MÔI TRƯỜNG VÀ SỨC KHỎE NGƯỜI LỚN TUỔI

MÔI TRƯỜNG VÀ SỨC KHỎE NGƯỜI LỚN TUỔI

(Bài viết vô cùng giá trị của TS Thái Công Tụng)

            Thưa các anh chị,   

            Xin chuyển lại các anh chị bài viết vô cùng giá trị của 1 người bạn mà tôi hết sức quý mến và kính trọng, anh Tiến sĩ giáo sư Thái Công Tụng.

            Anh TS Tụng lâu nay vẫn gửi tới chúng ta những bài giá trị về Sinh Thái (Ecology) về Thảo mộc, về sông ngòi, về phong tục, về những bông hoa, về những cây ăn quả etc…

            Chúng ta cũng có 1 người bạn khác, anh TS Mai Thanh Truyết, cũng hay viết về Sinh Thái và về Chính Trị.

Tôi có may mắn gặp TS Mai Thanh Truyết gần đây tại Houston, nơi mà anh Truyết chọn làm nơi sống khi về hưu.

Anh TS Truyết tới thăm tôi và tặng tôi tác phấm mới nhất, gần 600 trang, viết về những khắc khoản của anh khi tìm một “Lối Thoát Cho Việt Nam”.

Những ai yêu Vietnam cần phải có tác phẩm giá trị này.

            Bài viết “Môi Trường Và Sức Khỏe Người Già” như tựa đề của nó, chú trọng nhiều về sức khỏe của những người lớn tuổi , sống tại vùng Quebec, Montreal,  Canada.

            Tôi nghĩ hơn 90% những lời bàn soạn của anh TS Thái Công Tụng có thể áp dụng cho tất cả các người lớn tuổi bên Mỹ và tại Âu Châu.

            Tôi không dám bàn về Việt Nam vì đã lâu lắm, tôi không về Việt Nam.

            Tôi thấy bài viết này là bài viết giá trị nhất xưa nay của anh TS Tụng.

            Bài viết gói ghém trong mấy trang tất cả cái khôn ngoan, cái tinh hoa, cái kiến thức uyên thâm của cuộc đời tác giả.

    This article epitomizes all the wisdom of its author.

            It will be a reference document for many people (myself included) for many years to come.

            TS Thái Công Tụng cho chúng ta 1 cái nhìn ít quen biết, ít phổ thông về người già.

            Xã hội Canada, cũng như xã hội Hoa Kỳ và Pháp, tỷ lệ các người già càng ngày càng tăng.

            Tại Canada, năm nay có 6,840,000 người trên 65 tuổi.

Tộng cộng dân chúng Canada: 38 triệu

Tỷ lệ người lớn tuổi trên 65 tại Canada: 17%. 

Tại Hoa Kỳ năm 2021, các người trên 65 tuổi – tuổi về hưu , không làm việc, không sản xuất –  là 18% dân chúng,

Tại Pháp, tỷ lệ này là 16%

Tại Hoa Kỳ, năm 1950 thì tỷ lệ này chỉ  là 8%. mà thôi

Nói 1 cách khác, tại Hoa Kỳ 4.55 người đi làm để nuôi họ và gia đình họ, cộng thêm nuôi 1 người già trên 65 tuổi.

Bên Canada thì 4.90 người đi làm để nuôi gia đình, và nuôi thêm 1 người già trên 65 tuổi nữa.

Càng đẻ ít con, thì tỷ lệ người già càng tăng và tỷ lệ người trẻ càng giảm.

Bên Canada cũng như Mỹ và Pháp, các bà đông gấp đôi các ông khi tới 85 tuổi. 

TS Thái Công Tụng nhấn mạnh với chúng ta quan hệ giữa tuổi già và Xã hội rất quan trọng.

Người già mà cứ sống lẻ loi 1 mình thì dễ chết,

Người già mà chịu khó ra các nơi đông người để chuyện trò, trao đổi những mẩu chuyện về gia đình, con cái, không những sống lâu hơn, mà còn sống khỏe hơn, ít bị Tiểu Đường, Cao Máu, Yếu Thận, Yếu tim, Gan và nhất là bệnh lãng trí Alzheimer Disease. 

Vấn đề này hết sức quan trọng, các người lớn tuổi càng nhiều bạn thì càng sống lâu.

Nhạc phụ tôi sống thọ 104 tuổi.

Khi cụ sắp sinh nhật 100 tuổi, cụ điện thoại cho chúng tôi cho biết là cụ muốn có 1 bữa tiệc Sinh Nhật sang trọng, tại một nhà hàng lớn tại Hanoi, và mời bạn hữu lại tham dự. 

Tôi hỏi cụ tai sao không làm Sinh Nhật tại Saigon, nơi cụ đang sống hồi đó, thì cụ trả lời tại Hanoi có nhiều họ hàng, có các cháu của thân phụ cụ là cụ Cử Dương Bá Trạc mà lâu nay nhạc phụ tôi không gặp.

            Chúng tôi và các em vô cùng ủng hộ ý kiến Sinh Nhật này.

             Vợ chồng tôi và các em tới Hanoi 1 ngày trước Sinh Nhật,

Các người khách tham dư đi theo cụ từ Saigon ra Hanoi vào khoảng 20 người đi cùng máy bay với cụ,

Phần lớn là các nhà văn, các họa sĩ, các nghệ sĩ nhiều ngành khác nhau, có nhiều người kém tôi cả chục tuổi, có người là bệnh nhân của tôi thời xa xưa.

             Trong bữa tiệc Sinh Nhật, Nhạc Phụ tôi cầm Microphone nói cám ơn 160 vị khách tham dư, cụ nói lưu loát không cần giấy tờ trong 30 phút, rất có duyên làm tất cả khách thích thú.

Sau đó tôi đi theo cụ lại từng bàn để cám ơn từng người.

Nhìn cụ vui vẻ bắt tay nói chuyện với từng người làm cho vợ chồng tôi hết sức sung sướng, đã toại nguyện niềm vui cho Nhạc Phụ.

 Bốn năm sau, cụ qua đời, thọ 104 tuổi,

Chúng tôi di chuyển cụ ra Nghĩa Địa giòng họ Dương tại Hưng Yên, để cụ nằm yên nghỉ bên cạnh ngồi mộ thân phụ là cụ Dương Bá Trạc và người chú ruột là học giả giáo sư Dương Quảng Hàm. 

Nhìn lại cuộc đời cụ, tôi thấy cụ đã làm tất cả những gì mà anh TS Thái Công Tụng khuyên mỗi người chúng ta làm để có 1 tuổi già khỏe mạnh, yên vui, sung sướng.

Một điểm anh TS Tụng có nhắc tới là không oán hận, thù ghét ai trong tuổi già cả,

Vì oán hận, thù nghét chỉ làm khổ chính mình trước tiên.

 Muốn sống sung sướng, theo TS Tụng, phải “xả” tất cả nhửng ý niệm tiêu cực đi, xí xóa hết.

Người nào xử thế xấu với mình thì mình lánh xa, nhưng không thù hận vì chỉ làm khổ mình mà thôi

 Cher anh Tụng. Merci.

Tu as beaucoup de Sagesse, de Générosité et de Dignité,

Je t’embrasse bien fort

Nguyen Thuong Vu     

MÔI TRƯỜNG VÀ SỨC KHỎE NGƯỜI LỚN TUỔI

  Thái Công Tụng  

Thời tuổi trẻ thì giáo dục là trung tâm còn đến tuổi già thì trung tâm phải là sức khỏe. Hai vấn đề giáo dục và sức khỏe chính là bận tâm nhất của chính phủ Quebec hiện nay nên trong ngân sách hàng năm của Quebec, hai Bộ chiếm ngân sách nhà nước nhiều nhất chính là Bộ Giáo Dục và Bộ Y tế.

Xã hội Tây phương càng ngày càng lão hoá vì tuổi thọ càng ngày càng tăng do nhiều yếu tố như tiến bộ khoa học kỹ thuật nhưng người càng già thì chi phí y tế càng nhiều hơn vì người già thì dĩ nhiên hay đau ốm hơn. Đau ốm này không những thể chất mà còn tinh thần. Thế giới thay đổi quá nhanh, cấu trúc gia đình truyền thống cũng đổi thay song song với các biến chuyển về kinh tế xã hội. Gia đình xưa kia là ba bốn thế hệ ở chung một mái nhà, ngày nay tháp dân số đảo ngược với gia đình hạt nhân, ở riêng hết nên người già lại thêm nhiều vấn nạn: vấn nạn sức khỏe, vấn nạn tinh thần như lo âu, buồn rầu, rồi từ đó là trầm cảm. Do đó, trước đây người ta nói không bệnh tật là sức khỏe. Ngày nay, quan điểm về sức khỏe đã mở rộng hơn vì sức khỏe phải gồm 3 phần: sức khỏe cơ thể: khỏe mạnh; sức khỏe tâm thần: vui đời, lạc quan; sức khỏe xã hội: hòa hợp với xã hội, cộng đồng. Nói khác đi, sức khỏe phụ thuộc nhiều vào môi trường. Môi trường không chỉ là môi trường thiên nhiên mà còn bao gồm cả môi trường nhân văn

Môi trường thiên nhiên:Nó bao gồm những yếu tố thiên nhiên như trái đất, khí hậu, mưa, gió, mặt trời, cây cỏ, chim muông v.v..

-Khí hậu tác động lên trồng trọt hoa màu đã đành mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Vài ví dụ: xứ Canada mỗi năm có bao nhiêu tháng nắng. Mùa lạnh kéo dài với băng tuyết ngoài đường khiến người già không những dễ đau nhức khớp xương, dễ té, dễ bổ mà người già càng dễ bị buồn rầu. Tại Pháp, cách đây 2 năm, có trên 25 000 cụ ông, cụ bà chết vào mùa hè vì nóng… Đầu mùa đông, người lớn tuổi đều đi chích ngừa trị cảm cúm. Các danh từ thông dụng như cảm lạnh, cảm nóng vô hình chung cũng nói lên ảnh hưởng khí hậu đến sức khỏe con ngưòi. Các sự thay đổi khí hậu toàn cầu chỗ này gây lụt lội nhiều hơn, bão gió mạnh hơn, chỗ kia hạn hán gắt hơn, mùa màng bị thất bát, khiến nhiều nơi dân phải chọn di cư đi nơi khác tạo ra một thứ di dân mới được mệnh danh là di dân môi trường

-Không khí ô nhiễm với khói xe, khói nhà máy làm các bụi lơ lửng trên không cũng nhiều, gây dị ứng và khó thở. Mỗi năm, vào đầu xuân, chúng ta dễ bị dị ứng với các phấn hoa với sổ mũi, chảy nước mắt. Đọc báo gần đây hơn, có nhiều cuộc tụ họp dân Quebec phản đối sự thiết lập các trại nuôi heo vì sợ không khí các vùng xung quanh bị hôi hám ô nhiễm, sợ dòng nước cuối nguồn bị ô nhiễm. Một nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học Âu châu cho thấy các người dân sống trong các khu vực ô nhiễm thường bị mắc bệnh về đường hô hấp, phổi và ngoài ra, còn bị mắc bệnh tim mạch cao hơn 40% so với nhóm dân  sống ở nơi có không khí trong lành.

