Từ Virus Vũ Hán đến COVID – 19: Chiến dịch “gắp lửa bỏ tay người”

Từ Virus Vũ Hán đến COVID – 19: Chiến dịch “gắp lửa bỏ tay người”

Nguyễn Hoàng
2020-03-15

Hình minh hoạ. Bệnh nhân bị nhiễm COVID - 19 đã bình phục xếp hàng chờ xét nghiệm lại tại thành phố Vũ Hán, Trung Quốc hôm 14/3/2020

Hình minh hoạ. Bệnh nhân bị nhiễm COVID – 19 đã bình phục xếp hàng chờ xét nghiệm lại tại thành phố Vũ Hán, Trung Quốc hôm 14/3/2020

 AFP

Những ngày cuối tuần qua, những ai có lương tri đều không khỏi bất ngờ trước sự tráo trở đáng kinh ngạc của Trung Quốc. Ngày 14/3/2020, chính phủ Mỹ đã triệu tập đại sứ Trung Quốc Thôi Thiên Khải tới Bộ Ngoại giao để phản đối luận điệu của chính quyền Bắc Kinh: i) ám chỉ quân đội Mỹ gây ra đại dịch Covid-19 và ii) tìm cách làm cho thế giới quên khái niệm “Virus Vũ Hán”. Trợ lý ngoại trưởng Mỹ phụ trách các vấn đề Đông Á – Thái Bình Dương David Stilwell, đã nêu lập trường nghiêm khắc của chính phủ Mỹ với đại sứ Thôi Thiên Khải.

Qua tuyên bố của người phát ngôn, Bộ Ngoại giao Mỹ, vạch rõ Trung Quốc đang cố đánh lạc hướng các chỉ trích liên quan đến trách nhiệm của Bắc Kinh gây ra đại dịch toàn cầu nhưng lại muốn “gắp lửa bỏ tay người”, đổ trách nhiệm ấy cho phía Mỹ. Theo phát ngôn viên của chính quyền Trump, dựng lên thuyết âm mưu ấy là ý đồ nguy hiểm và nực cười của Trung Nam Hải. Chính phủ Mỹ sẽ không tha thứ cho hành động này, vì lợi ích của chính dân Trung Quốc lẫn cộng đồng quốc tế.

Và chính cái ngày 14/3/2020 đã đi vào lịch sử như một trong những ngày đáng ghi nhớ trong đợt chống dịch khẩn trương này. Ngày 14/3, chủ tịch Hiệp hội Y tế Ý vừa qua đời vì Virus Vũ Hán. Phu nhân của Thủ tướng Canada bị dương tính với con virus này và bản thân ông Thủ tướng cũng bị cách ly. Bộ trưởng Úc, bộ trưởng Pháp đều bị dương tính với Virus Vũ Hán cách đó vài ngày. Luật sư của Tổng thống Brazil bị lây nhiễm nhưng bản thân Tổng thống vẫn chối bỏ tin ông bị dương tính.

Ban Lan chính thức đóng cửa biên giới và cho cảnh sát đi tuần trên toàn quốc để bảo đảm không cho ai ra ngoài đường. Một số nước trên thế giới thừa nhận, cho đến thời điểm 14/3, chưa chữa được bất kỳ một ca Virus Vũ Hán nào. Con Virus này đã đổ bộ lên đất châu Phi, nâng tổng các quốc gia bị lây nhiễm lên 146. Cho đến nay, Anh là nước duy nhất khá hờ hững với virus corona và dám tuyên bố, nước mình có cách đối phó chống dịch khác biệt với thế giới. Dư luận cho rằng, nước Anh sẽ hối hận và trả giá đắt vì điều này.

Từ hơn một tuần lễ nay, Trung Quốc đã tung ra một chiến dịch ngoại giao và truyền thông, đã vận động cấp tập để bắt đầu xóa khỏi ký ức tập thể của cả người Trung Quốc lẫn người nước ngoài, về nguồn gốc và bản chất Trung Quốc của Virus Vũ Hán. Các đại sứ Trung Quốc ở các nước đều phải dùng tài khoản Twitter của mình (vốn bị cấm ở trong nước) để truyền đi thông điệp với nội dung “Cho dù con virus corona đã xuất phát từ Vũ Hán, nhưng nguồn gốc thực sự của nó vẫn chưa được biết. Chúng tôi đang cố gắng tìm hiểu xem chính xác virus đến từ đâu

Đã có nhiều nghi vấn chủng virus mới này là nhân tạo và xuất hiện từ phòng thí nghiệm P4 của chính phủ Trung Quốc ở Vũ Hán. Hẳn nhiên Trung Quốc đã phản đối. Vừa qua là giai đoạn gieo rắc nghi ngờ để giúp nuôi dưỡng đủ loại thuyết âm mưu đang được lan truyền hiện nay, rằng Virus Vũ Hán có nguồn gốc từ… Mỹ! Thậm chí đại sứ quán Trung Quốc ở Tokyo tuần trước còn gửi cho tất cả các Hoa kiều tại Nhật một số chỉ thị cần áp dụng, nếu phải đối phó với “Virus Nhật Bản”. Cứ như là con Virus Vũ Hán sau khi tràn sang Nhật đã nhập quốc tịch Nhật Bản.

Theo đà quán tính ấy, đối với ĐCSTQ, việc bị điểm mặt chỉ tên là nguồn gốc phát sinh ra virus corona chủng mới là không thể chấp nhận được. Tất cả những gì chỉ ra mối liên hệ giữa Trung Quốc và con virus này cần phải được đặt dấu hỏi và sau đó phải xoá bỏ mối liên hệ này ra khỏi tất cả sử sách và trí nhớ của loài người. Trong số những vụ tẩy xóa lịch sử khác kể từ năm 1949, Bắc Kinh thành công nhất là xóa được vụ thảm sát Thiên An Môn năm 1989 ra khỏi tâm trí của tất cả các thế hệ được sinh ra sau sự kiện đó.

Và như thường lệ, luận điệu được đưa ra sẽ là nhờ có ĐCSTQ mà đại dịch Covid-19 được kiểm soát, còn các nước khác thì đang vất vả chống dịch. Hai giáo sư Tàu mới đây còn tuyên bố, chủ nghĩa Mác sẽ đánh bại con virus corona! Tờ báo hung hăng nhất của ĐCS là “Global Times” tuần rồi còn nhấn mạnh “các nước châu Âu không thể nào áp dụng được những biện pháp triệt để như Trung Quốc”. Ý muốn nói chế độ cai trị của Bắc Kinh là ưu việt hơn các chế độ dân chủ phương Tây.

Trước các chiến dịch tuyên truyền như vậy của Bắc Kinh, nhà Trung Quốc học Steve Tsang, giáo sư Viện Trung Quốc từ London giải thích: “ĐCSTQ luôn muốn độc quyền sự thật, độc quyền lịch sử và họ chối phăng việc che giấu nạn dịch ngay từ đầu. Các quan chức đảng luôn nghĩ rằng mình có lý, ngay cả khi họ sai rành rành. Những “sự thật” theo kiểu Trung Quốc cần phải được đặt lại ở phương Tây. Chính tất cả thế giới dân chủ, phải vạch trần luận điệu tuyên truyền này của ĐCSTQ”.

Lịch sử đã từng tiên tri và dự ngôn về năm 2020. Cuốn tiểu thuyết viễn tưởng kinh dị xuất bản gần 40 năm trước (1981) đang gây bão trên mạng khi mô tả về loại virus chết người có nguồn gốc từ Vũ Hán. Tên cuốn sách “The Eyes Of Darkness” (Đối mắt của bóng đêm) đã dự báo về đại dịch Covid-19. Thật ra, đây là một cuộc thanh toán giữa cái thiện và cái ác chất chồng từ lịch sử. Quốc gia nào trên thế giới có lòng hổ thẹn sẽ không a dua theo các nhà độc tài Trung Quốc, còn những nhà lãnh đạo xứ nào đó, có thể hành động ngược lại. Điều này, tuỳ vào phúc phận dày hay mỏng, may hay rủi của từng quốc gia – dân tộc!

Ông Lê Đình Kình là ‘khủng bố?’ – Huy Phương

Ông Lê Đình Kình là ‘khủng bố?’

Huy Phương

Hơn hai tháng nay, đại dịch COVID-19 hoành hành làm cho dân Việt, nhất là dân Hà Nội, quên mất chuyện ông Lê Đình Kình và biến cố Đồng Tâm. Nhưng điều làm chúng ta nhớ nhất, là ngày 17 Tháng Giêng năm 2020, Bộ Công An CSVN đã ra thông báo phong tỏa trương mục ngân hàng Vietcombank của bà Nguyễn Thúy Hạnh với số tiền hơn $38,791, do gần 800 người, vì thương cảm hoàn cảnh của ông Lê Đình Kình mà đóng góp. Lý do, theo công an CSVN, đây là số tiền đóng góp để “tài trợ cho hoạt động khủng bố!”

Thứ trưởng Bộ Công An CSVN cũng đã “lẹo lưỡi” nói rằng “Như chúng tôi đã công bố, các đối tượng trong vụ việc này đã khai nhận việc quyên góp và sử dụng tiền quyên góp để mua sắm vũ khí, vật liệu nổ, sản xuất vũ khí thô sơ và đã dùng để tấn công lại lực lượng chức năng.” Liệu một người dân đầu óc bình thường có thể tin vào lời kết án này không?

Đây là một thủ đoạn gán ép cố hữu của nhà nước cộng sản lâu nay, mà chúng ta nghe đã nhàm chán. Cộng Sản áp dụng những điều luật vô lý để áp đảo những người dân bất đồng chính kiến, với những tội tày trời như làm gián điệp cho ngoại bang, âm mưu lật đổ chính quyền, khủng bố, mà trong tay những người dân này, ngoài một hai tấm biểu ngữ, không súng đạn, không bom mìn, không giáo mác, cũng chẳng có chứng cớ gì là có bàn tay của ngoại quốc dính vào.

Năm 1960, trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm, Nguyễn Hữu Đang cùng với nhiều văn nghệ sĩ, trí thức chỉ có trong tay một ngòi bút, cũng bị coi là “phản đảng,” “đầu cơ cách mạng.” Cùng nhà văn Thụy An, Nguyễn Hữu Đang bị kết án 15 năm tù vì tội “phá hoại chính trị,” “làm gián điệp cho ngoại bang…”

Giờ đây, ông Lê Đình Kình lại là một tên khủng bố sao?

