‘Bến Không Chồng,’ ‘Làng Không Vợ’

 

‘Bến Không Chồng,’ ‘Làng Không Vợ’

Huy Phương

Những người đàn ông làm công việc vá lưới tại một ngôi làng ở huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. (Hình: Getty Images)

Những ngôi làng vắng tiếng cười,
mà chỉ nghe tiếng khóc trẻ thơ!

Vào cuối năm 1975, khi những người tù miền Nam được Cộng Sản chuyển ra Bắc, từ bến tàu Hải Phòng vào đêm, cho đến lúc trời sáng rõ khi con tàu cổ lỗ, cọc cạch dừng lại sân ga Yên Bái, chúng tôi quan sát thấy rất ít bóng dáng đàn ông. Trên cánh đồng, qua những công trình xây dựng ven đường, và ngay cả trên sân ga chỉ thấy toàn đàn bà, lác đác mới thấy vài nam công an mặc áo vàng. Hầu như tất cả đàn ông, dù là sau ngày chấm dứt chiến tranh năm ấy, đã biến mất. Họ đã đi xa chưa về, hoặc đã chết vì bom đạn, để lại trên miền đất này những người phụ nữ đảm đang hay bắt buộc phải đảm đang, cáng đáng nhiều công việc trước kia là của đàn ông.

Theo thống kê của Bắc Việt, kể từ sau năm 1945 đến năm 2012, toàn quốc có 1,146,250 binh sĩ tử trận, khoảng 600,000 thương binh, trong đó có 849,018 người lính chết trong giai đoạn “chống Mỹ.” Con số người mất tích, bị vùi dập vì bom đạn không sao kể xiết.

Chủ trương của Bắc Việt là tận dụng hết nhân lực, tài nguyên cho mục đích thôn tính miền Nam, có khi đóng nguyên cả trường đại học, lùa tất cả sinh viên, giảng viên và công nhân cầm súng vào Nam, mà không cần qua giai đoạn huấn luyện!

Điển hình trong trận Cổ Thành, Quảng Trị 1972, một tiểu đoàn Bắc Việt vào cổ thành với quân số đầy đủ, 67 đảng viên và nhiều vũ khí tối tân; đã chết trên 100 người, bị thương trên 700 (tính cả số bổ sung từng ngày) và lúc rút ra chỉ còn 12 người! Mỗi ngày có một đại đội vượt sông Thạch Hãn để tiếp viện quân số, nhưng đêm nay một đại đội tiến vào thì ngày mai chỉ còn lại vài người sống sót.” Do mật độ bom đạn rất cao và kéo dài nên hầu hết bộ đội Bắc Việt tử trận trong cổ thành đều bị vùi lấp. (QĐND 9/8/1972)

Thời gian chiến tranh, miền Bắc trở thành một miền đất vắng bóng đàn ông. Hình ảnh này được thể hiện trong “bến không chồng,” tiểu thuyết của tác giả Dương Hướng xuất bản lần đầu tiên năm 1990 tại Hà Nội, được giải thưởng của Hội Nhà Văn năm 1991.

Tập truyện được coi là một câu chuyện “hòn vọng phu” thời hiện đại. Toàn xã đã sống qua những ngày buồn thảm với những tờ giấy báo tử vô hồn, một vùng đất không có súng đạn nhưng chứa đựng nhiều mảnh đời cô phụ, đầy nước mắt. “Bến không chồng” là một bức tranh mô tả một làng quê quạnh quẽ thiếu bóng dáng đàn ông, chỉ còn lại những thiếu nữ lỡ làng, những chinh phụ mòn mỏi.

Cuộc chiến nào cũng để lại những điều đau xót, bất hạnh cho con người, nhưng sao thời bình, trong một xã hội hiện nay như làng xóm Việt Nam, lại xẩy ra những điều, mới nghe qua, quả là khó tin. Đó là ngày nay, cũng ở Bắc Việt, nhiều ngôi làng được mệnh danh là “những ngôi làng không vợ,” vắng hẳn bóng đàn bà, ở đó chỉ có những người đàn ông, sống cảnh “gà trống nuôi con.

