Thuốc trị Cô Vi

Thuốc trị Cô Vi

Bác Sĩ Nguyễn Trần Hoàng

Cho đến ngày 30 Tháng Tư, 2020, trên trang mạng chính thức của CDC (Trung Tâm Phòng Ngừa Bệnh Tật của Hoa Kỳ), Đại Học Johns Hopkins, Sở Chăm Sóc Sức Khỏe Quận Cam California (Orange County Health Care Agency) cho biết:

-CDC, số trường hợp nhiễm COVID-19 được xác nhận là 1,005,147, số tử vong được xác nhận là 57,505. Như vậy, tỉ lệ tử vong (dựa theo báo cáo này) là 5.7% (hơi giảm so với tuần trước 5.9%).

+Trên toàn thế giới được xác nhận là 3,218,430 số tử vong được xác nhận là 228,625. Như vậy, tỉ lệ tử vong (dựa theo báo cáo này) là 7.1%.

+Ở Mỹ được xác nhận là 1,042,874 số tử vong được xác nhận là 61,123 (5.9%).

+Số lượng người đã được thử nghiệm ở Mỹ là 6,026,170 (so với tuần trước 4,493,106 trường hợp (có vẻ việc thử nghiệm chưa tăng nhanh như dự định).

Theo các thống kê trên, thì Hoa Kỳ vẫn còn “lần quần” lên lên, xuống xuống ở trên đỉnh.

-Sở Chăm Sóc Sức Khỏe Quận Cam California (Orange County Health Care Agency), số trường hợp nhiễm COVID-19 được xác nhận là 2,252 (so với tuần trước 1,827,) số tử vong được xác nhận là 44 (so với tuần trước 36). Như vậy, tỉ lệ tử vong (dựa theo báo cáo này) là 1.95% (gần bằng so với tuần trước 1.97%).

Ngày 27 Tháng Tư là ngày quận Cam có số người bị nhập viện và cần chăm sóc đặc biệt (trong ICUs-Intensive Care Units) vì COVID-19 cao nhất từ đầu dịch COVID-19 đến giờ, sau đó (cao thứ nhì) là ngày 28 Tháng Tư (chưa có số liệu của ngày 29 Tháng Tư lúc bài này được viết).

Dựa theo các con số được xác nhận nêu trên, thì: Số trường hợp nhiễm được xác nhận, vẫn đang đứng trên đỉnh (toàn Hoa Kỳ); hoặc tiếp tục đi lên đỉnh (quận Cam, California); tỉ lệ tử vong (ở chỗ nào kể trên đây, cũng) vẫn đang đứng lại (chưa thấy lên hay xuống).

Và với việc (cần cân nhắc cho việc) “thả lỏng,” để nền kinh tế có thể hâm nóng lại, nguy cơ lây nhiễm (không biết) có thể sẽ tăng cao hay không, vẫn là điều cần được quan sát cẩn thận

Bắt đầu có thuốc trị Cô Vi 

Hiện nay, vẫn đang có nhiều nghiên cứu đang được ráo riết thực hiện nhằm tìm ra các phương thức điều trị SARS-COV-2, virus gây ra đại dịch COVID-19 trên toàn thế giới, mà nơi đang bị nặng nhất là Hoa Kỳ.

Vào ngày 29 Tháng Tư, Viện Nghiên Cứu về Sức Khỏe Hoa Kỳ (NIH-National Institutes of Health), đã đưa ra một thông cáo báo chí về việc một trong số các loại thuốc đang được nghiên cứu, Remdesivir, ban đầu cho thấy có hiệu quả một phần trong việc điều trị  COVID-19.

Vào ngày trước đó, 28 Tháng Tư, Bác Sĩ Anthony Fauci, một bác sĩ y khoa cũng như là một chuyên gia về miễn nhiễm (immunologist), giám đốc của Viện Quốc Hoa Kỳ về Các Bệnh Dị Ứng và Nhiễm Trùng (National Institute of Allergy and Infectious Diseases -NIAID, một trong số 27 viện và trung tâm của NIH), cũng là một thành viên quan trọng của Nhóm Đặc Nhiệm về virus Corona của Tòa Bạch Ốc (White House Coronavirus Task Force), cũng công bố tin này trong một buổi họp báo của Nhóm Đặc Nhiệm, với sự hiện diện của Tổng Thống Donald Trump.

Theo thông cáo báo chí này của NIH, các bệnh nhân bị nhập viện với tình trạng nặng và có liên quan đến phổi, khi được dùng remdesivir, đã phục hồi nhanh hơn so với các bệnh nhân tương tự được nhận placebo (một chất không có tác dụng điều trị, dùng để so sánh với tác dụng điều trị cũng như các tác dụng phụ của thuốc đang được nghiên cứu). Đây là kết quả phân tích các dữ liệu ban đầu của một nghiên cứu ngẫu nhiên, có so sánh với placebo (randomized, controlled trial), liên quan đến 1,063 bệnh nhân, đã bắt đầu từ 21 Tháng Hai, 2020, được Viện Quốc Hoa Kỳ về Các Bệnh Dị Ứng và Nhiễm Trùng bảo trợ. Đây là nghiên cứu đầu tiên được thực hiện ở Mỹ để lượng giá một thực nghiệm cho việc điều trị COVID-19.

Một hội đồng độc lập nhằm kiểm soát sự an toàn và cũng như (giá trị của các) dữ liệu của thực nghiệm này, đã họp vào ngày 27 Tháng Tư để xem xét các kết quả ban đầu này. Sau khi xem xét, hội đồng này đã ghi nhận rằng remdesivir đã tốt hơn placebo (chất không có tác dụng điều trị, dùng để so sánh với tác dụng điều trị cũng như các tác dụng phụ của thuốc đang được nghiên cứu) trong việc giảm thời gian bệnh, cũng như tỉ lệ tử vong, giống như các phương pháp định lượng (metric) thường được dùng trong các thử nghiệm về điều trị cúm. Việc phục hồi trong nghiên cứu này, được định nghĩa là khỏe mạnh đủ để được xuất viện hoặc trở lại các hoạt động bình thường.

Các kết quả ban đầu cho thấy rằng, các bệnh nhân nhận remdesivir đã phục hồi 31% nhanh hơn các bệnh nhân nhận placebo (chất không có tác dụng điều trị, dùng để so sánh với tác dụng điều trị cũng như các tác dụng phụ của thuốc đang được nghiên cứu), với các tính toán thống kê, cho thấy kết quả này có giá trị thống kê (p<0.001).

Một cách cụ thể, thời gian trung bình để phục hồi ở bệnh nhân được nhận remdersivir là 11 ngày, so với 15 ngày ở các bệnh nhân (chỉ được) nhận placebo (chất không có tác dụng điều trị, dùng để so sánh với tác dụng điều trị cũng như các tác dụng phụ của thuốc đang được nghiên cứu).

Các kết quả ban đầu này cũng cho thấy lợi ích trong việc giảm tỉ lệ tử vong là 8% ở nhóm được thử với remdesivir so với tỉ lệ tử vong là 11.6% ở nhóm (chỉ được) nhận placebo.

Các thông tin chi tiết hơn về thực nghiệm này sẽ được công bố trong các thông báo kế tiếp.

Như là một phần của nỗ lực của Cơ Quan Quản Trị Dược Phẩm (FDA – U.S. Food and Drug Administration) nhằm thúc đẩy việc phát triển cũng như mang đến các điều trị có tiềm năng cho COVID-19, NIH đã và đang ráo riết làm việc và thảo luận với Gilead Sciences, hãng dược phẩm nghiên cứu và bào chế remdesivir, để làm cho thuốc này có thể sẵn sàng trong việc điều trị các bệnh nhân thích hợp, trong thời gian càng sớm càng tốt.

Viện Quốc Hoa Kỳ về Các Bệnh Dị Ứng và Nhiễm Trùng cũng sẽ tiếp tục đưa ra kế hoạch cho việc tiếp tục nghiên cứu thuốc này. Nghiên cứu này, đầu tiên đã được thực hiện ở University of Nebraska Medical Center/Nebraska Medicine, hồi Tháng Hai, 2020. Tổng cộng có 68 trung tâm khác sau đó đã tham gia vào nghiên cứu, 47 ở Mỹ, và 21 ở các nước Âu và Á Châu.

Mỗi người cần làm gì trong thời điểm này? 

Ở trong nhà, không đi ra chỗ đông người (nếu không thật cần thiết). (Hình minh họa: AP Photo/Hau Dinh, File)

Đây là một tiến bộ quan trọng trong việc đối phó với đại dịch COVID-19, bao gồm nhiều việc, trong đó, một số trong các điều chính nhất là: thử nghiệm rộng rãi; lần dấu vết, khoanh vùng các nhóm bị nhiễm và có nguy cơ lây lan; phát triển thuốc trị; phát triển vaccine; sẵn sàng đối phó kịp thời và hiệu quả nếu dịch bùng phát trở lại.

Kết quả của nghiên cứu về remdesivir, dù đáng mừng, nhưng chỉ là ban đầu, và khi được FDA chuẩn thuận, cũng chỉ để dùng trên bệnh nhân nặng, có liên quan tới phổi, và đã được nhập viện.

Như các số liệu nên trên, đặc biệt là ở quận Cam, dù số nhiễm và nhập viện không cao như nhiều nơi khác, nhưng con số bị nhiễm, tỉ lệ tử vong, số phải nhập viện và cần chăm sóc đặc biệt vẫn đang tăng lên, chưa thấy ngừng hoặc đi xuống.

Như thường lệ, vẫn có nhiều tin tức tỏ ra nghi ngờ, bàn ra tán vào về giá trị của nghiên cứu.  Một trong những điều đó là mới gần đây, một nghiên cứu cũng về thuốc này, do các nhà nghiên cứu Trung Hoa thực hiện, được đăng trên tạp chí Lancet (một tạp chí nổi tiếng về y khoa), cho rằng thuốc này không có hiệu quả mong đợi, mà còn gây ra nhiều tác dụng phụ nguy hiểm.

Mỗi người mỗi ý. Có người bàn tán vì công tâm, có người vì ý đồ chính trị, có tin vì được một số nước ngoài giật dây (một cách gián tiếp hay trực tiếp) không muốn điều tốt cho Hoa Kỳ. Ta có thể theo dõi, nhưng, hình như, rất dễ bị “rối.”

Một cách thực tế, để bảo vệ cho mình và mọi người, ta vẫn nên tiếp tục thực hiện tốt việc:

-Ở trong nhà, không đi ra chỗ đông người (nếu không thật cần thiết).

-Giữ khoảng cách 2 mét với người khác.

-Không sờ tay vào mắt, mũi miệng.

-Rửa tay thường xuyên và đúng cách.

-Đeo khẩu trang và che miệng bằng khăn hay khuỷu tay khi ho, để tránh lây bệnh cho người khác (nếu rủi mình đã bị nhiễm mà không biết).

Giữ sức đề kháng cho tốt, để nếu có bị nhiễm bệnh thì sẽ không bị nặng và có khả năng khỏi bệnh cao nhất. Bằng cách ăn, ngủ, uống nước, thể dục đầy đủ và thích hợp.

Theo dõi các thông báo từ chính quyền để cập nhật, hiểu, và thực hiện đúng các quy định mới.

Và quan trọng nhất: Vẫn cười thật tươi, an nhiên tự tại, để thưởng thức cuộc đời, và bình tĩnh, để nhớ làm tất cả các điều trên. [qd]

Thân mến

(714) 531-7930
drnguyentranhoang@gmail.com

TÔI MONG DÂN TỘC TÔI CÓ MỘT PHÉP MÀU…

8 SÀI GÒN

TÔI MONG DÂN TỘC TÔI CÓ MỘT PHÉP MÀU…

Nếu phân ly là định mệnh dân tộc??!!…

Tôi không nghĩ đã có dân tộc nào trên thế giới mở đầu trang sử của mình bằng một cuộc phân ly. Nhưng rủi thay, dân tộc ta đã có một trang sử khởi đầu như vậy. Đọc sử, chúng ta hãnh diện tự tôn về dòng giống con rồng cháu tiên. Điều đó, làm chúng ta quên bẵng đi ý nghĩa câu chuyện mẹ Âu Cơ đem 50 con lên núi, cha Lạc Long Quân đem 50 con xuống biển để bắt đầu một phân ly tiên khởi như định mệnh dân tộc.

Ngẫm xem, dân tộc này đã trải qua bao nhiêu cuộc phân ly kể từ ngày ấy? Ngày nay, lúc này, xứ sở thống nhất về lãnh thổ, nhưng cuộc phân ly từ lòng người vẫn cứ còn nguyên đó với nhiều sắc màu, vượt trội nhất với đỏ và vàng.

Cũng lạ, như một định mệnh trớ trêu, trong lá cờ đỏ lại có ánh vàng, trong lá cờ vàng lại có sắc đỏ, trong mình có ta, trong ta có mình, ta với mình đều là người Việt, mình với ta đều là đồng bào, ta với mình đều vỗ ngực yêu nước, nhưng mình với ta không đứng chung trong một sắc cờ! Và nếu cần phải chiến đấu với ngoại xâm, liệu ta với mình có đứng chung trong một chiến hào?

Tôi mơ hồ về câu trả lời, nhưng tôi sẽ chắc chắn hơn với câu trả lời “Có”, chỉ khi mà “ta” với “mình” đã có sự hòa hợp, hòa giải với nhau!

Vâng, sự hòa giải đấy là nan đề xứ sở, là giấc mơ 45 năm chưa trọn!

Đối diện với mỗi vấn đề, tôi vẫn thường hướng sự suy nghĩ của mình bắt đầu từ quá khứ để biết các bài học của lịch sử… Nhưng với vấn đề hòa giải, tôi muốn chúng ta bắt đầu câu chuyện từ nước Đức.

Không phải về một nước Đức phát xít của Hitler đã từng làm nhân loại kinh sợ, mà về một nước Đức thống nhất đã từng làm nhân loại phải ngã mũ kính phục từ sau sự kiện bức tường Berlin bị phá bỏ năm 1989. Chính là nước Đức mà khiến chúng ta, đã không thể đặt vô số câu hỏi tại sao khi đối chiếu với những vấn đề của đất nước mình.

Nước Đức, sau ngày thống nhất, chúng ta không rõ tại sao họ không đặt ra vấn đề buộc những người cộng tác với chính quyền Đông Đức cũ phải đi học tập cải tạo như đất nước ta? Nhưng chúng ta phải nhận thấy rằng, nhờ đó, nước Đức đã không mất đi nguồn nhân lực chất xám cực lớn và quý báu từ một nửa quốc gia còn lại, xã hội không bị xáo trộn và cũng không phải đau đáu về việc phải hòa giải với các cựu thù hàng mấy thế hệ, mà nay tất cả đang là những đồng nghiệp với nhau, cùng kề vai sát cánh phụng sự trong chính quyền nước Đức, vì quyền lợi dân tộc Đức.

Nước Đức, sau ngày thống nhất, chúng ta không hiểu tại sao người dân Đông Đức cũ đã không chọn con đường đào thoát, tỵ nạn ra nước ngoài như người dân đất nước ta! Và chúng ta cũng nhận thấy rằng, nhờ đó, hàng triệu người dân nước Đức đã không phải phiêu lưu đánh đố số phận của mình trên những chiếc ghe nhỏ giữa đại dương, với vô vàn bất trắc: bão tố, sóng biển, cá mập, hải tặc, tù đày và kể cả điều xấu nhất là cái chết trước khi đến được bến bờ mong muốn. Hơn cả thế, người dân Đức không phải đối diện với sự mất mát và nước Đức cũng không phải đối diện với sự ly tán hiện hữu dai dẳng trong lòng người dân nước mình.

Nước Đức, sau ngày thống nhất, chúng ta không rõ tại sao và như thế nào mà họ lại có thể chấp nhận một người vốn xuất thân từ một đoàn viên Đoàn thanh niên Cộng sản Đức thuộc Đông Đức cũ, nhưng chỉ 15 năm sau khi thống nhất, thì người này đã có thể trở thành người phụ nữ đầu tiên và trẻ nhất đắc cử vào chức vụ Thủ tướng đầy quyền lực của nước Đức thống nhất? Bà Angela Merkel ! Bạn có nghĩ rằng, nếu người phụ nữ tài trí kiệt xuất này sống ở đất nước chúng ta, Bà có thể đã có một tương lai rất khác, khi mà đất nước chúng ta sau ngày thống nhất vẫn còn nguyên đó sự dè dặt trước những người có lý lịch không tương thích với chính quyền và trong quá khứ đã từng có chính kiến rất khác biệt với chính quyền.

Không chỉ câu chuyện từ nước Đức, mà những câu chuyện về sự hòa giải, hòa hợp từ Nam Phi, Miến Điện, thậm chí từ quốc gia Cao Miên láng giềng cũng đều là bài học hữu dụng.

