Ba Tầu

Ba Tầu

Tưởng Năng Tiến

Trước khi hạ cánh an toàn, Bộ Trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh đã không quên bầy tỏ sự quan ngại sâu sắc về cái mối tình hữu nghị (rất) mong manh giữa nước ta và nước bạn: “Tôi thấy lo lắng lắm, không biết tuyên truyền thế nào, chứ từ trẻ con đến người già có xu thế ghét Trung Quốc.”

Nỗi lo lắng này cũng được ông Nguyễn Bắc Việt, Trưởng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Tỉnh Ninh Thuận, tận tình chia sẻ: “Hai nước xã hội chủ nghĩa lình xình với nhau như thế này, ai có lợi.”

Cả ông Đại Tướng lẫn ông Đại Biểu đều đánh đồng nhà nước Trung Hoa Lục Địa với hàng tỷ sinh linh ở mảnh đất này nên mới “tâm tư” như thế, chứ chuyện “hai nước xã hội chủ nghĩa lình xình với nhau” thì chả có liên quan gì đến đám dân đen cả? Người Tầu và người Việt – trước giờ – vẫn giao hảo bình thường, nào có vấn đề chi với nhau đâu.

Có vị cầm bút còn tin rằng giữa hai dân tộc này có chút tình “tương lân” nữa chớ. Mối tương lân của những người đồng bệnh: “Bắc Kinh sợ nhất cái gì?…Sợ nhất Việt Nam dân chủ. Vì, Bắc Kinh giống hệt Hà Nội: Đang ngồi trên kho thuốc nổ… Việt Nam dân chủ là tiếng gọi mênh mông được vẫy chào từ hàng triệutrái tim TQ bị đè nén bởi bạo quyền bấy lâu nay.” (Lê Phú Khải. Lời Ai Điếu, nxb Người Việt, CA: 2016).

Một người cầm viết khác (đã từng du học bên Tầu) cho biết thêm:

Tôi còn một bạn học, người Nam Kinh. Lúc “phái hữu” lên tiếng, anh từng bảo tôi: Chắc cậu cũng biết truyện “cô gái quàng khăn đỏ?” Chúng ta đấy. Cũng quàng khăn đỏ cả mà. Hỏi bà ơi, tại sao tai bà to thế? Bà nói: Để bà nghe thấu bọn phản động chúng nó thì thào. Thế sao mắt bà sáng thế? À, sáng mới thấy được chỗ chúng nó ẩn nấp. Còn răng? Sao răng bà to thế? Răng bà to để ăn thịt những đứa khỏe thắc mắc về bà…

Tôi hỏi anh:

– Người Trung Quốc nghĩ như cậu có nhiều không?

– Zen ma shuo ya? Nói sao nhỉ? Một nửa đi. Nhưng nửa kia có loa ở mồm và có súng trên tay. (Trần Đĩnh. Đèn Cù I, Westminster, CA: Người Việt, 2014).

Thảo nào mà tập thể người Hoa sinh sống ở VN luôn luôn được đối xử rất đàng hoàng, tử tế. Những nghệ sỹ nổi tiếng (La Hối, Hồ Dzếnh, La Quốc Tiến, Dư Thị Hoàn, Trịnh Hoài Giang, Phù Sa Lộc …) được quí mến, đã đành. Ông Tầu hủ tiếu, bà Tầu cháo huyết, chú Chệt bò bía, thím Chệt ve chai … cũng đều sống rất an lành và chan hoà tình nghĩa giữa vô số những chòm xóm khắp nơi.

Sau cuộc chiến tranh biên giới, và sau khi phong trào bài Hoa (do Hà Nội khởi xướng và Bắc Kinh cổ vũ) qua đi, người Tầu sinh trưởng ở nước Việt Nam vẫn được cả dân tộc này dành cho tất cả sự thương yêu cùng quí mến.

Xin đan cử một trường hợp nho nhỏ: chú Năm!

Ông tên họ đầy đủ là Trương Năm, và tên thường gọi là Năm Đậu Phụng. Gần đây, nhân vật này được tất cả mọi phương tiện truyền thông (báo chí, fb, youtube …) trong cũng như ngoài nước nhắc đến với rất nhiều thiện cảm và ưu ái:

  • Câu chuyện cuộc đời nhiều xót xa của người cha bán đậu…

Nhà báo Nguyễn Toàn mệnh danh chú Năm là “người bán hàng có tâm nhất Sài Gòn.” Ông còn viết thêm: “Chính bản thân tôi khi nhìn thấy túi đậu cũng vô cùng ấn tượng, tôi có niềm tin rằng phía sau những dòng chữ, nét vẽ này là cả một câu chuyện tuyệt đẹp.”

Chuyện đời của chú Năm, thực ra, không có chi “ tuyệt đẹp” mà còn chất chứa nhiều tình tiết rất thương tâm. Ông sinh trưởng trong một gia đình khá giả, chủ nhân của công ty Thuận Phát chuyên sản xuất xà phòng, trước 1975. Sau đó, sau chiến dịch đánh tư sản mại bản của nhà nước VN, doanh nghiệp này tiêu tán. Đại gia đình của chú Năm cũng tứ tán trong vụ “nạn kiều.”

Về sự kiện này, Wikipedia tiếng Việt có ghi nhận khái quát như sau:

“Vào năm 1978, số lượng người Hoa chiếm tới 70% trong số những người vượt biên từ Việt Nam bằng đường biển. Ngoài ra, có khoảng 250.000 người gốc Hoa vượt biên sang Trung Quốc bằng đường bộ tại biên giới phía Bắc từ tháng 4 năm 1978 đến mùa hè năm 1979…

Sau giai đoạn này, số Hoa kiều tại Việt Nam đã giảm một nửa (từ 1,8 triệu năm 1975 xuống còn 900.000 vào năm 1989), người Hoa đã không còn là thế lực kiểm soát nền kinh tế Việt Nam như trước nữa, và Việt Nam đã trở thành nước duy nhất ở Đông Nam Á thành công trong việc đồng hóa người Hoa.”

Vợ con của chú Năm thuộc trong số gần triệu Hoa Kiều đã “biến mất” khỏi VN. Còn tổng số cả người Tầu lẫn người Việt vượt biên nhưng không bao giờ đặt chân lên được đến bờ thì đến nay vẫn còn là một điều bí mật. Họ sống chết ra sao, lưu lạc phương nào thì chỉ Trời (may ra) mới biết. Dù vậy, là kẻ ở lại và là cột trụ của gia đình nên ông Trương Năm vẫn kiên tâm mong chờ ngày gia đình đoàn tụ.

Tuy không còn vốn liếng, và ngay cả không còn có khả năng trả tiền điện nước hằng tháng (và phải dùng nước mưa thay nước máy) nhưng chú Năm vẫn cố “biến” hãng xà phòng Thuận Phát của gia đình thành cơ xưởng sản xuất đậu phụng. Nói là “cơ xưởng” cho nó vui tai chứ mỗi lần ông chỉ “sản xuất” được chừng nửa ký, và bán với giá rất tượng trưng.

Nhà báo Hồng Vi nhận xét:

“Giữa thành phố hoa lệ, 2 ngàn đồng nhiều khi không đủ gửi một chiếc xe, mua một gói bánh, nhưng suốt bao năm, gói đậu phộng của chú Năm vẫn chỉ 2 ngàn đồng. Chú không bán nhiều, hai tuần bán một lần, mỗi lần chỉ bán 5-10 bịch để ‘quảng bá thương hiệu.’

Chú Năm mất khoảng 30 phút để làm một tờ thông tin sản phẩm. Vì chú là người Việt gốc Hoa nên tờ giấy được viết song ngữ Hoa – Việt. Không đủ tiền để in, chú mua một khúc gỗ về rồi ngồi đục đẽo thành bản in. Những tờ giấy sản phẩm ra đời bằng cách lấy mực quét lên khúc gỗ rồi in ra giấy, chữ nào nhạt, mất nét thì chú lấy viết đồ đậm lên. Cứ thế, những bịch đậu phộng ra đời bằng tất cả sự trân trọng và đôi tay tỉ mỉ của một người đàn ông.”

Với “đôi tay tỉ mỉ” và “bằng tất cả sự trân trọng” của chú Năm thì mỗi “tờ thông tin sản phẩm” (có lẽ) không chỉ thuần là thương hiệu mà còn là tín hiệu tình cảm gửi đến những người thân rằng nơi căn nhà cũ vẫn có người cha luôn chờ trông đến ngày đoàn tụ – như cách đặt tựa của đôi ba tác giả:

Xem ra: ba Tầu, ba Việt, ba Lào, ba Miên, ba Miến, ba Tây, ba Mỹ, ba Úc, ba Nhật, ba Angola, ba Mozambique  … cũng đều là ba cả. Các ông cha luôn lừng lững tựa núi Thái Sơn. Các bà mẹ cũng thế, cũng đều triền miên “như nước trong nguồn chảy ra.” Tuy thế, việc “thờ mẹ kính cha” thì xem ra mỗi ngày một hiếm. Thường thì đám con chỉ nhớ đến công ơn phụ mẫu khi song thân đều (đà) khuất núi.

Tưởng Năng Tiến
6/2021

 VĂN CHƯƠNG NHƯ THẾ

 VĂN CHƯƠNG NHƯ THẾ

Quan giám khảo kêu một thí sinh tự cho mình là người có học vấn lên thi làm văn.

Thí sinh cầm cuộn giấy thi từ sáng đến tối mà cũng không thể viết được chữ nào, anh ta không biết làm sao cả, nên đành viết trên cuộn giấy thi:

– “Bởi vì như thế, cho nên như thế, nếu muốn như thế, hà tất như thế?”