Ngày xưa, những “bến không chồng,” dân làng giật gấu, vá vai, nhà cửa dột nát, nghèo nàn, cơm không đủ no, trái lại ngày này “làng không chồng” được gọi là những ngôi làng tỷ phú vì nhà cửa nguy nga, phương tiện của đời sống không những đầy đủ mà còn được coi là giàu có.

Theo thống kê của xã Hồng Long, huyện Nam Đàn (Nghệ An) cứ ba gia đình, thì có hai gia đình có người đi xuất khẩu lao động. Cả ba xóm có tới 165 phụ nữ đi làm việc ở Đài Loan, Mã Lai. Nhiều gia đình có vợ đi “xuất khẩu” từ hơn 10 năm qua, mọi việc lớn nhỏ trong gia đình, từ chăm sóc con cái, dọn dẹp nhà cửa đến việc đồng áng đều do giới đàn ông đảm nhận.

Những người đàn ông có vợ vắng nhà đều có những công việc “tần tảo” như nhau. Trời chưa hừng sáng, khi các con còn ngon giấc, đàn ông trong làng dậy lọ mọ nhen lửa, nấu cơm, nấu cám lợn, giặt giũ đống quần áo. Đến sáng, khi các con ngủ dậy, đàn ông lại chăm cho con ăn sáng, để còn đến trường, còn mình ở nhà thì thái rau, bưng cám cho đàn lợn đang kêu. Xong xuôi mọi việc trâu bò, lợn gà, có người còn phải lo cho cha mẹ già. Những ngày mùa, trong khi ngày xưa, đàn ông tuốt lúa, đàn bà rủ rơm, phơi rạ thì bây giờ ở đây, chỉ toàn là đàn ông, các ông bà già và trẻ nhỏ lo việc đồng áng.

Cho vợ đi làm lao động ngoại quốc như là một cơn sốt, hay nói đúng là một cơn dịch nhanh chóng lan rộng trong làng trên xóm dưới. Vì đồng tiền, người ta bỏ cả hạnh phúc gia đình, dứt bỏ tình cảm để ra đi.

Không thiếu những phụ nữ đành đoạn từ giã mái ấm gia đình, khi đứa con mới sinh đầy năm, chưa dứt sữa mẹ và hai đứa con khác chỉ mới lên năm và lên ba! Đó là trường hợp của nông dân tên Cách, tâm sự ngày vợ lên đường sang Đài Loan, ngày đầu tiên xa mẹ, bé út khóc suốt ngày vì thèm sữa mẹ, những đứa khác cũng bỏ ăn vì vắng mẹ. Những ngày đầu tiên vợ vắng nhà là những ngày hết sức khổ sở, con khóc đòi mẹ, thì phải nói với con “là sáng mai mẹ sẽ về, đến sáng không thấy mẹ đâu, con lại khóc, cha lại loanh quanh rằng mẹ đã về rồi, nhưng thấy con đang ngủ say nên lại đi rồi!”

Mãnh lực đồng tiền thời bình đã làm cho vợ chồng chia cách, ruột thịt chia lìa.

Câu chuyện bắt đầu từ những năm 1990, xã Đông Tân có người làm nhân viên cho một công ty xuất cảng lao động về làng tuyển người. Ban đầu, chỉ 4-5 người đi nhưng sau đó đồng tiền do họ gửi về đã làm “thay da, đổi thịt” cho gia đình, những ngôi nhà gạch bạc tỷ khang trang được dựng lên, nhà nào cũng có TV, dàn nhạc, xe gắn máy, có khi còn cả xe hơi. Cả làng đổi đời nhờ cuộc sống ly hương. Phong trào phụ nữ sang Đài Loan nở rộ, sau này còn cả số phụ nữ đi làm việc trong các sòng bài ở Macau.