Tại sao và tại sao? Trả lời được những thắc mắc đó, chúng ta có thể trả lời cho con cháu đời sau biết lý do tại sao ông cha của chúng hiện nay phải kêu gọi hòa giải mối bất hòa có từ những thập kỷ năm mươi và một lần nữa vào thập kỷ bảy mươi của thế kỷ trước, giữa những người Việt có chung giòng máu Lạc Hồng, sinh từ cùng một bọc trăm trứng của mẹ Âu Cơ?

Giữa thập kỷ năm mươi, năm 1954, không phải là một quốc gia bại trận như nước Đức. Trái lại, xứ sở chúng ta vừa mới bước ra khỏi cuộc chiến với tư cách là một quốc gia chiến thắng. Nhưng phần thưởng cho người chiến thắng không vinh quang như chúng ta thường nghĩ, thường thấy, mà cũng lại là sự phân ly như nước Đức bại trận!?

Giữa thập kỷ bảy mươi, năm 1975, sau cuộc chiến khốc liệt dai dẵng kéo dài hằng hai thập kỷ, trả giá bằng sinh mệnh của nhiều triệu đồng bào, cuối cùng xứ sở của chúng ta cũng có được thống nhất dưới bánh xích xe tăng nghiến trên đường phố Sài Gòn. Nhưng kể từ ngày ấy cho đến nay đã là 45 năm, xứ sở thống nhất, nhưng lòng người dân nước ta chưa bao giờ thống nhất! Vẫn vẹn nguyên sự phân ly như những ngày nội chiến tương tàn!

Sự phân ly lòng người đau đớn lắm, nó làm thân thể người mẹ Việt xanh xao yếu ớt, như vết thương mãi rỉ máu, chẳng bao giờ biết liền sẹo…

Ngẫm lại, quả là chúng ta đã từng có một Diên Hồng chói lọi trong lịch sử đoàn kết dân tộc vào thời Trần, nhưng suốt bốn ngàn năm lịch sử cho đến nay, hình như chúng ta cũng chỉ có mỗi trang sử lẻ loi ấy?! Thỉnh thoảng, tinh thần Diên Hồng ấy lại chớp lóe trong những thời khắc vận nước lâm vào cơn nguy khốn cùng cực, khi cơn nguy khốn đã qua, thì tinh thần Diên Hồng cũng chóng tan như làn sương sớm mai!

Chúng ta phải tự hỏi: Đã có thể chìa bàn tay hòa giải với các cựu thù ngoại nhân như Pháp, Nhật, Mỹ! Nhưng chìa bàn tay hòa giải với chính đồng bào mình sao lại khó quá?

Hòa giải, giấc mơ 45 năm chưa trọn. Có thể, sau 100 năm kể từ thời điểm 1975, khi những con người đã từng là đạo diễn, diễn viên và khán giả của câu chuyện phân ly lòng người khuất bóng, thì có thể con cháu của họ sẽ ngồi lại với nhau để viết nên trang sử mới của dân tộc, trang sử không còn bóng dáng của sự phân ly trong lòng người Việt! Trang sử không còn sự phân ly như định mệnh dân tộc của tiền nhân để lại.

Như cô Tấm mong có ông Bụt, tôi mong dân tộc tôi có một phép mầu…

Tháng 04/2020
MANH DANG

BAO GIỜ NƯỚC MẮT CÓ THỂ “LAY LÒNG GỖ ĐÁ”

Huy Chiêu to K75 LƯƠNG VĂN CAN
Image may contain: 5 people, people standing
Image may contain: 2 people, outdoor
Image may contain: 2 people, people sitting, table, indoor and food
Image may contain: 2 people, people sitting, people eating, table, indoor and food
Image may contain: text
Truong Huy San is with Thach Nguyen and 3 others.

 

BAO GIỜ NƯỚC MẮT CÓ THỂ “LAY LÒNG GỖ ĐÁ”

Hai bức ảnh chụp cách nhau 13 năm, đều nói về ngày đoàn tụ của hai người tù, hai người cùng một mẹ Việt Nam, nhưng từng bị đặt ở hai bên chiến tuyến.

Bức ảnh thứ nhất, chụp ở ga Hòa Hưng năm 1988. Người đàn ông râu tóc bạc phơ trong ảnh, được xác định, là Đại tá VNCH Nguyễn Công Vĩnh. Ông từ trại cải tạo theo đường xe lửa trở về, được vợ và anh trai (chứ không phải là con trai – theo một người thân của gia đình cho biết), ra sân ga đón [không rõ ai là tác giả bức ảnh tuyệt vời này].

Bức ảnh thứ hai được nhà báo Lâm Hồng Long chụp ngày 4-5-1975, người đàn ông trong ảnh là Lê Văn Thức, tử tù Côn Đảo, khóc trên vai mẹ, bà Trần Thị Bính, quê ở xã Tam Phước, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Ông Thức được cài vào Quân lực VNCH, tốt nghiệp Trường Sĩ quan Thủ Đức, được chính quyền Sài Gòn đưa đi học khóa “tình báo tác chiến” tại Malaysia. Về nước, với lon thiếu úy. Tháng 4-1968, Lê Văn Thức bị Tòa án binh vùng 4 chiến thuật tuyên tử hình vì tội “hoạt động nội tuyến cho Cộng sản”.

Đoàn tụ chắc chắn đều là mong ước của mọi gia đình. Nhưng họ khóc. Thật khó để nói, đó là những “giọt nước mắt vui” hay là những giọt nước mắt tức tưởi. Ngày 30-4-1975, gia đình thiếu úy Lê Văn Thức nằm trong số “triệu người vui”; gia đình đại tá Nguyễn Công Vĩnh nằm trong số “triệu người buồn”. Thật trớ trêu, cả hai sau đó đều không có ai được hưởng ân huệ của hòa bình cả. Đại tá Nguyễn Công Vĩnh bị đưa đi cải tạo suốt 13 năm. Chỉ cần nhìn những chiếc răng rụng của người vợ một thời xinh đẹp của ông, đủ thấy họ đã cơ cực thế nào kể từ khi “miền Nam giải phóng”.

Nhưng, nếu như giọt nước mắt ở ga Hòa Hưng năm 1988 của gia đình đại tá Nguyễn Công Vĩnh đã khép lại một bi kịch kéo dài hơn một thập niên. Thì, giọt nước mắt của mẹ con thiếu úy Lê Văn Thức lại mở ra những ngày buồn trước mắt. Bức ảnh mang lại cho nhà báo Lâm Hồng Long nhiều vinh quang nhưng không thể hóa giải tính khắc nghiệt của chiến tranh hằn lên nhân vật.

“Với lý lịch ‘thiếu úy ngụy’, kể từ ngày hòa bình trở về, Lê Văn Thức không được bố trí công tác mới. Mãi sau này, khi một cán bộ công tác ở UBND huyện Châu Thành, Bến Tre tình cờ đọc được những bài báo viết về nhân vật trong bức ảnh ‘Mẹ con ngày gặp lại’(1991), đã tìm đến nhà anh Thức phỏng vấn và viết bài ‘Viên thiếu úy mang bản án tử hình’ (đăng trên báo Đồng Khởi thứ Bảy). Nhiều người ở địa phương mới biết đến các hoạt động trong quá khứ của anh. Và các cơ quan chức năng mới nhiệt tình vào cuộc để rồi công nhận những đóng góp, hy sinh có thực của Lê Văn Thức”[Theo Hoàng Bình Minh, báo CAND].

Mấy hôm nay, chương trình thời sự của VTV vẫn như 45 năm qua, sắp tới 30-4 là xe tăng, pháo lớn lại nổ đinh tai nhức óc. Hơn 15 năm trước, Cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt, người mất vợ và 3 người con trong chiến tranh, đã phải đi một vòng các tỉnh miền Tây, gặp gỡ rất nhiều lãnh đạo, nhà báo địa phương, ông gần như khẩn thiết kêu gọi họ đừng kỷ niệm 30-4 theo cách làm cũ nữa; đừng tiếp tục nã xe tăng đại bác vào quá khứ.

Cuối năm ấy, 2004, ông trả lời tuần báo Quốc Tế, số Xuân: “Lịch sử đã đặt nhiều gia đình người dân miền Nam rơi vào hoàn cảnh có người thân vừa ở phía bên này, vừa ở phía bên kia, ngay cả họ hàng tôi cũng như vậy. Vì thế, một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại có hàng triệu người vui mà cũng có hàng triệu người buồn. Đó là một vết thương chung của dân tộc cần được giữ lành thay vì lại tiếp tục làm nó thêm rỉ máu”.

Hàng chục nghìn bản số báo Xuân đã in của tuần báo Quốc Tế, phải đình lại, bóc bài… Mãi tới 31-3-2005, quan điểm này của ông Võ Văn Kiệt về cuộc chiến trước 30-4-1975 mới được đưa ra công chúng.

Cũng năm ấy, trước 30-4-2005, Thành ủy TP HCM gửi cho ông Võ Văn Kiệt “Dự thảo diễn văn” Bí thư Thành ủy đọc tại Lễ kỷ niệm “30 năm ngày giải phóng miền Nam”. Ông vô cùng thất vọng vì bài diễn văn vẫn lặp lại những ngôn từ sáo mòn, công thức; vẫn xe tăng, vẫn đại bác… tiếp tục nã vào người anh em.

Đã 15 năm qua, tuy liều lượng có bớt đi nhưng cách tiếp cận của bộ máy tuyên truyền vẫn không thay đổi.

Khi nghĩ về ngày kết thúc chiến tranh, cả Trịnh Công Sơn và Văn Cao đều khá lạc quan. Trịnh Công Sơn tưởng rằng, những “giọt nước mắt vui” có thể “lay lòng gỗ đá”. Văn Cao cũng hy vọng, nước mắt “sưởi ấm đôi vai anh”. Và ông tưởng: “Từ đây người biết thương người/ Từ đây người biết yêu người…” Sự khác nhau giữa Văn Cao và Trịnh Công Sơn, có lẽ ở chỗ, với một tâm hồn đầy trắc ẩn như Văn Cao, cho dù thốt ra như vậy, nhưng các dự cảm buồn vẫn ám ảnh từng phách, nhịp trong “Mùa Xuân Đầu Tiên” của ông.

Bao giờ, quê hương tôi mới hết những giọt nước mắt tức tưởi; bao giờ mới thực sự có “những giọt nước mắt vui”; bao giờ lòng người Bên Thắng Cuộc mới thôi gỗ đá.

“Con nhìn ra, nào giải phóng gì đâu”

“Con nhìn ra, nào giải phóng gì đâu”

Thảo Ngọc

30-4-2020

Lại nói về ngày 30 tháng Tư, mà nhiều người vẫn gọi là Tháng Tư Đen, được mệnh danh là ngày Giải phóng miền Nam.

Bản chất của ngày 30/4 chỉ là ngày chấm dứt cuộc nội chiến “huynh đệ tương tàn”, “nồi da xảo thịt” mà thôi. Nghĩa là anh em trong một nhà bắn giết lẫn nhau. Vì trước đó Mỹ đã rút hết quân ra khỏi Việt Nam, hòa bình được ký kết theo Hiệp định Paris năm 1973. Vậy thì có gì đáng tự hào để khoe khoang rùm beng hết năm này đến năm khác về cuộc anh em tàn sát lẫn nhau ấy?

Nhìn về hoàn cảnh lịch sử của cuộc chiến tại Việt Nam từ sau Hiệp định Paris năm 1973. Mỹ đã hoàn toàn cắt đứt mọi nguồn viện trợ cho VNCH, họ đã phải đơn thương độc mã chiến đấu với cả phe XHCN viện trợ và hậu thuẫn cho miền Bắc, thì không thua mới lạ.

Còn miền Bắc thì sao? Từ các loại vũ khí tối tân nhất của Liên Xô và Trung Quốc liên tục rót vào như máy bay, xe tăng, súng to súng nhỏ và đạn dược các loại, cho đến quân trang quân dụng và nhu yếu phẩm, đều được phe XHCN viện trợ và trang bị tận răng.

Bên cạnh đó có hàng ngàn cố vấn quân sự của Liên Xô về điều khiển tên lửa và lái máy bay sang Việt Nam hỗ trợ, cùng với hàng chục ngàn binh lính Trung Quốc đến bảo vệ những khu vực trọng yếu và làm đường sá, để cho miền Bắc dồn hết quân lực vào đánh nhau với miền Nam.

Có thể nói Việt Nam lúc đó đã trở thành bãi chiến trường để thử vũ khí cho các cường quốc, trong đó lấy sinh mạng người Việt làm vật hy sinh. Quá đau đớn.

Nhìn vào lịch sử của các cuộc nội chiến, như cuộc nội chiến Nam-Bắc nước Mỹ 1861–1865, sau khi các bang miền Bắc chiến thắng, hai bên bắt tay giải hòa, và “bên thắng cuộc” sau đó không hề tổ chức mừng chiến thắng rầm rộ như Việt Nam mấy chục năm nay.

Cộng sản Trung Quốc sau khi chiến thắng Quôc Dân đảng của Tưởng Giới Thạch năm 1949, buộc quân Tưởng phải chạy ra trú ngụ tại Đài Loan. Nhưng sau đó hàng năm phía Trung Quốc cũng không tổ chức mừng chiến thắng.

Trước đây Nhà Nguyễn cũng không kỷ niệm ngày chiến thắng quân Tây Sơn, mặc dù họ cũng thống nhất đất nước, thu giang sơn về một mối.

Hàng năm “Bên thắng cuộc” càng tổ chức mừng chiến thắng để khoe khoang thành tích chém giết đồng bào mình bao nhiêu thì càng khoét sâu nỗi đau của hàng triệu người bấy nhiêu. Điều đó càng đi ngược lai chủ trương hòa hợp và hòa giải dân tộc mà đảng và nhà nước vẫn tuyên truyền và rêu rao lâu nay.

Trong khi hàng chục vạn sinh mạng binh lính đôi bên còn phơi xác đâu đó trên các bãi chiến trường xưa mà chưa được hồi hương với gia đình và thân nhân. Trong khi hàng triệu người dân bị tàn phế và mang trong mình những vết thương do hậu quả chiến tranh không thể lấy gì bù đắp được. Vậy thì chiến thắng và vinh quang nỗi gì?

Trong khi nhân dân miền Nam đang sống hạnh phúc, tự do thanh bình, từ thành thị đến nông thôn đang hưởng không khí hòa bình và xây dựng đất nước, thì bỗng dưng chiến tranh ập đến với tên gọi là “giải phóng”. Nhà cửa bị đốt cháy, làng mạc bị trở thành bãi chiến trường, cầu cống đường sá bị phá sập, cảnh đầu rơi máu chảy lại diễn ra. Thì đó là giải phóng cái gì?

Có một bài thơ gửi mẹ, được cho là của một người lính miền Bắc tử trận tại chiến trường miền Nam, được phía đối phương nhặt được, có những câu như sau:

Và tác giả bài thơ kết thúc với nỗi niềm day dứt khôn nguôi:

“Đêm hôm ấy mắt con tràn lệ
Ác mộng về con trằn trọc thâu canh”.

VÁN BÀI LẬT NGỬA

Liên Trà

 VÁN BÀI LẬT NGỬA

(Các ông chỉ có một ĐƯỜNG BINH …)

Sau hai vòng đàm phán không chính thức với mục đích nếu không đạt được Hiệp ước Liên minh Quân sự với Hoa Kỳ thì ít ra cũng được phép mua vũ khí từ Mỹ, Đại diện CSVN đành về nước tay không với gói quà 18 triệu đô viện trợ cho Cảnh sát Biển.
Hôm trước khi ra sân bay về nước, Đại diện CSVN có ngõ lời mời người đối tác phía Mỹ một buổi cơm tối thân mật tại một nhà hàng Tàu trong vùng Virginia. Nhà hàng này nổi tiếng với món Vịt Bắc Kinh và có rất nhiều Tổng thống Mỹ ghé qua ăn và chụp hình lưu niệm. Vừa bước vô cửa người đại điện Mỹ nói chào một cách dí dỏm:
– Ông cũng khéo chọn lựa chứ? Mỹ gặp Việt trong nhà hàng Trung Quốc?
Đại diện CSVN cười và giải thích:
– Nhà hàng này có chủ là người Đài Loan. Cứ xem như kẻ thù của kẻ thù là bạn.
Đại diện Mỹ buột miệng ra một câu tiếng Việt:
– Thế ra là nhà hàng của “Thế lực THÙ (của) ĐỊCH” à?
Đại diện CSVN phá lên cười:
– Gớm. Ông cũng rành tiếng Việt đấy chứ?

