“PHẢI ĐÀO CẢ GỐC MỚI ĐƯỢC. 

Nguyễn Thị HoàngHải
Một xã hội được nuôi bởi sự gian lận, bọn gian lận lại đi cai trị dân, thì vinh quang vĩ đại vô cùng rồi còn gì nữa!

Bọn con cháu được nâng điểm là con của các vị quan to cả nhé! Hồng phúc dân tộc là đây chứ đâu!
Cho tôi chửi phát: bố tiên sư cha chúng nó! Bứng mà vứt hết đi!

Sau đây là bài của Ngô Trường An:

“PHẢI ĐÀO CẢ GỐC MỚI ĐƯỢC. 

Mấy hôm nay cộng đồng mạng náo loạn chia sẻ vụ việc gian lận điểm thi ở Hà Giang, Hòa Bình. Tôi nghĩ, không phải bây giờ (thế hệ hôm nay) mới gian lận, mà ở thế hệ cha chú chúng nó, cũng đã gian lận mua bán điểm lâu rồi. Từ đó, những tên dốt nát được nâng điểm, để rồi sau đó, chúng đứng vào hàng ngủ lãnh đạo. Nhìn trạng thái đất nước hôm nay thì biết, hệ thống giáo dục của cộng sản đã mua bán, cưỡng ép từa lưa từ khi mới cướp được chính quyền. 
Cho dù bây giờ chúng có địa vị trong xã hội, làm đến chức ông nọ bà kia, đó là nhờ cha mẹ chúng mua điểm cho nó được lọt qua các kỳ thi. Nhưng với bản chất dốt nát của chúng thì không thể che giấu vào đâu được. Bài viết này tôi không thèm nói đến những cán bộ làng nhàng cấp tỉnh trở xuống, chỉ xin nêu lên sơ sơ vài ba cán bộ đỉnh cao đã từng du học trời Tây và làm việc ở các ngành khoa học. Để cho mọi người nhận xét trình độ học thức của họ ở đâu với những nhận thức ấu trĩ như vầy? 
– Ông Nguyễn Thiện Nhân phát biểu trại trường THCS Nam Từ Liêm HN Rằng: “69 năm trước, Việt Nam không có tên trong bản đồ thế giới”. Vậy trước năm 1945 mảnh đất hình chữ s này là cái giống gì? 
– Ông Vũ Đức Đam thì than thở: “không giáo dục cho con cháu phải rưng rưng khi hát quốc ca, thì làm sao đất nước giàu mạnh được”. Đù móa! Nếu chúng nó có vừa hát vừa khóc nức nở đi nữa, mà lãnh đạo các người chỉ biết vơ vét, đục khoét và phá hoại như này thì giàu mạnh sao nỗi? 
– Ông Trương Quốc Cường ký cho phép nhập khẩu 9140 tấn sabutamol. Đến khi bị phát hiện, ông ta nói tôi không biết chất đó là chất cấm? Ôi trời, làm đến chức thứ trưởng bộ Y Tế mà không biết chất sabutamol là chất cấm. 
– Ông Nguyễn Thanh Hóa là một tướng trong ngành công an mà cũng không biết sử dụng máy vi tính. Vậy thì lúc thi vào đại học công an ông được mấy điểm? Ông Nguyễn Xuân Phúc không phân biệt được thơ của Đỗ Trung Quân với Giang Nam thì khi thi vào đại học ông được mấy điểm?? Các người không mua điểm, không có người chạy chọt thì với bản chất dốt đặc cán mai đó thì làm sao bước được vào giảng đường đại học?
Nêu lên vấn đề này là tôi muốn nói, xã hội này nó là vậy đó, không những mua bán điểm mà chúng còn buôn bán cả lương tâm. Chúng ta phải cùng nhau đứng lên dẹp nó đi, chứ chỉ trích những người mua điểm và những kẻ bán điểm thì cũng chẳng ăn thua gì. 
Phải bứng cả gốc chứ không thể chặt cành mãi như thế này được.”

No photo description available.
Image may contain: 3 people, people standing and text
No photo description available.
Image may contain: text
No photo description available.

Chó cắn áo rách…

Image may contain: 3 people, people sitting, people eating and food

Van Pham

Chó cắn áo rách…

Cánh Cò

Báo Pháp luật hôm Thứ Năm ngày 11/4 có bài viết: “Bộ y tế, Thu phí người nuôi bệnh là hợp lý” thật sự làm dư luận trở nên bất an. Không thể gọi là shock hay quan tâm, vì vấn đề thu tiền của dân ngày một tùy tiện, bất kể nơi đâu, lúc nào của nhà nước đã thức sự gây mối bất an trong quần chúng khi ai cũng sẽ là người nuôi bệnh trong một lúc nào đó suốt cuộc đời mình.

Vấn đề không phải ở vài trăm ngàn phải trả cho bệnh viện, nó nằm ở chỗ cách thức nhà nước đối xử với người dân của mình.

Từ nhiều năm qua bệnh viện Việt Nam đã được Bộ y tế cho phép tự cân đối thu chi nên mọi quyết định về tiền nong đối với bệnh nhân điều được Ban giám đốc bệnh viện nghĩ ra và duyệt xét. Tuy nhiên sau bao năm, cách thức đầu voi đuôi chuột này tỏ ra không mấy hiệu quả, bệnh viện ngày một quá tải, bệnh nhân 4 người thậm chí có nơi 6 người một giường là hình ảnh chung rất điển hình của bệnh viện công ngày nay. Bộ Y tế gần như bất lực trước thảm trạng này và các bệnh viện tự chòi đạp trong sự thiếu thốn ngân sách để giải quyết các vấn đề thuộc phạm vi nhân đạo.

Túng quá hóa liều, mặc dù biết rằng đưa ra quyết định thu tiền người nhà của bệnh nhân là một giải pháp thiếu nhân văn nhưng thừa phản cảm vẫn được nhiều bệnh viện bàn đến. Bài báo nêu ý kiến của BS Võ Đức Chiến, Giám đốc BV Nguyễn Tri Phương, theo ông thì hiện nay do giá viện phí chưa được tính đúng, tính đủ nên BV gặp không ít khó khăn và giải pháp thu tiền người nhà bệnh nhân có thể sẽ được nghĩ tới. Còn BS Lê Quang Thanh, Giám đốc BV Từ Dũ Tại khu dịch vụ BV Từ Dũ, người nuôi bệnh thứ nhất không phải đóng phí, người thứ hai phải đóng phí 100.000 đồng/ngày.

Bệnh nhân nằm tại các bệnh viện công đại đa số là người lao động nghèo tại thành phố hoặc ngoại tỉnh kéo về. Không ai trong số họ mong muốn “được” nằm lăn lóc dọc lối đi hay chen nhau chui xuống gầm giường để nghỉ mệt trong thoáng chốc. Vệ sinh cơ thể chắc chắn là thiếu thốn vì không được tắm rửa hay giặt giũ, chỉ vài lít nước phông tên giải quyết cái khát hay dùng để nấu mì gói qua ngày không thể gọi là tiện ích công cộng được.

Không chỉ các bệnh viện công có suy nghĩ thu tiền người nhà bệnh nhân mà giới chức y tế cao cấp nhất cũng đồng tình. Thứ trưởng Thường trực Bộ Y tế Nguyễn Viết Tiến cho rằng hiện nay các BV đã thực hiện tự chủ tài chính, chủ trương của Bộ Y tế cố gắng tạo điều kiện cho các cơ sở y tế làm chủ về kinh phí để có nguồn trả lương cho nhân viên và thực hiện nhiều công tác khác. Do đó theo Thứ trưởng Nguyễn Viết Tiến, những khoản thu hợp pháp, không sai luật thì BV vẫn được quyền thu.

Dĩ nhiên là pháp luật không cấm những cái được gọi là “quyền” đó nhưng thử hỏi, tiền thuế mà người dân đóng cho nhà nước là gì? Người dân có “quyền” hưởng lợi ích về an sinh xã hội trong đó có quyền được dùng những phương tiện tối thiểu tại các cơ quan nhà nước hay không?

Nếu bệnh viện công nào cũng có chính sách thu tiền người nhà của bệnh nhân thì những nơi này có gì để cung cấp cho người dân mà đòi thu tiền như một thứ lệ phí. Nước ư? Bao nhiêu lít nước cho mỗi người một ngày để phải đóng tới 3 trăm ngàn cho mỗi người ở lại? Hành lang bệnh viện ư? Bao nhiêu mét vuông cho một chỗ nằm đáng được gọi là nơi nghỉ ngơi cho một con người? Nhà cầu, quạt trần, điện đóm nếu tính ra thì mỗi đầu người như vậy tiêu tốn hết bao nhiêu?

