ĐỜI LÀ CÁT BỤI,ĐỪNG THAM LAM KIẾM TIỀN CHỈ ĐỂ XÂY NGÔI MỘ ĐẸP…!

ĐỜI LÀ CÁT BỤI,ĐỪNG THAM LAM KIẾM TIỀN CHỈ ĐỂ XÂY NGÔI MỘ ĐẸP…!

Đời người hữu hạn, có rất nhiều thứ, chỉ khi chúng ta sắp mất đi rồi mới ý thức được nó quan trọng như thế nào, bởi vậy đừng bao giờ để thứ quý giá nhất lưu giữ đến tận cùng.

Cuộc đời tuy dài mà ngắn, một cái chớp mắt mà vũ trụ đã xoay vần. Đừng quá mải mê nghĩ đến tương lai trong khi bạn đang bỏ quên hiện tại!

Có một nữ tiến sĩ 32 tuổi từ nước ngoài trở về trong “nhật ký những tháng ngày ung thư” của mình đã viết:

“Sức khỏe thật sự rất quan trọng, đứng trước ranh giới của sự sống và cái chết, bạn sẽ phát hiện, bất kì những lần tăng ca nào (một thời gian dài thức đêm chính là đồng nghĩa với tự sát), gia tăng áp lực cho chính bản thân mình, hay mua nhà lầu thầu xe hơi, tất cả thứ đó bỗng trở nên thật phù phiếm biết bao.

Nếu như có thời gian, hãy ở bên con bạn thật nhiều, dành số tiền tích góp để mua xe để mua tặng đôi giày cho cha mẹ, đừng quá cật lực làm việc để đổi lấy một căn biệt thự, hay những thứ xa hoa nào khác, bởi chỉ cần được ở cạnh người mình yêu, cho dù ở một nơi nhỏ như vỏ ốc cũng cảm thấy ấm áp, yên bình.”

Đoạn tâm sự tưởng như vô cùng bình thường ấy, lại cảm động biết bao nhiêu con người.

Cô ấy dùng chính cuộc đời của mình để nhắc nhở chúng ta rằng: Nắm chắc lấy những thứ hiện tại, yêu thương bảo vệ cơ thể của chính mình, chú ý rèn luyện sức khỏe đừng khiến cuộc sống tương lai của chính mình sống trong vũng lầy của sự hối tiếc.

Còn nhớ nhà văn Mạc Ngôn từng kể một câu chuyện:

“Vợ bạn học của ông sau khi mất đi, trong một lần ông ấy dọn dẹp lại những kỉ vật ngày xưa, chợt phát hiện ra chiếc khăn lụa tơ tằm, mua trong cửa hàng cao cấp khi hai vợ chồng đi du lịch ở New York.

Đó là một chiếc khăn vô cùng thanh nhã lịch sự, bà ấy cực kì yêu thích nó, ngày thường chẳng nỡ lấy ra dùng, người vợ ấy luôn tâm niệm để vào một dịp thật đặc biệt bà ấy sẽ diện chiếc khăn đó.

Thế nhưng, đến cuối cùng chiếc khăn ấy vẫn còn nguyên nhãn mác treo trên đó, người vợ ấy lại chưa choàng lấy một lần.”

Đừng để thứ quý giá lưu giữ đến ngày đặc biệt mới dùng, bởi mỗi ngày bạn sống đều là một ngày đặc biệt.

Đúng vậy, đừng bao giờ trong những ngày mưa mới biết trân trọng những hình ảnh của ngày nắng, hay đến khi tóc đã điểm sương lại muốn sống lại những ngày thơ ấu.

Đời người hữu hạn, có rất nhiều thứ, chỉ khi chúng ta sắp mất đi rồi mới ý thức được nó quan trọng như thế nào, bởi vậy đừng bao giờ để thứ quý giá nhất lưu giữ đến tận cùng.

Trong tiểu thuyết của tác giả Sâm Sơn Đạo từng có câu:

“Mỗi ngày trong cuộc đời chúng ta đều là những ngày hữu hạn, chẳng có cách nào có thể quay lại, bởi vậy đừng bao giờ để tuổi tác trở thành lý do khiến bản thân trở nên ngần ngại, hay lười biếng, chỉ cần nỗ lực hết mình, sống một cách trọn vẹn với cuộc sống này, bạn mới có thể nếm trọn hương vị của nó.

Đây là những câu nói bạn nên ghi nhớ để luôn sống hạnh phúc:

Sai lầm lớn nhất đời người là dùng sức khỏe để đánh đổi lấy những vật ngoài thân. Bi ai lớn nhất đời người là dùng sinh mệnh để đổi lấy phiền não và lãng phí lớn nhất đời người là dùng tính mạng để giải quyết rắc rối do bản thân mình tạo ra!

Dù rất chua chát nhưng sự thật là, nhà ở có sửa to, rộng hơn thế nào đi nữa cũng chỉ là nơi ở tạm thời. Cái quách sành mới là nhà ở vĩnh hằng của tất cả chúng ta. Thế nên, nhà rộng chẳng bằng tâm rộng, tấm lòng rộng mở, bề ngoài an yên không bằng cõi lòng an yên.

Nỗi đau lớn nhất đời người là con cái muốn báo hiếu nhưng cha mẹ không còn nữa! Bi kịch lớn nhất đời người là nhà chưa giàu người đã ra đi và đáng thương nhất đời người là vào lúc chiều tà mới ngộ ra mình đáng ra nên làm những gì!

Khi tâm linh có xu hướng bình tĩnh lại, tinh thần càng trở nên vĩnh hằng! Giảm, nén dục vọng xuống thấp một chút, đẩy lý tính lên cao, tôi, bạn và chúng ta sẽ cảm nhận thấy: Bình an là phúc, thanh sảng, mới mẻ là lộc và lòng thanh tịnh không chút dục vọng là thọ!

Cái gì cũng có thể không tốt nhưng tâm trạng không thể không tốt, cái gì cũng có thể thiếu nhưng tự tin thì không thế thiếu; cái gì cũng có thể không cần nhưng vui vẻ thì bắt buộc phải cần; cái gì cũng có thể quên nhưng việc rèn luyện tâm tính và sức khỏe không được phép quên.

Đời người không nằm ở việc sống lâu hay ngắn mà nằm ở việc giác ngộ sớm hay muộn. Sinh mệnh không dùng để đính chính người khác đúng hay sai mà dùng để thực hiện một cuộc sống nhiều màu sắc của chính bản thân chúng ta.

https://tinnhanh.dkn.tv/…/doi-la-cat-bui-dung-tham-lam-kiem…

Image may contain: 1 person, outdoor
Image may contain: outdoor
Image may contain: text and outdoor

ĐỨC GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA

ĐỨC GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA

Kitô hữu ngày nay biết Đức Giêsu là Thiên Chúa nhập thể; nhưng những người ngày xưa như dân Bêlem, dân làng Nadarét và cả những người nghe Đức Giêsu rao giảng, đều không biết Đức Giêsu là Thiên Chúa nhập thể.  Họ đã đối xử với Đức Giêsu như một con người.  Vì thế, khi Đức Giêsu mặc khải Ngài ngang hàng với Thiên Chúa thì Ngài bị người ta kết án tử hình.  Đối với người thời đó, không có chuyện Thiên Chúa ba ngôi vị, nên chẳng có chuyện Thiên Chúa nhập thể.

Đức Giêsu là con của Đức Maria ở Nadarét.  Ngài đã được sinh trong chuồng chiên cừu ở Bêlem khi cha mẹ Ngài không tìm được chỗ qua đêm.  Ngài sinh ra như một người nghèo hèn nhất trong thiên hạ.  Không ai biết chân tướng của Ngài.  Có lẽ cả Đức Maria và thánh Giuse cũng chỉ biết Đức Giêsu là một người rất đặc biệt, là người của Thiên Chúa, nhưng vẫn chưa biết Ngài là Thiên Chúa nhập thể.  Người ta chỉ biết Thiên Chúa là ba ngôi vị sau biến cố Đức Giêsu Phục Sinh.

Đức Giêsu đã sống một thời gian dài ở Nadarét như tất cả những người Do Thái thời đó.  Ngài hành nghề lao động như bao người nghèo.  Tin về Gioan con ông Dacaria rao giảng làm phép rửa sám hối đến làng Nadarét, chắc Đức Giêsu không phải là người duy nhất từ Nadarét muốn đi nhận lãnh phép rửa sám hối với Gioan.  Có lẽ Ngài đã xin Đức Maria, và được sự đồng ý của Mẹ, Ngài đã lên đường tới sông Giordan.  Ngài chờ đợi tới phiên mình.  Ngài cũng gục đầu sám hối như bao người.  Ngài cảm thấy mình liên đới với con người tội lỗi.  Ngài thống hối xin Thiên Chúa tha thứ tội lỗi cho tất cả mọi người.  “Đây chiên Thiên Chúa, đây Đấng gánh tội trần gian.”  Ngài chịu phép rửa, vì Ngài gánh tội trần gian.

Đức Giêsu đã sống một thời gian dài sống ở Nadarét, vì Ngài không thấy Thiên Chúa muốn Ngài làm điều gì đặc biệt.  Với biến cố này, Thiên Chúa thúc đẩy Ngài tới với Gioan để nhận phép rửa sám hối.  Sau khi lãnh nhận phép rửa sám hối, Thánh Thần Thiên Chúa đã thúc đẩy Ngài vào sa mạc ăn chay cầu nguyện (Mt.4, 1tt).  Ngài cầu nguyện để biết Thiên Chúa muốn Ngài làm gì.  Đức Giêsu là một người chia sẻ thân phận con người hoàn toàn, nghĩa là, Ngài cũng chấp nhận “đi tìm ý Thiên Chúa” như tất cả mọi người.  Cũng chính trong bầu khí này mà người ta hiểu tại sao Ngài lại bị cám dỗ.  Ma quỷ cám dỗ Ngài làm sai ý của Thiên Chúa Cha, nhưng Ngài đã chống lại.  Đức Giêsu đã chiến thắng.

Đức Giêsu cũng đã phải nhận định xem mình có nên chịu phép rửa hay không, vì Ngài thấy mình đâu có tội lỗi gì để mà phải nhận lãnh phép rửa sám hối.  Đức Giêsu đã muốn liên đới với con người, với tội nhân, nên Ngài đã đi nhận lãnh phép rửa.  Hành vi này của Ngài, đã được Thiên Chúa chuẩn nhận.  “Khi Ngài đang cầu nguyện, thì trời mở ra, và Thánh Thần ngự xuống trên Người dưới hình dáng chim câu.  Và có tiếng từ trời phán rằng: ‘Con là Con yêu dấu của Cha; Cha hài lòng về Con.’”

