường ô nhục” tương tự hiển hiện khắp chốn, kể cả ở Việt Nam, chứ chả riêng chi ở Berlin.

Dù đất nước đã “thống nhất” từ lâu, dân chúng giữa hai miền Nam Bắc Việt Nam (rõ ràng) vẫn chưa gần nhau mấy. Đôi lúc, họ ăn ở cư xử với nhau cứ y như những kẻ phải sống trong một cuộc hôn nhân… cưỡng bách vậy.

Theo “truyền thống,” người Việt hay chia phe và họ thường nhìn nhau qua những “lỗ châu mai” từ những “pháo đài” của… phe mình. Họ hay gọi nhau là “tụi này” hay “tụi nọ” (tụi Công Giáo, tụi Phật Giáo, tụi Nam Kỳ, tụi Bắc Kỳ, tụi Trung Kỳ…). Gần đây, có thêm một “tụi mới” nữa – tụi… Bắc Cộng!

Và đó mới chỉ là những chuyện nhỏ, ở miền xuôi. Ở miền ngược, miền núi, hay còn gọi là miền cao, miền sơn cước (hoặc cao nguyên) thì còn nhiều chuyện… kỳ cục dữ nữa. Nơi đây, một phần dân tộc Việt vẫn chưa được nhìn nhận là người thường hay người Thượng. Họ bị coi là… “tụi mọi” và bị chính đồng bào mình (toa rập với cường quyền) cướp đoạt hết đất đai canh tác.

Nghèo đói quá hoá “sảng” chăng? Khổ cực quá, cùng quẫn quá, bị chèn ép quá nên đâm ra gấu ó, cấu xé lẫn nhau chăng? Không hẳn đã thế đâu.

Tại nước Ðức, ngay giữa một thành phố tự do và phú túc, “bức tường  Berlin nằm trong đầu óc của người Việt miền Ðông với người Việt miền Tây (vẫn) còn cao hơn bức tường của người dân Ðức đối với người dân Ðức” mà. Hơn nữa, như đã thưa, những bức tường lòng (ô nhục) tương tự hiển hiện ở khắp nơi chứ đâu có riêng chi ở Berlin.

Nơi đâu có người Việt quần tụ là tức khắc nẩy sinh những chuyện đố kỵ, chia cách, phân hoá, và đánh phá lẫn nhau túi bụi. Mỗi cộng đồng vẫn thường cần đến hơn một ban đại diện (dù tất cả những ban đại diện “dường như” không đại diện được cho bất cứ ai và cũng không mấy ai – thực sự- cần người đại diện).

Tương tự, mỗi hội đoàn đều có tới hai hay ba ông (bà) chủ tịch, dù cả hội đoàn đều không mấy ai biết rõ là họ hội họp lại với nhau để làm gì. Mọi tổ chức (không chóng thì chầy) nếu không vỡ tan tành thì cũng bể thành vài mảnh!

Người Nga có câu ngạn ngữ là nếu thiếu chó chăn, loài cừu không trở nên bầy đàn được. Cái khó của những cộng đồng người Việt hải ngoại là họ có dư loại chó này. Ðã thế, phần lớn, đều là… chó dại!

“Sự kiện vô vàn phi lý, cực độ vô nghĩa, và bất lợi không lường này, đang diễn tiến kết thành hiện tượng phân hoá hỗn loạn, phân liệt khắc nghiệt, chia rẽ trầm trọng giữa những cá nhân, nhóm cá nhân, cộng đồng người Việt” (Phan Nhật Nam, “Lời Khẩn Thiết Nhằm Chấm Dứt Hiện Tượng Phân Hoá”). Cũng theo tác giả bài báo vừa dẫn thì Cục Tình Báo Hải Ngoại, trực thuộc Ban Tổ Chức Trung Ương Ðảng Cộng Sản Việt Nam, là nguyên nhân gây ra những hiện tượng phân hoá tiêu cực kể trên.

Những nhân viên của Cục Tình Báo Hải Ngoại e không tài ba đến thế. Chợ chiều rồi. Chúng nó (nếu có) cũng chỉ lo đánh quả mà thôi và chuẩn bị để chạy thôi.

Thủ phạm không đến từ bên ngoài. Chúng phục sẵn trong “thâm tâm” của tất cả chúng ta.

Khi còn nhỏ, tôi nhớ là đã đọc ở đâu đó – qua lời kể của Schopenhauer – một câu chuyện ngụ ngôn mà nội dung (đại khái) như sau:

Có một mùa Ðông lạnh đến độ muốn tồn tại muôn loài đều phải xích lại thật gần nhau để truyền cho nhau hơi ấm. Chỉ riêng có loài nhím vì lông quá nhiều, quá nhọn và không cách nào thu lại được nên đành… chờ chết!