Cứ tính cho chính xác và hạch toán như một công ty tư doanh làm bất cứ điều gì cũng phải có lợi rồi công khai trước dư luận xem người dân ứng phó ra sao rồi hẵng thu tiền của họ. Tuy nhiên cho dù có hợp lý thế nào trong tính toán vẫn không che được cái bất hợp lý lớn nhất trong hệ thống y tế của Việt Nam.

Đó là tính chất nhân đạo đúng nghĩa mà một bệnh viện dù tư nhân hay công lập cũng đều phải thấu hiểu.

Đã hơn 40 năm người dân Miền Nam trải qua cuộc đổi đời lớn nhất của dân tộc. Cái mà họ hy vọng nhất là cuộc sống thoải mái, xã hội bình đẳng và chính phủ biết lo lắng cho người dân. Cả ba ước ao ấy vẫn chưa bao giờ ló dạng mặc dù cây kim chỉ thời gian đã sắp chạm ngưỡng nửa thế kỷ sau ngày giải phóng.

Cuộc sống của người dân có thoải mái theo nghĩa đen lẫn bóng vẫn chưa định dạng, xã hội không hề có khái niệm bình đẳng vì các hố sâu ngăn cách giàu-nghèo, cán bộ-nhân dân vẫn hàng ngày hiển hiện khắp nơi. Chính phủ đẩy nỗi lo cho nhân dân vào cụm từ xã hội hóa nhưng thình thoảng châm vào vài ba ý tưởng nghịch lý đến khó hiều về mọi vấn đề quốc kế dân sinh.

Tất cả đang đẩy người dân vào con đường không những cùng khổ mà còn bị khinh miệt đến đau lòng.

Bệnh viện là nơi cứu người và bệnh nhân có bổn phận phải thanh toán viện phí là điều không ai chối cãi, tuy nhiên nếu vì chân lý này lại rắp tâm leo thêm một bậc nữa thì trở thành trấn lột hợp pháp không khác gì các BOT bẩn tràn ngập trên các quốc lộ hiện nay.

Ngành y từ nhiều năm qua vốn dĩ không được người dân xem trọng vì cả hai mặt: Bác sĩ, nhân viên thi nhau hành hạ bệnh nhân qua các hình thức đòi quà mới nhận được dịch vụ tốt nhất. Cạnh đó là tâm lý con nhà quan, xem bác sĩ như người phục dịch đã khiến cho quan hệ hai bên ngày một cách xa và cả hai nhìn nhau với đôi mắt ngờ vực thay vì thân thiện.

Nay, nếu thu thêm lệ phí của người nuôi bệnh thì khác nào châm thêm xăng vào nhúm lửa đang âm ỉ cháy trong các nơi được gọi là nhà thương. Hình ảnh không mấy đẹp đẽ của các bệnh viện công rồi đây sẽ tăng thêm lời nhiếc móc, sỉ vả mà giới áo trắng là người lãnh đủ hậu quả của vài đồng tiến lẻ từ người dân nghèo khó.

Chính phủ có thể chi vài ngàn tỷ cho một dự án có vấn đề nhưng lại rất “tiết kiệm” vài trăm tỷ cho sự an lòng của người cùng khổ.

Nói theo dân gian, chó chỉ thích cắn người áo rách.

**********

– Hàng ngày tại bệnh viện Từ Dũ, nhiều gia đình ngồi chờ chực vào chăm sóc thai phụ. (Hình: HL/Báo Pháp Luật)

PHẢN BỘI TẠI BỮA TIỆC LY

PHẢN BỘI TẠI BỮA TIỆC LY

Lễ Vượt Qua là lễ quan trọng nhất của người Do Thái.  Đó là việc kỷ niệm hằng năm về sự giải thoát dân Israel khỏi ách nô lệ người Ai Cập.  Lễ này cử hành vào ngày 13 tháng Nisan (khoảng tháng Tư theo công lịch), nhưng vì ngày của người Do Thái bắt đầu vào lúc mặt trời lặn nên lễ thực sự bắt đầu từ lúc mặt trời lặn ngày 14 tháng Nisan.  Đối với Chúa Giêsu và các môn đệ, chắc chắn nhiều người khác cũng vậy, bữa ăn vượt qua được ăn vào chiều thứ Năm của năm đó.

Chuẩn Bị

Các môn đệ biết Thầy Giêsu muốn ăn Lễ Vượt Qua tại Giêrusalem, nhưng chưa chắc Thầy có muốn ăn ở đó hay không.  Họ đến gần Ngài và hỏi: “Thầy muốn chúng con đi dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu?”  Chúa Giêsu sai Phêrô và Gioan đi chuẩn bị những gì cần thiết và dặn dò: “Các anh đi vào thành, và sẽ có một người mang vò nước đón gặp các anh.  Cứ đi theo người đó.  Người đó vào nhà nào, các anh hãy thưa với chủ nhà: Thầy nhắn: “Cái phòng dành cho tôi ăn lễ Vượt Qua với các môn đệ của tôi ở đâu?”  Và ông ấy sẽ chỉ cho các anh một phòng rộng rãi trên lầu, đã được chuẩn bị sẵn sàng: và ở đó, các anh hãy dọn tiệc cho chúng ta.”  Hai môn đệ ra đi.  Vào đến thành, các ông thấy mọi sự y như Người đã nói.  Và các ông dọn tiệc Vượt Qua (Mc 14:12–16).

Trước giờ đã định, Phêrô và Gioan đã chuẩn bị xong cho bữa ăn mừng Lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu và 10 môn đệ khác đến phòng tiệc.  Lúc đó khoảng 6 giờ chiều.  Tất cả chờ tiếng kèn đồng được các tư tế thổi tại Đền Thờ báo thời điểm mặt trời lặn để có thể bắt đầu dùng bữa.

Dạ Tiệc Bắt Đầu

Khi các môn đệ ngồi vào bàn ăn, cuộc tranh luận xảy ra về chuyện ưu tiên cao – thấp, trước – sau.  Chúa Giêsu quở trách họ và dạy bài học về đức khiêm nhường.  Ngài cởi áo, thắt lưng, đổ nước vào chậu, và rửa chân cho từng người.  Phêrô không chịu cho Thầy rửa chân mình, Chúa Giêsu nói với ẩn ý: “Anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu!” (Ga 13:10).  Thánh Gioan cho chúng ta biết rằng Chúa Giêsu ám chỉ môn đệ Giuđa.  Có thể Ngài nói lời đó khi di chuyển từ chỗ Phêrô tới chỗ Giuđa, và có ý cho Giuđa hiểu rằng Ngài đã biết rõ ý định đen tối của ông.

Khi mọi người yên vị, Chúa Giêsu nói thêm về bài học Ngài vừa dạy: “Anh em đã biết những điều đó, nếu anh em thực hành thì thật phúc cho anh em!”  Tiếp tục ám chỉ Giuđa, Chúa Giêsu nói: “Thầy không nói về tất cả anh em đâu.”  Có lẽ các môn đệ hiểu Chúa Giêsu đã sai lầm khi chọn một kẻ phản bội làm môn đệ, nên Ngài nói thêm: “Chính Thầy biết những người Thầy đã chọn, nhưng phải ứng nghiệm lời Kinh Thánh sau đây: Kẻ đã cùng con chia cơm sẻ bánh lại giơ gót đạp con” (Ga 13:17-18).  Câu này được Chúa Giêsu trích dẫn từ Cựu Ước (Tv 41:10), trực tiếp nói tới Đa-vít, và gián tiếp nói tới Đức Kitô, vì Đa-vít được mô tả trước về Đấng Mêsia – Đức Giêsu Kitô.  Chúa Giêsu cho các môn đệ biết trước để rồi họ sẽ nhận ra rằng lời tiên tri này nói về Ngài.

Tâm Thần Xao Xuyến

Thánh Gioan cho biết rằng Chúa Giêsu “cảm thấy tâm thần xao xuyến” (Ga 13:21).  Rõ ràng Chúa Giêsu phiền lòng vì sự hiện diện của Giuđa.  Ngài đã bật khóc vì thương Giêrusalem và nay lại buồn vì sự hiện diện của một con người được chọn mà chống lại Ngài, mê muội và cố chấp đi theo đường xấu.  Một lần nữa, Chúa Giêsu lại nói về sự phản trắc, lần này Ngài nói thẳng thắn hơn: “Thầy bảo thật anh em, có người trong anh em sẽ nộp Thầy, mà lại là người đang cùng ăn với Thầy” (Mc 14:18).  Chúa Giêsu cho biết lý do khiến Ngài xao xuyến.  Ngài bị phản bội bởi một người đồng bàn với Ngài, một người thân thiện thuộc Nhóm Mười Hai.