Theo định nghĩa, khủng bố là hoạt động phá hoại, làm thiệt mạng người, gây hoang mang khiếp sợ cho tâm lý hoặc tổn thất cho xã hội và cộng đồng, nhằm mục đích chính trị hoặc tôn giáo. Khủng bố đặc biệt sử dụng bạo lực bừa bãi đối với những người không có khả năng chống cự với mục đích là sự nổi tiếng cho một nhóm, một phong trào, hoặc một cá nhân. Các tổ chức khủng bố có thể khai thác nỗi sợ hãi của con người để hỗ trợ đạt được những mục tiêu này.

Ngày 15 Tháng Tư, 2013, hai quả bom nổ tại cuộc đua Marathon ở Boston, giết chết 3 người và làm bị thương 282 người khác.

Vào ngày Thứ Tư, 2 Tháng Mười Hai, 2015, quân khủng bố xả súng bắn vào người dân Mỹ dự tiệc Giáng sinh của Trung Tâm Xã Hội Inland Regional Center phục vụ trẻ khuyết tật, tại thành phố San Bernardino, California, làm 14 người chết và 21 người bị thương.

Ông Lê Đình Công, con ông Lê Đình Kình, với gương mặt bầm tím vì bị tra tấn khi công an đưa lên truyền hình VTV “nhận tội.” (Hình chụp qua màn hình)

Một vụ tấn công bằng súng diễn ra vào lúc 2 giờ sáng ngày 12 Tháng Sáu, 2016, tại một hộp đêm ở Pulse, Orlando, Florida, nhắm vào người đồng tính làm 49 người thiệt mạng, 52 người bị thương.

Ngày 7 Tháng Giêng, 2015, ba tay súng tự xưng là thành viên Al-Qeada xông vào và xả súng ở tòa soạn tạp chí châm biếm Pháp Charlie Hebdo tại Paris, khiến 12 người, trong đó có tổng biên tập, thiệt mạng, và 10 người bị thương.

Tối 14 Tháng Mười Một, 2015, ba vụ nổ riêng biệt và 6 vụ nổ súng đã được báo cáo xung quanh thủ đô, trong đó có một vụ đánh bom gần Stade de France ở vùng ngoại ô Saint-Denis, tại nhà hát Bataclan và ít nhất là 4 tiệm ăn. Ít nhất 132 người đã thiệt mạng và 352 người bị thương.

Ngày 14 Tháng Bảy, 2016, đúng ngày Quốc Khánh của Pháp, một xe tải lớn đâm vào đám đông xem pháo bông ở thành phố Nice, giết chết 84 người và làm 50 người bị thương.

Tất cả những thảm kịch trên đây hay những hành động như gài bom trên máy bay, xe lửa, ném lựu đạn vào đám đông, đặt mìn bẫy trên đường lộ… đều được xem là những hành vi khủng bố! Ông Lê Đình Kình đã hành động ra sao để đủ yếu tố cho nhà cầm quyền ghép ông vào loại khủng bố?

Đồng ý là phong tỏa các trương mục, tài sản của khủng bố là việc quốc gia nào cũng phải làm. Hàng năm, phương Tây đã phong tỏa tài chính và tài sản hàng trăm triệu đô la của những tổ chức có liên hệ với chủ nghĩa khủng bố, Nhà Nước Hồi Giáo IS và các nhóm khủng bố thuộc mạng lưới Ai-Qaeda.

Nhưng ở đây, một ông già lãnh đạo quần chúng, nói cho lớn lao, chứ đây chỉ là mươi gia đình có quyền lợi đất đai trong xã Đồng Tâm, bị cường quyền viện lý do quốc phòng cướp đất, đã tin cậy, nhờ đến một người lớn tuổi trong làng, có nhiều tuổi đảng. Dân Đồng Tâm không có súng ống, bom mìn, chỉ có dao rựa nông nghiệp và một vài quả lựu đạn lép như quả na khô, nằm trong tay ông Kình khi chết. Chết rồi mà tay còn nắm chặt quả lựu đạn. Ghê thật!

Ông Kình không giết ai, nhưng chính ông bị giết, đem xác về đồn công an, mổ xẻ, may vá xong lại cho đem về nhà, ruột còn dấu khâu, mà lại là một tên khủng bố nguy hiểm?

Với lý do ông Lê Đình Kình là một tên khủng bố, trương mục giúp đỡ gia đình ông bị phong tỏa, sẽ đưa đến chỗ bị tịch thu. Trong chế độ này, những người đương đầu với chính quyền như ông sẽ bị tiêu diệt, tiền bạc sẽ bị sung công quỹ, nhưng đảng Cộng Sản không thể chà đạp lên danh dự của ông. Nếu không được gỡ bỏ cho chuyện mạ lỵ, áp đặt tiếng ác cho người lương thiện, rồi đây gia đình ông Kình sẽ chịu miệng tiếng đời đời là con cháu một tên khủng bố hay sao?

Ở trong các quốc gia độc tài, toàn trị Cộng Sản, việc triệt tiêu các tiếng nói đối lập từ quần chúng, cá nhân bất đồng chính kiến, hoặc gây bất lợi cho đảng và nhà nước không khó.

Staline, Putin, Mao Trạch Đông, Kim Jong Un hay Hồ Chí Minh, Lê Duẫn đã từng thanh trừng mọi tầng lớp trong đảng và trong cả nước chuyên truy lùng, thủ tiêu, các nhà đối lập, và nhẹ là thường bị tống giam trong các “trại lao nô” hay cho vào nhà thương điên. Cho nên đối với những thành phần bị quy chụp là gián điệp, âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân hay khủng bố hãy còn là những lối kết tội ở mức thấp.

Khủng bố có thể là phương thức của kẻ yếu, lấy ít thắng nhiều, tấn công đột kích, bất ngờ và táo bạo, nhưng khi một nhà nước kiểu nhà nước Cộng Sản độc tài, độc tôn, có phương tiện bạo lực trong tay, đã có chủ trương trấn áp, khủng bố công khai, rồi sau đó kết án, vu vạ để bịt miệng người dân bất dồng chính kiến thì dân lành không sao chống trả nỗi!

Vụ Đồng Tâm và cái chết của ông Lê Đình Kình là một vụ “khủng bố” tiêu biểu, ở đây ai là kẻ chủ trương khủng bố, ai là nạn nhân của khủng bố, thì độc giả của tôi hẳn đã có câu trả lời! (Huy Phương)

Đảng, Đảng Viên & Tuổi Đảng

Đảng, Đảng Viên & Tuổi Đảng

1 dang vien

Đảng thực chất chỉ là đảng cướp.

Nguyễn Chí Thiện


CHXHCNVN, có lẽ, là nơi duy nhất mà danh tính của một cá nhân lại luôn kèm theo tuổi … đảng:

– Lê Khả Phiêu 71

– Nguyễn Thị Bình 73

– Lê Đình Kình 58 …

Trong một xứ sở theo chế độ đảng trị thì thâm niên tuổi đảng quả là một thuộc tính rất đáng kể, và đáng nể. Chả thế mà vào ngày 26 tháng 8 năm 2019, tất cả cáo báo đài nhà nước đều hớn hở loan tin:

“Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương đã tới dự và trao Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng tặng nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu. Tham dự buổi lễ có các Ủy viên Bộ Chính trị, các lãnh đạo Văn phòng Tổng bí thư, các đồng chí Ủy viên Thường vụ Quân ủy …”

Đồng chí Lê Khả Phiêu được toàn Đảng ưu ái không chỉ vì đã từng giữ quyền cao chức trọng mà còn vì ông là một nhân vật kiệt xuất, đặc biệt trong lãnh vực sáng tạo. Ngoài việc cầm quân, ông còn cầm bút và là tác giả của tuyển tập Mênh Mông Tình Dân mà thiên hạ (đôi lúc) đọc nhầm thành Mênh Mông Tiền Dân.

Khác với vị TBT kế nhiệm (Nông Đức Mạnh) đồng chí Lê Khả Phiêu không trang trí nội thất bằng cách dát vàng. Tư thất của ông trưng bầy toàn những sản phẩm đậm đà bản chất văn hoá dân tộc (và đều là hàng độc) như tượng bác Hồ, trống đồng, ngà voi … khiến khách khứa đều phải trầm trồ hay ái ngại – tùy theo cách nhìn của từng người.

Lê Khả Phiêu còn có sáng kiến rất độc đáo (tuy hơi kém “mênh mông” chút xíu) là thiết lập một hệ thống tiêu tưới tự động – sprinkler system – trên sân thượng của tư thất để làm thành một vườn rau nhỏ, dành riêng cho bếp ăn của gia đình, để khỏi phải dùng chung rau (bẩn) với bàn dân thiên hạ. Bằng vào những kỳ tích này nên trong buổi “Lễ Trao Huy Hiệu 70 Năm Tuổi Đảng,” Tổng Bí Thư kiêm Chủ Tịch Nước Nguyễn Phú Trọng đã không tiếc lời tán tụng công đức của người tiền nhiệm: “Chúng tôi luôn học tập ở đồng chí về phương pháp, tác phong làm việc sâu sát, cụ thể và hiệu quả.”

Với loại đảng viên ở cấp địa phương thì lễ lạc loại này (thường) giản dị hơn. FB Mạc Văn Trang thuật chuyện:

“Hai hôm nay về Bãi Cháy (Hạ Long) mừng Cụ lão thành Cách mạng 90 tuổi đời, 70 tuổi Đảng, thân thiết trong gia đình. Cụ tham gia Cách mạng từ năm 16 tuổi, 20 tuổi (1949) đã vào Đảng CSVN. Con cháu cứ nhấn vào sự kiện Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng, tổ chức cho hoành tráng, tưởng Cụ 90 tuổi, lú lẫn, lẩm cẩm rồi, thì làm gì Cụ cũng nghe… Nhưng mình để ý, Cụ quan tâm đến 90 năm tuổi đời hơn là 70 năm Huy hiệu Đảng…

Cụ bảo, chúng nó cứ bày ra, nhưng tôi không cho mời ai đương chức cả, chỉ mời anh em, con cháu, bạn bè thân thiết thôi, nhân 90 tuổi mà… Mình bảo, sự kiện 70 năm tự hào lắm chứ nhỉ? – Cụ tặc lưỡi, được 12 triệu…

Tôi về hưu, suốt bao nhiêu năm làm Bí thư chi bộ, Tổ trưởng Dân phố, tham gia Mặt Trận, Hội người Cao tuổi … không bao giờ có phụ cấp, tất cả là ‘ăn cơm nhà, vác tù và hàng tổng’, tâm huyết, tận tụy…”

Mười hai triệu đồng VN, nếu qui ra Mỹ Kim, là tầm 700 đô la cho bẩy mươi năm năm “tâm huyết tận tụy.” Tính chi li hơn thì mỗi năm được một trăm, và mỗi ngày khoảng 25 xu Mỹ. Chả hiểu có đủ để mua một que kem?

