MÙA VỌNG – ĐỌC DẤU CHỈ CỦA NIỀM HY VỌNG

MÙA VỌNG – ĐỌC DẤU CHỈ CỦA NIỀM HY VỌNG

Trần Văn Ngữ, SJ

Trong thời gian đại dịch Covid, không ít “ngôn sứ giả” đã lên tiếng nói về ngày tận thế.  Hầu hết các ngôn sứ này đều loan báo những tin gây hoang mang và gieo lo sợ cho người khác.  Chưa kể đến việc những ai nhận được các tin ấy, phải có trách nhiệm loan tin đến với người khác nữa.  Thế là số lượt thích (lượt like) các tin giả và giật gân được tăng lên mỗi ngày, tỉ lệ thuận với sự lo lắng và hoảng sợ lan tỏa trong cộng đồng.  Nếu để ý một chút, chúng ta có thể nhận ra các điều này dường như đi ngược lại cái nhìn của Ki-tô giáo.  Kinh Thánh nói cho chúng ta biết rằng, Thiên Chúa không dùng những sự kiện kinh thiên động địa của vũ trụ để hù dọa con người.  Ngược lại, những điều ấy xảy ra, người Ki-tô hữu được mời gọi nhìn ra sự hữu hạn và bấp bênh của thế giới này, đặt niềm tin vào những điều bền vững hơn.  Nói một cách khác, người Ki-tô hữu được mời gọi đọc ra những dấu chỉ của niềm hy vọng.  

Trong bài Tin Mừng Chúa Nhật thứ nhất Mùa Vọng[1], chúng ta thấy Đức Giê-su dùng những ngôn từ mang tính ngôn sứ để nói về những điều sẽ xảy đến trong tương lai và ý nghĩa của chúng[2].  Ngài nói về sự hỗn loạn của các tinh tú trên trời và sự đảo lộn các vật thể dưới đất.  Trong tình cảnh ấy, mọi người sẽ lo lắng hoang mang trước cảnh biển gào sóng thét.  Họ sẽ sợ đến hồn xiêu phách lạc[3], chờ những gì sắp giáng xuống địa cầu, vì các quyền lực trên trời sẽ bị lay chuyển.  Có thể nói, đây là những phản ứng rất tự nhiên và bình thường của con người.  Nhưng điều gây ngạc nhiên cho chúng ta là góc nhìn và cách giải thích ý nghĩa của Đức Giê-su.  Ngài khẳng định: khi thấy những điều ấy xảy ra, anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên.

Chúng ta hiểu điều này thế nào đây?  Khi có ai đó nói rằng sự hỗn loạn của vũ trụ xảy ra như là những dấu chỉ của niềm hy vọng, chứ không phải là thời của sự hủy diệt vĩnh viễn.  Những lời này thật là tuyệt vời, khi chúng ta đang phải chung sống với đại dịch Covid.  Nhưng chúng ta vẫn chưa hoàn toàn dập tắt được nỗi nghi ngờ, phải chăng mình đang ảo tưởng?

Với những suy luận của lý trí, chúng ta thấy khó hiểu câu nói của Đức Giê-su: “Khi những điều này bắt đầu xảy ra, hãy nhìn lên và ngẩng đầu lên, vì sự cứu chuộc[4] đã gần đến” (c. 28).  Chưa kể là những lời này có vẻ xa lạ đối với chúng ta.  Các nhà chú giải Kinh Thánh khuyên chúng ta không nên hiểu những lời này theo các sự kiện cụ thể, nhưng thay vào đó, chúng ta cần hiểu rằng đây là lời hứa của Thiên Chúa.  Ngài sẽ can thiệp một cách dứt khoát vào lịch sử của con người.  Cho nên, đây không phải là một lời đe dọa, mà là một lời hứa!

Sau khi dạy cách đọc và giải thích ý nghĩa, cũng như mục đích của các dấu chỉ thời đại, bây giờ Đức Giê-su cảnh báo chúng ta phải luôn tỉnh thức và sẵn sàng.  Ví như người đi đón chàng rể (Mt 25,1-13).  Thời gian chờ đợi là lúc quyết định.  Phần thưởng chỉ dành cho những ai đã chuẩn bị sẵn sàng và tỉnh thức.  Câu hỏi được đặt ra: Ai có thể tỉnh thức, khi sự chờ đợi thường rất buồn tẻ?  Và nếu không tỉnh thức, thì sao?

Đức Giê-su căn dặn các môn đệ: “Anh em phải đề phòng, chớ để lòng mình ra nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời.”  Có thể diễn tả lại những lời này bằng ngôn ngữ tích cực hơn: Anh em hãy sử dụng các năng lượng sống một cách tích cực; đừng sử dụng những tài năng Chúa ban một cách vô ích. 

Trong ngôn từ của Kinh Thánh, đừng chè chén say sưa [5], có thể hiểu là hãy cố gắng tận dụng tối đa các nguồn lực Chúa ban, để đem lại ích lợi cho chính mình và cho người khác.  Nói một cách khác, hãy trở nên người quản lý khôn ngoan và tài giỏi những ơn lành Chúa ban.  Vì việc sử dụng năng lượng và tài nguyên một cách vô ích, cũng giống như tình trạng của người say xỉn.  Họ lãng phí thời gian, tiền bạc và sức khỏe… vào các thú vui mau qua – chúng đem đến những cảm giác sung sướng hạnh phúc lâng lâng, nhưng sau đó là sự hụt hẫng và cô đơn vì thiếu vắng hy vọng.

Nếu việc chè chén say sưa trái ngược với sự quản lý tài giỏi, thì sự lo lắng[6] đi ngược lại với đời sống đức tin lành mạnh.  Giống như việc chè chén say sưa, sự lo lắng tiêu hao hết năng lượng sống của chúng ta, mà không sinh ra bất cứ điều hữu ích gì.  Sự lo lắng có thể kéo theo cảm giác mệt mỏi và khiến chúng ta tăng huyết áp.  Sự lo lắng còn làm tê liệt cuộc sống, khiến chúng ta không phản ứng kịp với các nguy hiểm đang đến gần.

Nhìn vào trong cộng đoàn, chúng ta thấy mỗi người có những khó khăn riêng.  Có người trở nên nặng nề vì say xỉn; nhiều người khác lại gặp vấn đề với những lo lắng thái quá của cuộc sống hằng ngày.  Cả hai đều có hại.  Có lẽ nhiều người sẽ ngạc nhiên khi nghe thấy rằng lo lắng cũng gây ra tác hại như việc chè chén say sưa.  Vì nếu đưa lên bàn cân để đong đếm, thì có lẽ sự lo lắng có vẻ là một lỗi nhẹ hơn nhiều.  Nhưng thực ra sự lo lắng lại bóp nghẹt tinh thần sống và làm xơ cứng đời sống đức tin.  Không quá lời, nếu nói sự lo lắng gây hại đến đời sống đạo của chúng ta hơn.  Ở đoạn Tin Mừng khác, Đức Giê-su mời gọi tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa: “Anh em đừng lo lắng về ngày mai. Ngày mai, cứ để ngày mai lo.[7]

Vậy điều chúng ta nên làm là gì?  Đức Giê-su mời gọi: Hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn.  Cầu nguyện sẽ giúp chúng ta tránh được sự nặng nề vì chè chén say sưa và lo lắng thái quá.  Lời cầu nguyện còn giúp chúng ta mở lòng ra để nhận được các ơn lành của Thiên Chúa và sử dụng các năng lượng một cách tích cực và khôn ngoan.  Hãy tỉnh thức, là mời gọi hãy dành thời gian để duyệt xét lại lối sống hiện tại và loại bỏ đi những thú vui thiếu niềm hy vọng.  Đừng chạy theo những bình an và hạnh phúc mau tàn chóng qua, thay vào đó đi tìm và xây dựng niềm an vui đích thực.  Trong mùa Vọng này, xin cho chúng con sẵn sàng và luôn sẵn sàng, để nhận ra và mở lòng đón nhận Ơn Cứu Chuộc đang đến gần.

Trần Văn Ngữ, SJ

Nguồnhttps://dongten.net

From: Langthangchieutim

…………..

[1] Tin Mừng Chúa Nhật Thứ Nhất Mùa Vọng Năm C (Lc 21, 25-28, 34-36).

[2] Như lời của ngôn sứ I-sai-a: “Quả vậy, tinh tú bầu trời và các chòm sao sẽ không chiếu sáng nữa, mặt trời vừa mọc lên đã tối sầm, mặt trăng sẽ không còn toả sáng.” (Is 13, 10). Xem thêm (Is 34, 4; Ge 2,10; 3,4; 4,15).

[3] Từ Hy-lạp ἀποψυχόντων (apopsuchonton) = sợ kinh hãi hoặc sợ chết. Ở đây còn có nghĩa là bị đóng băng, bị tê liệt.

[4] Từ Hy Lạp ἀπολύτρωσις (apolytrosis) = sự cứu rỗi, tiền chuộc… Ở đây được hiểu là ơn cứu độ.

[5] Từ Hy-lạp κρεπάλῃ (kraipale) = chóng mặt; và μέθῃ (methe) = say rượu. Trong tiếng Hy Lạp, từ kraipale thường được dùng để chỉ cảm giác buồn nôn hoặc lú lẫn do say rượu. Ngoài ra, từ này còn dùng để nói về những thú vui chơi tiêu khiển nữa. Nó ám chỉ đến những ham mê, thú vui quá độ hoặc phóng đãng…. Tuy nhiên, điểm chung là đều quy về tình trạng say rượu.

[6]  Từ Hy-lạp μερίμναις βιωτικαῖς (merimnais biotikais) = quan tâm, lo lắng những thứ cần thiết hàng ngày của cuộc sống mưu sinh.

[7] Tin tưởng vào Chúa quan phòng (Mt 6, 25-34).

BÀI HỌC VỀ SỰ DỐI TRÁ.

BÀI HỌC VỀ SỰ DỐI TRÁ.

 Lời phi lộ:

Đây là chuyện của nước Tự Do chứ không phải ở VN nhen, VN thì khỏi nói nhưng dân chúng đều biết hết rồi.

Một cô gái sau khi tốt nghiệp liền sang Pháp, bắt đầu một cuộc sống vừa đi học vừa đi làm. Dần dần, cô phát hiện hệ thống thu vé các phương tiện công cộng ở đây hoàn toàn theo tính tự giác, có nghĩa là bạn muốn đi đến nơi nào, có thể mua vé theo lịch trình đã định, các bến xe theo phương thức mở cửa, không có cửa soát vé, cũng không có nhân viên soát vé, đến khả năng kiểm tra vé đột xuất cũng rất thấp.

Cô đã phát hiện được lỗ hổng quản lí này, hoặc giả chính suy nghĩ của cô có lỗ hổng. Dựa vào trí thông minh của mình, cô ước tính tỉ lệ để bị bắt trốn vé chỉ khoảng ba phần trăm. Cô vô cùng tự mãn với phát hiện này của bản thân, từ đó cô thường xuyên trốn vé. Cô còn tự tìm một lí do để bản thân thấy nhẹ nhõm: mình là sinh viên nghèo mà, giảm được chút nào hay chút nấy.

Sau bốn năm, cô đạt được tấm bằng tốt nghiệp loại giỏi của một trường danh giá, cô tràn đầy tự tin đến những công ty lớn xin việc. Nhưng những công ty này không hiểu vì lí do gì, lúc đầu còn rất nhiệt tình nhưng về sau đều từ chối cô. Thất bại liên tiếp khiến cô tức tối. Cô nghĩ nhất định những công ty này phân biệt chủng tộc, không nhận người nước ngoài.

Cuối cùng có một lần, cô trực tiếp đến bộ phận nhân lực của một công ty, yêu cầu giám đốc đưa ra một lý do vì sao từ chối cô. Kết cục họ đưa ra một lí do khiến cô không ngờ.

“Thưa cô, chúng tôi không hề phân biệt chủng tộc, ngược lại chúng tôi rất coi trọng cô. Lúc cô đến phỏng vấn, chúng tôi đều rất hài lòng với môi trường giáo dục và trình độ học vấn của cô, thực ra nếu xét trên phương diện năng lực, cô chính là người mà chúng tôi tìm kiếm.”

“Vậy tại sao công ty ngài lại không tuyển dụng tôi?”

“Bởi chúng tôi kiểm tra lịch sử tín dụng của cô và phát hiện ra cô đã từng ba lần bị phạt tiền vì tội trốn vé”

“Tôi không phủ nhận điều này, nhưng chỉ vì chuyện nhỏ này, mà các anh sẵn sàng bỏ qua một nhân tài đã nhiều lần được đăng luận văn trên báo như tôi sao?”

Chuyện nhỏ? Chúng tôi lại không cho rằng đây là chuyện nhỏ. Chúng tôi phát hiện, lần đầu tiên cô trốn vé là khi mới đến đất nước chúng tôi được một tuần, nhân viên kiểm tra đã tin rằng do cô mới đến và vẫn chưa hiểu rõ việc thu vé tự giác, cho phép cô được mua lại vé. Nhưng sau đó cô vẫn trốn vé thêm 2 lần nữa.”

“Khi đó trong túi tôi không có tiền lẻ.”

“Không, không thưa cô. Tôi không thể chấp nhận lí do này của cô, cô đang đánh giá thấp IQ của tôi ư. Tôi tin chắc trước khi bị bắt trốn vé, cô đã trốn được cả trăm lần rồi.”

“Đó cũng chẳng phải tội chết, anh sao phải cứng nhắc như vậy? Tôi sửa là được mà.”

“Không không, thưa cô. Chuyện này chứng tỏ hai điều:

Một là cô không coi trọng quy tắc. Cô lợi dụng những lỗ hổng trong quy tắc và sử dụng nó.