Cuối cùng, ý nghĩa trong lời nói của Chúa Giêsu cũng thấm sâu vào trí óc ngờ vực của các môn đệ.  Họ nhận ra rằng Ngài không dùng hình tượng trong lời nói mà Ngài xao xuyến.  Các môn đệ bắt đầu cảm thấy buồn và xao xuyến.  Họ nhìn nhau và thắc mắc, nhưng ánh mắt của họ buồn bã hơn là nghi ngờ.  Ai cũng sợ chính mình là người mà Thầy ám chỉ.

Chúa Giêsu đã xác định khi Giuđa hỏi có phải là mình hay không.  Chúa Giêsu vẫn tránh nói rõ kẻ phản bội và trả lời chung: “Chính là một trong Nhóm Mười Hai đây, mà là người chấm chung một đĩa với Thầy” (Mc 14:20).  Có thể cách diễn tả của Ngài chỉ là cách nói khác một chút: “Người cùng ăn với Thầy.”  Rồi Ngài nói tiếp: “Đã hẳn, Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người.  Nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người: thà kẻ đó đừng sinh ra thì hơn!” (Mc 14:21).  Chúa Giêsu chịu khổ nạn không phải là Ngài bị lừa hoặc bị ép buộc, mà Ngài chấp nhận hoàn toàn tự nguyện.

Đó là những lời đáng sợ nhất mà Chúa Giêsu đã nói khi còn trên thế gian.  Sự đe dọa đó không thể tránh: đó là lời đe dọa trực tiếp về án phạt đời đời đối với Giuđa.  Hẳn là tốt hơn cho Giuđa được sinh ra nếu thời gian không đến khi ông thị kiến hạnh phúc Nước Trời, nhưng điều có thể này có vẻ bị loại trừ qua lời nói của Chúa Giêsu.

Có thể là lời nói của Chúa Giêsu đã làm gián đoạn nghi vấn của các môn đệ: “Thưa Thầy, chẳng lẽ con sao?” (Mt 26:25a).  Giuđa biết rất rõ rằng Chúa Giêsu ám chỉ ông, nhưng ông lảng tránh, nên cũng hỏi Thầy xem sao, và Chúa Giêsu liền xác định: “Chính anh nói đó!” (Mt 26:25b).  Đối với những người khác hỏi, Chúa Giêsu không nói gì.  Nhưng với Giuđa thì Chúa Giêsu xác định ngay.  Rõ ràng là Giuđa giả hình và có ý định đen tối.

Giuđa Bỏ Trốn

Phêrô ra dấu với Gioan và hỏi nhỏ: “Hỏi xem Thầy muốn nói về ai?”  Gioan ghé sát vào Chúa Giêsu và thì thầm: “Thưa Thầy, ai vậy?”  Chúa Giêsu trả lời: “Thầy chấm bánh đưa cho ai thì chính là kẻ ấy” (Ga 13:26).  Rồi Ngài chấm một miếng bánh, trao cho Giuđa, con ông Simôn Ítcariốt.  Gioan thấy Giuđa nhận miếng bánh thì cảm thấy ái ngại.  Phúc Âm không thấy nói Gioan có cho Phêrô biết kẻ phản bội hay không, rất có thể Phêrô không biết.

Lúc này, Thánh sử Gioan lại đề cập sự ảnh hưởng của Satan: “Y vừa ăn xong miếng bánh, Satan liền nhập vào y” (Ga 13:27a).  Khi xác định Giuđa là kẻ phản bội, có vẻ như Chúa Giêsu loại ông khỏi tông đồ đoàn.  Giuđa càng bị Thiên Chúa loại trừ thì Satan càng thoải mái chiếm hữu ông.  Càng khước từ ơn Chúa thì càng yếu đuối, không đủ sức chống lại ma quỷ.

Hy vọng cuối cùng đối với Giuđa trở nên mong manh.  Chúa Giêsu không còn hy vọng gì ở Giuđa nữa.  Lực bất tòng tâm, Ngài nói với Giuđa: “Anh làm gì thì làm mau đi!” (Ga 13:27b).  Chúa Giêsu muốn không bận tâm tới sự có mặt của kẻ phản bội để có thể dành chút thời gian còn lại cho các môn đệ trung tín.  Các môn đệ khác nghe Chúa Giêsu nói và tưởng là Ngài bảo Giuđa mua đồ chuẩn bị lễ và bố thí cho người nghèo.

Có thể tưởng tượng rằng Thánh Gioan như chết lặng khi Giuđa bỏ ra ngoài sau khi nhận miếng bánh từ tay Chúa Giêsu.  Khi Giuđa đi ra cửa, Gioan thấy bóng tối bao phủ Giuđa như chiếc áo khoác.  Bóng tối bên ngoài tương phản với ánh sáng trong phòng.  Gioan nhận thấy sự tương phản đó nên đã viết: “Lúc đó, trời đã tối” (Ga 13:30).

Câu nói ngắn gọn của Thánh Gioan tạo ấn tượng mạnh mẽ.  Có vẻ như Thánh Gioan nhìn vào chính bóng tối khác với một hiện tượng vật lý; bóng tối mà Giuđa đi vào là một biểu tượng.  Đó là giờ của bóng tối, “người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa” (Ga 3:19); đó là thời của quyền lực tối tăm (Lc 22:53), quyền lực này đã chiếm hữu linh hồn Giuđa; chính vì bóng tối này mà ánh sáng chiếu soi, và “bóng tối đã không diệt được ánh sáng” (Ga 1:5).

Phêrô Vấp Ngã

Sau Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu tha thiết nói với 11 môn đệ để cảnh báo họ về những gì sắp xảy ra.  Ngài nói: “Đêm nay tất cả anh em sẽ vấp ngã vì Thầy.  Vì có lời đã chép: Ta sẽ đánh người chăn chiên, và đàn chiên sẽ tan tác” (Mt 26:31).  Ngài không ngoại trừ ai: Tất cả sẽ vấp ngã vì Ngài.

Chúa Giêsu trích dẫn lời Kinh Thánh trong sách Dacaria nói về Ngài: “Hãy đánh mục tử, đàn chiên sẽ tan tác” (Dcr 13:7).  Các sự kiện trong đêm hôm đó và ngày hôm sau thực sự ứng nghiệm mọi lời Chúa Giêsu đã nói về cuộc khổ nạn của Ngài.  Mặc dù các môn đệ đã được cảnh báo trước, chuẩn bị trước, họ vẫn không dám đối diện với sự thật, và thực tế tang thương của Đức Kitô đã khiến họ quá bất ngờ.

Một lần nữa, Phêrô lại làm ngơ những gì Thầy Giêsu đã nói và chuyển sang chủ đề khác mà ông đang nghĩ.  Ông hoàn toàn trái ngược với Thầy Giêsu.  Chúa Giêsu nói: “Anh sẽ vấp ngã, anh sẽ chối Thầy.”  Nhưng Phêrô nói mạnh: “Dầu tất cả có vấp ngã đi nữa thì con cũng nhất định là không” (Mc 14:29).  Ông rất tự tin, hoàn toàn xác nhận rằng tất cả các đồng môn vấp ngã, ngoại trừ ông – nghĩa là ông sẽ không bao giờ vấp ngã.

Lời xác quyết của Phêrô vô hiệu.  Câu trả lời của Thầy Giêsu quả quyết và xác định.  Lời nói trước rất rõ ràng và mạnh mẽ: “Thầy bảo thật anh: hôm nay, nội đêm nay, gà chưa kịp gáy hai lần, thì chính anh, anh đã chối Thầy đến ba lần” (Mc 14:30).  Các sự kiện đêm hôm đó chứng tỏ lời nói tiên tri của Chúa Giêsu về Phêrô và các môn đệ đều ứng nghiệm.

Đêm Định Mệnh

Trước khi rời Phòng Tiệc Ly, Chúa Giêsu và các môn đệ đã hát Thánh Vịnh – gọi là Hallel.  Đây là một phần trong nghi thức Lễ Vượt Qua.  Sau đó mọi người đi tới Vườn Dầu ở phía Đông.  Có lẽ lúc đó trong khoảng 10 giờ tới 11 giờ đêm.  Trăng rằm dịp Lễ Vượt Qua đã lên cao trên Núi Mô-áp ở phía Đông và tỏa ánh sáng nhạt trên thành phố tĩnh lặng.  Nếu truyền thống này đúng, nhóm lính tráng hẳn là không phải đi xa để tới dinh Cai-pha, nơi họ chuẩn bị bắt Chúa Giêsu ngay đêm hôm đó.