-Mặt trời cũng ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Chẳng thế mà dân Canada hàng năm nhất là người già phải di chuyển xuống Florida ở 5-6 tháng để có bầu trời nắng ấm, tiêu pha hàng tỷ Mỹ kim, giúp cho nền kinh tế tiểu bang Florida. Nhiều người đi Cuba, Dominican Republic, Mexico như Cancun cũng chính là đi tìm nắng ấm mặt trời.

-Nước cũng tác động lên sức khỏe con người. Trong thành ngữ dân gian Việt Nam có những danh từ như vùng nước độc, lam sơn chướng khí, vô hình chung cũng cho thấy nhận định người dân với tác động của môi trường. Đọc báo ta thấy gần đây, chính phủ Canada đã phải di chuyển nhiều làng thổ dân trên miền Bắc Ontario vì dòng nước uống bị ô nhiễm. Người da đỏ ở Canada hàng ngàn năm nay thường nói ‘nước là dòng máu của Trái Đất’, đủ thấy tầm quan trọng của nước.

-Rừng cây cũng ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Như vậy là vì rừng toả ra oxy trong lành và cũng hút bớt khí cacbonic độc hại, giúp cho hô hấp. Rừng là buồng phổi thứ hai con người. Rừng giúp bảo vệ đất mà nếu đất mất phì nhiêu do xói mòn thì không có thực phẩm, gây ra nạn đói kém.

Rừng không phải chỉ là tài nguyên hay môi trường vật lý mà rừng là tâm linh, là cõi vĩnh hằng, là cõi sâu thẳm của nội tâm, là ‘một cõi đi về’.

-Đất là một yếu tố quan trọng trong môi trường thiên nhiên vì đất là nơi nuôi dưỡng loài người, cây cỏ, muông thú. Nếu ta bảo vệ đất, chăm sóc thì đất sẽ giúp nhân loại khỏi đói, khỏi khát. Nếu ta làm hư đất như phá rừng thì đồi núi sẽ trọc, hoa màu sẽ thiệt hại, gây ra đói kém. Động đất, núi lửa cũng làm chết hàng chục, hàng trăm ngàn người. 

 Trên kia là những yếu tố quan trọng của môi trường thiên nhiên. Với cảnh phố phường chật hẹp, người đông đúc, với sự đô thị hoá, con người hầu như đã sống trong một môi trường giả tạo, với các nhà ximăng, với các toà cao ốc mênh mông nên không có cơ hội tiếp xúc với mặt đất. Thành phố thiếu không gian xanh, không khí ngột ngạt sau một ngày làm việc, về nhà lại ở trong 4 bức tường, với ánh sáng đèn điện, với máy điều hoà không khí, quạt điện … tạo ra con người mệt mỏi, mất năng lượng, chán nản …Trong các đô thị lớn thì đâu đâu cũng có hiện tượng BMW (Bus, Metro, Work) nên lại càng ít vận động.  Con người miệt mài phố thị với cát bụi đô thành chẳng bao giờ nghe được tiếng ve, cảnh mặt trời lặn, những con đường lẫn vào mây, quờ tay là hái được sương mù, ‘người ngồi xuống mây ngang đầu’, không còn được nghe tiếng  sáo diều trong đồng vắng, không còn thấy trăng lên với cảnh ‘đêm qua ra đứng bờ ao, trông cá cá lặn, trông sao sao mờ’, không còn cảm nhận các cảnh ‘sông dài trời rộng bến cô liêu ‘ và cuộc sống đô thị, thì nhà nào biết nhà đó, chỉ lo bon chen, tiêu thụ quá sá, mà không nhận ra cái kiếp mong manh của kiếp người, cái mong manh của hạnh phúc thoáng qua ‘đời sao im vắng, như đồng lúa gặt xong, người về soi bóng mình, giữa tường vắng lặng câm ‘ .

 Do đó, muốn lấy lại thăng bằng, con người ngày nay lại càng cần đi tìm những khu rừng, những ngọn núi cao vì chỉ ở đó, họ mới cảm thấy mình tan biến trong cái tĩnh lặng uyên nguyên:

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn, người đến chốn lao xao

Chính vì sống xa rời thiên nhiên là nơi cưu mang của con người nên thân tâm biến loạn do đó, ta cần tìm lại mối liên hệ chân chính với thiên nhiên, tìm lại niềm yêu thương lặng lẽ của đất, những khoảnh khắc đầy phù sa của dòng sông đang trôi khuất, những giọt sương mai lấp lánh, những dòng sông hiền hoà, những cánh đồng ngào ngạt đơm bông,  để tinh thần được thảnh thơi như Nguyễn Công Trứ đã viết:

Người ta ở trong phù thế

Chũ vô cầu là chữ thiên nhiên

do đó chúng ta nên tiếp xúc với thiên nhiên như rừng cây, suối nước, màu xanh của bầu trời vì thiên nhiên là bà mẹ của ta.

Đi bộ trong các công viên, thiền hành tìm được sự yên tĩnh, thanh thản nội tâm, giữ được trạng thái tâm lý cân bằng trong nhịp sống xô bồ căng thẳng, mệt mỏi nhờ vậy an định nội tâm, an lạc. Nó giúp đẩy lùi và làm chậm lại tiến trình suy thoái cơ thể: bớt bệnh vì có không khí thở, bớt đau nhức, bớt phì nộn là điều kiện dẫn đến các bệnh khác như tiểu đường, cao huyết áp…

 Đi bộ ra đi khi trời vừa sáng, đi bộ dưới vòm cây, trong công viên giúp điều hoà hệ tuần hoàn, hệ hô hấp, hệ tiêu hoá, ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm hồn, cả Thân lẫn Tâm… Ngoài đi bộ, người lớn tuổi phải vận động cơ thể như tập thể dục, tập Tai Chi, tập khí công v.v.

Chính vì con người càng xa rời Thiên Nhiên nên hiện nay trào lưu trở về với Thiên Nhiên càng mạnh:

Các tu viện Thiền, các làng Thiền, các môn phái sử dụng Thiền như là trọng tâm sinh hoạt nẩy nở càng ngày càng nhiều, chính là để phản ứng lại với nếp sống xa rời các chuẩn mực của thiên nhiên. Các môn yoga, tập thở, y khoa mềm (médecine douce), các sách về tâm linh, nói về sự tu dưỡng tinh thần cho vững chãi trước những vòng xoáy của cuộc đời đầy cung bậc ngọt bùi cay đắng, đầy chuỗi vui, buồn, yêu thương, giận hờn …  bán rất chạy. Thiền hành trong những chốn âm u tĩnh mịch, du lịch sinh thái giúp con người tìm lại mối liên hệ với thiên nhiên.

Nếu ‘người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” thì ngược lại ngoại cảnh nghĩa là môi trường sống xung quanh ta cũng ảnh hưởng đến con người, không những về tinh thần mà còn thể chất.

Ngoại cảnh không bị ô nhiễm, với không khí trong lành, nước chảy, thông reo giúp cho tâm an bình, tạo điều kiện giúp con người thoát tục dễ dàng hơn, tâm hồn không khuấy động, không tà kiến, buông xả được các bụi bặm phù du phiền muộn của cái tôi để hoà mình vào nhịp sống bao la của vũ trụ, giúp ta dễ đồng nhất với vũ trụ, cảm nghiệm lẽ trời trong tĩnh lặng để buông xả, để phá chấp và giúp con người tìm về bản tâm thanh tịnh của mình, tìm lại được thăng bằng thảnh thơi và nhờ vậy,  giúp con người bớt ưu phiền, bớt căng thẳng. Thế nhưng, với sự gia tăng dân số, với kỹ nghệ hoá, thăng bằng thiên nhiên mà Tạo hóa đã phú cho Trời Đất càng ngày càng bị thương tổn nên tạo ra các biến đổi khí hậu toàn cầu, gây các hậu quả như ngày nay với các trận bão nối tiếp nhau không dứt, rồi hạn hán, sa mạc hoá v.v tạo ra một ‘en-trô-pi sinh thái ‘.(ecological entropy)

Môi trường nhân văn

Vẽ những vòng tròn đồng tâm, môi trường nhân văn từ trong ra ngoài có thể kể con cháu, bạn bè, người đồng hương, láng giềng, hội đoàn v.v.

  Người lớn tuổi thường cô đơn thể chất (vợ chết/chồng chết) và cô đơn tinh thần (buồn phiền, bi quan), chưa kể đến bệnh già, nên càng dễ bị tổn thương. Các nỗi cô đơn này vừa là cái nhân, vừa là cái quả của nhiều đau khổ. Con cái hoặc ở xa hoặc không có thì giờ chăm sóc cha mẹ. Người già mà ở nhà già, gặp toàn người bản xứ không cùng cảm thông vì văn hoá khác, ngôn ngữ khác thì tinh thần lại càng xuống mà tinh thần xuống thì cơ thể cùng xuống theo.

Ngày nay, đô thị hoá, kỷ nghệ hoá giúp con người thoát khỏi cảnh lam lũ đồng áng, đầu tắt mặt tối ở chốn bùn lầy nước đọng, đem đến cho ta nhiều tiện nghi văn minh: liên lạc nhanh hơn, thông tin nhanh hơn. Con người ở thời đại công nghiệp này có tâm trí luôn luôn bị động như robot suốt ngày, làm việc lắp ráp các bộ phận trong dây chuyền sản xuất từ máy điện toán đến ráp xe hơi, máy bay, mọi công đoạn đều lớp lang, có thời lượng quy định. Sự tiến bộ kỹ thuật từ nhiều thập niên gần đây với sự tăng tốc, cái gì cũng Express, nào là ExpressPost, Fast food, Café Express… làm phá vỡ cấu trúc các xã hội cổ truyền làm con người không có thì giờ rãnh rổi tìm lại mình, tra vấn về cuộc đời mình.