Hành vi Đức Giêsu nhận lãnh phép rửa sám hối, làm đẹp lòng Thiên Chúa.  Khiêm tốn, liên đới với người nghèo và người tội lỗi, là cung cách hành xử của Thiên Chúa.  Đức Giêsu đã thực hiện đúng ý Người.  Đức Giêsu luôn tìm kiếm ý Thiên Chúa, và một khi thấy thì Ngài thi hành:

Của ăn của Ta là làm theo ý Đấng đã sai Ta (Ga.4, 34),

Lạy Cha, nếu có thể thì xin cho con khỏi uống chén này, nhưng đừng theo ý con, mà theo ý Cha.

Đức Giêsu luôn tìm kiếm để biết Thiên Chúa muốn Ngài làm gì.  Sở dĩ vậy, vì Đức Giêsu chia sẻ thân phận con người hoàn toàn (Dt.2, 17; 4, 15).  Con người không biết nên phải tìm kiếm ý Thiên Chúa, thì cũng vậy Đức Giêsu cũng chia sẻ tính vô tri này của con người, và Ngài cũng phải liên tục tìm biết ý Thiên Chúa.

Khiêm tốn là nhìn nhận sự thật về chính mình.  Đức Giêsu đã nhìn nhận sự thật về chính Ngài, và hơn nữa, Ngài còn tự hạ mình, muốn chia sẻ thân phận của anh em mình vì yêu thương.  Hành vi này của Ngài, đã làm đẹp lòng Thiên Chúa Cha.  Hành vi khiêm tốn, là hành vi chấp nhận sự thật về chính mình, và cũng là hành vi được điều khiển bởi tình yêu.  Yêu thương sẵn sàng hy sinh chính mạng sống mình để anh em mình được sống.

Biến cố Đức Giêsu xuất hiện, đã được Giáo Hội nhìn như một biến cố đặc biệt mà Cựu Ước đã loan báo như chúng ta nghe trong bài đọc thứ nhất: “Hỡi kẻ loan tin mừng cho Sion, hãy trèo lên núi cao; Hỡi kẻ loan tin mừng cho Yêrusalem, hãy cất tiếng lên cho thật lớn … kìa Thiên Chúa các ngươi đang tới.”   Nơi Đức Giêsu, người ta thấy vinh quang của Thiên Chúa.  Thiên Chúa đến cách đặc biệt nơi Đức Giêsu.

Biến cố Đức Giêsu cũng đã chi phối và biến đổi đời sống của những người tin Ngài một cách dứt khoát.  Đời sống của Kitô hữu phải dọi theo đời sống của chính Đức Giêsu Kitô.  Đức Giêsu luôn chọn ý Thiên Chúa trên tất cả, Ngài luôn yêu thương anh chị em mình.  Ngài yêu họ đến độ dám hy sinh chính mạng sống mình cho họ, nói cho họ biết Thiên Chúa yêu thương họ đến cùng khi cho Con Ngài nhập thể, cho dù khi nói như vậy Ngài bị người ta hiểu lầm và giết Ngài.  Đức Giêsu là người đã đến sống cho tình yêu và chết cho tình yêu.  Xin cho mỗi người chúng ta sống theo gương Ngài, yêu thương và khiêm tốn, để đem hạnh phúc cho những người chúng ta gặp gỡ và sống với.

Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

Bạn lúc thơm nồng là bạn Đắng, bạn lúc cay đắng là bạn Đời.

Bạn lúc thơm nồng là bạn Đắng, bạn lúc cay đắng là bạn Đời.

Quy luật cuộc sống luôn tuân theo quy luật của tự nhiên, hoa nở rồi lại tàn, tuyết rơi tuyết lại tan, thời gian trôi qua không bao giờ trở lại. Bạn bè tuy nhiều nhưng cuối cùng liệu còn mấy người bên cạnh lúc khó khăn. Ba mẫu chuyện nhỏ dưới đây sẽ phần nào giúp chúng ta hiểu hơn về tình bạn và biết trân quý hơn những người còn lại ở bên mình.

 

Câu chuyện thứ nhất: Quả trứng gà

Tú An không thích ăn trứng, cô vẫn thường mang cho Huyền những quả trứng gà mình có. Việc làm ấy khiến Huyền vô cùng cảm kích, trong lòng thầm cảm ơn Tú An.

Nhưng lâu dần thành quen, và quen rồi thì thành “đương nhiên”, Huyền cho rằng trứng gà cũng là của mình. Một ngày, Tú An cho bé Bi một quả trứng gà, Huyền đã giận dữ bỏ đi mà không nói với Tú An một lời. Cô đã quên mất rằng trứng gà vốn là của Tú An, cô ấy có thể đem cho bất kỳ ai tùy ý.

Đôi khi, vì quá quen thuộc với những điều tốt đẹp người khác dành cho mình mà chúng ta cho rằng đó là lẽ đương nhiên. Tới một ngày, khi mọi chuyện xảy ra không như mong đợi, ta lại trách họ “bất công” và quay ra oán thán mọi người…

Câu chuyện thứ hai: Đôi dép giữa trời nóng bỏng

Vào một ngày hè nóng nực, một nhóm bạn cùng nhau leo núi. Khi lên đến lưng chừng núi thì cô gái bất cẩn làm rơi chiếc dép xuống khe đá. Trên nền đất toàn sỏi đá, cô gái không thể bước tiếp với đôi chân trần ấy được. Thế là, cô gái bèn nhờ cậy sự giúp đỡ của mọi người.

Có người đồng ý cõng cô đi một đoạn, có người thì dìu cô bước tiếp, nhưng không một ai nguyện ý cho cô mượn đôi dép của mình. Vậy là, cô gái phải tiếp tục bước đi với đôi chân trần sưng tấy. Trong lòng cô cảm thấy không vui, cho rằng người khác thấy mình gặp nạn mà không ai mảy may đoái hoài.

Kỳ thực, không phải những người khác không tốt, mà là yêu cầu của chúng ta vượt quá khả năng của họ, chúng ta chỉ quen nhận mà quên mất rằng người khác cũng đang hy sinh lợi ích của chính mình…

Câu chuyện thứ ba: Chú Dê và những người bạn

Vào buổi chiều muộn, một chú dê thơ thẩn dạo chơi trên sườn núi. Bỗng nhiên từ đâu một con hổ lao ra như muốn nuốt sống chú dê tội nghiệp. Dê bèn nhảy dựng lên, gắng gượng húc cái sừng chống cự, đồng thời kêu lớn cầu xin bạn bè cứu giúp.

Từ trong đám cỏ, trâu liếc nhìn về phía tiếng kêu cứu, nhìn thấy hổ bèn bỏ chạy thục mạng.

Ngựa cúi đầu nhìn xuống, phát hiện là hổ cũng nhanh như gió chạy thẳng một mạch.

Lừa dừng bước, biết là hổ cũng ba chân bốn cẳng chạy trốn vào khe núi.

Lợn đi qua, nghe thấy tiếng hổ cũng chạy biến đi đâu mất.

Thỏ vừa thấp thoáng nhìn thấy bóng hổ cũng rùng mình trốn vào trong bụi rậm.

Cách đó không xa, voi nghe thấy tiếng dê kêu cứu liền vội vàng chạy đến. Voi nhảy ra từ đám cỏ, nó lấy thân hình bệ vệ của mình để thị uy khiến hổ phải hoảng hốt quay đầu bỏ chạy.

Dê thoát nạn trở về nhà, tất cả bạn bè đều tụ tập đông đủ.

Trâu nói: “Sao cậu không bảo tôi một tiếng? Sừng của tôi có thể đâm thủng ruột lão hổ”.

Ngựa nói: “Sao cậu không bảo tôi một tiếng? Guốc của tôi có thể đá nát đầu lão hổ”.

Lừa nói: “Sao cậu không bảo tôi một tiếng? Tôi chỉ cần hét lên là lão hổ sợ chạy mất mật”.

Lợn nói: “Sao cậu không bảo tôi một tiếng? Tôi dùng miệng nhấc bổng lên thì lão hổ ngã ngay xuống núi”.

Thỏ nói: “Sao cậu không bảo tôi một tiếng? Tôi chạy rất nhanh, tôi có thể đi báo tin giúp cậu”.

Trong đám bạn bè huyên náo ấy, duy chỉ có voi là vắng mặt.

Tình bạn đích thực không phải là những lời ngọt ngào trên môi, mà là bàn tay kịp thời nắm tay bạn vào thời khắc then chốt. Có những người chỉ biết thêu hoa trên gấm, chứ không biết đưa chiếc áo bông sưởi ấm những ngày đông; có những người chỉ biết thêm dầu vào lửa, chứ không biết làm hạ nhiệt lúc than bỏng dầu sôi.

Con người ta chỉ đến khi sa cơ lỡ vận mới biết ai thật lòng, ai quan tâm đến mình. Rất nhiều người hàng ngày đều vây quanh bạn, mua vui cho bạn, nhưng chưa hẳn đã là người thật sự bên bạn lúc khó khăn.

Trong những người bước qua cuộc đời tôi, được gặp gỡ đã là khó khăn, được bầu bạn lại càng không dễ dàng. Nếu được ở bên nhau 1 năm đã là điều trân quý; có thể gìn giữ mối quan hệ ấy trong 2 năm thì càng đáng trân quý vạn phần; còn nếu có thể ở cùng nhau 3 năm thì quả là hiếm thấy. Phải trải qua 5 năm thử thách thì tình bạn mới xứng là tri kỷ. Nếu tình bạn ấy kéo dài suốt 10 năm vẫn không phai nhạt thì quả thật đó là quý nhân trong cuộc đời mỗi người. Còn nếu trải qua 20 năm mưa gió mà tình bạn vẫn sâu đậm nồng nàn, thì đó chính là thân nhân của bạn ở kiếp sống sau này.

Trong thời đại nhiễu nhương, lòng người dễ thay đổi, đừng oán trách hờn dỗi, mà hãy quan tâm hơn tới những người bạn xung quanh ta. Vì con người gặp gỡ là bởi duyên, ấm áp là bởi tình, tan rã là bởi không biết trân quý nhau.

Chỉ cần thấu hiểu hơn một chút, ít so đo tính toán hơn một chút, học cách cảm ơn thêm một chút, và trân trọng những người đã đối xử tốt với bạn hơn một chút, bạn sẽ nhận ra tri kỷ trong cuộc đời.

