NHẬT KÝ SAU KHI CHẾT

Image may contain: outdoor

Dương Đức

NHẬT KÝ SAU KHI CHẾT

– Vào một ngày, khi người không còn nữa, đứng cạnh thân xác đang nguội lạnh, cứng đờ người đã thấy… Người ghét ta, nhảy múa vui mừng, người thương ta, nước mắt rưng rưng.

– Ngày Động Quan…thân thể ta nằm sâu dưới lòng đất. Người ghét ta, nhìn nấm mộ niềm vui hiện rõ. Người thương ta, chẳng nỡ quay đầu nhìn lần cuối.

– Ba tháng sau, thân xác ta đang dần trương sình, bốc mùi hôi thối, thuở còn sống ta vô cùng ghét côn trùng, giờ đây giòi bọ đang nhăm nhi cái thân mà ta cả đời nâng niu, tàn sát sinh mạng để cung phụng cho nó đủ thức ngon, mặc đẹp, đắp vào bao nhiêu tiền của.

– Một năm Sau: Thân thể của ta đã rã tan…nấm mộ của ta mưa bay gió thổi…ngày giỗ ta, họ vui như trẩy hội, mở tiệc hội họp ca nhạc, ăn uống linh đình. Người ghét ta, lâu lâu trong buổi trà dư tửu hậu nhắc đến tên ta…họ vẫn còn bực tức. Người thương ta, khi đêm khuya vắng lặng, khóc thầm rơi lệ tìm ai bày tỏ.

– Vài năm sau: Ta không còn thân thể nữa, chỉ còn lại một ít xương tàn. Người ghét ta, chỉ nhớ mơ hồ tên ta, họ đã quên mất gương mặt của ta. Người yêu thương ta, khi nhớ về ta có chút trầm lặng. Cuộc sống xô bồ dần dần làm phai mờ đi tất cả.

– Vài Chục Năm Sau…nấm mộ của ta hoang tàn không người nhang khói, quan tài nơi ta nằm đã mục nát, chỉ còn một mảng hoang vu. Người ghét ta, đã già lú cũng quên ta rồi. Người yêu thương ta, cũng tiếp bước ta đi vào nấm mộ.

– Đối Với Thế Giới Này… Ta đã hoàn toàn trở thành hư vô, không ai biết ta từng tồn tại, bạn bè, đồng nghiệp, người thân, mỗi người một nơi, kẻ già, người chết, những gì ta dùng đã mất, những gì ta để lại rơi vào tay kẻ khác. Ta phấn đấu, hơn thua, tranh giành cả đời, cũng không mang theo được nhành cây ngọn cỏ. Tiền tài, gia sản mà tôi cố giữ, cố thủ đoạn, mưu mô để có cũng không mang được một phần hư danh, vinh dự hão huyền nào.

– Ta nhận ra sống trên đời này, bất luận là giàu sang phú quý hay bần tiện nghèo nàn. Khi nhắm mắt, xuôi tay phải bỏ lại tất cả.

P/s coppy

‘Ngày Buông Bỏ’ (Good Riddance Day)

‘Ngày Buông Bỏ’ (Good Riddance Day)

Huy Phương

“Shred it and forget it! (Xay vụn và quên nó đi!)

“Good Riddance Day” được lấy cảm hứng từ một truyền thống của Nam Mỹ Latinh, trong đó dân chúng, vào cuối năm, nhồi bông con búp bê với những đồ vật tiêu biểu cho những chuyện không vui trong dĩ vãng, và đem thảy chúng vào lò lửa.

Ở Mỹ, sự kiện này diễn ra vào giữa trưa ngày 28 Tháng Mười Hai mỗi năm trên quảng trường Broadway, giữa đường 45th và 46th. Theo truyền thống này, người dân New York lại tụ tập ở quảng trường Time để tham dự “Ngày Buông Bỏ” (Good Riddance Day) với mục đích quên đi những chuyện không hay của năm cũ để đón mừng một năm mới.

Nhiều tờ báo dịch “Good Riddance Day” là “Ngày Bỏ Đi,” nhưng chúng tôi thấy quan niệm “bỏ đi” này của Tây phương gần gũi hay đích thực là mang ý nghĩa và triết lý “buông bỏ” của văn hóa phương Đông, nhất là trong tinh thần Phật Giáo, khuyên con người ta phải “buông bỏ” để có được hạnh phúc! Trong đời sống có ba thứ độc hại là “tham, sân, si,” những thứ chúng ta mang nặng trong lòng, nguyên nhân gây ra bất hạnh và phiền não, ưu tư cho con người. Ham muốn thái quá. Oán ghét giận dữ, thù hận. Tin vào điều nghịch lý, cố chấp.

(Hình minh họa: Getty Images)

Những người bị trầm cảm, khổ đau, tuyệt vọng không gượng dậy được bởi vì trong lòng mang quá nhiều gánh nặng, ưu tư, và những nỗi buồn, không dứt bỏ hay chạy trốn được, không ít những người cuối cùng đã tìm đến cái chết. Không phải dễ buông bỏ, dầu ai cũng biết người buông bỏ được là người hạnh phúc nhất.

Theo những hình ảnh được ghi lại trong “Ngày Buông Bỏ” này, người ta bỏ những chuyện mình muốn quên đi vào thùng rác hay cho vào cái máy xé giấy “paper shredder!” Đó có thể hóa đơn chưa trả, một cái giấy đòi nợ, tấm ảnh cô bạn gái phản bội, hoặc một điều gì đó khó chịu nhất mà mình muốn dứt bỏ, sẽ viết ra trên những tờ giấy có tiêu đề “Good Riddance Day.” Người có bệnh thì ghi tên bệnh như “Cancer,” “Diabetes,” người sợ mập thì ghi “Gainning Weight,” người nợ nần thì ghi “Credit Card Debt,” “Student Loan,” người thất tình thì ghi “Boyfriend Problem!” Chuyện thương ghét chính trị, thì có thể ghi tên Đảng Cộng Hòa hay tên Tổng Thống Trump, đảng Dân Chủ hay tên Pelosi mà xay nhỏ, nghiền nát, hay thiêu đốt trong lò lửa!