Tuy thế, nếu bỏ chuyện tiền bạc qua một bên thì được như thế cũng quí hoá lắm rồi. Là công dân của một quốc gia đã từng liên tiếp đánh thắng mấy đế quốc to mà ông cụ vẫn còn sống sót, với nguyên vẹn tứ chi hình hài, mãi đến tuổi 90 (tưởng) đã là điều vô cùng may mắn và hy hữu.

Sự may mắn hiếm hoi này khiến tôi không khỏi trạnh lòng nhớ đến một trường hợp (không may) khác, của một đảng viên cộng sản khác. Trong bản Tuyên Bố Lên Án Tội Ác Đồng Tâm có đoạn viết về nhân vật này như sau:

“Cụ Lê Đình Kình 84 tuổi đời, 58 tuổi đảng, một lão thành cách mạng của đảng cầm quyền, một nhân cách đẹp, một khí phách lớn, kiên cường, bền bỉ, vững tin vào luật pháp nhà nước, vững tin vào lẽ phải, vào nhân dân trong cuộc đấu tranh với quyền lực tham nhũng, một già làng được hầu hết người dân Đồng Tâm kính trọng, tin yêu. Con người như vậy đã bị giết hại và phanh xác quá rùng rợn: Khảo tra, đánh đập bầm dâp khắp thân già. Kề súng tận tim, tận não xả đạn. Mang xác đi mổ bụng, phanh thây…”

Tôi trộm nghĩ thêm rằng chính cái “nhân cách đẹp, một khí phách lớn, kiên cường, bền bỉ, vững tin vào luật pháp nhà nước, vững tin vào lẽ phải” của cụ Lê Đình Kình chính là nguyên nhân gây ra thảm nạn. Cái chết tàn bạo của nạn nhân, và  mọi sự sách nhiễu cùng oan khuất mà thân nhân của ông đang phải ghánh chịu, cũng giúp cho tôi chợt hiểu ra thái độ nhận nại (hay nhẫn nhục) của nhiều đảng viên kỳ cựu khác từ nhiều thập niên qua.

Cụ Nguyễn Thị Bình, nhân vật đã nhận huy hiệu 70 tuổi đảng từ năm 2017, là một trường hợp điển hình. Theo Wikipedia: “Bà sinh năm 1927 là một nữ chính trị gia người Việt Nam. Bà nổi tiếng trên thế giới khi giữ cương vị Trưởng phái đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, rồi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tham gia Hội nghị 4 bên về hòa bình cho Việt Nam tại Paris trong giai đoạn 1968-1973. Bà là một trong những người đại diện các bên ký hiệp định Paris năm 1973 và là người phụ nữ duy nhất đặt bút ký vào Hiệp định.”

2 dang vien

Nhờ vào những “kỳ tích” thượng dẫn nên dù cả MTGPMN lẫn CPCMLT đều bị giải thể (sau khi miền Nam thất thủ) Nguyễn Thị Bình vẫn được cho ngồi vào một cái ghế súp – Phó Chủ Tịch Nước – và bà đã ngồi im thin thít cả chục năm trời (1992 đến 2002) không dám ho he hay hó hé gì ráo trọi.

Mãi cho đến khi cuối đời Nguyễn Thị Bình mới rón rén lập ra một cái quỹ văn hóa với kỳ vọng “hưng dân trí, chấn dân khí” nhưng cũng không tồn tại được lâu. Báo Tuổi Trẻ, số ra ngày 23/02/2019, ái ngại loan tin: “Bà Nguyễn Thị Bình – chủ tịch Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh – ký văn bản thông báo về việc quỹ này chấm dứt hoạt động từ ngày 20-2 vì một số điều kiện khách quan.”

Tuy (nguyên) PCTN không nói gì về những “điều kiện khách quan” này nhưng ai cũng hiểu rằng bà (lại) tiếp tục ngậm bồ hòn làm ngọt. Thế mới rõ Nguyễn Thị Bình là người trí thức và là kẻ thức thời, chứ cứ như nông dân Lê Đình Kình (“kiên cường, bền bỉ, vững tin vào luật pháp nhà nước, vững tin vào lẽ phải, vào nhân dân”) thì e khó thọ đến bây giờ, và chưa chắc đã được chết toàn thây.

Mà có riêng chi bà Bình, ông Thọ, ông Phát, bà Định … (và ngay cả đến ông Hồ) cũng đều chọn thái độ “thức thời” tương tự vì họ biết cái đảng (cướp) của mình rõ hơn ai hết. Chỉ có những thường dân ngây thơ như chúng ta thì vẫn cùng nhau lên tiếng “đòi hỏi phải truy tố những kẻ đã sát hại cụ Kình.” Làm sao có thể can thiệp vào chuyện trừng phạt đảng viên của một đảng cướp cho dù đây là “một vụ án một tội ác trời không dung, đất không tha” chăng nữa? Công lý chỉ có thể được thực thi sau khi mọi người đều đã nhận diện được bọn cướp này, và quyết tâm đánh đuổi cho đến khi chúng ngã gục – bằng mọi giá.

Tưởng Năng Tiến
3/2020

Covid-19: Hệ quả từ sự lơ là, quan liêu của Trung Quốc từ tháng 11/2019

Nguyễn Hữu Vinh and 3 others shared a link.

 

Theo một số tài liệu chính phủ mà trang South China Morning Post đọc được hôm 13/03/2020, virus corona mới đã lây sang người tại Trung Quốc sớm hơn rất nhiều so với những thông tin được Bắc Kinh chín…
  • Covid-19: Hệ quả từ sự lơ là, quan liêu của Trung Quốc từ tháng 11/2019
    Đăng ngày: 15/03/2020 – 10:57

    Thu Hằng
    Theo một số tài liệu chính phủ mà trang South China Morning Post đọc được hôm 13/03/2020, virus corona mới đã lây sang người tại Trung Quốc sớm hơn rất nhiều so với những thông tin được Bắc Kinh chính thức phê chuẩn. Nếu đúng như vậy, Bắc Kinh đã để mất ít nhất gần ba tháng quý giá để ngăn chặn dịch.

    Continue Reading

CÓ NHỮNG KHOẢNG TRỐNG ĐÁNG SỢ HƠN

CÓ NHỮNG KHOẢNG TRỐNG ĐÁNG SỢ HƠN

Những kệ hàng trống hoác, những phi trường vắng tanh, những nhà hàng không bóng người, những giáo đường không giáo dân, những sân trường lặng ngắt, những khu phố vắng hoe… Thế giới chưa bao giờ như thế này. Tưởng chỉ có trong phim hoặc truyện giả tưởng. Thế mà trực nghiệm ngay trước mặt. Chiến tranh có lẽ cũng không tạo ra hình ảnh kỳ lạ và đáng sợ như vậy. Không tiếng súng nhưng chết như ngã rạ. Kinh hoàng thật sự. Chỉ một con virus, thế giới đã được san phẳng. Chỉ một con virus, nhiều thứ đã lộ ra.

Sự phơi bày kinh khủng nhất mà coronavirus mang đến không phải là những khiếm khuyết của sự vận hành chính quyền, từ chính quyền cộng sản đến chính quyền tư bản; cũng không phải những lỗ hổng của kỹ thuật y học; cũng không phải sự mơ hồ về ý chí chống dịch bệnh. Trên tất cả, nó làm lộ ra những khoảng trống giữa con người với con người mà sự giao tiếp bình thường vốn mang lại “cảm giác” rằng quan hệ con người thời văn minh đã đạt đến tầm ngưỡng xứng đáng là những giá trị văn minh căn bản. Hóa ra “cảm giác” đó chỉ là ảo tưởng, như những gì chứng kiến từ khi trận dịch bắt đầu.

Kỳ thị, mỉa mai, xúc xiểm, mạ lỵ, thù ghét, giận dữ, trách móc…, tất cả đều trỗi dậy và lan nhanh hơn cả dịch bệnh. Giữ khoảng cách trong giao tiếp xã hội để tránh lây lan là một trong những lời khuyên được nghe nhiều nhất trong trận đại dịch. Nhưng không ai khuyên ai, chẳng tổ chức y tế nào đề nghị, người ta cũng đã tạo ra những “khoảng cách” giữa con người với con người, với những che chắn định biên bằng những bức tường kỳ thị, bằng những rào chắn thù nghịch, bằng những đánh giá và nhận xét được mặc định đúng-sai theo những “cách hiểu” mà bản thân nó ít nhiều đã hàm chứa tỷ lệ sai nhiều hơn đúng.

Những khoảng cách này đáng sợ hơn nhiều so với những khoảng cách vật lý mà giới y tế khuyên nên thực hiện. Những khoảng trống trong tình người trong thời đại dịch đáng sợ hơn những khoảng trống trên các kệ hàng được vét sạch bởi tâm lý hoảng sợ giữa mùa đại dịch. Những kệ hàng rồi sẽ được lắp đầy. Khoảng trống trong tình người thì lấy gì lắp vào? Những phi trường vắng ngắt trông thật ghê rợn nhưng có lẽ chẳng ghê rợn hơn so với sự thiếu vắng tình đồng loại. Những tiếng ồn ào quát tháo chen nhau vét hàng cũng kinh khủng tương đương tiếng chửi rủa và xỉa xói trên mạng xã hội thời khủng hoảng đại dịch.