– Tôi học tiếng Việt ở Mỹ, học tiếng lóng tiếng láy ở Sài Gòn khi còn làm tùy viên văn hóa bên đó trước năm 1975. Sau này vẫn theo dõi thời sự và trao đổi trên Facebook. Chúng ta có thể thảo luận bằng tiếng Việt để khỏi mất thì giờ. Ông muốn gặp tôi lần cuối chắc là có câu hỏi gì cho tôi?
Đại diện CSVN vào thẳng vấn đề:
– Hai vòng đàm phán qua ông đã kết luận chúng tôi không thể có Liên minh Quân sự với Mỹ vì Trung Quốc sẽ cản trở. Chúng tôi không có đủ ngân sách để mua vũ khí tự túc. Xem ra giải pháp quân sự lúc này với Trung Quốc không khả thi. Thế thì giải pháp pháp lý, ông nghĩ có khả thi hay không? Ý tôi muốn nói rằng đưa Trung Quốc ra Tòa án Quốc tế để kiện như Philipines đang làm thì có khả thi không?
– Cơ hội rất ít, thưa ông. Và các ông nên cân nhắc cẩn thận về các bằng chứng trình trước tòa. Vì nếu tòa phán quyết các ông THUA thì con đường tương lại còn gian nan hơn nữa. Phán quyết mới nhất của tòa cấp quốc tế xem ra là bản án tử hình cho các ông tại Biển Đông. Khi ấy các ông bị đẩy ra bên lề mọi tranh chấp sau này của các nước trong vùng đối với Biển Đông.
– Nhưng nếu chúng tôi liên kết kiện với Phi hay các nước khác?
– Tôi cũng nhận thấy các ông đang có hướng này. Khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ghé thăm Phi hôm qua. Nhưng khả năng Phi liên kết với ông trong vụ kiện rất thấp vì khi Phi kiện các ông không ủng hộ. Bây giờ các ông tham gia với BẰNG CHỨNG BẤT LỢI hơn thì dĩ nhiên Phi khó chấp nhận.
– Chúng tôi có đầy đủ các bằng chứng THUẬN LỢI từ thời Thực dân Pháp đến Việt Nam Cộng Hòa rằng Việt Nam có đã xác định chủ quyền trên hai quần đảo này liên tục cả trăm năm cơ mà. Sao ông lại nói BẤT LỢI?
– Các ông đang trưng dẫn bằng chứng của những chế độ đã qua mà không hề có bằng chứng xác nhận chủ quyền cấp quốc tế từ chế độ của các ông. Xem ra khó thuyết phục tòa án. Các ông có thể trưng dẫn hình ảnh thời thơ ấu trong một căn nhà, những câu chuyện tuổi thơ ở đó, trong khi người ta trình ra GIẤY BÁN NHÀ của bố các ông, thì dĩ nhiên tòa án không thể cho các ông vào nhà được.
– Ý ông muốn nói đến Công Hàm Phạm văn Đồng năm 1958?
– Đúng. Các ông biết Công Hàm này đã lâu nhưng có nhiều bằng chứng cho thấy các ông cố NÉ TRÁNH nó. Trong khi ngược lại gần đây Trung Quốc lại trưng công hàm này ra trước quốc tế. Xem ra họ có nắm đàng cán về vụ này!
Đại diện CSVN cười sặc sụa:
– Công hàm đó KHÔNG CÓ HIỆU LỰC ông ơi. Phạm văn Đồng dù có nói thẳng là “giao Trường Sa và Hoàng Sa cho Trung Quốc” thì cũng không có hiệu lực. Đó chỉ là ĐÒN NGOẠI GIAO … KHÔN NGOAN của chúng tôi để nhận viện trợ từ Trung Quốc mà đánh Mỹ. Năm 1958 chúng tôi không có chủ quyền ở Hoàng Sa, Trường Sa.
Chờ cho người đại diện CSVN cười xong, uống một ngụm nước, thì đại diện Mỹ mới từ tốn lên tiếng:
– Đối với luật pháp Tây Phương chúng tôi thì chúng tôi phân biệt rất rõ sự tách biệt giữa “khế ươc buôn bán” và “chủ quyền”.
– Ý ông nói là các ông có thể bán những gì các không có cơ à. Thật là HOANG ĐƯỜNG và TRẺ CON.
– Chuyện có thật ông à. Khế ước buôn bán là giao kết giữa hai hay nhiều bên về chuyển nhượng một cái gì đó nó có thể trong hiện tại hay trong tương lai để đổi lấy giá trị tiền bạc hay vật chất có thể giao hôm nay hay giao vào một thời điểm trong tương lai. Như vậy vào năm 1958 các ông hứa bán một cái gì đó các ông không có ngay lúc đó, và lời hứa sẽ giao hàng ngay khi các ông có. Vấn đề là phía Trung Quốc tin như vậy và ủng hộ các ông biến điều đó thành hiện thực. Đổi lại họ cung cấp viện trợ cho các ông gần cả tỉ đô la về vật chất và con người để tiến hành chiến tranh chống chúng tôi.
Năm 1958 các ông không có CHỦ QUYỀN nhưng các ông đã làm KHẾ ƯƠC, thì khi các ông có chủ quyền các ông phải thực hiện khế ước buôn bán đó.
– Thế các ông có trường hợp buôn bán kiểu đó trong thực tế không?
– Có chứ ông. Trong sở hữu chứng khoán, thị trường thế giới có cái gọi là “future options”. Ông không dám mua chứng khoán đó vì ông sợ thua lổ, ông có thể trả tiền với LỜI HỨA sẽ mua và công ty đó phải giao “chủ quyền” chứng khoán đó cho ông trước thời điểm nào đó, dù nó lên hay xuống thấp hơn giá trị ông trả. Rồi ông cần tiền ông vẫn có thể bán LỜI HỨA đó cho người khác và cứ thế cho đến khi thời điểm hứa đó đến thì người cuối cùng phải … THỰC HIỆN. Cái đó là buôn bán thứ ông không có chủ quyền …
Đại diện CSVN nghiêm mặt lại biện hộ:
– Nhưng ông không đọc thấy trong ngôn từ Thủ Tướng Phạm văn Đồng rất KHÔN NGOAN không hề đề cập để chuyện “giao chủ quyền” như cái ví dụ mà ông nêu. Ông ta chỉ nói …
“có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển”
Đại diện Mỹ cười rồi nói:
– Các ông đã có lịch sử CÔNG NHẬN công hàm này. Đó là vào năm 1974 khi Trung Quốc tấn công Hoàng Sa thuộc chủ quyền VNCH. Các ông đã “tôn trọng hải phận của Trung Quốc trong mọi quan hệ trên mặt biển” nên các ông hoàn toàn để mặc cho Trung Quốc hành động chiếm chủ quyền … TƯƠNG LAI của các ông. Thế thì sao các ông có thể biện minh trước tòa rằng một văn bản không hiệu lực lại được tôn trọng?
– Chúng tôi cũng như các ông thôi. Hạm đội 7 các ông nằm đó đâu có động tĩnh gì!
– Hoa Kỳ bị ràng buộc bỡi Thông cáo chung Thượng Hải với Trung Quốc và Hiệp định Paris, phải rút quân và trả lại quyền tự quyết cho VNCH.
Đại diện Mỹ ngừng một lát rồi nói tiếp:
– Tôi xem công hàm Phạm văn Đồng nhiều lần và phải công nhận vào thời điểm năm 1958, ông Đồng hay ai đó soạn cho ông Đồng ký công hàm này là “khôn liền” ngay lúc đó mà không có … “khôn lâu”.
– Ý ông là?
– Ngôn từ trong công hàm này vào năm 1958 rất là KHÔN NGOAN. Vì các ông BÁN VỊT TRỜI mà thu được gần cả tỉ đô la viện trợ của Trung Quốc cho một món hàng tương lai không biết có chiếm được hay không. Ví như một người muốn đi cướp nhà người khác không có súng, không có tiền, đi hứa với thằng cướp khác “khi nào tao cướp được nhà đó thì tao tôn trọng quyền của mày được trồng rau ở sân sau”. Khi cướp được thì phải thực hiện lời hứa đó.
Đại diện CSVN mỉa mai:
– Nếu “khôn lâu” như ông trong trường hợp đã lỡ ký LỜI HỨA đó thì ông phải làm sao?
– Nếu tôi là các ông mà tôi bắt buộc phải viết công hàm đó để có viện trợ thì tôi vẫn viết như thế …
– Huề tiền!
– Tôi vẫn nhận gần cả tỉ đô la để đánh Hoa Kỳ và kéo nó đến bàn Hội Nghị Paris năm 1973 để nó phải rút quân …
Đại diện CSVN phá liên cười:
– Ông khôi hài quá, thế mà lại “dạy ngoại luộc trứng”
Đại diện Mỹ vẫn từ tốn nói tiếp:
– CSVN ký công hàm Phạm văn Đồng là khôn liền ngay năm 1958 nhưng ai đó quyết định xé hiệp định Paris chiếm Miền Nam năm 1975 là ĐẠI NGU để Trung Quốc nó …. (xin lỗi tôi hay có tật nói láy)
Chiếm Miền Nam là biến công hàm đó thành hiện thực và đối diện gần 1 tỉ đô la nợ Trung Quốc, là từ bỏ 4 đến 6 tỉ đô la bồi thường chiến tranh của Hoa Kỳ … Việt Nam bỏ cơ hội thành một nước Đức và nước Nhật sau thế chiến thứ hai.
Đại diện CSVN hết kiên nhẫn ngắt lời:
– Ông có khiếu kể chuyện cổ tích. Xin phép trở lại trọng tâm. Thế thì có giải pháp nào cho chúng tôi trong bế tắc này không?
Đại diện Mỹ nhìn quanh rồi pha trò:
– Có tình báo Hoa Nam Cục ở đây không?
Rồi ông nói tiếp:
– Theo tôi thì các ông phải tuân thủ công hàm Phạm văn Đồng vì 1974 các ông đã tuân thủ thì hôm nay phải tuân thủ để yên cho Trung Quốc đặt giàn khoan.
– Không còn cách nào hết sao?
– Chỉ còn cách mà tôi đã nói với các ông hôm đầu tiên.
– Cách gì ông nhắc lại đi.
– Một cách vô cùng giản dị, không cần viện trợ của Hoa Kỳ, chẳng cần ủng hộ của thế giới, mà lại đoàn kết, hòa hợp hòa giải với mọi thành phần người Việt trong và ngoài nước và quan trọng là vô hiệu hóa công hàm Phạm văn Đồng.
– Làm cách nào?
– Ngay ngày mai …
Đổi lại tên nước thành Việt Nam Cộng Hòa.
Lấy lại tên Sài Gòn và dời thủ đô về đó
Lấy CỜ VÀNG làm quốc kỳ

Có như thế thì trước diễn đàn thế giới. VNCH chỉ VẮNG MẶT … 39 năm chứ KHÔNG CHẾT. Công hàm Phạm văn Đồng chỉ là tờ “giấy lộn” vì tên cướp có vô nhà nhưng chủ nhà về lại và đã đuổi cổ nó ra … Trời Việt lại … HỪNG ĐÔNG.
Đại diện CSVN vuốt mồ hôi lạnh trên trán:
– Chỉ đơn giản thế thôi sao?
Vịt Bắc Kinh trên bàn đã NGUỘI LẠNH, lớp mỡ trắng đã bắt đầu đóng viền quanh dĩa vì không ai còn đoái hoài đến nó.
Đại diện Mỹ vỗ vai đại diện CSVN nói một câu tiếng Anh:
– All road lead to Rome (Đường nào cũng về La Mã)
Hãy trả cho Ceasar những gì của Ceasar.
Các ông chỉ có một ĐƯỜNG BINH … cầm bài chi lâu cho nó … ƯỚT.

Nguồn
FB Doanh Châu

30/4/1975: Những suy nghĩ của một người “bên thua cuộc”

30/4/1975: Những suy nghĩ của một người “bên thua cuộc”

Lâm Vĩnh Thế

Hàng năm cứ đến ngày 30-4, người Cộng sản lại tổ chức lễ mừng chiến thắng vinh quang của năm 1975, và người Việt hải ngoại lại tổ chức tưởng niệm Ngày Quốc Hận khiến họ phải bỏ nước ra đi. Cùng một sự kiện nhưng rõ ràng có hai cách nhìn trái hẳn nhau. Ở trong nước, trong rất nhiều gia đình, hai cách nhìn này đều có hết, và người ta cứ phải sống chịu đựng nhau như vậy chứ không có cách nào giải quyết được mâu thuẫn này. Và như thế trong 45 năm rồi. Chả trách ông Võ Văn Kiệt, nguyên Thủ tướng của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đã phải nói ra câu nói bất hủ sau đây về ngày 30-4: “Đây là ngày có triệu người vui nhưng cũng có triệu người buồn”.

Năm 2012, tác giả Huy Đức cho xuất bản tập sách “Bên thắng cuộc”. Với tựa đề như vậy, tác giả đã dứt khoát xác định “ai thắng ai thua” rất rõ ràng. Bên Cộng sản, tức là miền Bắc, là bên thắng cuộc, và bên Quốc gia, tức là miền Nam, là bên thua cuộc. Thế nhưng, ngay trong phần mở đầu, đề tựa là “Mấy lời của tác già”, tác giả lại viết như sau: “Cuốn sách của tôi bắt đầu từ ngày 30-4-1975 – ngày nhiều người tin là miền Bắc đã giải phóng miền Nam. Nhiều người thận trọng nhìn lại suốt hơn ba mươi năm, giật mình với cảm giác bên được giải phóng hóa ra lại là miền Bắc”. Là một người miền Nam, tôi chấp nhận là mình thuộc về “bên thua cuộc”. Tôi không hãnh diện gì với nhận xét trên đây của tác giả Huy Đức, vì, suy cho cùng, chuyện “ai giải phóng ai”, nếu có đúng như Huy Đức ghi nhận, thì cũng là chuyện “xảy ra sau khi chúng ta, những người Quốc gia ở miền Nam, đã thua cuộc rồi”. Nhớ lại chuyện mấy trăm năm trước ở bên Trung Hoa: người Hán dù cho có hãnh diện vì họ đã Hán hóa được người Mãn đi nữa thì họ cũng bị người Mãn thống trị gần 300 năm. Người Quốc gia ở miền Nam chắc không nên tự hào đã “giải phóng” được người Cộng sản ở miền Bắc và chấp nhận bị Cộng sản thống trị thêm 255 năm nữa.

Những suy nghĩ mà tôi ghi ra sau đây là của một người thuộc về phía “bên thua cuộc” trong cuộc Chiến tranh Việt Nam, 1954-1975. Tôi xin nói ngay là, không giống như những gì tôi đã từng viết ra trước đây luôn luôn được ghi chú rất rõ ràng vì đó là những công trình thuộc loại nghiên cứu, những suy nghĩ lần này, tuy cũng xuất phát từ kiến thức thu thập được từ những công trình biên khảo đúng đắn, được ghi ra một cách tự nhiên theo dòng suy nghĩ, hoàn toàn không bận tâm về việc ghi chú xuất xứ theo lối kinh viện.

Suy nghĩ đầu tiên của tôi là về bản chất và tên gọi của cuộc chiến. Miền Bắc xem đây là một cuộc “chiến tranh giải phóng”, giải phóng miền Nam khỏi Đế quốc Mỹ và chủ nghĩa thực dân mới. Miền Nam thì xem đây là một cuộc “chiến tranh tự vệ” có chính nghĩa để chống lại xâm lược do miền Bắc gây ra, nhằm thôn tính miền Nam để áp đặt chủ nghĩa Cộng sản lên cả nước Việt Nam. Một số người miền Nam cũng xem đây là một cuộc “nội chiến huynh đệ tương tàn”, giống như thời Trịnh-Nguyễn phân tranh, như Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã đưa vào bản nhạc “Gia tài của Mẹ” của ông: “hai mươi năm nội chiến từng ngày”. Người Mỹ thì gọi nhiều cách khác nhau: khi thì là “Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhì” (Second Indochina War), khi thì là “Tranh chấp Việt Nam” (Vietnamese Conflict) khi thì là “Chiến tranh Việt Nam” (Vietnam War) mà họ chỉ đến để giúp miền Nam chống lại ý đồ thôn tính của miền Bắc; điều này rõ nét nhứt là dưới thời Tổng thống Nixon khi ông áp dụng chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh”. Những người có tầm nhìn rộng hơn, quốc tế hơn thì cho rằng đây là một cuộc “chiến tranh ý thức hệ” giữa hai phe Tư bản (hay Tự do) và phe Cộng sản. Cũng có người trong nhóm này gọi đó là một cuộc “Chiến tranh Ủy nhiệm” (Proxy war), miền Bắc đánh thay cho phe Cộng sản, và miền Nam đánh thay cho phe Tư bản. Dĩ nhiên, những nhóm người này đều có những luận cứ mà họ tin là đứng đắn để chứng minh cho cái nhìn và nhận định của họ về cuộc chiến. Bản thân tôi cũng không thể đi ra ngoài điều này. Tôi cũng có những luận cứ mà tôi cho là đúng đắn để biện minh cho cái nhìn của tôi. Và cái nhìn đó là như sau.