Những tấn giấy xé vụn được tạo ra vào “Ngày Bỏ Đi” này sẽ được gửi đến các nhà máy tái chế gần đó và biến thành các sản phẩm có thể tái sử dụng!

Nhưng tất cả hành động trên đây cũng đều có tính cách tượng trưng vì không ai đốt được món nợ chưa trả xong, bỏ phiền muộn, oán thù vào thùng rác, hay xay nhỏ những xui rủi mà chúng ta đã phải chịu đựng trong năm qua.

Trong ngày truyền thống “bỏ đi” này chúng ta muốn bỏ đi điều gì? Trên đời này có bao nhiêu điều bất như ý, bao nhiều phiền muộn, thất bại, lỡ lầm, khổ đau…nếu không, người ta đã chẳng gọi “đời là bể khổ!” Những muốn thoát ra những điều này quả không dễ, vì chính trong cuộc đời vốn đã có khổ lẫn sướng, hạnh phúc lẫn khổ đau. Trần thế có người tốt kẻ xấu, có người trung hậu thì cũng có đứa gian tà.

Khổ sướng đôi khi hẳn là định mệnh, có muốn bỏ đi, “chạy Trời cũng không khỏi nắng!” Vậy nên Việt Nam mới có câu ca dao than thân trách phận:

 “Gánh cực mà đổ lên non,

Cong lưng mà chạy, cực còn theo sau!”

Khi chúng ta không thể bỏ đi được những chuyện, những vật dụng mà mình không thích, kể cả cái chế độ mà mình đang sống vào cái thùng rác thì chỉ có cách là cao bay xa chạy, kiểu “bỏ của chạy lấy người.” Vì vậy mà sau biến cố 30/4, chúng ta đành phải bỏ lại cả quê hương suốt đời gắn bó, những con người mình yêu thương, những thành phố, những con đường, những căn nhà, góc phố đầy kỷ niệm để ra đi. Chúng ta thật ra chưa hề vứt bỏ nó, mà mang nó theo suốt cả cuộc đời còn lại, như ai đó đã nói câu: “chúng ta đi, mang theo quê hương!”

Nếu trên đời này, ví như chúng ta có thể bỏ hẳn cái mình không thích, cái mình ghét bỏ kể cả những chuyện khổ đau, xui rủi, thì hẳn là cuộc sống chúng ta đã hạnh phúc hơn. Trong đời sống chúng ta mang ám ảnh của khổ đau nhiều hơn là hào quang của hạnh phúc. Chúng ta nhớ gì những giây phút sung sướng và vui tươi trong cuộc đời, hay mãi mang theo những hoài ức và những ấn tượng đau buồn, tuổi thơ bất hạnh, chiến tranh tàn khốc, đời sống đọa đày, theo thời gian, ám ảnh chúng ta vào mãi trong từng giấc mộng.

Trong thế gian, chúng ta mong có nhiều ngày buông bỏ, để tập buông bỏ chuyện đời.

Nhưng không dễ gì ai cũng có thể buông bỏ được, bởi vậy có những điều muốn quên mà quên không được, không muốn nhớ mà vẫn nhớ đời. Chúng ta vẫn không muốn buông bỏ như người bị bệnh lú lẩn, quên được chuyện hôm nay mà nhớ rất rõ chuyện ngày xưa.

Người khuyên ta quên đi hận thù, hận thù đôi khi cũng phải khắc ghi, nếu không ta đã chẳng phải là con người. Buông bỏ hết thì đôi khi mình chẳng còn nhớ mình là ai, một ngày nào đó, quên vì sao ta phải đến đây.

Thôi, ai buông bỏ được thì thành thánh nhân. Không buông bỏ được thì cũng ráng thành người, nhớ những điều cần nhớ, và hãy quên đi những chuyện đáng quên! 

Huy Phương

Khủng hoảng toàn diện về niềm tin – bước cuối cùng.

8 hrs

Image may contain: 9 people, people smiling, crowd
Nguyễn Đình Ngọc

 

Khủng hoảng truyền thông – bước thứ nhất

Khủng hoảng chính trị – bước thứ hai

Khủng hoảng ngoại giao – bước thứ ba

Khủng hoảng kinh tế – bước thứ tư

Khủng hoảng toàn diện về niềm tin – bước cuối cùng.

Tất cả do người CSVN tạo ra từ vụ Đồng Tâm. Đừng đổ thừa cho bất cứ một người dân nào cả.

MẬT MÃ CỦA HẠNH PHÚC 

MẬT MÃ CỦA HẠNH PHÚC 

 Hạnh phúc là một đề tài luôn khiến cho con người mơ hồ, hạnh phúc rốt cuộc là gì?  Mỗi một người có một cách lý giải định nghĩa hạnh phúc khác nhau.  Giới khoa học cũng không ngừng khám phá…

 Tiến sĩ Howard Dickinson tại khoa triết học của trường đại học Columbia đã tiến hành khảo sát với 121 người tự xưng là hạnh phúc nhất thế giới.  Cuối cùng đưa ra kết quả là trên thế giới này có hai loại người hạnh phúc nhất: Một là những người bình thường sống đạm bạc yên tĩnh, hai là những người nổi tiếng thành công.  Hai mươi năm sau, ông lại một lần nữa phỏng vấn 121 người này, kết quả khiến cho ông rơi vào trầm tư suy nghĩ…

 Hạnh phúc của một người phụ thuộc vào điều gì?

 Tháng 4 năm 1988, Howard Dickinson 24 tuổi.  Đề mục luận văn tốt nghiệp của ông có tên là “Hạnh phúc của con người phụ thuộc vào điều gì?”

 Vì muốn hoàn thành đề mục này ông đã phân phát 10.000 bảng câu hỏi cho người dân trong thành phố, trên đó có ghi chi tiết dữ liệu định danh cá nhân, còn có năm hạng mục trắc nghiệm:

 Vô cùng hạnh phúc

Hạnh phúc

Bình thường

Thống khổ

Vô cùng thống khổ

 Trong hơn hai tháng, cuối cùng Howard Dickinson đã thu hồi được hơn 5.200 bảng câu hỏi hợp lệ.  Sau khi thống kê, chỉ có 121 người nghĩ rằng họ vô cùng hạnh phúc.  Howard Dickinson tiến hành một cuộc khảo sát và phân tích chi tiết về 121 người này.  Ông thấy rằng 50 trong số 121 người này là những người thành công trong thành phố và hạnh phúc của họ chủ yếu là do thành công trong sự nghiệp mang đến.  71 người khác là bà nội trợ bình thường, nông dân bán rau, nhân viên nhỏ trong công ty, và thậm chí là những người vô gia cư đã nhận được trợ cấp.  Những người có cuộc sống bình thường đạm bạc này làm thế nào có thể sở hữu hạnh phúc lớn lao đến thế?

