NẾU KHÔNG CÓ CHA ĐẮC LỘ, SỐ PHẬN CHỮ QUỐC NGỮ RA SAO?

No photo description available.

Hoàng Mạnh Hà is with Vũ Xuân Tràng and 7 others.

NẾU KHÔNG CÓ CHA ĐẮC LỘ, SỐ PHẬN CHỮ QUỐC NGỮ RA SAO?

Một trong những luận điệu mà 12 “nhà nghiên cứu” đưa ra để phủ nhận vai trò của Cha Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) là “Đắc Lộ không phải là người Âu châu đầu tiên học tiếng Việt, cũng không phải người đầu tiên sáng tác chữ Quốc ngữ…”. Nói như thế, nhóm 12 “học giả” (hầu hết từ đất Thần Kinh) có thể do hoặc không đọc sách, hoặc cố tình giả ngu để phủ nhận vai trò của Cha Đắc Lộ.

Nhóm 12 này còn cho rằng, “sở dĩ Đắc Lộ về sau này được lịch sử nhắc nhở đến nhiều, có lẽ không phải vì ông đã có công kiện toàn chữ Quốc ngữ cho bằng ông đã để lại hai quyển sách”.

Đây chính là mấu chốt của vấn đề. Các ông đang cố tình xem nhẹ việc xuất bản và công bố những cuốn sách bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên của Cha Đắc Lộ. Thử hỏi, nếu những cuốn sách đó không được xuất bản thì số phận của chữ Quốc ngữ sau đó sẽ ra sao?

Các tác phẩm xuất bản của Linh mục Đỗ Quang Chính, cũng là tu sĩ Dòng Tên, đã lý giải khá cặn kẽ vấn đề này. Đó là cuốn “Lịch sử chữ Quốc ngữ 1620 – 1659” và cuốn “Tản mạn lịch sử Giáo hội Công giáo Việt Nam”.
Xin nói thêm, Linh mục Đỗ Quang Chính là tiến sĩ sử học ĐH Sorbonne, Pháp. Tuy nhiên, trên các sách của ngài, chúng ta sẽ không bao giờ thấy ghi học vị. Mà tôi thấy hầu hết các vị chân tu đều chẳng bao giờ in học hàm, học vị trên các trước tác, hoặc danh thiếp của họ.

NHỮNG CUỐN SÁCH QUỐC NGỮ ĐẦU TIÊN BỊ THẤT TRUYỀN
Trở lại chuyện chữ Quốc ngữ, chẳng những Cha Francisco de Pina là người học tiếng Việt đầu tiên, là thầy dạy tiếng Việt cho Cha Đắc Lộ mà ngài còn là đầu tiên soạn ra cuốn sách CHÍNH TẢ VIỆT NGỮ. Cuốn này Cha Pina viết tại Hội An khoảng năm 1622. Đến năm 1623, Cha Francisco de Pina lại viết cuốn NGỮ PHÁP TIẾNG VIỆT. Cuốn này viết tại Hội An hoặc Thành Chiêm.

Ngoài ra, còn khoảng ba cuốn sách do các giáo sĩ khác viết trong thời kỳ từ 1625 – 1642. Có cuốn thì viết ở Đàng Trong, có cuốn viết ở Đàng Ngoài.

Theo Cha Đỗ Quang Chính, sở dĩ chúng ta biết có những cuốn sách viết tay đã xuất hiện ở giai đoạn này là vì các tu sĩ Dòng Tên khi đi truyền giáo ở các nước, phải thường xuyên viết bản trường trình cho các bề trên ở Macao, Roma. Ngoài nội dung nói về công việc truyền giáo, các giáo sĩ cũng đề cập đến các tác phẩm của mình. Trong quá trình nghiên cứu, Cha Đỗ Quang Chính đã tìm tòi trong các văn khố và thư viện ở La Mã, Madrid, Lisboa, Paris, Lyon, Avignon nhưng rất tiếc là không tìm được những cuốn sách này.

Sau những tác phẩm trên, đến năm 1651 Cha Đắc Lộ đã cho xuất bản cuốn “Tự điển Việt – Bồ – La” và cuốn “Phép giảng tám ngày” bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên. Hai cuốn sách này được Bề trên cả Dòng Tên cho xuất bản tại La Mã. Ngày 2-10-1651, trong một phiên họp, các hồng y và Giáo chủ đã ra lệnh cho nhà in của Bộ Truyền giáo ngừng mọi công việc để in cho xong. Hai cuốn này về sau đã được dịch và xuất bản nhiều ở Việt Nam. Hiện nay, ở Nhà thờ Mằng Lăng, Giáo phận Qui Nhơn còn lưu giữ cuốn Phép giảng tám ngày, xuất bản đầu tiên tại La Mã.

NẾU CHA ĐẮC LỘ KHÔNG XUẤT BẢN…

Nếu hai cuốn sách của Cha Đắc Lộ không được xuất bản mà chỉ là bản viết tay như của Cha Pina hay các giáo sĩ kể trên, theo Cha Đỗ Quang Chính, có thể xảy ra các trường hợp sau:

– Bị tiêu huỷ hay nằm ở một xó nào đó, giống như hai cuốn Chính tả và Ngữ pháp của Cha Pina hay các cuốn sách của giáo sĩ khác.
– Ngày nay chúng ta không có một bản văn dài và Từ điển vào giữa thế kỷ XVII để biết được khá rõ về thời điểm khai sinh chữ Quốc ngữ. Cũng vì nhiều tài liệu của các tác giả khác không còn nữa nên chúng ta chỉ biết sơ sài tình hình chữ Quốc ngữ trước năm 1651.
– Sẽ làm chậm lại công cuộc bổ sung và phổ biến chữ Quốc ngữ. Nếu không xuất bản hai cuốn sách trên, chưa chắc năm 1659 Thầy giảng Bento Thiện đã soạn được tập Lịch sử nước An Nam chẳng những có rất nhiều giá trị về mặt ngôn ngữ mà còn về mặt lịch sử. Đằng khác, chưa chắc vào năm 1773 Đức cha Bá Đa Lộc cùng cha Phao-lô Nghị đã soạn xong cuốn Tự điển.
– Ngày nay không thể biết được công trình của Cha Đắc Lộ. Cha Đắc Lộ đã cho xuất bản nhiều sách khác về Việt Nam, nhưng nếu bỏ qua hai cuốn này thì ai dám đánh giá rất cao về mặt tiếng Việt của ông. Lúc ấy người ta chỉ coi ông là nhà truyền giáo số 1 ở Việt Nam vì nhiệt tình, can đảm, yêu mến, gắn bó với con người và xứ sở nơi ông phục vụ…

CÔNG BỐ CHỮ QUỐC NGỮ CHO CẢ THẾ GIỚI

Hai tác phẩm bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên được công bố tại Roma, trung tâm của Giáo hội Công giáo. Uy tín của Roma đối với châu Âu hồi đó nổi bật hơn ngày nay. Toàn thành phố Roma và các vùng xung quanh thời ấy là đất của Toà thánh, dưới quyền của Đức Thánh cha về thần quyền và thế quyền. Vì vậy, việc in ấn do Thánh bộ Truyền bá Đức Tin, rồi phát hành đi các nơi, mang ý nghĩa chính thức được Roma công nhận và đề cao.

Để công bố cho toàn thế giới biết công trình sáng tác chữ Quốc ngữ, Cha Đắc Lộ đã phải vượt qua bao khó khăn. Muốn có công trình này, ngoài tài năng về ngôn ngữ và kiên trì học hỏi, Cha Đắc Lộ còn phải nhờ đến công trình của các vị đi trước, đề cao công lao của người thầy Francisco de Pina và sự đóng góp của các thầy giảng người Việt nữa.

Công là vậy, mà nỡ sao các vị được cho là có ăn có học, hậu duệ của nước Đại Việt xưa, không những phủi tay mà còn bảo Đắc Lộ có tội!
(Còn tiếp)

HOÀNG MẠNH HÀ
——
Ảnh: Cuốn Phép giảng tám ngày, bản in chữ Quốc ngữ đầu tiên xuất bản tại Roma, hiện đang được lưu giữ ở Nhà thờ Mằng Lăng, Giáo phận Qui Nhơn

Ông tổ chữ quốc ngữ mở đường cho Pháp xâm lược Việt Nam?

Hoa Kim Ngo

Trả lời câu hỏi có phải các ngài là người mở đường cho Pháp xâm chiếm Việt nam?

