Việt Nam sẽ thụt lùi khi không còn Google và Facebook?

Hòa Ái, phóng viên RFA
2017-11-10
 
Hình ảnh tượng trưng một người đang sử dụng mạng xã hội trên điện thoại di động.

Hình ảnh tượng trưng một người đang sử dụng mạng xã hội trên điện thoại di động.

 AFP
 

Theo Điều 43, khoản 4 trong Dự thảo Luật an ninh mạng của Việt Nam thì Google, Facebook, Youtube…phải có giấy phép hoạt động, đặt cơ quan đại diện và máy chủ quản lý tại Việt Nam.

Dư luận đặc biệt quan tâm nếu như Dự thảo này được thông qua đến mức đẩy các tập đoàn công nghệ thông tin lớn rút khỏi Việt Nam thì viễn ảnh quốc gia sẽ thế nào? 

70% dân số Việt Nam sử dụng

“Google như mọi người đều biết là một cỗ máy tìm kiếm thông tin khổng lồ. Sinh viên, Giáo sư và gần như tất cả mọi người đều cần tra cứu thông tin trên internet hết. Hay Facebook cũng vậy, đây là nơi để có thể trao đổi thông tin. Và ai cũng biết trong thời đại bây giờ thì thông tin là tiền bạc. Cho nên chúng ta mất đi cỗ máy tìm kiếm như vậy thì tôi nghĩ thiệt hại sẽ rất lớn.”

Cựu tù nhân lương tâm, Thạc sĩ Công nghệ thông tin Nguyễn Tiến Trung ngay tức khắc trả lời như vừa nêu, trước câu hỏi của RFA rằng Việt Nam sẽ bị thiệt hại gì trong trường hợp các tập đòan công nghệ truyền thông của nước ngoài được dân chúng sử dụng phổ biến không tuân thủ theo luật định và rời bỏ thị trường Việt Nam.

Đài Á Châu Tự Do ghi nhận Google, Youtube và mạng xã hội Facebook lần lượt là 3 trang web được nhiều người truy cập nhất trên thế giới, kể từ tháng Chín năm 2016. Trong đó, có đến 64 triệu người đăng ký tài khoản Facebook tại Việt Nam, chiếm 3% trên tổng số 2 tỷ thành viên sử dụng mạng xã hội này, theo số liệu của tổ chức We Are Social tổng hợp tính đến cuối tháng 7 năm 2017. Tờ Thời báo Châu Á, hồi đầu tháng 10 vừa qua, trích dẫn thông tin từ ông Khôi Lê, người đứng đầu Cơ quan Tiếp thị Khách hàng của Việt Nam cho biết 92% số người sử dụng mạng xã hội ở Việt Nam thực hiện việc mua hàng trực tuyến và 51% trong số đó mua hàng qua thiết bị điện thoại thông minh (smartphone).

Google như mọi người đều biết là một cỗ máy tìm kiếm thông tin khổng lồ. Sinh viên, Giáo sư và gần như tất cả mọi người đều cần tra cứu thông tin trên internet hết.
– Thạc sĩ Nguyễn Tiến Trung 

Có thể nói với tỉ lệ xấp xỉ 70% dân số Việt Nam là cư dân mạng, thì mọi sinh hoạt liên quan đến xã hội, giáo dục, kinh tế, giải trí…của dân chúng ở trong nước luôn gắn liền và đồng hành cùng sự phát triển mạnh mẽ của các mạng xã hội toàn cầu trong thế giới phẳng. Một ví dụ điển hình mới nhất cho thấy lợi ích kết nối cộng đồng nhanh chóng và hiệu quả mà dư luận quan tâm là một cư dân mạng tại Sài Gòn, dùng Facebook kêu gọi cứu giúp người hàng xóm của mình đang bị kẹt trong lũ ở tận huyện miền núi Nông Sơn, Quảng Nam vào thời thời điểm bão số 12 quét qua và lời kêu gọi gọi lan tỏa với kết quả được đăng tải trên mạng xã hội không lâu sau đó, kèm hình ảnh chính quyền địa phương đã đưa ghe đến cứu người vào nơi trú ẩn an toàn.

Mặc dù thừa nhận vai trò quan trọng của các tập đoàn công nghệ truyền thông nước ngoài trong đời sống hiện đại tại Việt Nam, tuy nhiên Chính phủ Hà Nội từng yêu cầu Google và Facebook hợp tác can thiệp vào việc gỡ bỏ những tài khoản, video hay những tài liệu mà chính quyền cho là mang nội dung xấu, bôi nhọ Đảng và Nhà nước, xúc phạm nhân phẩm người khác…

Trong khi đó, các tổ chức nhân quyền quốc tế, những năm gần đây, liên tục lên tiếng chỉ trích nhà cầm quyền Hà Nội đã có một bước lùi về nhân quyền do kiểm soát gắt gao quyền tự do thông tin, tự do biểu đạt trên internet của người dân qua việc dùng các đạo luật mơ hồ như Điều 79, 88 và 258 Bộ luật Hình sự Việt Nam để bắt bớ và bỏ tù hàng loạt công dân vì họ sử dụng mạng xã hội để phản biện hay thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình.

Cho đến thời điểm hiện tại, thông tin cụ thể về sự đồng ý hợp tác can thiệp theo yêu cầu của Chính phủ Việt Nam vẫn chưa được Google và Facebook công bố chính thức cũng như hai tập đoàn công nghệ truyền thông khổng lồ này chưa lên tiếng gì liên quan điều kiện ràng buộc theo quy định trong Dự thảo Luật an ninh mạng, đang khiến cho hàng triệu người tại Việt Nam lo lắng.

Thụt lùi trong thời đại khoa học-công nghệ 4.0?

000_TV3NM-400.jpg
Biểu tượng facebook trên điện thoại di động. AFP

Trong một cuộc phỏng vấn video do RFA thực hiện tại thành phố Sài Gòn, một sinh viên đại học đáp câu hỏi của chúng tôi rằng nếu bỗng dưng không còn Facebook hay Google…ở Việt Nam thì sinh hoạt thường nhật của bạn bị ảnh hưởng:

“Nếu mà nó biến mất thì sẽ rất là bất tiện. Một ngày nào đó thức dậy mà vô trang Google tìm kiếm lại không thấy nó hiện diện nữa, thì muốn tìm kiếm một tài liệu nào đó để học tập sẽ cực kỳ khó khăn. Các nguồn đưa lên trên mạng sẽ không còn nữa và mình phải tự bỏ tiền ra mua sách hoặc là mua các bản photo mà không đảm bảo được chất lượng của những bản đó.”

Một bạn trẻ khác chia sẻ hệ thống thông tin làm việc gặp rất nhiều bất tiện:

“Theo mình nghĩ thì các tập đoàn lớn như MNC hiện tại trong Việt Nam thường xuyên trao đổi qua các kênh thông tin xã hội, chủ yếu là Gmail hay Outlook…Nếu Facebook với Google… rút khỏi Việt Nam thì sẽ gây tác động lớn đến công việc của người dân về trao đổi thông tin và giao tiếp.”

Số đông những người Đài RFA tiếp xúc khẳng định các kênh thường xuyên sử dụng nhất như Google hay Facebook không còn ở Việt Nam thì toàn bộ quy trình làm việc trong các công ty bắt buộc phải chuyển qua sử dụng các thông tin, database khác lại từ đầu rất phức tạp. Thạc sĩ Nguyễn Tiến Trung còn nhấn mạnh:

Bây giờ Chính phủ kêu gọi phát triển kinh tế tri thức, tức là dựa vào tri thức và thông tin mà nếu Chính phủ để các tập đoàn công nghệ lớn rút đi thì rất dở cũng như gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế Việt Nam.
– Thạc sĩ Nguyễn Tiến Trung 

“Đối với tôi là một kỹ sư công nghệ thông tin, tôi thấy giả sử như việc Facebook hay Google rút khỏi Việt Nam thì thiệt hại rất lớn. Bây giờ Chính phủ kêu gọi phát triển kinh tế tri thức, tức là dựa vào tri thức và thông tin mà nếu Chính phủ để các tập đoàn công nghệ lớn rút đi thì rất dở cũng như gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế Việt Nam.”

Nhà báo Lê Ngọc Sơn, hiện là nghiên cứu sinh tiến sĩ ở Đức nêu lên quan điểm của ông trong một bài viết, đăng trên Báo mạng Dân Việt rằng Việt Nam phải đối mặt với sự tụt hậu nếu như thiếu đi Google và Facebook. Ông Lê Ngọc Sơn ghi rõ chúng không đơn thuần là các công cụ tìm kiến hay mạng xã hội mà còn là những hệ sinh thái công nghệ sử dụng trí thông tin nhân tạo (AI), là những tiến bộ vượt bậc trong sự phát triển công nghệ của loài người và trực tiếp hoặc gián tiếp tạo nên của cải cho xã hội.

Chúng tôi trình bày lại ý chính của tác giả Lê Ngọc Sơn vì Dân Việt đã gỡ bài viết xuống sau khi đăng tải.

Những ngày qua dư luận vẫn sôi nổi bàn thảo trên mạng xã hội và trên các fanpage của của nhiều tờ báo lớn như Tuổi Trẻ, Thanh Niên, VnExpress…rằng có khả năng rất cao Google và Facebook sẽ rời đi nếu như Dự thảo Luật an ninh mạng được thông qua với ràng buộc phải đặt máy chủ tại Việt Nam.

Không chỉ hàng trăm cư dân mạng hy vọng Chính phủ kiến tạo của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phú sẽ xem xét các điều kiện thông thoáng để các tập đoàn công nghệ thông tin như Google và Facebook tiếp tục hoạt động tại thị trường Việt Nam, mà cả Phòng Thương Mại-Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, thành viên Ủy ban Chính sách Phát triển Liên Hiệp Quốc đồng lên tiếng quan ngại Luật An ninh mạng, nếu được thông qua với những điều khoản không phù hợp, thì không chỉ tác động tiêu cực về kinh tế-xã hội và đầu tư nước ngoài mà còn vi phạm các cam kết đã được Chính phủ Việt Nam ký kết với quốc tế như Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA)

NGHĨ VỀ SỰ CHẾT

NGHĨ VỀ SỰ CHẾT

ĐGM Gioan B. Bùi Tuần

Tôi biết là có ngày tôi sẽ chết.  Mặc dầu tôi không biết sẽ chết ngày giờ nào, nơi nào, cách nào.

Chắc chắn tôi phải chết.  Đó là một chân lý hết sức rõ ràng và chắc chắn.  Chân lý này, không ai dạy tôi.  Nó nằm ngay trong con người của tôi.

Cái chết cũng là một biến cố đụng tới mọi người.  Nó là một vấn đề chung.  Vấn đề này được coi là hết sức quan trọng.  Bởi vì nó đặt ra câu hỏi: Đâu là ý nghĩa cuộc sống?  Cuộc đời đi về đâu?  Bên kia sự chết có gì không?