Và chính sự phát triển này lại cũng manh mún hoá những cá nhân.

 Cuộc sống xô bồ ngày nay làm con người cứ chạy đua theo vật chất, theo tiêu thụ, y như người cứ uống nước mặn ngoài biển khơí, mà càng uống thì càng khát:

Chúng ta ngày nay sống thọ hơn nhưng sống ít ý nghĩa hơn

Chúng ta chinh phục được vũ trụ nhưng không thắng được cõi lòng

Giải  trí thì nhiều mà niềm vui thì ít

Đây là thời đại của thu nhập gấp đôi nhưng chia ly thì lại nhiều

Cuộc sống tiện nghi hơn nhưng ít thời gian nhàn rỗi hơn

Và đó chính là nghịch lý của thời đại ta đang sống, hôm nay và bây giờ. Phát triển kỷ thuật cũng có nghĩa là thời gian bị đo lường, chắt bóp làm biến đi nhịp sống an nhiên tự tại. Sự gia tăng các phuơng tiện truyền thông đi cùng với sự nghèo nàn về truyền thông giữa các cá nhân: con người sống bên cạnh nhau nhưng không sống với nhau. Hai giới từ ‘bên cạnh’ và ‘với’ nghe tuy đơn giản biết bao nhưng lại có tầm quan trọng biết bao!  

Bữa cơm sum họp trong gia đình vắng dần, vì người về trước, kẻ về sau, các người cùng gia đình không có dịp trò chuyện để chia sẻ. Người già ít được trò chuyện với con cái, ở trong không gian nhỏ hẹp không mấy khoáng đảng, làm xuất hiện bệnh mất trí, lú lẩn sớm.

 Trong các làng mạc xưa kia, do điều kiện sống cần tương trợ lẫn nhau nên tối lửa tắt đèn có nhau, họ xem nhau như người trong một gia đình. Họ cùng nhau thực hiện trồng trọt, cấy cày. Ngày nay, đô thị hoá, hàng triệu người chen chúc trong các thành phố lớn, họ sống để làm việc cho có tiền; gặp gỡ, thảo luận, chuyện trò cũng xem như mất thời gian. Với các phương tiện hiện đại với điện thoại, truyền hình, xe hơi riêng, con người càng cá nhân hơn, phát triển tính nghi ngờ ngay cả với người ở ‘ấp’ bên cạnh rồi từ đó tăng thêm nỗi cô đơn.

Do đó xã hội ngày nay ngày càng đánh mất tình người và cuộc sống hoạt động như một cỗ máy vô tri

Tiếp xúc với môi trường nhân văn: chuyện trò, giải khuây, cười vui có thể hoá giải buồn và cô đơn, tìm an lạc tâm hồn. Đó là sức khoẻ tinh thần. Người lớn tuổi cảm thấy hạnh phúc khi còn có thể giúp đỡ cho con cháu: giữ cháu, đưa cháu đi học về, dạy dỗ cho cháu học thêm Việt ngữ giúp người già giảm bớt căng thẳng vì thấy nụ cười của đứa bé, trao tình thương. Đến đây, người viết nhớ lại chuyện có thực 100% ở Phi Châu. Năm 1987, tôi có dịp đi làm ghé qua thủ đô Dakar xứ Senegal. Đang lướt qua tờ báo địa phương ngày đó (hình như báo đó tên là Le Soleil), tự nhiên tôi thấy các dòng chữ Saigon, Gia Định, Lăng Ông, Dalat v.v. Bèn hỏi lân la thêm thì biết tác giả truyện ngắn đó là một phụ nữ lai hai dòng máu: Sénégal và Việt. Tôi có phone hỏi thăm bà ấy thì bà kể qua lai lịch và nói được tiếng Việt nhờ bà ngoại và chính nhờ bà ngoại kể các chuyện củ nên mới vận dụng trí tưởng tượng để viết !!Tập truyện ngắn của bà này sau đó được giải thưởng văn học Sénégal.

Người lớn tuổi cũng phải có niềm tin, niềm tin vào các bậc tối cao như Phật, như Chúa, như Thượng đế v.v. Những con mắt buồn phiền, xin cấy lại niềm tin vì mất nìềm tin là mất tất cả. Có niềm tin, giúp ta chuyển hoá các loạn tâm, loạn tưởng giúp tâm an nhiên tự tại trước các cơn bão tố trong cuộc đời.

Tiếp xúc với bạn bè, với người đồng hương cũng giúp ta có những hoài niệm chung, giải toả căng thẳng, hoá giải nỗi buồn. Làm thiện nguyện giúp trẻ em, trò chuyện với người già cô đơn trong khu phố mình ở, chở người cần đi bệnh viện, đi xin tiền già cũng giúp ta phát triển tâm Từ, tâm Bi.

Từ là hiến tặng hạnh phúc. Bi là làm cho người ta bớt khổ.Về phương diện tâm thần, ta nhận thấy khi ta từ bi hơn thì tâm ta dễ bình an hơn. Nên nhớ muốn gia đình hạnh phúc thì trước tiên mình phải hạnh phúc trước đã vì nếu người lớn tuổi cảm thấy luôn luôn mệt mỏi, bất an, cáu kỉnh, hạnh phúc sẽ không bao giờ đậu ở bậc thềm nhà bạn.

Đau khổ đi liền với kiếp nhân sinh. Chẳng thế mà nhà Phật thường nói: đời là biển khổ. Bác sĩ trị được cái đau, còn cái khổ chỉ cá nhân ta mới tự chữa lấy.

Sống trên đời như trong một quán trọ, sống gửi thác về, đúng như các câu hát:

-Con chim ở đậu cành tre

Con cá ở trọ trên khe nước nguồn

 

-Chiều nay em đi phố về

 thấy đời mình là những quán không

Bàn im hơi bên ghế ngồi

 

-Em đi qua chuyến đò ơi a thấy con trăng đang nằm ngủ

Con sông là quán trọ mà trăng tên lãng du

Em đi qua chuyến đò ới a vui như ngày hội

Tôi xin làm quán đợi buồn chân em ghé chơi

 

-Tôi nay ở trọ trần gian

Trăm năm về chốn xa xăm cuối trời (Ở trọ )

Biết cuộc đời chỉ là một quán trọ, sống gửi thác về nên xin cứ thanh thản như mây, xin đừng quá vui cũng chẳng quá buồn, rắc rối làm chi những điều đơn giản, nên buông xả, phá chấp, an nhiên tự tại, giúp thân và tâm cả an lẫn lạc. Tâm an là yếu tố quan trọng để ta khoẻ mạnh.

Khi chúc nhau sức khỏe, có nghĩa không những sức khỏe thể chất mà còn sức khỏe tinh thần. Sức khỏe tinh thần có nghĩa  tinh thần lạc quan,  thoải mái, thư giãn. Bác sĩ cần cái lạc quan của mình thì dễ chữa trị hơn vì lạc quan tinh thần giúp cơ thể đề kháng với bệnh tật dễ dàng hơn.

Trong Phật học, ta thường nghe Từ, Bi, Hỉ, Xả. Trên kia đã nói về Từ và Bi . Còn Hỉ là có niềm vui trong lòng.

Xả trong cụm từ Từ, Bi, Hỉ, Xả. Xả tuy là chữ cuối cùng trong cụm từ đó nhưng không có nghĩa là không quan trọng. Không chấp ngã, không cố chấp mà phải phá chấp, nghĩa là Xả, xả bớt các sân hận, tị hiềm, từ đó nẩy sinh thái độ phóng khoáng.

Xả là tập sống trong sự bao dung, bao dung rộng lượng với mọi người vì nhận thức đuợc là:

Thôi về đi, đường trần đâu có gì

Tóc xanh mấy mùa

Có nhiều khi, từ vườn khuya bước về

Bàn chân ai rất nhẹ, tưởng hồn những năm xưa (Phôi pha)

Đường trần đâu có gì! ‘Đâu có gì’ vì:

                       Hạt bụi nào hoá kiếp thân tôi

                    để một mai tôi về làm cát bụi

‘Đâu có gì’ vì:  mọi vật trên thế gian này đều vô thường, trống rỗng, không có thực thể.  ‘Đâu có gì’ vì : cuộc đời như một giấc chiêm bao và  rất ngắn:

‘Ôi phù du, từng tuổi xuân đã già, một ngày kia đến bờ, đời người như gió qua’, một  câu trong bài hát nhan đề Phôi Pha .

Đời người như gió qua nên lại càng phải buông xả, tâm không bám vào sự vật để dần dần tâm được thanh tịnh, mà tâm thanh tịnh, sống an nhiên tự tại chính là vectơ đến giải thoát.Tâm thanh tịnh giúp tránh các ô nhiễm của tâm hồn 

Ngày nay, những người sống ở chốn ít ô nhiễm về bụi bặm, về tiếng động, về nước, về không khí  thì bớt căng thẳng và sống lâu hơn người sống trong môi trường đầy các loại ô nhiễm trên. Như vậy cũng có nghĩa là phần lớn các bệnh hoạn không phải chỉ có uống thật nhiều thuốc để trị bệnh mà thể dục, thư giản, ăn uống cũng góp phần vào sự lành bệnh. Như vậy, có sự tương quan giữa phương thức sống (mode de vie) và sức khỏe. Các phương thức sống như không hút thuốc, tránh phì nộn, thư giãn… giúp bớt các bệnh tim mạch và các bệnh do stress đem đến.     

Xin tóm lược các điều vừa nói trong công thức sau cho dễ nhớ :

1 trung tâm: sức khoẻ;

5 phải: phải vận động, phải có niềm tin, phải lạc quan, phải buông xả, phải hoà ái;

3 quên: quên tuổi tác, quên bệnh tật, quên quá khứ (mà chỉ sống trong hiện tại)

Chúng ta đang may mắn ở Canada là xứ đất rộng, người thưa, rừng vàng, bạc biển.

Dù biết xứ này lạnh lẽo, nhưng lại không có bão nhiệt đới như Florida, Louisiana, Mexico với các lụt lội hư hại nhà cửa.

Dù biết lạnh nhưng xứ này không nằm trên vòng đai núi lửa, động đất như Pakistan.

