Cái bắt tay lịch sử của hai nhà lãnh đạo Nam Bắc Triều

Hoa Kim Ngo shared a post.
 
Image may contain: 2 people, people standing
Image may contain: 1 person
Image may contain: 2 people, people smiling, people standing
Image may contain: 1 person, standing

Lê Công ĐịnhFollow

Cái bắt tay lịch sử của hai nhà lãnh đạo Nam Bắc Triều khiến hàng triệu gia đình người Việt thêm đau lòng vì chúng ta đã phải tổn thất sinh mạng quá lớn mới chấm dứt được một cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn vào năm 1975. Đó là một sai lầm khó tha thứ.

Tuy vậy lịch sử không có chữ NẾU. Cách đối diện với sai lầm quá khứ hay nhất là hành động khôn ngoan ở hiện tại nhờ vào các bài học lịch sử trong và ngoài nước.

Vì vậy, nhà cầm quyền và đảng cầm quyền ở Việt Nam ngày nay nên nhìn vào Nam Bắc Triều ngõ hầu sớm hòa giải với đồng bào bất đồng chính kiến của mình, lắng nghe và làm việc với họ, để cùng mở ra một trang sử mới cho quốc gia, thay vì mở thêm cổng nhà tù cho đồng bào mình hôm nay và cho chính mình ngày mai.

Lời Chúa

 Phúc Âm: 1 Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy.

2 Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em.

3 Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.

4 Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi.”

5 Ông Tô-ma nói với Đức Giê-su: “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường? “

6 Đức Giê-su đáp: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy.”

30 Tháng Tư ‘cho ta sáng mắt, sáng lòng’

30 Tháng Tư ‘cho ta sáng mắt, sáng lòng’

Tạp ghi Huy Phương

Cầu Hiền Lương bắc qua sông Bến Hải, vĩ tuyến 17 chia đôi hai miền Nam-Bắc. (Hình: Wikipedia)

Từ sau ngày Hiệp Định Geneve năm 1954 lấy sông Bến Hải làm ranh giới chia cắt hai miền Nam Bắc Việt Nam, cả hai phe Quốc-Cộng đều tranh thủ nhân tâm đồng bào, lấy thông tin tuyên truyền làm vũ khí hàng đầu để tố cáo tội ác và nêu lên sự đau khổ lầm than của đồng bào bên kia giới tuyến.

Minh chứng sự tốt đẹp của việc “đất lành chim đậu,”thực tế là trong thời gian 30 năm chia cắt, chỉ thấy người miền Bắc vượt vĩ tuyến 17 vào Nam, chứ không thấy ai ở miền Nam ra miền Bắc tìm tự do.

Sau ngày 30 tháng 4-1975, nhờ thông thương đi lại, nhờ mắt thấy tai nghe, người Việt Nam của cả hai phe, đã thấy rõ sự tuyên truyền, tố cáo của chế độ bên này đối với phía kia là đúng hay sai.

Sự tuyên truyền và những thông tin của miền Nam đưa ra chưa thấm vào đâu so với sự thật tàn tệ và thảm cảnh của đồng bào miền Bắc. Sau này, chuyện đấu tố trong đợt cải cách ruộng đất năm 1949 còn kinh hoàng gấp trăm lần những gì miền Nam đã biết qua các tác phẩm của các nhân chứng miền Bắc được viết sau ngày “thống nhất” như “ Ngày Long Trời, Đêm Lở Đất” của Trần Thế Nhân, “Une Voix dans La Nuit” (Tiếng vọng trong đêm,) của Hoàng Văn Chí – Mạc Định, “Chuyện Làng Ngày Ấy” của Võ Văn Trực và rải rác hầu hết trong các tác phẩm của Dương Thu Hương, Trần Đĩnh… mà khả năng của người viết không đếm hết.

Một cuốn phim “Tố Cộng” của miền Nam như “Chúng Tôi Muốn Sống” không nói đủ 1/10 sự thật. Sau này, trong một cuộc phỏng vấn của ký giả Đinh Quang Anh Thái, nhà văn Dương Thu Hương đã kể: “Tôi còn nhớ lúc xảy ra chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất, ngay trước cửa nhà tôi là một người bị chết treo và lúc 8 tuổi, tôi đã phải đi theo các đoàn học sinh để chứng kiến các cuộc đấu tố địa chủ. Sau lưng nhà tôi, ngay đường xe hỏa, một người khác bị vu là địa chủ nên tự tử bằng cách đặt cổ vào đường ray cho xe lửa cán chết.”

Về chuyện đói nghèo của dân miền Bắc, dù giàu tưởng tượng, tôi không bao giờ nghĩ ra được cái cảnh đói của ngay gia đình của chị ruột tôi ở vùng Đức Thọ, Nghệ Tĩnh. Chị tôi đi lấy chồng trước năm 1954, sau này làm hộ sinh nông thôn, đi đỡ đẻ về, đói quá, có lần bị té xỉu dọc đường. Anh rể có thời gian làm Trưởng Ty Thương Binh- Xã Hội tỉnh Quảng Bình, sau về làm ở Ủy Ban Nhân Dân huyện Đức Thọ. Trong bốn năm chị tôi mất ba đứa con trong thời gian chỉ có vài tháng tuổi, vì mẹ thiếu ăn, không có sữa, nhà nhiều lúc phải ăn lá bí ngô nấu với sắn mốc qua ngày.

Ở miền Bắc, chế độ Cộng Sản tuyên truyền nói xấu miền Nam thì quá cường điệu, lếu láo, không có nổi 1% sự thật. Khi vào được để “tham quan” miền Nam và thăm bà con, dân miền Bắc còn ngây thơ mang vào Nam cứu trợ mấy ký gạo đỏ và chục chén ăn cơm. Sự thật thì miền Bắc đã mang về từ vùng đất “được giải phóng” hàng chục tấn vàng, kim cương cho Bộ Chính Trị đảng và cho hàng vạn xe gắn máy, đồng hồ, radio, quạt máy và vàng bạc đủ xây lại nhà cửa khang trang từ những thân nhân mà họ đã “khai tử” trên bản lý lịch trích ngang, vì không muốn liên hệ gì với những người đã di cư vào Nam năm 1954.

Bà chị tôi sau ngày “giải phóng” thương nhớ quay quắt cha già, nhưng chỉ có nước mắt làm quà cho cha. Phía Nam, gia đình tôi toàn là thầy giáo theo nghề sư phạm, không giàu có gì, nhưng lúc nào gạt lệ trước khi ra Bắc, chị cũng được cô em dâu dúi vào tay bà một hai chỉ vàng làm quà “thất trận!” Anh tôi, mỗi lần đi thăm bà chị “bên thắng cuộc” cũng kho một nồi cá lớn, khi cá sòng, khi cá thu vì gia đình chị tôi vẫn thường “thiếu chất!”

Sự nhồi sọ đến mù quáng, khó tưởng tượng nỗi, khi một thằng cháu, con bà chị tôi đã dẫn ở đoạn trên, tốt nghiệp kỹ sư Hà Nội, từng du học Liên Xô, khi vào gặp tôi sau năm 1982 tại Sài Gòn, đã thắc mắc:

– “Cậu mang quân hàm Đại Úy mà nhà cửa chỉ thế này sao?” (Nó được tuyên truyền sĩ quan miền Nam, cắt cổ mổ bụng, bóc lột nhân dân nên ai cũng có đời sống vương giả, nhà lầu xe hơi!)

Một hôm, có vẻ sau một hồi ngần ngại, “ông kỹ sư Hà Nội” này đã rụt rè hỏi tôi một câu rất mâu thuẫn với câu hỏi trước.

– “Thế Mợ có bị cảnh sát… không?” (Miền Bắc được tuyên truyền ở Miền Nam bị cảnh sát Ngụy kìm kẹp, cảnh sát muốn hiếp dâm ai cũng được, kể cả vợ… Đại Úy Ngụy!)

Biết là “Một sự bất tín, vạn sự chẳng tin” – Nếu một lần ta đã làm người khác mất lòng tin thì những lần sau không ai tin mình nữa! Nhưng trong vòng cương tỏa của đảng, bị bịt mắt che tai, đồng bào miền Bắc không có dịp để biết sự thật, chỉ biết nghe chuyện hoang đường. Từ chuyện Nguyễn Văn Trỗi bị trói tay vào cột, còn dùng tay giật băng vải đen bịt mắt, sau khi nhận một tràng đạn vào ngực còn dõng dạc hô to: “Hồ Chí Minh muôn năm!” đến chuyện hồi chánh viên Nguyễn Văn Bé còn sống sờ sờ, đã miền Bắc dựng thành liệt sĩ sau khi cầm quả mìn Claymor đập vào một chiếc xe tăng, làm chết 69 binh sĩ Mỹ và VNCH, phá hủy nhiều xe tăng. Từ chuyện Kim Đồng xa xưa tẩm xăng vào mình cho nổ kho đạn ở Thị Nghè, đến chuyện ngày nay “Hercule” Bùi Minh Kiểm tay không níu càng trực thăng chúi đầu xuống đất cho đồng đội bắn, máy bay nổ tan xác. Rồi chuyện đồng bào ở bờ Nam Bến Hải nghe tiếng loa đài phát thanh Vĩnh Linh vang lên, đã chạy ào ra bờ sông mừng rỡ reo hò: “Bà con ơi, o Nhạn, anh Tích (xướng ngôn viên) chưa chết. Đài Vĩnh Linh còn. Quốc gia nói láo.”