Thứ nhất: Các ngài là các nhà truyền giáo của giáo hội Công giáo. Không thể đồng hóa việc truyền giáo với việc đi xâm chiếm thuộc địa. Lịch sử truyền giáo có từ thế kỷ thứ nhất. Các nhà truyền giáo đầu tiên là những người Do Thái. Từ Jerusalem truyền giáo đến tận Roma và các vùng lân cận. Rồi sau đó đi khắp thế giới. Vậy có bao giờ người Do Thái đi xâm chiếm Roma chưa? Họ có dọn đường cho nhà nước Do Thái đi xâm chiếm nước khác không?
Đế quốc Anh cũng đi xâm chiếm thuộc địa khắp nơi đấy. Một thời người ta nói “mặt trời không bao giờ lặn trên đất nước Anh” vì thuộc địa của Anh ở khắp nơi trên thế giới. Rồi ngay đến thế kỷ 20, phát xít Nhật và Đức cũng đi xâm chiếm phần lớn các quốc gia khác đấy. Hỏi có nhà truyền giáo nào đến từ các quốc gia đó không?
Suốt dòng lịch sử, có hàng trăm hàng ngàn cuộc chiến tranh xâm lược thì cũng do các nhà truyền giáo đi dọn đường sao?
Đến tận hôm nay, chúng tôi là người Việt nam. Chúng tôi đang đi truyền giáo tại Nam Mỹ đây. Chúng tôi không đi dọn đường cho cộng sản việt nam đi xâm chiếm các nước Nam Mỹ đâu nhé?

Thứ hai về quốc tịch: Cha Alexandre de Rhodes sinh tại Avignon, quốc tịch The Papal States (754–1870). Nó là vùng đất nằm trên bản đảo Ý, dưới sự quản lý của Đức Giáo Hoàng. The Papal States tồn tại từ năm 754–1870.
Mãi đến năm 1791, tức là vào thời cách mạng Pháp, vùng đất Avignon mới thuộc về Pháp. Tức là 131 năm sau khi cha Alexandre de Rhodes qua đời. Ngài không phải là Người Pháp (France) đâu nhé. Hơn nữa cha Alexandre de Rhodes lại là Người Do Thái. Còn cha Francisco de Pina là người Bồ Đào Nha. Khi soạn từ điển thì cha Alexandre de Rhodes soạn từ điển Việt-Bồ-La (tiếng Việt, tiếng Bồ Đào Nha và tiếng La Tinh) chứ không phải là Việt-Pháp-La đâu nhé.

Thứ ba về thời gian: nhà truyền giáo đầu tiên đến Việt nam vào năm 1533. Cha Alexandre de Rhodes đến Việt nam vào năm 1624 và ngày 03-07-1645 thì rời Việt nam vĩnh viễn. Đến ngày 5 tháng 11 năm 1660 thì ngài qua đời và được chôn cất tại Iran thuộc Trung Đông.
Còn cha Francisco de Pina thì đến Việt nam vào khoảng năm 1617 và ngài mất vào ngày 15-12-1625. Còn Pháp xâm chiếm Việt nam mãi đến tháng 8 năm 1858. Tức là mãi tới hơn 300 năm kể từ khi các nhà truyền giáo đầu tiên đến Việt nam và gần 200 năm sau khi các ngài qua đời.
Nếu nói các ngài là kẻ dọn đường cho Pháp xâm chiếm Việt nam khác nào khi thấy một vụ tai nạn trên đường thì cũng bảo là do một người nào đó từ hơn 200 năm trước đã đi qua và gây ra sao?

Sau cùng: các nhà truyền giáo chỉ là người đi rao giảng về Nước Thiên Chúa. Nước Thiên Chúa thì không có biên giới. Nó là nơi để cho Thiên Chúa hướng dẫn, yêu thương và chăm sóc. Là nơi dạy cho con người biết sống vị tha, nối kết, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau. Là nơi hướng dẫn con người thực thi bác ái, tự do, và bình đẳng. Đồng thời, dạy cho người ta từ bỏ mọi thói hư tật xấu.
Còn nước của satan là nơi để cho satan ngự trị, nơi đó có sự hận thù, ích kỷ, dối trá, lợi ích nhóm, tham ô hối lộ, chia rẽ, đàn áp, độc ác, bất công.

Vậy ai có thể nói các ngài là những người dọn đường cho Pháp đến xâm lược Việt nam? Chỉ có những kẻ chịu sự ảnh hưởng của nền giáo dục tẩy não và nhồi sọ dối trá mới có thể nói như vậy mà thôi.

Còn về việc bách hại các nhà truyền giáo thì tồn tại từ thời Chúa Giêsu cho đến ngày nay. Vì nơi đâu có các nhà truyền giáo đến thì cũng sẽ có sự đụng độ với thế lực của vương quốc satan đang thống lãnh. Nước Thiên Chúa mở rộng thì nước satan bị thu hẹp. Kẻ nào làm đồ đệ cho satan thì sẽ vu khống, bách hại và bêu xấu các nhà truyền giáo.

Một thực tế cho thấy, những nơi chịu ảnh hưởng của nền văn minh Kitô giáo thì ngay cả khi phải chi tiền tỉ để được đến đó để được làm tôi mọi thôi, thì phần lớn những người sống dưới thiên đường xã hội chủ nghĩa cũng sẵn sàng.

Xin nói thêm là khi Pháp xâm chiếm Việt nam thì họ đã xây dựng nhiều trường học nổi tiếng, nhiều bệnh viện, lâu đài, đường sá, cầu cống, những công trình giao thông thủy lợi hiện đại, diện tích Việt nam được bảo toàn và mở rộng chưa từng thấy. Những công trình giao thông hiện đại như đường sắt lên Đà Lạt hay công trình thủy lợi tại Nghệ an, hiện nay người Việt vẫn chưa có khả năng và trình độ để sửa chữa khi có sự cố hư hỏng.

Còn khi trung quốc xâm chiếm Việt nam thì họ đã làm gì ngoài sự đàn áp và giết người.

Tôi viết không phải để tranh luận hay hộ giáo. Vì Kitô giáo đã tồn tại gần 2000 năm rồi và đang tiếp tục phát triển. Những nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới, tổng thống quyền lực nhất thế giới, người giàu nhất thế giới, tổng thư ký liên hiệp quốc… đều là Kitô hữu. Và những nước văn minh trên thế giới đều chịu ảnh hưởng của nền văn minh Kitô giáo.

Tôi viết nhằm giúp cho những người lương thiện hiểu rõ hơn về các nhà truyền giáo. Và đừng để ai bị tẩy não và nhồi sọ bởi những kẻ dã tâm chia rẽ giữa các tôn giáo, và giữa những người Kitô giáo và lương dân, để rồi tạo điều kiện cho tàu cộng xâm chiếm Việt nam một cách dễ dàng hơn.

Cho đến nay thì có hàng trăm hàng ngàn kẻ đang rắt tâm dọn đường cho trung cộng xâm lược Việt nam đó, sao không bắt mà nhốt hết đi cho quê hương được yên bình.

Nguồn: Linh mục. Phong Nguyên

NHATHOTHAIHA.NET
Nhà thờ Giáo xứ Thái Hà Giáo hạt Hà Nội Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam

‘Sư quốc doanh’ phán xét Alexandre de Rhodes ‘có tội nhiều hơn công với dân tộc Việt Nam’

‘Sư quốc doanh’ phán xét Alexandre de Rhodes ‘có tội nhiều hơn công với dân tộc Việt Nam’

Facebook post gây tranh cãi của Thượng Tọa Thích Nhật Từ. (Hình chụp qua màn hình)

SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Hôm 23 Tháng Mười Một, Thượng Tọa Thích Nhật Từ đã gỡ bỏ một Facebook post trên trang cá nhân được xác nhận là của ông khiến mạng xã hội dấy lên chỉ trích: “Tin vui cho Việt Nam: Thành phố Đà Nẵng đã tiếp thu ý kiến, ngưng đặt tên đường cho hai Linh Mục Alexandre de Rhodes và Francisco de Pina. Khi Ủy Ban Nhân Dân thành phố Đà Nẵng lên kế hoạch đặt tên đường cho hai vị giáo sĩ Alexandre de Rhodes và Francisco de Pina, các nhà nghiên cứu đã gửi thư kiến nghị đến thành phố Đà Nẵng, yêu cầu ngừng đặt tên đường mang tên hai giáo sĩ có tội nhiều hơn công đối với dân tộc Việt Nam…”

Công luận cho rằng ông Thích Nhật Từ là nhân vật tiêu biểu của “sư quốc doanh” thời XHCN, không có đủ tư cách để buông lời phán xét nhà truyền giáo Dòng Tên Alexandre de Rhodes thuộc thế hệ tiền nhân, là người đã góp phần quan trọng vào quá trình truyền bá đạo Công Giáo tại Việt Nam và việc hình thành chữ Quốc ngữ.

Thích Nhật Từ được ghi nhận trụ trì tại chùa Giác Ngộ từ năm 1992, du học tại Ấn Độ năm 1994 và tốt nghiệp tiến sĩ triết học năm 2001.