(Tiếu Đắc Hảo)

Suy tư 73:

Thời nay người ta báo động có những tiến sĩ giấy, tức là luận án của họ không đem lại tính khả thi cho xã hội, tấm bằng tiến sĩ của họ là do tiền mà có, và ban giám khảo cấp bằng không phải vì tài học hành nghiên cứu của thí sinh, mà là do thí sinh có nhiều tiền…

Tiến sĩ giấy thì thường đem cái bằng của mình đi phô-tô-cóp-pi thành nhiều bản: bản chính làm một cái khung hình thật đẹp treo ngay giữa phòng khách, còn các bản sao thì cái kẹp trong sách, cái bỏ trong cặp, cái gởi đi cho bạn bè.v.v…nhưng bài vở (luận án) của họ thì ngồi nghiên cứu cả ngày cũng không tìm ra được cái trí tuệ của người tiến sĩ đích thực.

Tiến sĩ là người đã dày công nghiên cứu thực tế một vấn đề thiết thực có ích cho xã hội…

Cho nên có thể nói, mỗi người Ki-tô hữu nếu biết sống theo Lời Chúa dạy, đem Lời Chúa làm “luận án” cho cuộc sống đời thường của mình và chỉ dẫn cho người khác làm như vậy, thì họ cũng sẽ là những tiến sĩ rồi vậy: những tiến sĩ khôn ngoan của Nứơc Trời đang âm thầm nghiên cứu cách sống Lời Chúa qua cuộc sống của mình.

Ước mong được như vậy.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư)

Từ bò đỏ đến bò túc cầu

Từ bò đỏ đến bò túc cầu

Bởi AdminTD

Đỗ Ngà

17-6-2021

Khi mà não con người không biết phân biệt phải trái, không biết thế nào là chừng mực, không xác định điều gì nên nói và gì không nên nói, thì thành phần này chỉ được sử dụng như là một thứ công cụ cho kẻ xấu. Với loại người này, chỉ cần xây dựng thần tượng cho họ thì suỵt đâu thì chúng bổ nhào vào đấy mà tấn công, mà cắn xé.

Dư luận viên thuộc vào thành phần như thế. Không thể nói dư luận viên là thành phần thất học, thậm chí chúng còn là kẻ có trình độ đại học nữa là khác. Thế mới thấy giáo dục XHCN nó tai hại như thế nào.

Đã là sản phẩm của nền giáo dục thì tất nhiên sẽ chiếm số đông trong xã hội. Đảng Cộng sản đang sử dụng hàng vạn dư luận viên để suỵt cho chúng cắn càn những người chỉ trích chế độ, tưởng như đó số lượng rất lớn, nhưng không, đó chỉ mới là một số lượng nhỏ mà chính quyền CS đã tuyển dụng từ một xã hội với đầy rẫy thành phần như thế.

Dư luận viên được xã hội “tặng” cho danh xưng rất đúng, đó là từ “Bò đỏ”. Từ “Bò đỏ” có 2 phần, phần “bò” và phần “đỏ”. Phần “bò” chính là cái nền, đó là thành phần không biết phân biệt phải trái, không biết thế nào là chừng mực, không xác định điều gì nên và không nên làm. Còn phần “Đỏ” chính là đối tượng bò sùng bái. Từ “đỏ” là ám chỉ bò ấy sùng bái ĐCS. Như vậy thành phần “bò đỏ” được xây dựng trên nền “bò” rất phong phú của xã hội Việt Nam. Nếu xây dựng cho nó thần tượng gì thì nó sẽ biến thành loại bò đó.

Ở Việt Nam, Vingroup cũng xây dựng nên lực lượng “Bò Vin” dựa trên nền tảng “bò” như thế. Bò đỏ hay Bò vin chỉ khác nhau về thần tượng, đỏ có thần tượng là ĐCS còn Vin có thần tượng là Vingroup. Ở Việt Nam, chỉ cần dùng truyền thông xây dựng cho họ một thần tượng thì thần tượng đó sẽ có một lượng bò ủng hộ. Chúng rất hung hăng và không có khả năng phân biệt phải trái. Nói chung là nguồn bò ở xã hội này rất đông.

Chưa có nước nào như Việt Nam, khi cổ vũ bóng đá thì trên khán đài có mang theo hình lãnh tụ, mặc dù nhân vật Hồ Chí Minh chỉ là một người làm chính trị không liên quan gì đến bóng đá. Đã là “bò” thì không phân biệt phải trái, không phân biệt được những gì nên và không nên, nên mới có chuyện nực cười như vậy.

Với người biết suy nghĩ, ắt phải cảm thấy rất nhục nhã vì đất nước Việt Nam xuất hiện “bò” khắp nơi, trong khi đó cả thế giới không thấy ai làm chuyện “ngu như bò” như thế thì Việt Nam đầy rẫy. Khán đài sân vận động có đội tuyển Việt Nam thi đấu nhan nhản bò. Thành phần mang ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh cổ vũ bóng đá là loại “bò lai”, nó vừa là “bò túc cầu” vừa là “bò Hồ”.

Sau trận cầu giữa UAE và Việt Nam hôm tối ngày 15/6 thì ngay sau đó facebook của trọng tài người Iraq Ali Sabah Al-Qaisi bị các Cổ động viên Việt Nam tấn công dữ dội với những lời lẽ vô văn hóa. Cổ động viên thì nước nào cũng có, còn loại cổ động viên “đầu bò” như Việt Nam thì chắc không nước nào nhiều như Việt Nam. Loại cổ động viên tấn công trọng tài như thế chính là loại “Bò túc cầu”, chắc là trong đó không ít là loại bò lai, nó lai giữa “bò túc cầu” và “bò đỏ”.

Hãy để ý, trên khán đài sân vận động mà cổ động viên hát nhạc ca tụng lãnh tụ (Như có Bác hồ trong ngày vui đại thắng… chẳng hạn), hay đem ảnh lãnh tụ cổ vũ thì thừa biết đất nước đó nguồn “bò” nhiều vô số kể. Vì vậy việc cả đàn kéo nhau húc trọng tài trên không gian mạng thì cũng chẳng có gì ngạc nhiên.

Nói thật, nhìn thấy hình ảnh lãnh tụ trên khán đài sân vận động bóng đá thì tôi cảm thấy nhục hơn là tự hào. Nhục vì cũng là một đất nước như bao đất khác nhưng sao Việt Nam lại sinh ra nhiều “bò” đến thế? Vậy bao giờ đất nước này mới văn minh được đây? Nghĩ mà chán!

Đến một lúc nào đó…

 May be an image of body of water and nature

Chau Nguyen Thi

Đến một lúc nào đó…

* Con người ta hình như đến một lúc nào đó sẽ ngộ ra rằng cuộc đời thật ra chẳng có gì quan trọng. Cuối cùng rồi như nhau cả. Bạn có thể có một cuộc đời sung sướng, hạnh phúc hay bạn đã phải lầm than, nghèo túng, khổ đau. Cuối con đường có khác gì nhau đâu. Lúc xuôi tay, quân vương hay kẻ cơ hàn đều là sự giã biệt. Có thể có kẻ sẽ có tiền hô hậu ủng, kèn trống vang trời. Có người bó trong chiếc chiếc chiếu rách đi giữa mưa rơi. Nhưng cả hai đều chẳng còn biết gì, tất cả đều đang làm cho người sống. Đến một tuổi nào đó, người ta sẽ nghiệm thấy rằng cuộc đời chỉ là con số không to tướng. Sinh ra, lớn lên, già đi rồi mất hút. Mọi thứ danh vọng chỉ là trò hư ảo. Mọi thứ của cải làm ra cũng chỉ là thứ phù phiếm có rồi mất. Mọi thứ hoan lạc hay khổ ải cũng chỉ là gia vị của cuộc đời. Sinh ra thì phải sống, phải chiến đấu để tồn tại, phải khát vọng để vươn lên. Thế rồi, khi tuổi già đã tới, những bi kịch của tàn phai tác động đến mỗi người, sẽ thấy hoá ra mình đã bỏ cả tuổi thanh xuân để chạy theo toàn những thứ ảo vọng. Tranh dành nhau cái danh, lấn lướt nhau đoạt lợi. Được danh lợi rồi lại tham vọng nhiều hơn, lớn hơn. Cuối cùng cũng chỉ là một cuộc chơi, để rồi trắng tay lúc trở về cát bụi.

* Đến một thời điểm nào đó của cuộc sống, nhìn lại đoạn đường ta đã đi, ta phát hiện ta chỉ để lại lắm điều lầm lỗi. Lầm lỗi với cha mẹ, với những người thân yêu. Lầm lỗi với bạn bè, với xã hội. Lầm lỗi với những người ta đã gặp, những người đã đi qua đời ta. Tất cả đều do cái tôi quá lớn của mỗi người. Không biết quên mình mà chỉ sống cho mình. Do vậy, những suy nghĩ và hành động ích kỷ cứ mãi quẩn quanh để đưa đến lỗi lầm.

 *Sống đến tuổi nào đó, người ta mới hiểu được rằng tự thắng được mình mới là điều quan trọng. Tuổi trẻ háo thắng chỉ chăm chăm thắng người, hơn người. Cảm thấy tự mãn và sung sướng trong thắng lợi. Có biết đâu rằng cái thắng lợi mình có là cái thất bại và đớn đau cho người khác. Đâu có biết rằng chính cái thắng lợi ấy là chiếc bẫy tiếp theo của cuộc đời mình. Trong mọi hoàn cảnh, tự thắng chính mình là điều khó nhất. Làm được điều đó là ta đã có thể tự hào.