Năm 2019, xã Đông Tân có 570 người xuất ngoại, trong đó 74% là phụ nữ. Xã hiện nay có tới gần 500 gia đình cùng cảnh ngộ vắng bóng đàn bà. Nhiều người đã đi Đài Loan, sau ba năm trở về với chồng, có thêm đứa con thứ hai mới ba tuổi, nhưng quê nhà chỉ có đồng ruộng khô cằn, vợ lại trao con cho chồng, ra đi lần nữa.

Một xã khác, có đến 800 phụ nữ đi làm nghề “ôsin” nước ngoài nên cánh đàn ông rơi vào thế thúc thủ.

Đàn ông phát biểu: “Nghề nông cấy được cây lúa cho trổ bông thì gạo rẻ. Sáu tháng nghề nông giỏi lắm chỉ làm được 3 triệu đồng. Đi ôsin mỗi tháng kiếm được 10 triệu đồng, nông dân nằm mơ cũng không thấy. Vì vậy, dù chẳng hay ho gì khi để vợ đi ôsin nhưng có lẽ nhờ thế mà đại đa số gia đình ở làng này các ông chồng có vợ đi ôsin đều thành công, giàu có!”

Một người khác cho biết: “Bố mẹ tôi có sáu người con trai thì năm anh em đều có vợ đi làm ôsin ở nước ngoài, chỉ trừ vợ anh cả do ốm yếu nên ở nhà! Ngoài năm chị em dâu, chị gái ruột của tôi cũng đi làm ôsin.” Ôsin vạn tuế! Thế thì thôi, còn gì để nói nữa!

Ở đây, có những cảnh người đàn ông, sống như cây tầm gửi, sáng sáng, đến nhà chị dâu lãnh thực phẩm cho hai cha con ăn đủ trong ngày, vì vợ đi Đài Loan, Macau làm ăn từ hơn 15 năm trước, không tin chồng, người đàn bà phải nhờ chị dâu mình rót thức ăn mỗi ngày. Có ông, lúc con khóc nhớ mẹ, không biết nhờ ai, lại bồng bế đi dỗ khắp làng, cười ra nước mắt khi gặp những người đàn ông cùng cảnh ngộ. Về nhà, lại lo chuyện bếp núc, tắm rửa cho con thơ. Bây giờ, trong những ngôi làng này, “đàn ông mặc váy” đã thành câu chuyện bình thường, do cái xã hội đặc biệt này tạo ra!

Nói về câu chuyện cho đàn bà đi “xuất khẩu,” để đàn ông ở lại nhà lo chuyện nội trợ, bếp núc, may vá và cả chuyện ruộng đồng, nhiều bậc cao niên trong làng có ý kiến, rằng tuy đồng tiền quý thật, nhà cao cửa rộng, ai mà không thích, nhưng đời sống quê nhà vẫn thiếu một cái gì đó. Thương nhất là những đứa trẻ có mẹ mà cũng như côi cút. Nhiều phụ nữ sau nhiều năm trở về, con không nhận ra mẹ nữa. Đêm nào cũng nghe tiếng trẻ khóc vì thiếu mẹ, quê làng vắng tiếng ru hời.

Việt Nam hiện nay, có hàng vạn khu phố văn hóa, những ngôi làng không vợ, có được gọi là những ngôi làng văn hóa không? Dù ở những nơi này, mỗi ngày mỗi thịnh vượng, giàu có, nhà lầu san sát mọc lên, nhưng ở đây, phải nói là có điều bất bình thường. Điều này, có còn để được ca tụng đây là một chế độ đầy “nhân văn” không? Nơi đây, nhìn qua, quả là có một bộ mặt thịnh vượng, cán bộ cầm quyền đang giàu lên mỗi ngày nhờ đất, con người thì đẩy vợ đi ra khỏi nước để kiếm tiền, ngẩng mặt với làng xóm, anh em.

Nhiều quốc gia trên trái đất này, chịu những nỗi đau trong chiến tranh giống nhau, nhưng vào thời bình, không biết có quốc gia nào, chịu những nỗi buồn giống như những “ngôi làng không vợ” ở miền Bắc Việt Nam hiện nay hay không? (Huy Phương)

Nghiên cứu: Nhiều bệnh nhân chết bởi hóa trị chứ không phải ung thư

 

M.TRITHUCVN.NET
Cho đến gần đây, hóa trị và xạ trị là hai phương pháp điều trị duy nhất được chấp thuận để điều trị ung thư trong y học chính thống, nhưng ngày càng có nhiều nghiên cứu cho thấy các phương pháp điều trị này gây tổn hại cho b…..