Hai, cô không xứng đáng được tin tưởng. Mà rất nhiều công việc trong công ty chúng tôi cần phải dựa vào sự tin tưởng để vận hành, nếu cô phụ trách mở một khu chợ ở một nơi nào đó, công ty sẽ cho cô toàn quyền lực phụ trách. Để tiết kiệm chi phí, chúng tôi sẽ không lắp đặt các thiết bị giám sát, cũng như các hệ thống xe công cộng mà cô đã thấy đó. Vì vậy chúng tôi không thể tuyển dụng cô, tôi có thể chắc chắn rằng, tại đất nước chúng tôi, thậm chí cả châu Âu này cô sẽ không thể xin vào được nổi một công ty nào đâu.”

Đến lúc này cô mới tỉnh ngộ và cảm thấy hối hận vô cùng. Sau đó, điều khiến cô ghi nhớ nhất là câu nói cuối cùng của vị giám đốc này: “ĐẠO ĐỨC CÓ THỂ BÙ ĐẮP CHO SỰ THIẾU HỤT VỀ TRÍ TUỆ, NHƯNG TRÍ TUỆ MÃI MÃI KHÔNG THỂ BÙ ĐẮP CHO SỰ THIẾU HỤT VỀ ĐẠO ĐỨC “.

Đạo đức là phẩm chất cơ bản nhất của con người, cũng là nhân cách của một người. Một người dù ưu tú đến đâu nhưng nhân cách có vấn đề, cũng sẽ mất đi niềm tin và sự ủng hộ của người khác. Trên phương diện việc làm, những hành vi mất nhân cách thế này càng đáng sợ hơn, vì cái lợi nhỏ trước mắt mà phá bỏ nguyên tắc, điều này chắc chắn sẽ hủy hoại tiền đồ của bạn. Tôi cho các bạn lời khuyên chân thành, trong sự nghiệp cần phải dựa vào năng lực và chân thành của bản thân, mất thứ gì cũng không bằng mất nhân phẩm.

(Sưu tầm)

From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen

Lịch sử “Dư luận viên”

Lịch sử “Dư luận viên”

00:17 | Posted by BVN1

Nguyễn Văn Tuấn

Mạ Thủ 罵手

Tôi mới học được một danh từ mới: mạ thủ. Một cách ngắn gọn, mạ thủ là một kẻ chuyên nghề chửi, giống như “dư luận viên” ngày nay. Lịch sử ra đời của mạ thủ vẫn còn mang tính thời sự ngày nay.

“Mạ Thủ” – Theo tác giả Huy Phương (báo Người Việt), danh từ này xuất phát từ thời Hán Sở tranh hùng và Tam Quốc Chí bên Tàu. Thời đó, nhà cầm quyền huy động những người có lá phổi lớn, tiếng nói vang, và có cách chửi độc địa để làm ‘mạ thủ’. Mạ thủ chỉ có một việc đơn giản là chửi bới đối phương. Họ trong tư thế trần truồng, xông lên phía trước, sát cổng thành của đối phương, và tung ra những lời chửi bới tục tĩu và dơ bẩn nhất nhắm vào đối phương. Mục đích là hạ nhục và khiêu khích đối phương bằng cách thoá mạ ông bà tổ tiên của đối phương, sao cho họ mở cửa thành để lính xông vào. Điều trớ trêu là mạ thủ là những người bị chết đầu tiên vì họ không có vũ khí khi xông trận. Họ có thể xem như là những con chốt thí cho bọn cầm quyền.

Tàu ngày xưa là nơi sản sinh ra những mạ thủ, thì Tàu ngày nay cũng có những đội quân mạ thủ, nhưng họ mang một danh xưng văn hoa hơn: dư luận viên. Tiếng Hoa là “wumao“. Báo chí phương Tây gọi họ là “50 cent Army” (“Lực lượng 50 cent”). Tại sao là ’50 cent’? Tại vì mỗi mạ thủ được trả lương 50 cent cho mỗi ‘bình luận’ họ viết trên mạng.

Ai là những mạ thủ thời nay? Theo nghiên cứu của GS Gary King (ĐH Harvard), họ là những nhân viên, cán bộ của Nhà nước. Nhưng họ không phải cán bộ bình thường, mà phải qua một quá trình tẩy não sao cho họ không còn khả năng suy nghĩ một cách logic. Nói tóm lại, bọn mạ thủ là những kẻ không có khả năng đánh giá đúng sai, họ chỉ đơn giản là những cái máy phun ra những câu chữ mà có khi họ không hiểu.

Theo ước tính của GS King [1], Tàu có chừng 500,000 đến 2 triệu mạ thủ, túc trực 24/24 trên mạng để theo dõi và … chửi. Chiến trận của họ là trên mạng. Phương tiện của họ không còn là tiếng nói mà là chữ viết. Mỗi năm, đội quân phi chính thống này tung lên mạng 450 triệu thông tin giả. Họ đặc biệt nhắm đến thoá mạ những cá nhân và nhóm chỉ trích đảng cộng sản Tàu. Họ tận dụng nguỵ biện tối đa để tấn công đối phương, thay vì bàn luận. Thật ra, mạ thủ không có khả năng nghị luận, vì mục đích tồn tại của họ đơn giản là chửi bới và nhục mạ đối phương. Họ trong thực tế là những tên hề rẻ tiền, những kẻ tâm bệnh.

Bọn mạ thủ cũng rất thích làm ra vẻ ‘worldly’ bằng những bình luận về quan hệ quốc tế. Đối với họ, biến cố Thiên An Môn là không có thật, mà chỉ là sản phẩm tưởng tượng của bọn phản động phương Tây. Đài Loan phải là của Tàu. Biển Đông là của Tàu, còn bọn “nước nhỏ” như Việt Nam và Phillipine chỉ là đám thừa cơ hội gặm nhấm lãnh hải của Đại Quốc.

Ngoài chửi, các mạ thủ cũng có khi tung ra những thông tin đánh trống tinh thần quốc gia và giấc mơ một Trung Hoa Vĩ Đại. Họ rất thích chỉ trích nhạo báng các nền dân chủ phương Tây, các giá trị phương Tây, nhưng hết lời ca ngợi các lãnh đạo cộng sản Tàu. Họ cũng thích lan truyền những bản tin về hoạt động thường ngày của các cấp cán bộ cộng sản như là những kẻ yêu nước thương dân. Những bài viết ca ngợi cán bộ cộng sản và quảng bá sự tiến bộ của Tàu chiếm chừng 60% tổng số tin tức do bọn mạ thủ tung ra.

Phải nói rằng sự ra đời của mạ thủ 罵手 hay wumao 五毛 là một quái thai xã hội. Thử tưởng tượng một thể chế như chính phủ Úc mà tung tiền ra để tổ chức và mướn những kẻ hạ cấp và những lưu manh mạng chỉ để tung ra những lời ca ngợi mình và tấn công đối phương. Một viễn cảnh không thể nào xảy ra, vì người dân sẽ nổi giận với chính phủ dùng tiền thuế của họ cho chuyện … tào lao. Chỉ có những chính phủ bất tài và thiếu tự tin, những chính phủ hắc ám biết mình làm điều ác với xã hội mới có những đội quân wumao, bởi nếu chính phủ chánh nghĩa và có thực tài thì cần gì đến bọn hạ cấp đó. Mà, thực ra, một chính phủ được những kẻ hạ cấp ca ngợi thì chính phủ đó cũng thuộc loại hạ cấp mà thôi. Thành ra, sự hiện diện của đội quân mạ thủ hay wumao không chỉ là một căn bệnh ung thư xã hội, mà còn là tín hiệu mạnh nhất về một chính phủ bất chính và bất tài.

N.V.T

[1] Nghiên cứu về đội quân wumao – mạ thủ:

https://gking.harvard.edu/files/gking/files/50c.pdf

“Mạ Thủ” theo Báo Người Lao độngThanh Niên

 Các báo này cũng nói về “Mạ thủ” nhưng tránh nhắc đến đội quân “Mạ thủ” VN ăn lương hoặc phụ cấp ngày nay

Đọc Tam quốc chí [diễn nghĩa] hay Hán Sở tranh hùng của văn học cổ Trung Quốc, người đọc không thể không tức cười về một thứ quân đặc biệt luôn luôn có trong bất cứ một đội quân nào của những phe phái khác nhau.

Mạ thủ

Người ta chọn ra những sĩ tốt có buồng phổi to, tiếng nói khỏe và đặc biệt là có “kiến thức” về những câu chửi bới thô lỗ, tục tĩu nhất. Cánh quân ấy chuyên ra trận để… chửi bên địch. Những sĩ tốt này được phong một danh hiệu khá lạ lùng là “Mạ thủ”. Vậy mạ thủ là những tên quân ra trận không dùng đao thương, chỉ chuyên chửi bới, thóa mạ kẻ địch; chửi cho sướng miệng mình và vui dạ tướng chỉ huy của mình.

Khi tướng thủ thành hoặc nhà vua bên địch tự cảm thấy thế lực của mình yếu, bèn đóng cửa thành, treo miễn chiến bài (bảng không đánh nhau nữa). Viên tướng chỉ huy phe bên công thành muốn đánh cho nhanh, bèn đưa quân mạ thủ ra “chiến đấu”. Thông thường thì các mạ thủ này mặc áo quần tử tế, cũng có khi theo lệnh tướng chỉ huy, họ phải… ở truồng để lâm trận. Cứ vậy, họ đưa “bộ đồ nghề” ra tô hô, tiến sát cửa thành phía bên địch; hoặc đứng, hoặc nằm, hoặc ngồi; cùng kêu tên nhà vua hay tướng chỉ huy thành bên địch ra mà chửi bới.

Về hình thức, đây là một thứ tâm lý chiến, phải ngoác miệng ra mà chửi, chửi làm sao cho có ca có kệ, có vần có điệu theo cái kiểu hợp xướng một giọng cho phía bên kia nghe được. Thời ấy làm gì có loa phóng thanh cho nên các mạ thủ phải học “bài bản” cho thuộc, chửi lên cùng một giọng càng lớn càng tốt để nhà vua hay tướng thủ thành bên kia thủng màng nhĩ.

Về nội dung, bài chửi làm sao phải đạt yêu cầu “đào mồ cuốc mả” của kẻ địch, đem hết cái xấu, cái dơ, cái bẩn trút lên đầu lên cổ người ta. Tất nhiên, những bài chửi này có quyền xuyên tạc, vu khống, đục cây tra cành để lung lạc lòng sĩ tốt bên địch. Nhà vua hoặc tướng thủ thành bên địch nghe chửi nín nhịn không nổi, phải mở cửa thành nhảy ra đánh nhau. Nhiệm vụ của mạ thủ được coi là thành công. Món võ ấy được gọi là võ lưỡi (thiệt chiến).

Mạ thủ là một loại chiến tranh đặc biệt của người Trung Quốc xưa, một hình thái chiến tranh mà không quốc gia nào học tập và làm theo. Sách vở Trung Quốc cũng ghi nhận nếu nhà vua hay tướng thủ thành bên kia đột ngột mở của thành xông ra đánh thì quân mạ thủ ưu tiên… chết trước. Bởi vì bọn họ phải áp sát cửa thành bên địch mà chửi nên chạy không kịp về trận địa của mình. Cho nên những chiến sĩ ấy cơ bản là “dũng cảm hy sinh”, chỉ tội nghiệp là có người hy sinh khi đang lõa lồ thân thể, thành thử hoàn cảnh của các mạ thủ nói riêng và chiến trường nói chung là rất lu bu.

Thế kỷ 20, Kim Dung viết Lộc đỉnh ký. Bộ tiểu thuyết này có mấy chương thuật lại cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và Nga La Tư. Vua Khang Hy dặn tư lệnh Vi Tiểu Bảo: “Ngươi biết nhiều trò huê dạng, phải làm sao để quân ta từ trên xuống dưới đều khinh khi quân man tử”. “Quân man tử” ở đây là sĩ quan và binh lính của Sa hoàng Nga. Để đám tướng sĩ Thanh binh có thể khinh khi người Nga, Vi Tiểu Bảo áp dụng mọi cách làm nhục tướng sĩ của Sa hoàng Nga, trong đó có vai trò chửi bới của quân mạ thủ.

Vi Tiểu Bảo học cách của người xưa, cho quân mạ thủ Trung Quốc chửi bới tư lệnh quân Nga là A Lịch Tư Đồ Nhĩ Bố Thanh (Alexei Tolbusin) đang đồn trú tại thành Nhã Tác Khắc (Nertohinsk). Bọn mạ thủ này chửi bằng tiếng… quan thoại mà người Nga thì không biết thứ tiếng này. Vi Tiểu Bảo bắt được một số quân Nga, buộc họ phải làm mạ thủ chửi lại Đồ Nhĩ Bố Thanh. Hàng binh và tù binh Nga ra trước thành chửi bới nhưng họ lại khiến Vi Tiểu Bảo thất vọng tràn trề. Lý do là ngôn ngữ chửi bới của người Nga rất nghèo nàn, quanh đi quẩn lại chỉ có mấy câu “Ngươi là đồ heo, đồ chó”; hoàn toàn thua xa “bài bản” lâm ly biến ảo của mạ thủ Trung Quốc! Vi Tiểu Bảo nghiệm ra chỉ có người Trung Quốc chửi bới mới nghe… được.

Đó là chuyện của mạ thủ cổ điển, chỉ chửi bới trên trận địa cho kẻ thù nghe. Trong 40 năm qua, Trung Quốc đã có hành động xâm lấn, gây hấn vùng lãnh thổ và biển đảo của Việt Nam. Năm 1974, họ đánh chiếm một phần quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Năm 1979, họ gây ra cuộc chiến tranh biên giới. Năm 1988, họ tiến đánh đảo Gạc Ma. Lần nào cũng như lần nào, các mạ thủ đời mới ở Trung Quốc cũng có những bài bình luận đao to búa lớn, ngôn ngữ thóa mạ hằn học khiến người tự trọng nghe qua phải nổi da gà.