Dân Việt đang trải qua một mùa Ðông khắc nghiệt. Nếu chúng ta không vượt qua được những bức tường lòng hiện hữu, không xếp lại được những lông nhọn tua tủa tự mỗi người, và mọi phe nhóm đều nhất định “tử thủ” trong pháo đài của riêng mình thì (e) khó mà qua khỏi được cơn quốc nạn này. Vấn đề không phải là mùa Ðông sẽ kéo dài vô tận mà vì đất nước (cũng như lòng người) sẽ bầm dập, te tua, và tan nát, tanh bành – sau đó.

Ngày ấy em như hoa sen

HẠNH PHÚC LANG THANG – Ngọc Lan

httpv://www.youtube.com/watch?v=6iz45Qtuli4

Chuyện Phiếm đọc trong tuần 28 thường niên năm A 15/10/2017

 

“Ngày ấy em như hoa sen”
Mang nhiều giáng hiền những khi chiều lên,
Ngày ấy em như sương trong,
Nép trên bông hồng, mượt trên cánh nhung.”
(Trần Ngọc Sơn – Hạnh Phúc Lang Thang)

 (1 P 2: 19-212)

 “Em như hoa sen ngày ấy”, ư? Nói thế có quá đáng không? Bởi, hoa sen chỉ đẹp ở chốn bùn lầy nước đọng mà thôi. Còn em đây, đâu đến thế? Thôi thì, bạn và tôi ta cứ hát những ca-từ như bên dưới có lẽ lại hay hơn:

 “Ngày ấy em như cung tơ,
Cho đời thẫn thờ, cho tôi dệt mơ
Đường khuya tay đan ngón tay,
Ước cho đời ước mơ dài.

Nhưng năm tháng vô tình,
Mà lòng người cũng vô tình,
Rồi mộng úa thay màu xanh,
Người yêu xa bến mộng,
Đò xưa đã sang sông,
Dòng đời trôi mênh mông,
Dáng xưa nay xa rồi,
Đường khuya mưa rơi rơi,
Phố xưa quên một người,
Bàn chân gieo đơn côi,
Gió mang theo cơn lạnh
Về rót lệ trên môi.”

(Trần Ngọc Sơn – bđd)

Vâng. Có lẽ là như thế. “Nhưng năm tháng vô tình, Mà lòng người cũng vô tình, Rồi mộng úa thay màu xanh…” Ôi thôi, đời là thế. Đấy này, lòng người là như vậy. Như thế và như vậy, cũng chỉ là tình người ở đời, mỗi thế thôi.

Vâng. Tình đời là như thế. Cũng vẫn là vần thơ “Bàn chân gieo đơn côi”. “Gió mang theo cơn lạnh, về rót lệ trên môi.”

 

Vâng. Người đời là như vậy. Vẫn cứ “Yêu em say mê”, Nhưng “tình ái không xanh như thơ”, hệt như ca-từ còn diễn tả, ở bên dưới:

“Ngày ấy yêu em say mê,
Tôi nào nghĩ gì đến câu từ ly
Tình ái không xanh như thơ,
Đến chung hơi thở, rồi trôi rất xa.

Hạnh phúc lang thang như mây,
Cho hồn héo gầy, khi ta còn đây,
Từng đêm qua trong giấc mơ,
Vẫn mong chờ có em về.”

(Trần Ngọc Sơn – bđd)

Vâng. Thế đó là âm nhac. Thế nhưng, cuộc đời thường nhật có giống như thế không? Chí ít, là sau khi bạn và tôi phát-giác ra điều gì đó ở trong người? Phát giác rồi mới thấy rằng “cuộc sống bây giờ là hai mặt của một vấn-đề”, như tác-giả “tự truyện” ở bên dưới kể lại cho người đọc nghe những điều như sau:  

 Đừng nghĩ bạn còn cả cuộc đời để sống’

Mắc ung thư giai đoạn cuối, Scott Riddle đau xót vì không thể chứng kiến ba con lớn lên, và không biết cuộc đời phía trước sẽ thế nào. 

 Scott Riddle là nhân viên 35 tuổi của Google ở Sydney, ông bố của ba đứa con, tám tháng tuổi, ba và năm tuổi.

Ba tuần trước, anh nhận được tin mình bị ung thư ruột già giai đoạn cuối.

 

Anh đã chia sẻ câu chuyện của mình trên trang cá nhân và không ngờ có hơn 70.000 người đọc.

Scott đưa ra thông điệp, khiến nhiều người phải suy ngẫm: “Bạn đừng nghĩ rằng mình còn có cả cuộc đời để sống”.

