Đất nước cần tiềm lực tự nhiên hay tiềm lực nhân văn?
Đất nước cần tiềm lực tự nhiên hay tiềm lực nhân văn?
Đề thi môn văn tốt nghiệp phổ thông trung học năm học 2017-2018 là bài thơ Đánh Thúc Tiềm Lực được Nguyễn Duy viết vào năm 1980-1982 trong thời kỳ đất nước quá nghèo khổ, được xếp vào hàng 5 nước nghèo khổ nhất thế giới vào thời điểm đó. Nhưng, cần phải nhận thức chính xác rằng, đất nước vào thời kỳ ấy có nhiều tiềm lực vật chất để không nghèo đói: Rừng vẫn vàng, biển vẫn bạc, tài nguyên thiên nhiên vẫn chưa được khai thác nhiều, đất đai vẫn mênh mông. Thế nhưng, vào thời điểm ấy cơ chế quan liêu bao cấp chính là dây thòng lòng bóp nghẹt tất cả.
Trong nhận thức non trẻ của các em học sinh phổ thông, có lẽ hầu hết các em tin rằng Việt Nam vẫn còn nhiều tiềm lực vật chất- tài nguyên khoáng sản để đánh thức, để phát triển như nhà thơ Nguyễn Duy. Nhưng, nếu có em nào đó viết đúng sự thật rằng, tiềm lực tự nhiên của đất nước không còn nữa, bài thi của em đó có bị điểm o không? Nếu chịu khó suy xét, có thể thấy rằng, Việt Nam không còn tiềm lực vật chất để phát triển nữa. Rừng- về cơ bản đã bị quan chức và những chính sách sai lầm phá hết. Biển- về cơ bản đã chết khi nguồn lợi hải sản đã bị khai cùng thác tận, và bị đầu độc ô nhiễm nặng nề. Dầu khí biển- về cơ bản cũng đã hết, và quan trọng nhất là 67 lô dầu khí biển đang mất dần vào tay bạn vàng bốn tốt Trung Hoa. “ Rừng đã hết và biển thì đang chết” có lẽ là câu thơ đau xót nhất trong thơ ca Việt Nam hiện đại. Đất đai- về cơ bản đã nằm trong tay các thương gia trục lợi và các nhóm tư bản thân hữu. Tài nguyên khoáng sản- về cơ bản đã hết. Việt Nam có tiềm lực vật chất nào nữa để mà đánh thức, để mà phát triển? Có nên trách người ra đề không có nhận thức về những thực tiễn đau lòng? Có nên xem xét rằng, người ra đề thi đã chính trị hóa sâu sắc bài thơ để tuyên truyền, mị dân về sự giàu có tài nguyên của đất nước? Nếu đặt ra những câu hỏi này, cần phải có thái độ cảm thông với các em học sinh vì các em đã bị cung cấp một ngộ nhận.
Thế giới đã qua rồi cái thời phát triển bằng tài nguyên khoáng sản, họ thấu hiểu “lời nguyền tài nguyên” là gì(Lời nguyền tài nguyên là một thuật ngữ chỉ việc khai thác tài nguyên chỉ làm lợi cho một nhóm người, không có lợi cho cộng đồng và đất nước, tàn phá môi trường…). Nước Nga của hoàng đế đỏ Putin đầy rẫy tài nguyên khoáng sản quý hiếm, đất hiếm và tồn tại bằng khai khoáng nhưng có giàu mạnh chút nào đâu. Lục địa đen cũng đầy rẫy tài nguyên khoáng sản nhưng vẫn đắm chìm vào đói nghèo và lạc hậu. Trong khi đó, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và hàng chục quốc gia khác không có tài nguyên khoáng sản, hoặc kiên quyết không khai thác tài nguyên khoáng sản vẫn phát triển như vũ bão, vẫn giàu có, thịnh vượng và hạnh phúc. Từ cuối thập niên 60 của thế kỷ trước, Mỹ, Anh và nhiều quốc gia khác đã kiên quyến nói không với khai thác mỏ để phát triển bằng kinh tế tri thức, bằng sáng tạo. Nước Mỹ dồi dào khoáng sản nhưng Mỹ không khai thác. Nước Mỹ nhập nguyên liệu phôi thép từ Liên xô cũ và nay là CHLB Nga về và chỉ sau vài tuần nước Mỹ đã có những sản phẩm thép đặc hữu có giá trị cao ngất. Giá trị cao ngất đó đến từ trí tuệ và sáng tạo chứ không đến từ khai thác và luyện thô. Nước Mỹ có trữ lượng dầu mỏ và khí đốt vào hàng cao nhất thế giới, nhưng nước Mỹ chỉ khai thác nhỏ giọt, chủ yếu nhập khẩu. Trí tuệ và sức sáng tạo không ngưng nghỉ của nước Mỹ đã giúp cho nước Mỹ kiên định với con đường “giọt dầu cuối cùng của thế giới là giọt dầu của nước Mỹ”. Kiên định con đường ấy, nước Mỹ đã sản sinh ra công nghệ khai thác dầu đá phiến với hệ số thu hồi dầu cao gấp đôi các công nghệ hiện có, qua đó giảm giá thành, nâng cao sản lượng. Chính công nghệ này đã giúp giá dầu xuống thấp trong 4 năm nay. Với nước Mỹ, trí tuệ và sáng tạo làm nên thành tựu chứ không phải là tiềm lực tự nhiên.
Câu chuyện thành công- thất bại của các quốc gia không phải là câu chuyện tiềm lực tự nhiên, tài nhiên khoáng sán, mà chính là câu chuyện của các tiềm lực nhân văn, mà cụ thể là thể chế chính trị ưu việt hay thể chế chính trị tồi tệ, câu chuyện của tự do hay nô lệ, câu chuyện tôn trọng nhân quyền hay chà đạp nhân quyền.
Các quốc gia tự do, dân chủ và tôn trọng nhân quyền đều là những quốc gia giàu có, thịnh vượng và hạnh phúc như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, New Zealand, Úc, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc……Ở đó, họ có đa nguyên và đa nguyên chính trị, có tự do bầu cử, có tam quyền phân lập để giám sát quyền lực, để chống tha hóa quyền lực. Ở đó có tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do học thuật, tự do xuất bản, tự do biểu diễn, tự do sáng tác… Tự do là nền móng của sáng tạo, mà sáng tạo lại là nền tảng của phát triển và thịnh vượng, và họ giàu có là điều tất nhiên. Ở các quốc gia đó, quyền con người- nhân quyền được nhà nước và cộng đồng tôn trọng tuyệt đối. Khi nhân quyền được coi trọng và tôn trọng, con người luôn có hứng khởi để sống, để làm việc, để sáng tạo và cống hiến.
Nếu soi chiếu đơn giản các đặc trưng cơ bản của tự do- dân chủ- nhân quyền, hãy can đảm đặt câu hỏi: Việt Nam đã có tự do- dân chủ -nhân quyền hay chưa? Câu trả lời chính xác là, đó là mặt hàng xa xỉ mà nhân dân Việt Nam đang mong mỏi. Và khi chưa có mặt hàng xa xỉ đó, Việt Nam vẫn cứ phải lầm lũi trong đói nghèo, khổ đau và bất hạnh như những quốc gia thiếu vắng tự do- dân chủ- nhân quyền khác!
Việt Nam không còn tiềm lực tự nhiên để đánh thức, để phát triển, vậy cần gì để phát triển? Câu trả lời thật đơn giản: Việt Nam đang rất cần tiềm lực nhân văn đặc biệt Tự Do- Dân Chủ- Nhân Quyền. Đó là giải pháp vạn năng để sửa chữa những sai lầm của quá khứ, để phát triển trong hiện tại và thịnh vượng- hạnh phúc trong tương lai.
BÁNH VẼ

Một trong những nguyên nhân khiến cộng sản thành công là: Hứa hẹn, hứa hẹn và hứa hẹn. Và đó là những hứa hẹn không bao giờ đến. Chế Lan Viên với sự thông minh hiếm có, với những cảm nhận tinh tế của một nhà thơ tài năng, đã cho rằng, ông cũng như hàng triệu người dân Việt Nam khác đã bị chiếc BÁNH VẼ của cộng sản mê hoặc.Những năm cuối đời, ông đã viết bài thơ Bánh Vẽ nói về nỗi đau bị lường gạt, bị dụ dỗ và bị tha hóa. Vì bài thơ Bánh Vẽ này mà tuyệt phẩm Di Cảo của ông đã bị thu hồi và cấm.
BÁNH VẼ
Chưa cần cầm lên nếm, anh đã biết là bánh vẽ
Thế nhưng anh vẫn ngồi vào bàn cùng bè bạn
Cầm lên nhấm nháp.
Chả là nếu anh từ chối
Chúng sẽ bảo anh phá rối
Ðêm vui
Bảo anh không còn có khả năng nhai
Và đưa anh từ nay ra khỏi tiệc…
Thế thì đâu còn dịp nhai thứ thiệt?
Rốt cuộc anh lại ngồi vào bàn
Như không có gì xảy ra hết
Và những người khác thấy anh ngồi,
Họ cũng ngồi thôi
Nhai ngồm ngoàm…
Một số hiểu lầm về Kinh Thánh

