TRÊN ĐỜI NÀY, NHỮNG THỨ QUÝ GIÁ NHẤT ĐỀU LÀ MIỄN PHÍ

Bang Uong

TRÊN ĐỜI NÀY, NHỮNG THỨ QUÝ GIÁ NHẤT ĐỀU LÀ MIỄN PHÍ

Nhiều người hay than thở rằng cuộc đời này thật bất công. Thực ra, nếu suy ngẫm kỹ, bạn sẽ nhận ra rằng những thứ quý giá nhất trên đời này đều miễn phí. Cuộc sống vốn đơn giản, chỉ có điều chúng ta luôn làm cho mọi thứ phức tạp lên mà thôi.

* Ánh sáng mặt trời là miễn phí

Trên thế gian này, không sinh vật nào có thể sống sót nếu thiếu ánh mặt trời. Thế nhưng có ai từng phải trả một đồng nào cho thứ ánh sáng kỳ diệu đó chưa?

* Không khí là miễn phí

Phật dạy mạng người mong manh như hơi thở. Chúng ta có thể nhịn ăn vài tuần mà không chết, chúng ta có thể chịu khát được một vài ngày, nhưng chỉ nhịn thở vài phút là chúng ta sẽ chết. Chúng ta đang được hít thở không khí miễn phí nhưng lại coi đó là đương nhiên và không trân trọng, bởi vậy nên chúng ta thản nhiên phá hại môi trường, làm ô nhiễm bầu không khí chung. Có khi nào bạn ngồi thư giãn hít thở dưới tán cây xanh? Hãy tri ân nếu bạn đang có không khí trong lành miễn phí để thở hàng ngày.

* Tình yêu thương là miễn phí

Mỗi người chúng ta đều trần trụi khi đến với thế gian này và đều nhận được sự che chở vô bờ bến của cha mẹ, một thứ tình thương không mong báo đáp in sâu trong máu thịt. Nhưng không có người cha mẹ nào nói với con mình rằng: “con cho mẹ tiền mẹ mới thương con”.

Tình yêu thương này của cha mẹ, sẽ không giảm giá trị vì bạn đã trưởng thành, càng không mờ nhạt vì họ đã già đi, chỉ cần cha mẹ còn sống ở trên đời này, bạn vẫn nhận được tình yêu thương này trước sau như một. Nếu bạn đang được sống trong tình yêu thương của gia đình, người thân, hãy biết ơn điều đó.

* Tình bạn là miễn phí

Người âm thầm ở bên cạnh bạn khi bạn cô đơn, người giơ cánh tay ra đỡ bạn khi bạn ngã, người cho bạn dựa vào vai an ủi bạn khi bạn đau lòng, người luôn sẵn sàng xuất hiện mỗi khi bạn cần giúp đỡ, thế nhưng người đó có bao giờ đổi những thứ đã cho đi thành tiền mặt, sau đó kêu bạn trả không?

* Nụ cười

Mọi người vẫn thường nói: “Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ”, nụ cười đem đến rất nhiều lợi ích: giảm căng thẳng, tăng hưng phấn, khiến mọi người thêm gần gũi và yêu thương nhau hơn… Và đặc biệt, không ai “đánh thuế” nụ cười cả, vậy tại sao chúng ta không cùng cười thật tươi hằng ngày để cho cuộc đời thêm vui nhỉ?

* Những cái ôm nồng ấm

Một điều cực kì tuyệt vời nữa trong cuộc sống bạn có thể thoải mái trao và nhận, đó chính là những cái ôm. Bạn đâu có phải trả phí khi muốn ai đó ôm mình hay muốn ôm người bạn yêu thương đúng không? Vậy còn chần chừ gì nữa mà không thoải mái thể hiện tình cảm chân thành nhất của bản thân với những cái ôm.

* Những kỉ niệm đẹp

Có những ký ức đẹp có thể tiếp thêm động lực cho chúng ta vào những lúc khó khăn hoặc bất cứ khi nào cần, nó hoàn toàn miễn phí. Thay vì tiếc nuối quá khứ đã qua, hãy để những kỷ niệm đẹp cho chúng ta thêm niềm tin yêu cuộc đời.

* Hy vọng là miễn phí

Bất luận bạn đang giàu có hay nghèo đói, bạn đều có thể đặt ra mục tiêu riêng cho cuộc đời mình. Mục tiêu này có thể là vĩ đại, cũng có thể là bình thường, giản dị, chỉ cần bạn cảm thấy bằng lòng với nó là đủ rồi.

Còn có gió xuân, thì còn có mưa phùn, còn có ánh trăng trong vắt, thì còn có các vì sao lấp lánh trên trời…

Vậy nên bạn đừng có than thở nữa, hãy quan sát cuộc sống để thấy những điều tốt đẹp luôn hiện hữu. Hãy tri ân cuộc sống và hân hưởng những gì mình đang có.

ST

  Người phu xe hiếm có

   Người phu xe hiếm có

Tinh thần quốc dân của người Nhật qua chuyện “Người phu xe hiếm có”

Phan Bội Châu

Cuối năm 1905, Phan Bội Châu và Tăng Bạt Hổ dành dụm được vài đồng bạc làm hành phí để lên Tokyo tìm cho được anh học sinh Trung Quốc, quê Vân Nam có tên Ân Thừa Hiến. Xuống khỏi xe lửa, 2 người gọi một phu xe và đưa danh thiếp “Ân Thừa Hiến” ra. Người phu không biết chữ Hán bèn đi tìm một đồng nghiệp khác biết chữ. Người này viết chữ trao đổi: “Bạn tôi không thông chữ Hán nên tiến tôi với các ông. Tôi biết chữ Hán nên nếu muốn đi đâu, các ông cứ viết chữ ra là tôi đưa các ông tới”.

Nói rồi, người phu đưa 2 ông tới Chấn Võ Học Hiệu, hỏi học sinh Ân Thừa Hiến. Té ra anh này đang thuê nhà nơi khác chờ qua năm, không ai biết ở đâu.

Người phu xe nghĩ một lúc rồi kéo xe vào bên đường và nói: “Các ngài hãy cứ chờ tôi ở đây vài ba tiếng, tôi đi tìm chỗ ở của người đó, rồi sẽ quay lại”.

Đứng chờ từ 2h đến 5h chiều, Phan Bội Châu và Tăng Bạt Hổ nghĩ, Tokyo quá rộng, lữ quán có muôn nhà, tìm chỗ ở một học sinh Tàu, gốc Vân Nam chỉ biết tên thiệt không lấy gì làm chắc, nếu cùng một nết với dân Việt, e sẽ khốn nạn với vấn đề tiền nong… Ai dè sau 3h, anh phu xe mừng rỡ chạy về, dắt hai người đi thêm 1 tiếng, đến một lữ quán có treo biển với hàng chữ “Thanh quốc Vân Nam lưu học sinh Ân Thừa Hiến”.

Giờ mới hỏi đến tiền công, anh phu nói: “Hai hào năm xu”. Phan Bội Châu làm lạ, rút một đồng bạc ra trao và tỏ tấm lòng đền ơn. Người phu xe đáp lại khảng khái: “Theo quy luật Nội vụ sảnh đã định thì từ nhà ga Tokyo đến nhà trọ này, giá xe chỉ có ngần ấy. Vả lại các người là ngoại quốc, yêu mến văn minh nước NHẬT mà đến đây; Vậy ta nên hoan nghênh các vị, chứ không phải hoan nghênh tiền bạc đâu. Bây giờ, các người cho tôi tiền xe vượt quá lệ, thế là khinh bạc người NHẬT BẢN đó!”.

Phan Bội Châu, Tăng Bạt Hổ tạ ơn người phu xe đáng kính, lòng thêm tủi!

Than ôi! Trí thức trình độ dân nước ta xem với người phu xe Nhật Bản, chẳng dám chết thẹn lắm hay sao!

(Tự phán, Phan Bội Châu)

From: TU-PHUNG

Lợi ích của đọc sách

Lợi ích của đọc sách

Có một chú tiểu sống trên núi cùng với sư phụ tại một ngôi chùa nhỏ, cậu bé rất chăm chỉ làm các việc đã được giao phó như gánh nước, nấu cơm, quét dọn bụi bặm… nhưng riêng việc đọc sách cùng sư phụ là cậu không hào hứng cho lắm.

Trong khi đó, ngày nào sư phụ cũng không quên nhắc cậu đọc sách, cậu thắc mắc: “Tại sao chúng ta phải đọc nhiều sách như vậy, con thấy việc đọc sách có ích gì đâu?”.

Sư phụ nghe vậy bèn mỉm cười nói với cậu ngày mai hãy mang cái giỏ dính đầy than bẩn để xách nước thay vì cái thùng hay xách bấy lâu nay. Chú tiểu mặc dù không hiểu nhưng vì đó là yêu cầu của sư phụ nên chú đành nghe và làm theo. Ngày nào cũng mang cái giỏ đi để xách nước nhưng bao nhiêu nước cũng chảy hết qua cái lỗ trên giỏ, không thể mang chút nước nào về nhà.Khi cậu thắc mắc về việc này thì sư phụ nói hãy cứ tiếp tục và cậu vâng lời nhưng chẳng được bao lâu. Nỗi thất vọng ngày càng lớn khi ngày nào cũng phải làm việc vô ích này khiến cậu chán nản, đến khi không chịu được nữa cậu nói với sư phụ rằng từ ngày mai mình sẽ không đi xách nước nữa.

Sư phụ mỉm cười, bảo chú tiểu lấy cái giỏ ra đây và ôn tồn nói: “Con nghĩ việc làm của con là vô ích sao? Hãy nhìn thử xem, cái giỏ này trước kia đựng than đen nhẻm nhưng từ ngày con lấy nó để xách nước nó đã sạch trong không còn lấm lem vết than như xưa nữa.

Việc đọc sách cũng vậy, lợi ích của nó không thấy được bằng mắt, không phải ngày một ngày hai để mong thành công nhưng không có nghĩa là quá trình này trải qua vô nghĩa. Con đọc một quyển sách mỗi ngày, tâm hồn sẽ được rửa trôi một ít, đến khi đủ thì sẽ sạch bong như cái giỏ than này”.

Chú tiểu hiểu ra, thầm cảm ơn sư phụ và từ đó không còn chán ghét việc đọc sách nữa.

Nhìn chung có rất nhiều lợi ích của đọc sách như để giải trí, để có thói quen lành mạnh, hoàn thiện kỹ năng viết, nâng cao kiến thức, kích thích tinh thần, cải thiện trí nhớ… Thế nhưng hầu hết chúng ta né tránh chúng chỉ vì một chữ LƯỜI và bao biện rằng không có thời gian, trong khi họ chỉ cần 20-30 phút mỗi ngày để cho não mình được “ăn” mà họ không chịu thực hiện.

Cơ thể chúng ta muốn nạp năng lượng thông qua việc tiêu thụ thức ăn, còn não của chúng ta cũng vẫn hàng ngày cần “ăn” nhưng ta chẳng bao giờ chịu chăm sóc chúng.

Có hai cách để bạn có được kiến thức: một là tự học, tự đọc và tìm hiểu, cách thứ hai là có một người thầy chỉ dẫn. Sách chính là người thầy tuyệt vời mà bao lâu nay vẫn sẵn sàng ở bên chúng ta nhưng không phải ai cũng nhận ra.

Nếu bạn phải học qua thực tế, qua vấp ngã của chính mình thì điều đó không chỉ gây đau đớn mà còn tốn rất nhiều thời gian. Cách để giảm bớt rủi ro và rút ngắn thời gian đó là thông qua sách vở.

Đọc sách như là một cách để trò chuyện với những bộ não vĩ đại nhất trên thế giới này khi họ đã ghi ra những kiến thức, hiểu biết của mình vào những cuốn sách sống mãi với thời gian.

Sách là tri thức lưu truyền mãi cho thế hệ về sau, là những công trình nghiên cứu, là nguồn kiến thức tuyệt vời trong mọi lĩnh vực. Vì vậy đừng nghi ngờ về ý nghĩa của việc đọc sách, hay có suy nghĩ chúng chẳng có tác động gì đến cá nhân bạn cả.Không có quyển sách nào vô ích cả, tiểu thuyết, sách văn học, sách kinh doanh, sách dạy kỹ năng mềm, sách hội họa, âm nhạc, lịch sử… đều cho ta những góc nhìn mới mẻ về cuộc sống này. Bằng một cách vô tình nào đó, tất cả đều tác động đến nhân cách cũng như cuộc sống mỗi người chỉ là chúng ta không nhận ra điều đó mà thôi.

S.T.

From: TU-PHUNG

VUA HỀ CHARLIE CHAPLIN NGÀY CUỐI ĐỜI NĂM 1977.

VUA HỀ CHARLIE CHAPLIN NGÀY CUỐI ĐỜI NĂM 1977.

Trên đời có 3 thứ làm ta đau khổ: Rượu  ngon làm ta mất trí, tiền nhiều làm ta bất chính, vợ đẹp làm ta đau khổ

J.P.  Sartre

VUA HỀ CHARLIE CHAPLIN NGÀY CUỐI ĐỜI NĂM 1977.

Ông đã để lại cho chúng ta 4 lời phát biểu như sau:

1.Không có gì là vĩnh cửu trong cái thế giới này,kể cả những phiền muộn của chúng ta.

2.Tôi thích đi dạo dưới trời mưa,vì không ai có thể nhìn thấy tôi rơi nước mắt.

3.Ngày mất mát nhiều nhất trong đời là ngày chúng ta không cười.

4.Có 6 vị bác sĩ giỏi nhất trên thế giới là:

-Mặt trời.

-Sự nghỉ ngơi.

-Thể dục.

-Ăn kiêng.

-Lòng tự trọng.

-Bạn hữu.

Hãy thực hiện 4 điều đó trong tất cả giai đoạn của cuộc đời mình và hãy tận hưởng cuộc sống khỏe mạnh..

Nếu bạn nhìn thấy mặt trăng, bạn nhìn thấy vẻ đẹp của Thượng đế…

Nếu bạn nhìn thấy mặt trời, bạn nhìn thấy sức mạnh của Thượng đế…

Nếu bạn nhìn thấy tấm gương, bạn nhìn thấy tác phẩm đẹp nhất của Thượng đế.

Hãy tin điều đó, tất cả chúng ta là những du khách, Thượng đế là hãng lữ hành của chúng ta, người xác định lộ trình, đặt chỗ, nơi đến…

Hãy tin Thượng đế và tận hưởng cuộc sống.

Cuộc đời là một chuyến lưu hành, vì vậy hãy sống cho ngày hôm nay…

Ngày mai có thể sẽ không đến.

St.

From: TU-PHUNG

Hồ Xuân Hương: Chân Dung Và Tác Phẩm

Hồ Xuân Hương: Chân Dung Và Tác Phẩm

Phạm Trọng Chánh – Tiến sĩ Khoa Học Giáo Dục Viện Đại Học Sorbonne, Paris

Tượng Hồ Xuân Hương. (nguồn: https://en.wikipedia.org)

Hồ Xuân Hương tên thật là Hồ Phi Mai, đó là lý do khiến Tốn Phong trong 31 bài thơ tặng Xuân Hương, đã có 29 bài nhắc đến Mai, có bài nhắc đến hai ba lần. Hồ Phi Mai hiệu là Xuân Hương, hoa mai bay trên hồ nơi ngắm cảnh xuân, Mai là hương hoa mùa xuân.

Hồ Xuân Hương xuất thân từ một gia đình danh giá. Hoàng các khấu lai chân vọng tộc, bài 1, thơ Tốn Phong. Hoàng các vốn gia đình vọng tộc.

Thân phụ là Hồ Phi Diễn sinh năm 1703 và mất năm 1786. Năm 20 tuổi ông đậu Tam Trường (Tú Tài) khoa Thi Hương đời Bảo Thái thứ tư, tức năm Quý Mão 1723. Ông đồ Nghệ phiêu bạt đi dạy học tại Hải Dương và kết hôn với mẹ nàng họ Hà quê Hải Dương, ông sinh Hồ Phi Mai lúc 69 tuổi, ông mất lúc Hồ Phi Mai 14 tuổi, bà mẹ sinh nàng có lẽ lúc khoảng hai mươi và còn sống đến sau năm 1814, năm Tốn Phong trở lại đề tựa Lưu Hương Ký và tặng thêm 21 bài thơ, Tốn Phong đã biết đến Hồ Xuân Hương đã yêu và hứa hẹn với Tham Hiệp Yên Quảng Trần Phúc Hiển nên chúc mừng ; « Xe loan mong sớm với người xa. » Nhưng mãi đến hai năm sau Trần Phúc Hiển mới rước nàng về Vịnh Hạ Long. Mẹ Hồ Xuân Hương mất trong khoảng thời gian này nên nàng phải cư tang ít nhất một năm.