Trong vòng nhiều năm liên tiếp trở lại đây, Trung Quốc không ngừng gây ra những sự cố tranh chấp với các lân bang Hàn Quốc, Nhật Bản, Philippines, Việt Nam. Hết đòi đảo, họ đơn phương công bố đường “lưỡi bò” chín đoạn trên biển Đông. Sau đường “lưỡi bò”, họ đơn phương công bố khu vực nhận diện phòng không trên biển Hoa Đông.

Ngày 1.5.2014, lợi dụng những ngày nghỉ lễ 30.4 và 1.5 của Việt Nam, họ rê giàn khoan Hải Dương 981 vào đặt ngay trong vùng biển Việt Nam, chỉ cách đảo Lý Sơn của Việt Nam 117 hải lý. Cùng với giàn khoan, Trung Quốc cho máy bay, tàu hải giám, hải cảnh, tàu quân sự hù dọa, o ép, va đâm, xịt vòi rồng vào các lực lượng thi hành pháp luật trên biển của Việt Nam và ngư dân Việt Nam đang đánh bắt hải sản trên ngư trường Hoàng Sa truyền thống.

Cái lạ của Trung Quốc là họ ngang nhiên tấn công ngư dân, đâm chìm ghe cá, phá hoại tài sản đánh cá của ngư dân, khiêu khích các lực lượng thực thi pháp luật của Việt Nam mà không hề nhớ rằng họ đã thò tay ký vào các công ước quốc tế như Công ước luật Biển năm 1982.

Cùng với những hành động sai trái, ngang ngược trên hiện trường, lực lượng mạ thủ của họ mà đặc biệt là tờ Global Times đưa ra những thông tin xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc sự thật, chửi bới các lân bang, trong đó ưu tiên chửi Việt Nam. Cứ theo cái anh mạ thủ to mồm này thì Trung Quốc đang bị các lân bang xâm lược, Trung Quốc đang là nạn nhân của sự xâm lấn bởi nhiều nước nhỏ ở khu vực Đông Nam Á, thật là kỳ.

Trong Đối thoại Shangri-La mới đây ở Singapore, tướng Vương Quán Trung – Phó tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc đã to tiếng… xái bạc lớn ngay cả với Thủ tướng Abe của Nhật Bản và Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel. Bỏ hẳn bài diễn văn được soạn trước, ông Vương đã ứng khẩu độc diễn lên án Mỹ và Nhật “có hành động khiêu khích với Trung Quốc” khi hai vị này lên tiếng cảnh báo những nguy hiểm mà Trung Quốc đang thể hiện trên vùng biển Việt Nam.

Vui nhất là chuyện ông Vương nói đường “lưỡi bò” chín đoạn trên biển Đông đã có từ 2.200 năm trước (thời nhà Hán) nhưng đến năm 1947 Trung Quốc mới công bố. Trong khi đó, ông Chu Thành Hổ – một thành viên khác của Trung Quốc trong đối thoại này, tỏ ra rất hiếu chiến khi nói “Nếu Mỹ coi Trung Quốc là kẻ thù thì Trung Quốc sẽ trở thành kẻ thù của Mỹ”.

Nhìn một cách nào đó thì hai vị này cũng là… mạ thủ đời mới, với một thứ ngôn ngữ ngoại giao quái chiêu, nặng về khiêu khích. Thương thay, họ đã… nói ngọng trước Đối thoại Shangri-La, khiến các phái đoàn quốc tế phì cười. Nhà phân tích chiến lược quốc tế Bonnie Glaser nhận định: “Có lẽ phần tuyên bố của ông Vương chủ yếu nhắm vào khán giả trong nước Trung Quốc nhiều hơn… Ông ta dành mười phút nói vòng vo về đường chín đoạn nhưng cuối cùng cũng không giải thích được nó là cái gì”.

(Vũ Đức Sao Biển)

https://tinnong.thanhnien.vn/giai-tri/ma-thu-9803.html

Báo Người Lao độngThanh Niên cũng nói về “Mạ thủ” nhưng tránh nhắc đến đội quân “Mạ thủ” ăn lương hoặc phụ cấp ngày nay

Sách vở ghi lại nhiều tích bên Trung Hoa, thời Tam Quốc, khi các vương triều tranh đoạt cương thổ, quyền lực đã biết dùng đến “mạ thủ”.

“Mạ thủ” là đội quân chuyên về chửi bới đối phương, kiểu như tâm lý chiến, để đối phương tức giận dẫn tới ra quyết định sai hoặc xuống tinh thần, dễ thua cuộc. Lực lượng “mạ thủ” thường đóng vai trò tiền quân khi công đồn, vây thành. Trong “Tam thập lục sách” – tập hợp 36 kế sách quân sự của Trung Hoa cổ đại – có đúc kết chuyện Tào Tháo sử chiêu khi đánh Viên Thuật thành kế thứ 26 là “Chỉ tang mạ hòe” (chỉ cây dâu mà mắng cây hòe, nghĩa khác: chỉ chó nhưng mắng mèo), nhờ đó mà thắng. Ấy cũng từ “mạ” mà ra. Tóm lại, từ xưa, chửi càn đã được sử dụng như là một thứ vũ khí.

Ở xứ ta, lấy chửi bới để ăn thua đủ, công kích hay hạ bệ người khác cũng là chuyện phổ biến. Dòng văn học hiện thực phê phán 1930-1945 có nhân vật Chí Phèo (“Chí Phèo” – Nam Cao) gắn chặt với hình ảnh tiêu cực “Hắn vừa đi vừa chửi”; hay nâng tầm lên thành “nghệ thuật” là bài chửi mất gà có lớp lang, vần điệu của bà mụ nhà quê trong “Bước đường cùng” (Nguyễn Công Hoan). Học giả Nguyễn Văn Vĩnh, trong bài “Ăn nói thô tục”, đăng Đông Dương tạp chí năm 1914, đã thở dài về một thói xấu của người Việt: “… Lắm câu chửi rủa của ta, không tiếng nước nào dịch nổi…”!

Tất nhiên, đã là thói xấu thì phải phê phán, không học theo. Nếu thành cố tật thì phải gắng tìm mọi cách tẩy trừ nó khỏi đời sống cộng đồng. Trong xã hội văn minh, chửi là hành động phản cảm, đi ngược lại toàn bộ các giá trị cao đẹp chung mà cộng đồng đang xây dựng, hướng về.

Nhưng bao giờ cũng vậy, cuộc sống muôn mặt, bên cạnh cái tốt đẹp và thiện lành vốn chiếm ưu thế thì con người – không còn cách nào khác – buộc phải chung sống với cái xấu, cái ác. Nó là một phần của xã hội, thời nào cũng thế.

Sống chung nhưng không có nghĩa là chấp nhận chịu đựng mãi mãi, mà phải chế ngự, đấu tranh và đẩy lùi nó. Không lên án hành vi xấu, như vô cớ lăng nhục người khác, tức là sống thiếu trách nhiệm; hào hứng đón nhận, hùa theo đám đông hoặc cá nhân nào đó để thóa mạ tha nhân, cũng là một kiểu sống xấu, sống ác. Thực tế, đã có không ít nạn nhân tự kết liễu đời mình vì không chịu nổi sức ép từ sự miệt thị của đám đông, trong đó có những trường hợp bị chửi bới, lên án một cách oan ức.

https://nld.com.vn/…/thoi-xau-chui-can…

Nguồn: FB Hoàng Hưng BVN bổ sung chữ Hán.

Lạm phát ở Mỹ cao nhất trong 30 năm: nguyên do vì đâu?

Lạm phát ở Mỹ cao nhất trong 30 năm: nguyên do vì đâu?

26/11/2021

Người dân mua sắm cho ngày Lễ Tạ Ơn tại một siêu thị Walmart ở Las Vegas. Giá cả tăng cao khiến bữa tiệc Lễ Tạ Ơn năm nay đắt đỏ hơn những năm trước

Gián đoạn chuỗi cung, nhu cầu tăng sau đại dịch, giá xăng tăng do khủng hoảng năng lượng toàn cầu, nhiều gói kích thích khổng lồ để hỗ trợ kinh tế, lãi suất bị kiềm hãm ở mức thấp trong nhiều năm và chính phủ tiếp tục tung tiền mua trái phiếu là những nguyên nhân đẩy lạm phát ở Mỹ tăng cao, các nhà phân tích nhận định.

‘Tăng chóng mặt’

Chính phủ Mỹ cho biết chỉ số giá tiêu dùng đã tăng 6,2% so với năm trước – mức tăng cao nhất trong vòng 30 năm qua.

Trong nhiều tháng, nhiều kinh tế gia phát ra thông điệp trấn an rằng giá hàng hóa tiêu dùng tăng đột biến, vốn đã không xảy ra ở Mỹ trong một thế hệ, sẽ không kéo dài. Nó chứng tỏ sẽ chỉ là ‘tạm thời’, theo lời trấn an của Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Jerome Powell và các quan chức Tòa Bạch Ốc, khi kinh tế Mỹ đi từ hỗn loạn trong dịch COVID-19 sang gần như bình thường.

Tuy nhiên, bất kỳ người Mỹ nào đã mua sữa, đổ xăng hoặc mua xe cũ đều có thể thấy lạm phát ảnh hưởng đến túi tiền của họ. Và các nhà kinh tế giờ đưa ra thông điệp nản lòng hơn: giá cả cao hơn có thể sẽ kéo dài đến sang năm, nếu không muốn nói là lâu hơn nữa.

“Đó là cú giáng lớn vào thông điệp lạm phát là tạm thời,” ông Jason Furman, người từng là cố vấn kinh tế hàng đầu trong chính quyền Obama, nói với hãng tin AP. “Lạm phát không chậm lại. Nó đang đi với tốc độ chóng mặt.”

Và cú sốc giá cả hiển hiện ở những chỗ các hộ gia đình bị ảnh hưởng nhiều nhất. Đồ ăn sáng chẳng hạn: giá thịt xông khói tăng 20% trong năm qua, giá trứng tăng gần 12%. Giá xăng tăng 50%. Mua máy giặt hoặc máy sấy sẽ phải trả thêm 15% so với một năm trước. Còn xe cũ? Mắc hơn 26%.

Mặc dù lương cũng tăng nhiều đối với nhiều người lao động, nhưng mức tăng đó gần như không theo kịp giá cả. Tháng trước, mức lương theo giờ trung bình ở Mỹ, sau khi tính đến lạm phát, thực sự giảm 1,2% so với tháng 10 năm 2020.

Giá cả tăng cao đang làm tăng áp lực lên Cục Dự trữ Liên bang (Fed) phải từ bỏ chính sách cho vay dễ dàng. Và nó cũng đặt ra mối đe dọa cho Tổng thống Joe Biden, phe Dân chủ ở Quốc hội và kế hoạch chi tiêu đầy tham vọng của họ.

Điều gì khiến giá tăng?

Phần lớn nguyên do lại là tin tốt. Bị COVID-19 tàn phá, kinh tế Mỹ sụp đổ hồi mùa xuân năm 2020 khi phong tỏa bắt đầu, các doanh nghiệp đóng cửa hoặc cắt giảm giờ làm và người tiêu dùng ở nhà tránh dịch. Các công ty cắt giảm 22 triệu việc làm. Sản lượng kinh tế đã giảm với tốc độ tàn phá là 31% hàng năm trong quý 2 năm ngoái.

Ai cũng chuẩn bị tâm lý rằng khó khăn sẽ kéo dài hơn. Các công ty cắt giảm đầu tư. Nhiều trung tâm mua sắm hoãn lấy thêm hàng. Theo sau là suy thoái tàn khốc.

Tuy nhiên, thay vì chìm vào suy thoái kéo dài, kinh tế Mỹ đã có sự phục hồi bất ngờ, do các gói chi tiêu khổng lồ của chính phủ và một loạt các động thái khẩn cấp của Fed. Đến đầu năm nay, triển khai chích ngừa đã khiến người tiêu dùng mạnh dạn trở lại nhà hàng, quán bar và cửa hàng.

Bất thình lình, các doanh nghiệp vật lộn để đáp ứng nhu cầu dâng cao. Họ không tìm đủ người để lấp đầy các chỗ trống – 10,4 triệu vào tháng 8, gần mức kỷ lục, hoặc không lấy đủ hàng để đáp ứng các đơn hàng. Khi doanh nghiệp phục hồi mạnh mẽ trở lại, các hải cảng và bãi tập kết hàng không đảm đương nổi lượng hàng đến. Chuỗi cung ứng toàn cầu bị gián đoạn.

Chi phí tăng lên. Và các công ty chuyển những chi phí cao hơn đó sang người tiêu dùng với giá cả cao hơn. Trong khi đó, nhiều người Mỹ đã dành dụm được cũng kha khá trong đại dịch.

“Một nguyên nhân đáng kể gây ra lạm phát mà chúng ta đang nhìn thấy là kết quả không tránh khỏi của việc thoát khỏi đại dịch,” AP dẫn lời ông Furman, hiện là kinh tế gia tại Trường Kennedy của Đại học Harvard, cho biết.

Tuy nhiên, Furman cho rằng chính sách sai lầm của chính phủ cũng góp phần vào lạm phát. Các nhà hoạch định chính sách rất muốn ngăn kinh tế suy thoái đến nỗi họ ‘coi nhẹ lạm phát một cách có hệ thống’, ông nói.

“Họ đổ thêm dầu vào lửa,” ông nói.

Chi tiêu ồ ạt của chính phủ – bao gồm gói cứu trợ virus corona trị giá 1,9 nghìn tỷ đô la của Tổng thống Joe Biden, với khoản chi trả 1.400 đô la cho hầu hết các hộ gia đình hồi tháng 3 – đã kích thích nền kinh tế quá mức, Furman nói.