Một số hiểu lầm về Kinh Thánh
Cho tới nay dường như vẫn có nhiều người nghĩ rằng Kinh Thánh là sách nói về giáo lý của đạo Ki-tô, thuần tuý là sách tôn giáo, chỉ dùng cho các tín đồ Ki-tô giáo mà thôi – mà tôn giáo lại là lĩnh vực nhạy cảm, ở ta quen gọi là “thuốc phiện của nhân dân”, chớ có dại mà đụng chạm tới – vì vậy ai không theo Ki-tô giáo thì chẳng cần và chớ nên đọc Kinh Thánh. Cuốn sách gối đầu giường của hơn một tỷ tín đồ và được cả thế giới không ngừng xuất bản với số lượng nhiều nhất này chưa từng thấy bán tại các hiệu sách ở ta. Báo in, báo điện tử ngại đăng các bài viết liên quan tới Kinh Thánh.
Thực ra cách hiểu như vậy là lệch lạc và bất lợi cho mọi người trong việc tìm hiểu văn hóa nhân loại và văn hóa phương Tây nói chung cũng như văn hóa Ki-tô giáo nói riêng.
Hiểu lầm nói trên có thể bắt nguồn từ bản thân tên “Kinh Thánh” đem lại ấn tượng “thần thánh”, thần bí. Đây là cái tên không chính xác, dễ gây hiểu nhầm. Thực ra sách này vốn dĩ có hai tên gốc: 1) Tên tiếng Hy Lạp là Biblia, nghĩa là “sách”; 2) Tên tiếng La Tinh là Scriptura, nghĩa là “trước tác” “bài viết”, “bản thảo” – nói cách khác, nó hoàn toàn không có chút nào ý nghĩa thần thánh. Tiếng Anh đầu tiên gọi là Biblelh, về sau thống nhất gọi là The Bible, nghĩa là sách kinh điển.
Tên sai là do ta dùng từ hoàn toàn theo Trung Quốc. Ngày xưa, khi dịch Cựu Ước toàn thư và Tân Ước toàn thư ra chữ Hán, người Trung Quốc gán cho hai cuốn sách này cái tên “Thần thánh điển phạm” (Mẫu mực thiêng liêng) và “Thiên kinh địa nghĩa” (Đạo nghĩa muôn thủa); về sau, khi in gộp Cựu Ước và Tân Ước thành một bộ sách, người Trung Quốc ghép hai chữ thứ hai lại thành “Thánh Kinh”, nghe nặng tính thần thánh, khiến người ta dễ hiểu lầm sách này chỉ là sách kinh điển của Ki-tô giáo. Quả thật, cái tên đó khi dịch sang tiếng Việt là Kinh Thánh đã nhuốm đậm màu sắc tôn giáo, thánh thần, trở nên xa lạ với cộng đồng người không theo tôn giáo.
Đây thật là một sai lầm lịch sử đáng tiếc nhưng không thể sửa được vì đã quen dùng và cảm thấy thiêng liêng. Vì thế rất ít người Việt Nam thực sự biết Kinh Thánh là gì, nội dung ra sao, có ý nghĩa thế nào đối với chúng ta. Đây là một thiệt thòi lớn về tri thức cho mọi người, nhất là thanh thiếu niên.
Sơ lược nội dung Kinh Thánh
Kinh Thánh gồm hai phần: Cựu Ước (Old Testament) và Tân Ước (New Testament), do hơn 40 tác giả viết trong suốt hơn 1.600 năm từ thế kỷ 12 trước CN cho tới thế kỷ 2 sau CN, là một tác phẩm đồ sộ, bản tiếng Việt dày tới 1.400 trang chữ khổ nhỏ.
Cựu Ước – Giao ước cũ của người Hebrew (nay gọi là Do Thái) với Thượng Đế, là Kinh điển của người Hebrew, thực tế là bộ sử của một dân tộc dẫn đầu nền văn hoá nhân loại. Từ 5.000 năm trước, người Hebrew đã sáng suốt chỉ tin một đấng tối cao duy nhất họ gọi là Jehovah tức Thượng Đế (God), được hiểu là một sức mạnh siêu nhiên sáng tạo ra tất cả (Tạo Hóa, the Creator) – khái niệm ấy ngày nay ta chưa hiểu rõ song lại chưa thể phủ nhận – chứ không thờ một thần thánh nào có nguồn gốc từ người hoặc vật.
Cựu Ước gồm 39 cuốn chia 4 phần: sách Luật pháp (5 cuốn đầu của Moses); sách Lịch sử (12 cuốn); sách Tiên tri (16 cuốn); sách Văn thơ (6 cuốn). Cựu Ước rất ít màu sắc tôn giáo, nó chứa đựng vũ trụ quan, nhân sinh quan cổ xưa nhất của nhân loại, là tài liệu vô cùng quý giá rất đáng nghiên cứu. Sách Cựu Ước nguyên văn viết hầu hết bằng tiếng Hebrew và một phần bằng tiếng Aramaic (tiếng của người Aram, tức Syria cổ), do nhiều người viết suốt từ năm 1.200 đến năm 100 trước CN và được truyền miệng từ rất lâu trước khi viết thành văn. Tuy cổ xưa như thế nhưng Cựu Ước là một văn bản có thực và tồn tại cho tới ngày nay. Chứng cớ là thời gian 1947–1956, người ta phát hiện trong các hang động gần Biển Chết (Dead Sea, ở Israel) chứa hơn 900 “sách” có viết chữ (chữ Hebrew, Hy Lạp, Aramaic) bằng dùi nung trên da cừu, gọi là Sách Cuộn Biển Chết (Dead Sea scrolls), đựng trong các bình gốm cao. Giám định cho thấy số sách này được làm vào khoảng từ năm 100 trước CN tới 70 sau CN, là những bản sao cổ xưa nhất còn tồn tại của Cựu Ước (nội dung hoàn toàn như Kinh Cựu Ước hiện sử dụng) và một số kinh điển khác của người Hebrew. Phát hiện Sách Cuộn Biển Chết có ý nghĩa cực kỳ quan trọng.
Tân Ước – Giao ước mới của các tín đồ Ki-tô giáo với Thượng Đế, nguyên văn viết bằng tiếng Hy Lạp, ra đời một thế kỷ sau khi xuất hiện đạo Ki-tô, tức rất muộn so với Cựu Ước, và nặng mầu sắc tôn giáo hơn; nó trình bày cuộc đời và học thuyết của Chúa Jesus. Tân Ước gồm 27 cuốn, chia 3 phần: sách Phúc Âm (5 cuốn); sách giáo lý (21 cuốn); sách Khải Huyền (1 cuốn). Số trang của Tân Ước chỉ bằng khoảng gần 1/3 Cựu Ước. Các học giả cho rằng Tân Ước được viết xong vào khoảng năm 382 sau CN.
Kinh Thánh là một bộ sách có tính tổng hợp, một bách khoa toàn thư rất hữu ích trong việc nghiên cứu nhân loại cổ đại về các mặt lịch sử, chính trị, quân sự, pháp luật, luân lý đạo đức, kinh tế, khoa học kỹ thuật, y học, văn hoá … Chưa dân tộc nào viết được bộ sử của mình một cách khái quát, hữu ích như Cựu Ước. Bộ sử này không viết nhiều về đời sống, hành vi của các vua chúa (như Sử Ký của Tư Mã Thiên), nhưng viết rất kỹ về quá trình di chuyển, các tai họa dân tộc (chiến tranh, đói kém …), các kinh nghiệm và đời sống của dân tộc này, qua đó đời sau có thể học được nhiều điều bổ ích.
Cựu Ước ghi lại đời sống mọi mặt của người Hebrew, từ việc lớn của quốc gia, dân tộc cho tới những chi tiết rất nhỏ nhặt trong ăn ở, đối nhân xử thế, thậm chí cả trong sinh hoạt tình dục, nhờ thế giúp hậu thế hiểu chính xác, chi tiết về đời sống tinh thần vật chất của họ cách đây mấy nghìn năm. Một thí dụ: phương pháp tránh thai phổ biến nhất, cổ nhất xưa nay là xuất tinh ngoài âm đạo – phương Tây gọi là Onanism – từ này có nguồn gốc trong Kinh Thánh, chương 38 “Sáng thế ký (Genesis)” “Giuđa và con dâu là Tama”.[1]
Chưa dân tộc nào biên soạn và còn lưu giữ được một tác phẩm kinh điển có giá trị như Kinh Thánh phần Cựu Ước. Thí dụ “Kinh thánh” của văn minh Trung Hoa là sách Luận Ngữ hoàn toàn không có được tính tổng hợp như vậy, chưa kể còn ra đời sau 7 thế kỷ.
Kinh Thánh còn là một tác phẩm văn học đồ sộ, di sản quý báu của nhân loại. Trong Cựu Ước có các tác phẩm văn học trí tuệ, văn học tiên tri và văn học khải huyền, là những sáng tạo của người Hebrew.
Tính chất quan trọng của Kinh Thánh
Kinh Thánh có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại của dân tộc Do Thái. Cựu Ước là kinh điển của đạo Do Thái, nhờ tôn giáo này mà người Do Thái dù hai nghìn năm mất tổ quốc, sống lưu vong phân tán ở khắp nơi trên thế giới, bị hắt hủi, xua đuổi, thậm chí hãm hại, tàn sát nhưng vẫn giữ nguyên vẹn được nòi giống, ngôn ngữ, truyền thống văn hóa và nhất là họ luôn dẫn đầu thế giới trong các hoạt động trí tuệ. Ngày ngày cầu kinh, ôn lại lịch sử khốn khổ của dân tộc mình, là cách nhắc nhở người Do Thái luôn nhớ quá khứ gian nan của mình để cố gắng vươn lên thoát khỏi nghịch cảnh. Dân tộc nhỏ bé này có đóng góp cho nhân loại nhiều hơn mọi dân tộc khác. Một thí dụ: người Do Thái chỉ chiếm 0,25% số dân thế giới nhưng họ chiếm 22% tổng số giải Nobel các loại đã trao trong thời gian 1901-2007; trong đó có 41% giải Kinh tế, 26% giải Vật lý, 19% giải Hóa học, 28% giải Y học, 13% giải Văn học, 9% giải Hòa bình.
Đối với loài người, tính chất quan trọng của Kinh Thánh không chỉ thể hiện ở chỗ nó được in đi in lại với số lượng nhiều nhất thế giới, mà còn ở chỗ được người ta quan tâm đọc và trích dẫn nhiều nhất – đây là tiêu chuẩn định lượng đánh giá một tác phẩm. Cho tới nay, Kinh Thánh đã lưu truyền mấy nghìn năm chưa bao giờ ngừng, được dịch ra 1.800 ngôn ngữ của khắp thế giới, có ảnh hưởng tới hàng tỉ người kể cả người không theo tôn giáo nào. Riêng nước Mỹ hàng năm in khoảng 9 triệu bản Kinh Thánh. Trung Quốc đã in hơn 40 triệu bản.
Kinh Thánh là nguồn cảm hứng và trích dẫn của nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật, lịch sử, triết học v.v… trên toàn thế giới. Từ bức tranh Bữa ăn tối cuối cùng của Leonard de Vinci, tập thơ Thần khúc của Dante, các vở kịch của Shakespeare (vở Hamlet trích dẫn Kinh Thánh nhiều nhất), cho tới tiểu thuyết Sống lại của Tolstoy, …vô số tác phẩm văn học nghệ thuật đều lấy nguồn từ Kinh Thánh. Các trước tác của Karl Marx và Engels trích dẫn Kinh Thánh hơn 300 lần, liên quan tới hơn 80 nhân vật trong đó. Tại Trung Quốc, Lỗ Tấn, Tào Ngu, Quách Mạt Nhược, Mao Thuẫn … đều trích dẫn Kinh Thánh. Ở Việt Nam, chúng ta thường xuyên kỷ niệm lễ Phục sinh, Giáng sinh …, tiểu thuyết, sách báo ta thường nói A-đam, Ê-va, Chúa,… tất cả đều có nguồn gốc từ Kinh Thánh.
Bởi vậy nếu không hiểu Kinh Thánh thì sẽ rất khó tìm hiểu văn minh phương Tây – nền móng của văn minh hiện đại, cũng rất khó hiểu về dân tộc Do Thái. Không đọc Kinh Thánh thì tất nhiên sẽ dễ nói, viết sai về các điển tích đó. Rõ ràng tất cả mọi người, nhất là người làm công tác văn hóa văn nghệ, giáo dục, xã hội … đều nên đọc Kinh Thánh.
Kinh Thánh ở Việt Nam
Có lẽ vì nghĩ rằng Kinh Thánh là sách riêng của Ki-tô giáo, tuyên truyền cho tôn giáo, nên ở ta không thấy hiệu sách nào có bán Kinh Thánh do nhà xuất bản của nhà nước chính thức phát hành rộng rãi như một tác phẩm văn hóa bình thường.
Thực ra các giáo hữu ở ta đều có cuốn Kinh Thánh do Toà Tổng Giám mục Hà Nội kết hợp Nhà Xuất bản Hà Nội in và xuất bản với số lượng lớn nhưng chỉ phát hành nội bộ giáo hữu. Cuốn Kinh này chỉ in Tân Ước nặng tính tôn giáo; Cựu Ước quan trọng hơn thì lại không được in, thật đáng tiếc. Sách khổ nhỏ cỡ bàn tay in trên giấy tốt, bìa ni lông. Ngoài ra các giáo hữu còn có sách “Kinh Thánh bằng hình” (phụ bản của báo “Công giáo và Dân tộc” in tại TP Hồ Chí Minh năm 1991, lượng in 25.000 cuốn); đáng tiếc là hệ thống phát hành của nhà nước cũng không phát hành cuốn này.
Lùng các hiệu sách cũ, người viết bài này mua được một bản Kinh Thánh toàn tập tiếng Việt, dày 1.400 trang giấy mỏng, bìa giả da, do United Bible Societies in tại Hàn Quốc năm 1995. Sách dùng cách hành văn và từ ngữ cổ, khó hiểu; phần Tân Ước dịch khác nhiều so với bản in của Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội.
Thiết nghĩ hệ thống xuất bản phát hành của nhà nước nên xuất bản phát hành Kinh Thánh như một tác phẩm văn hoá nghệ thuật nhằm khai thác kho tàng văn hóa vô giá này của nhân loại. Nên đưa việc học Kinh Thánh (nhất là Cựu Ước) vào chương trình giảng dạy phổ thông trung học. Cũng nên biên soạn các sách hướng dẫn tìm hiểu giá trị văn hoá lịch sử, khảo cổ … của Kinh Thánh. Việc tìm hiểu Kinh Thánh sẽ giúp chúng ta hiểu đúng đắn, toàn diện về văn minh phương Tây nói riêng và văn minh nhân loại nói chung, giúp chúng ta hoà vào dòng chảy chung của văn minh toàn cầu, đồng thời thể hiện chúng ta biết tôn trọng văn hoá tôn giáo – một thành phần rất quan trọng của văn hoá thế giới.
Đây là một việc cần làm khi Việt Nam đã gia nhập WTO, hòa vào nhịp sống chung của toàn cầu, trong đó có đời sống văn hóa-tâm linh.
(Tác giả-Nguyễn Hải Hoành là dịch giả và là nhà nghiên cứu tự do hiện sống tại Hà Nội , bài đăng trên NGHIENCUUQUOCTE.ORG )
Thế lực nào đánh sập chế độ cộng sản?