Hồ Phi Diễn chánh quán làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An. Họ Hồ tại Quỳnh Lưu rất có tiếng tại Nghệ An và có từ đời nhà Hậu Hán cai trị (917-971). Viên Thái Thú Diễn Châu là Trạng nguyên Hồ Hưng Dật làm nhà ở đây, con cháu phồn thịnh sau khi nước nhà độc lập. Đời Trần có chi ra Thanh Hóa sau sinh ra Hồ Quý Ly. Gia phả họ Hồ ở Nghệ An chép đến đời Trần Xương Phù (1377-1389) một cách liên tục. Đời Trần có một chi vào đất Đông Thành cùng phủ sinh Hồ Tông Thốc có ba đời Trạng nguyên. Chi ở xã Hoàn Hậu đời Lê có nhiều người đỗ Tiến sĩ nổi danh như Hồ Sĩ Dương nhà chính trị học, sử học. Riêng chi, đời thứ 8 Hồ Sĩ Anh (1618-?) đời Lê có hai người đỗ Hoàng Giáp là Hồ Phi Tích (1665-1734) đỗ năm 1700 và Hồ Sĩ Đống (1739-1785) đỗ năm 1772. Có chi ra Tây Sơn đổi họ Nguyễn, Hồ Phi Phúc sinh ra Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ, do đó vua Quang Trung Nguyễn Huệ, Hoàng Giáp Hồ Sĩ Đống và nữ sĩ Hồ Xuân Hương, Tú tài Hồ Phi Hội cùng có một ông tổ đời thứ 8 là Hồ Sĩ Anh. Ngày xưa bà con bốn đời là rất gần. Tốn Phong biết đến Hồ Xuân Hương vì nàng là em của quan lớn họ Hồ. Phạm Đình Hổ trong bài Thi Ca trong Vũ Trung Tùy bút, đã viết Hồ Sĩ Đống, Hoàn Hậu Công là một trong ba bậc thầy thi ca đời Lê Trung Hưng cùng với Nguyễn Tông Khuê (thầy của Lê Quý Đôn) và Nguyễn Huy Oánh (cha Nguyễn Huy Tự, học trò hơn 30 người đỗ Tiến Sĩ).

Khi Nguyễn Khản, anh Nguyễn Du bị nạn kiêu binh phải bỏ trốn lên Sơn Tây với Nguyễn Điều, thì Hồ Sĩ Đống được Chúa Trịnh gọi về thay chức Hành Tham Tụng (quyền Thủ Tướng), Hồ Sĩ Đống đã làm yên được kiêu binh, Hồ Sĩ Đống còn được gửi vào Phú Xuân, có lẽ Chúa Trịnh mong muốn thương thuyết với anh em Tây Sơn, nhưng Tây Sơn đang bận những chiến trận với Chúa Nguyễn phương Nam nên không gặp. Hồ Sĩ Đống từng làm Phó Sứ năm Mậu Tuất 1778, khi đi đến Động Đình Hồ, Chánh Sứ Võ Khâm Tự tự tử và đốt tờ biểu xin sắc phong vương của Chúa Trịnh Sâm thay vua Lê, Hồ Sĩ Đống thay thế làm Chánh Sứ, Nguyễn Trọng Đan làm Phó Sứ, cuộc đi sứ hoàn tất trở về và Chúa Trịnh cũng không dám hỏi ông việc xin phong vương, Hồ Sĩ Đống sống thanh liêm giản dị, chu tất việc triều chính, ông mất sớm năm 1885 chỉ mới 46 tuổi, ông được mọi người đều thương tiếc, nhà Trịnh vua Lê cũng sụp đổ một năm sau đó.

Hồ Xuân Hương sinh ra và lớn lên tại làng Nghi Tàm bên Hồ Tây, nơi nổi tiếng nghề dệt lụa, làm giấy, dệt lĩnh đen và trồng hoa. Tây Hồ có cảnh đẹp Tây Hồ Bát Cảnh, một thi xã đời Vĩnh Hựu (1735-1739) đã ca tụng tám cảnh đẹp quanh Tây Hồ :

– Bến Trúc Nghi Tàm, bến tắm chúa Trịnh Giang dưới dãy trúc ngà làng Nghi Tàm.

– Rừng bàng Yên Thái, rừng bàng trên núi đất làng Bưởi do chúa Trịnh Giang bắt trồng.

– Đàn thề Đồng Cổ do vua Lý Thái Tông xây để hàng năm quần thần đến thề để tỏ lòng trung hiếu.

– Phật say làng Thụy. Pho tượng Phật chống gậy dáng đi như người say rượu ở chùa Làng Thụy Chương. (Làng Thụy Khuê có nghề nấu rượu rất ngon nên Phật cũng say).

– Sâm cầm rợp bóng. Nghề săn ngỗng trời các làng quanh Hồ Tây, do ngỗng mập mạp, người ta cho rằng ngỗng ăn sâm từ Cao Ly bay về nên gọi là sâm cầm.

– Đồng hoa Nghi Tàm, làng Nghi Tàm làm nghề trồng hoa có những vườn hoa rất đẹp.

– Chợ đêm Khán Xuân, Chúa Trịnh thường họp chợ đêm cùng các cung nữ, thái giám giả làm người mua bán làm vui. Khu đất ngày xưa rất rộng nơi đình làng Nghi Tàm ngày nay. Bên cạnh có ngôi Gác Tía của Nguyễn Khản làm nơi câu cá hầu Chúa Trịnh.

Cổ Nguyệt Đường được xây dựng khoảng năm 1783, ngày xưa khi thầy được 80 tuổi, để mừng thọ thầy, học trò lớn, bé, làm quan hay không đều góp công góp sức xây nhà cho thầy. Do việc xây cất bề bộn, Hồ Xuân Hương được gửi về quê nội Quỳnh Lưu, đó là dịp Hồ Xuân Hương xướng họa với Dương Tri Tạn. Cổ Nguyệt Đường là một cơ ngơi rộng rãi, theo thơ Tốn Phong gọi là viện hay mai đình có tả viện là nơi tiếp khách, phòng ăn, nơi bán sách giấy bút mực của vợ và con gái thầy. nghĩa có tiền viện nơi thờ phượng, hữu viện nơi dạy học và hậu viện phòng ngủ, chính giữa là khoảng sân rộng có hòn non bộ, chậu kiểng và bếp. Phong cách kiến trúc hình chữ khẩu, hình vuông ngày nay còn lại trong các ngôi nhà cổ, đình chùa Việt Nam. Nhà quay mặt hướng Đông (Đối mặt trời xanh mưa móc thuận, bài 1), trước Cổ Nguyệt Đường có cây bàng lớn, (Cội bàng trăng khuất chiếu mai đình, bài 6 ), cạnh Bến Trúc Nghi Tàm (Bến Trúc mừng vui gặp mỹ nhân, bài 25), quanh nhà có trồng nhiều hoa (Nàng đây đối mặt giữa hoa ngàn, bài 7). Khi cụ Hồ Phi Diễn mất năm 1786, người trưởng tràng là Tử Minh tức Cả Tân thay thầy dạy học. Ba bài thơ Hồ Xuân Hương khóc Tử Minh là có những chi tiết quý báu. Khi Tử Minh mất năm 1811, 40 tuổi để lại vợ và hai con trai, Hồ Xuân Hương ngừng đi buôn do tình hình bất an do loạn Đặng Trần Siêu và Võ Đình Lục (1810-1822) vùng Sơn Nam, nàng trở về đảm nhận lớp học. Học trò nàng có hai con Tử Minh và cô Nguyễn Thị Hinh tức là bà Huyện Thanh Quan sau này, về sau bà học với Tiến sĩ Phạm Quý Thích, chung lớp với Phương Đình Nguyễn Văn Siêu.

Cổ Nguyệt Đường dùng đèn bạc khác với mọi người dùng đèn đất, hay đèn sứ và có cả hồ đồng để coi giờ theo mực nước, là một cơ ngơi khá giả đương thời. Năm 1892 Antony Landes mướn Lê Quý và Nguyễn Văn Đại về làng Nghi Tàm chép thơ Hồ Xuân Hương, thì hai người con Tử Minh, nếu còn sống cũng khoảng 80 tuổi, Hồ Xuân Hương không con cháu, hai người con trai Tử Minh là người thân thiết nhất trong gia đình đã sưu tập thơ Hồ Xuân Hương và trông coi Cổ Nguyệt Đường. Ba bài thơ Khóc Tử Minh là bằng chứng của việc này vì thơ phúng điếu chỉ có gia đình người quá cố cất giữ. Tập thơ này nhiều bài lẫn lộn với thơ vua Lê Thánh Tôn, tôi cho rằng đó là những bài thơ Hồ Xuân Hương yêu thích, là mẫu mực thi ca của bậc thầy, cần thiết trả lại các bài thơ Chợ Trời, Đánh Đu, đền Khán Xuân.. cho ông Vua Thơ Nôm Lê Thánh Tôn, không thể sửa đổi vài chữ rồi cho rằng thơ ấy hay hơn thơ vua Lê, phải công nhận là thơ Hồ Xuân Hương như Xuân Diệu viết trong sách Các nhà thơ Cổ Điển. Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến từng làm việc tại Trường Viễn Đông Bác Cổ đã viết Giai Nhân Dị Mặc dựa theo văn bản này. Văn bản này còn lưu trử tại Société Asiatique tại Paris, Giáo sư Maurice Durand đã dùng để viết sách L ́Oeuvre de la poétesse vietnamienne Hồ Xuân Hương EFEO Paris 1968.

Thuở nhỏ Hồ Xuân Hương học chữ với cha, cha mất năm Hồ Xuân Hương 14 tuổi, có lẽ nàng tiếp tục đọc sách và học hỏi với trưởng tràng Tử Minh. Mẹ bán quán giấy bút, sách nôm, nghề bán giấy bút và sách vở ngày xưa là nghề của vợ và con gái các thầy đồ, vì người bán cũng biết đọc và đọc qua các sách. Từ nhỏ Hồ Xuân Hương chăm chỉ đọc sách vừa ăn trầu, làm bếp cũng nhớ chuyện sử sách : “Mở sách ra rồi lại nhá trầu” (thơ Dương Tri Tạn), hay “Học thói Bàn Canh nấu bún Thang”. Cổ Nguyệt Đường còn có nghề dệt và trồng hoa có gia nhân chăm sóc. Các chú dẫn trong thơ Văn bản Landes, Hồ Xuân Hương thường đi lễ chùa du xuân, lễ Thanh Minh với bạn gái vợ Tử Minh và các học trò trai gái.

Có thể chia tác phẩm Hồ Xuân Hương làm ba phần:

– Thơ văn Hồ Xuân Hương theo văn bản Anthony Landes trước năm 1892, (thời kỳ này chưa có Trường Viễn Đông Bác Cổ, ông là người đầu tiên mướn người sao chép sách cổ Việt Nam, Landes chết đuối trên sông Sài Gòn năm 1892) văn bản gồm những bài thơ truyền khẩu. Những bài thơ ứng khẩu thời Hồ Xuân Hương không chép thành thi tập. Các văn bản về sau của Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến và nhà in Xuân Lan.. dựa theo văn bản này.

– Thơ Lưu Hương Ký, Tốn Phong đề tựa là những bài thơ viết về chuyện tình mình với các danh sĩ Nguyễn Du, Mai Sơn Phủ, Tốn Phong, Trần Ngọc Quán, Trần Quang Tĩnh, Trần Phúc Hiển.

– Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập những bài thơ viết trao đổi với Nguyễn Du và các bài thơ trong thời kỳ sống với Tham Hiệp Yên Quảng Trần Phúc Hiển. Tập thơ này bị phân tán làm nhiều mãnh.

Cổ Nguyệt Đường chiết tự chữ Hán chữ Hồ, chữ Cổ là xưa và chữ Nguyệt là trăng , là nơi Hồ Xuân Hương dạy học, bên cạnh có quán trà của bà mẹ đã là Phòng Khách Văn Học của Việt Nam đầu thế kỷ 19. Là nơi các tao nhân mặc khách, các nhà thơ lớn đương thời xướng họa : Thi hào Nguyễn Du, Phạm Đình Hổ tác giả Vũ Trung Tùy Bút, Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán, Hiệp Trấn Sơn Nam Hạ Trần Quang Tĩnh. Tham Hiệp Yên Quảng Trần Phúc Hiển, Tốn Phong Phan Huy Huân, Mai Sơn Phủ, Tử Minh, Cư Đình và cả một Tao Đàn Cổ Nguyệt Đường 28 người mà Trần Ngọc Quán được bầu làm Thi Tướng. Bản Lưu Hương Ký còn lưu lại tại nhà cụ Cử Nguyễn Văn Tú làng Hành Thiện và bản Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập ông Trần Tường tìm ra tại Nam Định năm 1974, có lẽ là từ những người có chân trong Tao Đàn Cổ Nguyệt Đường.

Hương Đình Cổ Nguyệt thi tập là tập thơ cuối cùng của Hồ Xuân Hương. Tập thơ này đã được Miên Thẩm Tùng Thiện Vương và đại thần Trương Đăng Quế đọc, nên họ so sánh Hồ Xuân Hương với Mai Am Công Chúa và Phạm Lam Anh. Tập thơ này gồm các bài : Tưởng đáo nhân tình, Giang Nam phụ níp kiêm lưu biệt hữu nhân, Vịnh Thạch Phu Phụ, Quá Khinh Dao từ hoài cổ, Ngư Ông khúc hành, Tái ngoại văn châm, Bán chẩm thư hoài.. Tám bài Vịnh cảnh Hạ Long (nay còn 5 bài) và tám bài thơ Vịnh Cảnh Đồ Sơn.. Các tác giả thế kỷ 19 không nhìn Hồ Xuân Hương như một nhà thơ dâm tục.

Năm Hồ Phi Mai, 18 tuổi, năm 1790, Nguyễn Du sau ba năm lưu lạc giang hồ Trung Quốc, sau cuộc khởi nghĩa chống Tây Sơn tại Tư Nông, tỉnh Thái Nguyên thất bại, cùng Quyền Trấn thủ Thái Nguyên là Nguyễn Đăng Tiến tức Nguyễn Đại Lang (trong Thanh Hiên thi tập), Cai Già (trong Lịch Triều Tạp Kỷ) Cai Gia (trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí) và Nguyễn Quýnh (tức Nguyễn Sĩ Hữu) họ bị chỉ huy Giáo bắt và giải về cho Vũ Văn Nhậm (theo Lê Quý Kỷ Sự, tr. 100). Nhậm trân trọng khí khái tha chết và cho muốn đi đâu thì đi. Hai câu : “Sinh tử giao tình tại, Tồn vong cùng khổ khi” bài Biệt Nguyễn Đại Lang của Nguyễn Du cho biết ông cũng bị bắt và cùng được tha trong trận này. Sau đó họ lên đường đi Vân Nam, nơi cách Trường An ngàn dậm, có tuyết, có lá vàng rơi, trưởng giả còn ăn mặc theo thời nhà Hán (không thắt bính đuôi sam, ăn vận theo nhà Thanh) và không dùng lịch nhà Tần (họ dùng lịch theo Tây Tạng). Tại Vân Nam, vì không quen khí hậu miền núi Nguyễn Du bị bệnh ba tháng xuân, phải bán con ngựa đi đường và ở nhà người thầy thuốc để chữa bệnh (Dược phố xuân hàn lũng trúc sơ), Vườn thuốc đìu hiu lạnh trúc thưa, bài Sơn cư mạn hứng). Hết bệnh Nguyễn Du thực hiện ước mơ mình, “Ná đắc khiêu ly phù thế ngoại”, Ước gì thoát khỏi vòng trần tục (bài Sơn Thôn), Nguyễn Du đã xuất gia thành nhà sư mang danh hiệu Chí Hiên, danh hiệu dùng cho đến năm 1796, hai bài thơ Chí Hiên tặng trong Lưu Hương Ký. Theo gương Lý Bạch lúc 21 tuổi, mặc áo trắng đạo sĩ, mang trường kiếm đi ngao du khắp Ngũ hồ và các sông Giang Bắc Giang Nam, ngày dạo chơi thắng cảnh ban đêm trú chân nơi các đạo quán trên đường đi. Nguyễn Du thành nhà sư Chí Hiên, cũng “Giang Nam Giang Bắc nhất nang không”, (bài Mạn Hứng II), Giang Bắc, Giang Nam một túi không, ngày dạo chơi thắng cảnh ban đêm trú chân trong các chùa trên đường đi, tụng kinh Kim Cương, nhà chùa đãi cho món ăn rau đậu,và tặng xôi oản. Trong túi vải Nguyễn Du có bản Kinh Kim Cương chú giải của Lê Quý Đôn, quyển sách được trí thức Bắc Hà yêu chuộng thời bấy giờ, Nguyễn Du đi khoảng gần 5000 km (Vạn lý hoàng quan tương mộ cảnh, Muôn dậm mũ vàng chiều nắng xế, bài Mạn Hứng II) và đọc Kinh Kim Cương nghìn lượt (ba năm) bài Phân Kinh Thạch Đài.

Đến Liễu Cao Lâm, Liễu Châu họ chia tay nhau, Nguyễn Đại Lang về thăm quê cũ ở Việt Đông, vùng Quế Lâm cao sơn lưu thủy, và hẹn gặp lại tại Trung Châu. Nguyễn Sĩ Hữu trở về làm chủ Hồng Lĩnh, khởi nghĩa chống Tây Sơn. Nguyễn Du đến Quế Lâm thăm mộ Quế Lâm Cù Các Bộ và lăng mộ Quế Vương nhà Minh (khi đi sứ sang triều đình nhà Thanh, Nguyễn Du ở công quán không thể đi thăm mộ và di tích những người Phản Thanh Phục Minh), sau đó đi theo sông Tương, Mịch Giang thăm nơi Khuất Nguyên trầm mình. (Viết bài Ngũ nguyệt quan cạnh độ) xem đua thuyền nhân lễ Đoan Ngọ, mùng 5 tháng 5, khi đi sứ Nguyễn Du qua nơi này tháng 7 và trở về tháng 3 Âm lịch. Nguyễn Du còn viết bài Phản Chiêu Hồn bài bác thơ Tống Ngọc, mượn cớ để nói chuyện chính sự Việt Nam đời Tây Sơn :”Về thành Yên thành Dĩnh làm chi nữa, Thành quách y nguyên dân sự khác, Cát bụi lấm cả quần áo người, Đi ra xe ngựa, về vênh váo, Lên mặt Cao, Quỳ tán chuyện đời..” và bài Trường Sa Giả Thái Phó : “Trời ban tài lạ không có chỗ dùng.” Khi đi sứ Nguyễn Du đã được vua Gia Long biết tài, trọng dụng tất nhiên không còn viết như thế.