“Lạm phát ở Mỹ cao hơn rất nhiều so với ở châu Âu,” ông lưu ý. “Châu Âu cũng bị cú sốc tương tự về cung cầu như ở Mỹ, và cũng gặp vấn đề về chuỗi cung ứng tương tự. Nhưng họ không kích thích kinh tế quá nhiều.”

Tổng thống Biden thừa nhận ‘lạm phát làm tổn thương túi tiền người dân Mỹ, và đảo ngược xu hướng lạm phát là ưu tiên hàng đầu của tôi’. Ông Biden nói rằng gói cơ sở hạ tầng trị giá 1 nghìn tỷ đô la mà ông thúc đẩy, bao gồm chi tiêu cho đường sá, cầu, cảng, sẽ giúp giảm bớt tắc nghẽn chuỗi cung ứng.

‘Nhiều yếu tố cộng dồn’

Trao đổi với VOA, Giáo sư-Tiến sỹ Khương Hữu Lộc, vốn giảng dạy chương trình Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh tại Keller Graduate School of Management, nhận định rằng ‘một loạt các yếu tố xảy ra cùng một lúc thúc đẩy lạm phát ở Mỹ tăng cao’.

“Sau bất kỳ cuộc khủng hoảng nào đó mà kinh tế phục hồi trở lại thì lạm phát gia tăng,” ông Lộc giải thích là dẫn chứng là sau cuộc khủng hoảng tài chính hồi năm 2008 thì giá cả ở Mỹ cũng gia tăng tạm thời.

“Đó là do người dân quay trở lại tiêu xài trong khi chính phủ đã đưa ra mấy gói cứu trợ liên tiếp để cho tiền người dân tiêu xài,” ông nói thêm và cho biết đó là ‘demand-pulled inflation’, tức lạm phát do nhu cầu tăng cao.

Không may là ‘demand-pulled inflation’ lại được cộng hưởng bởi ‘cost-pushed inflation’, tức lạm phát do giá đầu vào tăng cao, càng khiến lạm phát tăng mạnh, ông Lộc phân tích.

“Bao nhiêu quốc gia cung cấp hàng cho Mỹ bị gián đoạn cung ứng (do dịch bệnh). Mà khi thiếu nguồn cung thì giá thành hàng hóa ở Mỹ sẽ gia tăng,” ông nói.

Ngoài ra giá xăng dầu đang tăng cao ‘cũng ảnh hưởng rất mạnh đến lạm phát’ vì nó liên quan đến giá đầu vào của hầu hết hàng hóa và dịch vụ, cũng theo lời vị giáo sư này.

Bên cạnh những yếu tố này, lạm phát ở Mỹ còn có nguyên nhân chủ quan, mang tính hệ thống là chính sách của Fed ‘giữ lãi suất thấp một cách nhân tạo từ thời cựu Tổng thống Trump đến nay để kích thích nền kinh tế’.

“Trước đây lãi suất thấp nhưng kinh tế trì trệ thì không bị lạm phát nhưng bây giờ kinh tế tăng trưởng trở lại thì nó thúc đẩy lạm phát,” ông nói.

Ông nói với các nguyên nhân ở trên có sẵn thì chuỗi cung ứng bị gián đoạn là ngòi nổ để châm ngòi lạm phát.

Khi được hỏi về trách nhiệm của chính quyền Tổng thống Joe Biden khi tung tiền ra quá nhiều tiền, ông Lộc nói: “Chính quyền nào cũng vậy chứ không phải Biden. Chính quyền Trump cũng vậy. Thực sự số tiền tiêu xài nhiều nhất là 6 ngàn tỷ dưới thời Trump. Biden mới tung ra mấy ngàn tỷ thôi nhưng toàn là tiền chưa xài nên không ảnh hưởng vào con số lạm phát hiện nay.”

Tuy nhiên, ông bày tỏ lo ngại việc chính quyền Biden đang tiếp tục thông qua gói chi tiêu xã hội vào khoảng 2-3 ngàntỉ đô la và nói rằng ‘vô cùng tai hại’ vì nó sẽ làm cho lạm phát tiếp tục kéo dài qua những năm sau.

Lạm phát kéo dài bao lâu?

Lạm phát giá tiêu dùng có thể sẽ còn kéo dài chừng nào các công ty còn khốn đốn theo kịp nhu cầu hàng hóa và dịch vụ chưa từng thấy của người tiêu dùng. Thị trường lao động đang hồi sinh – các công ty đã tạo thêm 5,8 triệu việc làm trong năm nay – có nghĩa là người Mỹ có thể tiếp tục vung tiền vào mọi thứ từ đồ gỗ cho đến xe mới. Và các nút thắt chuỗi cung ứng không có dấu hiệu được giải tỏa.

“Bên cầu của kinh tế Mỹ sẽ tiếp tục là điều cần phải để ý,” ông Rick Rieder, giám đốc đầu tư tại Blackrock, được AP dẫn lời nói, ‘và các công ty sẽ tiếp tục chuyển chi phí thành giá cả.’

“Tôi nghĩ rằng nó sẽ là ‘tạm thời’,” bà Megan Greene, kinh tế gia trưởng tại Viện Kroll, nói về lạm phát. “Nhưng các nhà kinh tế phải rất trung thực khi định nghĩa ‘tạm thời’ là gì, và tôi nghĩ nó có thể dễ dàng kéo dài thêm một năm nữa’.

Sự tăng giá hàng tiêu dùng đã gợi lên bóng ma tình cảnh những năm 1970 sẽ trở lại. Đó là khi giá cao hơn xảy ra cùng lúc với thất nghiệp.

Tuy nhiên, tình hình hiện nay có vẻ rất khác. Tỷ lệ thất nghiệp tương đối thấp, và nhìn chung các hộ gia đình đang ở trong tình trạng tốt về tài chính. Conference Board, một công ty nghiên cứu kinh doanh, phát hiện ra rằng kỳ vọng lạm phát của người tiêu dùng trong tháng trước là cao nhất kể từ tháng 7 năm 2008. Nhưng họ dường như không lo lắng: chỉ số niềm tin của người tiêu dùng cũng tăng, do lạc quan về thị trường việc làm.

“Ít nhất, vào lúc này, họ cảm thấy lợi ích đang nhiều hơn mặt xấu,” Lynn Franco, giám đốc cấp cao về các chỉ số kinh tế của Conference Board, nói với AP.

Tăng trưởng kinh tế, sau khi chậm lại từ tháng 7 đến tháng 9 trước biến thể Delta dễ lây lan, được cho là sẽ phục hồi trong quý cuối cùng của năm 2021.

“Hầu hết các nhà kinh tế đang kỳ vọng tăng trưởng sẽ tăng tốc trong quý tư,” bà Greene nói thêm.

Áp lực đang đè nặng lên Fed, vốn có trách nhiệm kiềm giữ lạm phát, là phải kiểm soát giá cả.

“Họ cần ngừng nói rằng lạm phát là tạm thời, bắt đầu lo lắng hơn về lạm phát, sau đó hành động một cách phù hợp,” Furman nói.

Chủ tịch Fed, ông Powell đã thông báo Fed sẽ bắt đầu giảm mua trái phiếu hàng tháng mà họ bắt đầu mua hồi năm ngoái như một cách khẩn cấp để thúc đẩy kinh tế. Vào tháng 9, các quan chức Fed dự báo cho đến trước cuối năm 2022 họ sẽ tăng lãi suất từ mức gần bằng 0, sớm hơn nhiều so với dự đoán.

Nhưng lạm phát cao, nếu kéo dài, có thể buộc Fed phải đẩy nhanh việc tăng lãi suất; Các nhà đầu tư dự kiến Fed sẽ tăng lãi suất ít nhất hai lần vào năm tới.

‘Cần giảm áp lực giá xăng dầu’

Theo nhận định của Giáo sư Khương Hữu Lộc thì lạm phát sẽ kéo dài ‘chừng khoảng 2-3 năm chứ không phải trong 5-6 tháng’.

“Nếu chính phủ giảm được áp lực lên giá xăng dầu thì giá cả hàng hóa sẽ giảm,” ông nói và cho biết ông ủng hộ động thái mới nhất của chính quyền Biden là mở kho dự trữ xăng dầu chiến lược để đối phó với việc các nước xuất khẩu dầu ‘cấu kết với nhau giữ giá xăng dầu cao’.

“Nếu chính phủ giải quyết được điểm nghẽn chuỗi cung ứng, nâng cấp các hải cảng, đường sá, hệ thống hỏa xa, kho bãi, tăng nhập hàng từ những nước gần như Mexico hay Canada thì lạm phát sẽ giảm,” ông nói thêm và cảnh báo chính quyền Biden đừng nên vì lạm phát mà chấp nhận gỡ bỏ thuế quan cho hàng Trung Quốc để hàng giá rẻ của nước này ồ ạt đổ vào Mỹ như trước.

Ông dự đoán ‘khoảng quý 3 hay quý 4 năm sau Fed sẽ tăng lãi suất tượng trưng đôi chút’. “Điều này sẽ ảnh hưởng đến sự phục hồi kinh tế, nhưng nếu Fed trấn an rằng họ chỉ tăng nhẹ và còn lâu mới tăng lần nữa thì giới đầu tư sẽ không phản ứng quá mạnh.”

Khi được hỏi liệu người lao động có nên được tăng lương để giúp cuộc sống họ bớt chật vật trước tình trạng giá cả tăng cao hay không, ông Lộc nói: “Khi lương gia tăng thì lạm phát càng bị đẩy lên cao nữa nên thành ra đó là con dao hai lưỡi.”

 

Người Việt sang Anh: Ra đi bằng mọi ngả, ở lại bằng mọi giá

Người Việt sang Anh: Ra đi bằng mọi ngả, ở lại bằng mọi giá

  • Song Chi
  • Gửi cho BBC từ Leeds, Anh quốc

 Di dân, trong đó có phụ nữ và trẻ em, đặt chân lên đất Anh sau khi vượt biển từ Pháp qua eo biển Manche

Thảm kịch 27 người chết đuối ngoài khơi Calais do thuyền bị đắm khi tìm cách vượt biển vào Anh hôm 24/11, trong đó có phụ nữ, bà bầu và trẻ em, một lần nữa, lại làm rúng động lương tâm thế giới về nạn buôn lậu người, nạn nhập cư lậu và bi kịch của những người sẵn sàng liều chết rời bỏ quê hương ra đi tìm một cuộc sống tốt đẹp hơn ớ nước khác.

Từ nhiều năm nay, các nước châu Âu đã phải đối phó với tình trạng nhập cư lậu, trong đó vương quốc Anh được nhiều di dân bất chấp hiểm nguy tìm đến. Dùng thuyền nhỏ, thuyền cao su vượt qua eo biển hẹp English Channel (trong tiếng Pháp là La Manche), giữa Anh và Pháp, là một trong những cách mà những kẻ buôn lậu người sử dụng để đưa người nhập cư lậu vào nước Anh.

Còn đối với người Việt, thảm kịch này gợi nhớ lại thảm kịch hai năm trước, với 39 đồng bào người Việt chết trong chiếc container đông lạnh tại một khu công nghiệp ở Grays, hạt Essex, London, vào ngày 23/10/2019, cũng đang trong hành trình tìm cách nhập cư bất hợp pháp vào nước Anh.

Nhiều người Việt vẫn ‘sẵn sàng đánh đổi mạng sống’ để sang Anh

Hai năm vụ Essex: Vượt biên vào Anh, người Việt gặp gì?

Nhập cư lậu và buôn người – câu chuyện cũ đã hàng chục năm nay

Ngoài con đường “xuất khẩu lao động”, sau này, người lao động Việt lại lũ lượt rủ nhau tìm đường đi lao động “chui”. Các tổ chức buôn lậu người trong đó có cả người Việt tham gia hoặc cầm đầu, ngày càng hoạt động tinh vi, mức độ quy mô, với những đường dây nối dài từ Nga hay Trung Quốc sang các nước châu Âu.

Từ năm bảy năm trước, nước Anh và thế giới đã được biết đến những câu chuyện bi thảm về “người rơm” (người nhập cư lậu), những con người đã phải trải qua những hành trình dài gian khổ, nguy hiểm rồi ăn chực nằm chờ ở trong những khu rừng của thành phố cảng Calais, Pháp trước khi tìm đường vào nước Anh. Chính phủ Pháp đã cố gắng càn quét, dẹp sạch khu vực này vào tháng 10/2016 nhưng cho đến bây giờ, vẫn có những lán trại người Việt và người nước khác tìm cách nhập cư lậu vào Anh ở đây.

Di dân các nước tiếp tục tìm đường vượt biển sang Anh, hình chụp ngày 20/11/2021

Sau thảm kịch chết trong container, người Việt vẫn tiếp tục tìm đường nhập cư lậu vào Anh. Tờ Telegraph hồi tháng 8/2021 có bài “Vietnamese migrants fueling record rises in Channel crossing” (“Người Việt di cư góp phần đẩy tỷ lệ người vượt Kênh cao kỷ lục”). Sau vụ 39 người chết, các tuyến đường quen thuộc bị kiểm soát gắt gao hơn, các băng nhóm người Việt có mạng lưới buôn người mở rộng khắp châu Âu được cho là đã chuyển từ xe tải sang các chuyến hành trình bằng ô tô nhằm tránh bị phát hiện, hoặc cho người nhập cư lậu đi bằng thuyền bơm hơi.

Số liệu của Hội đồng di dân Anh cho biết, trong top 10 quốc gia có số người đến Anh bằng thuyền nhỏ từ tháng 1/2020 đến tháng 5/2021, Việt Nam đứng thứ 5 – sau Iran, Iraq, Sudan, Syria.

Tại sao nhiều người Việt muốn đến Anh?

