Tại Sao Hầu Hết Các Bác Sĩ Ở Mỹ Lại Tin Vào Thế Giới Tâm Linh?

Tại Sao Hầu Hết Các Bác Sĩ Ở Mỹ Lại Tin Vào Thế Giới Tâm Linh?

Là cường quốc số một thế giới, Hoa Kỳ đi đầu trong rất nhiều lĩnh vực công nghệ trong đó có y học. Nhưng khác với các ngành khoa học khác, một cuộc khảo sát trên phạm vi toàn quốc về niềm tin tôn giáo của các bác sĩ tại Mỹ, kết quả thật bất ngờ: “Hầu hết các bác sĩ Mỹ đều tin vào sự tồn tại của Thần và thế giới bên kia.”

Khi công nghệ tân tiến cũng phải bó tay

Việc sở hữu thế mạnh về khoa học – công nghệ đã giúp Mỹ ứng dụng rất nhiều những phát minh vào nền Y học nói chung và các trang thiết bị y tế hiện đại tại các bệnh viện Mỹ nói riêng. Mỹ cũng được coi là đất nước có chất lượng dịch vụ y tế thuộc hàng tốt nhất thế giới.

Ngoài các trường đại học danh tiếng như Đại học Harvard, Đại học Johns Hopkins, Đại học Yale…nơi có các trung tâm nghiên cứu y học và đội ngũ giáo sư đầu ngành đã giành nhiều giải Nobel y học, các bác sĩ ở Mỹ cũng được trả mức lương cao ngất ngưởng. Do đó Mỹ được cho là mảnh đất mơ ước của tất cả các bác sĩ trên toàn thế giới.

Ngay cả khi sở hữu những công nghệ y học tân tiến và khám phá ra nhiều loại thuốc đặc trị hiệu quả thì vẫn có khá nhiều trường hợp khiến nền y học nước này phải bó tay ngay cả khi bệnh được phát hiện sớm.

Sự ra đi đột ngột của Steve Jobs, cha đẻ hãng công nghệ hàng đầu thế giới Apple đã khiến thế giới bàng hoàng và nuối tiếc. Nhiều người đặt câu hỏi rằng tại sao ở một đất nước có ngành y học tiên tiến nhất, với những bác sĩ có chuyên môn giỏi nhất, Steve Jobs vẫn phải đầu hàng số phận khi mới 56 tuổi và đang ở trên đỉnh cao sự nghiệp.

Steve Jobs tại buổi ra mắt iPhone mới. (Ảnh: MacMagazine )

Trước đó, Steve Jobs đã trải qua hai lần phẫu thuật. Năm 2004, ông trải qua ca phẫu thuật đầu tiên và các bác sĩ điều trị cho biết là khá thành công, bệnh đã được chữa trị khỏi. Nhưng sau đó không bao lâu, căn bệnh ung thư của ông lại tái phát, Steve Jobs buộc phải từ chức rồi cuối cùng ra đi trong tình trạng cơ thể suy kiệt.

Một trường hợp khác là tiến sĩ giải phẫu não Eben Alexander. Ông tốt nghiệp đại học danh tiếng Harvard, có kinh nghiệm trong ngành phẫu thuật thần kinh 25 năm, và là một trong những bác sĩ nổi tiếng nhất trong giới chuyên môn ở Mỹ.

Năm 2008, ông đột nhiên bị viêm màng não, và được đưa tới bệnh viện cấp cứu kịp thời… Dù được điều trị tích cực bởi ekip bác sĩ cũng là những đồng nghiệp giỏi nhất trong ngành thần kinh học của ông, Eben Alexander vẫn bị rơi vào hôn mê và tình trạng này kéo dài liên tục trong 7 ngày. Điện não đồ cho thấy não của tiến sĩ thần kinh học Eben Alexander không còn hoạt động, tỉ lệ sống sót chỉ còn là 2%.

Các bác sĩ điều trị đều bất lực và thông báo cho gia đình ông chuẩn bị hậu sự. Tuy nhiên, khi mọi nỗ lực của y học dường như đã bó tay thì Eben Alexander lại hồi sinh sau một trải nghiệm siêu thường.

Trải nghiệm siêu thường

Sau đúng 7 ngày hôn mê, khi các bác sĩ và người thân của ông đều đã chuẩn bị tinh thần cho trường hợp xấu nhất xảy ra thì Eben Alexander bắt đầu hồi phục trở lại. Sự hồi phục thần kỳ của ông khiến các bác sĩ điều trị và giới chuyên môn không thể nào lý giải nổi, cho đến khi Alexander kể về những trải nghiệm cận tử của mình và cho xuất bản cuốn sách “Proof of Heaven” (Chứng cứ về thiên đường).

Eben Alexander và cuốn sách Chứng cứ về thiên đường. (Ảnh: Gloomy Grim)

Khi ở trong trạng thái cận kề cái chết, tiến sĩ Alexander thấy mình bay tới một nơi giống như “thiên đường”, ở đó bầu trời tuyệt đẹp, có những đám mây trắng, có những sinh vật màu trắng phát sáng, có âm nhạc du dương, thanh thoát. Eben Alexander còn gặp một thiên thần với đôi mắt màu xanh dương.

Ông nói: “Cảm giác rõ ràng, chân thực và sâu sắc ấy mang đến cho tôi một lý do khoa học để tin vào sự tồn tại của ý thức của con người sau khi chết”. Trước đó ông luôn hoài nghi về sự tồn tại của thế giới linh hồn, ngay cả khi các bệnh nhân của ông kể về trạng thái cận tử, bác sĩ Eben Alexander đều cho rằng đó chỉ là ảo giác.

Cho tới khi chính bản thân mình được trải nghiệm, thì bác sĩ Eben Alexander mới thực sự tin rằng những gì bệnh nhân của mình kể là chân thực, và những quan niệm của ông cũng thay đổi. Ông nói: “Mọi người đều nói sự tồn tại của ý thức sau khi chết là điều hoang đường, khó tin. Nhưng trạng thái mà tôi trải qua không phải là ảo giác. Tôi cảm nhận nó rõ ràng như những sự kiện chân thực đã từng xảy ra trong đời tôi.

Trong nhiều thập niên qua, tôi hành nghề bác sĩ phẫu thuật não tại một trong những cơ sở y khoa danh tiếng nhất tại Mỹ. Giống như mọi đồng nghiệp, tôi hiểu rõ những lý thuyết về não bộ nhưng niềm tin cũ đã sụp đổ bởi những trải nghiệm mà tôi vừa có được”.

Một trải nghiêm tương tự khác của bác sĩ Rajiv Parti, là Trưởng khoa của một bệnh viện Tim danh tiếng tại Mỹ. Ông có một sự nghiệp rất thành công và cuộc sống vật chất sung túc nhưng cũng không tránh được quy luật Sinh – Lão – Bệnh – Tử. Ông được chuẩn đoán là mắc ung thư tiền liệt tuyến và đã phải qua nhiều đợt phẫu thuật.

Tiến sĩ – bác sĩ Rajiv Parti kể về trải nghiệm cận tử. (Ảnh: Black versions)

Vào năm 2010, do biến chứng sau ca phẫu thuật, ông được đưa vào cấp cứu tại bệnh viện Đại học California trong tình trạng nguy kịch, toàn bộ các cơ quan nội tạng của ông hầu suy kiệt khiến các bác sĩ phải đưa ống thông vào trong cơ thể để hỗ trợ. Tuy nhiên, chỉ sau vài giờ, bác sĩ Rajiv Parti bị nhiễm trùng nặng kèm với sốt cao khoảng 40,5 độ.

Sau khi tiêm mooc-phin giảm đau, ông lại được đưa vào phòng phẫu thuật. Chính ở thời điểm này, bác sĩ Rajiv Parti khẳng định đã nhìn thấy thiên đường. Sự việc này về sau đã được ông viết lại trong cuốn sách “Dying to wake up” (Chết để thức tỉnh).

Ông kể rằng, cơ thể mình cảm giác như đang bay lơ lửng trong không khí và nhìn thấy bản thân mình đang nằm trên bàn mổ và nghe các bác sĩ khác đang nói chuyện, thậm chí còn ngửi thấy mùi thuốc sát trùng. Cùng lúc đó, ông thấy gương mặt của mẹ và em gái. Bà mặc bộ đồ truyền thống của Ấn Độ, em gái thì mặc quần bò, áo lửng màu xanh đang ngồi ở nhà. Họ đang cùng chuẩn bị bữa tối có rau, sữa chua và cơm.

Rajiv Parti đã viết:

“Tôi có thể hồi tưởng lại toàn bộ quá trình trải nghiệm khi cận kề cái chết: Tôi đã gặp được tổ tiên của mình ở ranh giới của địa ngục, một vài tiền kiếp mà tôi đã trải qua – đủ để giải thích những khổ nạn xảy ra trong đời mình và tại sao lại luôn phải ỷ lại vào những đơn thuốc như thế? Và tôi còn có vinh hạnh được gặp hai vị thiên sứ hộ mệnh tỏa ra thứ hào quang rực rỡ là Raphael và Michael. Họ bước ra từ một biển hoa, trên thân còn tỏa ra sức mạnh từ bi thuần chính tới mức khó có thể dùng ngôn ngữ để diễn tả”.

Cũng như Eben Alexander, các bệnh nhân của Rajiv Parti cũng kể cho ông về trải nghiệm khi linh hồn rời khỏi thể xác của họ, nhưng ông chưa bao giờ thực sự quan tâm. Khi chính bản thân mình được trải nghiệm thì ông thực sự tin tưởng và quyết định chia sẻ những trải nghiệm đó trong cuốn sách của mình.

Cảm nhận sức mạnh của Từ bi

Theo thống kê thì mỗi năm, tại Mỹ có khoảng 200.000 người đã có những trải nghiệm cận tử giống như trường hợp của hai tiến sĩ – bác sĩ Eben Alexander và Rajiv Parti. Đây là một trong những lý do chính khiến hầu hết các bác sĩ tại Mỹ, tuy là những người làm trong lĩnh vực khoa học nhưng lại tin vào sự tồn tại của Thần và có tồn tại một thế giới tâm linh sau khi con người chết.

Farr Curlin, một nhà nghiên cứu thuộc trường Đại học Chicago cho biết:

“Những nghiên cứu trước đây cho thấy, có chưa tới một nửa số nhà khoa học tin vào Thần vì họ có suy nghĩ cố hữu rằng khoa học và tôn giáo là mâu thuẫn với nhau. Y học cũng là một ngành khoa học nhưng khác với các nhà khoa học, các bác sĩ thường phải tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân, và chứng kiến họ trải qua những giờ phút cận tử khi ở trên ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết nên đa số các bác sĩ rất tín vào sự tồn tại của Thần.”

Trong một cuộc khảo sát được thực hiện với 1044 bác sĩ trên toàn nước Mỹ về niềm tin tôn giáo trong y học, có tới 76% các bác sĩ nói rằng họ tin vào Đấng Sáng Thế, 59% tin có thế giới tâm linh và 55% bác sĩ nói rằng niềm tin tôn giáo có ảnh hưởng lớn tới công việc của họ.
Edward Hill, Chủ tịch Hiệp hội Y học Mỹ cho biết:

“Y học và tôn giáo là hoàn toàn tương thích với nhau. Có niềm tin vào Đấng Tối cao là một điều vô cùng quan trọng đối với cả bệnh nhân và bác sĩ, đặc biệt đã có khá nhiều những chuyện thần kỳ đã xảy ra sau trải nghiệm cận tử mà chúng tôi đã được chứng kiến thường xuyên”.

Có một trường hợp khá nổi tiếng là giáo sư – bác sĩ Uông Chí Viễn. Ông mắc chứng xơ cứng teo cơ ALS – căn bệnh đã khiến nhà Vật lý học nổi tiếng Stephen Hawking phải sống lệ thuộc vào chiếc xe lăn trong phần lớn cuộc đời. Tuy nhiên, may mắn hơn Stephen Hawking, nhờ có niềm tin vào Thần Phật và tuân theo những giá trị sống tốt đẹp, bác sĩ Uông đã thoát khỏi căn bệnh hiểm ác này.

Trong lúc đang tuyệt vọng vì căn bệnh “vô phương cứu chữa” vẫn không thuyên giảm dù đã nhận được những liệu pháp điều trị tích cực ở Mỹ, bác sĩ Uông đã nhận được một lá thư từ một người bạn ở Trung Quốc giới thiệu về một môn khí công Phật gia đang thịnh hành – Pháp Luân Công. Sau khi đọc xong thư, bác sĩ Uông ngay lập tức tìm kiếm thông tin về môn tu tập này. Cuối cùng, ông đã tìm được một lớp học qua băng video kéo dài 9 ngày tại Viện Công nghệ Massachusetts.