 Qua điều tra thực tế của tiến sỹ Howard Dickinson thì điều kiện sống của 121 người rất khác nhau, khiến ông cảm thấy rất thú vị.

 Qua nhiều lần tiếp xúc và trao đổi với những người này, Howard Dickinson phát hiện rằng, mặc dù nghề nghiệp của họ đa dạng bất đồng nhưng bản thân họ lại có một điểm chung.  Đó chính là họ không có yêu cầu quá cao hoặc quá nhiều đối với vật chất.  Họ sống rất đơn giản và yên bình, vừa lòng với hiện tại.  Kết quả của cuộc khảo sát này khiến Howard Dickinson rất hứng khởi, vì vậy ông đã viết ra tổng kết luận văn như thế này:

  “Trên thế giới này có hai loại người hạnh phúc nhất:

Một là những người sống đạm bạc yên bình, hai là những người thành công nổi tiếng.

 Nếu như bạn là một người bình thường, thì thông qua việc tu luyện nội tâm, giảm bớt dục vọng bạn cũng có thể đạt được hạnh phúc.  Nếu như bạn là một người thành công nổi tiếng thì bạn có thể thông qua việc chăm chỉ, biết thời cơ mà đạt được thành công trong sự nghiệp và thứ hạnh phúc lớn lao nhất.”

 Sau khi giáo sư nhìn thấy luận văn của Howard Dickinson đã vô cùng tán thưởng, phê một chữ “xuất sắc” thật lớn.  Sau khi tốt nghiệp, Howard Dickinson ở lại trường giảng dạy.  Thoáng chốc đã hơn hai mươi năm trôi qua, hôm nay Howard Dickinson đã trở thành một giáo sư nổi tiếng ở Mỹ.

 Vào tháng 6 năm 2009, nhân một cơ hội ngẫu nhiên, ông đã lật lại luận văn tốt nghiệp năm đó.  Ông rất hiếu kỳ không biết điều gì đã xảy ra với những người cảm thấy mình “vô cùng hạnh phúc” năm đó?  Có phải họ vẫn cảm thấy bản thân rất hạnh phúc hay không?  Ông tìm lại địa chỉ liên lạc của những người đó, mất hơn ba tháng một lần nữa làm điều tra.  Kết quả 71 người bình thường năm đó trừ hai người qua đời tổng cộng thu lại được 69 phần bảng câu hỏi.

 Những năm gần đây, cuộc sống của sáu mươi chín người này xảy ra nhiều biến hóa: Một số người trong số họ đã nằm trong hàng ngũ những người thành công, những người khác vẫn sống những ngày bình thường, và số còn lại đang sống trong khó khăn do bệnh tật và tai nạn.  Tuy nhiên, đáp án của họ vẫn như ngày nào, cảm thấy bản thân “vô cùng hạnh phúc.”

 Ngược lại, 50 người thành công nổi tiếng trước kia lại xảy ra biến hóa cực lớn.  Trong đó chỉ có 9 người vẫn lựa chọn giống như lúc đầu, bởi vì sự nghiệp của họ vẫn thuận lợi.  Có 23 người lựa chọn “bình thường”, 16 người sự nghiệp xuống dốc hoặc phá sản lựa chọn “thống khổ”, 2 người còn lại lựa chọn “vô cùng thống khổ”.

 Lật lại cuộc điều tra sau 20 năm, kết quả đã có sự thay đổi đáng kể khiến tiến sỹ Howard Dickinson không khỏi trầm tư suy nghĩ…

 Nhìn vào kết quả như vậy, Howard Dickinson rơi vào trầm tư vài ngày, hai tuần sau, Howard Dickinson viết một luận văn mới đăng trên tờ báo “The Post” với tiêu đề “Mật mã hạnh phúc.”  Trong luận văn của mình, Howard Dickinson đã trình bày chi tiết về quá trình và kết quả của hai cuộc khảo sát.

 Cuối cùng ông tổng kết: “Tất cả cảm giác hạnh phúc dựa trên vật chất đều không thể kéo dài, nó sẽ biến mất khi vật chất biến mất.  Chỉ có sự yên bình và tĩnh lặng trong tâm hồn, niềm vui được sinh ra từ thân tâm mới thật sự là hạnh phúc.”

 Vô số người sau khi xem xong phần luận văn này đều kinh ngạc thốt lên: “Howard Dickinson đã phá giải mật mã của hạnh phúc!”  Bài viết này thu hút sự chú ý rộng rãi, tờ báo “The Post” phải in sáu lần trong một ngày.

 Trong một cuộc phỏng vấn với giới truyền thông, Howard Dickinson tâm sự rằng: “Hơn hai mươi năm trước, tôi còn quá trẻ nên đã lý giải sai hàm nghĩa chân chính của “hạnh phúc.”  Hơn nữa, tôi còn đem quan niệm “hạnh phúc” không chính xác này truyền đạt cho rất nhiều học sinh của tôi.  Hôm nay ở đây, tôi xin chân thành gởi lời xin lỗi đến tất cả học sinh của tôi, cũng xin lỗi “hạnh phúc.”  Tất cả cảm giác hạnh phúc dựa trên vật chất đều không thể kéo dài, nó sẽ biến mất khi vật chất biến mất.  Chỉ có sự yên bình và tĩnh lặng trong tâm hồn, niềm vui được sinh ra từ thân tâm mới thật sự là hạnh phúc.”

 Tất cả những chuyện bi thảm đều có liên quan đến tiền bạc, tất cả những chuyện hạnh phúc đều không liên quan gì đến bạc tiền.