Coronavirus cho thấy thế giới dường như vẫn chưa văn minh như được tưởng. Con người vẫn chưa văn minh như tự nhận. Khoa học vẫn đang miệt mài nghiên cứu và thử nghiệm vaccine trị coronavirus nhưng bản thân con virus đã mang đến một cuộc xét nghiệm toàn cầu để giúp thấy được “sức khỏe” của văn minh toàn cầu lẫn “khả năng đề kháng” trước sự lây nhiễm và lan rộng ác tâm trong nền văn minh toàn cầu. “Thiện, ác, tà” chưa bao giờ biến mất và vẫn tồn tại với nhân loại cùng lịch sử của nó nhưng coronavirus đã một lần nữa cho thấy thế giới được mặc định văn minh vẫn không dứt khỏi được câu hỏi tại sao cuộc chiến lương tri con người sau hàng ngàn năm qua vẫn tiếp diễn mất cân bằng giữa một “thiện” và hai “ác, tà”.

Thế giới có thể không bao giờ trở lại như một thế giới thời “tiền coronavirus” nhưng liệu thế giới có nghiệm ra được rằng họ đã mất gì nhiều nhất, không chỉ các tổn thất kinh tế, nếu không phải là những giá trị tình người?

Ảnh: Reuters

MẠNH KIM

No photo description available.

Đại họa đã đến !

Đại họa đã đến !

@Nguyễn Ngọc Già

Lần đầu tiên Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ chỉ ĐÍCH DANH: Trọng – Phúc – Ngân trong Báo Cáo Nhân Quyền! Điều này thật là nghiêm trọng! Rất nghiêm trọng!

CSVN quả là “họa vô đơn chí”!!!
Dân chúng nói quá nhiều rồi mà không chịu nghe!
Kỳ này tiêu táng đường rồi!
___________________________________

Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ hôm 11/3 công bố Báo cáo Nhân quyền Quốc gia năm 2019, lên án tình hình nhân quyền tại Việt Nam trong năm 2019 trên một loạt các lĩnh vực.

“Nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là một nhà nước độc tài được cai trị bởi một đảng duy nhất, Đảng Cộng Sản Việt Nam dẫn đầu bởi Tổng bí thư kiêm Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân. Cuộc bầu cử Quốc hội gần đây nhất vào năm 2016 không tự do và công bằng, dù có sự cạnh tranh một cách hạn chế của các ứng viên được Đảng chọn”, phần mở đầu về Việt Nam của báo cáo viết.

Báo cáo mới của Hoa Kỳ xác định các vi phạm của chính quyền Việt Nam trong các vấn đề bao gồm: bắt cóc, bắt giam người tùy tiện, tra tấn người bị bắt tạm giam, tình trạng đối xử bất công đối với các tù chính trị. Hạn chế nghiêm trọng nhất ở Việt Nam theo báo cáo chính là hạn chế các quyền tự do bao gồm tự do biểu đạt, tự do báo chí, tự do internet, và tự do tôn giáo. Hoa Kỳ cáo buộc chính quyền Việt Nam đã bắt giữ tùy tiện những người dám lên tiếng chỉ trích chính phủ.

Báo cáo gồm 7 phần bao gồm: tôn trọng con người, tôn trọng các quyền tự do dân sự, bầu cử tự do, tham nhũng và minh bạch, phản ứng của chính phủ Việt Nam với các cáo buộc và điều tra của quốc tế về vi phạm nhân quyền, phân biệt đối xử và buôn người, quyền của người lao động. Trong tất cả các phần này, Việt Nam đều bị chỉ trích có những vi phạm, mức độ nghiêm trọng tùy theo từng phần…

Fb Nguyễn Ngọc Già

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=492436828312212&id=100026376973361

Nhà vật lý hàng đầu TK 21: Khoa học không thể giải câu đố của ý thức

Càng nỗ lực khám phá bí ẩn của ý thức, các nhà khoa học càng nhận ra rằng khoa học bất lực trong việc giải mã thách đố này của tự nhiên. Năm 2016, tạp chí Scientific American loan báo“Nhà vật lý thông minh nhất thế giới Edward Witten cho rằng khoa học không thể phá vỡ bí mật của ý thức”. Đây là tin buồn cho các nhà tiến hóa, nhưng là tin vui cho những người tin vào luận đề của Descartes cho rằng ý thức là một hiện thực phi vật chất vượt quá tầm với của khoa học…

Edward Witten: Khoa học không thể phá vỡ bí mật của ý thức
Edward Witten, người được xem là nhà vật lý thông minh nhất thế kỷ 21 thừa nhận: “Khoa học không thể phá vỡ bí mật của ý thức” (Ảnh: Institute for Advanced Study)

Vấn đề bản chất của ý thức quan trọng hơn rất nhiều so với ta tưởng, bởi lẽ ý thức là đặc trưng cốt lõi của sự sống. Muốn giải thích sự sống bằng những cơ chế thuần túy vật chất như thuyết tiến hóa Darwin chủ trương, nhất thiết phải giải thích được bản chất vật chất của ý thức ─ phải trả lời một cách dứt khoát “ý thức là cái gì?”.

Nếu ý thức là một dạng vật chất nào đó, dù bí hiểm đến mấy, thì hy vọng một ngày nào đó khoa học có thể sẽ khám phá ra nó. Nhưng nếu ý thức không phải là vật chất (hoặc là một dạng vật chất ở không gian khác) thì tham vọng đó sẽ trở thành không tưởng. Khi ấy lý thuyết của Darwin về nguồn gốc loài người sẽ lộ nguyên hình là một lý thuyết sai lầm, ảnh hưởng rất xấu đến đạo lý làm người.

>> Vật chất và ý thức là một thể thống nhất

Albert Camus, một triết gia nổi tiếng người Pháp đoạt Giải Nobel văn chương năm 1957, từng nói: “Con người là tạo vật duy nhất từ chối trở thành cái mà anh ta phải là”

Ý ông nói rằng con người vốn là một cái gì đó cao quý, nhưng con người đã từ chối đóng vai trò cao quý mà lẽ ra phải đóng, để tự hạ thấp mình xuống thang bậc động vật, cho dù là động vật cao cấp, coi việc đấu tranh sinh tồn là lẽ tự nhiên, và do đó chẳng nề hà làm những việc không xứng đáng với giá trị cao quý mà lẽ ra phải có.

Câu nói của Camus thật chua chát, nhưng phản ánh đúng thực trạng xã hội hiện đại, nơi thuyết tiến hóa Darwin được coi là một khoa học chính thức.

Để hiểu câu nói của Camus, tất nhiên phải tin vào các giá trị cao quý của con người mà các nền văn hóa truyền thống từng khẳng định. Ở Đông phương, Nho giáo quan niệm

“… người là cái đức của trời đất, sự giao hợp của âm dương, sự tụ hội của quỷ thần, cái khí tinh tú của ngũ hành. Trời đất sinh ra người lại phú cho cái tính rất quý, tức là người chịu cái đức của trời đất. Người lại bẩm thụ được hoàn toàn cả cái tinh thần linh diệu và cái khí chất tinh tú, cho nên mới nói là linh hơn cả vạn vật. Nhờ có cái tinh thần và cái khí chất ấy người ta mới có cái sáng suốt để hiểu hết các sự vật….. Cái sáng suốt tự nhiên có sẵn trong người ta là minh đức hay lương tri, có thể gọi là trực giác tức là cái khiếu tri giác rất mẫn tiệp, xem xét cái gì có thể đạt ngay đến cái tinh thần và cái chân lý của các sự vật. Cái khiếu tri giác ấy do ở trong tâm của người ta…” [1]

Ở Tây phương, cuốn sách từng ngự trị trong tâm hồn con người là Kinh Thánh nói rõ rằng:

“Thiên Chúa lấy đất nặn một hình người, và thổi sinh khí vào mũi nó, tức thì hình nặn ấy thành vật sống động” (Sáng Thế 2:7). Tức là phải có cái sinh khí do Chúa thổi vào thì con người mới trở nên người, nếu không thì chỉ là cái xác vô nghĩa. Sự cao quý của con người được chính Thiên Chúa nói ra: “Ta hãy dựng nên loài người theo hình ảnh Ta và giống Ta…” (Sáng Thế 1:26).

Dù tin hay không tin vào những quan điểm trong các kinh sách truyền thống nói trên, sự thật lịch sử không thể chối cãi là những quan điểm ấy đã ảnh hưởng tích cực đến đạo lý làm người của con người ở cả Đông phương lẫn Tây phương trong hàng ngàn năm qua. Nhưng sự đảo lộn về ý thức làm người đã diễn ra mạnh mẽ kể từ khi thuyết tiến hóa của Darwin được công nhận như một khoa học chính thức.

Chủ nghĩa quốc xã Đức 1930-1945 là đỉnh cao của việc áp dụng thuyết tiến hóa vào xã hội loài người, để lại những đau thương và những vết nhơ đạo lý không bao giờ có thể xóa bỏ khỏi ký ức nhân loại. (xem bài: Bức ảnh châm lửa cho nạn kỳ thị chủng tộc và cuộc diệt chủng của Hitler)

Nhưng may mắn thay, khoa học càng phát triển, thuyết tiến hóa càng lộ rõ tính chất ngụy khoa học của nó. Rất nhiều tài liệu vạch trần sai lầm của thuyết tiến hóa đã được công bố. Cuối năm 2012, một cuốn sách lột trần sự bất lực của thuyết tiến hóa trong vấn đề ý thức đã ra mắt công chúng:

Mind and Cosmos: Why the Materialist Neo-Darwinian Conception of Nature Is Almost Certainly False”, xin tạm dịch là “Tinh thần và Vũ trụ: Tại sao khái niệm duy vật về tự nhiên của học thuyết Tân-Darwin gần như chắc chắn sai”. Tác giả là Thomas Nagel, một nhà triết học nổi tiếng từng ủng hộ thuyết tiến hóa.

Ông đã từng có dịp chuyện trò với Kurt Gödel, tác giả của Định lý Bất toàn nổi tiếng. Lúc tranh luận về vấn đề linh hồn và thể xác, Nagel còn chỉ trích quan điểm nhị nguyên của Gödel là không thể chấp nhận được, vì nó không thể dung hòa với thuyết tiến hóa. Có nghĩa là đối với Nagel, đến lúc ấy thuyết tiến hóa vẫn là một chỗ dựa khoa học để đem ra bênh vực chân lý khi tranh luận [2]. Ấy thế mà giờ đây, chính Nagel lại thất vọng với cái học thuyết mà ông đã từng tin tưởng. Tại sao vậy? Vì thuyết tiến hóa hoàn toàn bất lực trong việc giải thích bản chất của ý thức ─ đặc trưng cốt lõi của sự sống.