Hiện ông ta trụ trì tại các chùa Giác Ngộ ở Sài Gòn và Vĩnh Long, chùa Vô Ưu ở Thủ Đức, chùa Tượng Sơn ở Hà Tĩnh và chùa Linh Xứng ở tỉnh Thanh Hóa.

Hồi năm 2010, Thích Nhật Từ được Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (giáo hội quốc doanh) tấn phong lên hàng giáo phẩm thượng tọa sớm hơn ba năm so với quy định của hiến chương Giáo Hội Phật Giáo. Trong vô số các danh hiệu, bằng “tiến sĩ danh dự” của các trường đại học Thái Lan và Mỹ mà ông Thích Nhật Từ ghi trong lý lịch, người ta thấy có bằng khen do nguyên Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng trao tặng hồi năm 2008.

“Sư quốc doanh” Thích Nhật Từ. (Hình: Phatgiao.org.vn)

Cũng cần nhắc lại là tại quận 1, Sài Gòn hiện có đường Alexandre de Rhodes nằm cạnh Dinh Độc Lập và Nhà Thờ Đức Bà Sài Gòn. Tên đường này đã có từ trước 1975, nhưng sau đó bị nhà cầm quyền CSVN đổi thành Thái Văn Lung một thời gian. Theo tiết lộ của nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc trên trang cá nhân, cố Thủ Tướng CSVN Võ Văn Kiệt là người ra lệnh khôi phục tên đường Alexandre de Rhodes theo đề nghị của học giả Hoàng Xuân Hãn mà ông Kiệt có dịp gặp trong một chuyến thăm Pháp. (T.K.)

Lễ Tạ Ơn Thanksgiving 2019

     HAPPY THANKSGIVING !

              Thưa quý vị:

Thế kỷ 16, người di dân Pilgrims từ con tàu Mayflower đã đặt chân đến miền giá lạnh Đông Bắc Châu Mỹ. Nơi đây họ đã được thổ  dân da đỏ giúp đỡ và chỉ cách sinh tồn. Khi người Pilgrims đã có thể tự lo cho bản thân được, họ tổ chức một buổi tiệc để tạ ơn Chúa Trời<https://vi.wikipedia.org/wiki/Thi%C3%AAn_Ch%C3%BAa>  đã cho họ có thể sống đến ngày hôm nay, và họ mời những người da đỏ và cùng nhau ăn uống vui vẻ. Theo tài liệu, buổi lễ tạ ơn đầu tiên tại Hoa Kỳ, do người Pilgrims tổ chức, là vào năm 1621 tại Thuộc địa Plymouth, ngày nay thuộc Massachusetts<https://vi.wikipedia.org/wiki/Massachusetts>.

Và từ đó qua nhiều thời đại, lễ Tạ Ơn Thanksgiving đã được tổ chức tạ Hoa Kỳ mỗi năm vào thứ năm cuối cùng của tháng 11 Dương Lịch. (Riêng tại Canada lễ Thanksgiving vào ngày Monday thứ nhì của  tháng 10)

Người Việt tỵ nạn chúng ta cũng gần như thế: Cuộc di tản bằng máu và nước mắt qua biển cả và đưởng rừng để trốn chạy chế độ Cộng Sản sau 30 tháng 4 1975 đi tìm tự do. Chúng ta đã được Hoa Kỳ và các QG đồng minh dang vòng tay nhân ái đón nhận.

Hôm nay, Lễ Tạ Ơn Thanksgiving 2019, xin kính mời quý vị thưởng thức nhạc phẩm “Lời Cám Ơn” của NS Ngô Thụy Miên & Hạ Đỏ Bích Phượng. Phần hòa âm do PBN 114 thực hiện hợp ca. Trần Ngọc thực hiện hình ảnh minh họa (2015).

           Xin bấm LINK :   https://www.youtube.com/watch?v=ujp2aLN6udw

<https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%ADp_tin:The_First_Thanksgiving_Jean_Louis_Gerome_Ferris.png>
       Cám ơn quý vị
.             TN.

TÂM TÌNH CỦA MỘT NGƯỜI MỸ TRONG NGÀY LỄ TẠ ƠN

TÂM TÌNH CỦA MỘT NGƯỜI MỸ TRONG NGÀY LỄ TẠ ƠN

 Hồng Thủy – Vatican

Tâm tình tạ ơn không chỉ có trong những lúc chúng ta nhận được các phúc lành nhưng cả trong những khi gặp khó khăn thử thách.  Trong ngày lễ Tạ ơn năm nay, dù cho chúng ta đang sống trong hoàn cảnh nào, hãy tạ ơn tình yêu, sự tốt lành và quảng đại của Chúa Giêsu Kitô, Vua của chúng ta.

Hàng năm, vào ngày thứ Năm trong tuần thứ tư của tháng 11, người Mỹ lại mừng lễ Thanksgiving, Lễ Tạ Ơn.   Đó là ngày lễ nghỉ và các gia đình Mỹ và bạn bè thường tụ họp để mừng lễ với nhau.  Đó là ngày người ta tạ ơn về những gì mình có.  Ngày nay ý nghĩa tạ ơn của ngày lễ dường như bị quên lãng và người ta chú ý hơn đến vui chơi, ăn uống, đặc biệt là mua sắm, với những quảng cáo giảm giá không tin nổi trong ngày thứ sáu Black Friday sau đó.  Một người Mỹ đã chia sẻ về ý nghĩa tạ ơn mà chúng ta cần có trong ngày lễ Tạ ơn hàng năm.

Thời gian khó khăn thử thách cũng là thời gian của lòng biết ơn chân thành

Ngày lễ ý nghĩa nhất mà gia đình chúng tôi từng trải qua chính là ngày lễ Giáng sinh cách đây 4 năm, trong một căn phòng ở bệnh viện.  Khi đó, con gái của chúng tôi đang được điều trị bệnh ung thư máu và vợ tôi sống trong bệnh viện cùng với con bé.  Con trai tôi và tôi mang đến bệnh viện các thứ cần thiết cho một cuộc cắm trại dã chiến và 4 người chúng tôi đã cùng trải qua buổi chiều lễ Giáng sinh với nhau, trong tâm tình tạ ơn về món quà là sự hiện diện của mỗi người đối với người khác.

Con gái chúng tôi đã được điều trị ung thư gần một năm và hầu như trong suốt thời gian đó, vợ tôi cùng với con gái ở trong khoa ung thư của một bệnh viện, cách xa đây một giờ đồng hồ lái xe.  Đó là thời gian khó khăn, khi chúng tôi gặp những thánh giá vì bệnh tật của con gái và gia đình thường bị phân ly.  Tuy thế, lúc đó, cũng như bây giờ, chúng tôi ý thức rằng đó thật là thời gian ân phúc cho gia đình chúng tôi.  Chúng tôi đã ý thức về bao điều Chúa đang làm cho chúng tôi.  Chúng tôi có thể nhìn thấy Ngài giúp đỡ cho chúng tôi nhiều như thế nào.  Tóm lại, chúng tôi ý thức chúng tôi phải biết ơn Ngài nhiều thế nào.  Khi chúng tôi nhận ra mình cậy dựa vào Thiên Chúa thật nhiều để vượt qua thời gian thử thách và đau khổ, chúng tôi ý thức được về bao nhiêu tình yêu Ngài chan đổ trong cuộc sống của chúng tôi.  Khi chúng tôi không thể làm ngơ rằng chúng tôi cần Chúa như thế nào, chúng tôi thấy rõ ràng điều Ngài đang làm cho chúng tôi.  Đó là lý do tại sao thời gian thử thách, thường cũng là thời gian của lòng biết ơn sâu sắc và chân thành.

Khó khăn giúp thêm cậy dựa vào sự quan phòng của Chúa

Tôi thường ngạc nhiên khi nói chuyện với các nhà truyền giáo, đang sống trong những tình cảnh thật khó khăn, những người dường như cũng sống với cảm nghiệm thật sự về điều Chúa ban cho họ và biết ơn thật sự về việc Ngài yêu họ như thế nào.  Cuộc sống của họ, thường là không thể dự đoán và không tiện nghi thoải mái, có vẻ như giúp hiểu được thế nào là cậy dựa vào sự quan phòng của Chúa và thái độ biết ơn về những điều nhỏ bé mà Chúa ban cho họ.  Khi chúng ta được sống tiện nghi sung sướng, đủ để bảo đảm những ảo ảnh về sự tự lo liệu của mình, hay chỉ quan tâm đến những ý muốn tầm thường và nhỏ nhoi của chúng ta, thì thật khó mà biết ơn thật sự.