 Theo Soundofhope – Khải Phong biên dịch

Ổ HOẠI TỬ CHÍNH TRỊ BẮT ĐẦU TỪ ĐỒNG TÂM…

Image may contain: one or more people, people standing, crowd and outdoor
8 SÀI GÒN

Ổ HOẠI TỬ CHÍNH TRỊ BẮT ĐẦU TỪ ĐỒNG TÂM…

Mặc dù đều là những vụ cướp đất nhân danh dân tộc, nhưng xét về khía cạnh chính trị, Đồng Tâm rất khác với Lộc Hưng, Thủ Thiêm hay Dương Nội.

Bởi vì Đồng Tâm là một xã anh hùng cách mạng điển hình ở miền Bắc, nơi cung cấp xương máu vật lực cho những cuộc chiến tranh mà thành tích được đảng lấy làm chính danh cai trị.

Bởi vì cá nhân cụ Kình là một đảng viên trung kiên điển hình cho lớp đảng viên già; còn gia đình cụ, ngay cách đặt tên con, Công và Chức, cũng đủ thấy ý nguyện gửi gắm cuộc đời cho đảng.

Những người xuất thân như cụ Kình, gia đình cụ và người làng Đồng Tâm đang là quan chức về hưu, đang là quân nhân, đang là công chức khắp các bộ ngành Hà Nội và chính quyền cả nước.

Họ là những người nhất nhất nghe lời VTV và báo Nhân Dân, và hễ có xung đột liên quan đến chính quyền, thì ngay tức khắc cãi là chính quyền không sai, hoặc có sai cũng chỉ do người thừa hành.

Họ là thành luỹ ủng hộ của chế độ.

Thế nên cách mà chính quyền sử dụng bạo lực để trấn áp Đồng Tâm rồi phỉ nhổ và tước đoạt danh dự của họ không khác gì sư tử tự cắn vào chân, rắn tự ăn thịt đuôi mình.

Ổ hoại tử chính trị bắt đầu từ đó.

HƯNG PHẠM NGỌC

9 kiểu người vô cùng nguy hiểm trong cuộc đời

9 kiểu người vô cùng nguy hiểm trong cuộc đời

1. Người ích kỷ

Tự hào về bản thân đôi khi là một điều tốt. Nhưng nếu quá ngạo mạn về chính mình và tin rằng mình tốt hơn tất cả mọi người xung quanh là điều vô cùng nguy hiểm. Nếu bạn ở cạnh một người thiếu tôn trọng bạn, đúng hơn là họ lấn át và xem thường sự hiện diện của bạn thì tốt nhất bạn hãy chọn con đường là rời xa họ.
Đôi khi quá vô tư mà bỏ quên suy nghĩ và cảm nhận của người khác sẽ là con đường ngắn nhất khiến ai đó tự cô lập chính mình!

2. Người đố kỵ

Những người có bản tính hay ghen tị thường cảm thấy mình xứng đáng được thành công và hạnh phúc hơn người khác. Cho dù bạn có cố gắng để họ hiểu rằng mình cũng là một phần của chiến thắng thì điều đó càng khiến họ phẫn nộ vì sự khiêm tốn và cao thượng của bạn. Kiểu người này bạn nên tránh xa.

3. Người tự phụ

Những người tự phụ thường tỏ ra kiêu căng và tin rằng mình hoàn toàn kiểm soát được mọi thứ. Họ tự tin thái quá về bản thân mình và ít khi coi trọng ý kiến của người khác.

4. Người thích phán xét

Dường như với kiểu người này thì không có gì là đủ. Họ là những “súp – pơ – soi chính hãng” và luôn sẵn mọi ngôn từ để soi mói người khác. Đối với họ, mọi thứ đều có vấn đề.

5. Người thích điều khiển

Người thích điều khiển là những người luôn muốn kiểm soát và lãnh đạo người khác. Họ sẵn sàng “bóc lột” sức lao động của đồng nghiệp để đạt được mục đích của mình.

6. Người nói dối

Chúng ta ai cũng đã từng nói dối và sự thật là không phải lúc nào nói dối cũng xấu. Tuy nhiên, ở cạnh những người hiếm khi nói thật sẽ khiến bạn “loạn” và thiếu sự tin tưởng. Dần dần, bạn sẽ bị ảnh hưởng và mất niềm tin vào cuộc sống.

7. Những người hay “buôn dưa lê”

Kiểu người này thường kém tin cậy nhất và họ dùng miệng lưỡi của mình để biến tấu câu chuyện. Thông tin mà họ truyền đạt thường bị biến đổi qua rất nhiều người. Do vậy, nếu bạn tiếp cận thường xuyên với họ, bạn sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều không chỉ về cách ăn nói mà còn trong suy nghĩ.

8. Những kẻ ăn bám

Những người ăn không ngồi rồi, nhàn cư vi bất thiện sẽ là những người vô cùng nguy hiểm bởi vì một sự nhụt chí của họ sẽ khiến bạn dễ bị lung lay và ảnh hưởng. Đặc biệt nếu bạn đang xây dựng cho mình một kế hoạch phát triển bản thân thì hãy tìm cách tránh xa họ.

9. Người trốn tránh

Kiểu người này ít khi tự nhận trách nhiệm về mình. Thứ họ thích làm đó là chỉ tay vào người khác và không bao giờ chịu thừa nhận họ có lỗi. Cuộc sống không thể tránh khỏi có những mặt đối lập và những kiểu người này chắc chắn vẫn luôn hiện diện. Điều quan trọng nhất là bạn hãy học cách phân biệt và độc lập với ảnh hưởng của họ để không phạm sai lầm và tập trung cho ước mơ của bạn nhé.

Sưu tầm

Anh chi Thụ & Mai gởi

KHÔNG PHẢI CHẾT VÌ MẢNH ĐẤT NHƯNG …

Bang Uong and Mai Van shared a post.
Image may contain: 3 people
Loc Teresa

KHÔNG PHẢI CHẾT VÌ MẢNH ĐẤT NHƯNG …

Mỗi người có góc nhìn để rồi tự do nhìn về một sự kiện, một biến cố nào đó đang xảy ra quanh mình.

Cụ già vừa nhắm mắt xuôi tay trong ngấn lệ, kể cả của những kẻ chưa hề một lần được gặp cụ như bỉ nhân. Không ngấn sao được khi mà người đồng loại đã cam tâm hạ sát cụ.