Câu trả lời theo lý thuyết có thể tìm được trong nhiều sách, nhất là sách đạo.  Nhưng câu trả lời theo cảm nghiệm sẽ thường chỉ hiện lên một cách sống động, khi ta ở bên cạnh những người sắp chết, hoặc chính ta đã có lần thập tử nhất sinh.

Những lúc đó, câu trả lời sẽ không phải là một kết luận lạnh lùng của triết học hay của giáo lý.  Nhưng sẽ là cái gì linh thiêng thăm thẳm chứa trong những cảm tình, cảm xúc, cảm động, cảm thương, khi hiện tượng sự chết rập rình sát tới.

Những hiện tượng khác thường nơi người sắp chết rất đa dạng.  Có thể là những lo âu sợ hãi, những khắc khoải đợi chờ, những nắm bắt bâng khuâng, những ngóng trông mệt mỏi, những cái nhìn xa xăm.  Cũng có thể là những bất bình tức giận, những chán nản phiền muộn, những buông xuôi tiếc nuối, những phấn đấu tuyệt vọng.  Cũng có thể lại là những ăn năn đầy bình an toả sáng, mang dấu ấn của một nghị lực thiêng liêng và một tin tưởng đến từ cõi đời đời.

Tất cả những hiện tượng như thế phản ánh những trực cảm nội tâm: Đã tới lúc vĩnh biệt.  Đã tới lúc ra đi.  Đã tới lúc phải bỏ lại tất cả.  Đã tới lúc phải trực diện với lương tâm.  Lương tâm hỏi về trách nhiệm: Trách nhiệm làm người nói chung và trách nhiệm làm con Chúa nói riêng.

Trước đây, có nhiều điều về trách nhiệm đã lẩn trốn lương tâm.  Nhưng lúc con người sắp chết, những điều lẩn trốn đó sẽ trở về trình diện rất nghiêm túc.

Tôi có cảm tưởng là người sắp chết lúc đó sẽ nhận ra: Sự sống của mình là một quà tặng Chúa ban.  Ơn gọi được làm con Chúa càng là một ân huệ quí báu Chúa trao cho nhưng không.  Chúa ban sự sống và ơn làm con Chúa, để mình phát triển mình, và những người xung quanh trong những chặng đường lịch sử nhất định.  Sự phát triển sẽ tuỳ ở ơn Chúa, nhưng cũng tuỳ thuộc vào sự tự do và tinh thần trách nhiệm của mỗi người.

Thực tế cho thấy là đã có những phát triển đạo đức, và trái lại cũng có những phát triển tội lỗi.  Với những phát triển tốt, người sắp chết cảm thấy được an ủi, coi như nhiệm vụ được trao đã phần nào hoàn thành.

Trái lại nếu thấy những phát triển của mình là xấu, nhiệm vụ được trao đã không hoàn thành, họ sẽ không thể không sợ hãi.  Bởi lẽ hậu quả sẽ vô cùng quan trọng.  Vì chết là bước sang cõi đời sau với hai ngả: thiên dàng và hoả ngục.  Mà hai ngả này đều rất rõ ràng công minh.

Vì thế, nói cho đúng, vấn đề đặt ra cho ta về cái chết sẽ không phải là sợ chết, mà là sợ chết dữ, chết mà sau đó không được lên thiên đàng, nhưng phải xuống hoả ngục.

Những tư tưởng trên đây thường nhắc nhủ tôi về ba chọn lựa này:

  1. Hãy tiến về sự chết của mình như tiến tới một quãng phải vượt qua, để về với Cha trên trời.

Một khi nhìn sự chết của mình như thế, thì cuộc sống của mình cũng được hiểu theo hướng đó.  Để đi đúng hướng về Cha trên trời, tôi chỉ có một đường phải chọn, đó là Chúa Giêsu Kitô.  Người là đường, là sự thực và là sự sống (Ga 14,6).  Đón nhận Người, lắng nghe Người, đi theo Người, bắt chước Người.  Người là gương mẫu cho ơn gọi làm người và ơn gọi làm con Thiên Chúa.  Điều quan trọng tôi sẽ hết sức quan tâm trong việc theo Chúa Giêsu sống ơn gọi, là phải phấn đấu thanh luyện mình, phải biết khiêm tốn quên mình, dấn thân sống theo ý Chúa, để được trở thành tạo vật mới.  Nếp sống kiêu căng cần phải bị loại tận gốc.  Nếp sống cầu nguyện khiêm nhường cần được thường xuyên phát huy.

  1. Hãy tiến về sự chết của mình như người được sai đi truyền giáo, mong trở về với Đấng sai mình.

Sống như người truyền giáo và chết như người truyền giáo.  Truyền giáo một cách cụ thể ở địa phương này, ở thời điểm này.  Nghĩa là một địa phương và thời điểm có nhiều khác biệt.  Vì thế, tôi phải tỉnh thức lắng nghe hướng dẫn của Thánh Thần Đức Kitô.  Ngài đang dẫn người truyền giáo vào chiều sâu.  Ngài đang giúp người truyền giáo mở rộng nhiều liên đới.  Ngài đang tạo ra cho nhà truyền giáo nhiều dịp để loan báo Tin Mừng.  Tôi có luôn khiêm tốn cầu nguyện hồi tâm, để trở thành dụng cụ ngoan ngoãn trong tay Ngài không?

  1. Hãy tiến về sự chết của mình như người khắc khoải trở về với Đấng đã trao cho mình điều răn mới.

Điều răn mới này, tôi nhận được từ Lời Chúa: “Thầy ban cho chúng con một điều răn mới là chúng con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con” (Ga 13,34).  Để hiểu thấm thía hành trình tình yêu, tôi nên hằng ngày gẫm suy đoạn văn sau đây của thư thánh Gioan:

“Chúng ta biết rằng: chúng ta đã từ cõi chết bước vào cõi sống, vì chúng ta yêu thương anh em.  Kẻ không yêu thương, thì ở lại trong sự chết.  Phàm ai ghét anh em mình, ấy là kẻ sát nhân.  Và anh em biết: không kẻ sát nhân nào có sự sống đời đời ở lại trong nó.  Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được tình yêu là gì: đó là Đức Ki-tô đã thí mạng vì chúng ta.  Như vậy, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em.  Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được?  Hỡi anh em là những người con bé nhỏ, chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm.  Căn cứ vào điều đó, chúng ta sẽ biết rằng chúng ta đứng về phía sự thật, và chúng ta sẽ được an lòng trước mặt Thiên Chúa” (1Ga 3,14-19).

“Phần chúng ta, chúng ta hãy yêu thương vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước.  Nếu ai nói: “Tôi yêu mến Thiên Chúa” mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy.  Đây là điều răn mà chúng ta đã nhận được từ Người: ai yêu mến Thiên Chúa, thì cũng yêu thương anh em mình” (1 Ga 4,19-21).

Khi tôi sống với những hướng kể trên, tôi sẽ coi sự chết như là một điểm chấm dứt nhiệm vụ.  Nhiệm vụ được chấm dứt.  Nhưng nhiệm vụ có được hoàn thành hay không, đó là chuyện khác và đó mới là điều quan trọng.  Chúa sẽ phán xét công minh điều đó.  Ở đây, tôi có lý do để lo, bởi vì tôi biết tôi đã lỗi phạm nhiều.

Biết lo là điều tốt.  Không phải lúc gần chết mới lo, mà phải lo ngay bây giờ.  Biết lo ở đây là tìm cách sửa mình, đổi mới mình nên tốt hơn.  Coi như bắt đầu lại.

Khởi sự từ quyết tâm tận dụng ngày giờ còn lại và những phương tiện trong tầm tay để chu toàn các nhiệm vụ được trao một cách tốt đẹp nhất.  Nhất là tỉnh thức ưu tiên đón nhận Nước Trời vào bản thân mình bằng sám hối và tin mến khiêm cung.

Những nỗi lo như thế là chính đáng.  Khi chúng ta làm hết sức mình, thì những nỗi lo đó sẽ đem lại những tiến triển và hân hoan.  Với hân hoan và tin tưởng nơi Chúa giàu tình yêu thương xót, chúng ta bình tĩnh đi về sự chết.  Sự chết lúc đó chỉ là bước sang sự sống mới vô cùng tốt đẹp hơn trước.  Và như thế, sau cùng, chỉ có thần chết là phải chết thôi.

 ĐGM Gioan B. Bùi Tuần

From Langthangchieutim

Nhân dân Hà Nội tự nguyện đón Tổng thống Mỹ Donald Trump Đảng/nhà nước VN tổ chức đón Tập Cận Bình.

Thuong Phan and Tai Nguyen shared Phạm Văn Hải‘s post.
Image may contain: 1 person, standing, walking and outdoor
Image may contain: one or more people, night and outdoor
Image may contain: 4 people, night and outdoor
Image may contain: 5 people, people standing, suit, wedding, child and outdoor
Image may contain: 4 people, child and outdoor
+2
Phạm Văn Hải added 6 new photos.Follow

 

Nhân dân Hà Nội tự nguyện đón Tổng thống Mỹ Donald Trump

Đảng/nhà nước VN tổ chức đón Tập Cận Bình.

Các bạn coi ảnh sẽ rõ:

Ảnh 1-2-3 rất đông nhân dân tự phát (thiếu tổ chức) đón Trump. Ảnh 4-5-6 chứng minh các quan chức, vài nhóm người do chính quyền tổ chức ăn mặc chỉnh tề, mang cờ TQ đón tập cận bình.

CHẾT

CHẾT

Quyên Di

Cổ nhân ta nói: “Sinh kí tử quy”, sống là tạm gửi, chết mới là về. Ðó là một nhân sinh quan, và cái nhân sinh quan ấy chi phối đời sống người ta, đến độ có nhiều người nói rằng “sống là chuẩn bị cho cái chết.”

Từ quan niệm ấy, người Việt Nam hình như không sợ hãi khi đối diện với cái chết. Những cụ già xây sẵn phần mộ, mua sắm sẵn cỗ áo quan, ra vào vuốt ve ngắm nghía nó như ngắm một vật thân quí, đôi khi vào nằm thử một cách bình tĩnh. Các cụ còn định sẵn cả chương trình cho đám tang của mình, phải tổ chức ra sao, nghi thức thế nào. Thật đúng là sự chuẩn bị cho một cuộc trở về.
Ðó mới chỉ là những cái bên ngoài biểu lộ quan niệm “sinh kí tử quy”. Một cách sâu xa hơn, người ta chuẩn bị cho chuyến trở về bằng cả một cuộc sống của mình. Ðể cho cuộc trở về tốt đẹp, người ta sống tốt đẹp, cư xử tử tế với mọi người, tạo phúc đức để lại cho con cháu, trả sạch nợ nần để không phải vướng mắc với ai, không tạo ra những ác nghiệp v.v… Thực hiện được những điều đó, người ta thanh thản trở về thế giới bên kia.