Thành công hay an toàn dễ khiến chúng ta ảo tưởng về sức mạnh của mình

Đây là một nhắc nhở rằng các môn đệ của Chúa Giêsu nên tránh thứ tiện nghi thoải mái mà thế giới thường gọi là thành công hay sự an toàn.  Những ảo ảnh về sự an toàn và tự bảo đảm đang lớn lên và ngăn cản mối liên hệ mật thiết với Chúa, hay thái độ biết ơn về ân phúc của Ngài.  Tóm lại, khi cuộc sống của chúng ta đòi những hy sinh hay gặp những khó khăn, chúng ta có nhiều khả năng nhìn thấy sức mạnh của sự tốt lành của Chúa và biết ơn về cách thức mà Chúa yêu chúng ta.  Nếu chúng ta muốn có sự kết hiệp sâu xa hơn với Chúa, chúng ta nên xem những cách thế mà Chúa mời gọi chúng ta chối từ chính mình vì tình yêu và chúng ta vác lấy thánh giá.  Nếu chúng ta muốn cảm nghiệm lòng biết ơn đến từ kinh nghiệm thật và quyền năng về sự quan phòng của Chúa, chúng ta cần từ bỏ ý nghĩ rằng cuộc sống chúng ta là của chính chúng ta và để dâng nó cho Chúa cách hoàn toàn và tự do. …

Tạ ơn Chúa về thánh giá trong cuộc đời vì qua đó Ngài mặc khải tình yêu cho chúng ta

Trong ngày lễ Tạ Ơn, chúng ta nên cám ơn về những thánh giá mà Chúa đã đặt trong cuộc đời chúng ta – bệnh tật hay khó khăn mà qua đó Chúa Kitô mặc khải tình yêu sâu xa và vững bền của Ngài dành cho chúng ta.  Chúng ta nên xin Chúa tỏ cho chúng ta cách Ngài gọi chúng ta dâng tặng chính mình để yêu thương cách cụ thể hơn và cám ơn Chúa về cơ hội được lớn lên trong ngạc nhiên và cảm kích sự quan phòng của Chúa.  Và chúng ta nên cám ơn Chúa về những thử thách có thể đang ở phía trước chúng ta, có thể giúp đào sâu đức tin của chúng ta và niềm tin cậy vào ơn sủng của Chúa.  Thánh Phaolô đã viết: “Trong mọi lúc, anh em hãy tạ ơn Chúa, vì đây là ý Chúa dành cho anh em trong Chúa Giêsu Kitô.”

Ngày lễ Tạ ơn năm nay, dù cho chúng ta đang sống trong hoàn cảnh nào, hãy tạ ơn tình yêu, sự tốt lành và quảng đại của Chúa Giêsu Kitô, Vua của chúng ta.

Hồng Thủy – Vatican

*******************************************

Tạ ơn Cha vì những gì Ngài đã trao ban, 

Tạ ơn Cha vì những gì Ngài đã chối từ,

Tạ ơn Cha vì những gì Ngài đã lấy đi,

Tạ ơn Cha vì những gì Ngài đã cho phép,

Tạ ơn Cha vì những gì Ngài đã bảo vệ con,

Tạ ơn Cha vì những gì Ngài đã tha thứ cho con,

Tạ ơn Cha vì những gì Ngài đã chuẩn bị cho con,

Tạ ơn Cha vì cái chết Ngài đã chọn sẵn cho con,

Tạ ơn Cha vì một nơi Ngài đã dành sẵn cho con trên Thiên Quốc,

Tạ ơn Cha vì đã sáng tạo nên con để yêu Cha mãi mãi,

Tạ ơn Cha vì tất cả!

SỐNG ĐỨC TIN LÀ LÀM CHỨNG

SỐNG ĐỨC TIN LÀ LÀM CHỨNG

 Jos. Vinc. Ngọc Biển

Hôm nay, chúng ta hân hoan, tự hào và hãnh diện khi mừng kính trọng thể lễ các thánh tử đạo Việt Nam. Với con số 118 đấng đã được Giáo Hội tuyên phong và tôn kính, đây là con số đông đảo nơi sổ bộ các thánh trong Giáo Hội hoàn vũ. Tuy nhiên, còn hàng trăm ngàn đấng chưa được tuyên phong, nhưng các ngài đều mang một mẫu số chung, đó là chết vì Chúa để làm chứng cho đạo của Chúa là đạo thật.

Như vậy, mỗi khi mừng lễ các thánh tử đạo Việt Nam, thiết tưởng chúng ta nên gợi lại những gương sáng của các ngài để như một lời nhắc nhớ chúng ta về tấm gương anh dũng qua đời sống chứng tá của các thánh, đồng thời như một lời mời gọi mỗi chúng ta hãy noi gương các bậc tiền nhân qua đời sống đức tin hiện nay.

  1. Các ngài là những người đã sống Tin Mừng yêu thương 

Trong rất nhiều nhân đức cao đẹp của các thánh tử đạo Việt Nam, thì nhân đức yêu thương, tha thứ của các ngài là nhân đức đi đầu, tiên phong trong hàng loạt các nhân đức. Các ngài đã noi gương Chúa Giêsu để yêu và yêu cho đến cùng, yêu đến nỗi chấp nhận chết để chứng tỏ tình yêu của mình vào Thầy Chí Thánh mà các ngài đã tin theo (x. Ga 15,13).

Khi sống và diễn tả tình yêu ấy, chúng ta thấy có thánh y sĩ Phan Đắc Hòa. Ngài đã sẵn sàng chữa bệnh miễn phí cho người nghèo, sẵn lòng cứu giúp những người túng thiếu. Hay thấy được nỗi đau khổ của cái nghèo hoành hành nơi dân làng, các ngài đã không chịu ngồi yên trong khi nhìn thấy cảnh người anh em đau khổ, đói khát, nên đã chấp nhận vất vả, tăng gia thêm để có của dư giả nhằm giúp anh chị em đang lâm cảnh nghèo túng, trong số đó, phải kể đến thánh Martinô Thọ, ngài sẵn sàng trồng thêm vườn dâu để có thêm thu nhập giúp người nghèo. Cụ trùm Đích thì thường xuyên góp nhặt tiền bạc để đi thăm viếng trại cùi và nuôi nấng những người dịch tả trong vùng. Còn với quan Hồ Đình Hy, ngài luôn giúp đỡ những người bơ vơ, mồ côi ngay ở trong nhà, và khi họ qua đời thì lo an táng đàng hoàng như một người bình thường.

Đỉnh cao của tình thương ấy nơi các ngài là yêu luôn cả những người thù ghét mình. Tình yêu của các ngài là một tình yêu không biên giới. Lời của Chúa Giêsu trên thập giá: “Lạy Cha, xin tha cho họ; vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23, 43) luôn thường trực trong suy nghĩ, hành động của các thánh. Về điểm này, chúng ta thấy toát lên chân dung của cha thánh Hoàng Khanh, ngài đã sẵn lòng chữa bệnh cho cả những viên cai ngục trong tù…

Các ngài bỏ qua tất cả, không nghĩ cho riêng mình, không còn lằn ranh giữa bạn và thù, bởi vì: “tận cùng của tình yêu là yêu không giới hạn.”

  1. Các ngài là những người sống và chết vì sự thật 

Có nhiều cái chết và cách chết. Những giá trị của cái chết cũng hoàn toàn khác nhau nhờ vào thái độ của mỗi người. Nhưng chấp nhận cái chết vì sự thật, vì công lý thì thật là điều cao thượng.

Trong Cựu Ước, có cụ Eleazaro, cụ là người cương trực, không chấp nhận giả vờ ăn thịt cúng để được tha (x. 2 Mac 6, 18-31). Lời dụ dỗ giả vờ bỏ đạo để được tha và thăng quan tiến chức là những chiêu bài mà nhà cầm quyền thời bấy giờ thường xuyên dùng để khuyên dụ các ngài. Có những đấng nếu chỉ khai mình là lương y chứ không phải là linh mục thì sẽ được tha ngay. Trong số đó, phải kể đến thánh Lê Tùy, Đỗ Yến, Hoàng Khanh, Nguyễn Văn Hưởng, Lê Bảo Tịnh… Các ngài đã chấp nhận cái chết để chứng minh cho chân lý và sứ vụ của mình.

Rồi có những đấng các quan chỉ yêu cầu nhắm mắt, giả bộ bước qua thập giá là sẽ được tha như thầy giảng Nguyễn Cần chẳng hạn, thầy đã được quan gợi ý như thế, nhưng ngài đã nói: “Thưa quan, mắt thì nhắm được, chứ lòng và trí khôn không thể nhắm được, nên tôi chẳng làm.” Thua keo này, các quan đã bày keo khác! Có những đấng, họ chỉ yêu cầu đi vòng quanh thánh giá và các quan sẵn sàng tha cho vì coi đây như là hình thức bỏ đạo. Nhưng các ngài đã khẳng khái khước từ. Trong số này có thánh Phan Văn Minh, các thầy giảng Hà Trọng Mậu, Bùi Văn Úy và các anh Nguyễn Văn Mới, Nguyễn Văn Đệ, Nguyễn Văn Vinh.

