


“Tiền dẫu rách, biết dán đúng cách vẫn có giá trị
Nhân cách thối tha, dẫu trưng đầy hoa vẫn không ai tôn trọng”.
BA TẤM HÌNH NÓI LÊN TRÌNH ĐỘ LÃNH ĐẠO VÀ BẢN CHẤT CHẾ ĐỘ. (Hình: Lãnh đạo VNCH và Hoa Kỳ & CSVN)

Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)



“Tiền dẫu rách, biết dán đúng cách vẫn có giá trị
Nhân cách thối tha, dẫu trưng đầy hoa vẫn không ai tôn trọng”.
BA TẤM HÌNH NÓI LÊN TRÌNH ĐỘ LÃNH ĐẠO VÀ BẢN CHẤT CHẾ ĐỘ. (Hình: Lãnh đạo VNCH và Hoa Kỳ & CSVN)
Khôn ra rồi,Tổng thống Philippines Duterte bây giờ mới nhận ra bộ mặt thật của Bắc Kinh – Chúc mừng?
Những năm qua Trung Cọng đã làm bao chuyện tày trời ở Biển Đông. Vậy mà ông Duterte vẫn làm ngơ vì được Trung Cộng mua chuộc. Nay thì ông mới nhận ra bộ mặt thật của họ? Ông đã lên tiếng chỉ trích hành động ‘ngang ngược’ của Tc trên Biển Đông.
“Anh (Trung Cọng) không thể tạo ra một hòn đảo nhân tạo trên vùng biển quốc tế, vậy mà anh lại nói không phận phía trên các đảo nhân tạo đó là của anh. Điều đó là hoàn toàn sai lầm, vùng biển này là vùng biển quốc tế”, tờ South China Morning Post (SCMP) dẫn lời Tổng thống Philippines Duterte ngày 14/8.
andy
Tổng thống Philippines Duterte phát biểu trước nhiều quan chức ngoại giao bao gồm đại sứ Mỹ, ông Duterte lên án hành động tuyên bố chủ quyền với vùng không phận phía trên các đảo mới bồi đắp và vùng biển xung quanh trên Biển Đông của Trung Cọng.
“Việc Bắc Kinh buộc các bên phải rời khỏi khu vực này có thể trở thành tác nhân châm ngòi xung đột. Quyền tự do hàng hải, tàu thuyền di chuyển cần được đảm bảo và không cần ai cho phép để đi qua một vùng biển mở quốc tế”, ông nói thêm.
Ông Duterte cũng cho rằng Mỹ có lỗi khi đã không ngăn chặn kịp thời Trung Cọng ngay từ khi các kế hoạch bồi lấp, cải tạo trái phép đảo nhân tạo mới được manh nha.
Hồi đầu tháng 8 vừa qua, Philippines cũng đã bày tỏ quan ngại đến chính quyền Bắc Kinh sau khi các máy bay và tàu Philippines nhận được nhiều tin nhắn radio, cảnh báo họ tránh xa các đảo nhân tạo Trung Cọng bồi đắp trái phép trên Biển Đông.
Tờ CNN cũng đưa tin quân đội Trung Cọng liên tục cảnh báo máy bay trinh sát của hải quân Mỹ phải ngay lập tức rời khỏi khu vực “để tránh mọi hiểu lầm”, khi những máy bay này bay gần đến các đảo nhân tạo.
Hình ảnh Trung Cọng quân sự hóa trên Biển Đông.
Các tin nhắn cảnh báo radio từng đến từ tàu tuần duyên Trung Cọng, nhưng các quan chức quân đội Mỹ nghi ngờ chúng đã được mở rộng ra và được phát từ các đảo nhân tạo Bắc Kinh tuyên bố chiếm đóng, nơi có nhiều thiết bị liên lạc và giám sát mạnh mẽ hơn được lắp đặt cùng với các vũ khí như tên lửa đất đối không.
Trong khi đó, quân đội Mỹ tại Nhật Bản cũng đăng thông báo của Hải quân Mỹ và viết kèm thông điệp thể hiện sự đoàn kết.
“Các máy bay P-8A của Hải quân Mỹ đồn trú tại Nhật Bản sẽ đóng góp vào hòa bình và an ninh khu vực mỗi ngày bằng cách bay qua bất kể nơi nào luật quốc tế cho phép”, quân đội Mỹ tại Nhật Bản bình luận.
Ngoài ra, các lực lượng khác như Không quân Thái Bình Dương và Hạm đội Thái Bình Dương cũng đều đăng lại thông báo của Hải quân Mỹ.
Theo CNN, trên độ cao khoảng 5.000 m, nhóm phóng viên quan sát thấy Trung Cọng đã bồi đắp phi pháp các đảo đá, xây nhà cao tầng, triển khai hệ thống radar, lưới điện và đường băng đủ lớn để cho máy bay quân sự có thể cất cánh và hạ cánh. Mỗi lần máy bay Trung Cọng cảnh báo, phi hành đoàn trên máy bay Mỹ lại đáp lại với cùng một thông điệp rằng, hải quân Mỹ đang thực hiện các hoạt động quân sự theo đúng luật pháp tại không phận của vùng biển quốc tế vì quyền và nghĩa vụ của tất cả mọi quốc gia.
CHỌN LỰA: MỘT HÀNH VI KHÔNG DỄ
Cả anh em nữa, anh em có muốn bỏ Thầy mà đi không? Chúa Giêsu không hỏi: anh em có tiếp tục theo Thầy không mà lại hỏi thẳng thừng: anh em có muốn bỏ Thầy mà đi không. Một câu hỏi không thuộc dạng mời gọi như trước đây mà là đặt vấn đề chọn lựa rõ ràng, dứt khoát.
Kitô hữu chúng ta theo đạo không phải là theo một học thuyết mang tính triết lý hay thần học nào đó, nhưng là theo một “con người”, theo một “ai đó”, một “Đấng nào đó.” Đấng hay con người mà chúng ta lựa chọn đi theo, lựa chọn để gắn bó, đó là Đức Giêsu Kitô. Phụng Vụ Lời Chúa ngày Chúa nhật XXI Thường Niên B đặc biệt lưu ý chúng ta đến hành vi lựa chọn. Chọn lựa một công việc để làm kế sinh nhai quả không mấy dễ. Chọn lựa một bậc sống thật lắm phân vân đủ bề. Chọn lựa một con người để làm bạn đời trăm năm cũng lắm sự nhiêu khê. Và chọn lựa Đấng để trao gửi hạnh phúc hôm nay, và vĩnh cửu chắc chắn sẽ khó khăn hơn nhiều. Vì thế, khi phải chọn lựa trong một vấn đề quan trọng, chúng ta cần có đủ cơ sở một cách nào đó.
Sau khi nhắc lại cho dân tình yêu của Thiên Chúa qua các kỳ công Người đã thực hiện để bảo vệ dân, Giô-suê khẳng khái trước toàn dân rằng: “Về phần tôi và gia đình tôi, chúng tôi sẽ phụng thờ Đức Chúa” (Gs 24,15). Và dân đã đáp lại rằng họ không hề có ý định bỏ Đức Chúa để phụng thờ các thần khác! Họ sẽ thờ phụng Thiên Chúa, vì chính Đức Chúa, Thiên Chúa của họ dùng quyền năng thực hiện những dấu lạ lớn lao để đem họ cùng với cha ông họ ra khỏi đất Ai Cập, khỏi nhà nô lệ mà vào đất hứa. Như thế, cơ sở để dân Chúa xưa chọn thờ phụng Người đó là vì Người quyền năng đã đưa họ ra khỏi nhà nô lệ.
Trước câu hỏi của Chúa Giêsu, một kiểu đặt vấn đề đòi hỏi có sự chọn lựa dứt khoát thì Phêrô đã thay mặt nhóm Mười Hai trả lời: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời” (Ga 6,68). Không kể trường hợp một phần tử trong nhóm không tin, thì câu trả lời của Phêrô nói lên sự chọn lựa của cả nhóm Tông Đồ. Và sự chọn lựa ấy đặt cơ sở trên điều này: vì Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Để nói lên được những lời này, chắc chắn cùng với các bạn, Phêrô đã từng chứng kiến uy quyền của Thầy khi khiến nước lã hóa thành rượu ngon (x.Ga 2,1-12). Các vị đã từng nghe Thầy nói với viên sĩ quan cận vệ nhà vua rằng: “Ông cứ về đi, con ông sống” và đứa con trai của ông ta đang đang hấp hối đã đuợc cứu sống (x. Ga 4,46-54). Và các ngài chưa thể quên lời tạ ơn mới đây của Thầy đã giúp cho năm ngàn người đàn ông chưa kể đàn bà và con trẻ no nê chỉ từ năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá (x. Ga 6,1-15).
Không ai tự nguyện dấn thân theo một lý tưởng, thực hiện một trách nhiệm hay gắn bó với một con người mà không ấp ủ một hoài bão, một ước mơ hay niềm hy vọng nào đó. Xưa, dân Do Thái chọn tôn thờ Thiên Chúa là để một mặt khỏi bị Người giáng họa, trừng phạt, mà trái lại sẽ được Người chúc phúc và che chở trước các “kẻ thù” lân bang (Gs 24,19-20).