Tác giả là Thomas Nagel và cuốn sách “Tinh thần và Vũ trụ: Tại sao khái niệm duy vật về tự nhiên của học thuyết Tân-Darwin gần như chắc chắn sai”

Trong khi chưa có cuốn sách của Nagel trong tay, độc giả có thể tìm hiểu quan điểm của Nagel qua bài báo Can science explain consciousness? (Khoa học có thể giải thích ý thức được không?) của Jean-François Gariépy, trong đó nói rằng “Trong một cuốn sách mới được xuất bản trong mùa thu 2019 vừa qua, Thomas Nagel đã bảo vệ quan điểm cho rằng khoa học không thể giải thích được ý thức ─ rằng tâm trí là một hiện tượng tự nhiên không thể quy giản thành các trạng thái vật lý của bộ não được. Ông cũng lập luận rằng thuyết tiến hóa, hoặc những lý thuyết phiên bản hiện nay của nó, không đủ để giải thích sự xuất hiện của ý thức”.

Xin nhấn mạnh rằng không chỉ Thomas Nagel, mà rất nhiều nhà khoa học hàng đầu khác cũng nhận thấy khoa học bất lực trước bí mật của ý thức. Nổi bật nhất và thú vị nhất là trường hợp của Edward Witten, như tạp chí nổi tiếng Scientific American loan báo gần đây.

1. Bài báo trên Scientific American ngày 18/08/2016 của John Horgan

Sau đây là bản lược dịch bài báo của John Horgan trên Scientific American nhan đề  World’s Smartest Physicist Thinks Science Can’t Crack Consciousness (Nhà vật lý thông minh nhất thế giới cho rằng khoa học không thể phá vỡ bí mật của ý thức).

Bí mật của ý thức
Bài báo “Nhà vật lý thông minh nhất thế giới cho rằng khoa học không thể phá vỡ bí mật của ý thức” đăng trên tạp chí Scientific American

Gần đây tôi đã và đang viết rất nhiều về ý thức  điều bí ẩn lớn nhất. Tôi đã từng nghĩ thách đố lớn nhất là câu hỏi “tại sao tồn tại nhiều thứ thay vì không có gì cả” (something rather than nothing). Nhưng nếu không có ý thức thì có thể cũng chẳng có gì.

Một số nhà tư tưởng sâu sắc, đặc biệt là triết gia Colin McGinn, cho rằng bí mật của ý thức là vấn đề không thể giải quyết được. Nhà triết học Owen Flanagan gọi những người có quan điểm bi quan này là “những người theo thuyết bí ẩn” (mysterian)…

Vậy mà mới đây, nhà vật lý Edward Witten lại xuất hiện như một mysterian. Witten được các nhà vật lý đồng nghiệp của ông kính nể, trong đó một số người đã so sánh ông với Einstein và Newton. Ông là người đóng góp chủ yếu vào việc phổ biến Lý thuyết Dây trong vài thập kỷ qua. Lý thuyết dây cho rằng tất cả các lực của Tự Nhiên bắt nguồn từ những hạt siêu nhỏ rung động trong một siêu không gian bao gồm nhiều chiều phụ trội bổ sung.

Witten vốn là một người có quan điểm lạc quan về sức mạnh của khoa học trong việc làm sáng tỏ các bí ẩn của Tự Nhiên, chẳng hạn như vấn đề “tại sao tồn tại nhiều thứ thay vì không có gì cả”. Trong một cuộc trao đổi vấn đáp với tôi năm 2014, ông nói: “Nỗ lực của khoa học hiện đại đã diễn ra trong hàng trăm năm nay rồi, và chúng tôi đã tiến xa hơn những gì mà những người tiền nhiệm của chúng tôi có thể tưởng tượng được.” Ông cũng khẳng định lại niềm tin của mình rằng Lý thuyết Dây rồi sẽ được kiểm chứng là “đúng”.

Ấy thế mà trong một video phỏng vấn rất thú vị với phóng viên Wim Kayzer, Witten lại tỏ ra bi quan về tương lai của một giải thích khoa học đối với vấn đề ý thức. Nhà hoá học Ash Jogalekar, tác giả bài báo “The Curious Wavefunction” (Hàm sóng kỳ lạ), đã viết về bài phát biểu của Witten và chuyển thể phần liên quan. Dưới đây là một trích đoạn ý kiến của Witten:

Tôi nghĩ rằng ý thức sẽ vẫn là một bí ẩn. Vâng, đó là những gì tôi có xu hướng tin tưởng. Tôi có xu hướng nghĩ rằng hoạt động của bộ não có ý thức sẽ được làm sáng tỏ ở mức độ lớn. Các nhà sinh học và có lẽ các nhà vật lý sẽ hiểu rõ hơn cách hoạt động của não. Nhưng tại sao một cái gì đó mà chúng ta gọi là ý thức đi cùng với những hoạt động đó, tôi nghĩ rằng sẽ vẫn là bí ẩn. Tôi cảm thấy việc hình dung làm thế nào mà chúng ta hiểu được Big Bang còn dễ dàng hơn nhiều so với việc hình dung làm thế nào mà chúng ta có thể hiểu được ý thức”.

Mặc dù Witten là một thiên tài, điều đó không có nghĩa ông không thể sai. Tôi tin rằng ông ta sai khi cho rằng Lý thuyết Dây cuối cùng sẽ được xác nhận, và ông ta cũng có thể sai khi cho rằng ý thức sẽ không bao giờ giải thích được. Tuy nhiên, tôi thấy ý kiến của ông đáng được đưa lên mặt báo  rằng một nhà khoa học tầm cỡ như Witten cũng đang thẳng thắn đề cập đến giới hạn của khoa học. Vì những lý do có lẽ quá rõ ràng, tôi thích nhận xét của Ash Jogalekar về ý kiến của Witten. Sau đây là một đoạn trích:

“Điều thú vị là đem đối chiếu tư tưởng của Witten với luận đề của John Horgan về “Sự kết thúc của khoa học” (The End of Science)… [ta có thể thấy rằng] Sự kết thúc của khoa học thực sự là sự kết thúc của việc tìm kiếm nguyên nhân cuối cùng. Theo nghĩa đó, không chỉ ý thức mà còn nhiều khía cạnh khác của thế giới sẽ luôn luôn là bí ẩn. Cảm thấy dễ chịu hay bối rối với điều này – đây là lựa chọn mà mỗi người chúng ta phải đưa ra.

2. Bình luận của GS. Phạm Việt Hưng về bài báo của John Horgan

Bình luận 1: John Horgan, tác giả bài báo, là một ký giả khoa học nổi tiếng ở Mỹ, chuyên viết cho tạp chí Scientific American. Ông cũng là tác giả của nhiều cuốn sách phổ biến khoa học nổi tiếng, chuyên về chủ đề giới hạn của khoa học.

Theo Horgan, hiện nay khoa học đã tiệm cận tới giới hạn của nó rồi. Từ nay, khó có thể có những lý thuyết khoa học lớn như Thuyết Tương đối của Einstein, Nguyên lý Bất định của Heisenberg,… Nổi tiếng nhất trong các tác phẩm của John Horgan là cuốn “The End of Science” (Sự kết thúc của khoa học), một cuốn sách từng gây xôn xao dư luận và tranh cãi trong giới khoa học.

Cách đây ngót 15 năm, tôi (PVHg) đã có bài giới thiệu cuốn sách này trên tạp chí Tia Sáng. Ngày 23/12/2005, bài báo đó đã xuất hiện trên trang Chungta.com .

Bí mật của ý thức
John Horgan, tác giả cuốn sách “Sự kết thúc của khoa học”

Tiêu đề bài báo của tôi đã cố tình giảm nhẹ tuyên bố khó nghe của Horgan, “Sự kết thúc của khoa học” đã được chuyển thể một cách “mềm mại” thành “Buổi hoàng hôn của khoa học”. Ấy thế mà vẫn gặp phải phản ứng gay gắt của một số độc giả trên Tia Sáng. Những độc giả này dường như đã bị nhiễm sâu một căn bệnh khó chữa trong thời đại ngày nay, đó là bệnh tôn thờ khoa học như chúa ─ tôn thờ một cách sùng tín đến nỗi họ muốn ngoảnh mặt đi để khỏi trông thấy những sự thật bộc lộ bản chất hạn chế của khoa học. (xem bài: “Khoa học” – một tôn giáo mới?)

Ngay tại Mỹ, Horgan cũng không tránh được nhiều phản ứng gay gắt. Vì thế ông tỏ ra hứng thú khi thấy Edward Witten, người được coi là một trong những nhà khoa học giỏi nhất hiện nay, rốt cuộc cũng phải thốt lên những nhận định tương tự như ông, rằng có những giới hạn khoa học không thể vượt qua. Ý kiến thú vị nhất của Witten được Horgan nhắc lại nằm ở phần kết, rằng hình dung tại sao lại có Big Bang còn dễ hơn hình dung tại sao lại xuất hiện ý thức.

Quả thật, dù Big Bang khó hiểu đến mấy, nó vẫn là những sự kiện thuần túy biến đổi vật chất; toán học và vật lý thừa sức giải quyết; nhưng sự xuất hiện của ý thức là một vấn đề hoàn toàn khác: “Làm thế nào mà vật chất bỗng nhiên lại đẻ ra một cái gì đó không phải là vật chất?”

Tại đây, Định luật bảo toàn vật chất sẽ sụp đổ, nếu cố bám lấy niềm tin cho rằng ý thức là sản phẩm của sự hoạt động vật chất trong bộ não và hệ thần kinh nói chung. Rõ ràng là có một bước nhảy vọt ở chỗ này ─ sự xuất hiện của ý thức, một hiện thực phi vật chất, là một PHÉP LẠ của Tự Nhiên, khoa học vật chất hoàn toàn bất lực không thể giải thích được. Đó là lý do để Descartes cho rằng sự tồn tại không thể chối cãi của ý thức buộc chúng ta phải tin rằng ý thức là do Chúa truyền cho chúng ta.

Với cái nhìn triết học sâu sắc đó, mọi nỗ lực giải thích nguồn gốc của ý thức bằng sự tiến hóa của vật chất đều trở thành một trò hề trên sân khấu khoa học mà thôi.

Rốt cuộc những bộ óc lớn nhất của nhân loại từ cổ chí kim vẫn gặp nhau: Ý kiến của Descartes (thế kỷ 17), Planck, Einstein, Tesla, Gödel, Schrödinger,… (thế kỷ 20), và bây giờ của Edward Witten (thế kỷ 21) chỉ khác nhau về từ ngữ, còn nội dung đều nhất trí cho rằng ý thức là một hiện thực vượt quá tầm với của khoa học [3].