Chúa Giêsu và các môn đệ rời thành phố để tới thung lũng và ngang qua Fountain Gate.  Khi ra ngoài thành phố, họ đi về phía Bắc trên con đường dọc theo con suối Cedron, suối này khô cạn vào thời điểm đó.  Lúc này, nhìn suối Cedron sâu và tối, phân cách thành phố ở phía Tây với Núi Ô-liu ở phía Đông.  Họ đi dọc theo con đường ở dưới khe núi tối tăm, nhưng bên trên có ánh trăng chiếu sáng trên thành phố ở hai bên nên thấy ánh sáng mở trên các cây ô-liu ở triền núi.  Ngay đối diện Đền Thờ, không xa chiếc cầu hiện nay, hướng về phía Đông và tới Vườn Dầu trên sườn đồi.  Hành trình từ Phòng Tiệc Ly phải đi qua vùng địa thế khó khăn và có thể phải mất khoảng 30 phút.

Lm Ralph Gorman

Trầm Thiên Thu

 (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)

Chuyện định cư Đi hay Ở lại !!! 

Chuyện định cư Đi hay Ở lại !!! 

Bài hay nhất trong năm !!!

Đỗ Duy Ngọc

Trong tháng này, tui tiễn ba gia đình cùa ba người bạn đi định cư ở nước ngoài. Họ đều là những người thành đạt, giàu có ở Việt Nam. Rất thành đạt và tài sản tính đơn vị hàng triệu đô la.

Một bạn là doanh nhân, hai vợ chồng có tài sản khá lớn, nhiều bất động sản trên những khu phố vàng của Sài Gòn. Họ có ba đứa con đang tuổi lớn và đã có hai đứa đang học ở Mỹ. Gia đình anh đi diện EB5 định cư ở Mỹ.

Người thứ hai là một bác sĩ, anh là người thầy thuốc giỏi, từng tu nghiệp nhiều nước trên thế giới, tự hào đã nội trú nhiều bệnh viện lớn ở nước ngoài. Ở Việt Nam anh là bác sĩ có thu nhập khá cao, có biệt thự ở quận 2, có công việc ổn định. Vợ cũng là dược sĩ, có một pharmacie rất đông khách ngay trung tâm Sài Gòn. Anh chị chỉ có một đứa con gái, đang chuẩn bị vào đại học. Gia đình anh đi theo diện người chị vợ bảo lãnh đi Mỹ, hổ sơ chờ đã mười ba năm, từ lúc sự nghiêp anh chị chưa có bao nhiêu.

Người thứ ba là anh bạn học chung trường đại học, năm nay vừa đúng bảy mươi tuổi, đã đến tuổi già. Anh này cũng có một đời sống sung túc ở Việt Nam, hồi còn tuổi làm việc, anh là một quan chức ngân hàng, vốn là nghề của anh trước 1975. Hồi đó, sinh viên ngành ngân hàng, tài chánh ở Đại học Vạn Hạnh tốt nghiệp Cử nhân vào năm 1971-1972 đều được nhận vào các ngân hàng với chức vụ cao, một số làm ngay giám đốc các chi nhánh. Anh nằm trong số người được giao làm giám đốc. Sau 75, anh tiếp tục cho đến lúc nghỉ hưu. Nghề nghiệp thế nên cũng có thể gọi anh là giàu, có của ăn của để, có hai thằng con trai, đứa nào cũng thành đạt, một thằng có chức vụ trong ngành ngân hàng của Việt Nam, đưa kia làm chuyên viên tiền tệ ở nhà băng của Anh quốc. Nói tóm lại là thuộc giới thượng lưu ở xứ này. Bây giờ anh lại đi định cư ở Pháp theo diện bảo lãnh của người em.

Ba trường hợp nêu trên chứng minh họ đi định cư không phải vì sinh kế. Trước đây, ngoài lý do chính trị, đa phần ra đi vì đời sống ở Việt Nam thời đấy khổ quá, cả nước đói nghèo, họ đành dứt áo ra đi mong có tương lai sáng sủa, sung túc hơn. Còn bây giờ, như ba người bạn tui đó, họ ở Việt Nam rõ ràng là quá sung sướng về vật chất, họ chẳng thiếu thứ gì. Gia đình sinh hoạt như quý tộc, con cái sống như những hoàng tử và công chúa. Hàng năm họ đi du lịch khắp nơi, ở những khách sạn sang trọng, ăn những thức ăn với giá ngất trời. Nhưng họ vẫn ra đi.

Hỏi chuyện với họ, họ biết ra đi là sẽ gặp không biết bao khó khăn đang chờ trước mắt. Để làm lại một cuộc đời mới trên xứ sở xa lạ không phải là điều dễ dàng. Họ không ảo tưởng về nơi họ sẽ đến, vì họ đã từng du lịch qua đấy nhiều lần. Biết rất tường tận cuộc sống ở đó với những trở ngại khó lường.

Anh bạn bác sĩ bảo rằng anh rất yêu nghề y, nhưng khi định cư, muốn tiếp tục làm nghề, anh phải đi học lại, cũng đã gần qua tuổi năm mươi, ngổi học cũng không phải là điều dễ dàng. Và để sống, anh phải chọn một công việc nào đấy không như ý của mình.

Anh bạn doanh nhân dù có nhiều tiền nhưng để hợp thức hoá số tiền lớn đó cho hợp pháp cũng là điều khó khăn. Cho đến bây giờ, ngày đi đã đến, anh vẫn chưa hình dung con đường phía trước sẽ như thế nào?

Còn anh bạn đồng môn của tui, đã bảy mươi, sẽ chẳng có công việc gì dành cho anh nữa. Tui giỡn với anh thôi thì qua đó chiều chiều đi dạo sông Seine, hay lên đồi Montmartre ngắm mây bay hay ngồi trong khung cửa nhìn đám bồ câu bay lượn, chờ cuối đời nằm trơ trọi ở nghĩa trang xa lạ hay là trở thành một nhúm tro cốt nằm trong ngôi chùa hoặc thả bay trong gió. Anh cười buồn, một nụ cười chấp nhận.

Ai cũng buồn khi sắp rời bỏ quê hương. Ai cũng thấy đọan đường còn lại cũng lắm gian nan. Nhưng ai cũng bảo phải đi. Sức chịu đựng đã lên đến đỉnh rồi. Bởi cuộc sống không chỉ là tiện nghi,là vật chất để thụ hưởng. Mà cuộc sống còn cần phải có không khí để thở, tự do để sống, thoải mái để sinh hoạt. Sống chứ không phải để tồn tại. Sống là phải biết tương lai và tự mình định được tương lai cuộc đời mình. Những người bạn tui cho rằng ở lại là chấp nhận những bất công, những điều chướng tai gai mắt mà bất lực chẳng làm chi được. Xã hội tàn nhẫn quá, con người tàn ác quá. Ở lại là chấp nhận bị đầu độc, không chỉ bị đánh thuốc độc ở thực phẩm, ở hơi thở mà còn bị đánh độc cả tư duy. Chưa kể đất nước này, dân tộc này có còn tồn tại được không trước biết bao âm mưu thâm độc của kẻ thù và sự hà hơi tiếp sức của một bộ phận có quyền lực. Anh bạn già hỏi tui với ánh mắt buồn rầu: Cho thuê đất 99 năm thì nước Việt còn gì? Bạn trả lời tôi đi.

Anh bạn bác sĩ thì bảo không thể cho các con của mình lớn lên với một tâm hồn bệnh hoạn, một nhân cách méo mó và một cách sống giả tạo, dối lừa. Anh hỏi tui: Bây giờ ở Việt Nam, có gì là không láo? Láo tất. Do vậy tôi phải đi để tôi, gia đình tôi, con cháu tôi được sống và nghĩ suy bằng sự thật không dối lừa. Chúng tôi chọn ra đi như một cách phản kháng. Phản kháng trong im lặng. Và đành bỏ lại những thứ mà chúng tôi sẽ không bao giờ làm lại được ở xứ người..

Anh bạn doanh nhân thì bảo rằng, biết con đường trước mặt, sau lưng đầy cứt, thì tại sao không chọn con đường sạch mà đi.

Ở đây, tui chỉ đề cập đến chuyện ba người bạn của tui, tui không muốn nói đến những cán bộ, những người đã từng là quan chức của chế độ, có người từng là tổng biên tập một tờ báo lớn, những người một thời là những người đã từng tham gia hoạt động đấu tranh ở các đô thị miền Namhọ hiện đang ở đầy xứ Mỹ, tiểu bang nào cũng có. Họ trốn chạy cái gì? Tui đã từng hỏi thế và họ cũng cười buồn. Bỏ qua những tên ăn cắp công quỹ mà trốn chạy. Những người khác đều ôm trong lòng một nỗi thất vọng không nói được.