Cái hoài bão, uớc mơ, đúng hơn là cái mục đích việc Phêrô thay mặt anh em chọn gắn bó với Thầy đó là vì “Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời.” Sự sống đời đời là một ước mơ của con người, mọi thời và mọi nơi. Dù đủ đầy của cải vật chất, dù nắm trong tay quyền sinh sát của bậc đế vương thì con người vẫn cảm nhận cái hữu hạn của cuộc sống đời này. Danh vọng quyền lực, của cải hay tiền tài không thể giúp ta kéo dài cuộc sống đến vô tận. Một thanh niên có nhiều sản nghiệp đã đến tham vấn Chúa Giêsu: Thưa Thầy, tôi phải làm điều gì tốt để được hưởng sự sống đời đời? Sau khi nói anh ta giữ các giới răn, Chúa Giêsu đã mời gọi anh ta hãy bán của cải, phân phát cho người nghèo rồi đến mà theo Người (x. Mt 19,16-22; Mc 10,17-22; Lc 18,28-30).
Chọn lựa là hy sinh. Một câu nói cho thấy một lẽ tất yếu của việc chọn lựa. Chọn ra đi thì phải hy sinh chuyện không ở lại, chọn việc cất tiếng nói thì đương nhiên phải mất thái độ giữ im lặng, đã chọn tôn thờ Thiên Chúa thì phải bỏ các thần của dân ngoại (x. Gs 24,23), v.v… Tuy nhiên sự hy sinh trong việc chọn lựa không chỉ dừng lại ở các nội dung xem như đối lập của sự chọn lựa mà còn có sự hy sinh ngay trong chính hành vi chọn lựa. Sự hy sinh ở đây được hiểu như một sự đánh cược, một sự dấn thân, một sự “liều lĩnh” nào đó. Vì chưng, chúng ta vốn khó có được các cở sở một cách chắc chắn kiểu trăm phần trăm khi chọn lựa một điều gì đó. Chúng ta dễ nhận ra ngay hiện thực này qua việc các bạn thanh niên nam nữ chọn bạn đời hay chọn ơn gọi tu trì. Như thế, sự hy sinh ở đây có thể hiếu như sự can đảm dấn thân, chấp nhận nhiều “cái giá” phải trả khi chọn lựa.
Cái giá mà chúng ta phải trả khi chọn lựa đi theo Chúa Giêsu, gắn bó với Người đó chính là “vác thập giá.” “Ai không các thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được” (Lc 14,27). Cái giá mà Phêrô sẽ phải trả được Đấng Phúc sinh báo trước: “Thật, Thầy bảo thật cho anh biết: lúc còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy, và đi đâu tùy ý. Nhưng khi đã về già, anh sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đế nơi anh chẳng muốn. Người nói vậy, có ý ám chỉ ông sẽ phải chết cách nào để tôn vinh Thiên Chúa. Thế rồi Người bảo ông: “Hãy theo Thầy” (Ga 21,18-19).
“Thiên Chúa dựng nên tôi không cần có tôi, nhưng Người không thể cứu tôi mà cần có tôi” (thánh Augustinô). Tự do là một quà tặng cao quý Chúa ban cho loài người, loài cao trọng nhất trong các loài hữu hình Người dựng nên. Tự do là một ân ban cao quý và cũng là một thử thách ắt có của tình yêu. Được sống đời đời hay phải chết đời đời có nghĩa là được hạnh phúc bất diệt hay bị trầm luân mãi mãi, các khả thể này đang tùy ở sự lựa chọn của chúng ta. Ai lại không muốn được sự sống đời đời, được hạnh phúc bất diệt, nhưng vấn nạn khó vượt qua đó là chúng ta thường e ngại phải trả giá.
Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa
Suy Tư Chúa nhật thứ 21 thường niên năm B 26/8/2018
(Ga 6: 54a, 60-69)
Tại hội đường Caphácnaum, Đức Giêsu tuyên bố:“Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời.” Nghe rồi, nhiều môn đệ của Người liền nói: “Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi?” Nhưng Đức Giêsu tự mình biết được là các môn đệ đang xầm xì về vấn đề ấy, Người bảo các ông:”Điều đó, anh em lấy làm chướng, không chấp nhận được ư? Vậy nếu anh em thấy Con Người lên nơi đã ở trước kia thì sao? Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống.
Nhưng trong anh em có những kẻ không tin.”Quả thật, ngay từ đầu, Đức Giêsu đã biết những kẻ nào không tin, và kẻ nào sẽ nộp Người. Người nói tiếp: “Vì thế, Thầy đã bảo anh em: không ai đến với Thầy được, nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho.” Từ lúc đó, nhiều môn đệ rút lui, không còn đi theo Người nữa.
Vậy Đức Giê-su hỏi Nhóm Mười Hai:”Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?” Ông Simôn Phêrô liền đáp: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa.”
* * *
“Em đi rồi, sám hối chạy trên môi,”
“Những tháng ngày trên vai buồn bỗng nặng…”
(dẫn từ thơ Nguyên Sa)
Mai Tá lược dịch.
Nhà thơ buồn, vì người em rày đã đi. Em đi rồi, nhà thơ thấy sám hối chạy trên môi, nên tháng ngày vật vã cứ chĩu nặng trên vai buồn. Nhà Đạo lại rất vui mà ra về khi Tiệc Thánh đến hồi chấm dứt, lòng những mang theo bài sai Chúa nhắn nhủ, và gọi mời.
Trình thuật thánh Gioan nay kết thúc với lời cuối Tin Mừng ở chương 6 Chúa nói về “Bánh Hằng Sống” khiến người nghe thấy chướng tai, bèn bỏ Ngài lại một mình. Và khi đó, Ngài hỏi đồ đệ xem các thánh nhận xét ra sao về chúng dân, đồ đệ bèn quả quyết: ai bỏ Chúa thì cứ bỏ,nhưng các thánh không bỏ Thày và cũng chẳng đi đến nơi nào không có Thầy ở đó.
Cuối buổi Tiệc, dân con Chúa những tưởng Tiệc Thánh đã chấm dứt khi chủ tế giơ tay ban phép lành kèm lời nhắn: “Anh chị em hãy ra đi bình an.” Kỳ thực, lời chúc “ra đi” hay “ra về” bình an, đều hàm ẩn một thôi thúc dân con dự Tiệc hãy về với thế trần mang theo sứ vụ Chúa trao phó, cho mọi người. Nhưng, bài sai đây là sứ vụ gì? Thực hiện sứ vụ này ra làm sao? Kết quả dẫn đến sẽ thế nào?
Ở đây, dân con dự Tiệc vào phút cuối sẽ khám phá ra một hiện diện khác từ Tiệc Thánh. Đó là, sự hiện diện mặt-đối-mặt của các sự vật có tính cách chỉ như vật thể. Dự Tiệc, không là hiện diện bằng thân xác mà dân con/cộng đoàn từng trải nghiệm theo cung cách chủ quan, hạn chế. Nhưng, hiện diện đây là qui cách hiện hữu mà chỉ mình Chúa mới có. Chính đó là Hiện Diện theo nghĩa của việc tặng ban/cho đi. Cho một cách nhưng-không chẳng màng gì lợi danh, đổi chác hoặc đáp trả theo nghĩa “có đi có lại mới toại lòng nhau”.
Đức Chúa không tặng ban cho ta chỉ một hiện hữu có ích, Ngài cũng chẳng trông chờ ta cảm kích biết ơn để rồi tạo thành ràng buộc khiến ta mất tự do, chẳng thoải mái. Ngài cũng không muốn lấy đi giây phút hiện tại ta đang sống trong nhà Chúa như một sự thể chính đáng. Và, Ngài cũng không đánh giá quá thấp chuỗi ngày dài đầy những quá khứ hoặc tương lai đang trờ đến.
Ta tưởng đó như một hiện tại kéo dài để rồi thiết lập nên những mẩu chuyện nhỏ cho một tổng thể lớn. Tổng thể, là đường lối hoàn toàn khác cho thấy người đời vẫn đặt nặng mọi thứ hơn là hiện tại. Nhất là, hiện tại xảy ra ở cuối buổi Tiệc Thánh, vào lúc ta được bảo: hãy “ra đi” mà trở thành kẻ tản bộ trong ước mơ tuy chậm nhưng rất chắc, ở thế trần. Ra đi, vì bài sai Chúa gửi đến thế trần không do ta chọn và thiết lập, mà chỉ tuân thủ và thực thi.
Và, Hội thánh hôm nay cho thấy thái độ “đóng kín” không am tường bản chất của mình, nên đã không phản ánh cái đẹp của trần thế bằng việc thể hiện động thái của mình. Và, cũng vì không am tường bản chất của chính mình nên cũng không tạo ảnh hưởng nào lên trần thế hết.
Thành thử, khi nhận bài sai ra đi về với thế trần làm chứng nhân rao giảng Lời Chúa và sống cho Chúa, nhiều dân con đi Đạo cảm thấy khó mà sống thực niềm tin giữa lòng dân tộc, thời hiện đại. Bởi thếnên, nền văn hoá thời đại chẳng dám đón nhận sứ điệp của Đạo Chúa, nữa. Thế trần thời hiện đại, là chốn miền khiến ta khó mà sống niềm tin rất đích thực. Bởi, ngày nay người người vẫn dễ dàng sống theo lề thói rất vật chất, tự do vui hưởng lợi lộc do chủ thuyết tiêu thụ dọn sẵn ý hướng chệch choạc.
Ở đây cũng thế, không dễ gì có thể định hướng được tính khí của nhân loại để người người có thể ra đi mở rộng Nước Chúa, sống cho Chúa. Bởi lẽ, cơ chế xây dựng nên Hội thánh hôm nay ngày càng ít trở nên gương mẫu cho đời thường, ở trần thế. Và vì thế, Hội thánh càng xa rời đời sống của chúng dân. Vì, nơi thế trần hôm nay cũng vậy, ngày càng thấy ít đi các Tiệc thánh hiến tế hoặc Tiệc Lòng mến thân thương đông người dự. Số lượng linh mục phục vụ Tiệc ngày càng ít, kéo theo sự thể là sứ vụ rao giảng Lời Chúa ngày càng chất chồng lên đôi vai trần của một vài vị còn ở lại với thánh hội.
