Chín năm tù cho “tội” yêu nước!

Chín năm tù cho “tội” yêu nước!

Bởi  AdminTD

 Lâm Bình Duy Nhiên

15-12-2021

Có lẽ chẳng còn ai còn thầm hy vọng gì nữa về cái gọi là pháp luật tại nước CHXHCNVN. Hy vọng gì đối với những bản án vô nhân đạo, đậm chất tàn bạo của một chính quyền đối với những tiếng nói yêu nước, của những đòi hỏi, khát vọng, suy cho cùng, trong một xã hội tiến bộ, là những hành động bình thường, được ghi nhận trong Hiến pháp?

Bản án dành cho nhà báo Phạm Đoan Trang như một vở bi hài kịch mà người dân Việt Nam đang phải chịu đựng, bắt buộc xem. Đó không chỉ là bản án dành riêng cho một cá nhân, Phạm Đoan Trang, mà đó còn là một bản án dành cho cả một dân tộc, trong cái trại giam khổng lồ, nơi mọi sự tranh đấu đều bị khủng bố và uy hiếp một cách trơ trẽn.

Cái điểm đến của chế độ là xây dựng một xã hội vô cảm, nơi mà người ta chỉ biết nghĩ đến chính mình, chính gia đình, hay tập đoàn của mình. Hãy làm giàu, bất chấp mọi giá trị đạo đức. Hãy hưởng thụ, hãy đua đòi. Những chuyện còn lại đã có “ Đảng và nhà nước” lo.

Nhân quyền, dân chủ, tự do báo chí, tín ngưỡng,… Tất cả chỉ là thuốc phiện của thế giới tư bản bốc lột!

Hơn 90 triệu dân nhưng chỉ một số nhỏ, cực kỳ nhỏ, lội ngược dòng cản, bất chấp hiểm nguy, đối đầu với nhà cầm quyền, đã nói lên thảm trạng về tư duy của người Việt ngày nay.

Nhà nước Việt Nam có chủ đích tạo nên một xã hội với những công dân hèn nhát trước vận mệnh cấp bách của dân tộc. Nhưng cũng chính những công dân ấy lại sẵn sàng hùng hổ, phô trương chủ nghĩa dân tuý cực đoan cho những thứ phù phiếm, tẻ nhạt, nhưng lại vô cùng quan trọng dưới con mắt của chính quyền.

Chúng ta hèn nhát và cái gia tài để lại cho các thế hệ sau chính là một Việt Nam bệnh hoạn, tàn bạo.

Chúng ta câm miệng hôm nay là đồng loã và thoả hiệp với những tội ác của một chế độ độc tài toàn trị. Chính sự im lặng đáng sợ, đáng trách ấy đã duy trì sự tồn tại của một chế độ đáng bị lên án, nguyền rủa và đào thải trong lịch sử dân tộc.

Ngày Phạm Đoan Trang bị tuyên án 9 năm tù, có lẽ chẳng mấy ai buồn tình tìm hiểu. Có lẽ họ đang bị cái giải bóng đá ao làng cuốn hút. “Chính trị là điều không tốt”, có người tại Sài Gòn nói như thế với người viết!

Và họ càng không tỏ ra lo lắng cho chính số phận của họ, của gia đình họ qua những gì vẫn đang và sẽ xảy ra trong xã hội trên bình diện chính trị…

Người viết chợt nhận ra rằng hôm nay (14/12/2021), nhà hoạt động nhân quyền, blogger người Belarus, ông Sergueï Tikhanovski cũng bị tuyên án 18 năm tù. Một bản án tàn khốc, như những gì Phạm Đoan Trang đã bị Hà Nội đối xử.

Tikhanovski và vợ, bà Svetlana Tikhanovskaïa, lãnh đạo đối lập là mục tiêu cho sự trả thù của nhà độc tài Loukachenko.

Phạm Đoan Trang hay Sergueï Tikhanovski, những tiếng nói của lương tâm luôn là “kẻ thù” đáng sợ nhất của mọi chế độ độc tài toàn trị.

Nhưng đâu đó, người dân Belarus vẫn còn nhiều hy vọng vào những thay đổi và lột xác cho chính tương lai của họ. Những cuộc biểu tình rầm rộ của hàng trăm ngàn người trong thời gian qua chứng tỏ đó là một dân tộc trưởng thành, được đúc kết qua hành trình lịch sử bằng những khái niệm về dân chủ. Họ dám đương đầu với một bộ máy an ninh, khủng bố bất chấp mọi nguy hiểm.