Dù lạnh lẽo nhưng nhờ cái lạnh mà chu kỳ lây lan của các muỗi mòng, chuột bị gián đoạn.

Canada là nước giàu nhất trong G8. Canada tiếp nhận di dân 9 lần nhiều hơn Pháp, 3 lần nhiều hơn Đức. Nói ra đây là để vinh danh xứ Canada đã đành nhưng cũng muốn nói là ta không nên than vãn vì xứ này đất lành chim đậu nên mọi sắc dân từ A (A như Angola) đến Z (Z như Zimbawe) đều sinh sống bình đẳng ở xứ này.

Trong sinh hoạt người lớn tuổi ngày nay, cần kiếm thăng bằng giữa người và người trong xã hội: đó là nhân quyển; giữa người và thiên nhiên: đó là sinh quyển và có đời sống tâm linh sung mãn: đó là tâm quyển. Nếu xã hội đạt được sự thăng bằng của ba phạm trù vừa kể, thì chính đó là cõi cực lạc của môi sinh và cõi cực lạc của tâm hồn. Tiền bạc không tạo nên hạnh phúc vì có tiền mà đau ốm, có tiền mà môi sinh ô nhiễm, cướp bóc bạo hành tràn lan, thì đó không phải an lạc. Bài hát Tôi muốn của cố nhạc sĩ Lê Hựu Hà cũng nói lên các điều vừa kể :

.. Tôi muốn mình tìm đến thiên nhiên, Tôi muốn sống như loài hoa hiền, Tôi muốn làm một thứ cỏ cây, Vui trong gió và không ưu phiền. Tôi muốn mọi người biết thương nhau, Không oán ghét không gây hận sầu v.v.            

Thái Công Tụng

From: thanhlamle.le & NguyenNThu

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Lời Qua Tiếng Lại

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Lời Qua Tiếng Lại

Thứ Ba, 09/07/2021 – 07:11 — tuongnangtien

Ảnh của tuongnangtien

Lời Thưa Đầu: Tôi cùng vài đồng nghiệp – Phạm Trần, Ngô Nhân Dụng, Kami, Bùi Thanh Hiếu … – bị Báo Nhân Dân hài tội (“xuyên tạc, vu cáo, vu khống, dựng chuyện … làm xói mòn niềm tin vào Đảng, Nhà nước Việt Nam) nên đêm rồi sợ tới mất ngủ luôn. Nằm suy nghĩ mãi tôi mới nhớ ra là mình có một bài viết cũ – trên trang talawas – lỡ ghi lại vài ba sự kiện về báo này, cùng với những lời bình hết sức vô tư và khách quan, chứ không hề “dựng chuyện” hay “vu cáo” gì (ai) ráo trọi.

Xin phép được ghi lại trên diễn đàn này để rộng đường dư luận, cùng với hy vọng sẽ được công luận minh oan.

Tờ Nhân Dân tự giới thiệu như sau :

“Báo Nhân Dân, Cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam, Tiếng nói của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, ra số đầu ngày 11-3-1951 tại Chiến khu Việt Bắc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Báo Nhân Dân kế tục truyền thống báo Thanh Niên do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập ngày 21-6-1925 và các báo Tranh Đấu, Dân Chúng, Cờ Giải Phóng, Sự Thật.

Hiện nay, báo Nhân Dân có 5 ấn phẩm (sic) gồm: Nhân Dân hằng ngày, Nhân Dân cuối tuần, Nhân Dân hằng tháng, Nhân Dân điện tử tiếng Việt, Nhân Dân điện tử tiếng Anh.

Báo Nhân Dân hằng ngày có số phát hành khoảng 220.000 nghìn bản/ngày.

Báo Nhân Dân cuối tuần 16 trang ra hằng tuần khoảng 110.000 bản/kỳ. Báo Nhân Dân cuối tuần in tại Hà Nội, chuyển bằng máy bay, xe lửa, ô-tô đến các tỉnh, thành phố trong cả nước.

Báo Nhân Dân hằng tháng ra hằng tháng, mỗi số 48 trang, số lượng phát hành khoảng 130.000 bản/kỳ. Báo Nhân Dân hằng tháng in ở 2 nhà in: Nhà in báo Nhân Dân tại Hà Nội và Công ty in Tạp chí Cộng sản, được vận chuyển bằng máy bay, xe lửa, ô-tô đi các tỉnh, thành phố trong cả nước.

Báo Nhân Dân in tại 8 điểm in (Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Nghệ An, Đà Nẵng, Cần Thơ, Bình Định, Đác Lắc, Điện Biên), phát hành trên phạm vi toàn quốc và một số lượng nhất định được gửi ra nước ngoài.

Báo Nhân Dân phát hành theo cả hai kênh: Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam (VNPT) và hệ thống bán lẻ. Năm 1996 đạt 57,85 triệu tờ. Năm 2007 đạt 82,74 triệu tờ.”

Tờ báo bề thế và tầm vóc (tới) cỡ đó mà giáo sư Nguyễn Ngọc Lan, thuở sinh thời, trong một cuộc phỏng vấn dành cho RFI, dám biểu là thiên hạ không ai thèm đọc báo Nhân Dân. Họ chỉ dùng nó vào những việc gia dụng khác: “I was reminded of the time when there was a severe shortage of paper across the country. People literally lined up daily to buy the inexpensive Nhan Dan for household uses.” (Robert Templer, Shadows And Wind. Penguin Group. New York:1988, 165).

Dùng vô chuyện gì khác thì (dù có bị tra tấn) ổng cũng nhất định không chịu nói.

Người phương Tây thì khác. Họ không có thói quen nói năng úp/mở, hay “bóng và gió” như vậy. Tác giả cuốn sách dẫn thượng, Robert Templer – sau ba năm làm đặc phái viên cho A.F.P. tại Việt Nam, từ 1994 đến 1997 – đã thản nhiên tuyên bố:

“Dân Việt dùng báo Nhân Dân để đi cầu, chớ còn tin tức thì họ nghe từ chương trình phát thanh tiếng Việt của đài BBC, RFI và VOA.” (Vietnamese may have found Nhan Dan useful in the bathroom, but for information they turned to their radios and the Vietnamese language services of BBC, RFI and VOA).

Những ý kiến vừa ghi, tất nhiên, chỉ là cái nhìn phiến diện và chủ quan của những cha nội thuộc loại phản động, hay bá vơ nào đó – kiểu như Nguyễn Ngọc Lan, Robert Templer… mà thôi. Báo Nhân Dân, chắc hẳn, phải có tác dụng và giá trị (đặc biệt) của nó mà “kẻ ngoại đạo” khó lòng nhìn ra được.

Qua BBC, tôi nghe nhà văn Đào Hiếu kể một chuyện vui và (chả hiểu sao) lại nghĩ ngay đến ông Tổng Biên tập của báo Nhân Dân: “Có thằng nhà báo Pháp gặp tao nó hỏi: ‘Việt Nam hiện nay có mấy tờ báo và tạp chí?’ Tao đáp: ‘Có chừng 700.’ ‘Ô thế thì báo chí Việt Nam thực là phong phú.’ Tao nói: ‘Coi vậy mà không phải vậy. Vì có 700 tờ báo nhưng chỉ có một ông tổng biên tập.’ Thằng Tây nó cười gần chết.”

Còn “mấy thằng làm báo Việt Nam” thì cũng gần chết (dù không cười) khi phải làm việc với một ông TBT khổng lồ cỡ đó. Tuy có tên là ND nhưng (thiệt ra) đây là tờ báo của Đảng CSVN. Nó có nhiệm vụ chính là định hướng tư tưởng cho đảng viên và chỉ đạo nhận thức cho cả nước. Ngoài ra, nói một cách hoa mỹ, báo ND cũng là “kim chỉ nam” hay “ngọn hải đăng” cho cả ngàn tờ báo khác.”

Phải mở lại những chồng báo cũ – kể từ năm 1951 đến nay, trải qua những đời TBT Trường Chinh, Tố Hữu, Hoàng Tùng … – mới thấy được hết công dụng của báo Nhân Dân trong công việc xây dựng và phát triển chủ nghĩa xã hội ở… nước ta!

Khi thì báo Nhân Dân cổ động chính sách Cải Cách Ruộng Đất hay Cải Tạo Công Thương Nghiệp, lúc thì hô phong hoán vũ (“thay trời làm mưa,” “nghiêng đồng cho nước chẩy ra ngoài”) để đẩy mạnh phong trào Hợp Tác Xã Nông Nghiệp …

Báo Nhân Dân còn đảm nhiệm một vai trò quan trọng khác nữa mà cỡ thường dân như ông Nguyễn Ngọc Lan, hay ngoại nhân như ông Robert Templer, còn lâu mới khám phá ra. Ông Bùi Tín, cựu phó Tổng Biên tập của tờ báo này cho biết: “Đây là một nền báo chí quan liêu, chuyên lên lớp, răn dạy, đe nẹt người đọc.” (Hoa Xuyên Tuyết, 2nd ed. Turpin Press. California: 1994, 42).

Nói tóm lại là răn/đe. Xin đơn cử một thí dụ về thứ ngôn ngữ đanh thép, đe doạ và qui chụp – theo tiêu chí “gắp lửa bỏ tay người” – của báo Nhân Dân đối với những đồng nghiệp (hay đồng chí) lỡ thò chân ra khỏi… lề bên phải:

“Năm 1956, Thụy An, Nguyễn Hữu Đang, Phan Khôi lập thành một nhóm. Tháng 9-1956, dựa vào tiền bạc của những phần tử tư sản phản động, bọn chúng xuất bản tờ báo Nhân Văn… Báo Nhân Văn là tờ báo chính trị phản động. Mục đích của tờ báo này là nhằm khích động quần chúng chống lại chế độ dân chủ nhân dân… Sau khi báo Nhân Văn bị đóng cửa, bọn Nguyễn Hữu Đang và Thụy An vẫn cấu kết chặt chẽ với nhau và tiếp tục hoạt động gián điệp phá hoại.” (Nguồn: Nhân Dân, Hà Nội, 21/01/1960, tr. 1, 6. Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn).