Giọt nước tràn ly

Giọt nước tràn ly

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến (Danlambao) – …Gần đây, có lẽ, chỉ có một đảng viên cộng sản duy nhất khi sống (cũng như lúc thác) vẫn được coi là một người tốt là ông Lê Đình Kình. Nhân vật này bị giết hại một cách tàn bạo, vào rạng sáng ngày 9 tháng 1 năm 2020, và ngay hôm sau kẻ thủ ác được Đảng và Nhà Nước truy tặng huân chương chiến công hạng nhất. Tuy thế, cái chết thương tâm của ông (tựa như một giọt nước tràn ly) đã gây ra một hiệu ứng tích cực về mặt nhận thức nơi rất nhiều người…

*

Chế độ này như căn nhà xiêu vênh trên dốc

Chỉ cần một luồng gió lốc

Bạn bè ơi, có sẵn gió trong lòng?

(Nguyễn Mậu Lâm)

Khi có dịp gặp nhau, ở bất cứ nơi đâu, những người Việt tị nạn Cộng Sản vẫn thường hay sa đà vào những câu chuyện có liên quan đến vấn đề thời sự hay chính trị ở quê nhà. Bữa rồi, trong tiệc cưới, có ông mượn một thành ngữ thường nghe ở Hoa Kỳ (“The only good Indian is a dead Indian”) để lên tiếng giễu cợt: “Thằng cộng sản chỉ tốt khi nó không còn thở nữa.” Câu nói được nhiều người ngồi chung bàn người bật cười tán thưởng.

Sự thực (e) không giản dị thế đâu. Khối thằng đã chết từ lâu nhưng di hại vẫn kéo dài mãi mãi: 

Bác Hồ đang sống bỗng chuyển qua từ trần vào năm 1969 nhưng hơn một phần tư thế kỷ qua ổng vẫn gây ra hao tốn đều đều, và mỗi lúc một thêm hao. FB cho biết “ngân sách cho BQL Lăng đã tăng từ 157,300 tỷ đồng năm 2010 lên tới 318,730 tỷ đồng cho năm 2016.” Thảo nào mà số nợ công hằng năm cũng tăng theo vùn vụt.

Cái kiểu lìa đời của bác Trần Đại Quang cũng phiền nhiễu lắm. Ổng chiếm một khu lăng mộ vài chục ngàn mét vuông lận. Khoảnh đất bao la này mà mang bán cho anh Vượng Vin để xây chung cư thì số nợ công chắc cũng giảm kha khá, chứ không phải ít. Bác Phạm Văn Đồng tuy đã rời xa nhân thế khá lâu nhưng vẫn để lại một dấu ấn khó phai: Công Hàm (158). Bác Nguyễn Văn Linh và bác Đỗ Mười, tất nhiên, cũng không kém cạnh: Mật Ước Thành Đô… 

Gần đây, có lẽ, chỉ có một đảng viên cộng sản duy nhất khi sống (cũng như lúc thác) vẫn được coi là một người tốt là ông Lê Đình Kình. Nhân vật này bị giết hại một cách tàn bạo, vào rạng sáng ngày 9 tháng 1 năm 2020, và ngay hôm sau kẻ thủ ác được Đảng và Nhà Nước truy tặng huân chương chiến công hạng nhất. Tuy thế, cái chết thương tâm của ông (tựa như một giọt nước tràn ly) đã gây ra một hiệu ứng tích cực về mặt nhận thức nơi rất nhiều người:

T.S Mạc Văn TrangSự kiện đảng viên Đảng CSVN LÊ ĐÌNH KÌNH 58 tuổi đảng, 84 tuổi đời, một lý lịch đảng viên đầy chiến tích, mà không một UV Trung ương hay UV Bộ Chính trị nào hiện nay dám so sánh với Cụ, đã bị chính các đồng chí của mình sát hại, vẫn gây chấn động nhân tâm. Nhân đây, nhìn lại TÌNH ĐỒNG CHÍ của các đảng viên Đảng cộng sản thì mới rõ. ĐỒNG CHÍ = “ĐỒNG CHÓ”!