Thế lực nào đánh sập chế độ cộng sản?
2020-01-01
Nhân sự trong đảng!
Mạng Infonet.vn trích dẫn nguyên văn lời ông Trần Quốc Vượng rằng “Kiên quyết sàng lọc, không để lọt vào cấp ủy khóa mới những người bản lĩnh chính trị không vững vàng; phẩm chất, năng lực, uy tín giảm sút; thiếu gương mẫu, mất đoàn kết, cục bộ, bè phái, cơ hội, chạy chức, chạy quyền, tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm”; bản thân hoặc vợ, chồng, con vi phạm.”
Đến ngày 30 tháng Mười Hai, bài viết tựa đề “ Ba Điều Sáng Tỏ Từ Bài Phát Biểu Của Ông Trần Quốc Vượng” của tác giả Nguyễn Ngọc Chu được đưa lên trang baotiengdan.com, nêu bật 3 điều mà người viết cho rằng ông Trần Quốc Vượng đã xác định đúng. Thứ nhất là “Cơ đồ xây dựng 75 năm có nguy cơ sụp đỗ”. Thứ hai, “ Không ai mang máy bay, đại bác đền để lật đổ ta, ta không làm tốt thì ta tự lật đổ ta, chẳng phải do kẻ thù đâu”.
Vẫn theo tác giả Nguyễn Ngọc Chu trên baotiengdan.com, ông Trần Quốc Vượng đang chỉ ra rằng thế lực thù địch phản động, thường bị Nhà Nước xử phạt theo Điều 117 Bộ Luật Hình Sự, chừng như không đến từ bên ngoài chính quyền mà ngay trong nội bộ, và chừng như trước giờ nhiều người trong chính quyền đã định nghĩa sai thế nào là ‘thù địch” là ‘phản động’.
Đây là ý kiến của một nhà phản biện trên một trang mạng độc lập, còn ý kiến của người dân, người quan sát thời cuộc, hoặc người hoạt động chính trị thì sao?
Một nhà quan sát và hoạt động chính trị từ Paris, ông Nguyễn Gia Kiểng, cho biết sau khi tham khảo bài nói chuyện của ông Trần Quốc Vượng hôm 25 tháng Mười Hai thì cảm nghĩ của ông là đang có sự khó khăn trong công tác chuẩn bị tư tưởng cũng như chọn lựa nhân sự trước thềm Đại Hội Đảng lần thứ 13 tới đây:
“Sau đại Hội Đảng 12 họ đã lấy quyết định nhất thể hóa, rập khuôn theo công thức tổ chức của Trung Quốc, là thống nhất Nhà Nước với Đảng, thâu gồm hai chức vụ tổng bí thư và chủ tịch nước trong Hiến Pháp đã được sửa đổi năm 2013, cho chủ tịch nước những quyền rất lớn, đặc biệt quyền đứng đầu quân đội. Họ đã tập trung quyền lực đó vào trong tay ông Nguyễn Phú Trọng. Nhưng ông Nguyễn Phú Trọng đột nhiên bị tai biến và chắc chắn không thể tiếp tục cầm quyền được nữa”.
“Cho nên vấn đề đặt ra là phải chọn người thay thế ông Nguyễn Phú Trọng, và người có nhiều khả năng mà ông Nguyễn Phú Trọng và thân cận của ông Trọng muốn đặt vào chức vị thế ông Nguyễn Phú Trọng không ai khác hơn là ông Trần Quốc Vượng. Cho nên ông Trần Quốc Vượng là người lo lắng vấn đề cơ cấu nhân sự cho Đại Hội Đảng 13”.
Vẫn theo lời ông Nguyễn Gia Kiểng, tổ chức gọi là bộ máy sàng lọc của đảng, trong đó kỷ luật là trên hết, đã loại trừ hầu như gần hết những người có tư kiến, có nhân cách, chỉ để lại những con người mà khả năng lớn nhất là giữ im lặng trong suốt thời gian qua:
“Họ cũng không có những con người để mà giải quyết cùng một lúc nhiều vấn đề phúc tạp, cho nên ông Trần Quốc Vượng có lý, lần này đảng cộng sản sẽ rất lúng túng trong việc chuẩn bị Đại Hội 13, sẽ rất chia rẽ, sẽ có tranh cãi gay gắt bởi không có người thay thế ông Nguyễn Phú Trọng. Năm 2020 sẽ là một năm khó khăn, đòi hỏi một nhân sự lãnh đạo vừa có thiện chí vừa có tài ba mà điều đó thì đảng cộng sản không có. Cho nên đảng cộng sản lúng túng về nhân sự, lúng túng vì bị đe dọa, lúng túng vì chia rẽ trong chọn lựa và quản lý”.
Đấu đá nội bộ!
Cô Nguyễn Hoàng Vi, thành viên của Mạng Lưới Blogger Việt Nam, bày tỏ:
“ Khi nghe ông Trần Quốc Vượng thì điều đầu tiên trong đầu tôi là một dấu hỏi. Nếu như trong thời điểm bình thường mà không phải là trước Đại Hội Đảng thì tôi cho rằng đó là những lời thật lòng của ông ấy. Nhưng mà trước Đại Hội Đảng mà ông phát biểu như vậy thì tôi nghĩ nó mang tính chất đấu đá, phe phái với nhau hơn là sự trung thực của ông”
“Ông Trần Quốc Vượng muốn dùng lá bài “chính ta lật đổ ta” có thể là đề thanh trừng nội bô, ghế này ghế nọ trong đảng với nhau. Tôi không chắc rằng sau này ông ấy có quay lại đỗ thừa cho dân, đỗ thừa cho thế lực thù địch thế này thế kia”
Dù muốn dù không, cô Nguyễn Hoàng Vi vẫn cho rằng lời nói của ông Trần Quốc Vượng có sức tác động nhất định đến tư duy phải thay đổi, phải cải thiện mà đảng cộng sản biết rõ nhưng không chịu thực hiện:
“ Gốc rễ của vấn đề, đúng như lời phát biểu của ông, sự sụp đổ, sự phát triển của đất nước và của đảng cộng sản nói chung không phải từ chính thế lực thù địch như Ban Tuyên Giáo của đảng cộng sản tuyên truyền bấy lâu nay. Người dân biết điều đó hơn ai hết và bây giờ ông Vượng chỉ muốn mượn cái điều mà ai cũng biết nhưng không dám nói để làm tăng uy tín của ông lên mà thôi”.
“ Gốc rễ của vấn đề, đúng như lời phát biểu của ông, sự sụp đổ, sự phát triển của đất nước và của đảng cộng sản nói chung không phải từ chính thế lực thù địch như Ban Tuyên Giáo của đảng cộng sản tuyên truyền bấy lâu nay. Người dân biết điều đó hơn ai hết và bây giờ ông Vượng chỉ muốn mượn cái điều mà ai cũng biết nhưng không dám nói để làm tăng uy tín của ông lên mà thôi”, Nguyễn Hoàng Vi
Đồng tình với ông Trần Quốc Vượng, rằng kẻ thù làm hại ta chính là ta chứ không ai khác, là ý kiến của phó giáo sư tiến sĩ, chuẩn đô đốc Lê Kế Lâm, cựu giám đốc Học Viện Hải Quân Nhân Dân Việt Nam:
Từ xa xưa chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã nói cán bộ phải thật sự vì nước, vì dân, vì đảng. Thế thì cán bộ chọn ra mà trước thì tốt sau đó biến chất thì trở lại là phản dân, phản nước. Câu nói “chọn cán bộ hết sức quan trọng” của vị lãnh đạo đó tôi hoàn toàn đồng ý, vì nếu chúng ta làm sai thì nó dẫn đến hậu quả hết sức nặng nề, đi đến chuyện dân mất tin. Trong quá trình xây dựng đất nước Việt Nam từ xưa đến nay, khi cán bộ làm cho dân mất tin rồi thì rõ ràng rất nguy hiểm cho việc duy trì quyền lực của Nhà Nước và quyền lực của nhân dân. Tôi thấy câu nói rất đúng thôi”.
“Kinh nghiệm và bài học đau đớn vừa qua ví dụ như vụ xét xử AVG, rồi gần đây vụ xử ông Nguyễn Trung Tín, nguyên phó chủ tịch thành phố Hồ Chí Minh, rồi một loạt các vụ xử khác nữa, là những bài học phải nói là thấm thía và đau đớn cho quá trình chọn cán bộ ở nước Việt Nam chúng tôi”.
Người dân giám sát!
Nhằm minh chứng cho câu nói “ Ta không làm tốt thì tự ta lật đổ ta” mà ông Trần Quốc Vượng tuyên bố mới rồi, chuẩn đô đốc Lê Kế Lâm nhấn mạnh không chỉ cán bộ tốt là quan trọng mà vai trò của nhân dân cũng quan trọng không kém:
“Tới đây, Đại Hội Đảng thứ 13, có chọn cán bộ tất nhiên phải cán bộ tốt. Nhưng tôi cũng có đề nghị là chọn xong rồi, bố trí xong rồi, Đại Hội Đảng xong rồi phải tăng cường công tác kiểm tra giám sát quyền lực. Phải kiểm soát quyền lực khi cán bộ được đưa vào vị trí quyền lực rồi, và tôi nói cái giám sát quyền lực tốt nhất là nhân dân. Nhân dân là người giám sát quyền lực một cách chặt chẽ nhất và trung thực nhất”
Thường trực Ban Bí Thư Trần Quốc Vượng đã dám đưa ra tín hiệu quan trọng về nhân lực và nhân sự trong đảng cộng sản những ngày tới đây, nguyên Vụ truởng Vụ Nghiên cứu, Ban Dân Vận Trung ương, ông Nguyễn Khắc Mai, nhận định như vậy:
“ Trần Quốc Vượng đáng khen vì dám nói là nếu đảng cộng sản không thay đổi thì nguy cơ bị lật đổ là hiện thực. Ít ra Trần Quốc Vượng đã dám nói lên điều này”
“Chỉ coi trọng cái yếu tố cán bộ không thì không đủ. Bây giờ cho là họ có sàng lọc, chọn lựa tử tế đi nhưng mà đường lối vẫn như cũ, vẫn tiến lên chủ nghĩa xã hội và kinh tế nhà nước, vẫn là đảng độc quyền toàn trị cả đường lối phát triển đất nước, thể chế chính trị không phù hợp, không dân chủ, không tam quyền phân lập thì tất cả những yếu tố ấy mới thật sự là nguyên nhân tổng hợp làm cho sụp đổ đảng cộng sản”, Ông Nguyễn Khắc Mai
Rõ là đảng cộng sản bắt đầu nhận thức ra vấn đề, ông Nguyễn Khắc Mai phân tích, đó là đội ngũ đảng viên cán bộ thiếu năng lực và thối nát. Có điều nhận thức này chừng như thiếu một yếu tố cần thiết là lấy dân làm gốc:
“Chỉ coi trọng cái yếu tố cán bộ không thì không đủ. Bây giờ cho là họ có sàng lọc, chọn lựa tử tế đi nhưng mà đường lối vẫn như cũ, vẫn tiến lên chủ nghĩa xã hội và kinh tế nhà nước, vẫn là đảng độc quyền toàn trị cả đường lối phát triển đất nước, thể chế chính trị không phù hợp, không dân chủ, không tam quyền phân lập thì tất cả những yếu tố ấy mới thật sự là nguyên nhân tổng hợp làm cho sụp đổ đảng cộng sản”.
Tóm lại, theo nhà lý luận Nguyễn Khắc Mai, kẻ thù là ta, ta tự lật đổ ta, là nhận thức quan trọng mà mỗi cán bộ đảng viên đang giữ trọng trách trong bộ máy Nhà Nước phải ghi tâm khắc cốt để không biến mình thành những con sâu đục khoét một chế độ đã quá nhiều tai tiếng:
“ Lời ông Trần Quốc Vượng có thể coi như một nhận thức mới, không còn đổ riệt cho “thế lực thù địch nữa”. Cái nhân tố nội bộ làm cho chế độ này sụp đổ, làm cho đảng cộng sản này sụp đổ nằm ngay trong lòng của họ”.
Tội ác của Tố Hữu đối với cái chết của nhà thơ Vũ Hoàng Chương