 *Đến một lúc nào đó, người ta mới hiểu được rằng lắng nghe mới là điều cần thiết. Biết lắng nghe là biết thu thập cả thế giới cho riêng mình. Biết lắng nghe thì mới phân biệt được phải trái phân minh. Biết lắng nghe thì mới có sẻ chia. Muốn lắng nghe thì phải học im lặng. Con người ta chỉ mất vài năm để học nói, nhưng mất cả đời để học im lặng. Im lặng để lắng nghe. Không chỉ lắng nghe ngôn ngữ của con người, ta phải tập lắng nghe tiếng của thiên nhiên, tiếng của cỏ cây, giun dế, của gió, của nắng, của mưa bão. Tiếng sóng vỗ, tiếng chim kêu đều mang lại cho ta những cảm xúc của cuộc đời. Thiếu chúng nó, cuộc đời chỉ là khoảng trống vô vị.

* Tới một tuổi nào đó, con người nên đến với thế nhân bằng những nụ cười. Hãy cười với nhau bằng tâm hồn mở tất cả các cửa, với tấm lòng thân thiện. Hãy chào nhau dù chỉ gặp một lần vì biết đâu ngày mai không còn cơ hội để gặp, không còn dịp để gởi nhau nụ cười. Sinh tử là ranh giới mỏng manh. Đời vốn vô thường. Già sẽ đưa đến tật bệnh, bệnh làm cho người ta héo úa, đau đớn khó chịu. Nếu lạc quan và trang bị nụ cười với mọi người, nỗi đau sẽ giảm đi, héo úa sẽ bớt đi, nụ cười chính là son phấn trang điểm cho tuổi già.

* Đến một tuổi nào đó, con người sẽ hiểu được rằng điều cơ bản của con người là sự cô đơn. Con người sinh ra một mình và mất đi cũng chỉ một mình. Không ai sống thay ta và cũng chẳng ai chết thay ta. Gia đình, chồng vợ, con cái, bạn bè đều là người thân đấy, nhưng mỗi người có một cuộc sống, mỗi người có mỗi số phận và định mệnh riêng. Do vậy, mỗi người phải tự quyết định đời mình, không chờ đợi một ai có thể thay mình. Trong hành trình sống, con người là một thực thể cô độc, không ai hoán đổi được. Tới tuổi già chính là lúc gặm nhấm nỗi cô đơn nhiều nhất.

*Tới một lúc nào đó, người ta hiểu được sống là để làm cho đủ bốn bổn phận đối với cuộc đời. Bổn phận với quá khứ là trả hiếu với mẹ cha. Bổn phận với tương lai là nuôi dạy con cái. Bổn phận với cuộc sống là giúp đỡ kẻ hoạn nạn, yêu thương mọi người và cuối cùng là bổn phận lấp đầy đời mình bằng tiêu pha, sinh hoạt hàng ngày. Con người làm ra tiền dù ít hay nhiều cũng chỉ quẩn quanh từng đó bổn phận. Có kẻ làm không đủ thì là thiếu trách nhiệm. Thế cho nên làm người là làm tròn bổn phận. Tới tuổi già, làm xong bổn phận ta có thể ung dung để hưởng những ngày còn lại trong sự thanh thản.

* Đến một lúc nào đó người ta sẽ có những nuối tiếc. Tiếc vì chưa làm được những điều muốn làm, chưa đến được những nơi muốn đến. Quỹ thời gian không còn, chuyến tàu sầm sập đến hoàng hôn. Chợt giật mình thời gian quá ngắn. Bởi thế nên muốn làm gì thì làm ngay, muốn đi đâu thì đừng lần lửa. Có ước muốn thì hãy thực hiện. Nếu tha thứ được thì nên tha thứ, nếu quên được thì nên quên. Sống tập quên cái cần quên cũng là một thứ thuốc chữa tâm hồn. Nhớ nhiều chỉ vác nặng. Sống mà mang nặng quá chỉ khổ thân.

 S.T.

Quốc gia không đọc sách (Phần 1)

Quốc gia không đọc sách (Phần 1)

Bởi  AdminTD

 Thái Hạo

15-6-2021

Không đọc sách là nói hơi quá, đúng hơn là “gần như không đọc sách”.

Một thống kê trên báo tuổi trẻ công bố năm 2019 cho biết, trung bình mỗi người Việt Nam chỉ đọc 0.8 quyển sách/năm, nghĩa là chưa tới 1 quyển. Đó là tính tất cả, cả sách giáo khoa, giáo trình.

Trên báo Pháp luật cung cấp một thông tin khác: Một cuộc khảo sát cho thấy 98% số người được hỏi không đọc sách tuần qua; 80% không đọc sách trong một năm qua; 70% cho biết chỉ học chứ không đọc. “Học chứ không đọc sách”, đây có lẽ là điều kỳ lạ nhất mà một cư dân ở vùng lãnh thổ khác có thể nghe thấy về xứ sở của ta.

Thực tế là người dân gần như không đọc sách. Nhưng, học sinh cũng không đọc; đáng sợ hơn, giáo viên cũng không mấy ai đọc sách. Trên báo Thanh Niên có bài “Sinh viên “quên” đọc sách”. Nghĩa là người Việt gần như không đọc sách! Quốc gia không đọc sách, chúng ta đang đứng trước nguy cơ vĩnh viễn bị bỏ lại phía sau về mọi mặt.

Facebook không thể thay cho sách. Vĩnh viễn không bao giờ thay được. Tuy nhiên, ngày nay người trưởng thành gần như không ai không dùng Facebook, mà dùng để đọc lại cũng chiếm một tỉ lệ quá nhỏ trong tổng số 60 triệu tài khoản đang hoạt động (đó là chưa nói tới việc “đọc cái gì”).

Có một điều chắc chắn, rằng không có cách gì có thể chấn hưng được dân tộc nếu tình trạng đọc sách như hiện tại vẫn còn duy trì, thậm chí có nguy cơ đi xuống (theo báo Tuổi trẻ, năm 2018 là 1.2 quyển/năm, đến 2019 trong một bài báo khác là 0.8 quyển/năm). Một tình trạng “sa mạc hóa” tinh thần đang hiện hình; chúng ta có thể phải chứng kiến một thời kỳ hoang dã mới ngay trong thế kỷ 21 này khi ngày càng xa lạ với văn minh nhân loại và các trải nghiệm tế vi mà chỉ có sách mới có thể chuyển tải được.

Tình trạng này trước hết là lỗi (tội) của bộ Giáo dục; nhưng lớn hơn là thuộc về cách quản trị và điều hành quốc gia của những cái “trên bộ”. Không tạo ra một động cơ đọc sách bằng cách kiến tạo những thang bậc giá trị chân chính để sách trở thành một nhu cầu tự nhiên. Khi mà xã hội chỉ còn biết chạy theo tiền và dùng đồng tiền làm thước đo cho tất cả thì sách trở nên vô duyên và thừa thải.

Hãy hình dung, một ông hiệu trưởng suốt hàng chục năm không hề đọc một cuốn sách, lúc ấy chúng ta sẽ hiểu cái thảm trạng của một trường học “được” lãnh đạo bởi những vị như thế. Mà bây giờ đa số “lãnh đạo” giáo dục gần như không đọc sách, họ đã quên từ lâu rồi. Nó là cơn ác mộng của giáo dục và của xã hội nói chung.

Các quan lại càng không đọc sách. Sách là thứ xa xỉ bậc nhất. Nghĩa là, đất nước đang được lãnh đạo bởi những người không đọc sách. Và nó sẽ đi về đâu thì chúng ta hoàn toàn có thể dự đoán được.

Thông Não

 
May be an image of 2 people and text that says 'Zing.vn'

 Thông Não

Tại sao nước Mỹ có thể xây dựng được một xã hội kiểu như thế này? Người Mỹ thực sự không có áp lực sinh tồn, không có mối lo đằng sau sao? Họ có thể thực sự truy cầu hạnh phúc chân chính sao?

Hãy cùng xem qua những điểm dưới đây:

  1. Tiêu Thụ

Bạn mua 1 đôi giày, đi được 2 tuần và cảm thấy không hợp với chân, bạn có thể đến của hàng trả lại. Nhân viên bán hàng sẽ đưa ra cho bạn 3 sự lựa chọn: Một là đổi đôi mới, hai là dùng số tiền đó mua một sản phẩm khác, ba là trả hàng, nhận lại tiền. Cơ chế này rõ ràng phải được xây dựng trên một nền tảng văn minh nhất định.

Khi trình độ ứng xử văn minh và ý thức của người ta không đạt tới được một mức độ nhất định thì không xứng đáng được hưởng cơ chế đó. Để duy trì bất kỳ chế độ xã hội tốt đẹp nào thì điều cốt yếu chính là dựa vào tự giác chứ không phải pháp luật.

  1. Quyền lực và trách nhiệm

Nếu bị đánh ở nơi công cộng, hung thủ lại trốn thoát biệt tăm, bạn có thể yêu cầu chính phủ bồi thường. Sao có thể xảy ra chuyện đó? Rõ ràng chuyện xảy ra chẳng liên quan gì đến chính phủ cả. Nhưng các luật sư Mỹ sẽ giải thích cho chúng ta rằng: “Chính phủ phải chịu trách nhiệm bởi vì có tội phạm làm hại bạn. Bạn bị thương phải đi khám bệnh, bị tổn thất về tinh thần và thể chất không đi làm được. Tất cả những điều này chính phủ phải chịu trách nhiệm”.

Nhiều người nước ngoài có thể thấy rằng đó là một suy nghĩ ngược đời. Lỗi chẳng phải ở chính phủ. Chẳng phải chính phủ vẫn luôn trấn áp, bài trừ tội phạm đó sao? Như vậy chẳng phải đã là quá đủ hay sao? Nhưng người Mỹ nghĩ khác. Họ truy cứu trách nhiệm của chính phủ ở một tầng sâu hơn. Công dân không được bảo vệ tốt, kẻ phạm tội lại trốn thoát, đó là lỗi ở chính phủ.