Như vậy, mặc cho những lời đường mật hứa hẹn. Các ngài đã cương quyết không thỏa hiệp. Các ngài sẵn sàng chấp nhận cái chết, không bước qua thập giá, hoặc bất cứ hình thức nào được trưng ra dưới chiêu bài “đánh lận con đen.”  Các ngài đã chấp nhận cái chết để làm chứng cho sự thật, công lý.

  1. Các ngài là người sống niềm hy vọng Phục Sinh 

Chúng ta nhớ lại trong thư gửi tín hữu Côrintô, thánh Phaolô đã viết: “Nếu chết là hết, thì quả thực chúng ta là những kẻ khốn nạn nhất trong cả thiên hạ” (x. Cr 15,19).  Thật vậy, vì tin vào Đức Kitô, Đấng đã được “Thiên Chúa làm cho […] sống lại; chính Người cũng sẽ dùng quyền năng của mình mà làm cho chúng ta sống lại” (1 Cr 6,14).  Vì thế, các thánh tử đạo Việt Nam luôn coi cái chết như là hy lễ cuối cùng và đẹp nhất dâng lên cho Thiên Chúa để được hưởng trọn vẹn niềm hạnh phúc Trên Trời. Niềm tin này đã được thày giảng Hà Trọng Mậu đại diện cho những người bị bắt thưa với quan rằng: “Thưa quan, chúng tôi mong ước về bên Chúa như nai mong tìm thấy suối vậy”; hay như quan Án Khảm, ngài đã hé mở cho mọi người đang đứng chung quanh mình về một cuộc sống hạnh phúc trên Thiên Quốc khi nói: “Cha con chúng tôi hôm nay vào Nước Thiên Đàng đây”; hoặc như thánh linh mục Nguyễn Văn Hạnh thì nói: “Anh em ở lại, chúng tôi đi về Thiên Đàng nhé”; còn thầy giảng Nguyễn Đình Uyển thì đã bình tĩnh và dõng dạc tuyên xưng niềm tin tuyệt đối vào mầu nhiệm phục sinh khi nghe quan quát lớn: “Mày không bước qua, tao sẽ chém đầu mày” thầy điềm tĩnh trả lời: “Thưa quan, nếu tôi bị chém chết, thì tôi mới hy vọng được phục sinh với Chúa Kitô.”  Khi phải lựa chọn giữa sự sống trần gian và cuộc sống vĩnh cửu, cha thánh Nguyễn Văn Xuyên đã nói một cách xác tín rằng: “Thưa quan, tôi chọn cái chết để được sống đời đời, hơn là nghe quan sống thêm ít lâu rồi muôn đời bị tiêu diệt.” Rồi như hạt lúa gieo vào lòng đất, chấp nhận mục nát đi để trổ sinh một mùa lúa bội thu, cha thánh Lê Bảo Tịnh đã nói: “Thân xác tôi đây, các ông muốn làm gì thì làm, tôi sẵn sàng không oán than, nó chết đi, nhưng mai này sẽ sống lại vinh quang.” Quả thật, không có gì tách các ngài ra khỏi tình yêu Đức Kitô.  Mặc cho đòn vọt, gông cùm và ngay cả cái chết.

  1. Cái chết của các ngài là lời tạ ơn

 Cuối cùng, cuộc đời, sứ vụ và cái chết của các ngài là một bài ca tạ ơn. Tạ ơn Thiên Chúa đã tác tạo nên mình, cám ơn những bậc sinh thành đã dày công dưỡng dục và như một gương sáng cho giáo dân noi theo. Tâm tình này đã được thánh Giám Mục Giuse Diaz Sanjurjo An diễn tả khi tới giờ hành xử đã đến, ngài nói: “Tôi xin gửi quan 30 đồng tiền để xin quan một ân huệ: xin quan đừng cho chém tôi một nhát. Nhưng tôi xin chém tôi 3 nhát: Nhát thứ nhất tôi tạ ơn Chúa đã dựng nên tôi, và đưa tôi đến Việt Nam giảng đạo. Nhát thứ hai để nhớ ơn cha mẹ đã sinh thành ra tôi. Còn nhát thứ ba như lời di chúc cho các bổn đạo của tôi, để họ bền chí dù có phải chết cho đức tin, theo gương vị chủ chăn của mình. Và như thế họ đáng lãnh phần hạnh phúc cùng các thánh trên Trời.” Với các thánh Phạm Khắc Khoan và hai thày Nguyễn Văn Hiếu và Đinh Văn Thanh, các ngài đã chia bè và hát kinh Tạ Ơn “TE DEUM” bằng tiếng Latinh ngay trong nhà giam. Rồi khi ra pháp trường để chịu tử hình, cha Khoan xướng ba lần lời ALLÊLUIA, mỗi lần với cung giọng cao hơn. Hai thày cũng lập lại ALLÊLUIA, ALLÊLUIA, ALLÊLUIA ba lần như đêm vọng phục sinh vậy.

Có được tâm tình đó là vì các ngài đều xác tín rằng: “Đối với các ngài, sống là Đức Kitô, và chết là một mối lợi”, vì thế “Trong mọi thử thách, các ngài đã toàn thắng nhờ Đấng yêu mến các ngài” (x. Rm 8, 37). Và, giờ chết của các ngài là một bằng chứng hùng hồn về tình yêu tuyệt đối mà cha ông chúng ta đã dâng lên Thiên Chúa như của lễ tinh tuyền thánh thiện, đẹp lòng Thiên Chúa. Thật vậy: “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô? Phải chăng là gian truân, bắt bớ, đói khát, trần truồng, nguy hiểm, gươm giáo? […] sự chết hay sự sống, dù thiên thần hay thiên phủ, dù hiện tại hay tương lai, hay bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ tạo vật nào khác, không có gì có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu Thiên Chúa thể hiện cho chúng ta trong Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Rm 8, 35-39).

Cuộc tử đạo của các ngài được ví như người nông dân đã vất vả ra đi gieo giống, để rồi hôm nay hân hoan vì thấy một vụ mùa bội thu: “Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống, mùa gặt mai sau sẽ khấp khởi mừng. Họ ra đi, đi mà nức nở, mang hạt giống vãi gieo. Lúc trở về, về reo hớn hở, vai nặng gánh lúa vàng” (Tv 125,6-7).

Như vậy, khi mừng lễ các thánh tử đạo Việt Nam, chúng ta hãy cùng với các ngài tạ ơn Thiên Chúa vì Thiên Chúa đã yêu thương các ngài đặc biệt. Chúng ta cũng ngước lên các ngài để chiêm ngưỡng, noi theo những nhân đức anh hùng, can trường của các ngài để lại hầu mai sau cũng được hưởng hạnh phúc với các ngài trong Cõi Trường Sinh.

Bài học cao quý nhất của các ngài để lại không phải là bài học hận thù, chia rẽ, không phải là ích kỷ nhỏ nhen, không phải là tự phụ kiêu căng, nhưng là bài học của tình yêu, của bao dung, vị tha và khiêm nhường.  Sống được như thế là chúng ta đang làm chứng cho Chúa và đang sống niềm hy vọng phục sinh một cách rõ nét nhất.

Mong thay, mỗi khi mừng lễ các thánh tử đạo Việt Nam, chúng ta cùng với các ngài hát lên bài ca Tạ Ơn “TE DEUM” ngay trong cuộc sống hiện tại của mình.

Lạy Chúa, khi mừng lễ các thánh tử đạo Việt Nam, xin Chúa cho chúng con xác tín rằng: quê hương của chúng con ở Trên Trời, vì thế chúng con chỉ có một điều duy nhất là làm mọi việc vì Chúa và vì phần rỗi của mình cũng như tha nhân, qua đó biết khước từ những điều bất chính, để sau này chúng con được chung hưởng phúc vinh quang với các thánh trên Thiên Quốc.  Amen!

 Jos. Vinc. Ngọc Biển

Ngu Toàn Diện

Hoang Le Thanh
Ngu Toàn Diện

— Tác giả Cóc Tía

Thấy mọi người cứ tâng bốc lão Trump quá chừng, còn lãnh đạo thiên tài của nhà mình thì dè bỉu, chê bai đủ thứ, tui thấy bực mình. Bực thì tui phải phân tích cho mọi người thấy chớ nhịn quài không chịu được.

Trước hết, lão Trump không phải dạng con ông, cháu cha, chắc nội, chít ngoại của thằng tổ tiên là quan triều đình chó nào cả. Nên ko thể liệt vào loại tinh hoa quý xờ tộc, là hồng phúc của dân tộc khi được làm Tổng thống.

Thứ hai:

Lão cũng éo phải gs, ts, thạc sĩ…con mịe gì hết. Cũng chưa qua lớp ný nuận chính trị trung cấp hay cao cấp nào. Triết học Mác Lê chưa chắc đọc quá 5 trang.

Thứ ba:

Lão chưa từng được đảng đưa vào diện quy hoạch cán bộ nguồn hay cán cuốc cấp chiến lược một lần nào cả nhé.