“Sinh kí tử quy.” Sống là tạm gửi, chết mới là về. Nhưng về đâu? Ðó là vấn đề. Có phải là về với lòng đất? Có phải là về với hư không? Có phải là về với tổ tiên? Hay là về chốn bồng lai tiên cảnh?… Ðiều đó tùy thuộc quan niệm và niềm tin của từng người. Người Công giáo chúng ta tin rằng con người có linh hồn bất tử, và khi chết, linh hồn của mình sẽ về cùng Thiên Chúa, đấng tạo dựng nên mình. Thiên Chúa là nguồn cội. Từ Thiên Chúa, có muôn loài muôn vật, có chính mình. Bởi thế, chết là một cuộc “lá rụng về cội” lớn lao nhất, quan trọng nhất.

“Lá rụng về cội”. Ðó có thể coi như một nguyên tắc, một lẽ đương nhiên? Thật ra không hẳn thế. Quan sát sự kiện thực tế ngoài đời, ta sẽ biết ngay: có chiếc lá khi rụng, chao đi vài vòng, rồi nhẹ nhàng đặt mình dưới gốc cây. Nhưng cũng có những chiếc lá vừa lìa khỏi cành đã bị trận bão loạn gió cuồng cuốn bay đi xa lắc. Lá rụng, nhưng lá không về cội.

Ðời người ta cũng như những chiếc lá. Như lá được sinh ra và nuôi dưỡng từ chất nhựa từ cội là gốc rễ đưa lên thế nào, con người cũng được sinh ra, lớn lên, sinh hoạt trong dòng đời, từ chính cội nguồn của sự sống là Thiên Chúa như thế. Cái chết của con người cũng giống như chiếc lá lìa cành. Về với Thiên Chúa cũng như “lá rụng về cội”. Nhưng lá rụng chưa chắc đã về cội thì con người khi chết cũng chưa hẳn sẽ được về cùng Thiên Chúa. Về được với Chúa hay không, cái đó tùy ở cách sống của mình, tùy ở chính mình.

Có người ví cuộc hành trình về với Chúa, hay nói khác đi là về Thiên Ðàng, là một chuyến đường. Người đi phải tập làm quen với con đường, hay nói khác đi là phải đi lại nhiều lần trước khi ra đi để về thật. Nếu không quen đường thuộc lối, rất có thể người ta sẽ đi lạc, và như thế chẳng về được nhà.

Con đường về với Chúa là con đường gì? Ðó là đường Tình Yêu, bởi vì Thiên Chúa chính là Tình Yêu. Và Thiên Ðàng là nơi gồm toàn những người biết yêu Chúa và yêu nhau. Như thế, làm quen với con đường về Thiên Ðàng cũng có nghĩa là tập sống yêu thương. Yêu Chúa và yêu người.
Yêu Chúa thì dễ, vì Chúa là Ðấng trọn hảo và rất đáng kính yêu. Chúa không làm cho mình khổ, Chúa không gây ra những rắc rối cho đời mình. Chúa lại yêu mình hết mực. Tuy nhiên, yêu Chúa “khơi khơi” thì dễ, chứ yêu đến nơi đến chốn, yêu với tất cả linh hồn và trí khôn, yêu đến độ sẵn sàng sống chết vì Chúa… điều ấy chưa chắc đã dễ.

Yêu người khó hơn nhiều lắm. Vì đã là người thì có khuyết điểm. Người ta dễ làm cho mình đau khổ, cũng gây cho mình rất nhiều điều rắc rối. Rất nhiều khi người ta không yêu mình, trái lại còn ghen ghét, thù hận mình nữa. Người ta như vậy đó, thế mà mình phải yêu, để làm quen được với cái đường đi về Thiên Ðàng kia.

Nói cho cùng, cuộc sống làm nên ý nghĩa của sự chết. Cuộc sống quyết định cho đích điểm của một chuyến đi. Chuyến đi xa nhất, quan trọng nhất của đời người. Ðây cũng là chuyến đi cô đơn nhất, vì không có ai đồng hành với ta.

Sống Yêu Thương, yêu Chúa và yêu người thật lòng, ta sẽ về được với Ðấng chính là Tình Yêu. Sống không yêu thương, đường đi của ta sẽ ngược chiều, và ta khó lòng gặp được Thiên Chúa Tình Yêu. Ðó là nỗi bất hạnh lớn lao nhất, nỗi cơ cực kinh khủng nhất. Bởi vì hạnh phúc thật của con người, nói cho cùng, là về được, hòa nhập được với chính cội nguồn nơi mình đã xuất phát: Thiên Chúa. Hòa nhập được với Thiên Chúa, Ðông phương gọi là hòa hợp cùng Ðại Ngã, còn chúng ta gọi là được về nước Thiên Ðàng hưởng hạnh phúc vĩnh cửu.
Còn nỗi cô đơn. Ai mà chẳng sợ cô đơn. Muốn tránh cô đơn, chỉ còn cách kết bạn và mời bạn làm kẻ đồng hành. Nhưng bạn nào đồng hành được với ta trên đường về, mà khởi đầu là cái chết phần thân xác? Chỉ có một “người” thôi, đó chính là Thiên Chúa. Hạnh phúc cho ai, trên đường về có chính Thiên Chúa làm bạn đồng hành. Trong tình bạn, cần có thời gian. Bạn thân để có thể đồng hành lại càng cần thời gian dài hơn nữa. Như thế, trong cuộc sống trần gian, nếu ta đã không từng quen với Chúa, thân với Chúa, chia sẻ với Chúa, thì khi ta chết, làm sao ta có được Chúa làm người bạn đồng hành trên đường về?

“Sinh kí tử quy”, “Lá rụng về cội.” Ðó thật là những tư tưởng đẹp và thâm sâu. Ðể hiểu được vẻ đẹp và sự thâm sâu đó, không phải một sớm một chiều. Giá ta phải trả để hiểu được nó và áp dụng nó là cả một cuộc đời, với nỗ lực và với yêu thương.

Quyên Di

6 giá trị của người dân Mỹ không ai mua được bằng tiền

6 giá trị của người dân Mỹ không ai mua được bằng tiền

     
1. Ca sĩ Madonna từng nhổ nước bọt vào mặt một bà cụ, lập tức tòa án Liên bang phán quyết cô phải bồi thường 5 triệu đô-la Mỹ cho bà lão.


Quan tòa nói, sở dĩ mức phạt nặng như vậy không phải bởi miếng nước bọt đó đã mang đến tổn thương lớn ngần nào cho bà cụ.. Lý do là với những người có tiền như Madonna nếu chỉ phạt bồi thường 50 nghìn đô-la, lần sau cô ấy chắc chắn sẽ tái phạm. Có thể cô ấy cũng sẽ gây tổn thương cho hơn 10 người khác nữa.

2. Ở Mỹ, không có một hãng truyền thông nào thuộc về chính phủ. Bởi vì pháp luật nước Mỹ quy định, không thể lấy tiền của dân chúng để dát vàng cho mình mà lừa mị, mê hoặc dân chúng.

Kênh truyền thông duy nhất mà chính phủ Mỹ bỏ vốn làm chủ là đài phát thanh VOA của Mỹ, nhưng nó không được phép phát sóng trên đất Mỹ. Trong con mắt của người Mỹ, dư luận nên phải là tự do, nhiều nguồn, muôn hình muôn vẻ, thậm chí là mâu thuẫn lẫn nhau.

3. Nước Mỹ coi trẻ em là tài sản quý báu của quốc gia, trẻ em được pháp luật che chở cẩn thận. Nếu bạn không có tiền gửi con ở nhà trẻ, chính phủ sẽ chi trả, hoặc không có tiền mua sữa bột, chính phủ cũng sẽ chu cấp. Ngoài ra còn có nhiều chính sách đặc biệt trợ cấp cho phụ nữ mang thai, sản phụ thu nhập thấp và trẻ em chưa đến 5 tuổi.

Các gia đình thu nhập thấp có thể nhận được bữa cơm dinh dưỡng sáng và trưa miễn phí. Nếu bạn không có tiền thuê nhà, chính phủ sẽ chi trả, hơn nữa quy định trẻ nhỏ cần phải có phòng ngủ riêng. Ở nước Mỹ, bạn sẽ không bao giờ bắt gặp hình ảnh trẻ em đi xin ăn.
Có một bà mẹ mải mê bận rộn việc nhà, nhất thời không để ý trông con. Đứa con chẳng may ngã xuống bể bơi chết đuối. Trong lúc người mẹ đang đau khổ không thôi thì bất ngờ nhận được giấy triệu tập của tòa án.

Lý do mà tòa án đưa ra vô cùng đơn giản, bà đã không làm hết trách nhiệm của một người giám hộ nên sẽ phải đối mặt với việc bị tuyên án.. Điều đó cũng giúp cảnh tỉnh ý thức chăm sóc con trẻ cho hàng triệu người mẹ khác.

Người Mỹ quan niệm, một đứa trẻ trước hết thuộc về bản thân nó. Đứa trẻ đó mang theo vô số quyền lợi sống vốn có trong xã hội này. Không kể là bản thân nó có ý thức được hay không, không kể là nó có thể lớn lên thành người hay không, xã hội này có tầng tầng pháp luật để bảo vệ nó.

4. Ở nước Mỹ, người dân có bệnh thì bệnh viện cần phải điều trị trước, sau đó mới gửi hóa đơn viện phí đến nhà bệnh nhân. Nếu bạn không gánh nổi khoản tiền trị liệu thì các tổ chức từ thiện hoặc chính phủ sẽ ‘ra mặt’ giải quyết. Trong trường hợp người nghèo khó chỉ vì không có tiền chi trả viện phí mà bệnh viện ngưng điều trị thì những người có liên quan sẽ bị chất vấn và nhận chế tài của pháp luật.

5. Trong chiến tranh vùng Vịnh lần thứ hai (nổ ra vào tháng 3/2003), quân Mỹ huy động lực lượng quân sự lớn mạnh tấn công tầm xa trong sa mạc. Quân đội của nhà độc tài Saddam Hussein binh bại như núi đổ, nhếch nhác bỏ chạy. Lúc này, trong cát bụi mịt trời, một chiếc xe vận tải của quân Mỹ mất phương hướng, lạc vào trận địa của quân địch.

Người lái xe là một nữ quân nhân tên Lira, bị thương và bị địch bắt giữ làm con tin để uy hiếp quân Mỹ. Cô bị nhốt ở một nơi hẻo lánh bí mật và bị canh giữ sát sao. Vì để cứu Lira, quân Mỹ đã huy động đội đột kích Hải Báo tấn công mãnh liệt khiến quân địch mất phương hướng, hoảng loạn tan vỡ.