Có một nhà văn Trung Quốc ở Mỹ vì xích mích mà ra tay đánh người ta, tự cho là mình có lý. Anh ta sẵn sàng chấp nhận chịu phạt để đánh người nhưng không thể ngờ rằng một cú đấm của mình lại nghiêm trọng đến vậy. Anh phải mất một số tiền rất lớn thuê luật sư mới có thể đạt được thỏa thuận bồi thường với người bị hại, còn bị phạt tù 1 ngày, 100 giờ lao động công ích tại địa phương và 2000 đô la.

Anh ta bao biện rằng: “Việc đánh người tôi thừa nhận nhưng tôi muốn xác nhận là tôi đánh người ta là việc quang minh chính đại, là có lý, nói cách khác là người ta đáng bị đánh”.

Luật sư cho anh biết: “Anh hoàn toàn không hiểu pháp luật Mỹ. Người ta có đáng bị đánh hay không thì lại là chuyện khác, không liên quan đến vụ án này. Quan tòa vụ kiện này chỉ muốn biết anh có đánh người hay không thôi. Nếu người ta nợ tiền anh hoặc lừa đảo anh, làm cho anh bị tổn thương về thân thể, tinh thần, thì anh có thể khởi kiện người ta. Đó lại là vụ một kiện khác”.

  1. Quyền lợi của trẻ em và người già

Một bà mẹ bận rộn việc nhà, nhất thời sơ suất chẳng may làm con ngã xuống bể bơi và đứa bé qua đời. Đúng lúc đang đau đớn khôn nguôi thì bà mẹ nọ nhận được trát từ toà án vì tội “lơ là chức trách”, không làm hết trách nhiệm của người giám hộ. Bà sẽ phải đối mặt với một bản án hình sự.

Nhiều người có thể cho rằng việc này rõ ràng là không thấu tình đạt lý. Vừa mới chịu nỗi đau mất con, bà mẹ lại còn vì thế mà phải ngồi tù. Trên đời làm gì có chuyện hoang đường như vậy?

Lý do của quan tòa rất đơn giản. Bà mẹ không làm hết chức trách nên một sinh mạng bị mất đi ngoài ý muốn. Đây là điều pháp luật không cho phép. Một khi bà mẹ này bị xử tù, tác dụng răn đe của pháp luật sẽ khiến hàng ngàn hàng vạn bà mẹ khác phải tận tâm làm hết trách nhiệm trong việc bảo vệ con cái.

Người Mỹ quan niệm:

“Khi bạn sinh ra một đứa con, trước tiên, đứa bé đó thuộc về chính nó. Nó có vô số quyền lợi ngay từ khi sinh ra, sống trong xã hội này. Bất kể nó có ý thức hay không, bất kể có lớn lên thành người hay không, thì xã hội này vẫn có tầng tầng lớp lớp luật pháp để bảo vệ nó”.

Bảo vệ quyền lợi trẻ em, bảo đảm sức khỏe người già, quyền lợi của người yếu thế thực sự là công việc chủ yếu, là nhiệm vụ quan trọng của chính phủ Mỹ. Cha mẹ một người bạn của tôi sau khi làm thủ tục định cư vĩnh viễn ở Mỹ giờ đây được nhà nước thanh toán toàn bộ chi phí khám chữa bệnh, ngay cả thuốc men cũng được gửi tận nhà. Thậm chí lắp cặp kính lão, máy trợ thính cũng được chính phủ bỏ tiền ra mua cho họ. Hơn nữa họ còn có thể đến các trung tâm hoạt động người cao tuổi, được hưởng chế độ đãi ngộ và bảo vệ đặc biệt dành cho người già.

Một hôm, sau khi kiểm tra chỗ ở của ông bà, người phụ trách trung tâm người cao tuổi đã yêu cầu bạn tôi cần phải cải tiến 3 chỗ. Bên giường các cụ phải lắp điện thoại có thể với tay đến được. Phòng ngủ phải có đèn ngủ thấp và bên bồn tắm phải có tay vịn an toàn bằng kim loại.

Khi bạn tôi trả lời đã biết rồi, người phụ trách trung tâm nói:

“Chỉ biết thôi không được, anh phải nói cho chúng tôi biết khi nào anh sửa lỗi xong. Tôi phải đến kiểm tra lại”.

Có người cho đây là việc nhỏ nhưng trên đời thực không có việc nào lớn hơn so với việc nhỏ này. Đó chính là “coi công việc thực sự là công việc, coi con người thực sự là con người”.

  1. Phục vụ người dân

Nhà báo là vua không ngôi. Ý nói nếu không có bài báo của các hãng truyền thông vạch trần cái xấu thì chính quyền lợi dụng chức quyền làm điều ám muội sẽ chuyên chế, tham nhũng. Nhưng nhiều chính quyền thường lấy việc chống tội phạm để yêu cầu bảo mật nên tha hồ lợi dụng chức quyền làm điều ám muội.

Ở Mỹ, chỉ cần bỏ ra 10 đô la mua bộ thu radio vô tuyến, bạn có thể nhận được tất cả thông tin của cảnh sát.

“Hả? Vậy thì cảnh sát chẳng còn bí mật gì nữa à?”, một người bạn mới đến Mỹ không tài nào hiểu được.

“Họ cần bí mật gì cơ chứ? Họ phục vụ chúng ta”, có người trả lời:

“Thế thì chẳng phải loạn sao?”.

“Có gì mà loạn? Nếu công việc của cảnh sát chỉ riêng cảnh sát biết, người cũng đã bắt rồi, việc cũng đã xử lý xong rồi, lúc đó mới thông báo cho các nhà báo chúng ta thì thế mới là loạn. Lúc đó, ai biết việc đó là thật hay giả?”.

Chỉ một câu đơn giản rõ ràng: “Họ phục vụ chúng ta” đã đánh tan tất cả những cái cớ lợi dụng chức quyền làm điều mờ ám của những người thực thi quyền lực. Trấn áp tội phạm, bảo vệ xã hội là trách nhiệm của chính quyền. Làm thế nào bắt tội phạm trước con mắt theo dõi của mọi người, làm thế nào ngăn chặn mở rộng quyền lực, phòng chống lợi dụng chức quyền làm điều ám muội là vấn đề kỹ thuật mà các cơ quan quyền lực chính phủ phải tự giải quyết. Chính phủ phục vụ nhân dân là vấn đề nguyên tắc.

  1. Sự quyết định của các tầng lớp dưới

Nước Mỹ là xã hội được xây dựng theo hướng từ trên xuống. “Có sự ủng hộ của người dân, anh có thể làm lãnh đạo thành phố. Có sự ủng hộ của cử tri bang, anh mới được làm thống đốc bang hoặc nghị sĩ. Có sự ủng hộ của cử tri toàn quốc, anh mới có thể làm Tổng thống”. Đây là khác biệt lớn nhất giữa xã hội Mỹ và xã hội Trung Quốc. Cơ chế này của Mỹ làm cho người dân sống thẳng thắn mạnh mẽ. Thái độ của quan chức vì dân phục vụ cũng không cần phải học tập, giáo dục, bởi vì bản thân cử tri đã là sợi dây sinh mạng của quan chức.

Điều đó có lúc làm người ta không thể tưởng tượng nổi. Thành phố Hillsborough, San Francisco không làm đèn đường, không mở cửa hàng, cửa hiệu. Việc này ngay cả thống đốc và Tổng thống cũng không thể can thiệp gì được. Cư dân ở thành phố này căn cứ vào đặc điểm địa lý đặc thù, nhu cầu cuộc sống của mình mà đã tự thông qua những điều ấy.

Năm 2006, Schwarzenegger, thống đốc bang California không đồng ý đặc xá miễn tội tử hình cho người da đen Williams bất chấp sự thỉnh nguyện của các đoàn thể quần chúng, thậm chí là can thiệp của Tổng thống. Cuối cùng bản án vẫn được thực thi. Do đó, ở Mỹ, các cấp chính quyền chỉ chịu trách nhiệm với cử tri theo khung của hiến pháp. Thống đốc không có quyền miễn nhiệm thị trưởng. Ngay cả Tổng thống cũng không có quyền miễn nhiệm thống đốc.

  1. Tam quyền phân lập

Mỹ là quốc gia có ba cấp lập pháp: quốc gia, bang, thành phố (địa hạt), mỗi cấp ban hành luật pháp, quyền và trách nhiệm riêng của mình. Pháp luật quốc gia lấy nhân quyền làm nguyên tắc, quản lý các phương châm đối nội đối ngoại, các chính sách lớn. Luật pháp bang lấy nhân tính làm cơ sở, giải quyết các tranh chấp dân sự, hình sự. Luật pháp thành phố (địa hạt) tôn trọng tình hình thực tế dân tình, giữ gìn bản sắc truyền thống.

Ba cấp lập pháp không phải quan hệ trên dưới trực thuộc, mà mỗi cấp phụ trách chức trách riêng của mình, cũng như cá dưới nước phân tầng rõ ràng, tầng trên, giữa, dưới, cũng có ba loại thức ăn khác nhau, không can thiệp lẫn nhau. Nếu bất chợt có tranh chấp xung đột, thì trái lại pháp luật cấp thấp hơn sẽ có tác dụng quyết định.