Từ đó, có mục tử cùng lúc phải coi ngó nhiều giáo xứ. Có vị phải bỏ nhiều giờ để tới vùng sâu vùng xa mà “rao giảng”.
Thế nên, hôm nay, nhu cầu đòi dân con dự Tiệc nhận bài sai “ra đi rao giảng Nước Trời” trở thành chuyện sống thực ở đời. Sống thực, là sống đúng ý nghĩa của Tiệc Lòng Mến biến cải thế giới thành chốn miền đặc biệt để sống và lao động. Hôm nay, hơn năm mươi năm trôi qua kể từ ngày Công Đồng Vatican II ban hành nghị định thư về sự sống còn của dân con nhận bài sai rao giảng, cho thấy đó là quan điểm cách mạng chứng thực vai trò giáo dân đã đến hồi nở rộ, đẹp đẽ. Tốt lành.
Vấn đề của giáo dân hôm nay, không nhằm khuếch trương Hội thánh theo số lượng tăng nhanh bao gồm sự việc và phong trào do Hội thánh chủ trương. Cũng chẳng là phải làm gì hoặc làm thế nào để số người đến nhà thờ ngày một đông, có thêm người đọc kinh, hát xướng. Mà là, sống thực cuộc sống có hiệp thông ta học được từ Tiệc Thánh xảy đến ngay trong trần thế rất khí thế.
Trở thành giáo dân đúng nghĩa, là ơn gọi nhận bài sai ra đi rao giảng Lời, chứ không phải chức vụ mình nhận để thực thi. Ơn gọi giáo dân đây, là ân lộc gọi mời mọi người trở nên dân con của Chúa bằng cuộc sống hiệp thông, rất thương yêu. Gọi mời mọi người trở thành dân con sống thực Lời Chúa trong một thế giới chỉ chú trọng vật chất. Sống thực Lời Chúa, là sống hiệp thông thương yêu trong khuôn khổ của trần thế.
Sống thực ở đây không là kinh nghiệm hiệp thông rước lễ rút từ Tiệc Thánh rồi phổ biến cho thế giới cũng làm như thế. Làm thế, khác nào biến thế giới bên ngoài thành chi nhánh của Hội thánh ở bên trong. Làm thế, tức như thể dân con mình không còn tôn trọng tính đặc biệt của thế giới bên ngoài và lại chỉ muốn tân trang đổi mới mặt ngoài của thế giới, thế thôi.
Sống thực Lời của Chúa, là cởi mở với tính chất rất trần thế nơi cuộc sống đời thường vẫn như thế; để rồi, từ đó khám phá ra sự thể của cuộc sống có hiệp thông, thương yêu rút từ Tiệc Thánh đang thăng tiến với thế trần. Mãi đến nay, Hội thánh vẫn chưa đạt thành tích về chuyện này. Hội thánh lâu nay vẫn hãi sợ “thế gian” rất phàm tục. Thế gian, là cụm từ Hội thánh ít muốn nghe đến. Thế gian, là từ ngữ về hệ thống giá trị mang tính phàm tục đối nghịch hệ cấp giá trị của thánh hội. Và Hội thánh vẫn cứ sợ cả những giáo dân bên trong thánh hội của mình một ngày nào đó sẽ qua mặt cả hệ cấp rất thánh nữa.
Nay, đã thấy một vài đổi thay trong thái độ của thế gian. Nhiều vị sống ở thế giới gian trần này, nay đã biết được rằng: song song với các vận động đề cao nhân quyền của dân thường và các vậnđộng bênh vực những người thuộc sắc tộc thiểu số cùng nghèo hèn, Hội thánh nay cũng tích cực đề bạt và bàn bạc với trần thế để đi đến hành động chính đáng. Nhiều vị trong Hội thánh, nay đã biết dân con mình dù sống trong trần thế, với “thế gian” vẫn nhận lãnh nhiều ân lộc từ Đức Chúa.
Vậy thì, việc đó nói lên điều gì? Và có từ đâu? Phải chăng từ bài sai “ra đi” mà hiệp thông, thương yêu. Hiệp thông thương yêu, là kết hiệp và cảm thông với những người khác mình, trong quan hệ thường nhật. Bởi thế nên, thông điệp ở đây hôm nay, là: nếu ta học được điều hay từ hiệp thông thương yêu trong thánh hội, thì hãy sống thực điều đó bên ngoài hội thánh. Sống được thế, sẽ mang đến cho ta một khí thế, rất sống động. Hiệp thông yêu thương, là biết tôn trọng mọi người để rồi cùng họ đem tình thương đến với người khác, dù theo cung cách rất đời thường, hoặc “thế gian”.
Giáo dân ta, nay là người có cơ may nhiều hơn triều thần giáo sĩ và tu sĩ do việc họ vẫn sống và làm việc ngay trong cơ cấu trần thế. Việc của giáo dân, nay là lập quan hệ với những người sống trong trần thế, theo cung cách rất thế trần. Như thế, và như thể chính giáo dân mới là người đóng đúng vai trò thừa sai có từ bài sai “hãy ra đi mở mang Nước Trời, ở trần gian”.
Vào lúc kết thúc buổi Tiệc Thánh, giáo dân dự Tiệc là những người vẫn được giáo triều sai bảo “hãy ra đi mà về với thế gian” để triển khai công tác tốt đẹp được Chúa ủy thác. “Hãy ra đi”, bởi nay quý vị được ủy thác công tác ra mà đi, vì đã có phép lành từ Đức Chúa của hiệp thông/thương yêu ở với mình. Ra mà đi, vì ngay tại nơi mình đến đã thấy rõ dấu hiệu của sự sống lại, rất trổi trang.
Ra mà đi, nhưng không hãi sợ trần thế rất “thế gian” khi xưa được gọi là kẻ thù thứ ba rất đáng sợ. Bởi, thế gian là ta và cũng là người, chứ đâu là quỉ. “Ra mà đi”, hầu nhận lãnh sứ vụ gửi đến con người và cho con người có đính kèm phúc lành, chứ không phải lời chúc dữ dành cho “kẻ thù” là quỉ sứ, đáng hãi sợ. Hãy hiên ngang mà ra đi, vì Đức Chúa vẫn ở với mình và với người, là thế gian Ngài thương mến.
Trong tinh thần phấn chấn mà ra đi, cũng nên ngâm tiếp lời thơ vừa ngâm dở, ở trên, rằng:
“Em đi rồi, sám hối chạy trên môi,
Những tháng ngày trên vai buồn bỗng nặng.
Em ở đâu, hỡi mùa thu tóc ngắn,
Giữ hộ anh, màu áo lụa Hà Đông.
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng,
Giữ hộ anh, bài thơ tình lụa trắng.”
(Nguyên Sa – Áo Lụa Hà Đông)
Thơ tình hay áo lụa, vẫn cứ là lời nhắn nhủ của thế trần hôm nay không còn là “kẻ thù” rất dữ tợn. Nhưng đã là mục tiêu của thánh hội được Chúa ủy thác một bài sai, bấy lâu nay.
Lm Kevin OShea DCCT biên soạn
Mai Tá lược dịch
From Vuisongtrendoi gởi
Chuyện Phiếm đọc trong tuần 21 Thường niên năm B 26-8-2018
“Quen nhau từ năm tháng rồi”
Ngàn phương xa vời
Anh đến nơi này
để rồi quen nhau mãi mãi.”
(Lê Dinh – Ngày ấy quen nhau)
(1Th 4: 16-17)
Trần Ngọc Mười Hai
Quen nhau, đã từ lâu mà sao lại bảo “anh đến nơi này để rồi quen nhau mãi mãi”? Quen nhau mãi mãi, cũng không thể như đấng bậc vị vọng nọ, nại cớ quen nhau đã từ lâu bèn làm chuyện xằng bậy như bản tường trình từ nhà Đạo, viết như sau:
“Mới đây Đức Tổng Giám Mục Wilson được coi là chức sắc cao cấp nhất trong Giáo Hội Công Giáo bị kết tội che dấu lạm dụng tình dục trẻ em. Qua một thông báo. Hội Đồng Giám Mục Úc cho biết: “Việc ngài quyết định từ chức đã đến sau khi tính chuyện tương lai tiếp theo sau việc ngài bị kết tội không báo cáo những trường hợp lạm dụng tình dục trẻ em xảy ra trong thập niên 1970”.
Thông báo cho biết tiếp: “Trong khi thủ tục tư pháp tiếp tục, viêc từ chức của ĐTGM Wilson được coi là một chương mới trong câu chuyện đau lòng của những ai bị (cựu linh mục) Jim Fletcher xâm phạm tình dục mà cuộc sống đã bị hoàn toàn thay đổi. Quyết định này có thể mang lại đôi chút an ủi cho họ mặc dầu tất cả những đau khổ mà họ đã phải gánh chịu”.
Thông báo còn cho biết thêm là “quyết định của ĐTGM Wilson có nghĩa là ngài không còn là TGM Adelaide nữa bởi vì có kéo dài thì cũng chỉ gây thêm đau khổ và phiền muộn cho nhiều người, đặc biệt là các nạn nhân còn sống và cũng cho tổng giáo phận Adelaide. Hồi tháng 5, Đức Tổng Giám Mục Wilson đã bị kết tội bao che lạm dụng tình dục và bị kết án 12 tháng quản thúc.