Tôi không rõ lý do của các sắc dân khác khi họ nhất quyết muốn đến Anh, ngay cả khi được Pháp và các quốc gia EU khác cung cấp một nơi an toàn để xin tị nạn, là gì. Nhưng với người Việt, việc lựa chọn Anh ngoài yếu tố ngôn ngữ-tiếng Anh dù khó, vẫn phần nào quen thuộc và tương đối dễ học với người Việt hơn tiếng Pháp, tiếng Đức, các thứ tiếng Đông Âu, Bắc Âu…, thì là vì tìm việc làm chui (cho đồng bào) dễ hơn.

So với các quốc gia Bắc Âu như Na Uy, Đan Mạch, Thụy Điển… dân số ít-chỉ có chừng 5-8 triệu, thị trường lao động nhỏ, người nhập cư khó tìm việc làm, một phần vì phải vượt qua rào cản ngôn ngữ, phần khác các ngành kinh doanh, dịch vụ tư nhân nhỏ cũng không phát triển, trong khi đó ở Anh dân số khoảng 66-67 triệu, thị trường kinh doanh buôn bán nhỏ tràn lan như nấm (chưa kể thị trường lao động “chui”), người nhập cư dễ tìm việc hơn nhiều.

Cũng cần phải thấy rằng những quốc gia nào mà cộng đồng người Việt đông đảo, làm ăn nhiều, như Anh, Đức, Ba Lan, Tiệp… thì càng thu hút đồng bào trong nước tìm đến vì họ có thể làm việc cho người Việt, không cần học ngôn ngữ. Không hiếm người sống ở Anh nhiều năm, thậm chí 30 năm, nhưng vẫn không sử dụng được tiếng Anh ở mức độ đơn giản.

EU: Băng đảng VN tại Đức ‘buôn ma túy’ và nhận cha giả mạo

NGUỒN HÌNH ẢNH,HOANG DINH NAM

Nhiều người Việt ở Anh là những người từ các tỉnh miền Bắc và miền Trung Việt Nam

Vì sao nhiều người Việt làm nails và kinh doanh nghề nails ở Anh và nhiều nước khác? Với một người không giỏi ngoại ngữ, làm nails là một nghề không nặng nhọc lại dễ học, dễ làm, không cần phải sử dụng ngôn ngữ nhiều, học bằng thực tế, không cần phần lý thuyết. Trong khi đó nếu học nghề cắt uốn tóc, thời gian kéo dài 1-2 năm, học và thi cả lý thuyết lẫn thực hành. Học trang điểm, massage, hay chăm sóc da, cái gì cũng có phần lý thuyết, thi lấy giấy chứng nhận, hoặc có bằng mới làm được. Không có nhiều chủ người Việt kinh doanh mở tiệm tóc hay làm đẹp, vì nhiều người trong số họ cũng không giỏi tiếng Anh, không “điều khiển” thợ bản xứ được, nên tốt nhất là cứ mở tiệm nails, thuê người Việt.

Báo chí trong nước từng có những bài viết về “mặt tối” của thị trường làm móng tay của người Việt ở Anh, rằng thợ Việt bị trả lương rất thấp, vài chục bảng một tuần, sống chen chúc trong những căn nhà chật hẹp, lao động 6 ngày/tuần, mỗi ngày có khi 10 tiếng, như nô lệ.

Những cảnh tượng đó nếu có chắc là hiếm, xin khẳng định là người Việt làm nails ở Anh kiếm sống rất khá.

Một thợ nails người Việt tùy theo tay nghề, kinh nghiệm sẽ được trả từ £1,800-£2,800, thậm chí £3,000/tháng, trước thuế. Mức lương này phải nói là quá cao, nếu so với nhiều người có bằng đại học, đi làm công chức, cũng chỉ chừng £1,800-2000/tháng trước thuế.

Nếu như mặt tốt là vì người Việt nổi tiếng với nghề nails nên các tiệm nails Việt thường là đông khách, nhưng mặt khác, những người kinh doanh cũng biết tìm đủ cách để lách thuế, để có thể có lời. Mà chuyện này thì không chỉ người Việt. Các cộng đồng nhập cư đến từ các quốc gia đang phát triển khác cũng vậy thôi.

Bên cạnh các tiệm nails người Việt làm ăn hoàn toàn đúng luật, một số tiệm nails và thợ Việt đã nằm trong “tầm ngắm” của cảnh sát Anh và các tổ chức nhân quyền vì họ biết người Việt mở tiệm nails thường tìm nhiều cách để lách thuế và sử dụng một số thợ không có giấy phép lao động ở Anh – những việc mà theo luật Anh là bất hợp pháp và bóc lột sức lao động.

Nhưng với người Việt, cho dù có phải ở chật chội, làm nhiều giờ, ngày Chủ nhật còn lại chỉ dành để giặt giũ, dọn dẹp và ngủ, thì mức lương đó vẫn là quá tuyệt vời.

Đó là lý do tại sao nhiều người Việt tìm đến Anh và nhiều quốc gia phát triển có cộng đồng đang ăn nên làm ra khác, bất chấp cái giả phải trả không chỉ là hàng chục ngàn bảng mà có khi còn cả tính mạng! Và cũng không ít trường hợp rơi vào tay bọn buôn người, bị bán vào các trang trại trồng cần sa hoặc buôn bán tình dục ở Anh, điều cũng xảy ra với người Việt nhập cư lậu ở một số quốc gia khác từ Malaysia cho tới Đông Âu.

Tìm mọi cách để ở lại

Tìm mọi cách để ra đi, nhiều người Việt mình cũng tìm mọi cách để ở lại Anh và một số nước châu Âu khác. Nếu không đủ điều kiện để ở lại một cách hợp pháp, có người sẽ “chạy” để có thể ở lại một cách hợp pháp. Ví dụ bỏ tiền ra làm giấy tờ kết hôn giả, bỏ tiền ra “thuê” một ông bố có quốc tịch nước ngoài để làm giấy khai sinh cho đứa con sinh ra ở nước ngoài, khai là nạn nhân buôn người để được tỵ nạn nhân đạo, thậm chí khai là nhà hoạt động dân chủ bị nhà nước cộng sản Việt Nam truy lùng, gây khó khăn nên xin tỵ nạn chính trị v.v…

Ở Anh này chẳng hạn, có nhiều trường hợp các cô gái Việt qua Anh làm việc, chưa có giấy tờ chính thức nhưng vẫn mang bầu, sinh con, được chăm sóc y tế trong điều kiện tốt. Người ta có thể thắc mắc tại sao đang đi làm thuê, đời sống bấp bênh, giấy tờ chưa có mà còn sinh con làm gì cho khổ, sau mới biết nhiều người sinh con xong sẽ tìm cách khai sinh cho con với một người có quốc tịch Anh, để đứa trẻ sinh ra sẽ có quốc tịch Anh. Cứ người này làm trước rồi vẽ đường cho người sau.

Cô nào sinh con cũng có một kịch bản như nhau, là mẹ đơn thân, ông bố của đứa trẻ chỉ đứng tên, khai nhận con trên khai sinh còn mọi việc là người mẹ phải tự lo nên các nhân viên xã hội lại động lòng trắc ẩn. Mới đây, ngày 14/9, ở Đức, cảnh sát Berlin đã phá được một đường dây “nhận cha giả” cho các phụ nữ VN có mang để họ được quyền lưu trú tại Đức.

NGUỒN HÌNH ẢNH,BERNARD BARRON

Một phụ nữ người Việt mang thai được cứu trợ ở Calais, Pháp sau khi chiếc xuồng chở 60 người gặp nạn trên biển khi tìm đường vượt sang Anh, tháng 4/2021.

Một kịch bản giống nhau nữa là khai mình là nạn nhân của một đường dây buôn người. Nhưng một người Việt sống ở Anh lâu năm từng nói với người viết bài này rằng chỉ có khoảng 1% thực sự là nạn nhân buôn người, còn lại toàn tự nguyện bỏ tiền sang đi làm việc “chui”, nhưng khai như vậy để xin tỵ nạn nhân đạo.

Con gái tôi đi làm phiên dịch part-time cho người Việt ở Leeds cũng nói rằng, trong bao nhiêu trường hợp, chỉ có một, hai trường hợp có vẻ là nạn nhân buôn người thật, có dấu hiệu bị đánh đập và kể cả bị ảnh hưởng về sức khỏe, thần kinh.

Việc khai là nhà hoạt động dân chủ cũng thế, không phải không có một số trường hợp khi ở VN người đó không hề có bất cứ hoạt động gì phản kháng lại nhà cầm quyền, nhưng sau khi đặt chân đến nước khác thì khai là bị nhà nước VN truy cùng giết tận, nếu về là sẽ bị cầm tù, bị giết, đi kèm theo là những bằng chứng ngụy tạo cách này cách khác.

Có những người lên tiếng chỉ trích những người tìm cách nhập cư lậu, cho rằng họ tham tiền nên mới đi, và họ chưa chắc đã nghèo khổ, bởi nếu nghèo đã không có hàng chục ngàn bảng Anh để trả cho bọn buôn lậu người như thế. Nhưng thật ra chỉ trích như thế cũng không hẳn công bằng. Chẳng ai muốn liều mình ra đi, sống và làm việc vất vả, cực nhọc ở xứ người nếu như có thể sống tốt ở VN. Và số tiền đó thường là họ phải vay mượn lãi suất cao hoặc cầm cố sổ đỏ, bán đất … và đi làm quần quật nhiều năm sau mới trả hết.

Bi kịch từ đâu?

Nếu bi kịch 39 người Việt chết ở hạt Essex, nước Anh không xảy ra vào tháng 10/2019 thì sớm muộn cũng xảy ra. Bi kịch đắm thuyền của các “thuyền nhân” trên eo biển English Channel ngày 24/11 cũng vậy.

Đứng về phía nhà nước VN, phải tự hỏi rằng đâu là nguyên nhân gốc rễ của hiện tượng người Việt vẫn tiếp tục bỏ nước ra đi, không ngừng, từ sau ngày VN thống nhất cho đến tận bây giờ, gần nửa thế kỷ sau? Ra đi bằng mọi cách, thuộc mọi tầng lớp khác nhau, thậm chí cả tầng lớp giàu có, đang thành đạt, những người đang làm việc cho bộ máy nhà nước, đảng viên đảng cộng sản cũng tìm đường cho con cháu họ ra đi và cho chính họ, một “bãi đáp” sung sướng, nhàn hạ sau khi đã về hưu.

Như vậy có lý do gì ngoại trừ một thực tế là sự thất bại của đảng và nhà nước cộng sản VN trong việc xây dựng VN trở thành một quê hương đáng sống, một môi trường xã hội bình yên về mọi nghĩa, một thị trường lao động công bằng với mức thu nhập đủ sống cho người dân. Mà đó là những yêu cầu tối thiểu, chưa nói đến tự do, dân chủ, nhân quyền gì cả.

Dòng người ra đi bất chấp mọi rủi ro, đang và sẽ không dừng lại, khi nào VN chưa thay đổi về thể chế chính trị xã hội để có thể phát triển thành một quốc gia đáng sống hơn.

Luôn muốn trừng trị kẻ khác mình? Bạn có thể có tính cách độc đoán

Luôn muốn trừng trị kẻ khác mình? Bạn có thể có tính cách độc đoán

Ai cũng có thể bị tiêm nhiễm tính cách độc đoán. Đó là nền tảng của chế độ độc tài.

 16/11/2021

By  VINCENTE NGUYEN

Minh họa: Luật Khoa. Ảnh: Nikkei, NatGeo, Karen Stenner.

Độc tài (authoritarian) thường được xem là đặc tính của một chính quyền hay một chính đảng. Ít ra là trong phạm vi chính trường Việt Nam, chúng ta thường nhắc đến độc tài như là một tính từ đương nhiên để nói về một thứ rất to tát, rất trừu tượng.

Nhưng nếu dùng một từ khác tương đương để diễn tả – độc đoán – đặc tính này lại trở nên cụ thể và gần gũi hơn nhiều. Với cách hiểu đó, các nhà khoa học xã hội không xem khái niệm độc tài/ độc đoán chỉ là để nói về cấu trúc nhà nước hay phương thức phân bổ quyền lực. Độc đoán có thể là một tính cách, bản chất, lối tư duy của một người (thường gọi chung là “authoritarian personality”). Chính tính cách này tạo không gian và nền tảng cho các nhà nước độc tài phát triển. [1]

Trong cuộc bầu cử vô tiền khoáng hậu vào năm 2016 khi ông Donald Trump giành chiến thắng trước bà Hillary Clinton, nhiều nhà khoa học đã cố gắng chứng minh tính cách độc đoán của một bộ phận dân cư Hoa Kỳ là lý do dẫn đến việc Trump thắng cử. [2]

Số khác lại cáo buộc những nhóm dân cư ủng hộ các giá trị truyền thống, ủng hộ “kỷ cương, phép nước” là những người có sẵn tính cách độc đoán và dễ bị tác động nhất. [3]

Một số cây bút phản biện, nhắc nhở rằng sẽ thật sai lầm khi cho rằng chỉ có các nhóm dân cư thủ cựu thì mới có tính độc đoán. [4]

Bỏ qua sự phức tạp, lộn xộn và dễ gây tranh cãi của chính trị Hoa Kỳ, “tính cách độc đoán” đã là một chủ đề nghiên cứu từ trước đó khá lâu của các nhà xã hội học. Quyển sách “The Authoritarian Dynamic” của giáo sư tâm lý chính trị học Karen Stenner (từng giảng dạy tại Đại học Princeton) là một điểm bắt đầu khá tốt để hiểu về tính cách độc đoán. [5]

*** 

“The Authoritarian Dynamic” được xuất bản vào năm 2005 với 10 chương sách. Thông qua các chương này, độc giả được giới thiệu khá đầy đủ về những đặc tính cơ bản của tính cách độc đoán: từ vấn đề về tư duy như “chỉ có một con đường đúng”, “chỉ có một tập thể đúng”, cho đến các kỹ thuật và số liệu liên quan, rồi vai trò của sự sợ hãi trong việc hình thành tính cách độc đoán cũng như mối tương quan giữa chủ nghĩa độc đoán (authoritarianism) và chủ nghĩa thủ cựu (conservatism).