Đạo lý này cũng không khó giải thích, càng là luật pháp thấp hơn một cấp thì càng gần với người dân, hợp với tình người. Mà pháp luật cấp cao do tính trừu tượng của nó đã mất đi tính khả thi. Theo chiều dọc thì ba cấp lập pháp, mỗi cấp nắm giữ chức phận của mình. Theo chiều ngang thì pháp luật bang, pháp luật thành phố (địa hạt) cũng có khác nhau.

Hệ thống ấy nếu vận hành ở một quốc gia khác có lẽ sẽ gây loạn không chừng. Nhưng người Mỹ ở tầm lớn thì khẳng định nhân quyền, ở tầm trung thì thừa nhận nhân tính, ở tầm thấp hơn thì tôn trọng nguyên tắc địa phương, đã đáp ứng được mối quan hệ trên mọi lĩnh vực, đã vận hành chế độ ba cấp lập pháp thành thục điêu luyện.

Một nhà văn Trung Quốc sau khi đến Mỹ đã cảm khái nói:

“Suốt 20 năm nay, càng đi sâu vào xã hội Mỹ, tôi không ngừng phát giác thấy một sự thực rằng: thiết kế chế độ xã hội ở đây hoàn toàn là để giải quyết các loại vấn đề có thể xảy ra của nhân dân. Cũng có thể nói rằng, trong xã hội này, bất kể anh có xảy ra chuyện gì, rất khó mà cảm thấy mình lâm vào bước đường cùng, luôn luôn có con đường đang chờ đợi bạn”.

Có lẽ điều đó chính là lý do giải thích vì sao bất kể là nhân tài hay kẻ bất tài, người khôn hay kẻ dại cũng đều muốn di cư sang Mỹ. Đây chính là quốc gia mà bạn không bao giờ bị cảm thấy bị rơi vào bước đường cùng.

Hải Sơn biên dịch

KHÔNG PHẢI CHỈ BÓNG ĐÁ LIÊN QUAN ĐẾN CHÍNH TRỊ MÀ CÒN CÓ CẢ TOÁN HỌC.

KHÔNG PHẢI CHỈ BÓNG ĐÁ LIÊN QUAN ĐẾN CHÍNH TRỊ MÀ CÒN CÓ CẢ TOÁN HỌC.

Nghệ thuật cai trị của bọn độc tài bao gồm những thủ pháp sau :

– Xây đắp một hình tượng lãnh tụ thật vĩ đại để toàn dân hướng ý niệm vào đó. Đây là nghệ thuật tập trung ý chí của đàn cừu vào một khuôn mẫu duy nhất, không để chúng nảy sinh những tư tưởng nổi loạn. Lãnh tụ với đạo đức bịa đặt theo kiểu “nói láo nghìn lần cũng thành chân lý” là “khuôn vàng thước ngọc” là một cách định hướng tư duy ,một cách tước bỏ tự do tư tưởng và tự do ngôn luận, cả nước chỉ có mỗi một việc là “làm theo lời bác” để giết chết các tư duy sáng tạo.

– Bịa đặt ra kẻ thù xâm lược để toàn dân không coi đảng độc tài là kẻ thù .Pháp và Mỹ, VNCH là nạn nhân của trò lừa đảo này. Họ là những ân nhân mang đến độc lập, tự do dân chủ thật sự cho dân tộc Việt Nam nhưng lại bị Hồ Chí Minh biến thành kẻ thù xâm lược dù Pháp được lãnh đạo bởi liên minh dân chủ sau chiến tranh thế giới và Mỹ là đất nước của tự do mà HCM đã trích dẫn Tuyên ngôn độc lập.Và thực tế ngày nay đều cho thấy Mỹ là nơi mà cả loài người xếp hàng để xin được định cư.

– Sử dụng thành tích để làm ảo tưởng một dân tộc vốn sống thiên về cảm tính. Đó là màn bịa đặt ra các mẫu anh hùng không có thực như Lê Văn Tám, Tô Vĩnh Diện… và thổi phồng thành tích để mị dân.

Trong các kỳ thi học sinh giỏi Toán quốc tế dù Mỹ chỉ đưa đến cuộc thi này các học sinh yêu thích môn toán,tự tìm kinh phí để đi thi và giải thưởng cũng trao cho rất nhiều người để khuyến khích. Nhưng CSVN lại nuôi gà chọi và đào tạo ra một đội ngũ học sinh tinh hoa nhất để tìm kiếm danh vọng đem về vinh quang trên lĩnh vực kinh tế. Lê Bá Khánh Trình hay Lê Tự Quốc Thắng cũng chỉ thi thố với các học sinh yêu toán của Mỹ và châu Âu và ban tổ chức chỉ trao giải đặc biệt cho những cách giải lạ thế là bộ máy tuyên truyền của đảng độc tài lập tức vào cuộc để tung hô.

Một người như Ngô Bảo Châu cũng lọt thỏm giữa hàng ngàn các cá nhân đoạt giải của đội ngũ trí thức nhập cư hàng năm vào nước Mỹ nhưng được chế độ CSVN tranh công đào tạo của Pháp để mời về rồi mua nhà, cấp đất dựng viện toán học mục đích cũng chỉ đánh bóng cho cái chế độ mục nát. Bởi lẻ trong hơn nửa thế kỷ cầm quyền chế độ này cũng chẳng tạo ra nổi một bằng sáng chế nào được thế giới công nhận, một phát minh khoa học kỷ thuật hay y học nào vào kho tàng tri thức của nhân loại.

Thể thao căn bản là phải xây nhà từ gốc đó là nền thể thao học đường. Một đất nước mà các trường học không có sân chơi bóng, không có các đội thể thao thì cho dù đất nước đó đoạt chức vô địch thế giới môn bóng đá hay huy chương vàng Olympic cũng vô ích.

Tại sao?

Vì mục đích của thể thao không phải là những tấm huy chương. Người ta tạo ra những tấm huy chương để khuyến khích nhân dân thế giới lao vào tập luyện thể thao nhằm đẩy lùi bệnh tật, giảm thiểu ngân sách cho y tế.

Huy chương Olympic của Mỹ có giá trị vì nó có đến 1/3 là từ thể thao học đường. Và bóng đá các nước dân chủ được xem trọng là vì nó có nền tảng từ cái móng là học sinh phổ thông. Trong khi đó bóng đá Việt lại xây từ nóc như lời huấn luyện viên người Áo.

Tức là nó mặc kệ mấy triệu học sinh bị béo phì thừa cân, chuyên đeo kính cận, tiểu đường vì sân bóng, sân chơi thể thao bị chính quyền cướp ,doanh nghiệp cướp hết đưa vào các quy hoạch đô thị. Chúng không cần dân khỏe mà chỉ cần tuyển lựa một số con gà có năng khiếu để nuôi riêng. Với chế độ chăm sóc riêng tất nhiên các con gà này sẽ có năng lực hơn những con gà bình thường trong nhất thời để tạo nên thành tích. Thế là chúng cho báo chí thổi phồng lên để dân tộc ấy quên đi thân phận đàn cừu bị cướp đất, bị xử án oan, bị bóc lột tham nhũng. Đáng ra họ phải xuống đường để thay đổi thể chế thì họ lại xuống đường để sùng bái các tên đao phủ đã đưa họ vào con đường diệt vong.

Đúng là một dân tộc mê muội. Bọn cướp thì luôn dùng mọi thủ đoạn ma giáo nhất để dụ dỗ ,lừa bịp dân tộc chậm phát triển này. Nhưng cái đáng nói là dân tộc ấy còn cả một đội ngũ trí thức.

Đầu óc họ để đâu, lương tâm họ để đâu ?

Họ phải chịu trách nhiệm với từng em bé vô gia cư,ăn xin ở bên đường .

Họ phải thấy xót xa khi nhìn những cái chết của các em bé bị ung thư khi tuổi đời còn rất nhỏ, những con người chết vì không có thể thao chỉ có những tấm huy chương sáo rỗng.

Đằng sau những đêm đi bão để tung hô những giá trị phù phiếm là những bệnh viện chật ních bệnh nhân vì quá tải,là những cái chết được đếm ngược từng ngày.

Tất cả cũng chỉ vì tất cả của dân tộc này đều được xây từ nóc.

Thói ghen ghét, đố kỵ của người Việt

 Van Pham is with Anh Chi

 Thói ghen ghét, đố kỵ của người Việt

Sự ghen ghét, đố kỵ hình thành khi một người cảm thấy mình thua kém người khác và tức giận vì điều đó. Sự ghen ghét, đố kỵ thường không chỉ dừng lại trong suy nghĩ của con người, nó còn bộc lộ ra ngoài thông qua hành động, lời nói để giải tỏa ẩn ức mặc cảm tự ti.

Điều này làm cho con người càng trở nên thấp kém hơn chứ không mang lại suy nghĩ tích cực cần vươn lên để hoàn thiện bản thân.

Người ta ví người Việt như những con cua bị nhốt trong giỏ không đậy nắp nhưng không con nào thoát được vì mỗi khi có con nào vươn lên liền bị các con khác kéo xuống. Sự ghen ghét, đố kỵ làm cho chúng ta hại người hại mình và cùng chết mà không biết. Nó gây tổn thương, chia rẽ và không thể có được sự đoàn kết.

Thấy đứa bạn trong công ty làm việc giỏi được sếp yêu quý, cất nhắc, lương thưởng cao, ta không coi đó là động lực thúc đẩy bản thân học hành thêm để tiến bộ, ta luôn tìm cách gây hại cho nó phải bị kỷ luật thậm chí mất việc thì mới hả dạ.