Thứ tư:

Lão cũng chưa hề cống hiến cc gì cho đất nước như đi nghĩa vụ quân sự hay một lần được làm cán bộ cấp xã hoặc cấp quận, huyện. Thậm chí đến chuyện làm tà lọt cho CA phường chuyên đi bắt, tịch thu hàng của mấy người mua gánh bán bưng, lấn chiếm vỉa hè, hoặc đi cưỡng chế nhà dân, … như đám dân phòng, DQTV, … lão cũng chưa từng tham gia một lần nào. Cho nên chuyện được luân chuyển cán bộ để trau dồi kỹ năng, học hỏi kinh nghiệm lãnh đạo … thì thành tích của lão là con số 0 to tướng.

Thứ năm:

Tui dám chắc rằng Bằng A, B, C, … ngoại ngữ lão cũng không có. Bằng cấp PTTH hoặc ĐH giả lão cũng không dùng. Đoàn, Đảng gì cũng không chịu tham gia.

Thứ sáu:

Ăn hông dám ăn, uống hông dám uống. Rượu nhấp một giọt sợ say. Thuốc lá rít một hơi sợ sặc. Ma tuý hít một phát sợ nghiện. Không đàn đúm, phe cánh, móc ngoặc với ai… Vậy thì rõ ràng lão không có một chút bản lĩnh của thằng đàn ông.

Vậy mà hông hiểu cách gì lão ta lại leo tọt lên được tới chức Tổng Thống Hợp Chủng Quốc Huê Kỳ phát một mới ghê chứ. Không chừng lão lại dùng tiền lo lót, hối lộ cũng nên ?

Khi làm được TT Mỹ rồi thì nói năng, phát biểu huyên thuyên trước công chúng. Thậm chí không soạn nổi một bài diễn văn cho ra hồn rồi cầm ê a đọc giống như ngừ ta.

Đã vậy, khi lên nắm quyền chưa hết nhiệm kỳ đã gây gổ tá lả, làm mấy thằng trùm khủng bố trên TG như Syria, Iran… mặt xanh như đít nhái. Còn mấy thằng độc tài cs phải lao đao lận đận sắp đi ăn mày cả đám như TQ, Bắc Hàn, Cuba, Vê nê… Gieo rắc kẻ thù khắp nơi sướng ích gì hông ?

Vợ đẹp, con ngoan hông chịu ở nhà mà hưởng. Tuổi cao sức yếu hông chịu nghĩ ngơi giữ sức phẻ… lại đâm đầu vô đi làm chính chị, chính em… để mấy thằng đảng dân chủ với cs chửi rủa suốt ngày. Hỏi như vậy thì có ngon lành gì đâu ?

Còn nữa, cái dzụ này mới ngu nhất nè.

Làm Tổng thống một đại cường quốc mà ngay cả mấy đồng tiền lương cũng hông dám nhận. Vậy thì có cửa nào dám tham nhũng, tơ hào một đồng nào của dân Mỹ. Con cái thì không dám đưa sang VN du học. Tiền thì ko dám gửi nhà băng uy tín ở Venezuela. Không dám qua xứ thiên đường Bắc Hàn mua cái nhà để nghỉ mát, … Thế thì làm TT để làm cái gì ?

Kết luận: Nói chung, lão Trump là ngu toàn diện ngoại trừ việc lão chỉ giỏi cái chiện làm ăn đàng quàng nên thành tỷ phú đô la khi chưa làm TT. Mà cái này cũng chưa chắc đâu nha. Biết đâu lão giàu cũng nhờ chạy xe ôm, nuôi lợn, buôn chổi đít, lá chót, … hoặc làm đến thối cả mồm cả mũi thì sao nhễ. Vụ này lẽ ra phải thanh tra nè!

Còn khi lão thành TT rồi thì chỉ được mỗi một việc là làm cho nước Mỹ hùng mạnh thiêm. Dân Mỹ bớt thất nghiệp và kinh tế Mỹ có phát triển hơn xưa thôi. Còn ngoài ra hông làm nên cái tích sự gì !

Lời thật mất lòng. Tui thấy lão Trump là khùng nặng hết thuốc chữa rầu. Dzẩy á ! Đứa nào còn đu càng, đem lão khùng này ra so sánh với lãnh đạo thiên tài của tui, tui block luôn.

— Cóc Tía
Nguồn:

BADAMXOEVIETNAM2.WORDPRESS.COM
Hãy xòe cho rộng, mở cho hết. Trắng bụng, lấm lưng với Tự do

Dân biểu Lord Alton của đảng dân chủ- tự do Anh Quốc đến tận Hong Kong trao giải thưởng cao quý này cho Joshua Wong Chi Fong

Image may contain: 1 person, standing and beard
Image may contain: 2 people, people smiling, people standing
Image may contain: 1 person, standing, shoes, suit, beard and indoor
No photo description available.

Lm Trần Chính Trực

Vì chính quyền HK không cho Joshua Wong xuất cảnh để đến Anh Quốc nhận giải thưởng Westminter Award. Cho nên dân biểu Lord Alton của đảng dân chủ- tự do Anh Quốc đến tận Hong Kong trao giải thưởng cao quý này cho Joshua Wong Chi Fong vì anh ta có những đóng góp cho nhân quyền rất quý giá.

Sứ điệp hòa bình của Đức Thánh Cha từ Hiroshima

Image may contain: one or more people and night

Lm Trần Chính Trực is with Trần Chính Trực.

LƯƠNG CŨNG NHƯ GIÁO, ĐẶC BIỆT NHỮNG NGƯỜI ĐANG NẮM QUYỀN, NÊN ĐỌC SỨ ĐIỆP NÀY CỦA ĐỨC THÁNH CHA. NẾU BẠN THIỆN CHÍ, BẠN SẼ THẤY SỨ ĐIỆP NÀY THẬT BỔ ÍCH. NẾU BẠN VÌ LỢI ÍCH NHÓM, VÌ TƯ LỢI CÁ NHÂN, VÌ MỤC ĐÍCH CŨNG CỐ QUYỀN LỰC CHO BẢN THÂN VÀ NGƯỜI THÂN, CÓ THỂ HỌ KHÔNG THÍCH SỨ ĐIỆP TUYỆT VỚI NÀY.

                                                              ***
Sứ điệp hòa bình của Đức Thánh Cha từ Hiroshima

Đức Thánh Cha Phanxicô tưởng niệm các nạn nhân bom nguyên tử

Trong buổi cầu nguyện cho các nạn nhân bom nguyên tử tại Hiroshima, chiều tối ngày 24/11/2019, Đức Thánh Cha Phanxicô tái kêu gọi thế giới từ bỏ việc sử dụng năng lượng hạt nhân vào mục tiêu chiến tranh, và vượt thắng mọi bất đồng bằng con đường đối thoại.

(G. Trần Đức Anh, O.P)

Sau thánh lễ chiều ngày 24/11 tại sân dã cầu ở thành phố Nagasaki, Đức Thánh Cha đã ra phi trường để đáp máy bay, lúc quá 4 giờ rưỡi chiều, đi Hiroshima, để tưởng niệm các nạn nhân bom nguyên tử và gióng lên sứ điệp hòa bình.
Sau hơn 1 giờ bay, Đức Thánh Cha tới Hiroshima, thành phố có gần 1 triệu 200 ngàn dân cư, đông gần gấp 3 Nagasaki, là nơi quả bom nguyên tử đầu tiên trong lịch sử được ném xuống đây ngày 06/08/1945 làm cho 150 ngàn người chết tức khắc, hàng chục ngàn người chết trong những năm tháng sau đó vì phóng xạ.
Từ phi trường, Đức Thánh Cha đi bằng xe thêm 53 cây số để tới Công viên tưởng niệm hòa bình, tại nơi bom nguyên tử được ném xuống. Đài tưởng niệm hòa bình được thiết lập năm 1954 trên khu đất rộng hơn 120 ngàn mét vuông, xung quanh là những vườn cây và nhiều cơ cấu tưởng niệm khác.
Đài tưởng niệm có mái vòm bằng kiếng và trong khu vực này cũng có một thính đường và một bảo tàng viện hòa bình.
Khi đến đây lúc 8 giờ 40 phút giờ địa phương, Đức Thánh Cha đã được ông Tỉnh Thưởng, thị trưởng và chủ tịch hội đồng thành phố chào đón. Ngài ký vào sổ vàng lưu niệm và chào thăm 20 vị lãnh đạo tôn giáo, và đại diện các nạn nhân, trước khi đặt vòng hoa trước đài tưởng niệm.
Đức Thánh Cha và 1300 người hiện diện cầu nguyện trong thinh lặng theo nhịp tiếng chiêng nhẹ nhàng.

