Vì sao báo chí Nhà nước chậm đưa những tin nóng?

About this website

Vì sao báo chí Nhà nước chậm đưa những tin nóng?

 

Tại buổi góp ý vào báo cáo đánh giá kỳ họp thứ 7 của các đại biểu Quốc hội diễn ra hôm 16/7/2019 tại Hà Nội, Phó chủ tịch Quốc hội, ông Uông Chu Lưu nhận định: Tình hình đất nước, xã hội bao nhiêu chuyện đang diễn ra, đang có những vấn đề rất nóng, nhưng báo cáo vẫn êm ả, lạc quan quá!

Những vấn đề ‘nóng’ không được phản ánh!

Không chỉ trong báo cáo của Quốc Hội, mà trên thực tế lâu nay nhiều chuyện nóng trong xã hội không được báo chí chính thống loan tin kịp thời, chính xác. Đơn cử như việc người dân khiếu kiện tại ngay thủ đô Hà Nội; những vụ cưỡng chiếm đất đai phi pháp như  vụ chính quyền quận Tân Bình, TP.HCM cưỡng chế khu đất vườn rau Lộc Hưng trong hai ngày 4 và 8 tháng 1 năm 2019, mà cư dân nơi đây cho là trái pháp luật; đợt biểu tình của người dân chống hai dự luật đặc khu và an ninh mạng vào tháng 6 năm ngoái; đợt biểu tình chống Trung Quốc gây hấn với Việt Nam năm 2011, 2012 sau các sự kiện tàu Trung Quốc cắt cáp, tấn công và đe dọa tàu dân sự Việt Nam tại vùng biển mà Việt Nam tuyên bố thực thi chủ quyền và quyền chủ quyền.

Gần đây nhất là vụ tàu hải giám Trung Quốc đụng độ tàu cảnh sát biển Việt Nam ở bãi Tư Chính, nơi Việt Nam có nhà giàn DK1 do Tiểu đoàn DK1 trực thuộc Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân kiểm soát. Thông tin này được mạng báo Bưu điện Hoa Nam Buổi Sáng (South China Morning Post – SCMP) đăng tải vào chiều 12/7/2019.

Theo SCMP, cuộc đối đầu có thể dẫn đến đụng độ lớn nhất trên Biển Đông trong vòng 5 năm trở lại đây và có thể kích động làn sóng chống Trung Quốc chưa từng thấy ở Việt Nam kể từ vụ giàn khoan Hải Dương 981 kéo vào vùng biển nước này.

Trong khi đó báo chí Việt Nam hôm 11/7/2019 chỉ đưa tin Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã đến thăm và làm việc với Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam, thăm hỏi, trò chuyện và động viên cán bộ, chiến sĩ đang làm nhiệm vụ trên biển thông qua truyền hình trực tuyến. Bên cạnh đó là những bản tin với hình ảnh bà chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân bắt tay với những lãnh đạo Trung Quốc trong chuyến thăm từ ngày 8 đến ngày 12 tháng 7…

Thực sự báo chí ở Việt Nam – báo chí cách mạng – là từ chỉ đạo. không có tờ báo nào không bị chỉ đạo cái gì được đăng, cái gì không. – Nhà báo Minh Hải

Nhà báo Minh Hải cho biết lý do báo trong nước không đưa tin sự việc đang xảy ra tại bãi Tư Chính là vì cơ chế, vì báo chí Việt Nam chịu sự chỉ đạo từ xa. Ông nói:

Thực sự báo chí ở Việt Nam – báo chí cách mạng – là từ chỉ đạo. không có tờ báo nào không bị chỉ đạo cái gì được đăng, cái gì không. Ví dụ như tại sao những sự kiện xảy ra ở Biển Đông như tàu hải giám Trung Quốc đối đầu tại bãi Tư Chính là vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam được quốc tế công nhận chứ không phải trong vùng tranh chấp, mà sao không báo nào được đăng! Nó có sự chỉ đạo rõ ràng.

Với tư cách người làm báo thì ai cũng ấm ức. Thà mình không làm báo và không biết tin tức. Quyền lợi và sự tự hào của người Việt ở đâu mà không được đăng?!”

Biết rằng báo chí phải có tính phản biện. Trách nhiệm và lương tâm nhà báo không cho phép họ im lặng, nhưng vì ‘miếng cơm, manh áo’mà họ đành phải im lặng.

Có một số nhà báo không thể im lặng được thì họ lên tiếng trên mạng xã hội, trên facebook cá nhân của mình. Nhà báo Đường Văn Thái nói thêm về điều này:

“Vừa qua báo chí bị buộc phải im lặng nhưng có một số các nhà báo “lề đảng” nhưng có lương tâm nghề nghiệp cũng lên tiếng gay gắt trên mạng xã hội. Đồng thời cũng có những nhà báo được ban tuyên giáo chỉ đạo để hướng dư luận.”

Lên tiếng chung chung

Sau bao nhiêu ngày im lặng, vào chiều ngày 16/7/2019, trả lời câu hỏi của một số phóng viên trong và ngoài nước liên quan đến diễn biến gần đây ở Biển Đông, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng nhấn mạnh Việt Nam có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển ở Biển Đông, được xác định theo đúng các quy định của Công ước Liên hợp quốc về luật Biển 1982.

Bà Hằng không đề cập cụ thể sự việc ở bãi Tư Chính mà chỉ nói chung chung là “Các lực lượng chức năng trên biển của Việt Nam đã và đang thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán một cách hòa bình, đúng pháp luật nhằm bảo vệ vùng biển Việt Nam”.

Trước đó bốn ngày, SCMP loan tin dẫn đoạn Tweet của ông Ryan Martinson – Trợ lý giáo sư tại Trường Hải Chiến Mỹ cho hay, hôm 3/7/2019, tàu thăm dò dầu khí Trung Quốc mang tên Haiyang Dizhi 8 (Marine Geology 8) đã đi vào vùng biển gần rạn san hô do Việt Nam kiểm soát để thực hiện một cuộc khảo sát địa chấn.

Ông Ryan Martinson đăng tải ảnh chụp màn hình về thông tin theo dõi dữ liệu tàu trong một Tweet hôm 11/7/2019 chỉ ra, khu vực trên có sự xuất hiện của các tàu hộ tống tàu thăm dò Trung Quốc gồm tàu bảo vệ bờ biển vũ trang 12 ngàn tấn số hiệu 3901 mang theo trực thăng và tàu 2.200 tấn số hiệu 37111.

Việt Nam luôn luôn bị sự lệ thuộc của Trung Quốc, nên khi chưa có sự chỉ đạo của Bộ Chính trị thì phải im lặng. – Nhà báo Đường Văn Thái

Nhà báo Đường Văn Thái, người từng có thời gian làm việc tại Ủy ban Kiểm tra Trung ương nêu ý kiến của mình:

“Việt Nam luôn luôn bị sự lệ thuộc của Trung Quốc, nên khi chưa có sự chỉ đạo của Bộ Chính trị thì phải im lặng. Mang tiếng là người phát ngôn của Bộ Ngoại Giao nhưng bà Hằng cũng chỉ lên tiếng theo sự chỉ đạo thôi. Đây là vấn đề cực kỳ nhạy cảm, ngay cả ông Võ Văn Thưởng cũng phải theo quyết định của Bộ Chính trị, thế nên báo chí cũng im lặng.”

Theo nhà báo này, các vấn đề nóng khác thì ông Võ Văn Thưởng có thể quyết được nhưng vấn đề liên quan Trung Quốc thì phải do Bộ Chính trị quyết định.

Chính các vị lãnh đạo như đương kim Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng, Bộ trưởng Thông tin – Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng đều từng thừa nhận báo chí nhà nước chậm hơn mạng xã hội về việc thông tin.

Tuy nhiên với cách thức quản lý của đảng và nhà nước như hiện nay đối với quyền tự do ngôn luận thì mọi vấn đề nóng của xã hội khó có thể được công khai kịp thời, chính xác đến cho toàn xã hội.

RFA.ORG
Chính các vị lãnh đạo như đương kim Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng, Bộ trưởng Thông tin – Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng đều từng thừa nhận báo chí nhà nước chậm hơn mạng xã hội về việc thông tin.

Những điểm bất thường quanh cái chết của Trần Bắc Hà!

Những điểm bất thường quanh cái chết của Trần Bắc Hà!

Diễm Thi, RFA
2019-07-18
Ông Trần Bắc Hà

Ông Trần Bắc Hà

 Courtesy of giaothong.vn

Trưa 18/7/2019, báo chí trong nước đồng loạt đưa tin ông Trần Bắc Hà, Cựu chủ tịch Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam, chết trong thời gian bị tạm giam điều tra về tội vi phạm qui định về hoạt động ngân hàng. RFA phỏng vấn ông Phạm Chí Dũng, người từng có thời gian 30 năm làm việc trong quân đội, chính quyền và khối đảng.

Diễm Thi: Dư luận đang xôn xao về cái chết của ông Trần Bắc Hà vì ông này qua đời khi đang bị giam để điều tra. Nhận định của một người quan sát thời cuộc tại Việt Nam của ông về trường hợp này là gì?

Phạm Chí Dũng: Theo tôi thì có một số điểm bất thường trong cái chết này.

Điểm bất thường thứ nhất là theo thông tin của báo chí Nhà nước đưa, té ra Trần Bắc Hà bị tạm giam trong một trại giam của quân đội ở Sóc Sơn, Hà Nội chứ không phải một trại tạm giam của Bộ Công an, trong khi Bộ Công an bắt Trần Bắc Hà vào tháng 11/2018.

Theo quy trình của bộ luật tố tụng hình sự, cơ quan nào bắt thì cơ quan đó tạm giam.

Điểm bất thường thứ hai là khi Trần Bắc Hà chết, nơi giữ xác của Trần Bắc Hà lại là Bệnh viện 105 của Bộ Quốc Phòng, cũng không phải là bệnh viện của Bộ Công an. Đến chiều ngày 18/7, báo chí đã chụp một số tấm ảnh cho thấy một số sĩ quan mặc quân phục của Bộ Quốc Phòng vào Bệnh viện 105 và bệnh viện này được bảo vệ nghiêm ngặt tối đa.

Điều đó cho thấy vấn đề của Trần Bắc Hà dường như đã được chuyển toàn bộ sang Bộ Quốc Phòng. Phải chăng vấn đề của Trần Bắc Hà không đơn thuần là những vụ án sai phạm kinh tế, mà nó còn liên quan tới những vấn đề khác sâu bên trong nội bộ của ĐCSVN, đặc biệt liên quan tới những quan chức cấp cao về mặt kinh tế cũng như chính trị.