Trong khi đó, qua một thông cáo báo chí của Tổng Gíáo Phận Adelaide, ĐTGM Wilson cho biết hy vọng và cầu nguyện rằng quyết định của ngài sẽ là một chất xúc tác hàn gắn đau khổ và phiền muộn. Ngài cho biết:
“Vào ngày 20 tháng 7, tôi đã đệ trình đơn xin từ chức Tổng Giám Mục Adelaide lên ĐTC. Mặc dầu việc từ chức không được yêu cầu, thế nhưng tôi đã quyết định bởi vì càng ngày tôi càng quan tâm đến mức độ tổn hại mà việc tôi bị kết tội mới đây gây ra cho cộng đoàn. Tôi từng có ý gia hạn quyết định này cho đến khi thủ tục khiếu nại hoàn tất.
Thế nhưng, có quá nhiều đau khổ và phiện muộn nếu tôi tiếp tục duy trì vai trò Tổng Giám Mục Adelaide, đặc biệt đối với các nạn nhân của (cựu linh mục) Fletcher. (Vũ Nhuận chuyển ngữ từ abcnet.au)
Quen nhau trong đời, quen cả những vấn đề được kể trong đời đi Đạo, nghe rất quen. Nghe quen quen, cón có truyện kể về các thiên thần hộ thủ, được giáo dân nọ đặt câu hỏi gửi đấng bậc nhà Đạo những câu tương tự như sau:
“Thưa cha,
Vẫn biết, Giáo hội từng dạy ta rất nhiều điều về các “thiên thần hộ thủ”. Thế nhưng, loài người chúng ta có thấy các vị ấy bao giờ đâu. Nếu vậy, lấy đâu là bằng chứng để ta tin là: các thiên thần ấy có thực. Xin cha giải thích cho con biết, kẻo không còn tin vào những gì được dạy dỗ từ lúc nhỏ.” (Câu hỏi của một bổn đạo người Úc không ghi tên)
Ấy chết! Không ghi tên/tuổi hoặc gốc gác lai lịch, thì có ma nào biết được người ấy là người Úc, cơ chứ? Chẳng lẽ người Úc mình lại hay hỏi những câu vẩn vơ/lờ mờ như thế sao? Thôi thì, có hỏi sao thì cứ hỏi, rồi ra đấng bậc nhà mình vẫn vui lòng giải thích, để chính mình được vui, như sau:
“Tôi e rằng phần lớn các giáo-hữu đều tin vào chuyện thiên-thần hộ-thủ từng giúp họ một số việc trong đời thật cũng khó thuyết phục được ai; chí ít là việc này lại dính đến chuyện các thiên thần vì đã đến cứu họ, nên không để cho tai nạn xảy đến hoặc trường hợp tìm ra đồ dùng đã mất hoặc nhớ lại vào phút chót những gì mình từng quên bẵng, và nhiều thứ khác.
Lại có nhiều vị từng kinh-nghiệm về các sự việc khá ấn tượng. Như vừa rồi, có người đến kể cho tôi nghe câu chuyện một cụ bà nọ bị liệt đã té khỏi giường khi cụ ông ra khỏi nhà. Cụ không thể leo lên giường nằm trở lại được, bèn ngủ ngay trên sàn. Nhưng gặp lúc cụ ông đi làm về thấy vợ mình vẫn nằm yên trên giường ngủ. Cụ bà là người sùng kính hết sức mình vào các thiên thần hộ thủ gìn giữ cụ.
Nhiều lúc, các thiên-thần cũng đã hiện ra với ai đó qua hình-thù người phàm. Đó là trường-hợp được tổng lãnh thiên thần Raphael kể lại trong Cựu Ước. Sách này cho biết thần-sứ Raphael đã hiện ra với người trẻ mang tên Tôbia và cùng với người này lập hành-trình rất dài và rồi kết thúc bằng sự kiện tốt đẹp. Cuối cùng thì, thần sứ Raphael mới bộc-lộ lai-lịch đích-thực của mình mà bảo rằng: ngài là thiên-thần hộ -thủ. (X. Sách Tôbia 5: 4-5; 12: 15)
Nhiều vị thánh cũng tuyên bố là: các ngài có kinh-nghiệm được các thiên-thần hộ-thủ gìn giữ suốt nhiều tháng ngày trong đời mình. Trong số các vị này, phải kể đến thánh Josemaria Escriva, người Tây Ban Nha. Thánh nhân đã kể câu chuyện từng xảy đến với ngài như sau:
Năm ấy 1931, trong đợt sóng chống giáo sĩ ở nước này, trong lúc thánh-nhân đang đi bộ trên đường phố ở thủ đô Madrid thì có ba người trẻ tuổi sáp lại gần phía ông. Tức tốc, một trong ba gã ấy chạy ùa về phía thánh-nhân vội vàng kêu lớn tiếng:
-Để tao bắt lấy nó.
Lập tức, một đứa khác ngăn cản:
-Không được thế. Ngươi đừng có đánh ông ta.
Ngay sau đó, người trẻ ấy bèn gọi thánh Josemaria bằng những lời trêu chọc như sau:
-Này, chú lừa con rất bé nhỏ.
Đó là hình-tượng mà thánh-nhân nói về mình. Nhưng, những điều như thế, duy chỉ có mỗi ngài hoặc cha giải tội của ngài được biết mà thôi. Nên ngài biết chắc là kẻ dữ đã tìm cách đánh ngài và thiên-thần hộ-thủ đang đến cứu ngài.
Ít năm gần đây, tôi có nghe kể lại câu truyện cô bé nọ có tham-dự buổi tình-nguyện do nhóm Opus Dei tổ-chức tại vùng Manchester City, thuộc nước Anh. Đêm tĩnh-nguyện hôm ấy, có chủ-đề về lòng sùng kính các thiên-thần hộ-thủ. Cô bé sau đó đã nói rằng: hiện giờ chẳng có ai còn tin vào các thiên-thần hộ-thủ mình nữa.
Trên đường về nhà, cô bé phải lội bộ ngang qua một vùng tăm tối có cây phủ trùm, bỗng có một thanh-niên người sạch sẽ sáng láng xuất hiện dưới ánh đèn lù mù, trước mặt cô. Đang suy tinh không biết có nên nhắm mắt rồi lầm lũi đi về phía trước hoặc rẽ sang đường khác cố tránh né. Khi đến gần, cô thấy người trẻ tuổi kia nhìn vào mặt cô; đổi lại, cô cũng nhìn vào mặt anh ta. May mắn thay, người trẻ ấy lại không sáp đến gần cô làm gì hết.
Những ngày sau, cô mở báo ra đọc thấy có tin về một người con gái bị giết chết ở khu công viên vào cùng lúc đêm hôm ấy, và thủ-phạm đã bị bắt giữ. Cô đến đồn cảnh-sát hỏi thăm thì được tường-trình về những gì cô trải-nghiệm cùng buổi tối. Cô lân la và được phép hỏi chuyện thủ-phạm vụ giết người, thì được biết: thủ phạm lại chính là người trai trẻ từng đi ngang trước mặt. Đợi đến lúc hỏi rằng: tại sao lúc ấy hắn lại không tấn công cô thay vị một phụ nữ khác, thì anh ta bảo: “Lúc ấy có hai người con trai mạnh khỏe đã hộ-tống cô, nên hắn ta không làm hại cô được…
Một ví-dụ khác, được các đài phát thanh thời ấy nói nhiều về đám thủy quân lục chiến quan-tâm nhiều trong thời chiến ở Triều Tiên. Rõ ràng, câu chuyện thật được anh lính chiến tên gọi là Micae từng kể lại, là: anh được cha mẹ dạy mỗi ngày cứ sáng sáng phải đọc kinh xin cùng thánh Micae Tổng lãnh Thiên Thần gìn giữ anh bằng những câu kinh như:
“Lạy Tổng lãnh Thiên thần Micae,
xin thánh-nhân giữ gìn hộ thủ con vào mọi lúc.”
Anh vẫn nguyện kinh như thế mỗi ngày, chẳng hề quên. Một hôm, trong buổi tuần-tra/do thám vào mùa đông lạnh giá ở Hàn Quốc, bất chợt anh thấy mình đang ở cạnh một người lính chiến thuộc loại to lớn, rất vĩ đại chưa từng gặp, nhưng đã nói với anh rằng: Anh ta tên Micae và anh còn nói thêm: “có lẽ chúng ta sẽ gặp rắc rối, chợt đến trước mắt…
Thế rồi, trời bắt đầu có tuyết càng ngày càng nặng hạt. Nhưng, người lính nọ lại quả quyết: chẳng mấy chốc, mọi nguy hiểm rồi cũng chấm dứt. Và, quả như lời anh nói, cơn tuyết đổ đã ngừng hẳn. Sau đó, hai người lại xa cách không còn dịp làm việc chung với nhau nữa, tuy thời-điểm tuần-tra vẫn tiếp-tục diễn-tiến.
Ít lâu sau, lại có sự kiện nhóm của hai anh đi tuần-tra bèn gặp phải 7 người lính chiến thuộc đám địch thù xuất hiện tay lăm lăm mấy cây súng máy chĩa vào người cả hai anh. Bỗng anh bạn bèn hét lớn tiếng mấy câu:
“Ngồi sụp xuống, Micae!
Sụp xuống mau đí!”
Và, cả hai đều nằm rạp xuống đất, tức thì có lằn đạn bay vụt trên đầu cả hai người. Anh thấy một Micae lực lưỡng vẫn đứng yên không động đậy, dù chẳng có ai ở đó tong quãng không hôm ấy. Micae lực lưỡng bèn nhảy chồm kéo anh nằm rạp xuống, nhưng chính anh ta lại bị đạn ghim vào trước ngực. Anh vẫn thấy Micae lực lưỡng yên hàn đứng sừng sững, chung quanh có lằn ánh sánh bao bọc tay anh cầm lưỡi kiếm sáng quắc, rồi biến mất.