Giáo sư vật lý Stephen Hawking (trái) và giáo sư Uông Chí Viễn (phải).
(Ảnh: Đại Kỷ Nguyên)

Chỉ trong vòng ba tháng tập luyện các bài công pháp và thực hành Chân – Thiện – Nhẫn theo những lời dạy trong cuốn sách Chuyển Pháp Luân, mọi triệu chứng bệnh tật của ông đã biến mất. Bác sĩ Uông đã tăng cân trở lại, mạnh khỏe và tràn đầy năng lượng.

Được trải nghiệm hoặc chứng kiến những điều siêu thường như thế, khiến đạo đức nghề nghiệp của các bác sĩ tại Mỹ được duy trì ở mức cao. Giống như tiến sĩ Rajiv Parti đã chia sẻ:
“Mặc dù là một bác sĩ có kỹ thuật giỏi, nhưng trước kia bản thân tôi rất vị tư, chưa thực sự đồng cảm và quan tâm hết lòng với bệnh nhân.”

Nhưng khi có được trải nghiệm cận tử ở bên kia thế giới và nghe được những lời mà thiên sứ đã nói với ông: “Hãy thay đổi cách hành xử với mọi người, với bệnh nhân”, tiến sĩ Rajiv Parti đã không màng đến lợi ích vật chất, mở phòng khám thiện nguyện giúp người nghèo chữa bệnh không mất tiền và với ông, đây mới là mục đích sống.

From: Vienthekhanh & NguyenNThu

Cung A Phòng và… tượng đài tên tội đồ Tố Hữu?!!!

“Nếu không xây dựng hết khu tượng đài này đến khu lưu niệm kia… thì khác nào chứng tỏ cái chế độ này là một kẻ tội đồ?

********

Cung A Phòng và… tượng đài tên tội đồ Tố Hữu?!!!

Tần Thủy hoàng đế chết trong lúc đang xây dựng cung A Phòng. Tần Nhị thế lên ngôi, vẫn tiếp tục cho xây dựng cung A Phòng, mặc dù việc đó góp phần làm nản lòng dân và kiệt quệ nước Tần…

Lý luận của Tần Nhị thế hết sức đơn giản và… khốn nạn như sau: “Nếu bãi bỏ việc đó (xây dựng cung A Phòng), thì khác nào chứng tỏ cái sai của tiên đế (trỏ Tần Thủy hoàng)…”

Ông Tố Hữu sau khi làm một kẻ đao phủ về văn hóa, hoàn thành việc bức hại hàng loạt nhân tài của đất nước, bóng đen lù lù khủng khiếp một thời của ông, khiến nhiều đời sau còn phải rùng mình, và lịch sử chắc chắn sẽ nguyền rủa, thì ông lại chuyển sang làm một khủng đại gian thần, tiêu diệt những quy luật phát triển của nền kinh tế, khiến cho đất nước lao đao, đẩy bao nhiêu số phận vào kiếp sống khốn cùng…

Ông chết, gia đình ông buộc phải trả lại nhà công vụ ở Phan Đình Phùng (nơi có “cây táo ông Lành”). Nhà nước hóa giá rẻ như cho không gia đình ông một tòa biệt thự khác ở phố Hồ Xuân Hương. Gia đình ông cho hãng dầu Mobi thuê với giá 8.000 USD/tháng. Bà vợ ông chuyển về ở với con ở Thành Công.

Và từ chỗ ở này, bà già tham lam vô sỉ ấy cố đòi cho được một cái nhà khác, theo tiêu chuẩn tương đương thứ trưởng của bà (phó ban tuyên ráo TW), mà gào lên rằng ông không có chỗ để lập một cái bàn thờ cho tử tế…

Căn biệt thự ở HXH, cái gia đình đáng khinh bỉ ấy đã bán cho Phạm Nhật Vũ, em trai Vượng Vin, đút túi hàng ngàn cây vàng.

Và bây giờ người ta lại xây tượng đài, “khu lưu niệm”… về Tố Hữu. Bản chất của “lý sự” thì cũng tương tự như Tần Nhị thế ngày trước mà thôi. “Nếu không làm việc đó (xây dựng khu lưu niệm…), thì khác nào chứng tỏ Tố Hữu… là một kẻ tội đồ?

Trên đây chỉ là một trong vô vàn… ví dụ mà thôi.

Image may contain: 1 person, smiling, text

BBC: VIỆT NAM ‘ĐI NGƯỚC ĐỔI MỚI’ VÀO LÚC NÀO?

BBC: VIỆT NAM ‘ĐI NGƯỚC ĐỔI MỚI’ VÀO LÚC NÀO?
2 tháng 12 2018
_________

Tiến sỹ Phạm Đỗ Chí nhấn mạnh nhu cầu cải cách thể chế để Việt Nam vượt lên các vấn đề hiện nay
Một chuyên gia kinh tế Việt kiều sống ở Mỹ chỉ trích con đường kinh tế Việt Nam giai đoạn Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nắm quyền.

Trong cuộc phỏng vấn với BBC News tiếng Việt tại London, Tiến sỹ Phạm Đỗ Chí, cựu quan chức cao cấp của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), cũng nói về con đường “Đổi Mới 2”.

Đầu tiên, ông kể lại giai đoạn làm việc tại Việt Nam từ 2006 đến 2014, và đã chứng kiến các thay đổi ở Việt Nam khi đó.

Tiến sỹ Phạm Đỗ Chí: Khi về Việt Nam, ngoài vai trò chuyên gia kinh tế trưởng cho quỹ đầu tư VinaCapital trong một vài năm, và sau đó tôi cũng làm việc cho chương trình USAID với vai trò cố vấn kinh tế cho chương trình này. Và có thời gian tôi đã được mời làm vào ban tham vấn riêng về kinh tế cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Đây là khoảng thời gian lâu dài và hào hứng nhất trong giai đoạn tôi về làm việc ở Viêt Nam. Mình có thể hăng say, muốn đóng góp và mình có cả khả năng để đóng góp. Thế nhưng những điều mình đề nghị đóng góp có được nghe hay không thì lại là chuyện khác. Đây cũng chính là thời gian tôi cảm nhận được sự chua chát bởi những đóng góp cải cách của mình đã bị bỏ ngoài tai.

BBC: Nhưng giai đoạn ông về làm việc tại Việt Nam là giai đoạn hậu thời kỳ Đổi Mới?

Tiến sỹ Phạm Đỗ Chí: Những thay đổi thời kỳ ông Dũng, do ảnh hưởng mạnh của các nhóm lợi ích, lại là các chính sách đi ngược thời Đổi Mới trước đó. Thời kỳ có chính sách Đổi Mới thực sự là dưới thời Thủ tướng Võ Văn Kiệt và tiếp theo bởi Thủ tướng Phan Văn Khải. Phải nói rằng trong 10 năm trước khi ông Dũng lên làm thủ tướng thì chương trình Đổi Mới đã đạt được nhiều kết quả tốt đẹp.

Từ năm 2001 đến 2007 là chính sách kinh tế của Việt Nam là hoàn toàn thất bại và gây ra một loạt các vấn đề lớn cho cả nền kinh tế lẫn tài chính.

Tôi phải thành thật mà nói là nếu người ta có nghe là kinh tế và tài chính Việt Nam bây giờ sắp sụp đổ thì cũng không ngoa vì đó là kết quả của 7 năm thời ông Nguyễn Tấn Dũng làm thủ tướng.

Tôi phải thành thật nói vậy. Trong những năm gần đây thì họ cố gắng gỡ rối những vấn đề của thời ông Dũng như nợ xấu ngân hàng, nợ công quốc gia và đồng thời tiếp tục đẩy mạnh tăng trưởng. Nhưng có chuyện mà không ai có thể phủ nhận khiến kinh tế Việt Nam không thể có bước nhảy vọt là vấn đề tham nhũng.

BBC: Ông có thể nói cụ thể hơn về cái gọi là tham nhũng?

Tiến sỹ Phạm Đỗ Chí: Chuyện này tôi nghĩ là đã được báo chí giai đoạn đó hay mới đây trình bày rất đầy đủ nhưng nói một cách tóm tắt với những ví dụ cụ thể nhất mà không ai có thể phủ nhận là những vấn đề như Vinashin, Vinalines gây ra nhưng thâm thủng lớn. Mới đây với những vụ án liên quan tới các ông Đinh La Thăng, Trịnh Xuân Thanh ….

Theo tôi thì có lẽ cái vụ lớn nhất chưa được khui ra đủ chính là vấn đề tài nguyên dầu hỏa của Việt Nam đi về đâu. Những vấn đề như Thủ Thiêm thì mình chưa được nghe đầy đủ để biết được cái tầm quan trọng về tài chính nhưng mà có cả các vụ như Mobifone mua AVG chưa kể các vụ án liên quan tới các ngân hàng khác nữa.

BBC: Theo ông nói thì những nhà lãnh đạo hiện nay đang khắc phục những gì được để lại từ giai đoạn đó? Vậy đà cải cách nếu có là gì?

Tiến sỹ Phạm Đỗ Chí: Với bao nhiêu vụ được khui ra mới đây thì đó là vấn đề lớn nhất của phát triển của Việt Nam. Theo tôi nếu không có những cải cách thể chế, hay nói theo kiểu bây giờ là lò đốt tham nhũng, một cách có thật và cụ thể thì khó mà có thể tiếp tục được việc cải cách kinh tế.

Việt Nam đã có những thành công sơ khởi cho giai đoạn khoảng 20 năm cải cách kinh tế nhưng nếu không có cải cách chính trị thì không thể tiếp tục cải cách kinh tế được. Do đó nan đề là sự lựa chọn của các nhà lãnh đạo.

Phải cải cách được thể chế một cách dân chủ thì mới cải cách được kinh tế cho giai đoạn tới. Tức là Đổi Mới lần hai.

Bây giờ để giải quyết tất cả những chuyện này thì cũng không thể dùng một vài biện pháp mà phải là cuộc cải cách thể chế toàn diện và đó là một quyết định chính trị mà đó liệu các nhà lãnh đạo của Việt Nam có dám can đảm lĩnh hội và thực hiện hay không.

Nếu chúng ta không tỉnh ngủ thì không thể giải quyết được những chuyện hiện giờ từ thể chế chính trị lẫn cải cách kinh tế.

About this website

BBC.COM
Một chuyên gia kinh tế Việt kiều sống ở Mỹ chỉ trích con đường kinh tế Việt Nam giai đoạn Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nắm quyền.

NGỘ NHẬN VỀ MỘT XÃ HỘI BÌNH YÊN

Mạc HiếuFollow

NGỘ NHẬN VỀ MỘT XÃ HỘI BÌNH YÊN 

‘Đỗ Ngà’

Thái bình thì đi đôi với thịnh trị. Đó là thời kì thịnh vượng của một đất nước. Xã hội bình yên, của rơi ngoài đường không đánh động được lòng tham, tối ngủ có thể không cài cổng không khoá cửa mà lòng vẫn vô tư không chút lo sợ. Xe để ngoài sân trống và để quên chìa trên ổ khoá nhưng cũng chẳng ai lấy vv.. Người dân có tiếng nói, và tiếng nói của họ luôn luôn được chính quyền lắng nghe.

Như Thụy Sỹ, giàu có đến nỗi nhà nước dư thừa tiền của và muốn phát lương cố định cho công dân. Dân chân thực đến mức từ chối lời đề nghị ấy của chính quyền. Họ chỉ biết rằng, nhu cầu họ không cần đến là họ từ chối. Dân không tham và chính quyền cũng không tham. Rõ ràng quan hệ giữa nhân dân với nhà nước là mối quan hệ phục vụ và đóng góp. Cả nhà nước và nhân dân đều vì quyền lợi chung – quyền lợi đất nước. Ở Đông Nam Á, Singapore cũng đã đạt đến thời cực thịnh như thế. Xung quanh ta như Thái Lan hay Mã Lai, họ không cực thịnh như Singapore nhưng họ cũng có một xã hội thái bình hơn, con người xứ họ hiền hòa không trộm cắp không tham lam như Việt Nam.

Thậm chí, Campuchia và Lào cũng có một xã hội thái bình hơn Việt Nam.