Thấy nhà hàng xóm ăn nên làm ra, ta không vui mừng thay cho họ, không học hỏi sự siêng năng cần mẫn giỏi giang hay kinh nghiệm của họ, ta ghen ghét đố kỵ và nhìn họ bằng con mắt ác cảm và tưởng tượng ra đủ thứ xấu xa trong đầu để nhủ họ cũng thường thôi, sao mà giỏi hơn ta được, chẳng qua là vì làm ăn xấu xa bất chính nên mới mau giàu. Và rồi ta bịa đặt, nói xấu, vu khống, thậm chí quăng rác sang cổng nhà hoặc cho chó ỉa một bãi trước cổng nhà nó cho đỡ ghét.

Ai làm được một việc gì đó có ích nho nhỏ, được nhiều người khen ngợi, lập tức sẽ có một số khác cảm thấy không vui và ghen ghét, đố kỵ. Họ sẽ tìm cách chê bai, dè bỉu, thậm chí phá hoại để người khác thấy rằng người kia cũng thường thôi, thậm chí kém hơn họ, có gì đáng mà khen.

Hoạt động trong một nhóm mà ý kiến được nhiều người nghe hơn những người khác, làm nhiều việc tích cực được ngợi khen thì chẳng sớm cũng muộn liền bị cô lập và đẩy văng ra khỏi nhóm.

Con người trong xã hội mất niềm tin vào nhau, luôn nghi ngờ và đề phòng, cảnh giác, không còn dám nói thật, sống thật với nhau vì sợ bị ghen ghét đố kỵ, do đó cũng không dám giúp nhau bởi lo âu người ta sẽ giỏi hơn mình, mình sẽ lép vế hơn.

Trong một cộng đồng xã hội có nhiều người ghen ghét đố kỵ thì xã hội đó sẽ chậm tiến trong mọi lĩnh vực vì không có sự khuyến khích phát triển. Người tài thường bị vùi dập. Sự chia rẽ nghi ngờ và giả dối triệt tiêu mọi yếu tố cần thiết để gây dựng tình yêu thương gắn kết trong cộng đồng.

Cộng đồng người Việt định cư ở nước ngoài cũng không tránh khỏi thói “ghen ăn tức ở” gây ra sự mất đoàn kết. Chỉ trích cá nhân, moi móc đời tư để mạ lỵ, bêu xấu nhau, xâu xé nhau khá khốc liệt. Hoàn toàn không có tính đoàn kết để xây dựng, bảo bọc và giúp nhau. Có những chuyện rất buồn mới xảy ra gần đây. Nhưng khi trao đổi, tôi thấy ai cũng nhân danh sự tốt đẹp, trong sáng và gắn kết thành một cộng đồng vững mạnh & phát triển như nhiều sắc tộc khác. Nhưng thực tế chúng ta không thành một khối vững chắc, mà vẫn là những cá thể mong manh yếu đuối dễ bị bẻ gãy vì đã tự chặt đứt sợi dây cột chặt đám đông bằng sự ghen ghét, đố kỵ.

Bởi thế ca dao Việt có một số câu tiêu biểu như:

– Không phải cứ thân nhau là bạn

Ở đời còn rất nhiều đứa khốn nạn gắn nhãn bạn thân.

– Tiền rách thì vẫn còn giá trị

Nhân cách rách thì chỉ là đồ vứt đi!

– Trong các thể loại buôn bán… Thì bán đứng bạn bè là thứ kinh tởm nhất!

ĐỨC TIN LÀ MỘT SỰ TÍN THÁC

ĐỨC TIN LÀ MỘT SỰ TÍN THÁC

Có một gia đình nọ sống giữa đồng không mông quạnh. Vào đêm kia, nhà bốc cháy dữ dội. Cha mẹ, con cái vội vã chạy ra ngoài sân và đứng bất lực nhìn ngọn lửa thiêu rụi tổ ấm gia đình họ. Bỗng mọi người chợt nhận ra thiếu đứa con bé nhất. Thì ra cậu bé cũng chạy với mọi người, nhưng chưa ra tới cửa, thấy lửa cháy dữ quá, cậu sợ hãi chạy trở lên lầu. Trong lúc cả gia đình hốt hoảng không biết phải làm sao để cứu cậu bé năm tuổi, vì lửa cao ngút tứ phía, bỗng cửa sổ trên lầu mở toang và cậu bé kêu khóc inh ỏi. Cha cậu bé gọi lớn tên con, rồi nói:

– Con nhảy xuống đây? Cậu bé nhìn xuống dưới chỉ thấy khói mù và lửa, nhưng nghe tiếng cha kêu mình, liền trả lời:

– Ba ơi, con không trông thấy ba đâu hết!

Người cha trả lời giọng cương quyết:

– Cứ nhảy đi, có ba trông thấy con là đủ rồi?

Và cậu bé leo lên cửa sổ, rồi nhảy xuống, rơi vào vòng tay yêu thương vạm vỡ của cha mình cách an toàn.

Cuộc thử thách của lòng tin là thử thách của tình yêu thương tín thác, trông thấy đường thẳng mà Chúa đã vẽ qua những đường cong của biên cố trong cuộc sống. Lời Ngài kêu mới là một lệnh truyền, một lời hứa và đồng thời là tiếng nói đòi nơi người nghe thái độ vâng phục và tin tưởng.

ST.

Vì Sao Không Nên Nhìn Vào Khuyết Điểm Của Người Khác?

GÓC SUY GẪM…

Vì Sao Không Nên Nhìn Vào Khuyết Điểm Của Người Khác?

Hãy học cách nhìn vào điểm tốt của mọi người, bao dung hơn với lỗi lầm của họ, bạn sẽ thấy tâm hồn của mình luôn thoáng đãng, an bình.

Nhìn vào khuyết điểm của người khác, sẽ làm tổn thương người khác, cũng làm tổn thương chính bản thân mình…

***

Một ngày nọ, sau khi người cha nghe xong con trai oán trách và kể khổ về cuộc hôn nhân của mình, ông hỏi:

– “Con trai, con có biết vợ con có ưu điểm gì?”

Người con trai phàn nàn nói:

– “Trước khi kết hôn thì cô ấy có, hiện tại thì không có ạ!”.

Ông bố hỏi lại:

– “Trong suy nghĩ của vợ con, con có điểm mạnh nào không?”

Người con trai ngập ngừng nói:

– “Hình như là trước đây con có, giờ thì không có”.

Người cha nói:

– “Vậy con còn giỏi hơn cha, trước khi cha lấy mẹ con, cha còn không biết mẹ có ưu điểm gì nữa”.

Người con ngẩng đầu lên nhìn cha, định nói điều gì đó, nhưng rồi lại thôi.

Người cha đi ra ngoài, cầm lên một viên ngói và một nắm bông rồi mang vào hỏi con:

– “Con xem, vật nào cứng hơn?”.

Người con trai không biết cha muốn làm gì, nhưng vẫn trả lời:

– “Cái này mà cha còn phải hỏi, tất nhiên là ngói cứng hơn”.

Người cha không nói gì, ông cầm viên ngói và nắm bông lên cao rồi thả tay ra, viên ngói rơi xuống vỡ tan, chia năm xẻ bảy, còn nắm bông thì không vấn đề gì cả. Người cha hỏi con:

– “Tại sao vật cứng thì nát, còn vật mềm thì lại không bị sao?”

Người con suy nghĩ nói:

– “Chắc vì bông mềm nên nhẹ, do đó không bị làm sao”.

Người cha vỗ vai con trai, nhẹ nhàng nói:

– “Con trai! Con cần phải như bông mà khiêm tốn lại, không làm tổn thương người khác cũng là không làm tổn thương mình. Như viên ngói kia, có cạnh có góc, nhưng gặp cứng thì vỡ. Khi con làm tổn thương người khác, cũng chính làm tổn thương chính mình đấy con à”.

“Cha sống bao nhiêu năm rồi, cả đời cha chỉ hiểu một đạo lí đó là, nhìn vào ưu điểm của người khác sẽ khiến con tim mình ấm áp, còn nhìn thẳng vào khuyết điểm của người khác, thì cũng là làm tổn thương chính tâm hồn của mình.

Con nên học tập bông, bông vì người khác mà ngăn lại gió lạnh, nó giống như ánh mặt trời có thể sưởi ấm cho cuộc đời này. Khi đã kết hôn thì ai chẳng mong hạnh phúc, để làm được điều ấy chúng ta phải vun đắp hàng ngày.

Con trai, lời khen là một bảo bối, một lời khen của con có thể là động lực cho vợ con, còn một câu nói ích kỷ, cay nghiệt có thể khiến vợ con mang hận cả đời, từ đó mà kéo cuộc hôn nhân của con vào nơi bế tắc. Chẳng lẽ con cũng muốn cha đối xử với mẹ con giống như con đang đối xử với vợ con hay sao?”

Người con trai nghe xong, im lặng ngẫm nghĩ…

***

Có người chỉ chăm chăm nhìn thấy cái sai ở người khác, nhưng có người lại nhìn thấy được cả ưu điểm trong những điều sai lầm.

Để có thể trở thành loại người thứ hai, cần phải vừa có lòng bao dung vừa có trí tuệ.

Ai cũng có ưu điểm và nhược điểm. Nếu bạn chỉ chăm chăm vào nhược điểm của người khác và thấy điều tồi tệ ở họ thì cuộc sống của bạn quả thật là tồi tệ.

Hãy học cách nhìn vào điểm tốt của mọi người, bao dung hơn với lỗi lầm của họ, bạn sẽ thấy tâm hồn của mình luôn thoáng đãng, an bình.

từ SecretLife

MẶC CẢM THẤP KÉM VÀ NỔI TRỘI

May be an image of 1 person

Bài hay nên đọc kỹ và suy nghĩ!

Facebook Đặng Bích Phượng:

Mạc Van Trang: Các nhà Tâm lý học nên đọc bài này và đọc sách của nhà tâm lý học Alfred Adler.