Điểm bất thường thứ ba là nguyên nhân ông Trần Bắc Hà chết thì có báo nói là do cao huyết áp, có báo nói do mắc bệnh hiểm nghèo về gan, nhưng Bệnh viện 105 xác định ông Hà chết bên ngoài bệnh viện, chết trước khi đến bệnh viện mà có thể hiểu là chết trong trại giam. Điều đó có nghĩa là cái chết này xảy ra rất nhanh. Liệu có một chất “xúc tác” gì đó mà nó gây đột tử cho Trần Bắc Hà hay không?

Điểm bất thường thứ tư cần xem xét là những cái chết trong trại tạm giam quân đội và công an đều rất bí mật mà bên ngoài không thể biết được. Nhưng chỉ đầu giờ sáng ngày 18/7/2019 thì trên mạng xã hội đã có thông tin Trần Bắc Hà chết, và đến buổi trưa thì được báo chí Nhà nước xác nhận.

Làm sao tin tức rất nội bộ trong trại giam có thể lên mạng xã hội và báo chí Nhà nước nhanh như thế. Liệu có một chủ trương nào đó cho phép báo chí Nhà nước đăng những tin tức như thế này hay không?

Diễm Thi: Vì sao ông lại có những kết luận bất thường như thế, thưa ông?

Phạm Chí Dũng: Trước đây Trần Bắc Hà được coi là trùm mafia tài chính, nhưng cũng được coi là một nhân vật có ảnh hưởng chính trị, thậm chí làm chính trị, làm công tác tổ chức nhân sự cấp ủy viên trung ương. Do đó việc Trần Bắc Hà bị bắt cũng có thể dính dáng đến những vụ việc khác như an ninh quốc gia, cho nên cả Bộ Công an và Bộ Quốc Phòng đều quản lý ông ta sau khi bị bắt. Đó là dấu hỏi thứ nhất.

Một dấu hỏi nữa là phải chăng khi chỉ đạo bắt Trần Bắc Hà, ông Nguyễn Phú Trọng không tin tưởng Bộ Công an cho nên đã giao Trần Bắc Hà cho nơi mà ông ta có vẻ tin tưởng hơn là Bộ Quốc Phòng mà cụ thể là Tổng cục 2, tức là tổng cục tình báo của Bộ Quốc Phòng.

Diễm Thi: Trước đây nhiều ý kiến nói rõ ông Trần Bắc Hà có mối liên hệ mật thiết với cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, về điều này ông có ý kiến gì?

Phạm Chí Dũng: Trần Bắc Hà được xem là một quan chức dù chỉ là doanh nghiệp nhưng trước đây đóng vai trò khá tích cực liên quan tới Ngân hàng Bản Việt của Nguyễn Thanh Phượng, con gái cựu thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Trần Bắc Hà cũng được coi là một cánh tay mặt của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình thời kỳ trước đây. Mà Thống đốc Bình lại là cánh tay mặt của Thủ tướng Dũng. Trần Bắc Hà nắm rất nhiều thông tin, rất nhiều vụ việc.

Ông Trần Bắc Hà (áo xanh ngoài cùng bên phải) trong chuyến công du Ấn Độ cùng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hồi năm 2014
Ông Trần Bắc Hà (áo xanh ngoài cùng bên phải) trong chuyến công du Ấn Độ cùng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hồi năm 2014 Courtesy Fb Truong Huy San

Khi Trần Bắc Hà bị bắt vào tháng 11/2018 thì đã dậy lên đồn đoán về khả năng từ nhân vật Trần Bắc Hà sẽ ‘phăng’ ra rất nhiều quan chức cấp cao khác.

Diễm Thi: Điều này khiến có liên tưởng đến một số trường hợp chết mà người ta thường dùng từ ‘giết người, diệt khẩu’, theo ông trong trường hợp ông Trần Bắc Hà vừa qua đời có thể có hay không?

Phạm Chí Dũng: Điều này làm chúng ta nhớ lại cái chết đầu năm 2014 của Thượng tướng  Phạm Quý Ngọ – Thứ trưởng Bộ Công an – thình lình chết trong quá trình dưỡng bệnh. Cái chết đó đến nay vẫn để lại một câu hỏi là liệu có bàn tay nào làm cho ông ta phải chết hay không.

Liệu có bàn tay nào đó đã làm cho Trần Bắc Hà phải chết hay đó là cái chết tự nhiên, là điều dư luận đang dậy sóng và đặt câu hỏi. Thậm chí người ta còn nghi vấn liệu có việc “giết người diệt khẩu” hay không.

Tôi cho là không loại trừ khả năng đó, bởi Việt Nam hiện nay bên ngoài mang vẻ bình yên, êm ả nhưng bên trong lại rất lộn xộn. Chính trường lộn xộn, nội bộ lộn xộn, các phe phái tranh giành quyền lực lẫn nhau. Đã có rất nhiều thông tin được đưa lên mạng xã hội, tuy không được kiểm chứng, nhưng nó cho thấy khả năng bị đầu độc bằng cách này cách khác có thể đã xảy ra.

Diễm Thi: Ông Trần Bắc Hà được bệnh viện xác định ‘chết bên ngoài bệnh viện’. Điều này có ảnh hưởng gì đến nơi giam giữ ông Hà trước đó hay không, thưa ông?

Phạm Chí Dũng: Nếu như vụ việc Trần Bắc Hà bị giam giữ bên tuyến của quân đội chứ không phải bên công an là đúng, thì việc Trần Bắc Hà chết và thông tin tràn ngập ngay trong ngày đã ảnh hưởng khá nhiều về bên quân đội. Tôi nghĩ rằng điều đó không tốt cho cái được gọi là “uy tín” của cơ quan bên quân đội, nơi giam giữ Trần Bắc Hà.

Có lẽ sau sự việc này sẽ xảy ra một cuộc tranh cãi và vật lộn giữa các cơ quan với nhau, nghi ngờ lẫn nhau. Và có lẽ hứa hẹn sẽ là một cuộc đấu nảy lửa quanh việc truy tìm nguồn gốc vì sao Trần Bắc Hà chết và ai đã đưa tin Trần Bắc Hà chết ra ngoài.

Theo tôi thì những thông tin như thế này không thể lọt ra bên ngoài trừ khi có chủ trương; chiến thuật; thủ thuật nào đó về mặt chính trị. Dường như có bàn tay nào đó tung thông tin từ bên trong nội bộ ra bên ngoài.

Diễm Thi: Ông Trần Bắc Hà qua đời có ảnh hưởng đến việc điều tra vụ án không, thưa ông?

Phạm Chí Dũng: Theo Bộ luật Tố tụng hình sự, khi bị can chết thì vụ án được đình chỉ. Nhưng cần phải nói rõ là chỉ đình chỉ đối với bị can đó thôi, chứ còn những bị can khác liên quan đến ông Trần Bắc Hà thì vẫn tiếp tục điều tra.

Vấn đề tôi muốn nói là khi đình chỉ vụ án với Trần Bắc Hà thì một vụ án khác liên quan đến ông Hà có lẽ sẽ được mở ra, có thể còn dữ dội hơn, đó là liệu có bàn tay nào làm Trần Bắc Hà chết hay không?

Theo tôi là cuộc điều tra này sẽ huy động lực lượng còn lớn hơn cuộc điều tra cũ đối với Trần Bắc Hà bởi nó sẽ được mở rộng tới nhiều tuyến, nhiều giới, nhiều giới, nhiều quan chức khác nhau.

Chắc chắc cái chết của Trần Bắc Hà sẽ khiến một số quan chức vui mừng vì không muốn bị Trần Bắc Hà khai ra hoặc không muốn bị Trần Bắc Hà là nhân chứng tố cáo họ trước tòa án. Những gì Trần Bắc Hà đã khai trước đây (nếu có) thì vẫn có giá trị, chỉ có điều không biết Trần Bắc Hà đã khai ra những gì và những lời khai đó dẫn đến những vụ việc lớn nào và những quan chức lớn nào. Cái đó thì chưa thể biết vì nằm trong hồ sơ của Cơ quan Điều tra.

Diễm Thi: Cảm ơn ông đã dành thời gian cho RFA.

   Bàn tay

   Bàn tay

Một lần ông xã ngồi mân mê bàn tay tôi rồi hỏi: “Nói anh nghe, bàn tay này đã nắm bao nhiêu bàn tay rồi?

Một câu hỏi không hề dễ trả lời, thậm chí là không thể trả lời cho chính xác. Có những bàn tay ta nắm rồi buông, và chẳng bao giờ còn nhớ lại. Có những bàn tay, nắm rồi nhớ mãi dù năm tháng đi qua.

Bàn tay tôi nắm đầu tiên là của ai, là bố hay là mẹ? Tôi chắc chắn không biết. Nhưng tôi biết đó là hai bàn tay tôi đã nắm nhiều nhất thuở ấu thơ. Những bàn tay to, thô ráp bởi cày cuốc ruộng đồng, những bàn tay như thần thánh có thể làm hết thảy mọi việc. Bàn tay bố dắt tôi chập chững bước đi. Bàn tay mẹ cầm tay tôi uốn từng nét chữ. Bất cứ khi nào tôi ngã, hay khi tôi buồn khóc, ốm đau, sẽ có bàn tay rộng lượng chìa ra cho tôi nắm vào để biết rằng mình đang được vỗ về an ủi.

Sau này lớn lên, tôi lấy chồng xa, thỉnh thoảng đưa con về thăm nhà, ngủ chung với mẹ. Những đêm chờ mẹ ngủ say, tôi cầm bàn tay mẹ áp vào ngực mình. Bàn tay vẫn to, đầy những nốt chai sần và nay đã nhăn nheo gầy guộc. Và tôi khóc, cảm giác nhớ tiếc một cái gì đó.Tôi nhớ bàn tay người con trai đầu tiên mà tôi gọi đó là mối tình đầu. Đôi bàn tay đẹp, dài với những chiếc móng được cắt gọt cẩn thận. Người ấy thường nhẹ nhàng nắm lấy tay tôi, dùng ngón tay mình vẽ vẽ vào lòng bàn tay tôi rồi hỏi: “Đố em biết anh vừa viết gì?” Tôi lắc đầu. Anh cười nói anh viết rằng: “Anh muốn nắm tay em đi hết con đường đời dài rộng” Nhưng rồi mọi lời hứa hẹn đều như gió thoảng mây bay. Bàn tay ấy đã buông lơi, thôi không còn nắm tay tôi mà tìm đến một bàn tay khác.

Những lúc buồn, tôi vẫn vô thức tự vẽ vẽ lên lòng bàn tay mình. Rồi lại tự cười một mình khi nhận ra mình giống hệt một kẻ ngốc.