Tiếc thay, đó lại là yếu tố không có trong xã hội Việt Nam. Cái tư duy hèn nhát, vô cảm khi chỉ biết trông chờ vào người khác, đã khiến cho mọi khát vọng dân chủ trở nên không tưởng và phi thực tế.

Tự do là phải tranh đấu, phải giành giựt, thậm chí hy sinh. Tự do không phải là món quà được Đấng Bề Trên ban tặng. Nhân loại đã phải trải qua những thời khắc đen tối để đào thải những rác rưởi từ phát xít, phân biệt chủng tộc đến chủ nghĩa cộng sản để xây dựng nên những xã hội nhân bản và dân chủ.

Những sự hy sinh, như Phạm Đoan Trang, dẫu bên lề của sự vô cảm của cộng đồng, vẫn thiết thực và quan trọng trong quá trình làm thay đổi nhận thức của cả một xã hội.

Bởi vì Freedom Isn’t Free!

LỜI NÓI SAU CÙNG TẠI PHIÊN TÒA CỦA PHẠM ĐOAN TRANG

LỜI NÓI SAU CÙNG TẠI PHIÊN TÒA CỦA PHẠM ĐOAN TRANG

Những dòng này được Đoan Trang đọc cho luật sư ghi lại vào ngày hôm qua, 13/12/2021, một ngày trước khi phiên tòa diễn ra. Chỉ đến khi được gặp luật sư vào ngày hôm qua, cô mới biết rằng có phiên tòa xét xử mình. Đoan Trang nhờ luật sư công bố, phòng trường hợp tòa không cho phép cô nói lời sau cùng.

Luật Khoa nhận được văn bản này từ gia đình Phạm Đoan Trang. Chúng tôi đăng tải nguyên văn.

***

Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, lãnh tụ tinh thần của người Phật giáo Tây Tạng, từng nói một câu đại ý: chúng ta hãy thử tưởng tượng một thế giới trong đó có cả 6 tỷ người đều theo cùng một tôn giáo thì điều gì sẽ xảy ra khi đó? Chắc chắn là trước sau cũng có một nhóm người thấy rằng tôn giáo đó không còn mang lại lợi ích cho họ nữa, thế là họ tách ra và thế giới có thêm một nhóm tôn giáo khác hoặc một nhóm người không theo tôn giáo nào.

Điều Đức Đạt Lai Lạt Ma nói là để chúng ta thấy rằng bản chất của thế giới này, bản chất của cuộc sống là đa nguyên, và bản chất của con người là hướng tới sự đa nguyên. Chỉ có những kẻ ngu xuẩn mới đi tranh cãi về sự đa nguyên và phủ định sự đa nguyên. Chỉ những kẻ độc ác mới tiêu diệt sự đa nguyên. Và chỉ có những chính quyền cực kỳ độc ác và ngu xuẩn mới tiêu diệt sự đa nguyên bằng cách đàn áp, cầm tù những người bất đồng chính kiến, người viết sách, viết báo, người phản biện xã hội, người hoạt động dân chủ, nhân quyền.

Trong một xã hội dân chủ, nếu có một công dân viết sách, viết báo hoặc trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài nói lên những điều chính quyền không muốn nghe thì cách hành xử văn minh có thể là gì? Văn minh nhất là chính quyền đó không làm gì cả bởi vì con người văn minh là phải biết cách tôn trọng quan điểm và lợi ích của người khác. Trong trường hợp tệ hơn, nếu chính quyền đó có máu độc tài và thấy rằng những điều công dân đó nói là không thể chấp nhận được, thì chính quyền có thể chỉ đơn giản là viết lên những cuốn sách, những bài báo phản bác lại quan điểm của công dân đó, thậm chí mạnh dạn liên hệ trực tiếp với cơ quan báo chí nước ngoài để xin họ bố trí cho một cuộc phỏng vấn trong đó người của chính quyền có thể nói lên những quan điểm của mình, phản bác quan điểm của công dân kia. Nhưng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã không làm như thế mà chọn một cách làm hèn hạ, ngu xuẩn và độc ác hơn rất nhiều, đó là bắt bớ cầm tù công dân của mình chỉ vì công dân đó viết sách, viết báo và trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài.