Chỉ trong thời gian mấy phút, quân Mỹ đã giải cứu thành công Lira. Cô nhanh chóng được đưa về hậu phương điều trị. Chiến tranh kết thúc, Lira cùng với hai binh sĩ Mỹ từng bị bắt giữ khác trở về quê nhà và được chào đón như những người anh hùng.

6. Điều được giảng trong “Tuyên ngôn độc lập” của Mỹ không phải là quần thể, quốc gia, thậm chí không hề giảng đến dân chủ.. Điều được giảng là 3 quyền lợi lớn: quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc. Ba quyền lợi này đều là quyền lợi của cá nhân, không phải là quyền lợi của quần thể hay quốc gia.

P/s...: Những quyền lợi này có được ngay từ khi công dân Mỹ vừa mới sinh ra, chứ không phải do ai ban tặng. Mặt khác, những quyền lợi này có thể bảo vệ cá nhân, khiến họ không phải chịu đựng sự xâm hại của bất cứ ai. Chỉ có kiến lập trên cơ sở quyền lợi cá nhân, mọi người mới có thể có được một xã hội tự do chính nghĩa, tôn nghiêm và bình đẳng. 

Trịnh Kim Tiến: Nhân quyền không phải giá trị riêng của Mỹ

From facebook:   Thu Ngoc Dinh‘s post.
 

Trịnh Kim Tiến: Nhân quyền không phải giá trị riêng của Mỹ

Bởi vì lịch sử hình thành nên Mỹ luôn được coi là cái nôi của Nhân quyền. Nhắc đến Nhân quyền không thể không nhắc đến Mỹ, đó là giá trị truyền thống của họ. Cho dù ngày hôm nay tinh thần và những giá trị đó có thể đi xuống, nhất là dưới thời của Trump thì nhiều người vẫn luôn tin rằng đó vẫn là giá trị mà dân tộc họ theo đuổi.

Và có lẽ chính bởi niềm tin đó nên khi nghe bà Trump không đến Việt Nam nhiều người đã không nguôi thất vọng.

Thất vọng vì những mong mỏi của Nấm đã không được đoái hoài, vì hai chữ Nhân quyền đối với vị phu nhân của của ông Trump không có ý nghĩa bằng chuyến đi chơi trên đất Tàu.

Riêng tôi chưa từng hy vọng vào sự có mặt của bà ấy ở Việt Nam, bởi nếu là một người quan tâm đến quyền con người, bà đã không để Nấm viết đến bốn bức thư mà không một lần hồi âm trở lại.

Nấm cứ tưởng rằng bà Trump là phu nhân của một dân tộc đề cao quyền con người, bà là một người mẹ như mẹ của con thì bà sẽ hiểu nỗi đau của mẹ khi phải xa con. Nhưng con nhầm rồi, bà ấy là phu nhân của một vị Tổng Thống trên cao ngất ngưởng, bà chưa bao giờ phải xa con của bà, bà làm sao mà hiểu được con? Đúng là bà ấy đã trao giải “NGƯỜI PHỤ NỮ CAN ĐẢM” cho mẹ của con nhưng đó cũng chỉ là hình thức như cái cách mà nước Mỹ đang giữ tư tưởng Nhân quyền của họ vậy.

Nhưng chúng ta không có quyền trách họ con à, bởi vì giá trị Nhân quyền là một giá trị phổ cập chứ không phải riêng đất Mỹ. Mỹ không có nghĩa vụ phải bảo vệ những người hoạt động xã hội ở các nước mất tự do. Nếu như họ coi việc thúc đẩy Nhân quyền trên thế giới là sứ mệnh của dân tộc thì họ sẽ không im lặng đâu.

Tự do cho mẹ con là chuyện của người Việt. Nếu chúng ta coi việc đòi hỏi Nhân quyền cho đất nước chúng ta là việc của một Quốc gia khác thì chúng ta sẽ chẳng bao giờ có được nó.

Quyền con người ở Việt Nam phải do người Việt Nam dành giữ, tự do nếu muốn có thì chúng ta phải trả giá thôi con.

Thương con! Nấm – Gấu!

Nhân quyền không phải giá trị riêng của Mỹ Bởi AdminTD – 10/11/2017 Tweet Share 0 +1 Pinterest 0 Email FB Trịnh Kim Tiến 10-11-2017 Bởi vì lịch sử hình…
BAOTIENGDAN.COM
 

Áo yếm tiếp APEC để “khoe” nét truyền thống?

Áo yếm tiếp APEC để “khoe” nét truyền thống?

2017-11-09
 
 
 

Nữ phục vụ mặc áo yếm tại đại tiệc APEC hôm 6/11/2017.

Nữ phục vụ mặc áo yếm tại đại tiệc APEC hôm 6/11/2017.

 Vietnamnet

Trên các trang mạng xã hội, mọi người truyền tay nhau những tấm hình các cô gái trẻ măng, mặc trang phục áo yếm của phụ nữ Việt Nam xưa, hở nguyên phần vai và nửa lưng. Những cô gái này đang cầm khay đồ ăn phục vụ gần 300 đại biểu từ các nền kinh tế APEC, sau khi kết thúc kỳ họp 4 Hội đồng tư vấn kinh doanh APEC- ABAC và tối ngày 6/11 vừa qua.

Áo yếm là một thứ trang phục nội y không thể thiếu của phụ nữ Việt Nam xưa, được lịch sử ghi chép là bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam vào thời nhà Lý (thế kỷ 12). Yếm là một tấm vải hình thoi hoặc hình vuông có sợi dây để quàng vào cổ và buộc vào sau lưng, được dùng để che ngực. Áo yếm ngày xưa là một trang phục nội y được sử dụng rộng rãi, không chỉ ở chốn cung đình cao sang, quý phái mà cả những người nông dân gắn bó với chiếc áo tứ thân cũng rất “ưa chuộng”.

Nhà văn Thùy Linh, một người quan tâm và am hiểu lĩnh vực xã hội, văn hóa của Việt Nam nói rằng việc Việt Nam cho lễ tân mặc trang phục áo yếm để tiếp khách ngoại giao là một sự “lố bịch”:

Mình rất không hài lòng về điều đó, bởi vì cái yếm của các cụ ngày xưa nó thay cho cái áo ngực thường các cụ mặc bên trong. Còn ở nông thôn, khi những người đàn bà cho con bú để đứa trẻ dễ tiếp cận với ngực của mẹ. Cho nên những kiểu mặc đó rất suồng sã.

Mình không hiểu một bữa tiệc để đãi các nguyên thủ quốc gia đến Việt Nam mà lại mặc áo yếm đó, không hiểu xuất phát từ ý nghĩ gì. Mình thấy nó hơi kỳ quặc.

Đêm đại tiệc được tổ chức tại Furama Resort Đà Nẵng do Sovico Holdings và Ngân hàng HD Bank tài trợ. Đại diện của khu resort nói rằng đã chuẩn bị cho sự kiện này trong vòng 3 năm, với ý nghĩa chính là giới thiệu văn hóa dân gian Việt Nam khi tái hiện cuộc sống 4 mùa tại các vùng miền khác nhau.

Tuy nhiên, nhà văn Thùy Linh lại cho rằng việc lựa chọn áo yếm để khoe nét truyền thống của Việt Nam trong một sự kiện lớn như vậy là không phù hợp.

Truyền thống thì có nhiều cấp độ lắm. Váy đùm cũng là truyền thống mà. Sao không cho các cô ấy mặc váy đùm và áo yếm đi tiếp? Mình nghĩ bây giờ cho mình mặc cái yếm đó ra ngoài đường chắc mình cũng không dám mặc. Hay mặc ở nhà để tiếp bạn mình cũng không dám mặc chứ đừng nói mang ra mặc trước mặt các quốc gia khác.

Trong một quốc tiệc, thì nó không mang tính chất nghi lễ, không trang trọng, không thể hiện một sự lịch lãm tối thiểu với một tư cách quốc gia.
– Nhà văn Thùy Linh

Chúng tôi cũng trò chuyện với chị Tâm, một người dân sống ở Sài Gòn về vấn đề này. Chị Tâm chẳng ngần ngại so sánh những hình ảnh lễ tân phục vụ APEC không khác nào những cô gái trong các quán bar:

Tôi cũng thấy như vậy không phù hợp khi tiếp khách quốc tế. Mình phải ăn vận như thế nào cho lịch sự để khi mình tiếp khách cho kín đáo. Khi mình tiếp khách mà ăn mặc lố lăng quá thì không khác nào những chỗ như quán bar. Ăn vận như vậy mà gọi là truyền thống thì không phù hợp cho lắm. Ăn mặc như vậy sẽ làm mất hình ảnh người Việt Nam.

Trên các trang mạng, chúng tôi ghi nhận nhiều bình luận dưới những tấm hình các cô gái áo yếm tiếp khách quốc tế. Hầu như mọi bình luận đều chỉ trích cách ăn mặc không phù hợp của nước chủ nhà Việt Nam. Một bài viết của tác giả Nguyễn Phan Khiêm nhận định rằng: Với các suy nghĩ nông dân của tôi thì các cụ xưa tuyệt không mặc thế khi có người lạ, chưa kể khi ra đường hay nhà có khách các cụ luôn mặc áo dài. Yếm chỉ khi rất nóng nực người ta mới mặc trong nhà, tương tự đàn ông bây giờ mặc may ô. Cho nên, vị nào tham mưu cho gái trẻ mặc yếm ra tiếp quốc khách thì nên cho nghỉ để tìm tham mưu khác. Việt Nam tự hào là nước có văn hiến nên không thể không mặc đẹp một cách nền nã, sang trọng để đón khách quí.

Chính trang phục được chọn để tiếp đãi khách quý lại là trang phục từng bị báo chí Việt Nam lên án nhiều lần, chẳng hạn như bài viết “Đỏ mặt vì mỹ nhân hững hờ áo yếm” trên báo Lao Động hay “Người đẹp Việt gây phản cảm khi mặc áo yếm quá sexy” trên Báo Mới,…

Câu hỏi được đặt ra đó là những cô gái mặc áo yếm trong những bài báo này đã bị chỉ trích phần nào tự làm mất hình ảnh người phụ nữ Việt Nam “công, dung, ngôn, hạnh”. Vậy thì, liệu Việt Nam có tự làm mất hình ảnh của mình khi để lễ tân mặc yếm tiếp khách hay không?