Bài viết này, xin gửi tới những người bạn đã luôn ở bên tôi trên đường đời…

From: ngocnga_12 & NguyenNThu

DÂN TỘC VIỆT NAM CHẮC CHẮN SẼ TỰ HỦY DIỆT

Nguyễn Hoàng Long is feeling excited with Lu Thi Tuong Uyen and Hoangquoctuan Ngo.

DÂN TỘC VIỆT NAM CHẮC CHẮN SẼ TỰ HỦY DIỆT

PHẦN 11: MỘT DÂN TỘC CHỊU ĐỰNG QUÁ NHIỀU STRESS

Có lẽ đây là một nhận định rất mới để đánh giá dân tộc VN. Trước đây nhiều người cho là người Việt hèn hạ, tham lam, ngu dốt, chỉ nghĩ đến cái nhỏ, không có chí lớn, lừa đảo, nịnh trên đap dưới. vv và vv… Nhưng chưa có ai nghĩ đến một dân tộc luôn bị stress trong quá trình phát triển của mình.

Stress mãn tính, liên tục và tiêu cực đè nặng lên thân phận người VN.

Thỉnh thoảng, báo chí đăng tin 2 người yêu nhau tự sát trong phòng trọ khóa trái cửa. Cô giáo tát vỡ mồm cháu ở nhà trẻ vì không chịu ăn. Thầy giáo bắt học trò phục vụ chuyện tình dục. vv và vv… Những chuyện như thế này dường như phản khoa học và phi nhân bản, nhưng nó vẫn nhan nhãn trong xã hội VN.

Không ai nghĩ những hành động này là do tác động của stress. Người ta dùng một hành động bạo lực, phi nhân tính để giải tỏa áp lực của stress. Nhận thức và xung động của con người đã bị lêch lạc.

Không có stress thì con người không định hướng được mục tiêu. Nhưng stress dồn dập và liên tục sẽ làm cá nhân khó tập trung tư tưởng, nhận thức lệch lạc, quyết định không đúng đắn… đừng nói gì đến hiệu quả trong công việc.

Cuộc đời con người trải qua nhiều bước thăng trầm, lúc lên lúc xuống.

Chức vụ càng cao thì áp lực càng nhiều, tham vọng càng lớn thì càng dễ bị stress. Một ông thủ tướng nói nhăng, nói cuội. Hôm nay đến thành phố này, ổng nói phải giống Paris, ngày mai hội nghị ở lãnh vực khác thì ổng bảo là phải mang thế giới về VN… Ổng nói như ma nhập, chẳng ai hiểu nổi.

Cách nay vài ngày, một ông Bộ trưởng hăm dọa: ‘Nếu để ổ gà, ổ voi làm chết người dân thì các đồng chí phải ra tòa’. Một ông đại biểu QH khác lại cho rằng: ‘Người giao thông sụp ổ gà chết là do họ không biết tránh cái ổ gà…’. Cả 2 lập luận trên không phải là của những người có trách nhiệm ‘cầm cân nẩy mực’.

Quan chức bị stress thường nói/ra những quyết định nông nỗi, có hại cho quốc gia. Dân tình mắc stress thường biểu hiện bằng những tật chứng thông thường. Ví dụ như tính bịa đặt của người VN.

Người Việt bất lực trước thực tế, thường giải thoát bằng cách nói dối và bịa chuyện. Không nói có, có nói không… Người khác giải tỏa stresss bằng cách thể hiện sự phù phiếm, ăn chơi xả láng.. Người càng thể hiện ra bên ngoài thì càng chịu đựng những bế tắc bên trong.

Trong ICD 10 có xếp loại chẩn đoán Post Trauma Stress Disorder (PTSD), bệnh được dịch sang tiếng Việt là ‘Rối loạn Stress sau Sang Chấn (Người ta vẫn để nguyên chữ Stress). Bệnh phổ biến nhưng tên gọi thuộc về chuyên môn Tâm thần nên tương đối khó hiểu.

Vậy stress là gì? Là sự mâu thuẩn giữa nguồn lực và mục tiêu trong chính nội tâm con người. Nơi nào có mâu thuẩn, nơi đó có stress. Chừng nào con người còn bất mãn, bất toại, bất an… thì còn phải chịu đựng stress.

Một ‘sang chấn tâm lý’ ngắn hạn không đủ để giải thích những tổn thương do stress gây ra.

Stress không xấu mà cũng không tốt. Một stress tốt thì con người phải kiểm soát được nó, còn ngược lại nó sẽ trở thành ‘ma đưa lối, quỷ dẫn đường’.

Không có nghiên cứu nào chứng minh rằng: ‘’Việc sử dụng bia rượu của người Việt Nam có liên quan đến stress?’’. Nhưng theo tôi là có. Người VN: vui uống, buồn uống, không vui không buồn cũng uống… Uống để giải tỏa stress. Bác sĩ trước khi vào phòng mỗ cũng làm vài xị. Thầy giáo lên lớp thì chân ngã, chân nghiêng…

Stress đã trói buộc dân tộc này suốt chiều dài lịch sử. Stress gắn bó với con người VN từ lúc mới sinh cho đến già đầu. Stress bám theo con người VN trong giấc ngủ và chìm đắm trong cơn hoan lạc triền miên.

Dắt nhau đi hòa giải mà cũng bị đâm chết thì… đã hết thuốc chữa.😇

About this website

 

TUOITRE.VN
TTO – Vụ án mạng xảy vào khoảng 23h45 ngày 9-1 tại xã Hàm Đức, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận khiến hai nạn nhân Phan Văn Hùng (38 tuổi) và Từ Văn Hoàng (36 tuổi) bị đâm chết.

MỘT VỊ TỔNG THỐNG QÚY HIẾM CỦA THẾ GIỚI

Minh Le is with Diem Chi 

Tác giả: Lê Diễn Đức

Ngày đăng: 2019-01-08

Mãnh Hổ tiêu diệt quần hồ, ra sức xây dựng cơ đồ cho dân
Sống ở Mỹ, cho đến nay tôi vẫn không thể cắt nghĩa nổi tại sao một Tổng thống như Donald Trump lại bị nhiều người, nhiều lãnh đạo các nước, hầu hết báo chí truyền thông lại không ưa thích, tìm cách thoá mạ, vu khống, công kích, bới móc đời tư từ quá khứ nhiều đến thế. Những điều này diễn ra từ lúc ông còn tranh cử với Hillary Clinton trong năm 2016, ngay từ ngày đầu nhậm chức vào tháng 1/2017 và liên tục suốt hai năm nay.

Trong khi đó, không ai có thể phủ nhận được những thành quả nước Mỹ đạt được trong 2 năm ông cầm quyền. Kinh tế được kích thích, ngành khai thác dầu phát triển, ngành luyện thép nhôm phục hồi, công ăn việc làm mới trong 2 năm không ngừng tăng, thất nghiệp giảm xuống mức thấp nhất từ nhiều thập niên, lương lao động tăng, niềm tin của người tiêu thụ vững chắc… Báo chí Mỹ đã nêu tới 289 thành tích mà Tổng thống Donald Trump có được trong hai năm cầm quyền. Tạp chí Forbers cho biết ‘’công việc sản xuất đang phát triển với tốc độ nhanh hơn 714% dưới thời Trump so với thời gian tương tự dưới thời Obama”. Chưa một vị Tổng thống Mỹ nào có nhiều thành tích nổi bật như thế!
Có phải vì ông là người có cá tính mạnh mẽ, tự trọng, quyết tâm trở thành Tổng thống Mỹ, trong khi trước đó Barack Obama đã mang ông ra diễu cợt, làm nhục? Có phải vì ông giàu có, vợ đẹp, các con thành đạt? Có phải vì ông không nằm trong giới gọi là ‘’tinh hoa’’ chính trị của Mỹ? Có phải vì ông chịu chơi, ngang tàng, ăn nói bộc trực, thẳng thắn và nói là làm? Có phải vì ông làm Tổng thống mà không cần nhận lương? Có phải vì ông là người dũng cảm phá tan những mối quan hệ truyền thống ràng buộc quyền-tiền của “vũng lầy” Washington? Có phải con người ông, cá tính ông, sự thành công trên mọi phương diện của ông là cái gai cho nhiều người cay cú, ghét bỏ? “Nhiều người” thôi, chứ không phải tất cả !

Tất cả những việc ông làm cho đến nay, tôi chỉ thấy đều vì lợi ích của nước Mỹ, “America First” như ông đã hứa trước cử tri. Tôi không quan tâm quá khứ của ông, tôi cũng không quan tâm tới những gì thuộc về đời tư. Tôi chỉ quan tâm đến những việc ông làm khi ông là Tổng thống Mỹ.
Tôi “cuồng” Donald Trump vì thấy ông vất vả đến khổ sở, làm việc hết mình trong bối cảnh tứ bề thọ địch. Chưa có một tổng thống Mỹ nào như thế, có giống chăng là Tổng thống vĩ đại của nước Mỹ Abraham Lincohn, người cuối cùng bị ám sát bởi một tay chống đối.

Image may contain: 2 people, snow and outdoor
Image may contain: 1 person

 

“NÓI GIỌNG BẮC, NHƯNG KHÔNG GẠT BÀ CON”

“NÓI GIỌNG BẮC, NHƯNG KHÔNG GẠT BÀ CON”

]Ns. Tuấn Khanh]

Liên tục trong nhiều ngày, những nạn nhân của vụ cưỡng chiếm đất đai tại phường 6, Tân Bình, Sài Gòn xuất hiện trên các video – tự tố cáo và được phỏng vấn – đã mô tả khá rõ những gì đang diễn ra. Dĩ nhiên, giờ đây không còn một tên gọi nào khác, ngoài việc khẳng định sự bất lương của kẻ cầm quyền là điều cần phải ghi nhớ.

Hầu hết những người xuất hiện trên video đều nói giọng Bắc. Chỉ có một số ít người nói giọng Nam. Nhưng nguồn gốc của họ, là những người đã tìm cách di cư khỏi một chế độ đang âm mưu một cuộc đại cướp bóc và giết hại dân lành. Đấu tố, xét lại… ở miền Bắc sau 1954 là những minh chứng bằng lịch sử của máu và nước mắt Việt Nam, trên phông nền rầm rập tiếng hô vang chủ nghĩa quốc tế cộng sản, đậm màu Trung Quốc.

