KHẨU HIỆU

KHẨU HIỆU

(Fb Nguyễn Thành Trung)

Nước Mỹ không có những khẩu hiệu như: “Hoa Kỳ muôn năm” hay: “Washington vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp chúng ta”…, vậy mà vẫn là cường quốc số 1 thế giới, lớp lớp thế hệ người dân Mỹ suốt 243 năm qua vẫn yêu quý vị Tổng thống đầu tiên của họ; Cũng không có “Tinh thần ngày 1/5 bất diệt”, dù ngày quốc tế lao động sinh ra từ nơi đây; Không có gì là “bách chiến, bách thắng và vô địch muôn năm”, vì mọi thứ (kể cả chân lý) đều có thể thay đổi theo thời gian…

* Singapore không cần khẩu hiệu: “dân chủ, công bằng, văn minh” nhưng đất nước thịnh vượng, sạch đẹp, an bình, luật pháp nghiêm minh, tham nhũng gần như không tồn tại. Thủ tướng Lý Quang Diệu được coi là người hùng, là ân nhân của đất nước này, nhưng đi khắp Singapore không có bất cứ tượng đài hay quảng trường nào mang tên ông…

* Nhật không có phong trào: “học tập và làm theo Nhật hoàng”. Nhưng người dân trung thành và phụng sự Tổ Quốc hết mình; sống giản dị, nhân văn, có trách nhiệm, làm việc chăm chỉ đến lúc chết.

Pháp cũng không có: “Hoàng đế Napoleon vĩ đại”, dù ông ta đã từng chinh phục cả châu Âu.

Đơn giản, vì tại các nước văn minh, việc ai nấy làm, họ coi đó là bổn phận đương nhiên vì lợi ích quốc gia; mọi thứ đều công khai, minh bạch, phân định rõ nghĩa vụ và trách nhiệm…, nên không cần những khẩu hiệu sáo rỗng, với lời lẽ đao to búa lớn, bịp bợm, mị dân. Họ nói ít, làm nhiều, giá trị của mỗi người được nhìn nhận qua kết quả công việc và đóng góp cụ thể cho xã hội. Đặc biệt, họ không có thói quen tự ca ngợi, tâng bốc lẫn nhau, mà ngôn ngữ hiện đại gọi là “tự sướng”… Khi qua đời, dù danh nhân, vĩ nhân đều không ồn ào, khoa trương, kể lể công trạng; nấm mồ của họ chẳng hơn dân thường bao nhiêu…

Hình như là quy luật, ở những nơi càng dân chủ, văn minh, thịnh vượng thì khẩu hiệu lại càng ít.

From: Xuan Nguyen

Đỗ Ngà Blog: KỀN KỀN

Thực ra những gì đang diễn ra ở đất nước Việt khốn khổ này nó không hẳn là yếu kém của ĐCS mà mà là chính sách hẳn hoi. Họ không thể giúp được đất nước phát triển được thì họ cũng tàn phá luôn. Vì trong đầu họ, tàn phá đát nước họ cơ lợi hơn là xây dựng. Chính vì thế, họ đã không chùn tay tàn phá đất để dân chịu không nổi và di cư ra nước ngoài lao động tạo thành một thị trường béo bở để họ tư lợi. Xuất khẩu culi nhiều cũng đồng nghĩa với việc Đảng kiếm nhiều ngoại ngoại tệ do chính những lao động này làm gởi về nước. Đất nước mất gì kệ nó, dân mất gì kệ nó, miễn sao Đảng có đô và đảng viên được hưởng vinh hoa phú quý là được. Thật sự, ĐCS và thân hữu của nó là loài kền kền bên xác nhân dân.
– Đỗ Ngà –
 

DONGA.BLOG
Do Nga, Đỗ Ngà, Đỗ Văn Ngà, Facebooker Do Nga, Facebooker Do Van Nga, Do Van Nga, freedom, Vietnam

HAI NỀN GIÁO DỤC CHO RA HAI LOẠI NGƯỜI

HAI NỀN GIÁO DỤC CHO RA HAI LOẠI NGƯỜI

Nếu con người được giáo dục trong tình yêu thương, lớn lên trong sự lễ, nghĩa và trưởng thành trong liêm, chính thì sẽ không thể làm điều ác, lại càng không thể trở thành kẻ ác được. Nhưng trái lại, kẻ hoạt đầu, không biết đến điều nhân, lễ, nghĩa, không biết đến tín, trung, bỏ cả đường liêm, chính quy thuận sự vô luân, tôn thờ chủ nghĩa tam vô như: “ Yêu biết mấy nghe con tập nói / Tiếng đầu đời, lòng con gọi Stalin…/ Thương cha thương mẹ thương chồng / Thương mình thương một thương ông thương mười! ” ; ” Bên kia biên giới là nhà / Bên nay biên giới cũng là quê hương / Bên ni biên giới là mình / Bên kia biên giới cũng tình quê hương” v.v.. – ( Tố Hữu ). Như vậy phải chăng xác nhận nước tàu được kéo dài mãi đến tận Mũi Cà Mau? Chưa biết sao, nhưng trước mắt từ cái nền giáo dục, văn hóa của ông Tố Hữu đã lồ lộ cái họa cho đời, cho đất nước, dân tộc này lắm rồi.. Từ những con đường bị một nền giáo dục nhồi nhét đó thì ai cũng hiểu và biết rằng hậu quả đường chúng ta hôm nay sẽ đi về đâu nếu tiếp tục? ( Đại cục đang lừng lững trước mắt mà ám ảnh thời kỳ Khơme đỏ năm nào )

Một con người, một dân tộc không thể trưởng thành, đứng vững nếu như không biết tự võ trang cho mình thông qua nền giáo dục những cái Dũng của thánh nhân nhờ tín ngưỡng ban cho, cái Khí Tiết của hào kiệt của ông cha ban tặng từ nguồn gien bất khuất, cái Tâm của Nhân Bản do nền giáo dục tự do, khai phóng đem đến để làm nền tảng làm Người, làm nền tảng cho một xã hội. Nền giáo dục tốt thì nhận thức sẽ mạnh mẽ, không chấp nhận nghịch cảnh bao giờ: Có thể nghèo khó, mồ côi là một định kiến, một lối mòn mà xã hội muốn thử thách ta, xem thường ta thậm chí miệt thị ta. Nhưng, như cái lò xo càng dồn nén khó khăn thì tích tụ một sức bật khủng khiếp..