Bình luận 2: Edward Witten, người được coi là nhà vật lý giỏi nhất thế giới hiện nay, là tác giả chủ yếu của Lý thuyết M, một lý thuyết thống nhất các phiên bản khác nhau của Lý thuyết Siêu dây (Superstring Theory). Ông được giới vật lý coi là người có khả năng kế tục Einstein.

Lý thuyết M của ông được coi là ứng cử viên sáng giá nhất của Lý thuyết về mọi thứ (Theory of Everything), một lý thuyết có tham vọng khổng lồ là thống nhất Mô hình Chuẩn của Cơ học Lượng tử với Thuyết tương đối tổng quát của Einstein.

Mặc dù điều này còn phải chờ sự phán xét của thực tiễn, nhưng về mặt lý thuyết, Lý thuyết M đã làm cho những nhà vật lý hàng đầu hiện nay khiếp sợ trước sự phức tạp, cao siêu và trừu tượng của nó. Nó được mệnh danh là Lý thuyết M vì chứa đựng đủ tất cả những tính chất bắt đầu bởi chữ M: “Matrix” (ma trận), “Mystery” (Bí mật), Murky (tối tăm khó hiểu) + “Magic” (huyền bí) + “Membrane” (màng) +…

Như bài báo của John Horgan đã nhấn mạnh, Edward Witten là người không chịu lùi bước trước bất kỳ khó khăn nào. Hơn bất kỳ ai khác, ông là người tin tưởng mạnh mẽ vào sức mạnh vô địch của khoa học trong việc khám phá bí mật của tự nhiên. Bản thân ông là một hiện thân của sức mạnh đó, ấy thế mà ông lại không tin vào sức mạnh của khoa học trong việc khám phá bản chất của ý thức.

Điều này làm tôi nhớ lại ý kiến của Đức Đạt Lai Lạt Ma trong cuốn “Vũ trụ trong một nguyên tử”. Trong cuốn này, ông kêu gọi khoa học hợp tác với Phật học trong việc khám phá bản chất của ý thức. Nhưng để làm được điều đó, khoa học phải chấp nhận những kinh nghiệm chủ quan về ý thức mà các nhà đạo học chiêm nghiệm được thông qua những phép tu thiền. Thoạt nghe ta thấy đề nghị hợp tác này có vẻ hấp dẫn, nhưng suy nghĩ kỹ có thể thấy ngay rằng điều này là không tưởng. Nếu khoa học chấp nhận kinh nghiệm chủ quan của các nhà tu hành thì khoa học không còn là khoa học nữa.

Thực tế những nghiên cứu PSI (hiện tượng ngoại cảm và tâm linh) không được coi là khoa học. Ấy là vì nó không làm thế nào biến những kinh nghiệm chủ quan của các nhà ngoại cảm hoặc tâm linh thành những định luật khách quan của Tự Nhiên được. Nói như thế không có nghĩa là nên loại bỏ những nghiên cứu PSI. Ngược lại, cần tôn trọng những nghiên cứu này, vì trước hết PSI xác nhận rằng những hiện tượng ngoại cảm và tâm linh là sự thật (có thật).

Nếu khoa học không giải thích được những hiện tượng do PSI quan sát được thì đơn giản đó là sự bất lực của khoa học.

Bình luận 3: Thực ra không cần phải đợi đến Edward Witten chúng ta mới biết khoa học bất lực trước bí mật của ý thức. Các nhà khoa học tiền bối đã nói điều đó rồi, xin nhắc lại:

“Tôi coi ý thức là nền tảng căn bản, và vật chất bắt nguồn từ ý thức. Chúng ta không thể biết được những gì đằng sau ý thức. Mọi thứ chúng ta bàn đến, mọi thứ mà ta coi là đang tồn tại, đều do ý thức mặc nhận” (Max Planck)

“Ý thức không thể giải thích được bằng những thuật ngữ mang tính vật chất. Vì ý thức là khái niệm gốc rễ, không thể giải thích được bằng thuật ngữ của bất cứ thứ gì khác” (Erwin Schrödinger).

Hai ý kiến trên chỉ ra rằng phải có ý thức mới nhận thức được vật chất, vì thế việc dùng khoa học vật chất để giải thích ý thức là một hành trình tư duy ngược với quy trình tự nhiên của nhận thức.

Vả lại, dùng khoa học (một bộ phận của ý thức) để nghiên cứu ý thức thực chất là thực hiện một phép suy luận logic tự quy chiếu (tự mình phán xét mình). Theo Định lý Gödel. mọi hệ logic tự quy chiếu đều dẫn tới mâu thuẫn. Đó là lý do để mọi nghiên cứu khoa học về ý thức đều thất bại. (xem bài Định lý Bất toàn của Gödel: Khám phá toán học số 1 trong thế kỷ 20)

Cũng theo Gödel, muốn nghiên cứu tính đúng đắn của một hệ logic, phải đi ra ngoài hệ logic đó. Vậy muốn nghiên cứu bản chất của ý thức, phải đi ra ngoài ý thức! Làm thế nào để đi ra ngoài ý thức? Đó là câu hỏi dành cho những ai muốn nghiên cứu ý thức bằng những phương pháp bên ngoài khoa học.

Bình luận 4: Tham vọng dùng khoa học để khám phá ra bản chất của ý thức xuất phát từ một ngộ nhận rất ấu trĩ, đó là việc đánh đồng bộ não với ý thức trong bộ não. Những người có tham vọng này không đủ trí thông minh để hiểu điều Thomas Nagel nói: “Tâm trí là một hiện tượng tự nhiên không thể quy giản thành các trạng thái vật lý của bộ não được”.

Ở trên chúng ta cũng đã thấy Edward Witten thừa nhận là những nghiên cứu về bộ não sẽ đạt được nhiều tiến bộ, nhưng điều đó sẽ chẳng hề giải thích được ý thức là cái gì. Nhiều người ngây thơ nghĩ rằng hiểu rõ bộ não thì sẽ hiểu rõ ý thức. Nếu tạm ví bộ não như phần cứng của một chiếc computer thì cũng có thể tạm ví ý thức như phần mềm của computer đó. Phần cứng KHÔNG TẠO RA phần mềm, bộ não KHÔNG TẠO RA ý thức!!!

Đó là điều các nhà khoa học thần kinh và các nhà sinh học tiến hóa cần biết. Hoàn toàn tương tự, có thể nói phân tử DNA không tạo ra mã DNA. vật chất không tạo ra thông tin! Vì thông tin không phải là vật chất, mọi thông tin đều có nguồn trí tuệ thông minh! “Bất kỳ một lý thuyết vật chất nào không thừa nhận điều này đều không thể tồn tại trong thời đại ngày nay” (Norbert Wiener).

Bình luận 5: Trong bài báo của Horgan, những người không tin vào khả năng của khoa học trong việc “bẻ gãy” bí mật của ý thức bị coi là những người “bi quan”. Thật nực cười, ngay cả Edward Witten, nhà khoa học giỏi nhất thế giới hiện nay, người dám nghĩ đến siêu không gian nhiều chiều để tìm cách thống nhất Cơ học Lượng tử với Thuyết tương đối tổng quát, cũng bị coi  là một người “bi quan” (!).

Để trở thành sáng suốt, không thể không tốn công nghiên cứu. Nhưng nghiên cứu mà không thoát ra khỏi những định kiến thì cũng vô ích. Chẳng hạn, nền giáo dục trên khắp thế giới đã nhồi nhét vào đầu trẻ em một định kiến rằng con người xuất thân từ vượn.

Nếu định kiến này bám chặt trong đầu không thể ra khỏi đó được thì bao nhiêu nghiên cứu, bao nhiêu bằng tiến sĩ cũng vô ích. Không phải bây giờ, và cũng không phải ở Việt Nam, mà ngay tại Pháp thế kỷ 19, Alexandre Dumas, tác giả của những tiểu thuyết lịch sử trứ danh, đã thất vọng với nền giáo dục đến nỗi ông phải thốt lên rằng “Làm thế nào mà trẻ em thì thông minh thế mà người lớn lại ngu xuẩn thế? Ắt là nền giáo dục đã làm ra như thế” (How is it that little children are so intelligent and men so stupid? It must be education that does it).

Tình trạng một lý thuyết sai lầm như học thuyết Darwin được nhiều người lớn có bằng cấp hẳn hoi ra sức bênh vực, bất chấp sự thật, chính là kết quả điển hình của nền giáo dục toàn cầu trong hơn 150 năm nay. Vì thế, để nhìn nhận một vấn đề khách quan hơn và độc lập hơn, chúng ta phải tìm cách bổ sung những thông tin từ mọi nguồn khác nhau trong cuộc sống. Những thông tin được giới thiệu dưới đây sẽ giúp độc giả có một cái nhìn đầy đủ hơn và khách quan hơn về vấn đề chúng ta đang thảo luận: Khoa học có giải thích được bí mật của ý thức không?

>> 5 mặt trái của khoa học thực chứng hiện đại

3. Khoa học có giải thích được bí mật của ý thức không?

Một bài báo trên trang Quartz, nhan đề Science can’t totally explain consciousness, and it never will (Khoa học không thể giải thích hoàn toàn vấn đề ý thức, không bao giờ) cho biết: Lisa Miracchi, phó giáo sư triết học tại Đại học Pennsylvania nhận định: “Bạn sẽ không thể hiểu được ý thức chỉ nhờ vào các sự kiện về thần kinh” ( you won’t understand consciousness just by looking at neural facts).

Tạp chí New Scientist, trong một bài báo nhan đề Consciousness: The what, why and how (Ý thức: cái gì, tại sao, như thế nào) viết: “Có rất nhiều bài toán khó trên thế giới, nhưng chỉ có một bài toán duy nhất được gọi là bài toán khó… Đó là bài toán về bản chất của ý thức. Bài báo cho biết, nhà tâm lý học người Anh Stuart Sutherland nói: “Ý thức là một hiện tượng hấp dẫn nhưng khó nắm bắt… Không có một tài liệu nào đáng đọc được viết về ý thức cả”, và cho đến hiện nay, “Bài toán khó” vẫn chưa giải được”.