Riêng Việt Nam, cuộc sống người dân chưa bao giờ an bình, trộm cướp khắp nơi, con người tham lam và hay đố kị. Đi vắng cứ sợ nhà bị trộm cướp đột nhập, đi chơi thì phải chi trả tiền cho người giữ xe, tài sản cầm trên tay còn không yên thì nói gì đến những thứ đánh rơi?! Ăn cũng gặp nguy hiểm, uống cũng gặp nguy hiểm vì nạn thực phẩm bẩn tràn lan và ô nhiễm môi trường khắp nơi. Riêng bệnh ung thư, mỗi ngày giết chết 315 người, bằng với chiến tranh mỗi ngày nướng 1 tiểu đoàn. Đi ngoài đường thì luôn đối mặt với tai nạn vv.. Đấy là hình ảnh nhân hoạ thường trực, cuộc sống người dân luôn bất an nên luôn phải đề phòng mọi thứ.

Thiên tai thì nước nào cũng có, nhưng thiên tai ở Việt Nam luôn có bóng dáng của nhân hoạ. Năm nào cũng thế, cứ mùa mưa thì nạn lũ lụt cướp đi sinh mạng của nhiều người dân vô tội. Nếu chính quyền có trách nhiệm, họ đã không để rừng phòng hộ bị phá sạch như hôm nay thì thiệt hại không phải liên tục năm nào cũng xảy ra như thế. Mỗi năm nhân dân phải cúng cho liên minh thiên tai – nhân họa này từ hàng chục đến hàng trăm mạng người, chưa kể vật chất.

Không chỉ cái vô trách nhiệm của chính quyền gây ra hoạ, mà ở Việt Nam, bản thân chính quyền cũng là một thứ họa. Nhân quyền là thứ vốn có của mọi con người từ khi được sinh ra trên đời này, thế nhưng ai lên tiếng đòi hỏi, thì họ sẽ gặp hoạ bởi đòn thù của chính quyền. Nếu bị công an bắt tạm giam thì người dân có thể gặp nguy hiểm đến tính mạng vì sự lộng hành và bản chất dã thú của của lực lựợng này. Nếu bạn đang sống trên mảnh đất đẹp, rất có thể một ngày nào đó bạn sẽ đối mặt với nạn cướp đất và bị tống ra đường làm dân oan.

Đấy! Họa bủa vây khắp nơi, thế nhưng rất nhiều người lại cho rằng: “Việt Nam đang rất bình yên”. Họ đã ngộ nhận! Cái bình yên của họ chính là không chiến tranh, còn những thứ đe doạ khác thiên tai, các loại nhân hoạ thì với họ đấy cũng là bình yên. Cừu là con vật bị thuần hoá, nó hài trong chuồng trại của nó, nó vẫn thấy bình yên khi bị vặt lông. Và cứ nghĩ cuộc sống của nó luôn bình yên mãi cho đến ngày bị mang ra thịt. Đất nước sẽ không phát triển, sẽ không bao giờ đổi thay nếu người dân cứ mãi giam hãm suy nghĩ của mình trong sự ấu trĩ. Cứ tự huyễn hoặc kiểu anh chàng AQ để tự hài lòng với những gì được ban phát thì không thể phá vỡ gông cùm, mãi vẫn cứ “bình yên” trong kiếp nô lệ.

Luật Nào khiến cô Lê Thu Hà hai lần bị đuổi khỏi Việt Nam?

 

Luật Nào khiến cô Lê Thu Hà hai lần bị đuổi khỏi Việt Nam?

Nguyễn Quang Duy

1-12-2018

Thứ năm 22/11/2018 nhật báo TAZ của Đức bình luận về việc Hà Nội trục xuất cô Lê Thu Hà như sau: “Lê Thu Hà là công dân của nước Việt Nam, cô không có quốc tịch nào khác. Một quốc gia khước từ, không cho công dân của mình nhập cảnh là một hành vi vi phạm Công pháp quốc tế“.

Cô Hà sinh ra và lớn lên tại Việt Nam, vì bất đồng chính kiến đã bị Hà Nội bắt bỏ tù và sau đó trục xuất sang Đức. Cô mong trở về Việt Nam sống với mẹ già nhưng một lần nữa lại bị Hà Nội trục xuất phải quay lại Đức.

Luật sư Nguyễn Văn Đài cho biết, “cô Hà được Đức cấp giấy tờ có hiệu lực 3 năm ở Đức bắt đầu từ ngày 1/11/2018 bao gồm sổ thông hành, giấy phép định cư, giấy phép lao động nhưng cô ấy đã không nhận…”.

Như thế là Chính phủ Đức thực hiện Công Ước 1954 về Quy chế “người không quốc tịch” trợ giúp cô Lê Thu Hà.

Giúp người không quốc tịch là…

Công ước 1954 về Quy chế người không quốc tịch yêu cầu chính phủ các nước bảo vệ người không quốc tịch tối đa, hỗ trợ họ có giấy tờ đi lại, trợ giúp hành chính, công ăn việc làm, giáo dục…

Thuật ngữ “người không quốc tịch” là người không được coi là công dân của bất kỳ quốc gia nào theo pháp luật hiện hành của quốc gia người đó đang sống.

Công ước 1961 về Giảm bớt người không quốc tịch đề cập đến việc phải làm để giảm bớt số người không quốc tịch, bao gồm quyền rời khỏi nơi bị truy bức cũng như quyền trở về quê hương xứ sở.

Cả hai Công ước 1954 và 1961 đều chưa được Hà Nội ký kết.

Một số người dịch thuật ngữ “stateless person” thành “người vô tổ quốc” là không chính xác.

Người Việt có thể bị tước quyền công dân nước CHXHCN Việt Nam vì bất đồng chính kiến hay vì các lý do khác thì vẫn là người Việt và tổ quốc Việt Nam vẫn là tổ quốc của người Việt Nam.

Quyền công dân nước CHXHCN Việt Nam rất khác nếu không nói là hoàn toàn khác với quyền công dân tại miền Nam Việt Nam trước 30/4/1975 và tại các nơi khác trên thế giới.

Trả quyền công dân…

Tổng Thống Trần Văn Hương đã chính thức từ chối nhận quyền công dân do nhà nước cộng sản trả lại.

Câu chuyện được chính ông Hương kể là vào đầu năm 1976 nhà nước cộng sản đã quyết định trả quyền công dân cho ông.

Để tuyên truyền họ cho tổ chức một buổi lễ “trả quyền công dân” ngay tại nhà ông, với sự hiện diện của báo chí và các đài truyền thanh, truyền hình tại Sài Gòn.

Ngay giữa buổi lễ, ông tuyên bố từ chối không nhận với lý do là còn hàng trăm ngàn công chức quân nhân của Việt Nam Cộng Hòa, mà ông là cấp chỉ huy tối cao của họ, vẫn còn đang học tập cải tạo và chưa được trả quyền công dân. Ông nói rõ là:

“Chừng nào những người tập trung cải tạo được về hết, chừng nào họ nhận được đầy đủ quyền công dân, chừng đó tôi sẽ là người cuối cùng, sau họ, nhận quyền công dân cho cá nhân tôi!”

Đầu năm 1976 nhà cầm quyền cộng sản cho tổ chức tổng kiểm kê dân số ở các tỉnh miền Nam chuẩn bị cho cuộc bầu cử Quốc Hội chung cả nước ngày 25/4/1976.

Người miền Nam phải điền một tờ đơn xin trả quyền công dân và một tờ khai sơ yếu lý lịch. Khi nhận lá đơn nhiều người miền Nam mới hiểu ra rằng sau 30/4/1975 tất cả người miền Nam đã thành “người không quốc tịch” ngay chính trên quê hương đất nước mình.

Mấy trăm ngàn tù đi cải tạo khi ấy không được phát đơn, họ chỉ được làm đơn xin trả quyền công dân khi đã được thả về một thời gian.

Nhiều người miền Nam nhất là những người Việt gốc Hoa mặc dù đã nạp đơn nhưng không được trao trả quyền công dân.

Cả trăm ngàn người Việt gốc Hoa đã bị tống lên các con tàu ra đi “bán chính thức” để nhà cầm quyền thu vàng và tài sản của họ. Nhiều người đã chết trên biển.

Hằng triệu người Việt đã băng rừng vượt biển tìm tự do và đã được quốc tế đón nhận như những người tỵ nạn cộng sản.

Trang sử về người Việt “không quốc tịch” ngay chính trên đất nước Việt Nam khó mà quên được.

Thanh lọc công dân…

Công ước 1954 ra đời để giúp đỡ các nạn nhân bị nhà cầm quyền trục xuất như trường hợp Hitler tước quốc tịch Đức, trục xuất và diệt chủng người Do Thái.

Trong thời Chiến tranh Lạnh, Liên Xô và một số nước Đông Âu cũng tước quốc tịch và trục xuất các nhà bất đồng chính kiến, các văn nghệ sỹ và người Do Thái ra khỏi xứ.

Hằng triệu công dân Liên Xô gốc Tatar bị cưỡng bách di dân và không được phép quay trở lại quê hương của họ.

Tại Kampuchia, khi cộng sản chiến thắng trục xuất và thảm sát hằng trăm ngàn người Việt và người Chàm sống ở đó. Đồng thời thực hiện thanh lọc và diệt chủng công dân Kampuchia.

Tại Nam Tư sau khi cộng sản tan rã cũng xảy ra tình trạng thanh lọc chủng tộc.

Tại Cuba ngày 6/4/1980, 7.000 người Cuba lao vào đại sứ quán Peru tại La Habana xin tị nạn chính trị. Fidel Castro ra lệnh mở cảng Mariel và mở cửa trại tù cho bất kỳ ai muốn rời Cuba được ra đi. Kết quả chỉ hơn 2 tháng có trên 125.000 người Cuba đã di cư sang Mỹ.

Năm 1998 xung đột biên giới giữa hai nước Eritrea và Ethiopia, chính quyền Ethiopia đã vây bắt hàng nghìn công dân và tống họ sang Eritrea với lý do họ thuộc nhóm sắc tộc Eritrea.

Nhà cầm quyền Miến Điện mở chiến dịch thanh lọc sắc tộc, khiến hơn 300.000 người Hồi giáo Rohingya phải bỏ chạy sang Bangladesh hồi cuối tháng 8/2017.

Sau vụ đàn áp đẫm máu ở Thiên An Môn tháng 6/1989, Trung Quốc cũng đã thanh lọc nhiều công dân bất đồng chính kiến.

Gần đây hằng triệu người Hồi giáo ở Tân Cương đã bị nhà cầm quyền Bắc Kinh tước quyền công dân và đẩy vào những khu tập trung như đã từng xảy ra tại Việt Nam sau 30/4/1975.

Trên là một số các trường hợp tạo ra tình trạng “người không quốc tịch” và người tỵ nạn, hầu như đều xảy ra ở các nước độc tài hay cộng sản.

Quyền công dân nước CHXHCN Việt Nam

Hà Nội chính thức trục xuất nhiều công dân bất đồng chính kiến và không cho trở về Việt Nam như trường hợp cô Lê Thu Hà.

Nhưng chiếu theo Khoản 2 Điều 17 của Hiến Pháp 2013 thì “Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác.”

Khoản 4, Điều 88 của Hiến pháp 2013 lại cho phép Chủ tịch nước quyền “tước quốc tịch Việt Nam”.

Khoản 1 điều 31 Luật Quốc Tịch 2008 quy định về việc công dân CHXHCN Việt Nam bị tước quốc tịch.

Ngày 24/4/2013, ông Phạm Văn Điệp một công dân Việt Nam sống ở Nga từ năm 1992, nhưng không xin nhập quốc tịch Nga, khi về nước đã bị chận lại và trục xuất vì “vi phạm pháp luật Việt Nam”.

Ông Điệp cho rằng chỉ có Chủ tịch nước mới có quyền tước quốc tịch của ông, nhưng ông vẫn bị cảnh sát cơ động áp tải ra máy bay tống khỏi Việt Nam.

Ông Điệp từng tham gia đảng Dân chủ Việt Nam và có viết bài đăng trên Đàn Chim Việt và Dân Luận.

Ông Điệp là trường hợp thứ nhất được biết tương tự với trường hợp cô Lê Thu Hà.

Nhiều trường hợp công dân nước CHXHCN Việt Nam khi đến tòa Đại Sứ xin gia hạn thẻ thông hành (hộ chiếu) mới biết họ mất quyền gia hạn.

Một số công dân Việt Nam khi về lại Việt Nam bị tịch thu giấy thông hành một hình thức cấm xuất ngoại.

Một số công dân Việt Nam khác mặc dù có thẻ thông hành nhưng bị cấm xuất ngoại.

Luật pháp Việt Nam khá tùy tiện và như cố luật sư Ngô Bá Thành từng diễn tả “Việt Nam có cả rừng luật, nhưng khi xét xử lại dùng luật rừng!” Và giờ đây Hà Nội lại sử dụng luật rừng với quốc tế.

Bởi thế ngày 24/6/2014, Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008.