Chúng tôi nêu câu hỏi này với nhà văn Thùy Linh và bà cho biết:

Mình không nghĩ đến mức mất hình ảnh, bởi vì người ta cũng không thể đánh giá Việt Nam qua một cái áo yếm. Thế nhưng trong một quốc tiệc, thì nó không mang tính chất nghi lễ, không trang trọng, không thể hiện một sự lịch lãm tối thiểu với một tư cách quốc gia trong khi tiếp đón các quốc gia khác.

aoyem1
Hình ảnh những nữ lễ tân mặc áo yếm bê khay đồ ăn tiếp khách APEC.Courtesy of Vietnamnet


Chúng tôi tiếp tục nêu vấn đề với Nhà xã hội học, Tiến sĩ Phạm Quỳnh Hương, Viện Hàn Lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. Tuy nhiên, bà cũng không đồng tình với cách ăn mặc như vậy trong một sự kiện lớn của quốc gia:

Tôi nghĩ là trong xã hội Việt Nam bây giờ, một người bình thường cũng thừa hiểu cần mặc trang phục lịch sự ở một sự kiện cần thiết nào đó ví dụ như giỗ tết, hay cưới hỏi, mọi người đều biết ăn mặc như thế nào cho lịch sự.

Người bình thường cũng biết điều đó, huống chi một quốc gia thì người ta cũng phải thừa hiểu. Trong tường hợp này tôi cũng không hiểu vì sao người ta lại quyết định như vậy.

Tôi nghĩ là trong xã hội Việt Nam bây giờ, một người bình thường cũng thừa hiểu cần mặc trang phục lịch sự ở một sự kiện cần thiết nào đó.
– TS. Phạm Quỳnh Hương

Vấn đề giới trẻ Việt Nam đua theo trào lưu ăn mặc hở hang được nêu trên các phương tiện truyền thông thường xuyên. Việt Nam hiện tại cũng có những quy tắc và điều luật cấm ăn mặc hở hang phản cảm đối với nghệ sĩ hay nơi công cộng.

Nhà văn Thùy Linh nói rằng có vẻ như Nhà nước đang muốn “cách tân hóa” và học theo trào lưu của giới trẻ hiện tại. Tuy nhiên bà cho rằng sự áp dụng không đúng lúc đúng chỗ đã biến tính sáng tạo thành một điều “điên rồ” trước mắt khách quan.

Sau những lời bán tán, chỉ trích của cư dân mạng, người ta hỏi nhau rằng liệu trong những ngày APEC sắp tới có lặp lại hình ảnh những cô thiếu nữ hở vai, lưng trần tiếp khách nữa hay không?

RFA đã liên hệ với ban tổ chức APEC 2017 để hỏi về nguyên nhân vì sao lựa chọn trang phục áo yếm cho đêm đại tiệc hôm 6/11 vừa qua, nhưng không nhận được hồi đáp.

Sáu bài học từ Mẹ Têrêxa mà bạn có thể áp dụng trong cuộc sống

Sáu bài học từ Mẹ Têrêxa mà bạn có thể áp dụng trong cuộc sống

 

Sáu bài học từ Mẹ Têrêxa mà bạn có thể áp dụng trong cuộc sống

Mẹ Têrêxa chào đời ngày 26 tháng 8 năm 1910 tại Albania. Từ khi là con Chúa, Mẹ lúc nào cũng tràn ngập niềm vui hướng về các linh hồn. Mới 18 tuổi Mẹ nhanh chóng trở nên nữ tu thánh thiện trong nhà Dòng Lorento ở Ái Nhĩ Lan.

1- Khiêm tốn

 

 

 

 

 

 

 

 

Chúng ta có thể thực hành bài học này bằng cách: Nói về mình ít nhất có thể. Lo công việc của mình. Tránh tò mò. Chấp nhận các nghịch lý và vui vẻ sửa đổi. Bỏ lơ các sai lầm của người khác. Chấp nhận bị tổn thương, bị chế giễu. Chấp nhận bị khinh, bị ghét, bị quên. Hiền lành và dễ thương dù bị khiêu khích. Không làm hại nhân cách của ai. Luôn chọn làm điều khó nhất.

Nếu bạn khiêm tốn thì không có gì có thể đụng đến bạn được, khen cũng như chê, vì bạn biết bạn là ai.

2 – Làm ngang sức của mình

Sống đơn giản để người khác cũng có thể sống đơn giản.

Chúng ta có cảm nhận những gì mình làm chỉ là một giọt nước trong lòng đại dương. Nhưng đại dương sẽ khác đi vì có giọt nước này.

Tôi làm những chuyện mà bạn không thể làm, bạn làm những chuyện mà tôi không thể làm, cùng nhau, chúng ta có thể làm những chuyện cao lớn
3 – Đừng xem tất cả là nghiêm trọng

Con người thường phi lý, mất lý trí, ích kỷ chỉ nghĩ về mình. Dù vậy cứ thương họ!

4 – Đừng nhấn mạnh đến lỗi lầm của người khác

Tình yêu mãnh liệt không đo đếm. Là nhưng không.

Tôi khám phá một nghịch lý. Nếu bạn yêu cho đến đau đớn thì không còn đau đớn, chỉ còn tình yêu.

Đôi khi chúng ta nghĩ nghèo là không có ăn, không có mặc, không nhà ở. Cái nghèo lớn nhất là bị bỏ rơi, không được yêu, không được chăm sóc. Chúng ta phải bắt đầu sửa loại nghèo này trong chính nhà mình.

5- Luôn lịch sự dù ở trong tình trạng nào

Khi gặp nhau luôn có nụ cười, nụ cười là khởi đầu của tình yêu.


Cho vợ chồng, cho con cái mình, cho người láng giềng tình yêu… Đừng bao giờ để ai đến với mình mà khi họ ra họ không tốt hơn, không hạnh phúc hơn.

Nếu bạn phán xét người khác, bạn không có thì giờ để thương họ.

Một đời sống không sống vì người khác không phải là một đời sống.

6 – Chọn con đường khó nhất

Đừng hài lòng chỉ đơn giản cho tiền. Tiền không đủ, tiền là của cải mình có thể làm ra, nhưng tình yêu phải được nhận như một món quà. Hãy tỏa lan tình yêu nơi nào bạn đi qua.

Đừng chờ ở các người điều khiển, cứ làm một mình, từ người này qua người kia.

Trung tín trong từng việc nhỏ, vì sức mạnh của bạn ở trong chính những việc nhỏ này.

Đụng đến người gần chết, người nghèo, những người ở một mình, những người không ai mong muốn tùy theo ơn mình nhận, đừng bao giờ ngần ngại hoặc chậm chạp khi làm công việc khiêm tốn này.

Marta An Nguyễn chuyển dịch

Nếu hạnh phúc sẽ khơi nguồn đau khổ,

Suy Tư Tin Mừng tuần 32 thường niên năm A 12/11/2017

Tin Mừng (Mt 25: 1-13)

 Bấy giờ, Đức Giêsu kể dụ ngôn này cho các môn đệ nghe: “Nước Trời sẽ giống như chuyện mười trinh nữ cầm đèn ra đón chú rể. Trong mười cô đó, thì có năm cô dại và năm cô khôn. Quả vậy, các cô dại mang đèn mà không mang dầu theo. Còn những cô khôn thì vừa mang đèn vừa mang chai dầu theo. Vì chú rể đến chậm, nên các cô thiếp đi, rồi ngủ cả. Nửa đêm, có tiếng la lên: “Chú rể kia rồi, ra đón đi!” Bấy giờ tất cả các trinh nữ ấy đều thức dậy, và sửa soạn đèn. Các cô dại nói với các cô khôn rằng: “Xin các chị cho chúng em chút dầu, vì đèn của chúng em tắt mất rồi!” Các cô khôn đáp: “Sợ không đủ cho chúng em và cho các chị đâu, các chị ra hàng mà mua lấy thì hơn.” Đang lúc các cô đi mua, thì chú rể tới, và những cô đã sẵn sàng được đi theo chú rể vào dự tiệc cưới. Rồi người ta đóng cửa lại. Sau cùng, mấy trinh nữ kia cũng đến gọi: “Thưa Ngài, thưa Ngài! mở cửa cho chúng tôi với!” Nhưng Người đáp: “Tôi bảo thật các cô, tôi không biết các cô là ai cả!” Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào, giờ nào.

 *    *     *

“Nếu hạnh phúc sẽ khơi nguồn đau khổ,”

“Thì xin em đừng tìm đến với nhau.”

(dẫn từ thơ Phạm Ngọc)

 Tìm đến nhau, là để mang lại hạnh phúc, cho nhau. Đó là sự thật. Nhưng, sao nhà thơ lại nói: xin em hãy đừng tìm! Tìm hay không, vẫn là chuyện khôn chứ đâu là dại. Khôn dại/dại khôn, thánh sử nhà Đạo xưa nay vẫn giải khuyên qua dụ ngôn truyện trình thuật có cân nhắc, ngợi khen, tung hô.

Trình thuật thánh Mátthêu hôm nay, cũng ngợi khen/tung hô việc của Chúa, bằng nhiều cách. Cách dễ nhận nhất, là dụ ngôn. Dụ ngôn hôm nay thánh sử đặc biệt kể về các cô phù dâu khôn ngoan đáng cho mọi người nhận biết mà phân biệt dại với khôn. Khôn/dại, ở vào tình huống đợi chờ chàng rể tới, không biết trước. Vì, chàng rể đến bất chợt nên nhiều phù dâu chưng hửng, những vãn than về cảnh đột ngột, khó đoán trước.

Thời Chúa sống, đám cưới là sự kiện lớn trong sinh hoạt làng xã, mỗi một ngày. Sự kiện lớn đến độ người người trong làng đều quan tâm, muốn tham dự. Tiệc tùng lớn, có khi kéo dài nhiều ngày cả tuần lễ và còn tổ chức vui chơi đình đám suốt ngày đêm. Về phù dâu ở dụ ngôn, các cô đều là thôn nữ trẻ phần đông có quan hệ với nhà đám; tức, những người có vai vế quan trọng trong nghi thức tiệc rượu vui chơi, múa hát. Có phù dâu dự cưới, là có dễ vui và chắc chắn tiệc sẽ đạt.

Dụ ngôn, nay kể rằng chú rể đến khá trễ. Đây, là trường hợp rất phá lệ. Thường, thì chú rể nào cũng hăng hái tìm đến với ngày cưới. Vì cứ đinh ninh là phải đợi lâu, nên cánh phù dâu nhà ta mới thiếp đi và ngủ cả. Ngủ nghỉ, tuy thực chất không là vấn đề với đám cưới. Bởi, nhiều người có thể thức trắng đêm, cũng chẳng cần ngủ. Và, các phù dâu còn có thể thức giấc vào bất cứ lúc nào, khi chàng rể chợt đến. Nếu chàng đến vào nửa đêm -thường thì ít khi là thế- tất cả đều cần đèn đóm, ánh sáng, nên rất muốn có dầu để đốt sáng. Muốn vậy, phù dâu phải chuẩn bị cho đủ, để khỏi lỡ mất cơ hội. Bởi, nếu không biết cách mà chuẩn bị, phù dâu ta phải bổ đi lùng tìm cho bằng được dầu đốt để thắp đèn, còn gì là vui nữa.