Thế rồi, anh lấy lại bình tĩnh trở về với thực-tại khi đám tuần-tra đến gần về phía anh đang nằm. Anh bèn hỏi đồng bạn là Micae người bạn lực-lưỡng khỏe mạnh kia đang ở đâu? Thì các bạn đều trả lời:
“Bọn tôi đâu thấy có Micae nào lại gần anh đâu!
Vả lại, trong tiểu đội của mình, duy nhất chỏi có anh tên là Micae mà thôi.”
Rồi họ hỏi làm thế nào mà có thể bắn hạ được địch quân đông hơn anh thế? Anh bèn nói: bọn tôi có làm được tích sự gì đâu. Quả thật, cây súng máy của anh không hề nhả mất viên đạn nào hết. Nhưng bảy tay quân thù kia đều chết dưới lằn gươm sắc bén, chứ không phải sung đạn.
Tựu trung, câu truyện muốn minh-chứng rằng: Thiên-thần hộ-thủ quả có thật.”(X. Lm John Flader, Are guardian angels real? The Catholic Weekly 04/01/2015, tr. 22)
Có những truyện kể trong đời, tưởng chừng nghe rất quen, có khi quen đếnđộ “nằm lòng” lại vẫn là những câu truyện được kể như sau:
“Sau tuổi 50, tôi hiểu ra rằng, cuộc đời muốn hạnh phúc chính là làm được 6 chữ này
Thế là sau tuổi 50, tôi đã hiểu được rằng, thế giới thật rộng lớn, mà bản thân mình lại rất bé nhỏ, có những sự tình không cần phải xem nó nặng đến như vậy. Bản thân chúng ta vốn đã rất khổ, rất mệt, không cần cứ mãi chỉ trích lẫn nhau…
Con người ta, cả một đời đều đang bận rộn, mệt mỏi, bôn ba. Dù cho vất vả bao nhiêu, sau cùng vẫn có rất nhiều việc không thể hoàn thành được. Con người ta, cả một đời đều đang tằn tiện, tích cóp, dành dụm; sau cùng dù cho dè sẻn bao nhiêu, tiền bạc vẫn không bao giờ thấy đủ. Con người ta, cả một đời đều đang chịu đựng, nhường nhịn, sợ hãi; nhưng dù cho cẩn thận thế nào, ta vẫn đắc tội với không ít người.
Một đời chúng ta đều đang đọc, đang viết, đang cảm ngộ; nhưng dù có thông minh bao nhiêu, vẫn phải đối diện với không ít lần thua thiệt. Con người, cả một đời đều đang tỉnh táo, dù cho bình tĩnh bao nhiêu, cơ trí bao nhiêu; sau cùng vẫn không tránh khỏi những điều tiếc nuối.
Thế là sau tuổi 50, tôi đã hiểu được rằng, thế giới thật rộng lớn, mà bản thân mình lại rất bé nhỏ, có những sự tình không cần phải xem nó nặng đến như vậy. Bản thân chúng ta vốn đã rất khổ, rất mệt, không cần cứ mãi chỉ trích bản thân. Đời người vốn không phải mọi chuyện đều luôn như ý, cớ chi phải cưỡng ép bản thân. Đã cố gắng hết mình rồi, dù cho kết quả thế nào cũng đều được cả. Chuyện nơi thế gian, không ai nắm chắc được vĩnh hằng.
Đời người vốn không phải mọi chuyện đều luôn như ý, cớ chi phải cưỡng ép bản thân.
Thế là sau tuổi 50, tôi hiểu được rằng: Đời người thật quá ngắn ngủi, không cần thiết phải tính toán quá chi li. Những việc không hiểu được, thế thì không cần phải hiểu; có những người không phỏng đoán được, thì không cần phải phỏng đoán; có những lý lẽ nghĩ không thông, thì không cần phải nghĩ ngợi thêm nữa. Những việc không vui trước đây, hãy đem nó cất giữ ở một góc xó không có ai.
Vậy nên, tự nhắc nhở bản thân mình: Tôi có thể không được hoàn mỹ, nhưng nhất định phải chân thực, tôi có thể không giàu có, nhưng nhất định phải vui vẻ!
Thế là sau tuổi 50, tôi hiểu được rằng: cuộc sống, sẽ không vì những lời oán trách của bạn mà thay đổi; đời người, sẽ không bởi bạn phiền muộn mà đổi khác. Dù bạn oán trách hay không, cuộc sống vẫn sẽ y như vậy; dù bạn có buồn hay không, đời người cũng sẽ y như thế. Oán trách nhiều, buồn phiền vẫn là bản thân; thương cảm nhiều, khổ não vẫn là chính mình.
Bạn khóc, cuộc đời sẽ không bởi vậy mà chảy nước mắt vì bạn; bạn khổ, cuộc đời sẽ không bởi vậy mà thêm phiền não.
Là con người, đâu có chuyện vạn sự đều luôn như ý, mọi việc đều luôn thuận tâm.
Trong công việc, đâu có chuyện vạn sự đều viên mãn, mọi việc đều không chút tiếc nuối.
Nếu đã như vậy, sao ta lại không mỉm cười? Nếu đã như vậy, hà tất phải phiền muộn lo âu?
Người sống ở đời, vui vẻ là một đời, sầu khổ cũng là một đời, vậy sao ta không vui sống cho đến cuối cuộc đời này?
Thế là sau tuổi 50, tôi đã hiểu được rằng: Đừng làm khó bản thân, một người, long đong khổ sở sống ở thế gian này, đừng bởi những người mình không thích mà đánh mất niềm vui, đừng bởi những người chỉ vụt thoáng qua trong sinh mệnh đó mà lưu luyến không thôi, cũng không cần phiền não với từng áng mây thoảng qua.
Hãy sống vì bản thân, dù cuộc sống cho ta điều gì, đều thản nhiên vui vẻ đón nhận, đây mới là thái độ sống tốt nhất!
Đừng làm khó bản thân, cũng đừng bắt chước người khác, hãy là chính bản thân mình, đi tốt con đường mà mình đã chọn, làm tốt những việc trong phận của mình, sống cuộc sống mà mình mong muốn.
Người sống ở đời, vui vẻ là một đời, sầu khổ cũng là một đời, vậy sao ta không vui sống cho đến cuối cuộc đời này?
Thế là sau tuổi 50, tôi hiểu được rằng: Với những gì bản thân không với tới được, không cần phải mong muốn thái quá, hãy để mọi chuyện thuận theo tự nhiên. Lòng mệt mỏi rồi, hãy nghe vài bản nhạc hay; trong lòng có chuyện sầu não, hãy thổ lộ với người bạn yêu thương. Mệt mỏi rồi, hãy pha cho mình một ấm trà, tìm một nơi yên tĩnh, nhắm mắt nghỉ ngơi.
Những lúc buồn phiền, tìm kiếm niềm vui, đừng đánh mất hạnh phúc. Những lúc bận rộn, hãy tranh thủ thời gian nghỉ ngơi, đừng đánh mất sức khỏe. Những lúc mệt mỏi, hãy ngừng tay lại, chớ để đánh mất niềm vui.
Thế là sau tuổi 50, tôi đã hiểu được: Đừng làm khổ bản thân, đời người chỉ mấy chục năm ngắn ngủi, bôn ba cũng được, lăn lộn cũng được, đều chỉ là nháy mắt. Không chỉ trích, không oán trách, cho bản thân một phần lạc quan, một phần bình hòa. Không cưỡng cầu, không mong mỏi thái quá, cho bản thân một phần tâm trạng thản nhiên, một phần tâm thái điềm tĩnh. Không so đo, không tính toán, giữ lại một phần tình cảm chân thành nhất trong tâm.
Không hâm mộ vầng hào quang của người khác, không chê trách thói đời nóng lạnh, cất những bước chân tự tin, kiên định với sự lựa chọn của riêng mình. Lấy tâm thái lạc quan mà sống tuổi già tốt đẹp nhất của mình!
Cuối cùng, sau tuổi 50, chúng ta hãy ghi nhớ rằng cách sống tốt nhất chính là 6 chữ: Nghĩ thông, nhìn thoáng và buông bỏ!
Truyện kể về đời người sau tuổi 50, vẫn là những chuyện nghe khá quen, thế nhưng người nghe ít khi chịu cho đó là sự thật. Bởi thế nên, có nhiều chuyện trong đời, cứ tưởng là sự thật được mọi người chấp-nhận, nhưng sự thật lại rất khác.
Thế đó, là đôi giòng chảy kể lể ở “Chuyện Phiếm Đạo Đời” rất quen quen, nay đưa ra để bà con ta, lấy làm đầu để để suy-tư. Suy tư đâu đấy rồi, nay xin mời bà con mình lại hát thêm vài ba đoạn ở trên để kết-thúc rồi còn đi vào thực-tế cuộc mà sống thự và sống với bà con, anh em như sau:
“Quen nhau từ năm tháng rồi
Ngàn phương xa vời
Anh đến nơi này
để rồi quen nhau mãi mãi…”
Và, thêm câu điệp khúc cứ hát mãi rằng:
“Quen nhau qua đáy mắt
Duyên tình người em gái
Ngày nào vừa quen nhau
Nay đã mến thương nhau
Giờ này người em tôi
Hoa thắm lên môi hồng
Bên câu chuyện nồng ước mộng chung.”