– Nhà báo Lê Phú Khải“Máu ở Đồng Tâm như một thứ thuốc hiện hình làm rõ những điều mà trước đây người ta không thể nghĩ tới! Nó là một bước ngoặt vô hình của lịch sử.

– Nhà văn Nguyên Ngọc: “Là công dân Việt Nam, là nhà văn Việt Nam, tôi tố cáo tội ác trời không dung đất không tha này trước toàn dân Việt Nam và thế giới. Tôi thiết tha kêu gọi mọi bậc trí giả trong nước và trên thế giới cùng mọi người có lương tri lên án tội ác man dại này và ngăn chặn nó có thể tái diễn bất cứ ở đâu.” 

Lời kêu gọi “thiết tha” thượng dẫn được đáp ứng tức thì: 

– BBT trang Bauxite Việt Nam lên tiếng: “Nhiệt liệt hưởng ứng lời tuyên bố nóng hổi của nhà văn Nguyên Ngọc và qua trang mạng chúng tôi cũng như nhiều phương tiện thông tin đại chúng khác, rất mong tiếng nói tố cáo trung thực của nhà văn sớm lan tỏa rộng rãi khắp trong nước và trên toàn thế giới.” 

– Thành viên của Câu Lạc Bộ Lê Hiếu Đằng gửi thư đến Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc (LHQ) kêu gọi sự can thiệp trong vụ việc Đồng Tâm: “Mong Ngài Tổng Thư ký LHQ có tiếng nói kịp thời để ngăn chặn giải pháp tàn bạo của một nhà nước vừa được đảm nhận vai trò Uỷ viên Không Thường trực của Hội đồng Bảo an LHQ nhiệm kỳ 2020-202.”

Sau bức thư lịch sử này, có thể, cụm từ “đối lập trung thành” sẽ biến mất luôn khỏi ngôn ngữ VN. Cũng từ nay – hy vọng – sẽ không còn lời kêu cầu, bản kiến nghị, hay đơn thư (tâm huyết) nào gửi đến Bộ Chính Trị, Văn Phòng Thủ Tướng hay Quốc Hội như trước nữa. Ông Hà Sĩ Phu bình luận: “Việc thảm sát đảng viên lão thành rất yêu đảng như cụ Kình là lời tuyên ngôn khai tử hình thức đấu tranh trong nội bộ đảng, cũng chấm dứt hy vọng dùng đường lối cải lương để cải biến tình hình.” 

Nguyễn Quang Lập khái quát vấn đề một cách vô cùng dung dị: “Nguyễn Trọng Tín đánh xe tới nhà tui, nói, tui nói với ông một câu rồi tui dzề: Dzụ Đồng Tâm cho biết điều quan trọng này: Thực sự chính quyền này không phải của dân. Dzậy thôi!” 

Sao “thôi ngang” như vậy được, cha nội? Chơi vậy đâu có “fair”! Nẫy giờ toàn trích dẫn ý kiến của một phe thôi – phe của những đảng viên ly khai và của đám dân đen sôi sục vì bất mãn. Còn phía Đảng và Nhà Nước nữa chớ. Để cho nó khách quan xin nghe thêm tiếng nói của chính ông TBT và ông TT hiện hành:

– Nguyễn Phú Trọng: “Không có một lực lượng nào khác ngoài ĐCSVN có đủ bản lĩnh, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn.”

– Nguyễn Xuân Phúc“Điều tôi muốn nhấn mạnh là niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng… chưa bao giờ lớn và sâu sắc như lúc này.”

 

Sự thực ra sao? Thực trạng và thực lực của Đảng CSVN hiện nay thế nào?