Nửa thế kỷ sau, vào ngày 27 tháng 4 năm 2009, trên báo Nhân Dân xuất hiện bài viết “Chung quanh vấn đề khai thác bô – xít ở Tây Nguyên” (của một ông hay bà Xuân Quang nào đó) để cổ vũ cho chủ trương khai thác bauxite ở Tây Nguyên – cũng cùng với cái giọng điệu “ngậm máu phun người” cố hữu:

Cần cảnh giác và có thái độ rõ ràng, kiên quyết với những mưu toan chính trị hóa vấn đề của các thế lực thù địch, thiếu thiện chí, muốn chia rẽ nội bộ chúng ta; xuyên tạc sự thật, lợi dụng những tình cảm thiêng liêng trong trái tim, khối óc mỗi người để kích động hòng thực hiện những mưu đồ xấu xa của họ.”

Lập trường của báo Nhân Dân rõ ràng (và hoàn toàn) không thay đổi nhưng thế thời thì đã đổi thay… tự lâu rồi. Cây gậy có tên gọi là báo Nhân Dân của Đảng CSVN, với thời gian, đã trở thành một… cây củi mục! Nó không còn có thể gây sợ hãi hay gây tai hại cho bất cứ ai nữa.

Chuyện “báo hại” tới đây kể như đã (hoàn toàn) chấm dứt nhưng chuyện “báo cô” hay còn gọi là cách sống ký sinh thì ngó bộ còn lâu. Coi:

“Trụ sở chính Bộ Biên tập báo Nhân Dân đóng tại: Nhà số 71, phố Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Cơ quan thường trực tại TP Hồ Chí Minh, tại TP Đà Nẵng, tại TP Cần Thơ…”

“Ngày 21-8-1997, Thường vụ Bộ Chính trị T.Ư Đảng CS Việt Nam đã đồng ý cho phép báo Nhân Dân đặt cơ quan thường trú nước ngoài tại Paris (Pháp), Bắc Kinh (Trung Quốc) và Bangkok (Thailand).”

“Báo Nhân Dân in tại 8 điểm in (Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Nghệ An, Đà Nẵng, Cần Thơ, Bình Định, Đác Lắc, Điện Biên), phát hành trên phạm vi toàn quốc và một số lượng nhất định được gửi ra nước ngoài.”

Sản xuất giấy để… chùi thì chỉ cần nhà máy in là đủ. Chớ mắc mớ chi phải có trụ sở trung ương, cơ quan thường trực tại những thành phố lớn, và những cơ quan thường trú ở Paris, Bangkok, Bắc Kinh …? Đã thế, còn khoe rằng báo Nhân Dân có “một số lượng nhất định được gửi ra… nước ngoài” nữa cơ! Nghe mà ớn chè đậu. Nói sợ ông Lê Quốc Minh (TBT báo Nhân Dân) buồn lòng chớ ngoài những nước bạn bè thân thiết như Cu Ba, Bắc Hàn ra, người dân ở bất cứ một quốc gia khác – kể cả dân Tầu – không ai có đủ can đảm (dám) đụng tay vào tờ báo (thổ tả) này đâu!

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Toàn Trị & Tự Trị

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Toàn Trị & Tự Trị

Thứ Sáu, 09/10/2021 – 05:25 — tuongnangtien

Ảnh của tuongnangtien

Tôi vừa mới nghe ông Trần Văn Chánh phàn nàn: “Cũng như các hội nghề nghiệp khác, chưa từng thấy Hội nhà giáo Việt Nam, giới giáo chức đại học có một lời tuyên bố hay kiến nghị tập thể gì liên quan những vấn đề quốc kế dân sinh hệ trọng; thậm chí nhiều lần Trung Quốc lấn hiếp Việt Nam ở Biển Đông trong khoảng chục năm gần đây cũng thấy họ im phăng phắc, thủ khẩu như bình…”

Tác giả của đoạn văn thượng dẫn – chắc chắn – không thể ngờ rằng chỉ vài hôm sau, sau lời than phiền của mình, giới giáo chức Việt Nam cùng nhiều nhà khoa học (hiện đang công tác hoặc nghỉ hưu) đã lựa chọn một cách ứng xử hoàn toàn khác hẳn. Thay vì “im phăng phắc” – hay “thủ khẩu như bình” – hôm 07/08/2021, họ đã đồng lòng ký tên dưới bức thư (“Thư Ngỏ đến Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục & Đào Tạo Nguyễn Kim Sơn”) đề cập đến một vấn đề hơi nhậy cảm:

Thưa Bộ trưởng… vừa qua, ngày 9/8/2021 nữ giảng viên Trần Thị Thơ (trưởng bộ môn, Khoa Tiếng Anh, Đại học Duy Tân, Đà Nẵng) đã bị nhà trường, ở một địa phương có truyền thống cởi mở, phóng khoáng về tư tưởng, sa thải vì một phát ngôn bày tỏ quan điểm và tình cảm đối với đồng bào khi hệ thống an sinh xã hội của đất nước chưa được hoàn thiện, khiến người dân phải chạy dịch hàng ngàn cây số trên những chiếc xe máy đầy hiểm nguy và bất trắc…

Khi chủ trương tự chủ đại học đang được khẩn trương tiến hành, khi việc chấn hưng nền học vấn của nước nhà đang được khẩn trương thực hiện thì một hành xử thiếu cân nhắc, thiếu tính toán như thế đối với tiếng nói và tình cảm của một nhà giáo – nhà khoa học chính là đang đi ngược lại với tinh thần và ý chí của toàn ngành giáo dục. Mặt khác, sa thải cô Trần Thị Thơ về mặt khách quan là dung dưỡng và thậm chí khuyến khích việc làm vô đạo: trò tố cáo thầy!

Sống trong một chế độ toàn trị thì biểu lộ sự bất bình – bằng bất cứ hình thức nào – trước những hiện tượng bất công và phi lý, cũng đều là nghĩa cử rất đáng được trân trọng. Đây là dấu chỉ của tính cương trực, và lòng can đảm của những lương dân, giữa một xã hội bất nhân.

Tôi vô cùng ngưỡng mộ các vị thức giả đã từng lên tiếng đối kháng với chế độ hiện hành ở Việt Nam, kể cả những nhân vật chỉ bầy tỏ một thái độ rất chừng mực và phương cách đối lập an toàn hay trung thành (loyal opposition) chăng nữa.

Dù thế, tôi vẫn xin phép được nói thêm đôi lời về vấn đề tự trị (cùng việc làm “vô đạo” của sinh viên qua bức thư ngỏ thượng dẫn) với hy vọng có thể giải ảo chút ảo tưởng – nếu có, và chắc có – về qui chế tự trị đại học ở xứ sở mình.

Trước hết, xin thưa ngay rằng “trò tố cáo thầy” chả phải là chuyện mới mẻ gì đâu:

“Trong các Đại Học, trong các phân khoa, trong mỗi lớp, trong mỗi buổi học, suốt cả năm, trong đám sinh viên luôn có những tay làm do thám … Bất cứ những gì chúng tôi nói trong lúc thuyết trình, bên cạnh những bài học, những câu chuyện trao đổi ở hành lang trong lúc chờ giờ trở vào bục giảng, tất cả những chuyện đó đều được ghi chú cẩn thận và được báo cáo đầy đủ cho giới chức trách nhiệm. [“Nguyễn Mạnh Tường. Kẻ bị mất phép thông công – Hà Nội 1954-1991: Bản án cho một trí thức” (Un Excommunité – HàNội 1954-1991: Procès d’un intellectuel) bản dịch Nguyễn Quốc Vĩ, Quê Mẹ: Paris, 1992].

Tai mắt của Nhà Nước, tất nhiên, không chỉ giới hạn trong khuôn viên đại học. Có nơi nào mà “giới chức trách nhiệm” của VN không chúi mũi vào (chùa chiền, giáo đường, tu viện, đan viện, thánh thất, tư thất …) kể cả gầm giường và giỏ rác, để tìm xem những “bao cao su đã qua xử dụng” hay chưa!

Với chủ trương “lãnh đạo trực tiếp – toàn diện – tuyệt đối” cùng với thuộc tính đa nghi, bất tín và bất an thường trực, Đảng và Nhà Nước rất dị ứng với những tổ chức hoặc đoàn thể sinh hoạt tự trị hay độc lập.

Xin ghi lại đôi ba sự kiện:

Hôm 11 tháng 04 năm 2007, sau nhiều lần bị hành hung và sách nhiễu, ông Lê Trí Tuệ (Phó Chủ Tịch Công Đoàn Độc Lập Việt Nam) đã phải chạy trốn ra nước ngoài lánh nạn. Ông bị công an Hà Nội bắt cóc tại thủ đô Phnom Penh vào hôm 16 tháng 5 năm 2007. Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã long trọng ghi nhận trong bản báo cáo 2008 về tình trạng nhân quyền Việt Nam rằng: “Ông Lê Trí Tuệ hiện vẫn biệt tích… và theo một số lời đồn mật vụ của chính quyền Việt Nam đã giết ông ta.”

Những thành viên trụ cột còn lại của công đoàn này (Đoàn Huy Chương, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và Đỗ Thị Minh Hạnh) đều bị bắt giữ và bị tuyên phạt tổng cộng 23 năm tù giam, bởi TAND tỉnh Trà Vinh, vào hôm 26/10/2010. Hiện nay cả ba đều đang tị nạn ở Bangkok, Thái Lan.

Ngày 05 tháng 01 năm 2021, ba thành viên của Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam (Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy, Lê Hữu Minh Tuấn bị TANDTPHCM tuyên phạt tổng cộng 37 năm tù.

FB Anh Dung Lam buồn bã kết luận: “VN vừa mới bỏ tù ba nhà báo của Hội Báo Chí Độc Lập. Tất cả những gì có liên quan đến hai chữ Độc Lập đều từ từ đưa vào chốn lao ngục vài chục năm trở lên.”

Mọi thứ “có liên quan đến hai chữ tự trị” e cũng sẽ không khác lắm. Cũng đều có thể khiến cho người trong cuộc vướng vào lòng lao lý như chơi, chứ nếu chỉ bị “sa thải” thôi (như trường hợp của cô giáo Trần Thị Thơ) thì vẫn phải được coi như là … may mắn!

