Thông Luận: TÍN HIỆU ĐỒNG CHÍ X SẮP NHẬP KHO: DOANH NGHIỆP BÀ NGUYỄN THANH PHƯƠNG BÁN SẠCH VỐN

Thông Luận: TÍN HIỆU ĐỒNG CHÍ X SẮP NHẬP KHO: DOANH NGHIỆP BÀ NGUYỄN THANH PHƯƠNG BÁN SẠCH VỐN

Tổng Hợp

DN bà Nguyễn Thanh Phượng tháo chạy, bán sạch vốn khỏi ‘ông lớn’ xuất nhập khẩu (VTC News)

Sau khi bán sạch hơn 2,5 triệu cổ phiếu SAV (tương đương 19,15%), CTCP Chứng khoán Bản Việt do bà Nguyễn Thanh Phượng làm Chủ tịch hội đồng quản trị đã không còn là cổ đông lớn của Savimex

Chứng khoán Bản Việt (VCI) vừa có báo cáo về việc giao dịch cổ phiếu của Công ty cổ phần Hợp tác kinh tế và xuất nhập khẩu Savimex. Cụ thể, VCI đã bán ra hơn 2,5 triệu cổ phiếu SAV. Với giao dịch này, tỷ lệ sở hữu của Chứng khoán Bản Việt tại Savimex đã giảm xuống 0%, nên không còn là cổ đông lớn từ ngày 21/11.
Savimex tiền thân là doanh nghiệp nhà nước, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu. Từ 2002, Savimex niêm yết trên sàn giao dịch HoSE, mã chứng khoán SAV. Những ngày giao dịch gần đây, cổ phiếu SAV liên tục suy giảm, mất 210 đồng trong 3 phiên gần nhất, khiến vốn hóa thị trường bốc hơi gần 3 tỷ đồng.
Giá cổ phiếu VCI của Chứng khoán Bản Việt cũng đang trên đà giảm mạnh. Từ đầu năm đến nay, VCI trải qua 230 ngày giao dịch, biến động giá giảm 6.963 đồng mỗi cổ phiếu, tức 12,2%. Nếu tính theo thị giá hiện tại, vốn hóa thị trường của Chứng khoán bản Việt đã bị thổi bay hơn 1.129,2 tỷ đồng.

Theo báo cáo tài chính quý gần nhất, tính đến 30/9, tổng tài sản của VCI đạt hơn 7.370 tỷ đồng, tăng 15% so với đầu năm, trong đó nợ phải trả chiếm gần nửa với 3.595 tỷ đồng.

Doanh thu trong khoảng thời gian từ tháng 7 – 9/2018 đạt 386 tỷ đồng, giảm 6%, khiến lãi sau thuế chỉ 160 tỷ đồng, giảm 20%. Công ty lý giải doanh thu trong kỳ sụt giảm chủ yếu là do tình hình giao dịch trầm lắng, ảnh hưởng tới hoạt động môi giới.

9 tháng đầu năm, doanh thu hoạt động và lãi sau thuế lần lượt đạt 1.414 tỷ đồng và 691 tỷ đồng, tương ứng tăng 41% và 46%.

VTC News
***
Mỗi con đường đều dẫn tới Kiên Giang (Sputnic)

“Nếu không có gì thay đổi đột biến về phương châm đánh tham nhũng, cứ đà như hiện nay thì 100% những nhân vật đứng sau lưng Trần Bắc Hà sẽ bị khởi tố”.
tranbacha04

Mọi con đường đều dẫn tới Kiên Giang?

“Việc bắt giữ ông Trần Bắc Hà và các đồng phạm là hoạt động bình thường của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam trong tiến trình đấu tranh chống tham nhũng được vạch ra tại Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII chứ không hề có điều gì bất bình thường ở đây”.

Trên đây là một số bình luận mà những nguồn tin đáng tin cậy phát biểu với Sputnik, liên quan tới việc đại gia ngân hàng Trần Bắc Hà bị công an Việt Nam bắt hôm 29/11.

Tại cuộc họp báo Chính phủ chiều tối 03/12, Chánh văn phòng Bộ Công an — Thiếu tướng Lương Tam Quang cho biết, liên quan tới việc cơ quan công an khởi tố bắt giam ông Trần Bắc Hà — cựu Chủ tịch HĐQT ngân hàng BIDV cùng 3 thuộc cấp, Cơ quan Cảnh sát điều tra hiện đang thu nhập, củng cố chứng cứ và thu hồi tài sản theo đúng quy định.

Trước đó, ngày 29/11 Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an (C03) đã thực hiện tống đạt các Quyết định và thi hành Lệnh bắt, khám xét đối với 04 bị can có liên quan đến vụ án “Vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng” xảy ra tại ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV). Căn cứ kết quả điều tra, tài liệu chứng cứ đã thu thập được, ngày 22/11, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an (CO3) ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 46/C03-P13 về tội “Vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng” xảy ra tại Ngân hàng BIDV; cùng ngày đã ra quyết định khởi tố bị can, lệnh khám xét đối với:

1. Trần Bắc Hà, nguyên Chủ tịch Hội đồng Quản trị BIDV
2. Trần Lục Lang, nguyên Phó Tổng GĐ BIDV;
3. Kiều Đình Hòa, nguyên GĐ BIDV Chi nhánh Hà Tĩnh
4. Lê Thị Vân Anh, nguyên Trưởng phòng khách hàng doanh nghiệp BIDV Chi nhánh Hà Tĩnh.

Ngày 9/8/2017, hàng loạt cổ phiếu ngân hàng chìm trong “biển lửa” sau khi xuất hiện tin đồn ông Trần Bắc Hà bị bắt. Chỉ trong một ngày, 1,8 tỷ USD vốn hoá “bốc hơi” khỏi thị trường chứng khoán. Điều đó chứng tỏ, nhân vật này là “mắc xích” cực kỳ quan trọng trong “nhóm lợi ích” tài chính ngân hàng Việt Nam. Trần Bắc Hà không những nổi tiếng trong giới tài phiệt, mà còn can thiệp sâu vào sự điều hành các chính sách kinh tế vĩ mô. Thậm chí, Trần Bắc Hà còn “thao túng chính trường”. Chỉ là TGĐ, rồi chủ tịch HĐQT ngân hàng BIDV, song ông ta chẳng ngán bất kỳ ai, có thể mắng cả bộ trưởng, thống đốc ngân hàng và các chủ tịch, bí thư các tỉnh thành.

Vậy vì sao Trần Bắc Hà bị bắt lúc này? Việc bắt này liên quan tới gì? Thị trường chứng khoán Việt Nam đã bị trấn động như thế nào?

“Theo tôi, việc anh ta bị bắt là kết cục tất yếu cho những gì anh ta đã làm, nhất là thời điểm này, khi cuộc đấu tranh chống tham nhũng được đẩy lên mức độ mới, cao hơn, sự chỉ đạo từ Trung ương thường xuyên, liên tục hơn (Ban Chỉ đạo 110 cao hơn Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng)”, — một nguồn tin rất đáng tin cậy phát biểu với Sputnik.