Nguyễn Du đến thành Tín Dương, khi trận chiến Tây Sơn thắng Tôn Sĩ Nghị năm Kỷ Dậu 1789 đã xãy ra, cách biên giới trăm dặm dân chúng Trung Quốc hoảng sợ bỏ chạy theo tàn binh rút lui. Trận chiến làm rung động cả đất khách. (Tây Phong biến dị hương, bài Tín Dương tức sự).

Nguyễn Du đến Vũ Hán rồi sang sông Hán Dương đi Trường An (Ngã biệt phù Giang Hán) tại Trường An (tức Tây An, Thiểm Tây) làm bài Dương Phi Cố Lý, quê Dương Ngọc Hoàn tại làng Hoàng Nông huyện Hòa Âm tỉnh Thiểm Tây và Bùi Tấn Công Mộ tại Vị Thành, Trường An. Sau đó đi Lạc Dương kinh đô nhà Tùy, nơi đây có chùa Bạch Mã, ngôi chùa tổ đình, đầu tiên của Phật Giáo Trung Quốc lập năm 65 sau công nguyên, Nguyễn Du thăm đình Tô Tần , đình chỉ có tại Lạc Dương quê hương ông, Nguyễn Du viết hai bài thơ Đình Tô Tần, và bài Phân Kinh Thạch Đài có nhắc đến bạch mã. Sau đó Nguyễn Du theo kênh đào Đại Vận Hà đi Hàng Châu, nơi đây Miếu Nhạc Phi, Nguyễn Du dừng chân nơi này khá lâu nên viết 5 bài thơ. Tôi cho rằng đây là điểm hẹn “Tương kiến tại Trung Châu” với Nguyễn Đại Lang, trong bài Biệt Nguyễn Đại Lang. Trước Miếu Nhạc Phi có con đê Tô, do Tô Đông Pha khi làm Thứ Sử Hàng Châu đã cho nạo vét lòng hồ đắp thành đê, nối liền Miếu Nhạc Phi với chùa Hổ Pháo, nơi Từ Hải từng tu hành với danh hiệu Minh Sơn hòa thượng trước khi thành nụy khấu, cướp biển. Nguyễn Du có bản Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tân Tài Nhân nơi này, tại Hàng Châu đã khắc bản gỗ in ấn và bán thời nhà Thanh. Tôi bác bỏ thuyết cho rằng Nguyễn Du đi ngang Miếu Nhạc Phi ở Thang Âm quê hương ông vì nơi đây không có núi Thê Hà như thơ mô tả, cũng không có tượng vợ chồng Tần Cối quỳ chịu tội cùng Trương Tuấn, tên tướng bắt Nhạc Phi và tên cai ngục Vạn Sĩ Tiết. Ngô Thời Nhiệm khi đi sứ triều Tây Sơn, trong Hoàng Hoa đồ phả có bài thơ Miếu Nhạc Phi tại Thang Âm.

Sau khi gặp lại Nguyễn Đại Lang, họ cùng đi Yên Kinh (Bắc Kinh) gặp quần thần Lê Chiêu Thống, họ đã bàn việc xin nhà Thanh một tỉnh Thái Nguyên, như nhà Mạc xin Lạng Sơn, làm hương hỏa nhà Lê, nhưng không thành, vì Tể Tướng Hoà Thân tiếp sứ thần Tây Sơn do Ngô Vi Quý mang quà tặng riêng, nên đày các quần thần nhà Lê đi xa. Phan Huy Ích và Đoàn Nguyễn Tuấn có thơ tặng Ngô Vi Quý khi hai đoàn sứ gặp nhau tại Vũ Hán. Nguyễn Đại Lang cùng Nguyễn Du quay trở về đến Hoàng Châu vào mùa thu năm 1790, thì gặp Đoàn Nguyễn Tuấn phó sứ trong sứ đoàn Phan Huy Ích. Đoàn có tặng văn nhân họ Nguyễn hai bài thơ, cho biết họ bàn luận sôi nổi chuyện văn chương (Hồng nhan đa truân), Đoàn Nguyễn Tuấn cho tin Nguyễn Nể ( anh cùng cha cùng mẹ, còn gọi Nguyễn Đề, Nể là kính nể, Nễ dấu ngã không có nghĩa) đã ra làm quan Tây Sơn làm Hàn Lâm thị thư, đã đi sứ và cố vấn cho vua Quang Trung, ngày ngày nhà vua gióng ngựa quý sang thăm bàn việc nước. Đoàn Nguyễn Tuấn, Phan Huy Ích phải tiếp tục đi Nhiệt Hà, cung điện mùa hè vua Càn Long đang nghỉ nơi này, và hẹn gặp lại Nguyễn Du vào mùa xuân. Nguyễn Du đi xe song mã về đến Long Châu, sông Long Thủy, xóm Nam Đài và trở về Thăng Long.

Nguyễn Du về sống tại Thăng Long, nương tựa anh Nguyễn Nể, nhưng nơi dinh thự cũ bị kiêu binh phá, và trận cháy lớn do Lê Chiêu Thống sai đốt phủ Chúa Trịnh khi chúa Trịnh Bồng trốn đi, toàn bộ Thăng Long thành tro khói, Nguyễn Nể khi ra làm quan đã cho xây dựng lại mới nơi nền cũ nhà cụ Nguyễn Nghiễm tại Bích Câu. Nhưng nơi đây thường hội họp ca hát với quan tướng Tây Sơn, bài Long Thành cầm giả ca cho biết Nguyễn Du chỉ đứng trong bóng tối xem ca hát, Nguyễn Du không ở với anh mà ra ở nơi Gác Tiá, nơi câu cá của anh Thượng Thư Nguyễn Khản cạnh đền Khán Xuân. Tại đây Nguyễn Du quen cô hàng xóm Xuân Hương Hồ Phi Mai, tuổi vừa 18, cùng đi hái sen với nàng và mối tình ba năm. (Chữ tình chốc đã ba năm vẹn, Bài Cảm Cựu kiêm trình Cần Chánh Học Sĩ Nguyễn Hầu, Hầu Nghi Xuân Tiên Điền nhân.) Những ngày gặp gỡ Hồ Xuân Hương viết bài Duyên kỳ ngộ và Hỏi Trăng, Nguyễn Du ghi lại mối tình cô hàng xóm bằng bài Mộng đắc thái liên (Mơ thấy hái sen).

Năm 1792, vua Quang Trung mất, Nguyễn Nể nhận được nhiệm vụ mới phải vào Phú Xuân, giữ chức vụ Trung Thư Lĩnh và dạy dỗ vua Cảnh Thịnh mới lên mười. Nguyễn Du và Nguyễn Ức được anh trao nhiệm vụ và tiền bạc về Tiên Điền xây dựng lại làng Tiên Điền, từ đường họ Nguyễn, đình làng, chùa, cầu Tiên bị tướng Lê Văn Dụ đốt phá năm 1790 do cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quýnh chống Tây Sơn. Nguyễn Du báo tin này cho Hồ Phi Mai và nàng viết bài : Tưởng đáo nhân tình minh nhiên hạ lệ tẩu bút phụng trình. Hồ Xuân Hương tiễn đưa Nguyễn Du về Hồng Lĩnh tại Thạch Đình, bến thuyền bên sông Vị Hoàng, Nam Định. nàng viết bài Giang Nam phụ níp kiêm lưu biệt hữu nhân (Lưu biệt bạn khăn gói sang sông Nam) trong cuộc tiễn đưa này Nguyễn Du viết bài Thạch Đình tặng biệt, và Hồ Xuân Hương họa lại bài Họa Thanh Hiên nguyên vận.

Nguyễn Du về Tiên Điền dựng nhà tranh bên bến Giang Đình, sách vở thư viện không kém gì thư viện Phúc Giang dòng họ Nguyễn Huy Trường Lưu, bị đốt mười phần chỉ còn lại một hai chất bốn vách, ngoài sân trồng khóm cúc vàng, nơi này tiếp nhận gỗ, gạch chở bằng thuyền đến. Nguyễn Ức chỉ huy vẽ kiểu xây cất, Nguyễn Ức thừa hưởng cái tài khéo léo xây cất của anh Nguyễn Khản, dinh thự Chúa Trịnh đều do tay Nguyễn Khản, về sau Nguyễn Ức làm Thiêm Sự Bộ Công, kinh thành Huế thời Gia Long đều do ông vẽ kiểu và chỉ huy xây dựng, Lê Quý Thanh con Lê Quý Đôn coi phong thủy.

Thời gian Nguyễn Du ở Tiên Điền, khi có dịp người đi về, Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương trao đổi thơ từ, ta có thể dễ dàng nhận ra những bài thơ đối đáp qua những chữ dùng như thanh chiên, Tây phong, nhạn ảnh, hàn trùng, giấc mộng, Tây Hồ.. được lập lại. Hồ Xuân Hương gửi bài Nhân Tặng Nguyễn Du đáp lại bằng bài Ký Hữu (Gửi bạn), nàng viết bài Thu dạ hữu hoài chàng trả lời bằng bài Thu Dạ I, nàng lại đáp bằng bài Thu Vũ, khóc khi nghe tin Nguyễn Du bệnh vào cuối năm. Nguyễn Du lại đáp bằng bài Thu Dạ II. Hồ Xuân Hương đáp lại bằng bài Cố Kinh thu nhật dùng chữ thanh chiên, Nguyễn Du đáp bằng bài Khai Song cũng dùng lại chữ thanh chiên, Xuân Hương viết bài Thu Nhật tức sự cho biết Tây Sơn ra Bắc, Nguyễn Du cũng đáp lại Thu nhật ký hứng , lập lại chữ Tây phong, cho biết Tây Sơn ra Bắc nên chàng không ra Thăng Long được. Hồ Xuân Hương còn cho biết có người đến ve vản nàng và mẹ thúc ép nàng nhận lời lấy chồng : “Thẩn thơ trước viện nhà khoe gió, Đồng vọng bên tai địch thét đâu. Ướm hỏi trăng già khe khắc lắm. Trêu nhau chi những sợi cơ cầu.” Nguyễn Du viết bài Ký Mộng, mơ Xuân Hương về thăm mình: “Mộng đến ngọn đèn sáng, Mộng đi gió lạnh lùng, Giai nhân nào thấy nữa, Lòng ta rối tơ vương.”. Hồ Xuân Hương bài Cảm Cựu.. nhắc lại : “Giấc mộng rồi ra nửa khắc không”.

Trở về Hồng Lĩnh, Nguyễn Du làm Hồng Sơn liệp hộ, dẫn chó vàng đi săn, nhưng thương xót loài nai, hoảng nên chỉ đến để nhìn dấu mùi nai còn thơm trên cỏ ướt, không nỡ giết hại các loài, lòng chẳng cầu danh lợi, nên chỉ “đi săn” được măng non và củ mài..

Năm 1796, khi Nguyễn Ánh đánh tới thành Diên Khánh, Nguyễn Du lại làm Nam Hải điếu đồ, đi câu cá và kiếm thuyền đi về phương Nam. Nguyễn Du bị Quận công Nguyễn Văn Thận trấn thủ Hà Tĩnh bắt giam mười tuần, chờ đến ngày bạn là Nguyễn Nể đi sứ mừng lễ vua Càn Long truyền ngôi cho con về thì thả ra. Nguyễn Du ra đến Thăng Long thì hay tin, trong lúc chàng nằm tù, thì mẹ Hồ Xuân Hương đã gả nàng cho anh Lang, con Thầy Lang xóm Tây làng Nghi Tàm. Nguyễn Du viết hai bài Chí Hiên tặng, oán trách nàng tệ bạc, và “cảnh cáo” nàng : “Có mắt mà xem mặt nước non “. Nguyễn Du được Nguyễn Nể đi sứ về, mai mối cùng Đoàn Nguyễn Tuấn cưới cô em út họ Đoàn (sinh trước năm 1775, năm cụ Đoàn Nguyễn Thục mất). Nguyễn Du về Quỳnh Hải, Thái Bình sống cuộc đời hạnh phúc với vợ, chấm dứt cuộc đời “mười năm gió bụi”. Điều này phản bác gia phả sách vở, cho rằng mười năm gió bụi là thời gian Nguyễn Du sống nơi quê vợ, và ngược với câu thơ Nguyễn Hành viết về chú: “Giang hồ, long miếu hai điều đủ. Thi họa cầm thư bốn nghệ tinh”. Nguyễn Du có cuộc đời giang hồ nghĩa là đi rong chơi trên các sông và các hồ lớn Trung Quốc như Phạm Lãi, Lý Bạch, khác nghĩa chữ “giang hồ” ngày nay. Thời gian từ 1786 đến 1796, Nguyễn Du 20 đến 30 tuổi, là thời gian mười năm gió bụi, Nguyễn Du đi rong chơi đây đó, từ Thái Nguyên đi Trung Quốc, lại về Thăng Long Tây Hồ câu cá, về Hồng Lĩnh bị tù, nhà cửa dinh thự Bích Câu lẫn Tiên Điền đều bị đốt cháy, làng Tiên Điền thành chiến địa bị làm cỏ, yêu đương lại dang dỡ với Cô Cúc làng Trường Lưu, cô Xuân Hương làng Nghi Tàm. Thu Cúc Xuân Lan thành mộng ảo. Từ năm 30 tuổi, (1796) sống hạnh phúc bên vợ, Nguyễn Du dạy văn, dạy võ, cho đến khi Gia Long ra Bắc năm 1802. Nguyễn Du dẫn học trò, tráng đinh ngựa, bò lương thực dâng sớ tiếp đón vua Gia Long, đến huyện Phù Dung thì gặp vua, nhà vua phong ngay cho Nguyễn Du làm Tri huyện Phù Dung, trấn Sơn Nam. Sự kiện này giống như Phi Tử thời Chiến Quốc dâng ngựa cho vua Chu Hiếu Vương, được phong chức Phụ Dung, nên Nguyễn Du có danh hiệu là Phi Tử, Nguyễn Hành nhắc đến trong bài Đi Săn.

Thơ Tốn Phong viết : “Mai quả đã từng ba độ kết”, nghĩa là Hồ Xuân Hương ba lần lấy chồng. Dựa vào thơ Lưu Hương Ký, Gs Hoàng Xuân Hãn nhận thấy có ba khoảng trống nàng vắng làm thơ: 1794-1798, 1802-1806 và 1810-1813. Tương truyền lần thứ nhất nàng lấy một thầy Lang, thầy thuốc mất sớm, nàng viết bài Bà Lang khóc chồng, lần thứ hai lấy Tổng Cóc, một viên chánh tổng tên Cóc, và lần thứ ba tri phủ Vĩnh Tường. Gs Hoàng Xuân Hãn bác bỏ việc lấy tri phủ Vĩnh Tường, vì trước năm 1822, phủ mang tên Tam Đái suốt thời Gia Long, năm 1821 đổi ra Tam Đa, năm 1822 mới đổi thành Vĩnh Tường. Do đó bài thơ Khóc ông phủ Vĩnh Tường chỉ là bài thơ do người đời sau viết, hay sửa đổi thơ Hồ Xuân Hương khóc Trần Phúc Hiển.

Khi Nguyễn Du bị tù, mẹ Hồ Xuân Hương đã gả nàng cho anh Lang con thầy Lang xóm Tây làng Nghi Tầm, Thơ Phạm Đình Hổ bài Hoài Cổ trêu chọc Hồ Phi Mai: “Năm xưa hoa đào nở, Em tôi học cài trâm, Năm nay hoa đào nở, Mẹ gả xóm Tây gần.. Em nhìn hoa mà khóc, Sầu vương nét mi cong”. Thầy thuốc ngày xưa đi chữa bệnh, bốc thuốc cam thảo, trần bì.. anh Lang trẻ chưa có kinh nghiệm, không đọc sách Vệ Sinh Toát Yếu của Hải Thượng Lãn Ông, nên gặp những bệnh lây nhiểm như bệnh dịch, bệnh lao.. thì cũng đi đời như bệnh nhân, Hồ Xuân Hương góa chồng sớm.

Một mối tình ghi dấu trên thơ Lưu Hương Ký từ năm 1799 đến 1801, năm Hồ Xuân Hương 27, 29 tuổi là mối tình với Mai Sơn Phủ. Mai Sơn là bút hiệu, Phủ là tiếng sang trọng để xưng người đàn ông. Phạm Đình Hổ bút hiệu là Tùng Niên (cây tùng lâu đời nhựa thành hổ phách), nên gọi là Tùng Niên Phủ. Nguyễn Kính là Kính Phủ. (Nguyễn Kính thường cùng Phạm Đình Hổ đi thăm chùa Kim Liên, năm 1807 làm Tri huyện Phù Dung nơi Nguyễn Du từng trấn nhậm) Mai Sơn Phủ người Vịnh Phố, tức Vinh ngày nay. Mai Sơn Phủ yêu nàng ngỏ ý xin cưới nàng hai người từng cắt tóc, trích máu vào chung rượu thề nguyền, nếu phụ lòng nhau sẽ bị trừng phạt bằng dao búa. “Dao búa nguyền xin lụy đến mình”. Mối tình Mai Sơn Phủ đã để lại cho Hồ Xuân Hương những bài thơ tình nồng nàn thắm thiết : Thuật ý khiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ, Thu nguyệt hữu ức Mai Sơn Phủ. Nguyệt dạ ca.. Bài Điệu ca Xuân Đình lan : “Tâm ở Vu Phong, Hồn ở Vu Phong. Ân ái cuộc tao phùng”, Hồ Xuân Hương thổ lộ không dấu diếm hai người đã ân ái với nhau. Mai Sơn Phủ tài thơ kém hơn Hồ Phi Mai, nên bài Thu Tứ Ca mượn cả bốn câu thơ cổ nổi tiếng tương truyền của một vị vua Trung Quốc: Thu phong khởi hề bạch vân phi.. để rồi thề thốt: Ta có rượu chừ không bạn uống, Ta có đàn chừ chẳng tri âm. Và chàng thề không uống rượu và chẳng gảy đàn, chàng chỉ uống trà xanh thôi để nhớ tới nàng.