Đừng để bị tiếp tục lừa mị bởi những lời lẽ hoa mỹ của giới quan chức VN. Họ nói vậy, chớ không phải vậy đâu:

  • T.T Vũ Đức Đam: “Những vướng mắc về quản lý nhà nước liên quan tới ngành GD-ĐT trong tự chủ ĐH không còn nhiều, và cũng không có vấn đề gì lớn.”
  • Thứ Trưởng Giáo Dục Hoàng Minh Sơn: “Quá trình thực hiện thí điểm về tự chủ đại học đã có thành công nhất định, là xu hướng không thể đảo ngược và cần làm sao để ngày càng tốt hơn.”
  • TS Tô Đình Tuân, Tổng Biên Tập Báo Người Lao Động: “Quyền tự chủ đại học đã được Quốc hội luật hóa từng bước, bắt đầu từ gần 10 năm trước, cụ thể là tại Luật Giáo dục đại học năm 2012.”
  • Anh Hùng Lao động Lê Công Cơ, Chủ tich HĐQT Trường Đại học Duy Tân: “Tôi đề nghị Bộ GD-ĐT cứ mở rộng cửa, sẽ không ai ra ngoài luật pháp.”

Dường như chỉ riêng có mỗi T.S Vũ Thị Phương Anh vẫn còn giữ được đôi phần dè dặt, và chân thật: “Đúng là đường đi chưa tới, nhưng tôi vẫn tin là nó sẽ tới mặc dù chậm, và cái chậm đó là đáng tiếc.”

Ơ hay, sao lại “chậm” nhỉ?

Dù đang ở vào thời chiến, miền Nam Việt Nam đã thực hiện quy chế tự trị đại học từ giữa thế kỷ trước cơ mà. Sao mãi đến hôm nay Bên Thắng Cuộc vẫn lúng túng và tìm mọi cách để trì hoãn vấn đề như vậy?

Sợ “thua” dân sao? Dân trí cao thì Nhà Nước khó có cơ hội lộng quyền nên ngại chăng?

Bỉnh bút Loan Thảo VNTB lý giải như sau: “Tự trị dường như là cụm từ nhạy cảm và có thể được xem là vi hiến, vì ở Việt Nam, tất cả đều phụ thuộc vào đường lối – chính sách của đảng cộng sản, giáo dục đại học cũng không được phép nằm ngoài.”

Nói thế khiến không ít người cụt hứng. Tuy thế, sự thực trần trụi thì đúng là như vậy. Ngay đến đền chùa còn phải nằm co trong khuôn khổ quốc doanh và thùng tiền công đức mà Đảng còn đang lăm le, nhất định phải “quản lý” cho bằng được thì mơ chi đến chuyện đại học tự trị cho nó thêm rách việc!

 

VỀ ĐI CON!

Van Pham

46 NĂM THỐNG NHẤT, HÒA BÌNH TIẾN LÊN THIÊN ĐƯỜNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA. ĐỂ NGÀY HÔM NAY LỚP NGƯỜI NGHÈO SỐNG BÊN LỀ XÃ HỘI….

VỀ ĐI CON!

Về đi con, nhà mình còn lon gạo

Về nhà đi, mẹ nấu cháo cho ăn

Nhà mình nghèo, khó nhọc kiếm miếng ăn

Con mơ chi chuyện cung hằng, sao hỏa

Về đi con, cả đêm qua đói lã

Mà sáng nay còn tất tả đến trường

Không có tiền, đừng cầu cạnh tình thương

Không học phí thì ra đường mà đứng

Về đi con, đừng rưng rưng nước mắt

Lòng mẹ đau như ai cắt con ơi

Bởi mẹ cha sinh ra “bất phùng thời”

Lại vô tâm sinh con, đời con khổ

Về đi con, chữ nghĩa đều vô bổ

Con người ta hùng hổ được nhờ tiền

Người hơn người nhờ cơ cấu ,ưu tiên

Học cho giỏi, quá hiền, đành thất nghiệp

Về đi con, lật sách, ta học tiếp

Chữ nghĩa nhân trong số phận con người

Học yêu thương, học khóc lẫn học cười

Học chân thật giữa kiếp người lừa lọc!

Nguyễn Quốc Việt

 ĐỪNG QUÊN CÁM ƠN

 ĐỪNG QUÊN CÁM ƠN

1/ Câu chuyện thứ nhất

Một vị tổng thống hỏi bà cụ sống 104 tuổi về bí quyết sống lâu.

Bà trả lời: một là dí dỏm, hai là học biết cám ơn. Lấy chồng từ năm 25 tuổi, ngày nào bà cũng nói nhiều nhất là hai chữ “cám ơn”.

Bà cám ơn chồng, cám ơn cha mẹ, cám ơn con cái, cám ơn hàng xóm láng giềng, cám ơn mọi sự quan tâm săn sóc dành cho bà, cám ơn từng ngày sống yên lành, ấm cúng và vui vẻ.

Mọi lời nói thân thiết của người khác đối với bà, mọi việc làm bình thường nhỏ nhoi dành cho bà, mọi nét mặt tươi cười hỏi thăm bà, bà đều không quên nói hai tiếng “cám ơn”.

Mọi người không những không ngán đối với vô số lần cám ơn hàng ngày của bà, trái lại càng gần gũi thương yêu bà, thường cảm thấy nếu mình không thương yêu bà hơn nữa, sẽ có lỗi với từng lời “cám ơn” của bà.

80 năm đã trôi qua, hai tiếng “cám ơn” khiến bà vui vẻ lâu dài, hạnh phúc lâu dài, mạng sống lâu dài, “cám ơn” có bao nhiêu, tình yêu có bấy nhiêu. Tình yêu có ngần nào, “cám ơn” có ngần nấy.

2.Câu chuyện thứ hai

Một lần đi xe buýt về nhà, trước mắt tôi có một cô bé 7,8 tuổi, lưng đeo cặp sách, hình như vừa tan học. Khi lên xe em bước không vững suýt nữa ngã. Tôi vội vàng đỡ em một tay. Vừa đứng vững em giơ tay ra hiệu, không biết em định nói gì với mình.

Thấy tôi không hiểu em rất bối rối. Ngồi được một bến, tôi sắp sửa xuống xe. Cô bé vội vàng chạy đến nhét vào tay tôi một mẩu giấy. Tôi cứ tưởng có chuyện gì, ai ngờ xuống xe nhìn mẩu giấy, chỉ thấy một dòng chữ xiêu vẹo “cám ơn, cám ơn chú!”

Thì ra em bị câm điếc. Không hiểu sao trái tim tôi bỗng trào lên một tình cảm nóng bỏng không sao miêu tả nổi.

3.Câu chuyện thứ ba

Ở một thành phố nọ, có cậu bé 14,15 tuổi, vì lấy cắp một quyển sách của một hiệu sách, bị bảo vệ bắt quả tang. Bảo vệ quát mắng khiến cậu vô vùng xấu hổ. Những người khác cũng nhìn cậu với ánh mắt khinh bỉ.

Bảo vệ cứ đòi cậu gọi bố mẹ hay thầy giáo nhà trường đến nhận người.

Cậu bé sợ co dúm người, nét mặt xám ngoét. Lúc này có một phụ nữ đứng tuổi rẽ đám đông vây xem, xông vào bênh vực cậu bé đang hoảng sợ:

– Đừng đối xử với trẻ em như thế. Tôi là mẹ của cháu!

Dưới con mắt khác thường của đám đông, người phụ nữ nộp tiền phạt cho cậu và dắt cậu ra khỏi hiệu sách, khe khẽ giục:

– Mau về nhà đi con, từ nay trở đi đừng bao giờ lấy trộm sách nữa!

Mấy năm đã trôi qua.

Cậu bé luôn luôn nhớ ơn người phụ nữ đứng tuổi không quen biết, luôn luôn hối hận đã không nói trước mặt bà hai tiếng cám ơn. Nếu không có bà, đường đời cậu có thể sẽ rẽ sang một lối khác. Sau khi thi đậu Đại Học, cậu sinh viên đã thề nhất định tìm ra bà. Nhưng biển người mênh mông biết tìm bà ở đâu?

Thế là hàng năm, lợi dụng kỳ nghỉ hè nghỉ đông, ngày nào cậu cũng đến gần hiệu sách chờ nửa tiếng đồng hồ, hy vọng tìm được người phụ nữ đứng tuổi.

Việc làm này hết sức mong manh, nhưng mưa gió không cản trở được cậu, cậu vẫn luôn không nao núng. Bởi vì cậu không bao giờ quên khuôn mặt hiền từ của bà.

Cứ thế, cậu sinh viên đứng chờ trong hai năm, cuối cùng đã tìm được bà, nói hai tiếng “cám ơn” ôm ấp trong lòng bấy lâu nay…

  1. Có một truyền thuyết kể rằng:

Có hai người cùng đi gặp Thượng Đế hỏi lối đi lên Thiên Đường. Thấy hai người đói lả, Thượng Đế cho mỗi người một suất cơm.

Một người nhận suất cơm, cảm động lắm, cứ cám ơn, cám ơn rối rít.

Còn người kia nhận suất ăn, không hề động lòng, cứ làm như cho anh ta là điều phải làm.

Về sau, Thượng Đế chỉ cho người nói “cám ơn” lên Thiên Đường. Còn người kia bị từ chối, đứng ngoài cổng.

Kẻ bị từ chối đứng ngoài cổng không phục:

– Chẳng lẽ chỉ vì tôi quên nói “cám ơn”?

Thượng Đế trả lời:

– Không phải quên. Không có lòng cám ơn, không nói ra được lời cám ơn.

Người không biết cám ơn, không biết yêu người khác, cũng không được người khác yêu.

Anh chàng kia vẫn không phục:

– Vậy nói thiếu hai chữ “cám ơn” cũng không thể chênh lệch đến thế?

Thượng Đế đáp:

– Biết làm thế nào được, bởi vì lối lên Thiên Đường rải bằng lòng cám ơn. Cửa lên Thiên Đường chỉ có dùng lòng cám ơn mới mở được. Còn địa ngục thì khỏi cần.

S.T.

CHỌN AI?

CHỌN AI?

Một người nông dân cứu được vợ trong dòng nước lũ nhưng con của họ không may mắn đã bị chết đuối.

Khi mọi việc đã qua, mọi người tranh nhau bàn luận. Có người nói người chồng làm vậy là rất đúng, bởi con có thể sinh thêm đứa khác nhưng vợ thì không thể chết đi rồi sống lại.

Tuy nhiên người khác lại nói anh ta làm thế là sai, bởi vợ thì có thể lấy vợ khác chứ con thì chết rồi, làm sao có thể sống lại.

Nghe những lời bình luận đó, tôi cũng cảm thấy nghi hoặc và khó khăn: Nếu chỉ được cứu một người, vậy thì rốt cuộc nên cứu vợ hay con?