 Dưới đây là trích lược những chia sẻ của Scott Riddle:

“Chỉ ba tuần trước, mọi thứ vẫn tuyệt vờicho đến khi tôi nhận thấy thinh thoảng máu chảy bất thường và có một số thay đổi về thói quen đường ruột. Bác sĩ  còn không nghĩ đó là ung thư và nói chỉ cần khám nội soi. Nhưng tôi đã làm thêm một số xét nghiệm. Khi biết mình đang mắc ung thư ruột già giai đoạn cuối, tôi cảm giác như một con sóng đang ập tới.

 Trong sáu tháng tới, tôi sẽ tiến hành hóa trị và có hai cuộc giải phẫu, cắt bỏ phần ruột và loại bỏ hai khối u từ gan.

Điều này đối với một người chưa bao giờ bị bệnh nặng là một nỗi ám ảnh cực kỳ lớn.

 Cuộc sống có thể thay đổi chỉ sau một đêm.

 Đột nhiên, tôi không thể chắc chắn có thể tham gia sinh nhật thứ năm của con trai, và có lẽ cũng sẽ chẳng tham dự được ngày kết hôn của con gái lớn.

 Tôi có lẽ sẽ không biết những gì con tôi muốn thay đổi. Tôi cũng đang phải vật lộn với những suy nghĩ tôi sẽ trông thế nào trong tương lai, cuộc sống sự nghiệp.

 Nếu tôi có thể sống sót qua việc này, chắc tôi khó có thể trở về thế giới cũ của mình, vì quan điểm sống của tôi đã thay đổi cơ bản. 

 Cuộc sống bây giờ là hai mặt của một vấn đề.

 Một mặt tôi phải lạc quan, phải tin rằng mình có thể đánh bại căn bệnh ung thư này. Mặc khác tôi cần chuẩn bị cho một kịch bản khi phẫu thuật không thành công, và tôi sẽ được cho biết: tôi còn bao nhiêu thời gian để sống.

 

Là chồng và cha của ba đứa trẻ, kịch bản đó rõ ràng đáng sợ, nhưng là một thực tế tôi cần chuẩn bị. 

 Tôi có nhiều thông điệp muốn gửi tới mọi người, từ câu chuyện của tôi, từ tầm quan trọng của những chuyến thăm khám bác sĩ định kỳ.

 Hãy đặt những vấn đề thực dụng sang một bên, dừng ngay ý nghĩ bạn còn có cả cuộc đời, để làm bất cứ việc gì bạn muốn.

 Và dĩ nhiên bạn sẽ không bao giờ nghĩ rằng những điều tồi tệ sẽ xảy ra với bạn. Nhưng hãy để tôi nói với bạn: mọi điều có thể xảy đến bất cứ lúc nào, nó có thể lấy đi tất cả mọi thứ. 

 

Vì thế, bạn hãy luôn nhớ những điều đó trong tâm. Và xin vui lòng, ngừng phàn nàn về những điều nhỏ nhặt” (Đề nghị, trích từ bài viết ở trên mạng)

Và, đề nghị trên vẫn luôn là những cảm-nhận, ta có được sau những giây phút suy-tư về đời mình và đời người. Đề-nghị này, thật đúng để ta áp-dụng từng ngày/giờ, chí ít là khi có những tư-duy này/khác vẫn thấy xảy đến với mọi người trong Đạo, như sau:

“Nhìn vào nhà Đạo, ai cũng thấy dân con Đạo Chúa hôm nay có cả hai hình thức sống là nói và làm. Nhiều lúc, ta chỉ nói và nói, chứ không làm. Lại có lúc, ta vẫn làm nhưng chẳng nói, dù một lời. Điều này làm mọi người nhớ đến nhân vật trong phim dài nhiều tập có đầu đề “Cha Phó Xứ Đạo Dibley” luôn bắt đầu câu nói của ngài bằng những tiếng “Không! không! và không!” để rồi sau đó kết thúc bằng chữ “Có”. Có làm thực. Có hợp tác.

 Và đôi lúc nghĩ lại thấy mình từng nói “Có! có! Nhất định sẽ làm”, nhưng cuối cùng vẫn thành: Không! Không làm. Và cũng chẳng làm điều mình từng nói từng hứa, giống nhiều người trong ta.

 Đi vào thực tế, giống câu truyện ở nhà thờ xảy ra vào cuối thánh lễ, các vị chủ tế có thói quen ra đứng ở cuối nhà thờ rồi nói năng/chào hỏi hết mọi người. Có lần nọ, vị linh mục chủ tế hỏi một giáo dân: tuần sau có đi lễ không đó? Rất nhiều người cứ trơn tru trả lời: “Dạ thưa cha, có chứ!” Thưa thì thưa “có”, nhưng các tuần sau đó lại khó mà thấy mặt vì nhiều lý do. Chính đó, là hiện trạng của người đi Đạo ở trời Tây, hôm nay.