Rồi mọi người lắng nghe chứng từ của hai người sống sót: một phụ nữ 14 tuổi khi xảy ra vụ ném bom. Bà đã chứng kiến tình trạng bao nhiêu người thân yêu, bạn hữu và những người quen biết chết vì bệnh ung thư do phóng xạ nguyên tử. Bà làm việc không ngừng để cổ võ bài trừ hạt nhân.

Chứng từ thứ hai của một nạn nhân, ông không đến được, nên một người đã đọc thay chứng từ. Lúc ấy ông mới 17 tuổi. Tuy sống sót nhưng ông chịu đau khổ rất nhiều vì những hậu quả.

SỨ ĐIỆP HOÀ BÌNH CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ

Đức Thánh Cha nói: “Tại nơi này, bao nhiêu người nam nữ, những mơ ước và hy vọng của họ chỉ còn lại bóng đen và thinh lặng sau khi luồng chớp và lửa lóe lên. Trong khoảnh khắc, tất cả bị thiêu hủy do một hố đen tối tàn phá và chết chóc. Từ vực thẳm thinh lặng ấy, ngày hôm nay người ta còn tiếp tục lắng nghe tiếng kêu mạnh mẽ của những người không còn nữa. Họ đến từ nhiều nơi khác nhau, có những tên khác nhau, một vài người trong số họ nói những tiếng khác. Nhưng tất cả cùng chung một số phận, trong một giờ thảm khốc mãi mãi đánh dấu không những lịch sử đất nước này, nhưng cả khuôn mặt của nhân loại.”

Nơi đây, tôi nhớ đến tất cả các nạn nhân và cúi mình trước sức mạnh và phẩm giá của những người sống sót sau những lúc đầu tiên ấy, nhưng trong nhiều năm trời, đã chịu trong thân thể họ những đau đớn cấp tính nhất, và trong tâm trí họ, những mầm mống của sự chết đã tiếp tục tiêu hao sinh lực của họ”.

Như người lữ hành hòa bình trước những đe dọa

Đức Thánh Cha nói tiếp: “Tôi cảm thấy có nghĩa vụ phải đến nơi này như một người lữ hành hòa bình, để cầu nguyện, nhớ đến các nạn nhân vô tội của bao nhiêu bạo lực, mang trong tâm hồn những lời cầu khẩn và khát vọng của những người nam nữ thời nay, đặc biệt là những người trẻ, họ đang mong ước hòa bình, làm việc cho hòa bình, hy sinh cho hòa bình…”

“Với lòng khiêm hạ, tôi muốn là tiếng nói của những người, mà tiếng nói của họ không được lắng nghe. Họ lo âu bất an nhìn những căng thẳng đang gia tăng trong thời nay, những bất bình đẳng và bất công không thể chấp nhận được, đang đe dọa sự sống chung của nhân loại, sự bất lực trầm trọng trong việc chăm sóc căn nhà chung của chúng ta, sự liên tục và nhất thời tìm tới các võ khí, như thể chúng bảo đảm một tương lai hòa bình.”

LÊN ÁN VÕ KHÍ HẠT NHÂN

“Với tất cả xác tín, tôi muốn lập lại rằng sử dụng năng lượng hạt nhân vào những mục tiêu chiến tranh, ngày nay hơn bao giờ hết, là một tội ác, không những chống lại con người và nhân phẩm, nhưng còn chống lại mọi khả thể tương lai trong căn nhà chung của chúng ta. Sự sử dụng năng lượng hạt nhân vào mục tiêu chiến tranh là vô luân. Chúng ta sẽ bị phán xét về điều này. Các thế hệ tương lai sẽ đứng lên làm người xét xử sự thất bại của chúng ta, nếu chúng ta nói về hòa bình mà không thi hành hòa bình bằng những hoạt động của chúng ta giữa các dân tộc trên trái đất. Làm sao chúng ta có thể nói về hòa bình trong khi chúng ta kiến tạo những võ khí mới mẻ và kinh khủng? Làm sao chúng ta có thể nói về hòa bình trong khi chúng ta biện minh cho một số hành động bất hợp pháp với những diễn văn kỳ thị và oán ghét? …”

CHẤP NHẬN NHỮNG KHÁC BIỆT

Việc kiến tạo hòa bình trong sự thật và công lý có nghĩa là nhìn nhận rằng “rất nhiều khi có những khác biệt, cả những dị biệt lớn lao, trong kiến thức, trong nhân đức, các khả năng phát minh, trong việc sở hữu của cải vật chất” (Pacem in terris, 49), nhưng điều đó không bao giờ có thể biện minh cho chủ ý áp đặt cho người khác những sở thích đặc thù của mình. Trái lại tất cả những điều đó có thể là một lý do để lãnh trách nhiệm và tôn trọng nhiều hơn. Cũng vậy, các cộng đồng chính trị, có thể có những khác biệt hợp pháp với nhau về mức độ văn hóa hoặc phát triển kinh tế, đều được kêu gọi dấn thân làm việc “cho sự thăng tiến chung”, cho thiện ích của tất cả mọi người (ibid. 49-50).

“Thực vậy, nếu chúng ta thực sự muốn xây dựng một xã hội công bằng và an ninh hơn, chúng ta phải rời bỏ khí giới: “Không thể yêu thương mà tay cầm võ khí tấn công” (Paul VI, ngày 04/10/1965 tại Liên Hiệp Quốc, n.5) …

BA MỆNH LỆNH LUÂN LÝ

Đức Thánh Cha cũng khẳng định rằng: “Tưởng nhớ, đồng hành với nhau, bảo vệ. Đó là ba mệnh lệnh luân lý, càng có một ý nghĩa mạnh mẽ và phổ quát hơn tại Hiroshima này, và chúng có khả năng mở ra một con đường hòa bình thực sự. Vì thế, chúng ta không thể để cho các thế hệ hiện tại và tương lai mất ký ức về những gì đã xảy ra. Ký ức là một bảo đảm và khích lệ để xây dựng một tương lai công chính và huynh đệ hơn; ký ức lan truyền, để thức tỉnh lương tâm của tất cả mọi người nam nữ, nhất là những người ngày nay đang giữ một vai trò đặc biệt đối với vận mệnh của các dân nước; ký ức sinh động giúp nói từ thế hệ này sang thế hệ khác: không bao giờ xảy ra nữa!”

HIỆP NHẤT VÀ HY VỌNG

“Chính vì thế, chúng ta được kêu gọi cùng hiệp nhất tiến bước với nhau, với cái nhìn cảm thông và tha thứ, mở ra chân trời hy vọng và mang những tia sáng vào giữa nhiều đám mây đang làm cho bầu trời đen tối. Chúng ta hãy mở cửa đón nhận hy vọng, trở thành những dụng cụ hòa giải và hòa bình. Điều này sẽ luôn có thể thực hiện được, nếu chúng ta có khả năng bảo vệ và nhìn nhận nhau như anh em trong cùng một vận mệnh chung. Thế giới chúng ta có liên hệ với nhau, không những vì sự hoàn cầu hóa, nhưng vẫn luôn vì trái đất chung, đang đòi hỏi hơn các thời khác, hãy ngưng những quyền lợi của những nhóm hoặc phe phái, để đạt tới sự cao cả của những người đang chiến đấu trong tinh thần đồng trách nhiệm, để bảo đảm một tương lai chung.”

KHÔNG BAO GIỜ CHIẾN TRANH NỮA

“Trong một lời khẩn cầu duy nhất, cởi mở đối với Thiên Chúa và tất cả những người nam nữ thiện chí, nhân danh tất cả các nạn nhân các vụ dội bom, những vụ thí nghiệm hạt nhân và tất cả các cuộc xung đột, chúng ta cùng nhau gióng lên một tiếng kêu: không bao giờ chiến tranh nữa, không bao giờ còn những tiếng nổ của võ khí, không bao giờ nhiều đau khổ như vậy nữa! Ước gì hòa bình đến trong thế giới chúng ta ngày nay. Lạy Thiên Chúa, Chúa đã hứa với chúng con: Tình thương và chân lý gặp nhau. Công lý và hòa bình hôn nhau. Chân lý sẽ nảy mầm từ lòng đất và công lý sẽ xuất hiện từ trời” (Tv 8,11-12).

“Lạy Chúa xin hãy đến, vì trời đã tối, và nơi nào đầy tàn phá, ước gì ngày hôm nay được dồi dào hy vọng, có thể viết và thực hiện một lịch sử mới. Lạy Chúa là Vua hòa bình, xin làm cho chúng con trở thành những dụng cụ và phản ánh hòa bình của Chúa!”
Kết thúc buổi cầu nguyện, Đức Thánh Cha đã trở lại phi trường để đáp máy bay trở lại Tokyo và về đến Tòa Sứ Thần lúc 10 giờ rưỡi đêm.

LỪA CHÍNH MÌNH…

LỪA CHÍNH MÌNH…

Ngồi phê phán đám Hong Kong ngu xuẩn, phá rối, và bị xúi dục.