Những người nói giọng Bắc ở vườn rau Lộc Hưng hôm nay cũng run rẩy và đau đớn, không khác gì cha ông của họ vào những ngày ôm con gà, tượng Chúa cùng niềm hy vọng vào Nam, rồi nghe người thân của mình bị chôn sống, bị chặt đầu ở quê mình mà bàng hoàng vì thấy mình may mắn còn sống sót. Những người nói giọng Bắc thật thà, chỉ mong được sinh sống làm ăn. Khốn khó mấy cũng cam, bắt đầu lại mọi thứ cũng thuận. Trên tay của họ là cái cuốc, hạt giống và mồ hôi thấm đất. Họ không chọn cầm AK, hay bao bố để bắt cóc ai đi trong đêm khuya vì lý tưởng đại đồng.

Chính quyền của tổng thống Ngô Đình Diệm đã làm mọi thứ để có thể an cư gần một triệu ngưởi ở miền Nam, những người không chọn chế độ cộng sản làm bạn đường, tự nguyện xuống tàu để có thể bắt đầu lại cuộc đời. Mọi thứ ổn định cho đến năm 1975, khi nước VNDCCH ở phía Bắc mở cuộc chiến vào nước VNCH và hoàn tất. Và dù muốn hay không, tất cả những gì thuộc về hành chính, tài sản và sở hữu của người miền Nam đều phải được quyền công nhận khi chính quyền mới gọi là thống nhất và hoà bình. Nhưng thực tế thì không phải vậy. Có ít nhất đã có 3 lần, chính quyền mới mở các đợt cướp bóc tài sản và xoá quyền sỏ hữu của hàng triệu người dân một cách vô lương, gọi là đánh tư sản. Cướp và âm mưu cướp từ chính quyền mới là những điều có thật.

Trãi qua những ngày tháng ấy, tưởng chừng mọi thứ sẽ chỉ còn là dĩ vãng. Non nửa thế kỷ của một nước Việt Nam tuyên bố giàu mạnh, công bằng và văn minh, vườn rau Lộc Hưng may mắn còn sót lại, vì mảnh đất có vẻ nghèo nàn ấy chưa có dịp lọt vào mắt xanh những kẻ cầm quyền cơ hội. Và vào lúc đất nước “cường thịnh”, ai đó đã chợt nhận ra vài ngàn mét vuông giữa lòng Sài Gòn là một món lợi khổng lồ. Một món lợi phải được khai thác như thường lệ, nhân danh dự án, quy hoạch vườn hoa, trường học, quảng trường, tượng đài… Những kẻ cơ hội và cướp ngày nhân danh mọi thứ, nhưng không hề thât sự có gương mặt hay số phận con người.

Hàng trăm nhân viên đủ loại của nhà nước giàu mạnh, công bằng và văn minh ấy đã bịt mặt, mở cuộc cướp đất, phá nhà của hơn 100 gia đình, khi Tết Nguyên Đán 2019 chỉ còn vài tuần lễ nữa. Khắp nơi, trong nhịp phát triển hào hùng của Việt Nam, văng vẳng tiếng khóc, tiếng kêu giọng Bắc quen thuộc về nỗi đau và căm giận. Tiếng kêu có của cả những người không là nạn nhân, mà chỉ là người chứng kiến.

Mới đây thôi, một quan chức của chính quyền đã nói rằng “tôi nói giọng Bắc, nhưng không gạt bà con” để cố thuyết phục về tính liêm chính trong vụ cướp đất của hàng ngàn người dân tại Thủ Thiêm, quận 2. Nhưng lẫn trong tiếng quát tháo bắt người, đập nhà vào đầu tháng 1/2019 ở vườn rau Lộc Hưng cũng không thiếu những giọng Bắc hung hăng, công khai hiện hình là bọn cướp đất phá nhà dân lành. Những giọng Bắc từ nhà cầm quyền, gợi nhớ biết bao điều.

Ôi đất nước những ngày huy hoàng, “có bao giờ được như thế này đâu”, nhưng bên tai, sao chỉ còn nghe thấy những giọng Bắc hốt hoảng và đau thương với cuộc đời của mình. Những giọng Bắc của con trẻ, người già, phụ nữ, và của những người thương phế binh yếu ớt không còn nơi nương tựa. Những nỗi đau thương sao như di sản cha truyền con nối. Chỉ khác là họ hôm nay, không may mắn bằng cha mẹ mình ở thế kỷ trước, vì không biết phải bước chân xuống chuyến tàu nào để thấy được hy vọng.

Những giọng Bắc nạn nhân ấy, không thể gạt chúng ta. Những giọng Bắc nghẹn ngào như cào cấu vào tim người. Nó mãi mãi nhắc chúng ta – những người Việt – về một sự thật được ghi lại trong lịch sử của đất nước này về những loại giọng Bắc được biết: của người dân chân chất và của bọn trá ngụy.

Nguồn bài:https://www.facebook.com/khanhtuanng/posts/10156070955413181

Image may contain: outdoor
Image may contain: shoes and outdoor

Có còn được “Bên Nhau Đi Nốt Cuộc Đời”?

Sáu căn nhà nhỏ bé nằm khuất trong khu “Vườn Rau” được xây dựng từ những đồng tiền chắt chiu của những người thiện tâm dành cho những Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hoà đơn thân, không thể nghèo hơn ấy có chỗ nương thân, cũng cùng chung số phận với hơn 200 ngôi nhà của những người dân Lộc Hưng khác.

Thế là tan tác những phận người lất lây, nghĩ tưởng sẽ được cùng nhau an thân trong lúc sức cùng lực kiệt, nhưng đành phải lảo đảo ngậm ngùi dìu nhau ra đi, trong sự vô vọng về một…

Continue Reading

Cưỡng chế vườn rau Lộc Hưng: Vì sao báo chí Việt bị “cấm khẩu”?

Cưỡng chế vườn rau Lộc Hưng: Vì sao báo chí Việt bị “cấm khẩu”?

Gió Bấc
RFA
2019-01-09

Cưỡng chế vườn rau Lộc Hưng ngày 4/1/2018

Cưỡng chế vườn rau Lộc Hưng ngày 4/1/2018

Photo: RFA

Từ ngày 4-1 đến nay, cuộc chiến giữ đất của 200 hộ dân Lộc Hưng với lực lượng cưỡng chế của chính quyền gồm hàng trăm công an, dân phòng, với đủ loại thiết bị cơ giới xe ủi, máy xúc đập phá nhà đã kéo dài một tuần. Hàng chục ngôi nhà đã bị đập tan hoang vỡ vụn, mái tôn, tường gạch đổ nát. Người dân ở đây, chủ yếu là giáo dân đã cố gắng kềm chế nên không xảy ra đổ máu như ở Hải Phòng, Dak Nong nhưng tinh thần “tử chiến” cũng quyết liệt không kém. Hình ảnh trên mạng xã hội cho thấy có người dân lấy thân mình nằm chắn trước bánh xích của xe ủi đất của chính quyền. Máu chưa đổ nhưng hàng chục người đã bị bắt.

Cưỡng chế hay là khủng bố?

Vườn rau Lộc Hưng thuộc phường 6 quận Tân Bình, TP.HCM gần sát cư xá Bắc Hải, thuộc trung tâm của Sài Gòn là nơi cư ngụ và trồng rau của hàng trăm hộ giáo dân công giáo di cư từ năm 1954 đến nay, đa số các hộ đã trải qua ba bốn thế hệ.

Người đàn ông nằm trước máy ủi phản đối cưỡng chế vườn rau Lộc Hưng ngày 4/1/2018
Người đàn ông nằm trước máy ủi phản đối cưỡng chế vườn rau Lộc Hưng ngày 4/1/2018 Photo: RFA

Thời điểm cưỡng chế diễn ra ngay sau tết dương lịch và dự kiến kéo dài đến 90 ngày có nghĩa là trải qua cả kỳ tết nguyên đán nên hết sức bất nhẫn với người bị cưỡng chế. Về cách thức cưỡng chế cũng hết sức vô pháp, bao lực và tàn nhẫn. Hoàn toàn không phù hợp với cung cánh hành xử của một nhà nước cai trị với người dân bản xứ mà giống như cách cưỡng chiếm của đạo quân nước ngoài với người dân đất nước bị chiếm đóng. Trước đó, chính quyền dùng loa thông báo lệnh giải toản rồi cho lưc lượng rào chắn, phong tỏa xung quanh khu vực giải tỏa. Đêm 4-1, các phương tiện cơ giới máy xúc, máy ủi tràn vào đập phá nhà cửa, tài sản người dân trong khu vực cũng bị chiếm đoạt. Hàng chục người chống đối đã bị bắt giữ, và chỉ được thả ra sau khi cuộc đập phá nhà cửa đã hoàn thành.

Ngày 8-1, một đợt cưỡng chế đập phá mới lại được thực hiện với mức độ tàn khốc tương tự. Hình ảnh từ video clip của báo Người Việt cho thấy hiện trường nhà cửa bị đập phá không thua kém gì những khu phố Arap bị Taliban hay IS tấn công khủng bố {1}

Thu hồi không có cơ sở pháp lý, đạo lý

Trả lời VOA tiếng Việt về khía cạnh pháp lý trong việc cưỡng chế tháo dỡ hàng trăm ngôi nhà ở khu Vườn rau Lộc Hưng, Luật sư Trịnh Vĩnh Phúc thuộc đoàn Luật sư TP.HCM đã phân tích: “Tôi cho rằng việc lực lượng cưỡng chế của chính quyền kết hợp với doanh nghiệp tiến hành cưỡng chế là không đúng trình tự pháp luật theo quy định về Thu hồi đất, hoặc Cưỡng chế tháo dỡ.

Nếu chính quyền muốn thu hồi đất thì trước đó phải có quyết định thu hồi, giải quyết việc bồi thường cho người dân và bố trí tái định cư cho họ trong trường hợp họ không có chỗ ở”.

“Khi tháo dỡ công trình xây dựng được gọi là trái phép thì cũng phải theo trình tự. Phải có biên bản vi phạm hành chính, phải có quyết định xử phạt hành chính yêu cầu tháo dỡ, nếu không tháo dỡ thì có quyết định cưỡng chế. Tất cả phải theo trình tự và tống đạt cho người vi phạm”, LS. Trịnh Vĩnh Phúc nói.