Trước hết tôi hoàn toàn bác bỏ cái gọi là “Chiến tranh Giải phóng”. Lý do thật đơn giản mà cũng thật rõ ràng bởi vì nhân dân miền Nam Việt Nam, tức là những người sinh sống và làm việc trong chính thể Việt Nam Cộng hòa, hoàn toàn không có nhu cầu cần được giải phóng gì hết. Trong suốt thời gian 20 năm của cuộc chiến, nơi nào quân Cộng sản tiến chiếm thì dân chúng đều bỏ chạy, không hề có việc người dân cam tâm ở lại để được Cộng sản giải phóng cả. Trận Tết Mậu Thân 1968, Trận Mùa Hè đỏ lửa 1972, ngay cả Trận Tổng tấn công 1975, với số người tỵ nạn lên đến hàng triệu người, đã quá đủ để nói lên sự thật này rồi. Và sau ngày 30-4-1975, khi mà cả nước đã được “hoàn toàn giải phóng”, việc hàng triệu người chấp nhận mất tất cả, kể cả sinh mạng của mình, bỏ nước ra đi (một hiện tượng chưa từng có trong suốt lịch sử hàng ngàn năm của đất nước và dân tộc) là một bằng chứng hùng hồn cho sự thật là người dân miền Nam thà chết chớ không không chịu để cho Cộng sản “giải phóng” họ. Các tên gọi còn lại của cuộc chiến, theo tôi nghĩ, đều có phần đúng, tùy theo cách thức và góc độ của người nhìn.

Đặt tên cho một cuộc chiến tranh là một chuyện rất quan trọng vì nó là bước khởi đầu cần thiết để thiết lập một chiến lược thích ứng để có thể tiến tới chiến thắng sau cùng. Miền Nam và đồng minh là Hoa Kỳ đã không làm được điều này. Trong nội bộ chính trường miền Nam, chúng ta không thống nhứt được cách nhìn về cuộc chiến nên hoàn toàn không có được một chiến lược đúng đắn cần có, đó là chưa nói đến việc chính quyền miền Nam quá phụ thuộc vào Hoa Kỳ nên không dễ gì có được một chiến lược nào hoàn toàn độc lập với chiến lược của Hoa Kỳ. Tôi tin chắc là mọi người vẫn còn nhớ vụ Tướng Nguyễn Khánh tuyên bố đòi “Bắc Tiến” vào tháng 7-1964 nhưng Hoa Kỳ không ủng hộ nên sau cùng phải dẹp bỏ chủ trương đó. Không lực VNCH, lúc đó do Tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Tư lệnh, đã thực hiện hằng chục phi vụ Bắc phạt rồi cũng thôi. Đồng minh Hoa Kỳ của chúng ta cũng vậy, vì thay đổi cách nhìn liên tục nên chiến lược cũng không thể nhất quán. Người dân VNCH, và dân chúng các nước trên thế giới, ai cũng đã nhìn thấy rõ sự thay đổi cách nhìn này của người Mỹ về Chiến tranh Việt Nam: “sau khi đã Mỹ hóa nó trong thời gian 1965-1968 -báo chí Mỹ đã gọi nó là Johnson’s War, McNamara’s War – mà vẫn không thay đổi được cục diện họ đã chuyển sang Việt-Nam-hóa nó, chuyển giao gánh nặng lại cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa (QLVNCH) và tháo chạy. Ngược lại, Cộng sản Bắc Việt, tuy cách nhìn cuộc chiến không đúng (như đã bàn ở trên) nhưng lại nhất quán, từ trước đến sau không bao giờ thay đổi, nên chiến lược “chiến tranh nhân dân” mà họ đề ra cho thích hợp với “chiến tranh giải phóng” được họ thực hiện, duy trì và phát huy đến mức hiệu quả tối đa từ đầu cho đến cuối. Tuy nhiên, sự thất trận của miền Nam ngày 30-4-1975 thì hoàn toàn không mắc mớ gì đến cái gọi là “chiến tranh nhân dân” đó cả. Miền Nam đã thua và phải chấp nhận đầu hàng vì lực lượng quân sự chính quy của miền Bắc, vào thời điểm đó, đã vượt hẳn QLVNCH về mọi mặt, về con số các sư đoàn tác chiến, và luôn cả các khía cạnh trang bị và tiếp vận. Miền Nam thua cuộc, trước hết, là vì lý do đó: cán cân lực lượng quân sự, vào năm 1975, đã nghiêng hẳn về phía Cộng sản. Từ sự kiện này, bài học lớn cho các nhà lãnh đạo của miền Nam là: có chính nghĩa chưa chắc đã là một điều kiện tất thắng trong một cuộc chiến tranh tự vệ. Thật ra đây cũng không phải là một chuyện mới mẻ gì cả. Trong suốt mấy thế kỷ Nam Tiến của tổ tiên chúng ta, các dân tộc Chiêm Thành và Chân Lạp đều có chính nghĩa nhưng tất cả đều bị bại vong. Miền Bắc tuy không có chính nghĩa nhưng bù lại họ có quyết tâm cao, họ chấp nhận (hay nói cho đúng, họ cưỡng ép nhân dân miền Bắc phải chấp nhận) mọi hy sinh, gian khổ, nhứt quyết chiếm cho được miền Nam. Họ lại có được bè bạn tốt, hết lòng và kiên nhẫn giúp đỡ họ cho đến cùng. Ngược lại, miền Nam hoàn toàn trông cậy vào bạn đồng minh Hoa Kỳ nhưng người bạn này không những không hoàn toàn thực lòng giúp đỡ (đánh giặc mà không có chủ trương phải thắng) mà còn không có đủ kiên nhẫn đi đến cùng. Bản chất cao bồi, xốc nổi, thiếu kiên nhẫn này của người dân và Chính phủ Mỹ ngày nay cả thế giới đâu còn lấy làm lạ nữa, nhứt là qua hai cuộc chiến tranh mà Hoa Kỳ đã tham gia gần đây tại Iraq và Afghanistan. Sự trở cờ, phản bội trắng trợn của Quốc Hội Mỹ, dưới quyền kiểm soát của Đảng Dân chủ, trong các năm 1974 và 1975, cắt giảm và đi đến cắt bỏ hoàn toàn quân viện cho VNCH, đã là tác nhân chính đưa đến sự thất bại về quân sự của miền Nam.

Theo cách suy nghĩ và nhận định của tôi, cuộc chiến tại miền Nam Việt Nam phải và nên được xem là một cuộc chiến tranh xâm lược mang màu sắc ý thức hệ. Định nghĩa này có hai vế: “chiến tranh xâm lược” và “mang màu sắc ý thức hệ”. Vế thứ nhứt thì tương đối đơn giản, dễ hiểu, và hoàn toàn không xa lạ với dân tộc Viêt Nam. Đất nước ta đã trãi qua quá nhiều những cuộc chiến tranh thuộc loại này. Gọi nó là “chiến tranh xâm lược” vì rõ ràng cuộc chiến xảy ra trên lãnh thổ của một quốc gia (tức là miền Nam Việt Nam hay Việt Nam Cộng hòa, một quốc gia được 87 nước trên thế giới công nhận và có liên lạc ngoại giao) và thực hiện chủ yếu bởi một lực lượng vũ trang đến từ bên ngoài lãnh thổ đó, từ một quốc gia khác (tức miền Bắc Việt Nam, hay Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; lực lượng quân sự của Việt Cộng, tức là Mặt trận Giải phóng miền Nam, hoàn toàn không có khả năng “giải phóng” được miền Nam, như chúng ta đã thấy rõ trong Trận Tổng công kích Tết Mậu Thân 1968). Tuy nhiên, cuộc chiến tranh xâm lược lần này không giống như những cuộc chiến tranh xâm lược trước đây, nó không đơn giản chút nào, và kẻ địch mà chúng ta đương đầu cũng không phải là bọn ngoại tộc dễ dàng nhận ra. Do đó trong định nghĩa của cuộc chiến phải cần đến vế thứ nhì là “mang màu sắc ý thức hệ”. Trong cuộc chiến này, chính vì ý thức hệ mà những người anh em cùng một giòng máu ở hai bên chiến tuyến đã trở thành kẻ tử thù của nhau. Chính ý thức hệ đã nhồi nhét vào đầu óc của những người anh em cầm súng bên kia chiến tuyến sự cuồng tín rằng những chiến sĩ của QLVNCH của miền Nam, là một bọn “ngụy quân”, một bọn phản quốc, một bọn đầy tớ của ngoại bang, một bọn bán nước cần phải được tiêu diệt, để giải phóng miền Nam khỏi bọn thực dân mới đó. Cũng chính ý thức hệ đó đã nhồi nhét vào đầu óc của những người dân sống phía Bắc vĩ tuyến 17 (từ sau tháng 7-1954 đến ngày 30-4-1975) niềm tin tuyệt đối rằng nhân dân miền Nam đang bị cưỡng bức, chà đạp, sống đói khổ dưới sự thống trị của ngoại bang và cần phải được giải phóng. Những suy nghĩ và tin tưởng này chỉ được xóa sạch sau khi “miền Bắc được giải phóng”, như nhà báo Huy Đức đã nhận xét trong tác phẩm “Bên thắng cuộc”. Trong khi miền Bắc đặt nặng vấn đề ý thức hệ như thế thì miền Nam thế nào? Bề ngoài thì chúng ta cũng có vẻ coi trọng vấn đề ý thức hệ này. Trong suốt thời gian 21 năm, 1954-1975, miền Nam luôn luôn chủ trương chống Cộng, tự xem mình là một tiền đồn của Thế giới Tự do. Như vậy, theo lý thuyết, chế độ của miền Nam phải đối nghịch hoàn toàn với chế độ độc tài, độc đảng của miền Bắc, hay nói cách khác, phải là một chế độ hoàn toàn dân chủ, tự do và đa đảng. Sự thật không phải hoàn toàn như vậy. Trong suốt thời gian gần 20 năm hiện hữu (từ ngày 26-10-1955 đến ngày 30-4-1975), Việt Nam Cộng hòa chưa bao giờ hoàn toàn thật sự là một chế độ tự do và dân chủ. Và chính vì thế luôn luôn có những phần tử chống đối, vô tình hay cố ý làm lợi cho miền Bắc. Miền Nam, cho đến khi bị miền Bắc “giải phóng”, luôn luôn ở trong thế giặc ngoài, thù trong. Miền Nam đã thua cuộc không phải chỉ vì nguyên nhân khách quan là bị “Đồng Minh tháo chạy bỏ rơi” mà còn do rất nhiều nguyên nhân chủ quan, trong đó quan trọng nhứt là đã không có được một ý thức hệ mang tính chất đối lập với ý thức hệ Cộng sản và nhứt quán để tạo sự đoàn kết của toàn thể nhân dân miền Nam. Do sự đàn áp chính trị của các chính quyền liên tiếp ở miền Nam, một bộ phận không nhỏ của các thành phần tiến bộ, chủ trương tự do dân chủ, chống bất công, tham nhũng, đã dần dà xa lánh, không cộng tác và sau đó trở thành chống đối chính quyền, và sau cùng rơi vào quỹ đạo của miền Bắc, tiếp tay miền Bắc trong việc đánh đổ chế độ Cộng hòa tại miền Nam. Rất nhiều những người trong các thành phần này, ngay sau năm 1975, và về sau này, càng ngày càng nhiều, đã thấy rõ là họ đã thật sự đi sai đường, “trao duyên lầm tướng cướp”, nhưng tất cả những “sám hối” này đều đã quá muộn.

Một thiếu sót trầm trọng nữa về chiến lược của chính quyền VNCH trong suốt thời gian cuộc chiến là đã không có được một quốc sách thật sự thể hiện được một cách đầy đủ và quyết liệt mối quan tâm cần thiết, đúng mức và hàng đầu đối với nông thôn. Công bằng mà nói thì trong thời gian của cả hai nền Cộng hòa, chính quyền VNCH đều có những chương trình về nông thôn, nhưng điều đáng tiếc là các chương trình quan trọng này đều không được thực hiện đến nơi đến chốn. Lại nữa, có thể nói là sự quan tâm đối với nông thôn của các giới lãnh đạo VNCH không có chiều sâu, mà chỉ rất là hời hợt. Do đó, sự yểm trợ tuyệt đối cho nông thôn chưa bao giờ được thể hiện. Về phương diện an ninh lãnh thổ, trong thời gian Đệ nhất Cộng hòa, chương trình Ấp Chiến Lược, với mục tiêu cô lập và thanh toán các nhân sự Cộng sản ở hạ tầng cơ sở, là một chiến lược rất đúng đắn, nhưng khi thực hiện, vì thiếu sự chuẩn bị chu đáo cũng như thiếu phần giải thích đầy đủ, nhằm thuyết phục nông dân, lại bị các cấp chính quyền địa phương lợi dụng cơ hội, tham nhũng, thu vén, đã tạo ra bất mãn trầm trọng trong dân chúng. Và, dĩ nhiên, Việt cộng thì dứt khoát tìm đủ mọi cách để phá hoại chương trình này. Sau cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963, chương trình Ấp Chiến Lược bị loại bỏ và thay thế bằng các chương trình vá víu khác như Ấp Đời Mới (1964), Ấp Tân Sinh (1965) nhưng không đi tới đâu. Sang thời Đệ nhị Cộng hòa, chính quyền VNCH cũng đã đề ra một loạt các chương trình cho nông thôn như: chương trình Bình định, Xây dựng Nông thôn với cả một trung tâm huấn luyện cán bộ xây dựng nông thôn lớn ở Vũng Tàu, nhưng không thu hoạch được kết quả tốt vì không được các cấp chỉ huy quân sự tại địa phương yểm trợ đúng mức. Chương trình Phượng Hoàng, với mục tiêu nhằm tiêu diệt hạ tầng cơ sở của Việt Cộng, đã đạt được kết quả rất đáng kể trong một thời gian ngắn, nhưng sau đó bị giảm thiểu, không còn được Hoa Kỳ yểm trợ tích cực nữa vì bị tai tiếng là giết oan nhiều người vô tội. Để lôi kéo nông dân về phía mình, chính quyền VNCH đã thiết lập hai chương trình sở hữu hóa đất đai cho nông dân: Chương trình Cải cách Điền địa của Đệ nhứt Cộng hòa và Chương trình Người cày có ruộng của Đệ nhị Cộng hòa. Cả hai chương trình này, nhứt là Chương trình Người cày có ruộng, đều đã đạt được kết quả rất khả quan, nhưng vẫn không hoàn tất được mỹ mãn vì mức độ gia tăng ác liệt của chiến tranh cũng như vì sự phá hoại liên tục và quyết liệt của phe Cộng sản. Nông thôn miền Nam, vì vậy, vẫn tiếp tục là hậu phương vững chắc của Cộng sản, cung cấp tất cả nhân lực, tài lực và vật lực cần thiết cho chúng.

Không những không có được một ý thức hệ đúng đắn để làm nền tảng vững chắc cho thể chế, VNCH còn không có được những nhà lãnh đạo có đầy đủ khả năng chính trị, thật tâm yêu nước, thương dân và sẵn sàng hy sinh quyền lợi của bản thân, gia đình và đảng phái của mình cho quyền lợi của đất nước và dân tộc. Thời Đệ nhất Cộng hòa, trong khoảng 1954-1960, chính quyền Ngô Đình Diệm, với sự ủng hộ rất mạnh mẽ của Hoa Kỳ, đã tạo được sự ổn định chính trị cần thiết và nhờ vậy đã đặt được những nền móng rất tốt cho việc phát triển kinh tế-xã hội, và văn hóa-giáo dục. Nhưng vô cùng đáng tiếc, về phương diện chính trị, chế độ đã đi chệch đường, càng ngày càng lún sâu vào con đường độc tài, độc đảng, và tôn sùng cá nhân quá đáng. Sự bất mãn trong dân chúng miền Nam càng ngày càng rõ nét. Mặc dù đã có những dấu hiệu cụ thể về sự bất mãn này nhưng chính quyền Ngô Đình Diệm vẫn làm ngơ, không chịu cải tổ. Ngày 26-4-1960, một nhóm gồm 18 vị nhân sĩ, trí thức tiến bộ (đa số là các vị đã từng tham chính trong chính quyền Ngô Đình Diệm) đã trình lên Tổng thống Ngô Đình Diệm một bản thỉnh nguyện, nêu rõ những nhược điểm của chế độ và yêu cầu chính phủ cải tổ (về sau báo chí gọi là Nhóm Caravelle). Ngày 11-11-1960, một cuộc đảo chánh quân sự do lực lượng Nhảy dù tổ chức diễn ra tại Sài Gòn nhưng thất bại. Ngày 27-2-1962 đã xảy ra việc ném bom Dinh Độc Lập của hai phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử. Chính phủ Hoa Kỳ cũng đã nhiều lần khuyến cáo Chính phủ VNCH nên cải tổ, mở rộng thành phần chính phủ nhưng tất cả đều bị bác bỏ. Ngoài ra chúng ta cũng không nên quên sự kiện là vào tháng 2-1963, sau khi chế độ nhà Ngô không còn được Hoa Kỳ ủng hộ mạnh mẽ nữa, chính ông Ngô Ðình Nhu đã bí mật đi gặp Phạm Hùng, Ủy viên Bộ Chính trị của Cộng sản Bắc Việt tại rừng Tánh Linh, thuộc tỉnh Bình Tuy, để chuẩn bị bắt tay với phe Cộng sản trong việc hiệp thương giữa 2 miền Nam Bắc, xoay 180 độ trong chủ trương Chống và Diệt Cộng của Chính phủ Ngô Ðình Diệm vào lúc đó. Cơ quan CIA của Hoa Kỳ cũng biết được điều này và chính điều này cũng đã tạo thêm một lý do nữa cho Mỹ quyết định lật đổ chế độ nhà Ngô. Mùa Hè 1963 xảy ra vụ khủng hoảng Phật giáo. Đây là giọt nước tràn ly. Ngày 1-11-1963, các tướng lãnh của QLVNCH, có được sự ủng hộ ngầm của Hoa Kỳ, đã tiến hành đảo chánh quân sự, lật đổ chế độ, và chấm dứt nền Đệ nhất Cộng hòa. Một cơ hội rất tốt với rất nhiều triển vọng tốt đẹp để xây dựng một chế độ tư do dân chủ cho miền Nam đã bị đánh mất.