Rõ ràng quốc gia nói chưa được 1% sự thật của miền Bắc, trong khi cộng sản nói láo từ suốt 30 năm cho tới ngày cả nước được sáng mắt, sáng lòng.

Ai cũng nghĩ rằng nhà nước cộng sản dù chính sách ngu dân, làm cho dân càng ngày càng ngu, để tuyên truyền được hữu hiệu, nhưng ngu là đối với nông dân thất học, quanh quẩn trong rặng tre làng. Ở đây một kỹ sư có học, từng đi ngoại quốc lại nghe và tin sự tuyên truyền như vậy, thì không còn chỗ nói nữa.

Quả là nghệ thuật tuyên truyền của Cộng Sản Bắc Việt quá hay, nhưng không may Việt Nam có cái ngày 30 Tháng Tư đã làm rơi cái mặt nạ giả dối, phơi bày một sự thật trần truồng khiến người có lòng tự trọng thấy xấu hổ. Miền Bắc cảm thấy nếu được sống 1/10 cuộc đời bị đàn áp bóc lột của người dân miền Nam thì cũng đã sung sướng chán. (Huy Phương)

Cựu nhà báo thời chiến: “Tôi không nghĩ chiến tranh VN là chống Mỹ cứu nước”

Cựu nhà báo thời chiến: “Tôi không nghĩ chiến tranh VN là chống Mỹ cứu nước”

2018-04-26

Ông Nguyễn Mạnh Tiến, cựu nhà báo RFA với bút danh Nam Nguyên, trò chuyện cùng RFA nhân sự kiện 30/4.

Ông Nguyễn Mạnh Tiến, cựu nhà báo RFA với bút danh Nam Nguyên, trò chuyện cùng RFA nhân sự kiện 30/4.

 RFA
 Thưa quý vị, như vậy chỉ còn ít ngày nữa là đến ngày 30/4, ngày kỷ niệm chiến tranh Việt Nam chính thức kết thúc. Sự kiện này được nhắc đến với rất nhiều tên gọi khác nhau, tuy nhiên theo nhận định của ông Võ Văn Kiệt, nguyên Thủ tướng chính phủ Hà Nội thì đây là ngày triệu người vui nhưng cũng triệu người buồn.

Mời quý vị cùng theo dõi buổi trò chuyện giữa RFA và ông Nguyễn Mạnh Tiến, cựu nhà báo của RFA với bút danh Nam Nguyên, đồng thời ông cũng là một trong những phóng viên thời chiến tranh Việt Nam.

Xin chào nhà báo Nguyễn Mạnh Tiến, ông có thể chia sẻ những kỷ niệm đáng nhớ trước ngày 30 tháng 4 năm 1975?

Nhà báo Nam Nguyên: Trong tuần lễ cuối cùng, những sự kiện quan trọng gồm có Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, rồi phó Tổng thống Trần Văn Hương lên thay nhưng cũng chỉ được 5 ngày thì trao nhiệm cho Đại tướng Dương Văn Minh với hy vọng Đại tướng Minh có thể hòa giải với phía bên kia để ngăn tình trạng sụp đổ của miền Nam và có thể là thành lập một chính phủ liên hiệp chẳng hạn.

Ngày 28/4/1975, tôi làm truyền thanh trực tiếp (live) từ dinh Độc Lập lễ trao nhiệm cho Đại tướng Dương Văn Minh để lãnh nhiệm vụ Tổng thống. Các bạn chắc cũng lấy làm lạ lùng vì sao có thể trao nhiệm tại vì thường nếu Tổng thống xuống thì Phó Tổng thống lên, Phó Tổng thống xuống nữa thì người Phó của ông này sẽ lên, không có người đó thì Chủ tịch Thượng viện phải lên. Nhưng đây lại là trao nhiệm, có nghĩa là Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa rất minh bạch, rành rọt nhưng nó đã không được thi hành kể từ ngày 28/4.

Khoảng 5 giờ chiều hôm đó diễn ra lễ trao nhiệm, có vẻ như chính phủ của Đại tướng Dương Văn Minh coi chuyện này là nghiêm túc, không phải nhận công việc này để đầu hàng. Có thể Đại tướng Dương Văn Minh là một nhà quân sự nên ông ấy biết tình hình như thế nào. Phòng tuyến Xuân Lịch mất rồi, sư đoàn 18 vỡ, ông tướng Lê Minh Đảo đã giữ được 10 ngày rồi mà ông ấy rất anh hùng, báo chí thế giới cũng ca tụng ông ấy.

Cái nghề báo là không được xúc động. Phải nói là tôi đã rất cố gắng để dặn mình không được xúc động nhưng cuối cùng trong khi tường thuật live tôi đã bình luận một câu. Nhưng câu đó thành ra lại được nhiều người biết đến. Họ nhắc lại câu tôi nói: “Vào lúc này trời âm u đổ mưa, cũng giống như tình hình của đất nước vậy!”

Khi tôi về đến đài sau buổi chiều hôm đó là đã thấy lộn xộn lắm rồi. Máy bay đã bay vô oanh kích ở Tân Sơn Nhất. Ngay ở đài tôi nhìn ra, có những máy bay đi ngang đó thì ở dưới người ta bắn lên. Có thể bắn cả những máy bay tôi thấy không phải của bên kia. Tình hình lúc đó rất khó khăn.

Đó là dấu ấn ngày 28/4. Ông Tổng thống Dương Văn Minh thực tế chỉ tại chức 36 tiếng đồng hồ.

Tới ngày 30/4, trong đài tôi được ông Tổng trưởng Thông tin mới gọi điện yêu cầu cử người qua để thu thanh một bản hiệu triệu của Tổng thống Dương Văn Minh. Thu xong phải phát vào lúc 10 giờ, nếu không phát đúng giờ thì Sài Gòn sẽ biến thành một biển máu. Hôm đó tôi không ở trong đài, nhưng sau này tôi hỏi thì họ nói là ông Lê Phú Bổn, phóng viên trẻ tốt nghiệp trường báo chí Vạn Hạnh là người được cử đi thu thanh. Và người kỹ thuật viên đi cùng là ông Hồ Ổn. Hai người đi qua Phủ Thủ tướng ở đầu đường Thống Nhất thu và mang về phát. Những ngôn từ rất chững chạc, cũng với nội dung đầu hàng thôi, Đại tướng Dương Văn Minh nói rằng mọi người buông súng, quân đội ở đâu thì giữ nguyên ở đó để chờ người đại diện phía bên kia đến và bàn giao trong trật tự. Tôi thấy cách ông ấy đầu hàng như vậy cũng rất hợp lý. Khi bản thu thanh loan ra được một thời gian ngắn thì quân đội Bắc Việt mới tiến vào dinh Độc Lập. Câu chuyện đến đoạn này thì có nhiều điểm không rõ trong lịch sử, mỗi người nói một kiểu. Ông Bùi Tín thì nói rằng lúc đó vào trong dinh chỉ có cấp cao nhất là đại úy xe tăng, còn lại là nhỏ hơn, chưa có ông Chính ủy của đoàn đó. Bây giờ báo chí người ta cũng nói ông Chính ủy này có thể đến lúc kéo cờ lên rồi ông ấy mới tới.

Họ nói không chấp nhận lời đầu hàng ban đầu, đòi rằng bây giờ ông phải nói ông đầu hàng vô điều kiện bởi vì chính quyền của ông tan rã rồi, không có gì để bàn giao. Tôi thấy điều này cũng hơi cay đắng, bởi vì không nhất thiết phải như vậy vì người ta đã chấp nhận đầu hàng rồi, bây giờ làm mọi việc có thể để tránh đổ máu thôi. Những người cán binh Cộng sản lúc đó đã rút súng và nói ông phải đọc lại bản mới và đi thu. Thế rồi họ chở ông ấy tới đài phát thanh để thu bản đầu hàng mới.

Trước khi ông Minh tới đài thì ông Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh đã tới rồi. Người hoàng viên (tên gọi người thu thanh lúc bây giờ) là một phụ nữ, đã quá sợ hãi, có lẽ vì lần đầu tiên trông thấy bộ đội nón cối, súng ống, trong khi ông Tổng thống gần như bị áp đảo. Cô ấy sợ hãi quá, chân tay run lẩy bẩy không thu được. Có một nhà báo ngoại quốc ở đó, đã dùng cát-sét để thu. Một lúc sau ở phòng thu phụ người ta trấn tĩnh lại và thu được bằng băng lớn.

Đó là lời đầu hàng vô điều kiện và có lời chấp nhận lời đầu hàng đó của phía bên kia. Sở dĩ tôi phải kể dài dòng như vậy là vì có hai bản tuyên bố đầu hàng. Lần thứ nhất do ông Dương Văn Minh soạn thảo và đi thu. Lần thứ hai ông ấy bị áp giải đi thu. Nhiều người thắc mắc tại sao phải kể những chi tiết đó làm gì, nhưng tôi nghĩ rằng đối với lịch sử, sự thật quan trọng hơn sự kiện. Trong cuốn sách “Đại Thắng Mùa Xuân” của ông Văn Tiến Dũng, ông ấy nói đài Sài Gòn bỏ trống không còn một ai nữa. Quân ta (tức là quân Bắc Việt) đã vô thoải mái. Nhưng điều đó không đúng! Chính phủ không phải đã tan rã. Quân đội có thể mất phòng tuyến này hay phòng tuyến kia, nhưng đài tiếng nói quốc gia lúc đó vẫn còn.