“Cưỡng chế rầm rộ, bất kể sự ổn định, quyền sống, chỗ cư trú, tính mạng, tài sản của bao nhiêu người cho thấy hành động đó quyết liệt đến mức thô bạo. Theo tôi, việc đó rõ ràng không phù hợp cả về góc độ pháp lý lẫn đạo lý” {2}

Cưỡng chế rầm rộ, bất kể sự ổn định, quyền sống, chỗ cư trú, tính mạng, tài sản của bao nhiêu người cho thấy hành động đó quyết liệt đến mức thô bạo. Theo tôi, việc đó rõ ràng không phù hợp cả về góc độ pháp lý lẫn đạo lý – LS. Trịnh Vĩnh Phúc

Luật sư Phùng Thanh Sơn, Giám đốc công ty Luật Thế Giới Luật Pháp, TP HCM bình luận với BBC: “

“…. theo chính sách pháp luật về đất đai của Việt Nam, nếu người dân sử dụng đất ổn định từ trước 15/10/1993 (ngày luật Đất đai 1993 có hiệu lực pháp luật), Nhà nước có trách nhiệm phải công nhận và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân mà không truy nguyên nguồn gốc.”

Sở dĩ có chính sách này là xuất phát từ bất cập của luật Đất đai năm 1987. Theo luật Đất đai năm 1987, người dân không được tặng cho, mua bán, thế chấp, cầm cố, để lại thừa kế đối với quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, chính sách này đi ngược lại với quy luật khách quan, trên thực tế người dân vẫn mua bán, tặng cho, để lại thừa kế, cầm cố, thế chấp… mà nhà nước không thể kiểm soát được.”

“Do đó, buộc chính quyền phải sửa đổi luật Đất đai năm 1987 bằng luật Đất đai năm 1993 (có hiệu lực kể từ ngày 15/10/1993). Theo Luật mới, người dân được quyền chuyển nhượng, tặng cho, cầm cố, thế chấp, để lại thừa kế quyền sử dụng đất. Để giải quyết hậu quả của các giao dịch trái pháp luật đã diễn ra trước 15/10/1993, nhà nước yêu cầu người dân kê khai việc sử dụng đất. Với tư cách là đại diện chủ sở hữu, bằng quyền lực nhà nước, nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để công nhận theo hiện trạng sử dụng đất của người dân trên cơ sở kê khai sử dụng đất của người dân.”

“Đất nước này là của chung nên nhà nước không thể buộc những người có đất bị thu hồi phải hy sinh cho lợi ích quốc gia bằng cách buộc họ nhận tiền đền bù với giá thấp hơn giá thị trường gấp nhiều lần trong khi những người khác thì không.”{3}

“Báo hèn, nhà báo hèn!”

Dư luận cộng đồng mạng xã hội như bùng vỡ những thông tin cầu cứu, phê phán, thương xót… bằng đủ mọi thể loại hình ảnh, bài viết, video, khẩu hiệu. Ngày 9-1 với từ khóa “Cưỡng chế vườn rau lộc Hưng” Goole đã cho thấy 72.900 kết quả tìm kiếm. Các báo đài của kiều bào Việt ở nước ngoài như Người Việt, các đài BBC, VOA tiếng Việt cũng liên tục đưa thông tin bình luận.

Thế nhưng đặc biệt ở Việt Nam, trước một sự việc khủng bố bất nhẫn, thương tâm, chà đạp lên đời sống, số phận của hàng trăm gia đình một cách kinh hoàng đã và sẽ diễn ra trong thời gian dài sắp tới nhưng tất tần tật hơn 700 tờ báo, cơ quan ngôn luận của xứ sở thiên đàng này lại hoàn toàn cấm khẩu. Một tuần qua, trên 700 cơ quan ngôn luận quốc doanh hoàn toàn không có một câu chữ nào về cuộc cưỡng chế long trời lở đất này. Thật là hiện tượng kỳ lạ

Công an đến cưỡng chế vườn rau Lộc Hưng ngày 4/1/2018
Công an đến cưỡng chế vườn rau Lộc Hưng ngày 4/1/2018 Photo: RFA

Xin thưa, tiểu tựa “Báo hèn, nhà báo hèn!” nặng nề trên đây chúng tôi “mượn” chép nguyên văn từ tựa bài viết trên Fb của Luật sư Trần Vũ Hải, một luật sư khá đình đám và có quan hệ thân thiết, cởi mở với nhiều nhà báo và các cơ quan báo chí. Hẳn khi gõ phím dòng chữ ngắn ngủi này anh phải đau lòng và phẫn uất đến cùng cực nên không ngại đến mất lòng những quan hệ riêng tư. Luật sư Trần Vũ Hải đã viết; “….. Nhiều hộ dân sinh sống từ lâu ở đây cho biết, đây là khu đất người Bắc di cư từ năm 1954. Tuy không có giấy tờ, nhưng họ cũng đề nghị chính quyền địa phương cho kê khai sử dụng đất theo chính sách và pháp luật đất đai của nước CHXHCN Việt nam, nhưng địa phương vẫn bỏ lơ. Nay lấy cớ phục vụ cho dự án xây dựng một trường công, chính quyền TPHCM đã thúc ép địa phương cưỡng chế hàng trăm hộ dân ở đây, không có quyết định thu hồi đất, quyết định cưỡng chế, bồi thường theo quy định của pháp luật, gây ra thảm cảnh đau thương cho những người dân lành tại đây.

Điều rất ngạc nhiên, chưa thấy báo chí nào, nhà báo nào của Việt nam, đặc biệt tại TPHCM lên tiếng, điều tra, tìm hiểu về sự việc này. Nếu người dân ở đây sai, hãy chỉ ra họ sai gì và tại sao sai, nếu chính quyền sai, hãy viết rõ như vậy. Hay ít nhất nêu sự việc và ý kiến của người dân và chính quyền. Nhưng các báo lẫn nhà báo (trên mạng) im lặng tuyệt đối. Đối với họ, phải chăng tới gần nghìn người dân ở đây không phải là đồng bào của họ? Đất ở vườn rau Lộc Hưng là đất ở “nước lạ”?

Còn đối với tôi, đó là báo hèn, nhà báo hèn! Xin lỗi, nhiều bạn của tôi, làm trong làng báo chí Việt, nếu tôi quá nặng lời! Nhưng sự thật là như vậy.

Nếu bạn nào đồng ý với tôi, xin hãy chia sẻ!”{4}

Cùng tâm trạng bi phẫn ấy, ngày 9-1, nữ nhà báo Bạch Hoàn, từng có nhiều bài viết gây sóng gió trên Tuổi Trẻ, VTV cũng viết trên fb

“Không một dòng tin

Suốt từ 4h sáng đến giờ, tôi đã có lần 5 lần vào trang Báo Mới tìm kiếm từ khoá “Vườn rau Lộc Hưng”, nhưng kết quả đều không có lấy một dòng tin.

Vụ cưỡng chế đất đai ở khu Vườn rau Lộc Hưng (Q.Tân Bình, TP.HCM), báo chí đã không còn biết xấu hổ với Nhân dân, với lương tâm và trách nhiệm nghề nghiệp của người cầm bút.

Người ta nói, có 200 căn nhà bỗng chốc thành đống đổ nát. Khi chính quyền đối diện với Nhân dân bằng máy xúc, máy ủi thì tất cả những gì còn lại chỉ là những vỡ vụn của số phận con người. Vậy mà, báo chí không có lấy một dòng tin xác thực.

200 căn nhà bị phá, đồng nghĩa bao nhiêu cuộc đời phải chịu ngậm đắng nuốt cay? Thật xấu hổ cho cả nền báo chí vì chẳng thể tìm ra con số ấy. Dẫu biết rằng, con số nào cũng vậy, một người hay một ngàn người… đều đau đớn như nhau.

Không một chính quyền tử tế nào lại đẩy người dân từ trong mái ấm của họ ra đường, biến họ từ những người có nơi có chốn trở thành người vô gia cư, nhằm giành lấy khu đất để dâng lên cho dự án này, dự án kia mà báo chí không có lấy một dòng minh bạch.

Thay vì thảo luận với dân, đối thoại, tìm hiểu nguyện vọng của dân, giải quyết vướng mắc cho dân, sắp xếp cho dân có nơi chốn đàng hoàng, thì họ bất chấp, hất dân ra đường.

Vụ Vườn rau Lộc Hưng, như thế mà báo chí không có lấy một dòng tin”. {5}

Báo chí bị cấm khẩu chứ không đi sau. Thưa ông Trưởng Ban!

Chiều 28/12,tại hội nghị báo chí toàn quốc tổng kết công tác năm 2018, triển khai nhiệm vụ năm 2019 trước 600 đại biểu là lãnh đạo các cơ quan báo chí toàn quốc và các bộ ngành, ông Võ Văn Thưởng – Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương đã kết luận rằng, mạng xã hội đang ảnh hưởng sâu rộng đến xã hội, báo chí là thông tin đi sau mạng xã hội, dù nhiều trường hợp báo chí biết trước thông tin. Thực tế, kênh thông tin của báo chí rất đa dạng, đội ngũ thông tin báo chí rất đông, hoàn toàn có thể chủ động thông tin, nhưng sự chậm trễ của báo chí đã trao lợi thế cho mạng xã hội trong việc thông tin.

“Đúng là thách thức từ mạng xã hội đối với báo chí là rất lớn, nhưng thách thức lớn hơn chính là tư tưởng, tâm thế thất bại, thua cuộc của người làm báo. Ngoài ra, còn có việc hành động chưa chặt chẽ, chưa đồng bộ, thiếu hiệu quả của các cơ chế phối hợp, cũng như cơ chế quản lý nhà nước”, ông Thưởng đánh giá.

Đúng là thách thức từ mạng xã hội đối với báo chí là rất lớn, nhưng thách thức lớn hơn chính là tư tưởng, tâm thế thất bại, thua cuộc của người làm báo.- Võ Văn Thưởng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương

Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương cho rằng, nếu đội ngũ người làm báo chủ động, nhạy bén, các cơ quan báo chí tỉnh táo, thực hiện chặt chẽ quy trình phê phán các xu hướng tiêu cực, cực đoan, độ chính xác thấp của mạng xã hội; các cơ quan nắm thông tin kịp thời cung cấp thông tin cho báo chí… thì “chúng ta sẽ nắm chắc được quyền chủ động thông tin”. Qua đó, sẽ lấy lại niềm tin của công chúng với báo chí, làm được điều đó báo chí cách mạng mới thực sự là lực lượng dẫn dắt định hướng dư luận.{6}

Phát biểu của ông Trưởng Ban vẫn còn nóng hổi nhưng báo chí cách mạng lần này lại tệ hơn, không đi sau (có đi đâu mà trước hay sau). Họ đồng loạt cấm khẩu không nói một tiếng à ừ dù người dân rất mong được nghe họ nói. Người đọc rất muốn nghe những lời phản biện với các luật sư Trần Vũ Hải, Phùng Thanh Sơn về các căn cứ pháp lý để thu hồi đất, chứng minh rằng chuyện chính quyền đập phá nhà dân không đền bù là đúng đắn. Nhưng rất tiếc, tất thảy đều im lặng, chừng như bị ai đó có quyền năng cấm đoán.