Liên Trà is with Van Tuan Vo.
Fb:Ngọc Tuyên Đàm
Tội ác của Tố Hữu đối với cái chết của nhà thơ Vũ Hoàng Chương
Vũ Hoàng Chương (5 tháng 5 năm 1916 – 6 tháng 9 năm 1976) là một nhà thơ người Việt Nam, với văn phong được cho là sang trọng, có dư vị hoài cổ, giàu chất nhạc, với nhiều sắc thái Đông Phương. Ông sinh tại Nam Định, nguyên quán tại làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, nay là huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên.
Thuở nhỏ, ông học chữ Hán ở nhà rồi lên học tiểu học tại Nam Định. Năm 1931 ông nhập học trường Albert Sarraut ở Hà Nội, đỗ Tú tài năm 1937.
Năm 1938 ông vào Trường Luật nhưng chỉ được một năm thì bỏ đi làm Phó Kiểm soát Sở Hỏa xa Đông Dương, phụ trách đoạn đường Vinh – Na Sầm.
Năm 1941, ông bỏ Sở hỏa xa đi học Cử nhân toán tại Hà Nội, rồi lại bỏ dở để đi dạy ở Hải Phòng. Trong suốt thời gian này, ông không ngừng sáng tác thơ và kịch. Sau đó trở về Hà Nội lập “Ban kịch Hà Nội” cùng Chu Ngọc và Nguyễn Bính. Năm 1942 đoàn kịch công diễn vở kịch thơ Vân muội tại Nhà hát Lớn. Cũng năm đó ông gặp Đinh Thục Oanh, chị ruột nhà thơ Đinh Hùng và hai người thành hôn năm 1944.
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông về Nam Định và cho diễn vở kịch thơ Lên đường của Hoàng Cầm. Kháng chiến toàn quốc nổ ra, Vũ Hoàng Chương tản cư cùng gia đình về Thái Bình, làm nghề dạy học. Đến 1950, gặp lúc quân Pháp càn đến ruồng bắt cả nhà, ông bỏ miền quê, hồi cư về Hà Nội nơi dạy toán rồi chuyển sang dạy văn và làm nghề này cho đến 1975. Năm 1954, Vũ Hoàng Chương di cư vào Nam, tiếp tục dạy học và sáng tác ở Sài Gòn.
Vũ hoàng Chương với Tố Hữu là bạn nhưng Vũ Hoàng Chương lớn hơn Tố Hữu vài tuổi. Năm 1946 Huy Cận ra bưng theo kháng chiến dùng thi tài của mình để phục vụ bác và đảng, được sủng ái nên đã leo lên đến chức Thứ trưởng bộ Văn hóa. Vũ Hoàng Chương không theo kháng chiến, sau hiệp định Genève năm 1954 di cư vào Saigon tiếp tục nghiệp thơ và sinh sống bằng nghề dạy học.
Năm 1976, Huy Cận được cộng sản cử vào Saigon cùng với một phái đoàn gồm có Tố Hữu, Hoài Thanh, Xuân Diệu, Vũ Đình Liên, …, với mục đích thăm dò và chiêu dụ các văn nghệ sĩ miền Nam.
Phái đoàn được Thanh Nghị ký giả (một cộng sản nằm vùng) tiếp đón và tổ chức một đêm “họp mặt văn nghệ” với các nhân vật gạo cội miền Nam để cùng đánh giá văn hoá hai miền ngõ hầu thống nhất tư tưởng về một mối. Buổi họp này Vũ Hoàng Chương đã được mời và ông đã tham dự.
Đề tài được đưa ra là mấy câu thơ của Tố Hữu đã làm để khóc Stalin chết vào năm 1953. Hai câu thơ đã gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp với Tố Hữu:
“Thương cha, thương mẹ, thương chồng
Thương mình thương một, thương ông thương mười”.
Hoài Thanh mời Vũ Hoàng Chương, một nhà thơ của Miền Nam góp ý. Vũ Hoàng Chương đã yêu cầu cử tọa thông cảm nếu có chỗ nào thất thố vì ông sợ rằng những gì ông muốn trình bày sẽ làm tổn thương cái “sáng giá” của đêm họp “văn nghệ đặc biệt” này. Sau đây là lời của Vũ Hoàng Chương:
“Thi nhân từ cảm xúc mỗi lúc tác động vào tâm cảnh của mình, để hồn trí phản ứng theo thất tình con người mà vận dụng thi tứ phổ diễn nên lời một tình tự nào đó, rồi đãi lọc thành thơ. Sự vận dụng càng xuất thần, việc phổ diễn càng khẩu chiếm, thơ càng có giá trị cao.
Cảm xúc trước cái chết của một thần tượng được “đóng khung” tự bao giờ trong tâm cảnh mình, Tố Hữu đã xuất thần vận dụng nỗi u hoài, phổ diễn nên những lời thơ thật khẩu chiếm, rồi dùng những từ thật tầm thường, ít thi tính, đãi lọc nỗi u hoài của mình thành một tiếng nấc rất tự nhiên, đạt đến một mức độ điêu luyện cao… Nhưng thơ không phải chỉ có thế. Xuất thần khẩu chiếm thuộc phạm vi kỹ thuật, dù đã có thi hứng phần nào, và nếu chỉ có thế thì thơ chỉ có khéo mà thôi, chưa gọi là đạt; tức chưa phải là hay. Thơ hay cần phải khéo như thế vừa phải đạt thật sự. Thi hứng nằm trong sự thực của tình tự phổ diễn nên lời. Tình tự mà không thực, lời thơ thành gượng ép…
Tố Hữu đặt tiếng khóc của chính mình vào miệng một bà mẹ Việtnam, muốn bà dùng mối u hoài của một nhà thơ để dạy con trẻ Việtnam yêu cụ Stalin thay cho mình. Cũng chẳng sao vì đó cũng là một kỹ thuật của thi ca. Nhưng trước hết phải biết bà mẹ Việtnam có cùng tâm cảnh với mình không, có chung một mối cảm xúc hay không?
Tôi biết chắc là không. Bởi trong đoạn trên của hai câu lục bát này trong bài “Đời Đời Nhớ Ông”, Tố Hữu đã đặt vào lời bà mẹ hai câu:
“Yêu biết mấy nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng con gọi Stalin”
Chắc chắn là không có một bà mẹ Việtnam nào, kể cả Bà Tố Hữu, mà thốt được những lời như vậy một cách chân thành. Cái không thực của hai câu này dẫn tới cái không thực hai câu sau ta đang mổ xẻ. Một tình tự không chân thực, dù đươc luồn vào những lời thơ xuất thần, khẩu chiếm đến đâu cũng không phải là thơ đẹp, thơ hay, mà chỉ là thơ khéo làm. Đó chỉ là thơ thợ chứ không phải là thơ tiên. Loại thơ khéo này người thợ thơ nào lành nghề cũng quen làm, chẳng phải công phu lắm. Nhất là nếu có đòi hỏi một tuyên truyền nào đó. Tố Hữu nếu khóc lấy, có lẽ là khóc thực, khóc một mình. Nhưng bà mẹ Việtnam trong bài đã khóc tiếng khóc tuyên truyền, không mấy truyền cảm”.
Lời phê bình của Vũ Hoàng Chương đã gây sôi nổi trong đám thính giả có mặt hôm đó. Muốn phản bác luận điệu của Vũ Hoàng Chương, có người đã yêu cầu Ông nói về thơ để hòng bắt bẻ này nọ, nhưng Ông vẫn ôn tồn phát biểu:
“Thơ vốn là mộng, là tưởng tượng, là tách rời thực tế, nhưng mộng trên những tình tự thực. Không chấp nhận loại thơ tình tự hoang. Có khoa học giả tưởng, không có thơ giả tưởng. Nói thơ là nói đến thế giới huyễn tưởng, huyễn tưởng trên sự thực để thăng hoa sự thực, chứ không bất chấp, không chối bỏ sự thực. Nhà thơ không được láo, nhà thơ phải thực nhưng thoát sáo sự thực thành mộng để đưa hồn tính người yêu thơ vươn lên sự thực muôn đời đạt đến chân lý cuộc sống. Thiên chức thi ca là ở chỗ đấy.
“Tôi xin nhắc, sự thực muôn đời là cơ sở duy nhất của thi ca. Vì có sự thực cho riêng một người, có sự thực cho riêng một thời, nhưng vẫn có sự thực cho muôn đời, sự thực bao quát không gian, thời gian, chân lý cuộc sống”.
Tố Hữu không ngờ bị Vũ Hoàng Chương chê bai là nịnh hót Stalin nên bực tức. Sau đêm đó, Vũ Hoàng Chương đã bị công an nửa đêm ngày 3/4/1976, tràn vào nhà bắt giam tại khám Chí Hoà nhốt chung với BS Phan Huy Quát (cựu Thủ Tướng VNCH).
Trong nhà tù bị hành hạ, ăn uống thiếu thốn, bệnh không có thuốc uống nên ông kiệt sức, cộng sản biết ông sắp chết nên thả về. Chỉ 5 ngày sau đó, ngày 6/9/1976 thì ông qua đời… Việt Nam đã mất đi một thi nhân tài hoa, bởi bàn tay sắt máu của Tố Hữu.
SỰ TÍCH CON HẾN
Liên Trà
Ngày xửa ngày xưa có vương quốc nọ nổi tiếng là nước có nền dân chủ gấp vạn lần các nước tây phương. Và cũng trong vương quốc đó, luật định cho phép toàn dân được tự do ngôn luận…
Thế rồi, trên tinh thần tự do ngôn luận đó, người ta đưa ra một bộ luật cấm ngôn luận phơi bày những điều xấu xa của bá quan văn võ. Song song với ngôn luận xấu xa thì họ cho ra một chỉ thị cấm ngôn luận tâng bốc, xu nịnh. Như vậy thì nói xấu cũng không được, nói tốt cũng không xong. Toàn dân hoang mang nín thở, im lặng.
Để phát huy tinh thần dân chủ, vương quốc đó cho phép toàn dân giám sát các hành vi của quân vương. Và kèm theo điều kiện giám sát này thì tất cả không được phép quay phim, ghi âm, chụp hình… các bề tôi của triều đình !
Có một thần dân thấy điều luật này cởi cổ điều luật kia, điều luật kia ỉa lên đầu điều luật nọ, nên rất lo sợ phạm huý thành ra cả đời cứ ngậm miệng mà vẫn không dám nói.
Khi chết xuống âm phủ, qủy sứ dẫn hắn đến trước điện Diêm Vương để lấy lời khai. Nhưng, Diêm Vương hỏi gì nó cũng không chịu mở miệng. Ngạc nhiên, Diêm Vương cho qủy sứ lên trần điều tra, và khi biết được sự tình, Diêm Vương thở dài phán:
Ta cho ngươi biến thành loài Hến! Tội nghiệp, suốt đời ngươi bạc nhược sợ chết mà không dám mở miệng. Nay ta cho phép ngươi mở miệng, và chỉ được mở miệng khi đã chết, nghe chưa?
Do đó, loài Hến cho đến nay khi chết mới được mở miệng. Là thế!
Ngô Trường An