Mai Sơn Phủ từ biệt Xuân Hương, về quê làng Liên Cừ, Vịnh Phố, Phạm Đình Hổ trong bài Tống Liên Cừ Mai Công phó Vị Hoàng, mùa hè xa cố đô, mà Hồ Phi Mai khóc sướt mướt : Sơ mai hương đậu Hoàng Giang vũ. Hoàng giang mưa điểm hương mai nở. Mùa hè làm gì có mai nở, chỉ có Phi Mai khóc.

Mai Sơn Phủ về đến quê nhà, có lẽ bị cha mẹ bắt gả vợ, chàng đã phụ lời thề hay đã chết vì dao búa trong chiến tranh ? Tháng ba năm 1801. Nguyễn Ánh chiếm Quảng Nam, sau đó thừa thắng tiến đánh Đà Nẵng, tháng năm thủy quân đánh cửa bể Tư Dung, thừa thắng kéo vào kinh thành Phú Xuân. Vua Quang Toản bỏ kinh thành chạy ra Bắc, trận chiến tiếp diễn tại Nghệ An, Thanh Hoá, trấn thủ Nguyễn Văn Thận chạy ra Thanh Hoá bị bắt giết. Tháng năm Nhâm Tuất 1802. Nguyễn Ánh lập đàn ở đồng An Ninh, Phú Xuân tế trời đất lên ngôi đặt niên hiệu Gia Long. Trong lúc đó Nguyễn Nể được lệnh triều Tây Sơn đưa La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp về Phú Xuân, đang kẹt trong chiến trận thì được Gia Long cho gọi đến. Gia Long tha cho Nguyễn Thiếp về quê quán, và đem theo Nguyễn Nể theo hầu để hỏi chuyện đi sứ xin phong vương. Do đó người đi theo Gia Long từ Phú Xuân ra Thăng Long không phải là Nguyễn Du như gia phả Nguyễn Tiên Điền viết mà là Nguyễn Nể.

Trong tình hình đó Hồ Xuân Hương viết bài Tự Thán I, II “Nghĩ cùng thế sự lòng như đốt, Trong suốt nhân tình dạ muốn say. Muôn kiếp biết là duyên trọn vẹn, Một đời riêng mấy tiếng chua cay.”. Mối tình Mai Sơn Phủ chấm dứt nơi đây, ta không biết được số phận Mai Sơn Phủ thế nào, trong giai đoạn cuộc chiến dữ dội. Nhưng Hồ Xuân Hương thì đau điếng, miệng lưỡi người đời chua cay dèm pha tình nàng với Mai Sơn Phủ. Trong cơn túng quẩn, quán trà ế khách, trường thiếu học trò, chiến tranh sắp xãy ra tại Thăng Long, bỗng có chàng Tổng Cóc Nguyễn Công Hoà, học trò cũ của cha, đến ve vãn, rước nàng về dạy kèm cho con, đưa nàng lánh nạn lên Vĩnh Phú nay thuộc Hưng Yên, năm đó nàng 29 tuổi, mở đầu thời kỳ : Mười năm lận đận như ăn trộm bịt tai đi trộm chuông. Thập tải phong trần quán nhỉ linh. (1801-1811)

Cóc tiếng Việt ngày xưa có nghĩa là Biết. Cóc hay thân ảo (Phú Cư trần lạc đạo của Vua Trần Nhân Tôn). Ba, bốn làng ngày xưa họp lại thành một Tổng, làng có chế độ tự trị rộng rãi, phép vua thua lệ làng, Hội đồng Hương chính do các người đàn ông thế lực trong làng cử ra. Quyền hành triều đình chỉ đến cấp huyện, do triều đình bổ nhiệm một vị Cử nhân hay Tiến sĩ trấn nhậm, Cai Tổng là một chức vị trung gian không có thực quyền, chẳng có lương bổng, liên hệ giữa Hội đồng Hương chính làng với quan Tri huyện, do đó các làng thường cử một người giàu có ruộng đất làm công việc này. Ông Cai Tổng chỉ vác ô đi ăn đám giỗ. và nhận quà cáp dân chúng biếu xén dăm con cá rô, cá lóc khi tát ao ruộng. Cai Tổng phải biết chữ nho để đọc các Sắc, Lệnh của vua quan, hay Sớ trong các buổi lễ, do đó Tổng Cóc không phải là người dốt.

Theo tài liệu Nguyễn Hữu Nhàn trong bài Hồ Xuân Hương và Tổng Cóc. Hồ Xuân Hương Thơ và Đời, Văn Học Hà Nội 1989, trang 218, tài liệu do cụ Dương Văn Thâm cung cấp. Tổng Cóc người Tứ Xã tên thật là Nguyễn Bỉnh Kình, tự là Nguyễn Công Hòa, dòng dõi Nguyễn Quang Thành, đỗ Tiến sĩ năm 1680. Tổng Cóc từng là một nho sinh, từng lều chỏng đi thi nhưng không đỗ. Tổng Cóc tính ăn chơi, chẳng bao lâu cửa nhà sa sút, vợ Cả ghen. Tổng Cóc bỏ đi biệt sau khi Hồ Xuân Hưng có thai ba tháng.

Bài thơ Gửi Tổng Cóc, câu thơ Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi, nói ngược lại sự việc trên. Hồ Xuân Hương bỏ Tổng Cóc, chứ không phải Tổng Cóc bỏ Hồ Xuân Hương, cũng không phải Tổng Cóc chết, Hồ Xuân Hương mắng nhiếc, như Xuân Diệu và nhiều nhà bình thơ giải thích. Cóc ngày xưa vào nền nhà bằng đất, cóc thường trốn vào gầm giường xó bếp, đánh đuổi đi cóc cũng trở lại chỗ cũ, chỉ có bôi chút vôi ăn trầu vào cóc là cóc bỏ đi mất tiêu. Do đó câu thơ có nghĩa là: Dù có cho tôi nghìn vàng, tôi cũng không trở về với anh, như cóc đã bị bôi vôi.

Hồ Xuân Hương, trở về Tây Hồ, theo tôi do nàng nhận được bài thơ Độc Tiểu Thanh Ký của Nguyễn Du. Câu thơ “Bách tri tam bách dư niên hậu, Thiên hạ hà nhân khấp tố như.” Có nghĩa là Không biết rồi đây ba trăm năm nữa, Ai sẽ khóc người phẩm hạnh cao quý như nàng Tiểu Thanh. Hiểu “tố như” là Nguyễn Du là chuyện phi lý, sáu câu đầu viết về nàng Tiểu Thanh bổng nhiên câu kết, tự hỏi ai khóc mình, là thơ lạc đề. Nguyễn Du không thể làm thơ lạc đề, Nguyễn Du không phải là phụ nữ, cũng không phải là kẻ đồng tính luyến ái để sánh mình với phụ nữ. Ngày xưa nam nhi không ai sánh mình với phụ nữ. Tố như chỉ xuất hiện duy nhất trong bài thơ này, Tố theo Tự điển Thiều Chửu có nghĩa là tơ trắng, là người (phụ nữ) phẩm hạnh cao quý, như là như thế, như vậy. Không ai chứng minh được Nguyễn Du là phụ nữ hay một người á nam á nữ, thì “tố như” chỉ là một sự lầm lẫn như người viết Gia phả Tiên Điền đã lầm như Lê Quý Kỷ Sự của Nguyễn Thu thành Nguyễn Du, hay Đoàn Nguyễn Tuấn cùng Nguyễn Du chống Tây Sơn tại Quỳnh Hải, trong lúc Đoàn Nguyễn Tuấn làm quan thị thần bên cạnh vua Quang Trung.. Hồ Xuân Hương trở về đáp lại thơ Nguyễn Du :”Tây Hồ hoa uyển tận thành khư”, Tây Hồ vườn cảnh đã hoang vu, bằng : “Tây Hồ phong cảnh vẫn như xưa.” bài Chơi Tây Hồ nhớ bạn.

Việc Hồ Xuân Hương, có thai và sinh con, được Tốn Phong xác nhận : “Chốn dời, mai đã nẩy thêm cành”, tiếc thay con nàng mất sớm sau khi sinh.

Hồ Xuân Hương trở về Thăng Long, mở quán sách khoảng năm 1804-1807, với sự giúp đỡ của bạn bè như Phạm Đình Hổ cho mượn năm ba quan tiền, nàng mở quán bán sách bút kế bên trường ông Nghè Phạm Quý Thích (1760-1825), người bạn thân thiết của Nguyễn Du, mở ở Phố Nam thành Thăng Long, thôn Tiên Thị, tổng Tiên Túc, huyện Thọ Xương, gần đền Lý Quốc Sư Nguyễn Minh Không và chùa Báo Thiên (khu Nhà Thờ Lớn Hà Nội ngày nay). Nhà Nguyễn Kính cũng ở gần nơi này. Quán sách không lời vì những cậu học trò nhỏ như Phương Đình Nguyễn Văn Siêu (1799-1872) lúc đó mới 8 tuổi, “Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa”, đến ngắm bà chị 35 tuổi, sắc đẹp đổ nước nghiêng thành, các quan thị từ cung vua Lê, chúa Trịnh, cung điện cháy chẳng còn nơi ở, thất nghiệp đến la cà, hay anh chàng Cư Đình không nhà sống trong đình làng.. khách hàng như thế thì chẳng mua bán được gì !.. Hồ Xuân Hương bán các sách truyện: Nữ Tú, Phương Hoa, Tuyển Phu, Chinh Phụ, Bích Câu Kỳ Ngộ.. (bài Cô Hàng Sách) và dĩ nhiên các sách Giáo khoa Nho học đương thời : Tam Tự Kinh, Sơ học vấn tâm, Ấu học ngữ ngôn thi, Minh Tâm bảo giám. Minh đạo gia huấn. Tứ Thư, Ngũ Kinh.. Sách Toát Yếu, sách “học tủ” để đi thi của cụ Nghè Bùi Huy Bích dạy học làng Thịnh Liệt, Thanh Trì, và những sách do thương nhân Trung Quốc từ Quảng Đông đưa sang: Xuân Thu Chiến Quốc, Tam Quốc Chí, Liêu Trai Chí Dị, Đào Nguyên ký, Nam Hoa Kinh, Minh Sử, Tống Sử.. điều này chứng minh sau thời gian bán sách thơ Hồ Xuân Hương dùng nhiều điển tích hay lạ khác với ngày trước thơ ứng khẩu.

Thời kỳ 1807-1811. Hồ Xuân Hương xoay qua nghề đi buôn sách bút tại các nơi, thơ nàng lưu dấu nhiều nơi : Đền Sầm Nghi Đống, chùa Hương Tích ở Hà Đông, Đá ông Chồng Bà Chồng ở Tuyên Quang, Kẽm Trống ở Ninh Bình, Đèo Ba Dội núi Tam Điệp, Quán Khánh ở Thanh Hóa.. Hồ Xuân Hương bán cả sách bút cho cả các quan trấn nhậm, đó là cơ hội nàng gặp gỡ Trần Quang Tĩnh Hiệp Trấn Sơn Nam Hạ (vùng Nam Định), Trần Ngọc Quán Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng tại Châu Cầu và Trần Phúc Hiển, Tri phủ Tam Đái ( Việt Trì). Các quan trấn nhậm, xa quê quán, xa vợ con gặp một người đẹp sắc nước hương trời biết xướng họa thơ, đến bán sách bút thì chắc nàng bán gì cũng mua hết. Tuy nhiên tình hình loạn nông dân Đặng Đình Siêu và Võ Đình Lục từ 1810 đến 1822 làm tình hình vùng Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ bất an, các phụ nữ xinh đẹp đi buôn có khi mất cả vốn lẫn người. Năm 1811, người bạn thân Tử Minh lại mất, để lại lớp học, vợ và hai con dại, Hồ Xuân Hương phải đảm nhận lớp học Cổ Nguyệt Đường.

Lưu Hương Ký từ đây lưu lại các mối tình xướng họa thơ văn với Tốn Phong, Trần Ngọc Quán, Trần Quang Tĩnh và người chồng Trần Phúc Hiển.

Tốn Phong cùng họ với Phan My Anh, người Hoan Châu huyện Thạch Hà, nơi chánh quán. dòng họ Phan Huy Ích. Bài thơ số 10 Tốn Phong cho Hồ Xuân Hương địa chỉ: Từ biệt trường đình nàng còn nhớ. Ghi lấy Hoan Nam, Thạch Ẩn nhi. Tốn Phong họ Phan Huy tên Huân hay Nam Sơn, Huân là Gió Nam, Phong còn có nghĩa là núi, Núi Nam hiệu là Nham Giác Phu là người ẩn trong núi mà hiểu sự đời. Đến Thăng Long, Tốn Phong ở cạnh hồ Kim Âu nơi Cửa Giám (Văn Miếu), Phan Huy Ích có mở nhà học nơi này, có nhiều thầy dạy họ Phan, như Phan Mậu Hiên, có lẽ Tốn Phong là một người dạy nơi này. Sau khi Gia Long lên ngôi, triều đình Huế mở khoa thi đầu tiên năm 1807 đến năm 1813 mới mở khoa thi Hương thứ hai. Tốn Phong đi thi trường Nghệ, nhưng cả hai khoa đều hỏng. Tốn Phong đã có vợ nhưng tán tỉnh nàng “Lạ mặt dám quen cùng gió nước” tại quán sách, chàng ví mình như như anh thuyền chài lạc Vũ Lăng đến chốn Đào Nguyên, chàng ăn mặc áo xanh lục bảnh bao, xức nước hoa xạ hương : Sương xoa áo lục nhồi hương xạ, dáng đi thơn thớt: Gió lọt cành lê lướt mặt hồ. Nhưng Hồ Xuân Hương trải qua bao kinh nghiệm tình ái : Trong trần mấy kẻ tinh con mắt. Biết ngọc mà trao mới kể cho, nhưng yêu Tốn Phong thì không vì : Tơ nguyệt rày xe ba mối lại, Hỏi khách đa tình nhẽ có hay. Năm canh hồn bướm thêm bơ bãi. Ông tơ bà nguyệt không có tài se được ba mối tơ : chàng, vợ chàng và tôi vào một, Xuân Hương sợ dấn thân vào cảnh khổ một anh đồ nghèo, sợ hãi như cánh bướm bay bơ vơ bừa bãi nên từ chối. Năm 1814 gặp lại Xuân Hương, mối tình si đã hết, Xuân Hương đưa tập thơ Lưu Hương Ký cho Tốn Phong đề tựa, và kể chàng nghe những mối tình, chàng cũng cầu chúc cho Xuân Hương sớm hạnh phúc với Tham Hiệp Yên Quảng Trần Phúc Hiển. Chàng trở về Hoan Châu với lời thề như Tư Mã Tương Như, không lập công danh không trở lại qua cầu này, chàng đã thi hỏng, từ đó không còn trở lại gặp Xuân Hương và bạn Cư Đình ở Thăng Long.

TÌNH BẠN HỒ XUÂN HƯƠNG VÀ PHẠM ĐÌNH HỔ (1768-1839)

Phạm Đình Hổ là một cây bút tài hoa, Vũ Trung Tùy Bút, chuyện viết lan man trong ngày mưa, ông mô tả toàn cảnh xã hội Việt Nam, ngày nay muốn tìm hiểu về xã hội Việt Nam thời Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương không thể không đọc sách ông.

Phạm Đình Hổ chánh quán xã Đan loan huyện Đường Hào tỉnh Hải Dương, mồ côi cha sớm lúc 10 tuổi, năm Giáp Thìn (1784-1785), ông mới ra du học tại Thăng Long, ông xin được vào Trường Quốc Tử Giám, theo dự các buổi bình văn chưa kịp đi thi thì nhà Lê mất. Ông tục gọi là Chiêu Hổ, chữ Chiêu do Chiêu Văn Quán đời vua Lê Trang Tông (1533-1548) đổi Sùng Văn Quán lập từ đời vua Lê Thánh Tông, nơi tòng học của con quan từ tam phẩm trở lên, tuy nhiên chế độ thụ nghiệp ban hành năm 1492 bỏ lâu không giảng nữa, nhưng vẫn theo tục cũ con quan từ ngũ phẩm trở lên được gọi Chiêu Văn Quán, con quan các hàm cuối gọi là Tú Lâm Cục. Cậu Chiêu, Cậu Tú bắt đầu từ thời này.

Phạm Đình Hổ cư ngụ tại Hàng Buồm, thân thiết với Nguyễn Án cư ngụ gần chùa Lý Quốc Sư, ông dạy học tại thôn Khánh Vân, hạ lưu sông Tô Lịch (nay là xã Khánh Hà). Bài thơ Quá Kim Liên trong Đông dã ngôn thi tập ông cho biết : Bèo dạt làm thân khách cố kinh. Kim Liên qua lại đã bao lần. Chùa Kim Liên bên cạnh Cổ Nguyệt Đường là nơi Phạm Đình Hổ và bạn bè thường đến, có lẽ ông đã từng học với cụ Hồ Phi Diễn, Phạm Đình Hổ có nhiều bài thơ tả một cô gái nhỏ tuổi hơn ông, yêu hoa mai và biết làm thơ và thường đứng trước gương uốn éo như đứt ruột.

Cô gái ấy là ai ? Phạm Đình Hổ trêu cô có tình ý với anh chàng đang viết Đoạn Trường Tân Thanh ? Bài thơ Tống Liên Cừ Mai Công phó Vị Hoàng, ông còn trêu mưa ướt cả hoa mai nở trong mùa hè. mùa hè làm gì có mai, chỉ có Phi Mai khóc sướt mướt.