Nguồn tin trên tiếp tục nói với Sputnik:

“Hà có 35 năm công tác ngân hàng, phần lớn thời gian là làm sếp. Hà nghỉ hưu 1/9/2016. Di sản Hà để lại cho BIDV là một “rừng” nợ xấu. Con số mà HAGL của bầu Đức nợ 27 ngàn tỷ là một ví dụ…

Ngày 21/2/ 2013, tin đồn Trần Bắc Hà bị bắt cùng lúc với tin đồn Ngân hàng Nhà nước tăng tỷ giá USD đã khiến TTCK lao dốc (ở vào thời điểm VN-Index đang ở đỉnh cao thập kỷ), giá vàng, USD đồng loạt tăng. TTCK cùng ngày đã giảm chung khoảng 4%, bốc hơi khoảng 1,6 tỷ USD trên cả 2 sàn Chứng khoán TP.HCM và Hà Nội. Các nhà đầu tư gọi điện khắp nơi hỏi thông tin và bán tháo cổ phiếu. Dân chúng ở các thánh phố lớn đổ xô đi mua vàng. Trả lời báo chí, Trần Bắc Hà cho rằng, những kẻ tung tin đồn có thể kiếm được từ 500-700 tỷ đồng sau những biến động dữ dội trên thị trường tài chính. Và 5 năm sau, khi Bắc Hà đã nghỉ hưu, nhưng “uy lực” của hắn cũng thật kinh người: ngày 9/8/2017, hàng loạt cổ phiếu ngân hàng chìm trong “biển lửa” sau khi xuất hiện tin đồn ông Trần Bắc Hà bị bắt. Chỉ trong một ngày, 1,8 tỷ USD vốn hoá “bốc hơi” khỏi thị trường chứng khoán. Điều đó chứng tỏ, Hà là “mắc xích” cực kỳ quan trọng trong “nhóm lợi ích” tài chính ngân hàng Việt Nam. Bắc Hà không những nổi tiếng trong giới tài phiệt, hắn còn can thiệp sâu vào sự điều hành các chính sách kinh tế vĩ mô. Thậm chí, Hà còn “thao túng chính trường”.
Không ai có thể mãi “lấy tay che Trời”. Ngày 2/6/2018, Uỷ ban KTTW đã thông báo kết luận: ông Trần Bắc Hà, nguyên Bí thư Đảng ủy, nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị (HĐQT) chịu trách nhiệm chính về những vi phạm, khuyết điểm của Ban Thường vụ Đảng ủy nhiệm kỳ 2010-2015, 2015-2020. Ông Hà đã có liên quan tới việc phê duyệt chủ trương cho vay 4.700 tỷ đồng đối với 12 công ty liên quan đến vụ án xảy ra tại Ngân hàng Xây dựng. Những vi phạm của cựu Chủ tịch BIDV khi điều hành ngân hàng này được Ủy ban Kiểm tra Trung ương xác định là “rất nghiêm trọng”, phải xem xét, xử lý kỷ luật.” Sau khi có kết luận từ Uỷ ban Kiểm tra Trung ương, các cơ quan chức năng đã sớm vào cuộc điều tra, khởi tố vụ án hình sự, truy bắt Trần Bắc Hà. Cần lấy lại hàng ngàn tỷ đồng hắn đã “vơ vét” của nhà nước, đem về làm tài sản riêng của gia đình mình”.

Còn Đại tá Nguyễn Minh Tâm, chuyên gia về các vấn đề quân sự và chính trị Việt Nam, đưa ra bình luận của mình với Sputnik về vấn đề trên như sau:

“Về vụ ông Trần Bắc Hà, nguyên Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam bị khởi tố và bắt tạm giam cùng với 3 cộng sự để phục vụ điều tra thì không có gì là lạ. Ngày 1-7-2018, Tòa án Nhân dân TP Hồ Chí Minh đã triệu tập các ông Trần Bắc Hà, Đoàn Ánh Sáng, Trần Lục Lang vì liên quan đến 4.700 tỉ đồng của BIDV tại “đại án” ngân hàng Phạm Công Danh giai đoạn 2. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh chỉ triệu tập 3 nguyên lãnh đạo Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) với tư cách người làm chứng và người có nghĩa vụ, quyền lợi liên quan chứ không phải với tư cách bị can.

Trước đó, các ông Trần Bắc Hà (nguyên Bí thư Đảng ủy, nguyên Chủ tịch HĐQT), Đoàn Ánh Sáng (nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Phó Tổng Giám đốc) và ông Trần Lục Lang (Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Phó Tổng Giám đốc) vừa bị Ủy ban Kiểm tra (UBKT) Trung ương quyết định thi hành kỷ luật. Ông Hà bị khai trừ Đảng, ông Sáng bị kỷ luật cách hết các chức vụ trong Đảng và ông Lang bị cảnh cáo.

Án kỷ luật của Ủy ban Kiểm tra Trung ương đối với các ông này có cơ sở bởi các cơ quan điều tra, thanh tra, kiểm tra khi phối hợp làm việc đã phát hiện ra việc các thủ trưởng của BIDV đã ký 12 quyết định phê duyệt chủ trương cho 12 công ty của Phạm Công Danh vay vốn. Và cả 12 công ty này đều được lập khống để đề nghị vay tổng cộng 4.700 tỉ đồng. Nói thẳng ra đó là các “công ty ma” được thành lập nhằm mục đích “rửa tiền”.

Thực ra, việc Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh triệu tập như vậy là để các ông này có cơ hội “lập công chuộc tội” hay ít nhất cũng là “thành thực hợp tác với cơ quan điều tra”. Nhưng trong nửa năm qua, các ông này đã tỏ thái độ bất hợp tác với cơ quan điều tra. Ông Trần Bắc Hà viện cớ đang đi điều trị bệnh ung thư ở Singapore để vắng mặt trong phiên tòa ngày 23-7-2018. Các ông Đoàn Ánh Sáng và Trần Lục Lang cũng viện cớ này cớ khác để vắng mặt tại phiên tòa xét xử bị can Phạm Công Danh và các đồng phạm.

Một lý do khác là Ngân hàng Cổ phần thương mại Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV) là một trong 10 ngân hàng thương mại cổ phần có cổ phần nhà nước chiếm đa số có quy mô vốn hóa lớn nhất Việt Nam, nên việc bắt giữ các thành viên lãnh đạo chủ chốt của ngân hàng này cần được tiến hành thận trọng, có sự bảo đảm về truyền thông, khả năng thanh toán, các biện pháp khắc phục rủi ro để duy trì hoặc bảo đảm không bị vỡ hệ thống. Một sự thật mà hiện nay ai cũng đã biết là sau khi bắt giữ các nhân vậy này, lãi xuất huy động của BIDV đã chỉ tăng lên 8,5%; còn lãi xuất cho vay thì vẫn duy trì ở mức hiện tại.

Ngoài ra, việc chưa tiến hành bắt giữ ông Trần Bắc Hà và một số đồng phạm trước đó còn liên quan đến một việc khác rất quan trọng trong đấu tranh chống tham nhũng. Đó là vấn đề thu hồi tài sản bị chiếm đoạt hay bị thất thoát do hành vi tham nhũng”.

Vụ bắt Trần Bắc Hà đã gây tiếng vang lớn trong xã hội Việt Nam. Các phương tiện truyền thông phương Tây cũng đưa ra những bình luận của mình: họ còn gắn vụ việc này với chiến thanh thương mại Mỹ-Trung.

“Trên các phương tiện truyền thông có thái độ thù địch với Việt Nam, mọi thông tin gắn việc bắt giữ các nhân vật này với cuộc chiến thương mại Mỹ — Trung hoặc liên quan đến trách nhiệm của nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, kể cả việc cho rằng ông Trần Bắc Hà là nhân vật có ảnh hưởng thứ 2 sau nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đều là những suy diễn không có cơ sở. Xin nhắc lại một lần nữa rằng việc bắt giữ ông Trần Bắc Hà và các đồng phạm là hoạt động bình thường của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam trong tiến trình đấu tranh chống tham nhũng được vạch ra tại Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII chứ không hề có điều gì bất bình thường ở đây”, — Đại tá Nguyễn Minh Tâm nói với Sputnik.

Song song với quan điểm như của Đại tá Nguyễn Minh Tâm, thì tồn tại những ý kiến khác cho rằng “mọi đầu mối từ các ngân hàng đều dẫn đến “Bình ruồi” (Ủy viên bộ chính trị kiêm Trưởng ban Kinh tế trung ương Nguyễn Văn Bình) và mọi con đường đều dẫn tới Kiên Giang (quê hương của cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng)”

“Cả 3 đại ca: Kiên bạc, Trầm Bê & Bắc Hà — tuy mỗi người có một kiểu sai phạm riêng nhưng tất cả đều có 3 điểm chung: thứ nhất, họ đều là đồ đệ của đồng chí x. Thứ hai, họ đều lũng đoạn thị trường tài chính nhằm mưu lợi cho nhóm sân sau của x. Thứ ba, họ đều có mối liên hệ đến sự phình ra của Bản Việt. Trần Bắc Hà là mối dây, là nút thắt cuối cùng để mở ra cánh cửa nhà tù dành cho chủ của Bản Việt (Nguyễn Thanh Phượng, con gái của Nguyễn Tấn Dũng)”, — một nguồn tin khác ở Việt Nam nói với phóng viên Sputnik.