Dụ ngôn, nay cũng kể về hai nhóm phù dâu. Một, luôn đề cao cảnh giác. Còn nhóm kia, chẳng chuẩn bị hoặc quan tâm gì đến đèn đóm. Dụ ngôn hôm nay, thoạt nghe có vẻ hơi mù mờ. Đọc kỹ, hẳn có người sẽ tự hỏi: làm sao nhóm phù dâu khôn lanh kia, lại không chỉ cách cho nhóm khờ dại biết sớm hơn, để cả hai cùng nhau chuẩn bị cho chu đáo. Tại sao nhóm khù khờ dù có dại cách mấy cũng phải biết cử một hai người đi lùng tìm dầu, chứ sao lại phải đi cả nhóm? Phải chăng, ngay lúc đó đã có căng thẳng, vì chú rể đã mướn toàn bộ số phù dâu để đạt hiệu quả tối đa cho tiệc cưới, nên toàn bộ nhóm phù dâu có thể hụt trọn cả lễ cưới? Nói tóm lại, hốt hoảng ở trường hợp nào cũng thế, thường lấy đi sự suy xét bình thường rất cần thiết của con người.

Sự thật mà nói, ở đời thường người khờ khạo thường là những người luôn chịu thua thiệt. Nên, dễ bị người khác chèn ép coi nhẹ như người không biết gì. Chí ít, là chuyện đạo đức, luân lý, rất trí thức. Chuyện dụ ngôn về người khờ khạo và khôn ngoan có thể áp dụng vào mọi người nói chung. Nói chung, là nói về những người không làm gì nên chuyện, hoặc cho ra hồn, nhưng vẫn muốn đạt lương tiền hậu hĩ, giống “mì ăn liền”. Như người đi tìm việc được gọi đi phỏng vấn, lại cứ khăng khăng theo ý mình đội mũ ngược ngạo, chẳng giống ai. Cũng tựa như đám học trò chẳng chịu học nhưng lại cứ muốn đậu cao, có đủ bằng cấp, nhưng thực chất lại ngu dốt. Như đôi uyên ương nọ chỉ biết lấy nhau để gần nhau mà ăn ở cho vui sướng, chẳng lo gì chuyện tương lại mai ngày, để có con.

Dụ ngôn, nay không chỉ kể, có thế. Nhưng thực sự, còn muốn diễn tả về tình hình Giáo hội mọi thời đang ở vào tình trạng của phù dâu. Chàng rể nói ở đây, là Đức Kitô. Việc “chàng rể đến chậm” là ý nói về ngày quang lâm Chúa lại đến cũng chầm chậm, theo quan niệm của cộng đoàn Hội thánh lúc ban đầu. Dụ ngôn đây, là: truyện dài cốt để kể lại sử hạnh Hội thánh thời ban sơ. Về tiêu chuẩn Chúa phán xét định đoạt về Giáo hội vào ngày Ngài đến lại.

Hình ảnh làm nền ở dụ ngôn hôm nay, là về dầu đốt. Nghe về dầu để đốt, hẳn có người sẽ nghĩ về niềm tin đốt cháy. Tức, lòng siêng chăm, sùng đạo. Về cung cách quản, tài lãnh đạo, hoặc: lòng độ lượng, thứ tha, đùm bọc, rất phục vụ, hoặc những chuyện như thế. Cũng may, là trình thuật hôm nay thực ra chẳng đề cập gì về những chuyện như thế. Vậy thì, về vấn đề gì?

Đoạn cuối trình thuật có nói:“Cửa đóng lại.” Và chàng rể đây, là Đức Giêsu lại muốn bảo: “Ta không biết các người.” Không biết ở đây, là không được Ngài biết đến. Không biết, là: không biết theo cách riêng tư như quan hệ bạn bè, chỗ thân quen. Không biết đến, chẳng phải là: ta không biết đến Ngài. Mà là: Ngài không hề biết ta. “Không biết đến ta”, tức hỏi rằng: không biết Chúa có còn đoái hoài đến ta hoặc mọi người? Phải chăng Ngài vẫn coi ta như dân con của Ngài? “Không biết đến ta”, còn có nghĩa là: ta có làm những việc “đáng làm” như Ngài, không? Đó, là những vấn đề đích thực đặt ra cho những ai tự gọi mình là Kitô- hữu. Tức Kitô khác.

Được Chúa biết, theo cách thế tự do như bạn bè người thân của riêng Ngài. Được Chúa biết, cũng đòi ta phải có cung cách xử thế như dân con được Ngài quang lâm đến lại. Được Chúa biết, là biết vào khoảnh khắc như Ngài từng loan báo vào thời trước. Được Chúa biết, còn diễn tả việc Chúa am tường mọi hành xử của Hội thánh trong quá khứ, hiện tại và mai ngày. Nói tóm lại, câu Chúa nói “Ta không biết các ngươi”, có nghĩa Chúa đã nhận ra được những việc làm “thật không phải”. Không thực tâm làm, như lời Ngài khuyên dạy.

Khi ta làm việc gì tốt lành, chắc chắn Chúa sẽ cảm kích, phấn chấn và cũng ngạc nhiên. Ngài sẽ đưa ta vào với nhóm hội của muôn người ở thế giới, để Ngài sẽ hiện diện trong ta, rất tự do, cởi mở. Và có như thế, ta mới nhận ra thiên đường hạnh phúc Ngài hứa ban bằng vào việc sử dụng sự tự do của chính mình.

Không nên hiểu câu nói của Chúa “Ta không biết các người.” như Chúa biết tất cả về đời ta qua lăng kính của vi tính, dù mọi sự đều hiện ra ở trên đó. Bởi, nếu như thế, chắc Chúa cũng sẽ buồn chán khi phải ngắm nhìn ta chuyển vận. Thật sự thì, Chúa không là Đấng chuyên kiểm soát vũ trụ vạn vật, theo cách đó. Ngài làĐức Chúa tự do, sống động và mật thiết với ta. Ngài cùng làm và cùng vui với ta trong muôn việc, ở đời.

Nếu so sánh Chúa với ta theo kiểu nghệ nhân đầy sinh lực, thì Chúa như nghệ sĩ bộ môn nhạc Jazz, chơi nhạc rất ngẫu hứng với ta, ở mọi thời. Ngài chấp nhận mọi hiểm nguy, cả khi ta tự do đối xử xem ra không ổn, như “người của Chúa”. Cả vào khi ta chơi nhạc Jazz mà lại chơi sai nốt trật nhịp. Ngài tuy biết, nhưng vẫn nhìn thoáng qua trong chốc lát, cứ để ta chơi tiếp. Nhưng, khi ta chơi nhạc đúng cách như người hành xử rất xứng hợp ở đời, thì Ngài sẽ cảm kích, biết ơn. Nói tóm lại, đó là cách thức để “biết đến ta” rất hay và rất thực như sự thực xảy đến trong cuộc đời của con người.

Nói theo kiểu dụ ngôn, thì chính đó là dầu đốt. Bởi thế nên, thể hiện tinh thần của trình thuật, là: sống thực. Sống, như mục đích ta sử dụng tự do của mình, để đem đến cho Chúa một thưởng lãm rất thực, để được Chúa nói ‘đã biết ta’. Đó, là thiệp mời. Là, tấm vé về dự tiệc cưới. Lễ hội của tự do. Giả như ta không làm thế, thì không thể gặp mặt chú rể cách đích thực như phù dâu có đèn mà không có dầu. Không làm được thế, chắc chắn rồi ra Ngài sẽ bảo: “Ta không hề biết các người”, như ngôn ngữ của trình thuật hôm nay.

Cuối cùng, có chuẩn bị chu đáo như thế không, mới là vấn đề. Vấn đề của ta và, mọi người. Trong tâm tình đó, cũng nên ngâm tiếp lời thơ vừa chợt hát, để cảm kích hát mãi: 

“Quỳnh chỉ nở về đêm trong giấc ngủ

Như tình yêu chỉ đẹp lúc ban đầu

Chẳng có gì tồn tại đến ngàn sau

Khi cơn mộng mù loà đêm dâng hiến”

(Phạm Ngọc – Với Quỳnh)

Với quỳnh, thì như thế. Thế còn với Chúa, chắc không hẳn thế. Bởi, Chúa là Tình Yêu, Ngài sẽ cứ tồn tại mãi đến muôn đời. Để, người người ngợi khen Ngài mãi khôn nguôi. Ngợi Tình Chúa. Khen tình người tồn tại mãi chốn thiên thu rất bất tận.

 Lm Kevin O’Shea CSsR biên-soạn –  

Mai Tá lược dịch.

Tôi đi trong nắng thu màu nhớ,

Tà áo cưới (Sơn Tuyền)

httpv://www.youtube.com/watch?v=CvXtiY5einE

Chuyện Phiếm đọc trong tuần 32 thường niên năm A 12/11/2017

“Tôi đi trong nắng thu màu nhớ”,
Ngơ ngẩn vì tiếng gió Thu buồn
Tôi đi trong lá thu vàng úa
Cứ ngỡ là muôn lá tình thư.”

(Hoàng Thi Thơ – Tà Áo Cưới)

(Gioan 16: 4)

 Trích dẫn câu hát này, chẳng phải vì mùa này là mùa cưới của nhiều người. Nhưng là vì, trong bài hát của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, còn nhiều ca-từ rất dễ nhớ như sau:

“Hôm nay sao áo bay nhiều thế
Tôi tưởng ngàn cánh bướm khoe màu
Ô hay! Tiếng pháo đâu buồn quá
Xác đỏ làm xao xuyến đường hoa.

Những tà áo cưới thướt tha bay bay trong nắng chiều
Đưa người em gái bước chân đi đi về bến nao
Ôi buồn làm sao em có nhớ Thu nào

Những tà áo cưới tiễn em đi em đi lấy chồng
Chim trời theo gió biết nơi đâu đâu mà ước mong
Cung đàn thầm rơi rơi mãi tiếng tơ lòng

Bâng khuâng trông gió bay tà áo
Gió hỡi làm sao bớt lạnh lùng
Tôi đi đi mãi theo mầu nắng
Nắng để lòng tôi với quạnh hiu.”

(Hoàng Thi Thơ – bđd)

Lúc đầu thì như thế. Như thế, những là: “thướt tha bay bay trong nắng chiều”, “bước chân đi đi về bến nao”, buồn làm sao…” Để rồi, cuối cùng, lại cũng hát “bâng khuâng trông gió”, “tôi đi đi mãi theo màu nắng” “Nắng để lòng tôi với quạnh hiu.”