MẶC CẢM THẤP KÉM VÀ NỔI TRỘI

Fb Nguyen Tuan

Có khi nào các bạn cảm thấy ngạc nhiên khi thấy mấy người trong vai trò lãnh đạo thốt lên những mệnh đề như ‘Việt Nam anh hùng’, ‘Việt Nam không kém ai’, ‘Việt Nam vinh quang’, ‘Thủ đô ngàn năm văn hiến’, ‘Đồng chí XYZ vĩ đại’, v.v. Tôi tự tìm nguồn cội của cách nói này, và nghĩ rằng đó là triệu chứng của một hội chứng tâm lí có tên là ‘Inferiority Complex’ (hội chứng thấp kém) [1] và ‘Superiority Complex’ (hội chứng nổi trội) [2].

Từ sau 1975 tôi (và chắc nhiều bạn khác) rất ngạc nhiên với cách nói mới mang tính hô khẩu hiệu. Hô theo giới lãnh đạo. Hễ nói đến Việt Nam là phải có thêm ‘anh hùng’; hễ viết về lãnh đạo thì phải ‘vĩ đại’; hễ Hà Nội là ‘ngàn năm văn hiến’; hễ chiến thắng là phải ‘vinh quang’; hễ viết về đối phương là ‘bè lũ’, là ‘bán nước’, v.v.

Lúc đó tôi không biết những cách nói thậm xưng đó xuất phát từ đâu. Khi ra nước ngoài thì mới biết đó cũng là cách nói rất phổ biến ở bên Liên Xô, Tàu, Bắc Hàn, v.v. Ở Bắc Hàn, hễ Kim Jong-Il là phải kèm theo ‘lãnh tụ kính yêu’, ông già là Kim Nhật Thành là phải ‘lãnh tụ vĩ đại’, và ông cháu Kim Chính Ân thì phải là ‘Người thừa kế vĩ đại’.

Khi những chữ này được lặp đi lặp lại nhiều lần, người ta cứ nói theo như là quán tính. Mà, quán tính thì không cần suy nghĩ. Người nghe tưởng đâu đó là sự thật. Nhưng khi ra nước ngoài, tôi không thấy lãnh tụ hay báo chí họ dùng những chữ thậm xưng đó. Suy nghĩ kĩ thì cách nói đó có khi là một hình thức che giấu sự yếu kém mà thôi, tức là Hội chứng mặc cảm thấp kém.

  1. Hội chứng thấp kém

Hội chứng mặc cảm thấp kém là một phát kiến của nhà tâm lí học trứ danh người Áo Alfred Adler. Năm 1907, Adler bàn về hội chứng này lần đầu tiên, mà trong đó ông nêu lên một số đặc điểm có tác động đến cuộc sống hàng ngày. Ông xem hội chứng mặc cảm thấp kém là một rối loạn thần kinh (neurosis).

Adler nghĩ rằng yếu tố căn bản của rối loạn thần kinh là cảm giác thấp kém, và những người mắc chứng này tiêu ra thì giờ để cố gắng đối phó và chiến thắng cảm giác đó mà không biết gì đến thực tế.

Adler cho rằng tất cả trẻ con đều có mặc cảm thấp kém ngay từ khi họ được sanh ra. Trẻ con làm tất cả để được ba má chú ý tới. Những nỗ lực đó của họ (trẻ con) dần dần theo thời gian giúp chúng hình thành những mục tiêu tưởng tượng trong tiềm thức. Những mục tiêu này giúp đứa trẻ phấn đấu chỉnh sửa mặc cảm thấp kém và phát triển khả năng. Khi đứa trẻ được chăm sóc tốt, nó sẽ chấp nhận những thách thức và học cách vượt qua. Ông gọi đó là Quá trình Compensation (Đền bù).

Tuy nhiên, Quá trình Đền bù đôi khi không diễn ra một cách bình thường, và cảm gíac thấp kém trở nên căng thẳng hơn. Đứa trẻ bắt đầu cảm thấy nó không có khả năng kiểm soát môi trường chung quanh. Họ phấn đấu để được đền bù, nhưng không đạt được hiệu quả. Tình trạng này dẫn đến hiện tượng mà Adler gọi là ‘Overcompensation’ (Đền bù thái quá). Đứa trẻ bắt đầu tập trung vào việc đạt được những mục tiêu ngoài khả năng của nó.

Chứng Overcompensation có thể dẫn đến hội chứng mặc cảm thấp kém. Đây là mặc cảm thiếu tự tôn (self-esteem). Theo Adler, đặc điểm chánh của người bị chứng mặc cảm thấp kém là người đó lúc nào cũng phấn đấu tìm một tình huống để chứng tỏ mình nổi trội.

Động cơ làm người nổi trội là một triệu chứng của mặc cảm thấp kém.

Theo sách tâm lí học, người có hội chứng thấp kém thường có những biểu hiện sau đây:

  • cảm giác bất an, không xứng đáng;
  • rụt rè trong các giao tiếp xã hội;
  • hay so sánh mình với người khác;
  • cảm giác thù ghét, nản lòng, bồn chồn, nóng nảy;
  • mất ngủ;
  • không có khả năng hoàn tất công việc;
  • dấu hiệu trầm cảm, lo lắng.

Chẳng hạn như lần tiếp xúc Tập Cận Bình, một ông lãnh đạo VN làm mọi người ngạc nhiên khi ông so sánh trà Tàu ngon hơn trà Việt Nam! Ngạc nhiên là vì ông ấy ở vị trí lãnh đạo quốc gia mà lại thốt ra một câu không cần thiết.

Sau này ông ấy và đồng nghiệp còn có nhiều câu phát biểu mang tính so sánh Việt Nam như là một ‘cường quốc’ trên thế giới. Có thể đó là cảm nhận cá nhân, nhưng cảm nhận đó chắc chắn xuất phát từ tiềm thức hay mặc cảm nào thấp kém.

Thỉnh thoảng, người mắc chứng mặc cảm thấp kém còn tỏ ra tự tin thái quá hay ái kỉ (narcissist) mặc dù trong thực tế họ rất thiếu tự tin. Những biểu hiện này bao gồm:

  • tự trình diễn mình như là một người tài năng;
  • tỏ ra là người hoàn hảo, và do đó rất nhạy cảm với những phê bình;
  • tìm lỗi của người khác;
  • thích được chú ý và tìm sự chú ý của người khác;
  • không có khả năng nhận ra sai sót của mình.
  1. Hội chứng nổi trội

Nhưng Adler còn chỉ ra một hội chứng mặc cảm nổi trội (superiority complex). Người mắc chứng này cảm thấy lúc nào cũng có nhu cầu để chứng minh rằng mình hơn chính mình (để nổi trội hơn người khác). Adler chỉ ra rằng trẻ con cũng hay mắc chứng này, và chúng lúc nào cũng tỏ ra xấc láo, phách lối, và thích gây hấn. Đứa trẻ mắc chứng này chỉ vì nó cảm thấy nó thấp kém hơn người khác.

Thật vậy, mặc cảm nổi trội được phát sanh từ mặc cảm thấp kém. Nó (mặc cảm nổi trội) là một cách thức mà bệnh nhân hay dùng để thoát khỏi sự khó khăn và thấp kém của chính họ.

Những biểu hiện của Hội chứng nổi trội bao gồm:

  • tự đề cao mình hay tự đánh giá mình quá cao;
  • tuyên bố những điều khoác lác không đúng với thực tế;
  • chú ý đến bề ngoài;
  • tự xem ý kiến của mình là quan trọng;
  • cố gắng trình diễn mình như là một người ưu việt và có thẩm quyền;
  • không lắng nghe người khác;
  • hay so sánh mình với người khác để ngầm cho thấy mình hơn họ;
  • nhưng tự trong lòng thì thiếu tự tôn và cảm thấy mình thấp kém.

Nguyên nhân của Hội chứng nổi trội thì có nhiều. Nhiều tình huống dẫn đến Hội chứng nổi trội. Chẳng hạn như họ đã bị thất bại nhiều lần trong quá khứ, nên họ cố gắng ‘nổ’ để bù đắp cho những thất bại đó. Cũng có thể họ đang bị căng thẳng nên giả bộ rằng mình đã vượt qua sự căng thẳng. Nói tóm lại, nguyên nhân chánh của Hội chứng nổi trội là họ tìm cách thoát khỏi thực tế và giả bộ rằng họ hơn người khác.

***

Hôm trước, tác giả Nguyễn Hữu Liêm viết một bài rất hay nhưng rất đụng chạm, trong đó anh nhận định rằng người Việt Nam như là một quần thể đang ở tuổi thiếu niên. Đoạn bạn Liêm viết về mặc cảm thấp kém như sau [3]:

“Nguyễn Trãi là một trường hợp điển hình. Dù là tác giả của Bình Ngô Đại Cáo oai phong, tuyệt vời cả về văn ngữ lẫn tinh thần nội dung, nhưng khi đọc Trung Quân Từ Mệnh Tập mà Nguyễn Trãi đã viết thay mặt Lê Lợi gởi cho nhà Minh, chúng ta cũng không khỏi ngậm ngùi cảm nhận được cái nhục nhã, cái thái độ khom mình cúi đầu thần phục đối với phương Bắc. Thế nhưng dần dần chiến thuật nhún nhường cần thiết với nghi thức phong kiến và ngôn ngữ của kẻ yếu đã trở nên một bản chất cá tính của tầng lớp chính trị Việt.

Bản sắc cá tánh muốn được công nhận ảo này còn thành ‘yếu tố di truyền’ trong văn hóa bằng cấp, học hàm , học vị của người Việt.