Trong tháng 4 tôi còn có một kỷ niệm nữa không quên được. Khi Đà Nẵng mất, chắc khoảng 28/3, hôm đó tôi đang trực sở thời sự, thì ở dưới phòng kỳ thuật họ nói tôi xuống nói chuyện với đài Đà Nẵng. Ông quản đốc của đài Đà Nẵng, anh Huỳnh Quy, có vẻ mất bình tĩnh và giọng xúc động lắm.  Anh ấy hỏi “Tiến ơi mày có thể cứu được tao và các nhân viên của tao không?” Tôi cũng biết mình không thể giúp được gì, nên chỉ trấn an anh ấy thôi. Anh ấy bảo đang bị kẹt ở trong đài không thể ra được. Chúng tôi đang tìm cách giúp anh ấy, thì khoảng 15 phút sau anh ấy gọi lại bảo rằng “Tiến ơi không còn hi vọng gì nữa rồi, đã trông thấy họ ở ngoài hàng rồi.” Anh ấy chào vĩnh biệt, rồi về sau tôi không biết anh ấy như thế nào nữa. Đó là câu chuyện ám ảnh tôi hoài.

Họ muốn mở rộng chủ nghĩa Cộng sản ra toàn thế giới, đâu phải đánh Mỹ để cứu nước hay giải phóng miền Nam. 
– Nhà báo Nam Nguyên

RFA: Qua những cảnh tượng ông được chứng kiến khi làm những phóng sự chiến trường, ông suy nghĩ như thế nào về cuộc chiến tranh Việt Nam?

Nhà báo Nam Nguyên: Đây là một câu hỏi lớn, tôi chỉ nêu ra suy nghĩ của một người phóng viên đã trải qua cuộc chiến thôi.

Tôi thấy rằng giá không có cuộc chiến này thì tốt hơn. Khi kết thúc cuộc chiến vào ngày 30/4, đã có tổng cộng khoảng 2 triệu người miền Bắc và miền Nam chết, hàng trăm ngàn người bị thương, không đếm xuể những người còn sống nhưng cụt tay, cụt chân của cả hai bên. Và cuộc chiến tranh đó mục đích là gì, giữa cùng là người Việt Nam với nhau? Bản thân tôi cũng có một phần gia đình ở miền Bắc. Tôi cũng sinh ra ở Hà Nội.

Nói không có thì tốt hơn là vì giả dụ ngay cả khi chưa có Điện Biên Phủ, cứ để nguyên thì chậm nhất đến thập niên 60, tất cả những nước có thuộc địa đều phải trả lại cho người ta hết, bang giao tốt đẹp, buôn bán làm ăn với nhau mà không bị chết người.

Trận chiến Điện Biên Phủ dành độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh coi như đã thành công, đưa đến Hiệp định Geneva chia hai miền đất nước. Giá mà dừng ở đó thì vẫn còn tạm ổn. Nhưng đằng này, chỉ vài năm sau, miền Bắc bắt đầu mang quân gây chiến, rồi chuyển vũ khí vào trong miền Nam với lý do Tổng tuyển cử đã không diễn ra như Hiệp định Geneva nên phải đánh. Miền Bắc đã chuẩn bị chiến tranh ngay từ lúc đó rồi.

Trên chiến trường khốc liệt quá! Những gì tôi được chứng kiến, nhận xét về quân sự cả hai bên, binh sĩ binh lính của cả hai bên rất can trường, anh hùng và sẵn sàng chết để phục tùng lệnh từ trên. Khi tôi và đồng nghiệp vào mặt trận An Lộc bằng máy bay, chưa kịp nhảy xuống thì khói đã bốc lên trên máy bay rồi. Trông thấy bãi đáp Khánh Ly rồi mà bị đánh bom phải lượn ra luôn. Tôi thấy bay được có một khúc là may bay bị rớt rồi, và ngay lập tức họ bắn hủy máy bay đó. Thế là chúng tôi vẫn chưa vào được An Lộc. Nhưng cuối cùng kiên trì tôi và một người phóng viên tên Dương Phục cũng đã vào được.

Đi đến đó thì thấy thành phố An Lộc không còn một căn nhà nào nguyên vẹn hết. Toàn bộ là gạch vụ và một vài bức tường. Chúng tôi đến bộ chỉ huy của ông tướng Lê Văn Hưng, là vị tướng tử thủ ở đó để phỏng vấn, và coi như thành công.

Khi về lại không về được, cứ đi ra bãi đáp, máy bay cứ đáp xuống là phía bên kia họ pháo kích máy bay không xuống được. Chúng tôi không có cách gì để lên được, cứ đi ra đi vô mấy lần rồi lại phải quay lại. May mắn cuối cùng đài truyền hình họ đi trực thăng vào quay. Ông sĩ quan báo chí của ông Lê Văn Hưng, là ông đại úy Qúy, nói ông ấy sẽ đưa bọn tôi ra ngay khi máy bay truyền hình tới, chờ sẵn ở đó, máy bay hạ cánh là nhảy lên liền. Tôi cũng làm như vậy, và đội truyền hình đã cứu mạng tôi. Nếu không, tôi sẽ phải ở lại trong đó không biết đến bao giờ.

Đến ngày 6/7 tôi được lệnh chuẩn bị kỹ càng để đi công tác đặc biệt, nhưng không nói đi đâu. Đến ngày hôm sau họ chở tôi vào dinh Độc Lập, và chỉ tôi lên một chiếc máy bay. Trên đó chỉ có tôi, một người bên truyền hình, còn lại toàn các ông lớn. Tôi nghĩ chắc phải đi đâu ghê gớm lắm. Có một chiếc máy bay có ông Tổng thống và cả ông Hoàng Đức Nhã. Máy bay bên bọn tôi có ông đại tướng Cao Văn Viên là Tổng tham mưu trưởng. Tới nơi, tôi thấy rừng cao su và đất đỏ, tôi linh cảm là vào An Lộc. Tôi nghĩ ông Tổng thống này gan thiệt, vì An Lộc tới lúc này chưa có giải phóng. Đằng xa mình nhìn thấy bom đạn nổ dữ lắm, phi cơ oanh tạc các vùng cao điểm để hộ tống máy bay này. Câu chuyện này cũng để lại nhiều dấu ấn, và ông Tổng thống Thiệu cũng thành công trong việc thực hiện chuyến đi này.

RFA: Với nhiều người trẻ sinh sau năm 1975, thậm chí sau đến 20 năm, đã được mái trường Xã hội Chủ nghĩa dạy là cuộc chiến tranh Việt Nam này là để chống Mỹ cứu nước. Không biết nhà báo suy nghĩ như thế nào về quan điểm này của Chính phủ Việt Nam?

Nhà báo Nam Nguyên: Tôi nghĩ là trong lúc học các bạn tin vào những câu chuyện như vậy. Tôi không nghĩ là chống Mỹ cứu nước, Việt Nam Cộng Hòa khi đó được thành lập và được viện trợ từ Hoa Kỳ để xây dựng lại đất nước. Khi chưa có chiến tranh, miền Nam trù phú, sung túc lắm, xuất cảng rất là khá, đời sống rất cao, được ví là hòn ngọc Viễn Đông. Đến ông Lý Quang Diệu cũng từng nói thời đó chúng tôi cũng chỉ mong được như miền Nam Việt Nam thôi. Đời sống rất sung túc mà không hề có quân Mỹ ở đó. Sở dĩ người ta giúp Việt Nam Cộng Hòa là vì theo chủ thuyết Domino, nếu cứ để Cộng sản tràn dần thì sẽ mất hết, tất cả sẽ là Cộng sản hết nên họ muốn chặn lại theo ý nghĩa Việt Nam Cộng Hòa sẽ là tiền đồ của thế giới tự do. Chiến tranh bên kia quá lớn thì người Mỹ mới đem quân vào vì họ sợ mất.