Nhớ rằng :” Mọi ông chủ vĩ đại đều từng là những người làm công ở vị trí thấp nhất. Họ đều rẽ trái trong khi mọi người rẽ phải. Họ có những quyết định không theo đám đông, không cam chịu sống một cuộc đời tầm thường, nhạt nhoà rồi chết “. Nếu không được trang bị hay tự nhận thức được như vậy thì cái Trí của con người được học mót đâu đó thay vì giúp ích cho tha nhân, lại thành kẻ vị kỷ mà gây họa cho xã hội. Bởi khi bỏ một trong Liêm, Minh, Chính là nền tảng luân lý của xã hội thì chắc chắn phải bước vào đường bạo ác, bỏ chính quy tà đem họa cho dân, cho nước.

Mấy ai dám nghĩ về một “Làng chài nhỏ bé ” không có đất, không có ruộng, không có nước” nhưng biết tạo cho mình những phẩm chất giá trị để quyến rủ các siêu cường đến với mình và không thể bỏ rơi mình, để phục vụ cho mình, để hợp tác, buôn bán làm ăn, tạo nên giàu có cho mình để trở thành một đất nước Singapore phồn thịnh, hùng cường hôm nay. Và một đất nước khác, Israel nhỏ bé, ít dân nhưng với ý chí vượt khó và hoài bão lập nghiệp, lập thân, lập quốc, biết ý thức muốn tồn tại thì phải có sức khỏe để xây dựng nên được nền y tế cao, biến sa mạc cằn cỗi, hoang tàn, khí hậu khắc nghiệt thành một vùng đất có nền nông nghiệp trù phú năng suất cao, chất lượng cao. Họ còn ý thức muốn vươn lên thì phải có những con người mạnh mẽ, dám đương đầu với mọi nghịch cảnh hay đe dọa nên họ cũng có một nền giáo dục đặc biệt để ai ai cũng có thể làm được nhiều việc mà việc nào cũng làm tốt, dám xả thân cho Tổ quốc, cho dân tộc mình..

From:Công Trung Nguyen

Hơn 3.000 cây thông rừng gần 20 năm tuổi bị đầu độc ở Lâm Đồng

Trong 10 ngày qua, tại địa bàn xã Tân Thanh, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng, kẻ xấu đã dùng thuốc trừ cỏ hạ độc cả một cánh rừng thông gần 20 năm tuổi, làm chết hơn 3.000 cây thông. Đây được cho là vụ hủy hoại rừng lớn nhất từ trước đến nay tại địa phương để chiếm đất sản xuất.

    Chân Phước Rose Venerini

7 Tháng Năm
    Chân Phước Rose Venerini

    (1656 – 1728)

    Chân Phước Rose sinh ở Viterbo, Ý Ðại Lợi, năm 1656. Cha ngài là một bác sĩ. Sau cái chết của vị hôn phu, Rose gia nhập một tu viện nhưng chỉ được vài tháng cô đã phải về nhà để chăm sóc người mẹ goá sau khi cha cô từ trần.

    Lúc bấy giờ cô Rose vẫn sống độc thân và mỗi tối cô thường quy tụ các thiếu nữ trong phố để lần chuỗi Mai Khôi. Cô được một linh mục dòng Tên linh hướng, là người tin rằng ơn gọi của cô là trở nên một giáo chức “ở ngoài đời” hơn là một nữ tu chiêm niệm trong dòng; do đó, với sự trợ giúp của hai người khác, cô mở trường học cho các thiếu nữ ở Viterbo mà chẳng bao lâu trường ấy rất nổi tiếng và thành công.

    Cô Rose có tài ăn nói hoạt bát, có khả năng giáo dục và huấn luyện giáo chức. Cô không dễ bỏ cuộc khi gặp khó khăn trong việc phục vụ Thiên Chúa. Không bao lâu, cô được nổi tiếng và năm 1692, Ðức Hồng Y Barbarigo đã mời cô làm người cố vấn và giúp huấn luyện giáo chức cũng như mở các trường học trong địa phận. Chính ở đây cô trở nên một người bạn và là cô giáo của Lucia Filippini, là người sáng lập dòng và được phong thánh năm 1930.

    Cô Rose còn mở trường ở nhiều nơi khác, đôi khi phải đương đầu với sự chống đối có lúc quyết liệt, tỉ như họ dùng cung tên mà bắn giáo chức và đốt trường. Nhờ sự kiên nhẫn và tín thác vào Thiên Chúa nên cô đã vượt qua mọi trở ngại. Năm 1713, cô sáng lập một tổ chức ở Rôma và được chính Ðức Giáo Hoàng Clêmentê XI khen ngợi.

    Người giáo chức tận tụy này từ trần ở Rôma ngày 7 tháng Năm 1728, hưởng thọ bảy mươi hai tuổi. Sự thánh thiện của ngài được xác nhận qua các phép lạ, và năm 1952 ngài được Ðức Giáo Hoàng Piô XII phong chân phước. Sau cái chết của ngài, các giáo chức trong các trường của ngài quy tụ thành một tu hội. Ngày nay, các Nữ Tu Venerini có mặt ở khắp nơi trên thế giới, hoạt động trong các cộng đồng di dân người Ý.