Thế Hệ Trẻ Cần Khuôn Vàng Thước Ngọc, Để Thẳng Người Đứng Một Kiếp Mà Thôi-Cha Micae Phạm Quang Hồng
httpv://www.youtube.com/watch?v=d6YW8zkLkUw
Thế Hệ Trẻ Cần Khuôn Vàng Thước Ngọc, Để Thẳng Người Đứng Một Kiếp Mà Thôi-Cha Micae Phạm Quang Hồng
Làm cha mẹ cần biết: Nói cho con điều gì quan trọng nhất trong đời – Trí Thức VN
Trí thức Việt Nam

Làm cha mẹ cần biết: Nói cho con điều gì quan trọng nhất trong đời
- Lê Minh
- • 2.9k Lượt Xem
Từ khi một đứa trẻ oa oa cất tiếng khóc chào đời, tới khi trưởng thành nên người, có quá nhiều điều các bậc làm cha mẹ cần biết để nuôi dạy con mình nên người. Nhưng dẫu làm gì, vĩ đại hay bình thường, điều quan trọng nhất vẫn là quá trình của sinh mệnh. 10 câu dưới đây là món quà tuyệt vời hơn cả nhà cao cửa rộng, của cải tích cóp mà phụ huynh cần dành cho con cái mình.
1. Đi học quan trọng hơn trò chơi điện tử

Rất nhiều đứa trẻ không biết ABCD là gì, nhưng lại biết thế nào là liên minh anh hùng. Rất nhiều đứa trẻ không quan tâm tới thành tích học tập tốt xấu, nhưng lại để tâm xem chiến tích có huy hoàng không.
Nhưng con à, có một điểm hy vọng con nhớ kỹ: Con trả tiền để chơi điện tử, nhưng trò chơi điện tử lại không trang trải cuộc sống cho con. Con trả tiền để đi học, việc học hành sẽ mang lại những điều bất ngờ trên cả mong đợi.
Được đi học là người may mắn, học giỏi là người hạnh phúc. Những kiến thức con học được chính là người bạn đồng hành cùng con suốt cuộc đời. Con người có thể tay trắng dựng nghiệp, nhưng không thể tay không tấc sắt. Đi học là một hành trình rất dài, bước đi sẽ mệt, nhưng nếu không đi chắc chắn con sẽ phải hối hận.
2. Chủ kiến quan trọng hơn phục tùng
Con à, dẫu người khác nói hay thế nào thì suy nghĩ của con vẫn là điều quan trọng nhất. Có người hỏi: “Một đứa trẻ có chủ kiến, rốt cuộc là như thế nào?”
Câu trả lời được nhiều người đồng tình nhất là: “Có thể xử lý tốt những chuyện vụn vặt trong cuộc sống, dàn xếp ổn thỏa mối quan hệ giữa bạn bè, chuyện học hành, khiến cha mẹ có thể yên tâm.”
Cần phải biết rằng “nước nổi bèo trôi” là một hiện tượng đáng sợ. Khi con người gia nhập vào một đoàn thể nào đó, trí thông minh của họ sẽ sụt giảm nghiêm trọng. Vì muốn được mọi người công nhận, nên cá nhân đó nguyện ý vứt bỏ đúng sai, đổi trí huệ lấy cảm giác an toàn tìm được chốn đi về.

