Nguyễn Thị Dương Hà and Amy Ly shared a link.


Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)



ĐỊT MẸ TÒA!
Một thằng ăn trộm chó
Ở Hưng Yên, Văn Giang,
Không may bị tóm được,
Thế là dân cả làng
Xúm vào đấm rồi đá
Đến suýt chết, và rồi
Bị nhốt trong cũi chó.
Dân hả hê: đáng đời!
Trong khi một thằng khác,
Phó thống đốc ngân hàng,
Một quan lớn của đảng
Vĩ đại và vinh quang,
Làm thất thoát công quỹ
Mười lăm nghìn tỉ đồng.
Lạ, không thấy dân chúng
Xúm vào đánh hội đồng.
Hơn thế, cái thằng ấy
Được tòa xử tại gia.
Tức là không có án.
Thế đấy, “Địt mẹ tòa!”
*
Vậy là dân đã trút
Cái hờn giận sự đời,
Cái bức xúc xã hội
Không đúng chỗ, đúng người.
*
ĐỊT MẸ TÒA!
Tướng Vĩnh và tướng Hóa
Bị tù chỉ bảy năm.
Thằng bé ăn trộm vịt
Cũng bị tù bảy năm.
Như thế là gì nhỉ?
Như thế là thằng tòa
Có phân biệt đối xử
Giữa quan và dân ta.
Tội hai tên tướng ấy
Đáng ngựa xéo voi dày.
Vậy sao, dân tự hỏi,
Tòa xử nhẹ thế này?
Tôi nghĩ, một, vì chúng
Có rất, rất nhiều tiền.
Hai, và điều quan trọng,
Chúng có thẻ đảng viên.
Tòa sợ chúng đốt thẻ,
Làm bẽ mặt đảng ta.
Vì thế mà xử nhẹ.
Xin lỗi, địt mẹ tòa!
*
Làm tướng không chết trận,
Mà chết vì ăn tham,
Thì đó là tướng cướp.
Chỉ có ở Việt Nam.
*
ĐỊT MẸ TÒA!
Hôm qua xử phúc thẩm
Y án mười ba năm
Với anh Nguyễn Văn Túc,
Một tù nhân lương tâm.
Anh chấp nhận bản án,
Không van xin, kêu ca.
Nghe nói chỉ nhếch mép
Và chửi: “Địt mẹ tòa!”
Một câu chửi vĩ đại,
Ngay ở chốn công đường.
Chửi bộ máy tư pháp
Vớ vẩn và nhiễu nhương.
Bộ máy tư pháp ấy
Đáng chửi gấp nghìn lần.
Chỉ giỏi nâng bi đảng,
Gây oan ức cho dân.
Đừng nhắc đến công lý
Với tòa án nước ta..
Tôi, bị xử oan trái,
Cũng nói:”Địt mẹ tòa!”
*
ĐỊT MẸ TÒA
Thầy giáo Đào Quang Thực
Tòa tuyên mười bốn năm
Cộng năm năm quản chế.
Thoạt nghe tưởng nghe nhầm.
Vì thầy chỉ đơn giản
Phản đối Formosa,
Bảo vệ môi trường sống
Cho đất nước, quê nhà.
Thế mà tòa lại khép
Tội lật đổ chính quyền.
Lật được các ông khối.
Thằng tòa này bị điên.
Lại lần nữa bức xúc
Với tư pháp nước ta.
Lần nữa không kìm được,
Muốn văng: “Địt mẹ tòa!”
Thái Bá Tân
SÀI GÒN GIẢI PHÓNG
Thái Bá Tân, March 2019
Ta, đoàn quân Bắc Việt,
Như thác lũ phăng phăng,
Từ rừng rú miền núi
Tiến thẳng về đồng bằng.
Bao nhiêu năm mơ ước
Ngày giải phóng Sài Gòn
Khỏi Mỹ Ngụy áp bức,
Cặn bã và du côn.
Hừng hực lửa cách mạng,
Với lý tưởng chói ngời,
Ta hăng hái giải phóng,
Nhưng bất chợt, lặng người.
Cái ta muốn giải phóng,
Tưởng thấp hèn, xấu xa,
Giờ tận mắt thấy nó
Đẳng cấp cao hơn ta.
Một cảm giác đau buốt
Thường nhức nhối về đêm.
Ta, những người thắng cuộc,
Tự nhiên thấy yếu mềm.
Và rồi ta tự hỏi,
Ta, xẻ dọc núi non,
Được Sài Gòn giải phóng,
Hay giải phóng Sài Gòn?
*****************************
CÁCH MẠNG
Thái Bá Tân, March 2019
Mục đích của cách mạng
Vô sản và công nông
Là thông qua bạo lực
Biến của tư thành công.