    Trích từ NguoiTinHuu.com

From: hnkimnga@yahoo.com
To: 
Sent: 5/6/2019 11:07:49 PM Central Standard Time
Subject: Truyền Giáo

  Truyền Giáo

    Một buổi tối nọ, viên sĩ quan trẻ tuổi người Pháp tên là Charles de Foucauld say mê kể cho gia đình nghe những cuộc thám hiểm của anh ở Maroc. Người chăm chú theo dõi câu chuyện của anh nhất là cô cháu bé chưa tròn 10 tuổi. Khi anh vừa chấm dứt thì cô bé đã bất thần đặt một câu hỏi như sau: “Thưa cậu, cháu đã thấy cậu làm được nhiều việc vĩ đại… Thế cậu đã làm được gì cho Thiên Chúa chưa?”

    Câu hỏi ấy như một luồng điện giật khiến anh trở thành bất động. Từ bao lâu nay, chưa có người nào đã khiến anh phải suy nghĩ nhiều như thế. “Anh đã làm gì cho Thiên Chúa chưa?”. Charles de Foucauld lục soát trong lương tâm của mình để chỉ thấy một lỗ hổng không đáy. Anh đã phí phạm tất cả thời giờ của anh trong những cuộc ăn chơi trụy lạc và những danh vọng phù phiếm… Mắt anh bỗng mở ra để thấy được nỗi khốn khổ, nghèo hèn của mình.

    Ngày hôm sau, anh tìm đến xưng tội với một vị linh mục. Anh vào dòng khổ tu, rồi xin đến Nagiareth để sống trọn vẹn cho Chúa Giêsu.

    Ngày nọ, giữa lúc đang đắm mình trong cầu nguyện, anh bỗng nghe từ căn nhà bên cạnh có tiếng than van rên rỉ của một người Hồi Giáo.

    Charles de Foucauld nghĩ đến gương bác ái của Chúa Giêsu: anh có thể giam mình cầu nguyện một mình giữa lúc những người anh em của anh đang rên rỉ trong hấp hối, trong thất vọng sao?

    Nghĩ thế, anh bèn quyết định đến sống giữa họ, trở thành bạn hữu của họ, nhất là những người cô đơn, lạc lõng, nghèo hèn nhất trong xã hội.

    Những năm cuối cùng, Charles de Foucauld sống giữa sa mạc Sahara, chia sẻ hoàn toàn cuộc sống với những người dân nghèo. Charles de Foucauld đã chia sẻ với họ những giọt máu cuối cùng của anh: ngày đầu tháng 12 năm 1916, anh đã bị thảm sát giữa lúc đang cầu nguyện… Ngày nay, các tiểu đệ và tiểu muội Chúa Giêsu tiếp tục lý tưởng sống của anh: họ lao động và sống giữa những người nghèo hèn nhất trong xã hội… Tất cả cuộc sống và sự âm thầm hiện diện của họ là một cố gắng làm một cái gì cho Chúa.

    Có những nhà truyền giáo rời bỏ quê hương để đi đến những nơi hoàn toàn xa lạ như Thánh Phanxicô Xaviê. Nhưng cũng có những nhà truyền giáo dâng cả cuộc đời hy sinh cầu nguyện và đau khổ của mình như Thánh Nữ Têrêxa Hài Ðồng Giêsu. Có những nhà truyền giáo hùng hồn giao rảng như các tông đồ, nhưng cũng có những nhà truyền giáo âm thầm hiện diện và chia sẻ với những người nghèo khổ như Charles de Foucauld.

    Âm thầm hiện diện. Nhưng vẫn có thể chiếu sáng niềm tin yêu hy vọng: đó là mẫu người truyền giáo mà Giáo Hội tại Việt Nam đang cần hơn bao giờ hết. Những cuộc sống tử tế, hy sinh phục vụ, quên mình… vẫn là những lời rao giảng hùng hồn hơn bao giờ hết.

    Trích sách Lẽ Sống

From: hnkimnga & NguyenNThu

KÝ SỰ TÙ CẢI TẠO – Phan Thanh Tâm

Van Pham

 Trong câu chuyện này, tác gỉa có đề cập đến Trung Tá Bác sĩ Quân Y Phùng Văn Hạnh. Ông là cậu của gia đình mình hiện đang sống tại Canada. Hôm rồi qua Mỹ chơi có gặp em Báu đưa đón đi chơi. Em Báu là con trai cậu Phùng Văn Bộ (cũng là Bác sĩ) và là em ruột của cậu Phùng Văn Hạnh… Cậu Bộ đã qua đời hơn 1 năm qua tại Canada…

**************

KÝ SỰ TÙ CẢI TẠO – Phan Thanh Tâm

Một Thời Quái Dị

Khi nói đến thơ tình người ta thường để ý đến các bức thơ tình của các ngôi sao vang bóng một thời trên sân khấu chính trị, màn ảnh, nghệ thuật hay mấy bức thư của các danh nhân, của ông vua, bà chúa, Napoléon Đại Đế, Hoàng Hậu Josephine, của Tổng Thống Washington, Lincoln, Roosevelt, của các văn hào thi bá Voltaire, Victor Hugo, Beethoven. Mới đây thư tình năm 1943 của viên phi công George H.W. Bush hồi thế chiến thứ ÌÌ trước khi trở thành Tổng Thống thứ 41 của nước Mỹ gởi cho vị hôn thê Barbara Pierce sau này là Cựu Đệ Nhất Phu nhân Barbara Bush qua đời ngày 17/4/18 ở tuổi 92 cũng đã được nhắc tới. Chẳng ai nghĩ đến thơ tình của những cặp tình nhân trong đám đông thầm lặng. Ấy vậy mà ông Võ Chinh Chiến, cựu Đại Úy VNCH vẫn nhớ như in từng dòng, từng chữ bức thư của một cán bộ gác cổng gởi cho người yêu nấu bếp vì ông thấy bức thư quá độc đáo, phản ảnh cả một thời đại.