(Lê Dinh – bđd)
Thế đó, là vài ba đề-nghị nhỏ làm kết-luận cho chuyện phiếm đạo đời cộng với lời đấng thánh hiền, từng bảo ban, nhắn nhủ rằng:
“Vì khi hiệu lệnh ban ra,
khi tiếng tổng lãnh thiên thần
và tiếng kèn của Thiên Chúa vang lên,
thì chính Chúa sẽ từ trời ngự xuống,
và những người đã chết trong Đức Kitô
sẽ sống lại trước tiên;
rồi đến chúng ta, là những người đang sống,
những người còn lại,
chúng ta sẽ được đem đi trên đám mây cùng với họ,
để nghênh đón Chúa trên không trung.
Như thế, chúng ta sẽ được ở cùng Chúa mãi mãi.”
(1Th 4: 16-17)
Nói cho cùng, đã có Tổng Lãnh Thiên Thần hộ-thủ rồi, thì ai trong chúng ta còn lý-do nào nữa, mà lo-ngại? Thế đó, vẫn là lời nhắn gửi đến bạn bè, người thân, hôm nay và mai ngày ở huyện nhà.
Trần Ngọc Mười Hai
Và những câu chuyện phiếm
Nghe quen quen
Nên cũng thấy khó
Mà nghĩ tiếp
Cho mình và cho người
ở trong đời.
From Vuisongtrendoi gởi




Đây là quả địa cầu bản đồ được Trung Quốc cộng sản bán ở Ukraine, và thiếu tỉnh Quảng Ninh của Việt Nam vì nó mang màu của Trung Quốc, tức là lãnh thổ của nước này.
Chưa cần đến Luật Đặc khu thì chúng đã có dã tâm chiếm lãnh thổ nước ta từ ngoài biển đảo cho tới biên giới từ hàng ngàn năm nay rồi.
Đưa cho những đoàn viên thanh niên Khánh Hoà xem và hỏi chúng về sự phát triển mà chúng cổ vũ vừa mới đây là như thế nào?
Giao đất nước vào tay bọn trẻ này thì nguy cơ mất nước hoặc làm nô lệ là điều khó thể nào tránh khỏi và cũng sẽ hết sức nhanh chóng có thể.


Thái Bá Tân is with Son Dao.
QUAN ĐƯỜI ƯƠI
Thứ trưởng bộ tài chính
Có câu này phi thường:
“Lòng dân sẽ vui lắm
Khi tăng thuế môi trường”.
Có ai vui không nhỉ,
Khi giá xăng nay mai
Tăng tám nghìn một lít
Mà còn tăng dài dài?
Tự nhiên lấy làm lạ,
Rằng quan cũng là người
Mà ăn nói vớ vẩn,
Đẳng cấp ngang đười ươi.
Thế thì cũng chẳng khác
Nói dân sướng như điên
Khi được ông nhà nước
Dí dao trấn lột tiền.
Xin bà con lưu ý
Nhớ mặt ông quan này
Rồi kể cho con cháu
Chuyện khôi hài thời nay.
Còn tôi, vốn cẩn thận,
Làm thơ lưu cho đời.
Có kèm theo cả ảnh.
Có mà chạy đằng trời.
CHÚNG TA ĐƯỢC TẠO DỰNG ĐỂ LÀM GÌ?
Trần Mỹ Duyệt
Bạn thân mến,
Hôm rồi bạn trích dẫn một câu: “Chúng con được tạo dựng ra là để phụng sự Chúa, tôn vinh Chúa và phục vụ Chúa”, rồi bạn phân vân tự hỏi: “Nếu vậy thì mình mất tự do quá. Hóa ra mục đích tạo dựng cũng lại chỉ cho mình cái thân phận bầy tôi, thân phận một kẻ nô lệ chỉ để phục vụ cho Đấng nào đó đã tạo dựng nên mình.”
Theo tôi, có thể bạn đã đọc hay học thuộc lòng điều này qua sách giáo lý trước đây nói về mục đích tạo dựng con người. Nhưng phải hiểu là 300 năm trước khi các nhà truyền giáo Tây Ban Nha, Pháp và Ý đến Việt Nam, họ đâu biết tiếng Việt (mà tiếng Việt lúc đó cũng chưa có) nên gặp những khó khăn về ngôn ngữ. Lại nữa, theo truyền thống và văn hóa xã hội phong kiến lúc bây giờ “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung. Phụ xử tử trung, tử bất trung bất hiếu” thì việc con người được tạo ra để phụng sự, tôn vinh, và phục vụ một Đấng toàn năng, hằng hữu, quyền phép vô song, luôn luôn yêu thương con người đó chẳng phải đã là một giáo lý “cách mạng”, một tư tưởng “mới” trong xã hội phong kiến thời bấy giờ sao? Vì ai mà bằng Chúa cả trời đất! Ai được cao vinh quyền năng như Thiên Chúa. Ai thương yêu, che chở và phù hộ con người như Ngài. Do đó mà lối diễn tả mục đích tạo dựng bằng ngôn ngữ bình dân, bằng quan niệm bình dân của xã hội đương thời, tôi cho là không xúc phạm hoặc giới hạn tự do của con người.
Ngày nay, giáo lý ấy phải được trình bày như thế này: “Thiên Chúa dựng nên ta vì sự thánh thiện của Ngài, và để chia sẻ với chúng ta hạnh phúc viên mãn của Ngài trên thiên đàng” (God made us to show forth His goodness and to share with us His everlasting happiness in heaven). *
Và qua đó, vấn đề phải được nhìn dưới 3 khía cạnh: Thiên Chúa tạo dựng con người. Thiên Chúa tạo dựng con người vì sự thánh thiện của Ngài. Và tạo dựng nên con người để con người chia sẻ hạnh phúc viên mãn của Ngài.
-Chúa tạo dựng con người: Việc này thánh Augustine (354-430) đã có câu trả lời rất rõ ràng: “Thiên Chúa không cần hỏi ý kiến ai”. Bởi nguyên một việc đưa ta từ hư vô ra hiện hữu đã là một ân huệ của Ngài. Theo triết học thì có bao giờ cũng hơn không có. Có 1$ chắc chắn hơn không có đồng nào. Không những chỉ tạo dựng, mà theo thánh Thomas Aquinas (1225-1274), “nếu có giây phút nào Thiên Chúa quên không nhớ đến ta, thì lập tức giây phút đó ta trở về hư vô ngay”.
-Tạo dựng con người vì sự thánh thiện của Ngài: Vẫn theo giáo lý vừa trích dẫn, thì Thiên Chúa cần làm thế để tỏ ra vinh quang và sự thánh thiện của Ngài. Ngài không chỉ tạo dựng nên con người mà còn tạo dựng cả trời đất, vũ trụ, trăng sao, muôn loài, muôn vật… Tất cả vì uy danh Ngài. Còn riêng con người, Ngài tạo dựng nên vì tình thương của Ngài. “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Gioan 4:8), một tình yêu viên mãn và chia sẻ.
– Chia sẻ hạnh phúc viên mãn: Hai hành động trên, Thiên Chúa làm vì tình yêu và vì sự thánh thiện tuyệt đối của Ngài. Nhưng đến phần chia sẻ hạnh phúc với Ngài, Ngài mong muốn có sự cộng tác của mỗi chúng ta.
Cũng Thánh Augustine, mặc dù Thiên Chúa không cần hỏi ý kiến ta khi Ngài tạo dựng nên ta, “nhưng để cứu độ ta, Ngài cần có sự cộng tác của ta”. Nói một cách dễ hiểu là để lên Thiên Đàng, để hưởng hạnh phúc đời đời với Ngài, chúng ta cũng cần phải có một cái gì đó gọi là thiện chí, là cố gắng. Trong cái nhìn này, Ngài cũng chứng tỏ rằng Ngài luôn luôn tôn trọng tự do, và công bằng trong sự đóng góp của chúng ta. Ai cố gắng nhiều, thưởng nhiều. Ai cố gắng ít, thưởng ít. Ai không cố gắng, sẽ không có thưởng.
Vì hạnh phúc nước Trời, Thiên Đàng là một phần thưởng chứ không phải của cho không. Thiên Chúa tạo dựng con người, cứu độ con người. Nguồn ơn sủng bao la ấy có sẵn như khí trời, như nước biển, nước sông bao la. Nhưng nếu có ai đó “chán” không muốn thở, hoặc “lười” không muốn uống thì người đó đành phải chết. Chúa là Đấng Công Bằng, Công Minh tuyệt đối nên Ngài sẽ không bao giờ xử bất công với bất cứ ai về bất cứ điều gì. Ngài không tóm cổ Satan, bọn quỉ thần, và những kẻ gian ác rồi bỏ chúng xuống hỏa ngục. Cũng vậy, Ngài không bao giờ cưỡng bức một ai lên Thiên Đàng với Ngài. Tất cả đều là “tự do” chọn lựa. Tự do lên hay tự do xuống. Vì tự do mà Ngài đã ban cho chúng ta, nên Ngài luôn luôn tôn trọng mọi quyết định của chúng ta.
Như vậy việc “phụng sự Chúa, tôn vinh Chúa và phục vụ Chúa” có làm chúng ta mất tự do không? Thiên Chúa có đầy đủ vinh quang từ muôn thuở, tất cả những việc chúng ta làm và mọi thánh nhân, hiền nhân, những người thiện tâm, thiện chí làm đều không thêm bớt gì cho vinh quang và hạnh phúc của Ngài. Nhưng những tạo vật như chúng ta tại sao lại không ca tụng, và tôn vinh một Thượng Đế như Ngài – là Thiên Chúa và cũng là cha chúng ta: “Lạy Cha chúng con ở trên trời” (Kinh Lạy Cha).