Khi cách mạng thắng lợi,
Nhanh chóng hoặc từ từ,
Các quan chức cộng sản
Biến của công thành tư.
Cộng sản gây đau khổ
Cho hàng triệu, triệu người
Rốt cục để mang lợi
Cho một số ít người.
*
Một sự thật chua xót –
Các vấn đề của ta,
Cách này hay cách nọ,
Từ cộng sản mà ra.
**********************
CẢI TẠO
Thái Bá Tân, April 2019
Khi chiến tranh kết thúc,
Bên thắng cuộc, bên ta,
Bắt, đưa đi cải tạo
Các sĩ quan Cộng Hòa.
Mà diện cải tạo ấy
Nhiều lắm, nhiều vạn người.
Thời gian phải cải tạo
Đến cả chục năm trời.
Cải tạo nhằm bắt họ
Từ bỏ cái văn minh
Để đi theo cộng sản
Vĩ đại và quang vinh..
Vậy là các tướng tá,
Hàng ngày phải ngồi nghe
Mấy anh lính mông muội
Vừa mới ở rừng về.
Nghe, rồi viết “thu hoạch”
Về Mác và Lê-nin,
Để “cảm hóa”, “tiến bộ”
Và thay đổi niềm tin..
Một, niềm tin chính trị,
Khi đã chui vào đầu
Thì không thể thay đổi,
Dù cố gắng đến đâu.
Hai, người bị cải tạo
Phần nhiều học thức cao,
Người cải tạo rừng rú
Thì cải tạo thế nào?
Ba, mình đang đói khổ,
Nuôi không nhiều vạn người
Thì tiền đâu cho lại,
Hơn thế, nhiều năm trời?
Bốn, việc cải tạo ấy
Càng khoét sâu thù hằn,
Không giúp tái hòa giải,
Là cái vốn rất cần…
*
Một việc làm ngu ngốc,
Khiến nhiều người chết oan.
Cộng sản luôn ngu ngốc.
Điều ấy khỏi phải bàn.
Hậu quả việc ngu ấy
Còn đến tận ngày nay.
Phải nói, chỉ cộng sản
Mới nghĩ được trò này.
PS
Thương, cả một thế hệ
Con tướng tá Cộng Hòa
Bị phân biệt đối xử.
Có đâu như xứ ta?
*********************
ĐÃ ĐẾN LÚC
Thái Bá Tân, April 2019
Tặng hương hồn những đồng bào
bỏ mạng trên con đường tìm tự do.
Cũng phải có ai đấy
Chịu trách nhiệm chuyện này.
Chuyện thuyền nhân di tản
Mấy mươi năm trước đây?
Thường chiến tranh, loạn lạc
Mới bỏ nhà ra đi.
Tại sao ta, “giải phóng”,
Hàng triệu người ra đi?
Ra đi bằng mọi giá,
Mọi lúc và mọi nơi.
Hàng chục vạn người chết,
Bỏ mình giữa biển khơi.
Một bi kịch vĩ đại.
Một nỗi đau tột cùng.
Nạn nhân một chế độ
“Vinh quang và anh hùng”.
Một tội ác rùng rợn,
Không phải do chiến tranh,
Mà tội ác diệt chủng
Của một thời hòa bình.
Đã đến lúc lịch sử
Phải phán xét chuyện này.
Chuyện thuyền nhân di tản
Mấy mươi năm trước đây.
**************************
RÙNG RỢN
Thái Bá Tân, April 16, 2019
Rùng rợn, lính Hàn Quốc
Giết đồng bào Quảng Nam.
Càng rùng rợn, lính Mỹ
Rải chất độc da cam.
Nhưng Mỹ và Hàn Quốc
Đến tạ lỗi, xin tha.
Thì dẫu rùng rợn thật,
Người Việt Nam đã tha.
Nhưng rùng rợn hơn cả –
Nghe nói giải phóng quân,
Những người lính cách mạng,
Cũng đã từng giết dân.
Mà giết nhiều, chủ ý.
Giết chính đồng bào mình.
Không một lời xin lỗi,
Cứ bịt tai lặng thinh.
Những nỗi đau oan trái,
Những tội ác ghê người
Rồi sẽ được hóa giải,
Vì luôn luôn có trời.
*
Anh có thể lừa dối
Một trăm, một nghìn người.
Nhưng không thể lừa dối
Cả chín mươi triệu người.
Anh có thể che dấu
Một năm, hai mươi năm.
Nhưng không thể che dấu
Một trăm, hai trăm năm..
Thậm chí anh có thể
Tắt nến, kéo hết rèm
Để ngôi nhà anh sống
Luôn chìm trong bóng đêm.
Nhưng tiếc, anh không thể
Giơ tay che mặt trời.
Mặt trời mọc, soi rõ
Mặt quỉ và mặt người.
Không có gì vĩnh cửu.
Chế độ lại càng không.