Cũng trên New Scientist ngày 23/11/2011, bài báo Consciousness is a matter of constraint (Ý thức là một vấn đề gượng gạo) viết: “Trong một Phụ lục Văn học xuất bản năm 1992 của tờ Times, nhà triết học Jerry Fodor đã than phiền bằng một câu nói nổi tiếng rằng “Không ai biết tí gì về thứ vật chất có thể là ý thức. Thậm chí không ai biết làm thế nào mà việc biết về một thứ vật chất nào đó lại có thể là ý thức”. Bất chấp hai thập kỷ của những tiến bộ bùng nổ trong những nghiên cứu về bộ não và trong khoa học nhận thức, đến năm 2011 nhận định của Fodor vẫn phản ánh đúng thực tế”.

Trong bài báo Why can’t the world’s greatest minds solve the mystery of consciousness? tờ The Guardian ở Anh viết: “Trong vài thập kỷ qua, các nhà triết học và khoa học đã và đang cãi vã chiến tranh với nhau về câu hỏi cái gì làm cho con người phức tạp hơn robots”.

4. Kết luận

1. Khoa học không thể phá vỡ bí mật của ý thức. Khoa học sẽ khám phá ra nhiều bí mật của bộ não và hệ thần kinh, nhưng đó chỉ là bí mật của “phần cứng” thuộc thể xác của con người, không phải là bí mật của ý thức, “phần mềm” chạy trong bộ não và hệ thần kinh của con người.

2. Sau 4 thế kỷ nghiên cứu của khoa học, luận đề của Descartes vẫn đứng vững, trong đó khẳng định ý thức là một hiện thực phi vật chất, không tuân thủ mọi định luật của tự nhiên. Khoa học càng tiến lên càng cho thấy Descartes đúng.

3. Đã đến lúc khoa học nên từ bỏ thế giới quan duy vật thuần túy, nếu quả thật nó muốn tiến lên để khám phá thế giới hiện thực, bao gồm những hiện thực phi vật chất và siêu vật chất. Nói một cách dễ hiểu, khoa học hiện nay chỉ quan tâm đến những hiện thực hữu hình.

Đã đến lúc khoa học cần mở rộng tầm nhìn tới cả thế giới vô hình, thế giới siêu hình, nếu khoa học là tổng hợp tất cả những tri thức về thế giới khách quan. Chú ý: vật chất tối (dark matter) và năng lượng tối (dark energy) nếu tồn tại như vật lý học hiện nay tiên đoán, thì những vật chất này vẫn thuộc thế giới hữu hình. Nhưng ý thức thuộc thế giới vô hình (hoặc là một dạng vật chất ở không gian khác), mặc dù nó có quan hệ gắn bó với thế giới hữu hình. (xem bài Tuyên ngôn về một nền khoa học Hậu duy vật)

4. Thuyết tiến hóa không xứng đáng được coi là một lý thuyết về sự sống, vì nó hoàn toàn bất lực trong việc giải thích sự hình thành của ý thức ─ đặc trưng cơ bản của sự sống. Hơn 150 năm trước đây, chính ông tổ của thuyết tiến hóa, Charles Darwin, đã thú nhận điều này.

Trong cuốn “Về Nguồn gốc các loài của ông” (On the Origin of Species), xuất bản năm 1859, ông viết: Tôi phải nhấn mạnh rằng tôi không đụng đến vấn đề nguồn gốc của những khả năng tinh thần nguyên thủy…” (I must premise, that I have nothing to do with the origin of the primary mental powers,…) (Chương VII, Vấn đề Bản năng (Instinct)), tức là ông không biết gì về nguồn gốc hình thành ý thức ở sinh vật. [4] Hơn 150 năm sau, các đệ tử của ông cũng không biết gì hơn ông. Thậm chí họ còn tảng lờ không nhắc đến chỗ kém cỏi này của thuyết tiến hóa.

Phạm Việt Hưng, Sydney 03/08/2017

(Bản gốc của bài viết ở đây)

Xem thêm chuyên đề: Ý thức – “điểm mù” của khoa học đang dần được hé mở

Chú thích:

[1] Xem “Nho giáo”, Trần trọng Kim, NXB Văn hóa Thông tin, trang 78

[2] Xem Gödel’s Role in Our Quest for the Truth / Vai trò của Gödel trong cuộc tìm kiếm sự thật, phần “Gödel và thuyết tiến hóa”

[3] Xem The Hardest Problem: Consciousness / Bài toán khó nhất: Ý thức

Dịch virus Covid-19 có phải là dấu chỉ của thời đại?

httpv://www.youtube.com/watch?v=ofFy-J0Xu9o

Dịch virus Covid-19 có phải là dấu chỉ của thời đại?

Dù trong hoàn cảnh thuận lợi hoặc khó khăn, khỏe mạnh hay dịch bệnh, Giáo Hội, Thiên Chúa vẫn luôn mời gọi mỗi người nhạy bén nhận ra dấu chỉ thời đại. Nó đang diễn ra trước mắt chúng ta. Ước gì mỗi người lắng nghe được tiếng nói của Chúa Thánh Thần đang lớn tiếng trong cơn dịch này.

TÌNH YÊU, LÒNG THƯƠNG XÓT VÀ ÂN SỦNG

TÌNH YÊU, LÒNG THƯƠNG XÓT VÀ ÂN SỦNG

 Chuyển ngữ:  Sr. Maria Trần Thị Ngọc Hương

 Chúng ta mong đợi điều gì khi chúng ta quay trở về với Chúa trong Mùa Chay này?

 Hãy nghĩ xem thiên đàng khác với trái đất (trần gian) như thế nào.  Trên trần gian, tội lỗi tiếp tục làm tổn thương con người mỗi ngày.  Trên thiên đàng, không chỉ không có tội lỗi, mà còn không có cám dỗ.  Trên trái đất, các gia đình, các khu phố và thậm chí toàn bộ các quốc gia chia rẽ nhau, thường là vì những vấn đề rất nhỏ.

 Trên thiên đàng, có sự hài hòa và nền hòa bình hoàn hảo.  Trên trái đất, có bệnh tật và đau khổ.  Trên thiên đàng, mọi giọt nước mắt đã được lau khô và tất cả các rối loạn về thể chất và tinh thần đều được chữa lành.  Trên trần gian, hàng triệu người phải chịu đựng những hậu quả của nghèo đói.  Trên thiên đàng, mọi người đều được chăm sóc như nhau và rất tế nhị, ân cần.

 Thiên đàng nghe quá hấp dẫn, phải không?  Không có gì lạ khi Kinh Thánh kết thúc với lời cầu xin: “Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến!” (Kh 22,20)!  Không có gì ngạc nhiên khi tất cả chúng ta khao khát một ngày khi tội lỗi không còn nữa, và khi chúng ta được đưa vào trong sự hoàn hảo của vương quốc thiên đàng của Chúa Giêsu!  Chúng ta biết ngày đó đang đến, nhưng cho đến khi nó xảy ra, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta đặt hy vọng vào Người.  Chúa không muốn chúng ta nản lòng trước tình trạng của thế giới hay tình trạng của chính cuộc sống của chúng ta.  Người muốn giúp chúng ta, chữa lành chúng ta và cứu chuộc chúng ta để chúng ta có thể đến gần hơn với sự hài hòa hoàn hảo của thiên đàng ở đây trên trần gian.  Và vì thế Chúa mời gọi mỗi chúng ta: “Các ngươi hãy hết lòng trở về với Ta” (Ge 2,12).  Lời kêu gọi trở về với Chúa này nghe có vẻ đáng sợ, đặc biệt là trong một mùa như Mùa Chay, với sự nhấn mạnh vào sự ăn năn và sự từ bỏ mình (sự hy sinh).  Do vậy, chúng ta hãy nhìn vào ba sự thật trung tâm về đức tin của chúng ta sẽ giúp chúng ta dễ dàng đến gần với Chúa hơn trong Mùa Chay này.

 Hãy Hướng Về Thiên Chúa Đấng Là Tình Yêu.  Thiên Chúa đã từng nói với dân của Người rằng: “Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau?  Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ” (Is 49,15).  Chúa đã từng nói với ông Giôsua: “Ta sẽ không bỏ rơi ngươi, Ta sẽ không ruồng bỏ ngươi” (Gs 1,5).  Và Chúa Giêsu tiếp tục nói với chúng ta: “Thầy ở cùng anh em cho đến ngày tận thế” (Mt 28,20).

 Đời này đến đời kia, Thiên Chúa bảo đảm với dân của Người rằng Chúa sẽ không bao giờ bỏ rơi họ.  Và Chúa làm điều này không chỉ bằng lời nói.  Tất cả mọi hành động của Chúa đều cho chúng ta thấy một chiều kích khác về việc Chúa yêu chúng ta sâu sắc như thế nào.  Chúa đã cho thấy điều đó khi giải cứu dân Israel khỏi cảnh nô lệ ở Ai Cập.  Chúa đã cho thấy điều đó khi Chúa gọi Đavít để lôi kéo dân Chúa vào một vương quốc.  Chúa đã cho thấy điều đó khi Chúa hứa sẽ đưa dân Israel trở về sau thời lưu đày ở Babylon.  Và hơn bất cứ nơi nào khác, Thiên Chúa đã cho thấy điều đó khi sai Con Một của mình đến để mặc lấy thân phận người phàm và hiến mạng sống mình trên thập giá vì chúng ta.

 Chúng ta có thể kiểm tra những lời nói và hành động của Thiên Chúa để thấy tình yêu của Người, nhưng trong phân tích cuối cùng, cho thấy rằng chỉ bằng niềm tin chúng ta có thể bắt đầu trải nghiệm tình yêu đó.  Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng: “Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy” (Dt 11,1).  Khi chúng ta thực hành đức tin của mình, tất cả những gì chúng ta hy vọng vào Chúa Kitô có thể trở thành hiện thực đối với chúng ta, mặc dù chúng ta không thể thực sự nhìn thấy nó.  Mỗi khi chúng ta cầu nguyện, mỗi khi chúng ta cử hành (lãnh) các bí tích, đặc biệt là Bí tích Thánh Thể, chúng ta có thể nói: “Lạy Chúa Giêsu, con biết Chúa đang ở cùng con.  Con tin vào Chúa; xin hãy cho con thấy tình yêu của Chúa.”  Đây là một lời cầu nguyện mà Chúa thích trả lời và đôi khi theo những cách đáng ngạc nhiên!