Ngày có người con trai cầm tay tôi nói lời cầu hôn, tôi cảm nhận rõ sự gai góc xù xì trong bàn tay ấy. Cảm giác ấy khiến tôi liên tưởng đến bàn tay mềm mại của mối tình đầu, rồi chợt thốt lên: “Sao bàn tay anh xấu thế?” Anh nhìn tôi, bật cười giải thích, vì nó không được lớn lên trong mượt mà nhung lụa mà lớn lên bởi những gánh nặng mưu sinh, vì nó không được nâng niu mà đã bao phen trầy da chảy máu. Rồi anh nhìn vào mắt tôi, bàn tay siết chặt bàn tay: “Em cứ tin, nó không đẹp nhưng chẳng ngại khó khăn nào cả, hãy cứ vững tâm mà nắm lấy, được không?”

Cuối cùng thì tôi đã nhận lời nắm lấy bàn tay ấy, để anh dắt lên xe hoa, để anh lồng vào ngón tay chiếc nhẫn cưới, để anh lau những giọt nước mắt ngày tôi về nhà chồng. Bàn tay ấy đã tự vào bếp nấu cho tôi bát cháo ngày tôi ốm, tự cắm hoa vào lọ những ngày kỷ niệm yêu đương. Bàn tay ấy đã dắt tôi đi qua bao nhiêu ngày tháng chông chênh đan xen những lo toan và niềm hạnh phúc.. Đôi bàn tay xù xì nhưng cứng cáp và ấm áp vô ngần.

Ngày tôi đau tưởng chừng xé ruột để cho chào đời một sinh linh, đứa con gái bé bỏng của tôi sau khi được y tá tắm rửa sạch sẽ được đặt nằm cạnh mẹ. Hai bàn tay nhỏ xíu yếu ớt. Tôi nhẹ nhàng chạm vào bàn tay con, hạnh phúc đến ứa nước mắt. Đó là khi tôi biết rằng mình đã thực sự trưởng thành, và tin rằng mình sẽ mạnh mẽ hơn để có thể che chở cho con, để dắt con đi suốt những tháng năm thênh thang phía trước.

Những đêm nằm bên con, cầm lấy tay con đặt nhẹ lên môi hôn, chợt nghĩ rằng có lẽ ngày xưa mẹ mình cũng nâng niu và yêu thương mình nhiều đến thế. Rồi một ngày con gái mình sẽ lớn, sẽ lại đặt bàn tay vào một bàn tay khác mà con thương yêu. Chỉ mong con gặp đúng người để tin, và bàn tay không bị buông lơi trong nỗi đớn đau thất vọng.

Ngày ông nội mất, tôi nghẹn lòng nhìn bà nội cầm tay ông kể lể về những tháng ngày xưa cũ khi ông bà còn trẻ. Hai người đã cùng nhau sống chung hơn nửa thế kỉ với bao nhiêu yêu thương, giận hờn, khổ đau, hạnh phúc. Vậy mà nay tay bà còn ấm, tay ông đã lạnh ngắt rồi.

Chẳng ai cưỡng được số mệnh, chẳng ai đâu. Ai rồi cũng sẽ một ngày về nằm trong lòng đất. Có người ra đi trong ồn ào khóc lóc, có người lìa khỏi thế gian trong lạnh lẽo cô đơn. Người ra đi bởi đã trả xong nợ cõi trần. Chỉ là người ở lại sẽ mang nhiều nuối tiếc xót xa khi biết rằng bao nhiêu yêu thương lúc này cũng không thể sưởi ấm cho người được nữa.

Thỉnh thoảng tôi vẫn đưa tay mình lên trước mặt rồi tự hỏi lại câu chồng mình đã hỏi:
“Bàn tay này đã nắm bao nhiêu bàn tay?”
Nhiều, nhiều lắm. Có những cái nắm tay khiến mình nhớ mãi, có những cái nắm tay buông rồi là quên ngay. Có những cái nắm tay thật chặt, cũng có cái nắm tay buông lơi hờ hững. Chợt nhận ra một bàn tay đẹp không phải là bàn tay thon dài mềm mại với những chiếc móng được tỉa tót sơn màu. Một bàn tay đẹp là chìa ra đúng lúc mình cần, nắm tay mình qua những đoạn đường đời chông chênh sỏi đá, dẫu mệt mỏi cũng không buông, dẫu xa xôi cũng không nản.

Nếu chúng ta đang có những bàn tay để nắm, xin hãy trân trọng từng phút giây. Đừng mơ mộng những bàn tay xinh đẹp của ai kia mà buông lơi bàn tay gần gũi ấm áp ở bên mình. Nắm lấy tay nhau, cử chỉ ấy ấm áp hơn mọi lời nói yêu thương đầu môi chót lưỡi. Bởi cuộc đời nhiều bất trắc, ai biết được khi nào ai nhắm mắt xuôi tay. Ai biết được khi nào tay mình vẫn ấm áp đây mà bàn tay ai kia đã vô chừng lạnh lẽo. Vậy nên khi sống không đem đến cho nhau sự ấm áp, thì khi lìa khỏi nhân gian có bịn rịn tiếc thương cũng còn ý nghĩa gì?

Lê Giang

From: Dominhtam

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Đất Đai Thủ Thiêm & Đồ Mã Ba Đình

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Đất Đai Thủ Thiêm & Đồ Mã Ba Đình (RFA)

Ảnh của tuongnangtien

Đề nghị chúng ta hãy làm dân thường một vài giờ thì sẽ thấy tính mạng, nhân phẩm và tài sản của người dân dễ bị xâm hại, dễ bị xúc phạm như thế nào.

Đại biểu Trương Trọng Nghĩa

Sinh lão bệnh tử là lẽ tự nhiên của kiếp người. Tuy thế, khi còn trẻ, tôi vẫn cứ tưởng rằng đó là chuyện của người nào khác (thôi) chớ không mắc mớ gì ráo tới mình. Tưởng vậy, tất nhiên, là Tưởng Tầm Bậy. Mấy năm nay, những năm cuối đời, tôi phát bệnh tùm lum (suyễn, thống phong, cao huyết áp …) nên mới chợt nhận ra là cái chết – ngó bộ – cũng không còn xa xôi mấy.

Từ đó, tôi bắt đầu nghĩ đến chuyện hậu sự với không ít âu lo. Dù gần cả đời sống ở Hoa Kỳ nhưng tôi nói tiếng Anh không được rành rẽ lắm. Cứ hình dung ra cảnh một đêm trăng ngà, trong cái nghĩa trang toàn là ma (Mỹ) đang chuyện trò rôm rả mà mình lại ngồi thu lu (ở một góc xa) thì buồn bã và cô đơn hết biết luôn.

Vậy là tôi lật đật hỏi thăm giá cả mộ phần ở quê nhà. Thằng con ông anh hồi đáp tức thì, qua email: “Hai mét vuông đất ở nghĩa trang Thánh Mẫu, phường 8, Đà Lạt hiện đang có giá là 300 triệu đồng. Chú nhắm có khả năng chôn thì hãy chết, bằng không thì thôi nhá.”

Thôi sao được, Trời. Sinh lão bệnh tử mà! Suy nghĩ cả buổi tôi mới tìm ra một giải pháp vẹn toàn. Đốt. Xong dặn con cái bỏ tro vô cái lon sữa bò mang gửi về VN đặt ké trong phần mộ của song thân.

Khoẻ!

Khỏi tốn kém cắc nào mà còn được hưởng lợi nữa nha. Lợi cái là khi tụi nhỏ đốt vàng mã cho ông bà thì làm gì mà hai người không chia cho tui chút ít. Con mà ai lại không thương chớ, kể cả cái thứ con cái hư đốn và tệ bạc như tui, đúng không?

Thiệt là một phát kiến thần tình. Ai cũng “chơi” kiểu đó thì xứ sở đỡ hao tốn đất đai, lại còn bớt được nạn ô nhiễm môi sinh vì số vàng mã mang đốt hàng năm sẽ giảm đi không ít. Cứ như thế, không chóng thì chầy, cái phố Hàng Mã ở Hà Nội sẽ  đi đong là cái chắc.

Vấn nạn nghìn tỷ vàng mã mang đốt hằng năm, như thế, kể như xong. Vấn đề còn lại, nan giải hơn, là phải giải quyết dứt điểm mớ đồ mã của Đảng Cộng Sản Việt Nam kìa – một đảng chuyên làm hàng giả và làm rất khéo.

 Xin nói qua về vài ba mặt hàng tiêu biểu, đã được bầy bán khắp nơi: 

Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam (M.T.G.P.M.N) chả hạn. Nó được nặn ra vào ngày 20 tháng 12 năm 1960, và nặn khéo đến độ khiến có người tưởng là đồ thật. Ðến khi được mang ra đốt, nó cháy như điên. Sự nghiệp cách mạng của nhiều người miền Nam cũng cháy theo (luôn) như đuốc! Đám tro tàn còn lại đã được Đảng bỏ vô Mặt Trận Tổ Quốc (M.T.T.Q) để khỏi vương vãi tùm lum.

Cái Mặt Trận này mới thực sự là một sản phẩm đặc sắc của dân làng Ba Ðình, có mặt từ tháng 9 năm 1955, tập hợp nhiều món đồ mã linh tinh khác (Hội Cựu Chiến Binh, Ủy Ban Tôn Giáo, Hội Nông Dân Việt Nam, Hội Phụ Nữ Việt Nam, Tổng Công Ðoàn…) khác. So với mặt hàng chiến lược này thì những thứ đồ mã vớ vẩn như M.T.G.P.M.N, Mặt Trận Giải Phóng Tây Nguyên, Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc Dân Chủ & Hoà Bình … đều là chuyện nhỏ, nếu chưa muốn nói là đồ bỏ, chỉ có tính cách giai đoạn mà thôi. 

Điều 9 của mước C.H.X.H.X.N.V.N (2013) quy định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.”

Tất nhiên là nói chơi vậy chớ không phải vậy đâu. Ai mà tưởng vậy là Tưởng Tầm Bậy, và hậu quả rất khó lường. Trong một phiên họp của M.T.T.Q, vào ngày 30 tháng 10 năm 1956, luật sư  Nguyễn Mạnh Tường lỡ góp ý với ĐCSVN (“Qua Những Sai Lầm Trong Cải Cách Ruộng Đất”) nên ông bị bị vùi dập thê thảm cho mãi đến khi nhắm mắt lìa đời.

Sáu mươi ba năm sau, sau hôm L.S Nguyễn Mạnh Tường đọc diễn văn trước M.T.T.Q, bà Nguyễn Thị Thùy Dương (một dân oan ở Thủ Thiêm) uất ức cho biết: 

“Cả đêm 18 đến rạng sáng 19/6/2019, tôi thức trắng sau bao nổ lực cố gắng giành cho được 2 lá phiếu để phát biểu trong lần tiếp xúc cử tri. Mặt trận tổ quốc Quận 2 cho đến Mặt trận tổ quốc phường Bình Trưng Đông nơi tôi sinh sống nhất quyết không cho tôi đăng kí. Họ đổ lỗi lẫn nhau, họ chặn mọi con đường để tôi không thể nói.”