Cái gì đến sẽ đến.
Đừng trốn mà mất công.
**********
30 THÁNG TƯ, 1975
Thái Bá Tân, Apr. 19, 2019
Bộ đội Miền Bắc chết
Một triệu một trăm nghìn.
Số lính Miền Nam chết –
Hai trăm tám hai nghìn.
Vì chiến tranh, dân chết –
Trên dưới hai triệu người.
Lính Miền Nam cải tạo,
Ngồi tù – một triệu người.
Trong số một triệu ấy,
Một trăm sáu lăm nghìn
Chết vì đói, lao lực,
Vì không còn niềm tin.
Trốn chạy khỏi cộng sản –
Hơn một triệu rưỡi người.
Hai trăm nghìn đã chết,
Bỏ xác ngoài biển khơi.
Từ đấy, dẫu đất nước
Hết chiến sự, bình yên,
Chín mươi triệu người Việt
Mất tự do, nhân quyền.
Vậy xin hỏi các vị:
Ngày ấy là ngày gì?
Vui mừng và kỷ niệm?
Nhưng vui mừng cái gì ?
CẬP NHẬT diễn biến dịch viêm phổi Vũ Hán (sáng 22/2)
Theo cập nhật đến 8h30 sáng ngày 22/2 từ UB Y tế Nhà nước Trung Quốc, số ca nhiễm bệnh tiếp tục tăng lên 76.288 ca (tăng 824 ca); số ca tử vong tăng thêm 109 ca, lên 2.345 người.

(*) Lưu ý: Tất cả những số liệu cập nhật tại Đại lục về số ca nhiễm, số ca tử vong, số ca bình phục … đều chỉ đến từ 1 nguồn là Uỷ ban Y tế Nhà nước Trung Quốc. Hiện chưa có nguồn độc lập nào khác có thể kiểm chứng số liệu, ngoài 1 vài mô hình nghiên cứu giả định con số thực tế có thể cao hơn con số được chính quyền Trung Quốc công bố.

YÊU THƯƠNG KẺ THÙ
ĐTGM Giuse Vũ Văn Thiên
Một câu chuyện vui kể rằng, trong buổi hội thảo giao lưu với đề tài tha thứ tại một giáo xứ nọ, vị Linh mục hỏi những người có mặt, ai trong số họ sẵn sàng tha thứ cho kẻ thù. Tất cả mọi người đều giơ tay, trừ một ông lão ngồi bên dưới.
– Chẳng lẽ cụ không thể tha thứ cho kẻ thù của mình ư?
– Tôi không có kẻ thù.
– Thật là đức độ. Thế cụ bao nhiêu tuổi rồi?
– 90 tuổi.
– Cụ hãy cho mọi người biết bí quyết sống đến 90 tuổi, mà không có một kẻ thù nào.
– Ông lão cao giọng nói: “Chỉ có một cách là phải tiêu diệt hết lũ chúng nó mà thôi!”
Sống trên đời, giữa chúng ta có nhiều khác biệt về tuổi tác, sở thích, quan điểm. Cuộc sống trần gian cũng là một mớ hỗn độn những cạnh tranh, bon chen, tính toán. Sự cạnh tranh bon chen trở nên nghiệt ngã, tới mức người ta loại trừ nhau. Trong lãnh vực thương mại ngày nay, người ta hay nói: “Thương trường là chiến trường.” Tưởng chừng đơn giản, nhưng đó là một thứ lý luận nguy hiểm, cho thấy sự ích kỷ tới mức hoang dã. Vì trong chiến trường, người lính phải đối diện với quân thù. Họ buộc phải giết đối phương để sống, vì không còn chọn lựa nào khác. Tuy vậy, trong thương trường, mưu mô gài bẫy để hủy diệt và loại trừ người khác là một thứ thương mại vô đạo đức. Danh từ “kẻ thù” được dùng để chỉ những người đối nghịch với mình. Người bị gọi là “kẻ thù”, tức người đó trở nên mối nguy hiểm cho người khác. Trong quan niệm thông thường, người ta chủ trương “không đội trời chung” với kẻ thù.