“Nếu không có gì thay đổi đột biến về phương châm đánh tham nhũng, cứ đà như hiện nay thì 100% những nhân vật đứng sau lưng Trần Bắc Hà sẽ bị khởi tố”. Hiện nay, những vụ đặc biệt lớn, đặc biệt nghiêm trọng do Ban Chỉ đạo 110 (Ban Bí thư TW) trực tiếp chỉ đạo”, — một chuyên gia về chủ đề chống tham những ở Việt Nam phát biểu với Sputnik.

Chúng ta đang đợi xem cuối cùng thì “những con đường” sẽ dẫn tới đâu, còn hiện tại thì “Lò” của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đang cháy hừng hực.
Sputnik

Nguồn: nvphamvietdao5.blogspot.com/…/tin-hieu-ong-chi-x-sap-nhap-k…

Hình :
Chứng khoán Bản Việt – công ty do bà Nguyễn Thanh Phượng làm Chủ tịch HĐQT không còn là cổ đông lớn tại Savimex.

Ý nghĩa của ngày lễ Giáng Sinh

Ý nghĩa của ngày lễ Giáng Sinh

 Lễ Giáng sinh, còn được gọi là lễ Thiên Chúa giáng sinhNoelChristmas hayXmas (từ tiếng Pháp Noël, là viết tắt từ gốc Emmanuel, nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”) là một ngày lễ kỷ niệm ngày Chúa Giêsu thành Nazareth sinh ra đời của phần lớn người Cơ Đốc Giáo. Họ tin là Jesus được sinh tại Bethlehem thuộc tỉnh Judea của nước Do Thái, lúc bấy giờ đang dưới quyền thống trị của Đế quốc La Mã giữa năm 6 TCN.

Một số nước ăn mừng ngày này vào 25 tháng 12, một số nước lại vào tối ngày 24 tháng 12. Theo Công giáo Roma, lễ chính thức là ngày 25 tháng 12 còn gọi là “lễ chính ngày”, còn lễ đêm 24 tháng 12 gọi là “lễ vọng”. Dù vậy, lễ đêm 24 tháng 12 thường thu hút tin đồ tham dự nhiều hơn. Những người theo Chính Thống Giáo Đông Phương vẫn xử dụng lịch Julius để định ngày này, cho nên họ tổ chức lễ Giáng sinh vào ngày 7 tháng 1 theo lịch Gregory.

Chữ Christmas gồm có chữ Christ và Mas.

Chữ Christ (Đấng chịu sức dầu) là tước vị của Đức Giêsu. Chữ Mas là chữ viết tắt của Mass (thánh lễ). Khi chữ Christ và Mas viết liền thành ra chữ Christmas.Christmas có nghĩa là ngày lễ của Đấng Christ, tức là ngày lễ Giáng sinh của Đức Giêsu (Jesus).

Chữ Christmas và Xmas đều có cùng một ý nghĩa như nhau. Vì chữ Hy lạp viết chữ Christ là Christos, Xpiơtós hay Xristos. Người ta dùng phụ âm X để tượng trưng cho nguyên chữ Xristos hay Xpiơtós, rồi thêm chữ Mas kế cận để thành chữ Xmas. Như vậy Xmas cũng có nghĩa là ngày lễ của đấng Christ.

Biểu tượng Giáng sinh và ý nghĩa

Vòng lá mùa vọng

Vòng lá mùa vọng là vòng tròn kết bằng cành lá xanh thường được đặt trên bàn hay treo lên cao để mọi người trông thấy. Cây xanh thường được trang hoàng trong các bữa tiệc của dịp Đông chí – dấu hiệu của mùa đông sắp kết thúc. Trên vòng lá đặt 4 cây nến. Tục lệ này khởi xướng bởi các tín hữu Phái Lutheran ở Đức vào thế kỷ 16 để nói lên sự giao tranh giữa ánh sáng và bóng tối.

Vòng lá có hình tròn nói lên tính cách vĩnh hằng và tình yêu thương vô tận của Thiên Chúa. Màu xanh lá nói lên hy vọng rằng Đấng Cứu Thế sẽ đến cứu con người. 4 cây nến bao gồm ba cây màu tím – màu của Mùa Vọng, cây thứ 4 là  màu hồng, là màu của Chúa Nhật thứ Ba mùa Vọng, hay còn gọi là Chúa Nhật Vui mừng (Gaudete Sunday).

Thiệp Giáng sinh

Bắt nguồn từ năm 1843 khi ông Henry Cole, một thương gia giàu có nước Anh, đã nhờ Horsley, một họa sỹ ở London, thiết kế một tấm thiệp thật đẹp để tặng bạn bè. Vào Noel năm đó, Horsley trình làng tấm thiệp đầu tiên trên  thế giới và sau đó nó đã in ra 1000 bản. Thiệp Giáng sinh nhanh chóng bùng phát và trở thành mốt thịnh hành ở Anh trong suốt 10 năm kể từ khi Chính phủ Anh thông qua đạo luật năm 1846 cho phép bất kỳ người dân nào gửi thư đến bất kỳ nơi nào với giá rẻ. Không lâu sau, trào lưu này du nhập sang Đức và tới 30 năm sau người Mỹ mới chấp nhận nó.

Quà Giáng sinh

Những món quà biểu lộ tình yêu của mọi người với gia đình và bạn bè. Đối với một số người, những món quà Giáng sinh còn có một ý nghĩa tín ngưỡng sâu sắc. Đó là lễ kỷ niệm ngày sinh của Chúa Giêsu, món quà mà Thiên Chúa đã ban tặng cho con người.

Khi Chúa Jesus cất tiếng khóc chào đời tại Bethlehem trong một cái máng cỏ, ba vị vua phương Đông đã đến để bày tỏ sự thành kính của mình. Họ mang đến ba món quà quý giá, đó là vàng, trầm hơng và mộc dược. Vàng tượng trưng Chúa Giêsu là vua (tức con Chúa Cha – Vua Nước Trời), trầm hương tượng trưng Jesus là Thiên Chúa và mộc dược biểu hiện hình ảnh Jesus bị đóng đinh trên cây thánh giá hay nói rõ hơn là sự chịu chết của Chúa Giêsu để cứu chuộc nhân loại

Ba vị vua rất giàu có nhưng những người dân nghèo hầu như chẳng có tài sản cũng mang đến bất cứ những gì họ có thể để tỏ lòng thành kính với Chúa Hài đồng. Những người chăn cừu tặng Jesus hoa quả và những món đồ chơi nhỏ do chính họ tạo ra.

Ông già Nô-en thường cưỡi xe tuần lộc trên trời, đến nhà có cây thông giáng sinh và leo qua ống khói để đem đến những món quà cho các em nhỏ đang ngủ và thường để quà trong những chiếc tất.

Giáng sinh ở Việt Nam

Ngày nay, ở Việt Nam, dù không chính thức nhưng Giáng sinh dần dần được coi như một ngày lễ chung, thường được tổ chức vào tối 24 và kéo sang ngày 25 tháng 12. Trong những ngày này, cây thông Nô-en được trang trí ở nhiều nơi bằng cây thật (thường là thông ba lá hoặc thông mã vĩ) hay thông nhân tạo làm bằng nhựa, không phải cây thông như ở các nước phương tây thường là họ Bách tán. Trên cây, người ta thường treo các đồ trang trí nhi35u loại nhưng thường có những cặp chuông, dây giả tuyết, những chiếc ủng, các gói quà tượng trưng và đèn trang trí giống như các nước phương Tây…

Lễ Giáng sinh ở Việt Nam là một dịp sinh hoạt văn hóa cộng đồng nhộn nhịp, những đôi tình nhân âu yếm tặng quà cho nhau, trẻ em háo hức chờ sự xuất hiện của Santa, gia đình bè bạn rủ nhau hội hè, tiệc tùng, ca hát… Người Việt Nam rất thích thú các ca khúc Giáng sinh, đặc biệt là Feliz Navidad.

httpv://www.youtube.com/watch?v=KzV_UCQFY6w

Feliz Navidad – Walk Off The Earth (From WOTE’s Christmas Movie)

Theo nguồn: Wikipedia, bách khoa toàn thư mở

TẠI SAO ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI?

TẠI SAO ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI?