Nói cách khác kể từ năm 1955 cho đến nay, cái gọi là M.T.T.Q không làm gì khác hơn là mượn danh nhân dân để bịt mồm của chính họ bằng nhiều phương cách mà điển hình nhất là “tổ chức hiệp thương” (đảng cử dân bầu) – theo nhận xét của ông Hà Sỹ Phu:

“Anh nắm hết mọi sức mạnh trong tay, muốn bầy đặt cái gì cũng được, anh có dành cho nhân dân một hội đồng để giúp anh thu thập tiếng nói của dân, hay anh lại tìm cách đưa Bí thư tỉnh ủy, Bí thư thành ủy sang phụ trách luôn… cho nhất quán?” 

Do sự “nhất quán” này mà bi kịch Thủ Thiêm đã kéo dài gần hai mươi năm qua  trong nín lặng. Cho đến khi sự việc không thể ém nhẹm được nữa, Đại Biểu Quốc Hội phải lộ diện thì họ hành sử trơ tráo đến độ khiến cho người dân phải ném giầy vào mặt.

                                                       Ảnh: báo Nghệ An

Blogger Trân Văn kết luận:

“Hệ thống công quyền như thế chính là hậu quả của một hệ thống chính trị ‘ưu việt’ hơn phần còn lại của nhân loại. Dưới sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của đảng, ba đại biểu của Quốc hội đại diện cho cơ quan đại diện ‘ý chí, nguyện vọng của toàn dân’ chỉ làm được một chuyện: Mỗi năm vài lần, trước và sau các kỳ họp Quốc hội phơi mặt để dân chửi như một cách giúp họ hạ hỏa, đồng thời cũng là để xiển dương thể chế ‘dân chủ gấp vạn lần thiên hạ’. Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) – tập hợp các tổ chức chính trị đại diện cho tất cả các giới, các thành phần khác nhau trong xã hội – cũng thế và cũng vì thế, mới bị cô Dương tố cáo: Cử tri muốn tiếp xúc với đại diện của mình tại Quốc hội phải… đăng ký với MTTQ và nỗ lực duy nhất của là… ngăn cản.”

Đã thế, người dân còn phải đóng thuế để nuôi dưỡng cái “lực cản vỹ đại” này. Trang Quản Lý Nhà Nước (State Management Review) tiết lộ:

“Nghiên cứu gần đây về ngân sách cho các hội, đoàn thể của Viện Nghiên cứu chính sách kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội cho thấy, NSNN ước tính chi khoảng 14 nghìn tỉ đồng cho toàn bộ khối này, gấp đôi dự toán cho Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế và gấp 5 lần cho Bộ Khoa học và Công nghệ…  Nếu tính cả dự toán ngân sách cho Liên minh Hợp tác xã Việt Nam thì tổng chi lên đến 1.615,710 tỷ đồng. Hầu hết các hệ thống hội đoàn, trong đó đặc biệt là các tổ chức CTXH, được tổ chức theo mô hình hành chính, có biên chế, trụ sở, xe…”

Thế còn Quốc Hội?

Đại biểu Trần Quốc Tuấn từ tỉnh Trà Vinh cho biết ông có được nghe một chuyên gia cung cấp thông tin rằng: “nếu mỗi một phút chúng ta ngồi tại hội trường này thì nhà nước phải bỏ ra khoảng 2 triệu đồng, bình quân mỗi một kỳ họp như thế một ngày chúng ta mất khoảng 1 tỷ đồng.”

Blogger Trân Văn chi tiết hơn xíu nữa: “Nếu cộng thêm khoản lương phải trả cho cả các đại biểu Quốc hội lẫn hệ thống tham mưu, giúp việc và chi phí kinh tế – xã hội (bao gồm: đất đai, nhà cửa, xe cộ, các tài sản khác) dành cho Văn phòng Quốc hội và 63 Đoàn Đại biểu Quốc hội, tổng chi phí hàng năm cho việc vận hành, duy trì hoạt động của Quốc hội Việt Nam có lẽ không dưới mức ngàn tỉ.”

Toàn là Đồ Mã không mà mắc dữ vậy, mấy cha? Mang đốt hết đi cho rảnh nợ. Mà dù không muốn đốt chăng nữa thì cũng đã đến lúc chúng phải cháy thôi.

CÓ THỂ và KHÔNG THỂ

CÓ THỂ và KHÔNG THỂ

Cuộc sống có nhiều mối liên kết giữa vật chất và tinh thần, có loại CÓ THỂ và có loại KHÔNG THỂ. Có lẽ thứ “rắc rối” nhất là vật chất, tiền bạc, bởi vì “cội rễ sinh ra mọi điều ác là lòng ham muốn tiền bạc” (1 Tm 6:10). Người ta nói rằng “Tiền là Tiên, là Phật, là sức bật của lò xo, là nỗi lo của tuổi trẻ, là sức khỏe của tuổi già, là cái đà danh vọng, là cái lọng che thân”, và còn đủ thứ “là” khác nữa.

Theo Việt ngữ, Tiền là Tiên bị đè bởi cái đà “dấu huyền” nên thành Tiền. Bất cứ mối quan hệ nào “dính líu” tới nó đều gặp “phiền phức” lắm. Về mối liên quan với tiền bạc, một thi sĩ người Na Uy (quên tên rồi) có nhận định thú vị thế này:

Tiền có thể mua được thực phẩm nhưng không thể mua được sự ngon miệng.

Tiền có thể mua được thuốc tốt nhưng không thể mua được sức khỏe.

Tiền có thể mua được kiến thức nhưng không thể mua được sự khôn ngoan.

Tiền có thể mua được sự lộng lẫy nhưng không thể mua được vẻ đẹp.

Tiền có thể mua được trò cười nhưng không thể mua được niềm hoan hỉ.

Tiền có thể mua được người quen nhưng không thể mua được bạn tri kỷ.

Tiền có thể mua được người hầu nhưng không thể mua được sự trung thành.

Tiền có thể mua được sự nhàn rỗi nhưng không thể mua được sự bình an.

Tiền có thể mua được cái vỏ bên ngoài nhưng thể không mua được cái hạn bên trong.

Theo cách lý luận đó, chúng ta có thể lý luận thêm nhiều điều khác trong cuộc sống. Chẳng hạn vài điều này:

Tiền có thể mua được trang phục đẹp nhưng thể không mua được nhân cách.

Tiền có thể mua được ngôi nhà nhưng không thể mua được tổ ấm.

Tiền có thể mua được đám cưới nhưng không thể mua được hạnh phúc.

Tiền có thể mua được đám giỗ nhưng không thể mua được lòng hiếu thảo.

Tiền có thể mua được chiếc giường êm nhưng không thể mua được giấc ngủ ngon.

Tiền có thể mua được bằng cấp nhưng không thể mua được sự giáo dục.

Tiền có thể mua được chức tước nhưng không thể mua được uy tín.

Tiền có thể mua được tiệc mừng nhưng không thể mua được lý tưởng.

Tiền có thể mua được tác phẩm nhưng không thể mua được tài năng.

Tiền có thể mua được bảo hiểm nhưng không thể mua được sự an toàn.

Tiền có thể mua được tặng vật từ thiện nhưng không thể mua được lòng nhân đạo.

Tiền có thể mua được hoa, nến, nhang, đèn,… nhưng không thể mua được lòng thành kính.

Tiền có thể mua được nhân chứng nhưng không thể mua được phép lạ.

Tiền có thể mua được nhà thờ nhưng không thể mua được đức tin.

Tiền có thể mua được đài tưởng niệm nhưng không thể mua được phúc trường sinh.

Cái Khôn và cái Khốn rất gần nhau, theo Việt ngữ thì chỉ khác nhau cái “dấu sắc” – vừa sắc vừa bén. Chính Chúa Giêsu đã khuyến cáo: “Anh em đừng tích trữ cho mình những kho tàng dưới đất, nơi mối mọt làm hư nát, và kẻ trộm khoét vách lấy đi. Nhưng hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát, và kẻ trộm không khoét vách lấy đi. Vì kho tàng của anh em ở đâu thì lòng anh em ở đó” (Mt 6:19-21; Lc 12:33-34).

Thần Tài chỉ là nhân vật của óc tưởng tượng, không có thật, nói thẳng ra là mê tín dị đoan. Thế mà vẫn có những người ấu trĩ tin theo, trong số đó vẫn thấy có cả người Công giáo. Đừng lạm dụng câu “có thờ có thiêng, có kiêng có lành”. Thật đáng quan ngại! Chúa Giêsu mạnh mẽ xác định: “Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được” (Mt 6:24; Lc 16:13).

TRẦM THIÊN THU

Sáng 22-6-2019

Từ cái lon đến cái lu

Cái Lu to cái Lon lớn chống lụt


Cuộc đời quá khổ và quá buồn, nên đôi khi chúng ta cần một vài phút “thư giãn,” để giãn ra cái gì đang căng và thư thả lại cái gì đang gấp. Muốn được như vậy cứ mở vào những trang báo Việt Nam là đủ. “Tuổi già hạt lệ như sương,” khóc thì khó có nước mắt, nhưng cười thì hỉ hả, miễn là giữ lại hàm răng giả thật chặt. “Cười ra nước mắt!” Ai than là tuổi già khô nước mắt để khóc, nhưng lúc cười nước mắt lại tuôn, vậy cười hay khóc cũng giống nghĩa như nhau.

Tôi nghĩ chưa lúc nào đất nước Việt Nam lại có những đầu óc siêu phàm như hôm nay, đúng như thành ngữ người ta đã hoang tưởng dùng nó để tự ca tụng mình là “đỉnh cao trí tuệ!” Không những đã được mang danh trí thức mà còn đầy những thứ khoa bảng. Việt Nam hiện nay có hơn 24,000 tiến sĩ và mỗi năm có chỉ tiêu đào tạo thêm khoảng 350 tiến sĩ, thống kê ra thì cứ hơn một ngày thì đất nước có thêm một tiến sĩ? Trong hơn 72,000 giảng viên đại học Việt Nam, số thạc sĩ là 43,000, tiến sĩ là 16,500. Tin hay không tin là quyền của mỗi người.

Cứ xét trình độ một nhân vật cầm quyền tiêu biểu ngớ ngẩn như Nguyễn Xuân Phúc với trình độ cử nhân kinh tế, ngoại ngữ Anh văn B, Nga văn B, thì người ta cũng đã thất vọng rồi! Nhìn xuống, thấy toàn là những thứ tiến sĩ, phó giáo sư nhưng mỗi lần mở miệng thấy trình độ không hơn gì một đứa trẻ tiểu học trước đây. Bởi vậy một em tốt nghiệp Tú Tài II thời xưa, cho biết em hiện nay, em đang sống dư dả với nghề viết “luận án” cho các tiến sĩ ngày nay.