Rất nhiều người sẽ làm vậy, nhưng những đứa trẻ có chủ kiến sẽ không như vậy.
Vậy nên con phải luôn là chính mình và can đảm là chính mình. Con cần biết mình muốn nói gì, có nguyện vọng gì. Có câu hỏi rằng: “tuyết tan thì biến thành thứ gì?” Đáp án chuẩn sẽ là “tuyết tan sẽ biến thành nước”. Nhưng những đứa trẻ có chủ kiến sẽ đáp: “tuyết tan hóa thành mùa xuân”, lẽ nào lại sai hay sao?
- Xem thêm: Dạy con tư duy: “Bố mẹ ơi, tại sao?”
3. Hứng thú quan trọng hơn thành tích
Con à, thành tích rất quan trọng, nhưng hứng thú còn quan trọng hơn.
Khi còn nhỏ, trẻ con thường ham vui, đến tuổi trung niên ham học hỏi, tới khi về già thường thích thưởng trà.
Con người dẫu ở độ tuổi nào, cũng cần có chí hướng của bản thân. Hứng thú và yêu thích mới thể hiện tính cách thực của một người. Thành tích không nên là tiêu chuẩn duy nhất để bình xét về sự tốt xấu của một học sinh.
Gotthold Ephraim Lessing, nhà triết học, nhà văn người Đức, từng nói: “Ánh mắt tò mò thường có thể nhìn thấy nhiều thứ hơn họ mong đợi.” Một người trường kỳ chú tâm vào sở thích của bản thân, ắt sẽ xuất sắc hơn người trong một vài lĩnh vực nào đó. Nhưng đây chẳng phải là ý nghĩa của việc học hay sao?
Con à, thời này là thời đại trọng thành tích, nhưng so với thành tích, điều ba mẹ quan tâm hơn là sở thích, là thiên tính của con: Điều con yêu mến vĩnh viễn vượt xa thứ mà thành tích có thể đong đếm.
4. Nhân phẩm quan trọng hơn năng lực
Người không có nhân phẩm chẳng thể có chỗ đứng trong xã hội.
Thời gian trước, một kỹ sư, thạc sĩ họ Dương người Thượng Hải hơn một năm đã trốn vé 480 lần, với số tiền 2 vạn tệ (hơn 65 triệu VNĐ), bị cảnh sát đường sắt Thượng Hải bắt giữ. Cư dân mạng cảm thán rằng: “Nhân phẩm thấp kém, thì học lực cao nữa cũng vô dụng.”
Người có nhân phẩm không tốt, hoặc ngụy quân tử chẳng thể bền lâu, bởi “cái kim trong bọc cũng có ngày lòi ra.” Những người có nhân phẩm tốt thường khiến người khác cảm phục. Có câu rằng: “Chiêm ngưỡng một người, bắt đầu từ dung nhan, tôn kính bởi tài hoa, hòa hợp nhờ tính cách, lâu bền vì thiện lương, thủy chung vì nhân phẩm.”
Dẫu trong thời đại nào thì nhân phẩm cũng sẽ vượt xa năng lực của con. Năng lực tốt, nhân phẩm tốt là người hữu dụng. Năng lực rất tốt, nhân phẩm rất tệ chẳng khác chi thứ độc dược hại người.
Vậy nên con ạ, dù khi nào, con cũng không được đánh mất nhân cách của mình.

5. Hạnh phúc quan trọng hơn sự hoàn mỹ
Ai ai cũng mong muốn có được một cuộc sống viên mãn, nhưng thực tế lại không có sự hoàn mỹ thực thụ.
Một vị thái hậu dốc tâm chuẩn bị nhiều năm cho tiệc mừng thọ nhưng đến ngày kế hoạch lại bị hủy. Trong tâm bà rầu rĩ chẳng vui. Nha hoàn bèn hỏi thái hậu rằng: “Vì sao trên đầu của Thọ Thần lại có một cục bướu?” Thái hậu không hiểu, nha hoàn bèn tiếp lời: “Trên đầu có một cục bướu mới có thể chứa được phúc thọ ạ! Mẹ con nói rằng, mọi sự không nên quá đầy, cần phải lưu lại một chút tiếc nuối. Quá đầy thì sẽ hưởng hết phúc.”
Thái hậu nghe xong bừng tỉnh: “Dẫu là trên đầu Thọ Thần cũng có một cục bướu, huống một kẻ phàm nhân như ta?“
Dẫu chỉ là một câu chuyện vui, nhưng nói lên rằng dưới ánh nắng cũng có bóng râm, cuộc sống sao có thể hoàn thiện hoàn mỹ. Hạnh phúc là bởi biết đủ, nuối tiếc là điều thường thấy trong đời.
Con à, ba mẹ hy vọng con hãy nỗ lực thay đổi, hoặc nỗ lực tiếp nhận. Cảm nhận về hạnh phúc của con quan trọng hơn sự hoàn mỹ mà con theo đuổi.
6. Tín ngưỡng quan trọng hơn sự sùng bái
Con à, so với việc sùng bái những minh tinh, ba mẹ hy vọng con có tín ngưỡng của riêng mình.
Có người từng nói: “Đây là thời đại thiếu hụt tín ngưỡng.” Có người lại nói: “Đây là thời đại chết vì giải trí.” Rất nhiều người sùng bái giới giải trí, thần tượng các minh tinh, trong số đó những người trẻ chiếm tuyệt đại đa số. Họ quan tâm tới từng buổi diễn, từng đĩa CD, từng bộ phim của minh tinh mà mình ái mộ. Thậm chí là từng ly từng tý trong cuộc sống của họ.
Trong thời đại ngày nay, theo đuổi các ngôi sao đã trở thành cuộc sống của rất nhiều người. Điều này bản thân nó cũng không có gì đúng sai. Nhưng con ạ, quan trọng hơn điều đó, ba mẹ hy vọng con có tín ngưỡng của mình.
Con người có thể ngưỡng vọng trời sao, nhưng con đường trước mắt chúng ta vẫn phải tiến về phía trước. Có người từng hỏi rằng: “Nếu cho bạn tự do, cho bạn tài hoa, cho bạn tuổi xuân, bạn có làm không?”
Câu trả lời thường là: “Tôi nhất định sẽ giống như những cái tên trong sách, như châu ngọc trong thiên hạ, như ánh sáng trên thế gian.”
Ngôi sao sáng rồi cũng tắt, lòng người sẽ có khi đổi thay, nhưng sự thiện lương và đạo lý làm người trong những tín ngưỡng chân chính mới là bất biến.
Con à, con không cần phải có những lý tưởng xa vời như vậy, nhưng cần có tín ngưỡng soi đường dẫn lối trên hành trình nhân sinh của mình.

7. Hành trình quan trọng hơn kết quả
Hành trình nhân sinh thú vị hơn kết quả rất nhiều.
Có người nói rằng: “Thành công là một quá trình chứ không phải là đích đến. Quá trình thực hiện quan trọng hơn kết quả. Đời người cũng như vậy.”
Trước kia có một chàng trai trẻ tự xưng rằng mình đã thấu hiểu cõi hồng trần. Hàng ngày cậu ta không làm gì cả, lười nhác ngồi dưới gốc cây phơi nắng.
Một vị trí giả đi ngang qua, hỏi: “Chàng trai, thời cơ tốt thế này, sao cậu không đi kiếm tiền?”
Chàng trai đáp: “Chẳng có gì thú vị, kiếm tiền rồi lại phải tiêu.”
Vị trí giả lại hỏi: “Sao cậu không kết hôn?”
Chàng trai đáp: “Chẳng có gì thú vị, biết đâu lại phải ly hôn?”
Vị trí giả nói: “Sao cậu không kết bạn?”
Chàng trai đáp: “Chẳng có gì thú vị, kết bạn biết đâu lại trở mặt thành thù.”
Vị trí giả đưa cho chàng trai một sợi dây thừng nói: “Thế thì cậu treo cổ đi, dẫu sao cũng chết, chi bằng bây giờ chết quách đi cho xong.”
Chàng trai đáp: “Tôi không muốn chết.”
Vị trí giả tiếp lời: “Cuộc sống là một hành trình, không phải là kết quả.”
Sinh mệnh giống như một cuốn sách hay. Tin rằng những người đọc được nó, chắc chắn sẽ dừng lại lần giở từng chương mục, chứ không phải là mở ngay tới trang cuối, nóng lòng muốn biết kết cục ra sao.
Con à, sự mỹ hảo trong đời người nằm ở từng nụ hoa, từng phong cảnh, từng nụ cười. Hãy dừng lại và thưởng thức chúng.

8. Xét mình quan trọng hơn soi người
Con à, so với việc yêu cầu người khác, ba mẹ hy vọng con có thể tìm kiếm nguyên nhân từ chính bản thân mình. Người giỏi xét mình thường sống có phẩm vị.
Epicurus, một nhà triết học Hy Lạp cổ đại từng nói: “Nhận ra sai lầm là bước đầu tiên cứu vớt bản thân.”
Con người khó tránh khỏi sai sót, sai sót không đáng sợ, điều đáng sợ là không biết phản tỉnh bản thân, sửa đổi lỗi lầm. Như vậy rất dễ đánh mất bản thân.
Con à, oán trách chẳng thể giải quyết được sự việc, nhưng cảm ơn thì có thể. Thay đổi người khác cũng không thể thay đổi thực trạng, nhưng thay đổi bản thân lại có thể. Phàm là mọi việc đều tìm nguyên nhân từ chính mình, con mới trở nên ưu tú hơn.
9. Sức khỏe quan trọng hơn công việc
Con à, không có việc gì xứng đáng để con trả giá bằng cả sinh mệnh.
Theo “Báo cáo về tình hình sức khỏe nhân viên công chức thành thị tại Trung Quốc” cho biết: Tỷ lệ sức khỏe dưới mức tối ưu của giới cổ cồn trắng đạt 76%, 70% có nguy cơ làm việc quá sức; hàng năm số người đột tử lên đến 550.000 người; mỗi ngày có 10.000 người bị chẩn đoán mắc ung thư…
Con người có thể làm nhiều công việc, nhưng chỉ được sống một lần trên đời. Con à, đứng trước sinh mệnh, cha mẹ hy vọng con luôn đặt sức khỏe lên vị trí hàng đầu. Đừng coi tuổi trẻ như quân bài, chớ đặt cược sức khỏe vì ngày mai, có sức khỏe mới có tất cả.