    Vô Nhiễm Nguyên Tội là đặc ân Thiên Chúa dành cho Đức Mẹ.  Nhưng tại sao là Đức Maria mà không là người khác?  Tại sao chúng ta phải chịu hệ lụy của Tội Nguyên Tổ?  Tại sao Áp-ra-ham, Mô-sê hoặc Đa-vít được tuyển chọn mà không là người khác?

   Theo Kinh Thánh, người được tuyển chọn luôn được chọn vì người không được chọn.  Như vậy, Áp-ra-ham được chọn để các quốc gia không được chọn trên trái đất sẽ được chúc lành qua ông.  Cũng vậy, Mô-sê và dân Ít-ra-en được chọn để họ có thể là dân tư tế vì các dân-tộc-không-được-chọn trên thế giới.  Đa-vít được chọn để con trai của ông có thể dẫn đưa các dân-tộc-không-được-chọn đến với Vương Quốc của Thiên Chúa.

    Với Đức Maria cũng vậy.  Ơn Cứu Độ được Thiên Chúa hoàn tất qua Mẹ.  Ơn Cứu Độ hoàn toàn mang tính ngăn ngừa chứ không mang tính chữa trị, không là dấu chỉ loại trừ.  Đó là dấu chỉ về quyền năng cứu độ nơi Chúa Giêsu, dành cho chúng ta theo sự quan phòng mầu nhiệm của Thiên Chúa, để chúng ta chiến đấu với Tội Nguyên Tổ.  Vì Đức Mẹ là biểu tượng của Giáo hội và là thụ tạo đặc biệt trong các thụ tạo của Thiên Chúa, chính Đức Mẹ có thể đưa ra một ước lệ đối với sự kiêu ngạo và lời hứa giải thoát qua cuộc nổi loạn bằng cách cho chúng ta thấy rằng:

 Con người là hình ảnh của Thiên Chúa.

Con người phát xuất từ Thiên Chúa và được tạo nên để kết hiệp với Ngài.

Quyền tha tội của Chúa Giêsu được biểu hiện trọn vẹn nơi Đức Mẹ, chúng ta có thể biết chắc rằng Ngài cũng có quyền tha tội của chúng ta, dù tội nặng tới mức nào.

Con người là sản phẩm tình yêu vô biên của Thiên Chúa.

Tội lỗi không là sự thật nền tảng, cũng không là nền tảng cuối cùng của con người.  Chính Chúa Giêsu mới là nền tảng.

Con người được xác định bởi tình yêu, chứ không bởi sự hận thù.

Con người được mời gọi yêu mến Thiên Chúa và tha nhân.

Con người phản ánh lý lẽ, trật tự và tình yêu của Thiên Chúa.

Con người tìm thấy sự sống khi mất sự sống và tiếp nhận tình yêu của Thiên Chúa.

Con người chỉ trở nên “người” hơn qua tình yêu, lòng khiêm nhường và lòng thương xót.

Con người lớn lên trong tình yêu bằng cách quan tâm “những người bé mọn” vì họ quý giá đối với Đức Kitô, Đấng đã tự hạ tới mức sinh nơi hang đá.

Con người nên tìm kiếm tình yêu tự dâng hiến ngay trên thế gian và phần thưởng trên trời, vì cuộc đời này không tồn tại mãi.

Chúng ta nên khiêm nhường vì chúng ta “được tạo nên giống hình ảnh Thiên Chúa”, và sự thật là thế. Khiêm nhường giúp chúng ta nhận biết mình cần có ơn Chúa.

 Bản chất Thiên Chúa là tình yêu.  Chúng ta chỉ là thụ tạo, chúng ta không tìm thấy mình bằng cách tôn thờ bản chất đó mà bằng cách tôn thờ chính Thiên Chúa, Đấng tạo nên chúng ta và cứu độ chúng ta qua Đức Giêsu Kitô.

 Tóm lại, khi nhân loại tạo nên văn hóa sự chết, Chúa Thánh Thần đã đưa Giáo hội đến với Đức Mẹ, Đấng trung gian cầu xin Thiên Chúa cứu độ chúng ta.  Đức Mẹ là Đấng đầy ơn phúc, nhân chứng duy nhất về ơn cứu độ của Đức Kitô.  Là người che chở nhân loại, Đức Mẹ như hàng rào bao quanh sự thật về Ơn Cứu Độ của Đức Kitô.  Là Tông Đồ mẫu mực, Đức Mẹ cho chúng ta biết Ơn Cứu Độ vô biên của Đức Kitô có thể tẩy sạch tội lỗi của chúng ta và cho chúng ta biết sự xứng đáng về nguồn gốc của chúng ta từ Thiên Chúa.  Đức Mẹ là “máng chuyển” ơn Chúa, như Thánh Irênê nói: “Vinh quang của Thiên Chúa là con người được sống viên mãn.”

 Mark Shea

Trầm Thiên Thu, chuyển ngữ từ http://www.ncregister.com/

From: KittyThiênKim & KimBằng Nguyễn

ĐI VÀO SA MẠC CỦA NGHÈO KHÓ VÀ SIÊU THOÁT

ĐI VÀO SA MẠC CỦA NGHÈO KHÓ VÀ SIÊU THOÁT

Tin Mừng hôm nay giống như một bức tranh với hai cảnh trí đối nghịch nhau.  Trên một cái phông lờ mờ, chúng ta như thấy được cảnh đô thị giàu sang nơi ngự trị của hoàng đế Lamã, người đại diện của ông là tổng trấn Phongxiô Philatô, và các thứ vua bù nhìn là Hêrôđê và Philipphê.  Cũng trong cái phông lờ mờ ấy, người ta còn thấy được như hai cái bóng ẩn tàng là Anna và Caipha, hai vị thượng tế lãnh đạo tôn giáo thời bấy giờ, trên cái phông lờ mờ ấy, thánh Luca như muốn tô đậm một cảnh trí khác đó là cảnh sa mạc vắng vẻ, nơi cư ngụ của một kẻ nghèo nàn ấy là Gioan, con của Giacaria.  Thánh Luca có lẽ đã muốn làm nổi bật cái cảnh sa mạc nghèo nàn vắng vẻ ấy, để nói với chúng ta rằng chỉ có trong sa mạc vắng vẻ nghèo nàn, con người mới lắng nghe được tiếng nói của Thiên Chúa.

Sa mạc vốn là một phạm trù ưu việt của Kinh Thánh.  Những cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người thường diễn ra trong sa mạc.  Môisen đã phải lẩn trốn vào sa mạc để được nhận biết Chúa và nhận lãnh sứ mạng giải phóng dân tộc.  Bốn mươi năm lang thang trong sa mạc là thời kỳ thanh luyện cần thiết để dân riêng được vào đất Hứa.  Truyền thống đi vào sa mạc đã không ngừng được các tiên tri về sau sống lại như một kinh nghiệm cần thiết trước khi thi hành sứ vụ.  Nhưng điển hình và mang nhiều ý nghĩa hơn cả vẫn là 40 đêm ngày chay tịnh của Chúa Giêsu trong sa mạc và những đêm cầu nguyện lâu giờ của Ngài trong nơi vắng vẻ.

Sa mạc là đồng nghĩa với nắng cháy trơ trụi, nghèo nàn.  Phải chăng có trở nên trống rỗng và nghèo nàn, có trút bớt đi những cái không cần thiết thì con người mới lắng nghe được tiếng nói của Chúa và thanh luyện được niềm tin của mình.  Lịch sử Giáo Hội luôn chứng minh rằng những cuộc bách hại luôn là yếu tố thanh luyện và canh tân Giáo Hội.  Trong thử thách và khổ đau, trong nghèo nàn và trơ trụi Giáo Hội lại càng vững mạnh hơn.  Có trút bỏ được những cái không cần thiết và làm cho vướng mắc thì Giáo Hội mới trở nên sáng suốt và giàu có.  Giàu có không do những phương tiện vật chất và các thứ đặc quyền đặc lợi, mà giàu có bởi một niềm tin được tinh luyện và can trường hơn.