Từ cuối năm 1963 cho đến cuối năm 1967, VNCH đã trải qua một giai đoạn vô cùng xáo trộn về chính trị, miền Nam có nguy cơ bị mất vào tay Cộng sản, khiến cho Hoa Kỳ phải nhảy vào, trực tiếp can thiệp vào cuộc chiến, để cứu vãn tình hình quân sự lúc đó. Trong suốt thời gian xáo trộn này, giới lãnh đạo VNCH, cả quân sự và chính trị, đã cho thấy rõ những nhược điểm của họ: không có khả năng chính trị để ổn định tình thế, không thật sự vì nước vì dân, mà chỉ biết tranh giành quyền lợi cá nhân và đảng phái. Hiến pháp 1967 đã chấm dứt được giai đoạn xáo trộn chính trị này, nhưng lại đưa đất nước vào một giai đoạn độc tài quân phiệt. Ðệ nhị Cộng hòa được khai sinh với Hiến pháp 1967 vì áp lực của Hoa Kỳ chứ không phải do lòng thành thật của các tướng lãnh. Ðể tránh lập lại chuyện xung đột trong nội bộ của phe quân nhân (thể hiện qua các cuộc đảo chánh liên tục, như trong thời gian 1963-1967), các tướng lãnh đã tạo áp lực rất mạnh để hai tướng Thiệu và Kỳ phải hủy bỏ liên danh riêng của họ và đứng chung trong một liên danh với ông Thiệu là Tổng thống và ông Kỳ là Phó Tổng thống trong cuộc bầu cử tổng thống đầu tiên năm 1967. Và để cho ông Kỳ vui vẻ chấp nhận vai trò Phó Tổng thống, các tướng lãnh còn đi xa hơn, bí mật làm một việc hoàn toàn trái Hiến pháp 1967 là ký với nhau một mật ước vi hiến theo đó, sau bầu cử, ông Thiệu chỉ làm Tổng thống trên danh nghĩa mà thôi với ông Kỳ tiếp tục nắm trọn quyền hành. Dĩ nhiên, sau khi đắc cử, chỉ một thời gian ngắn sau đó, Tổng thống Thiệu đã lờ đi, và tất cả các tướng lãnh cũng không ai nhắc đến (hay dám nhắc đến) cái mật ước vi hiến đó nữa cả. Nền Ðệ nhị Cộng hòa đã bắt đầu bằng một hành động vi hiến của tập thể lãnh đạo như vậy thì làm sao tránh được không phát triển thành một chế độ bất công, tham nhũng, còn hơn cả nền Ðệ nhứt Cộng hòa, thay vì đưa đến một chế độ tự do dân chủ như Hiến pháp 1967 đã quy định.

Bản thân VNCH đã như vậy còn người bạn đồng minh “ông anh chi tiền” Hoa Kỳ thì ra sao? Về các phương diện khoa học kỹ thuật, quân sự và kinh tế, chúng ta khó có thể bác bỏ được niềm tin của cả thế giới rằng Hoa Kỳ là cường quốc số một. Nhưng về lãnh vực khôn ngoan chính trị, khả năng tiên đoán lâu dài về bang giao quốc tế, về địa chính trị (geo-politics), thì chúng ta khó có thể tin là Hoa Kỳ cũng đứng hàng đầu. Do những nhận định rất ấu trĩ về chính trị quốc tế vào cuối Đệ nhị Thế chiến, Hoa Kỳ đã tạo cơ hội cho Liên Xô chiếm cả Đông Âu và đưa cả thế giới vào một cuộc Chiến tranh Lạnh trong gần nửa thế kỷ. Năm 1972, cũng chính Hoa Kỳ đã mở cửa cho Trung Cộng bước ra khỏi hoàn cảnh bị bao vây, phong tỏa, tiến vào chiếm giữ được vị trí của một thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Sau đó, cũng chính Hoa kỳ tạo điều kiện cho Trung Quốc thực hiện “Bốn hiện đại hóa” và trở thành một siêu cường như ngày hôm nay. Trong đánh giá của phe Cộng sản, Hoa Kỳ chỉ là “con cọp giấy”. Ðể chứng tỏ mình không phải là “con cọp giấy” và quá yếu như Pháp trong Chiến tranh Việt-Pháp, Hoa Kỳ đã quyết định can thiệp trực tiếp vào Chiến tranh Việt Nam: 1) Sử dụng không quân thực hiện Chiến dịch Sấm rền (Operation Rolling Thunder) tấn công, oanh tạc miền Bắc; và 2) Tại miền Nam thì đưa hơn nửa triệu quân bộ chiến vào “Lùng và Diệt địch”. (Search and Destroy). Cách can thiệp vào Chiến tranh Việt Nam của Hoa Kỳ như thế là một sai lầm to lớn đưa đến những hậu quả vô cùng tai hại. Tại quốc nội, Chiến tranh Việt Nam là một biến cố đưa đến một sự chống đối chưa từng có trong lịch sử hơn 200 năm của Hoa Kỳ. Có mấy lý do chánh đưa đến việc chống đối này: 1) Ðây là một cuộc chiến tranh không có tuyên chiến (an undeclared war); nên nhớ khi Hoa Kỳ tham chiến trong Ðệ nhị Thế chiến (1941-1945), với trên 400.000 quân tử trận, hoàn toàn không có một sự chống đối nào trong dân chúng; ngược lại toàn dân đều ủng hộ, tham gia đóng góp và hy sinh cho cuộc chiến; lý do: đây là một cuộc chiến mà chính Quốc Hội Hoa Kỳ có tuyên chiến với Nhật Bản vào ngày 8-12-1941 sau khi Nhật Bản bất ngờ tấn công Trân Châu Cảng vào ngày 7-12-1941; 2) Ðây là cuộc chiến tranh đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ “diễn ra hàng ngày trong phòng khách” nhà dân chúng; người dân, đủ mọi thành phần, xem tin tức về Việt Nam hàng ngày trên ti-vi, bị ám ảnh nặng nề với số thương vong, có khi hàng trăm binh sĩ tử trận mỗi tuần (nhất là từ năm 1968 trở đi); 3) Chiến tranh càng kéo dài, gánh nặng về chi phí càng cao, và tác hại đến những chương trình an sinh xã hội trong nước, đặc biệt là chương trình Great Society của Tổng thống Johnson. Về phương diện đối ngoại, Hoa Kỳ bị nhiều nước trên thế giới lên án nặng nề về việc oanh tạc Bắc Việt hằng ngày với một số lượng bom khổng lồ, đối với một nước nhỏ và không có gây chiến, tấn công vào lãnh thổ của Hoa Kỳ (như Nhật Bản đã làm vào năm 1941). Riêng đối với VNCH, sự hiện diện của quân Mỹ, vừa gây nhiều xáo trộn nghiêm trọng về kinh tế – xã hội cho miền Nam, cũng làm cho VNCH khó bảo vệ được chính nghĩa của một cuộc chiến tranh tự vệ. Ðến khi nhận thức được rằng họ không thể nào thắng được cuộc chiến tranh này (các tác giả thuộc phái Chính thống -Orthodox – của Hoa Kỳ gọi nó là “an unwinnable war = một cuộc chiến tranh không thể thắng được”), theo cách đánh như thế, Hoa Kỳ quyết định đơn phương xuống thang, điều đình để rút lui trong danh dự, và bỏ mặc VNCH. Việc bỏ rơi VNCH của Hoa Kỳ không đơn giản chỉ là một chuyện “Khi Ðồng Minh bỏ chạy” (cụm từ đã được Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng sử dụng làm tựa đề cho cuốn sách nổi tiếng của ông) như nhiều người trong chúng ta đã nghĩ. Nó là cả một quá trình qua 3 đời Tổng thống Mỹ (Johnson, Nixon và Ford) chớ không phải là một quyết định “một sớm một chiều”. Ðiều mỉa mai nhứt trong việc Hoa Kỳ bỏ rơi đồng minh VNCH là việc phản bội này được Ðảng Dân chủ dàn dựng (trong cuối thời gian cầm quyền của Tổng thống Nixon và năm đầu của Tổng thống Ford của Ðảng Cộng hòa) trong khi cũng chính Ðảng này, trong thời Tổng thống Johnson, đã chủ trương leo thanh chiến tranh tại Việt Nam, đưa đến sự hy sinh vô ích của 58.000 binh sĩ Hoa Kỳ. Rõ ràng hành động chính trị đảng phái vô trách nhiệm và vô liêm sỉ, vừa phản bội trắng trợn một nước bạn đồng minh, vừa biến sự hy sinh của 58.000 quân nhân của nước mình trở thành vô nghĩa, không phải là độc quyền của các nước độc tài, bất nhân. Hiệp định Paris năm 1973, đối với Hoa Kỳ, chỉ là một phương tiện để có thể giúp họ làm 2 việc: 1) rút hết quân khỏi miền Nam mà không cảm thấy bị thua nhục, và, 2) mang được hết tù binh của họ về nước. Ðối với VNCH, việc ký vào Hiệp định này là để đánh đổi cho việc được Hoa Kỳ tiếp tục giúp đỡ. Về sau này, mọi người đều thấy rõ là chỉ có một điều khoản duy nhứt của Hiệp định Paris đã được tuân thủ và thi hành triệt để: đó là việc Hoa Kỳ rút toàn bộ lực lượng chiến đấu còn lại ra khỏi VNCH trong vòng 60 ngày. Ngày hôm nay thì ai cũng biết là cái Hiệp định, mà tên gọi chính thức là “Agreement on Ending the War and Restoring Peace in Vietnam”, (Thỏa hiệp chấm dứt chiến tranh và vãn hồi hòa bình tại Việt Nam) hoàn toàn không có dính líu gì đến cái việc gọi là “vãn hồi hòa bình tại Việt Nam”. Chính phủ Mỹ, qua lời tuyên bố của chính Tổng thống Nixon, thì xem đó như là một “nền hòa bình trong danh dự”. Và bây giờ thì đã có hẳn một nhà nghiên cứu về Chiến tranh Việt Nam của Hoa Kỳ, Giáo sư Larry Berman, đã suy nghĩ, cảm nhận, kết luận và viết ra một cách minh bạch rằng: “chẳng có hòa bình mà cũng chẳng có danh dự gì cả”. Đó là cuốn sách “No peace, no honor: Nixon, Kissinger and betrayal in Vietnam của Nhà xuất bản Free Press ấn hành năm 2001. Chả trách tại sao khi được Giải Nobel về Hòa Bình, trong khi Kissinger sung sướng, hãnh diện đi nhận giải thưởng (để rồi hai năm sau phải chịu cái nhục xin trả lại giải thưởng) thì Lê Ðức Thọ đã lạnh lùng từ chối không nhận.

Miền Nam trở thành “bên thua cuộc”, xét cho cùng, gần như là một tất yếu lịch sử vì VNCH đã hội tụ đủ tất cả các lý do để “thua cuộc” : 1) thiếu vắng một ý thức hệ làm nền tảng cho một chiến lược cần thiết cho một cuộc chiến tranh tự vệ chống xâm lược mang màu sắc ý thức hệ; 2) không có được một giới lãnh đạo có đủ khả năng và bản lãnh chính trị với một tấm lòng vì dân vì nước và có một quyết tâm chiến thắng cao; và, 3) cũng không có được một đồng minh hết lòng giúp đỡ và có đầy đủ kiên nhẫn để đi tới cùng với mình trong cuộc chiến quá sức cam go này. VNCH chỉ có chính nghĩa mà chính nghĩa thì không có một chút giá trị gì cả trước họng súng của một kẻ địch cuồng tín trong ý thức hệ của họ, với một quyết tâm chiến thắng cao, và được bạn bè hết lòng giúp đỡ và đủ kiên nhẫn để đi với họ đến chiến thắng sau cùng. Cái chết của VNCH vào lúc 12 giờ trưa ngày 30-4-1975, bề ngoài có vẻ như là một sự bức tử, nhưng thật ra, nghĩ cho cùng, chỉ là một cái chết, tuy đến có hơi sớm hơn một chút, nhưng vẫn là có thể đoán trước được.

L.V.T.

Nguồn: Diễn đàn Thế kỷ 04/2020

 

THIÊN CHÚA ĐANG ĐI VỚI CON NGƯỜI TRONG ĐẠI DỊCH

THIÊN CHÚA ĐANG ĐI VỚI CON NGƯỜI TRONG ĐẠI DỊCH

 Giuse Phạm Đình Ngọc SJ  

Thiên Chúa không phán một lời từ trời cao để cứu con người.  Chính Con Thiên Chúa đã xuống thế làm người và ở với chúng ta.  Ngài muốn đồng hành với cuộc sống của từng người.  Đó là cách Thiên Chúa đã chọn để đem con người về với hạnh phúc.  Nếu nhân loại đang phải chịu nhiều thách đố trong thời gian này, thì chính Thiên Chúa vẫn luôn chọn cách đồng hành để từ từ đưa con người về với nhau và với Thiên Chúa.

  1. Con đường Emmau năm 2020

Tin Mừng Chúa Nhật thứ 3 phục sinh kể về một câu chuyện hai môn đệ trên đường Emmau.  Đó là con đường nối giữa thành phố Giêrusalem nguy nga tráng lệ và ngôi làng nhỏ bé nghèo hèn.  Số là hai môn đệ này nuôi giấc mộng đổi đời khi đi theo Đức Giêsu.  Các ông có lý khi bỏ mọi sự để đi theo một Đức Giêsu nổi tiếng.  Kể từ khi Đức Giêsu chết và được chôn trong lòng đất, giấc mộng của các ông cũng bị chôn vùi.  Mộng vỡ mơ tan.  Các ông không còn con đường nào khác là lủi thủi đi về lại chốn xưa.  Hẳn là các ông cũng không thiếu hoang mang, buồn phiền và lo lắng.

Tâm trạng của hai ông nếu chắp nối vào tâm trạng của mỗi người thời Covid–19 chắc cũng không khác nhau nhiều.  Trước đại dịch, người ta mơ về một viễn tượng huy hoàng của biết bao dự án.  Phát triển kinh tế đang tăng mạnh, mọi lãnh vực đời sống dường như khấm khá hơn xưa nhiều.  Ai cũng tự tin để thực hiện ước mơ của mình.  Công danh sự nghiệp hứa hẹn cho nhiều người.  Bỗng dưng Covid–19 xuất hiện, mọi thứ bị đảo lộn và bức tranh kinh tế cũng phủ màu đen tối.  Nhiều dự báo không mấy sáng sủa ở phía trước.  Nếu như hai môn đệ vỡ mộng vì thầy Giêsu đã chết, thì nhiều người thời nay cũng rơi vào cảnh khó khăn chồng chất vì Virus.  Đây hẳn là con đường chông gai đòi người ta phải bước đi nặng nề.

Nếu cụ Nguyễn Du viết rằng “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?”, thì chúng ta cũng chẳng vui gì trong hoàn cảnh này.  Hầu hết mang tâm trạng lo lắng.  Nhất là những ai là nạn nhân trực tiếp của virus.  Thật khó để vượt qua nỗi đau này.  Chẳng thế mà nhiều dự báo cho rằng sau thời đại dịch, sẽ có nhiều khủng hoảng kéo theo: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, đạo đức, v.v…  Đó thực sự là con đường gồ ghề khiến không ít người đuối sức.  Nếu có mặt với hai môn đệ trên đường Emmau năm xưa, họ cũng đã không vượt qua được những thất vọng ê chề.

  1. Có lý do để hy vọng

Trên con đường vô vọng đó, hai môn đệ gặp một vị khách bộ hành.  Chúng ta biết đó là Đức Giêsu phục sinh, nhưng khi ấy các ông đâu biết gì.  Đức Giêsu chọn cách đi cùng với họ.  Dạo bước để từ từ tiếp chuyện.  Ngài hỏi, các ông trả lời; Ngài lắng nghe, các ông hăng say kể; Ngài giải thích, các ông chưa hiểu gì; Ngài đi tiếp, các ông mời ở lại, vì trời đã xế chiều.  Đó là tóm tắt ngắn gọn, nhưng thực tế câu chuyện của ba người này chắc đủ dài để cho thấy: Thiên Chúa luôn đồng hành với con người.