{Đồng Chí H.. thân mến,
Qua nhiều đêm đấu tranh với tư tưởng anh đã nhất trí yêu em.
Nếu em đồng ý anh sẽ mời ba má anh tới tham quan nhà em. Anh hứa sẽ quản lý tốt đời em và làm đúng theo lời Bác và Đảng dạy.
Một thiếu, hai vừa, ba thừa, bốn lạc hậu.
Chào đoàn kết để xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa.}

Bức thư không nhòe viết bằng bút nguyên tử của cán bộ Nguyễn minh …gởi cho người yêu cô Lê thị H.., đề ngày 20 táng 6 năm 1980. Ông Võ Chinh Chiến lượm được khi giặt đồ đá banh cho cán bộ ở trại tù lao động Tiên Lãnh ở miền Trung. Ông bị bắt đi học tập cải tạo 12 năm từ 19/5/1975 đền 1/5/1987 và sau đó còn bị một năm quản chế. Ông cùng với vợ và ba trai, hai gái đến Mỹ theo diện HO vào lúc 11 giờ ngày 9/6/1994. Hiện cuộc sống gia đình ông ổn định, tậu được nhà cửa. Các con đều thành đạt; công ăn việc làm vững chắc. Tôi quen ông Chinh Chiến trong dịp đi tham dự các buổi sinh hoạt trong cộng đồng, được khoảng hai năm. Ông Võ kín đáo, tự tại, hơi lãng tai. Qua câu chuyện trên trời dưới đất không biết từ đâu dẫn đến bức thư nói trên. Thấy hay tôi yêu cầu ông ghi cho tôi. Viết lại trên một tờ giấy bỏ, ông nói, bác và đảng mà không chữ hoa là mang vạ vào thân.

Dịp khác, Ông Võ Chinh Chiến hiện đã hơn 70, sĩ quan trừ bị Thủ Đức khoá 19 cho biết chuyện ngày xưa giờ chỉ còn nhớ lờ mờ, dù vậy, có một “điệp khúc” mà mãi hơn mấy chục năm sau ông vẫn thuộc nằm lòng vì ngày nào ông cũng phải nghe cán bộ lên lớp như sanh như sứa. Sau đó, nhóm tù của ông 20 người, phải lần lượt trả bài. {Đất nước ta giàu đẹp; dân tộc ta anh hùng. Kẻ thù nào cũng đánh thắng, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua. Việt Nam ta rừng vàng biển bạc. Việt Nam ta là đạo quân xung kích hàng đầu của thế giới. Đến Việt Nam ra đường gặp anh hùng, về nhà gặp dũng sĩ. Việt Nam ta thay trời đổi đất; sắp xếp lại giang san; bắt sông cong thành sông thẳng; bắt thiên nhiên phục vụ cho con người. Việt Nam ta đào Trường Sơn cho biển xuyên qua. Việt Nam ta ngàn lần anh hùng, đến Việt Nam quan đi mất chức, lính về mất thây.

Lan man về thời VNCH, ông Võ Chinh Chiến kể, hồi đóng đồn Ngọc Khô, thuộc quận Thăng Bình, tỉnh Quảng Tín, khoảng năm 1996 nơi bị đổi chủ vài lần, ông đã đánh lộn với ma. Thường mình chỉ nghe chuyện ma quái qua người khác; chớ chưa hề nghe chính lời thuật về ma của người đích thân đối diện với ma. Nửa đêm đi vòng đồn kiểm soát, khi vào bên trong một căn nhà ông Võ vấp ngã loạng quạng như bị kẻ nào gạt chân. Thấy một người mặt bôi đen hiện ra truớc mặt; phản ứng nhanh, ông khựng lại vung tay thoi tới tấp. Nó né rồi biến mất. Tay ông đụng mạnh vào thành căn nhà toét chảy máu. Nhờ băng lại vết thương ông mới sực nhớ là nghe nói căn này có ma.Trước đó, ông đã bảo lính dẹp cái lư hương trên đầu giường nằm. Ba ông có lần dặn mỗi lần thấy ma thì niệm Đức Phật Quan Thế Âm Bồ Tát. Ông Võ đã thỉnh tượng Ngài để vào chỗ lư hương.

Ăn Sống Chuột Con.

Ông Võ Chinh Chiến nói, nay tuy nhớ nhớ quên quên, nhưng vẫn bị ám ảnh cái trạng thái lúc đói triền miên và thời khóa biểu lao động cật lực suốt ngày: đêm 11:30 ngủ; sáng 5:00 giờ dậy tập họp điểm danh. Hình ảnh ông bạn tù vì đói ăn sống năm con chuột con bắt được khi đi lao động lâu lâu lại hiện đến với ông. Ngày vô trại tù học tập cải tạo ông nặng 70 kí. Mười hai năm sau được thả về lết đi chỉ còn 40 kí. Ông cho rằng những người đã từng sống dưới chế độ cộng sản, đặc biệt những người đã từng sống trong nhà tù cộng sản đều có cùng ý nghĩ: chưa sống dưới chế độ cộng sản, trong nhà tù cộng sản thì chưa hiểu về cộng sản. Và câu “bất hạnh nhất của đời người là chưa biết đau khổ là gì” trong cuốn Tình Yêu Hiện Sinh của Bác sĩ Trung tá Quân Y, Phùng Văn Hạnh, một bạn tù ở trại Tiên Lãnh (Quảng Nam), cũng 12 năm như ông là câu quá hay rất đáng suy ngẫm.