Tư trong sa mạc của thánh Gioan Tẩy Giả, chúng ta cũng có thể rút ra được một bài học khác cho niềm tin.  Không những từ trong sa mạc Gioan đã nắm được tiếng Chúa, mà còn can đảm để hô lớn tiếng Chúa cho mọi người được nghe thấy: “Hãy dọn đường cho Chúa, hãy sửa đường cho ngay thẳng, hãy lấp mọi hố sâu và hãy bạt mọi núi đồi.  Đường cong queo hãy làm cho ngay thẳng, đường gồ ghề hãy san cho bằng.”  Lời kêu gọi ấy, Gioan chẳng những đã ngỏ với đám dân nghèo hèn, thấp cổ bé miệng, mà còn nhắn gởi với cả giai cấp thống trị trong cả nước nữa.  Ngồi tù và cuối cùng bị chém đầu vì dám lên tiếng tố giác hành vi tội ác của một Hêrôđê, số phận của Gioan cho chúng ta thấy rằng ngài đã đi đến tận cùng sứ mạng tiên tri của ngài.  Thánh nhân đã dám nói thẳng và sống thực là bởi vì ngài không có gì để tiếc nuối, không có gì để bám víu, không có gì để giữ lấy ngoài chiếc áo da thú của ngài.

Chiếc áo vẫn là tượng trưng của sứ mạng tiên tri.  Đó là lý do tại sao trong dịp tấn phong Hồng Y cho một số chức sắc trong Giáo Hội, Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói đến ý nghĩa của phẩm phục màu đỏ mà chúng ta quen gọi là Hồng Y.  “Màu đỏ là màu của hy sinh, là màu của máu, các Hồng Y phải là những người hy sinh đến độ có thể đổ máu đào.”  Lời nhắc nhở này chắc phải có một giá trị đặc biệt đối với các vị Hồng Y đến từ những nơi Giáo Hội đang bị bách hại và thử thách, những nơi mà các vị cần phải lên tiếng, cho dẫu phải hy sinh mạng sống của mình.  Gioan Tẩy Giả đã lên tiếng tố cáo và kêu gọi san bằng bất công.  Ngài đã can đảm lên tiếng là bởi vì ngài không có gì để mất.  Ngài không sợ phải mất một ít đặc quyền đặc lợi hay bất cứ một thứ ân huệ nào.

Nồi cơm manh áo hay một ít bả vinh hoa có thể là động lực thúc đẩy con người thỏa hiệp và sống dối trá.  Đó cũng có thể là cơn cám dỗ của các tín hữu chúng ta trong giai đoạn hiện nay.  Một ít đặc lợi vật chất, một vài ưu đãi, một số đặc quyền đặc lợi, một lời dễ dãi, đó là miếng mồi ngon khiến cho nhiều người nếu không bán đứng lương tâm của mình, nếu không uốn cong miệng lưỡi thì cũng chấp nhận thỏa hiệp im tiếng.  Mùa Vọng là mùa của sa mạc, có đi vào sa mạc của nghèo khó và siêu thoát chúng ta mới dễ dàng nhận ra được tiếng nói của Chúa.  Và có từ sa mạc của nghèo khó và siêu thoát, chúng ta mới có đủ can đảm để gióng lên tiếng của Chúa: “Hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng, hãy lấp mọi hố sâu, hãy bạt mọi núi đồi.  Đường cong queo hãy làm cho ngay thẳng, đường gồ ghề hãy san cho bằng.”

Khi cuộc sống của các tín hữu trở thành một lời mời gọi, khi miệng lưỡi của họ nói lên những lời can đảm chân thực, thì lúc đó như Tin Mừng nói với chúng ta, mọi người sẽ được thấy ơn cứu độ của Chúa.

Radio Veritas Asia

Trích trong “Suy Niệm Lời Chúa”

From Langthangchieutim

TẠI SAO ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI?

TẠI SAO ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI?

Vô Nhiễm Nguyên Tội là đặc ân Thiên Chúa dành cho Đức Mẹ.  Nhưng tại sao là Đức Maria mà không là người khác?  Tại sao chúng ta phải chịu hệ lụy của Tội Nguyên Tổ?  Tại sao Áp-ra-ham, Mô-sê hoặc Đa-vít được tuyển chọn mà không là người khác?

Theo Kinh Thánh, người được tuyển chọn luôn được chọn vì người không được chọn.  Như vậy, Áp-ra-ham được chọn để các quốc gia không được chọn trên trái đất sẽ được chúc lành qua ông.  Cũng vậy, Mô-sê và dân Ít-ra-en được chọn để họ có thể là dân tư tế vì các dân-tộc-không-được-chọn trên thế giới.  Đa-vít được chọn để con trai của ông có thể dẫn đưa các dân-tộc-không-được-chọn đến với Vương Quốc của Thiên Chúa.

Với Đức Maria cũng vậy.  Ơn Cứu Độ được Thiên Chúa hoàn tất qua Mẹ.  Ơn Cứu Độ hoàn toàn mang tính ngăn ngừa chứ không mang tính chữa trị, không là dấu chỉ loại trừ.  Đó là dấu chỉ về quyền năng cứu độ nơi Chúa Giêsu, dành cho chúng ta theo sự quan phòng mầu nhiệm của Thiên Chúa, để chúng ta chiến đấu với Tội Nguyên Tổ.  Vì Đức Mẹ là biểu tượng của Giáo hội và là thụ tạo đặc biệt trong các thụ tạo của Thiên Chúa, chính Đức Mẹ có thể đưa ra một ước lệ đối với sự kiêu ngạo và lời hứa giải thoát qua cuộc nổi loạn bằng cách cho chúng ta thấy rằng:

Con người là hình ảnh của Thiên Chúa.

Con người phát xuất từ Thiên Chúa và được tạo nên để kết hiệp với Ngài.

Quyền tha tội của Chúa Giêsu được biểu hiện trọn vẹn nơi Đức Mẹ, chúng ta có thể biết chắc rằng Ngài cũng có quyền tha tội của chúng ta, dù tội nặng tới mức nào.

Con người là sản phẩm tình yêu vô biên của Thiên Chúa.

Tội lỗi không là sự thật nền tảng, cũng không là nền tảng cuối cùng của con người.  Chính Chúa Giêsu mới là nền tảng.

Con người được xác định bởi tình yêu, chứ không bởi sự hận thù.

Con người được mời gọi yêu mến Thiên Chúa và tha nhân.

Con người phản ánh lý lẽ, trật tự và tình yêu của Thiên Chúa.

Con người tìm thấy sự sống khi mất sự sống và tiếp nhận tình yêu của Thiên Chúa.

Con người chỉ trở nên “người” hơn qua tình yêu, lòng khiêm nhường và lòng thương xót.

Con người lớn lên trong tình yêu bằng cách quan tâm “những người bé mọn” vì họ quý giá đối với Đức Kitô, Đấng đã tự hạ tới mức sinh nơi hang đá.

Con người nên tìm kiếm tình yêu tự dâng hiến ngay trên thế gian và phần thưởng trên trời, vì cuộc đời này không tồn tại mãi.

Chúng ta nên khiêm nhường vì chúng ta “được tạo nên giống hình ảnh Thiên Chúa”, và sự thật là thế. Khiêm nhường giúp chúng ta nhận biết mình cần có ơn Chúa.

Bản chất Thiên Chúa là tình yêu.  Chúng ta chỉ là thụ tạo, chúng ta không tìm thấy mình bằng cách tôn thờ bản chất đó mà bằng cách tôn thờ chính Thiên Chúa, Đấng tạo nên chúng ta và cứu độ chúng ta qua Đức Giêsu Kitô.

Tóm lại, khi nhân loại tạo nên văn hóa sự chết, Chúa Thánh Thần đã đưa Giáo hội đến với Đức Mẹ, Đấng trung gian cầu xin Thiên Chúa cứu độ chúng ta.  Đức Mẹ là Đấng đầy ơn phúc, nhân chứng duy nhất về ơn cứu độ của Đức Kitô.  Là người che chở nhân loại, Đức Mẹ như hàng rào bao quanh sự thật về Ơn Cứu Độ của Đức Kitô.  Là Tông Đồ mẫu mực, Đức Mẹ cho chúng ta biết Ơn Cứu Độ vô biên của Đức Kitô có thể tẩy sạch tội lỗi của chúng ta và cho chúng ta biết sự xứng đáng về nguồn gốc của chúng ta từ Thiên Chúa.  Đức Mẹ là “máng chuyển” ơn Chúa, như Thánh Irênê nói: “Vinh quang của Thiên Chúa là con người được sống viên mãn.”