Trong câu chuyện trên, Đức Giêsu đang trao cho họ niềm vui Phục Sinh, khơi lên hy vọng trong lòng của họ.  Ngài không nói ngay cho các ông rằng Ngài đã phục sinh.  Ngài nhẹ nhàng đi cùng và muốn trò chuyện như những người bạn.  Đó là con đường sư phạm của Đức Giêsu.  Nhờ đó, mà “Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra cho họ.  Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người nhưng Người lại biến mất.” (Lc 24,30–31).  Họ đã thấy và tin vào Chúa Phục Sinh.  Lúc này, hai ông rộn ràng vui mừng trở về Giêrusalem để báo tin.

Kể ra chút chi tiết như thế để chúng ta thấy Thiên Chúa, qua Giáo Hội, cũng đang đi cùng với con người.  Chưa bao giờ Giáo Hội muốn phớt lờ nỗi đau của con cái mình.  Nhất là khi chúng ta gặp nạn, Thiên Chúa không bỏ rơi.  Ngược lại, Ngài đến để ủi an, lắng nghe và chuyện trò.  Tiếc là còn quá nhiều người chẳng tiếp chuyện với Ngài.  Kết quả là không ít người mất hy vọng vào cuộc sống.  Ai có thể trao ban bình an và hy vọng lớn lao bằng Thiên Chúa?  Thay vì chạy đi tìm hy vọng nơi tạo vật hoặc chính mình, hãy chạy đến Thiên Chúa.  Nói đúng hơn, chính Thiên Chúa cũng đã muốn được đi cùng con người.  Vấn đề còn lại là người ta có hoan hỷ tiếp chuyện với Chúa hay không mà thôi.

Là người Công Giáo, chúng ta có kinh nghiệm ít nhiều về Thiên Chúa đồng hành.  Ngài đang hiện diện trong tâm hồn mỗi người, nơi Giáo Hội, Xã Hội và chính trong những biến cố đang diễn ra.  Ngài đang khơi lên hy vọng cho từng người.  Biết bao lần Thiên Chúa nói qua vị đại diện của Ngài trên trần gian là Đức Giáo Hoàng:

“Niềm tin Phục Sinh nuôi dưỡng hy vọng của chúng ta.  Tôi muốn chia sẻ điều ấy với anh chị em.  Đó là hy vọng về một giai đoạn tốt đẹp hơn, chúng ta có thể tốt hơn, và sau cùng là được giải thoát khỏi sự ác và khỏi đại dịch này.  Đó là một hy vọng: hy vọng không làm chúng ta thất vọng; hy vọng không phải là ảo tưởng, nó là một hy vọng.”[1]

  1. Cho Chúa một cơ hội

Hai môn đệ trên đường Emmau năm xưa đã cho Đức Giêsu cùng dạo bước.  Khi gần gũi Thiên Chúa, các ông thấm dần ngọn lửa hy vọng vào Đức Giêsu Phục Sinh.  Lòng các ông sáng lên từ khi Đức Giêsu ngỏ lời với các ông.  Đó là không gian của nguyện cầu, là nhịp cầu để Thiên Chúa bước vào trong tương quan của các ông.  Hơn nữa, các ông còn mời Đức Giêsu vào nhà mình.  Đó không chỉ là hành vi hiếu khách, nhưng các ông ít nhiều cảm thấy vị khách này có cái gì đó đặc biệt.  Dọc đường trong câu chuyện, các ông bớt chán nản sầu não hơn.

Hôm nay cũng thế, trên đường đời của mỗi người còn đó biết bao thách đố.  Thay vì oán trời trách đất, thở ngắn than dài, hãy cho Chúa một cơ hội bước vào nhà mình.  Đã có nhiều người để Đức Giêsu chi phối đời họ; kết quả là cuộc sống họ được đổi thay.  Cứ nhìn các vị thánh vốn hằng để Thiên Chúa đồng hành.  Họ hạnh phúc dường bao!  Thực ra trong bình an và nhất là trong giai đoạn khốn khó, ai để Thiên Chúa đồng hành, người ấy hẳn là tìm thấy ánh sáng từ nơi bóng tối.  Thiên Chúa của chúng ta thì gần gũi.  Gần kề con người, Thiên Chúa có thể trao ban cho chúng ta một con đường của sự sống và hy vọng.  Đó là Tin Mừng Phục Sinh đã vực các môn đệ đứng lên loan báo cho muôn dân: Đức Giêsu đã chết và nay đã sống lại!

Câu chuyện hai môn đệ trên đường Emmau luôn có tính thời sự.  Đó không chỉ xảy ra cho hai ông, nhưng còn là câu chuyện của mỗi người.  Nhất là trong hoàn cảnh lúc này, Đức Giêsu vẫn đang “hiện ra”, Ngài vẫn hỏi, vẫn lắng nghe và trò chuyện với mỗi người.  Có khi nhiều người đi nhanh quá bỏ Thiên Chúa lại đằng sau, nhiều người sống vội nên quên mất bên mình còn Thiên Chúa, hoặc nhiều lúc người ta hoảng loạn quá cũng quên mất Thiên Chúa.  Thật tốt khi đứng lại một chút để thấy Thiên Chúa đang ở đâu.  Ngài đang gõ cửa!  Mong sao mỗi người can đảm đón Ngài vào đường đời của mình.  Khi đó, chắc chắn người con của Chúa sẽ vượt qua mọi khó khăn, kể cả trong và sau đại dịch virus cũng thế.

Lạy Chúa Giêsu, mời Ngài ở lại với con, với gia đình chúng con, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn.  Bóng đêm đang buông dần, chúng con cần Ngài đỡ nâng, trợ giúp và đồng hành.  Amen.

 Giuse Phạm Đình Ngọc SJ  

Nguồn:  https://dongten.net/2020/04/24/thien-chua-dang-di-voi-con-nguoi-trong-dai-dich/

[1] Thông điệp video của Đức Thánh Cha Phanxicô trong dịp Tuần Thánh 2020.

From: Langthangchieutim

Thêm một bằng chứng “cõng rắn vào nhà” | Tiếng Dân

 

BAOTIENGDAN.COM

Thêm một bằng chứng “cõng rắn vào nhà”

Hiếu Bá Linh, tổng hợp

27-4-2020

Trong Công hàm mới nhất của Trung Quốc trình lên Liên Hợp Quốc ngày 17/4/2020 để khẳng định chủ quyền biển đảo của họ, ngoài việc nêu Công hàm do ông Phạm Văn Đồng ký ngày 14/9/1958, Trung Quốc còn dựa vào những chứng cứ khác để biện minh rằng Việt Nam cũng đã công nhận một cách rõ ràng chủ quyền của Trung Quốc đối với Trường Sa và Hoàng Sa, nó “đã được phản ánh trong các tuyên bố và ghi chú của chính phủ Việt Nam, cũng như các bản đồsách giáo khoa và báo chí chính thức của Việt Nam” (trích Công hàm Trung Quốc ngày 17/4/2020).

Một trong những chứng cứ kể trên là “các bản đồ” do chính Việt Nam biên soạn, in ấn và xuất bản.

Mặc dù Công hàm mới nhất của Trung Quốc không trưng ra mà chỉ nhắc đến “các bản đồ“, nhưng trong văn kiện đầu tiên công bố ngày 30/1/1980, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã đưa ra các tư liệu lịch sử, bản đồ v.v… để chứng minh “Trung Quốc có chủ quyền không tranh cãi đối với quần đảo Tây Sa và Nam Sa” (tức là Trường sa và Hoàng Sa).

Toàn bộ văn kiện ngày 30/1/1980 được đăng trên tạp chí Beijing Review của Trung Quốc, số 7 ngày 18/2/1980, trong đó không những nói rõ về các bản đồ, mà còn đưa ra ảnh chụp. Trích nguyên văn như sau:

Tạm dịch: “Các bản đồ và sách giáo khoa chính thức của Việt Nam đều thừa nhận rất rõ ràng hai Quần đảo Tây Sa và Nam Sa là lãnh thổ Trung Quốc. Chẳng hạn, Bản đồ Thế giới được thực hiện năm 1960 bởi Phòng Bản đồ thuộc bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam đánh dấu hai Quần đảo Tây Sa và Nam Sa bằng tên tiếng Trung và chú thích trong dấu ngoặc hai quần đảo này thuộc về Trung Quốc. Tập bản đồ Thế giới được xuất bản tháng 5 năm 1972 bởi Cục Đo đạc và Bản đồ trực thuộc Phủ Thủ tướng Việt Nam cũng đánh dấu hai Quần đảo Tây Sa và Nam Sa bằng tên tiếng Trung (xem Phụ Lục 5)“.

Chắc chắn Trung Quốc từ lâu đã nắm trong tay và cất kỹ bản gốc của các bản đồ này, khi cần có thể trưng ra như là một bằng chứng mà Việt Nam không thể chối cãi.

Một câu hỏi được đặt ra, tại sao Phòng Bản đồ thuộc bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam lại làm ra một tấm bản đồ như vậy?

Không thể nào nói đó là do sơ suất hay nhầm lẫn vì không những ghi tên hai Quần đảo Tây Sa và Nam Sa bằng tên tiếng Trung Quốc, mà còn chú thích trong dấu ngoặc hai quần đảo này thuộc về Trung Quốc.

Tại sao Cục Đo đạc và Bản đồ trực thuộc Phủ Thủ tướng Việt Nam cũng in tên hai Quần đảo Tây Sa và Nam Sa bằng tiếng Trung?

Theo tìm hiểu của tác giả, từ năm 1960 đã có ít nhất một người Trung Quốc làm việc trong Cục Đo đạc và Bản đồ trực thuộc Phủ Thủ tướng Việt Nam. Đó là một “chuyên gia do Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa phái sang giúp Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa“.

Nguồn: FB Lê Đức Dục

Như vậy rõ ràng Trung Quốc đã cài người trong Cục Đo đạc và Bản đồ trực thuộc Phủ Thủ tướng, trễ nhất là từ năm 1960. Chúng nằm sâu trong những cơ quan trọng yếu của quốc gia với nhiệm vụ ngụy tạo chứng cứ cho việc cướp đất và biển đảo. Đó là điều chúng đã tính toán từ trước.

Việc “cõng rắn vào nhà” này, ai là người chịu trách nhiệm?

Ngoài Trương Hồng Niên, người của Trung Quốc được cài cắm trong Cục đo đạc và bản đồ ra, liệu còn bao nhiêu người Trung Quốc đã được cài cắm trong các bộ ngành khác từ trước đến nay, nhất là trong Bộ Giáo dục (sách giáo khoa cũng bị Trung Quốc ngụy tạo dùng làm bằng chứng).

Hiện nay, tình báo Trung Quốc đã cài trong Quốc hội Việt Nam bao nhiêu người, Chính phủ bao nhiêu người và Bộ Chính trị là bao nhiêu người? Bao giờ người dân có được câu trả lời cho những câu hỏi này?

Nguồn: https://www.marxists.org/subject/china/peking-review/1980/PR1980-07.pdf

Thêm một bằng chứng “cõng rắn vào nhà” | Tiếng Dân

Thêm một bằng chứng “cõng rắn vào nhà” Bởi AdminTD – 27/04/2020 Hiếu Bá Linh, tổng hợp 27-4-2020 Trong Công hàm mới nhất của Trung Quốc trình lên Liên Hợp Quốc ngày 17/4/2020 để khẳng định chủ quyền biển đảo của họ, ngoài việc nêu C…

Sẹo BCG

Sẹo BCG

Song Thao

Gặp nhà văn / bác sĩ Minh Ngọc tại Montreal.

Nhà văn Ngọc của báo Văn hải ngoại thời Nguyễn Xuân Hoàng làm Tổng Thư Ký và cũng là nhà văn Minh Ngọc của báo Ngôn Ngữ ngày nay, đang ở tuyến đầu ổ dịch của Mỹ: thành phố Nữu Ước. Cô là một bác sĩ và hàng ngày tiếp xúc với các bệnh nhân tại bệnh viện của Đại học Winthrop trong vùng. Bận rộn với ống chích, cô vẫn không quên tay bút. Bút ký “Nhật Ký Chống Dịch”của cô trên Facebook được mọi người theo dõi một cách say mê. Hiếm có một bác sĩ Việt viết ra những điều mắt thấy tai nghe tại bệnh viện với suy nghĩ của một người Việt và với văn phong của một nhà văn đã thành danh từ lâu. Trong một đoạn nhật ký, cô viết: 

“Từ thứ hai, Mayo Clinic (Trung tâm nghiên cứu y khoa lớn nhất nước Mỹ) kết hợp với hãng dược Cellex (North Carolina) bắt đầu thử kháng thể người bị nhiễm hay nghi nhiễm Covid-19, từ đó có thể xem xét phương pháp trị liệu bằng kháng thể hoặc chế tạo vaccine. Một nhóm bác sĩ ở Úc đang làm nghiên cứu về tác dụng của BCG với Covid-19. Họ nhận thấy người có chích BCG có thể có khả năng kháng Covid-19, nếu đúng thì điều này có thể giải thích nguyên nhân một số nước Á Phi còn sử dụng BCG chích ngừa trẻ em có số nhiễm dịch thấp và bệnh nhân không quá nặng. Mình còn thẹo BCG nè, PPD dương tính, vậy có miễn nhiễm con này không ta?”.

                          Thẹo BCG

Đọc tới đây, tôi vạch cánh tay lên coi. Hai chiếc sẹo còn sờ sờ trên da. Tôi được chích BCG khi nào, trí nhớ mù mờ không làm sao vẽ lại được giờ phút đó. Chỉ nhớ mang máng là có đứng xếp hàng khi đi học để được chích. Nhưng nhớ hơn là lần chủng đậu tại trường. Vì nó…thảm hại hơn. Chích bằng ống chích thì quen rồi nhưng chủng đậu, cô y tá cầm một miếng kim loại giống như ngòi bút, vạch hai ba đường lên da cho máu rỉ ra, thấy máu đổ thịt rơi, run hơn nhiều. Nhưng chích ngừa bệnh lao BCG cũng tê tái lắm. Không phải chích thịt, phập chiếc kim vào là xong mà là chích dưới da cho phồng lên. Cả hai thứ ngừa đều phải canh chừng khi về nhà. Không được để áo chạm vào, không được để nước thấm tới. Khi chúng mưng mủ còn khó khăn hơn bội phần. Phải giữ cho đừng vỡ mủ mà chờ cho tới khi mủ chín, tự động vỡ ra mới tốt. Tác giả Đồng Phước có trí nhớ tốt hơn tôi rất nhiều. Tôi đọc được bài viết của tác giả trên báo Thanh Niên Online. 

“Những năm 1960 ở miền Nam, thỉnh thoảng lại có những lần xảy ra bệnh đậu mùa, thương hàn, dịch tả, lao phổi, viêm màng não, sốt rét, bại liệt. Tuy quy mô không lớn nhưng làm ai cũng lo lắng. Thời đó, phổ biến nhất là bệnh đậu mùa, bệnh này tuy tỷ lệ tử vong rất thấp nhưng nó làm da nổi nhiều mụn mủ gây tổn thương rất sâu dưới tầng tế bào sinh sản của thượng bì, nên khi lành sẽ để lại sẹo, nhiều nhất ở mặt làm bị rỗ lỗ chỗ. Năm 1966, lúc tôi còn học tiểu học, Ty Y Tế Vĩnh Long có tiến hành chủng ngừa bệnh đậu mùa cho trẻ em trong tỉnh, hồi đó gọi là “trồng trái”. Các nhân viên y tế đến trường, học trò được nghỉ học, đứng xếp hàng dài theo hành lang chờ đến lượt chủng ngừa. Nhân viên y tế dùng một cái que kim loại có đầu chẻ hai, chấm vào cái đĩa thủy tinh chứa dung dịch vắc-xin, rồi quẹt lên hai chỗ trên bắp tay của học sinh được chủng, hai vết quẹt cách nhau khoảng 5 cm. Thao tác này kêu là “trồng trái” hoặc “cấy thuốc”. Nhân viên y tế phải quẹt cho rách da rướm máu thì vắc-xin mới thấm được vào cơ thể. Lúc đó tức cười lắm, có đứa bị quẹt thì miệng hít hà, mặt mày nhăn nhó như khỉ ăn ớt, đứa nào lì thì vẫn tỉnh bơ. Mấy đứa đứng cuối hàng chưa bị quẹt thì lo lắng hỏi những đứa đã trồng trái xong: “Đau hông mậy?”… Thời gian sau, có đoàn bác sĩ ngoại quốc đến trường chích thuốc ngừa lao (BCG) cho học sinh. Họ không xài ống chích mà dùng súng chích (jet injector) hoạt động bằng áp lực dung dịch không cần kim, kê súng vô bắp tay bấm cò cái là áp suất cao sẽ đẩy tia thuốc xé rách da chui vào cơ thể. Chích kiểu này không đau, chỉ nhói cái như bị kiến cắn. Nhưng vết chích cũng lở loét và khi lành để lại một cái thẹo tròn, bề mặt láng bóng, đường kính cỡ 5 mm bên bắp tay trái. Nói chung là lần chủng ngừa nào cũng để lại cho “khổ chủ” vài cái thẹo làm kỷ niệm suốt đời”.