Với truyền thống thi đỗ thì được làm quan để cho cả họ được nhờ, học vị khoa bảng đã trở thành chìa khóa cho thực tại tiến thân trong xã hội – cũng như cho tâm ý được coi trọng và công nhận giá trị nhân bản bởi tha nhân và đại thể khách quan. Ta chỉ là một công dân khi được có bằng cấp, hay chức vị trong triều đình. Ta chỉ hiện hữu khi Ta được công nhận bởi tha nhân. Từ đó, cái Ta được định hình bằng cái không-Ta, mà bản chất là một biện chứng tiêu cực có gốc rễ từ một tâm ý nô lệ. Bệnh cầu cạnh khoa bảng danh vọng còn đang rất thịnh hành trong xã hội Việt Nam hiện nay.

Bạn hãy suy nghẫm về kinh nghiệm bản thân khi tiếp xúc, giao tiếp, làm ăn, sinh hoạt với người Việt ta. Không ít người lớn tuổi, bằng cấp học vị, học hàm, chức vụ, nghề nghiệp, kể cả giới tu sĩ các tôn giáo hay lãnh đạo chính trị, nhà nước, trong hay ngoài nước, vẫn mang tính tình niên thiếu.

Nếu bạn có dịp giao tiếp hay làm việc với người Âu Mỹ thì sẽ thấy rằng họ – người phương Tây – chững chạc, trưởng thành hơn chúng ta nhiều, kể cả khi họ không có bằng cấp cao, hay khi còn rất trẻ tuổi. Dĩ nhiên là cũng có những thành phần quần chúng lao động Mỹ chẳng hạn, vẫn còn mang nặng tính tình trẻ con.

Thế nhưng tôi dám nói rằng nhìn tổng thể, đại đa số dân Việt khắp thế giới, vẫn là một tập thể chưa chín chắn, rất bồng bột, hơi ngây thơ và nhiều hoang tưởng. Nhìn vào các cộng đồng mạng xã hội mấy năm nay để thấy được cái tệ hại của sự thiếu trưởng thành và tính trẻ con thích cãi lộn. Có người đã nhận xét rằng hãy lên Facebook để thấy cái bản mặt xấu xí của dân Việt – the truly ugly side of Vietnameseness – với tính tình nặng chất trẻ con của họ là như thế nào.”

Tôi nghĩ anh ấy viết quá đúng.

Có thể lấy cách viết danh thiếp của giới có học Việt Nam ra làm một ví dụ. Chẳng biết từ khi nào mà người ta có cách viết như “PGS TS BS” trước tên một người. Tôi tự hỏi có cần thiết dài dòng như vậy không? Có lẽ đối với họ mấy chữ viết tắt đó là bùa cá nhân chăng? Nếu tôi mắc bệnh, tôi đi gặp BS, chớ chưa chắc tôi đi gặp mấy vị TS, còn PGS là chức vụ mấy bác ấy tôi không quan tâm.

Đôi khi chính tôi cũng vì mặc cảm dân tộc nên cũng có vài phát ngôn có thể xem là mặc cảm thấp kém. Hôm trong một hội nghị ở Singapore năm 2019, thấy mọi nước chung quanh phát biểu về những việc làm của nước họ làm tôi cũng tự ái dân tộc và nói rằng “Việt Nam tuy là nước nghèo, nhưng chúng tôi đã làm những nghiên cứu mà các nước trong vùng chưa làm.” Đêm về khách sạn, nằm suy nghĩ lại thấy phát biểu của mình có chỗ không cần thiết và trẻ con. Tại sao phải so đo với các nước khác? Nói vậy là mình đã thiếu tự tin. Đó cũng là thể hiện của hội chứng mặc cảm nổi trội vậy. Tôi tự điều chỉnh mình sau đó.

Câu chuyện nó cũng giống như trải nghiệm thời trẻ con ở dưới quê. Nếu chú ý cách đối thoại của bọn trẻ con, chúng ta dễ thấy chúng có cách nói ‘cương’, chúng hay tìm một điểm nào đó để làm điểm tựa. Chẳng hạn như nếu bị chê là học dở, thì y như rằng chúng sẽ nói ‘Nhưng nhà tao lớn hơn nhà mày.’ Khi bị chê là nghèo, chúng sẽ nói ‘Anh tao học giỏi hơn anh mày.’ Rất trẻ con.

Quay lại những mệnh đề như ‘Việt Nam anh hùng’, ‘Việt Nam không kém ai’, ‘Việt Nam vinh quang’, ‘Thủ đô ngàn năm văn hiến’, ‘Dân tộc ta vĩ đại’, v.v. tôi nghĩ không cần thiết có mặt trong các nghị luận công chúng. Những kiểu gân cổ hay phùng mang trợn mắt bằng ngôn ngữ như thế chỉ là biểu hiện của tâm lí thiếu tự tin, của hội chứng nổi trội và hội chứng thấp kém. Lãnh đạo đáng lí ra là người trưởng thành, nhưng cách nói của họ thì không phù hợp với giả định đó. Người phương Tây biết là trò trẻ con, nhưng họ không nói ra, còn ta thì chỉ tự ru ngủ mình.

https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=1265111097282821&id=100013518285955

Đời Người Tựa Như Một Giấc Mộng, Tuyệt Đối Đừng Ỷ Rằng Bạn Có Tiền, có Quyền…

GÓC SUY GẪM…

Đời Người Tựa Như Một Giấc Mộng, Tuyệt Đối Đừng Ỷ Rằng Bạn Có Tiền, có Quyền…

Con người được sống khỏe mạnh chính là hạnh phúc nhất rồi, những thứ khác đều là phù du cả. Đừng cho rằng bạn có tiền, nếu không có sức khỏe thì tiền nhiều cũng chẳng có chút gì đáng giá.

Tuyệt đối đừng nói rằng bạn có tiền là sẽ có được mọi thứ. Suy ngẫm 8 câu châm ngôn dưới đây, bạn sẽ hiểu rõ ràng tất cả:

  1. Đừng có xem áp lực thành động lực, lao động quá sức, để rồi tổn hại bản thân.
  2. Đừng quên sức khỏe mới là tiền vốn, không có sức khỏe, thì không cách nào tận hưởng được hết niềm vui của đời người.
  3. Đừng xem nặng danh lợi quá, sau khi hào nhoáng qua đi, mới nhận ra mọi thứ đều chỉ là mây khói thoáng qua.
  4. Đừng có nghĩ rằng bác sĩ là người có thể cứu lấy mạng sống của bạn, thật ra không phải như vậy, chính bạn mới là người quyết định, dưỡng sinh quan trọng hơn cứu mạng.
  5. Đừng mong nghĩ rằng cho đi sẽ được báo đáp lại, chỉ có không kể báo đáp, mới có thể thực hành được việc hành thiện, lấy đức báo oán.
  6. Chớ nghĩ rằng làm quan thì “ngầu” hơn dân, một khi bị mất chức, cuối cùng vẫn chỉ là một thường dân thôi.*
  7. Đừng bỏ mặc những người có duyên với bạn, bởi vì sau khi vinh hoa qua đi, bạn mới hiểu được rằng rất nhiều người sẽ rời xa bạn, khi ấy bạn mới thấy tri kỷ thật khó tìm.
  8. Đừng nghĩ rằng hỏi han là quấy rầy, những người thường gửi tin nhắn cho bạn nhất định là người ở trong tâm có hình bóng của bạn.

Một nhà doanh nghiệp rất nổi tiếng, cứ cách một đoạn thời gian, ông lại dẫn theo vợ con đến nơi hỏa táng để xem. Có người không hiểu, hỏi ông nguyên do. Ông nói rằng, chỉ cần đến nơi hỏa táng, cái tâm nóng nảy sẽ rất mau chóng an tĩnh lại, thấy danh lợi tiền tài thật nhẹ nhàng.

Ở nơi hỏa táng này, không kể bạn là quan to quý tộc quyền cao chức trọng, uy danh hiển hách hay là một người dân bình thường, nghèo rớt mồng tơi, không ai biết đến, cuối cùng đều sẽ phải đến đây, chung một tư thế, lặng yên nằm xuống, sau đó bị đưa vào bên trong lò hỏa táng đang bốc cháy ngùn ngụt, khi trở ra lần nữa, thì chỉ là một chiếc hộp vuông nho nhỏ được bọc trong tấm vải đỏ.

Khi đến chẳng mang theo thứ gì, khi đi chỉ như một làn khói. Đời người chính là đơn giản như vậy! Vinh hoa phú quý phút chốc thoáng qua, ân ái tình thù cũng chỉ như cát bụi.

Hôm nay sống trong một thế giới vật chất dục vọng tràn lan, bên cạnh chúng ta là đầy những cám dỗ mê hoặc: quyền lực, địa vị, tiền bạc, mỹ sắc…, hễ không cẩn thận, thì trong tâm sẽ dậy sóng. Nội tâm chúng ta vốn dĩ trong sáng, thuần tịnh, bình lặng sẽ trở nên ngông cuồng, ngạo mạn và tư lợi.

Khi bạn cảm thấy hiện thực và lý tưởng có sự chênh lệch,

Khi bạn cảm thấy uất ức thương tâm, không có người hiểu bạn,

Khi bạn vì ân oán tình thù mà canh cánh trong lòng,

Khi bạn vì lợi ích được mất mà so đo tính toán,

Khi bạn khom lưng chau mày đối với quyền thế,

Khi bạn vì địa vị cao thấp mà mưu tính hại nhau…, sao bạn không đi đến nơi hỏa táng xem thử, đối diện với một nắm tro bụi, bạn còn có gì không buông xuống được đây?

Đời người tựa như một giấc mộng! Tuyệt đối đừng nghĩ rằng bạn có tiền, có quyền!

Tham khảo từ Secretchina*