Bên kia từ thời trước đã tuyên truyền nhiều, đặc biệt những năm xưa không phải giống như giới trẻ được biệt về miền Bắc sau này, thời trước miền Bắc khép kín không khác gì Bắc Hàn bây giờ. Người trong Nam chúng tôi không bao giờ được biết ngoài Bắc có cái gì, cũng không có hình ảnh luôn vì họ không cho người ngoài vào thăm, chỉ số ít những người thân chế độ mới được vào. Hình ảnh mà tôi biết được là khi ông Phạm Huấn ra Hà Nội công tác một ngày với một số phóng viên, họ có chụp một số hình ảnh và viết bài Một ngày tại Hà Nội. Hình ảnh rất nhiều và tôi cũng được xem. Khi xem, cảm giác Hà Nội y nguyên như hồi gia đình tôi di cư năm 1954. Không có thay đổi, không cất nhà thêm, trông nghèo nàn lắm. Ngoài đường phố ô tô không có, toàn xe đạp không à, và rất nghèo khổ rách rưới. Tôi hiểu miền Bắc họ dồn hết viện trợ vào chiến tranh và đời sống của người dân với họ không quan trọng. Một bên quan trọng đời sống của người dân, một bên làm sao thắng chiến tranh và tất cả dồn cho chiến tranh. Giáo dục từ nhi đồng, đều là tinh thần yêu tổ quốc, chiến đấu theo gương Bác Hồ vĩ đại. Đối với những người miền Nam nghe rất sáo rỗng và buồn cười, nhưng tôi hiểu người miền Bắc lúc đó tinh thần họ như một và họ tin cái đó. Và nhờ những cái dối trá đó đã đưa đến chiến thắng. Mục đích của họ là muốn đánh chiếm miền Nam thì tiền vào súng đạn hết. Dân đói, ăn độn, dùng tem phiếu một tháng được mua mấy lạng thịt hay một năm được mua mấy mét vải. Trong khi miền Nam là một thế giới khác. Bây giờ lại nói đi giải phóng miền Nam, cả những gia đình không phải Cộng sản và Cộng sản, đều có lấn cấn trong đầu bởi vì trong Nam họ sống quá sung sướng, đời sống cao. Phương tiện có rất nhiều, tất cả những tân tiến đã có rất sớm ngay trong thập niên 60.

Nói chống Mỹ cứu nước thì họ phải nói vậy vì họ rất nhất quán. Nghe mới đầu có thể không tin còn ngờ vực nhưng nghe hoài rồi cũng tin. Ông Hồ Chí Minh còn nói đại khái là nếu đánh thắng sẽ giàu mạnh gấp 10 lần năm xưa nên họ càng muốn đi đánh. Nhưng tôi không thể tin được họ có thể nói ra những điều như đi giải phóng miền Nam vì 20 năm người dân miền Nam sống dưới ách nô lệ của thực dân mới Hoa Kỳ, rồi chế độ ngụy,…mà toàn dân vẫn tin. Nên tôi phải bái phục người Cộng sản họ có những lý thuyết như vậy, nhưng trình độ người dân lúc đó không thoát ra được vì họ phải sống khép kín.

Nói đánh Mỹ cứu nước, nhưng ông Hồ Chí Minh là Cộng sản quốc tế từ thời ông qua bên Nga, bên Pháp. Và ông Lê Duẩn thì nói chúng ta đánh Mỹ là đánh luôn cho cả Trung Quốc và Liên Xô. Tức là họ muốn mở rộng chủ nghĩa Cộng sản ra toàn thế giới, đâu phải đánh Mỹ để cứu nước hay giải phóng miền Nam.

RFA: Sau năm 1975, có một khoảng thời gian nhà báo vẫn sống ở Sài Gòn dưới sự điều hành của Chính phủ Hà Nội. Vậy ông nhận thấy điểm khác biệt gì nổi bật ở thời kỳ đó so với trước năm 1975?

Nhà báo Nam Nguyên: Chúng tôi thấy mình ở dưới địa ngục. Những người giàu, kha khá thì ở tầng đầu địa ngục, còn những người nghèo thì ở tầng giữa, hay tầng đáy. Tôi khổ lắm. Khi giải phóng là tôi mất hết nghề nghiệp, rồi bị bóc lột lấy luôn tiền bạc bằng các trận đổi tiền giới hạn số tiền đổi. Nhiều người mất nhà mất cửa, và nền kinh tế suy sụp hoàn toàn vì áp dụng chính sách xã hội chủ nghĩa. Lúc đó ông Đỗ Mười bảo rằng kinh tế quốc doanh theo đúng xã hội chủ nghĩa là tốt nhất, ngăn sống cấm chợ. Lý thuyết của ông ấy là quốc doanh hết, tỉnh này xài không hết thì trung ương sẽ lấy mang đi tỉnh khác chia. Đại khái là kinh tế không có sự lưu thông. Thành ra miền Nam trong 10 năm đầu tiên tan hoang luôn. Nếu họ áp dụng kinh tế thị trường của miền Nam có kiểm soát ngay từ đầu, và đừng có đánh tư sản hay cướp giật của người ta để giải phóng, thì có lẽ không đến nỗi tệ. Về sau ông Võ Văn Kiệt nói rằng có sự tự kiêu của Cộng sản và đã bỏ phí những cơ hội mà để cho mãi đến khi đổi mới 1986 nhưng thực tế phải đến 1990 thì đời sống mới khá lên. Nhưng nó sẽ đến một ngưỡng nào đó thôi, bởi vì vẫn còn là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì nó nửa nạc nửa mỡ giống như độc tài chuyên chế nhưng do tổ chức của Đảng Cộng sản làm.

Những câu chuyện này xảy ra sau giải phóng thật đáng tiếc. Tôi muốn nêu thêm một ví dụ nữa, ở miền Nam năm 1965 dưới thời ông Nguyễn Cao Kỳ, lúc đó là Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương, tức là Thủ tướng. Ông ấy có Chính phủ vì người nghèo, ông ấy đã làm một điều mà tôi thấy đến bây giờ Nhà nước Cộng sản vẫn chưa làm được. Ông ấy đã mở Tổng cục Tiếp tế và ở đó bán những thứ mà những người công chức quân đội có thể đến mua với giá rẻ, không có quota hay tem phiếu gì hết. Đặc biệt nữa là hữu sản hóa xe lam cho những người chạy xe lam, bán trả góp. Ông ấy đã thành công điều đó. Đối với cá nhân gia đình quân đội hay công chức, họ được mua trả góp hoặc trả hết. Chính phủ bây giờ còn chưa làm được điều đó cho quân đội hay công chức của mình. Và hữu sản hóa những cái như xe lam tôi thấy lại càng khó. Bây giờ thì họ đã thay đổi, nhưng lại nhiều vấn nạn sinh ra theo kiểu tư bản hoang dã, như lợi ích nhóm,…Cho nên tôi vẫn còn thương người Việt Nam mình lắm!

RFA: Xin chân thành cám ơn những chia sẻ của nhà báo!

HÃY LẦN CHUỖI CẦU NGUYỆN CHO BÀ ẤY !

No automatic alt text available.

Loc Teresa

Có 1 linh mục già rất tốt, được mọi người yêu mến và không mất lòng ai. Ngày kia, ngài có việc phải đi xa.

Vừa mới lên xe khởi hành thì có 1 bà hàng xóm, sống cạnh nhà xứ hay có tính chê trách người này người nọ, hỏi xem có thể đi cùng xe với cha không, cha đồng ý. Đi được 1 lát, bà gợi chuyện:

– Thưa cha, con kể cho cha biết về 1 người đàn bà xấu nết, đó là người hàng xóm của con.

– Bà ấy xấu nết lắm sao? 
– Dạ vâng. Xấu lắm ạ.

– Vậy chúng ta hãy lần chuỗi Mân Côi cầu nguyện cho bà ấy để bà có thể bỏ được nết xấu.

Thế rồi, cha xướng kinh:
Nhân danh Cha…. Và bà phải thưa suốt 50 Kinh Mân Côi. Vừa đọc xong 50 kinh, bà lại tiếp tục phàn nàn:

– Cha ạ. Con đã phải chịu đựng bà ta quá nhiều. Con không thể kiên nhẫn hơn được nữa.

– Con nói đúng. Với 1 người như thế, phải kiên nhẫn lắm mới có thể chịu đựng được. Vậy chúng ta hãy lần thêm 50 Kinh Mân Côi nữa cho con. Xin Chúa ban thêm ơn kiên nhẫn cho con. Và rồi cha đọc tiếp: Nhân danh Cha…. Và thế là họ cùng đọc thêm 50 kinh nữa. Khi kinh cuối cùng vừa dứt, bà chớp lấy cơ hội nói luôn:

– Thưa cha, bà ấy sống rất tệ với chồng. Ông ấy khổ lắm cha ạ.

– Thật tội nghiệp cho ông chồng ấy lấy phải người vợ không ra gì. Vậy chúng ta hãy lần thêm 1 chuỗi nữa để cầu cho ông ấy. Và rồi cha lại xướng lên: Nhân danh Cha…

Khi đã xong 50 kinh lần thứ 3, mãi không thấy bà nói gì, cha hỏi lại:

– Thế còn ai khổ vì bà ấy nữa không con, để cha con mình đọc tiếp?

– Dạ, thưa cha… thưa cha… hết người khổ rồi ạ.

Tíctop CRM – Kỷ niệm 100 Đức Mẹ hiện ra tại Fatima 1917 – 2017

Lạy Thầy Giêsu, khi Thầy rửa chân cho các môn đệ

 

Lạy Thầy Giêsu,

khi Thầy rửa chân cho các môn đệ
chúng con hiểu rằng Thầy đã làm một cuộc cách mạng lớn.
Thày dạy chúng con một bài học rất ấn tượng
khi Thầy bưng chậu nước, bất ngờ đến với các môn đệ trong bữa ăn,
khi Thầy cúi xuống, dùng bàn tay của mình để rửa chân rồi lau chân cho họ.
Chắc Thầy đã nhìn thật sâu vào mắt của từng môn đệ và gọi tên từng người.
Giây phút được rửa chân là giây phút ngỡ ngàng và linh thánh.