Những giới chức như đại biểu nhân dân, giám đốc, khoa trưởng khi đã kiếm được chỗ ngồi yên ấm, thì tốt hơn là nên “ngậm miệng ăn tiền” cho qua buổi, đàng này như sợ người ta quên, hay không biết tới mình, nên đã cố gắng kiếm cơ hội để phát biểu đôi câu “để đời,” không phải lưu danh muôn thuở mà tiếc thay lại “lưu xú vạn niên!”

Gần đây, cái thứ “anh hoa” này lại có phong trào “phát tiết” ra từ phe phụ nữ, mà sao thời nay đàn bà lắm miệng nhiều đến thế? Hãy nghe một giáo sư-tiến sĩ là Vũ Thị Nhung, chủ tịch Hội Phụ Sản TP.HCM, khuyến khích các bậc cha mẹ: “Để giúp đời sống tình dục của con cái mình trong tương lai, cha mẹ hãy thể hiện cách làm tình với nhau trước mặt bọn trẻ.”

Có lẽ vì đang ám ảnh cái ấy và chuyện ấy, khi hãng Coca-Cola Việt Nam quảng cáo sản phẩm của mình bằng slogan “Mở lon Việt Nam” thì bà khác là cục trưởng Cục Văn Hóa Cơ Sở thuộc Bộ Văn Hóa-Thể Thao và Du Lịch, la toáng lên rằng: “Từ ‘lon’ đứng một mình, không gắn với từ Coca-Cola hay bia, có thể được hiểu theo rất nhiều nghĩa; nếu bị thêm dấu, thêm mũ trong các quảng cáo ngoài trời sẽ rất phản cảm!”

Cục trưởng Cục Văn Hóa Cơ Sở cũng nói rõ: “Việc gắn chữ ‘lon’ như cách của Coca-Cola mà không có danh từ, trạng từ ở phía sau như ‘ở Việt Nam,’ ‘tại Việt Nam’… là phản cảm, thiếu thẩm mỹ… Hãy giả sử nếu người ta thêm dấu, thêm mũ vào cho từ đó… Từ ‘lon Việt Nam’ có rất nhiều vấn đề!”

Hãng nước ngọt này bị phạt tiền và bảng quảng cáo phải hạ xuống, bỗng chốc mà cái tên Ninh Thị Thu Hương nổi lên như cồn. Quần chúng một mặt buồn cười cái ngớ ngẩn, có quyền lực đang áp đặt một biện pháp lên một dòng chữ quảng cáo bình thường không có gì phải lo sợ vì sự xỏ xiên, xuyên tạc của nó. Chỉ sợ rồi đây, những đầu óc ngu và… ngoan (cố) thế này sẽ đi vào chỗ tăng trưởng quyền lực và cấm đoán thêm cách dùng chữ nghĩa, bằng lối tư duy sợ… bỏ dấu nữa. Sẽ không còn ai dám nói đến cái thứ mà Việt Nam chưa sản xuất nỗi là con “bu-lon,” Hồng Kông nằm bên hông “Cho Lon,” và một loạt sinh hoạt “mung lon,” “gan lon,” “len lon,” “rua lon” của các ông lính…

Nỗi lo sợ của bà Cục Trưởng Ninh Thị Thu Hương là sợ thói quen “chụp mũ” của thiên hạ, trong đó có cả chính quyền. Thiên hạ thì thích “chụp mũ,” “đội ô” lên những chữ không có mũ, chính quyền công an thì thích chụp mũ lên những cá nhân không có mũ, bằng những cái mũ “âm mưu lật đổ chính quyền,” “làm gián điệp ngoại quốc,” “tổ chức Việt Tân…” được kèm theo với vài chục năm tù tội.

Dư luận chưa hết bàn tán chuyện cái lon, thì tiếp đến là chuyện cái lu.

Chúng ta đã biết, đối với người dân thành phố Sài Gòn thì chuyện ngập lụt mỗi khi trời mưa là chuyện vô phương cứu chữa, bao nhiêu kế hoạch, công trình đề ra rồi cũng không đi đến đâu, dân nghe chính quyền nói nhiều mà không thấy tình trạng thay đổi. Nhà nước biện bạch: thứ nhất là thiếu tiền, thứ hai là nhân lực, thứ ba là thời gian, với khối lượng như thế không thể làm trong thời gian ngắn được.

Câu chuyện cái lu bắt đầu từ chiều 12 Tháng Tư, 2019, tại phiên họp của Hội Đồng Nhân Dân TP.HCM, đại biểu Phó Giáo Sư-Tiến Sĩ Phan Thị Hồng Xuân, kiêm một lố chức tước, chủ tịch Hội Hữu Nghị Việt Nam-Đông Nam Á, phó chủ tịch kiêm tổng thư ký Hội Dân Tộc Học-Nhân Học TP.HCM, giảng viên tại Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn TP.HCM, đã đưa ra ý kiến, mỗi nhà dân ở Sài Gòn nên có một cái lu chứa nước để chống ngập mỗi khi có trời mưa.

Cả nước đang cười ầm lên vì chuyện cái lu của Tiến Sĩ Hồng Xuân, thì bà phân bua với báo chí: “Đây là giải pháp tôi rất tâm huyết, nghiên cứu kỹ lưỡng nên mới đề xuất. Đây là ứng dụng từ giá trị văn hóa bản địa (?).” Bà cũng nói chuyện này bên Nhật, bên Phi người ta đã làm và không thấy bị ngập. Bà cũng chê người dân “không đủ trình độ,” nghĩa là còn ngu, để hiểu giải pháp “trí tuệ” dùng lu chống ngập của bà!

Người dân phản bác rằng, dù có hàng triệu cái lu cũng không thể chống được úng ngập khi nền xây dựng đô thị thấp, khi có nước sông dâng cao không thể chảy thoát  ra ngoài được. Hệ thống hạ tầng kỹ thuật, nhất là kỹ thuật thoát nước và chống ngập úng không theo kịp với tốc độ phát triển đô thị. Hệ thống thoát nước cũ, nhỏ dẫn đến không đáp ứng được nhu cầu, trong khi người dân vẫn đốn rừng, lấn chiếm, san lấp ao hồ, xả rác ra kênh rạch, làm tắc nghẽn hệ thống thoát nước. Và nước mưa chảy xuống mỗi nhà đã có lu đựng, nước mưa chảy ngoài đường, trên sông hồ, ngoài đồng ruộng, lu đâu đủ mà hứng và nước ấy chảy đi đâu?

Có người đùa cho rằng họ hàng nhà bà phó tiến sĩ, chắc quê quán ở Lái Thiêu, đang có nghề sản xuất lu đựng nước! Báo Sài Gòn Giải Phóng còn bênh vực tối đa phát minh của bà, so sánh bà với nhà khoa học thông thái là Galileo Galilei, vào thế kỷ thứ XVI, đã tìm ra những định lý về khoa học, nhưng vào thời điểm đó, quan điểm của ông không được chấp nhận và bị quản thúc tại gia cho đến chết.

Giải pháp lấy lu chống ngập của Phan Thị Hồng Xuân không khác gì suy nghĩ phát xuất từ đầu óc ngây ngô của một học sinh lớp Ba trường làng. Nhưng bà này hiện nay là cấp cao của nhiều hội hè và lại là giáo sư Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn ở Sài Gòn, làm tôi đâm ra nghi ngờ, phải chăng đây một trong những giáo sư, tiến sĩ, đặc trưng của loại khoa bảng “học giả-bằng mua?” và tiến thân nhờ đảng?

Sau chuyện cười “cái lon,” tiếp đến “cái lu,” rồi ra nay mai, sẽ là cái gì nữa đây, xin vui lòng cho biết tiếp, thưa quý bà? (Huy Phương)

 

Giá

Giá

Mỗi khi ăn quẩy lại nhớ tới câu chuyện xa xưa về nguồn gốc của món quẩy này. Hai vợ chồng gian thần Tần Cối khi xưa bán nước cầu vinh, hại chết trung thần Nhạc Phi, để rồi muôn đời sau bị người đời phỉ nhổ, con cháu cũng phải mai danh ẩn tích, thay tên đổi họ.

Con người ta sống cũng chỉ được mấy chục năm nhưng những điều họ làm sẽ có thể lưu truyền mãi về sau. Làm việc tốt, có công với giang sơn xã tắc, ích nước lợi dân thì được người đời sau hương khói phụng thờ, con cháu được rạng danh. Còn trái lại, làm nhiều điều thất đức, hại dân bán nước thì tiếng xấu muôn đời, người ta thậm chí sẽ đúc tượng để sỉ nhục, lăng mạ, từ đời này sang đời khác, con cháu vì thế cũng sẽ không thể ngẩng đầu lên được, thậm chí sẽ không còn đất để dung thân. 

Sứ giả.

Image may contain: food
Image may contain: one or more people and outdoor

CĂN BỆNH NGUY HIỂM

CĂN BỆNH NGUY HIỂM

ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống

 Tháng 10 năm 1990, ông Nhêbôisa Bôtrêvích, nhà tiên tri nổi tiếng gốc Nam Tư, người đã tiên báo bức tường Bá Linh sụp đổ và nước Đức thống nhất, trong cuộc gặp mặt tại nhà văn hóa Liên Xô, đã buồn rầu thông báo: chẳng bao lâu nữa, trên thế giới sẽ xuất hiện một căn bệnh nguy hiểm được truyền qua những tờ giấy bạc (x. Sáng Tạo số 44, tháng 10 năm 1990). 

Nghe lời thông báo ấy, thú thật ban đầu tôi không tin.  Ba láp!  Nhưng khi tổng hợp những sự kiện nước ngoài: Tỷ phú Max Well chết đột ngột trên du thuyền để lại món nợ bất minh hàng triệu đô la; hàng loạt chính khách Nhật Bản rớt đài vì dính líu làm ăn với những công ty đa quốc gia; quan tòa Ý Falcon bị sát hại, tôi nghĩ có thể có một căn bệnh nguy hiểm truyền qua tiền bạc.  Rồi nối kết với một vài sự kiện gần đây trong nước: đường giây sextour Bambi bị đem ra ánh sáng, và băng cướp “quý tử” bị hầu tòa, tôi nghiệm ra thật có một căn bệnh như thế.  Để rồi hôm nay tiếp cận với Phúc Âm, khi Thiên Chúa không chấp nhận cho kẻ tin đặt Ngài đứng chung liên danh với tiền bạc, xin được chia sẻ về dấu vết của căn bệnh ấy.  Phần gọi tên xin nhường cho cộng đoàn.  Chỉ biết rằng một khi mắc phải căn bệnh ấy người ta khinh thường tất cả: phá đổ đạo đức, khai trừ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống và đó là căn bệnh nguy hiểm cho lòng tin tín hữu.  Có ba dấu vết:

  1. Dấu vết thứ nhất được nhận ra trong thái độ cần tiền.

 Tiền bạc vốn lạnh lùng.  “Lạnh như tiền.”  Tiền chẳng quen ai, nhưng ai cũng quen tiền: trẻ khóc đòi dòng sữa mẹ, nhưng được người lớn dỗ dành dúi vào tay một tờ giấy bạc, lâu ngày thành quen, để sau này mỗi lần khóc lại thích nhận lấy tờ giấy bạc thay cho nỗi sầu nhớ mẹ.  Một người nhà quê chẳng biết chữ nhưng trong sinh hoạt hằng ngày đố ai thấy bác tính toán sai một đồng.