Khi vua Gia Long lên ngôi, ông tham dự kỳ thi 1807 đỗ Tam Trường, Nguyễn Ḱính đỗ Tứ Trường được bổ làm Tri huyện Phù Dung. Khoa thi 1813 Phạm Đình Hổ thi hỏng, khoa 1919 đang thi thì bị bệnh phải bỏ ra về.

Năm 1821, vua Minh Mệnh ra Bắc, lưu ý khuyến khích việc soạn sách, ông được vời ra diện kiến, ông viết Hành tại diện đối tả cuộc gặp gỡ này, nhân dịp này ông dâng sách được vua ban thưởng được bổ làm Hành Tẩu, một tháng sau thăng Hàn Lâm Viện biên tu. Năm ấy Hồ Xuân Hương chồng đã bị tử hình, trở về Cổ Nguyệt Đường làm câu đối mừng : Mặc áo Giáp cài chữ Đinh, Mậu Kỷ Canh khoe mình rằng Quý. Lấy những chữ trong thập can ý muốn chế giễu Phạm Đình Hổ, không thi đỗ nhưng nhờ dâng sách, nên mặc áo nhà quan ra vẻ ta đây. Chiêu Hổ nổi nóng đối đáp lại bằng lời mắng nặng nề : Là đỉ Càn. Tai đeo hạt Khảm, Tốn Ly Đoài khéo nói rằng Khôn. Lấy những chữ trong Bát quái mắng Hồ Xuân Hương là con đỉ càn dỡ lại còn tự phụ cho rằng mình khôn. Những lời mắng nặng nề đó có lẽ chấm dứt mối liên hệ giữa Xuân Hương và Chiêu Hổ. Hồ Phi Mai từng bị tai tiếng là thèo đảnh, tai tiếng chua cay trong mối tình Mai Sơn Phủ, nay bị mắng là đỉ càn.

HỒ XUÂN HƯƠNG VÀ HIỆP TRẤN SƠN NAM HẠ TRẦN QUANG TĨNH

Trần Quang Tĩnh vốn quê ở Gia Định mới ra Bắc Hà làm quan lần đầu. Hiệp Trấn Sơn Nam Hạ gồm đất Thái Bình, Nam Định ngày nay. Được nghe tiếng Xuân Hương đã đến thăm và tỏ tình qua lại nhiều lần. Tháng 3 năm Kỷ Tị 1809 nhân dịp lên Thăng Long cáo từ quan Tổng Trấn Bắc Thành đã ghé thăm Xuân Hương. Xuân Hương làm tiệc tiễn chân. Trần Quang Tĩnh xướng và Xuân Hương họa lại nàng muốn thoát xác như Sãnh Nương đi theo chàng.

Trần Quang Tĩnh xướng : Nâng chén dưới đèn tiệc tiễn chân. Tơ sầu dằng dặc lặng câm buồn. Cây lặng gió im chim lặng tiếng, Ngoài rèm trăng xế khách kêu ồn, Ta thẹn không tài thơ Bạch Tuyết. Khen bạn duyên cao sinh Cửa Son. Trùng phùng còn biết ngày nao gặp, Ngơ ngẫn tình say vướng mộng hồn.

Xuân Hương đã họa : Gặp gỡ bèo mây dưới nguyệt tròn, Ngỗn ngang sầu vọng nói gì hơn. Phượng Cầu ai gảy đàn đưa ý, Chim Khách kêu chi ngõ vắng buồn. Ai chuộc tiếng kèn về Hán khuyết. Lòng ta luống thẹn biệt Hồ môn. Chia tay giữa tiệc tình lưu luyến. Ngây ngất hồn say mộng Sãnh Nương.

Hai bài thơ nguyên tác chữ Hán dùng điển tích thật khéo léo tài tình.

HỒ XUÂN HƯƠNG VÀ HIỆP TRẤN SƠN NAM THƯỢNG TRẦN NGỌC QUÁN

Trần Ngọc Quán người Quảng Bình, theo vua Gia Long, giỏi văn chương năm 1890 giữ chức Hàn Lâm thị thư và được phong làm Cai Bạ doanh Quảng Đức,( Thừa Thiên sau này). Bốn doanh đất kinh kỳ chức vị đứng đầu là quan Cai Bạ, phụ tá có quan Ký Lục. (nhiều người lầm Nguyễn Du làm Cai Bạ Quảng Bình là người coi địa bạ ruộng đất). Tháng ba năm Ất Hợi 1815 được bổ nhậm chức Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng, đất này gồm hai tỉnh Hà Nội và Hưng Yên về sau. Trị sở ở Châu Cầu, Phủ Lý.

Mối tình Hồ Xuân Hương với Trần Ngọc Quán là mối tình đến muộn, vì nàng đã yêu Tham Hiệp Trần Phúc Hiển. Trần Ngọc Quán nghe tiếng danh nàng từ khi ở Phú Xuân, nên khi đến trấn nhậm Sơn Nam Thượng đã đến thăm nàng:

Tài cao nhã phượng thế gian kinh, Nay đến Long Thành được thấy danh.

Trần Ngọc Quán khuyến khích lập Tao Đàn tại Cổ Nguyệt Đường và được bầu làm Thi Tướng. Hồ Xuân Hương mời thi nhân hội họp ngâm thơ, nhưng cũng có người cười chê nàng là “thèo đảnh”, phụ nữ mà tụ họp nam giới uống rượu ngâm thơ. (Thèo đảnh khen ai khéo đặt cho).

Rằm tháng 7 trung thu năm 1815, Hội Thơ được tổ chức tại phủ đường Châu Cầu, Hồ Xuân Hương sợ bà Hiệp Trấn ghen, ngụ tại phủ đường bà sẽ đối xử “mát mẻ”, ngụ tại quán khách lòng bà sẽ chẳng yên “băn khoăn”. Hồ Xuân Hương làm bài Tặng Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng, để từ chối, nói lên một tâm sự tế nhị phức tạp thật tuyệt tác:

Hẹn thu hẹn nguyệt luống ăn năn, Cái kiếp phù sinh những nợ nần. Cửa viện xuân về hoa mát mẻ, Đài trang nương náu nguyệt băn khoăn. Duềnh xanh nước chảy tin lai láng, Lá thắm gieo thơ bút ngại ngần. Son phấn dám đâu so ngọn bút, Mượn tay thi tướng nhắc đồng cân.

Trần Ngọc Quán mất năm 1818, trong thời điểm cuộc thanh trừng vây cánh Nguyễn Văn Thành vì bài thơ Nguyễn Văn Thuyên. Phải chăng Nguyễn Văn Thuyên thường ra Bắc Hà đã đến cư ngụ nơi Trần Ngọc Quán. Mối quan hệ với vị chỉ huy toàn quân đội Nguyễn Văn Thành, khi làm Cai Bạ vùng đất kinh đô Phú Xuân là điều bình thường, trở thành một mối lo âu khi Nguyễn Văn Thành tự tử, trước áp lực của Tổng Trấn Bắc Thành Lê Chất, phe Lê Văn Duyệt, tôi cho rằng điều này đã dẫn đến cái chết của Trần Ngọc Quán. Thơ văn Tao Đàn Cổ Nguyệt Đường bị đốt, bị cất dấu do ảnh hưởng việc này.

HỒ XUÂN HƯƠNG VÀ TRẦN PHÚC HIỂN.

Trần Phúc Hiển con Trần Phúc Nhàn, giữ chức tham mưu trong quân đội Nguyễn Ánh trước khi chiếm được Phú Xuân, có lẽ tử trận, để đền công khi lên ngôi Gia Long phong cho con là Phúc Hiển chức Hàn Lâm Thị Thư năm 1803, sau đó được thăng dần đến chức Tri Phủ Tam Đái, Việt Trì ngày nay, thuộc trấn Sơn Tây, tháng 12 năm 1813 được thăng chức Tham Hiệp trấn Yên Quảng. Hồ Xuân Hương quen biết Trần Phúc Hiển từ khi còn là Tri Phủ Tam Đái. Một bài thơ không tựa, ghi dấu sự kiện này : Trăm năm gặp gỡ là bao nã, Thắc mắc sầu riêng khó gỡ ra.

Phép trị gia ngày xưa vợ cả không theo chồng tại chức mà ở lại quê chăm sóc gia trang, Phúc Hiển rời phủ Tam Đái dòng thuyền qua Thăng Long để đi Yên Quảng nhậm chức mới, để rủ bạn tình cùng đi, đến gần trấn lỵ sông Bạch Đằng, Phúc Hiển để bạn tình trở lại Thăng Long và hẹn sẽ rước nàng về làm vợ, nhưng mẹ Xuân Hương mất trong thời gian này, Xuân Hương phải cư tang, nên năm 1816, Trần Phúc Hiển mới trở lại cưới Hồ Xuân Hương, về Hạ Long nàng tham dự việc quan cùng chồng, thời gian này Xuân Hương viết các bài thơ vịnh cảnh Hạ Long, cảnh Đồ Sơn, Sầm Sơn bằng chữ Hán. Năm 1818 nhân việc ruộng Châu Vạn Ninh bị bỏ hoang nhiều, do dân bỏ đi làm nghề chài lưới được nhiều lợi hơn, Quan Tham Hiệp ép dân trở về cày ruộng, dân không chịu. Viên Án Thủ Dung vốn có tị hiềm xui dân kiện Phúc Hiển đòi ăn hối lộ 700 quan tiền, Phúc Hiển bị bắt. Vua Gia Long phê án “Tham nhũng như thế mà không giết thì lấy gì khuyến liêm” và bảo quan Bắc Thành trị tội. Phúc Hiển bị giam một năm đến tháng 5 năm 1819 thì bị tử hình.

Cùng một thời kỳ, xãy ra các vụ án bài thơ của Nguyễn Văn Thuyên, vì có câu : “Giúp nhau thay đổi hội cơ này”. Thuyên bị án chém, cha là Trung Quân Nguyễn Văn Thành, thống lĩnh toàn quân đội phải tự tử, Thầy dạy là Vũ Trinh, anh rể Nguyễn Du làm quan Hữu Tham Tri Bộ Hình bị án giảo, được giảm án đày đi Quảng Nam năm 1828 mới được ân xá. Thượng Thư Bộ Binh Đặng Trần Thường bị xử thắt cổ (án giảo), Nguyễn Gia Cát Tham Tri Bộ Lễ, Vũ Quý Đĩnh Thiêm Sự Bộ Lễ cũng bị án giảo. Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán cũng chết có lẽ tự tử.. Các vụ án mang nhiều nghi vấn một cuộc thanh trừng phe phái với phe Tả Quân Lê Văn Duyệt, Lê Chất, Án Thủ Dung và phe Trung Quân Quân Nguyễn Văn Thành. Vua Gia Long khi về già, lo sợ uy quyền các công thần lấn lướt, nên hành xử theo lối “được chim bẻ ná, hết thỏ thịt chó săn”, việc này thường xãy ra trong các triều đại Trung Quốc và Việt Nam. Phúc Hiển là người được Nguyễn Văn Thành che chở. Xuân Hương có mặt trong vụ xử tử chồng. Trong một bản văn Nôm cổ bài Khóc chồng có hai câu : Hạt sương dưới chiếu chau mày khóc. Giọt máu trên tay mĩm miệng cười. Xuân Hương đã khóc cười điên dại bên xác chồng.

Khi Trần Phúc Hiển bị nạn lúc đó Trần Quang Tĩnh trở ra làm Tào Binh Bắc Thành, Tham Tri Bộ Binh, Hồ Xuân Hương có đến cầu cứu, nhưng quan Tham Tri lánh mặt. Bài Bán Chẩm Thư Hoài Hồ Xuân Hương viết: “ Ngâm khách thế thần đâu sắc tướng. Tình ma không sức đuổi sầu binh”. Người bạn tình từng ngâm thơ đã lánh mặt, và nàng bị lính hầu xua đuổi.

Tương truyền sau khi chồng mất, Hồ Xuân Hương có vào chùa Giải Oan núi Yên Tử, nhưng rồi không hợp cảnh thiền môn, nàng trở về làng Nghi Tàm vài năm sau năm 1822 thì mất, hưởng dương 51 tuổi. Mộ được chôn tại nghĩa địa Đồng Táo trước chùa Kim Liên.

Hai mươi năm sau năm 1842, Miên Thẩm Tùng Thiện Vương theo anh vua Thiệu Trị ra Hà Nội tiếp sứ sang phong vương. Vương thăm Hồ Tây có viết 14 bài thơ tứ tuyệt thể liên hoàn Long Biên Trúc Chi từ trong Thương Sơn thi tập có đoạn viết về mộ Hồ Xuân Hương.

Đầy hồ rực rỡ hoa sen nở, Sai đứa hoa nô hái cúng dường. Chớ trèo qua mộ Xuân Hương nhé, Suối vàng nàng vẫn xót xa duyên. Phấn rữa hoa tàn trơ một nấm, Xuân Hương đã khuất cỏ mồ xanh, U hồn say mãi nay chưa tỉnh, Xuân qua mấy độ gió vô tình.

Năm 1869, Tam Nguyên Vị Xuyên Trần Bích San (1840-1878) viết Xuân Đường Đàm Thoại, một thể văn hư cấu tạo nên hai nhân vật Hùng Lĩnh Xuân Mai và Hoa Đường Ngọc Như tượng trưng cho Nguyễn Du và Phạm Quý Thích, mỗi người làm một bài phú tán tụng Hồ Xuân Hương. (Đặng Trần Côn trong Tùng Bách thuyết thoại và Đoàn Thị Điểm trong Hải Khẩu linh từ, từng viết thể văn hư cấu này).Trần Bích San đã nói tới mối tình Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du, qua Hùng Lĩnh Xuân Mai: “Xuân Hương là một nữ lưu phù hoa, vẻ mặt như hoa đào, nhan sắc như nước mùa thu. Tôi lúc trẻ đã có một dạo giao du. Nào đàn, nào cờ, nào rượu, nào thơ, có thể viết nên một thiên “Phong tình tân lục”.

Về sau khi đắp đường Cổ Ngư, mực nước Hồ Tây lên cao, ngôi mộ Xuân Hương tại nghĩa địa Đồng Táo xây bằng đá vôi, chìm xuống lòng nước khoảng một thước. Khi Cuba xây dựng khách sạn Thắng Lợi dưới nước còn ngỗn ngang mồ mã. Nhiều người đi câu làng Nghi Tàm còn cho biết họ từng đứng trên các ngôi mộ đá vôi. Việc hạ lại mực nước Hồ Tây, xuống trở lại mực nước cũ không phải là chuyện khó khăn ngày nay.

Kỷ niệm 250 Hồ Xuân Hương, không gì quí bằng đề án xây dựng lại Cổ Nguyệt Đường gần chùa Kim Liên thành một viện bảo tàng, sưu tập thơ văn Hồ Xuân Hương được phổ biến trên thế giới, với một công viên cây cảnh như Tốn Phong viết trong thơ và đưa mộ Hồ Xuân Hương ra khỏi lòng nước Hồ Tây và dựng lại ngôi Gác Tía cạnh đình làng Nghi Tàm nơi Nguyễn Du từng ở ba năm tình với Xuân Hương. Thành phố Hà Nội có thêm một di tích văn hóa quí báu cho khách du lịch bốn phương trời đến thăm và tưởng nhớ hai thi hào lớn của dân tộc từng sinh sống tại kinh đô Thăng Long nghìn năm văn hóa.

TÀI LIỆU THAM KHẢO TÓM LƯỢC :

BÙI HẠNH CẨN. Hồ Xuân Hương Thơ chữ Hán, chữ Nôm và giai thoại. Nxb Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội 1995.

DURAND MAURICE . L ́ Oeuvre de la poétesse vietnamienne, Hồ Xuân Hương. Eds EFEO Paris 1968.

HOÀNG XUÂN HÃN. Hồ Xuân Hương với Vịnh Hạ Long. Về Tình sử và thơ văn Hồ Xuân Hương. Tạp chí Khoa Học Xã Hội Số 10 và 11 tháng 12-1983.

NGUYỄN DU. Thơ chữ Hán. Văn Học Hà Nội 1965,

NGUYỄN VĂN HANH. Hồ Xuân Hương tác phẩm, thân thế và văn tài. Ipr Aspar. Sài Gòn 1937.

PHẠM ĐÌNH HỔ. NGUYỄN ÁN . Tang Thương Ngẫu lục. TTHL Saigon 1971

PHẠM ĐÌNH HỔ. Vũ Trung Tùy Bút. Bản dịch Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến. Đông Nam Á Paris tái bản.

PHẠM TRỌNG CHÁNH. Hồ Xuân Hương , Nàng là ai ? Eds Khuê Văn. Paris. 2001

TRẦN THANH MẠI. Bản Lưu Hương Ký và lai lịch phát hiện nó, TCVH.11-1964 tr69-78.

XUÂN DIỆU Các nhà thơ cổ điển Việt Nam. Tập II Hồ Xuân Hương nxb Văn Học.1982.

Cứu Cánh & Phương Tiện-Tưởng Năng Tiến

Cứu Cánh & Phương Tiện-

Tưởng Năng Tiến

Cùng với vài chục tờ báo quốc doanh khác, Người Lao Động (số ra ngày 15 tháng 11 năm 2021) cũng trân trọng đưa tin:

“Trao Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng cho thân sinh Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc. Cụ Nguyễn Văn Hiền (SN 1917, quê xã Quế Phú, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam) từ khi còn trẻ đã tích cực tham gia các phong trào của Hội Thanh niên phản đế tại địa phương. Cách mạng Tháng Tám thành công, đồng chí hết mình cống hiến cho Đảng, Nhà nước và được kết nạp Đảng vào năm 1947, kinh qua nhiều vị trí lãnh đạo quan trọng tại địa phương và các cơ quan, đơn vị.”