Tưởng nghĩ không phải vì mảnh đất vườn rau mà cụ cùng nhiều người đứng ra tranh luận. Đừng nghĩ như thế ! Nếu nghĩ như thế thì hóa ra xem thường cụ cũng như những người uất ức về chuyện đất cát quá ! Chuyện mà cụ cũng như hàng ngàn, hàng vạn người đau nhói ở đây đó chính là chuyện bất công.

Chuyện cần thiết từ gia đình đến quốc gia và ngược lại trong cuộc sống rất cần sự công bằng. Khi người ta sống công bằng với nhau thì gia đình, con người và xã hội sẽ bình ổn và ngược lại. Người ta phải trả một cái giá rất đắt cho sự bất công để rồi khi nào người ta hành xử công bằng thì mới thật sự thanh thản.

Nhớ lại, ngày xưa còn mài ghế nhà trường, Cha giáo nọ cứ nhắc đi nhắc lại với bỉ nhân và đồng bọn : “Nói thật với anh em nhé ! Đừng có đưa ra chuyện bác ái làm gì ? Sống trong cộng đoàn tu hay bất cứ ở đâu, anh em cần có sự công bằng chứ không phải bác ái …”

“Ai cũng chọn việc nhẹ nhàng, gian khổ sẽ giành phần ai ? …” Câu nói đó như nói về sự công bằng trong đời sống xã hội con người. Và từ đó, cụ già cũng như bao người uất ức chả cần chuyện vài mét đất đâu nhưng chuyện họ đòi đó chính là sự công bằng.

Khi anh lấy cường quyền, anh lấy sự ác để hà hiếp người khác thì chỉ tạo nên mâu thuẫn thôi. Dĩ nhiên là những kẻ thấp cổ bé họng như cụ già đáng kính kia phải chết và chết trong bạo tàn vì cường quyền.

Hình ảnh và cuộc đời của cụ già đáng kinh man mác hình ảnh của một Gioan Tẩy Giả xưa. Gioan Tẩy Giả cũng chỉ vì nói lên sự thật, nói lên tiếng nói của lương tâm để rồi mất đầu. Cụ già đáng kính vừa qua đời với thịt tan xương nát và quả tim thủng lỗ do đạn cũng chết vì nói lên tiếng nói của lương tâm, của sự công bằng.

Tưởng nghĩ rằng trong tất cả mọi sự việc, trong cung cách hành xử bất luận là ở đâu nếu như người ta đặt mình vào vị trí của người đối diện thì sự việc sẽ khác và hậu quả cũng sẽ khác. Bạn cứ thử nghĩ rằng nếu đất đai của bạn đang ở trong tay của bạn và nhất là đó là do công khó từ bao đời cha ông để lại mà người khác nhảy vào cướp bóc thì bạn sẽ phản ứng như thế nào để rồi đừng kết án cụ già khả kính cũng như nhiều người rơi vào cảnh ngộ.

Cụ già ra đi không phải vì mảnh đất nhưng cụ ra đi vì sự bất công, sự tàn ác của con người.

Chả hiểu những kẻ tán tận lương tâm lật lọng biến trắng thành đen hóa đen thành trắng nghĩ gì khi hành động như thế. Họ có bao giờ nghĩ đến quy luật nhân quả không bao giờ trừ bất cứ một ai không ? Có khi hôm nay họ thành công đó nhưng rồi tương lai cũng như con cháu của họ như thế nào ?

Cụ ơi ! Cụ ra đi thanh thản nhé ! Một nén hương lòng thắp lên thương Cụ và trân quý tấm lòng của một con người can đảm vì sự thật, vì công bằng.

Giờ đây Cụ không còn phải đối diện với những con người mất nhân tính nữa. Xin Cụ khi ở Cõi Trời nhớ cầu nguyện cho những kẻ còn lại biết hành xử với nhau theo kiểu người hơn chứ đừng xử nhau như là con như đã xử với Cụ và bao nhiêu người khác.

NGT

AI CŨNG CẦN MỘT VÒNG TAY ÔM

AI CŨNG CẦN MỘT VÒNG TAY ÔM

Genny gửi đi dòng text cuối cho Dick, bạn trai và cũng là đồng nghiệp của cô ở sở cảnh sát Dallas, khi bước đến gần căn apartment của cô ở lầu 3.  Lúc ấy khoảng gần 10 giờ đêm.  Cô về muộn hơn mọi ngày sau ca trực kéo dài suốt 14 tiếng…  Một ngày đầu tuần khá mệt mỏi và nhức đầu vì những chuyện lỉnh kỉnh chẳng đâu vào đâu.  Cô cần nghỉ ngơi để lấy lại sức.

Khi vừa tra chìa khóa vào ổ khóa cửa phòng, Genny cảm thấy có điều gì bất thường.  Cô luôn cẩn thận khóa cửa, tắt đèn mỗi khi rời nhà.  Cửa dường như không khóa, cô xoay nhẹ tay nắm cửa, cánh cửa mở he hé.  Genny khẽ giật mình, đặt tay lên báng súng như một phản xạ tự nhiên.  Ánh đèn vàng từ bên trong hắt ra.  Genny suy nghĩ thật nhanh.  Ngoài Dick ra, không ai biết chỗ ở của cô.  Kẻ nào đã đột nhập vào phòng cô?…  Genny rút súng, lùi lại một bước, tay giơ cao khẩu súng ngắn, chân đạp mạnh vào cánh cửa.

“Đứng yên tại chỗ.  Giơ tay lên!”  Genny hét lớn.

Cửa mở toang.  Cô trông thấy một gã đàn ông ngồi dựa lưng trên ghế sofa, hai chân duỗi thẳng, tay cầm vật gì đó.

“Bỏ ngay cái đó xuống.  Giơ hai tay lên!”  Genny nắm chặt khẩu súng bằng cả hai tay, mũi súng chĩa thẳng về phía kẻ lạ mặt.

Trước mắt cô là gã đàn ông da màu lạ hoắc.  Gã mặc quần short, tay cầm vật gì lấp lánh cô không nhìn thấy rõ.  Gã chồm người dậy, nhìn chòng chọc vào cô.

“Giơ hai tay lên!  Bỏ cái đó xuống ngay, nếu không tôi bắn.”  Genny quát lên và lùi lại một chút, hai tay vẫn nắm chặt khẩu súng.