Nhưng, không kể nơi chiến trường máu lửa, thì kẻ thù là ai? Suy cho cùng, kẻ thù là người không đồng quan điểm với chúng ta. Sự khác biệt nơi những cá nhân đáng lẽ tạo ra một cuộc sống phong phú đa dạng, thì trong nhiều trường hợp lại là nguyên cớ dẫn tới đối nghịch, hiềm thù. Kết án một người là “kẻ thù” nhiều khi do chủ quan và do cái nhìn phiến diện. Nhiều người coi mình là mẫu mực, là tiêu chuẩn cho cách đối nhân xử thế, nên người nào không giống mình thì họ kết án là “kẻ thù.” Do quan niệm này, trong xã hội của chúng ta, biết bao mâu thuẫn và thậm chí có những án mạng đã xảy ra. Có những người coi nhau như kẻ thù, khi đang cùng nhau ngồi trên bàn nhậu, hay khi cùng tham dự một tiệc cưới, và vì một câu nói hay một mâu thuẫn nhỏ đã trở thành sát nhân, lấy đi mạng sống của người đồng bàn. Sự ích kỷ tham lam đã biến các thành viên trong cùng một gia đình thành kẻ thù không đội trời chung. Những anh chị em cùng máu huyết, chỉ vì vài mét vuông đất, hoặc vì không hài lòng do việc chia tài sản thừa kế, đã coi nhau như kẻ thù. Họ kiện nhau ra tòa án và không còn muốn nhìn mặt nhau. Trong bối cảnh xã hội hôm nay, người ta dễ quên tình huynh đệ, bằng hữu, làng xóm thân cận, để biến thành kẻ thù.
Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu đã mời gọi chúng ta, không chỉ yêu mến những ai làm ơn cho mình, nhưng còn yêu thương và tha thứ cho kẻ thù. Đọc Phúc Âm, chúng ta thấy, Chúa Giêsu có những đối phương. Đó là một số người biệt phái và luật sĩ. Họ là những người luôn dò xét để chỉ trích cách sống của Chúa, nhất là tương quan của Người với các tội nhân. Tuy vậy, mặc dù lên án họ với những lời nói gắt gao, không bao giờ Chúa coi họ là những kẻ thù. Chúa muốn chỉ cho họ thấy quan niệm cực đoan của họ. Người cũng mời gọi họ có cái nhìn thiện cảm với các tội nhân. Bởi lẽ, là con người, không ai hoàn thiện. Chúa cũng muốn cho họ hiểu sứ mạng của Người khi đến trần gian là để cứu vớt các tội nhân, như thày thuốc chăm sóc và giúp cho bệnh nhân được lành. Người kêu gọi: “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính” (Mt 5,44-45). “Yêu thương kẻ thù” là nét ưu việt của Kitô giáo. Trong Cựu ước, người Do Thái áp dụng luật “mắt đền mắt, răng đền răng”, tức là được phép làm cho người khác đúng như mức độ họ đã gây ra thiệt hại cho mình. Khái niệm “đồng loại” trong luật Cựu ước có ý chỉ người Do Thái, còn những người khác thì không phải đồng loại. Lời giáo huấn của Chúa Giêsu làm thay đổi quan niệm truyền thống này, đồng thời hướng tới sự tha thứ không giới hạn. Chính Chúa đã thực hiện điều Người rao giảng, khi chịu treo trên thập giá. Trong hơi thở yếu ớt lúc sắp lìa trần, Người xin Chúa Cha tha thứ cho những kẻ hành hình mình, vì họ không biết việc họ làm (x. Lc 23,34). Noi gương Chúa Giêsu, Thánh Têphanô Phó tế, vị tử đạo tiên khởi của Kitô giáo, cũng đã cầu nguyện cho những kẻ ném đá mình (x. Cv 7,60). Lời cầu nguyện ấy nói lên sự tha thứ mà vị tử đạo dành cho những người giết hại mình. Sự tha thứ ấy đã đem lại cho vị tử đạo sự bình an và thanh thản tâm hồn.
Cầu nguyện và tha thứ cho những người làm hại mình, chúng ta cũng nỗ lực để đừng trở nên “kẻ thù” của những người xung quanh. Có những người đã trở nên nỗi ám ảnh đối với môi trường sống, ví dụ hiện tượng ngày càng nhiều thanh niên “ngáo đá” do dùng ma túy. Họ trở nên nỗi sợ cho gia đình và làng xóm, khu phố. Nhiều người khác, do lối sống thực dụng, dùng mưu mô mánh lới lừa đảo, bất chấp danh dự và quyền lợi của người khác, sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn để chiếm đoạt tài sản, lỗi đức công bằng. Họ đang biến mình thành “kẻ thù” của những người xung quanh.
Để sống một cuộc đời bình an, Ông Bà chúng ta dạy: hãy thêm bạn bớt thù. Đáng tiếc, trong bối cảnh xã hội hôm nay, người ta đang có khuynh hướng làm ngược lại. Thay vì hợp tác huynh đệ để cùng nhau giảm thiểu tội ác, chung sống hòa bình, thì người ta muốn hủy diệt và loại trừ nhau. Ông cụ 90 tuổi trong câu chuyện ở đầu bài viết không có kẻ thù, không phải vì ông quảng đại tha thứ, nhưng nếu ai làm mất lòng ông thì ông sẵn sàng giết họ.