Bác sĩ Phùng Văn Hạnh (PVH), tác giả cuốn sách trên chính là người ăn chuột con. Trong sách Bác sĩ viết “Có lần tôi giở mái tranh để lợp lại, bắt được một ổ chuột có năm con đỏ hỏn. Nghĩ là chuột chỉ bú sửa mẹ, chắc sạch, tôi nuốt sống luôn năm con chuột. Chắc cũng bổ như bà Từ Hi ăn chuột bạch nuôi bằng sâm.” Ông Võ Chinh Chiến thố lộ, ông hay đọc cuốn này vì sách cho ông nhớ lại những năm tháng cũ. Nó ghi lại những nỗi thống khổ mà các tù nhân trại Tiên Lãnh đã trải qua. Tại sao Bác si PVH viết? Để “kể lại một thời mà cháu con mình khi đọc đến phải thốt lên: Ông cha ta đã sống qua một thời kỳ quái dị”. Đầu sách có câu “Tình yêu hiện sinh, chứ không phải là từ chối hiện sinh, mang lại cuộc đời mọi giá trị”. Tác giả mượn lời của văn hào Siegfied khi nói về lòng hoài hương: người lưu vong đầu tiên, suốt đời vẫn là người xứ gốc (le premier émigré demeure sa vie durant, un homme de son pays d’origine).

Sách là một tập tự truyện qua một nhân vật tên Hoạt do tác giả tự xuất bản năm 2002, dày 170 trang. Hiện vợ chồng Bác sĩ và bốn trai, ba gái định cư ở Canada: “Nay các con đều ra trường và có nghề nghiệp vững chãi”. Sau ngày 30/4/1975 ông bị áp giải từ Saigon đưa về trại tù cải tạo Tiên Lãnh. Nhà ở Đà Nẵng bị tịch thu. Các con bị phân biệt đối xử, không cho học bậc đại học. Ba người con đầu vượt biên năm 1983. Bác sĩ ra tù tháng hai năm 1988; ba tháng sau vợ chồng ông và bốn con (ba gái, một trai) cũng tìm đường vượt biên, đến Canada năm 1989. Dù học cật lực nhưng vì đến bờ tự do quá trễ và không có đủ sức khoẻ Bác sĩ PVH không thể trở về nghề cũ. Ông đã phải lần lượt làm bốn nghề. Nghề chót làm assembleur cho một hãng đèn được tám năm trước khi về hưu. Tuy vậy, Bác sĩ PVH vẫn thấy mình “may hơn bạn bè chết trong tù cộng sản hay chôn vùi xác trên con đường tìm tự do”.

Trong chương gánh sắn, tác giả cho biết, sắn là nguồn ăn chính. Phần ăn bới ra lổn chổn sắn tươi xắc khúc, cơm bu xung quanh. Xem như chín phần sắn, một phần cơm. Ngày ba bữa, mỗi bữa lưng ba chén nhỏ. Ăn như vậy nên “chỉ vài tháng sau nhập trại, toàn thể sĩ quan trở nên rách rưới, ốm đói, phờ phạc, hãi hùng”. Một tù hình sự đói quá, phanh ngực ra trước cán bộ, xin cho ăn một bụng thật no, rồi chết cũng hả dạ. Anh bị bắn ngay tại chỗ. Cán bộ mổ trâu ăn thịt. Xương gánh đi đổ. Trại viên tranh nhau chạy lại kiếm một mảnh xương còn dính chút thịt. Các em tù hình sự lượm cơm dưới mương chảy ra từ nhà ăn cán bộ, rửa rồi cho vào gô nấu cháo. Có em ăn giành với heo. Còn các trại viên vì ăn đói, tối ruột sôi ồn ào không ngủ được, nên ai nấy cũng tìm cách làm cho bụng đầy. Kẻ uống nước cho no. Kẻ ăn một gô (lon sữa guigoz bằng nhôm) rau lang hoặc cải tàu bay nấu với nhái, dế, sung, chuột.

Một Hạt Đậu Hai Người Khiêng

Ngoài ra, Bác sĩ PVH còn có một truyện ngắn về hạt đậu. Anh Lộc nguyên là giáo sư Anh văn, có tài kể chuyện giúp vui bạn tù, vượt biên bị bắt, đã ở tù năm năm. Vào mùa trồng đậu phụng mỗi tối trại viên phải làm công tác lột đậu. Hầu như ai cũng ăn lén. Hạt đậu vừa béo vừa ngọt, cơ thể đang cần. Rûi cho anh Lộc, từ bóng tối góc sân, một tên cán bộ bước ra:‘’ anh hãy mở miệng cho tôi xem’’. Anh bị kéo ra giữa sân. Bốn tên khác vây quanh: “chúng tôi trừng trị các anh để chừa thói ăn cắp’’. Anh ngã xuống, chúng nâng anh dậy vừa đấm, vừa đá. Anh Lộc nằm bất động. Tên giám thị bắt hai trại viên khiêng anh Lộc về chỗ anh ở. Nhân câu chuyện này, trại Tiên Lãnh mới có giai thoại: ”một hạt đậu hai người khiêng’’. Từ ngày đó, anh Lộc lầm lì. Nước da tái dần. It lâu sau, anh được phóng thích vì lý do sức khoẻ. Anh Lộc có tên qua Mỹ. Cùng đi với anh có chị Hoa học trò cũ của anh. Tháng 9/1989 sáng thứ hai anh nhận vé để hôm sau ra phi trường. Tối thứ hai ấy, anh lên cơn đau; chết vì xuất huyết nội.

Được dịp trình bày trước một phái đoàn Trung ương vào kiểm trại tù, Bác sĩ PVH nói chênh lệch giữa năng lượng cung cấp (1500 calô) và năng lượng cần cho lao động hằng ngày (3000 đến 5000 calô) quá lớn. Bởi thế trại viên da khô, nứt nẻ, bắp thịt teo tóp, yếu nhược. Bệnh suy dưỡng một ngày một nhiều. Thiếu sinh tố gây chảy máu răng và phù thủng. Thiếu protein đã gây bệnh sâu răng. Thuốc men rất hiếm. Thuốc sốt rét cấp không đủ dùng. Thuốc trụ sinh thỉnh thoảng mới có. Nhà cầu lộ thiên, ruồi quá nhiều mang bệnh truyền nhiễm. Dùng phân người bón rau và bón ruộng gây dịch kiết lỵ. Mỗi lần hàng trăm trại viên bị bệnh. Thuốc men không đủ, nhiều người chết uổng. Sau khi phái đoàn rời về, Bác sĩ PVH bị tố là xuyên tạc chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước. Ông bị bắt đi lao động gánh sắn. Mỗi ngày ba chuyến, mỗi chuyến đi về 10km; gánh sắn phải nặng 40kg tối thiểu.