10. Hạnh phúc bền lâu quan trọng hơn vui thú nhất thời
Đi học rất vất vả, nhưng không đi học lại càng khổ hơn. Nỗ lực rất mệt, nhưng chỉ khi bây giờ dốc toàn lực, sau này mới có quyền lựa chọn. Buông bỏ một thứ hay một người nào đó rất khó, nhưng chỉ khi quá khứ qua đi, tương lai mới gõ cửa.
Trong đời có rất nhiều việc khó, nhưng dư vị đắng chát cuối cùng cũng ngọt ngào.
Con à, so với vui thú nhất thời, ba mẹ hy vọng con có được hạnh phúc bền lâu. Có lẽ cuộc sống sẽ chẳng như con mong muốn, có lẽ thật bất công, những chuyện không may cũng có thể xảy đến, nhưng nơi mà con muốn đến, hãy kiên trì bước tới cùng.
Lê Minh (biên dịch)
NGƯỜI NGHÈO Ở MỸ
Le Tu Ngoc
– Dương Hoài Linh
– 43% số gia đình nghèo ở Mỹ có nhà ở sở hữu riêng (tức không ở nhờ nhà từ thiện do nhà nước hoặc xã hội cung cấp), tính đổ đồng mỗi nhà có 3 phòng ngủ, 1 phòng sinh hoạt chung, 1 phòng khách và 1 phòng ăn kiêm bếp; trung bình mỗi nhà có 1,5 phòng vệ sinh (tức 1 phòng vệ sinh có bồn tắm và 1 phòng vệ sinh không bồn tắm). Điều tra tình hình nhà ở tại Mỹ cho thấy người Mỹ quan tâm nhiều nhất là nhà có bao nhiêu phòng vệ sinh.
– Bình quân mỗi gia đình nghèo ở Mỹ có 1 ga-ra ô tô. Phần lớn nhà ở của người nghèo đều có sân, vườn. 66,2% gia đình nghèo bình quân mỗi người có 2 phòng ngủ; 28,2% gia đình nghèo bình quân mỗi người có 1 phòng ngủ. 5,6% hộ nghèo thuộc diện nhà ở chật chội, tức mỗi phòng ngủ có hơn 1 người, trong đó 4,3% gia đình nghèo bình quân mỗi phòng có 1,5 người; 1,3% số gia đình nghèo bình quân mỗi phòng có trên 1,5 người.
– Thống kê của Bộ Năng lượng Mỹ cho thấy nước này đứng đầu thế giới về bình quân diện tích nhà ở của một hộ gia đình. Không gian sinh hoạt gia đình của mỗi người Mỹ bình quân là 71 m2, ở các gia đình nghèo là 43 m2. Nói cách khác, điều kiện nhà ở của người nghèo Mỹ còn cao hơn nhiều so với mức trung bình về không gian sinh hoạt gia đình của mỗi người tại các nước giàu như Anh, Pháp, Đức, Nhật (37 m2). Ngay tại các nước có mức thu nhập trên trung bình như Hy Lạp, Hàn Quốc, Tây Ban Nha, bình quân mỗi người chỉ có 23 m2 không gian sinh hoạt gia đình. Điều kiện nhà ở của người nghèo Mỹ cao gấp hơn 2 lần các gia đình thu nhập trung bình tại Mexico, Thổ Nhĩ Kỳ, và gấp 6 lần mức trung bình của người dân đô thị tại Ấn Độ.
– 79,7% các gia đình nghèo có máy lạnh (năm 1970 cả nước Mỹ chỉ 36% hộ có máy lạnh). 99,2% hộ nghèo có tủ lạnh, 64,3% có máy giặt, 56,7% có máy xấy quần áo; 89% có lò vi sóng và lò nướng thức ăn; hơn 1/3 có máy rửa bát.
Ba phần tư các gia đình nghèo Mỹ có ít nhất 1 xe ô tô; 31% có từ 2 xe trở lên. Đời sống tinh thần của các hộ nghèo cũng không tồi. 97% hộ nghèo có ít nhất 1 ti-vi màu; hơn 50% hộ có 2 ti-vi màu; 25,3% có ti-vi màn hình rộng. 75% hộ nghèo có máy DVD; 62% dùng truyền hình cáp hoặc truyền hình vệ tinh; hơn 50% có thiết bị âm thanh stereo; 91,3% có điện thoại cố định; 32,5% có cả điện thoại cố định và điện thoại di động. Một phần ba số gia đình nghèo có máy tính.
Trong điều tra số dân, 70% gia đình nghèo nói họ có đủ khả năng chi trả các khoản chi phí như tiền mua nhà trả dần hoặc tiền thuê nhà, tiền điện, nước, gas. Dĩ nhiên như thế vẫn là nghèo vì không có dư dật. 1/3 gia đình nghèo có hiện tượng chậm trả các khoản chi đó.
Trong bài báo dưới đây CSVN cố tình không biết về chuẩn nghèo đói của Mỹ. GDP bình quân đầu người $62 .000 , thu nhập bình quân của 1 gia đình $53.657.Chuẩn người nghèo hưởng trợ cấp xã hội của Mỹ là :
-1 người, $ 11,770;
– 2 người $ 15,930;
– 3 người $ 20,090;
– 4 người $ 24,250.
Trong khi đó thu nhập GDP đầu người VN là $2.740. Chỉ bằng 1/4 thu nhập người nghèo của Mỹ.
Theo chuẩn nghèo của Mỹ thì 99% dân Việt đều nghèo đói và trên 2/3 dân số thế giới đều nghèo đói.
Nguồn: Fb Hoai Linh Ngoc Duong

BÁNH VẼ!
Hoang Le Thanh and Nguyễn Hữu Vinh shared a post.





BÁNH VẼ!
Hôm nay ngày 01.01.2020, ngày chính thức nói lên sự thất bại của đảng csVn trong kế hoạch đưa đất nước trở thành quốc gia công nghiệp hiện đại.
Cách đây 14 năm (28.4.2006). Ông Nông Đức Mạnh khẳng định đến năm 2020 VN là một quốc gia công nghiệp? Như vậy, đây là chiêu trò cho dân ăn bánh vẽ của lãnh đạo nhà nước hay kế hoạch xây dựng quốc gia công nghiệp bị thất bại?
Chúng ta tìm xem trong suốt 2 nhiệm kỳ của ông Mạnh và ông Trọng, có thấy họ đầu tư chuẩn bị gì để hình thành một đất nước công nghiệp không? Với chủ trương của đảng, liên tục đưa công dân đi XKLĐ trên khắp thế giới, thì làm sao nói họ có thiện chí xây dựng đất nước thành nước công nghiệp? Một đất nước mà lãnh đạo chỉ chú tâm vào xây tượng đài, xây chùa, xây nghĩa trang cấp cao… thì làm sao tiến lên quốc gia công nghiệp?
Như vậy, lãnh đạo cho toàn dân ăn bánh vẽ để hy vọng theo thời gian và để suy nghĩ rằng, giới lãnh đạo cũng quyết tâm xây dựng đất nước! Đảng cũng có phương án, cũng đưa ra kế hoạch, cũng xây dựng các đề án, cũng triển khai những mô hình… Nhưng thật ra, tất cả đều là trò lừa đảo, mỵ dân của giới cầm quyền!
Nói về chiêu trò cho dân ăn bánh vẽ thì không ai giỏi hơn lãnh đạo đảng, nhà nước VN. Đây không phải là lần đầu tiên ông Nông Đức Mạnh vẽ ra miếng bánh quốc gia công nghiệp, mà trước đây gần nửa thế kỷ, ông TBT Lê Duẫn cũng hùng hồn tuyên bố trước đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 4 diễn ra ngày 12.12.1976, rằng: “trong vòng 10 năm nữa, kinh tế ta sẽ đuổi kịp Nhật, khoảng 15 năm nữa ta sẽ vượt qua Nhật. Lúc đó, nhân dân ta sẽ đi trên thảm vàng”.
Những chiếc bánh vẽ được lãnh đạo vẽ ra để lừa dân hết lần này đến lần khác.
– Ông Nguyễn Thiện Nhân: “giải quyết dứt điểm vụ Thủ Thiêm trong năm 2019”.
– Ông Nguyễn Đức Chung: “tàu Cát Linh – Hà Đông chạy vào cuối tháng 12.2019”
– Ông Nguyễn Mạnh Hùng: “năm 2020 sẽ có 90 triệu người dùng Mạng Xã Hội Việt Nam”.
…………..
Đó, là những chiếc bánh vẽ mà lãnh đạo cộng sản đã cho chúng ta gặm trong gần nửa thế kỷ qua. Và hiện nay, ông Nguyễn Xuân Phúc đang đưa ra chiếc bánh mà đến năm 2045 nếu chưa tắt thở thì chúng ta sẽ thưởng thức tiếp, còn không, thì nhường cho thế hệ mai sau. Bởi, sống với cộng sản, thì ai ai cũng có cơ hội ăn bánh vẽ và thế hệ nào cũng đều có phần. Ơn đảng!
*p/s: Năm mới, cầu chúc tất cả bạn bè, anh chị em làng fây được dồi dào sức khỏe, an lạc, thịnh vượng.
Happy new year!
Tô Huy Rứa – Chân dung quyền lực (Kỳ 3)

Tô Huy Rứa – Chân dung quyền lực (Kỳ 3)
24-12-2019
Tái cử Bộ Chính trị, chiếm được ghế Trưởng ban Tổ chức Trung ương, quyền hạn của Tô Huy Rứa cực kỳ lớn:
– Tham mưu cho Bộ Chính trị, Ban Bí thư các chính sách về tổ chức cán bộ, đoàn thể, nội chính, Mặt trận.
– Đánh giá, tham mưu điều động, luân chuyển, bổ nhiệm, phê chuẩn, đình chỉ chức vụ cán bộ.
– Giới thiệu ứng cử, quy hoạch các chức danh thuộc diện Bộ Chính trị, Ban bí thư quản lý.
– Thường trực Tiểu ban nhân sư Đại hôi đảng.
Và Tô Huy Rứa đã “phát huy” hết sức mạnh quyền lực ấy như thế nào?
Quay lại những năm về trước, Tô Huy Rứa có một mối tình sâu nặng với một phụ nữ gốc Nghệ An lên Yên Bái dạy học, có tên Phạm Thị Thanh Trà, sinh 1964. Khi ấy Trà vừa qua tuổi bốn mươi, da trắng ngần, cao ráo và xinh đẹp. Giới quan chức Yên Bái gọi cô là “đoá hoa rừng”.
Năm 2006, khi là Trưởng Ban tuyên giáo Trung ương, Rứa đưa “người tình” Phạm Thị Thanh Trà vốn xuất thân là một giáo viên cấp 2 Trường PTCS thị trấn Cổ Phúc – Trấn Yên – Yên Bái, vượt qua một số chức vụ để ngồi vào ghế Ủy viên Ban Thường vụ (khóa XVI), Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Yên Bái. Từ đó leo lên Phó chủ tịch UBND tỉnh, Bí thư Thành uỷ TP Yên Bái, Phó bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh Yên Bái.