Chúng tôi mong rằng, với tư cách là Tổng Biên Tập chung cho 700 tờ báo, ông Thưởng hãy chỉ đạo cho họ mở miệng để phản biện, tranh luận với mạng xã hội để định hướng thông tin kẻo người dân hoang mang quá vào tính chính danh của chính quyền cách mạng hiện nay.

Nhà báo cũng là nhân chứng nói: Đất là của dân

Đặc biệt trong vụ cưỡng chế đất Lộc Hưng, duy nhất một nhà báo dũng cảm mở miệng nhưng chỉ trên fb của mình. Nguyễn Phương Nam là cây bút đình đám của báo Pháp Luật TP.HCM thủa nhỏ sống ngay tại khu vực này đã viết trung thực về nguồn gốc khu đất bị giải tỏa từng gắn với mối tình đầu lãng mạn của mình.

Trong khi chính quyền lu loa cho rằng đây là đất chính quyền Pháp giao cho ngành Bưu Điện để xác định đây là dất công, nhà báo Phương Nam khẳng định đây là đất tư, trước 1975 người dân gọi là ao rau muống của bà Cả do bà có nhiều ao rau muống ở đây cùng nhiều người Bắc di cư khác. Theo mô tả của Phương Nam, đất khu rau muốn và các khu vực công cộng khác đều có ranh giới rõ ràng. “Khu vực ao rau muống này rộng lắm, mưa xuống là ếch nhái kêu uềnh oang, nơi đây cũng là vùng đệm giữa Đài phát tín Chí Hòa (Gia Định) hay còn gọi là Nhà giây thép gió Chí Hòa và Cư xá sĩ quan Chí Hòa (Sài Gòn, nay là cư xá Bắc Hải)….Má tui kể đất của Đài phát tín Chí Hòa rộng lắm và phía sau ao rau muống bà Cả cũng rất rộng.”{7}

Hãy cho báo chí mở miệng, hãy công khai những chứng cứ đây là đất công, người dân chiếm giữ bất hợp pháp, hãy công khai bản đồ quy hoạch các công trình công ích sẽ xây dựng và đàm phán với người dân về giải pháp khả thi, đó là giải pháp cần thiết của chính quyền liêm chính và minh bạch. Việc báo chí bị cấm khẩu đã dẫn đến những đồn đoán bất minh. Luật sư Trịnh Vĩnh Phúc đã phân tích “Thu hồi đất không có quyết định, cưỡng chế không có quyết định là vì họ muốn tránh bị người dân khiếu kiện. Họ triệt tiêu quyền khiếu kiện đã được pháp luật quy định của người dân. Như vậy, người dân sẽ gặp khó khăn như dựa vào đâu, khiếu nại về hành động gì, khi mà họ ập tới làm và không để lại biên bản, quyết định, thông báo, giấy tờ gì hết. Tất cả hành động đều bất ngờ, cấp thời, không để lại bất cứ giấy mực, tài liệu ghi nhận sự việc, thì việc khiếu kiện của người dân cũng rất khó”.

1-https://www.youtube.com/watch?v=4a2Z5TB47AY&feature=share&fbclid=IwAR134…

2-https://www.voatiengviet.com/a/cuong-che-vuon-rau-loc-hung-bat-hop-phap-…

3 · https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-46778850

4- https://www.facebook.com/tranhai.vune?__tn__=%2CdKH-R-R&eid=ARAajw5_dp4k…

5 –https://www.facebook.com/bachhoanvtv24

6-https://dantri.com.vn/su-kien/ong-vo-van-thuong-su-cham-tre-cua-bao-chi-…

7 – https://www.facebook.com/phuongnamnb/posts/2318015754877189

* Bài viết không thể hiện quan điểm của Đài Á Châu Tự Do

Tại sao chế độ Khơ-me Đỏ giết người dân của mình?

Tại sao chế độ Khơ-me Đỏ giết người dân của mình?

Vào ngày 17 tháng 4 năm 1975, Pol Pot đã dẫn đầu những lực lượng cộng sản Khơ-me Đỏ vào thủ đô Phnom Penh, bắt đầu một chính quyền độc ác kéo dài 4 năm ở Campuchia. Hơn 1 triệu người đã bị giết chết, tương đương với 1/7 dân số của Campuchia theo những ước tính thận trọng, trong một đất nước không lớn hơn bang Missouri tại Hoa Kỳ. Hầu hết trong số họ bị chết vì đói, suy dinh dưỡng và bệnh tật được chẩn đoán hay điều trị sai. 200.000 người nữa bị hành quyết như là những kẻ thù của nhà nước. Điều này đã diễn ra như thế nào?

Khơ-me Đỏ đang tiến vào Phnom Penh

Bối cảnh

Vào tháng 11 năm 1954, Campuchia được hoàn toàn độc lập sau khi là một nhà nước bảo hộ của Pháp kể từ năm 1863. Điều này đã đánh dấu sự bắt đầu của 16 năm cầm quyền của Hoàng thân Norodom Sihanouk.  Hoàng thân Sihanouk đã chấm dứt một chương trình viện trợ của Hoa Kỳ vào năm 1963 và mối quan hệ giữa Campuchia và Hoa Kỳ đã bị cắt đứt hoàn toàn vào tháng 5 năm 1965.

Trong khi đó, một người tên là Saloth Sar đã trở lại Campuchia sau khi bị ám ảnh nặng bởi chủ nghĩa Mác-xít trong thời gian đi học ở nước ngoài. Ông này lấy một cái tên giả là Pol Pot và tham gia phong trào hoạt động cộng sản ngầm. Vào khoảng năm 1962, Pol Pot đang lãnh đạo Đảng Cộng sản Campuchia, chạy vào rừng để thoát khỏi cơn thịnh nộ của Hoàng thân Norodom Sihanouk. Trong khi ở trong rừng, Pol Pot đã tổ chức các lực lượng vũ trang được biết với cái tên Khơ-me Đỏ và bắt đầu tiến hành cuộc chiến tranh du kích chống lại chính quyền Sihanouk.

Vào năm 1970, Hoàng thân Sihanouk bị các lực lượng quân sự cánh hữu được Mỹ ủng hộ lật đổ nên đã trả đũa bằng cách tham gia với Pol Pot để chống lại chính quyền quân sự mới. Cùng năm này, Hoa Kỳ đã tiến quân vào Campuchia để tìm cách quét sạch quân Bắc Việt ra khỏi những doanh trại quân đội dọc theo biên giới hai nước. Điều này chỉ khiến cho quân Bắc Việt tiến sâu hơn vào Campuchia nơi họ đã liên kết với Khơ-me Đỏ.

Hoa Kỳ bất ngờ đánh bom những nơi ẩn náu của quân Bắc Việt ở miền đông Campuchia từ năm 1969 đến năm 1973, gây ra cái chết của tới 150.000 nông dân Campuchia. Do mối đe dọa này, hàng trăm ngàn nông dân đã rời bỏ vùng nông thôn để định cư ở thủ đô Phnom Penh của Campuchia.

Sự kết hợp của những sự kiện này đã gây ra sự suy thoái kinh tế và quân sự ở Campuchia và dẫn tới việc dân chúng ủng hộ Pol Pot.

Sự bắt đầu của nước Cộng hòa Dân chủ Campuchia

Hoa Kỳ đã rút binh lính của mình khỏi Việt Nam vào năm 1975 và chính quyền ở Campuchia cũng mất sự hỗ trợ quân sự của Mỹ. Pol Pot đã lợi dụng cơ hội này và dẫn quân đội Khơ-me Đỏ của ông ta, chủ yếu bao gồm lính du kích vốn là thanh thiếu niên nông dân dưới 20 tuổi, vào Phnom Penh. Vào ngày 17 tháng 4, Khơ-me Đổ đã thành công trong việc chiếm quyền kiểm soát Campuchia.

Pol Pot, được truyền cảm hứng bởi cuộc Cách mạng Văn hóa của Mao Trạch Đông ở Trung Quốc cộng sản, sau đó đã cố gắng xây dựng xã hội nông nghiệp không tưởng của chính mình ở Campuchia, mà ông ta đã đổi tên thành Cộng hòa Dân chủ Campuchia.

Pol Pot tuyên bố bắt đầu năm số 0 và bắt đầu cuộc “thanh lọc” xã hội ghê gớm. Để hỗ trợ cho một hình thức cực đoan của chủ nghĩa cộng sản nông dân, những ảnh hưởng của phương tây như chủ nghĩa tư bản và cuộc sống đô thị bị tiêu huỷ, chấm dứt và tiêu diệt.  Tôn giáo và tất cả những người nước ngoài đều bị cấm. Các đại sứ quán bị đóng cửa, và ngay cả việc sử dụng các thứ tiếng nước ngoài ở Campuchia cũng bị cấm. Các nguồn truyền thông và tin tức không còn được phép nữa và việc liên lạc qua thư từ hay điện thoại bị giới hạn. Tất cả các doanh nghiệp đều bị đóng cửa, giáo dục cũng bị dừng lại, chăm sóc y tế biến mất, và quyền hạn của cha mẹ bị hủy bỏ. Bất cứ sự trợ giúp nào của nước ngoài về kinh tế hay y tế cũng bị khước từ.  Vì thế, Campuchia trở nên bị phong kín khỏi thế giới bên ngoài.

Tất cả các thành phố ở Campuchia đều bị cưỡng chế di tản. Hai triệu người dân ở Phnom Penh đã phải đi bộ rời khỏi thành phố đến vùng nông thôn dưới họng súng. Ước tính rằng khoảng 20.000 người đã bị chết trên đường đi.

Hàng triệu người dân thành phố ở Campuchia giờ bị bắt phải lao động chân tay như nô lệ ở các vùng nông thôn. Vì 2 ngày họ mới được chia một khẩu phần cơm khoảng 180 gam, họ đã nhanh chóng bắt đầu chết vì bệnh tật hay vì phải làm việc quá sức và bị thiếu dinh dưỡng. Đó là lý do tại sao lại có những “cánh đồng giết người”.