Mark Shea

Trầm Thiên Thu, chuyển ngữ từ http://www.ncregister.com/

Khu lưu niệm Tố Hữu: Một tố cáo lóe sáng!

Vì dính đến Nhật. Nhật chẳng đã từng làm cả hệ thống chính trị, hệ thống công quyền và nhiều viên chức của “ta” vỡ mặt vì “cắn” lầm ODA đó sao? 

********

Khu lưu niệm Tố Hữu: Một tố cáo lóe sáng!

Trân Văn

Tin Việt Nam sẽ chi 28 tỉ, trong đó một phần là ngân sách trung ương, một phần là ngân sách địa phương và một phần là những nguồn huy động hợp pháp khác để xây dựng “Khu lưu niệm nhà thơ Tố Hữu” (1) chẳng khác gì một tố cáo!..

********

Việt Nam đang chìm trong biển nợ nần cả cũ lẫn mới. Trong một báo cáo về nợ nần quốc gia, Kiểm toán Nhà nước dự trù, năm nay, Việt Nam sẽ phải vay 195.000 tỉ đồng để hệ thống công quyền bù đắp bội chi, 146.770 tỉ đồng để trả nợ gốc và 40.000 tỉ đồng khác để cho vay lại. Kiểm toán Nhà nước ước đoán, đến cuối năm nay, nợ nần của Việt Nam sẽ xấp xỉ 63,9% GDP.

Tuy hệ thống công quyền khẳng định nợ nần chưa vượt ngưỡng an toàn theo tiêu chí của Việt Nam nhưng Ngân hàng Thế giới (WB) không lạc quan như vậy vì Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia dẫn đầu về tỉ lệ tăng trưởng của nợ nần (2). Rủi ro đang gia tăng khi trong vòng ba năm tới, chính quyền Việt Nam phải trả 50% tổng số nợ đã vay từ các nguồn trong nước.

Chẳng phải chỉ có WB cảnh báo về tính bền vững của tài khóa. Năm ngoái, sau khi thu thập số liệu, ông Vũ Quang Việt, cựu chuyên gia thống kê của Liên Hiệp Quốc, công bố tính toán của ông, theo đó, tính đến hết 2016, nợ nần (bao gồm cả nợ của chính quyền lẫn nợ của khối doanh nghiệp nhà nước mà chính quyền phải trả thay nếu những doanh nghiệp này mất khả năng trả nợ) chung của Việt Nam xấp xỉ 431 tỉ Mỹ kim, tương đương 210% GDP. Kinh tế không những khó phát triển mà còn đối diện nguy cơ khủng hoảng (3).

Giảm chi thường xuyên (chi để duy trì hoạt động của hệ thống chính trị, hệ thống công quyền), kiểm soát chặt chẽ chuyện vay và sử dụng tiền vay, hạn chế tối đa những khoản đầu tư vô bổ, sớm kết thúc tình trạng tăng trưởng… nợ nần luôn luôn vượt xa tăng trưởng kinh tế, đã được các chuyên gia trong và ngoài Việt Nam, các tổ chức tài chính quốc tế xem là giải pháp duy nhất để tránh kinh tế – tài chính quốc gia sụp đổ.

Tuy nhiên trên thực tế, biên chế vẫn thế, thậm chí không những không giảm mà còn tăng. Đầu tư cho các công trình vô bổ như cổng chào, tượng đài, khu lưu niệm, quảng trường,… vẫn tiếp tục được phê duyệt. Chính quyền Việt Nam vẫn tiếp tục gia tăng nỗ lực hỏi vay cả ngoài lẫn trong nước. Nội lực của các nguồn thu, đặc biệt là nội lực của khối doanh nghiệp tư nhân suy giảm nhưng thuế, phí vẫn tăng. Chi thường xuyên nay đã xấp xỉ 70% tổng chi. Chi cho phát triển (đầu tư để gia tăng nguồn thu) vẫn giảm
*********

Tuần trước, nhiều người Việt than “nhục” khi Đại sứ quán Nhật tại Việt Nam gửi thư cho cả chính quyền TP.HCM lẫn chính phủ Việt Nam cảnh báo, sẽ dừng thi công tuyến metro Bến Thành – Suối Tiên vì phía Việt Nam “chậm thanh toán” khoản tiền chừng 100 triệu Mỹ kim cho các nhà thầu của Nhật.

Chi phí đầu tư tuyến metro Bến Thành – Suối Tiên đã tăng từ 17.000 tỉ lên 47.000 tỉ. Nhật từng phê duyệt cho Việt Nam vay 42.000 tỉ (88,4%), Việt Nam phải chi thêm 11,6% vốn đối ứng (khoảng 5.000 tỉ). Bởi chính quyền TP.HCM không thể tự cân đối được khoản vốn đối ứng nên cậy tới chính phủ. Chính phủ thì khẳng định là có tiền nhưng phải chờ Quốc hội biểu quyết.

Xét ở góc độ kinh tế, cảm giác “nhục” khi xảy ra chuyện nhà thầu Nhật ngưng thi công vì phía Việt Nam “chậm thanh toán” không quan trọng bằng thiệt hại do dự án metro Bến Thành – Suối Tiên “chậm tiến độ” (không hoàn thành đúng dự kiến). Thiệt hại cho công quỹ sẽ là những chục ngàn tỉ.

Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) từng công bố một nghiên cứu cảnh báo, mỗi dự án đầu tư “chậm tiến độ” sẽ làm chi phí đầu tư tăng thêm 17,6% trong năm đầu tiên (trong đó có 6,5% là do lạm phát và 11,1% là do dự án không tạo ra lợi ích). Nếu thời gian hoàn thành dự án chậm từ hai đến ba năm, chi phí sẽ tăng đến 50% do những tác động phát sinh từ thâm hụt tài chính (4). Nếu dựa vào tính toán của ADB để tính thì có thể ước đoán ngay thiệt hại từ “chậm thanh toán” cho các nhà thầu Nhật đang thi công tuyến metro Bến Thành – Suối Tiên là bao nhiêu.

Tuyến metro Bến Thành – Suối Tiên khởi công từ 2010 và lẽ ra phải hoàn thành hồi 2015 nhưng vì thiển hiểu biết khi soạn – lập dự án, quản trị – điều hành tồi khi thực hiện, năm 2018 sắp hết nhưng tuyến metro này vẫn còn dở dang và không viên chức hữu trách nào từ trân xuống dưới có thể trả lời câu hỏi, bao giờ dự án metro Bến Thành – Suối Tiên hoàn tất. 17.000 tỉ vốn đầu tư theo dự kiến ban đầu đã tăng lên gấp ba, chắc chắn sẽ còn tăng nữa vì cả hệ thống chính trị, hệ thống công quyền Việt Nam hết sức chậm chạp trong việc xem xét – phê duyệt quyết định điều chỉnh đầu tư.
**********

Bất kể công khố thiếu trước, hụt sau, nợ nần tăng phi mã, hệ thống chính trị, hệ thống công quyền Việt Nam vẫn soạn – lập, phê duyệt hết dự án đầu tư này đến dự án đầu tư khác kiểu Khu lưu niệm Tố Hữu. Tại sao lại xây Khu lưu niệm Tố Hữu – nhân vật mà học sinh cấp hai, cấp ba đã thôi không còn phải tụng niệm các tác phẩm của ông ta suốt bảy năm trung học như thế hệ cha anh, nhân vật mà Xuân Sách từng thay mặt văn giới Việt Nam khái quát cả về tính cách lẫn khả năng:

Ta đi tới đỉnh cao muôn trượng
Mắt trông về tám hướng phía trời xa
Chân dép lốp bay vào vũ trụ
Khi trở về ta lại là ta

Từ ấy tim tôi ngừng tiếng hát
Trông về Việt Bắc tít mù mây
Nhà càng lộng gió thơ càng nhạt
Máu ở chiến trường, hoa ở đây!

– vào lúc này?