Khoản 2, Ðiều 13 kêu gọi người Việt sống ở nước ngoài làm đơn xin giữ quốc tịch Việt Nam. Trên 4 triệu người Việt sống ở nước ngoài chỉ có 6,000 người xin giữ quốc tịch.

Chắc chắn có nhiều người Việt chọn làm “người không quốc tịch” thay vì phải làm người mang quốc tịch nước CHXHCN Việt Nam.

Các nước đảm bảo quyền công dân

Xin kể về các quyền gắn liền với quốc tịch Úc, nơi tôi đang sinh sống, và ở Mỹ, ở Đức để có sự so sánh:

Úc có truyền thống đơn tịch bắt đầu với Đạo luật Quốc tịch năm 1903 (Naturalization Act 1903). Khi xin gia nhập Quốc tịch Úc, người đứng đơn không bị đòi hỏi bỏ quốc tịch gốc.

Năm 2002, Đạo luật Tu chính Quốc tịch Úc bỏ quy định công dân Úc đương nhiên mất quốc tịch Úc khi nhận quốc tịch của quốc gia khác. Nghĩa là Úc công nhận tình trạng song tịch hoặc đa tịch.

Cuối năm 2015, chính quyền Liên Bang có tu chính Luật Quốc Tịch cho phép tước quốc tịch Úc những người đã xin vào quốc tịch, còn giữ song tịch, mà phạm tội hoặc có liên can tới khủng bố.

Còn ở Đức trong thời chiến tranh lạnh, phía Đông Đức năm 1967 đã ban hành Luật mới về quốc tịch, nhưng phía Tây Đức vẫn áp dụng Luật quốc tịch theo luật huyết thống ban hành từ năm 1913 “Người Đức là công dân Đức”.

Tây Đức vì vậy chấp nhận quyền công dân cho tất cả “công dân Đông Đức“. Luật quốc tịch 1913 được tiếp tục sử dụng khi nước Đức thống nhất.

Luật Đức đòi hỏi khi nộp đơn xin quốc tịch Đức phải chính thức từ bỏ quốc tịch gốc. Công dân Đức bị mất quốc tịch khi trở thành công dân nước khác.

Nhiều nhân viên ngoại giao và sinh viên du học từ Việt Nam Cộng Hòa gặp khó khăn trong thủ tục xin gia nhập quốc tịch nên nhiều người đã rời nước Đức hay không trở thành công dân Đức.

Công dân Đức không bị tước quốc tịch hay bị trục xuất vì bất cứ lý do gì.

Còn tại Mỹ Hiến Pháp và Luật Pháp định nghĩa công dân theo nguyên tắc huyết thống. Nghĩa là con cái của công dân Mỹ sinh ra bất cứ nơi nào trên thế giới đều được mang quốc tịch Mỹ.

Để tránh trường hợp bị kỳ thị da màu, Tu chính án 14 công nhận quyền công dân cho mọi người sinh ra ở Mỹ.

Lợi dụng Tu chính án 14 nhiều người ngoại quốc sang Mỹ sinh đẻ để đứa trẻ được cấp quyền công dân và sau này có thể di dân đến Mỹ. Tổng Thống Trump tuyên bố sẽ ra một sắc lệnh ngăn cấm việc lạm dụng này.

Hiến Pháp và luật pháp Mỹ không công nhận song tịch mà cũng không cấm song tịch.

Theo Ðiều khoản 349 INA của luật Quốc Tịch Mỹ “Công dân Hoa Kỳ có thể mất quốc tịch Mỹ nếu nhập quốc tịch khác hoặc tuyên thệ trung thành với nước khác.”

Nhưng thông thường chỉ khi công dân Mỹ làm đơn và tuyên thệ xin từ bỏ quốc tịch Hoa Kỳ thì mới được xem là mất quốc tịch.

Luật pháp Mỹ không cho phép bất cứ ai tước đoạt quyền công dân của người khác, nhưng trong một số trường hợp công dân Mỹ không được phép hay bị cấm tới một số khu vực vì lý do an ninh hay chính trị.

Quyền Công Dân thời Việt Nam Cộng Hòa

Việt Nam Cộng Hòa sử dụng luật huyết thống. Người Việt và con cái người Việt đều mang quốc tịch Việt Nam.

Ngày 7/12/1955, Tổng thống Ngô Đình Diệm còn ban hành Dụ số 10 qui định tất cả những ai sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam đều là người Việt Nam.

Lãnh thổ Việt Nam được nói rõ trong Hiến Pháp 1956 và Hiến Pháp 1967 là từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau, nghĩa là người miền Bắc hay người miền Nam đều là công dân Việt.

Người có quốc tịch Việt Nam sống ở bất cứ nơi vẫn là người Việt Nam và không ai có quyền tước quốc tịch của người Việt Nam. Người Bắc di cư hay vượt tuyến đương nhiên được hưởng mọi quyền lợi và nghĩa vụ công dân.

Người theo cộng sản vẫn được xem là công dân Việt chỉ khác là họ lầm đường lạc lối.

Chính sách chiêu hồi tạo cơ hội trên 230 ngàn cán binh cộng sản trong đó rất nhiều cán binh từ miền Bắc về hồi chánh. Họ đã được tự động nhận mọi quyền lợi và nghĩa vụ công dân.

Theo Hiến Pháp 1967 Việt Nam Cộng Hòa đa số người Việt hải ngoại có đầy đủ quyền bầu cử và ứng cử kể cả các chức vụ cao nhất là Tổng thống.

Điều 13.2 quy định “Mọi công dân đều có quyền bầu cử, ứng cử và tham gia công vụ trên căn bản bình đẳng theo điều kiện và thể thức luật định.”

Điều 53.1 quy định quyền ứng cử Tổng Thống hoặc Phó Tổng Thống những công dân hội đủ các điều kiện sau đây : “Có Việt tịch từ khi mới sanh ra và liên tục cư ngụ trên lãnh thổ Việt Nam ít nhất mười (10) năm tính đến ngày bầu cử. Thời gian công cán và lưu vong chánh trị tại ngoại quốc được kể như thời gian cư ngụ tại nước nhà.

Vấn đề quốc tịch và tổ quốc ngày nay

Người Việt hải ngoại dù là thuyền nhân, vượt biên đường bộ, đi theo diện HO, ở lại các quốc gia thuộc Liên Xô và Đông Âu hay nay bị trục xuất như cô Lê Thu Hà đều có chung một đặc thù là tị nạn chính trị.

Những người ra đi chính thức nhưng có những việc làm về thông tin, văn hóa, chính trị trái ý với nhà cầm quyền cộng sản bị cấm không thể trở về Việt Nam đều có thể được xem là “lưu vong chánh trị”.

Những người được gia đình bảo lãnh hay sinh ra ở hải ngoại vẫn được xem là những người tị nạn chính trị.

Khi thể chế tại Việt Nam thay đổi sẽ có những bước chuyển tiếp, trong đó có việc bầu ra Quốc Hội Lập Hiến soạn thảo một Hiến Pháp mới cho Việt Nam.

Hiến pháp mới và Luật pháp tương lai nên dựa trên tinh thần nhân bản, tinh thần hòa đồng dân tộc, Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, và các Công ước quốc tế về quyền không bị tước quốc tịch với những điểm tương tự như Hiến Pháp 1967.

MUỐN SỐNG HẠNH PHÚC, GHI NHỚ 5 CHỮ ĐỪNG…

 MUỐN SỐNG HẠNH PHÚC,  GHI NHỚ 5 CHỮ ĐỪNG


Con người muốn được sống hạnh phúc, thanh thản mà trong tâm lại vẫn cứ ôm giữ các loại tâm tranh đấu, oán hận thì vĩnh viễn không thể nào đạt được. Hãy ghi nhớ 5 thứ “đừng” sau đây:

Cái đừng thứ nhất: Có tiền đừng keo kiệt:  

Tiền khi sinh chẳng mang theo đến, khi tử chẳng mang theo đi. Sức khỏe mới là thứ quan trọng hơn nhiều, có sức khỏe thì mới có tất cả.

  •       Trong dân gian có câu nói:“Không sợ kiếm ít tiền, chỉ s chết sớm”. Có sức khỏe thì ngại gì không kiếm được tiền. Vì sức khỏe, khi nào cần chi tiêu thì hãy chi tiêu, có tiền đừng keo kiệt. 

Cái đừng thứ hai: Có phúc đừng chờ 

  •       Con cháu đều có phúc của con cháu, đừng quá vì con cháu mà biến mình thành thân trâu ngựa. Nên tranh thủ thời gian hưởng thụ cuộc sống, đừng vì con cháu mà làm việc quá sức, làm cố quá là sát thủ nguy hiểm nhất của sức khỏe.

Cái đừng thứ ba: Có tình yêu đừng buông bỏ 

  •       Cuộc đời thật ngắn ngủi, tình yêu lại không dễ tìm kiếm, cho dù yêu hay được yêu đều là duyên phận, đều nên đón nhận, ngày hôm nay bạn buông bỏ, thì kiếp này nó sẽ không bao giờ đến với bạn nữa. 

Cái đừng thứ tư: Tức giận đừng để trong lòng  

  •       Trong cuộc đời, ai cũng có thể phải gặp những chuyện khó khăn hay không vừa ý, đừng nên vì thế mà “nộ khí xung thiên”. Tức giận là tồn tại khách quan, không nên giữ ở trong lòng, nín thở thì khí sẽ ứ tắc, khí ứ tắc thì sẽ sinh bệnh.
  •       Gặp phải những sự việc khiến ta tức giận, hãy tìm người để khai thông nó, thổ lộ ra hết, như vậy sẽ gỡ bỏ nó nhanh hơn, nội tâm sẽ yên bình trở lại.
  •       Bạn bè chính là công cụ “tốt nhất, cũng là nguồn động lực, khích lệ tinh thần, tiếp thêm sức mạnh tốt nhất cho bạn. 

Cái đừng thứ năm: Có thù hận đừng ghi nhớ  

  •       Lòng dạ khoáng đạt, dùng thiện lương nhân ái để đối đãi, không để ý những chuyện nhỏ, gạt bỏ ân oán, cũng không để thù hận trong lòng. Hãy làm cho mỗi ngày trong cuộc đời của bạn là một ngày vui sống.
  •       Người xưa sống được trường thọ vì họ có “tam bất thức”, chính là không cần biết 3 điều, không quan tâm ân oán, không quan tâm tuổi tác, không quan tâm bệnh. 

NAM GIANG 

 From: KittyThiênKim & KimBằng Nguyen

Chính phủ Việt Nam yêu cầu thanh tra toàn diện đất rừng Sóc Sơn

  • Nhà cầm quyền  Việt Nam yêu cầu thanh tra toàn diện đất rừng Sóc Sơn…

    Chính phủ Việt Nam yêu cầu Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội thanh tra toàn diện việc quản lý và sử dụng đất rừng phòng hộ trên địa bàn huyện Sóc Sơn.

    Truyền thông trong nước loan tin hôm 30/11 dẫn yêu cầu vừa nêu của ông Phó Thủ Tướng Trương Hòa Bình.

    Theo đó, ông Trương Hòa Bình yêu cầu Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội cùng với các bộ- ngành khẩn trương báo cáo kết quả việc xử lý sau thanh tra đất rừng phòng hộ huyện Sóc Sơn trước ngày 15/12/2018.

    Đồng thời, ông phó thủ tướng chính phủ Việt Nam còn yêu cầu thành phố Hà Nội đảm bảo kết luận đầy đủ, chính xác và xử lý nghiêm các vi phạm theo đúng quy định của pháp luật cũng như báo cáo Thủ tướng chính phủ trước ngày 1/2/2019.

    Trước đó, vào hôm 29/11 tại buổi trao đổi với báo chí, ông Nguyễn Hoài Nam trưởng ban pháp chế Hội đồng nhân dân Hà Nội thừa nhận rằng việc khắc phục vi pham xây dựng tại đất rừng Sóc Sơn chưa đến nơi đến chốn, việc xử lý còn chậm trễ và nhiều diễn biến phức tạp.

    Ngoài ra, ông còn cho biết hiện Hà Nội đang điều tra làm rõ, xem xét các sai phạm mới và xử lý sai phạm cũ đồng thời xem xét các trách nhiệm thuộc về ai nhưng ông khẳng định rằng điều này đang chờ kết luận của thanh tra thành phố Hà Nội.

    Vào năm 2006, thanh tra chính phủ phát hiện nhiều sai phạm sau khi kiểm tra việc quản lý sử dụng đất rừng tại Sóc Sơn và 9 xã khác. Tại Sóc Sơn, cơ quan chức năng phát hiện hơn 650 hộ xây dựng công trình sai phạm trên đất lâm nghiệp với diện tích 11 ha. Trong số này có 80 nhà kiên cố, 26 công trình theo mô hình trang trại sản xuất và rất nhiều trường hợp vi phạm khác.