Lạy Thầy Giêsu,
thế giới chúng con đang sống rất thấm bài học của Thầy.
Chúng con vẫn xâu xé nhau chỉ vì chức tước và những đặc quyền, đặc lợi.
Ai cũng sợ phải xóa mình, quên mình.
Ai cũng muốn vun vén cho cái tôi bất chấp lương tri và lẽ phải.
Khi nhìn Thầy rửa chân, chúng con hiểu mình phải thay đổi cách cư xử.
Không phải là ban bố như một ân nhân, nhưng khiêm hạ như một tôi tớ.
Từ khi Thầy cúi xuống rửa chân cho anh Giuđa, kẻ sắp nộp Thầy,
chúng con thấy chẳng ai là không xứng đáng cho chúng con phục vụ.
Lạy Thầy Giêsu,
Thầy để lại cho chúng con một di chúc bằng hành động.
Thầy đã nêu gương cho chúng con noi theo,
để rửa chân chẳng còn là chuyện nhục nhã, nhưng là mối phúc.
Xin cho chúng con thấy Thầy vẫn cúi xuống trên đời từng người chúng con,
để nhờ đó chúng con có thể cúi xuống trên đời những ai khổ đau bất hạnh.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

GIÀNH LẠI SỰ SỐNG CHO CON BỆNH

Đỗ Ngà

Vâng lời là mặc định kẻ lớn hơn luôn đúng. Đây là suy nghĩ ấu trĩ làm cho con người trở nên dễ dàng thỏa hiệp với bất công. Sẽ không có sự tiến bộ nào trong một cộng đồng được tôi luyện thành những kẻ vâng lời.

Trong văn hóa Việt Nam, các bậc cha mẹ vẫn thường hay tự hào rằng con mình là đứa “ngoan hiền dễ bảo”. Mà chính bậc cha mẹ quan niệm thế nên trong môi trường gia đình cũng giáo dục con cái mình như vậy. Kế tiếp, khi con trẻ rời môi trường gia đình để bước vào sân trường thì cũng được nhà trường giáo dục theo mục tiêu như thế. Mọi sự chất vấn với người thầy được cho là “hỗn láo” nên đã dập tắt tư suy độc lập của bọn trẻ. Đối với học sinh thì chỉ có 2 môi trường chính làm nên nhân cách cho nó, đó là nhà trường và gia đình. Khi cả 2 môi trường này mặc định kẻ lớn luôn đúng thì làm sao học sinh không thành cừu?

Tố chất mạnh mẽ dám phản kháng tới cùng những bất công đối với mình là một nhân tố tốt cho xã hội. Những đứa trẻ như thế này được gọi là những đứa cá tính. Cha mẹ có đứa con như vậy thì phải mừng, tuy vất vả trong vấn đề dạy bảo nhưng những đứa như vậy mới là những con người mà xã hội cần. Nếu cha mẹ bị lối mòn giáo dục cũ che mắt mà triệt tiêu tố chất đó của con là một tội rất lớn.

Sự mặc định kẻ lớn luôn đúng là nguồn gốc của độc tài tồn tại. Nó xuất phát từ quan điểm “quân xử thần tử thần bất tử bất trung” hay “phụ xử tử vong tử bất vong bất hiếu”. Nguồn gốc dân bạc nhược, chính quyền hung bạo được sinh ra từ đó. Dân là nơi sản sinh ra những mầm cải cách cho xã hội, mà dân nhu nhược thì lấy đâu ra mầm tốt cho đất nước? Chính quyền độc tài là một cản trở vô cùng lớn cho bất kì mầm mống tiến bộ nào. Nếu không cho nó tiêu vong thì tìm đâu ra điều kiện để tiến bộ? Như vậy kiểu độc tài toàn trị là giống phong kiến tập quyền phương Đông đến 90%, cần phải loại nó thì đất nước mới hồi sinh được. Độc tài toàn trị là virus gây bệnh, sự khiếp nhược nhân dân là căn bệnh do nó gây ra.

Hôm nay, nhờ có internet mà rửa đi sự vâng lời vô điều kiện tồn tại trong người dân. Nhưng Internet vào Việt Nam đã 27 năm và Facebook xuất hiện đã 12 năm mà vẫn chưa rửa được chất độc đó trong lòng dân tộc này. Lối giáo dục thuần hóa con người thành một động vật vâng lời là một cách giết chết dân tộc. 73 năm đã làm cho dân tộc này nhiễm độc quá nặng, khó mà chữa khỏi trong thời gian ngắn. Giống như bệnh nhân thập tử nhất sinh, ánh sáng tiến bộ là một loại thuốc đặc trị, loại thuốc này đang được truyền liên tục vào con bệnh qua Facebook, với mong ước rằng dân tộc này có chút chuyển biến. Thế nhưng sự chuyển biến quá nhỏ nhoi, bằng chứng vụ vâng lời Mobiphone và Viettel nói lên tất cả.

Hơn bao giờ hết, bây giờ xã hội cần nhiều người nữa lên tiếng lật mặt nạ kẻ đầu độc dân tộc. Như con bệnh đang giữa lằn ranh sống-chết, nếu không ra tay giành lại sự sống thì nó sẽ chết. Vậy nên, cần lắm những ngòi bút sắc sảo tham gia. Chính họ mà nản thì số phận con bệnh thật là hẩm hiu. Đã giành lại sự sống thì ai mong người bệnh khoẻ re như con ngựa kéo xe ngay lập tức được? Nên nghĩ, còn sức còn làm mà đừng kỳ vọng hiệu quả, nghĩ thế sẽ nản mà thôi.

THÁI ĐỘ CỦA HÒA THƯỢNG THÍCH TUỆ SỸ ĐỐI VỚI TỔ CHỨC PHẬT GIÁO QUỐC DOANH (GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM).

uỳnh Phi Long and Tho Nguyen shared a post.
Image may contain: one or more people and text

Việt Tân

THÁI ĐỘ CỦA HÒA THƯỢNG THÍCH TUỆ SỸ ĐỐI VỚI TỔ CHỨC PHẬT GIÁO QUỐC DOANH (GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM).

Vấn đề Giáo hội Phật giáo nằm trong Mặt trận tổ quốc, tôi không chấp nhận. Còn vấn đề liên hiệp giữa hai giáo hội (Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất và Phật Giáo Quốc Doanh). Tôi nói lập trường của chúng tôi là không có vấn đề liên hiệp. Phật Giáo Quốc Doanh (Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam) là thành viên của mặt trận tổ quốc Việt Nam, một tổ chức chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản. Đó là một tổ chức chính trị; chúng tôi không làm chính trị, không liên hiệp với bất cứ tổ chức chính trị nào.

Rồi người ta có nói rằng trong qui chế, trong hiến pháp mình thì đảng cộng sản lãnh đạo tất cả. Tôi nói tôi biết điểm đó. Tôi còn biết Lenin đã nói “đảng phải thông qua tôn giáo để tập họp quần chúng”. Lenin nói, cán bộ cộng sản nào mà đàn áp tôn giáo là phản động. Lenin không chấp nhận chuyện đàn áp tôn giáo; trong cộng sản không có chuyện đàn áp tôn giáo, đó là Lenin đã chỉ thị. “đảng phải thông qua tôn giáo để tập họp quần chúng” có nghĩa là tôn giáo là một công cụ chính trị của đảng. Vì đảng không đủ khả năng tập họp, phải mượn tay tôn giáo tập họp dùm. Mà tôi không bao giờ để cho Phật giáo làm công cụ cho bất cứ đảng phái chính trị nào.

Như Liên xô, một đảng phái chính trị, 70 năm thì sụp. Cứ cho là đảng cộng sản Việt Nam tồn tại 1000 năm nữa đi, tôi cũng không bao giờ đem 2500 năm lịch sử truyền thừa Phật giáo ra làm công cụ cho bất cứ đảng phái nào. Tôi còn nói: “nếu mà lời nói này của tôi là tự đào hố chôn mình, tôi vẫn sẵn sàng tự chôn mình, chứ không thể chấp nhận chuyện đó.

Còn nếu nói là luật pháp, đúng, tôi tôn trọng luật pháp, nhưng luật pháp mà xâm phạm lý tưởng của tôi, tôi không chấp nhận cái luật pháp đó, chứ đừng có dùng chữ luật pháp với tôi”.

Đúng là ở trong đất nước nào thì phải tôn trọng luật pháp đó, nhưng nếu tự mình đặt ra luật pháp để dùng luật pháp đó xâm phạm tới giá trị, xâm phạm lý tuởng của người khác thì tôi không chấp nhận luật pháp đó, tôi sẵn sàng chịu chết. Tôi đã từng đứng trước bản án tử hình rồi, tôi không sợ, tôi chấp nhận nó. Đây không phải tôi thách thức, mà là vấn đề lý tưởng của mình…”

NAM MÔ ĐẠI CƯỜNG TINH TẤN DŨNG MÃNH PHẬT.