 Hôm nay đây, có thể cũng có người lúc đầu tình thật không dám nói, nhưng sau đó suy đi nghĩ lại, vẫn cứ đến. Có người coi đây là chuyện linh mục không nên hỏi, vì ai mà dám thưa.

 Các nghiên cứu khảo sát hôm nay nhiều khi cho thấy: thế hệ trẻ hôm nay, và cả người cao niên cũng thế, cứ tính chuyện lời lãi mỗi khi được hỏi, ở nhà thờ hay ngoài ngõ, về bất cứ chuyện gì cần lấy ý kiến. Nói chung, nhiều người chỉ muốn dính dự vào các cuộc khảo sát với phỏng vấn khi biết mình chắc chắn có lợi, nếu trả lời.

 Nói thế nghĩa là: những người này chỉ muốn làm người dưng, trên trời rơi xuống. Chẳng muốn dính vào chuyện gì, dù thuộc vấn đề trong Đạo.

 Quần chúng hôm nay ra như lạc lõng ở đâu đó. Chẳng muốn ai ngó ngàng hỏi han mình điều gì, dù là ý kiến riêng tư. Kín đáo. Hoặc ép buộc. Khi xưa, ở phương Tây, các linh mục còn có thói quen đến từng nhà thăm viếng, hỏi han về cuộc sống của mỗi người. Ngày nay, làm thế tức vi phạm đời tư, rất nguy hiểm và dễ bị ra toà.

 Nhiều năm trước, mỗi khi có đề tài cần hỏi han/góp ý hay tranh luận ở giáo xứ, còn có người chủ trương phóng khoáng, bảo thủ hoặc trung lập. Ngày nay, lại thấy những người như thế đi đâu mất tuốt; hoặc, họ vẫn có đó nhưng chẳng thiết tha gì chuyện bàn-luận hay tranh đấu cho sự sống còn của Hội thánh.

 Nói chung, người đạo hạnh hôm nay không còn muốn dính dự vào chuyện chung của Hội thánh. Nhiều vị vẫn lành thánh, chuyên chăm chuyện lễ lạy, đạo hạnh. Nhưng không còn thiết tha chuyện tham gia nhóm hội đoàn thể có sinh hoạt tập thể, năng nổ tích cực. Mà chỉ muốn rút vào vỏ sò, sống riêng rẽ, cho khoẻ.

 

Nhiều vị lại nhận ra rằng: thế giới nhà đạo mình đang sống, nay khác trước rất nhiều. Khác, với thế giới của người phàm thực tế luôn trong sáng, đầy dẫy những thông tin có đủ mọi chọn lựa. Thế nên, ai cũng sống hết mình với mọi người. Ngay tại sở làm, mọi người đều hăng say lãnh trách nhiệm. Vẫn làm vì chuyện chung. Nhưng trong Hội thánh, nhiều người đã bắt đầu ít nói. Không còn “cà kê dê ngỗng” như khi trước, dù về chuyện hội đoàn.

 Bởi thế nên, khi linh mục chủ tế hỏi: “Anh/chị tính sao? Có ý-định tham dự chầu Thánh Thể thứ sáu này chứ?” Câu trả lời thường là: “Không dám đâu! Tụi này bận lắm. Chẳng kiếm đâu ra giờ, để đi chầu!”

 Nếu hỏi: “Anh/chị tính sao? Có định tham gia biểu tình phản đối đôi ba chuyện chính phủ làm không?” Câu trả lời, chắc cũng thế. Giống như người hành tinh vừa chợt ghé bến. Không chuyện trò, cũng không trao đổi. Chẳng bước đi về nhiều phía.

 Ngày hôm nay, các câu Chúa hỏi hoặc nói ở Tin Mừng cũng đại loại như thế: “Các ông nghĩ sao?” Hỏi như thế, không có nghĩa Chúa yêu cầu ta bắt chước những người chỉ biết nói chứ không làm, hoặc chỉ làm chứ không nói. Chúa không có ý khen ngợi hai loại người nói trên. Ngài cũng chẳng giải thích tại sao Ngài không làm thế, hoặc Ngài vẫn làm như thế. Ngài chẳng nói hoặc có nói về bất cứ sự gì. Ngài không đi vào chi tiết để cho mọi người biết tại sao Ngài có lập trường như vậy.

 Dù, lập trường đó có là bê trễ, biếng nhác. Dù, đó có là kế hoạch, hoặc một cảnh tình nào đó khó đoán. Dù, đó là chuyện đáng quên hoặc chẳng lý gì về công kia việc nọ, cần tôn trọng. Điều Ngài hỏi chỉ là: “Các ông nghĩ sao?” mà thôi.