Phân người nói trên lấy ở đâu? Lấy từ một nhà cầu công cộng. Sách viết, trại viên ngồi trên những lỗ cầu. Dưới lỗ là những thùng hứng phân. Nhìn xuống lỗ cầu dòi lúc nhúc trong thùng phân. Giấy vệ sinh rất hiếm, thường là giấy báo cũ. Phần lớn dùng que tre gạt đít. Kỹ hơn thì mang theo gô nước để rửa, rồi về rửa tay sau. Tù hình sự lo việc đổ các thùng phân. Mỗi thùng có hai quai; xỏ cây vào khiêng đi đổ dồn vào một hố cách chỗ đi cầu chừng 20m. Bên cạnh hố là một đống tro lấy từ các lò nấu cơm nước của cấp dưỡng; xúc tro trộn vào phân để làm phân xanh. Mỗi ngày tổ rau và các đội nông nghiệp đều vào xúc phân đem ra bón rau và ruộng. “Tôi đã có nhiều lần bốc phân ấy rải ruộng. Thật gớm ghiếc. Tối về rửa xà phòng nhiều lần mà tay vẫn thum thủm. Hình sự còn rửa thùng phân ở suối. Dịch kiết lỵ xảy ra vì thế. Dân chúng dọc sông suối chắc cũng bị ô nhiễm.”

Tác giả PVH ở trại 12 năm, trong đó chỉ có ba năm làm y tế, còn chín năm lao động. Ba năm y tế ấy không liên tục; ra vào ba lần. Bác sĩ cho biết, ở trại chết vì sốt rét ác tính rất nhiều. Một bệnh khá phổ biến khác là bệnh loét dạ dày. Nguyên do là vì buồn bực, sợ sệt triền miên và thiếu dinh dưỡng. Họ chết đột ngột do xuất huyết, mửa ra cả đống máu. Mỗi tháng đưa ra nghĩa địa vài ba người. Bệnh nhân mất nước mà không có dung dịch chuyền tĩnh mạch, không có trụ sinh để chữa trị. Nhiều người chết ngay trên đường vào nhà cầu. Các trại viên chết mắt cứ mở trừng trừng, dù ông vuốt mắt cho họ nhiều lần. Chắc họ uất ức lắm. Mỗi khi có thân nhân thăm mộ người khuất, ông dẫn họ ra mộ phần. Họ nằm lăn ra mộ khóc lóc thảm thiết. Có một chị đã cắt mớ tóc dài của mình, quấn lên bia mộ chồng trước khi ra về. Một bà sau khi khấn vái, đốt hương đèn xong, bà giã từ chồng: “ông ở lại, tôi về nghe ông”.

Đau Răng Nhức Răng

Bác sĩ PVH dành hẳn một chương để nói về chuyện đau răng. Ông viết, nói chung không ai đi tù cộng sản mà không bị hư răng. Nhiều người mất cả hàm răng. Riêng ông bị mất gần sáu chiếc răng. Nguyên do là thiếu chất thịt. Men răng mòn dần không được thay thế, răng dễ bị sâu. Bản thân bác sĩ đã trải qua sự đau đớn khi cái răng cấm bị lũng lỗ lúc ở tù Tiên Lãnh. Không ăn uống gì được, lại phải đi lao động, đau buốt lên tận óc. Ông đã dùng cái kềm nhổ đinh bình thường kẹp răng đau bẻ ngang ra. Đau quá chừng song phải cố gắng. Sau đó, ông nghĩ cách nhổ răng cho các trại viên. Nhờ tổ rèn làm cho hai cái kềm nhổ răng. Hình dạng gần giống kềm nha sĩ. Phần lớn nhổ răng không có thuốc tê. Trường hợp răng lung lay thì dễ. Gặp trường hợp khó, bệnh nhân và nha sĩ bất đắc dĩ phải tranh đấu cả giờ mới xong. Nhờ vậy, hàng ngàn răng sâu đã được nhổ và biết bao đau đớn đã được giải thoát.

Trại tù Tiên Lãnh thuộc huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Trong thời chiến đây là chiến khu của Liên khu 5 Việt Cộng.Trại giam công chức, đảng phái, đoàn thể và tù nhân hình sự gồm có lưu manh, trẻ em hè phố, xì ke ma túy. Sau này hàng trăm cựu sĩ quan VNCH dồn lên Tiên Lãnh nên nó trở thành quan trọng bậc nhất trong tỉnh. Nơi này, lúc đầu ma thiêng nước độc, chỉ là đồi núi hoang vu, muỗi mòng như trấu. Nhóm tù chính trị đầu tiên đã dãi nắng, dầm mưa, phải đốn cây về làm chỗ ở cho mình và cho công an áp giải họ. Họ đã hoàn thành trại giam cho chính mình và nhà cửa khang trang cho ban giám thị. Trong nhóm tù chính trị có xã trưởng và các thành phần nòng cốt của miền Nam rất thành thạo về nông nghiệp và rất tháo vát. Chính họ đã khai thác những vùng ruộng bỏ hoang. Họ đã làm giàu cho trại. Trại mở rộng diện tích canh tác.Toàn cảnh trại là một làng nhà ngói đỏ, khác hẳn với làng lụp xụp của dân chúng gần đó.