Mà thôi, mỗi người có một cách để chọn lựa cuộc sống cho mình. Tôi chọn ở lại, các anh chọn ra đi. Đó cũng là chút tự do mỗi người có được chọn cho mình.Ngày xưa chỉ cần rời làng, đã mang tiếng ly hương, xa quê là nỗi đau. Bây giờ, người ta ồ ạt tìm mọi cách bỏ nước mà đi, có nỗi đau nào hơn cho một dân tộc, nhưng phải chấp nhận thôi. Tất cả các loài hoa đều vươn về phía ánh sâng, có hoa nào chịu chết rũ héo hon trong bóng tối đâu. Và ở trong bóng tối, có ai lại không nguyền rủa bóng tối.

Chúc những người bạn của tôi bình an và có cuộc sống mới như ước mơ ở xứ người

From: nghia truong 

Mưa Sài Gòn Còn Buồn Không Em

httpv://www.youtube.com/watch?time_continue=115&v=RHHMhe1-9lo

Mưa Sài Gòn Còn Buồn Không Em | Trình bày: Hồ Hoàng Yến | Nhạc: Nguyệt Ánh | Hoà âm: Trúc Sinh

 44 năm trôi qua kể từ ngày 30 tháng 04 năm 1975. Tuy rằng đó là một sự mất mát đau đớn nằm ngoài tầm kiểm soát vận mệnh của người miền Nam. Nhưng 44 năm sau kể từ ngày đó, người Việt hải ngoại từ thủ đô Washington, đến Paris, Sydney, Toronto, Brazil đến Nam Phi, và tại các thủ đô trên khắp thế giới đang làm chủ lấy vận mệnh của mình, đang phân định thật rõ làn ranh giữa nô lệ ý hệ ngoại lai và văn hóa dân tộc. Không một thế lực tay sai nào, dù có núp bóng dưới bất cứ chiêu bài gì cũng không thể nào phá vỡ được làn ranh này.

Ngày 30 tháng 04 đã làm sáng tỏ chính nghĩa dân tộc và làm lộ nguyên hình bản chất tay sai của đảng cộng sản Việt Nam. Chúng đội lốt dân tộc để dâng đất nước cho quan thầy quốc tế. Kể từ ngày 30 tháng 04 trở đi, người Việt tỵ nạn cộng sản đã khẳng định và giữ vững di sản dân tộc mà biểu tượng của nó là lá cờ vàng ba sọc. Ở bất cứ ngỏ ngách nào trên thế giới có bước chân của người tỵ nạn, ở đó có lá cờ vàng và một Little Saigon.

44 năm trôi qua, người Việt dân tộc đã thắng trên mặt trận văn hóa, truyền thông, và đã sử dụng sức mạnh mềm để từng bước một tạo các diễn biến từ bên trong nội bộ của những kẽ đội lốt dân tộc chỉ nhằm phục vụ quyền lợi ngoại bang. Người Việt dân tộc đang đứng bên chiều thuận của lịch sử, và kiên nhẫn để chờ đón một ngày mới khi lịch sử sang trang.

 From SBTN

Bài viết của FB Đỗ Ngà : “MỘT GÓC NHÌN KHÁC VỀ LỜI ĐỒN”

Chuong Tieng and Thai Doan shared a post.
Image may contain: 1 person, text

Võ Hồng Ly is with Võ Hồng Ly.

15.04.2019

Bài viết của FB Đỗ Ngà : “MỘT GÓC NHÌN KHÁC VỀ LỜI ĐỒN”

Nhà xưởng của tôi, công ty của tôi, tôi bỏ tiền ra thuê anh làm giám đốc điều hành. Như vậy, tôi yêu cầu anh trước hết phải là người có sức khỏe tinh thần và sức khỏe về thể chất, đồng thời anh phải giỏi về chuyên môn, thế thôi. Một ngày kia anh đổ bệnh thì tôi có quyền biết. Vì đơn giản, sức khỏe của anh ảnh hưởng đến số phận toàn công ty. Anh không có quyền đặt điều kiện với tôi rằng, tôi không có quyền biết về bệnh của anh. Vâng tôi sẽ không đòi hỏi, trừ khi anh nghỉ việc.

Tương tự như vậy, đây là đất nước của 100 triệu dân. Dân đóng thuế thuê anh quản lý đất nước. Sức khỏe tinh thần và thể chất của anh, đương nhiên 100 triệu dân chúng tôi phải được biết. Vận mệnh đất nước này gắn với số phận của 100 triệu dân hiện tại và hàng trăm triệu dân của thế hệ tương lai, rủi anh tự nhiên đổ bệnh thành kẻ tâm thần, vậy thì số phận 100 trăm triệu dân phải chấp nhận nằm trong tay một thằng điên à?

Các anh nói rằng, sức khỏe các anh là bí mật quốc gia được luật quy định hẳn hoi. Luật này là thứ luật gì? Anh là người được 100 triệu dân thuê anh làm quản lý, vậy luật là phải do chúng tôi viết chứ sao luật lại là của anh viết ra nhỉ? Các anh viết luật rồi căn cứ vào luật đó để biện minh cho cái sai của các anh. Thế là thế nào? Vừa là cầu thủ, vừa là trọng tài à?

Sức khỏe của ông Nguyễn Phú Trọng như thế nào, dân có quyền được biết đó là lẽ đương nhiên. Chính quyền cố giấu, thì dân có quyền suy diễn. Vì sao? Vì số phận của dân nằm trong căn bệnh đó. Nhân dân có quyền được biết số phận của họ có bị nằm trong tay một kẻ bệnh hoạn không? Vì thế, việc lời đồn xuất hiện trên mạng về tình hình sức khỏe của ông Nguyễn Phú Trọng là điều cần thiết. Thậm chí suy diễn càng ghê sợ càng tốt. Các anh nói rằng họ nói sai sự thật. Vậy sự thật đâu? Sao các anh không trưng ra cho dân biết để đối chiếu? Đã không có cái đúng thì cũng không tồn tại cái sai, thế thôi !

Thiết nghĩ sự tung tin đồn thất thiệt trong trường hợp bưng bít thông tin là cần thiết. Vì sao? Vì nó như là một biện pháp đối phó với trò che giấu sức khỏe lãnh đạo mà nhà cầm quyền đang áp dụng. Tôi nghĩ, nó là một dạng của sự bất tuân dân sự mà thôi. Hơn nữa, nó rất cần thiết để đánh động lương tâm con người, rằng chúng ta cần phải làm gì đó để số phận chúng ta không phải nằm trong tay một kẻ bệnh hoạn. Cho nên, đừng công kích những người tung tin đồn, mà hãy xuống đường yêu cầu nhà cầm quyền dẹp ngay cái luật vô lý “sức khỏe lãnh đạo là bí mật quốc gia” đi. Muốn dập tắt lời đồn rất đơn giản, hãy minh bạch sức khỏe lãnh đạo, chỉ thế thôi !

-Đỗ Ngà-

Hình : VHL minh họa.

Nữ tù binh duy nhất tại nhà tù Hỏa Lò là một nữ y tá người Tây Đức, đã qua đời…

Image may contain: 2 people, people smiling, closeup and indoor

Image may contain: 1 person
Image may contain: 4 people, people smiling, text
Image may contain: 2 people, people smiling, people standing

Van Pham

Nữ tù binh duy nhất tại nhà tù Hỏa Lò là một nữ y tá người Tây Đức, đã qua đời…

Hiếu Bá Linh,

Trong thời chiến tranh Việt Nam từ ngày 05/08/1964 đến 29/03/1973, nhà tù Hỏa Lò ở Hà Nội là nơi giam giữ hàng trăm tù binh Mỹ, nhưng có rất ít người biết trong số tù binh ở nhà tù Hỏa Lò có một nữ tù binh duy nhất. Nữ tù binh này không phải là người Mỹ, mà cũng chẳng phải là lính Mỹ. Cô là một y tá người Đức (Tây Đức), tên là Monika Schwinn, sang Đà Nẵng làm việc thiện nguyện giúp nạn nhân chiến tranh. Sau gần 4 năm bị bắt giam, mặc dù không phải là người Mỹ và lính Mỹ, nhưng cô Monika Schwinn được thả ra khỏi nhà tù Hỏa Lò chung với những tù binh Mỹ ngay sau khi Hiệp định Paris 1973 được ký kết.