 Liên tưởng đến chuyện này, có thể là ta nghĩ mình đang đi vào loại hình nào đó của cuộc sống trong Hội thánh, vào một thời rất khác thường trong lịch sử. Một Hội thánh từng đòi rất ít ở dân con đi Đạo, một đòi hỏi về thời gian và thiện chí. Một Hội thánh không đòi hỏi những gì ngoại lệ, nơi con người. Một thánh hội từng học cách biết tôn kính hết mọi người. Tôn và kính, chuyện riêng tư của dân con đi Đạo. Học hỏi và trân trọng việc phục vụ dân con hơn là sắp xếp để họ phục vụ Thánh Hội, mà thôi.

 Phục vụ dân con, còn có nghĩa: không dùng bạo động để dính dự vào cuộc sống đích thực của dân con đi Đạo. Phục vụ, còn có nghĩa: tôn trọng phẩm cách tư riêng của mỗi người. Chính đó là nền tảng của việc yêu thương lẫn nhau. Nền tảng, của việc trở nên cộng đoàn dân con sống với nhau rất thân thương. Nền và tảng, để dân con sống lập trường hăng say mà nhận lãnh Thánh Thể Tình Yêu, ngày của Chúa.

 Đó, là những người con đang sống khác biệt. Sống rất đẹp, ở thế giới cuộc đời, rất thực. Một đời người, luôn tham gia giùm giúp hết mọi người. Trong đời…” (X. Lm Kevin O’Shea, Lời Chúa Sẻ San Chúa Nhật 26 thường niên năm A, nxb Tôn Giáo 2013, tr. 203-206)

Cuộc sống con người ở đời thường hay trong Đạo luôn có hai mặt. Có thể là như thế. Và, cũng có thể không là như vậy. “Có thể hay không thể” về nhiều việc, vẫn là hai mặt và/hoặc nhiều mặt của nhà Đạo trên thực tế. Một thực-tế, trải dài nhiều thế-kỷ qua các giai-đoạn thăng/trầm, trong lịch-sử.

Cuộc sống thăng trầm trong Đạo/ngoài đời vẫn là và sẽ là một thực tế để đời, khiến ta suy nghĩ suốt cuộc đời. Suy tư bằng nhiều cách thức rất đa dạng. Suy tư qua tâm niệm, hoặc hát hò, đọc truyện kể để nhớ mãi mà sống. Sống hân hoan, tiến tới bất kể sự việc xấu/tốt xảy đến với mình và với người, trong đời.

Trong suy tư như thế, nay đề-nghị bạn và tôi, ta cứ hiên-ngang hướng về phía trước mà tiến bước và rồi lại sẽ vui tươi cất tiếng hát vang những ca-từ đang hát dở ở trên, rằng:

“Ngày ấy em như hoa sen”
Mang nhiều giáng hiền những khi chiều lên,
Ngày ấy em như sương trong,
Nép trên bông hồng, mượt trên cánh nhung.

 Ngày ấy em như cung tơ,
Cho đời thẫn thờ, cho tôi dệt mơ
Đường khuya tay đan ngón tay,
Ước cho đời ước mơ dài.

Nhưng năm tháng vô tình,
Mà lòng người cũng vô tình,
Rồi mộng úa thay màu xanh,
Người yêu xa bến mộng,
Đò xưa đã sang sông,
Dòng đời trôi mênh mông,
Dáng xưa nay xa rồi,
Đường khuya mưa rơi rơi,
Phố xưa quên một người,
Bàn chân gieo đơn côi,
Gió mang theo cơn lạnh
Về rót lệ trên môi.”

(Trần Ngọc Sơn – bđd)

“Bàn chân gieo đơn côi”, “Gió mang theo cơn lạnh về rót lệ trên môi”, vẫn là những lời hát của người người ở đời. Hát thế rồi, nay xin khép lại câu chuyện phiếm Đạo/đời, để rồi cứ thế mạnh-dạn lên mà sống những ngày còn lại trong đời, đầy hứa hẹn.

Hứa hẹn rồi, nay đề nghị bạn/đề nghị tôi, ta trở về với vườn ngự uyển dẫy đầy giòng chảy tâm-tư làm đoạn kết những bảo rằng:

Thật vậy,

chấp nhận những nỗi khổ phải chịu một cách bất công

vì lòng tôn kính Thiên Chúa,

thì đó là một ân huệ.

Vì nếu có tội mà anh em bị đánh đập và đành chịu,

thì nào có vẻ vang gì?

Nếu làm việc lành và phải khổ

mà anh em vẫn kiên tâm chịu đựng,

thì đó là ơn Thiên Chúa ban.

Anh em được Thiên Chúa gọi để sống như thế.”

(1 P 2: 19-212)

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn mong chờ sống cuộc đời  

đẹp như bao giờ.