    Một trong những công trình bị phát hiện có vi phạm ở rừng phòng hộ Sóc Sơn là căn biệt thự của nữ ca sĩ Mỹ Linh được xây dựng từ 12 năm trước. Nhưng cho đến khi nữ ca sĩ lên tiếng ủng hộ việc xây nhà hát giao hưởng 1.500 tỷ ở Thủ Thiêm thì những người phản đối đã khơi lại vụ việc.

BẢN CHẤT THỂ CHẾ

BẢN CHẤT THỂ CHẾ

Nguyễn Thiện Nhân có vẻ bề ngoài là người ăn nói chừng mực, là người khoa bảng bậc nhất của ĐCS. Nhớ ngày trước khi có thông tin Tòng Thị Phóng về nắm bí thư Sài Gòn, dân Sài Thành phản ứng dữ dội. Nhưng sau đó có tin chính thức Nguyễn Thiện Nhân về thì dân Sài Gòn hài lòng hơn. Có lẽ người ta quá xem trọng bề ngoài của ông Nhân. Thực chất ông ấy chỉ ngồi ở ghế cầm lái nhưng chẳng bẻ lái được gì vì cái cơ cấu cứng nhắc của bộ máy.

2 năm qua, ông Nhân chẳng làm được dấu ấn gì cả. Vụ Thủ Thiêm đã lo không xong còn lừa gạt nhân dân, chứng tỏ ông ta có nỗ lực nhưng lại bất lực. Ngày 29/10/2018 ông ta nói “tháng 11 xử lý cán bộ sai phạm Thủ Thiêm”, và nay đã hết tháng, ông ta vẫn không xử lý được bất kỳ cá nhân nào. Trong thể chế này, công lí không thể thực thi dù có tốn rất nhiều thời gian và huy động rất cả những người quyền lực nhất. Phóng hay Nhân cũng thế thôi, đều bất lực cả.

Trần Bắc Hà một tên anh chị lưu manh cậy thế. Hắn đội trên đạp dưới leo cao và coi trời bằng vung. Khi nằm trong group Nguyễn Tấn Dũng, hắn tự do phá hoại mà không một ai có thể cản nổi. 8 năm tại vị chức vụ chu tịch HĐQT BIDV hắn tự tung tự tác. Hắn chỉ bị bắt khi người chủ của hắn đã thua trong cuộc đấu đá ở thượng tầng. Cũng cơ chế đó, kẻ mới thay Trần Bắc Hà thì dại gì không xơi đậm như Hà?

Trong thể chế này, không một kẻ nào có thể thực thi công lý, vì sao? Vì nếu trả lại công lý cho dân thì chắc chắn xâm phạm đến quyền lợi một group chính trị. Nếu group ấy còn mạnh thì mọi việc bế tắc. Ở đất nước này, muốn xử lý được cá nhân nào, phải chờ cho group chính trị đó thất thế trong cuộc đấu đá nội bộ. Nhờ đó, ngọn cờ “chống tham nhũng” mới được giương lên, vì nó là chiêu bài chính.

Nói cho cùng, bị tóm như Đinh La Thăng, Trần Bắc Hà thì bởi vì xui rủi cho bọn họ là 3 Dũng thua. Nếu các thế lực chính trị ở thế giằng co thì chẳng có cá nhân nào bị sờ gáy cả. Trong thể chế này, chỉ có nói sự thật là nguy hiểm thường trực, còn tham nhũng ăn bạo lộng quyền vẫn là những kẻ an toàn nhất. Đó là bản chất của thể chế.

TỈNH THỨC ĐI VÀO THẾ GIỚI MỚI

TỈNH THỨC ĐI VÀO THẾ GIỚI MỚI

Thật ngạc nhiên.  Ta cứ tưởng trong mùa Vọng, phải có những bài sách Thánh báo tin Đấng Cứu Thế sẽ sinh ra.  Nhưng không ngờ những bài sách thánh và đặc biệt bài Tin Mừng hôm nay lại báo tin Chúa sẽ đến trong ngày phán xét.  Tại sao thế?  Thưa vì Giáo Hội muốn cho ta hiểu ý nghĩa thần học của việc chờ mong Chúa đến.  Hàng năm vào mùa Vọng, Giáo Hội mời gọi ta chuẩn bị tâm hồn để đón Chúa đến.  Thực ra Chúa đã đến rồi khi sinh ra tại hang đá Bêlem cách nay hơn hai ngàn năm.  Tuy nhiên ta vẫn luôn chờ mong vì Chúa đến hằng ngày với ta.  Và nhất là Chúa sẽ đến trong ngày phán xét.  Việc Chúa đến lần thứ hai đưa ra những hướng dẫn quan trọng cho cuộc đời chúng ta.

Hướng dẫn thứ nhất: Có hai thế giới.  Thế giới hiện tại và thế giới tương lai.  Thế giới hiện tại sẽ qua đi.  Vạn vật có khởi đầu và có kết thúc.  Con người có sinh có tử.  Đó là định luật tự nhiên.  Không chỉ những gì yếu đuối, bé nhỏ mới qua đi.  Cả những gì lớn lao, mạnh mẽ, có vẻ bền vững nhất như mặt trời, mặt trăng cũng qua đi.  Điều quan trọng nhất là chính ta cũng sẽ qua đi.  Khi thế giới này qua đi, một thế giới mới sẽ bắt đầu: thế giới vĩnh cửu.

Hướng dẫn thứ hai: Chúa làm chủ lịch sử.  Sở dĩ thế giới cũ tan biến đi vì Chúa đã định cho nó một thời hạn.  Khi thế giới đến ngày cùng tháng tận, Chúa sẽ đến.  Quyền uy của Chúa thể hiện qua việc Chúa xét xử thế giới cũ và khai sinh thế giới mới.  Sau cảnh tan vỡ kinh hoàng của thế giới cũ sẽ là một khởi đầu mới đem đến niềm hy vọng mới cho con người.  Có thể nói thế giới không chấm dứt nhưng biến đổi.  Từ một thế giới mong manh mau tàn đến một thế giới vững bền vĩnh cửu.  Từ một thế giới tương đối đến một thế giới tuyệt đối.

Hướng dẫn thứ ba: Ta tự quyết định vận mệnh đời mình.  Thế giới này sẽ qua đi.  Thế giới mới sẽ xuất hiện.  Ta sẽ bị hủy diệt cùng với thế giới cũ.  Hay sẽ được hạnh phúc trong thế giới mới?  Điều đó tùy thuộc bản thân ta.  Chúa đưa ra những chỉ dẫn rõ ràng.  Thế giới cũ sẽ suy tàn.  Nên ai quá gắn bó với nó sẽ khổ sở.  Thế giới mới sẽ tới.  Ai biết chuẩn bị chờ đón sẽ được hạnh phúc.  Phải làm gì?  Thưa phải tỉnh thức và cầu nguyện.

Tỉnh thức không “chè chén say sưa”, tức là không quá mê mẩn những đam mê hưởng thụ đời này.  Tỉnh thức không “lo lắng sự đời”, nghĩa là không quá mê say danh, lợi, thú, là những giá trị đời này.  Tỉnh thức là biết chuẩn bị cho đời sau bằng cách vươn tâm hồn lên những chân trời cao thượng.  Tỉnh thức tuy còn sống ở đời này nhưng tâm hồn đã hướng về những giá trị tinh thần vĩnh cửu đời sau.

Cầu nguyện vì tinh thần mau mắn nhưng xác thịt nặng nề.  Cầu nguyện để biết tỉnh thức.  Vì khi cầu nguyện ta tách ra khỏi sự ràng buộc của thế giới vật chất để vươn tới thế giới tâm linh.  Nhất là cầu nguyện để xin ơn Chúa giúp.  Con người phàm trần xác thịt nặng nề luôn bị trần gian lôi kéo.  Chỉ với ơn Chúa giúp ta mới thoát ra khỏi vòng giam hãm của vật chất để vươn tâm hồn lên thế giới thiêng liêng.

Có tỉnh thức cầu nguyện ta mới khao khát Chúa đến.  Có tỉnh thức cầu nguyện, khi Chúa đến ta mới đứng dậy và ngẩng cao đầu lên.  Có tỉnh thức cầu nguyện ta mới gặp được Chúa.  Có tỉnh thức cầu nguyện ta mới được vào thế giới mới với Chúa.  Tỉnh thức cầu nguyện, ta có thể gặp Chúa ngay bây giờ trong ngày hôm nay.  Tỉnh thức cầu nguyện ta sẽ gặp được Chúa trong ngày lễ Chúa Giáng Sinh.  Tỉnh thức cầu nguyện chắc chắn ta sẽ được gặp Chúa trong ngày cùng tận của thế giới.  Chúa sẽ đón ta vào hưởng hạnh phúc trong một thế giới mới hạnh phúc tuyệt đối và không bao giờ tàn lụi.

Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến cứu con. Amen.

 ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

From Langthangchieutim

Hiểu gì không, ý nghĩa của trời thơ,

 Suy tư Tin Mừng đọc vào Chúa Nhật thứ Nhất Mùa Vọng năm C 

“Hiểu gì không, ý nghĩa của trời thơ,

 “Của hương hoa, trong trăng lờn lợt bảy?”

(Dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

 Lc 21: 25-28, 34-36

 Trời thơ ở đời, nhà thơ nay đã hiểu. Thơ Trời của Đạo, người người rày cũng thấu. Hiểu và thấu Tin Mừng đầy những thơ, nay người đọc đà thấy rõ thánh Luca có nói về chất chính trị của mùa Vọng, ở trình thuật. Về, cả hứa hẹn đầy ngóng đợi Đấng Mêsia nay kịp đến.                                             

Hội thánh, nay chọn các bài Phụng vụ nói về thế giới phàm trần đang chết dần. Thế giới này, không của riêng ai. Và, cũng không riêng gì nhà Đạo. Bởi, Đạo Chúa đã và đang sản sinh nhiều điều rất mới. Sản sinh nguồn thơ sự sống, rất mới. Sinh sản cả ý nghĩa lời thơ nơi phụng vụ, hôm nay.

Ghi chép Lời Chúa, thánh Gioan là nhà thần bí, rất tuyệt vời. Trong khi các thánh Máccô và Mátthêu lại là thánh-sử chuyên kể chuyện. Chuyện dân gian Do thái. Chuyện Chúa mặc khải cho dân con Ngài, một sứ vụ. Riêng thánh Phaolô lại chẳng gồm tóm ý nghĩa của truyện kể lẫn nguồn thơ. Chỉ mỗi thánh Luca là đấng thánh có nguồn thơ lai láng, tràn ngập hai chương đầu trình thuật.

Ở hai chương đầu, thánh Luca đưa ra dấu chỉ về thời ấu thơ của Chúa. Cả chuyện kiểm kê là dấu chỉ về những o ép/bách hại từ vua quan, ở đời. Kiểm kê, còn là dấu hiệu của một lăng nhục. Và, câu nói: “Không có chỗ cho Ngài tá túc ở nhà trọ”, lại là dấu chỉ những kẻ lang thang khắp đây đó. Máng cỏ Chúa nằm, là dấu hiệu của việc đói ăn/thiếu mặc ở cõi đời đầy ô trọc. Và, tã quấn Hài Nhi, là dấu chỉ về vải liệm và nỗi chết Chúa sẽ chịu. Nhưng, dấu chỉ đây còn tỏ cho thấy niềm vui, nơi mọi người. Vui, vì Hài Nhi sinh ra là sinh cho ta. Còn sự chết, cũng sẽ bị sự sống rất mới khuất phục để trỗi dậy, không sợ sệt.  

Thế giới, nay gồm đầy những chuyên gia binh bị, kinh tế và triết học. Về binh bị, có người lại biết cả cách thức áp đặt nền dân chủ/hoà bình lên người khác, dù người khác không cần. Về kinh tế, có vị còn nói mình sẽ chỉnh đốn mọi khủng hoảng tiền bạc do họ tạo. Với triết học, có vị nghĩ mình thông thái biết hết mọi sự và làm được mọi việc. Còn ở nơi ta, có nhà thơ chỉ muốn nguồn thơ mình thai nghén sẽ giáng hạ sinh biến đổi con người từ bên trong, để thấy trẻ thơ sinh hạ, đến với ta. Và mỗi lần ta nhận ra được Nguồn Thơ Trẻ, sẽ tin vào tương lai/mai ngày mà thế giới không thể trao tặng. Làm được thế, ta sẽ sống trong Nguồn Thơ rất Vọng.