Tiền chẳng có tình cảm, nhưng không thiếu những tình cảm với tiền: được tiền thì vui cười hỉ hả, mất tiền thì rầu rĩ xót xa.  Ngày tết lì xì tiền thay cho phước thọ và ngày cưới, mừng tiền thế cho tình thân.  Dù Tết hay Cưới, người ta đều chúc: “Tiền vô như nước sông Đà, tiền ra nhỏ giọt như cà phê phin.”

Tiền chẳng cần ai, nhưng ai cũng cần tiền: chưa sinh ra đã cần tiền để mẹ tròn con vuông, và chết rồi vẫn cần tiền để ma chay tốt đời đẹp đạo.  Trẻ cần tiền ăn học, lớn cần tiền để gầy dựng sự nghiệp, và già cần tiền để dưỡng thân.  Đời cần tiền để phát triển, nhưng đạo cũng cần tiền để xây dựng mở mang.

Tiền cần nên tiền quý.  Người làm ra tiền là người giỏi, nghề hái ra tiền là nghề trọng, người có nhiều tiền được nể vì.  Cứ như thế đồng tiền ung dung đi vào tư tưởng lời nói và việc làm của con người.  Tình trạng cần tiền lâu ngày ủ mầm có thể dẫn đến nguy cơ lệch lạc trong cách nhìn con người và sự việc, nhất là lẫn lộn giữa sở hữu và hiện hữu, giữa tài sản và con người.  Người ta tay không có thể bình đẳng, nhưng đồng tiền đặt lên ai thì cán cân nghiêng về người ấy.  Đáng giá trị rốt cuộc là đấu giá cả.  Và nguy hiểm là ở chỗ đó.

Sáng nay quan sát thiếu nhi sinh hoạt, thấy có một đội không chơi, hỏi ra mới biết đội đó không chơi chỉ vì thiếu vắng một em đóng tiền nhiều nhất.

  1. Dấu vết thứ hai được nhận ra trong thái độ kiếm tiền.

 Đối với nhiều người, kiếm tiền là một trách nhiệm thuộc bậc sống, bởi lẽ có tiền mới trang trải được những nhu cầu cơm ăn áo mặc hằng ngày.  Nhưng vấn đề không phải là kiếm tiền mà là cách kiếm tiền.

Kiếm tiền bằng lao động chân tay trí óc, đó là điều chính đáng, nhưng quá lo lắng đến kiếm tiền để rồi quên đi những trách vụ khác trong đạo làm người và làm con Chúa, thì ở đó căn bệnh đã xuất hiện ở dạng cấp tính, có nguy cơ gây thiệt hại cho chính bản thân và cho những người lân cận.

Kiếm tiền bằng thù lao phù hợp với công sức bỏ ra thì đó là lương thiện.  Nhưng kiếm tiền bằng cách chỉ đuổi theo tiền mà không biết đến giá trị đạo đức nào khác, hoặc tự động chấp nhận “thủ tục đầu tiên”, hay “quà biếu trên mức tình cảm” của một thứ lương đồng nghĩa với sự đút lót hoặc chủ động vi phạm lẽ công bình như làm hàng giả thuốc giả “sống chết mặc bay tiền thầy bỏ túi” của một thứ kinh tế mánh mung, thì ở đó căn bệnh đã phát triển ở dạng mãn tính chẳng những gây thiệt hại mà còn chà đạp lên tiếng nói lương tâm khi ăn trên mồ hôi nước mắt kẻ khác.  Lúc đó lương tâm nhẹ hơn lương lậu, lương thiện nhỏ hơn lương tiền, và lương tri phải nhường cho lương bổng lên ngôi.  Thiên Chúa ư?  Ngài đi chỗ khác chơi, để yên cho tôi làm giàu!

Kiếm tiền để sống là đẹp, nhưng thật thảm hại khi sống chỉ để kiếm tiền.  Đồng tiền ở đấy đã xuất hiện là một căn bệnh nguy hiểm.  Thảo nào người ta vẫn bảo “tiền bạc” là đồng tiền đi liền với bạc bẽo.

Ở đây xin nhường lời cho cụ ông trước kia giàu nứt đố đổ vách, giờ gặp cảnh khố rách áo ôm quyền chia sẻ kinh nghiệm:“Khi còn trẻ người ta sẵn sàng phí sức khỏe để kiếm tiền, nhưng khi về già người ta lại sẵn sàng phí tiền để tìm lại sức khỏe.” Mà nào có được đâu!  Mời suy nghĩ.

  1. Dấu vết thứ ba được nhận ra trong thái độ xài tiền. 

Cần tiền – kiếm tiền – xài tiền.  Không có gì đáng nói nếu chỉ có thế.  Nhưng một khi xem tiền như một phương tiện vạn năng “có tiền mua tiên cũng được” lâu ngày sẽ trở thành di căn.  Hoặc trong lối sống ghẻ lạnh với những giá trị đạo đức để rồi hóa giá tất cả: phẩm giá, lẽ phải, tình thương, nhân tính…  Lối sống ấy chỉ có câu hỏi “bao nhiêu?”  Ngoài ra chấm hết.  Không lạ gì đồng tiền gây nên tệ hại theo kiểu nói “tiền tệ.”  Hoặc trong niềm tin dẫn tới hậu quả xem thường đạo giáo buôn thần bán thánh và hạ bệ Thiên Chúa, để tôn sùng tiền bạc làm thượng đế của mình như một câu vè truyền miệng đó đây: “Tiền là tiên là Phật, là sức bật con người, là nụ cười tuổi trẻ, là sức khỏe người già, là cái đà danh vọng, là chiếc lọng che thân, là cán công công lý.  Hết ý!”

Vẫn biết “đồng tiền đi liền khúc ruột” theo kinh nghiệm của các bậc tiền bối là một lời dạy khôn ngoan rất gần với sự tiết kiệm vốn phải có cho mọi kẻ giữ tiền.  Nhưng khi cẩn trọng quá hoá keo kiệt trong những tiêu pha, đến nỗi không dám bỏ ra một đồng cho nhu cầu vật chất hay tinh thần thì xem ra đồng tiền lúc ấy đã “làm phiền” khúc ruột không ít.  Hoặc khi cẩn trọng quá hóa bịn rịn trong thái độ đối với tiền như “ra đường chắt bóp tiêu pha, về nhà ngây ngất lăn ra đếm tiền” thì chừng như đã để đồng tiền “xích xiềng” khúc ruột mà không ai biết.

Ngược với thái độ cẩn trọng là một sự hoang phí tiêu xài vung vít.  Khi vung vít nhẹ là khi “vung tay quá trán” con nhà lính tính nhà quan làm một xài hai.  Khi vung vít nặng là khi “vung tiền qua cửa sổ,” dấu hiệu của sự vô độ tiêu xài.  Rồi khi để cho đồng tiền len lỏi vào trong tính toán hằng ngày và giấc ngủ hằng đêm theo kiểu lên sàn thị trường chứng khoán ngợp choáng thời giờ, thì lúc ấy khúc ruột đã nuốt trửng đồng tiền, và hậu quả duy nhất chính là đồng tiền “xay nghiền” khúc ruột.

Làm sao tín hữu có thể dung hòa lòng tin với những sinh hoạt vốn liên hệ đến tiền?  Thưa dựa trên Phúc Âm chỉ cần một chữ Tín.  Nếu giàu, hãy tín trung với Thiên Chúa để biết xài tiền phù hợp với bác ái, vì tiền là một đầy tớ tốt nhưng lại là một ông chủ xấu.  Nếu nghèo, hãy tín thác nơi Thiên Chúa để từng ngày kiếm tiền mà không vi phạm công bình, vì chỉ để một đồng xu trên mắt thôi cũng đủ bị che chắn hết tầm nhìn hướng thượng.  Và dẫu giàu hoặc nghèo, hãy tín nghĩa để gần tiền mà chẳng hôi hám mùi tiền.  Tiền bạc như dòng nước, nếu không cẩn thận người ta có thể bị cuốn trôi.

Chữ TÍN ấy là thuốc chủng ngừa căn bệnh nguy hiểm mà Bôtrêvích đã tiên báo.

ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống

– Trích dẫn từ “Nút vòng xoay”

Người Bắc có đáng ghét không (?!)

Nguyễn Kim Chi

Nguyễn Ngọc Già

– 7/10/2019

Phần 1

Nguyễn Phú Trọng phát ngôn: “Tổng Bí thư phải là người miền Bắc, phải là người có lý luận! ” khi nội bộ người CS tranh giành quyền bính vào năm 2015.

Nguyễn Thiện Nhân – vào năm 2018 – thuyết phục người dân mất đất tại Thủ Thiêm: “Tôi nói tiếng Bắc nhưng tôi là người Nam. Tôi không gạt bà con đâu”.

Ông Trọng và ông Nhân không phải là những người đầu tiên “kêu gọi” chia rẽ dân tộc Việt Nam, nhưng họ là những người Cộng Sản đầu tiên không cần che giấu (đặc biệt cả hai ông đều đang nắm trọng trách rất cao trong chế độ độc đảng toàn trị) sự kỳ thị vùng miền kinh khủng như vậy!

Lời phát ngôn hàm hồ của Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Thiện Nhân dường như “động viên” toàn dân Việt Nam lao vào cuộc chiến “huynh đệ tương tàn” đời mới (!).

“Trôi theo dòng đời” tao loạn…

Lịch sử dân tộc Việt Nam bắt nguồn từ phía Bắc – điều không thể chối cãi.

Kể từ khi vĩ tuyến 17 được phân định, người Bắc tháo chạy khỏi “bàn tay người CS” vào năm 1954.

Khi di cư, người Bắc mang theo văn hóa và cả giọng nói làm “hành trang” vào Nam.

Để thuyết phục đông đảo bạn đọc, nhất thiết phải chứng minh tính đại diện cho bất kỳ đề tài nào.