Lấy oán hận đáp lại oán hận, thì hận thù sẽ chồng chất. Giáo lý Phật giáo cũng dạy: “Hận thù diệt hận thù. Đời này không có được. Không hận, diệt hận thù. Là định luật ngàn thu” (Tức là đem hận thù diệt hận thù hay lấy oán trả oán thì oán càng thêm. Còn không đem oán trả oán thì đó mới là định luật ngàn thu). Quảng đại tha thứ, từ bỏ hận thù, chung sống huynh đệ, đó là điểm gặp gỡ chung giữa Kitô giáo và Phật giáo.
Thánh Phanxicô đã cầu nguyện với Chúa: “Xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa” (Kinh Hòa bình). Ước chi mỗi Kitô hữu chúng ta trở nên những khí cụ bình an trong cuộc sống chao đảo và đầy bạo lực này. Trước khi trở nên khí cụ bình an, mỗi chúng ta phải cảm nghiệm sự bình an tâm hồn qua việc sẵn lòng tha thứ cho anh chị em mình.
“Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Đó là lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trên thập giá. Ước chi đó cũng là lời cầu nguyện của chúng ta, mỗi khi chúng ta bị xúc phạm hoặc khinh chê. Chúng ta chỉ có thể thốt lên lời cầu nguyện này, nếu cuộc sống chúng ta thấm đượm tinh thần của Tin Mừng, và Lời Chúa luôn cư ngụ dồi dào trong tâm hồn chúng ta, nhờ đó, chúng ta có cái nhìn yêu thương như cái nhìn của Chúa và trái tim quảng đại như trái tim của Người.
ĐTGM Giuse Vũ Văn Thiên
From: Langthangchieutim


Vì đâu người Vũ Hán ồ ạt tháo chạy trong tuyệt vọng trước đại dịch?
Vì đâu người Vũ Hán ồ ạt tháo chạy trong tuyệt vọng trước đại dịch?
Người ta sống trên đời, rất nhiều vấn đề đều có thể mạnh miệng, nhưng đối diện với sinh tử lại không nói được lời nào. Vậy nên khi đại nạn ập đến, con người chỉ biết tháo chạy trong hoảng loạn…
Vào giữa thế kỷ 17, đại dịch “Cái chết đen” nghiêm trọng chưa từng thấy xảy ra ở châu Âu, khiến dân số châu Âu trong vòng chưa đầy một năm đã giảm đi một nửa. Nước Anh và khu vực phía nam trung tâm thành phố London là nơi chịu ảnh hưởng nặng nề. Tuy nhiên có một điều kỳ lạ là phần phía Bắc của nước Anh lại may mắn tránh khỏi đại họa. Điều gì đã mang đến phép mầu ấy?
Ở khu vực giáp biên giới phía Nam và Bắc bán đảo Anh có một ngôi làng tên là Eyam. Sau khi một thương gia trở về từ London mang theo bệnh “Cái chết đen”, dịch bệnh đã lây lan khiến 344 người trong thôn ai nấy đều hoang mang lo sợ, dân làng nhốn nháo muốn chạy trốn về phía Bắc.

Khi cả làng đang lục đục rời đi, một vị Linh mục tên là William Mompesson đã bước ra phản đối. Ông nói: “Không ai trong chúng ta biết rằng dân phía Bắc có nhiễm bệnh hay không. Nếu đã nhiễm bệnh, dù chạy trốn hay không đều phải chết, thoát khỏi nơi đây nhất định sẽ làm nhiều người hơn nữa bị lây nhiễm. Xin mọi người hãy ở lại, mang sự nhân lành của chúng ta truyền tới đời sau, để các thế hệ tương lai được ban phước lành, nhân họa đắc phúc”.
Nghe lời vị Linh mục, mọi người trong làng đều đồng ý ở lại. Họ cùng nhau xây một bức tường đá ở cổng ra vào phía Bắc để ngăn không cho ai vượt ra ngoài.
Và những gì xảy ra tiếp theo thật vô cùng bi thảm. Dịch bệnh nghiêm trọng đã khiến nhiều người đã lần lượt bỏ mạng. Cho đến khi đại dịch qua đi, ngôi làng với 344 người chỉ còn lại 33 người sống sót, trong đó hầu hết là những đứa trẻ chưa thành niên. Vị Linh mục cũng đã chết, tuy nhiên quyết định sáng suốt của Ông đã ngăn không cho dịch bệnh lây lan tới phía bắc, để lại một hậu hoa viên cho nước Anh.

Trước khi lìa đời, mỗi bệnh nhân đều phải viết lời khắc trên bia mộ mình, nhờ đó mà ngôi làng xinh đẹp Eyam mới có những dòng chữ thấm đầy nước mắt trên hơn 300 bia mộ.
Bia mộ của Linh mục Mompesson chỉ viết một câu:“Xin hãy đem nhân lành truyền tiếp đời sau”.