Mang theo thắc mắc đó, tôi tìm gặp người nông dân nọ và hỏi bác ta, khi đó bác đã nghĩ thế nào.

“Tôi chẳng nghĩ được gì hết. Khi đó nước lũ ào ào đổ về, vợ tôi ở cạnh tôi, tôi túm được cô ấy liền bơi đến dốc núi, khi tôi quay trở lại, con tôi đã bị nước cuốn đi rồi”, người nông dân đáp.

Trên đường trở về, tôi cứ bị lời nói của người đàn ông ấy ám ảnh. “Nếu khi đó bác ta do dự một chút thôi, có thể sẽ chẳng cứu được ai. Cái gọi là lựa chọn của đời người phần lớn đều là như vậy.”

Thật ra, trong cuộc sống này, rất nhiều sự việc về cơ bản không sai cũng không đúng, cũng không dễ dàng để chúng ta đi suy xét cho kỹ là đúng hay sai. Nếu quá do dự hoặc quá để ý đến suy nghĩ của người khác, có thể bạn sẽ chẳng làm được việc gì.

 Têrêsa Ngọc Nga (st )

 

MỘT CON NGƯỜI HAI TƯ TƯỞNG

MỘT CON NGƯỜI HAI TƯ TƯỞNG

Lm. Joshepus Quang Nguyễn

Tin mừng hôm nay cho ta thấy ông thánh Phêrô tuy một nhưng hai tính cách: một Phêrô Kitô hữu và một Phêrô Satan.  Một Phêrô nói Thầy là Đấng Mêsia mà dân Israel đã cưu mang từng bao đời.  Một Kitô hữu Phêrô rất đẹp nhưng bên cạnh đó có một con quỷ Satan đội lốt Phêrô để can dặn Chúa Giêsu chớ có dại dột mà lên Giêrusalem, Chúa Giêsu quay lại mắng một lời rất nặng mà ít thấy trong Tin mừng.  Vâng, Phêrô cũng là hình ảnh của mỗi một người chúng ta đây và tất cả những ai mang danh Kitô hữu có một tính cách rất tốt mà cũng có những tính cách rất Satan.

Thử hỏi hôm nay có người Công giáo nào dám vỗ ngực và bảo rằng tôi đã hoàn toàn thuộc về Chúa Giêsu và không có một Satan nào trong tôi cả.  Nhưng mỗi một con người đều pha lẫn ánh sáng và bóng tối, vừa pha lẫn tính chất Kitô hữu và lại có tính cách của quỷ Satan ở đấy.  Cho nên, trong bài đọc hai, Thánh Giacôbê nói: “Có người anh em hay chị em không có áo che thân và không đủ của ăn hằng ngày, mà có ai trong anh em lại nói với họ: “Hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no,” nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì nào có ích lợi gì?” (Gc 2,15).

Vậy thì, vấn đề ta phải suy nghĩ với nhau đó là cái gì mà làm cho ta là Kitô hữu mà lại mang tính chất Satan đó?  Có thể là nhiều lý do nhưng mình có thể dựa vào Tin mừng hôm nay đó là chúng ta quen tính toán suy nghĩ và chọn lựa đường lối của loài người mà mình quên mất những suy nghĩ vào đường lối của Thiên Chúa.  Không có ai và không có cộng đoàn nào mà không đi tìm cho mình sự sống thật và con đường nào dẫn đến sự sống thật?  Nhiều khi mình đi tìm sự sống nhưng là một sự sống giả và là con đường tính toán với thế gian.  Chẳng hạn, khi hoàng đế Nêron muốn làm thơ về thành Turoa cho nên ông đốt cả thành Rôma, rồi ông đổ tội cho người Công giáo, thế là một cuộc bách hại tàn sát rất dã man đổ lên trên đầu Hội thánh Công giáo.  Phêrô tìm cách thoát ra khỏi thành Rôma.  Bởi vì Ngài sợ rằng nếu bây giờ mà vị lãnh đạo Giáo hội bị đế quốc Rôma giết chết thì còn ai lãnh đạo, và cả đoàn chiên của Chúa mất đầu, sẽ tan tác hết cho nên Ngài phải thoát ra khỏi thành để duy trì sự sống cho Hội thánh.  Nhưng không ngờ rằng trên đường đi ra khỏi thành lại gặp Chúa Giêsu đi ngược lại, và khi Phêrô lên tiếng hỏi Thầy đi đâu, Chúa Giêsu trả lời Thầy đi vào thành Rôma để chịu đóng đinh thêm một lần nữa.  Phêrô hiểu và quay trở lại Rôma.  Ngài hiểu ngay việc Ngài thoát ra khỏi thành Rôma là sự khôn ngoan, nhưng nó lại là sự khôn ngoan của loài người chứ không phải sự khôn ngoan của Chúa Giêsu chịu đóng đinh.

Chúa muốn cho con người được hạnh phúc.  Chính vì muốn con người được hạnh phúc mà Chúa đã phải xuống trần gian để cứu chuộc con người bằng cái chết trên thập giá và sống lại vinh quang.  Nhưng thứ hạnh phúc mà Chúa muốn ban tặng cho con người không phải là thứ hạnh phúc giả tạo dễ dàng, và mau qua theo kiểu thế gian hay Satan.  Chúa muốn cho con người được hạnh phúc vĩnh cửu, hạnh phúc đích thật, hạnh phúc không bao giờ tàn úa.  Muốn được hạnh phúc đó, con người phải kinh qua những vất vả, đau đớn.  Đau đớn nhất là phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình.  Đó là yêu thương, tha thứ nhất là từ bỏ xu hướng của Satan ham muốn xác thịt… để chỉ sống thanh cao phần tinh thần.

Đúng thế, người Kitô hữu qua lời nói, qua việc làm và nhất là qua cuộc sống của mình phải là một câu hỏi cho những người chung quanh.  Dù âm thầm nhỏ bé đến đâu chăng nữa, thì đời sống của người Kitô hữu phải làm cho những người chung quanh nhìn ra chúng ta là môn đệ đích thực của Chúa Giêsu Kitô.  Vì vậy, là Kitô hữu luôn mang một tính cách của Chúa là: chứng nhân giữa một xã hội đầy giành giật và bon chen, đầy bạo lực và bất công; thực thi tinh thần nghèo khó, chấp nhận thua thiệt mất mát hơn là bán đứng lương tâm của mình để chạy theo những lợi lộc bất chính, yêu thương mọi người, kể cả kẻ thù địch, và bước theo Chúa cho đến cùng, biết sống lạc quan, tin tưởng vào một Đấng có tình yêu thương trải dài trong suốt lịch sử con người, và sống tử tế, cư xử tốt đẹp với mọi người.  Vì vậy, kết thúc thông điệp “Hòa Bình Trên Thế Giới”, Đức Thánh Cha Gioan 23, đã viết như sau: “Mỗi người Kitô hữu trong thế giới là một mảnh sao băng, một tụ điểm của tình yêu, một thứ men sống động giữa những người anh em của mình.  Người Kitô hữu sẽ đóng trọn vai trò ấy hơn khi họ còn sống kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa.”

Xin cho Lời Chúa hôm nay luôn thanh tẩy tư tưởng Satan trong trí lòng chúng ta để chỉ còn tư tưởng và đường lối của Chúa trong cung cách sống đạo của chúng ta hôm nay. Amen.

Lm. Joshepus Quang Nguyễn

From: Langthangchieutim

LỜI CUỐI CHO CÁC SƠ

LỜI CUỐI CHO CÁC SƠ

    Mic. Nguyễn Hùng Dũng

   Có lẽ trong Giáo sử Việt Nam, chưa có khi nào xẩy ra số lượng các sơ lây nhiễm và tử vong vì đại dịch nhiều như vậy. Và cụ thể có một Nhà Dòng có số tổn thất nhiều đến thế, điển hình như dòng Đa Minh, Phú Cường với 12 sơ đã an nghỉ, chưa nói đến quý sơ các dòng khác cũng nằm xuống vì phục vụ các bệnh nhân covid-19, và kể cả các sơ chỉ quanh quẩn, kinh nguyện và làm việc trong khuôn viên nhà dòng, cũng bị lây nhiễm, thậm chí qua đời.

   Có nhiều khi tôi bức xúc trước những bất công của xã hội, trước sự độc đoán khinh mạn của các quan chức, những viên chức hách dịch, coi thường kỷ cương, xúc xiểm nhân viên y tế, bảo vệ… và cả nữ đại gia cực giàu, nhưng lại ăn nói láo xược, vu vạ, tục tĩu. 

   Nhưng khi nhìn những hình ảnh các sơ đang ở đầu tuyến, đang niềm nở phục vụ và an ủi các bệnh nhân tuyệt vọng, đang làm cửu vạn khiêng vác hàng tấn rau củ mỗi ngày, trên đôi vai gầy mà cám cảnh thương mến vô hạn.

   Có lần tôi kể về một nữ tu đang đối mặt với thần chết vì lây nhiễm, các sơ đã yêu cầu tôi gỡ xuống vì không muốn thông tin làm chùng lòng những tình nguyện viên khác, ngược với tôn chỉ của Nhà Dòng. 