Gã đàn ông đứng bật dậy, dáng cao lớn, khệnh khạ̣ng.

“Hey! Hey! Hey!”  Gã trợn mắt, xăm xăm bước về phía cô.

“Đoàng! Đoàng!”  Genny nổ liền hai phát.  Gã bật ngửa ra sau, nằm ngay đơ, đầu gối lên thành ghế sofa.

Suốt những năm hành nghề cảnh sát, Genny vẫn được đồng nghiệp thán phục về tài thiện xạ, đã bắn thì không trật vào đâu được.  Cô từ từ bước qua cửa, men sát theo vách tường rồi lọt hẳn vào phòng trong lúc hai tay vẫn không rời khẩu súng, hai mắt vẫn chăm chăm nhìn xuống thân hình bất động dưới chân sofa.  Gã da màu nằm im không nhúc nhích, máu loang trước ngực.

Genny đảo mắt một vòng, nhìn quanh.  Và, chỉ trong một vài giây, trong ánh sáng mờ mờ của ngọn đèn phòng khách, cô nhận ra điều gì khác thường…  Cô lắc lắc đầu mấy cái cho thật tỉnh táo.  Genny bỗng lạnh sống lưng.  Cô thấy chóng mặt, rồi khẩu súng trong tay rớt xuống lúc nào cô không hay.

Đây không phải là căn apartment của cô.  Cô đã vào nhầm phòng.

Genny vội quỳ xuống bên người đàn ông.  Gã nằm ngửa, hai mắt mở lớn, trợn trừng…  Bàn tay phải mở ra cho thấy vật trong tay gã là chiếc muỗng nhôm.  Một ly kem ăn dở và hộp kem mở nắp ở trên chiếc bàn thấp cạnh sofa.  Máu vẫn loang trên sàn nhà…

Genny ngồi bật dậy, hoảng hốt…  Cô đã làm gì vậy?  Cô đã giết người.  Rồi Genny lại quỳ xuống, đặt tay lên ngực gã…  Cô nhớ tới những thao tác CPR từng ứng dụng.  Vô ích, viên đạn trúng ngay tim.  Dưới chân cô đã là một xác chết.  Cô nhìn lại bàn tay mình.  Máu.  Genny cố trấn tĩnh, gọi số 911 trước khi gieo mình xuống chiếc sofa mà người đàn ông đã ngồi trước đó ít phút…

Tiếng tivi ở góc phòng phát đi bản tin về vụ cướp ở đâu đó.  Genny nghe tiếng lao xao và tiếng chân người từ ngoài hành lang…

*********************************************

Phiên tòa bước sang ngày thứ 5, dự trù sẽ đưa ra phán quyết chung thẩm.  Genny trông hốc hác, hai mắt trũng sâu vì thiếu ngủ.  Cô phải trả lời nhiều câu hỏi từ công tố viện.  Trả lời câu hỏi đầu tiên, Genny nói cô không biết gì về Bruce, người hàng xóm đã thiệt mạng vì hai phát súng nghiệt ngã của cô đêm ấy.  Người thanh niên da màu chết bất ngờ, không hiểu được vì sao mình phải chết.

Bruce ở lầu số 3, trong căn phòng ngay bên dưới phòng của Genny ở lầu 4.  Anh là nhân viên kế toán của một công ty tài chánh.  Bruce kém cô ba tuổi, là một thanh niên hiền lành và tốt bụng, hay giúp đỡ người khác.  Ngoài công việc ở sở, anh là thành viên của Hội đồng Mục vụ Giáo xứ tại một nhà thờ ở địa phương trong nhiều năm.

Công tố viên muốn cô diễn lại trình tự mọi chuyện xảy ra vào hôm ấy, và phóng ra liên tiếp những câu hỏi như không để cô có thì giờ đắn đo suy nghĩ.

“Chuyện gì làm cô không tỉnh táo hôm ấy?”

“Tôi không rõ. Có thể tôi đã làm việc quá sức.  Tôi đã làm đến hơn 14 tiếng thay cho người bạn trong sở nghỉ bệnh.”

“Còn gì nữa?”

“Tôi về muộn, khá mệt mỏi sau một ngày dài làm việc.  Từ lúc xuống xe ở parking, tôi vừa đi vừa text message với người bạn cùng sở nên không nhận ra mình đang ở lầu 3 chứ không phải lầu 4.”

“Mỗi phòng đều có tấm biển ghi số phòng gắn trên cửa, cô không nhìn số phòng?”

“Không,” Genny lắc đầu.  “Phòng tôi ở dãy bên tay phải, cạnh phòng cuối cùng của hành lang.  Rất dễ nhận biết, tôi cứ đi thẳng tới đó.”

“Khi mở cửa phòng, cô không nhận ra đấy không phải là phòng mình?”

“Không,” Genny lắc đầu.  “Đèn không đủ sáng.  Cách bài trí nơi phòng khách khá giống với phòng tôi.  Bộ sofa cũng gần như cùng một kiểu, một màu.”

“Cô nghĩ gì và phản ứng thế nào vào lúc ấy?”

“Một kẻ lạ nào đó đột nhập phòng mình.  Tôi rút súng ra.  Tôi cần phản ứng thật nhanh, nghề nghiệp dạy tôi như vậy.”

Công tố viên không hỏi tiếp.  Phòng xử chìm trong im lặng vài phút.

“Cô nghĩ gì trong đầu khi nổ súng vào người đó?”

“Tôi sợ,” Genny trả lời, giọng run run.  “Tôi yêu cầu anh ta đứng yên và giơ tay lên đến mấy lần, nhưng anh ta bỗng hét lớn “Hey, hey, hey!” như bị kích động và sấn về phía tôi.  Tôi nghĩ anh ta sẽ giết mình.  Tôi không còn cách nào.  Bắn chậm thì chết.”  Genny khóc nức lên…

Nhiều tiếng lào xào…  Bà thẩm phán Tammie nhìn Genny chăm chú, khẽ gật gù.

“Tôi ngu ngốc quá…!” Genny nói trong tiếng nấc.  “Tôi muốn được trừng phạt.”

“Cô nói tiếp đi, rồi sao nữa?  Mọi người vẫn đang nghe cô.” Thẩm phán Tammie lên tiếng.