Vậy cái mà ta gọi là phục vụ Thiên Chúa thật ra là những hành động bác ái, những cử chỉ yêu thương mà ta cần phải làm đối với cận thân, với anh chị em của chúng ta là những người mang hình ảnh Ngài, là những người cũng như chúng ta được tạo dựng để chia sẻ hạnh phúc trường sinh với Ngài. Trong ngày chung thẩm, quan án chí công (Chúa Giêsu) nói với những người lành: “Khi các con làm những việc ấy cho một người nhỏ nhất trong anh em ta đây, là các con đã làm cho chính ta.” (Mat 25:40)
Đã là những hành động do tình yêu, do tình thương mến thì không thể gọi là những hành động cưỡng bức, mất tự do. Nếu vợ hay chồng chúng ta mà nghe chúng ta nói: “Tôi làm việc này là do ông, do bà muốn, do ông hay bà đòi hỏi, tôi không thích, tôi cảm thấy bị ép buộc, bị cưỡng bức…” Hoặc có người con nào nói với cha mẹ mình: “Ông bà làm phiền tôi quá. Ông bà không biết tôi rất bận rộn không? Tại sao lại đòi hỏi tôi việc này, việc khác?” chắc chắn những người này sẽ không vui.
Tóm lại, ơn được sinh ra làm người. Ơn được làm con Chúa. Và ơn được “phục vụ” Chúa là những ơn mà chúng ta phải cảm tạ hồng ân mọi ngày trong đời sống. Thử hỏi nếu Chúa không thương, không yêu, không nghĩ đến ta thì trước đây 100 năm, 200 năm, hoặc từ rất xa xưa chúng ta ở đâu? Vậy chỉ còn lâng lâng niềm cảm mến để mỗi ngày hát dâng lên Ngài lời ca tri ân:
“Đến muôn đời con cảm tạ ơn Chúa.
Đến muôn đời con ngượi khen danh Chúa.
Muôn muôn đời con ca vang tình thương Chúa.
Và mãi mãi con nhớ công ơn Ngài”.
Trần Mỹ Duyệt
____________
* The New saint Josehph Baltimore Catechism No. 1
From Tamlinhvaodoi gởi
TÂM SỰ CỦA MỘT VIỆT KIỀU…
Tôi không bênh vực những tiếp viên hàng không bằng lý do ngô nghê là họ phải đút lót để đựơc có việc làm trong Air VN nên họ phải buôn lậu chuyển hàng ăn cắp để gỡ vốn.
Tôi thực sự thương hại họ, vì “Quít trồng Giang Nam thì ngọt, trồng Giang Bắc lại chua”.
Ngay khi chào đời, họ đã bị sinh ra trong một bệnh viện “ăn cắp”, khi lớn lên, họ lại đi học trong những trường học “ăn cắp”, giáo sư “ăn cắp” công trình trí tuệ của người khác, học sinh, sinh viên “ăn cắp” bảng điểm, “ăn cắp” bằng cấp bằng phong bì.
Khi bắt đầu bước vào xã hội, bước đầu tiên, họ đã bị lãnh đạo “ăn cắp” tiền đút lót để được có việc làm, nên họ phải tiến vào quĩ đạo ăn cắp, họ ăn cắp dự án, ăn cắp đất của nông dân, họ ăn cắp tiền phạt giao thông, họ ăn cắp sinh mạng của người dân bằng tra tấn, nhục hình.
Vì vậy , khi tôi nhìn thấy những cô ca sĩ, hoa hậu, người mẫu, vênh váo khoe khoang quần áo, túi xách, giầy dép hàng hiệu, xe khủng , nhà khủng, tôi thương hại họ quá, họ cũng bị “ăn cắp” trinh tiết, bị “ăn cắp” phẩm giá, anh ạ.
Tôi có con gái, và con gái tôi may mắn, được giáo dục tại trường học phân biệt điều phải, điều trái, được tôn trọng nhân phẩm.
Khi về VN, nhiều lần, xe người bạn chở tôi đi, bị công an thổi còi, rồi công an vòi vĩnh, xòe tay cầm tiền hối lộ. T ôi rơi nước mắt, họ còn nhỏ tuổi hơn con trai tôi. Con trai tôi có công ăn việc làm, nuôi con cái bằng chính sức lao động của mình, dạy con, làm gương cho con bằng chính nhân cách của mình. Những người công an trẻ đó cũng bị “ăn cắp” lương tâm?
Khi những người công an, đánh người, giết người, họ được bố thí trả công bằng vài bữa ăn nhậu, chút đồng tiền rơi rớt…
“Khi những phóng viên, bẻ cong ngòi bút, viết xuống những điều trái với lương tâm, sự thật để được bố thí trả công bằng những nấc thang chức vị, những đồng lương tanh tưởi, nhà văn Vũ Hạnh đã gọi đó là “Bút Máu”.
Khi những quan tòa, đổi trắng thay đen, cầm cán cân công lý có chứa thủy ngân như trong truyện cổ Việt Nam, họ cũng bị “ăn cắp” nhân tính mất rồi.
Trong xã hội, toàn là “ăn cắp”, vậy thì kẻ cắp là ai? Ai cũng biết, nhưng giả vờ không biết, Vì văn hóa “giả vờ” là đồng lõa cho xã hội ăn cắp.
***Cán bộ lãnh lương 200 đô la một tháng, xây nhà chục triệu nhưng “giả vờ” đó là công sức lao động tay chân và trí tuệ hay quà tặng của cô em “kết nghĩa”. Tôi muốn xin cô em đó cho tôi được làm “con kết nghĩa ” của cô ta quá. Thế mà có những lãnh đạo, ủy viên Trung Ương Đảng, Đại biểu Quốc Hội, Ban Nội Chính, UỶ Ban Điều Tra, Quan Tòa “Thiết Diện Vô Tư”, Phóng viên Lề phải, Thành Đoàn, Quân Đội Nhân Dân, Chiến sĩ Công An, Trí thức Yêu Nước, Việt Kiều Yêu Nước sẽ sẵn sàng giả vờ tin vào quà tặng của “cô em kết nghĩa” đó!
Còn có thể trong tương lai, sẽ có nhiều quan chức sẽ nhận được nhà khủng, quà tặng của ông anh kết nghĩa, bà chị kết nghĩa, ông bố kết nghĩa, ông cố nội kết nghĩa, khi không tìm ra con người nữa, sẽ tiếp theo con chó kết nghĩa, con trâu kết nghĩa……
Công chúa mặc áo đầm hồng ưỡn ẹo trên đôi giày cao gót hồng đi thị sát công trường xây dựng, theo sau là một đoàn chuyên viên già tuổi tác, thâm niên công vụ, nhưng ai nấy vui vẻ, hớn hở, giả vờ công chúa là một chủ tịch tài năng thiên phú, không cần đi học, không cần kinh nghiệm. Thượng bất chính, hạ tắc loạn. “Thanh tra, thanh mẹ, thanh gì…. Hễ có phong bì thì Nó “Thank you”
Tôi buồn lắm, có đôi khi quá tuyệt vọng, tôi tự hỏi, mình có nên quên mình là người VN như con đà điểu vùi đầu trong cát, như quả chuối ngoài vàng, trong trắng, vì tôi yêu nước Mỹ quá rồi.
Nước Mỹ chưa, và có lẽ không bao giờ hoàn hảo, nhưng ở đây, ít nhất không ai có thể “ăn cắp” lương tâm, phẩm giá và nhân tính của tôi.Tôi được sống như một “CON NGƯỜI”không phải chỉ “giả vờ ” “làm người” đang sống
(Huỳnh Vũ)
From: KittyThiênKim & Kim Bằng Nguyen
ĐẼO CHÂN THEO GIÀY
Một câu chuyện ngụ ngôn kể về người thợ đóng giày. Vì tay nghề của ông quá kém, nên khi đóng một đôi giày, khách hàng thường phải yêu cầu ông sửa đi sửa lại nhiều lần. Có một khách hàng đến khiếu nại vì giày của ông quá chật. Đáng lẽ phải nới rộng giày cho vừa với chân thì ông thợ kia lại đề nghị khách hãy “đẽo bớt chân cho vừa giày.”
Ý tưởng của người thợ giày ngược đời và không có tính khả thi. Tác giả muốn qua câu chuyện này cho thấy xung quanh ta vẫn có những hành động phi lý, gượng ép và không mang lại hiệu quả. Trong đời sống đức tin cũng như đời sống xã hội, vẫn còn đó nhan nhản những khuynh hướng theo kiểu “đẽo chân theo giày”.