Bìa sách “The Authoritarian Dynamic” và tác giả Karen Stenner. Ảnh: Amazon, The Larger Us Podcast.

Phần giới thiệu của quyển sách đặc biệt ấn tượng. Nó chuẩn bị đầy đủ tâm thế cho bạn đọc trước khi tiếp thu nội dung sách.

Karen Stenner nhắc người đọc rằng sẽ có những người không bao giờ sống thoải mái trong một nền dân chủ cấp tiến hiện đại (modern liberal democracy).

Đó là những người không thể đối xử một cách tử tế với bất kỳ ai mà họ cho rằng không phải “phe của họ”; những người cho rằng chỉ có những ai “nghĩ đúng” mới được quyền nêu ý kiến của mình trong môi trường chính trị; những người cho rằng bất kỳ lựa chọn đạo đức nào của một cá nhân cũng là vấn đề chung của toàn thể xã hội – và hiển nhiên là phải có sự can thiệp của nhà nước, v.v.

Đó là những cá nhân mà quyển sách muốn tìm hiểu. Vì sao họ lại như thế? Và hệ quả dành cho tất cả chúng ta là gì?

***

Theo Stenner, tính cách độc đoán là khuynh hướng tâm tính cơ bản liên quan đến cách nhìn của một người về điểm cân bằng phù hợp giữa uy quyền (authority), sự đồng nhất (uniformity) của một xã hội với các yếu tố đối nghịch như tự chủ cá nhân (individual autonomy) và đa dạng xã hội (diversity). Theo đó, những người có tính cách độc đoán sẽ thường xem trọng uy quyền và sự đồng nhất xã hội hơn là sự tự chủ hay đa dạng.

Khung phân tích của Karen Stenner để phân định giữa độc đoán (authoritarianism) và thủ cựu (conservatism).

Stenner cũng nhấn mạnh rằng tính cách độc đoán không nhất thiết chỉ áp dụng cho “lề phải” hay “lề trái”. Một người được cho là có tính cách này khi họ có xu hướng tư duy chính trị cương quyết, cho rằng họ cần bảo vệ hay thiết lập một trật tự chung, thống nhất và tương đồng (oneness and sameness) để có thể định danh, vinh danh và dành đặc quyền cho những người giống như họ – bất kể họ nhận mình thuộc “lề” nào.

Thú vị hơn, độc đoán theo Stenner không phải là hệ quả từ trên xuống của xung đột tư tưởng chính trị (politics of ideas). Nó là một biểu hiện cảm tính của những cảm xúc nguyên sơ (primitive passions), được xây dựng dựa trên biến tấu chính trị của nỗi sợ hãi (politics of fear).

***

Đáng tiếc là những thông tin tổng hợp trên (chủ yếu nằm ở chương I và chương II) là những phần dễ đọc nhất của quyển sách. Các chương sau đó khá nặng về số liệu và kỹ thuật.

Stenner áp dụng một số kỹ thuật nghiên cứu dữ liệu như Cultural Revolution Experiment (CRE), Multi-Investigator Study (MIS), Durham Community Study (DCS) cùng với một loạt các nguồn dữ liệu sẵn có như National Election Studies (NES), World Values Surveys (WVS), hay General Social Surveys (GSS). Nhìn chung, đây không phải là một quyển sách mà bất cứ độc giả nào cũng có thể cầm lên đọc từ đầu đến cuối mà không cần bỏ sách xuống mỗi mười trang để… chửi vài câu.

Tuy nhiên, giá trị nội dung mà cuốn sách mang lại là không nhỏ.

Ví dụ, ngay từ năm 2005, Stenner đã tìm ra cách lý giải vì sao một lượng lớn những người ủng hộ Trump đột nhiên xuất hiện nhiều vô kể vào năm 2016 – những người mà trước đó các chính trị gia nghĩ rằng không tồn tại.

Theo bà, có sự khác biệt giữa khuynh hướng độc đoán (authoritarian predisposition) và tính cách độc đoán (authoritarian personality). Số lượng người có khuynh hướng độc đoán thường không có sẵn các biểu hiện của tính cách độc đoán hay các kỳ vọng độc đoán ở chính quyền. Tuy nhiên, khi bị đặt vào các môi trường nhất định, với những chất xúc tác nhất định, tính cách độc đoán sẽ hình thành.

Tính cách độc đoán hình thành trong môi trường phù hợp. Ảnh minh họa: Các thành viên của tổ chức phát-xít Balilla dành cho trẻ em từ 8-15 tuổi tại Ý. Nguồn: Getty Images.

Ví dụ, trong một nghiên cứu, bà đặt ra hai lựa chọn về mục tiêu nuôi dạy con cho phụ huynh: “một đứa trẻ cần biết vâng lời cha mẹ” hay “một đứa trẻ cần nhận thức trách nhiệm cho các hành vi của mình”. Stenner cho rằng những câu hỏi này sẽ chỉ xác định được khuynh hướng độc đoán và giá trị nào là quan trọng đối với một cá nhân, chứ chưa xác định được họ sẽ có những hành vi hay thái độ ủng hộ hoạt động chính trị độc đoán.

Vì vậy, theo Stenner, cần cẩn trọng và đánh giá tính cách độc đoán ở nhiều tầng giai đoạn, nhiều hình thức và nhiều trạng thái khác nhau. Tính cách độc đoán không chỉ giới hạn ở một trạng thái, một hệ quy chiếu hay một xã hội nhất định.

Ngoài ra, vị giáo sư cũng cảnh báo tính cách độc đoán hoàn toàn có thể được xây dựng và củng cố bên trong cá nhân một cách hệ thống.

Theo đó, tính cách độc đoán, ngoài tiền tố là khuynh hướng độc đoán, sẽ chịu ảnh hưởng từ các vấn đề khác như hạn chế về nhận thức (cognitive limitations), môi trường và trình độ học vấn (environment and net of education), kinh nghiệm (experience) và sự tận tâm (conscientiousness). Từ cơ sở này, Stenner dẫn đến kết luận rằng ai cũng có thể bị tiêm nhiễm tính cách độc đoán/ toàn trị.

Hệ tính cách này, dù không biểu hiện trong đời sống thường nhật, hoàn toàn có thể bộc lộ trong những thời điểm xuất hiện các thảo luận chính trị cụ thể hay những phong trào chính trị mang đến nhiều thay đổi.

***

Dù đại đa số các nghiên cứu của Stenner là dựa trên hệ thống chính trị Hoa Kỳ hoặc châu Âu, kết quả nghiên cứu của bà cho phép chúng ta đối chiếu, so sánh và hiểu về nền tảng chính trị Việt Nam.

Chỉ cần lướt qua các trang mạng xã hội của các nhà hoạt động, những người có quan điểm khác, quan điểm trái chiều, bạn sẽ thấy vô vàn những bình luận yêu cầu công an vào cuộc, yêu cầu những người này bị bỏ tù, yêu cầu họ phải bị trừng trị. Đó là biểu hiện cơ bản của những cá nhân thiếu khả năng khoan dung và chấp nhận sự khác biệt – những dấu hiệu của tính cách độc đoán.

Đáng lo ngại hơn, như Stenner mô tả, tính cách độc đoán này hoàn toàn có thể được truyền dạy và thấm nhuần qua môi trường xã hội. Nếu tính cách này trở nên phổ biến trong cộng đồng, tương lai của các cải tổ chính trị tại Việt Nam là không hề đơn giản.

BÍ ẨN ĐẠI VĂN HÀO VOLTAIRE NHÌN THẤY QUỶ DỮ PHÚT HẤP HỐI

Make Christianity Great As Always

BÍ ẨN ĐẠI VĂN HÀO VOLTAIRE NHÌN THẤY QUỶ DỮ PHÚT HẤP HỐI

Bức phù điêu bằng sáp này được làm vào cuối thế kỷ 18 bởi Samuel Percy ((1750-1820), nay được trưng bày tại bảo tàng Victoria & Albert ở Luân Đôn mô tả những giờ phút cuối cùng trước khi lâm chung của đại văn hào nước Pháp Voltaire với gương mặt hoảng loạn, đau đớn, vật vã.

Tài liệu ghi lại các nhân chứng chứng kiến lại trong giây phút hấp hối, Voltaire đã hoảng loạn và gào thét những điều khó hiểu, như thể ông trông thấy quỷ.

François-Marie Arouet hay Voltaire (1694 – 1778) là một nhà văn, nhà triết học người Pháp nổi tiếng trong phong trào” triết học ánh sáng” và những quan điểm ngụy biện về quyền “tự do” của con người. Ông là nhà văn chống Chúa và đánh phá Kitô giáo, đấu tranh cho những mục tiêu chính trị núp bóng danh nghĩa là quyền bình đẳng của xã hội…

Nhắc đến nước Pháp thế kỷ 18 và nhắc đến cuộc Cách mạng Pháp đẫm máu bạo lực, độc tài đã đưa mấy ngàn người vô tội lên máy chém, bỏ tù hàng vạn người Công giáo gồm nhiều giám mục, linh mục, tu sĩ không thể không nhắc tới Voltaire có đóng góp rất lớn cho cuộc cách mạng này.

Sinh thời, Voltaire được biết đến là người bài xích Kitô giáo một cách ngông cuồng. Mặc dù sinh ra trong gia đình quý tộc, cha là một quan chức thuế và mẹ thuộc dòng dõi cao quý nhưng ông lại chống Chúa và đánh phá Công giáo.

Tư tưởng bài xích Kitô giáo bằng ngôn từ sắc sảo khiến Voltaire trở thành biểu tượng cho phong trào chống Chúa lúc bấy giờ.

Ngày 30/5/1778, Voltaire qua đời ở tuổi 84. Có nhiều tài liệu nghiên cứu về cái chết của một nhà văn, triết gia lỗi lạc này; đặc biệt là khoảnh khắc hấp hối khó hiểu của ông.

Một số tài liệu ghi lại Voltaire qua đời do đột quỵ. Nhưng trong giây phút đau đớn, ông đã phát ra những tiếng hét đáng sợ mà không ai hiểu được.

Theo lời kể lại của bà giúp việc trong nhà ông thì Voltaire đã nhìn thấy những hình ảnh ghê rợn, rồi ông tru tréo: “Một bàn tay đang kéo tôi xa rời Chúa Trời…quỷ bắt lấy tôi rồi…,tôi trông thấy hỏa ngục… Hãy cút đi, chính mày đã đưa ta đến tình trạng này, hãy buông tha cho ta”.

Có lúc, ông lại van xin trong ai oán: “Xin Chúa Trời hãy thương xót”, rồi quay ra than vãn với người trong nhà rằng “Ta phải ra đi trong sự bỏ rơi của Chúa”.

Theo một tài liệu khác, nhân chứng tận mắt thấy những giờ phút cuối đời của Voltaire tả rằng: “Nếu quỷ có thể chết được, cũng không chết dữ dội như Voltaire”.

Wikipedia không ghi rõ chi tiết về cái chết của Voltaire nhưng có đề cập tới một số giả thiết khó hiểu về giây phút lâm chung đau đớn của đại văn hào. Wiki cũng đề cập thêm rằng sau khi qua đời, Voltaire bị các thánh đường tại Paris từ chối chôn cất bởi ông đã không ít lần báng bổ Chúa bằng giọng văn châm biếm, miệt thị.

Bạn bè thân và gia đình đã phải mang thi thể ông tới Scellières, thuộc thành phố Champagne, cách Paris khoảng một trăm dặm. Tại đây, một linh mục bằng lòng cho chôn cất Voltaire với đầy đủ nghi lễ Công giáo.

Đó chỉ là trường hợp đặc biệt và còn nhiều nhân vật khác chống lại Thiên Chúa. Một cá nhân dù là người nổi tiếng hay là không nổi tiếng, nếu báng bổ Thiên Chúa, chính là không biết tôn trọng lương tri, đạo đức con người, người đó sẽ phải chịu nhận hậu quả đáng tiếc, sau này dẫu có hối hận cũng muộn màng. Từ cổ chí kim tới nay những kẻ chống lại Thiên Chúa chẳng bao giờ có kết cục tốt đẹp cả, cho nên đừng có dại mà chống lại Ngài.

Nguồn : Chiến sĩ Chúa Kitô

Niềm tin giản đơn đến bất ngờ

Niềm tin giản đơn đến bất ngờ

Vinhsơn Vũ Tứ Quyết S.J

Tạ ơn Chúa vì con bị HIV!

Đây là lời cầu nguyện “ngược đời” của một con người hạnh phúc trong khổ đau. Chị là một người giữa bao người. Chị bình thường trong một cuộc sống bình thường. Thế nhưng, một ngày đã tới, ngày mà chị biết mình bị nhiễm căn bệnh thế kỷ HIV. Chẳng mấy chốc, mọi người đều rời xa chị. Chị cô đơn đến tuyệt vọng. Chị kiệt sức. Chị muốn chết.

Phúc thay, chị được đưa đến mái ấm có các sơ chăm sóc. Dần dần, sức khỏe chị khá lên. Ngày qua ngày, niềm vui chị nhận được từ những người xa lạ, dần lớn lên trong chị. Lần đầu tiên trong đời chị biết Chúa Giêsu. Lần đầu tiên trong đời chị cảm nhận được tình thương mến lạ lùng từ những người tin vào Giêsu. Lần đầu tiên trong đời chị nhận ra ơn của Chúa ngay trong nghịch cảnh, nhận ra sức sống ngay trong sự tiều tụy. Sự kinh ngạc và niềm vui lớn tới nỗi chị thốt lên: “Nếu con không bị HIV, con nào biết Chúa trên đời. Vì con bị HIV như thế này mà con có dịp biết Chúa. Tạ ơn Chúa.”