“Tôi thấy mình thật xấu xa, kinh tởm.”  Genny nói nhỏ, cúi gầm mặt.  “Tôi thù ghét tôi mỗi ngày.  Tôi biết mình sẽ không bao giờ tìm được một ngày bình yên trong suốt phần đời còn lại.”

Genny sẽ nhận bản án chung thẩm hôm nay.  Việc xét xử và nghị án có khuynh hướng bất lợi cho cô trong bối cảnh khá căng thẳng do những đợt biểu tình phản đối tình trạng bạo hành của cảnh sát đối với người da màu gần đây vẫn chưa lắng xuống.  Công tố viện có vẻ muốn cáo buộc tội sát nhân cho cô hơn là ngộ sát để làm dịu bớt những làn sóng phẫn nộ.  Trong suốt phiên xử Genny tránh cái nhìn từ phía những người thân của Bruce.  Cô tin là họ căm ghét cô và chỉ muốn cô phải chịu bản án nặng nhất.

Công tố viện đề nghị bản án 28 năm tù giam, bằng con số tuổi của Bruce vào ngày sinh nhật của anh ta trong tháng này nếu như anh còn sống.  Genny đã lấy đi những năm tuổi đẹp nhất của anh ta và cô phải trả lại đúng số năm ấy.

Sau nhiều giờ nghị án của bồi thẩm đoàn, Genny sau cùng nhận phán quyết chung thẩm là 10 năm tù giam và có thể xin được ân xá sau 5 năm ngồi tù.  Những nguời thân trong gia đình nạn nhân được phép lên tiếng.  Alice, mẹ của Bruce, chỉ sụt sùi kể lể, không nói được gì nhiều.  Beck, ông bố, lắc lắc đầu tỏ dấu không muốn lên tiếng.  Mọi người hướng về Ben, em trai của Bruce, người nói những lời sau cùng.  Chàng trai 18 tuổi, mặc bộ vest đen chỉnh tề, đeo kính trắng, khuôn mặt có nét từa tựa ông anh cậu.

“Tôi không ghét chị, cho dù chị đã làm chúng tôi phải xa lìa Bruce.”  Ben cất tiếng sau ít giây im lặng.  Cậu đưa mắt về phía Genny, nói chậm rãi.  “Tôi thực lòng mong muốn những điều tốt lành cho chị.  Tôi cũng không muốn chị phải vào tù một ngày nào.  Và tôi tin là Bruce, anh tôi, cũng muốn như vậy.  Tôi hiểu Bruce hơn ai hết.  Anh ấy rất mau quên và dễ tha thứ, anh ấy không muốn chị phải vào tù đâu.  Anh ấy chẳng oán ghét ai bao giờ, và cũng chẳng muốn làm ai buồn khổ.  Những gì tôi nói ra đây là những điều tôi học được từ Bruce.  Giá như anh ấy có ở đây thì anh ấy cũng sẽ nói giống như tôi vậy.  Việc đã rồi, chị đâu có muốn như thế, phải không?  Chẳng ai muốn như thế cả.”

Ben ngừng lại. Phòng xử không một tiếng động.  Mọi người im lặng, chờ nghe cậu nói tiếp.  Ben nhìn thật lâu vào đôi mắt Genny đỏ hoe.

“Anh ấy chắc chắn tha thứ cho chị.  Chị cũng cần tha thứ cho chị.”  Ngừng một chút, Ben nói tiếp, “Nếu chị không làm được vậy, chị hãy tìm đến với Chúa.  Một khi chị biết lỗi và hối lỗi thì Chúa sẽ tha thứ cho chị.  Phần tôi…, tôi cũng tha thứ cho chị.”

Ben lại ngừng một chút, rồi cậu hướng cái nhìn về bà thẩm phán Tammie.

“Liệu tôi có thể dành cho chị ấy một cái ôm không?”

Không có tiếng trả lời.

“Tôi có được phép ôm chị ấy không?”  Ben hỏi lại lần nữa, giọng khẩn khoản. “Tôi được phép chứ? Xin cho tôi…”

“Được,” bà thẩm phán nói, sau ít giây bối rối.

Ben rời bàn, bước xuống.  Phía bên kia, Genny đưa mắt nhìn viên cảnh sát bên cạnh cô.  Anh ta đứng lặng yên, không nói năng gì.  Cô bước ra khỏi hàng ghế tiến về phía Ben.  Khi tới gần Ben, cô dang rộng cánh tay, lao vào ôm chầm lấy cậu.  Hai cánh tay cô quấn chặt cổ cậu.

Mọi người nghe rõ tiếng khóc nức lên của hai người.

Ben ôm lấy tấm lưng Genny, hai bàn tay cậu xòe rộng xoa xoa, vỗ dọc lưng cô.

“Em tha thứ cho tôi?”  Genny thì thầm.  “Tôi không nghe lầm chứ?  Tôi muốn được nghe lại một lần nữa.  Xin làm ơn…”

“Tôi tha thứ cho chị.”  Ben khẽ nói. “Bruce muốn tôi làm việc đó.  Anh ấy và tôi tha thứ cho chị.”

Genny áp mặt vào ngực Ben.  Cô buông lỏng đôi tay, rồi cô lại ôm chặt lấy Ben lần nữa.

“Thế còn những người khác trong gia đình em?”

“Tôi không rõ, tôi tin mọi người rồi sẽ tha thứ cho chị.”  Ngừng một chút, Ben nói, “Tin tôi đi, khi tìm đến với Chúa, chị sẽ được bình an thôi.  Hãy can đảm lên, chị hứa với tôi đi.”

“Tôi hứa, tôi hứa…” Genny nghẹn lời.  Khuôn mặt cô đầm đìa nước mắt.

“Peace be with you,” (chúc chị được bình an) Ben thì thầm lời cuối trong lúc chậm rãi buông cô ra.

Không một ai trong phòng nghe được họ nói gì.  Viên cảnh sát dìu Genny về lại chỗ ngồi.

Ben quay nhìn Genny trong một thoáng trước khi rời phòng xử.

Ted, luật sư biện hộ cho Genny, chìa tay bắt tay bố của Ben khi hai người cùng bước ra ngoài hành lang.