Bản tin thượng dẫn – dường như – không được công luận tán thưởng hay lưu tâm gì lắm, trừ bỉnh bút Sơn Trà của trang VNTB :

Nhìn hình ảnh một cụ ông sinh năm 1917 nằm thiêm thiếp trên giường bệnh y tế với sắc mặt hom hem, mắt nhắm nghiền, miệng không thể khép kín…, mang đến cảm giác bất nhẫn khi dùng những hình ảnh đó phục vụ tuyên truyền cho nghi thức có tên “trao huy hiệu đảng”… nhờ vào tin tức trao huy hiệu 75 năm tuổi Đảng, công chúng biết rằng chủ tịch Nguyễn Xuân Phúc đang có thân phụ phải sống cuối đời trên giường bệnh với những hom hem rất thương tâm. Trong tình cảnh ấy, cụ ông vẫn phải buộc sắm vai veston – cravat để nhận huy hiệu Đảng chụp hình đăng báo để phục vụ tuyên truyền chính trị.

Về lý thuyết, theo khoản 1 Điều 32 của Bộ luật dân sự 2015 thì: “Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình. Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý”… Trong trường hợp như cụ ông Nguyễn Văn Hiền thì ở tuổi 104, sức khỏe tâm thần của cụ dường chừng không còn đủ sức đưa ra bất kỳ quyết định nào. Như vậy ở đây không khó nhận ra người quyết định thay cụ, chính là người con trai đang làm chủ tịch nước.

Chuyện pháp lý thì “bao la” quá, tôi vốn dốt luật nên xin được miễn bàn thêm. Vấn đề, nếu chỉ nhìn ở góc cạnh đạo lý, cũng đủ khiến cho nhiều người bất nhẫn khi thấy một ông cụ đang thiêm thiếp trên giường bệnh cùng với thằng con – mặt trơ, trán bóng – đứng tươi cười bên cạnh!   

Ông Hiền không phải là nhân vật đầu tiên (hay duy nhất) đã nằm trong cái tình trạng đáng thương và trớ trêu như thế. Hoàn cảnh của Võ Nguyên Giáp, lúc đã gần đất xa trời – xem ra – cũng rất khó coi và bất nhân không kém.

Ông cũng bị dựng dậy, bắt mặc quân phục, đeo huy chương, và tuy “mắt đã nhắm nghiền” nhưng vẫn bị dí vào mặt một lá thư mời (tham dự Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội) dù chắc là cụ đang mặc tã, và không còn sức lực để có thể tự đứng dậy một mình được nữa.

Binh nghiệp (cũng như sự nghiệp chính trị) của Võ Nguyên Giáp kể như là chấm hết, sau khi ông buộc phải từ bỏ chức vụ Bộ Trưởng Quốc Phòng và trở thành Chủ Tịch Ủy Ban Sinh Đẻ Có Kế Hoạch – theo ghi nhận của dân gian :

Ngày xưa đại tướng cầm quân
Bây giờ đại tướng cầm quần chị em

Nhờ cái hào quang “cầm quân ngày xưa” (cùng thái độ vô cùng nhịn nhục khi bị bắt phải cầm quần) nên tuy thất thế Võ Nguyên Giáp vẫn được sống bình an. Đám con cháu cũng nhờ vào chút “dư âm” này để dễ bề xoay sở làm ăn, và đều ăn nên làm ra cả. Bởi thế, việc chúng tận tình khai thác cái xác sống của ông (cho mãi đến hơi thở cuối cùng) không phải là chuyện lạ.

Có lạ lùng chăng chỉ là cách ứng xử bất cận nhân tình của Nguyễn Xuân Phúc vào lúc này thôi. Ở cương vị Thủ Tướng, rồi đương kim Chủ Tịch Nước, ông có còn thiếu thứ chi đâu mà vẫn cứ dựng cái thi thể (“mắt nhắm nghiền, miệng không thể khép kín”) của thân phụ mình dậy “để chụp hình đăng báo phục vụ cho tuyên truyền chính trị”!

Tuyên truyền cho cái gì vậy, hả Trời? Bộ muốn thêm tên NXP vô danh sách của Nhị Thập Tứ Hiếu chắc?

Đúng là hết khôn dồn đến dại!

Thế mới biết tại sao mà quyền lực và danh lợi vẫn thường được ví như ma túy. Bao nhiêu cũng không vừa. Không ít kẻ còn chỉ vì chút lợi danh mà có thể đấu tố cha mẹ nữa cơ.

Wikipedia tiếng Việt, tuy luôn được biên soạn theo đúng khẩu vị của dân Ba Đình – Hà Nội, vẫn có đoạn đáng chú ý như sau :

Trong cải cách ruộng đất, Chu Văn Biên được xem là người thực hiện nghiêm túc nhưng cũng khét tiếng hiếu sát. Theo hồi ký Đèn cù của Trần Đĩnh, ông là người đã đấu tố cả mẹ mình khi là bí thư đoàn ủy cải cách ruộng đất Nghệ Tĩnh, ông ngồi trên thềm cao chỉ tay mẹ mình nói: “Tao với mi không mẹ không con mà chỉ là kẻ thù giai cấp của nhau. Tao có phận sự tiêu diệt mi mà mi thì sẽ nhất định chống lại”… Bà mẹ cắn lưỡi không chết, ít lâu sau nhảy giếng tự tử. Nhờ thành tích giết mẹ đó, Chu Văn Biên được đảng trao chức Thứ trưởng Bộ nông nghiệp!

Một đảng viên cộng sản Việt Nam có thể giết cả mẹ đẻ chỉ vì danh lợi nên không có gì ngạc nhiên khi toàn Đảng đã đồng lòng bắt vị “cha già dân tộc” phải nằm phơi thây từ hơn nửa thế kỷ qua, dù dân gian đã vô cùng sốt ruột hay xót ruột :

Vào trong lăng bác âm u
Chị em phụ nữ dở mu ra chào
Ông là đứa mả mẹ nào
Sao không hạ xuống để đào đất chôn ?

G.S Ngô Bảo Châu, một vị trí thức khoa bảng nên nói năng lịch sự và nhỏ nhẹ hơn: “Có quý‎ mến ai thì mong họ thoát khỏi vòng luân hồi, đừng bắt họ sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta.” Đến xác chết của cụ Hồ Chí Minh mà chúng còn không tha thì xá gì mấy cái xác sống của Võ Nguyên Giáp hay Nguyễn Văn Hiền.

Lấy cứu cánh biện minh cho phương tiện vốn là châm ngôn của người cộng sản. Họ có thể dùng ngay cả xác chết của lãnh tụ, hay xác sống của chính tứ thân phụ mẫu để “củng cố” hay “che chắn” cho chuyện lợi danh thì cũng … OK. Mọi người đều có quyền tự do hành xử theo quan niệm sống của riêng mình.

Tuy nhiên, khi nhân danh một thứ cứu cánh thổ tả gì đó rồi dùng mồ hôi nước mắt và xương máu của cả dân tộc – từ thế hệ này qua thế hệ khác – để làm phương tiện (mà chưa biết đến đời kiếp nào mới thực hiện xong) thì lại là chuyện khác, gian manh thấy rõ:

Gần nửa thế kỷ trước, hồi năm 1973, Nguyễn Chí Thiện đã khẳng định rồi:

Đảng thực chất chỉ là Đảng cướp!

Nguyễn Chí Thiện đã tri hô lên như thế từ lâu. Cái giá mà bọn cướp bắt ông phải vì đã chỉ mặt và đặt tên cho chúng, tất nhiên, không rẻ. Tuy thế, từ đó đến nay – thỉnh thoảng – vẫn có nhiều người Việt tiếp tục công việc hiểm nguy này.

Nhân vật mới nhất, nhà báo Nguyễn Thông lại vừa lên tiếng nhắc nhở về cái sự thực trần trụi và phũ phàng này, vào hôm 21 tháng 11 năm 2021 (từ Việt Nam)

Thứ chủ nghĩa xã hội bánh vẽ vĩ đại mà các ông bà ấy theo đuổi tới nay đã hai phần ba thế kỷ rốt cục chỉ đem lại nghèo đói, lạc hậu, nội chiến, chiến tranh, xâu xé đất đai, tan rã rường mối xã hội, dân chúng bất hạnh, kìm hãm đất nước chậm tiến hàng chục năm, thậm chí cả trăm năm so với cả rất nhiều quốc gia khác… Nếu nó (chủ nghĩa xã hội) có đem lại chút gì “tích cực” thì chính ở chỗ đã tạo được cuộc sống đế vương cho tầng lớp lãnh đạo, mà trường hợp xơi thịt bò dát vàng là ví dụ rõ nhất.

Liệu dân Việt sẽ vẫn cứ tiếp tục nhẫn nhịn sống với “đám đế vương” này thêm bao lâu nữa?

Tưởng Năng Tiến
12/2021

TẠI SAO ĐẾN GIỜ VẪN CÒN NGƯỜI VIỆT VƯỢT BIỂN TỴ NẠN?

Van Pham

TẠI SAO ĐẾN GIỜ VẪN CÒN NGƯỜI VIỆT VƯỢT BIỂN TỴ NẠN?

Có người hỏi tại sao đến hôm nay vẫn còn người Việt vượt Biển để xin tỵ nạn?

Điều này dễ hiểu, bởi nhà nước XHCNVN luôn nhìn người dân Việt, đặc biệt dân miền Nam VN với con mắt thù ghét nếu không nói là “hận thù”.

Họ luôn xem dân Việt như là “Giặc” là “Phản Động”. Như vừa qua chống dịch Covid-19 họ phát động khẩu hiệu “Chống Dịch Như Chống Giặc” và đưa hàng ngàn, chục ngàn Bộ Đội từ miền Bắc với xe tăng, thiết giáp vào Nam, vào Saigon để lùa “Giặc F0, F1, F2” tập trung vào một nơi để dễ truyền nhiễm và mau chết…. Vì họ có chữa trị gì đâu với mấy viên thuốc, có lẽ là Xuyên tâm Liên?

Trong số gần 30K sinh mạng bị chết trong đợt dịch vừa qua hết 4/5 số người là bị chết oan bởi chế độ xem họ là giặc…

Trong khi đó, 3 gia đình được chính quyền Indonesia và Cao Ủy Tỵ Nạn tại Indonesia cho cư ngụ với chổ ăn ở, suốt gần 4 năm. Các cháu nhỏ được đi học, người lớn học Anh văn và mọi người cũng được chích ngừa Covid-19 vaccine. Họ cũng thông cảm cho hoàn cảnh phải bỏ đất nước ra đi mà dễ dãi cho anh Trần Văn Yên bị bắt vì đánh cá bất hợp pháp trong hải phận Indonesia… nhưng không bị tù tội mà còn được cho đoàn tụ với vợ là gia đình chi Trần Thị Phúc. Là gia đình đã đến định cư tại Canada hôm 02-12-2021 vừa qua (xin xem bài tường thuật và hình ảnh…)

Như thế chúng ta so sánh hai nhà nước Việt Nam & Indonesia, xem ai đối xử với người Việt với tình thương đồng loại, ai đối xử với dân như giặc, như phản động?

Thêm một điều, tại sao hầu hết là phụ nữ và trẻ em đến tại Indonesia lại dễ dàng được Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ chấp thuận cấp cho “quy chế tỵ nạn”? Vì thường họ là thành phần ít bị chế độ đàn áp.

– Thưa là, chính cái chế độ XHCNVN đã lươn lẹp, thất hứa với chính phủ Úc là sẽ không trừng phạt những người bị nước Úc trả về. Nhưng sau khi nhận tiền xong là chế độ đưa họ ra Tòa quy chụp tội và bắt bỏ tù họ. Chính vì thế rõ ràng là họ bị chế độ đàn áp không thể chối cãi, nên Cao ủy LHQ đã nhanh chóng cấp quy chế tỵ nạn cho họ….

Chính vì thế “cây cột điện biết đi thì nó cũng tìm cách để ra đi….

HÌNH:

– Gia đình chị Trần Thị Phúc được tiếp đón khi đến Toronto, Canada. Anh Trần Văn Yên (được Phóng viên Vũ Nhuận phỏng vấn) là thuyền viên đánh cá bị Indonesia bắt khi đánh cá bất hợp pháp trong hải phận. Nhưng được chính quyền Indonesia không những tha bổng mà còn cho phép đoàn tụ với vợ con đang sống trong trại tỵ nạn tại thủ đô Jakarta…

– Lực lượng quân đội và công an duy trì giãn cách xã hội ở quận Gò Vấp, TP Hồ Chí Minh.

https://www.qdnd.vn/…/bai-2-gian-cach-xa-hoi-chong-dich…

Cô gái vót chông, hay là hội chứng “khổ dâm” Việt-Mỹ

Cô gái vót chông, hay là hội chứng “khổ dâm” Việt-Mỹ

Bởi  AdminTD

Tuấn Khanh

2-12-2021

Câu chuyện của nữ thí sinh hoa hậu Miss World đi thi trên vùng đất thuộc lãnh thổ chưa hợp nhất của Mỹ (Unincorporated territories), nhưng cất lên bài hát chống Mỹ, là minh họa rõ nét nhất của mối quan hệ vật vã Việt – Mỹ lúc này. Mối quan hệ được nhìn thấy rõ nét hai chiều “khổ dâm” của một nhà cầm quyền: Thích nhích lại gần Mỹ nhưng luôn hô hào chống Mỹ và tận dụng mọi cơ hội để phủ nhận nước Mỹ.

Việc quyết định sắp xếp bài hát có nội dung chống Mỹ cho một thí sinh dự thi quốc tế, chắc chắn là có suy xét nhiều thứ từ những người ở Hà Nội, “những người” mà trong cuốn hồi ký Nothing Is Impossible của cựu Đại sứ Ted Osius vẫn ám chỉ, là một phía của phe bảo thủ vẫn còn muốn ôm ấp những kỷ niệm chiến tranh, không thể rời bỏ. Bởi đơn giản, nếu lấy đi phần đó trong cuộc đời của họ, sự tồn tại của họ trong thể chế hôm nay là vô nghĩa.

Phía bảo thủ trong nội bộ cầm quyền Việt Nam – câu hỏi là bao nhiêu? Và họ quan trọng như thế nào, đến mức những hình thức chống Mỹ quái gở vẫn phải được giữ gìn qua các hoạt động ngày thường? Một dư luận viên rời bỏ bị trí, kể rằng anh ta được gọi vào nhóm xây dựng các kênh trá hình kể chuyện lịch sử, hay những câu chuyện chiến tranh Việt Nam trên YouTube, TikTok…, với những phim tư liệu mang nội dung chống Mỹ, chê bai Việt Nam Cộng Hòa, ngợi ca quân đội Bắc Việt… Tất cả được cung cấp sẵn, chỉ cần đọc, post hình ảnh lên các kênh và kéo link cho các nhóm dư luận viên phong trào tràn vào like và ca ngợi. Ngôn ngữ trong đó thì thoải mái chửi bới, áp đảo tinh thần của những ai vô tình lạc vào nói lại, đính chính những điều bị bóp méo.

“Em thấy mình không theo nổi trò đó, vì mọi thứ đều bị xuyên tạc”, bạn dư luận viên đó nói về quyết định rời bỏ của mình. Những gì được kể từ bạn ấy, cho thấy từ việc sửa Wikipedia, cho đến các kênh viết lại lịch sử và phong trào tham gia bình luận, đều có những chỉ đạo rất cụ thể.

Dĩ nhiên, hoạt động hai chiều đó của Hà Nội vẫn nằm trong tầm ngắm và ghi chép của các nhà ngoại giao trên đất Việt Nam, như hiện trạng của một con bệnh lâu năm. Trên trang Facebook chính thức của Tòa Đại sứ Mỹ hay Liên Minh Châu Âu tại Việt Nam, vẫn thường có hàng trăm bình luận hằn học, mà chủ yếu là bày tỏ sự tức giận, khinh miệt, mỗi khi các cơ quan ngoại giao này lên tiếng về vấn đề nhân quyền hay thời sự của Việt Nam. Dĩ nhiên, không có bình luận nào thật sự có ý nghĩa về mặt phản biện, mục đích chính chỉ là tạo không khí chống phương Tây.

Hiện trạng này trở nên ấu trĩ và mỉa mai, khi các hoạt động ngoại giao nối kết và trợ giúp từ Mỹ (và các nước) diễn ra. Nhất là khi giọng điệu của các quan chức cấp cao của Việt Nam cũng ra vẻ nồng ấm, cần thiết với các mối quan hệ này.

Vào lúc mà cô thí sinh hoa hậu Miss World trình diễn bài hát “thằng giặc Mỹ cọp beo” cũng là lúc mà nước Mỹ đã bảy lần yểm trợ cung cấp vaccine cho Việt Nam trong đại dịch, với hơn 15 triệu liều. Lời giới thiệu về bài “Cô gái vót chông” đã làm bẽ bàng và gần như tê liệt mọi giới dư luận viên: Không ai lên tiếng bênh vực được cho hành động của Hà Nội trong việc cài đặt bài hát chống Mỹ ngớ ngẩn như vậy.

Sự kiện này nhắc cho nhiều người nhớ về hành động của ông Phạm Quang Nghị, Bí thư Thành ủy Hà Nội, vào năm 2014, khi ông này trơ trẽn tặng cho Thượng nghị sĩ John McCain bức ảnh máy bay bị bắn rơi vào năm 1967. Dĩ nhiên, cách mà ông Nghị chọn cho in và ép nhựa, rồi mang tận Mỹ để tặng, là một sự tính toán rất rõ không chỉ riêng ông. Nền chính trị Việt Nam, với cách thức thảo luận tập thể và ý kiến thể hiện quan điểm chung, cho thấy rõ là phe bảo thủ đang thắng thế vào lúc đó. Họ đã hành động mà không ngại ngùng gì đến thể diện của một đảng cầm quyền.