 Hãy Hướng về Thiên Chúa Đấng Thương Xót.  Sau khi Chúa Giêsu chịu phép rửa, Gioan Tẩy Giả nói rằng: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa bỏ tội trần gian” (Ga 1,29).  Chúng ta biết rằng Chúa Giêsu đã chết vì tội lỗi của chúng ta.  Chúng ta công bố sự thật này vào mỗi Chúa nhật qua Kinh Tin Kính trong Thánh lễ.  Nhưng đâu là trải nghiệm sự tự do đến từ hành động của lòng thương xót của Chúa Giêsu?

 Một ngày nọ, một giáo viên môn tôn giáo đã yêu cầu một trong những sinh viên của mình lên bảng và bắt đầu viết ra những tội lỗi phổ biến nhất.  Học sinh bắt đầu viết những từ như nói dối, giận dữ, ăn cắp, ghen tuông và ham muốn.  Khi anh ta viết từng tội lỗi, giáo viên ở ngay sau anh ta với một khăn lau bảng, xóa sạch các từ.  Thầy giáo nói với các sinh viên rằng: “Đây là cách Thiên Chúa nhanh chóng tha thứ cho chúng ta khi chúng ta cầu xin.  Khi Thiên Chúa tha thứ cho bạn, tội lỗi của bạn sẽ biến mất, được xóa sạch.  Tất cả những gì còn lại là tình yêu của Chúa dành cho bạn.”

 Khi chúng ta đi xưng tội, chúng ta có thể trải nghiệm điều gì đó giống như sinh viên đó đã trải nghiệm trong lớp học môn tôn giáo của mình.  Không phải lúc nào cũng dễ dàng thú nhận tội lỗi của chúng ta, đặc biệt là vì nó có nghĩa là công khai thú nhận những thất bại của chúng ta với một linh mục.  Nhưng khi chúng ta lên tiếng xưng thú tội lỗi của mình và sau đó nghe những lời tha tội, Chúa Thánh Thần đến và trút bỏ gánh nặng tội lỗi khỏi chúng ta, ngay khi giáo viên đó xóa bỏ những từ trên bảng.  Những tội lỗi đã biến mất và thay vào vị trí của chúng là sự thương xót của Đấng đã nói: “Ta cũng không lên án con đâu” (Ga 8,11).

 Hãy quay về với Thiên Chúa Đấng Chan Chứa Ân Sủng.  Con người chúng ta đầy những mâu thuẫn.  Chúng ta muốn trở nên tốt, tử tế và yêu thương, nhưng tất cả rất thường xuyên cuối cùng chúng ta đưa ra những lựa chọn làm tổn thương mọi người, đặc biệt là những người gần gũi nhất với chúng ta.  Chúng ta muốn ở gần với Thiên Chúa, nhưng nó có thể rất dễ rơi vào sự bất tuân.  Chúng ta không muốn phạm phải bất kỳ tội lỗi nào, nhưng chúng ta thường thấy mình làm điều mà chúng ta không muốn làm.

 Thánh Phaolô đã nhìn thấy trận chiến này trong tâm trí của chính mình.  Thánh nhân thực sự yêu mến Chúa Giêsu và chân thành muốn phục vụ Giáo Hội bằng cả cuộc đời.  Nhưng đối với tất cả những lời rao giảng về tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa, Thánh Phaolô đôi khi có thể là một lực lượng của sự chia rẽ và thù địch.  Phaolô đã tranh luận với tông đồ của mình là Banaba về một quyết định truyền giáo, tranh luận rất nhiều đến nỗi hai người chia tay nhau trong giận dữ (x. Cv 15,36-40). Phaolô đã chọn cách nói chuyện với Thánh Phêrô trước mặt các tín hữu ở Antiôkia, thay vì kéo Phêrô sang một bên và nói chuyện riêng với ngài (x. Gl 2,11-14).  Phaolô thậm chí còn đi xa đến mức mong muốn một hình thức báo thù đặc biệt về kẻ thù của mình (x. Gl 5,11-12).

 Nhưng Phaolô đã nhận thức đầy đủ về những điểm yếu và những thất bại của mình.  Phaolô đã từng kêu lên rằng: “Tôi thật là một người khốn nạn!  Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này?” (Rm 7,24).  Và ngay lập tức, ngài vui mừng trong câu trả lời: “Tạ ơn Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Rm 7,25).

 Bí mật của Phaolô là gì?  Thông qua kinh nghiệm của chính mình về lòng thương xót của Thiên Chúa, ngài đã học được rằng: “Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội” (Rm 5,20).  Thánh nhân biết rằng cho dù ngài có phạm bao nhiêu tội lỗi, thì ân sủng dồi dào của Thiên Chúa sẽ luôn vượt trội hơn những tội lỗi ấy.  Ngài biết rằng ân sủng chan chứa của Thiên Chúa đủ sức mạnh để biến đổi cả tâm hồn ương bướng của mình, vì vậy ngài luôn có niềm hy vọng.  Phaolô tiếp tục xác tín lời hứa: “Nếu ta kiên tâm chịu đựng, ta sẽ cùng hiển trị với Người (Chúa Kitô)” (2 Tm 2,12).  Ân sủng của Chúa Giêsu sẽ không bao giờ làm ngài thất vọng.

 Hãy tin rằng sức mạnh cứu độ của Chúa Giêsu lớn hơn sức mạnh của những thói quen tội lỗi của bạn.  Hãy tin rằng ân sủng của Thiên Chúa luôn sẵn sàng giúp bạn thay đổi.  Hãy nhớ rằng, bạn có thể thấy mình là một tội nhân khủng khiếp.  Nhưng đó không phải là cách mà Chúa nhìn thấy bạn.  Chúa xem bạn như đứa con yêu dấu của Chúa và Chúa muốn giúp bạn trở nên giống Chúa hơn mỗi ngày.

 Một Lời Mời Độ Lượng.  Tình Yêu.  Lòng Thương Xót.  Ân Sủng.  Thiên Chúa đang mời gọi chúng ta quay về với Chúa trong bốn mươi ngày tới để Chúa có thể ban những món quà này cho chúng ta.  Chúa hứa rằng nếu chúng ta nhận lấy lời mời của Chúa mỗi ngày khi cầu nguyện, đức tin của chúng ta sẽ lớn lên và cuộc sống của chúng ta sẽ thay đổi.  Chúng ta sẽ tìm thấy một sức mạnh nội tâm từ Chúa Thánh Thần để giúp chúng ta vượt qua cám dỗ và tội lỗi.

 Lời mời này có hai mặt.  Về phần Thiên Chúa, Chúa sẽ làm sâu sắc kinh nghiệm và niềm tin của chúng ta vào tình yêu, lòng thương xót và ân sủng của Chúa.  Bởi vì Chúa quan tâm đến chúng ta, Chúa sẽ đánh động lương tâm của chúng ta khi chúng ta đối diện với cám dỗ.  Và Chúa sẽ giúp chúng ta trở nên tử tế, kiên nhẫn và yêu thương hơn.  Do đó, chúng ta hãy cố gắng sẵn sàng với Thánh Thần của Chúa trong ngày sống.  Hãy tìm những cách mà Thánh Thần đang thúc đẩy bạn và thúc giục bạn ở gần Chúa.

 Về phần mình, chúng ta cần dành thời gian cho việc cầu nguyện, sao cho nó thành chương trình trong giờ cầu nguyện hàng ngày, ngay cả khi đó chỉ là mười hoặc mười lăm phút mỗi ngày – nhờ đó chúng ta có thể chạm vào ân sủng của Chúa.  Sau đó, trong suốt ngày sống, chúng ta cần cố gắng hết sức để nói không với cám dỗ và thưa vâng với các mệnh lệnh của Thiên Chúa và lời hứa của Chúa để trợ giúp chúng ta.  Như thánh Phaolô đã viết, chúng ta phải cố gắng “cởi bỏ con người cũ” với lối sống xưa kia của chúng ta và “mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện” (Ep 4,22.24).

 Có thể khó thay đổi cuộc sống của chúng ta.  Nhưng chúng ta không đơn độc.  Với sự trợ giúp đỡ tràn đầy ân sủng của Thiên Chúa, chúng ta có thể tiến bộ trong Mùa Chay.

 Điều đó có thể mất thời gian.  Bạn có thể không luôn luôn thành công.  Nhưng khi thời điểm Phục Sinh đến, bạn có thể chắc chắn bạn sẽ thấy một số thay đổi tích cực, đáng khích lệ trong cuộc sống của bạn.  Có lẽ bạn sẽ có nhiều khát vọng cầu nguyện hoặc đi Lễ.  Bạn có thể tiếp cận một tình huống căng thẳng hoặc khó khăn với sự bình an hơn.  Hoặc có thể Chúa sẽ làm mềm lòng bạn để bạn sẵn sàng và có thể tha thứ.

 Vì thế, chúng ta hãy quyết định phải hết lòng trở về với Chúa trong Mùa Chay này.  Chúng ta hãy cầu xin Chúa đến và lấp đầy chúng ta bằng tình yêu, lòng thương xót và ân sủng của Chúa.  Chúng ta hãy làm những gì chúng ta có thể để mở cánh cửa trái tim của chúng ta và thưa lên rằng: “Lạy Chúa Giêsu, con sẽ tiếp đón Chúa”.

 Chuyển ngữ:  Sr. Maria Trần Thị Ngọc Hương

Theo The Word Among UsLent 2019 Issue

 From: Langthangchieutim

Khủng hoảng virus Vũ Hán gia tăng, TT Trump tuyên bố Ngày cầu nguyện quốc gia

Le Tu Ngoc and Tuan Tran shared a link.
About this website

 

Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump hôm thứ Sáu 13/3 (giờ địa phương) đã tuyên bố ngày Chủ Nhật 15/3 sẽ là Ngày cầu nguyện quốc gia.

  • Tổng thống Trump kêu gọi toàn quốc cùng nhau cầu nguyện vào ngày 15/3, ông viết trên Twitter: “Tôi rất vinh dự được công bố ngày Chủ Nhật, 15/3 là Ngày cầu nguyện quốc gia. Trong suốt chiều dài lịch sử, chúng ta là Đất nước luôn hướng tới Thiên Chúa để được bảo vệ và được ban cho sức mạnh trong những thời khắc như này. Bất kể bạn ở đâu, tôi khuyến khích bạn hãy thành kính cầu nguyện. Cùng nhau, chúng ta sẽ dễ dàng thắng thế [virus corona ]