“Cậu bé này tốt hơn chúng ta rất nhiều, bản thân tôi phải học nhiều ở cậu.  Chỉ có chiếc ôm ấy mới chữa lành được những vết thương.”

“Đúng thế,” Beck khẽ gật gật đầu.

Rồi ông quay nhìn con trai mình đứng phía sau, đưa ngón tay cái lên.  Hai bố con cùng bước xuống những bậc thang cấp của tòa án.

“Vậy là xong,” Beck siết chặt vai cậu, nói. “Bố cám ơn con.  Bố yêu con, Ben.  Bây giờ Bố cảm thấy nhẹ nhõm.  Tạ ơn Chúa, giờ đây Bố Mẹ vẫn có con bên cạnh.  Tất cả rồi sẽ qua đi.  Chúng ta cần phải sống.  Mọi người cần phải sống.  Chúng ta không để bất cứ thứ gì đè nặng trái tim mình.”

Ben im lặng, cậu cũng nghĩ như bố.

“Mỗi người một phần số,” Beck nói tiếp. “Chúng ta không làm khác đi được, nhưng chúng ta có thể làm nhẹ bớt phần nào những gánh nặng.  Ai cũng cần một vòng tay ôm.”

Ben vẫn im lặng.  Cậu hít sâu và thở ra một hơi dài.  Cậu cũng cảm thấy nhẹ nhõm như bố.

Chiều xuống dần.  Hai bố con sánh đôi bên nhau.  Beck lại bóp nhẹ mấy cái vào vai Ben.  Và ông choàng hẳn tay qua vai cậu, rồi khoác vai cậu bước đi thân mật như hai người bạn.

“Bố nói đúng,” Ben thầm nghĩ. “Ai cũng cần một vòng tay ôm.”

(Phỏng theo bản tin báo The Dallas Morning News, 2/10/2019)

From: Langthangchieutim

VỀ ĐIỀU 53 HIẾN PHÁP

8 SÀI GÒN
VỀ ĐIỀU 53 HIẾN PHÁP

(Quy định về đất đai..)

Điều 53, hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.

Điều này có nghĩa là người dân được quyền sử dụng đất, không được quyền sở hữu. Cái sổ mà mọi người dân được cấp chỉ là chứng nhận quyền sử dụng đất. Nó có thể bán, mua, cho tặng…nên nó không làm cho người dân băn khoăn gì vì họ không phải là những chuyên gia về luật hoặc những kẻ mập mờ đánh lận câu chữ để có thể hiểu được bản chất thực sự của vấn đề là đất đai của họ có thể bị cưỡng chế tịch thu bởi nhà nước bất cứ lúc nào. Hầu hết người dân đều yên tâm với cái chứng nhận quyền sử dụng cho đến khi chính họ bị sờ đến.

Với việc các doanh nghiệp, các nhóm lợi ích luôn cấu kết với chính quyền để trục lợi đôi bên thì một điều khoản như điều 53 là mảnh đất màu mỡ cho chúng tận dụng khai thác tối đa để cướp và chia chác.

Việc thỏa thuận, đền bù luôn bất lợi cho người dân. Các doanh nghiệp, nhóm lợi ích, cá nhân luôn mượn tay chính quyền thông qua điều 53 để chèn ép người dân phải chấp nhận tiền đền bù với giá rất thấp. Khi người dân phản đối, khiếu kiện thì lập tực bị coi là thành phần chống đối, thế lực thù địch, kẻ thù. Trong khi đó người dân vẫn một lòng tin rằng chính phủ có thể giải quyết và đó chẳng qua là vì quan chức địa phương làm sai.

Từ các dự án lớn cho đến các tranh chấp nhỏ giữa người dân và chính quyền các cấp về đất đai khắp nơi trên đất nước: Tây Ninh, Văn Giang, Dương Nội, Châu Đốc, Thủ Thiêm, Hải Phòng, Hà Nội…đều là vì điều 53 hiến pháp (và những điều khác liên quan đến thể chế và cách thức vận hành thể chế, nhưng đó là một chủ đề sẽ bàn sau.) Máu, nước mắt, mồ hôi, công sức, tra tấn, tù đày, sỉ nhục và nhiều xác người đã ngã xuống vì điều 53 hiếp pháp.

Nhiều quan chức giàu có với biệt phủ và sống xa hoa, có tài khoản bí mật ở những ngân hàng nước ngoài nhờ điều 53 hiến pháp.

Nhiều đại gia tiền nứt đố đổ vách nhờ điều 53 hiến pháp.

Nhiều vùng đất bị hủy hoại và tàn phá môi sinh, cảnh quan, công năng vì điều 53 hiến pháp.

Nhiều người dân mất đất canh tác, mất nồi cơm, mất nhà vì điều 53 hiến pháp.

Nhiều người dân lang thang đói lạnh khiếu kiện vài chục năm trời vì điều 53 hiến pháp.

Nhiều người dân bị đánh đập, tra tấn, sỉ nhục, vu khống, bôi nhọ, xúc phạm danh dự và nhân phẩm, kết án bỏ tù vì điều 53 hiến pháp.

Không ít người dân đã buộc phải tự hủy hoại thân thể, bị giết chết hoặc tuyên án chết vì điều 53 hiến pháp.

Thế nhưng, trong rất nhiều lần trao đổi với dân oan và cả người dân chưa thành dân oan thì tôi thường thấy là họ không hề biết điều 53 hiến pháp quy định gì. Vì không biết nên họ luôn có một niềm tin ngây thơ trong sáng đến đau thắt ruột tôi rằng chính quyền sẽ giải quyết trường hợp của họ. Họ hào hứng trưng ra những văn bản, nghị định, quyết định, điều khoản này kia trong luật đất đai để cố chứng minh họ bị oan sai. Họ tin rằng họ thấy những điều đó thì chính quyền là những người có học và quản lý hẳn là tài giỏi hơn dân thì cũng phải thấy và phân xử công minh trả lại công bằng cho họ. Cho đến nay, chỉ một phần nhỏ dân oan và người dân hiểu rõ,, đúng, đủ bản chất của điều 53 hiến pháp và những hậu quả tàn khốc mà nó gây ra.

Hãy tìm hiểu về điều 53 hiến pháp và đưa ra ý kiến của bạn.

NGUYEN THI BICH NGA

No photo description available.
No photo description available.