Ngày hôm nay, các anh, chị kết án tôi, có thể bỏ tù tôi nhiều năm nhưng không sao cả bởi vì như nhân vật Nguyễn Trãi trong vở kịch “Bí mật vườn Lệ Chi” đã nói: “Con thú có thể cắn chết con người nhưng vẫn là con thú. Con người mang trong mình lẽ phải có thể bị sát hại vì lẽ phải, nhưng bảo vệ lẽ phải mãi mãi vẫn là thiên chức của con người”.

Những bản án càng dài thì càng chứng tỏ bản chất độc tài, phi dân chủ, phản dân chủ của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Các anh, các chị có thể bỏ tù tôi và hả hê đắc thắng vì đã xóa bỏ được một cái gai trong mắt các anh chị nhiều năm nay, nhưng mãi mãi các anh chị không xóa bỏ được tiếng xấu, độc tài, phi dân chủ, phản dân chủ. Vì con thú mãi mãi là con thú, nó không bao giờ có thể trở thành người được.

Nguồn Luật Khoa Tạp chí

Nữ hành khách bị mời xuống khỏi máy bay trong im lặng.

 Nữ hành khách bị mời xuống khỏi máy bay trong im lặng.

‘Rất hiếm có chuyện hãng hàng không mời hành khách ra khỏi máy bay khi chuẩn bị cất cánh nhưng với nhiều nguyên nhân khác nhau thì vẫn có những trường hợp như vậy. Cô Peggy Uhle là một trong những hành khách như vậy nhưng nguyên nhân thực sự lại khiến người khác vô cùng cảm động’.

Tháng 5.2015, một máy bay thuộc hãng hàng không Southwest Airlines đang chuẩn bị cất cánh từ Chicago đi Columbus. Tất mọi việc đều rất bình thường, hành khách đã lên máy bay, làm thủ tục đầy đủ, tắt hết các thiết bị điện tử, thắt dây an toàn, tất cả đã chuẩn bị sẵn sàng cất cánh. Nhưng máy bay không cất cánh lên không trung mà lăn bánh quay lại điểm tập kết.

– Bất ngờ, một tiếp viên trong khoang lái tiến đến chỗ nữ hành khách Peggy nhẹ nhàng mời cô xuống máy bay. “Tôi cứ nghĩ là mình ngồi nhầm máy bay. Vì vậy nên mới bị tiếp viên hàng không mời xuống”, Peggy nói.

Sau khi bước vào khu vực check in, nhân viên của hãng hàng không Southwest nhanh chóng làm các thủ tục đổi thẻ lên máy bay giúp Peggy.

Lúc đến quầy check in, cô được yêu cầu gọi cho chồng mình, cô không hiểu nhưng vẫn ngay lập tức gọi cho chồng.

Lúc này, chồng Peggy nói, con trai 24 tuổi của họở bang Colorado, Denver bị chấn thương não, đã rơi vào tình trạng hôn mê và đang được các cấp cứu trong bệnh viện.

Chồng Peggy rất lo lắng cho tình trạng của con trai nên rất mong cô có thể bay đến Denver ngay lập tức. Tin tức này giống như sét đánh ngang tai làm cô không thể kiềm được nước mắt, cô chỉ muốn ngay lập tức lên máy bay bay đến chỗ con trai.

Sự bất ngờ từ hãng hàng không Peggy chia sẻ, thì ra chồng cô đã gọi điện cho hãng hàng không, hy vọng họ thông báo để cô có thể bay về với con trai càng sớm càng tốt. Hãng hàng không hay tin này đã lập tức sắp xếp một chuyến bay sớm nhất cho Peggy đến Denver, hạ cánh sau 2 giờ, hơn nữa họ còn trả toàn bộ chi phí cho chuyến bay của cô.

Khi Peggy được đưa đến khu vực hành khách chờ lên máy bay, nhân viên hãng đã an ủi để cô bớt căng thẳng và lo lắng.

Khi đến giờ, hãng hàng không yêu cầu tất cả hàng khách xếp hàng chờ nhường quyền ưu tiên cho Peggy, và sắp xếp cô ngồi ngay đầu cửa cabin. Như vậy khi đến Denver cô có thể ngay lập tức xuống máy bay.