 Ôi chà, là đúng quá. Cuộc vui nào chẳng có lúc tàn. Đời người, bao giờ mà chẳng có lúc đi vào ngõ tối, cũng rất cụt. Cụt và tối, như câu chuyện đôi lứa lúc về già có những buổi nằm nghĩ những chuyện vu vơ, khó nghĩ và khó có ý kiến như câu chuyện về “An tử” như sau:

Lãnh đạo các mạng lưới chăm sóc sức khỏe Công Giáo tại Úc cam kết sẽ không tạo dễ dàng cho hình thức trợ tử tại các cơ sở của họ một khi dự luật trợ tử được nghị viện thông qua. Tổng giám đốc tổ chức Health Australia của liên hợp bệnh viện St Vincent trên toàn quốc ông Toby Hall nói với tuần báo Catholic Weekly rằng bệnh viện sẽ tuân hành nghiêm chỉnh nguyên tắc là “không gây hại” một khi dự luật trợ tử trở thành hợp pháp tại tiểu bang NSW và Victoria.

Tổ chức Health Australia của liên hợp bệnh viện St Vincent được coi là mạng lưới cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe phi lợi nhuận lớn nhất nước. Ông Hall xác nhận bất luận kết quả của các cuộc tranh luận tại Victoria và NSW có ra sao, thì không một cơ sở y tế nào của mạng lưới Health Australia sẽ cung cấp hình thức trợ tử.

Trong khi đó, ông Mark Green, tổng giám đốc toàn quốc mạng lưới y tế Calvary Care với 15 bệnh viện trong quyền quản trị của họ – kể cả tại Melbourne và Kogarah – cho biết mạng lưới Calvary Care sẽ không tham gia nếu dự luật trợ tử được thông qua tại Victoria và NSW.

Nghị viện NSW hiện đang cứu xét dự luật Voluntary Assisted Dying Bill 2017 được sự đồng bảo trợ của các dân biểu Alex Greenwich, Trevor Khan, Lee Evans, Mehreen Faruqi và Lynda Voltz. Trong khi đó tại Victoria, dự luật Voluntary Assisted Dying Bill 2017 đã được hạ viện thông qua hồi tuần qua với 37 phiếu thuận và 27 phiếu chống. Thế nhưng nay còn chờ quyết định của thượng viện.” (Vũ Nhuận chuyển ngữ từ Nguồn sydneycatholic.org)

Nay thì, mời bạn và mời tôi, ta đi thẳng vào câu truyện kể cũng không kém khôi hài thuộc loại tiếu lâm chay, hơi bị nhạt như sau:

“Một ngày rất ngắn, ngắn đến mức chưa nắm được cái sáng sớm thì đã tới hoàng hôn

Một năm thật ngắn, ngắn đến mức chưa kịp thưởng thức sắc màu đầu xuân thì đã tới sương thu

Một cuộc đời rất ngắn, ngắn tới mức chưa kịp hưởng thụ những năm tháng đẹp thì người đã già rồi

Luôn luôn đến quá nhanh mà hiểu ra thì quá muộn , cho nên chúng ta phải học cách trân trọng, trân trọng tình thân, tình bạn , tình đồng chí, tình bạn học, tình đồng nghiệp …

Vì một khi đã lướt qua, thì khó có thể gặp lại

Sau 20 tuổi thì đất khách và quê nhà giống nhau vì đi đến đâu cũng có thể thích ứng

Sau 30 tuổi thì ban ngày và ban đêm giống nhau vì mấy ngày mất ngủ cũng không sao

Sau 40 tuổi thì trình độ học vấn cao thấp giống nhau , học vấn thấp có khi kiếm tiền nhiều hơn.

Sau 50 tuổi thì đẹp và xấu giống nhau vì lúc này có đẹp đến mấy cũng xuất hiện nếp nhăn và tàn nhang.

Sau 60 tuổi thì làm quan lớn và quan bé giống nhau vì nghỉ hưu rồi cấp bậc giống nhau.

Sau 70 tuổi thì nhà to và nhà nhỏ giống nhau vì xương khớp thoái hóa không thể đi được hết những không gian muốn đi .

Sau 80 tuổi thì tiền nhiều và tiền ít giống nhau vì có tiêu cũng chẳng tiêu được bao nhiêu tiền.”

Sau 90 tuổi thì nam và nữ giống nhau vì không thể làm nổi chuyện ấy nữa.

Sau 100 tuổi thì nằm và đứng giống nhau vì đứng dậy cũng chẳng biết làm gì

 Và những lời bàn “Mao Tôn Cương” của người kể, lại như sau:

 “CUỘC ĐỜI CỦA BẠN VÀ TÔI LÀ NHƯ VẬY KHÔNG KHÁC NHAU NHIỀU NHÌN RA , HIỂU ĐƯỢC , THẤU HIỂU RỒI ,CUỘC ĐỜI LÀ NHƯ THẾ . TRÂN TRỌNG NHỮNG THỨ CÓ ĐƯỢC , TÌM LẠI NHỮNG THỨ ĐÃ MẤT.”(Trích truyện kể ở trên mạng, bạn bè gửi cho nhau để còn đọc).

Đọc truyện rồi, nay mời tôi và mời bạn, ta đi vào mục hỏi đáp rất như sau:

“Thưa cha,

Vừa qua, con có dịp nói chuyện với bầu bạn  về vấn đề mà báo chí lâu nay cứ nói nhiều, đó là vấn đề “An tử” hoặc còn gọi là “Trợ tử”, tức: giúp người bệnh đi vào cõi chết, rất nhẹ nhàng. Vấn-đề này, lại sẽ được quốc hội tiểu bang New South Wales tranh-luận. Nhưng câu hỏi đặt ra là: có người từng bảo: họ cũng không hiểu được lý do tại sao ta không để cho những người đang đau khổ được chết nếu họ muốn thế. Riêng con, lâu nay tự hỏi thế nào là “An tử” và thế nào không phải là “An tử”, xin cha cho con vài giòng chỉ-dẫn”.   

Lại nữa, đã chính-thức viết thư gạn hỏi ông cha/ông cố những điều như thế thì cha/cố dù không am-tường vấn-để luật đời hay Đạo, cũng cố lục lọi sách vở để viết lên câu trả lời như sau:

“Trước nhất, ta phải tìm cách hiểu cho rõ cụm từ “An-tử” hay “Trợ-tử” bên tiếng Anh là “Euthanasia” có nghĩa gì. Cụm-từ này, xuất từ tiếng Hy Lạp có ý nói về cái chết tốt lành hoặc hạnh-đạo. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô đệ Nhị có viết tông thư Evangelium vitae (Đời sống Phúc Âm) vào năm 1995 trong đó ngài định nghĩa “Euthanasia” là “một hành động hoặc quên sót vố dĩ tự nó hoặc có ý-thức, tạo nên cái chết với mục đích loại-bỏ mọi đớn đau, sầu khổ” (Evangelium Vitae đoạn 65).

Điều ngài muốn nói, đơn-giản chỉ thế này: An-tử là việc giết chết một nhân mạng vô tội, như hành động cố sát, nhưng với mục tiêu đặc-thù là loại-bỏ cơn đau của một người. Trong tông-thư, Đức Gioan Phaolô xác-nhận: “An-tử là sự vi-phạm trầm-trọng luật của Chúa, bởi nó vung tay giết chết con người một cách vô đạo-đức, nên không thể chấp-nhận được. 

Tín-điều này dựa trên luật tự-nhiên và trên Lời của Chúa có chữ viết như truyền-thống Giáo-hội chuyển-luân và thường được huấn-quyền ban dạy trên khắp thế-giới. Tuỳ từng hoàn-cảnh, việc thực-thi động tác này thường kéo theo việc cố ý tự sát hoặc giết người rất đích thực. 

Sách Giáo-lý Hội-thánh Công-giáo từng viết rất rõ chuyện này bảo rằng: “An-tử là hành-động cố sát nghiêm-trọng chống lại phẩm-giá con người và phản lại việc tôn-kính Thiên-Chúa hằng sống, Đấng Tạo dựng nên muôn loài. Nếu phán-đoán sai lầm, con người có thể rơi vào tình-trạng cứ yên chí không thay đổi được bản-chất của hành-động giết người là hành-động luôn bị cấm đoán và loại-trừ” (GLHTCG đoạn 2277).

 Dù có là chuyện nên làm và có thể chấp-nhận làm bất cứ thứ gì để giảm bớt sự đau-đớn nơi người bệnh, nhưng theo pháp-luật thì việc này vẫn không được phép làm vì nó chấm dứt sự sống của con người. Cuối cùng thì, Thiên-Chúa là Chúa-tể sự sống và vì thế cũng tuỳ Ngài quyết-định khi nào thì con người sẵn sang đi vào cõi chết. Ta có thể giết con thú đang đau đớn vì nó chỉ là loài thú, nhưng không thể làm thế với con người được bởi con người là hình-ảnh giống Thiên-Chúa.

 Dù sao, ta cũng không được phép quên thực-tại của luyện ngục và sự đau khổ luôn giống như lửa ngọn, rằng linh-hồn chịu đau-đớn ở nơi đó cùng một lúc các linh-hồn cũng thấy vui lòng đến cực độ vì chúng được tinh-luyện cho sạch để đạt chốn thiên-đường. Bởi ta cũng biết, nếu ta kết-thúc sự sống của ai khác một cách quá sớm sủa ngang qua an-tử , cũng có thể là ta chẳng kết-thúc được cơn đau của họ chút nào hết, mà đúng hơn nhận chìm linh hồn họ vào chốn đớn đau nhiều hơn trong luyện ngục. Có thể, Thiên-Chúa muốn họ chịu cực thêm chút nữa ở đời này để rồi họ đem họ đi thẳng vào chốn thiên-được. Nên, ta hãy để Chúa quyết-định xem khi nào là thời-điểm đích-đáng để họ chết.

 Trong thời gian chờ đợi, tốt hơn ta nên làm tất cả điều gì có thể làm được để giảm bớt sự đau khổ của con người bằng sự chăm nom săn sóc cốt làm giảm cơn đau của người bệnh bằng cách sử-dụng moo5c-phin hoặc thuốc thang nào đó cho thích-hợp. Dù việc này chỉ làm ngắn bớt sự sống của một người giảm bớt tầm-mức ý-thức của người bệnh , đây không là an-tử nhưng đúng hơn, lại là chăm sóc rất kiên-trì. (X. GLHTCG đoạn 2279)

 Dù sao đi nữa, ai ai cũng phải duy-trì tầm-mức ý-thức cho đến khi họ làm tròn trách-nhiệm đạo-đức và gia-đình của họ và có cơ-hội chuẩn bị tinh-thần để sẵn sang giáp mặt Thiên-Chúa (X. tông-thư Sự Sống Phúc Âm đoạn 65). Và bao giờ cũng thế, ta có nhiệm-vụ tiếp-tục chăm sóc người ốm đau, bệnh tật trong đó có cả việc tiếp nước và thức ăn cho họ nữa.