Vâng, con người bỏ rơi nhau, còn Chúa thì không bao giờ.

Tại sao con theo đạo Phật, mà Chúa lại bắt con vác thánh giá?

Đó là lời “than trách khó hiểu” của một bà bị tai biến, hiện liệt nửa người, đang ở trong nhà dưỡng lão mà các sơ chăm sóc. Trước kia, bà vốn ở một mình. Nhìn khuôn mặt bà, nghe bà kể chuyện, tôi nhận thấy niềm tiếc nuối rất lớn về quá khứ. Bà nói: “Trước kia con đẹp lắm, làm ăn được lắm, có của ăn của để, bạn bè rất nhiều… Đến một ngày, con bị tai biến, liệt nửa người. Thế là, tiền bạc của con có dư thì cũng không cứu được con. Bạn bè con bỏ con hết, chẳng còn ai. Người thân của con thì ai họ cũng phải lo việc nhà của họ. Con còn lại một mình.”

“Cũng chẳng biết ở đâu, vì không có người chăm sóc, con đành ở trong nhà dưỡng lão này. Từ trước tới giờ, con sùng đạo Phật lắm. Khi vào đây ở, có các sơ, con mới biết Chúa. Các sơ có an ủi con thế này: Bà chịu khó vác thánh giá Chúa trao.”

Bà thắc mắc về số phận khó chấp nhận của mình, bà hỏi tôi: “Khi con bị tai biến, con đâu biết Chúa. Tại sao con theo đạo Phật mà Chúa lại bắt con vác thánh giá?” Nhìn bà, tôi nhủ thầm: “Bà ơi! Bệnh tật là một phần của đời người, chẳng ai tránh được. Chỉ có điều, mỗi người đối diện với bệnh tật một cách mà thôi. Bà buồn rầu và thất vọng không phải vì bà bị bệnh, mà là vì bà bị bỏ rơi và bị quên lãng, là vì bà chưa có sức mạnh từ bên trong, là vì bà chưa có những người thực sự thân thiết yêu thương.”

Cầu chúc bà có thể nhận thấy tình thương mến của những người đang sống với bà.

Đối diện với đau khổ và cái chết, mỗi người chọn cho mình một thế đứng. Tùy điểm tựa mà mỗi người vững vàng hay sụp đổ. Có một điều chắc chắn là ai cũng chết, cũng có một điều khá chắc chắc là hầu như người ta cứ nghĩ mình còn lâu mới chết. Giá trị đời người và giá trị con người, ngày càng bị lãng quên trong cuộc sống xô bồ.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho con biết tìm điểm tựa nơi Ngài, để con sống một cuộc đời đáng sống và chết một cái chết bình an, và dù có chết thì con vẫn sống trong Ngài. Amen.

Vinhsơn Vũ Tứ Quyết S.J

No photo description available.

Khinh trí thức

Khinh trí thức

Bởi  AdminTD

 Nguyễn Hưng Quốc

26-11-2021

Ở giới lãnh đạo Việt Nam, có một nghịch lý: một mặt, họ có vẻ chuộng bằng cấp, ai cũng có vẻ muốn có bằng cấp thật cao và tạo cơ hội cho các cán bộ dưới quyền có bằng cấp thật cao, kể cả bằng giả hoặc bằng dỏm; nhưng mặt khác, họ lại không che giấu được sự khinh bỉ cố hữu đối với trí thức.

Nói “cố hữu” vì nó gắn liền với bản chất giai cấp của đảng Cộng sản. Có lẽ không ai không biết câu ví trí thức với cục phân của Mao Trạch Đông tại cuộc hội nghị văn nghệ ở Diên An năm 1943. Mấy năm sau, câu nói ấy được du nhập vào Việt Nam và được giới văn nghệ sĩ, trí thức học tập ngay những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.

Nhà văn Nguyễn Thành Long kể:

“Khi đọc tài liệu Văn nghệ Diên An của Mao Trạch Đông, tôi còn nhớ nguyên văn một câu gây ấn tượng dai dẳng trong tôi: ‘Trí thức là cục phân’. Chúng tôi phải tin theo điều này và tự phủ nhận bản thân mình.” (Phong Lê (chủ biên) (1995), Cách mạng kháng chiến và đời sống văn học 1945-1854, Hà Nội: nxb Khoa học xã hội, tr. 527)

Nhìn lại lịch sử Việt Nam từ năm 1945, đặc biệt, từ 1954 về sau, người ta có thể dễ dàng tìm thấy vô số bằng chứng về chính sách đối xử tàn tệ đối với giới trí thức, kể cả những trí thức được coi là cực kỳ xuất sắc, là những niềm tự hào hiếm hoi mà dân tộc Việt Nam có được. Thì cứ nhìn lại cuộc đời của Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997), Trần Đức Thảo (1917-1993), Đào Duy Anh (1904-1988) và Trương Tửu (1913-1999) mà xem. Có thể nói họ là bốn đỉnh cao trong lãnh vực khoa học xã hội và nhân văn trước cách mạng tháng Tám.

Người đầu tiên nổi tiếng là học giỏi (22 tuổi có hai bằng tiến sĩ ở Pháp) và là luật sư giỏi; người thứ hai được xem là triết gia duy nhất có tầm vóc quốc tế của Việt Nam cho đến thời điểm này; người thứ ba, bằng con đường tự học, trở thành một dịch giả, một sử gia, một nhà từ điển học và văn hoá học lừng lẫy; còn người cuối cùng là một nhà phê bình và lý thuyết văn học vừa uyên bác vừa tài hoa. Vậy mà, suốt mấy chục năm, dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, tất cả đều bị hắt hủi, thậm chí, dập vùi một cách vô cùng tàn bạo. Họ không những đói, khổ mà còn bị nghi ngờ và khinh bỉ. Công việc duy nhất mà một vài người trong họ có thể làm được là dịch thuật. Nhiều khi dịch mà vẫn không được phép ghi tên trên tác phẩm mình dịch.

Tất cả chỉ được khen ngợi sau khi… chết.

Khi khen ngợi, người ta cũng tảng lờ đi những năm tháng họ bị ruồng rẫy.

Và người ta cũng tảng lờ đi là, cho đến sau này, nhiều tài năng khác, hay trí thức nói chung, vẫn tiếp tục bị khinh rẻ.

May, không phải ai cũng tự lừa mình hay lừa người khác như vậy.

Đã có nhiều người lên tiếng. Trước, lên tiếng ở những chỗ riêng tư. Sau, dần dần, họ lên tiếng một cách công khai.

Người lên tiếng nhiều và cay đắng nhất có lẽ là nhà phê bình Nguyễn Đăng Mạnh. Ông nói đi nói lại nhiều lần. Một lần, trong bài viết “Phê bình văn học trong trong tình hình mới” đăng trên báo Văn Nghệ (Hà Nội) số ra ngày 29-8-1987, ông viết: “Người ta thích nói một cách chung chung, nền văn học của ta đã trưởng thành, văn nghệ sĩ của ta là những chiến sĩ, những anh hùng, nhưng đối với văn nghệ sĩ thì coi như con nít”. Lần khác, trong một cuộc hội thảo bàn tròn do báo Văn Nghệ tổ chức cũng được tường thuật trên số báo vừa dẫn, ông lại nói: “Nhà văn cũng bị coi là con nít: sợ họ hư nên người ta thích bật đèn đỏ, đèn vàng, chứ ít khi bật đèn xanh cho văn nghệ phát triển.” Lần khác nữa, trong buổi họp mặt giữa Nguyễn Văn Linh, nguyên Tổng bí thư đảng, với khoảng 100 văn nghệ sĩ Hà Nội, vào tháng 10 năm 1987, Nguyễn Đăng Mạnh phát biểu: “Lãnh đạo khinh bỉ sâu sắc văn nghệ sĩ.”

Sau này trong cuốn Hồi ký được phổ biến rộng rãi trên internet, Nguyễn Đăng Mạnh lại lặp lại ý kiến ấy khi nói đến sự kiện một số cán bộ lãnh đạo sử dụng một số cây bút đàn em để đánh phá những văn nghệ sĩ và học giả mà họ không thích:

“Trình độ văn hoá, trình độ nhận thức thấp tất đẻ ra lối lãnh đạo văn hoá một cách thô bạo. Chẳng hiểu gì cả mà dám can thiệp sâu vào chuyên môn […]. Và họ khinh bỉ trí thức đến thế là cùng: không mời tôi và bất cứ một nhà nghiên cứu văn học nào đến để tham khảo ý kiến.”

Liên quan đến chuyện khinh bỉ giới trí thức, những lời kể của Vũ Thư Hiên trong cuốn “Đêm giữa ban ngày” về Đinh Đức Thiện, em ruột của Lê Đức Thọ, khá thú vị:

“Trong cuộc đời không dài Ðinh Ðức Thiện đã giữ những chức vụ rất quan trọng – bộ trưởng Bộ Cơ khí và Luyện kim, Trưởng ban xây dựng Khu gang thép Thái Nguyên, Phó chủ nhiệm Tổng cục hậu cần, Tổng cục trưởng Tổng cục dầu khí, hàm thượng tướng. Ông ít học. Trình độ học vấn không quá bậc sơ đẳng. Thế nhưng Ðinh Ðức Thiện khinh trí thức lắm. Ông hạ lệnh cho các kỹ sư điện tính toán thời hạn lắp đặt đường dây cao thế Thái Nguyên – Hà Nội. Họ tính kỹ rồi báo cáo lên Ðinh Ðức Thiện: không thể dưới hai năm. Ông ta nghe xong liền nổi khùng: ‘Rặt một lũ ăn hại đái nát! Làm chó gì mà mất những hai năm. Tôi mà ra lệnh cho công binh làm ấy à, chỉ hai tháng là cùng. Tính với chả toán, tính như con c… Các anh lúc nào cũng cúi đầu làm theo sách vở của bọn thực dân đế quốc. Vào rừng chặt cây về mà làm cột, mắc điện vào. Là xong. Trí thức với chả trí ngủ!’ Người kể lại chuyện này là một kỹ sư tốt nghiệp Cao đẳng kỹ thuật thời Pháp, hôm ấy được nghe Ðinh Ðức Thiện trực tiếp quát mắng.

[…]

“Có một thời sự thiếu học được coi là niềm tự hào – người ít học là người có quá khứ trong sạch, không dính với thực dân, phong kiến. Ðinh Ðức Thiện tự hào về sự thiếu học của mình lắm. Ông vỗ ngực đồm độp: ‘Xem tao đây này, tao chẳng có cái bằng chó nào hết, thế mà tiến sĩ kỹ sư sợ tao một phép. Chúng nó ỷ có học, nhưng học gì lũ chúng nó, học vẹt ấy thì có, rời sách vở ra là chịu chết. Trí thức mà không có thực tế chỉ là cục c… Chính tao này, tao chỉ đạo kỹ thuật cho chúng nó, chứ ai? Nghe cái bọn quen bơ thừa sữa cặn ấy chỉ có mà ăn cháo, ăn cháo!’’

Đọc xong câu chuyện ấy, tự dưng tôi nhớ đến câu chuyện do Huỳnh Thúc Kháng kể trong cuốn “Thi tù tùng thoại”: Khi bị giam ngoài Côn Đảo, ông và một số người khác – toàn là dân khoa bảng chống Pháp – bị bắt đi đập đá. Thấy mọi người làm việc vụng về, tên cai ngục, vốn là một đứa vô học, cầm roi gõ vào đầu từng người hỏi: “Mày làm gì?” Người kia đáp: “Dạ, Cử nhân.” Hắn quất cho một roi, rồi nói: “Cử nhân nè!” Hỏi người khác: “Mày làm gì?” Đáp: “Dạ, Tiến sĩ” Hắn quất cho một roi và nói: “Tiến sĩ nè!”

Cứ thế, hết người này đến người khác.

Đau xót, Huỳnh Thúc Kháng làm bài thơ:

Tấn sĩ nhỉ hà vật
Ngôn ngữ thái ngạo mạn
Tặng nhỉ nhứt trường tiên
Sử tri ngã thủ đoạn

Ông tự dịch:

Tiến sĩ là cái gì
Ăn nói rất vô lễ
Cho mày một ngọn roi
Mày biết tay tao nhé!

Đọc, cứ tưởng như chuyện hài hước.

Vậy mà chúng có thực. Có thực, thời Pháp thuộc. Có thực, thời cách mạng. Và không chừng cũng có thực, cả đến tận bây giờ nữa.

Thay đổi thế giới bằng cách thay đổi chính mình

Thay đổi thế giới bằng cách thay đổi chính mình

Lm Anthony De Mello S.J.

Xu-phi Bayazid thuật lại điều liên quan đến đời ông như sau. “Khi còn trẻ, tôi có tinh thần cách mạng và mọi lời cầu nguyện của tôi đối với Chúa như sau: ‘Lạy Chúa, xin cho con nghị lực để thay đổi thế giới.’

 “Khi tôi đứng tuổi và nhận thấy gần quá nửa đời người đã trôi qua đi mà tôi không thay đổi được một người nào hết nên tôi đã thay đổi lời cầu nguyện như sau: ‘Lạy Chúa, xin ban cho con ơn thay đổi tất cả mọi người mà con sát cánh hằng ngày. Nếu chỉ được điều đó đối với gia đình và bè bạn thì con cũng sẽ mãn nguyện lắm rồi.’