Nữ y tá Đức Monika Schwinn, 31 tuổi, sau gần 4 năm tù bị giam cầm đã mừng rỡ khi đặt chân trở lại quê hương ngày 7/3/1973

Năm 1967, một con tàu của hy vọng sơn màu trắng, đến thả neo ở Ðà Nẵng. Ðó là con tàu y tế “Helgoland” của Tây Đức, còn được gọi là bệnh viện nổi, phục vụ cứu trợ nhân đạo cho các nạn nhân chiến tranh do Hồng Thập Tự của Tây Đức thực hiện. Cùng hoạt động trong thành phố ấy còn có các toán y tế thuộc tổ chức Malteser Hilfsdienst, một tổ chức từ thiện Thiên chúa giáo tại Tây Đức, gồm các bác sĩ, nữ y tá và các nhân viên khác. Đây là các chương trình cứu trợ nạn nhân chiến tranh của CHLB Ðức, họ đã chữa trị cho cả hàng trăm ngàn thường dân Việt Nam, không phân biệt người theo cộng sản hay quốc gia.

Trong khi con tàu y tế “Helgoland” của Hồng Thập Tự chỉ hoạt động ở Việt Nam trong một thời gian ngắn khoảng 1 năm, thì tổ chức Malteser Hilfsdienst thực hiện công việc thiện nguyện suốt gần 9 năm, từ ngày 07/09/1966 đến 10/04/1975, với tổng cộng 303 nhân viên gồm bác sĩ, y tá và người săn sóc bệnh nhân v.v… phục vụ chăm sóc y tế cho người dân Việt Nam – đặc biệt là ở Đà Nẵng, An Hòa và Hội An.

“Ðến nhờ chúng tôi chữa trị có những người lớn tay chân bị đứt lìa, và cả những đứa bé bụng bị rách toang…”, Walter Ruhland kể lại về thời gian phục vụ của mình ở Việt Nam như vậy, trong ánh mắt anh vẫn còn đầy vẻ khiếp sợ về những hình ảnh ấy. Anh là thợ cơ khí xe tải, tham dự chương trình cứu trợ Malteser Hilfsdienst hơn 40 năm trước đây, lúc ấy bỗng nhiên thấy mình hiện diện trong một cuộc chiến rất “ác liệt và tàn bạo“.

Đối với cô Monika Schwinn ở Lebach, thuộc bang Saarland, giúp đỡ những người gặp khó khăn là điều tự nhiên. “Cô ta luôn luôn hết sức sẳn lòng giúp đỡ“, anh họ Adolf Spaniol nhớ lại. Ban đầu, người phụ nữ trẻ ở Lebach này học nghề thợ làm tóc. Nhưng nghề thực sự cô yêu thích lại là y tá chăm sóc trẻ em.

Không có gì ngạc nhiên với gia đình cô khi vào năm 1968, lúc 26 tuổi, cô đã đáp ứng lời kêu gọi của tổ chức thiện nguyện Malteser Hilfsdienstes: Cần các bác sĩ và y tá phục vụ cho các bệnh viện ở Nam Việt Nam để giúp đỡ dân chúng, nạn nhân của cuộc chiến kéo dài không hồi kết. Cô Monika Schwinn hạnh phúc khi cô làm việc tại khoa nhi ở bệnh viện Đà Nẵng.
Bác sĩ và y tá của tổ chức cứu trợ Đức Malteser Hilfsdienst đang khám bệnh cho một em bé Việt Nam. Photo Courtesy

Năm nhân viên Malteser Hilfsdienst bị Việt Cộng bắt cóc

Nhưng một ngày nghỉ cuối tuần 27/04/1969 đã trở thành một ngày định mệnh đối với cô Monika Schwinn. Cô cùng với nữ đồng nghiệp Marie-Louise Kerber từ Nohfelden-Türkismühle cũng thuộc bang Saarland, anh Bernhard Diehl 21 tuổi, và hai y tá khác: cô Hindrika Kortmann và anh Georg Bartsch bị phục kích. Họ đi một chuyến dã ngoại tưởng như bình thường, nhưng sau đó họ rơi vào một cuộc phục kích bên một cánh đồng lúa, bỗng nhiên xuất hiện mười lăm tay súng Việt Cộng, lăm lăm chĩa mũi súng vào họ.

Khi được đưa vào làng, cả năm người đều hết sức tìm cách “chứng minh” mình chỉ là nhân viên y tế, mà là người “Đức”, chứ không phải người Mỹ! Vô hiệu quả. Nhóm Việt Cộng luôn đe dọa “cắt đầu”. Vài giờ sau khi bị bắt cóc, có lúc Bernhard Diehl đã quay sang nói với các đồng nạn nhân của mình, trong đó có cô Marie Luise Kerben, mới 19 tuổi: “Nguy quá, chắc phải mất ít nhất một năm để chúng mình mới được can thiệp cho trở về nhà”.

“Đây thực sự là chiến tranh“, Bernhard Diehl ngạc nhiên nhận ra, khi anh đến Việt Nam năm anh 21 tuổi. Trong thời gian đi nghĩa vụ quân sự, anh đã được đào tạo như một nhân viên y tế, tại Việt Nam anh là người đứng đầu đội y tá Malteser ở An Hòa gần Đà Nẵng. Ban ngày vùng này được coi là an toàn. Nhưng ban đêm, đó là “khu vực tranh chấp“, một khu vực nơi quân du kích Việt Cộng đang cố gắng mở rộng ảnh hưởng. Anh Bernhard Diehl và đội y tá của anh chăm sóc các thương binh ở cả hai phía và dân chúng.

Năm nhân viên của tổ chức thiện nguyện Malteser Hilfsdienst đã bị Việt Cộng bắt giữ ngày 27/04/1969

Nguyên do tại sao 5 nhân viên cứu trợ y tế của Tây Đức bị Việt Cộng bắt cóc?

Trong chiến tranh Việt Nam, CHLB Đức không đáp ứng yêu cầu của đồng minh Mỹ đưa quân đội vào tham chiến tại Việt Nam. Để bù lại, CHLB Ðức hiện diện tại miền Nam Việt Nam (Việt Nam Cộng hòa) với vai trò đóng góp nhiều về viện trợ kinh tế, giáo dục, cứu trợ y tế, cứu trợ nạn nhân chiến tranh v.v…

Vậy tại sao 5 nhân viên người Tây Đức làm nhiệm vụ cứu trợ y tế của tổ chức thiện nguyện Malteser Hilfsdienst lại bị Việt Cộng bắt cóc?

Lý do là vì Cộng hòa Dân chủ Đức đã sử dụng Chiến tranh Việt Nam cho một chiến dịch tuyên truyền chống Tây Đức. Đây là một chiến dịch tuyên truyền rất là thâm độc của Ðông Bá Linh! Các nhân viên tuyên truyền kích động của CHDC Ðức dựng lên hình ảnh một nước Tây Ðức gây chiến và Cộng hòa Liên bang Đức là chư hầu của Mỹ, những người Tây Đức tình nguyện mặc áo bác sĩ chỉ là ngụy trang, họ chính là những người trợ giúp quân sự cho Nam Việt Nam.

Đồng thời họ ngụy tạo tin quân đội CHLB Ðức gởi một đội quân bí mật sang Việt Nam dưới cái tên là “Legion Vietnam” (Binh đoàn lê dương Đức tại Việt Nam)! Báo “Neues Deutschland” (Nước Ðức Mới) của Đảng Cộng sản Đông Đức (SED) mô tả con tàu y tế “Helgoland” trong bức tranh biếm họa như một tàu chiến, với hình khắc trên boong mũi là một người lính.

Ngoài ra, ông Albert Norden, lãnh đạo tuyên truyền trong Bộ Chính trị đảng SED (SED là tên viết tắt của Ðảng Xã hội Thống nhất Ðức) ngụy tạo ra một số người làm “nhân chứng” về việc có chiến đấu võ trang trong các toán công tác cứu trợ của CHLB Ðức!

Sự dối trá ấy đưa đến một tác động ghê gớm ngay. Nhân viên cứu trợ bỗng nhiên bị đánh đồng, coi ngay như là “tay sai của Ðế Quốc Mỹ”, và thế là mạng sống của họ bị rơi ngay vào hiểm nguy thường xuyên của cuộc chiến. Các nhân viên cứu trợ Tây Ðức bị đưa ngay vào “sổ đen” của Việt Cộng.