Trích bài “Định hướng tương lai với thế hệ Tăng sỹ trẻ” của Thượng Tọa Thích Tuệ Sỹ, nói với Tăng Sinh Thừa Thiên Huế.
————
Nguồn: Duyên Giác Ngộ
https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=848810485322783&id=461201424083693

Thầy Thích Tuệ Sĩ đã từng bị nhà nước CSVN kết án tử hình về tôi “Âm mưu lật độ chính quyền”

Vào ngày 1-4-1984, Thượng Tọa Tuệ Sỹ bị nhà cầm quyền Hà Nội bắt giữ cùng giáo sư Trí Siêu Lê Mạnh Thát và 19 Tăng ni, sĩ quan cũ của QLVNCH, bị kết án mưu võ trang lật đổ chính quyền và trong phiên tòa kéo dài nhiều ngày cuối tháng 9 1980, ngày 30 ông bị kết án tử hình cùng giáo sư Lê Mạnh Thát.

Những lời tuyên bố của người tù lương tâm Tuệ Sỹ, tại Tòa Án, cũng như khí phách kiên cường lúc trong tù, là gương sáng chói lọi, và niềm tự hào của Phật giáo và của dân tộc: “Lập trường của chúng tôi là lập trường của Phật giáo, là lập trường của toàn khối dân tộc”. Năm 1998, Hà nội thả Thượng Tọa, cùng với một số người khác. Trước đó, ông đã tuyệt thực trong tù. Trước khi thả, họ muốn Tuệ Sỹ ký vào lá đơn Xin Khoan Hồng để gửi lên ông Chủ Tịch Nhà Nước Trần Ðức Lương, Tuệ Sỹ trả lời: ‘Không ai có quyền xét xử tôi, không ai có quyền ân xá tôi”. Họ nói không viết đơn thì không thả. Tuệ Sỹ không viết, và tuyệt thực. Họ phải thả ông, sau 10 ngày tuyệt thực. Hôm đó là ngày 1.9.1998.

http://www.gdpt.net/tailieu/tuesy/tuesy.htm

CHUYỆN TRÚ MƯA

 
Image may contain: 3 people, people smiling

Kimtrong Lam to Lương Văn Can 75.

 

Hôm vừa rồi, đang đi dạo phố thì gặp trận mưa to, phải chạy vào trú dưới hiên một căn nhà. Cùng đứng trú mưa có vài người khác nữa, trong đó có một cô bé mặt quen quen. Suy nghĩ mãi hắn mới nhớ ra cô bé chính là một trong những nhân vật được chụp hình đăng báo, và tấm hình này không hiểu sao đã được lưu giữ cùng với một tỷ tấm hình linh tinh khác trong phôn tay của hắn.

Thế là hắn chìa cái phôn ra và gợi chuyện làm quen :
– Có phải cháu đây không?
Cô bé không giấu được vẻ ngạc nhiên, thích thú:
– Vâng cháu và các bạn cháu đấy. Úi giời ơi, thích nhỉ?
– Nhưng chuyện gì mà các cháu khóc kinh thế? Bộ ba hay má cháu chết hả?
– Không. Ba má cháu có già phải đi theo trời theo phật cũng là chuyện nhỏ, việc gì phải khóc?
– Hay là các cháu đang đi đám ma của bạn bè thân quen ?
– Không. Đi đám ma thì phải vui chứ lị. Có mấy người pê-đê múa lửa với nhảy thoát y, thích lắm chú ạ.
– Hay là các cháu đang tỏ lòng tiếc thương cho chiến sĩ và đồng bào ta bị giết hại dã man bởi bọn Trung Quốc xâm lược ?
– Ơ, chú nói hay nhỉ ? Mấy chuyện linh tinh này can dự gì tới bọn cháu. Ai chết kệ người ta đi. Cháu thấy chú coi bộ hơi rảnh.
– Thì chú đang rảnh đây, đứng trú mưa chứ có làm gì đâu. Vậy nói chú nghe tại sao trong hình này các cháu khóc ghê thế ?
Cô bé vui vẻ hẳn lên:
– A, cái hôm ấy bọn cháu ra phi trường tiển đưa ca sĩ ….lên đường trình diễn ở nước ngoài. Đông lắm, ai cũng khóc, có đứa còn tính đập đầu xuống đất tự tử, phải hai chú bảo vệ mới giữ được nó đấy. Còn cháu khóc sưng mắt phải nghỉ học hết ba ngày.
– Nó ca sĩ ra nước ngoài hát, nó lãnh khẩm tiền, mắc chi các cháu phải khóc tập thể vậy ?
– Vậy là chú Hai Lúa rồi. Chú không biết bây giờ văn minh là phải bắt chước dân Âu Mỹ, phải khóc tối đa và sẳn sàng ngất xỉu vì thần tượng ca sĩ của mình. Nhờ vậy cháu mới được chụp hình lên báo đó. Còn chú, có ai chụp hình chú không ?

Hắn cứng họng. Không phải vì đuối lý, mà vì hắn ghê sợ cho sự xuống cấp trầm trọng của cái xã hội trăm năm trồng người hiện nay. Cứ thế này thì còn gì là thế hệ tương lai, còn gì là đất nước.

Hắn bước ra khỏi mái hiên dù trời vẫn còn đang mưa. Hắn không muốn đứng đó thêm chút nào nữa. Hắn cần sự khuây khỏa. Đi dưới mưa cũng là một cách để khuây khỏa, nhất là khi trong óc của hắn lại hiện lên mấy câu thơ của cô giáo Trần Thị Lam:

Đất nước này rồi sẽ về đâu anh
Anh không biết em làm sao biết được
Câu hỏi gửi trời xanh, gửi người sau, người trước
Ai trả lời dùm đất nước sẽ về đâu……/.

Lộc Dương.

   Những chuyện đổi đời

   Những chuyện đổi đời

HUY PHƯƠNG

 

 

Thuyền nhân Việt Nam ở trại tị nạn Hồng Kông năm 1994, gần 20 năm sau biến cố 30 Tháng Tư.

Tháng Tư lại về, khơi lại biết bao nhiêu chuyện não lòng cho cả một dân tộc. Đây là giai đoạn bi thảm nhất của miền Nam. Ba Mươi Tháng Tư được xem như một cơn đại hồng thuỷ, nôm na nhân dân gọi là ngày đứt phim, ngày tan hàng, ngày quốc hận. Nhân danh “cách mạng,” đây là một cuộc xâm lăng cướp bóc tàn bạo nhất trong lịch sử dân tộc, mà chỉ có tập đoàn Cộng Sản Bắc Việt, nhắm vào những người miền Nam, đặc biệt là những người thuộc chế độ VNCH, quân đội, hành chánh, đảng phái chính trị và những người bị ghép vào tội phản động. Nếu không với lòng căm thù và ganh tỵ vô biên từ chủ trương của đảng Cộng Sản, thì khó ai có thể tiến hành một cuộc trả thù tàn bạo như thế.

Sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, Cộng Sản Bắc Việt bắt đầu chiến dịch đàn áp có hệ thống với hằng trăm ngàn vụ bắt bớ, đưa hàng trăm ngàn nhân viên quân cán chính miền Nam đến các trại “cải tạo,” nơi mà “thằng khôn đi học, thằng ngu làm thầy!” Thực chất đây là chuỗi trại tù tập trung theo kiểu Trung Cộng và Liên Xô, ở đó chúng giết dần mòn tù nhân vì đói, bệnh tật, lao động cật lực và bị giết chóc.

Từ một miền Nam an lạc, trù phú, Cộng Sản Bắc Việt sau ngày “giải phóng,” vơ vét các “chiến lợi phẩm” mang về Hà Nội, đã biến mảnh đất này thành một nơi hoang tàn, bệnh tật, đói rách, tối tăm, tưởng như nơi đây đã đi giật lùi về thời hoang dã.

Gia đình các công viên chức miền Nam đã chịu một cuộc đổi đời bi đát.

Theo Lewis Sorley (1999), một sử gia Hoa Kỳ có uy tín, có lẽ “65,000 người bị xử tử bởi những người giải phóng họ” và “có đến 250,000 người bỏ mạng trong những trại cải tạo tàn bạo.” Có hàng trăm trại tù cải tạo, rải trên khắp toàn cả nước, đã đem lại bao nhiêu cảnh khốn cùng, nhà cửa bị tịch thu, lấn chiếm, thân nhân bị đuổi việc, con cái học hành dở dang, vật vã kiếm miếng ăn, gia đình ly tán. Nhiều gia đình nghe lời dụ dỗ đường mật của chính quyền mới, “đi kinh tế mới cho chồng con mau về,” để trở thành những gia đình không nhà, cùng đường trở về sống vật vờ trên hè phố.

Vụ “nạn kiều” là một chương bi thảm nhất trong lịch sử loài người khi hàng trăm ngàn người Việt gốc Hoa trong vùng cực Bắc Việt Nam năm 1978 bị cưỡng bức về Trung Quốc. Những người Hoa nhiều đời trước, đã di dân đến Việt Nam làm ăn, sinh sống, có người không biết tiếng Hoa, không biết quê hương, gốc gác mình nơi đâu, nay được chỉ định khăn gói trở về Trung Quốc.

Ngay lúc đó, Xuân Thuỷ, Bộ Trưởng Ngoại Giao còn trơ tráo tuyên bố: “Đảng và chính phủ ta trước sau như một, vẫn đối xử với bà con người Hoa như bát nước đầy. Có một số bà con trốn đi Trung Quốc, là do bọn xấu tác động! (Bên thắng Cuộc. T1- 121.)