Trên bia mộ của một vị Bác sĩ viết cho người vợ đang xa cách của ông là dòng chữ: “Xin hãy tha thứ vì anh không thể cho em nhiều tình yêu hơn nữa, bởi vì họ cần tới anh”.
Một người tên Ryder viết cho con gái:“Con thân yêu, con đã chứng kiến sự vĩ đại của cha mẹ và dân làng”.
Đây được gọi là sức mạnh của tín ngưỡng, của niềm tin. Cho dù cận kề cái chết, họ vẫn để lòng nhân tỏa sáng, cũng không để mất đi tình yêu thương dành cho người khác. Sự khác biệt giữa có tín ngưỡng và không có tín ngưỡng chính là: Người có tín ngưỡng sống là người, người không có tín ngưỡng sống là mệnh.
Ngày hôm nay, người dân Vũ Hán đang liều mình trốn chạy, trong khi các vùng lân cận lại tìm cách ngăn chặn trong tuyệt vọng. Đó không chỉ là câu chuyện của riêng Vũ Hán vốn là trung tâm vùng dịch, mà giới nhà giàu trên khắp Trung cộng cũng đang tìm con đường đào thoát khỏi quê hương. Đến bất cứ nơi đâu ta cũng thấy một cảnh tượng thê lương hỗn loạn: Người bên trong giẫm đạp lên nhau mà tháo chạy, còn người bên ngoài thì đóng cửa, quay lưng.
Người Trung cộng hôm nay là thế, khi phải đối diện với sinh tử họ đã không còn gì để mất, và vì để bảo mệnh họ đã lựa chọn cách hành xử như mất hết tính người.
Vì sao gọi là ‘bảo mệnh’? Người dân Vũ Hán vì để bảo toàn tính mạng của chính mình mà liều mình trốn chạy, nhưng người dân các vùng lân cận cũng vì muốn bảo toàn tính mạng mà xua đuổi, chặn đường.
Đã có nhiều cuộc tranh cãi gay gắt về việc nên đối xử với Vũ Hán như thế nào. Một số ít ý kiến cho rằng nên ân cần và từ bi với họ, trong khi phần lớn lại có ý kiến rằng nên có biện pháp ngăn chặn thẳng thừng.
Có câu chuyện kể rằng, một số chủ nhà Thượng Hải vì không thể chống đỡ được nên đã bất đắc dĩ đóng cửa nhà để từ chối người Vũ Hán. Trên Weibo, có một người đàn ông Vũ Hán chạy trốn sang Thượng Hải đăng video than phiền rằng: “Tôi không ăn được, cũng không uống được”.
Một người Vũ Hán chạy trốn tới Thanh Đảo và ngồi ở các toa tàu điện ngầm, kết quả phát hiện anh ta là một người nhiễm bệnh. Mặc dù anh ta không hoàn toàn đại diện cho 4 triệu người Vũ Hán đã chạy trốn khỏi thành phố, nhưng chắc chắn đó không phải là trường hợp ngoại lệ.
Một người Tứ Xuyên trở về từ Vũ Hán không may bị đồng hương tố giác, không ai muốn chấp nhận, không ai muốn lại gần chỉ vì anh ta đã từng ở nơi dịch bệnh.
Người ta sống trên đời, với một số vấn đề nhất định thì có thể mạnh miệng, nhưng đối diện với sinh tử lại không nói được gì. Dù là nông dân hay trí thức, nghèo hèn hay sang giàu, đều sẽ phải một lần đối diện. Rất nhiều người ngày thường hô lớn chủ nghĩa vô Thần, tập hợp mọi người lại để phát biểu, ba hoa khoác lác, nhưng khi mạng sống sắp mất đi họ lại lo sợ cuống cuồng, chạy vạy khắp nơi mong tìm “phương thuốc” để kéo dài mạng sống.
Nhưng dù lựa chọn như thế nào, thì sau tất cả vẫn để lại cho chúng ta một nỗi xót xa. Đó là: Khi một dân tộc mất đi tín ngưỡng, đối diện với thiên tai nhân họa, thì dù có cố gắng chạy trốn hay ngăn chặn, mỗi người đều đang tuyệt vọng tìm đường sống cho mình.

Cổ nhân có câu: “Cùng tắc độc thiện kỳ thân, đạt tắc kiêm tể thiên hạ”, tạm hiểu là: Bần cùng giữ được mình, thành đạt thì tạo phúc cho thiên hạ. Trong cảnh nghèo hèn, bất đắc chí, điều quan trọng chính là giữ được tấm thân trong sạch, không ngừng tu nhân, tích đức và sống lương thiện, có như vậy mới có thể tạo phúc cho thiên hạ sau này. Đây đều thuộc về tín ngưỡng văn hóa đã lưu truyền qua hàng nghìn năm…
Người Tây phương tin vào Thiên Chúa, họ bình tĩnh trước cái chết, tin tưởng rằng sau khi chết linh hồn sẽ lên Thiên đường, do đó đối mặt với tử thần họ không hề sợ hãi… Họ nói: “Bạn chưa thấy Thiên đường, bạn có thể cho rằng không có Thiên đường. Nhưng bạn cũng chưa từng chết, làm sao bạn dám chắc người chết sẽ không có linh hồn để đi tới Thiên đường hay Địa ngục đây?”.