Qua chương lao động, tác giả mô tả trại tù cải tạo hóa thành một nông trường lớn ở giữa rừng, mang lại cho bộ máy công an nhiều lợi tức. Xe tải lớn của ty công an tỉnh lên chở gạo, heo, bò, trứng rau, gà vịt để chia nhau sử dụng. Tất cả sản phẩm này do trại viên làm ra. Trong khi đó, người tù ăn sắn là chính với muối hoặc mắm cái pha loãng với nước. Tiên Lãnh gồm cả trại Na sơn, Thôn năm, trại nữ. Có đến 5.000 người lao động. Công việc hàng ngày: nông nghiệp, chăn nuôi, tiểu công nghệ. Công việc đồng áng cổ truyền giống đời xưa từ gieo mạ, cày bừa, cấy lúa, phát bờ, làm cỏ, rải phân. Ruộng làm hai mùa, trại viên quanh năm đầu tắt, mặt tối như cái máy. Ăn không no, làm không nghỉ. Cày ruộng không phải bằng trâu mà bằng người đã xảy ra ở đây. Trại viên chia thành nhiều toán: toán chăn nuôi, toán thợ rừng đốn cây, toán cấp dưỡng lo nấu ăn… Làm ngày không đủ thì làm đêm. Không biển máu, song khai thác triệt để sức lao động tù cải tạo; hành hạ sống dở, chết dở.

Theo bác sĩ PVH, sinh năm 1931 ở Điện bàn, Quảng Nam, chế độ tập trung cải tạo không những đày đọa cá nhân người tù mà còn toàn thể gia đình họ. Nhà cửa bị tịch thu, đi vùng kinh tế mới; con cái không cho đi học, lâm cảnh bụi đời. Vợ đi lấy chồng khác. May cũng có nhiều phụ nữ đảm đang, gìn giữ gia đình. Họ đi thăm nuôi chồng tận ải Nam Quan. Khi gặp chồng con, họ không được khóc lóc, phải vui vẻ động viên chồng con lo học tập cải tạo tốt để mau về với gia đình. Nếu khóc thì tù cải tạo không được nhận quà. Quà này và tất cả con gì cử động là nguồn chính giúp tù cải tạo cải thiện – chữ của bộ đội miền Bắc – tức là kiếm thêm chất thịt để bồi dưỡng. Ăn cơm độn sắn với nước muối hoài nên thèm chất tanh. Ông viết ‘’sức chịu đựng con người ở trại cải tạo gần như là một phép lạ’’. Tuy vậy, cũng có vài trại viên quá tuyệt vọng đã tự tử.

Cách Mạng Tháng Tám,

Tập truyện còn kể lại vụ án Trần Quang Trân, một biến cố đặc biệt của trại Tiên Lãnh trong chương Đau Khổ Triền Miên. Ban giám đốc trại đã kêu anh Trân thiết lập một hệ thống tổng đài điện thoại; vì trước 1975 anh là một chuyên viên điện tử đã đi tu nghiệp ở Nhật do tài trợ của hãng Panasonic. Anh có một căn nhà riêng để sửa máy thu thanh và các máy điện tử. Anh nghe lén các đài ngoại quốc báo lại cho các trại viên tin tức bên ngoài nhằm giúp họ nuôi dưỡng tinh thần. Một số cựu sĩ quan đã dự mưu tổ chức cướp súng, cướp trại. Đây là một tổ chức có mục đích, có hệ thống. Nhưng chẳng may máy đo điện trở có lắp linh kiện điện tử để nghe đài phát thanh bị phát hiện. Khi vỡ lở, công an phải mất vài tháng điều tra trước khi đưa ra xử. Anh Trần Quang Trân đứng ra lãnh cái chết cho anh em. Anh không xin ân xá. Ra pháp trường anh không chịu bịt mắt. Anh còn làm thơ mạt sát chế độ và đọc to lên cho trại viên nghe.

Đề cập đến cách mạng tháng Tám, tác giả PVH, nguyên là Trung tá bác sĩ biệt phái Trung tâm y tế toàn khoa Đà nẵng (1965-1975) khu giải phẫu chỉnh hình nhận định rằng, cuộc cách mạng này không cần thiết. Có thể tránh cuộc kháng chiến chống Pháp. Sau khi Nhật đầu hàng, Pháp trở lại, Bảo Đại và nhóm Trần Trọng Kim có đủ sáng suốt để tạo một Việt Nam độc lập trong khối Liên Hiệp Pháp hoặc hoặc kiểu Pháp Việt đề huề như cụ Phan chu Trinh khởi xuớng. Hồ Chí Minh đã chọn giải pháp chiến tranh vì Lenine đã dạy: chỉ trong chiến tranh, rối loạn, đảng cộng sản mới diệt được phe quốc gia và đảng sẽ vững mạnh lên. Theo Bác sĩ PVH, phải bác bỏ luận điệu chính quyền thoát thai từ một thùng thuốc súng của Mao. Cách mạng tháng Tám đến, vì buộc mọi người “yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa” nên mang theo chiến tranh, chết chóc trong 30 năm; chia cắt đất nước; chia cắt lòng người; hàng triệu thuyền nhân vượt biên, vượt biển cùng trại tù lao động cải tạo mọc lên từ ải Nam Quam đến mũi Cà Mau; lại thêm mất đất, mất đảo Hoàng Sa, Trường Sa vô tay Tàu Cọng.