Quảng Ninh và Hải Phòng là hai nơi, người Việt gốc Hoa được chiếu cố nhiều nhất. Người Hoa được chở xe lửa đi từ Hà Nội đi Lào Cai rồi đến Cầu Kiều. Nhưng số phận những con người này ra sao?

Trước khi qua biên giới, công an Việt Nam tịch thu mọi giấy tờ họ mang trong người. Về phía Trung Quốc đã có người ra đón, loa nhạc vang lừng. Nhưng đến ngày thứ ba, trở về “tổ quốc” tất cả đều phải bắt buộc đăng ký đi nông trường trồng cao su Mông Xi, ai chậm trễ sẽ phải đi Tây Tạng. 90% muốn trốn trở lại Việt Nam, nhưng đây là điều bất khả.

Trước đó, một phó chủ tịch tỉnh Quảng Ninh, gốc Hoa đã rạch bụng tự tử. Trần Vĩnh Ngọc, hiệu trưởng một trường phổ thông, cha Hoa nhưng mẹ Việt, có vợ là người Việt gốc Thái Bình. Bị xếp vào diện phải “trở về Trung Quốc,” kêu ca không được, Trần Vĩnh Ngọc bắt ba đứa con “khăn quàng đỏ,” đội viên thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh lên giường, lấy chăn bông đè cho đến chết. Sau đó, Ngọc lấy búa đập vỡ đầu vợ và dùng dao đâm vào tim mình tự sát.

Không ít một số người bị cơn bão “cải tạo công thương nghiệp” xô đẩy đến đường cùng, tán gia, bại sản, bỏ thành phố, bị tù đày hay xô đuổi đi vùng “kinh tế mới,” hoặc bỏ thây trên biển cả. Không phải như lúc ban đầu, đối tượng tư sản chỉ có 92 người, mà gần 29,000 gia đình không phải chỉ là tư sản, mà trung thương, kể cả tiểu thương chợ Trời cũng bị xoá sạch, do Đỗ Mười chủ trương cùng với bầy đàn kéo từ Hà Nội vào.

Trong chiến dịch này, Cộng Sản Bắc Việt chiếm thêm 5 tấn vàng và vô số kim cương, hột xoàn. Số lượng người Sài Gòn bị mất hết tài sản tìm cách vượt biên hay bị cưỡng bức đi kinh tế mới. Con số của Hà Nội đề ra là một triệu hai trăm ngàn người Sài Gòn phải đi lập nghiệp ở các vùng kinh tế mới, tuy không thực hiện được chỉ tiêu, nhưng Sài Gòn đã trở thành hoang vắng, một đô thị “tối lửa tắt đèn.”

Sau ngày 30 Tháng Tư năm 1975, cả một miền Nam “bị” cảnh đổi đời.

Trái lại, dân miền Bắc cũng “được” cảnh đổi đời, kiểu “chó nhảy bàn độc.” Biết bao nhiêu anh từ thợ thiến heo, thợ bẻ ghi đường sắt, thợ đóng quan tài, hay làm nghề khiêng cáng, bắt thịt heo lậu, đổi đời thành những cấp lãnh đạo đất nước, giàu có lẫy lừng!

Nguyễn Quang Lập, một nhà văn của “Bên Thắng Cuộc” trong câu chuyện nội bộ của gia đình ông, đã cho đây là “sự đổi đời kỳ diệu.”

“Sau ngày 30 Tháng Tư cả nhà tôi đều vào Sài Gòn, trừ tôi. Ông bác của tôi dinh tê vào Sài Gòn năm 1953, làm ba tôi luôn ghi vào lý lịch của ông và các con ông hai chữ ‘đã chết,’ giờ đây là triệu phú số một Sài Gòn. Ba tôi quá mừng vì ông bác tôi còn sống, mừng hơn nữa là ‘triệu phú số một Sài Gòn.’ Ông bác tôi cũng mừng ba tôi hãy còn sống, mừng hơn nữa là ‘gia đình bảy đảng viên Cộng Sản.’ Cuộc đoàn tụ vàng ròng và nước mắt. Ông bác tôi nhận nước mắt đoàn viên bảy đảng viên Cộng Sản, ba tôi nhận hơn hai chục cây vàng đem ra Bắc trả hết nợ nần còn xây được ngôi nhà ngói ba gian hai chái. Sự đổi đời kỳ diệu!” 

Huy Phương

Sống giây phút hiện tại cho tràn đầy yêu thương

 Sống giây phút hiện tại cho tràn đầy yêu thương

 

Trong nhịp sống cuồng loạn của thời đại ngày nay, chúng ta phải dừng lại trong giây phút hiện tại để sống thực sự cuộc sống trần thế của chúng ta. Chỉ có giây phút hiện tại chúng ta mới có thể xử dụng tự do nội tâm của mình cách chính xác, chúng ta mới thực sự tiếp xúc với thực tại và sự hiện hữu.

Đức cố Hồng Y Phanxicô Xavier Nguyễn Văn Thuận đã được Giáo Hội Hoàn Vũ nâng lên Bậc Đáng Kính vào ngày 04.05.2017.

Khi còn là Tổng Giám Mục Saigon Việt Nam, vào lúc 2 giờ chiều 15.08.1975, Ngài được nhà cầm quyền cộng sản mời đến Dinh Độc Lâp rồi bắt Ngài và đem đi trên một xe hơi có hai công an kèm hai bên, đem nhốt tù luôn… Họ đưa Ngài về giam tại Cây Vông, Nha Trang. Thành phố Nha Trang nằm trên bãi biển rộng đẹp là cơ sở tiền nhiệm của Ngài.

Thời gian bị giam nơi đây, Ngài thương xót và nhớ đàn chiên của mình ở Nha Trang và ở Saigon đang không người chăn dắt. Hằng ngày nghe tiếng chuông nhà thờ vang lên, hằng đêm nằm cô đơn nghe tiếng sóng biển, Ngài đã khóc khi nghĩ đến thân phận một giám mục trẻ mới 41 tuổi khỏe mạnh và có nhiều kinh nghiệm mục tử mà phải bị giam cầm nơi đây, Ngài nghĩ đến có thể một ngày nào họ sẽ đưa mình đi xa nên Ngài suy nghĩ, mình nên bắt chước Thánh Phaolô viết thư cho giáo dân.

 Hoang mang trong những cảm giác buồn sầu, sợ hãi, căng thẳng lẫn lộn trong tâm hồn, làm cho trái tim tan vỡ, Ngài đang phải chìm trong bóng tối dày đặc của những đêm kinh hoàng đó, Ngài được ánh sáng Chúa Giêsu Kitô soi rọi. Ngài từ từ tỉnh thức:

Tôi phải trực diện với thực tại. Tôi đang bị tù. Nếu tôi chờ đợi lúc nào có thời cơ sẽ làm việc lớn; không biết đời tôi thời cơ sẽ đến được mấy lần! Chỉ có một điều chắc chắn là tôi sẽ chết.

Hãy cướp thời cơ mỗi ngày để thực hiện cách phi thường những việc tầm thường .

 Niềm xác tín đó gây cảm hứng cho lời cầu nguyện:

Lạy Chúa Giêsu, con sẽ sống giây phút hiện tại cho tràn đầy yêu thương  (trích Chứng nhân Hy Vọng )

 Quá khứ và tương lai không hiện hữu trong cái rời rạc trừu tượng của chúng nên không đạt tới sự vĩnh cửu. Sự vĩnh cửu chỉ quy hướng về giây phút hiện tại và chỉ được trao ban cho những ai hoàn toàn hiện diện vào lúc đó.

Chỉ trong giây phút này, ta mới đạt tới và sống trong hình ảnh của hiện tại vĩnh cửu  (Chứng Nhân Hy Vọng) a: P.Endokimov, Le Eta della Vita Spirituale (Các tuổi trẻ của đời sống thiêng liêng), Bologna 1968 tr.257-258)

Ngài dùng thời gian đó, sống giây phút hiện tại bằng cách viết lại những kinh nghiệm sống đức tin của Ngài để hướng dẫn con chiên của Ngài.

Giây phút hiện tại của Ngài là giây phút hy vọng.

Nhờ vậy ngày nay chúng ta có cuốn Đường Hy Vọng , một cuốn sách với 1001 câu hướng dẫn cách sống đức tin rất thiết thực.

Tại trại giam Cây Vông, anh công an gác cổng, người nào được anh cho phép mới được vào thăm, nhưng trẻ con thì không ai để ý. Có một em bé mỗi sáng đi lễ 5 giờ, cha ngoắc bé vào và dặn, về nhà nói mẹ mua cho cha những bloc lịch cũ nhé. Và từ đó Ngài viết vào ban đêm lên mặt trái của tờ lich cũ, mỗi ngày một tờ. Em bé này đem về cho các anh chị in ra phổ biến. Ngài viết trong một tháng rưỡi. Sau đó họ đưa Ngài cùng các quân nhân bị giam giữ ra ngoài Bắc.