Lấy đâu xe cưới ngời hoa trắng?

Suy Tư Tin Mừng tuần 2thường niên năm A 15/10/2017

Tin Mừng (Mt 22: 1-14)

Một hôm, Đức Giêsu dùng dụ ngôn mà nói với các thượng tế và kỳ mục trong dân rằng: “Nước Trời cũng giống như chuyện một vua kia mở tiệc cưới cho con mình. Nhà vua sai đầy tớ đi thỉnh các quan khách đã được mời trước, xin họ đến dự tiệc, nhưng họ không chịu đến. Nhà vua lại sai những đầy tớ khác đi, và dặn họ: ‘Hãy thưa với quan khách đã được mời rằng: Này cỗ bàn, ta đã dọn xong, bò tơ và thú béo đã hạ rồi, mọi sự đã sẵn. Mời quý vị đến dự tiệc cưới!’ Nhưng quan khách không thèm đếm xỉa tới, lại bỏ đi: kẻ thì đi thăm nong trại, người thì đi buôn, còn những kẻ khác lại bắt các đầy tớ của vua mà hành hạ và giết chết. Nhà vua liền nổi cơn thịnh nộ, sai quân đi tru diệt bọn sát nhân ấy và thiêu huỷ thành phố của chúng. Rồi nhà vua bảo đầy tớ: ‘Tiệc cưới đã sẵn sàng rồi, mà những kẻ đã được mời lại không xứng đáng. Vậy các ngươi đi ra các ngã đường, gặp ai cũng mời hết vào tiệc cưới.’ Đầy tớ liền đi ra các nẻo đường, gặp ai, bất luận xấu tốt, cũng tập hợp cả lại, nên phòng tiệc cưới đã đầy thực khách.

“Bấy giờ nhà vua tiến vào quan sát khách dự tiệc, thấy ở đó có một người không mặc y phục lễ cưới, mới hỏi người ấy: ‘Này bạn, làm sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới?’ Người ấy câm miệng không nói được gì. Nhà vua liền bảo những người phục dịch: ‘Trói chân tay nó lại, quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng! Vì kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít’.”

& & &

 

“Lấy đâu xe cưới ngời hoa trắng?”

“với những mâm cau phủ lụa điều?”

(dẫn từ thơ Nguyễn Bính)

            Xe cưới ngời hoa trắng, nào thấy ai bước vào. Mâm cau phủ lụa điều, người dự nào thấy vui. Không vào dự, là nỗi niềm của dân con ngưòi Do thái đuợc kể ở trình thuật, rất hôm nay.

            Trình thuật, nay thánh sử kể một loạt 4 dụ ngôn: có truyện của hai người con hành xử rất khác biệt. Có, tá điền quái ác giết cả Chủ Vườn. Nay, đến tiệc cưới được mời cũng không người đến dự. Dụ ngôn nào, cũng biểu tỏ một bài học bóng bảy về luân lý. Và, dụ ngôn cũng biểu lộ phong thái phóng khoáng của Chủ Tiệc. Bởi thế nên, ta đừng hiểu ý/lời ở truyện kể theo nghĩa rất đen. Nhất là khi Vua quan sai quân hầu quở trách đám thực khách, xong rồi còn tống họ vào chốn tối tăm khóc lóc vì trang-phục mình mặc không đúng qui cách.

            Hãy nên xét kỹ dụng ý mà người kể muốn con dân hiểu rõ khi đọc truyện. Truyện dụ ngôn, còn trưng “lời mời” Chủ tiệc cho gửi đi rất sớm để người được mời kịp mà nhận lời đến dự theo đúng ‘nguyên tắc’ mà người Do thái vẫn có. Nguyên tắc đây, là thói quen lịch thiệp mà Chủ tiệc muốn khích lệ mọi người hãy nhanh chóng nhận lời mời. Nhận lời, mà xử thế hệt như thể người bệnh đến gặp bác sĩ chuyên khoa như đã hẹn.

            Nhận lời mời ở đây, là hành động cần thực hiện nhất thứ là khi Chủ tiệc lại là Vua quan quyền thế chốn gian trần muốn dân con mình vui hưởng an lạc. Nhận lời mời, không chỉ cổ võ người được mời tìm chốn an vui mừng lễ. Nhưng, còn để diễn bày lệnh truyền từ Chủ tiệc. Bởi thế nên, dân con nào từ chối lời mời của vua quan Chủ yến tiệc chắc chắn là hành động có ý bạo phản. Như thế, hậu quả sẽ nghiêm trọng.