Tại sao Bác sĩ PVH ở tù lâu dữ vậy? Tác giả hỏi cán bộ gíáo dục thì cán bộ bảo ông gián tiếp có nợ máu với nhân dân. Bác sĩ đã chữa lành cho lính ngụy để họ lại cầm súng giết cách mạng. Một cán bộ chấp pháp có lần nói rõ vì sao ông bị giam: tư tưởng của anh nguy hiểm cho việc xây dựng XHCN. Phải cách ly anh ra khỏi xã hội. Trong Thay Lời Tựa cuốn sách này của một bạn tù Nguyen T Giao thì thầy thuốc PVH ở tù lâu vì một phần cái quá khứ của tác giả: “nhưng lý do chính nhất để anh ở lâu quá chắc chắn là do cung cách sống và lương tâm của một kẻ sĩ miền Nam trong anh”. Bạn tù Nguyen T Giao còn viết rõ “khi đứng trước bọn cai tù để xin phép hoặc cấp báo điều gì hãy nhìn anh Hạnh: anh không bao giờ khép chặt hai tay vào người anh; anh dùng một cánh tay đưa lên cùng với ngón trỏ để nói. Cái cao ngạo của anh đã trả thù được cho anh em quá nhiều”.

{Trong một buổi giao ban, bác sĩ giám đốc mới từ Hà-nội vào đã nói thẳng:
-Các anh ở trong này dốt lắm
Sửng sốt tôi hỏi:
-Tại sao anh bảo chúng tôi dốt
-Lý thuyết hay nhất trên thế giới hiện nay là chủ nghĩa Mác-Lê, mà các anh không biết đến. Như thế không phải dốt sao?
-Xin lỗi anh, có lẽ anh đón gió có một phương. Ở trong Nam chúng tôi đón gió bốn phương. Mac,Lênin chúng tôi có đọc trong nguyên tác cũng như nhiều tác giả khác kể cả những tác giả phê phán thuyết Mác-Lê. Các anh chắc đọc sách trích dịch kèm theo lời bàn ca tụng Mác-Lê. Vả lại, ở miến Nam không ai cấm đọc Mác. Trong khi ngoài Bắc cấm đoán nhiều loại sách của phe tư bản.Chúng ta cũng nên suy nghĩ về câu của St Augustin:”je crains l’homme d’un seul livre” (tôi sợ người chỉ biết một cuốn sách).} [trang 57].

Một buổi sáng sửa soạn đi làm thì trật tự gọi tác giả ra gặp cán bộ lo về phóng thích. Bác sĩ PVH thắc mắc tại sao mình được thả ra đột ngột. Khi vào Tiên Lãnh ông nặng 75 kg, ngày về chỉ còn 45kg; từ một tráng niên sau 12 năm, ông rời trại là “một ông già, tóc rụng quá nửa, lưng còng, mặt nhăn nheo”. Cứ theo lời hai cán bộ trên và nhớ lại câu thơ của Tố Hữu “chúng bay là súc vật ta đây mới là người” cùng lời nhục mạ trại viên “các anh là dã thú đội lốt ngưới” của cán bộ trong trại, ông nghĩ mình chẳng bao giờ được về. Hơn nữa, các con đã đến nhà ông giám thị Tiên Lãnhh lạy ông ta như tế sao để ông xét cho cha về sớm; nhưng ông vẫn “ ngồi chễm chệ, hách dịch, trịch thượng chẳng chút thương xót”. Vượt biên tới trại tị nạn Palawan Bác sĩ mới hay bạn bè ở Mỹ đã nhờ Hội Ân Xá Quốc tế giúp ông ra tù. Bác sĩ PVH viết “tôi ghi nhớ ngày ấy và mỗi năm mừng ngày ấy một mình”./.

Image may contain: food

sau 3 năm thì chính các người cũng phải thừa nhận là Formosa xả thải độc.

Những cuộc biểu tình chống Formosa từ cách đây 3 năm là phản động, hay kẻ ung dung trống rong cờ mở đến Formosa, đi tắm biển, ăn mực nhảy… trong lúc biển bị xả độc, cá tôm chết, môi trường bị giết, ngư dân điêu đứng là tay sai của Tàu cộng?

Image may contain: sky and outdoor

Ngoc Vu is with Ngọc Vũ and Nguyễn Anh.

Khi chúng tôi cùng hàng nghìn người dân Sài Gòn xuống đường biểu đạt ý kiến phản đối Formosa xả thải giết biển, thì chính quyền vu vạ cho chúng tôi là phản động, nghe theo lời xúi dục của thế lực thù địch, rồi nhận tiền đi biểu đạt….. Vu vạ và gắn mác cho chúng tôi hàng chục loại tội lỗi ghê rợn.
Có nhiều người còn bị đánh đập, nhục mạ và hành hạ hết sức dã man.

Và sau 3 năm thì chính các người cũng phải thừa nhận là Formosa xả thải độc.
Cái ngu si và khốn nạn nhất là mang voi về giày mả tổ.

Vì vài đồng tiền trước mắt mà chúng bán cả Giang sơn, bán cả Tổ Quốc, bán cả sức khoẻ Dân Tộc mình cho lũ mọi giết người bằng hoá chất độc hại.

Không ai có thể làm được điều đó, mà chỉ có thể là loại độc đảng, độc tài, tham lam, khát máu.

Chủ nghĩa Mác: Soi rọi đến đâu, lụi tàn đến đấy

Hoa Do and Trang Minh shared a link.

Chủ nghĩa Mác soi rọi đến đâu thì lụi tàn đến đấy. Đó là một sự thật. Sự sụp đổ của hệ thống XHCN cũng là một sự thật. Thế nhưng, các nhà tuyên giáo ở Việt Nam cố tình không nhìn thấy. Chủ nghĩa Mác là một sai lầm tạm thời của nhân loại, nó đã chết ở quê hương Các Mác, chết ở châu lục mà Mác sinh ra nhưng ở một đất nước nghèo đói xa lạ, người ta cố thổi hồn vào nó, hà hơi cho nó những mong nó sống lại. Đó là một điều không tưởng. Chết rồi mà vẫn sống mãi, vẫn thúc đẩy được phong trào cách mạng thế giới, vẫn là chìa khóa vạn năng để giải cứu thế giới và còn đòi soi rọi đến cả… cách mạng 4.0. Thật là không còn sự khôi hài nào hơn.