Mùa Vọng, là trông ngóng Hồn Thơ ra đời như thế. Hồn Thơ, có các thánh ngóng chờ như bài đọc kể Abraham và Sarah mừng vui sau bao ngày đợi chờ, đã sinh con. Có, Ysaya và ngôn sứ đợi chờ đoàn-tụ sau bao ngày lưu lạc chốn quê người. Chờ, như Gioan Tẩy Giả chờ nơi hoang dã để lời tiên tri thành hiện thực. Chờ, như Mẹ chờ Chúa Giáng hạ nơi cung lòng trinh trong của Mẹ. Và Mẹ tiếp tục chờ Chúa quang lâm ở đồi cao thánh giá. Tất cả, đều chờ Nguồn Thơ như chờ Giáng hạ.

Đọc sách Ysaya, ta thấy giòng thơ dào dạt đầy chờ trông. Đặc biệt, là giòng thơ trấn an dân con mọi người hãy cố chờ cả vào sau thời lưu đày, nữa. Chờ đây, là chờ Giêrusalem được dựng lại từ đổ nát. Chờ, như ngôn sứ lâu nay vẫn chờ Nguồn Thơ là tâm điểm thế giới, có Chúa vực đỡ quần thần/dân nước tề tựu nơi đó, để có được thị kiến giống nhà thơ Đạo.

Thánh Phaolô còn đi xa hơn, khi nhắn nhủ: ơn rỗi Chúa mang đến, không chỉ cho một dân tộc, mà là muôn dân nước. Thơ Nguồn cứu-độ không lệ thuộc dân con nước nào, hết. Chỉ cần ta có quan hệ mật thiết với Chúa, là sẽ thành công. Và, Nguồn Thơ Cứu Độ đến với mọi người dù họ có thuộc nhóm hội hoặc sắc tộc nào cũng sẽ được Nguồn Thơ Giáng Hạ rất đồng đều, ở vạn vật.

Tại các nước như Úc Châu, Hoa Kỳ hoặc đâu đó, chúng nhân từ muôn nơi đổ về đây sinh sống. Họ thuộc đủ mọi thành phần giòng giống/sắc tộc, tôn giáo hoặc truyền thống văn hoá rất khác biệt, vẫn đến đây để mừng ngày Đức Chúa là Nguồn Giáng Hạ đến với họ. Với họ, Chúa Giáng hạ Ngài không chỉ đến với đất nước hoặc sắc tộc nào tư riêng, mà cho hết mọi giống nòi, giòng tộc. Chúa Giáng Hạ, Ngài không chỉ đến với ai riêng rẽ mà là tất cả mọi người, như Nguồn Thơ lênh láng. Và Nguồn Thơ ấy, nay đã mặc lấy xác phàm làm Trẻ rất Thơ.

Nguồn Thơ Giáng hạ, có xác thể/hình hài giống như ta, nhưng không giống Ông Già Tuyết. Cũng chẳng là truyện thần thoại đầy xảo thuật làm loé mắt dân con mọi người. Và, Vương quốc Nước Trời là Trời Thơ của Chúa nay mặc xác phàm ở với thế trần, sống với ta. Trời Thơ đến với ta, đã biến cải thế giới của ta thành thế giới của Nguồn Thơ có nguồn sống, giống như ta. Trời Thơ của Chúa, lại cũng chấp nhận cuộc sống như ta. Chấp nhận cho cả lịch sử và giao ước, cùng nhu-cầu chậm bước vẫn nhẫn nhục, giống hệt ta. Trời Thơ, cũng giàn giụa nước mắt than khóc nhiều như ta từng khóc than những lúc quyết kiếm tìm cho đúng ngôn từ, nên đôi lúc cũng lạc loài, biến dạng, bị từ khước.

Mặc lấy xác phàm loài người, Đức Chúa cảm nghiệm nhiều điều giống Nguồn Thơ, từ: sự lạnh nhạt, yếu kém cho chí nỗi khước từ. Ngài cũng đã trải nghiệm vật vã, lưu lạc đến nỗi chết. Ngài cũng gặp cảnh huống ghen tuông, chối bỏ và trầm luân, lưu lạc sống khoảnh khắc thân xác lớn rất chậm.                       

Mặc lấy xác phàm để sống như con người bằng xương thịt, còn là đi vào với thế giới ngôn ngữ, diễn tả bằng ngôn từ của con người. Vào với thế giới của ngôn ngữ, Chúa cũng trải qua các giai đoạn tiến triển trong tạo dựng. Có trao đổi, hỏi han, có tham gia trở  thành tâm điểm để người khác theo đó mà tin. Có điểm đối chọi, để ta nhận ra động lực thúc đẩy mà sống vững chãi hầu đi vào quan hệ đặc biệt với người khác, biết mình và biết người.

Chúa mặc xác phàm làm người, Ngài tạo dựng chính mình Ngài để trở thành Con Người như ta, ở trong ta. Và, giữa ta. Ngài viết lên Bài Thơ nơi da thịt, xác phàm làm người của chính ta. Không Tin Mừng nào lại trình bày sự việc Chúa Nhập Thể cách đột ngột cả. Chúa Nhập Thể đến với con người là Ngài có chuẩn bị, từng chi tiết, rất như Thơ.

Có chuyển tiếp dẫn đưa con người đến giai-đoạn tháp-nhập vào với Người để hiện diện với đời, chứ không chỉ mang tính thiêng liêng/linh đạo rất tri thức. Chẳng linh-đạo nào lại có thể hiện diện ở thế giới của con người bằng xương thịt, trừ Chúa ra. Nguồn Thơ Chúa Nhập thể, là Ngài mặc lấy xác phàm nhưng Ngài vẫn 100% là Thiên Chúa và 100% là con người, cùng một lúc.

Đồ đệ Chúa thời ban đầu, lại cũng là đồ đệ của thánh Gioan Tẩy Giả, đấng thánh biết tự rút lui vào chốn hư không/trống vắng để Chúa toả sáng với những ai dõi bước theo Ngài. Thánh Gioan không tự nhận mình là tụ-điểm thu hút hết mọi người. Và, thánh nhân tuyên bố mình chỉ là cây đèn chứ không là ánh sáng chiếu dọi mọi người. Thánh nhân là tiếng nói chứ không là Lời của Trời Thơ.

Đồ đệ đến với Chúa như việc tự nguyện; tức: không o ép, bức bách hoặc bị dẫn dụ. Các thánh thấy Chúa nên đã đi theo như đã từng đi theo thánh Gioan Tẩy Giả vào nơi hoang dã. Và, Chúa nhìn đoàn môn đệ rồi cảm kích; và cứ thế, Thày trò nhìn nhau lại đã khám phá ra điều tuyệt vời ở nơi Cha, Đấng gửi Thày đến với mình. Và, với mọi người như Ngài từng gửi Nguồn Thơ Lời Ngài đến với trần thế. Cảm kích hơn, là khi đồ đệ thấy Thày mình là Nhà Thơ Tuyệt Cú. Để rồi, cả Thày lẫn trò là bầu bạn của Nguồn Thơ, vẫn tìm Nguồn Hứng nơi Cha, là Tất Cả. Và, Thày trò cứ thế ra đi tìm về Nguồn Hứng của Thi Ca, cũng là Nguồn Mạch mọi sự ở thế trần.

Thánh Âu Tinh từng kêu lên: “Lạy Cha, chính Cha đã làm nên chúng con để Cha vừa lòng, và tâm can chúng con sẽ không ngơi nghỉ cho đến khi nào chúng con được nghỉ ngơi, nơi Cha”. Chính vì thế, chúng ta vẫn kiếm tìm Chúa nhưng không biết mình đang làm gì, và chẳng biết Ngài là ai. Rất thiếu hụt, nếu không có Ngài thì tất cả chẳng là gì cả. Và, mọi sự sẽ đi từ thất bại đến tuyệt vọng hoặc từ rối rắm này đến ngõ bí khác. Chúng ta đến, vì lý do chính đáng. Ta ở lại, cũng vì lý do nào khác…

Phải chăng, đó là lý do để ta hiên ngang trông mong Chúa lại đến? Phải chăng Hội thánh Chúa sẽ dỗ dạy con dân mình Lời Thơ sự sống, dù Thơ Trời nay đã đến và ở với ta? Và đó, có lẽ là ý nghĩa đích đáng của mùa Vọng, rất chờ mong. Mong ai? Mong gì? Mỗi người và mọi người sẽ tự tìm ra câu giải đáp, rất thoả đáng.

Trong mong đợi Nguồn Thơ sâu sắc đến, cũng nên ngâm thêm lời thơ đời đầy ý nghĩa, rằng:

            “Hiểu gì không, ý nghĩa của Trời Thơ?

            Của hương hoa trong trăng lờn lợt bảy?

Của lời câm, muôn vì sao áy náy?

            Hiểu gì không? Em hỡi! Hiểu gì không?”

            (Hàn Mặc Tử – Trường Tương Tư)

Nhà thơ xưa cứ tương tư, dù đã hiểu. Hiểu “Lời Câm” hương hoa, vẫn kiếm tìm. Hiểu, “muôn vì sao áy náy”, “trăng lờn lợt bảy”. Hiểu cả Trời Thơ, nay đến ở với ta và với người, suốt cõi đời nhiều kiếp, rất ý nghĩa.   

Lm Kevin O’Shea CSsR biên soạn

Mai Tá lược dịch  

Sống trên đời này

Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ nhất mùa Vọng năm C 02-12-2018

“Sống trên đời này”

người giàu sang cũng như người nghèo khó.”

Trời đã ban cho ta cám ơn trời dù sống thương đau

Mai kia chết rồi trở về cát bụi giàu khó như nhau

Nào ai biết trước số phận ngày sau ông trời sẽ trao.”

(Lê Dinh – Trở Về Cát Bụi)

(Lc 2: 41)

 “Trở Về Cát Bụi”, lại có nghĩa “đi vào lòng đất”, lòng người và lòng đời, rất khơi khơi.“Trở về cát bụi” còn là và sẽ là trở về với nhà Đạo nhiều tầng lớp. Có lớp tầng đầy vàng son. Có tầng lớp lợi danh với chức quyền, như nhạc bản còn lên tiếng, như sau:

“Này nhà lớn lầu vàng son

Này lợi danh, chức quyền cao sang

Có nghĩa gì đâu… sao chắc bền lâu

Như nước trôi qua cầu

Này lời hứa…

Này thủy chung…

Này tình yêu… Chót lưỡi đầu môi cũng thế mà thôi

Sẽ mất ngày mai như áng mây cuối trời

Sống trên đời này tựa phù du có đây lại rồi mất.

Cuộc sống mong manh xin nhắc ai đừng đổi trắng thay đen

Nào người sang giàu đừng vì tham tiền bỏ nghĩa anh em

Người ơi xin nhớ cát bụi là ta… mai này chóng phai

Người nhớ cho ta là cát bụi trở về cát bụi

Xin người nhớ cho.”

(Lê Dinh – bđd)

“Người nhớ cho”, xin nhớ đủ mọi thứ chuyện. Cả đến truyện kể không nặng nề, nghe cũng thấy mê, đọc được ở bên dưới:

“Truyện rằng:

Một người đàn ông chết rồi, mới ý thức được rằng cuộc đời mình thật ngắn ngủi. Lúc đó, anh ta nhìn thấy Phật tổ tay xách một cái hòm, tiến lại phía mình. Phật tổ nói:

-Con trai, chúng ta đi thôi.

Người đàn ông đáp:

-Sao nhanh quá vậy, con còn rất nhiều việc vẫn chưa hoàn thành.”

Phật tổ nói:

-Ta rất xin lỗi, nhưng thời gian của con hết mất rồi!

Người đàn ông lại hỏi:

-Vậy thưa Phật tổ, trong chiếc hòm của ngài có chứa thứ gì vậy?

-Đó là di vật của con, Phật tổ trả lời.

Người đàn ông tỏ ra nghi ngờ, hỏi tiếp:

-Là di vật của con sao? Ý của người: đó là thứ thuộc về con, có phải là quần áo và tiền không ạ?”

Phật tổ đáp:

-Những thứ đó trước giờ chưa bao giờ thuộc về con, chúng thuộc về địa cầu.

-Vậy có phải trong đó là ký ức của con không?

Người đàn ông ngẫm nghĩ một lát rồi phỏng đoán..

-Không phải, ký ức thuộc về thời gian.

Người đàn ông lại đoán:

-Có phải là tài năng thiên phú của con?

-Không, chúng thuộc về cảnh ngộ.

Người đàn ông băn khoăn:

-Lẽ nào trong đó là bạn bè và người nhà con?