            Cũng may là ở dụ ngôn, người được mời chỉ là phó thường dân hiền hoà vẫn cư xử theo qui cách của xã hội thời bấy giờ. Họ, là đám dân dã luôn thực hiện công tác xã hội theo qui cách chân phương, hiền lành. Tuy nhiên, ở trình thuật, người khước từ lời mời đến dự tiệc không giải thích lý do tại sao mình từ chối. Lại cũng chẳng đưa ra lời cáo lỗi nào, như khuôn phép mà người lịch sự vẫn hay làm.

            Làm như thế, là bởi vì: họ vốn là những người suốt ngày “bận rộn” với đủ thứ công việc, không thể dự đến dự tiệc như lòng mong muốn. Có thể là, họ bận vui chơi. Bận trông nom con cái, bận dọn dẹp nhà cửa, nấu nướng; hoặc trả biên lai tiền điện/nước, cắt cỏ, bởi thế nên không coi chuyện dự tiệc là việc ưu tiên “cần làm ngay”. Thời buổi này, người người thường lấy lý do sinh kế, hoặc chăm sóc gia đình để thoái thác mọi lời mời. Cũng may, trình thuật không coi việc nhận lời ở đây chuyện “cần làm” ngay tức thì.

            Tuy nhiên, Vua quan lại coi việc khước từ lời mời dự tiệc là hành xử khiếm lễ, nên đã sai quân hầu đi khắp chốn mời cho hết mọi người tốt/xấu, để thay thế. Giới thẩm quyền người Do thái xưa không cho phép những ai có vấn đề tâm thần hoặc tật bệnh đến hội đường. Cả những kẻ lôi thôi quần áo không chỉnh, cũng như đám người hôi hám, bẩn dơ được phép xuất hiện chốn liên hoan, tế tự. Bởi vào thời đó, làm gì đã có chương trình thanh lọc, rà soát, dõi theo như bây giờ!

            Đọc đến đây, hẳn có người sẽ đưa ra thắc mắc về ý của người viết trình thuật là gì?

Quả là, trình thuật muốn đem đến cho người đọc một số các điểm chính mà tác giả muốn nói đến. Đó, là lược sử quá trình ơn cứu độ gửi đến với dân con mọi người. Vua quan là chính Chúa. Người được mời là dân Do thái. Sứ giả là các ngôn sứ. Người Con là Đức Giêsu. “Thành bị phá huỷ” là Đền thờ Giêrusalem bị sụp đổ -hồi năm 70 khi thánh Mátthêu viết trình thuật này. Mọi chi tiết trong trình thuật là vấn đề tranh cãi khá nghiêm trọng trong cộng đoàn Mátthêu vào thời đó. Lúc mọi người đều thấy bối rối không biết rằng kế hoạch cứu độ của Chúa thực sự diễn tiến như thế nào.

            Đoạn cuối trình thuật tiếp tục câu truyện dụ ngôn về trang-phục mặc ở tiệc cưới. Có vị đến dự lại chẳng ăn vận cho phải phép. Dụ ngôn không nói những người đến dự có được ban phát “áo xống” này hay không. Chủ Tiệc có cung cấp cho họ không. Chắc là không! Thiên Chúa là Chủ tiệc có khi nào lại ấn định luật lệ về “áo xống” như thế?

            Về với thư của thánh Phaolô gửi giáo đoàn Côlôsê trong đó có đoạn ghi: “Theo tư cách là thánh được Thiên Chúa chọn và yêu mến, anh em hãy mặc lấy lòng lân mẫn, chạnh thương, đức nhân hậu, khiêm nhu, hiền từ, đại lượng…” (Cô 3: 12).

            Mỗi lần nói đến tín hữu đã được thanh tẩy, thánh Phaolô vẫn cứ bảo: Hãy mặc lấy Đức Kitô, như thứ trang-phục cần thiết. Xem như thế, đây chính là thứ trang-phục cần mặc ở tiệc cưới.

            Trang phục, là thái độ sống trong đời. Là, cung cách người tín hữu Đức Kitô cần có để sống đích thực là con cái Chúa. Cũng có thể, đây là ý chính mà lược sử ơn cứu độ muốn nói đến. Ơn cứu độ, là ơn sản sinh ra con người sống như thế. Dù, họ đến từ đâu. Dù, họ có thuộc về Hội thánh nào, hoặc nhóm hội/đoàn thể nào, cũng thế.

            Cuối trình thuật, thánh Mátthêu còn đưa ra cho người đọc một chân lý hiển nhiên được thánh nhân nhắc đi nhắc lại nhiều lần: “Kẻ được gọi thì nhiều, nhưng người được chọn thì ít.” (22: 14) Ở bản 70 Hy Lạp, đây là câu thơ hạp vận: nhiều người được gọi (kletoi), nhưng được chọn lại ít(ekletoi). Danh từ thần học của ta có cụm từ “chiết trung”. Người có tính “chiết trung” là người không phù hợp với mẫu mực đời sống ở quanh mình. Là, người mặc lấy cho mình thái độ sống từ nhiều nơi khác.