Lập luận là:

sao không ổn định, sao đi phá rối, sao lại đập phá, sao đốt xe cảnh sát, sao không đi ra Tsim sha Tsui mà ăn hàng, shopping, selfie Facebook có phải vui không!

Dẫn chứng là:

Ta đây ở VN ăn rẻ, check-in sang chảnh, đi taxi khỏi xếp hàng, ăn quán lề đường vui, uống rượu lái xe thoải mái, xả rác vô tư, cà phê suốt ngày.. và rất tự do. Có ai cấm gì đâu nè!

Dạ, ấy là tự lừa dối mình, là phép Tự Thắng trong AQ của Lỗ Tấn..

Dân Hong Kong đâu có ngu.

Thu nhập bình quân $62k một năm, hơn cả Mỹ, họ đâu có nghèo.

Họ là một trong 3 trung tâm tài chính thế giới, họ hiểu đồng tiền và giá trị của Tư Bổn, vốn!!

Trường Đại Học top ten của thế giới, họ đâu dở.

Hệ thống giao thông hiệu quả từng góc phố, bến du thuyền đẹp tuyệt vời, hàng ngàn cao ốc như Landmark 81, địa ốc có giá nhất nhì thế giới, film ảnh nổi tiếng, hàng hoá phong phú, họ đâu có gì phải phàn nàn..

Hộ chiếu HK đi được 150 đất nước mà không cần xin visa trước, vậy là quá Tự Do rồi còn gì..

Vậy tại sao kỹ sư, bác sĩ, tiến sĩ, giáo viên, sinh viên, luật sư, thương gia, những thành phần ưu tú, tiên tiến của xã hội… cả người già, trẻ em… lại lao ra đường, bất chấp hiểm nguy, tánh mạng, mưa nắng, đêm ngày để gào thét, để bị đánh đập, bắt bớ, thủ tiêu, tù tội?

Nào phải vài ba trăm người, mà có lúc lên đến 2 triệu, gần một 1/3 dân xuống đường cùng một lúc, đây là tỉ lệ biểu tình cao nhất trên thế giới!

Tại sao vậy?

Là vì TỰ DO!

Sao lại Tự Do, có ai cấm họ ăn, ngủ, ai cấm đi lại, cấm mua sắm, tem phiếu gì đâu, ai cấm đức tin, ai bắt đi làm nô lệ đâu?

Ấy là cái Tự Do về Tư Tưởng, về Bầu Cử, về Quyền biểu quyết vận mệnh mình và thành phố, Quyền được lắng nghe, Quyền được nói ra.. cái đó nó quan trọng hơn bất cứ thứ gì khác, kể cả được sống sung túc trong sợi xích.

Khi bạn không có Tư Duy thì bạn sẽ không hiểu được Tự Do Tư Duy!!

Chuyện bắt đầu từ khi HK được trao trả cho TQ, họ được hứa là được Tự Do, Tự Trị, Dân Chủ ít nhất cho đến năm 2047. Họ có quyền có luật riêng (ví dụ HK tưởng niệm Thiên An Môn, nhưng Trung Hoa Lục Địa thì không hề), có toà án riêng, có lãnh đạo của họ.., nhưng TQ đã nuốt lời.

Từ năm 2012, TQ muốn thay đổi giáo dục trẻ em HK là yêu đảng cộng sản, TQ thất bại.

TQ cho bầu cử, nhưng do đảng chọn, dân bầu, giống như ba mẹ bảo con muốn ăn gì thì ăn, mì tôm hay mì gói?!

Khi lãnh đạo và pháp luật thuộc TQ thì nó sẽ phục vụ đảng cs TQ.

Ví như cảnh sát HK trong film rất nghĩa hiệp, lịch sự, bảo vệ dân lành, thì nay quay lại bắn giết, đánh đập, bắt bớ dân mình.. vì cs hồi xưa là Hoàng Gia Anh Quốc, giờ cảnh sát nghe lệnh của đảng.

Năm 2014, cảnh sát dùng hơi cay và vòi rồng giải tán đám đông, vi phạm quyền Tự Do Hội Họp, thì dân dùng dù để che, nên phong trào Dù Vàng ra đời.

Hoàng Chí Phong, mười mấy tuổi, đã nêu rõ, không muốn phải học cái nhồi sọ, cái độc tôn và sai sự thật, không muốn internet định hướng, truyền thông kiểm duyệt, suy nghĩ bị định đoạt, không muốn đồng hoá yêu nước là yêu đảng, không muốn làm con trừu non..

Năm nay, luật Dẫn Độ xem như huỷ luôn luật pháp HK, mất quyền tự chủ.

Dân Lục Địa sang HK phạm pháp thì được đưa về TQ xử, coi như HK vô luật pháp, còn dân HK nếu bị khép vào tội gì đó, kể cả chính trị, thì bị dẫn về TQ, không ai bào chữa và bảo đảm công lý cho họ..

Dân HK sống 99 năm Tự Do, nên hiểu và quý Tự Do. Họ trải qua 22 năm với cs TQ, họ nhìn ra tương lai.

Và Biểu Tình nổ ra.

Bạo lực leo thang khi cảnh sát dùng bạo lực để trấn áp, hơi cay, vòi rồng, và cả đạn thật để giết người.. khi ấy thì luật Tự Do Biểu Tình đã tắc tử.

Cảnh sát chơi bẩn, trà trộn, phá hoại và lấy cớ đàn áp người dân vốn dĩ hiền lành, nên dân mới điên lên và bạo loạn.

Cảnh sát triệt ĐH Bách Khoa, vì nơi ấy là trung tâm internet để kiểm soát mọi tin tức và liên lạc..

Vậy cảnh sát bạo động hay dân phá hoại?

Dân HK sợ một ngày họ sẽ bị như Tân Cương, Tây Tạng, hay hội viên Pháp Luân Công, bị bắt bỏ đạo, bị bắt thuần phục, bị chém giết, bị đồng hoá, bị xoá sổ… nên họ lên tiếng đòi quyền sống.

Quyền sống với tất cả ý nghĩa của con Người, chứ không phải con chó bị xích nhưng cho ăn đầy đủ mập mạp!

Nếu Carrie Lâm do dân HK bầu ra, ắt hẳn đã làm tất cả để bảo vệ, bênh vực, che chở cho dân mình. Nhưng bà ta lại do đảng chỉ định, nên phải dẹp loạn, nên càng loạn. Đó, cái khác của Dân làm Chủ và Độc đảng là chỗ đó.

Cái gì không có cạnh tranh, không có chỉ trích, không có kiểm quyền lực đan chéo thì không thể phát triển và tốt đẹp được.

Bây giờ thì ta thấy, tại sao Tự Do không gói gọn trong việc được đi chơi, được la hò khi bóng vào lưới, được ăn ngon mặc đẹp nhất thời..

Khi em nói em được đánh giày với giá 15k lẻ, có nghĩa là em đang bóc lột thằng đánh giày, nó phải làm vì nó đói.

Khi em đi Taxi không cần xếp hàng, nghĩa là dân thất nghiệp đông quá, lo chạy Grap tranh nhau sống.

Khi em ăn quà dễ dàng, vì quá nhiều bà mẹ còng lưng nuôi con.

Em bảo không nên quan tâm chính trị, quan tâm chính em thôi, thì em mặc định chấp nhận kẻ lãnh đạo, và họ muốn làm gì thì làm, nói nhăng cuội, và tham nhũng cuồng điên. Giả như thị trưởng là dân bầu, ổng phải làm việc cho dân, đường ngập thì phải thông cống, đường chật thì phải xây thêm, bệnh viện phải đầy đủ, trường lớp phải ra trò, nếu ổng và nội các ổng không làm được, thì bị đuổi cổ, và trăm ngàn người giỏi và có trách nhiệm lên thay, cái cạnh tranh và đấu đá đó tự nó thúc đẩy xã hội phát triển và hoàn thiện.

Em sẽ không phải kẹt xe trong ngập lụt, không phải chen chúc dưới gầm giường bệnh viện, sẽ không phải tìm đường cho con em du học sau này.. tất tần tật là chính trị ấy.

Em ăn ngon, mặc đẹp, vì em may mắn có được đặc quyền, đặc lợi, hay có ai đó bảo bọc cho em..

Cái tự do em đang có là tự do nhục dục, tự do ích kỷ, tự do tạm thời, tự do gói gém trong cái hưởng thụ ngắn ngủi và hạn hẹp!

Cái Tự Do họ tranh đấu nó ở mức cao hơn:

Tự Do là từ trong Tư Tưởng, và kiểm soát quyền lực, mong mang lại điều tốt nhất cho đời sống. Quyền chọn ra hệ thống phục vụ cho dân, chứ không phải nhóm lãnh đạo!

QUỐC VINH

Image may contain: outdoor
Image may contain: one or more people and shoes