-Con trai ạ, không phải vậy đâu. Họ thuộc về hành trình mà con đã đi qua.

-Vậy có phải là vợ và các con của con trong đó không thưa Phật tổ? người đàn ông hỏi tiếp.

-Không, họ thuộc về trái tim con..

Người đàn ông lại phỏng đoán:

-Vậy nhất định đó là thân xác của con rồi.

-Không, thân xác của con thuộc về cát bụi.

Cuối cùng, người đàn ông khẳng định chắc chắn:

-Vậy đó nhất định là linh hồn của con!

Lúc này, Phật tổ mỉm cười, đáp:

-Con trai, con hoàn toàn sai. Linh hồn của con thuộc về ta.

Mắt ngấn nước, người đàn ông nhận chiếc hòm từ tay Phật tổ bên trong chiếm hòm trống rỗng. Nước mắt chảy dài trên má, trái tim vỡ vụn, người đàn ông hỏi Phật tổ:

-Lẽ nào từ trước tới nay con chẳng sở hữu bất cứ thứ gì sao?

Phật tổ đáp:

-Đúng thế con ạ. Trên thế giới này bây giờ chẳng có bất cứ thứ gì thực sự thuộc về con.

-Vậy thì cái gì mới là của con?

-Mỗi tích tắc khi con đang còn sống, chúng thuộc về con, còn bây giờ, con chẳng còn gì cả.

 Đến lúc này, người đàn ông mới như được thông suốt. Thì ra, sinh mệnh, đời người chỉ là những cái tích tắc ngắn ngủi và điều chúng ta nên làm nhất, là tận dụng nó sao cho thật hiệu quả, thật tốt, yêu quý nó, hưởng thụ nó. Còn được sống, đó đã là một sự chiến thắng vẻ vang. Việc kiếm tiền chỉ là một trò chơi không hơn không kém. Khỏe mạnh mới là mục đích và vui vẻ, hoan lạc mới là chân đế! 

Vậy nhưng trong cuộc sống này, thử hỏi có bao nhiêu người đang ra bị cuốn vào vòng quay tiền tài, danh vọng? Có bao nhiêu người vì chút lợi ích của bản thân mà làm tổn hại người khác và làm tổn thương chính mình mà không nhận ra? Có bao nhiêu người sẵn sàng bán sức, đánh đổi sức khỏe để lấy những vật ngoài thân…?

 Các bạn biết không, đó là sai lầm lớn nhất cuộc đời, bởi đến lúc chết, chẳng có bất cứ thứ gì trên thế giới này còn thuộc về chúng ta. Vậy thì tại sao không tận hưởng một cách triệt để nhất mỗi tích tắc được sống trên đời? Tại sao không làm cho quãng thời gian ngắn ngủi ấy trở nên ý nghĩa, trọn vẹn nhất?

 Từ lúc này, mỗi chúng ta hãy chọn cho mình một cách tận hưởng thời gian hiệu quả nhất, đơn giản thôi, đừng quá nặng nề với những yêu cầu xa vời, chúng chỉ khiến cuộc sống của chúng ta thêm mỏi mệt. Và cũng bởi cuộc đời rất ngắn, nên hãy dành cho những người xung quanh ta sự trân trọng, yêu quý hết sức có thể, đừng tranh chấp, cũng đừng giận dữ, hãy lựa lời, cùng thấu hiểu và thông cảm cho nhau.

 Thời gian của mỗi người trên đời càng đi càng ngắn lại, dù là thân thiết gắn bó đến đâu, cuối cùng cũng vẫn phải chia ly”. (Theo báo Trí Thức Trẻ)

Thời gian dài ngắn, đến trước đến sau, đều có những sự kiện để đời. Hệt như Đạo Chúa cũng có những sự-kiện để đời khiến con người không thể chối bỏ, tránh né hoặc bỏ bê không tham-dự. Chính đó, là lễ hội ở nhà Đạo được ghi nhận như sau:

“Mọi người chúng ta nên biết đôi điều về các ngày lễ được nêu tên trong Tân Ước diễn tả cuộc sống rất đặc trưng của Đức Chúa. Tôi sẽ kể ra đây một vài lễ hội quan trọng của Do-thái-giáo. Trước tiên, ngày trọng đại nhất là Lễ Vượt Qua. Đây là lễ hội chính trong năm kỷ niệm cuộc giải thoát dân Israel sau 400 năm sống đời cơ-cực ở Ai Cập.

   Hẳn mọi người còn nhớ Joseph, con trai của Giacóp bị các người anh của mình bán làm nô lệ cho Ai Cập, nhưng anh đã trỗi-dậy trở thành người quản-gia phục-vụ trong triều Pharaô. Suốt nhiều năm tháng kể từ ngày Israel phải chịu cơn đói kém trải dài, mấy người anh của Joseph đã thân chinh lên đường đi Ai Cập để kiếm cách độ nhật. Và theo lệnh Joseph, toàn-thể gia đình những người thân đã qua đó làm nô-lệ phục-vụ vua quan ở đó suốt 400 năm, khiến gia-tăng dân số lên gấp bội.

 Kế đó, tổ-phụ Môsê cũng đưa họ ra khỏi Ai Cập mãi đến lúc tử-thần chợt đến vào ban đêm giết sạch các con trai đầu lòng và cả thú vật của họ; riêng dân Do-thái được lệnh bôi máu chiên lên thành cửa thoát nạn, tình-hình khi ấy trở nên thập phần bi-đát khiến vua Pharaô biết chuyện đành phải thả họ về nước. (X. Sách Xuất hành đoạn 12 câu 1 đến câu 32)

Sau đó không lâu, người Do-thái-giáo đã cử-hành mừng lễ hội này vào mỗi tháng, tức: đúng buổi chiều ngày thứ 14 tháng Nisan, tức ngày tròn trăng của mùa Xuân. Và khi ấy, đã có lệnh lan truyền rằng: mỗi gia đình đều phải ăn một con trừu được hiến tế vào sáng sớm trong ngày cùng với bánh không men và rau đắng; đồng thời, mọi người được bảo phải uống thật nhiều rượu và đọc lời cầu sau nghi thức được chỉ định. 

Mọi nam-nhân khi ấy đều phải chuẩn bị đi Giêrusalem dự lễ hội và Đức Maria cùng thánh Giuse cũng đều tới đó mỗi năm (Lc 2: 41; Xh 23: 14-17). Lễ hội Vượt Qua kéo dài một tuần lễ, trong những ngày này mọi người chỉ được phép ăn bánh không men thôi.

 Tin Mừng thánh Mátthêu, Máccô và Luca, rõ ràng có chép: Đức Giêsu cũng cử-hành tiệc Tạ-từ qua nghi-thức mừng Lễ Vượt Qua như mọi người (Mc 26: 17). Làm thế, Ngài đã biến Lễ hội Vượt Qua thành Tiệc Thánh Thể mừng kính sự-kiện Thiên Chúa giải-thoát dân con loài người khỏi tình-trạng nô-lệ tội lỗi, nỗi chết và ác thần sự dữ bằng cái chết của Con Chiên Thiên Chúa trên thập-tự.

 Lại có lễ-hội khác, qua đó người Do-thái-giáo nối-kết với Lễ hội Vượt qua, là Lễ Bánh không men, bên tiếng Hy Lạp gọi là Azymes, tức: lễ hội ngày mùa qua đó nhà nông cùng nhau tụ-tập tiến dâng hoa quả đầu mùa lên Thiên Chúa  (x. Sách Lêvi 23: 15; sách Đệ Nhị Luật 16: 9)              

Do bởi người Do-thái không có khả năng trồng trọt và canh-tác mãi đến lúc họ trở về vùng đất hứa 40 năm sau  khi rời bỏ đất Ai Cập, rõ ràng là lễ hội này được định-vị từ ngày ấy mà thôi. Như thế còn có nghĩa, đã từ lâu lễ này được cử hàng cùng với lễ Vượt Qua bởi lẽ cả hai lễ hội đều chú trọng đến bánh không men và cả hai đều được mừng kính cùng một thời-điểm trong năm.

 Nghi-lễ này chính-thức được định-vị trong những năm tháng ngày dài sau đó, cả hai lễ hội này đều được mừng kính tại Giêrusalem. Nghi-thức được cử-hành bằng thức ăn của lễ Vượt Qua vào đêm tối trước ngày 14 tháng Nisan. Lễ hội này kéo dài suốt tuần lễ và suốt thời gian này dân con mọi người bị cấm chỉ không được ăn bánh có lên men hoặc men bột được cất giữ ở trong nhà. Và, các ngày lễ trọng thể nhất là ngày đầu và ngày cuối của lễ hội ấy cùng với ngày sabát rơi vào những ngày từ 14 đến 21 của tháng Nisan.

 Ngoài ra, còn một lễ hội khác cũng quan trọng không kém đối với người theo Do-thái-giáo, đó là: Lễ Ngũ Tuần hoặc còn gọi là Lễ Hiện Xuống. Lễ này được thiết-lập để dân con trong Đạo cảm-tạ Thiên Chúa đã phú ban cho họ hoa quả, đậu hạt, lúa miến, lúa mạch cùng nhiều lúa khác có màu đen. Dân con trong Đạo cử hành mừng lễ thất tuần hoặc 50 ngày sau lễ hội Bánh KHông Men , bên tiếng Hy Lạp gọi là Lễ Ngũ Tuần (Hiện Xuống).

 Đương nhiên, lễ hội này được nối kết chặt chẽ với lễ Bánh Không Men được cử hành xen kẽ vào ngày đầu và cuối vụ gặt. Với Lễ Vượt Qua, tất cả nam-nhân Do-thái phải có mặt ở đền thờ ở Giêrusalem để mừng lễ Hiện Xuống.

 Điều này cũng giải thích lý do tại sao tất cả mọi người Do-thái-giáo ở khắp mọi nơi trên thế-giới đều về Giêrusalem mừng lễ kỷ niệm ngày Thánh Thần Chúa hiện xuống với các thánh tông-đồ vào ngày lễ Ngũ Tuần (x. sách Công vụ đoạn 2 câu 5-11). Bầu khí tưng bừng vây quanh lễ hội này, là niềm vui cao cả, trong đó có yến-tiệc linh-đình hội-tụ tất cả mọi thành viên trong gia đình, từ người giúp việc cho đến khách quí được mời như người cùng nhà.” (X. Lm John Flader, Jewish feasts the roots of today’s Christian faith, The Catholic Weekly 14/8/2018 tr. 29)       

Trong những ngày vui đình đám như thế, giả như ai đó trong nhóm dân con đi Đạo lại cứ rủ nhau quay quần mà vui chơi, ăn uống luôn tiện mừng kính mọi ý-nghĩa này khác của đời người, hẳn mọi người sẽ không còn bận tâm gì đến lời lẽ của nhạc phẩm được trích dẫn ở trên với những ca-từ từa tựa như:

“Sống trên đời này

người giàu sang cũng như người nghèo khó.

Trời đã ban cho ta cám ơn trời dù sống thương đau

Mai kia chết rồi trở về cát bụi giàu khó như nhau

Nào ai biết trước số phận ngày sau ông trời sẽ trao.”

(Lê Dinh – bđd)

Để minh-họa tình-tiết của lễ-hội vui, buồn đình đám nói ở trên, thiết tưởng cũng nên đi vào vùng trời truyện kể, để kiếm tìm một câu truyện làm nền, hầu ghi nhớ. Truyện, là những câu chuyện được gửi gắm cho nhau, đến với nhau, những niềm vui như sau:

“Tôi không phiền lòng chuyện bạn tù của tôi là một “vợ”. Hắn rộng rãi chia với tôi những thỏi chocolate và thuốc lá mà bọn “chồng” mua cho hắn. Tôi cũng không khó chịu việc hắn là trí thức. Tôi cũng trí thức. Trong chốn này, chỉ cần kể được tên thủ phủ hai tiểu bang và đọc bảng chữ cái không vấp, người ta được coi là trí thức. Nhưng chúng tôi trí thức thứ thiệt. Chúng tôi biết cách lý lẽ. Khác nhau duy nhất giữa tôi và hắn: tôi trí thức hữu cơ, hắn trí thức vô cơ.

 Tôi nói vô cơ theo nghĩa, logic của hắn không được logic lắm. Hắn cho biết cả đời bị ám ảnh vì hình dạng những lưỡi kéo: “Tao khoái một số lưỡi kéo đầu tà, một số đầu nhọn. Chúng có thể đâm, cắt, mở toang hoác như miệng.” Hắn đưa hai ngón tay ngang mũi làm động tác cắt, cười tinh quái. Hắn nói cảm thấy ngây ngất được ở chốn này: “Suốt đời tao mong vào đây, dù không biết nó thế nào. Không phải sai lầm đâu, chỉ là một chọn lựa. Người ta chọn số phận mình.”