 Cũng thế, không phải là an-tử làm đứt đoạn tiến-trình nào đó kéo dài sự sống của một người khi biết rõ là tiến-trình ấy không hoàn-thành mục-tiêu của họ hoặc chúng gây phiền-toái hoặc nguy hiểm cho người bệnh hoặc đưa ra một kết-cuộc thiếu cân-xứng với kỳ vọng. 

Sách Giáo Lý Hội thánh Công-giáo còn cắt nghĩa thêm rằng: “Ở đây, không ai được phép gây nên cái chết. Con người không có khả-năng cản-trở chuyện ấy thì còn có thể chấp-nhận được. Mọi quyết-định phải do người bệnh lập ra nếu người ất có thẩm-quyền và khả năng làm thế; bằng không, việc ấy phải do những ai có thẩm-quyền pháp-lý được hành-động thay cho người bệnh, mà ý-muốn của người này có lợi-ích hợp-pháp đều phải được tôn-trọng.” (X. GLHTCG đoạn 2278)

Một ví dụ cụ thể, là: có thể chấp-nhận việc chấm dứt việc tiêm chích hỗ-trợ người bệnh được tiếp sống khi biết rõ là không làm thế thì người bệnh cũng sẽ chết tốt. 

Tương-tự như thế, có trường-hợp cho phép được buông bỏ các hình-thức chữ-trị cách nào đó nếu thấy không thể chữa lành được nhưng sẽ chỉ kéo dài cơn đau của người bệnh mà thôi. Điều này bao gồm việc hoá-trị và xạ-trị và bất cứ hình-thức chữa chạy nào khác vẫn không tạo hy-vọng chữa lành được căn bệnh.

 Với khoa-học tiến-bộ, ta có nhiều cách chăm sóc khả dĩ làm giảm cơn đau cực-kỳ của người bệnh và việc này khiến người bệnh thấy dễ chịu đủ thì không nên khao khát biện pháp an-tử làm gì. Nhưng, ngay cả khi người bệnh đang phải chịu cơn đau đến độ cực kỳ, ta không thể coi an-tử như phương án cuối cùng để chấm dứt cơn đau của người ấy được.” (Lm Frank Doyle, Euthanasia: Don’t rob people of their suffering, The Catholic Weekly 22/10/2017 tr. 41)

Đọc giòng chảy đầy những chữ ở trên, chắc hẳn có bạn đọc lại sẽ liên tưởng đến câu truyện kể có đầu đề là “Chuyện thắng/thua” của ai đó vừa đăng tải trên trang mạng như sau:

“Có một hòa thượng lên núi chặt củi, trên đường trở về, ông thấy cậu thiếu niên nọ đã bắt được một con bướm và đang cố gắng khom hai bàn tay lại để giữ cho nó khỏi bay.

 Nhìn thấy người tu hành, cậu cất lời: “Hòa thượng, cháu và ngài đánh cược một ván được không?”

Hòa thượng hỏi lại:

-Cược thế nào?”

-Ngài đoán xem con bướm trong tay cháu sống hay chết? Nếu ngài đoán sai, bó củi sẽ thuộc về cháu”, – cậu thiếu niên trả lời.

Vị hòa thượng nọ đồng ý và đoán:

-Con bướm trong tay cháu chết rồi.

Cậu thiếu niên cười lớn đáp:

-Ngài đoán sai rồi.

Nói đoạn, cậu mở tay ra, con bướm từ trong bay lên.

Hòa thượng nói:

-Được, gánh củi này thuộc về cháu.

Nói xong, ông đặt gánh củi xuống, vui vẻ bước đi. Cậu thiếu niên không biết vì sao hòa thượng lại có thể vui vẻ đến như vậy nhưng nhìn gánh củi trước mặt, cậu ta cũng không để tâm lắm mà vui vẻ gánh gánh củi về nhà.

 Nhìn thấy con về, người cha liền hỏi số củi đó ở đâu ra, cậu mới đem chuyện kể lại cho cha nghe. Nghe hết câu chuyện của con trai, đột nhiên ông giơ tay tát con một cái, giọng giận dữ:

-Con ơi là con! Con hồ đồ quá rồi! Con nghĩ là mình đã thắng sao? Ngay cả khi con đã thua, con cũng không hề biết mình đã thua đấy.

Lời cha nói khiến cậu con trai ngơ ngác, không hiểu gì. Người cha liền lệnh cho cậu ta gánh bó củi lên vai, hai cha con mang củi đến trả cho nhà chùa.

Nhìn thấy vị hòa thượng nọ, người cha liền cất tiếng:

-Thưa thầy, con trai tôi đắc tội với thầy, xin thầy lượng thứ.

Hòa thượng gật đầu, mỉm cười nhưng không nói gì. 

Trên đường trở về nhà, cậu thiếu niên sau một khoảng thời gian băn khoăn cuối cùng cũng đã nói ra những nghi vấn trong lòng. Người cha thở dài, nói:

-Vị hòa thượng đó cố ý đoán con bướm chết, như thế con mới thả nó ra và thắng được gánh củi. Nếu ông ấy nói con bướm còn sống, con sẽ bóp chết con bướm và con cũng sẽ thắng cược. Con cho rằng vị hòa thượng đó không biết con tính toán gì sao? Người ta thua một bó củi nhưng đã thắng được thứ giá trị hơn rất nhiều, đó là lòng từ bi. Còn con, con đã thua, đã để mất thứ quý giá đó mà chẳng hề hay biết.”

 Câu chuyện có thể rất đơn giản nhưng đó là bài học cho chúng ta trong cuộc sống. Thắng, thua, thành, bại là những chuyện thường xuyên giày vò cuộc sống của con người. Có những lúc chúng ta tự cho rằng mình đã thắng nhưng trên thực tế, có khi chúng ta đã thua nhiều hơn mà chẳng hay. (Sưu Tầm)

 Nói như người kể truyện ở trên, thì: mọi việc trên đời “có thể rất đơn giản, nhưng đó là bài học cho chúng ta trong đời sống!”

Nghe ra như thể: có người đọc truyện kể ở trên lại cũng nghĩ rằng: “Trong đời sống của chúng ta, nhiều bài học xem ra cũng đơn giản như truyện kể”, thế thôi.

Như thế, nghĩa là: truyện kể hay bài học và bài học hay truyện kể đôi khi cũng giống nhau từng chi tiết. Có những chi tiết chỉ đơn-giản như câu truyện để kể, lại cũng có chi tiết vẫn được coi như bài học  chứ không chỉ là truyện kể, để cho vui.

Xem thế, giống như thể người đi Đạo Chúa lâu nay cứ nghe đi nghe lại nhiều truyện kể trong Tin Mừng, lúc đầu cứ tưởng đơn-giản chỉ là truyện kể, nhưng nghe nhiều lần mới thấy đó là bài học để đời, giúp ta sống. Sống đạo hạnh và đơn giản như truyện kể mà thôi. Một trong các câu nói để đời ấy có thể kể như sau:

“Anh em cứ lấy thí dụ cây vả mà học hỏi.

Khi cành nó xanh tươi và đâm chồi nảy lộc,

thì anh em biết là mùa hè đã đến gần.

Cũng vậy, khi thấy những điều đó xảy ra,

anh em hãy biết là Con Người đã đến gần,

ở ngay ngoài cửa rồi.

Thầy bảo thật anh em:

thế hệ này sẽ chẳng qua đi, trước khi mọi điều ấy xảy ra.

Trời đất sẽ qua đi,

nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu.

“Còn về ngày hay giờ đó thì không ai biết được,

ngay cả các thiên sứ trên trời hay người Con cũng không,

chỉ có Chúa Cha biết mà thôi.”

(Mc 13: 28-30)

Và hôm nay, nếu bạn và tôi dám áp-dụng câu nói trên vào cuộc đời người có những chuyện không phải để kể, mà để học và hỏi như chuyện “An tử” hay “Trợ tử” bàn ở trên, thì kết luận có thể rút ra được, hệt như câu trên mà rằng: có những sự việc “ngay cả các thiên sứ trên trời hay người Con cũng không, chỉ có Chúa Cha biết mà thôi.”

Nói thế, không để phản bác lập-trường của Giáo-hội hay ai đó về vấn đề “Trợ tử” hay “An tử”, nhưng chỉ muốn bảo với tôi và với bạn rằng: có những chuyện hoặc những truyện chỉ để kể chứ không để rút ra một kết luận nào đó, đúng/sai, thực/hư, mà chỉ để cho nhau nghe mà thôi.

Nghe thế rồi, nay mời tôi và mời bạn, ta lại trở về với bài ca ở trên dung làm câu chấm hết hết cho bài “Phiếm” hôm nay, mà rằng:

“Hôm nay sao áo bay nhiều thế
Tôi tưởng ngàn cánh bướm khoe màu
Ô hay! Tiếng pháo đâu buồn quá
Xác đỏ làm xao xuyến đường hoa.

Những tà áo cưới thướt tha bay bay trong nắng chiều
Đưa người em gái bước chân đi đi về bến nao
Ôi buồn làm sao em có nhớ Thu nào

Những tà áo cưới tiễn em đi em đi lấy chồng
Chim trời theo gió biết nơi đâu đâu mà ước mong
Cung đàn thầm rơi rơi mãi tiếng tơ lòng

Bâng khuâng trông gió bay tà áo
Gió hỡi làm sao bớt lạnh lùng
Tôi đi đi mãi theo mầu nắng
Nắng để lòng tôi với quạnh hiu.”

(Hoàng Thi Thơ – bđd)

Tắt một lời, có đi “rong nắng thu màu nhớ” hay không, cũng là cơ hội để ta nhớ lại những gì được Đấng thánh hiền nhà Đạo từng nói ở Tin Mừng, rồi giữ lấy cho đời mình:

“Thầy đã nói với anh em những điều ấy,

để khi đến giờ họ hành động,

anh em nhớ lại là

Thầy đã nói với anh em rồi.”

(Gioan 16: 4) 

Trần Ngọc Mười Hai

Cũng có nhiều lúc

Vẫn nghe và vẫn nhớ nhiều sự việc

Lại nghĩ đó là sự thật

nên mới hoàn hồn. 

Đã có Kết quả giải nhân quyền lần thứ 16 của Mạng lưới Nhân quyền năm nay.

From facebook:  d Trần Bang‘s post.
 
Image may contain: text

Trần Bang

Đã có Kết quả giải nhân quyền lần thứ 16 của Mạng lưới Nhân quyền năm nay.

Chúc mừng các cá nhân và tổ chức đạt Giải Nhân Quyền VN 2017!

1- Ông Nguyễn Hữu Vinh, trang Ba Sàm
2- Blogger Mẹ Nấm, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh
3- Mục sư Y Ích, dân tộc thiểu số

Tổ chức: Hội Anh em Dân chủ

Mời xem clip họp báo hôm nay:
https://www.youtube.com/watch?v=TuC-vhpjURo

Nguồn baotiengdan.com và FB Thu Ngoc Dinh