“Giờ đây tôi đã già nua và những ngày còn lại chỉ đếm được trên đầu ngón tay, tôi chỉ còn cầu xin như sau: ‘Lạy Chúa, xin ban cho con ơn thay đổi chính mình con.’ Giả như tôi biết cầu nguyện như thế ngay từ đầu thì tôi đã không uổng phí cuộc đời của tôi.”

Lm Anthony De Mello S.J.

Trích Như Tiếng Chim Ca

NHÂN THÁNH LỄ TẠ ƠN, NGHĨ VỀ CÁI SỰ NGƯỢC ĐỜI: ĐẢNG BẮT DÂN PHẢI ƠN ĐẢNG.

Nguyễn Tiến Dân

NHÂN THÁNH LỄ TẠ ƠN, NGHĨ VỀ CÁI SỰ NGƯỢC ĐỜI: ĐẢNG BẮT DÂN PHẢI ƠN ĐẢNG.

1-Khi được hưởng những điều may mắn và tốt đẹp từ người khác đem lại, ta luôn nhớ đến họ với lòng biết ơn chân thành.

Cha mẹ, đã sinh ra ta. Có thế, ta mới may mắn được đứng trên trái đất, được ngắm nhìn ánh sáng măt trời và được sống với vô vàn những điều kì diệu khác.

Không có thày cô dạy dỗ, ta không thể có tri thức, không thể có trí tuệ. Không có trí tuệ, sao có thể phân biệt được phải – trái, đúng – sai. Mông muội như thế, nếu có sống, ta cũng chẳng khác gì những loài thú vật.

Bởi thế, đã là con người, trước hết, ai cũng phải nhớ đến ơn sinh thành của cha mẹ, nhớ đến ơn dạy dỗ của thày cô. Nói rộng ra, phải nhớ ơn cả Xã hội đã bao dung và nuôi dưỡng ta thành người.

-Ở Việt nam, đầy những kẻ nghèo hèn, đầy những kẻ tàn tật về trí tuệ và nhân cách. Tuy vậy, chúng vẫn khát khao muốn làm cha thiên hạ. Chỉ đến khi xuất hiện Mác – Lê cùng Chủ nghĩa Cộng sản, giấc mộng ấy, mới thành. Chủ nghĩa Cộng sản đã dung dưỡng, đã đem tới cho chúng vinh hoa và phú quý. Khi tận hưởng cuộc sống xa hoa còn hơn cả những bậc Đế vương, lẽ tự nhiên, chúng phải nhớ ơn Mác – Lê và nhớ ơn những ông Tổ bịp bợm của mình.

-Không ai nhớ ơn những kẻ đã đem những điều tồi tệ nhất đến cho mình. Tô Lâm đó, không oán hận thì thôi, chứ đời nào ngài lại biết ơn kẻ đã mời mình miếng thịt bò nạm vàng. Ngài cũng không thể nhớ ơn đám thuộc hạ ở Đà nẵng. Đúng vào lúc nhạy cảm nhất, chúng thản nhiên sát thêm muối vào vết thương của ngài. Bằng cách, liên tục quấy nhiễu ông Lâm bún bò, có biệt danh: “thánh rắc hành”.

2-Trong xã hội, quan hệ giữa con người với con người, là một mối quan hệ chằng chịt và có tác động tương hỗ lẫn nhau. Chuyện nhớ ơn, cũng vậy.

Nhờ có địa chủ, người nông dân mới có được ruộng đất, để cấy cày. Nhờ có công xưởng của giới chủ, người công nhân mới có công ăn – việc làm. Một cách tự nhiên, giới làm thuê, họ phải nhớ ơn những người đã tạo dựng môi trường làm việc và đưa đến thu nhập cho mình.

Ngược lại, nếu không có những người kia, giới chủ cũng không thể tự mình làm được tất cả mọi việc. Một cách tự nhiên, giới chủ cũng phải nhớ ơn những người làm công – ăn lương. Chính họ, đã mang lại cuộc sống giàu sang – phú quí cho mình và giới chủ cũng phải có trách nhiệm và nghĩa vụ chăm sóc cho họ.

Chỉ cần một trong hai phe đó, ai cũng muốn đội cái tôi của mình lên đầu và không cần biết đến đối tác, đình công – bãi công sẽ nổ ra và xã hội sẽ bị đảo lộn.

3-Trở lại với mệnh đề: “Đảng Cộng sản Việt nam, họ luôn bắt dân chúng phải ơn Đảng”.

a-Sự thực, từ khi bị đẻ rơi ở Hương cảng cho đến bây giờ, không chỉ giới cần lao mới nuôi dưỡng và bao che cho Đảng. Ngay cả những nhà Tư sản yêu nước như cụ Trịnh Văn Bô và những Địa chủ yêu nước như cụ Nguyễn Thị Năm, họ cũng đã góp công rất lớn, để nuôi Đảng. Nhưng Đảng đã trả cái ơn nuôi dưỡng và che chở của họ, như thế nào? Việc này, nên dành riêng, để đám Tuyên giáo trình bày.

Người dân Việt nam, họ đã hi sinh biết bao nhiêu của cải và sinh mạng, để giúp Đảng Cộng sản giành được chính quyền và có được mọi thứ như ngày hôm nay. Rõ ràng, Đảng phải tri ân dân Việt nam và lẽ ra, phải phụng dưỡng cho họ, như phụng dưỡng cha mẹ đẻ của chính mình. Thế, mới phải Đạo.

b-Nhưng kiểm lại, suốt cả cái quá trình gọi là Cách mạng này, người dân và đất nước Việt nam, họ đã nhận được những gì từ Đảng Cộng sản?

-Đảng Cộng sản có công rước được Chủ nghĩa Mác – Lê vào Việt nam.

Buồn thay, cái mớ rác rưởi này, từ lâu, thiên hạ đã liệng nó ra ngoài cái bãi rác của Lịch sử. Còn những kẻ đã đưa nó vào Việt nam, chúng cũng chẳng mặn mà gì với cái thứ thối tha này. Của nổi – của chìm, chúng vơ sạch vào người và được chuyển thành vàng, thành USD và thành bất động sản ở những nước Tư bản. Ốm đau, chúng không sang Trung quốc chữa bệnh, Con cái, chúng không nhờ Bắc Triều tiên dạy dỗ.

Người dân Việt, họ vẫn trắng tay. Đâu rồi, lời hứa: “nhà máy, thuộc thợ thuyền – ruộng đất, thuộc dân cày”?

Nhà máy, không thuộc về thợ thuyền. Công nhân vẫn đã, đang và sẽ mãi mãi là người đi làm công. Đảng chỉ đứng ra làm cai đầu dài, để mời gọi giới Tư bản nước ngoài đến Việt nam và cùng với họ, bóc lột công nhân. Thậm chí, còn thậm tệ hơn xưa. Đại dịch cúm Tàu ở Sài gòn, nó đã bóc trần sự thực về cuộc sống của giai cấp công nhân Việt nam. Sau bao năm đi làm thuê cho Đảng, tích lũy của họ, chỉ đủ để ăn mì tôm trong vài ba tháng. Quá nữa, hết sạch. Quá nữa, rùng rùng tháo chạy, Quá nữa, hồi hương và bất chấp hậu quả.

Ruộng đất, vẫn không thuộc về dân cày. Quyền sở hữu ruộng đồng, thuộc về Đảng. Đảng vẫn đang phát canh – thu tô, như bọn địa chủ năm nào. Đảng vẫn thu thuế và thu của nông dân ngày càng tàn bạo hơn. “Một quả trứng, chịu 14 loại phí. Một con lợn, cõng 51 loại thuế phí”. Đó là những câu chuyện đã không còn quá xa lạ đối với những người nông dân Việt nam.

Mang tiếng là được Tổ tiên để lại cho cả một cơ đồ đồ sộ. Trong đó, có “rừng vàng – biển bạc”. Nhưng để lại bao nhiêu, Đảng giành bằng hết về cho mình bấy nhiêu. Khai thác dầu thô, Đảng không cho dân chúng hưởng chút váng dầu nào, thì đã đành. Khốn nạn nhất, đang lúc dịch dã, Đảng còn nhẫn tâm dùng tên lửa xuyên lục địa, để phóng giá ét xăng lên trời và bắt dân chúng phải mua với cái giá cắt cổ.

-Đảng biện bạch, nhờ có chủ nghĩa Mác – Lê, chúng ta mới giành được Độc lập.

Đúng là, chúng ta đã đuổi được đi 2 nền Văn minh là Pháp và Mỹ. Sau đó, Đảng rước cái bọn man rợ là Tàu cộng vào, để thế chỗ. Ai còn mơ màng về chuyện Độc lập của Việt nam, xin hãy nghe lại bài nói chuyện của tướng Trương Giang Long, bắt đầu từ phút thứ 10: 30.

Chúng ta khát khao, để có được Độc lập. Nhưng Đảng đã dùng thuốc độc, là Chủ nghĩa Mác – Lê, để giúp chúng ta giải khát. Uống liều thuốc độc này vào người, cả Tự nhiên lẫn Xã hội của Việt nam, băng hoại.

-Đảng có công đã kéo tụt lùi sự phát triển của cả Đất nước ta và Dân tộc ta.

Ngày xưa, khi đến nhận chức Toàn quyền Đông dương, ngài Paul Doumer đã đánh giá rất cao về người Việt nam. Ông xếp người Việt nam ngang hàng với người Nhật bản. Thậm chí, còn xếp cao hơn người Trung hoa, một bậc. Thời Việt nam Cộng hòa, cả vùng Đông nam Á, đâu cũng ngóng về đó với sự ngưỡng mộ sâu sắc.

Còn bây giờ, ước tính, chúng ta phải cần thời gian ngót 200 năm nữa, để đuổi kịp được Singapore và đang cố hết sức, để không bị tụt lại phía sau của Lào và Campuchia. Chúng ta chỉ đi trước thiên hạ, vài thứ. Đối ngoại, có 2 thứ đặc sản được xuất khẩu vượt trội: một là, lao nô và hai là, đĩ điếm. Trong nước, tượng đài, chùa chiền, lăng mộ…, thứ nào cũng “xứng tầm khu vực và Thế giới”. Riêng trường học và bệnh viện, thì không. Còn nợ, thì thôi rồi. Cả bà Ngân lẫn ông Phớc, ai cũng công khai thừa nhận: “ngân sách, như dòng sông đã cạn”

-Đảng đã có công thú hóa con dân Đất Việt.

Từ chỗ, “thương người như thể thương thân”, Đảng đã cài số lùi, để dẫn dắt chúng ta quay trở lại thời kì Luật rừng. Nơi đó, “cá lớn, nuốt cá bé”. Xã hội, hỗn loạn – dối trá, lên ngôi – đồng tiền, cai trị.

Hai mươi năm đầu của thế kỉ thứ 21 đã trôi qua, nhưng Thế giới vẫn phải rùng mình, chứng kiến cảnh: Ở xã Đồng tâm, Đảng giết đồng chí của mình, rồi mổ bụng và phanh thây. Chứng kiến cảnh, một viên Bí thư Huyện ủy quèn, nhưng nó cũng có thể coi đám nữ thuộc cấp như hậu cung của nhà mình. Nứng lúc nào, bốc ngay cô gần nhất, đè người ta ra, hãm hiếp. Thậm chí, chẳng cần quây màn, để che lại cảnh đó. Còn chuyện, “Đảng vay tiền của người ta, rồi ăn quịt. Hàng chục năm trôi qua, đòi không chịu trả”, nhiều vô thiên lủng.

-Đảng góp công rất lớn, làm cho diện tích đất đai của Tổ quốc ngót đi khá nhiều.

Mục nam quan, thác Bản Giốc và bãi Tục lâm, từ xa xưa, chúng hoàn toàn thuộc về đất Việt nam. Đến thời Cộng sản cai trị, cái thì mất hoàn toàn, cái thì mất một phần cho Trung cộng. Mắt thấy – tay sờ, còn như thế. Nói chi đến chuyện đám, “đày tớ Cộng sản”, chúng chẳng thèm hỏi ý kiến của những “ông/bà chủ”, để tùy tiện “chuyển nhượng” biết bao nhiêu lãnh thố và lãnh hải khác cho bố Tàu, với cái giá, mà dân Việt, họ mãi mãi không bao giờ biết.

c-“Xét về tổng thể”, con dân Đất Việt, họ đã được Đảng thí cho những quyền cơ bản nào của một con người? Câu trả lời, nó nằm ở một phần ba đầu tiên, trong 9 chữ: “Không có gì quý hơn Độc lập – Tự do”. Nói trắng ra, tất cả, đều chỉ nằm trên giấy. Tất cả, đều chỉ là những cái bánh vẽ.

4-Rõ ràng, Đảng không mang lại lợi ích thiết thực cho người dân và đang làm tổn hại cho Đất nước. Tại sao, Đảng lại bắt người dân phải mang ơn Đảng?

Luận điểm này, cái loại trẻ con như Võ Văn Thưởng, hoặc võ biền như Nguyễn Trọng Nghĩa, chắc chắn, họ không dám và không thể trả lời một cách công khai được.

Ông Tổng ơi, đừng hùng biện trước đám ma nơ canh – những “cử tri tuyển” của Đảng nữa. Có giỏi, hãy vung bút, để thể hiện cho toàn dân Việt biết, ngài vẫn là “chân Giáo sư” và vẫn là “chân Tiến sĩ”. Lí luận, thì đầy mình và gi gỉ gì gi, cái gì cũng “ở tầm Tư tưởng”.

Đừng xô bọn “đầu lâu – xương chéo” ra và cũng đừng giả điếc mãi như thế.

Nhục lắm

Nguyễn Tiến Dân

Điện thoại: 038-50-56-430

Địa chỉ: Vì tin vào cái lũ CS đê hèn, nên bị chúng lừa đảo, cướp sạch của cải. Bởi thế, mất nhà và trở thành dân du mục. Nay đây – mai đó, chưa có nơi ở cố định.