Hai cái thẹo kỷ niệm là do hai lần ngừa khác nhau, hai bệnh không liên quan chi tới nhau. Nhưng nó song đôi với nhau trên mỗi bắp tay của trẻ em thời đó. Tác giả Đồng Phước chích ngừa năm 1966, thuộc thế hệ sau tôi. Hồi tôi bị chích, chưa có “súng chích” nên không hiểu chích như vậy là chích thịt hay chích dưới da. Thường chích ngừa BCG, nhân viên y tế phải lách cái kim dưới da để thuốc chỉ nằm dưới da, không đi vào phần thịt. Nhưng đó là chuyện phụ. Chuyện chính là thời Việt Nam Cộng Hòa, tất cả trẻ em được chích ngừa lao. Con gái tôi, sanh vào tháng 12 năm 1974, chỉ khoảng bốn tháng trước khi Sài Gòn bị bức tử, có được chích ngừa như vậy không, chính tôi cũng không còn nhớ. Cháu nay đã có gia đình, ra ở riêng nên tôi phải phôn hỏi cháu. Cháu cười trả lời: “Hai cái sẹo còn nằm chình ình đây này, ba!”. Mới vài tháng thì học hành chi, vậy cháu được chích khi còn nằm nôi. Theo các nhà khoa học, thời gian chích vaccine phòng lao BCG tốt nhất là dưới một tháng tuổi. Thông thường, ngay sau khi được chích ngừa, chỗ chích sẽ xuất hiện một nốt nhỏ và biến mất sau khoảng 30 phút. Sau khoảng hai tuần sẽ xuất hiện một vết loét to, mưng mủ như bị áp-xe có kích thước bằng đầu bút chì. Như vậy là thuốc chích có hiệu nghiệm. Chỉ cần giữ vệ sinh để vết loét không bội nhiễm là được. Hai tuần sau nữa, vết loét tự lành tạo nên sẹo.

Không biết tại sao thời của tôi và tác giả Đồng Phước, phải tới khi đi học mới được chích. Nếu được chích như con gái tôi, chưa biết đau là chi, có phải đỡ vất vả không. Nhưng nếu chích sớm như vậy thì làm chi có…kỷ niệm!

Kỷ niệm tuổi thơ

Từ đầu bài viết tới giờ, tôi cứ khơi khơi nói chích ngừa lao BCG mà chưa giải mã ba chữ này. Đó là thuốc ngừa do hai nhà bác học Calmette và Guerin tìm ra nên được mang tên hai ông: Bacille Calmette-Guerin, viết tắt là BCG. Vaccine này có chứa vi khuẩn gây ra bệnh lao đã được làm yếu đi nên không có khả năng gây bệnh mà có tác dụng chống lại vi trùng lao từ ngoài xâm nhập vào cơ thể. Lịch sử của BCG bắt đầu vào năm 1921. Khi đó có một bà mẹ đã chết vì lao sau khi sanh được ít ngày, người ta cho cháu bé sơ sanh dùng thuốc ngừa bằng cách uống qua miệng. Cháu bé đã không bị mắc bệnh. Trong vòng ba năm, phương pháp ngừa bệnh này được thử thành công trên 178 em bé tại nhà hộ sanh của bệnh viện La Charité Paris ở thủ đô Pháp. Từ năm 1923, phương pháp tiêm dưới da mới được áp dụng. Trải qua bao thăng trầm, tới năm 1948 hiệu quả của vaccine này mới chính thức được công nhận và việc chích ngừa mới trở thành bắt buộc tại nhiều nước. Việt Nam là một trong những nước chích ngừa BCG nhiều nhất vì bệnh lao phổi rất phổ biến tại nước ta. Trước 1975, Sài Gòn đã có riêng một bệnh viện chuyên trị bệnh lao là bệnh viện Hồng Bàng nằm trên đường Hùng Vương thuộc Quận 5. Sau năm 1975, bệnh viện này được đổi tên thành bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, vẫn tiếp tục chuyên điều trị bệnh lao phổi.

Từ khi Covid-19 làm náo động thế giới, người ta bỗng chú ý tới chuyện BCG. Có sự liên hệ giữa bệnh lao cũ kỹ và bệnh dịch Covid-19 mới toanh: chúng cùng tấn công vào phổi của bệnh nhân. BCG chỉ cần chích ngừa một lần là an toàn trên xa lộ cho cả đời. Như vậy phổi của người được chích ngừa BCG được phòng thủ chắc chắn hơn người không được chích ngừa. Bác sĩ tuổi trẻ tài cao Huynh Wynn Trần, hiện sống ở California, được nhiều người mến mộ theo dõi trên internet, đã ví von: 

“Nếu xem hệ miễn dịch là quân đội của một quốc gia, các binh chủng hải lục không quân là miễn dịch bẩm sinh (khi gặp quân thù là đánh), trong khi tình báo quân đội, mạng lưới thông tin là miễn dịch thu được (vào cuộc chiến rồi mới phân tích học hỏi quân địch). Nói đơn giản là thông qua tập trận (chích vaccine BCG) thì cả hải lục không quân và tình báo làm việc tốt hơn, dẫn đến phòng thủ địch quân tốt hơn”.

Từ giả thuyết trên, người ta quan sát trên thực tế. Tỷ lệ tử vong vì Covid-19 tại các nước không có chích BCG cao hơn các nước có chích ngừa BCG. Theo tài liệu của Worldometer, các nước Âu châu, không chích BCG, như Ý có tỷ lệ tử vong là 12%, Pháp7,6%, Anh 12%. Trong khi đó, tại các nước Á châu có chích BCG, tỷ lệ tử vong chỉ có 2,3% tại Nhật, 1,7% tại Đại Hàn, 4% tại Trung Quốc.

Mối quan hệ giữa hệ miễn dịch khỏe mạnh và tỷ lệ tử vong ít là điều dĩ nhiên. Khoảng 80% bệnh nhân Covid-19 sẽ tự khỏi do có hệ miễn dịch tốt như trẻ em, người ít tuổi hoặc người không có bệnh mãn tính. Vì vậy những người có chích ngừa BCG có khả năng tăng cường hệ miễn dịch, từ đó giúp bệnh nhân chống trả với Covid-19 tốt hơn. Tuy nhiên, một giả thuyết y học cần phải có những nghiên cứu, thí nghiệm lâm sàng kỹ càng mới có thể kết luận được. Người ta chưa thể khẳng định tương quan giữa chích ngừa BCG và tử vong vì Covid-19. Tỷ lệ tử vong vì Covid-19 còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như hệ thống y tế của mỗi quốc gia, cách phòng chống dịch, tuổi trung bình mắc bệnh cũng như sự trung thực trong khai báo số tử vong, nhất là con số của các nước Cộng sản mà người ta khó kiểm chứng.

Nhưng dù sao chăng nữa, những chiếc sẹo BCG có nhiều hy vọng trở thành những khiên chắn tốt trước đại dịch toàn cầu hiện nay. Vậy nên các chuyên gia y tế đang xúm xít vào cái sẹo này. Tin tức về sự săm soi này nhiều lắm. Loạn xạ trên mạng. Có cái tin được, có cái phải coi lại. Những chuyện tôi kể ra sau đây là theo bản tin của đài RFI. Trên mạng Asia Times có một bài sơ kết vào ngày 10/4, cho biết giáo sư Ginzalo Otazu, chuyên gia ngành sinh học tại New York Institut of Technology, lúc làm việc tại Nhật, đã ngạc nhiên khi tại quốc gia này có ít ca tử vong vì bệnh dịch Covid-19 một cách bất thường. Từ đó, ông công bố một bản nghiên cứu trên mạng MedRxiv, một mạng chuyên công bố các nghiên cứu đã hoàn thiện, đang chờ các đồng nghiệp phản biện. Theo bản nghiên cứu này thì Giáo sư Otazu và các cộng sự viên đã nhận ra một tương phản kỳ lạ giữa các quốc gia mà dân chúng được tiêm chủng BCG và các quốc gia không có tiêm chủng. Ý và Hoa Kỳ là hai nơi không ngừa nghiếc chi nên số tử vong cao trong khi Nhật Bản có số tử vong rất thấp mặc dù Nhật đã “không thực thi chính sách phong tỏa xã hội nghiêm ngặt”. Ngay tại Âu châu, Ý có tỷ lệ số tử vong là 292 trên 1 triệu dân trong khi Đức chỉ là 28 trên một triệu dân. Nhóm nghiên cứu ghi nhận là việc chích ngừa BCG đã được thi hành rộng rãi tại miền Đông Đức cũ. Ngay trong nước Đức, số tử vong tại miền Đông cũng ít hơn tại miền Tây. Đại Hàn, Tân Tây Lan có chích ngừa nên số mạng vong cũng rất ít. Việt Nam không có người chết vì Covid-19 (?) vì, như đã trình bày ở trên, trước 1975, chúng ta đã đè con nít ra chích tuốt. Sau 1975, từ 1985 đến 1990, toàn bộ dân số cũng đã được chích ngừa BCG. Chích ngừa BCG sớm hay muộn cũng có sự khác biệt. Nhật Bản cho chích ngừa từ năm 1947 trong khi Iran chỉ mới áp dụng từ năm 1984 thì số tử vong tại Iran cao gấp 100 lần tại Nhật.

Một cuộc nghiên cứu khác của nhà niệu học Paul Hegarty, bệnh viện Mater ở Dublin, Ái Nhĩ Lan, đã được công bố vào ngày 27/3, cho thấy các nước Đại Hàn, Nhật Bản, Singapore, Thái Lan và Hồng Kông có chương trình chích ngừa BCG ngay từ khi sanh, số tử vong vì Covid-19 chỉ có 0,7 người trên một triệu dân. Riêng Đài Loan, có chương trình chích ngừa từ năm 1940, mới số dách: chỉ có 0,2 người trên một triệu dân! Giáo sư Paul Hegarty kết luận: 

“Vaccine phòng lao đã được sử dụng từ gần một thế kỷ. Ba tỷ liều vaccine đã được chích kể từ khi BCG chính thức được sử dụng. Tính chất an toàn của loại vaccine này đã được kiểm nghiệm…Trong khi chờ đợi có vaccine chính hiệu cho virus Covid-19, việc sử dụng vaccine phòng lao đã có, và đã chứng tỏ độ an toàn, để tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể, là một công cụ quan trọng đẩy lùi dịch bệnh Covid-19”.

Linh Mục / Bác sĩ Phạm Hữu Tâm tại phi trường 

Houston chờ bay qua New York City.

BCG ngon lành như vậy vì sao? Giáo sư Mihai Netea, chuyên gia về bệnh lây nhiễm tại Radboud University Medical Center, Hòa Lan, phát hiện ra là BCG có tác dụng đánh thức “một thứ ký ức của tế bào”, ký ức của hệ thống miễn dịch bệnh sinh, cho phép cơ thể biết cách kháng cự lại các nhân tố gây bệnh mới. Đây là điều mà các nhà khoa học gọi là “miễn dịch được huấn luyện”.Trên đầu bài, tôi đã nhắc tới cô bác sĩ trẻ tuổi Minh Ngọc, đang ở tuyến đầu chống dịch tại thành phố Nữu Ước, người đã có hai vết sẹo đậu mùa và BCG ngon lành. Để kết thúc bài này, tôi muốn nhắc tới một bác sĩ Việt Nam khác khá đặc biệt. Ông là bạn facebook của tôi, người bạn chưa hề gặp mặt. Đặc biệt vì ông là một linh mục-bác sĩ, sống ở Houston nhưng đã tình nguyện tới thành phố Nữu Ước chống dịch. Tên ông là Phạm Hữu Tâm. Ngày thứ hai 6/4, ông lên đường. Ông viết trên Facebook: 

“Bạn thân mến, thứ hai Tuần Thánh tôi bay lên New York City giúp y tế 3 tuần. Hồi hộp và hơi sợ vì coronavirus đang lây nhiễm nặng và người chết quá nhiều. Nhưng nhân viên y tế làm việc quá tải cần được giúp đỡ. Hy vọng góp phần được chút ít, theo gương hy sinh của Chúa Giêsu năm xưa… Xin cầu nguyện cho bệnh nhân, nhân viên y tế và gia đình của họ”.

Ông cha có nghề y xông pha vào tuyến đầu của đại dịch. Chắc cha có Chúa bên cạnh. Chỉ xin hỏi nhỏ cha: “Cánh tay cha có vết sẹo nào không?”.

04/2020

Song Thao

GIẤC MỘNG TRUNG HOA ĐANG HẤP HỐI, TỜ NEW YORK POST KÊU GỌI ‘TẮT MÁY THỞ’

Image may contain: outdoor

Hoang Le Thanh

GIẤC MỘNG TRUNG HOA ĐANG HẤP HỐI, TỜ NEW YORK POST KÊU GỌI ‘TẮT MÁY THỞ’

New York Post

“Một nhát cắt không thể dẫn đến tử vong. Nhưng với nhiều nhát cắt cùng lúc, chúng sẽ làm khô máu nền kinh tế Trung Quốc. Hy vọng rằng chúng có thể làm lung lay nền tảng thâm căn cố đế của ĐCSTQ – một thể chế cực kỳ tham nhũng và bất tài.”

GIẤC MỘNG TRUNG HOA ĐANG HẤP HỐI, TỜ NEW YORK POST KÊU GỌI ‘TẮT MÁY THỞ’

Từ lâu, Trung Quốc đã có ước mơ thống trị hành tinh, nhưng chỉ tới khi Chủ tịch Tập Cận Bình công bố ‘Giấc mơ Trung Hoa’, thì thế giới mới bừng tỉnh bởi trong giấc mộng đó cả thế giới đều trở thành người bị hại gồm cả phần đa người dân Trung Quốc. Đại dịch đảo ngược tất cả, tờ New York Post cho rằng nền kinh tế này đang hấp hối và kêu gọi thế giới hãy “tắt máy thở”.

Với giấc mơ trở thành cường quốc thống trị hành tinh, cho đến gần đây, Trung Quốc dường như cũng đang trên đường thành công, với con tem “Made in China” đang xuất hiện trên gần một phần ba hàng hóa được sản xuất của thế giới.

Đại dịch đã đảo ngược tình thế. Hôm thứ Sáu (17/4), các quan chức Trung Quốc cho biết nền kinh tế của nước này đã giảm 6,8% từ tháng 1 đến tháng 3 năm 2020, so với một năm trước đó.

Tờ New York Post khẳng định mạnh mẽ: “Giấc mộng Trung Hoa của nhà độc tài Tập Cận Bình hiện đang hấp hối, có nguy cơ bị khuất phục trước con virus corona Vũ Hán mà ông và những người đồng chí cộng sản của mình đã tung ra trên thế giới.” Và đặc biệt kêu gọi “đã đến lúc chúng ta cần tắt máy thở.”

Đã đến lúc chúng ta cần tắt máy thở cho Trung Quốc
Sự phẫn nộ trước thái độ thiếu trách nhiệm của Trung Quốc trước đại dịch, tranh thủ đại dịch kiếm lời trên sinh mệnh của người dân toàn cầu đã thức tỉnh các chính phủ, người dân toàn thế giới về sự thật đằng sau “giấc mộng Trung Hoa”. Đây là cách làm giàu bất chính của một nền kinh tế kền kền vốn không chỉ là tội đồ của hàng giả, hàng nhái, ô nhiễm môi trường mà còn kiếm tiền trên sinh mạng của người dân Trung Quốc và thế giới trong nhiều thập kỷ.

Sự phẫn nộ này dường như thậm chí còn lan truyền nhanh hơn cả căn bệnh. Một cuộc thăm dò của Harris được công bố vào ngày 6/4 cho thấy 77% dân số Mỹ tin rằng Trung Quốc đáng bị lên án vì đại dịch. Trước khi dịch bệnh phát triển và kết thúc một cách tự nhiên, hầu hết 7 tỷ người trên thế giới có lẽ cũng sẽ đồng ý với quan điểm này.

Chỉ ba năm trước, ông Tập đã thực hiện một cuộc khải hoàn tiến vào Davos, được tôn vinh là nhà vô địch mới về thương mại tự do bởi những người châu Âu muốn tránh xa các chính sách America First (nước Mỹ trước tiên) của Tổng thống Trump.

Ngày nay, thật khó để tưởng tượng nhà độc tài Trung Quốc sẽ nhận được lời mời đến Davos – hay bất cứ đâu, khi mà chiến dịch giữ im lặng và đe dọa những người ‘thổi còi y tế” (cảnh báo nguy cơ y tế) của chính quyền Bắc Kinh đã cho phép con virus phát triển mạnh mẽ và cuối cùng lan rộng ra khắp thế giới.