Pol Pot dẫn đầu quân lính Khơ-me Đỏ

 “Những gì thối rữa phải bị vứt bỏ”.

Trên khắp Campuchia, các cuộc thanh lọc chết người đã được thực hiện để phá bỏ tất cả những gì còn lại của “xã hội cũ”. Người ta bị hành quyết chỉ bởi vì họ được giáo dục hay có của cải, hay là bị giết dựa trên nghề nghiệp của họ, như cảnh sát, bác sĩ, luật sư, giáo viên, và các quan chức chính quyền cũ. Những người lính chế độ cũ bị giết chết cùng với cả nhà vợ con. Bắt cứ ai bị nghi ngờ là không trung thành với Pol Pot, mà cuối cùng bao gồm cả nhiều lãnh đạo trong chính lực lượng Khơ-me Đỏ, đều bị giết chết.

Ba dân tộc thiểu số đông nhất – người Việt, người Hoa và Hồi giáo Chàm – là đối tượng của cuộc thanh lọc này, cũng như hai mươi nhóm người nhỏ hơn khác. Trong số 425.000 người Hoa sống ở Campuchia năm 1975, một nửa đã bị giết chết. Khơ-me Đỏ đã thực hiện nhiều điều tàn bạo đối với những nhóm người thiểu số này, bao gồm việc ép buộc người Hồi giáo ăn thịt lợn và bắn chết những ai từ chối.

Tại sao?

Khơ-me Đỏ coi thành phố, đô thị là trái tim của chủ nghĩa tư bản và vì vậy phải bị nhổ tận gốc. Quân lính Khơ-me Đỏ gọi Phnom Penh là “con điếm lớn của Mekong”. (theo tác giả Chandler, sách Bi kịch của Lịch sử Campuchia, trang 247). Những người dân thường bị đuổi ra khỏi thành phố để sống và lao động ở nông thôn như những người nông dân nhằm để tạo ra một xã hội cộng sản lý tưởng. Mục đích của việc biến tất cả mọi người thành nông dân là do thực tế là giai cấp này được tin là “đơn giản, không được giáo dục, chăm làm và không có xu hướng bóc lột những người khác”. Họ đã phải sống như vậy trong nhiều năm và luôn luôn phải cố gắng sống cho qua ngày. Vì lý do này, Khơ-me Đỏ gọi những người nông dân là “những người cũ” và coi họ như những người cộng sản lý tưởng cho nhà nước Campuchia mới.

Người dân thành thị Campuchia bị ép phải di tản về nông thôn

Những người sống ở các thành phố bị coi là “những người mới” và bị Khơ-me Đỏ xem như “gốc rễ của mọi cái xấu của chủ nghĩa tư bản”. Những người mới là tinh hoa của chủ nghĩa tư bản và vì thế là kẻ thù của chế độ Pol-Pot.  Bất kể nghề nghiệp của họ là gì – giáo viên, thợ may, công chức hay hòa thượng – đều không quan trọng. Theo Khơ-me Đỏ, những người mới này đã quyết định sống ở thành phố, chứng tỏ họ trung thành với chủ nghĩa tư bản. Vì thế, hàng trăm ngàn người Campuchia đã tự động bị gán mác là kẻ thù của nhà nước cộng sản mới và bị giết chết.

Khi kế hoạch xây dựng xã hội thiên đường của Pol Pot không thành công, ông ta không chịu nhận sai lầm hay quy tội cho đồng chí của mình hay cho chính bản thân kế hoạch đó. Ông ta đã quyết định rằng có những kẻ thù trong hàng ngũ cũng như trong cái mà ông ta coi là một phe ủng hộ Việt Nam đang nổi lên ở bên trong Đảng Cộng sản Campuchia. Một phần khác của sự đổ tội là tầng lớp cao của xã hội, là những người vẫn còn lại từ chế độ trước. Kết quả là, ông ta đã loại bỏ khỏi đảng của mình những thành viên ủng hộ Việt Nam và kết án tử hình họ, bao gồm cả một số đồng sự lâu năm nhất của ông ta. Giống như bàn tay sắt Stalin, Pol Pot trở nên hoang tưởng hơn bao giờ hết và bắt đầu tin rằng xung quanh ông ta là những kẻ thù khi Campuchia có dấu hiệu tan rã.  Điều này đã tăng số lượng những vụ giết người và bắt bớ và biến đảng này thành một triều đại tàn bạo đến kinh hoàng tồn tại cho đến khi Việt Nam tiến đánh quân Pol-pot vào tháng 1 năm 1979.

Theo www.mtholyoke.edu

Nhật Minh dịch

 

M.TRITHUCVN.NET
Vào ngày 17 tháng 4 năm 1975, Pol Pot đã dẫn đầu những lực lượng cộng sản Khơ-me Đỏ vào thủ đô Phnom Penh, bắt đầu một chính quyền độc ác kéo dài 4 năm ở Campuchia. Hơn 1 triệu người đã bị giết chết, tương đương với 1/7 dân số…

CHÍNH SÁCH KHỐN NẠN!

Follow

CHÍNH SÁCH KHỐN NẠN!

Chính sách: «đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu và quản lý». Đây phải nói là chính sách khốn nạn nhất của nhà cầm quyền csVn.

Vì sao đây là chính sách khốn nạn? Vì chính điều luật này đã trắng trợn cướp quyền sở hữu nhà, đất của mọi công dân. Hiện tại, ngôi nhà của ta đang ở là ở nhờ trên mãnh đất của toàn dân chứ không phải đất của riêng ta, và nhà nước là kẻ đại diện chủ sở hữu mảnh đất trên ngôi nhà của ta, chứ đất đó không thuộc quyền sở hữu của riêng ta.

Bởi vậy, theo luật đó, nhà nước có quyền cướp mảnh đất của người dân này đưa cho người dân khác dưới các chiêu bài như: dự án phát triển kinh tế hoặc công trình công cộng… Mà dự án phát triển kinh tế là gì? Có thể đó là một nhà máy sản xuất, một công ty may, một xưỡng chế biến gì đó mà đàng sau các công ty đó chỉ là một doanh nhân sở hữu nó. Các công trình công cộng có thể là một trường học tư, một bệnh viện tư. Dỹ nhiên, họ là một doanh nghiệp và cũng là người dân.

Tại sao tôi phải dùng từ nhà nước cướp đất? Bởi vì, khi nhà nước lấy đất của ta để giao cho người khác. Nhà nước không cho ta định giá ngôi nhà và mảnh đất mình đang ở, mà giá cả bao nhiêu là do nhà nước quy định?! Bạn không đồng ý với giá đó ư? Kệ mẹ bạn! Sau vài lần mời tới, mời lui mà bạn vẫn không chịu giao nhà thì sẽ có hàng trăm công an và cảnh sát cơ động, cộng với hàng chục xe cơ giới đủ loại đến tống cổ bạn ra khỏi nhà. Hành động này có phải là cướp không? Đã từng xảy ra trên đất nước này chưa? Tự hiểu đi nhé!

Nhiều người nghĩ rằng: nhà, đất tôi có sổ hồng, sổ đỏ, do ông này ký, do bà kia duyệt…thì ai làm gì được tôi. Xin lỗi! Đối với nhà cầm quyền này thì họ sẽ nhổ toẹt vào chữ ký của họ bất cứ lúc nào. Đối với các hiệp ước quốc tế mà họ còn trở mặt được, thì cá nhân bạn là cái quần què gì? Hãy nhìn lại hiệp định Geneve (1954) và hiệp định Paris (1973) thì hiểu.

Bởi vậy, khi chính sách khốn nạn này còn tồn tại, thì đến những kẻ đã chết cũng chưa chắc được yên nghỉ nơi mộ phần của mình, chứ đừng mong gì người còn sống mà được yên thân với chính sách đó.

Dân tộc… lưu vong – Facebook Ngọc Vinh…

Một quốc gia sao có thể hùng cường khi người dân của quốc gia ấy cứ nhấp nhổm…kiếm đường lưu vong và coi đất nước của mình là nơi ở tạm, kiếm tiền và ra đi?!!!
********

Dân tộc… lưu vong – Facebook Ngọc Vinh…

1. Trong lịch sử nhân loại, có hai dân tộc chịu số phận bi thảm hơn các dân tộc khác. Rất không may, một trong hai lại là dân tộc Việt chúng ta. Một trong hai còn lại là Do Thái.

Cái “lỗi” của dân tộc Do Thái là sinh ra Chúa rồi hành hình Chúa trên thập giá. Họ đã bị kỳ thị, xua đuổi, bị truy bức giết hại và lưu vong khắp nơi. Năm 1947, cái dân tộc rã rời nát vụn đó đã cùng nhau gom góp từng đồng tiền, từng mảnh đất để gầy dựng lại quốc gia của mình. Định mệnh bi thảm của dân tộc đã khiến họ gắn kết với nhau thành một khối, nhờ đó quốc gia Israel đã phát triển không ngừng. Một mình họ đã đánh bại quân đội của liên minh các nước Ả rập để bảo vệ sự tồn vong của đất nước. Và giờ, họ đã có bom nguyên tử…

Khác với dân tộc Do Thái lưu vong hơn ngàn năm trước, dân Việt chỉ bắt đầu lưu vong đại trà từ sau 30-4-1975. Dân tộc này không hành hình Chúa nhưng vẫn phải chịu một định mệnh bi thảm không kém. Cuộc chiến tranh giữa hai miền anh em với vũ khí bom đạn của ngoại bang kết thúc, đất nước được gom về một mối những tưởng sẽ bắt đầu một thời đại vàng son, nhưng không ngờ, thời đại đó biến thành một cuộc phân ly bi thảm.

Vượt qua cả dân tộc Do Thái, người Việt “vươn lên” dẫn đầu lịch sử lưu vong của nhân loại bằng cuộc di cư chính trị quy mô nhất về mặt số lượng từ trước đến nay. Hàng triệu người đã lao ra biển trên những chiếc tàu đánh cá các loại để thoát khỏi đất mẹ của mình, chấp nhận cả cái chết để… lưu vong. Một phần của dân tộc đã làm mồi cho cướp biển cho cá mập và bị nhốt trong những trại tị nạn nghẹt thở ở các nước Đông Nam Á đồng liêu.