Tiến sĩ Hermann von Richthofen, hiện cư ngụ tại Berlin, hồi đó được gửi đến Đại sứ quán CHLB Đức tại Sài Gòn với tư cách là một cố vấn trẻ trong ngoại giao đoàn, sau này cũng làm việc ở Đông Berlin, ông đã nói vắn tắt về mục tiêu tuyên truyền của CHDC Ðức như sau: “Tôi nghĩ rằng, Ðông Ðức chỉ muốn bằng mọi cách làm Tây Ðức chúng ta bị suy yếu, không chỉ trên bình diện quốc tế, mà cả trong nội bộ nước CHLB Ðức. Đó là việc gây ảnh hưởng tác động đến thế hệ 68, họ dễ bị mắc phải vào sự tuyên truyền của Đông Đức. Và bằng cách thức này có thể xáo trộn xảy ra để một chính phủ khác lên cầm quyền“.

Sau khi 5 nhân viên của tổ chức thiện nguyện Malteser Hilfsdienst bị Việt Cộng bắt cóc, họ bị áp giải từ Nam ra Bắc, đi bộ dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh. Monika Schwinn và những người cùng khổ của cô phải đi hết khu rừng này đến khu rừng khác. “Đó là một phòng giam nhỏ, rộng khoảng một mét rưỡi và dài hai mét rưỡi. Cái giường là một vài tấm ván nằm trên sàn bê tông ở độ cao từ 20 đến 25 cm. Một nửa mét vuông là dành để cái xô vệ sinh“, Monika Schwinn viết trên báo Der Spiegel (Tạp chí Tấm gương) sau khi được thả ra hồi năm 1973.

Họ bị thẩm vấn, tra tấn, hầu như không được ăn gì. Bệnh tật và bị hạ nhục xảy ra thường xuyên. Ba trong số năm người đã không sống sót. Cô Marie-Louise Kerber chết lúc bị giam cầm hồi năm 1969, mãi đến năm 1997 mới có thể đưa hài cốt cô về Saarland chôn cất. Monika Schwinn cũng thường cận kề với cái chết hơn là sự sống. Nhưng cô đấu tranh kiên cường, không để bị sỉ nhục. “Cắn vào tôi là họ gãy răng“, cô viết.
Hai y tá Monika Schwinn và Bernhard Diehl sau khi được thả ra khỏi nhà tù Hỏa Lò ngày 05/03/1973 về đến CHLB Đức vào ngày 07/03/1973.

Sau 1.346 ngày bị cầm tù (gần 4 năm), trong thời gian cuối, bị giam giữ trong nhà tù khét tiếng Hỏa Lò tại Hà Nội, Monika Schwinn và Bernhard Diehl cuối cùng đã được trả tự do vào ngày 05/03/1973 sau khi Hiệp định Paris kết thúc của Chiến tranh Việt Nam được ký kết. Ngày 07/03/1973 tại sân bay Tây Đức ở Frankfurt am Main, họ được nồng nhiệt chào đón bằng những biểu ngữ.

Báo chí và truyền thông chen lấn chung quanh họ. Tạp chí Stern (Ngôi sao) đưa ngay lên trang bìa, làm thành đề tài chính của số báo. Trên báo Der Spiegel (Tạp chí Tấm gương), Monika Schwinn viết hồi ký về những gian khổ của cô đã trải qua trong gần 4 năm bị giam cầm tại miền Bắc Việt Nam. Thậm chí cô cùng với Bernhard Diehl còn viết một cuốn sách ấn tượng: “Một chút ít tình người“. Tại bang Saarland, quê hương của cô, cô được Thống đốc Franz-Josef Röder (thuộc đảng CDU) chào đón và được thành phố Lebach vinh danh thành công dân danh dự.

Đến một lúc nào đó những vinh quang lắng dịu, và Monika Schwinn đi làm y tá trở lại tại Lebach, chăm sóc trẻ sơ sinh. Cô cũng giúp những thuyền nhân tị nạn Việt Nam khi họ đến Lebach, như một điều tất nhiên. “Cô ấy luôn tạo ấn tượng vui vẻ với tôi“, anh họ Adolf Spaniol của cô nói.

Nhưng bị giam cầm một thời gian dài trong một điều kiện cực kỳ khắc nghiệt như vậy, cô không thể hồi phục hoàn toàn giống như trước trước đây được. Cô không lập gia đình và đã nghỉ hưu ở tuổi 55. “Cô ấy thường xuyên bị ốm“, anh họ của cô nói, “có lẽ điều mà cũng làm cô ấy đau là người ta không còn nhớ đến cô nữa“. Người ta đã quên cái giá mà cô ấy đã trả cho sự sẳn lòng giúp đỡ của cô ta.

Hôm thứ Hai 11/03/2019, Monika Schwinn qua đời, thọ 76 tuổi, trong bệnh viện ở Lebach, nơi cô làm việc y tá ở khoa nhi trong một thời gian nhiều năm dài.

Vào thứ Năm tới, ngày 21/03/2019, lúc 1 giờ chiều, buổi tang lễ cầu nguyện cho Monika Schwinn đã diễn ra tại nhà thờ giáo xứ ở Lebach.

– Nữ y tá Đức Monika Schwinn, 31 tuổi, sau gần 4 năm tù bị giam cầm đã mừng rỡ khi đặt chân trở lại quê hương ngày 7/3/1973
– Bác sĩ và y tá của tổ chức cứu trợ Đức Malteser Hilfsdienst đang khám bệnh cho một em bé Việt Nam. Photo Courtesy
– Năm nhân viên của tổ chức thiện nguyện Malteser Hilfsdienst đã bị Việt Cộng bắt giữ ngày 27/04/1969.
– Hai y tá Monika Schwinn và Bernhard Diehl sau khi được thả ra khỏi nhà tù Hỏa Lò ngày 05/03/1973 về đến CHLB Đức vào ngày 07/03/1973.

Clip phim tài liệu “Cứu trợ nhân đạo tại Việt Nam của tổ chức từ thiện Tây Đức Malteser Hilfsdienst:

https://youtu.be/VzMGGz7iZv0

Thế là cái “trại súc vật” muôn đời vẫn còn nguyên chỉ thay người chăn.

Cộng sản có 19 UV BCT, 200 UV TW đảng, khoảng gần 4 triệu đảng viên, chưa kể lực lượng đoàn viên kế cận.

Nếu 1 ngày chết một tên, thì một năm chết 365 tên, 10 năm chết 3.650 tên, 100 năm chết 36.500 tên, 1000 năm chết 365.000 tên.

Đó là chưa kể cộng sản cha đẻ ra cộng sản con vì cái cần tăng dân số của chúng hoạt động liên tục.

Cho nên chờ “chết thằng nào hay thằng đó” nghe mệt. Mỗi vị trí trong bộ máy đảng, nhà nước, chính phủ… đều đã dự trù sẵn phương án thay thế mỗi khi ai đó “đột tử”.

Sau mỗi 5 năm cộng sản đã lên phương án để đưa nhân sự vào thay thế các vị trí lãnh đạo địa phương, ban ngành và cơ cấu trung ương. Vấn đề này ban tổ chức trung ương đảng quyết chứ không phải dân quyết.

Chỉ là trong bầu cử quốc hôị cũng cho dân bày vẽ đi bỏ phiếu cho có vẻ dân chủ. Kỳ thực đại biểu của dân bao nhiêu người, cơ cấu như thế nào đảng đã nắm trước cả rồi.

Cho nên nói bây giờ Nguyễn Phú Trọng có đột tử thì Trần Quốc Vượng lên thay. Bộ máy đảng vẫn hoạt động như thế, chẳng thay đổi chút nào.

Chỉ là dân đen nghĩ chắc có thay đổi trong thượng tầng nên không thèm đấu tranh mà chỉ hóng. Thế là cái “trại súc vật” muôn đời vẫn còn nguyên chỉ thay người chăn.

Tác giả: Dương Hoài Linh(https://www.facebook.com/100001185069851/posts/2060218604027622?sfns=xmo)

Làm chi thì đã làm sao

Làm chi thì đã làm sao

Bài NGUYỆT QUỲNH

Có người bảo: “nụ cười là ngôn ngữ chung của toàn thế giới và là điểm bắt đầu của mọi yêu thương.” Thế nên, xin cám ơn bác tài xế nào đó đã cho tôi mỉm cười và cái cảm giác ấm áp khi nhìn thấy bức ảnh của anh. Bức ảnh chụp một giàn phòng thủ nghiêm ngặt của công an, cơ động ở trạm BOT Bắc Thăng Long – Nội Bài trong ngày 15/3 vừa qua. Nghe nói có vào khoảng 200 công an, an ninh, cơ động đã được điều tới đây với đầy đủ dùi cui và vũ trang. Ngoài ra, còn có cả xe phá sóng và xe chở phạm nhân túc trực ngay bên trạm.