Vừa lo lắng cho con trai Peggy vừa vô cùng biết ơn đối với hãng hàng không, điều mà cô không nghĩ đến đó là họ còn chu đáo giúp cô tìm hành lý và chuyển sang Denver.

Khi Peggy đến Denver cái đầu tiên nhận được không phải là hành lý mà là hộp cơm trưa. Và tất cả các dịch vụ này được cung cấp bởi hãng hàng không Southwest Airlines.

Trân trọng mạng sống con người

Hãng hàng không không hề quảng cáo cho hành động này nhưng Peggy và gia đình cô muốn làm một điều gì đó để đền đáp cho lòng tốt của họ.

“Southwest Airlines không thu phí đổi chuyến bay của tôi, cũng không thu phí chuyển hành lý của tôi hay những phí dịch vụ khác”. Peggy nói: “Tôi đã nhận được những dịch vụ tốt nhất, trước đây chúng tôi đã rất thích Southwest Airlines. Bây giờ chúng tôi không thể dùng bất cứ từ ngữ nào để biểu đạt sự biết ơn của mình đối với Southwest Airlines”.

Peggy cũng chia sẻ thêm sau đó chồng cô và cô đã nhận được điện thoại của hãng hỏi thăm tình hình của con trai cô. Điều này làm cô càng gia tăng thêm sự cảm kích. Sau sự việc 3 tuần, tình trạng của con trai cô đã dần tốt lên và đang hồi phục nhanh.

TM SG đăng câu chuyện này với một lời nhắn nhủ tới các hãng hàng không Việt Nam: đừng lợi dụng dịch WH, đừng đề xuất những quy định quái đản, chỉ nhằm để bóp cổ những Thượng đế của mình những thời điểm khó khăn nhất. Thượng đế sẽ không bao giờ tha thứ!

Từ fb Lê Văn Thông

From: Anh Dang & KimBang Nguyen

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Trương Tửu

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Trương Tửu

Ngoại và mẹ tôi đều rất hảo rượu nên mâm cơm gia đình không bao giờ thiếu chai/ lọ và ly/cốc … Được nuôi dưỡng trong cái không khí luôn nồng nàn hơi men như thế nên tôi cũng uống rất đều, và bắt đầu lê la hàng quán, ngay từ lúc thiếu thời.

Quanh bàn rượu, đôi lần, tôi được nghe kể về bà Vương Nhuận Chi (phu nhân của nhà thơ Tô Đông Pha) mà không khỏi sinh lòng hảo cảm:

“Mười năm chia tay bạn, chiều tối chợt bạn xuất hiện. Mở cửa, tay nắm chặt tay, chẳng kịp hỏi tới nhà mình bằng thuyền hay bằng ngựa. Cũng chẳng kịp mời ngồi ghế hay ngồi giường. Hàn huyên qua loa, vội chạy vào nhà trong, thấp giọng hỏi vợ rằng:

– Mình liệu có đấu rượu của Tô Đông Pha không?

“Vợ tươi cười rút cành trâm vàng đang cài trên đầu trao cho. Thế là đủ ba ngày cơm rượu…”

Chỉ cần một bữa “cơm rượu” thế thôi (nếu có) cũng đủ cho tôi tri ân người bạn đời của mình cho đến khi nhắm mắt. Nói chi tới ba ngày, hay sáu bữa. Vương Nhuận Chi quả là một tấm gương sáng soi cho nữ nhi (hậu thế) chỉ tiếc có điều là nó đã mờ dần với thời gian.

Bà đã vĩnh biệt dương gian cả ngàn năm rồi. Nay, mấy ai còn nhớ đến người phụ nữ “rút cành trâm vàng”để mua rượu đãi bạn của chồng(dễ dàng) như thế nữa?

May mắn và gần gũi hơn, mới ngày qua, tôi lại vừa biết thêm về vị nữ lưu tuyệt vời khác nữa:

“Tên bà là Nguyễn Thị Lai (1916-1996) con gái đầu của cụ Nguyễn Xuân Giới chủ một hiệu may nhỏ tại phố Tiên Tsin – nay là phố Hàng Gà – Hà Nội. Khi lập gia đình với nhà văn Trương Tửu bà được cha mẹ chia hồi môn cho một cửa hàng tạp hoá nhỏ đầu phố Hàng Điếu – Cửa Đông để bán hàng xén. Cuộc đời bà chỉ lặng lẽ làm nội trợ phía sau chồng con.