Cuộc di cư khốc liệt của người Việt đã đưa họ đến khắp nơi trên thế giới, kể cả châu Phi, điều mà trước 1975, cả hai miền Nam Bắc đều không hề có. Tâm thức lưu vong kể từ mốc thời gian đó, đã phục kích trong các tầng lớp dân Việt, đóng đinh trong đầu họ cho đến tận ngày nay, không ngơi nghỉ và không có cơ hội để chấm dứt…

2. Sau 30-4-1975, ở Phan Thiết quê tôi, người vượt biên bằng đường biển rất nhiều do thành phố này sống bằng kinh tế biển với rất nhiều tàu đánh cá. Người Phan Thiết không chỉ giúp “đồng bọn” quê mình vượt biển mà còn giúp cả dân Sài Gòn, với giá vài ba cây vàng/người, có khi chủ tàu chỉ thu đủ sở hụi để mua dầu, thực phẩm và đút lót cho bộ đội biên phòng. Có nguyên một làng chài hay cả xóm đạo vượt biên sạch.

Sau đó, khi đất nước đói meo, thì những người vượt biên bắt đầu góp phần gầy dựng quê nhà bằng… những thùng hàng gởi về từ nước ngoài. Dân quê tôi gọi đó là hàng thùng. Một người vượt biên thoát được qua nước ngoài thì cả gia đình được nhờ, cả gia đình cùng thoát thì dòng họ được nhờ. Dân sống bằng hàng thùng chả cần làm gì vẫn phong lưu vì nhận hàng thùng đều đặn gởi về. Gia đình nào sống bằng hàng thùng thì con trai rất dễ lấy vợ và con gái, dù xấu, cũng rất dễ lấy chồng. Tâm thế chờ đợi hàng Mỹ, hàng Tây đã ăn sâu từ đó vào ký ức của cộng đồng. Không chỉ chờ đợi hàng thùng và đô la từ nước ngoài, người thân trong nước của các Việt kiều thường xuyên sống trong tâm trạng chờ đợi được bảo lãnh. Gặp nhau là họ hỏi thăm nhau bằng một câu cửa miệng: “bao giờ đi?” Đi ở đây chính là lưu vong, là thoát khỏi nơi họ chôn nhao cắt rún!

3. Năm 2017, tôi đi du lịch Mỹ để thăm thú bạn bè định cư ở đất nước này. Ngày tôi đi cũng là ngày một nhà báo đồng nghiệp rất thân với tôi tại Đài phát thanh TPHCM xách va ly qua Mỹ để… lưu vong. Anh đã nghỉ hưu và được gia đình bảo lãnh. Rất nhiều nhà báo mà tôi quen biết khi về hưu đã sang Mỹ định cư, coi việc lưu vong là điều hết sức bình thường. Ai thắc mắc tuổi già còn sang Mỹ để làm gì, cứ hỏi họ đi rồi sẽ nhận được câu trả lời.

Tại Mỹ, tôi ghé San Jose thăm L.Hoàng, bạn học thời trung học của tôi ở Phan Thiết. Năm 1977, trong khi tôi đi bộ đội thì Hoàng vượt biên. Cậu qua Mỹ rồi tiếp tục học hành để lấy bằng kỹ sư, giờ cậu là trưởng một bộ phận trong một công ty có 5,000 căn hộ cho thuê. Cậu ở trong khu da trắng, với một ngôi nhà trị giá $800,000 và lái chiếc “Mẹc” 7 chỗ.

Mười bảy tuổi, Hoàng đã là nhà tổ chức vượt biên cho người khác và từng vô tù ngồi 6 tháng. Sau khi tổ chức nhiều chuyến tàu vượt biển thành công, cậu cùng 5 anh chị em của mình quyết định ra đi. Giờ họ cùng nhau sinh sống trên đất Mỹ. Hoàng bảo tôi khi gặp lại, rằng gia đình cậu lúc đó nghèo quá và thấy đất nước cũng nghèo quá nên vượt biên là con đường duy nhất mà cậu buộc phải lựa chọn. Cậu bảo,“tao đâu muốn sống lưu vong, nhưng không vượt biên làm sao có tương lai. Nước Mỹ lúc đó là miền đất hứa và họ đã cưu mang tao nên cuối cùng tao cũng quen với cuộc sống bên này.”

Đã có 3 thế hệ người Việt sống lưu vong trên đất Mỹ, thế hệ thứ nhất là những người bỏ chạy khỏi nước khi quân đội miền Bắc tràn vào Sài Gòn và những người vượt biển. Thế hệ thứ hai là các sĩ quan VNCH và gia đình họ qua đây theo diện HO cùng với những người được thế hệ thứ nhất bảo lãnh. Thế hệ thứ 3 là con em người Việt sang du học, tìm kiếm việc làm, định cư và bảo lãnh cha mẹ. Trong số cha mẹ này có rất nhiều cán bộ nhà nước, họ đầu tư tiền bạc cho con cái ăn học, mua nhà cửa, gởi tiền vào tài khoản ngân hàng và chờ đợi thời cơ để… lưu vong. Tiền họ có được, dĩ nhiên đến từ túi của nhân dân, vì lương tháng của Thủ tướng Việt Nam chưa tới 20 triệu đồng Việt Nam (khoảng $850) thì họ lấy gì để nuôi con du học?

4. Mỗi năm, người Việt trong nước bỏ tiền tỉ đô la để mua nhà ở Mỹ. Ai có khả năng này? Chỉ có cán bộ và doanh nhân. Ở một thành phố của quận Cam, có cả một” ngôi làng” của cán bộ nhà nước. Họ chuyên sống bằng hồn của Trương Ba nhưng da hàng thịt. Họ ở Việt Nam, làm việc trong bộ máy của chế độ nhưng tâm hồn thì để trong những ngôi nhà ở Mỹ. Ở đó có con cháu họ chờ sẵn. Giống như Võ Kim Cự Formosa vậy, nếu cần thiết lên đường xuất ngoại là đi thôi. Tiền đã gởi, nhà đã mua, con cháu đã chuẩn bị đón chào. Tôi biết Tổng biên tập một tờ báo nọ, vẫn đương chức ở Việt Nam nhưng đã có thẻ xanh ở Mỹ. Tổng biên tập phải là đảng viên, nhưng chuyện này dễ ẹt, một khi lòng người đã muốn… lưu vong thì không có gì là không thể. Có Tổng biên tập một tờ báo chửi Mỹ không còn nước non gì, thế mà cuối đời xách đít qua Mỹ để sống… lưu vong.

Các nhà báo đàn anh tôi, cùng lứa tuổi tôi hoặc nhỏ hơn ở Sài gòn, bằng cách này cách khác, đều gởi con du học Mỹ hoặc Úc. Đó là tương lai mới không chỉ cho con cái họ mà cho cả họ. Giờ họ là công dân Việt Nam nhưng mai mốt đây họ sẽ là công dân Mỹ Úc, nếu muốn. Cả đất nước đều như vậy. Nhiều công dân Việt hiện nay đã lên kế hoạch cho cuộc sống tương lai của mình không gắn với Việt Nam. Dân thường, cán bộ viên chức, nhà văn nhà báo, lãnh đạo cấp cao…vân vân. Không từ một tầng lớp nào. Ai dám chắc rằng các lãnh đạo cao cấp ko chọn trước cho mình một chỗ để… lưu vong khi cần thiết. Cuộc đời, thời cuộc mà, đâu nói trước được điều gì. Người thân Mỹ chọn chỗ sẵn ở Mỹ, người thân Tàu chọn chỗ sẵn ở Tàu. Có biến là ‘dzọt’ thôi. Vậy thì làm sao trách các công dân Việt thu nhập thấp tìm qua Đài Loan hay Nhật Bản để… lưu vong bất hợp pháp. Đã lưu vong thì bình đẳng, giống như sự bình đẳng của con người trong tuyên ngôn nhân quyền vậy, dù người giàu tiền và nghèo tiền thì chọn cách lưu vong khác nhau.

5. Vậy tại sao người Việt lại khát khao… lưu vong như thế? Câu hỏi này quá dễ trả lời bằng câu thành ngữ Việt Nam “đất lành chim đậu.”

Khi đất mẹ không còn lành thì người dân Việt sẽ tìm cách ra đi như một tất yếu để tìm đến mảnh đất lành hơn. Không ai muốn tương lai gia đình con cái mình sống trong môi trường nhiễm độc, nền giáo dục- y tế thiếu chất lượng, sự bất nhất giữa nói và làm của những người điều hành xã hội, sự giả dối lừa lọc nhau giữa người và người, niềm tin cùn mòn vì mọi thứ đều có thể làm giả, từ học vấn giả, nhân cách giả, đến cả lịch sử cũng bị làm giả; những “thành phố đáng sống” thì kẹt xe và ngập nước quanh năm, sinh mạng con người không biết “đứt bóng” lúc nào bởi tai nạn giao thông; dân sinh thì khổ ải, dân chủ và dân quyền thì lắm vấn đề và người dân thì bị cấm đoán nói lên sự thật của đất nước mình…vân vân và vân vân. Đó là chưa kể nỗi sợ hãi bị mai phục và thôn tính đến từ anh bạn vàng ròng láng giềng khổng lồ phương Bắc…

6. Chưa bao giờ tôi muốn sống lưu vong, nhưng tôi lại muốn con cái mình được đào tạo bởi nền giáo dục Mỹ, Úc và đó cũng là nơi sinh sống thật tuyệt cho chúng nếu chúng muốn… lưu vong. Tâm thức cá nhân được định hình từ tâm thức xã hội, do vậy ngay trong bản thân, tôi đã bị tâm thức lưu vong chế ngự, kể từ khi đứa con của tôi bắt đầu xách cặp tới trường để học… tiếng Anh.

Một quốc gia sao có thể hùng cường khi người dân của quốc gia ấy cứ nhấp nhổm… lưu vong và không coi trọng đất nước của mình? Khó có thể gắn kết những con người nhấp nhổm ấy lại với nhau bằng tình cảm quốc gia để đoàn kết như dân Do Thái.

Ai cũng biết rằng, kẻ lưu vong là kẻ bị nhổ bật gốc rễ khỏi quê hương, như bụi lúa bị nhổ bật khỏi ruộng nước. Đó là một nỗi đau từng là điều không chịu nổi đối với người tha hương xa xứ, vậy mà giờ đây, nó đang biến thành một món ăn tâm lý hạng nhất của người Việt chúng ta. Vì đâu nên nỗi đoạn trường này, hả người?

No photo description available.
Image may contain: 3 people, people smiling, people standing
Image may contain: 2 people, people standing