Năm 2016, với vị thế Ủy viên BCT, Bí thư Trung ương, Trưởng Ban tuyên giáo, Rứa đã giúp Phạm Thanh Trà dễ dàng kiếm một suất Uỷ viên Trung ương khoá XII và làm Phó Bí thư, kiêm Chủ tịch UBND tỉnh.
Sáng 18/7/2016, Chi cục trưởng kiểm lâm Đỗ Cường Minh nổ súng K59 bắn chết Bí thư tỉnh uỷ Phạm Duy Cường và Chủ tịch HĐND Ngô Ngọc Tuấn. Phạm Thị Thanh Trà được ngồi vào ghế Bí thư tỉnh uỷ Yên Bái.
Phạm Thị Thanh Trà là chị ruột Phạm Sĩ Quý, cựu Giám đốc Sở Tài nguyên – Môi trường, xây biệt phủ ngàn tỷ bằng tiền “chạy xe ôm” và “buôn chổi đót”.
Về phần Nguyễn Phú Trọng, sau khi đắc cử Tổng Bí thư, ông cùng Chủ tịch nước Trương Tấn Sang quyết tâm tuyên chiến với phe nhóm Nguyễn Tấn Dũng.
Ngày 31/12/2011, bế mạc Hội nghị trung ương 4 khóa XI. Ngày 16/1/2012, Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TW, tức NQTW 4: Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng.
Văn bản nêu rõ: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…”
Và sau đó là một đợt rầm rộ kiểm điểm, phê bình và tự phê tất cả đảng viên trên cả nước. Đích đến chủ yếu vẫn là Nguyễn Tấn Dũng và các đồ đệ, bị gọi là “nhóm lợi ích”.
Sau đó là Hội nghị trung ương 5, “seri đòn” được phe Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang đưa ra, để cân bằng quyền lực, ghìm cương “con ngựa bất kham” và khống chế sự lộng quyền, tàn phá kinh khủng của Nguyễn Tấn Dũng và “nhóm lợi ích”.
Ông Trọng kích hoạt phương châm “nhốt quyền lực vào lồng luật pháp”. Hàng loạt văn bản của đảng được tung ra, như:
Quyết định số 68-QĐ/TW của Bộ Chính trị ban hành Quy chế giám sát trong Đảng (ngày 21/03/2012).
– Kết luận số 21-KL/TW của Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí (25/05/2012).
– Quyết định số 158-QĐ/TW của Bộ Chính trị về việc thành lập Ban Nội chính Trung ương (28/12/2012).
– Quyết định số 160-QĐ/TW của Bộ Chính trị về việc thành lập Ban Kinh tế Trung ương (28/12/2012).
– Quyết định số 162-QĐ/TW thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng (01/02/2013).
Tiếp theo là chỉ đạo QH ra nghị quyết 35, lần đầu tiên trong lịch sử VN, lấy phiếu tín nhiệm các chức danh do QH bầu và phê chuẩn, tại kỳ họp 5, khoá 13, khai mạc vào ngày 20/5/2013.
Chưa hết, phe ông Trọng yêu cầu và thực hiện sửa đổi Hiến pháp 1992, tăng quyền hạn chủ tịch nước, rút quyền phong tướng của Nguyễn Tấn Dũng… tại kỳ họp 6, QH khoá 13, tháng 11/2013.
Tuy nhiên, “nhóm lợi ích” vẫn bảo đảm thành trì. Hội nghị 6 tháng 10/2012 không kỷ luật được Nguyễn Tấn Dũng, những giọt nước mắt phẫn uất đã lăn dài trên má ông Trọng. Mặc dù vậy, phe Trọng cũng buộc được Dũng đã cúi đầu nhận trách nhiệm của người đứng đầu Chính phủ và nhận lỗi trước Quốc hội, toàn Đảng, toàn dân về tất cả những yếu kém, khuyết điểm của Chính phủ trong lãnh đạo, quản lý, điều hành, trong phiên khai mạc kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa 13, ngay sau đó.

Phần mình, Tô Huy Rứa cùng với Trần Đại Quang vận động và giới thiệu Nguyễn Bá Thanh với nhóm ông Trọng – Sang, để Thanh ngồi vào ghế Trưởng ban Nội chính, hòng giúp Nguyễn Bá Thanh kiếm một suất bổ sung Bộ Chính trị, nhưng thất bại tại Hội nghị 7, tháng 5/2013, khi cả Nguyễn Bá Thanh và Vương Đình Huệ đều “out”.
Có điều, thế và lực bắt đầu nghiêng về nhóm hai ông Nguyễn Phú Trọng – Trương Tấn Sang. Tô Huy Rứa rất nhanh, ngả về bên mạnh hơn. Để lập công, Tô Huy Rứa cũng góp công giúp ông Trọng thực thi chủ trương và quyết định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về luân chuyển cán bộ. Dịp này Rứa cũng nhanh chân đưa Trịnh Xuân Thanh về Hậu Giang, qua Văn bản số 6149, ngày 20/1/2014 của Ban Tổ chức Trung ương do Trần Lưu Hải, Phó Trưởng ban Thường trực nhiệm kỳ 2010-2015, ký. Toàn bộ là do chỉ đạo của Rứa, nhưng người “lãnh đạn” sau này là Trần Lưu Hải.
Việc luân chuyển 44 cán bộ Trung ương về địa phương, nằm trong kế hoạch xoay chuyển “bàn cờ” chính trị của ông Trọng.
Có người cho rằng Tô Huy Rứa là tác giả của Quy chế 244, ra đời tháng 6/2014. Nhận định thế là không đúng. Các “bộ não” cận thần tham mưu cho hai ông Trọng – Sang mới chính là tác giả của Quy chế 244, ra đời tháng 6/2914. Vì quá chủ quan, Nguyễn Tấn Dũng đã bị hạ “knoc-out” ngay trước thềm đại hội XII diễn ra tháng 1/2016, bởi “thiên la địa võng” mà bên tấn công giăng ra, và cũng bởi Quy chế lạnh lùng và tàn khốc mang bí số 244.
Bốn ngày trước khi khai mạc Hội nghị Trung ương 13, Nguyễn Tấn Dũng viết đơn gởi Nguyễn Phú Trọng, xin KHÔNG TÁI CỬ và rút lui khỏi cuộc đua quyền lực.
Là “kiến trúc sư” trong công tác nhân sự, cuối năm 2014, để đưa đàn em Trịnh Văn Chiến vào Uỷ viên Trung ương, Tô Huy Rứa kéo Mai Văn Ninh, Bí thư tỉnh uỷ Thanh Hóa ra Hà Nội để thay Cao Đức Phát làm Bộ trưởng. Sắp hết tuổi, nhưng Phát không chịu nghỉ, Rứa phải đưa Ninh về làm Phó Ban tuyên giáo nằm chờ. Tại đại hội XII, Ninh nằm trong danh sách tái cử Uỷ viên Trung ương, nhưng khi bầu lại rớt. Chỉ có Trịnh Văn Chiến, người tình của “hotgirl” Quỳnh Anh, vào BCH Trung ương. Mai Văn Ninh ngậm đắng nuốt cay, rời chính trường.
Còn nữa, trong suốt thời gian chuẩn bị đại hội 12, Tô Huy Rứa đã tiếp một tay, giúp Nguyễn Văn Bình, Đinh La Thăng, Hoàng Trung Hải lách qua khe cửa hẹp, để ngồi chung “ngai” với ông Trọng, trong Bộ Chính trị.
Với gia đình, Tô Huy Rứa sắp đặt vẹn toàn. Phu nhân Trương Thị Tuyết Nhung, sau khi rời chức vụ Trưởng phòng đào tạo Học viện Báo chí tuyên truyền, thì lập ngay “Quỹ từ thiện Bầu ơi” từ tháng 4/2913 để hoạt động. Quỹ của phu nhân Trưởng ban Tổ chức Trung ương tiền không bao giờ cạn. Hàng trăm doanh nghiệp nhà nước đổ tiền vào ủng hộ Quỹ.

Con trai cả của Rứa là Tô Huy Vũ, trong ba năm đổi hai chức. Từ Vụ trưởng Thống kê, nhảy sang Vụ trưởng Hợp tác Quốc tế Ngân hàng Nhà nước.
Con trai kế Tô Tử Hà, Bí thư đoàn thanh niên Vietnam Airlines, Trưởng phòng Tổ chức – Nhân sự Cảng HKQT Nội Bài.
Con gái út Tô Linh Hương, “công chúa” sinh ngày 14/2/1988 từng khuấy động dư luận khi về làm Chủ tịch HĐQT Cty Vinaconex-PVC, một cty liên doanh của “người tình” thành đạt Trịnh Xuân Thanh, vào tháng 4/2012 và rút lui sau đó hai tháng, vì cty này đang ngập nợ nần.


Tô Linh Hương nhanh chóng được bố Rứa đưa về Bộ Văn hoá – Thể thao – Du lịch, làm Ủy viên Ban chấp hành Đảng ủy Bộ VHTTDL, Ủy viên Ban thường vụ Đoàn khối các cơ quan trung ương, Bí thư Đoàn bộ VHTTDL. Rồi Hương làm Nghiên cứu sinh theo QĐ số 3204/QĐ- ĐHKT ngày 8/11/2013 của Hiệu trưởng Đại học Kinh tế- ĐHQG với đề tài “Chuỗi giá trị toàn cầu ngành hàng chè và sự tham gia của Việt Nam”, do đích thân Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ làm cán bộ hướng dẫn khoa học. Chiều ngày 7/2/2018, tại Phòng 801 nhà E4, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, trước hội đồng giáo sư chấm, Tô Linh Hương đã bảo vệ luận án tiến sĩ với số điểm tuyệt đối (!)
Hy vọng các “thiên tài” họ Tô đời thứ 14, sẽ thay bố Tô Huy Rứa, làm rạng danh “làng ăn mày” Đồn Điền, Quảng Thái.
Gần đây, báo chí và dư luận lại xôn xao với video clip xe Mercedes E250 có bảng số 30F-462.75 của bà Trương Tuyết Nhung, đăng ký năm 2018 lại mang thêm bảng số xe màu xanh 80B-4329 đăng ký năm 2009 trực thuộc Ban Tuyên giáo trung ương, để được hưởng những đặc quyền khi tham gia giao thông. Điều đó cho thấy rằng, dù nghỉ hưu đã 4 năm, máu đam mê công danh và uy vũ vẫn nóng hổi như ngày nào, trong huyết quản một chân dung quyền lực như Tô Huy Rứa.