Xét về bản chất, câu hỏi tại sao chính quyền tỉnh Thừa Thiên – Huế lại chọn xây dựng Khu lưu niệm Tố Hữu vào lúc này (?), cũng chẳng khác gì những câu hỏi mà công chúng các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và nhiều triệu người Việt khác nêu ra cách đây chưa lâu: Tại sao lại xây Khu tưởng niệm Fidel Castro ở Quảng Bình, rồi Công viên Fidel Castro ở Quảng Trị?

Đặt những quyết định đầu tư Khu tưởng niệm Fidel Castro, Công viên Fidel Castro, Khu lưu niệm Tố Hữu,… bên cạnh dự án metro Bến Thành – Suối Tiên để cân phân lợi – hại cho tiến trình phát triển, sẽ có thêm một câu hỏi nữa: Tại sao hệ thống công quyền từ trung ương đến địa phương rất mau mắn, sáng tạo trong việc tìm cho ra tiền, kể cả bán công thổ nhằm bù vào khoản thiếu hụt do ngân sách không kham nổi để hoàn thành cho bằng được Khu tưởng niệm Fidel Castro, Công viên Fidel Castro, Khu lưu niệm Tố Hữu,… nhưng lại rất chậm chạp trong việc xem xét – phê duyệt những dự án như tuyến metro Bến Thành – Suối Tiên?

Chỉ có một câu trả lời: Soạn – lập, phê duyệt, thực hiện những Khu tưởng niệm Fidel Castro, Công viên Fidel Castro, Khu lưu niệm Tố Hữu,… an toàn hơn vì chỉ có “ta với ta”, còn những dự án như tuyến metro Bến Thành – Suối Tiên phiền toái hơn vì dính đến Nhật. Nhật chẳng đã từng làm cả hệ thống chính trị, hệ thống công quyền và nhiều viên chức của “ta” vỡ mặt vì “cắn” lầm ODA đó sao?

About this website

VOATIENGVIET.COM
Chỉ có một câu trả lời: Soạn – lập, phê duyệt, thực hiện những Khu tưởng niệm Fidel Castro, Công viên Fidel Castro, Khu lưu niệm Tố Hữu,… an toàn hơn vì chỉ có “ta với ta”, còn những dự án như tuyến metro Bến Thành – Suối Tiên phi…

Tại Sao Hầu Hết Các Bác Sĩ Ở Mỹ Lại Tin Vào Thế Giới Tâm Linh?

Tại Sao Hầu Hết Các Bác Sĩ Ở Mỹ Lại Tin Vào Thế Giới Tâm Linh?

Là cường quốc số một thế giới, Hoa Kỳ đi đầu trong rất nhiều lĩnh vực công nghệ trong đó có y học. Nhưng khác với các ngành khoa học khác, một cuộc khảo sát trên phạm vi toàn quốc về niềm tin tôn giáo của các bác sĩ tại Mỹ, kết quả thật bất ngờ: “Hầu hết các bác sĩ Mỹ đều tin vào sự tồn tại của Thần và thế giới bên kia.”

Khi công nghệ tân tiến cũng phải bó tay

Việc sở hữu thế mạnh về khoa học – công nghệ đã giúp Mỹ ứng dụng rất nhiều những phát minh vào nền Y học nói chung và các trang thiết bị y tế hiện đại tại các bệnh viện Mỹ nói riêng. Mỹ cũng được coi là đất nước có chất lượng dịch vụ y tế thuộc hàng tốt nhất thế giới.

Ngoài các trường đại học danh tiếng như Đại học Harvard, Đại học Johns Hopkins, Đại học Yale…nơi có các trung tâm nghiên cứu y học và đội ngũ giáo sư đầu ngành đã giành nhiều giải Nobel y học, các bác sĩ ở Mỹ cũng được trả mức lương cao ngất ngưởng. Do đó Mỹ được cho là mảnh đất mơ ước của tất cả các bác sĩ trên toàn thế giới.

Ngay cả khi sở hữu những công nghệ y học tân tiến và khám phá ra nhiều loại thuốc đặc trị hiệu quả thì vẫn có khá nhiều trường hợp khiến nền y học nước này phải bó tay ngay cả khi bệnh được phát hiện sớm.

Sự ra đi đột ngột của Steve Jobs, cha đẻ hãng công nghệ hàng đầu thế giới Apple đã khiến thế giới bàng hoàng và nuối tiếc. Nhiều người đặt câu hỏi rằng tại sao ở một đất nước có ngành y học tiên tiến nhất, với những bác sĩ có chuyên môn giỏi nhất, Steve Jobs vẫn phải đầu hàng số phận khi mới 56 tuổi và đang ở trên đỉnh cao sự nghiệp.

Steve Jobs tại buổi ra mắt iPhone mới. (Ảnh: MacMagazine )

Trước đó, Steve Jobs đã trải qua hai lần phẫu thuật. Năm 2004, ông trải qua ca phẫu thuật đầu tiên và các bác sĩ điều trị cho biết là khá thành công, bệnh đã được chữa trị khỏi. Nhưng sau đó không bao lâu, căn bệnh ung thư của ông lại tái phát, Steve Jobs buộc phải từ chức rồi cuối cùng ra đi trong tình trạng cơ thể suy kiệt.

Một trường hợp khác là tiến sĩ giải phẫu não Eben Alexander. Ông tốt nghiệp đại học danh tiếng Harvard, có kinh nghiệm trong ngành phẫu thuật thần kinh 25 năm, và là một trong những bác sĩ nổi tiếng nhất trong giới chuyên môn ở Mỹ.

Năm 2008, ông đột nhiên bị viêm màng não, và được đưa tới bệnh viện cấp cứu kịp thời… Dù được điều trị tích cực bởi ekip bác sĩ cũng là những đồng nghiệp giỏi nhất trong ngành thần kinh học của ông, Eben Alexander vẫn bị rơi vào hôn mê và tình trạng này kéo dài liên tục trong 7 ngày. Điện não đồ cho thấy não của tiến sĩ thần kinh học Eben Alexander không còn hoạt động, tỉ lệ sống sót chỉ còn là 2%.

Các bác sĩ điều trị đều bất lực và thông báo cho gia đình ông chuẩn bị hậu sự. Tuy nhiên, khi mọi nỗ lực của y học dường như đã bó tay thì Eben Alexander lại hồi sinh sau một trải nghiệm siêu thường.

Trải nghiệm siêu thường

Sau đúng 7 ngày hôn mê, khi các bác sĩ và người thân của ông đều đã chuẩn bị tinh thần cho trường hợp xấu nhất xảy ra thì Eben Alexander bắt đầu hồi phục trở lại. Sự hồi phục thần kỳ của ông khiến các bác sĩ điều trị và giới chuyên môn không thể nào lý giải nổi, cho đến khi Alexander kể về những trải nghiệm cận tử của mình và cho xuất bản cuốn sách “Proof of Heaven” (Chứng cứ về thiên đường).

Eben Alexander và cuốn sách Chứng cứ về thiên đường. (Ảnh: Gloomy Grim)

Khi ở trong trạng thái cận kề cái chết, tiến sĩ Alexander thấy mình bay tới một nơi giống như “thiên đường”, ở đó bầu trời tuyệt đẹp, có những đám mây trắng, có những sinh vật màu trắng phát sáng, có âm nhạc du dương, thanh thoát. Eben Alexander còn gặp một thiên thần với đôi mắt màu xanh dương.

Ông nói: “Cảm giác rõ ràng, chân thực và sâu sắc ấy mang đến cho tôi một lý do khoa học để tin vào sự tồn tại của ý thức của con người sau khi chết”. Trước đó ông luôn hoài nghi về sự tồn tại của thế giới linh hồn, ngay cả khi các bệnh nhân của ông kể về trạng thái cận tử, bác sĩ Eben Alexander đều cho rằng đó chỉ là ảo giác.

Cho tới khi chính bản thân mình được trải nghiệm, thì bác sĩ Eben Alexander mới thực sự tin rằng những gì bệnh nhân của mình kể là chân thực, và những quan niệm của ông cũng thay đổi. Ông nói: “Mọi người đều nói sự tồn tại của ý thức sau khi chết là điều hoang đường, khó tin. Nhưng trạng thái mà tôi trải qua không phải là ảo giác. Tôi cảm nhận nó rõ ràng như những sự kiện chân thực đã từng xảy ra trong đời tôi.