Hãy nghe đôi lời từ vài nhân chứng khả tín và thế giá:

– Cựu Đại Tá Nguyễn Đăng Quang“Tôi ‘thoái Đảng’ vào thời điểm hiện tượng trên còn hãn hữu, nhưng đến nay nó đã trở nên phổ biến. Các đảng viên ĐCSVN, khi nhận quyết định nghỉ hưu, thường họ không chuyển giấy sinh hoạt cho các đảng bộ địa phương, mà lặng lẽ cất kỹ dưới đáy tủ như kỷ niệm của ‘một thời đáng quên!’. Họ lặng lẽ, âm thầm thực hiện hành động đó, không ồn ào và công khai với bất cứ ai, trừ khi là bạn rất thân của nhau. Đến nay, đã bao nhiêu đảng viên cộng sản chọn cách này để ‘tạm biệt’ Đảng, không một ai có thể biết chính xác, bởi Đảng giấu rất kỹ. Nhưng theo nhiều người dự đoán, con số này ước khoảng 45%! Số còn lại, mang tiếng là ‘vẫn yêu Đảng’, nhưng thực tế đa số họ đã ‘chán Đảng’, họ miễn cưỡng phải tiếp tục ở lại sinh hoạt vì nhiều lý do khác nhau, trong đó phải kể đến lý do hàng đầu là sợ liên lụy đến con cháu, tiếp đến là sợ ảnh hưởng đến ‘sổ hưu’, tức kế sinh nhai hàng ngày của họ.”

– Nhà văn Tạ Duy Anh, một người ngoài Đảng, viết trong tác phẩm (“Dưới Bàn Tay Vô Hình”) chưa xuất bản như sau: 

“…Lần ấy P. Thắng, nhân viên chính trị của tiểu đoàn, nhận lệnh đi công tác một tháng. Theo thông lệ, cậu ta bàn giao lại việc cho tôi, nhân viên quân lực. Tuy không phải đảng viên nhưng tôi thông thuộc hết mọi thủ tục để hoàn thiện bộ hồ sơ cho một đảng viên mới, chính là nhờ một tháng làm thay ấy. 

Vốn là người chu đáo, trước khi đi, Thắng bỏ ra một buổi chiều dặn kỹ tôi phải làm gì. Bấy giờ tôi mới biết: Trọn vẹn một bộ hồ sơ để kết nạp ai đó vào đảng, từ đơn xin gia nhập đảng, lời của hai đảng viên giới thiệu, đến tất cả những trích biên bản cuộc họp, (họp quần chúng, họp chi đoàn, liên chi đoàn, chi bộ, chi ủy…) đều do nhân viên chính trị làm. 

Tức là bịa ra hoàn toàn. Càng bịa giỏi càng được coi là có năng lực… Suốt cái tháng cuối năm ấy, tôi “chế” được cả thảy hơn chục bộ hồ sơ “đẹp như mơ”, có bút tích, chữ ký của tôi với cái tên Tạ Duy Anh chưa bao giờ được công nhận về mặt hành chính. Nhiều năm sau thỉnh thoảng tôi vẫn thấy khoái trá với ý nghĩ: “Mình chỉ làm thay có một tháng, trong phạm vi một tiểu đoàn, mà đã góp cho đội ngũ trùng trùng điệp điệp hơn chục thành viên, vẻ vang là cái chắc.”

Cái “đội ngũ trùng trùng điệp” mấy triệu đảng viên CSVN, xem ra, chỉ là những con số không hồn. Nền không chắc mà tường cao thì sự sụp đổ nằm sẵn nơi đó rồi. Ấy thế mà hôm 3 tháng 2 vừa qua, họ vừa Kỷ Niệm Trọng Thể 90 Năm Ngày Thành Lập Đảng Cộng Sản Việt Nam. Rõ ràng là nguyên một dân tộc bị đè đầu cưỡi cổ gần một thế kỷ qua mà không nhóc nhách gì được cả. 

Sao thế nhỉ? 

Và liệu nghịch lý này sẽ còn kéo dài thêm bao nhiêu năm nữa? 

08.02.2020