Thủ tướng Anh, ông Boris Johnson, được cho là rất tức giận với Trung Quốc khi ông hồi phục từ virus corona, gần như đã giết chết ông hồi đầu tháng này. Ông không chỉ có thể sẽ ngăn chặn công ty điện tử do nhà nước Trung Quốc kiểm soát, Huawei, khỏi mạng 5G của Anh mãi mãi, ông còn hứa rằng sẽ có những hậu quả khác đối với sự thất bại của Trung Quốc trong việc chia sẻ dữ liệu chính xác và kịp thời về con virus chết người này.

New York Post đặt ra câu hỏi: “Bạn nghĩ các nhà lãnh đạo của Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Hà Lan, Úc và Cộng hòa Séc sẽ đối xử với Trung Quốc như thế nào?” Tất cả các quốc gia này đều nhận được những bộ dụng cụ thử nghiệm và PPE (thiết bị bảo hộ cá nhân) cùng các vật tư y tế bị lỗi của Trung Quốc – khiến cho việc ngăn chặn virus thất bại. Một số dụng cụ thử nghiệm thậm chí đã nhiễm virus corona – dù vô tình hay cố ý – việc này làm trầm trọng thêm sự bùng phát của dịch bệnh toàn cầu.

Ngay cả một quan chức ở Iran, đồng minh thân cận nhất của Trung Quốc ở Trung Đông, cũng đã phàn nàn một cách cay đắng về những lời dối trá của Trung Quốc khiến cho Iran đã phải trả giá bằng mạng sống của hàng ngàn đồng bào của mình.

Dịch bệnh cũng đã tiết lộ sự phụ thuộc nguy hiểm của Mỹ và phương Tây vào Trung Quốc đối với nhiều loại thuốc và vật tư y tế phổ biến nhất. Chúng ta không thể tưởng tượng rằng có quốc gia nào đó có thể đe dọa sẽ giữ lại các loại thuốc cứu mạng giữa đại dịch toàn cầu. Thế nhưng, ngạc nhiên chưa, Trung Quốc đã làm vậy. Lúc này Mỹ và phương Tây không có lựa chọn nào khác ngoài việc thêm những thứ như penicillin và PPE vào danh sách các sản phẩm, như thép và chip silicon, mà họ cần phải sản xuất trong nước.

Các doanh nghiệp của Mỹ có sẵn sàng rời khỏi Trung Quốc vì lợi ích quốc gia?

Câu hỏi lớn là liệu các công ty lớn của Mỹ, ví dụ như Apple, có ý định sẽ bắt đầu chuyển sản xuất ra khỏi Trung Quốc sau đại dịch này hay không. Điều đó có nghĩa là họ sẽ cần phải hy sinh lợi nhuận của mình cho những thứ vô hình như an ninh quốc gia và độc lập kinh tế của Hoa Kỳ.

Cố vấn kinh tế của Nhà Trắng, ông Larry Kudlow, đưa ra gợi ý rằng chính quyền có thể lôi kéo các công ty Mỹ rời khỏi Trung Quốc và quay trở lại Mỹ bằng cách chi trả toàn bộ chi phí vốn liên quan đến việc di dời. Các chính phủ cần can thiệp để đảm bảo các công ty của họ hành động vì lợi ích quốc gia. Chính phủ Nhật Bản tuyên bố rằng họ sẽ bắt đầu trả tiền cho các công ty của mình để di dời khỏi Trung Quốc. Các quốc gia khác, bao gồm cả Mỹ, chắc chắn cũng sẽ theo sau. Sau đó, thuế quan của Trump sẽ quay trở lại nếu Trung Quốc không giữ lời hứa mua 250 tỷ đô la các sản phẩm do Mỹ sản xuất trước thời điểm cuối năm 2021.

Trong năm tới, nền kinh tế Trung Quốc sẽ phải chịu đựng hàng loạt nhát cắt: chiến tranh thương mại với Trump, chuỗi cung ứng tại Trung Quốc bị phá vỡ và chuyển dịch đến các nước khác, các nhà máy chuyển sang các quốc gia tự do hơn, người tiêu dùng trên khắp thế giới từ chối hàng hóa Trung Quốc.

Trang New York Post nhận định mạnh mẽ: “Một nhát cắt không thể dẫn đến tử vong. Nhưng với nhiều nhát cắt cùng lúc, chúng sẽ làm khô máu nền kinh tế Trung Quốc. Hy vọng rằng chúng có thể làm lung lay nền tảng thâm căn cố đế của ĐCSTQ – một thể chế cực kỳ tham nhũng và bất tài.”

Vì lợi ích kinh tế và an ninh quốc gia, Mỹ từ lâu đã cần thoát Trung. New York Post cũng kêu gọi, việc chấm dứt sự phụ thuộc lẫn nhau này đòi hỏi sự hy sinh kinh tế đáng kể từ phía doanh nghiệp và người dân Mỹ, nhưng có nhiều thứ cần cân nhắc hơn so với “hàng giá rẻ Trung Quốc”. Nhân tố gây thiệt hại hàng nghìn tỷ đô la cho nền kinh tế toàn cầu chính là đại dịch “Made in China”, và cái giá phải trả là quá lớn.

Thanh Hương – NTD

VIỆT NAM CẦN CÓ CHIẾN LƯỢC MỚI SAU KHỦNG HOẢNG ĐẠI DỊCH VIRUS VŨ HÁN

Nguyen Ngoc Chu
VIỆT NAM CẦN CÓ CHIẾN LƯỢC MỚI SAU KHỦNG HOẢNG ĐẠI DỊCH VIRUS VŨ HÁN

I. DỊCH VIRUS VŨ HÁN KÉO THEO SỰ THAY ĐỔI CHIẾN LƯỢC TRÊN TOÀN CẦU

1. Dịch virus corona đến từ Vũ Hán (gọi tắt là virus Vũ Hán) đã mang đến cho toàn thể loài người những thiệt hại kinh hoàng. Nặng nhất là Hoa Kỳ và châu Âu. Các cường quốc lớn, ngoài quê hương virus Vũ Hán, như Hoa Kỳ, Pháp, Anh, Ý, Đức, Nhật đều bị tổn thất nặng nề.

2. Dịch virus Vũ Hán cảnh báo cho cả thế giới biết thế nào là nguy hiểm của chiến tranh sinh học. Nguy hiểm cho mọi cường quốc, kể cả siêu cường.

3. Bởi thế, Hoa Kỳ và các cường quốc khác, cùng nhiều nước trên thế giới sẽ thay đổi chiến lược sau đại dịch virus Vũ Hán.

II. NHỮNG THAY ĐỔI CHIẾN LƯỢC CĂN BẢN CỦA CÁC CƯỜNG QUỐC

1. Thay đổi nhận thức về mối nguy hại của chiến tranh sinh học

Như đã đề cập ở phần trên, dịch virus Vũ Hán đã thức tỉnh toàn thế giới, nhất là các cường quốc, về phạm vi thảm họa của chiến tranh sinh học. Trong đó, siêu cường có thể bị gục ngã dễ dàng trước một đối thủ nhỏ bé. Từ đó dẫn đến thay đổi tương quan, thay đổi chiến lược ở mọi quốc gia.

2. Thay đổi toàn diện quan hệ của các cường quốc đối với Trung Quốc

Hoa Kỳ và các cường quốc ở châu Âu như Anh, Pháp, Đức, và các khu vực khác như Nhật, Canada, Úc sẽ có những thay đổi căn bản trong quan hệ với Trung Quốc. Điều này diễn ra trước hết do bởi cách hành xử của Trung Quốc từ vị thế của Trung Quốc.

Quá trình xảy ra thảm họa dịch virus Vũ Hán đồng thời đã phơi bày hành vi và mưu toan của nhà cầm quyền Trung Quốc trong chiến lược chiếm đoạt quyền thống trị thế giới. Dịch virus Vũ Hán đã cho Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Đức, Nhật thấy chính quyền Trung Quốc hiện nay nguy hiểm như thế nào – ngoài cả những dự đoán táo bạo nhất của các nước này.

Lợi ích kinh tế mà Hoa Kỳ và châu Âu đặt vào thị trường mênh mông nhất thế giới gồm 1,4 tỷ dân Trung Quốc đã không mang lại những lợi ích mong đợi. Ngược lại, mang đến cho các cường quốc Tây Âu những quả đắng chí mạng.

Họ bị đánh cắp công nghệ hạt nhân, tàu vũ trụ. Họ bị mất tất cả các bản quyền hàng hóa, từ sản phẩm gia dụng cho đến ô tô và tàu bay. Trong hoàn cảnh đại dịch thì họ còn bị phụ thuộc vào Trung Quốc cả đến những chiếc khẩu trang.

Trong khi tàu sân bay Thedore Roosevelt của Hoa Kỳ và hàng không mẫu hạm duy nhất của Pháp là Charles de Gaulle bị tê liệt vì virus Vũ Hán thì các chiến thuyền của Trung Quốc lại nghênh ngang đe dọa các nước láng giềng ở biển Đông Nam Á. Sự lớn mạnh của Trung Quốc nguy hiểm như thế nào khi nó đặt dưới quyền của những kẻ đầy tham vọng ở Bắc Kinh. Sự lớn mạnh của Trung Quốc nguy hiểm đến mức độ nào khi các vũ khí hủy diệt hàng loạt rơi vào tay những kẻ điên loạn tham tàn. Sự tham tàn của các bạo chúa Trung Hoa không có sự so sánh trên toàn thế giới trong suốt lịch sử nhân loại.

Trung Quốc không biết sợ ai. Trung Quốc khiêu chiến cả với Đức và Úc ngay chính trên đất của các quốc gia này. Trung Quốc có gan làm bẽ mặt tất cả. Máy bay Canada sang Trung Quốc nhận hàng phải cất cánh về không, mà không thể được đậu thêm vài giờ đồng hồ để chờ lấy hàng.

Trung Quốc biết đâm những nhát dao trước bụng và sau lưng đối thủ. Trung Quốc biết đi đêm với từng cá nhân, từng bản hãng. Vì sao Bill Gates và hãng xe Volkswagen chấp nhận quảng cáo cho đường lưỡi bò? Vì sao Huawei lại cung cấp được mạng 5G cho châu Âu? Trung Quốc đang chia rẽ giữa các cường quốc. Trung Quốc đang chia rẽ trong mỗi cường quốc.

Trung Quốc biết “đầu thai” từ trong bụng đối thủ. Cài cắm gián điệp không chỉ trong thiết bị mà bằng hàng triệu người Hoa di cư. Từ hàng chục vạn du học sinh cho đến hàng vạn phụ nữ sinh đẻ trên đất bản quốc để trở thành công dân nước sở tại. Trung Quốc đang “đầu thai” vào Hoa Kỳ và các các quốc gia khác để có “Tiểu Trung Quốc” trong mỗi quốc gia trên thế giới.

Trung Quốc quyền lực đến mức đã có thể tác động lên cả tranh cử tổng thống Hoa Kỳ. Không phải bằng con đường tin tặc. Mà bằng chính “Tiểu Trung Quốc” trong Hoa Kỳ. Mà bằng chính người Hoa Kỳ làm việc cho Trung Quốc.

Giờ đây thì Hoa Kỳ và châu Âu đã thức tỉnh. Xác định lại đối tượng Trung Quốc, Hoa Kỳ và các cường quốc Tây Âu sẽ thay đổi toàn diện quan hệ với Trung Quốc. Về quốc phòng, về kinh tế, về ngoại giao, về luật pháp quốc tế, về bố trí lực lượng – tất cả sẽ chuyển sang một khung trời mới.

3. Mặt trận toàn cầu chống Trung Quốc

Kết quả của sự thay đổi toàn diện của Hoa Kỳ và các cường quốc Tây Âu trong quan hệ với Trung Quốc còn là sự ra đời một “Liên minh không chữ ký” chống lại Trung Quốc trên toàn cầu. Ngoại trừ lục địa Phi châu, các cường quốc ở các châu lục Á Úc sẽ sẽ là thành viên rường cột của “Liên minh không chữ ký” này. Trung Quốc sẽ phải đối phó với nhiều cơn sóng thần từ khắp thế giới sau đại dịch virus Vũ Hán.

4. Sự thay đổi của chính Trung Quốc

Sau đại dịch Vũ Hán, Trung Quốc sẽ có những thay đổi căn bản về chiến lược nội bộ và chiến lược đối ngoại. Những thay đổi này bắt nguồn từ lộ chân tướng Trung Quốc trong con mắt thế giới, từ sự thay đổi trong nội bộ Trung Quốc, từ sự thay đổi của quốc tế đối với Trung Quốc, và từ sự điều chỉnh mục tiêu của Trung Quốc.

Tập Cận Bình đã xác nhận hết thời “dấu mình” của Đặng Tiểu Bình mà vươn lên xưng bá thế giới. Tập dự kiến Trung Quốc thay thế Hoa Kỳ ở vị trí lãnh đạo thế giới vào năm 2049. Nhưng Tập không đợi được đến năm 2049. Quỹ thời gian của Tập đã làm Tập nóng lòng khởi sự sớm hơn dự kiến. Đó là nước cờ đối nội để kéo dài vĩnh viễn sự thống trị của Tập ở Trung Quốc trước khi Trung Quốc bước vào ngôi vị số 1 thế giới. Tập muốn “vĩ đại” hơn cả Mao.

Tập sẽ vùng lên kháng cự dữ dội. Đó là sự kháng cự dãy chết. Cuối cùng, kết quả của nhiều cơn giãy chết là sự sụp đổ của chính quyền cộng sản tại Trung Quốc.

III. VÀ ĐỐI SÁCH CỦA VIỆT NAM

1. Đây là cơ hội quý hiếm để Việt Nam bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, không bị mất thêm đảo cùng lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế ở Biển Đông Nam Á.

Chưa bao giờ trên thế giới các cường quốc lại cùng hợp lực đối phó với Trung Quốc như bây giờ. Trung Quốc sẽ phải căng mình trên nhiều mặt trận. Vì thế Trung Quốc sẽ yếu đi ở mỗi mặt trận.

Nhưng sự dãy chết của Trung Quốc sẽ làm cho Trung Quốc hung hăng hơn ở Biển Đông Nam Á. Vì đây là nơi Trung Quốc xem là lợi ích cốt lõi. Trung Quốc sẽ hành động mạnh hơn khi Hoa Kỳ và châu Âu đang chưa thoát ra khỏi đại dịch. Những hành động vừa qua của Trung Quốc ở Biển Đông Nam Á khẳng định các toan tính mới của Trung Quốc.

Việt Nam, vì thế, phải mạnh mẽ hơn ở Biển Đông Nam Á. Trung Quốc yếu hơn nhiều so với những gì họ phô trương.

2. Đây cũng là thời cơ quý hiếm để Việt Nam dứt bỏ sự phụ thuộc vào Trung Quốc, để trở thành một quốc gia thực sự độc lập tự chủ, trọn vẹn cả chính trị lẫn kinh tế.

Thoát khỏi sự phụ thuộc vào Trung Quốc về kinh tế, sẽ đưa nền kinh tế Việt Nam lên một đẳng cấp mới. Thoát khỏi sự phụ thuộc chính trị vào Trung Quốc, sẽ đẩy Việt Nam vào một giai tầng chính trị quý tộc hơn.

Sự kết thúc của chính quyền Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là thời khắc mở ra kỷ nguyên hạnh phúc cho cả nhân dân Trung Quốc lẫn nhân dân Việt Nam.

3. Việt Nam không thể đứng ngoài dòng chảy lớn của nhân loại. Việt Nam phải hòa nhập vào dòng chảy lớn của nhân loại để thịnh vượng hơn, hùng cường hơn, và giữ vị thế xứng đáng hơn.

4. Vì thế, Việt Nam phải có một chiến lược hoàn toàn mới phù hợp với hoàn cảnh mới của thế giới.

5. Hiện nay lãnh đạo Việt Nam từ cấp tỉnh thành cho đến cấp trung ương đều đang quá bận rộn cho nhân sự Đại hội 13. Người thì lo vào ‘Trung ương’. Người thì lo ở lại ‘Trung ương’. Người thì lo vào ‘Bộ Chính Trị’. Người thì nghĩ về ‘Tứ trụ’. Ai cũng muốn bước thêm một bậc.

Cho nên, tất cả chưa để tâm nhìn thấy sự thay đổi chấn động của thế giới ở phía trước mà có đối sách.

Nhưng sau Đại hội 13, thì hy vọng dàn lãnh đạo mới sẽ có những đối sách sáng suốt phù hợp với tình hình thế giới mới.

IV. LỜI NHẮN

1. Đây không phải là thời của Marx Engel Lenin Stalin. Đây cũng không còn là thời của Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình. Đây đang là thời của Donald Trump, Tập Cận Bình, Putin. Lấy Marx với Lenin ra để đối chọi với Dolald Trump, Tập Cận Bình và Putin là vi phạm tiên đề. Vì cả Dolald Trump, lẫn Tập Cận Bình, lẫn Putin – không ai đếm xỉa đến Marx và Lenin trên bàn cờ của mình.

2. Việt Nam hãy quên các quân cờ cũ đi. Hãy chơi bàn cờ mới với các quân cờ mới.

Image may contain: 1 person, suit
Image may contain: one or more people and closeup