 Vớ vẩn. Tôi đâu chọn vào đây. Không ai chọn vào đây. Lý do đẩy tôi vào tù là một cơn bệnh ngoài tầm kiểm soát. Không ai có thể nói tôi thích tù hơn cuộc sống bên ngoài. Vì kiểu lý lẽ đó, hắn là một trí thức vô cơ. Hắn suy diễn những quy luật phổ quát dựa trên nhầm lẫn cá nhân. Hắn nói thêm: “Biết chấp nhận số phận, thậm chí một số phận quái đản, đầy đau đớn khổ sở của chính mình và kẻ khác, sau cùng ta trở nên thanh thản, thăng hoa!”

 Ý tưởng này đến từ tên tù chung thân không có khả năng được ân xá! Chuyện hắn đã làm chắc chắn là tội ác, nhưng không ghê tởm hơn tôi, hay hầu hết những kẻ trong này. Tôi không lên án hắn. Cũng không mong hắn ăn năn. Ðiều tôi phản đối là cách hắn nhìn tội ác như một phương tiện khám phá bản thể. “Ðể hoàn thiện một người,” hắn triết lý, “nhiều kẻ khác phải bị hủy hoại. Ðiều này cũng đúng với những quốc gia.”

 Nếu điều này là sự thật, tôi không hứng thú với sự viên mãn kiểu đó. Tôi thà làm nửa người đứng đắn còn hơn thành quỷ sứ nguyên con. Tôi vào đây vì đã làm tổn thọ mười hai mạng. Tôi không hãnh diện. Tôi lấy làm tiếc việc phải tiêu phần đời còn lại của chính mình trong sở thú bê-tông và song sắt, giữa đám nửa người nửa ngợm. (Tôi phục vụ trong quân đội bốn năm, nhưng chuyện đó chẳng nhằm nhò gì so với tù.)

 Hàng tuần, trước khi được uống Depo-Provera, một thần dược giúp giảm cơn dày vò tính đực, tôi là kẻ nửa người nửa quái vật, nhưng lúc này quái vật đang ngủ yên trong ruột, nên phần lớn tôi có thể được xem là người.

 Tôi tổn thương, khích động và căng thẳng đến mức bất kỳ kích thích nhỏ nào – mẩu quảng cáo đồ lót, tách cafe, chiếc bánh donut – cũng đủ khiến tôi nghĩ: Máu! Tôi từng nghĩ thân thể mình là lưỡi dao dài, ngày ngày thọc về phía trước tìm kiếm nạn nhân.

 Khởi đầu, tôi nhắm mắt giết bừa, như điên, chẳng triết lý, nhưng đến khi nạn nhân thứ sáu hoặc bảy gì đó câm miệng (Diana? Susan?), khi là kẻ duy nhất còn lại trong phòng, tôi bỗng nhận chân được mục đích. Hơn cả chuyện dứt bóng những mạng sống, tôi quan tâm việc tạo mối liên hệ với nạn nhân thông qua sự làm nhục. (Còn gì gần gũi hơn việc chia xẻ ô nhục). Sau phát hiện đó, mỗi lần chuẩn bị cắt cổ nạn nhân, tôi nói: “Giờ thì chúng ta đã biết bí mật nhau, đã hạ nhục nhau, chẳng còn gì ngoài việc gặp lại kiếp sau. Anh yêu em.” Quá xúc động bởi tuyên bố tình yêu, mắt tôi đẫm lệ. Tôi hôn hàm răng lạnh giá những người đàn bà.

 Có một sự im lặng kỳ lạ sau mỗi lần ra tay. Có vẻ xác chết đang hút hết tiếng động thế giới vào quỹ đạo phân rã của nó. Ngay khi vừa giết xong, ta có cảm tưởng mình là người cuối cùng trên mặt đất. Một cảm giác thanh bình, tuyệt diệu. Người ta từng bịt mắt cả tá nô lệ ném vào vòng đánh nhau cho đến khi chỉ sót lại một mạng. 

Sau nạn nhân thứ mười, tôi cảm thấy ngây ngất đến độ tin rằng Thượng Ðế sẽ gọi tôi. Tôi chăm chú nhìn chiếc điện thoại, chắc rằng nó sẽ reng. Tôi tin Thượng Ðế sẽ chúc mừng tôi việc tham dự trò đùa của ngài. Phụ nữ thông hiệp với Thượng Ðế ở điểm khởi đầu trò đùa bằng sinh sản. Ðàn ông ở điểm kết thúc, bằng giết chóc.

 Mắt của nạn nhân thứ mười một mở trừng trừng. Tôi hơi run. Trong lớp dạy làm thơ, tôi được học về chủ nghĩa Tượng trưng và Siêu thực. Tôi viết: “Mắt là cửa sổ tâm hồn. Khi tâm hồn rời chỗ lưu tồn, mắt nên nhắm lại.” (Thầy giáo tôi, Mr. William, khen ngợi hiệp vần “hồn” với “tồn”, “sổ” với “chỗ”). Tôi tham dự tất cả những lớp học trong tù. Ðiều quan trọng là không phung phí thời gian và phải mở rộng chân trời hiểu biết. 

Nhưng nhân tố lớn nhất giúp tôi hồi phục sự tỉnh táo là những trao đổi với một bạn thư, tên Julie.

Julie ở Úc. Nàng ba mươi chín tuổi, ly dị, và ung thư vú. Trong quá khứ, khi đau khổ của người khác là nguồn mạch hoan lạc của tôi, sự kiện sau cùng này sẽ khiến tôi ngây ngất. Nhưng giờ đây, tôi chỉ gởi lời an ủi đến nàng. Tôi cũng đều đặn tiêm cho nàng những liều bất hạnh của tôi, phóng đại khi cần thiết, để nàng cảm thấy dễ chịu khi so sánh. Tôi quan tâm Julie đến nỗi để giành lại hầu hết những chuyện tồi tệ nhất của đời sống ngục tù, chỉ chia xẻ khi nàng thật sự xuống tinh thần. Tôi nhạy cảm đến thế. 

Tôi cũng lưu ý giữ cân bằng giữa những chuyện kinh tởm và những chuyện thuần túy khôi hài. Chỉ trong thư thứ ba, tôi kể chuyện những tay gác tù phải khám dái và đít tôi thế nào trước khi cho phép vào sân đi dạo. Làm phụ nữ cười là điều tốt. Nụ cười sảng khoái có thể trì hoãn ung thư. Nhưng tôi thấy bạn đang nhăn. Bạn thấy tôi rơi vào trò tự bốc thơm. Bọn tù chúng tôi vẫn thường được coi là chỉ quan tâm đến mình. Ðủ rồi. Tôi phải hít một hơi dài và đổi giọng đơn điệu.

 Julie cho phép tôi dòm ngó vào đời sống thường nhật của nàng. Trước nay tôi chưa bao giờ quan hệ bình thường với phụ nữ. Nàng kể chuyện ăn sáng món gì, đọc sách gì. Nàng mô tả chiếc áo choàng đang mặc khi viết thư.

 Thư của Julie không mùi. Giấy chẳng có mùi. Tuy vậy, nó đã được chạm vào bởi một phụ nữ, một phụ nữ bằng xương bằng thịt. Vì thế tôi áp chặt lá thư vào mũi hít lấy một cách ngây ngất. Ðây là mẩu giấy có mùi tuyệt dịu nhất trần đời. Tôi không ngại thú nhận rằng tôi cũng vuốt ve mảnh giấy lên những bộ phận khác của cơ thể. 

Một vài tay trong tù lạm dụng bạn thư bằng những trò đại loại như yêu cầu các nàng ngồi lên máy photocopy, nhưng tôi không phải loại đó. Thực ra, tôi chưa xin Julie tấm ảnh nào.

 Julie chưa bao giờ hỏi lý do tù tội của tôi. “Tất cả chúng ta đều có một quá khứ đáng tiếc,” nàng viết, “Em cũng vậy. Ai cũng có quyền giữ bí mật riêng mình. Nếu tất cả bí mật được phơi bày, chúng ta sẽ bị khai trừ vĩnh viễn khỏi xã hội loài người.”

“Nếu gặp em cách đây mười năm,” tôi viết, “anh đã không vào tù.” 

Kiếp này tôi sẽ chẳng bao giờ được ôm Julie trong tay. Hẹn kiếp sau. Mặt khác, tôi lấy làm vui vì Julie ở rất xa, tôi sẽ chẳng bao giờ làm được chuyện khủng khiếp với nàng. Không phải tôi muốn chuyện như vậy. Julie sẽ không bao giờ là nạn nhân thứ mười ba. Ðiều quan trọng là trong đời, đàn ông ít nhất phải một lần có quan hệ thành công với phụ nữ. Giờ tôi đã làm được chuyện đó. 

Bác sĩ tâm lý của chúng tôi, ông Fang, nói sở dĩ tôi sợ đàn bà là vì trong quá khứ họ đã bắt tôi chiều chuộng, ý tứ, đê tiện, hy vọng, và can đảm, tất cả những phẩm chất tôi không có, không bao giờ quan tâm phát triển. Ông nói: “Tất cả các anh đều sợ đàn bà. Ðó là lý do khiến các anh vào đây.” 

Trong sâu xa tôi vẫn tin sẽ có ngày thoát khỏi nơi này. Có thể động đất hay một cuộc cách mạng sẽ khiến cửa tù bật mở. Có thể một cuộc xâm chiếm của người hành tinh. Có thể một thiên thạch.

Ðôi khi, khoảng trước giấc ngủ, lúc nửa tỉnh nửa mê, tôi mơ thấy đang thả bộ trên đường Pine ở Philadelphia. Nhưng mình không thể thả bộ được, đang ở tù mà! Trong giấc mơ chập chờn, tôi ý thức đang nằm trên giường, dưới tấm mềm mỏng ngứa ngáy, nhưng lại thấy rất rõ tiệm café Last Drop, đối diện bên kia đường là quán rượu Dirty Frank. Nếu thật tập trung, tôi có thể mở cửa Dirty Frank, bước vào. Tôi cảm thấy cơn giận khủng khiếp dâng lên, mắt mở to, nhìn thấy đáy giường gã bạn tù. 

Một lần, trong tình trạng như vậy, tôi gọi gã bằng những cái tên ghê tởm mà tôi lập tức hối hận. Khi hắn thức dậy, tôi biện hộ vừa trải qua cơn ác mộng.

Gã bạn tù của tôi lập gia đình năm năm. Năm năm tuyệt diệu, hắn kể. “Tụi tao làm tình mỗi tuần hai lần, cãi nhau to tiếng mỗi tháng một lần, nấu nướng ngoài trời và đi biển mỗi mùa hè.” Nhưng hắn đã vứt bỏ tất cả chỉ vì bị ám ảnh bởi hình dạng những lưỡi kéo. “Suốt đời, tao bị thôi thúc không chịu nổi việc phải đâm đàn bà. Chỉ sau khi đâm chết vợ trong khi ả đang ngủ, chẳng vì lý do gì, bằng một chiếc kéo, tao mới nhận ra ham muốn thầm kín được ở tù. Tao muốn được ở giữa những thằng đàn ông. Tao muốn đến phiên mình được đâm để thỏa mãn số phận.”

Phan Nhiên Hạo dịch từ nguyên bản tiếng Anh “Two Intellectuals” trong Linh Dinh, Blood and Soap (New York: Seven Stories Press, 2004).

Sống trong đời, mà lại ví dụ như nhà tù, thì thật không phải. Thế nhưng, đời người có gì là phải hoặc không phải. Nói cho cùng, cũng chỉ là lý-luận phải trái với nhau, mà thôi. Lý và luận, hết mọi sự trên đời. Cả trong cuộc đời đi Đạo hoặc sống Đạo ở ngoài đời. Nhất nhất, cũng chỉ là những ngày dài trong cõi đời, nhiều ngày sống.

Nói cách khác, tất cả chỉ là những ngày đi Đạo trong đời người cũng suy-tư, nguyện cầu hoặc nói năng cho trọn ngày, đoạn tháng, cũng thế thôi.

Nói thế rồi, nay mời bạn, mời tôi, ta kết thức câu chuyện phiếm lai rai, đường dài khá lẩn thẩn và vô bổ. Nghĩ thế rồi, nay mời mọi người hãy cùng tôi kết thức những giòng chữ trải dài một cách vô duyên, vô bổ và vô tích sự, ở trong đời. 

Trần Ngọc Mười Hai

Và những ngày dài

Vẫn quan niệm

Tựa hồ như thế.