Khuynh hướng thứ nhất là tự dựng nên một hình ảnh Thiên Chúa theo ý kiến chủ quan
Nếu tác giả sách Sáng thế viết: “Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh mình…” (St 1,27), thì nay nơi nhiều người đang có khuynh hướng làm ngược lại: “Con người tạo dựng Thiên Chúa theo hình ảnh của họ (!)”. Thật thế, để tạo nên một thứ tôn giáo đáp ứng được đam mê và sở thích cá nhân, người ta tự xây dựng một hình ảnh Thiên Chúa nhằm thỏa mãn tự do của mình. Các môn đệ xưa kia cũng không thoát khỏi lối suy nghĩ nguy hiểm này. Họ mang một quan niệm sai lệch về sứ mạng thiên sai của Đức Giêsu. Tư tưởng “một người làm quan cả họ được nhờ” cũng thúc bách bà mẹ của hai người con ông Giêbêđê. Bà xin Đức Giêsu cho hai con trai mình, một bên tả, một bên hữu Chúa. Hai chàng thanh niên này cùng đi với mẹ và hăng hái sẵn sàng chấp nhận chén đắng miễn là được hai vị trí quan trọng hai anh đang mong chờ (x. Mt 20,21-22). Ngay cả khi Người vừa loan báo: “Nhưng này bàn tay kẻ nộp Thầy đang cùng đặt trên bàn với Thầy…” (Lc 22,21) thì liền sau đó, các môn đệ vẫn sôi nổi tranh luận xem ai trong nhóm được coi là lớn nhất (x.Lc 22,24). Thậm chí sau khi Đức Giêsu đã trỗi dậy từ cõi chết, một vài người trong họ vẫn còn giữ khái niệm thuần túy nhân loại về sứ mạng của Người. Tác giả sách Công vụ Tông đồ chắc đã mỉm cười hài hước khi ông ghi lại câu hỏi của một số người có mặt: “Thưa Thầy, có phải bây giờ là lúc Thầy khôi phục vương quốc Ít-ra-en không?” (Cv 1,6). Thật là khó hiểu, vì các môn đệ là những người bỏ mọi sự mà theo Thầy, đã được thụ giáo trong suốt ba năm có lẻ, mà vẫn bị những tham vọng trần thế làm mờ con mắt. Các ông muốn xây dựng hình ảnh một đấng Messia theo nhãn giới trần thế của các ông, với hy vọng được thăng quan tiến chức và hưởng phú quý vinh hoa.
Trong thời buổi kinh tế thị trường, tôn giáo cũng có thể biến thành một thứ hàng hóa bát nháo như một cái chợ. Người ta viện cớ “có thờ có thiêng, có kiêng có lành”, “bên cha cũng kính mà bên mẹ cũng vái,” để duy trì một thứ tôn giáo hỗn tạp. Thiên Chúa bị đặt để ngang hàng với các loại ngẫu thần và các hình thức mê tín dị đoan. Trong cách nghĩ của nhiều tín hữu, Thiên Chúa là người quản lý giàu có và hào phóng, giống như Bà Chúa Kho, khi cần thì đến khấn vái để được những lợi lộc, may mắn. Đây là một quan niệm làm biến dạng đức tin vào Thiên Chúa, rất nguy hiểm. Bởi lẽ khi người ta tin vào Chúa thế nào thì người ta thực hành đức tin như vậy. Một Thiên Chúa để ban ơn lợi lộc thì chỉ được kêu cầu để buôn may bán đắt. Người ta khấn vái Ngài để thực hiện những “phi vụ” làm ăn, bất chấp những điều phi pháp và trái đạo lý con người. Chẳng bao giờ người ta nghĩ đến việc lắng nghe và thực thi Lời Chúa. Tạo nên hình ảnh Thiên Chúa cho mình, đó chính là một hình thức “đẽo chân theo giày” của khá nhiều người thời nay.
Khuynh hướng thứ hai là thực hành đức tin tự do, theo những tham vọng cá nhân
Tại một số nước Âu Mỹ, xuất hiện một cách thức sống đức tin mà người Pháp gọi là “à la carte”. “Carte” là bản thực đơn trong nhà hàng. Mỗi khi khách đến, nhân viên đưa ra một thực đơn để khách hàng chọn những món ăn mình thích. Thành ngữ trên đây muốn diễn tả một cách sống đức tin có chọn lựa, giống như chọn lựa món ăn. Món nào ngon, hợp khẩu vị thì chọn, món nào không hợp thì thôi. Vì vậy, có những người tín hữu chủ trương “Tin Chúa Kitô nhưng không chấp nhận Giáo Hội” hoặc ngược lại. Họ chấp nhận đi nhà thờ, nhưng không lãnh nhận bí tích. Họ nhận mình là người công giáo, nhưng vẫn ly dị hoặc sống chung ngoài hôn nhân. Họ chấp nhận kết hôn, nhưng không sinh con cái. Họ nổi loạn và phản đối từ Đức Giáo Hoàng cho đến mọi phẩm chức trong Giáo Hội, khi họ không được đáp ứng những yêu sách chủ quan của họ. Nói tóm lại, họ chỉ chọn lựa những gì dễ dãi cho bản thân, mà không chấp nhận bất kỳ sự ràng buộc nào do Luật của Thiên Chúa và Luật của Giáo Hội quy định.
Quan niệm sống đức tin theo kiểu “hiện đại” trên đây cũng đã bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam. Nhiều người, nhất là các bạn trẻ, dựa vào lý luận “Thiên Chúa nhân từ” để dễ dàng vượt qua những quy định của Giáo Hội. Họ coi nhẹ những ràng buộc hôn nhân và sự chung thủy vợ chồng. Họ quan niệm quá tự do về tính dục. Đời sống cầu nguyện nội tâm và việc học giáo lý bị coi thường. Nhiều bạn trẻ vẫn nhận mình là Kitô hữu, nhưng lại không thực hành đức tin. Họ dễ dàng từ bỏ danh nghĩa là người công giáo để có thể thăng tiến trong xã hội. Họ muốn thay ngôi đổi vị trong mối tương quan giữa con người với Thiên Chúa, biến Ngài thành một Thiên Chúa phụng sự con người hơn là con người phụng sự Thiên Chúa. Bắt Thiên Chúa chiều theo con người, chỉ chấp nhận những gì dễ dãi, đây là một kiểu “đẽo chân theo giày” trong việc sống đức tin.
Khuynh hướng thứ ba là hành động vô trách nhiệm
“Mình vì mọi người và mọi người vì mình”, “Lợi ích tập thể phải đặt ưu tiên trên lợi ích cá nhân”… Những câu châm ngôn này xem ra nay đã lỗi thời. Xã hội ngày càng rối ren do con người thiếu trách nhiệm trong cách hành xử, từ lãnh vực cá nhân đến lãnh vực tập thể. Trong lãnh vực cá nhân, người ta nói và làm theo nhận định chủ quan của mình mà không quan tâm đến ích lợi của người khác. Trong lãnh vực tập thể, những người có trách nhiệm chỉ để ý tới lợi nhuận trước mắt mà quên những lích lợi lâu dài.
Những người công bộc của dân được đặt lên để phục vụ và làm cho ích nước lợi nhà, nhưng xem ra phần “ích nước” luôn bị coi nhẹ và phần “lợi nhà” lại là chính. Ấy vậy nên mới có những vị “đầy tớ nhân dân” mà gia tài của họ được so sánh như những đại gia, thậm chí còn giống như vua chúa thời phong kiến, có vườn thượng uyển, có dinh thự xa hoa. Một điều lạ lùng là những vị lãnh đạo kém khả năng và thiếu tư cách, lẽ ra phải cho nghỉ việc thì lại được đề bạt lên cấp cao hơn, đến lúc bị phát hiện thì mọi người tá hỏa vì tổn thất quá lớn và thủ phạm đã cao chạy xa bay. Nhiều người phỏng đoán nếu có bắt được thủ phạm thì cũng “hòa cả làng”. Những cách hành động trên đây đang làm cho đất nước và dân tộc nghèo đi, không chỉ về kinh tế, mà còn nghèo về tình người và nguy hiểm nhất là nghèo về niềm tin.
Trong đời sống xứ đạo, những chia rẽ, cạnh tranh theo kiểu “con gà tức nhau tiếng gáy” vẫn tồn tại. Nhiều khi người ta quên điều cốt lõi của đức tin mà quá nặng về hình thức. Giữa một thời kỳ “trăm hoa đua nở” về xây cất và lễ lạc, việc thực thi công bằng, tôn trọng lương tâm và đời sống cầu nguyện dễ bị coi nhẹ.
Trong lãnh vực gia đình cũng vậy. Nếu ngày xưa các cụ dạy: “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, thì hiện nay đang phổ biến tình trạng ngược lại: “Con đặt đâu cha mẹ ngồi đấy.” Nhiều bạn trẻ tự do và quyết đoán trong việc trăm năm, đưa cha mẹ vào thế “đã rồi” và cha mẹ chỉ còn mỗi việc là làm theo những gì con cái muốn. Họ tự do yêu nhau, tự do quyết định hôn lễ và cũng tự do trong những quyết định hệ trọng của cả một đời người.
Kết luận: “Đẽo chân theo giày” là một lối hành xử trái với tự nhiên hoặc cẩu thả, vô trách nhiệm, nên gây ra những hậu quả vô cùng tai hại. Con người có khả năng và trí thông minh để điều khiển vũ trụ, nhưng họ cũng cần phải lắng nghe sứ điệp của Tạo Hóa để tôn trọng các nguyên tắc mà Ngài đã quy định. Hành động với lương tâm ngay chính, tôn trọng phẩm giá và ích lợi tha nhân, đó chính là bí quyết của thành công trong mọi lãnh vực của cuộc sống chúng ta.
Gm Giuse Vũ Văn Thiên


THÁC BẢN GIỐC CỦA VIỆT NAM – NAY ĐÃ THÀNH TÀI SẢN TÀU CỘNG – CHUẨN BỊ GIAO TIẾP 3 ĐẶC KHU?!!!!!
Thác Bản Giốc của Việt Nam nay đã bị Tàu Cộng chiếm lĩnh với sự đồng ý ngầm của chế độ CSVN.
Đặc biệt những nơi có tầm quan sát tuyệt đẹp đã nằm trong tay Tàu khựa và họ đã tổ chức thành thắng cảnh cho khách du lịch tham quan như hình nêu trên.
Đau nhất cho dân tộc VN phải trả tiền để đến tham quan trên chính mảnh đất cha ông để lại…. Hỡi bà con còn cảnh nào đau lòng hơn… khi đất nước thống nhất hơn 43 năm, mà đất biển dần dần bị mất và thu hẹp????