Nhưng thật không may, thứ tín ngưỡng được gọi là “chỉ vì mạng sống” của người dân Trung cộng lại dựa trên học thuyết vô Thần. Vậy nên họ không dám đối diện cái chết, tại điểm cuối của sinh mệnh ở trong sợ hãi và mờ mịt mà trôi qua.
Một triết gia nổi tiếng nước Đức là Immanuel Kant từng nói: “Khuyết điểm của một người xuất phát từ thời đại của anh ta, nhưng đức hạnh và sự vĩ đại thuộc về chính anh ta”.
Người Vũ Hán có nên chạy khỏi Vũ Hán hay không? Có lẽ chúng ta không nên chỉ trích bởi khuyết điểm của họ là thuộc về thời đại, tuy nhiên cũng rất khó để đồng tình với sự trốn chạy này. Tương tự như vậy, chúng ta cũng thông cảm với người dân các vùng lân cận khi họ không sẵn lòng tiếp đón, bởi vì khuyết điểm của họ cũng thuộc về thời đại.

Cùng là cái chết, có người trong sợ hãi mờ mịt mà qua đời, có người lại trong ao ước lên Thiên đường mà rời khỏi dương gian. Nhìn thấy người nhiễm bệnh ở Trung cộng sợ hãi trước khi chết, lại thấy các tín đồ Thiên Chúa Giáo bình tĩnh chờ đợi thời điểm về với Chúa, ta mới hiểu rõ: Thì ra thống khổ lớn nhất của những người Vũ Hán không phải trên thể xác, mà là ở tâm hồn, một tâm hồn héo úa không có tín ngưỡng, không có niềm tin.
Sinh tử không phải chỉ là lời nói huênh hoang, người Trung cộng hiện nay, thực sự cần một tín ngưỡng, cần một tín ngưỡng cao thượng đúng đắn.
Kiên Định
From: thanhlamle.le & NguyenNThu
Lấy khoan dung đáp trả hận thù
(Suy niệm Tin mừng Mát-thêu (5, 38-48) trích đọc vào Chúa nhật 7 thường niên)
Qua Tin mừng hôm nay, Chúa Giê-su đề xuất một giải pháp tối ưu để dập tắt bạo lực và hận thù trong đời sống con người. Đó là: “Đừng chống cự người ác, trái lại, nếu bị ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái ra luôn” (Mt 5, 39).
Trước lời dạy nầy, những người nông nổi cho rằng làm như thế là nhu nhược, hèn nhát, yếu đuối… Thế mà một nhân vật lịch sử vĩ đại là Mahatma Gandhi, người anh hùng của dân tộc Ấn Độ, người lãnh đạo cuộc đấu tranh giành độc lập cho nhân dân Ấn, đã áp dụng lời dạy khôn ngoan này của Chúa Giê-su vào công cuộc đấu tranh bất bạo động của mình, nhờ đó, ông đã giành lại độc lập cho dân tộc Ấn khỏi ách thống trị của thực dân Anh cách êm thắm, nhẹ nhàng. [1]
Ngoài ra, lời dạy tiếp theo của Chúa Giê-su “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em” cũng làm cho nhiều người cho là không tưởng, không mấy ai làm được.
Vậy mà Martin Luther King, nhà lãnh đạo tài ba của phong trào chống kỳ thị chủng tộc tại Mỹ, lại chọn lời khuyên quý báu này làm kim chỉ nam cho cuộc đấu tranh đòi quyền bình đẳng cho người Mỹ da đen và đã đạt được thắng lợi vẻ vang.
Martin Luther King sinh năm 1929 là một mục sư người Mỹ gốc Phi.