Những giây phút sống hiện tại với tràn đầy yêu thương của Ngài trong mười một năm bị tù, có chín năm biệt giam trong phòng tối, chỉ có một lỗ nhỏ dưới sàn nằm, Ngài đã phải nằm sấp người để lỗ mũi hướng vào lỗ nhỏ đó mà hít thở không khí ngoài trời.

Vậy mà, với tình thương của Thiên Chúa, Ngài có thể thay đổi tâm hồn người khác, đã hoán cải được số đông các cán bộ công an có nhiệm vụ canh giữ Ngài, họ trở nên tốt hơn, họ biết quý trọng người khác. Họ được lãnh nhận tình yêu thương từ Ngài và tình yêu này giúp họ sống an hòa với tù nhân Nguyễn Văn Thuận. (trong tù không ai được gọi là cha Thuận hay linh mục Thuận, mà là tù nhân Thuận) Ngài dạy họ học tiếng Anh, tiếng Pháp, tiêng Nga, và Latin, họ thích thú và vui vẻ lắm.

Trong khi bất cứ ai bị nhốt trong bốn bức tường trại cải tạo cũng đều chờ đợi ngày được trả tự do. Dưới chế độ tàn ác của việt công, tất cả tù cải tạo là những Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, những công chức cao cấp của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đều được phe thắng cuộc, việt cộng, bắt đi tù cải tạo. Ai ai cũng sống trong chờ đợi ngày được tự do, về với gia đình vì tất cả đều nghĩ, mình có tội tình gì đâu… Khi mời họ đi trình diện, việt công đã nói chỉ đi có 10 ngày nhưng họ đã đánh lừa tất cả. Có người 10 năm, có người 15 năm chưa ra khỏi cái trại khổ sai cải tạo của họ. Ông xã trưởng nhà tôi, nhờ vì bị thương tích nặng khi làm lao động nên mới hân hạnh, chỉ được khổ sai trong 5 năm ở trại cải tạo. Khi về đến nhà thì chỉ còn da bọc xương và nỗi sợ hãi luôn luôn ám ảnh anh trong giấc mơ, kể cả thời gian sống ở Hải Ngoại mà thỉnh thoảng vẫn mơ thấy mình bị ở tù.

Quá khứ trong tay Thiên Chúa, tương lai thì trong tay quan phòng của Thiên Chúa, chỉ có giây phút hiện tại là thời gian duy nhất hiện hữu  với chính mình, thời gian tràn trề ân sủng của Thiên Chúa.

Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến ngày tận thế .

Thiên Chúa hiện diện ở với, thì ta không thiếu thốn gì. Thánh Teresa Hài Đồng Giêsu đã sống giây phút hiện tại trong yêu thương thắm thiết.

Thánh Nữ thốt lên: Ôi Giêsu, yêu thương chỉ có giây phút hiện tại .

Thánh Giacôbê: Trong khi các ngươi không biết cuộc đời mình ngày mai sẽ ra sao. Thật vậy, các ngươi chỉ là hơi nước xuất hiện trong giây lát rồi lại tan biến đi  (Gc 4,14)

Nếu ta ý thức được mình Chỉ là hơi nước trong giây lát rồi tan biến đi  thì mình chọn sống giây phút hiện tại cho tràn đầy yêu thương  là tuyệt vời nhất, là ý nghĩa nhất.

Muốn sống giây phút hiện tại chúng ta phải tập ý thứcnhững gì ở trước mặt chúng ta. Nếu những gì ở trước mắt chúng ta và xung quanh chúng ta mà ta không để ý, không hay biết, là ta đang sống không có ý thức.

Ý thức trong giây phút hiện tại là khả năng của đời sống tinh thần và là tinh hoa của đời sống tâm linh.

Khi tôi nấu cơm, nhặt rau mà tôi ý thức mình đang nấu cơm, đang nhặt rau cùng với Chúa Giêsu. Tôi đang trong giây phút hiện tại của tôi. Nói cách khác Thiên Chúa có mặt với tôi, sống một cách trọn hảo trong từng phút giây với tôi.

Sáng thức dậy tôi cám ơn Chúa đã gìn giữ tôi qua một đêm an lành. Làm mọi việc chuẩn bị cho một ngày sống và ý thức rằng mình đang làm việc nên rất an bình và vui.

Cuối ngày tôi làm phút hồi tâm, nhìn lại một ngày xem những gì mình đã làm đẹp ý Chúa, những gì mình nói hay làm sai trái hoặc mất lòng ai thì xin lỗi rồi cám ơn Chúa trước khi đi ngủ.

Ngài luôn hiện diện với tôi trong từng giây phút hiện tại.

Tôi cố gắng sống giây phút hiện tại cho tràn đầy yêu thương  với tất cả trân trọng trong từng ý nghĩ, từng lời nói, từng việc làm trong sinh hoạt hằng ngày.

Nhờ vậy, mỗi khi có lời nói hay cử chỉ phiền lòng ai, tôi nhận ra ngay và có cách sửa sai ngay.

Tôi sẽ luôn cảm nhận niềm vui sâu sắc và bình an trong tâm hồn. Tạ ơn Chúa.

Elisabeth Nguyễn (28.03.2018)

From: tramtubensuoi

HOẠNH TÀI

 

HOẠNH TÀI

Người ta nói của hoạnh tài là thứ của cải lấy không của kẻ khác. Cướp giết người để cướp lấy tài sản về mình là hoạnh tài. Gài bẫy để lấy tiền nạn nhân là của hoạnh tài. Lừa gạt lòng tin người dân lấy sạch tiền của họ bỏ trốn, người ta gọi là của hoạnh tài. Ở đâu có của hoạnh tài, ở đó có bất công.

Trong dân gian có câu nói “bạo phát thì bạo tàn”. Có nghĩa là dùng những thủ đoạn bất chính để hốt những thứ không thuộc về mình để có sự phát tài đột biến thì đó là bạo phát. Hậu bạo phát là sự trả sạch những thứ hoạnh tài một cách nhanh chóng người ta gọi là bạo tàn hay gọi là hoạnh tử. Đã hoạnh tài thì ắt hoạnh tử đấy là những gì dân gian đúc kết được. Cái bạo tàn có khi là sự vong mạng. Từ kinh nghiệm dân gian, người ta kết luận cái bạo phát là do nhân thì bạo tàn là do thiên, con người cướp thì trờ sẽ lấy lại.

Của cải của quan chức CS toàn là của hoạnh tài. Tất cả tài sản như nhà trăm tỷ, tiền con cái du học, tiền mua nhà Mỹ, tiền mua thẻ xanh, tiền gởi ở các tài khoản ngân hàng nước ngoài vv.. đều là tiền tước đoạt từ xương máu hàng triệu đồng bào mà ra.

Người nghèo bị bệnh không có tiền chữa trị phải về nhà nằm chờ chết. Bà mẹ khổ quá bảo con đập chết mình đi cho thoát khỏi kiếp trần ai. Những mạng sống này phải chết đi cho quan đầy túi, vì nếu không bị tham nhũng, số tiền đó đã có thể xây dựng một hệ thống y tế miễn phí cho dân nghèo. Thay vì cứu mạng dân nghèo, thì số tiền đó lại chui vào các biệt phủ, cách căn nhà bên Mỹ, các tài khoản ở ngân hàng Thụy Sỹ. Đồng tiền của quan chức nó chứa máu, nước mắt và cả mạng sống dân trong đó.

ĐCS, một đảng đang sống trên khối tài sản còm cõi của dân. Dân gần trăm triệu phải nghèo đi để nuôi vài vạn thằng quan chức ăn trên ngồi trốc. 73 năm, cướp có, giết có và đẩy đưa toàn dân đến đói nghèo để những người CS ngày một giàu khủng. 73 năm là thời gian quá dài với một đời người, các thế hệ CS vẫn chưa trả giá. Do đâu mà chúng nó bạo phát nhưng chưa bạo tàn? Do cái chủ thuyết của Lenin quá ác làm dân sợ. Mà dân càng sợ thì CS càng bền. Không biết ơn Lenin sao được? Nếu không có chủ thuyết này thì bọn họ làm sao giàu như ngày hôm nay? Nếu không có chủ thuyết này thì làm sao có triệu đô này đến triệu đô khác tự rót vào túi?

Và như là điều tất nhiên, tựa con bạc cầu cơ trúng số làm mâm cơm tạ ơn hồn ma đã mang lại tiền từ trên trời rơi xuống, thì những người CS cũng thế, họ xếp hàng và tạ ơn vong hồn ác quỷ Lenin đã mang lại cho họ nguồn tiền vô tận mà không phải trả giá cho cái ác. Đấy là lý do cả đám đến tượng đài Lenin thành kính dâng hương. Chúng ta khổ chúng ta kinh tởm con người Lenin và chủ thuyết tà ác của ông ta, nhưng người CS thì ngược lại.

CS chưa trả giá, nhưng chắc chắn phải trả. Có một triều đại tàn bạo với nhân dân nào mà tồn tại được bền lâu? 73 năm so với đời người thì quá dài, nhưng so với một triều đại của lịch sử thì ngắn ngủi thôi. Liên Xô và đông Âu đã từng bạo phát và có lúc kèn cựa với thế giới tự do. Nhưng cái bạo tàn của nó đã được chứng thực bằng sự đổ nhào nhanh chóng của những năm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ trước. CSVN lẽ nào ngoài quy luật?