Hầu hết nhà bình luận thời sự đều nhận thấy cán cân đối ngoại của Việt Nam trong việc nhích về phía nước Mỹ và phương Tây đang ngày càng lộ rõ, và Hà Nội cũng không giấu giếm gì trong các kế hoạch tái thiết sau đại dịch: Chưa bao giờ các chuyến đi công du Trung Quốc lại ít như lúc này, so với việc từ Thủ tướng, Chủ tịch nước đến Chủ tịch Quốc hội Việt Nam đều lăn xả về phía các nước tư bản và các quốc gia có “thế lực thù địch”.

Vậy đó, nhưng chạy đến và ngợi ca về sự phát triển ngoại giao của đôi bên vẫn không ngăn được các trò chửi bới và chống Mỹ trong nước. Sách giáo khoa vẫn dạy về “giặc Mỹ cọp beo”, các lệnh diễn tập chống lật đổ của quân đội vẫn nói về “kẻ thù tư bản”. Một lúc nào đó không may, khi các nhà lãnh đạo Việt Nam đang đi công cán ngoại quốc và được đặt câu hỏi về tình trạng hai mặt này, không hiểu họ sẽ trả lời thế nào. Chắc chắn mọi sự diễn đạt, dù như thế nào cũng sẽ không thể thoát khỏi hình ảnh khổ dâm trong mối quan hệ Việt-Mỹ: Muốn nhích tới gần, nhưng miệng thì vẫn kêu gào phản đối.

XIN CHÚC MỪNG GIA ĐÌNH CHỊ TRẦN THỊ PHÚC GỒM 5 NGƯỜI ĐÃ ĐẾN ĐỊNH CƯ TẠI CANADA

Tại sao gần nửa thế kỷ rồi mà người Việt vẫn còn phải trốn chạy khỏi thiên đường XHCN ưu việt? Tại sao và tại sao?

Van Pham is with Nancy Bui 

 XIN CHÚC MỪNG GIA ĐÌNH CHỊ TRẦN THỊ PHÚC GỒM 5 NGƯỜI ĐÃ ĐẾN ĐỊNH CƯ TẠI CANADA

Đây là chuyến Tàu xuất phát từ Bình Thuận, Việt Nam gồm có 3 gia đình hầu hết là phụ nữ và trẻ con. Vì họ đi lần thứ nhất đến Úc, nhưng bị nước Úc trục xuất về lại VN. Nhưng sau đó họ đã bị nhà nước VN bắt giữ và đưa họ ra Tòa kết án tù mấy năm… (Đặc biệt, chế độ đã thất hứa với nước Úc là không truy tố và bắt tù tội một ai. Chính vì thế khi 3 gia đình này đến Indonesia họ dễ dàng được Cao ủy LHQ chấp nhận quy chế Tỵ Nạn….)

May là họ đang nuôi con nhỏ nên được hoãn, chỉ có người chồng và những người thành niên không vướng bận bị đi tù trước. Vì thế họ lại tìm đường ra đi lần thứ 2.

Khi ngang qua địa phận Indonesia thì thuyền họ bị mắc cạn và được chính quyền Indonesia cứu đưa vào bờ và sau đó được bà Shira Sebban và cô Grace Bùi giúp cho họ được gặp Cao ủy LHQ phỏng vần và được cấp quy chế Tỵ Nạn.

Sau đó tôi cùng với Bs Bùi Trọng Cường (Chủ tịch BCH/Cộng đồng NVTD Queensland và một số ace thiện nguyện đứng ra tổ chức Ủy Ban Bảo Trợ Người Việt Tỵ Nạn Queensland (UB BTNVTN QLD). Sau đó đã tổ chức quyên góp được một số tiền vài chục ngàn đô, những mong bảo lãnh cả 3 gia đình sang Úc định cư.

Tuy nhiên thời điểm 4 năm về trước cho đến hiện nay, chính phủ Úc tuyệt đối không nhận bất cứ ai đi tỵ nạn bằng thuyền được định cư tại Úc. Vì thế sau khi bàn thảo và hội ý với bà Shira, chúng tôi quyết định nhờ Voice Canada đứng ra bảo lãnh cho 3 gia đình này.

Cũng theo đề nghị của bà Shira là với những chi phí mà Bộ Di Trú Canada đưa ra thì số tiền quyên góp được chỉ đủ để bảo lãnh cho 1 gia đình ít người nhất. Do đó gia đình chị Phúc đã được chọn…. và hôm nay đã đến định cư tại thành phố Toronto và đã được anh chị em Voice Canada và Cộng đồng Người Việt tại Canada tiếp đón từ phi trường và đưa về nơi ở đã được sắp xếp trước (xin xem hình).

Còn 2 gia đình kia theo tôi cũng đã được Voice Canada bảo lãnh và công việc tiến hành thế nào, chúng tôi sẽ hội ngộ qua Telephone Conference để cùng bàn tính… hy vọng hai gia đình còn lại cũng sẽ mau chóng lên đường. Vì họ cũng đã được phái đoàn Canada phỏng vấn và khám sức khỏe.

Chúc mừng gia đình chị Phúc và cám ơn Voice Canada.

Điều này cũng minh chứng cho những lập luận đánh phá Voice Canada đều là những luận điệu xuyên tạc và phá hoại.

Chính quyền Canada vẫn tin tưởng Voice Canada trong những việc làm nhân đạo này.

Cũng nhân việc này, chúng ta cùng nhận định những người chủ trương đánh phá Voice là ai, mà lại muốn phá hoại tổ chức the Voice để họ không còn có thể bảo trợ cho đồng hương đang còn kẹt lại tại Indonesia ( 2 gia đình) và tại Thái lan có vài chục gia đình đã nằm chờ ít ra từ 2 năm trở lên cho đến cả chục năm? Họ nếu không là tay sai VC thì họ là ai, xin bà con cho ý kiến?

Cuối cùng thay mặt Ủ Ban Bảo Trợ Người Việt Tỵ Nạn Queensland, xin trân trong cảm ơn Voice Canada, bà Shirra Sebban, chị Grace Bùi, anh Đoàn Viết Trung, Bs Bùi Trọng Cường và toàn thể các thành viên Ủy Ban Bảo Trợ Người Việt Tỵ Nạn Queensland cùng toàn thể mạnh thường quân tại tiểu bang Queensland, Úc châu đã đóng góp tài chánh trong việc bảo trợ này….

Trân trọng

Van H Pham,

Trưởng Ủy Ban

HÌNH:

– Gia đình chị Trần Thị Phúc được Voice Canada và Cộng đồng Người Việt tại Canada tiếp đón khi mới xuống phi trướng Toronto

– Gia đình chị Phúc được nhân viên của cơ quan IOM Indonesia đón rước từ nơi ở, đưa ra phi trường, lấy boarding pass và hướng dẫn những thủ tục trước khi lên phi cơ để đến Canada…

-Vé máy bay cho gia đình chị Trần Thị Phúc lên đường lúc 9:40 tối 01-12-2021 từ phi trường Quốc tế Indonesia đến phi trường Quốc tế Toronto, Canada. Sở dĩ chúng tôi không thông báo tin mừng ngay, bởi muốn gia đình chi Phúc & anh Yên đến nơi bình an để tránh mọi đánh phá không có lợi cho gia đình chị.

(Chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi và tường trình những hình ảnh cuộc sống của gia đình chi Trần Thị Phúc này sau ngày đến sống tại Canada để tường trình cùng bà con…)

“HÃY DỌN ĐƯỜNG CHO CHÚA”

“HÃY DỌN ĐƯỜNG CHO CHÚA”

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Mỗi năm khi Mùa Vọng về, hình ảnh ông Gioan Tẩy giả lại xuất hiện trong phụng vụ.  Ông là con của Bà Elisabét, đã nhảy mừng khi còn là hài nhi trong lòng mẹ, khi Đức Trinh nữ Maria viếng thăm.  Ông là vị Tiền hô đến dọn đường cho Chúa Cứu thế.  Gioan là mẫu mực về sự khiêm tốn, can đảm và trung thành.  Ông nhận mình chỉ là tiếng kêu trong sa mạc.  So sánh với Chúa Giêsu, ông nhận mình giống như người phù rể.  Người phù rể hân hoan trước niềm vui của chú rể.  Là người giới thiệu Chúa Giêsu cho mọi người, ông hạnh phúc khi thấy người ta tuôn đến cùng Chúa và đón nhận giáo huấn của Người.  Dù chỉ là tiếng kêu trong sa mạc hoang vu, Gioan Tẩy giả vẫn kiên trung trong sứ mạng dọn đường.  Ông kêu gọi “Mọi thung lũng, phải lấp cho đầy, mọi núi đồi, phải bạt cho thấp, khúc quanh co, phải uốn cho ngay, đường lồi lõm phải san cho bằng.”  Mọi người nghe Gioan Tẩy giả đều hiểu nội dung của lời kêu gọi này, đó là sửa sọan tâm hồn và ăn năn sám hối để đón chào Đấng Thiên Sai.  Kết quả là từng đoàn người đông đảo khiêm tốn đến với ông và chịu dìm mình trong dòng nước sông Giođan để được ơn tha tội.

Hành trình Đức tin của người tín hữu chính là cuộc tìm kiếm và gặp gỡ với Chúa.  Đây là một hành trình lâu dài, liên lỉ và có nhiều chướng ngại.  Để theo Chúa và trung tín với Ngài, chúng ta luôn phải can đảm vượt qua những chướng ngại đó.  Như những vận động viên chuyên tâm khổ luyện để đạt được vòng nguyệt quế dành cho người chiến thắng, người Kitô hữu phải luôn chiến đấu trong trận chiến thiêng liêng để thuộc trọn về Chúa.  Ông Gioan dùng những hình ảnh cụ thể để diễn tả những cố gắng hoàn thiện bản thân: lấp đầy lũng sâu, bạt thấp núi đồi, nắn thẳng quanh co uẩn khúc.  Kinh nghiệm cho thấy, người ta có thể dễ dàng chiến thắng trong trận chiến với kẻ thù, nhưng lại ngã gục trước cám dỗ của cái tôi ích kỷ và đầy tham vọng.  Cuộc chiến đấu để thanh luyện chính mình là một cuộc chiến đấu dai dẳng, đòi hỏi nhiều cố gắng hy sinh.

Mùa Vọng vừa mời gọi chúng ta nhìn lại mình, vừa nhắc chúng ta hãy nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa.  Những cố gắng nỗ lực để hoàn thiện bản thân và thực thi bác ái sẽ giúp chúng ta bạt núi kiêu ngạo, lấp thung lũng hèn nhát.  Cuộc sống hôm nay có nhiều cám dỗ, quá nhiều khuynh hướng khác nhau, lôi kéo chúng ta đi lạc đường.  Những bon chen bận rộn của cuộc đời dễ làm chúng ta đắp những quả đồi, hoặc khoét sâu khoảng cách đối với anh chị em.  Khi can đảm dẹp bỏ mọi chướng ngại trong tâm hồn, chúng ta sẽ được “nhìn” thấy Chúa và vinh quang của Ngài.  Lúc đó, Chúa sẽ là tất cả của đời sống chúng ta, và chúng ta sẽ chỉ nhìn lên Ngài như định hướng tuyệt hảo duy nhất của cuộc đời.

Lễ Giáng Sinh là ngày lễ của niềm vui, bởi có hạnh phúc nào lớn lao cho bằng được Thiên Chúa hiện diện.  Ngôn sứ Barúc đã khẳng định điều đó (Bài đọc I).  Ông kêu gọi mọi người hãy thay áo tang chế khổ nhục bằng áo choàng công chính.  Vị Ngôn sứ được chiêm ngưỡng một khung cảnh huy hoàng rực rỡ của Giêrusalem trong tương lai.  Muôn dân nước cũng tuôn đổ về thành phố có tên gọi “hòa bình” này để tôn thờ và ca tụng Chúa.  “Vì Thiên Chúa sẽ cho khắp cả hoàn cầu thấy hào quang rực rỡ của Người.”  Đó là thời Chúa tỏ mình ra.  Khi đó, vũ trụ này sẽ không còn đau khổ, nhưng sự bình an và hạnh phúc sẽ như đại dương bao trùm tất cả.  Cùng chung một ý tưởng với Gioan Tẩy giả sau này, Ngôn sứ Barúc cũng kêu gọi mọi người hãy lấp đầy thung lũng, hạ thấp núi cao để có thể nhìn thấy vinh quang Thiên Chúa tỏ hiện.  Lời của vị ngôn sứ đã mang đến cho Israen niềm hy vọng tràn trề, để rồi giữa trăm bề đau khổ, Dân Chúa vẫn vững tin rằng, Đấng Thiên Sai sẽ đến.

Như thánh Gioan Tẩy giả, mỗi người tín hữu cũng được mời gọi trở nên những sứ giả của niềm vui, giữa cuộc đời còn phủ đầy bóng tối và tràn lan bạo lực.  Bí tích Thanh tẩy trao cho chúng ta ba chức năng: Ngôn sứ, Tư tế và Vương đế.  Nhờ ba chức năng này, người tín hữu trở nên những “tiền hô” loan báo và chứng minh cho sự hiện diện của Chúa Giêsu trong cuộc sống, dù bất cứ hoàn cảnh nào.

Trong niềm hiệp thông với Giáo Hội hoàn vũ, chúng ta đang cử hành Thượng Hội đồng Giám mục thế giới ở cấp giáo phận.  Đức Thánh Cha muốn lắng nghe những ý kiến của Dân Chúa từ khắp các châu lục, để đưa ra những định hướng mục vụ phù hợp với bối cảnh thế giới hôm nay.  Là phần tử của Giáo Hội, chúng ta hãy cảm thức với Giáo Hội, chia sẻ niềm vui và những ưu tư trăn trở của Giáo Hội, với ước vọng làm cho Đức Giêsu được nhận biết và tôn vinh.  Chúa Giêsu vẫn đang đến với chúng ta.

Người kiên nhẫn gõ cửa tâm hồn chúng ta.  Có những người nhiệt thành đón tiếp Chúa với con tim nồng ấm, có những người lại từ chối Người với tâm hồn giá băng.  Lịch sử Giáo Hội đã chứng minh: những ai thành tâm đón Chúa sẽ tìm thấy tâm hồn bình an và sẽ trở nên hoàn thiện.  Đức Thán Cha Phanxicô đã viết trong Tông huấn “Niềm vui của Tin Mừng” như sau: “Tôi kêu mời mọi Kitô hữu ở khắp nơi, ngay lúc này, đi vào một cuộc gặp gỡ cá vị và mới mẻ với Đức Giêsu Kitô, hay ít là mở lòng ra để cho Chúa Giêsu gặp gỡ mình; tôi xin tất cả anh chị em không ngừng làm điều này mỗi ngày.  Không ai được nghĩ rằng lời mời gọi này không phải dành cho mình, vì “không một ai bị loại trừ khỏi niềm vui mà Chúa Giêsu đem đến.”  Chúa không làm thất vọng những ai chấp nhận sự liều lĩnh này; mỗi khi chúng ta bước một bước đến gần Chúa Giêsu, chúng ta hiểu ra rằng Người đã đang ở đó, đang mở rộng vòng tay chờ đón chúng ta” (số 3).  Đức Giêsu đã đến trần gian, và giáo huấn của Người làm thay đổi cuộc sống của những ai chân thành đón tiếp Người.  Nơi khác, vị Giáo Hoàng người Achentina cũng khẳng định: “Chúa Giêsu chính là Chân Lý: Chân Lý “đã trở thành nhục thể,” đã đến giữa chúng ta để chúng ta biết Chân Lý ấy.  Không thể nắm bắt Chân Lý như nắm bắt một sự vật.  Chân Lý phải được gặp gỡ.  Đó không phải là một vật sở hữu, nhưng là một cuộc gặp gỡ với một Ngôi Vị.”

Kính thưa Quý vị và Anh Chị Em

Lời mời gọi bạt núi san đồi vẫn vang lên hằng năm.  Tuy vậy, nơi đời sống cá nhân cũng như cộng đoàn, vẫn còn đó những khuyết điểm lỗi lầm.  Trong mối tương quan hằng ngày, người ta vẫn tiếp tục xây những bức tường chia rẽ, vẫn đào những thung lũng hận thù và xây những núi đồi của kiêu ngạo.  Lời Chúa khích lệ chúng ta không nên thất vọng, vì chúng ta có nguồn trợ lực thiêng liêng đến từ Đấng Tối cao.  Chúa Giêsu đã từ bỏ mọi sự để hủy mình ra không, trở nên một trẻ thơ nơi hang đá khó nghèo.  Người đã trở nên nghèo để chúng ta được giàu có; Người đã trở nên yếu ớt để chúng ta được mạnh mẽ; Người đã đón nhận thập giá để chúng ta được vinh quang.  Vì thế, ơn gọi của chúng ta là cố gắng “sống cho tinh tuyền, không làm gì đáng trách, trong khi chờ đợi ngày Đức Kitô quang lâm, nhờ đó chúng ta mang lại hoa trái dồi dào là sống một đời công chính,” như thánh Phaolô nhắn nhủ giáo dân Philiphê (Bài đọc II).