Nhà nước thì căng như thế, như đang canh chừng khủng bố hay bạo loạn; trong khi người dân thì lại cười mỉm chi một mình trong xe, với lời nhắn trên Phây “đang cảm thấy được chào đón.”
Đối với người VN, theo tôi, nụ cười còn chất chứa nhiều hơn yêu thương; nó ẩn dấu sự bất khuất, là bản lĩnh của một con người trước cường quyền. Chúng ta còn nhớ một bài thơ của Thủ Khoa Huân, ông viết trong ngày bị thực dân Pháp áp giải đi hành hình. Từ nhà ngục Mỹ Tho đi thuyền đến Bến Tranh, trong tiếng trống inh ỏi nhằm quy tụ người dân và uy hiếp tinh thần người yêu nước; kẻ bị đóng gông đã ngồi viết bài thơ “Mang Gông.” Bài thơ mà cả trăm năm sau đọc lại, ta còn cảm được cái khí phách, cái ngạo
Hai bên thiên hạ thấy hay không?
Một gánh cương thường, há phải gông!
Oằn oại hai vai quân tử trúc,
Long lay một cổ trượng phu tòng.
Sống về đất Bắc danh còn rạng,
Thác ở thành Nam tiếng bỏ không.
Thắng bại, dinh hư trời khiến chịu,
“Phản thần”, “đéo oả” đứa cười ông!

Thế nên, tôi hiểu vì sao trong phiên xử Lê Đình Lượng thấy anh mỉm cười trước án tuyên 20 năm. Ls Đặng Đình Mạnh đã chia sẻ về anh như những con người vác thập giá cứu chuộc cho quê hương “những bước chân trần của tiền nhân trên Đồi Sọ thuở trước.”

Quay trở lại với cái ngày mà BOT Bắc Thăng Long được bao vây bởi dùi cui và bạo lực để khẳng định sức mạnh của kẻ cầm quyền. Rõ ràng khi bạo lực đứng về phía sai trái, nó đánh thức lòng tự trọng của đa số người dân thầm lặng, nó thúc đẩy người ta phải can đảm đứng lên cho lẽ phải, một điều mà các nhà hoạt động trong thời điểm trấn áp gay gắt hiện nay không có khả năng truyền đạt tới đồng bào của họ. BOT “bẩn” có thể chỉ đang là một vết nứt nhưng nó báo hiệu ngày con đê sẽ vỡ. Chúng ta thấy điều đó qua quyết tâm của những người như chị Trần Thị Thu Thủy, hai người bạn của chị, và hai tài xế vô danh.
Khi biết BOT Bắc Thăng Long đang bị công an, quân đội bủa vây; chị Thủy cùng các bạn quyết định qua trạm. Lượt đi, họ qua trạm suôn sẻ; nhưng lượt về mới là cơ hội để họ đối đầu. Công an đã đến vây xe, tự động mở cửa, giật điện thoại, lôi xềnh xệch cả năm người ra rồi tống họ lên một chiếc xe thùng đã đợi sẵn. Ở tại đồn công an huyện Sóc Sơn, họ bị giam giữ suốt 30 tiếng đồng hồ và bị phạt vạ lên đến hai triệu rưỡi. Tuy nhiên, chị Thủy đã lên tiếng với BBC sau đó, rằng chị sẽ không từ bỏ việc chống lại các trạm BOT “bẩn,” và chị xem đó là việc làm chống tham nhũng để giúp đất nước phát triển, …
*
Người dân thường, trước sai trái, còn phản ứng mạnh mẽ như thế, thế thì lãnh đạo CS lấy đâu ra uy lực mà đòi kỷ luật các ông Chu Hảo hay Trần Đức Anh Sơn.

Khi Gs Chu Hảo bị khai trừ khỏi đảng, lập tức kích thích cả một đội ngũ đảng viên hăm hở từ bỏ đảng như ngày hội. Có ít nhất 13 trí thức đã tự động theo chân Gs Chu Hảo như các ông: Ts Mạc Văn Trang, nhà văn Nguyên Ngọc, Ts Trần Thanh Tuấn, Ls Lê Văn Hòa, Ks Hoàng Tiến Cường, Giảng viên Dương Bích Hà, … Với người đảng viên CS, nếu ngày vào đảng trước kia được coi là một ngày thiêng liêng, thì nay người ta từ bỏ đảng như vất cái áo cũ, như rũ một gánh nặng. Chẳng hạn như đảng viên hưu trí Hà Quang Vinh: “tôi xin tuyên bố TÔI TỪ BỎ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM, một tổ chức chính trị mà tôi đã gia nhập và phục vụ 43 năm qua. Bởi những gì tôi đã thấy và đã hiểu. Với niềm tin sau cơn mưa trời lại sáng của dân tộc ta.”

Ks Hoàng Tiến Cường thì “Không biết nói gì cho đủ. Không giờ 1 phút, ngày 27/10/18, tôi long trọng xin được tuyên bố: TÔI TRỞ VỀ VỚI QUẦN CHÚNG!” Hay, như ông Lê Nguyễn Hoàng, cư dân Hà Nội “tôi chính thức tuyên bố – từ bỏ hết từ Đội đến Đoàn. Trước nhân dân Tôi xin tuyên thệ nguyện một lòng làm một người công dân hết lòng với tổ quốc Việt Nam!” Và Ts Trần Thanh Tuấn “ngày vào đảng thì tôi không nhớ nhưng ngày hôm nay 27/10/18 chắc tôi sẽ nhớ mãi.”

Riêng đối với trường hợp của Ts Trần Đức Anh Sơn, cái quyết định kỷ luật, khai trừ đảng của Ban Thường Vụ Thành Ủy Đà Nẵng chỉ khiến người bị kỷ luật … “cười mỉm.” Cứ xem cái cách ông trả lời bạn đọc thì biết! Khổ một nỗi, khi người trí thức cười thì không chỉ một mình họ cười. Cái hóm hỉnh, ý nhị của ông làm người ta liên tưởng đến cái duyên dáng, bản lĩnh của nhà báo Phan Khôi thuở nào.

“Trần Đức Anh Sơn: Xin trả lời các bạn” là tựa đề một bài viết ngắn của tác giả, nhằm trả lời các câu hỏi vì sao ông bị khai trừ khỏi đảng. Theo Trần Đức Anh Sơn thì chỉ tại 3 status ông đăng trên Facebook cá nhân, vào các ngày 5/18/08, 18/8/18 và 2/9/18 mà ra cớ sự.

Đọc kỹ, thì không thấy ông viết gì nhiều, mỗi status chỉ có dăm chữ, status dài nhất của ông chỉ có 22 chữ. Cái lỗi của ông là đã chỉ ra cái xấu xa của cán bộ, và dám vạch trần những trơ trẽn của ban tuyên giáo; biến những “tuyên huấn” của đảng thành trò cười cho thiên hạ.

Thật ra, vạn vật trong trời đất đều tuân theo quy luật đào thải để tiến hoá. Khi người ta từ bỏ đảng thì không phải là “tự diễn biến, tự chuyển hóa” như lời TBT đâu. Những gì lạc hậu, không còn phù hợp, không ăn khớp, không đáp ứng những nhu cầu khách quan; những gì đi thụt lùi, trái với quy luật phát triển thì sẽ bị đào thải. Thế thôi. Do đó, ngày nào đảng không tự chấn chỉnh mà chỉ lo đối phó với dân như bắt bớ, bỏ tù nhiều năm, trấn áp bằng bạo lực,… thì đảng cũng đang chọn đi “đúng quy trình” của những quốc gia độc tài đã bị đào thải.

Một khi dùng hình thức kỷ luật các cán bộ đảng, hay huy động lượng vũ trang hùng hậu chốt ở các BOT mà vẫn không hù dọa được ai thì chỉ có hai điều lãnh đạo cần phải hiểu:
1) Đã đến lúc, bạo lực chỉ làm cho người dân thêm mạnh mẽ.

2) Đã đến lúc, bạo lực chỉ làm vết nứt của con đê sớm vỡ toác ra.
Khi đất nước đứng bên bờ tử sinh thì chọn lựa thuộc về mỗi cá nhân. Ngày xưa, rất hiếm những người bản lĩnh như cụ Phan Khôi, nhưng ngày nay, không khó để tìm ra những người dân bình thường vẫn ung dung trước bạo lực. Họ là những người đang miệt mài chống BOT “bẩn” trên khắp các nẻo đường từ Nam ra Bắc. Là chị Thủy và những lái xe vô danh ở BOT Bắc Thăng Long – trước bạo lực, đã dám lấy cái quyết định sẵn sàng đối đầu với thái độ dứt khoát:

Làm sao cũng chẳng làm sao 
Dẫu có thế nào cũng chẳng làm chi 
Làm chi cũng chẳng làm chi 
Dẫu có làm gì cũng chẳng làm sao. (Phan Khôi)