Trong nhiều thập niên qua, tôi hành nghề bác sĩ phẫu thuật não tại một trong những cơ sở y khoa danh tiếng nhất tại Mỹ. Giống như mọi đồng nghiệp, tôi hiểu rõ những lý thuyết về não bộ nhưng niềm tin cũ đã sụp đổ bởi những trải nghiệm mà tôi vừa có được”.

Một trải nghiêm tương tự khác của bác sĩ Rajiv Parti, là Trưởng khoa của một bệnh viện Tim danh tiếng tại Mỹ. Ông có một sự nghiệp rất thành công và cuộc sống vật chất sung túc nhưng cũng không tránh được quy luật Sinh – Lão – Bệnh – Tử. Ông được chuẩn đoán là mắc ung thư tiền liệt tuyến và đã phải qua nhiều đợt phẫu thuật.

Tiến sĩ – bác sĩ Rajiv Parti kể về trải nghiệm cận tử. (Ảnh: Black versions)

Vào năm 2010, do biến chứng sau ca phẫu thuật, ông được đưa vào cấp cứu tại bệnh viện Đại học California trong tình trạng nguy kịch, toàn bộ các cơ quan nội tạng của ông hầu suy kiệt khiến các bác sĩ phải đưa ống thông vào trong cơ thể để hỗ trợ. Tuy nhiên, chỉ sau vài giờ, bác sĩ Rajiv Parti bị nhiễm trùng nặng kèm với sốt cao khoảng 40,5 độ.

Sau khi tiêm mooc-phin giảm đau, ông lại được đưa vào phòng phẫu thuật. Chính ở thời điểm này, bác sĩ Rajiv Parti khẳng định đã nhìn thấy thiên đường. Sự việc này về sau đã được ông viết lại trong cuốn sách “Dying to wake up” (Chết để thức tỉnh).

Ông kể rằng, cơ thể mình cảm giác như đang bay lơ lửng trong không khí và nhìn thấy bản thân mình đang nằm trên bàn mổ và nghe các bác sĩ khác đang nói chuyện, thậm chí còn ngửi thấy mùi thuốc sát trùng. Cùng lúc đó, ông thấy gương mặt của mẹ và em gái. Bà mặc bộ đồ truyền thống của Ấn Độ, em gái thì mặc quần bò, áo lửng màu xanh đang ngồi ở nhà. Họ đang cùng chuẩn bị bữa tối có rau, sữa chua và cơm.

Rajiv Parti đã viết:

“Tôi có thể hồi tưởng lại toàn bộ quá trình trải nghiệm khi cận kề cái chết: Tôi đã gặp được tổ tiên của mình ở ranh giới của địa ngục, một vài tiền kiếp mà tôi đã trải qua – đủ để giải thích những khổ nạn xảy ra trong đời mình và tại sao lại luôn phải ỷ lại vào những đơn thuốc như thế? Và tôi còn có vinh hạnh được gặp hai vị thiên sứ hộ mệnh tỏa ra thứ hào quang rực rỡ là Raphael và Michael. Họ bước ra từ một biển hoa, trên thân còn tỏa ra sức mạnh từ bi thuần chính tới mức khó có thể dùng ngôn ngữ để diễn tả”.

Cũng như Eben Alexander, các bệnh nhân của Rajiv Parti cũng kể cho ông về trải nghiệm khi linh hồn rời khỏi thể xác của họ, nhưng ông chưa bao giờ thực sự quan tâm. Khi chính bản thân mình được trải nghiệm thì ông thực sự tin tưởng và quyết định chia sẻ những trải nghiệm đó trong cuốn sách của mình.

Cảm nhận sức mạnh của Từ bi

Theo thống kê thì mỗi năm, tại Mỹ có khoảng 200.000 người đã có những trải nghiệm cận tử giống như trường hợp của hai tiến sĩ – bác sĩ Eben Alexander và Rajiv Parti. Đây là một trong những lý do chính khiến hầu hết các bác sĩ tại Mỹ, tuy là những người làm trong lĩnh vực khoa học nhưng lại tin vào sự tồn tại của Thần và có tồn tại một thế giới tâm linh sau khi con người chết.

Farr Curlin, một nhà nghiên cứu thuộc trường Đại học Chicago cho biết:

“Những nghiên cứu trước đây cho thấy, có chưa tới một nửa số nhà khoa học tin vào Thần vì họ có suy nghĩ cố hữu rằng khoa học và tôn giáo là mâu thuẫn với nhau. Y học cũng là một ngành khoa học nhưng khác với các nhà khoa học, các bác sĩ thường phải tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân, và chứng kiến họ trải qua những giờ phút cận tử khi ở trên ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết nên đa số các bác sĩ rất tín vào sự tồn tại của Thần.”

Trong một cuộc khảo sát được thực hiện với 1044 bác sĩ trên toàn nước Mỹ về niềm tin tôn giáo trong y học, có tới 76% các bác sĩ nói rằng họ tin vào Đấng Sáng Thế, 59% tin có thế giới tâm linh và 55% bác sĩ nói rằng niềm tin tôn giáo có ảnh hưởng lớn tới công việc của họ.
Edward Hill, Chủ tịch Hiệp hội Y học Mỹ cho biết:

“Y học và tôn giáo là hoàn toàn tương thích với nhau. Có niềm tin vào Đấng Tối cao là một điều vô cùng quan trọng đối với cả bệnh nhân và bác sĩ, đặc biệt đã có khá nhiều những chuyện thần kỳ đã xảy ra sau trải nghiệm cận tử mà chúng tôi đã được chứng kiến thường xuyên”.

Có một trường hợp khá nổi tiếng là giáo sư – bác sĩ Uông Chí Viễn. Ông mắc chứng xơ cứng teo cơ ALS – căn bệnh đã khiến nhà Vật lý học nổi tiếng Stephen Hawking phải sống lệ thuộc vào chiếc xe lăn trong phần lớn cuộc đời. Tuy nhiên, may mắn hơn Stephen Hawking, nhờ có niềm tin vào Thần Phật và tuân theo những giá trị sống tốt đẹp, bác sĩ Uông đã thoát khỏi căn bệnh hiểm ác này.

Trong lúc đang tuyệt vọng vì căn bệnh “vô phương cứu chữa” vẫn không thuyên giảm dù đã nhận được những liệu pháp điều trị tích cực ở Mỹ, bác sĩ Uông đã nhận được một lá thư từ một người bạn ở Trung Quốc giới thiệu về một môn khí công Phật gia đang thịnh hành – Pháp Luân Công. Sau khi đọc xong thư, bác sĩ Uông ngay lập tức tìm kiếm thông tin về môn tu tập này. Cuối cùng, ông đã tìm được một lớp học qua băng video kéo dài 9 ngày tại Viện Công nghệ Massachusetts.

Giáo sư vật lý Stephen Hawking (trái) và giáo sư Uông Chí Viễn (phải).
(Ảnh: Đại Kỷ Nguyên)

Chỉ trong vòng ba tháng tập luyện các bài công pháp và thực hành Chân – Thiện – Nhẫn theo những lời dạy trong cuốn sách Chuyển Pháp Luân, mọi triệu chứng bệnh tật của ông đã biến mất. Bác sĩ Uông đã tăng cân trở lại, mạnh khỏe và tràn đầy năng lượng.

Được trải nghiệm hoặc chứng kiến những điều siêu thường như thế, khiến đạo đức nghề nghiệp của các bác sĩ tại Mỹ được duy trì ở mức cao. Giống như tiến sĩ Rajiv Parti đã chia sẻ:
“Mặc dù là một bác sĩ có kỹ thuật giỏi, nhưng trước kia bản thân tôi rất vị tư, chưa thực sự đồng cảm và quan tâm hết lòng với bệnh nhân.”

Nhưng khi có được trải nghiệm cận tử ở bên kia thế giới và nghe được những lời mà thiên sứ đã nói với ông: “Hãy thay đổi cách hành xử với mọi người, với bệnh nhân”, tiến sĩ Rajiv Parti đã không màng đến lợi ích vật chất, mở phòng khám thiện nguyện giúp người nghèo chữa bệnh không mất tiền và với ông, đây mới là mục đích sống.

From: Vienthekhanh & NguyenNThu