Hãy nhìn “dân Bắc Kỳ” thành danh và nổi tiếng trong lĩnh vực âm nhạc để dễ thấy nhất: đại gia đình nhạc sĩ Phạm Duy (cả ca sĩ Thái Thanh và các con của bà), đại gia đình nhạc sĩ Lữ Liên (với các con: Tuấn Ngọc, Khánh Hà, Lưu Bích, Anh Tú) , Khánh Ly, Lệ Thu, Sĩ Phú v.v… và hàng hà sa số “ca nhạc sĩ Bắc Kỳ” khác.

Trong lĩnh vực điện ảnh, người ta không thể nào quên “nữ tài tử Bắc Kỳ” Kiều Chinh với tài sắc vẹn toàn. Song song bà Kiều Chinh là “nam tài tử Bắc Kỳ” Trần Quang với chất “đàn ông đất Bắc” đậm nét, một thời làm “chết mê chết mệt” phụ nữ miền Nam và sự ngưỡng mộ của nam nhân Sài Gòn…

Bên cạnh đó, các lãnh vực khác, người gốc Bắc không thiếu: Chính trị (Phó TT Nguyễn Cao Kỳ), khoa học (Dương Nguyệt Ánh, Lưu Lệ Hằng), quân sự (Lương Xuân Việt, Nguyễn Từ Huấn) và nhiều nhân vật tên tuổi chói lọi không thể dẫn ra hết được.

Phải nói công tâm, giọng nói “đúng gốc” của người Bắc chuẩn xác và sang trọng. Hãy nhìn nữ MC Nguyễn Cao Kỳ Duyên, dù cô rời Sài Gòn ở tuổi thiếu nhi, nhưng giọng nói của cô vẫn “đặc sệt” chất Bắc Kỳ mà sang trọng. Về nam, hình ảnh đại diện về “giọng nói đàn ông miền Bắc”, có lẽ nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn đủ thuyết phục đông đảo bạn đọc, dù ông đã ngoài 70.

Ngay trong đời sống thường nhật, giọng nói của người miền Bắc, trước đây không có kiểu uốn éo (kể cả nam nhân). Quý độc giả có thể xem qua chương trình “Đường lên đỉnh Olympia” sẽ thấy rất rõ “kiểu nói” của lớp trung niên và lớp trẻ miền Bắc hiện nay.

Đặc biệt cách phát âm dấu “sắc” với chữ “cố lên”, “đánh nhau”, “chú – cháu” v.v… Nó không còn đúng nữa! Nếu chú ý một chút, cách phát âm đó ở giữa dấu “hỏi” và dấu “sắc”, chính nó đã làm giọng nói bị méo mó rất nhiều và nghiêng hẳn về “làm màu” cho đủ độ… “sang trọng” (!), nhưng lại gây khó chịu cho người nghe. Rất tiếc, người Bắc hiện nay dường như không nhận ra mà kiểu “uốn éo” dấu “sắc” đang ngày càng lan rộng, dễ dàng bắt gặp trên các đài truyền hình phía Bắc.

Người Bắc chính gốc Hà Nội có tốc độ nói vừa phải. Cách nói của người Bắc sau này, không những nhanh mà tỏ ra rất vội vã, rất bộp chộp như sợ người khác tranh phần (!).

Văn hóa và giáo dục

Tại sao phải nói dông dài về dấu “sắc” và cách nói vội vã?! Việc ngỡ nhỏ xíu, nhưng thật ra không hề nhỏ!

Nhân cách của một dân tộc xuất phát từ văn hóa và giáo dục.

Sau cuộc tháo chạy vào năm 1954, người Bắc chính gốc Hà Nội hầu như còn rất ít, như người Sài Gòn chính gốc còn ở lại, sau “siêu thảm họa” 1975.

Số lượng “dân Hà Nội chính gốc” ít ỏi đó tuân theo quy luật “lượng đổi chất đổi” của Triết Học.

Chính “lượng người Hà Nội chính gốc” quá ít (tức lượng đổi), nó không còn đủ sức níu giữ “văn hóa ngàn năm văn hiến” (tức chất đổi) của người Bắc nói riêng và người Việt Nam nói chung.

Cùng với “văn hóa ngàn năm văn vật” tháo chạy vào Nam, thì “giáo dục XHCN” chễm chệ vị trí “chính diện” trong toàn bộ các ngôi trường từ vĩ tuyến 17 trở ra (!).

Trẻ con đều được dạy nói trước khi biết đọc, biết viết. “Chất giọng” người Hà Nội Xưa cũng mai một dần theo năm tháng. Đó là hậu quả của “giáo dục XHCN” làm cho “giọng nói uốn éo” mất đi sự sang trọng và tự nhiên. Thật dễ hiểu với giáo viên có khá nhiều thầy cô “ngọng líu ngọng lo”! Phùng Xuân Nhạ bị người đời chế giễu chữ “lờ” và chữ “nờ”, thật ra ông ta là một “sản phẩm đời sau” của loại “giáo dục phi triết lý” mà thôi!

Như “mưa dầm thấm đất”, giọng nói, cách nói của người Hà Nội chính gốc đã phôi phai dần… Hàng chục năm rồi! Còn gì nữa mà không thấy?!

Người ta dễ dàng phân biệt được một người “Bắc 54” và một người “Bắc 75” thông qua, không chỉ giọng nói mà còn cách nói chuyện, cách hành xử, cách đi đứng, thẩm mỹ trong trang phục & phục sức, kể cả trong “văn hóa ẩm thực” tại nhà hàng sang trọng hay ở bàn nhậu trên vỉa hè…

Phần 2:

Tra trên google, dễ dàng nhận thấy, sau này xuất hiện những “hội” ghét người Bắc [1] khá nhiều. Có cả “cẩm nang” thật tâm của người Nam dành cho người Bắc [2], khi họ chuyển vào Nam sinh sống.

Điều đáng suy ngẫm, những biểu hiện nói trên không hề có trước 1975, kể cả những năm “sau giải phóng” cũng không nốt.

Không tìm thấy tình trạng ngược lại, như các “hội” ghét dân miền Nam hay dân Sài Gòn (?!), nhưng lại tìm thấy các “hội” ngay cả người Bắc như: Thanh Hóa, Nghệ An v.v… ghét cả “dân miền Bắc” (?!).

Có lẽ “sự kỳ thị người Bắc” xuất hiện theo “dòng chảy” của thời mở cửa vào những năm 2000 đến nay và nó ngày một “đậm đặc” hơn?!. Sự “kỳ thị người Bắc” vẫn ngấm ngầm và âm ỉ chừng như không dứt.

Ngay trong giới “đấu tranh tự do – dân chủ” không phải không bắt gặp tình trạng này, dù tế nhị hơn, giới này thường không bộc bạch công khai.

Các “trang báo quốc doanh” từng đề cập đến tình trạng “kỳ thị người Bắc” nhưng chỉ dừng lại ở một nửa của cặp phạm trù Triết Học “Hiện Tượng – Bản Chất”. Tức là các trang báo chỉ nói lên “Hiện Tượng” và thông thường kêu gọi không nên kỳ thị mà hãy đoàn kết, tương thân tương ái thông qua… “tuyên truyền” và “giáo dục” (kiểu XHCN)!

Song song đó, các nhà chuyên môn: Tâm Lý Học, Xã Hội Học, Việt Nam Học có vẻ cũng không mặn mà về “đề tài nguy hiểm” này, hoặc giả, vì nó quá đụng chạm ngay trong giới chuyên môn cũng nên (?!).

Tâm lý – Xã hội

“Giải phóng miền Nam chúng ta cùng quyết tiến bước

Diệt đế quốc Mỹ phá tan bè lũ bán nước”

(Giải Phóng Miền Nam – Lưu Hữu Phước)

“Nơi thành đô trong ánh điện quanq tiếng nấc nghẹn câu cười

Khu nhà tranh năm cánh ngoại ô rên xiết đêm ngày.

Quê nhà ta đau đớn lầm than sao bóp nghẹt tim người!

Sài Gòn ơi! Ta đã về đây! Ta đã về đây!”

(Tiến Về Sài Gòn – Lưu Hữu Phước)

Những “lời ca tiếng hát” như vậy, chúng vang vọng không chỉ trong quãng thời gian “trước và sau giải phóng” mà nó được mải miết “tụng ca dài dài” cho đến sau này, mỗi độ “Ba Mươi Tháng Tư lại về” (!)

“Chiến Tranh Tâm Lý” được sử dụng đến mức “tuyệt đỉnh kung-fu” của người CSVN, là điều phải thật tâm công nhận sự thành công của họ trong giai đoạn chiến tranh. Sự sụp đổ của VNCH, trong đó có sự thất bại của đội ngũ “Tâm Lý Chiến” là điều cũng nên công nhận nốt.

Những mảnh đời “lầm than”, những tiếng “nấc nghẹn”, những lời “rên xiết” đến “quặn thắt” như thế, thử hỏi, nó tác động kinh khủng đến cỡ nào vào tâm trí “người anh ruột miền Bắc” dành cho “người em ruột miền Nam” (?) trong lúc người Bắc đang sống trong cảnh “Đêm Giữa Ban Ngày” mà họ không hề hay biết.

Sự dối trá của người CSVN đạt mức “thượng thừa”, không những tạo ra hiệu quả cho loại “chiến thắng” dựa trên “sự phi nghĩa, bất chính danh và vô nhân đạo” mà còn tạo “hiệu ứng đa chiều”, trong đó có “hiệu ứng ban ơn”, “hiệu ứng kẻ cả”, “hiệu ứng trịch thượng” v.v… đặc biệt “hiệu ứng dạy dỗ” của “người anh ruột miền Bắc” dành cho “người em ruột miền Nam” (!).

Sự “nhồi sọ” trong hàng chục năm như vậy, nên không thể nào “gột rửa” trong thời gian ngắn. Từ “tâm lý này”, việc phân chia “công dân hạng nhất, hạng nhì” lên ngôi, không có gì khó hiểu.

Không dừng lại ở quảng đại quần chúng, trong nội bộ người CSVN với nhau, người ta thấy rất rõ các loại “hiệu ứng” nói trên thông qua phát ngôn của Nguyễn Phú Trọng hay Nguyễn Thiện Nhân, đặc biệt “mỗi độ” tranh quyền đoạt bính qua các kỳ đại hội đảng, nó càng hiện rõ mồn một.

Tâm lý – Xã hội dày đặc chia rẽ tình đồng bào từ trên xuống dưới, ngay cả thành phần công – nông, tiểu thương đều do CSVN gây ra là điều không cần bàn cãi.