Chính vì đứng lên đòi quyền bình đẳng cho người Mỹ da đen trước sự kỳ thị của người da trắng, nên vào ngày 30 tháng 1 năm 1956, nhà riêng của King bị người da trắng đánh bom. Thế là những người ủng hộ King giận dữ tụ tập đông đảo trên con đường trước nhà ông. Họ tự vũ trang với dao, súng, gậy gộc, gạch đá và chai lọ… với quyết tâm báo thù. Trước bầu khí hừng hực đòi trả thù báo oán của những người da đen ủng hộ mình, King lên tiếng nói với họ:
“Xin các bạn đừng hốt hoảng, đừng làm bất kỳ điều gì trong giận dữ! Ai đang mang vũ khí, xin hãy đem về! Ai không có vũ khí, xin đừng sử dụng chúng. Chúng ta không thể giải quyết vấn nạn này bằng những vụ bạo động, trả đũa… Chúng ta phải yêu thương những người anh em da trắng bất kể họ đã làm gì đối với chúng ta. Chúng ta phải hành động để họ biết rằng chúng ta yêu họ. Giáo huấn của Chúa Giê-su vẫn còn vang vọng đến hôm nay: “Hãy yêu thương kẻ thù, hãy chúc phúc cho kẻ rủa mình và cầu nguyện cho kẻ sỉ nhục mình.” Đó là điều chúng ta phải làm. Chúng ta phải lấy tình yêu mà đáp trả lòng thù hận” (Lu-ca 6, 27,28).
Thế là nhờ thực hành lời Chúa Giê-su dạy hãy lấy tình thương đáp trả hận thù, Martin Luther King đã đạt thắng lợi vẻ vang trong công cuộc đòi bình đẳng cho người da đen bị người da trắng áp bức bất công và đạt được thành công cách êm thắm.
Búa tạ giáng vào đá có thể làm cho đá cứng vỡ tan, giáng vào tường có thể làm cho tường sụp đổ nhưng giáng vào nước thì không thể làm cho nước hư hao, giáng vào bức màn, không thể làm cho màn rách nát. Sự hung bạo cứng rắn của búa không thắng được sự mềm mại của nước, không thắng được sự dịu dàng của bức màn.
Bão tố, cuồng phong có thể quật ngã những cây cổ thụ cao lớn nhưng không thể bẻ gãy loài lau sậy yếu mềm.
Vậy thì chúng ta cũng hãy lấy sự dịu hiền, mềm mại và lòng bao dung để chiến thắng những tấn công thô bạo, hung hãn của người khác. Nghệ thuật nhu thắng cương là thế.
*
Lạy Chúa Giê-su,
Nếu chúng con dùng bạo động và hận thù để đáp trả bạo động hận thù, thì bạo động và hận thù sẽ dâng cao; trái lại, nếu chúng con dùng sự khoan dung, tha thứ mà đáp trả… thì bạo động và hận thù sẽ bị dập tắt.
Xin cho chúng con ghi khắc quy luật ngàn vàng này vào tâm khảm và đem ra áp dụng trong cuộc sống hằng ngày, nhờ đó, chúng con sẽ tránh được nhiều đau thương đổ vỡ trong đời sống và cuộc đời sẽ chan hòa hoan lạc và niềm vui.
Linh mục Inhaxiô Trần Ngà
Tin mừng Mát-thêu 5, 38-48
38 “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Mắt đền mắt, răng đền răng.39 Còn Thầy, Thầy bảo anh em: đừng chống cự người ác, trái lại, nếu bị ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái ra nữa.40 Nếu ai muốn kiện anh để lấy áo trong của anh, thì hãy để cho nó lấy cả áo ngoài.41 Nếu có người bắt anh đi một dặm, thì hãy đi với người ấy hai dặm.42 Ai xin, thì hãy cho; ai muốn vay mượn, thì đừng ngoảnh mặt đi.
43 “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù.44 Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. 45 Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính.46 Vì nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì anh em nào có công chi? Ngay cả những người thu thuế cũng chẳng làm như thế sao?47 Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì anh em có làm gì lạ thường đâu? Ngay cả người ngoại cũng chẳng làm như thế sao?48 Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.
Bất khoan dung
Nếu chúng ta không chấp nhận giáo lý khoan dung và tha thứ của Chúa Giê-su, thì hậu quả sẽ thế nào?
Khi người ta quai búa tạ vào tảng đá cứng, đá sẽ dùng sự cứng rắn của mình để kháng cự lại búa, hậu quả là đá sẽ nứt vỡ ra, bị nghiền tán ra. Đá bị thất bại hoàn toàn!
Nhưng khi người ta quai búa giáng mạnh xuống hồ nước, nước sẽ dùng sự mềm mại của mình để vô hiệu hoá sức mạnh của búa. Nước không hề hấn gì nhưng búa thì sẽ bị chìm lĩm xuống tận đáy hồ. Thế là nước thắng lợi vẻ vang!
Khi gặp bão táp cuồng phong, những cây cổ thụ cao lớn cứng cáp dùng sự cứng rắn mạnh mẽ của mình để kháng cự lại bão tố. Hậu quả là chúng bị gãy cành, trốc gốc. Trong khi đó, những rặng tre, những cây lau sậy không hề kháng cự lại bão tố, nhưng dùng sự mềm dẻo của mình để uốn theo chiều gió nên chúng được an toàn.
[1] https://vi.wikipedia.org/wiki/Mahatma Gandhi, mục: Tôn giáo)