            Thánh Phaolô nói với những người hồi hướng trở về với cộng đoàn Hội thánh rằng họ là những người thực sự được chọn, nên phải sống đúng thực với quà tặng “nhưng-không” đặc biệt ấy. Thánh Mátthêu viết theo cung cách khác. Thánh nhân yêu cầu người đọc thực hiện lối sống đảm bảo họ là dân được chọn và được tặng ban đường lối sống khác biệt. Thánh nhân khích lệ người đọc tỏ ra mình khác biệt, vì được gọi theo cung cách mình là người của Chúa. Thánh nhân không tìm cách khiến họ lo sợ qua con số thống kê hoặc tỷ lệ những người được cứu. Thánh nhân hoàn toàn lạc quan về chuyện này.

            Vấn đề là nay ta tự hỏi: ta làm gì được với dụ ngôn và chân lý ấy. Lệnh truyền: “Hãy đi ra các ngã đường…” (Mt 22: 9) làm người đọc nhớ đến câu nói của thánh Phaolô, khi thánh nhân rời Tiểu Á qua ngõ nhỏ đi Châu Âu. Thị trấn đầu tiên thánh nhân đặt chân tới, là thị trấn Philiphê, một “ngã đường” trên chính lộ được mọi người biết.

            Thánh Phaolô cũng được gửi đi tới đó. Thoạt khi vừa đặt chân lên nơi đó, thánh Phaolô biết ngay là dân chúng nay chán ngấy cuộc sống dưới trướng của đế quốc La Mã. Và, họ cũng muốn về với Giavê Chúa của người Do thái, nhưng lại không muốn dấn bước trở thành người như họ. Thành thử, ta gọi họ là những người ‘rất chung chung’ luôn kiếm tìm. Những người rất “chiết trung”, được ghi nhận. Và, thánh Phaolô kêu mời họ để đưa về với tiệc Lời Chúa cũng là tiệc Thánh Thể.

            Vấn đề là: ngày nay đâu là giao lộ để ta đi? Ai là người rất “chiết trung” của ta?

            Thiết tưởng, họ vẫn là người luôn ưa chuộng lòng hào hiệp/chính trực hơn tôn giáo lớp lang, qui củ. Họ nhận ra rằng: sự xấu tự nó cũng bén rễ sâu như lòng hào hiệp. Và, họ cũng là người thấy được rằng chính lòng hào hiệp sẽ phá đổ được sự xấu để tiến tới. Họ, còn là người nhận thức biết rằng hư vô, lố bịch và cả đến cái chết cũng không là yếu tố nói lên được lời cuối cùng cho bất cứ một ai. Là người nhận ra hương vị của hạnh phúc, nhưng họ lại đánh mất hạnh phúc làm nơi nương náu.

            Những người như họ cũng biết chiêm ngưỡng/thán phục sự tốt đẹp lành thánh mà vui hưởng. Họ vẫn mong chờ mọi sự tốt đẹp đến với mình và khao khát đạt điều tốt đẹp như thế. Là, người kiếm tìm đất sống tốt đẹp mà không có sự khuynh loát, chiếm đoạt. Nơi, mà mọi người có tự do trở thành người tốt lành, biết yêu thương, giùm giúp hết mọi người.

            Tuyệt diệu thay, khi ta và mọi người đều nhân danh Chúa mà ra giao lộ để kiếm tìm mọi người và mọi sự tốt lành. Kiếm và tìm, để rồi sẽ đưa những người chiết trung mà mình vừa gặp mặt, được về với cộng đoàn tình thương, rất tốt lành, chuyên chăm lo, giùm giúp. Nếu được thế, cộng đoàn dân Chúa sẽ là Tiệc Cưới tuyệt diệu. Tiệc Thánh Thể đích thực, đúng ý của Chủ Tiệc vẫn mong đợi mọi người dự.

Trong tâm tình đó, cũng đề nghị mọi người ngâm tiếp vần thơ còn để ngỏ. Ngâm rằng:

“Chiều nay…thương nhớ nhất chiều nay,

Thoáng bóng em trong cốc rượu đầy.

Tôi uống cả em và uống cả

một trời quan tái, uống cho say.”

(Nguyễn Bính – Một Trời Quan Tái)

Trời Quan Tái, là cõi trời mở ngỏ với mọi người. Trời Quan Tái, nay là cộng đoàn Nước Trời ở nơi đó ta vẫn sống mà uống cho say tình thương yêu tuyệt diệu, tốt lành. Rất Thánh Thể.

Lm Kevin O’Shea CSsR biên-soạn –  

              Mai Tá lược dịch.