Đức Thánh Cha Bênêđitô XVI đã viết: “Thiên Chúa không ở đâu xa cả.  Ngài không phải là một đấng nào đó không thể mường tượng được, nhưng Ngài ở bên ta.  Ngài đã trở nên một với ta, đụng vào ta, đón nhận ta, cũng như ta đụng chạm được Ngài và có thể đón nhận Ngài” (Thiên Chúa và Trần thế, Tr 227).  Vâng, Đấng Emanuel, Thiên Chúa ở với ta, đó chính là nét mới mẻ của Kitô giáo.  Đó cũng là thông điệp của Mùa Giáng Sinh đang đến gần.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim

SỐ PHẬN MỘT LOÀI CHIM

 

SỐ PHẬN MỘT LOÀI CHIM

Giới thiệu: Sự kiện bài hát chống Mỹ Cô Gái Vót Chông được Hoa Hậu Việt Nam Đỗ Thị Hà biểu diễn tại Puerto Rico gây nhiều phản ứng. Định chế của Puerto Rico trong quan hệ với Mỹ được đặt dưới dạng đặc biệt sau chiến tranh Mỹ-Tây Ban Nha 1898, chưa sáp nhập hẳn thành một tiểu bang của Mỹ nhưng không có chủ quyền của một quốc gia độc lập. Dĩ nhiên trong hệ thống tuyên truyền của đảng CS, việc chọn một bài hát để trình diễn trước một chương trình quốc tế phải bị kiểm duyệt kỹ càng. Đỗ Thị Hà và phái đoàn Việt Nam chọn bài hát và bộ máy kiểm duyệt chấp thuận bài hát. Với mức độ phổ biến do bầy vẹt và hàng triệu chiếc loa phường hét the thé suốt 46 năm qua, Cô Gái Vót Chông dù có lời hay không lời cũng không khác gì nhau. Trong thời điểm Mỹ đang cứu sống Việt Nam với 17 triệu liều vắc xin chống Covid-19, việc trình diễn những bài hát chống Mỹ là hành động ngu xuẩn ngoài tự điển. Nhưng đừng quên vẹt là một loài chim. Mỗi sáng vẹt vẫn hát mừng vui chào đón một ngày mới như được luyện tập từ nhiều năm và không thể biết hôm đó gia đình chủ đang có đại tang. Điều đó cho thấy, dù hiện tượng xã hội có khác nhau giữa Bắc Hàn và Việt Nam, bản chất chuyên chính của hai chế độ vẫn giống nhau. Một em bé Bắc Hàn được huấn luyện để trở thành vẹt và em bé Việt Nam cũng thế. Khác chăng chiếc lồng sắt của em bé Việt Nam rộng và thưa hơn để được nhìn thấy nhiều nét đẹp bên ngoài. Bài viết này viết 16 năm trước trên diễn đàn Talawas nhưng nội dung vẫn không thay đổi vì giống như bầy chim Bắc Hàn, cho tới nay bầy chim Việt Nam vẫn còn hót trong lồng sắt.

———————–

Cách đây không lâu, anh chủ nhiệm của một tờ báo địa phương đến thăm và nghe các con tôi nói chúng thích nuôi thú vật kiểng (pet). Lần sau anh trở lại với một chiếc lồng và hai con chim nhỏ để tặng các cháu. Anh dặn kỹ: “Chim này chỉ nuôi trong nhà, đem ra ngoài gió chúng sẽ chết.” Tôi thật không tin. Chim là phải bay nhảy chứ làm gì ngay cả gió cũng sợ. Tôi đến một tiệm bán chim hỏi lại. Bà chủ tiệm cũng đồng ý với anh chủ nhiệm: “Đây là loại chim được sản xuất theo lối công nghiệp chứ không phải chim sinh nở tự nhiên. Nếu đem ra ngoài trời, chúng sẽ chết vì không thích hợp với môi trường.”

Tôi đành giữ kỹ chim trong nhà. Vài hôm sau, một người bạn cùng quê của tôi tới thăm. Anh nghiêm chỉnh khiển trách: “Mày là Phật tử mà bỏ tù sinh vật. Người ta chẳng ví cảnh tù đày như cá chậu chim lồng đó sao. Phải thả chúng bay đi.” Tôi thật khó xử, vừa cảm thấy việc “bỏ tù sinh vật” là không nên làm nhưng thả bay đi chúng sẽ chết. Tôi phân trần với anh: “Đây là chim công nghiệp, đem ra ngoài chúng sẽ chết, và thả bay đi chúng càng chết nhanh hơn.” Anh bạn Quảng Nam đáp: “Nếu chúng chết thì chúng sẽ trọn nghiệp vì biết đâu kiếp sau chúng sẽ là những con chim tự do.”

Tôi chưa hẳn đồng ý với cách cãi của anh ta nhưng phải công nhận việc tôn trọng tự do của mọi sinh vật là đúng, nên viết thư về Việt Nam hỏi ý một vị Đại Đức ở Hội An. Thầy trả lời theo lối “vạn sự do tâm”: “Chim công nghiệp vẫn là chim. Nếu môi trường xấu làm cho chúng xấu đi thì môi trường tốt sẽ làm cho chúng tốt trở lại. Hãy tập cho chúng quen dần, từng bước và khi chúng hoàn toàn quen thuộc với môi trường bên ngoài thì phóng sinh chúng đi.”

Tôi cho đó là giải pháp hợp lý. Rất tiếc tôi lại quá bận để tập cho chim quen với thiên nhiên, bèn tặng chúng cho người em và dặn chú ấy tập cho chúng quen dần với đời sống bên ngoài, định bụng khi chúng hoàn toàn làm quen sẽ bàn với chú em làm lễ phóng sinh.

Tháng sau tôi trở lại nhà người em nhưng không thấy chim. Chưa kịp hỏi, chú em trả lời: “Chẳng giấu gì anh, ngày nào em cũng đem chim ra vườn tập. Chúng tiến bộ lắm. Chúng rất thích cảnh thiên nhiên. Vừa thấy cảnh cây lá sum sê là chúng kêu ríu rít lên ngay. Tuần trước, trong lúc em để chúng trên sân sau, chạy vào nhà trả lời điện thoại, khi trở ra thì chỉ còn mấy cái lông rơi rớt bên cạnh chiếc lồng vỡ nát và con mèo của hàng xóm đang nhảy sang bên kia hàng rào.”

Tôi an ủi chú em theo lý luận của anh bạn Quảng Nam: “Hai con chim đó đã trọn nghiệp trong kiếp này, hy vọng đời sống sau, chúng sẽ làm chim của núi rừng tự do thay vì làm kiếp chim công nghiệp.”

Mỗi khi nhớ đến câu chuyện hai con chim, tôi lại ngậm ngùi nghĩ đến số phận của các em bé Bắc Hàn. Cuộc đời của các em không khác gì những con chim công nghiệp kia. Ngay khi các em ra đời, các cơ chế chính trị và xã hội đã được chuẩn bị sẵn để các em sống, suy nghĩ và hành động một cách thích nghi.

Tương tự như môi trường dành cho loại chim công nghiệp, cơ chế chính trị Bắc Hàn được xây dựng và tồn tại bằng niềm tin tuyệt đối nơi lãnh tụ của họ. Trong cơ chế đó sự nhầm lẫn, hoài nghi dù hợp lý đều không được cho phép tồn tại.

Trong buổi phỏng vấn dành cho tuần báo Time, người cận vệ của Kim Chính Nhật đào thoát nhắc lại câu chuyện của một người lái xe vô tình chạy lạc vào khu vực dinh thự của Kim Chính Nhật. Sau khi thẩm vấn anh tài xế, đám cận vệ của Kim Chính Nhật đều đồng ý rằng anh ta thật sự đi lạc. Tuy nhiên cách giải quyết họ chọn trong trường hợp đó là bắn chết anh ta ngay tại chỗ. Gia đình anh tài xế được thông báo rằng anh đã “đền nợ nước” và thưởng công cho gia đình một cái tủ lạnh.

Nhiều câu chuyện, đối với người sống bên ngoài bán đảo Bắc Hàn, có thể là chuyện hoang đường đến độ buồn cười, nhưng với người dân Bắc Hàn lại là chân lý, đúng như một nhà thơ Việt Nam có lần đã định nghĩa: “Chân lý là đường đảng đã vạch ra và sự thật là gì đảng đã dạy ta.”

Giờ sinh của Kim Chính Nhật, con trai Kim Nhật Thành và là đương kim lãnh tụ Bắc Hàn, được mô tả trong giáo trình tiểu học: “Lãnh Tụ Kính Yêu sinh ra trong một căn cứ quân sự bí mật bên rặng núi thánh Paektu-san (Bạch Đầu Sơn), lúc Người ra đời một có hai cầu vồng rực rỡ và một ngôi sao sáng hiện ra trên nền trời” (Người dân Bắc Hàn gọi Kim cha là Lãnh Tụ Vĩ Đại hay Lãnh Tụ Vĩnh Cửu và Kim con là Lãnh Tụ Kính Yêu).

Thật ra làm gì có căn cứ quân sự nào, chẳng trên núi thánh nào và lại càng không có chuyện thần thoại như hai vòng cầu vồng ngũ sắc hiện ra trong giờ Kim Chính Nhật giáng trần. Theo sử liệu của Sô-Viết cũ, anh chàng Kim Chính Nhật sinh ra trong một đồn lính nhỏ hẻo lánh ở Siberia vì cha anh ta, Kim Nhật Thành, làm lính cho Stalin sau khi trốn khỏi Mãn Châu.

Một mẩu chuyện khác về Kim Chính Nhật: “Mặc dù trước kia chưa bao giờ chơi gôn (golf), khi cầm cây gôn lần đầu Lãnh Tụ Kính Yêu đã đánh trúng ngay 5 lỗ một lần.” Và nữa, “Một lần nọ, Lãnh Tụ Kính Yêu đến kiểm tra súng của một đơn vi quân đội và trước mặt binh sĩ Người đã rút súng bắn trúng ngay mắt trái của mười con bò rừng.” Kim Chính Nhật không phải là người thường, trong ý thức của người dân Bắc Hàn, anh chàng là hiện thân của một thiên thần.

Chàng ta tuy chưa bao giờ đi lính một ngày nhưng được gọi trong sách là “Tướng Trời”. Tại Bắc Hàn, ngay cả chiếc khăn để lau tấm ảnh của hai cha con họ Kim cũng không được phép dùng để lau các đồ vật khác trong nhà. Giống như những con chim công nghiệp, các em bé Bắc Hàn cũng líu lo mỗi sáng, nhưng nếu ai lắng tai nghe, bài hát các em hát trong giờ vào lớp luôn bắt đầu bằng câu: “Hoa nở nhờ có không khí và các em cười nhờ ơn của Kim Lãnh Tụ Vĩ Đại.”

Học sinh Bắc Hàn được dạy phải “yêu tổ quốc và yêu đồng bào” nhưng tổ quốc của em được mô tả trong sách vở không phải là một quốc gia nghèo đói, cô lập với thế giới bên ngoài mà một thiên đường trên trái đất dưới sự lãnh đạo anh minh của Kim Lãnh Tụ.

Trong các ví dụ được dùng ở trường học, từ văn chương đến toán học, cuộc đời và sự nghiệp của hai cha con họ Kim luôn được dùng để ví những điều tốt đẹp và “đế quốc Mỹ xâm lược” luôn được dùng để ám chỉ những điều xấu xa tội lỗi nhất trên đời.

Sinh viên học sinh Bắc Hàn rất kiêu căng khi nói về lịch sử và dân tộc Triều Tiên vì một lý do đơn giản, ngoài những câu chuyện tuyên truyền được dạy ở trường, họ không biết gì về lịch sử loài người và cũng không biết đúng về lịch sử của tổ tiên họ. Và với một môi trường như thế, nhiều thế hệ người dân Bắc Hàn, hơn nửa thế kỷ qua đã tiếp tục sinh ra, lớn lên trong số phận một loài chim công nghiệp.

Mặc dù những mẩu chuyện trên có thể gợi lại trong ký ức của những người Việt lớn tuổi những hình ảnh, những tiếng thì thầm nghe rất quen quen, tuổi thơ Việt Nam ngày nay dù sao cũng may mắn hơn những người cùng tuổi với họ ở Bắc Hàn.

Trong lúc nhiều nơi vẫn còn khó khăn, thiếu thốn, đa số tuổi thơ Việt Nam đang có một đời sống tinh thần dễ chịu hơn tuổi thơ Bắc Hàn. Bài học của thiếu nhi Việt Nam học hôm nay không đến nỗi hoang đường như của thiếu nhi Bắc Hàn và bài hát của các em bé Việt Nam hát không trơ trẽn khó nghe như những câu mà thiếu nhi Bắc Hàn dùng để ca tụng cha con họ Kim. Ánh sáng bên ngoài đã theo những khe hở của “chính sách đổi mới” rọi vào căn nhà Việt Nam mang theo kiến thức mới lạ từ những phương trời khác. Qua những khe hở đó, chúng ta cũng được nghe nhiều tiếng nói chân thành vọng ra từ trong nước tương tự như chúng ta đang nghe những ưu tư trăn trở của những người Việt đang sống ở ngoài nước dù họ đã một thời lớn lên bên này hay bên kia sông Bến Hải.

Như vậy có gì giống nhau trong hoàn cảnh của hai em thiếu nhi Bắc Hàn và Việt Nam không?

Có chứ. Hai cơ chế chính trị ảnh hưởng đến đời sống của các em bé Bắc Hàn và Việt Nam về căn bản vẫn giống nhau. Hai con nước đều bắt nguồn từ thượng lưu sông Volga trong những thập niên năm đầu của thế kỷ 20 và vẫn còn đang chảy xiết.

Cả hai cơ chế chính trị đều nhằm ngặn chặn mọi suy nghĩ độc lập và hủy diệt mọi khả năng phản kháng của con người. Quyền căn bản đầu tiên trong nghiên cứu khoa học là quyền đặt vấn đề, thế nhưng quyền đó không đươc tôn trọng trong hai xã hội Bắc Hàn và Việt Nam.

Hiện nay, nhiều quốc gia và hàng trăm tổ chức thiện nguyện, tôn giáo, nhân đạo khắp thế giới đang tìm mọi cách để cứu giúp thiếu nhi Bắc Hàn, nhưng đồng thời, mọi người cũng đồng ý rằng, tất cả những gì họ đang làm chỉ là những biện pháp vá víu trong lúc chờ đợi một sự thay đổi toàn diện và căn bản.

Đúng vậy, sinh mệnh của một quốc gia không thể thay đổi bằng vài bao bột mì, hướng đi của một đất nước không thể được lót bằng dăm ba lon sữa và hạnh phúc của một dân tộc không bao giờ đến bằng sự vuốt ve an ủi từ những bàn tay thương xót bên ngoài.

Số phận của một dân tộc phải được quyết định bằng mồ hôi nước mắt, bằng những tấm lòng tận tụy với tương lai dân tộc, bằng đức tính kiên nhẫn làm việc vì đất nước của chính người dân nước đó. Và dù diễn ra dưới bất cứ hình thức nào, nhẹ nhàng hay cứng rắn, xói mòn hay cường tập, thay đổi cơ chế chính trị vẫn là mục tiêu quyết định của mọi cuộc cách mạng xã hội.

Trần Trung Đạo

Nổ nữa đi cho vui tai

Nổ nữa đi cho vui tai

30-11-2021

Ngay từ đầu, khi dịch tấn công Vũ Hán và Âu – Mỹ, báo chí và dư luận viên đã nổ hơn bom nguyên tử, rằng Việt Nam là “cường quốc sản xuất và xuất khẩu vaccine”.

Không biết thế giới có mong chờ không chứ người Việt thì chờ mỏi cổ. Chờ mãi rồi phải xin vaccine của Anh, Mỹ, cùng đường nhập luôn cả vaccine Tàu với bản hợp đồng… chết ai nấy chịu.

Vài ba hôm nay nghe WHO công bố biến thế mới Omicron, các dư luận viên lại tiếp tục nổ to hơn bom nhiệt hạch. Rằng, Việt Nam “đang phát triển vaccine chống biến thế Omicron” và so với các hãng vaccine nước ngoài, “Việt Nam đang ở lợi thế khủng”. Tin đi, không phải chỉ không đi xin vaccine nữa mà còn sắp giàu to nhờ xuất khẩu vaccine. Xem chừng nhờ xuất khẩu vaccnine mà ngân sách tăng lên bằng tổng tiền vàng ngân hàng thế giới cộng lại?

Đột nhiên chiều nay lại nghe báo loan tin: “Nhóm nghiên cứu vaccine Covid-19 Covivac quyết định tạm ngừng thử nghiệm giai đoạn ba do khó khăn trong tìm tuyển tình nguyện viên đủ điều kiện“. Vậy là kết thúc một quy trình nghiên cứu. Không chừng lịch sử sau này sẽ ghi, rằng bom vaccine nổ to hơn bom nguyên tử hay nhiệt hạch, kết quả là không chết virus mà chết hơn 23 ngàn người Việt???

Khổ thân anh Vinavaccine! Đất nước có hơn 90 triệu dân, trong đó gần 5 triệu đảng viên và gần 10 triệu đoàn viên thanh niên mà không tìm ra 4000 tình nguyện viên thử vaccine? Đã tiên phong mọi mặt mà sao không tiên phong thử vaccine? Hay là do tiên phong tiêm vaccine Anh – Mỹ rồi nên không thèm thử vaccine mang nhãn hiệu Vina?

Tôi nghe có trên 10.000 chiến sỹ chuyên nổ bom mà sao không huy động ra thử vaccine Vina để cứu dân cứu nước? Sợ bị rủi ro thì không có ai tác chiến không gian mạng à?

Mà thôi, biện bạch hay khóc lóc làm gì? Đã có biến thể mới thì thử nghiệm giai đoạn 3 vaccine cũ làm gì nữa? Để dự phòng chữa cúm gà à? Nghe nói Nhóm nghiên cứu vaccine Covid-19 Covivac đã đệ đơn xin chuyển quỹ vaccine sang dự án nghiên cứu, nếu đã có rồi thì cho dư luận viên và báo chí cứ… nổ bom tiếp đi, nghe cũng vui tai.

Cũng lạ. Cả thế giới với bao nhiêu cường quốc, cũng chỉ có dăm ba nước sản xuất được vaccine, có thấy quốc gia nào sỉ đến mức phải nổ???