Tính “trách nhiệm” của một con người (tức là “dám làm dám chịu trách nhiệm”) đã bị ngay những “bàn tay CS” bóp nát từ quá lâu và từ ngay những thành phần cấp cao nhất như: Hồ Chí Minh phủi hết trách nhiệm trong Cải Cách Ruộng Đất cho đến Lê Duẩn với hậu quả thảm thương “sau ngày giải phóng”, chẳng lẽ nó không hề “lan rộng và ăn sâu” vào trí não của từng người Bắc nói riêng và người Việt Nam nói chung (?) Và chẳng lẽ, nó không có tác động mảy may nào vào những hãng xưởng tại các khu công nghiệp miền Nam mà ở đó, người ta thẳng thừng từ chối [3] tuyển dụng dân Thanh – Nghệ – Tĩnh (?!)

Cần nhắc lại, tính “vô trách nhiệm” sản sinh ra tính “vô kỷ luật” – đó là tai ương cho đến hiện nay không hề có dấu hiệu chấm dứt. Đó cũng là “nỗi sợ hãi lớn nhất” cùng với “nền pháp luật XHCN” làm các nhà đầu tư phương Tây, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore v.v… ngán ngại, khi đến làm ăn tại Việt Nam.

Và “vô trách nhiệm” cùng với “vô kỷ luật” sản sinh ra tất cả thói hư tật xấu: bướng bỉnh, lỳ lợm, cố chấp, dối trá, thủ đoạn đê hèn, đổ thừa, đua đòi, giành giựt v.v… kể cả tính tàn nhẫn & phi nhân đối với ngay “đồng bào” của mình, cùng với “văn hóa xin lỗi” và “văn hóa cám ơn” ngày càng tiêu tan trên xứ sở “thiên đường mù lòa” mang tên nước CHXHCNVN!

Kinh tế – Chính trị

“Người Bắc có đáng ghét không?” có thể gây tranh cãi, nhưng “Người Việt Xấu Xí” trong mắt thế giới thì không còn gì cần bàn cãi thêm nữa! Khốn nỗi! Cái thứ “Người Việt Xấu Xí” không hề có trước 1975 – sự thật cũng không thể chối bỏ!

Tại sao như vậy?

Thưa rằng, tất cả do nền tảng “Kinh tế – Chính trị” do người CSVN tạo ra.

Không cần đề cập quá nhiều vào thời “mông muội” của Lê Duẩn với phát ngôn: “Tôi hỏi thì nói không có tiền. Kìa, không có thì in ra! In ra! Không sợ lạm phát! Tư bản đế quốc in tiền mới lạm phát chứ ta, chuyên chính vô sản thì sao lại lạm phát mà sợ?” – trích Đèn Cù của Trần Đĩnh.

Hãy nói về “CS hiện đại”, trong khi không chịu công nhận “kinh tế phi thị trường”, người CSVN lại biến tướng “nền kinh tế của họ” thành “KTTT định hướng XHCN” để lươn lẹo với thế giới nhằm đạt được những lợi ích nhất thời, trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Hiện nay người CSVN đang trả giá, qua việc Hoa Kỳ đánh thuế hơn 450% thép Việt Nam. Hậu quả này cũng bởi tính dối trá” và “lươn lẹo” gây ra. Chắc chắn, “sự trả giá” không dừng lại như vậy.

Kinh tế quyết định Chính trị và Chính trị tác động trở lại Kinh tế – Đó là “hằng số” Triết Học không bàn cãi.

Bên cạnh đó, bộ máy nhân sự của BCHTƯĐCSVN cũng như Bộ Chính trị và cả nội các Chính phủ – ngay đó cho thấy “người Bắc” chiếm số đông. Vì vậy, “bộ mặt người Bắc đáng ghét” chỉ là “Hình Thức” mà “Nội Dung” phải gọi chính xác là “bộ mặt người CSVN”. Điều này hoàn toàn đúng theo cặp phạm trù Triết Học “Hình Thức – Nội Dung” mà ngay cả người CSVN lẽ ra phải “nằm lòng” hơn ai hết!

Thử hỏi, còn mấy người Việt Nam không nhận ra sự ganh ghét giữa “người Cộng Sản Bắc Kỳ” với “người Cộng Sản Nam Kỳ” trên “địa hạt” này?

Chẳng lẽ 300 bộ áo dài của bà Nguyễn Thị Kim Ngân không phản ánh “hai dân tộc CS” đang đấu đá lẫn nhau trước thềm đại hội đảng sắp tới? Và còn vô vàn biểu hiện khác.

Kết

Phải nói cho chính xác, “người Bắc” không đáng ghét, chỉ có người CSVN” – dù là “Cộng Sản Bắc Kỳ” hay “Cộng Sản Nam Kỳ” – rất đáng căm ghét và rất đáng khinh bỉ trong mắt người Việt Nam trong và ngoài nước cũng như cả thế giới văn minh.

Người CSVN – dù là “Cộng Sản Bắc Kỳ” hay Cộng Sản Nam Kỳ” -phải giật mình cay đắng trước tình trạng kỳ thị “Bắc – Nam” vô cùng trầm trọng và âm ỉ suốt hàng chục năm qua, bằng lương tri và lương tâm còn sót lại.

Người CSVN – dù là “Cộng Sản Bắc Kỳ” hay Cộng Sản Nam Kỳ” – phải chịu trách nhiệm toàn bộ và liên tục trước dân tộc Việt Nam, ít nhất suốt 44 năm qua kể từ ngày, họ gọi là “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước” (!)

_________________

Nguyễn Ngọc Già

[1] https://vietnamnet.vn/…/nhuc-nhoi-chuyen-ki-thi-vung-mien-1…

[2] https://nguoinamky.com/…/cam-nang-ung-xu-cho-nguoi-bac-khi-…

[3] https://laodong.vn/…/tiep-vu-tay-chay-lao-dong-thanh-hoa-ng…

About this website

 

RFA.ORG
Nguyễn Phú Trọng phát ngôn: “Tổng Bí thư phải là người miền Bắc, phải là người có lý luận! ” khi nội bộ người CS tranh giành quyền bính vào năm 2015. Nguyễn Thiện Nhân – vào năm 2018 – thuyết phục người dân mất đất tại Thủ Thiêm: “…

Phụ nữ dù lớn tuổi xin hãy cứ xinh đẹp

Phụ nữ dù lớn tuổi xin hãy cứ xinh đẹp

Tâm hồn lão hoá còn đáng sợ hơn thân thể lão hoá, vậy nên, dù lớn tuổi thì hãy cứ “xinh đẹp”. 

Tuổi lão niên là quá trình mà mỗi người đều phải trải qua, nhưng trên con đường ấy có người sống mệt mỏi ủ rũ, lại có người sống thoải mái vô tư.

Sinh mệnh quý ở hiện tại, vào thời khắc hiện tại hãy khiến bản thân sống nhẹ nhàng thoải mái, tuy lớn tuổi nhưng vẫn xinh đẹp.

“Xinh đẹp” là một tính từ mang nghĩa tích cực, trong đó có cả rực rỡ, thành công, hạnh phúc, và là sự vui vẻ không nói thành lời. 

Xinh đẹp là tâm thái kiên trì với cái đẹp

Chúng ta có thể không có vẻ ngoài xinh đẹp, nhưng vẫn có thể trở thành một người xinh đẹp. Thế giới không có người phụ nữ xấu, chỉ có phụ nữ không muốn làm đẹp. 

Xinh đẹp và làm đẹp là một loại thái độ, dù ở độ tuổi nào cũng nên bảo trì hình thể ưu nhã. Ăn mặc hợp cách, trang phục thanh lịch, tâm thái lạc quan… đây không chỉ là tự tôn mà còn là tự trọng của người phụ nữ. 

Xinh đẹp là yêu thích trong việc trau dồi khí chất

Vẻ đẹp của người trung niên phần nhiều là đến từ khí chất, tu dưỡng, học thức, và lương tri. Những điều đó đều có yếu tố ở bên trong, có thể thông qua hứng thú yêu thích mà bồi bổ. 

Những điều tạo hứng thú có thể là đọc sách, cũng có thể là âm nhạc, mỹ thuật, thể dục. Nếu có thể bồi dưỡng tính tình, rèn luyện nhân cách, nuôi dưỡng tâm linh, thì có thể “tu” ra sự xinh đẹp, “luyện” ra được tinh thần. 

                                                 (Ảnh: myshiho.jp)

Xinh đẹp là trái tim lúc nào cũng thiện đãi bản thân

Hãy cho bản thân thêm một chút thời gian, thưởng thức từng thời khắc của mỗi ngày. Buổi sáng dậy sớm hơn 20 phút để tập dưỡng sinh, cũng có thể tản bộ dưới khí trời trong mát. Buổi chiều thưởng thức một cốc trà xanh, đọc báo hay xem sách và thư giãn. Tối đến có thể vì gia đình mà làm một bữa cơm ấm cúng. 

Dù lúc nào thì mỗi cá nhân đều nên có một loại tâm thái: Yêu bản thân và yêu mọi người, khiến bản thân hạnh phúc trong ánh sáng rực rỡ của tình yêu, khiến bản thân sống vui vẻ thoải mái. 

Xinh đẹp là một loại vận động để duy trì sức khỏe 

Xinh đẹp lúc thanh xuân là điều đơn giản. Nhưng lớn tuổi mà vẫn xinh đẹp, thì điều đầu tiên là phải có một thân thể khỏe mạnh. 

Nghiên cứu phát hiện rằng, người thường vận động so với người ít vận động thì tế bào trẻ hơn 9 năm. Vận động với cường độ hợp lý có thể làm con người bảo trì một cơ thể khoẻ mạnh, giữ gìn thanh xuân, gia tăng tuổi thọ. 

                                                   (Ảnh: ivsky.com)

Xinh đẹp là sự thanh cao xem nhẹ danh lợi

Có rất nhiều bậc cao niên trong đội biểu diễn trống lưng, mỗi lần đánh trống đều cảm thấy trên gương mặt hiện lên sự phấn khởi, tự do tự tại, sáng đẹp rực rỡ. Những nếp nhăn giống như cánh hoa khai nở, xinh đẹp chính là như thế. 

Xinh đẹp là một con đường dài, không phải là một giai đoạn nào đó trong cuộc đời, mà là cả cuộc đời.

Vì mỗi tế bào trên thân họ đều tràn đầy năng lượng của thanh xuân. Vì họ sớm đã coi những vinh nhục chìm nổi và danh lợi địa vị trong cuộc đời là phù phiếm. Điều họ truy cầu là chất lượng cuộc sống, là nội tâm thanh tịnh và thân thể khỏe mạnh. 

20 tuổi sống thanh xuân, 30 tuổi sống phong nhã ý vị, 40 tuổi sống trí tuệ, 50 tuổi sống thản nhiên, 60 tuổi sống nhẹ nhàng, 70 tuổi là bảo vật vô giá.

Vậy nên, dù lớn tuổi thì hãy cứ xinh đẹp!

 Mạn Vũ
Theo Cmoney

From: TU-PHUNG