   Vậy đó, các sơ của chúng ta là vậy đó. Họ gia nhập dòng lặng lẽ, tu học lặng lẽ, khấn tạm và cả vĩnh khấn lặng lẽ, phụng sự Thiên Chúa lặng lẽ, phục vụ nhân loại lặng lẽ, suốt đời vâng lời bề trên lặng lẽ, và khi tàn hơi, được Chúa gọi về cũng lặng lẽ…

   Ai ai trong chúng ta, thời niên thiếu đều được các sơ khai tâm, dạy dỗ.Tôi còn nhớ mãi hai dì phước đầu đời ở nhà thờ Phường Đúc, Huế : Sơ Tuyết cao, sơ Sơn thấp, cả hai thuộc hội dòng MTG. đã uốn nắn tuổi thơ tôi từ lúc mới chập chửng trí khôn, tôi nhớ mãi hình ảnh cảnh trái ngược giữa thiên đàng và hoả ngục, các sơ thị phạm để đe cho tôi chọn lựa… tôi nhớ mãi ngày ba tôi vào lớp nhất ( lớp một bi chừ), xin phép cho tôi được nghỉ học để đổi nhà lên Huế, lúc đó tôi bị phạt quỳ giữa lớp, vì tội dám dí cây đèn cầy vào đầu của đứa nào đó, làm cho một mảng tóc bị xém vì hắn dám chê đôi ba-ta quá khổ, mà tôi mang trong lễ Rước Mình Thánh Chúa. Gần 60 năm đã qua mà vẫn còn nhớ mãi thiên thu. Sau đó, suốt thời kỳ tiểu học, lại được các sơ đứng lớp dạy học tận tụy tại trường Bình Linh (Pellerin)

   Rồi khi vào chủng viện, lại được các o MTG phục vụ tận lực, ngày đó các chú hay gọi các sơ bằng cái tên rất Huế (O) chúng tôi được các o chăm chút phục vụ ẩm thực gần suốt 10 năm, bi chừ chỉ còn lại o Diệp 96 tuổi, mà cách đây 5 tháng, trước mùa dịch lần 4, tôi đã may mắn gặp lại tại Huế, e là lần cuối cùng. Rồi từng o lần lượt lặng lẽ từ giả cõi đời mà chúng tôi không hề hay biết… 

   Năm ngoái, trong mùa mưa lũ, tôi được may mắn tá túc dưới mái nhà ĐCV. lại được quý sơ ở đây chăm sóc tận tuỵ như thành viên trong nhà, mỗi khi đi đâu về trong trời mưa lạnh lẽo, tôi được tặng ngay chiếc bánh tráng vừa nướng xong, nóng hổi và thơm phức, hoặc tới giờ cơm, không thấy chúng tôi, là các sơ gọi điện thoại, hối thúc mau cho kịp, có khi còn trước cả bề trên…Chỉ là những cử chỉ lặng lẽ, nhưng để lại những cảm xúc mênh mang, vô bờ.

   Gần cuối cuộc đời, tôi mới nghiệm ra các sơ chính là mẹ, là chị, là em, là con cháu… đã hết lòng với mình. Cho nên, khi nhìn thấy các sơ đã ra đi âm thầm, lặng lẽ hay đang lâm chung cũng lặng lẽ, âm thầm… khiến cho tôi xúc động và cảm thương vô cùng…

   Tới một ngày, rồi cũng chào từ biệt để đi vào một cõi vô hình. Khi đó, chắc chắn tôi sẽ được các bàn tay của quý sơ lại dẫn dắt như ngày xưa đã từng dẫn dắt, nhưng lần này lại được dẫn dắt ra trình diện với Chúa, chứ không phải các giáo sĩ, vì các ngài đang còn bận bịu, loay hoay tự lo cho mình …

   Đâu phải làm chuyện vá biển lấp trời mới là vĩ đại, mà chính là làm các việc nhỏ mọn, âm thầm và lặng lẽ với lòng yêu Chúa, yêu người trong vâng phục, khiêm hạ… mới là vĩ đại.

   Cùng hiệp ý cầu nguyện cho các sơ đã ngàn thu yên nghỉ, và cả các sơ đang lây nhiễm, nằm chờ chữa lành hoặc chờ chết trong các bệnh viện hay trong các Nhà Dòng. Xin Chúa thưởng công bội hậu cho các ngài.

   Saigon giữa mùa phong thánh đầu tháng 9.2021

   Mic. Nguyễn Hùng Dũng

From: Tu-Phung

MỘT THÍ NGHIỆM VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Giang Thanh

MỘT THÍ NGHIỆM VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Huynh Song

Một giáo sư kinh tế ở một trường đại học Mỹ cho biết ông chưa từng đánh rớt sinh viên nào.

Nhưng đã từng đánh rớt hết cả một lớp học.

Vì học sinh lớp này kiên quyết cho rằng, một xã hội có hình thái tổ chức hoàn hảo ( mô hình XHCN ) là một xã hội không ai giàu và cũng không ai nghèo, và đó là một xã hội tuyệt vời , lý tưởng.

Vị giáo sư nói :

“Được rồi, vậy lớp mình sẽ tiến hành một thí nghiệm về điều đó. Từ nay, tất cả các điểm sẽ được cộng lại và chia đều ra, mọi người sẽ nhận được điểm như nhau, vì thế không ai bị rớt và cũng không ai được điểm A cả”.

Sau bài thi đầu tiên, mức điểm trung bình cho cả lớp là B. Những sinh viên siêng năng rất buồn, còn những sinh viên lười biếng thì rất mừng.

Qua bài thi thứ hai, điểm trung bình cho cả lớp là D! Không ai vui cả. Vì những sinh viên lười thậm chí còn lười hơn, còn những sinh viên chăm chỉ thì quyết định rằng họ cũng chỉ nên học ít thôi.

Đến bài thi thứ ba, điểm trung bình là F! Mức điểm không hề tăng lên, mà còn nổ ra các cuộc cãi vã, nghi ngờ, buộc tội nhau. Mọi người đều khó chịu và tức giận, tất cả mọi người không ai còn muốn học để người khác có lợi.

Bài cuối cùng, tất cả đều rớt.

Cả lớp ai cũng ngỡ ngàng …

Vị giáo sư kết luận trước cả lớp :

“Thông qua kết quả những bài kiểm tra thì các bạn có thể dễ dàng thấy được rằng, kiểu xã hội công bằng mà các bạn đang mong muốn rất khó thành hiện thực, vì dù ý tưởng rất hấp dẫn, nhưng khi đưa vào thực hành thì chẳng ai có động lực muốn làm việc nữa.”

Rồi ông rút ra bài học :

-Bạn không thể làm người nghèo giàu lên bằng cách khiến người giàu nghèo đi.

-Người không làm gì mà vẫn được hưởng, trong khi người phải làm thì lại không được hưởng thành quả đúng với công sức của họ.

-Chính phủ cho free ai cái gì, thì phải lấy thứ đó từ người khác..

Tóm lại :

-Khi một nửa nhân loại thấy rằng họ không cần làm gì,bởi vì sẽ có người khác làm cho.

-Còn một nửa kia thì nghĩ rằng họ có làm kiệt xác cũng chẳng có lợi ích, vì sẽ bị kẻ khác chiếm mất.

Đó chính là khởi đầu cho sự kết thúc của mọi xã hội…!

(Sưu tầm)

 Chọn Vỏ Bỏ Ruột

Chọn Vỏ Bỏ Ruột

 Chọn Vỏ Bỏ Ruột

Sách Hàn Phi Tử của thời Chiến Quốc bên Tàu có ghi câu chuyện thú vị về cái hộp đựng ngọc.  Một người thừa hưởng được một viên ngọc châu, muốn bán đi.  Để dễ bán, ông cho làm một cái hộp đẹp, gỗ tốt, khắc hình mỹ thuật, ướp hương cho có mùi thơm.  Ai thấy hộp ngọc cũng đều trầm trồ, khen ngợi và thích cái hộp, mà không nghe ai hỏi tới viên ngọc bên trong.  Cuối cùng, một phú ông có đủ tiền mua hộp ngọc.  Điều làm người bán vô cùng ngạc nhiên là người mua mở hộp lấy viên ngọc trao cho chủ cũ, nói: “Tôi chỉ thích cái hộp đẹp đẽ này thôi, còn viên ngọc tôi cho lại ông.”  Trong khi cái ruột là viên ngọc giá trị gấp trăm lần cái vỏ hộp, mà người mua lại “chọn vỏ bỏ ruột”. 

Từ đó, người Trung Hoa có câu thành ngữ Mãi Độc Hoàn Châu  nghĩa là “mua hộp (đẹp) mà trả lại ngọc châu”, ý nói người chỉ chăm chú bề ngoài không xét đến giá trị thực bên trong, hay nói cách khác thích hình thức hơn nội dung.

Thường cái vỏ chỉ là lớp bao che chở cái ruột quý báu bên trong.  Nhìn trái cam, trái chuối, củ hành thì hiểu.  Người mua chuối mà chọn giữ vỏ chuối và quăng cái ruột chắc bị xem là không bình thường.  Vậy mà không ít người ham mê cái vẻ đẹp hào nhoáng bề ngoài mà quên mất cái ruột phong phú bề trong.  Tục ngữ Việt Nam có câu nhắc nhở: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn.”

Chuyện người mua hộp ngọc làm tôi nhớ tới 2 anh em láng giềng tôi.  Người anh yêu say đắm và cưới được cô vợ đẹp lộng lẫy, nhưng không ngờ tánh hung hãn về sau mới lộ ra, còn người em lấy người vợ bình thường, tánh tình hiền hậu vì người em hiểu câu “cái nết đánh chết cái đẹp”.  Người em sống rất hạnh phúc, còn người anh thì khốn khổ vì hay bị vợ húng hiếp.  Có hôm, anh tâm sự với tôi, than: “Tôi lỡ leo lên lưng sư tử rồi nên biết thân ngồi yên vì bước xuống e bị nhai xương!”  Nhìn lại mới thấy ai khôn ngoan khi chọn vợ:  người anh chăm chú cái vỏ, người em trân trọng cái ruột.   Ai Chọn Nấy Chịu, như câu chúng ta thường nghe người Mỹ hay nói:  “Sleep in the bed you made” (Làm giường thế nào, ngủ thế đó). 

Trong Kinh Thánh, câu chuyện 2 chị em cũng cho chúng ta bài học sâu sắc về chọn lựa.  Cô chị Ma-thê hay làm bếp, lăng xăng nấu nướng phục vụ Chúa Giê-su khi Ngài tới thăm.  Cô em Ma-ri thì thích ngồi bên Chúa để nghe lời Chúa dạy bảo.  Cô chị phàn nàn với Chúa, muốn em mình xuống bếp giúp mình một tay.  Chúa Giê-su thừa nhận hai chị em đều yêu quí Chúa đều muốn Chúa vui lòng, nhưng phán rằng Ma-ri đã chọn phần tốt hơn: ngồi nghe, suy gẫm lời Chúa*.

Thánh Phao-lô nhắc nhở con dân Chúa nên hướng mắt, hướng lòng vào giá trị thuộc linh chớ không nên vào vật chất trần gian:  “chúng ta chẳng chăm sự thấy được, nhưng chăm sự không thấy được; vì những sự thấy được chỉ là tạm thời, mà sự không thấy được là đời đời không cùng vậy” (2 Cô-rinh-tô 4:18).

Người chạy theo cái hào nhoáng, phù phiếm, nhưng rỗng tuếch rỗng toác  thường phải trả giá đắt, còn người tìm cầu giá trị tinh thần thường được phước ơn từ Trời. 

*Luca 10:40-41