 “Ngày rằm tháng giêng năm nay, kỹ sư Trương Quốc Tùng con trai của ông bà kể cho tôi nghe về nghị lực của người mẹ khi trải qua “cơn bão” Nhân văn Giai phẩm quét tới… Giáo sư Trương Tửu không còn dạy Đại học, ông bẻ bút về nhà. Không lương, không biên chế, mọi nguồn thu nhập của gia đình dồn hết lên đôi vai bà Lai.

 “Giáo sư Trương Tửu mở phòng khám Đông y châm cứu thì cơ quan chức năng yêu cầu đóng cửa vì không có chuyên môn y khoa. Lúc này 45 tuổi, tối tối bà Lai đi học lớp Trung cấp Đông y bền bỉ và tốt nghiệp, được cấp bằng xuất sắc. Bà đứng tên đăng ký hành nghề, mở hiệu Đông y bắt mạch, kê đơn, bốc thuốc, châm cứu. Tiếng lành đồn xa, cửa hiệu lúc nào cũng đông khách.

“Kỹ sư Trương Quốc Tùng trầm ngâm nhớ tới lời kể của người thân trong gia đình (thời gian này ông đang đi học tại CHDC Đức) có những bữa cơm, bà Lai chỉ ăn cơm không. Bà nói: Nhai kỹ thấy cơm bùi và rất ngọt.

“Kỳ thực, người vợ, người mẹ ấy nhường phần thức ăn ít ỏi trên mâm cơm cho chồng, cho con nhỏ… Khó khăn chồng chất nhưng không bao giờ bà có một lời oán thán!” ( Người Vợ Nhân Văn. FB Son Kieu Mai – 02/28/2021)

Ngay bên dưới bài viết này là phản hồi của độc giả Lệ Thúy“Tại sao người chồng không cố gắng vật lộn để khắc phục hoàn cảnh, lại cứ phải là bà vợ, vừa chăm con nội trợ lại lăn lộn kiếm tiền, chồng để ngắm? Bởi đảm đang thế nên đàn ông cứ ươn hèn…”

Trương Tửu bị mắng là “ươn hèn” không phải là chuyện ngẫu nhiên. Người đời nay không mấy kẻ biết về ông, kể cả những nhân vật học thức – theo nhận xét của PGS.TS. Nguyễn Thị Bình:

“Ông thuộc số tên tuổi mà thế hệ chúng tôi (cùng một số thế hệ trước và sau chúng tôi nữa) được nghe nói đến nhiều nhất nhưng lại ít rõ ràng nhất. Trong suốt một thời kỳ dài, chúng tôi không sao hiểu nổi ông là ai giữa những lời kết án nặng trịch trên giấy trắng mực đen và vô số câu chuyện đồn thổi vừa đầy niềm thán phục vừa không thiếu ngậm ngùi cay đắng.”

Nỗi “cay đắng” này có thể được lý giải gẫy gọn như sau:

“Năm 1984, khi trở về Hà Nội, tôi muốn tìm lại, dù chỉ một dấu vết nhỏ, chứng minh sự hiện diện của Nhân Văn Giai Phẩm trong lòng người dân Bắc. Nhưng vô ích. Tất cả đều đã bị xóa sổ. Kín đáo dò hỏi những người thân trong gia đình sống ở Hà Nội, thuộc thế hệ ‘phải biết’ Nhân Văn, xem có ai còn nhớ gì không? Nhưng không, tuyệt nhiên chẳng ai ‘nghe nói’ đến những cái tên như thế bao giờ: linh hồn Nhân Văn đã bị xóa trong ký ức quần chúng, và như vậy, ‘nọc độc’ Nhân Văn đã hoàn toàn bị tẩy sạch. (Thụy Khuê. Nhân Văn Giai Phẩm & Vấn Đề Nguyễn Ái Quốc. Tiếng Quê Hương: Virgninia, 2012).

Công việc “tẩy sạch” cá nhân Trương Tửu cũng đã được “đội ngũ văn nghệ cùng giới trí thức miền Bắc thực hiện một cách hơi quá nhiệt tình (bởi cả đám môn sinh cũ của ông) mà “viện sỹ” Phan Cự Đệ là một gương mặt tiêu biểu:

Với một lập trường chính trị phản động, thù địch với tư tưởng xã hội chủ nghĩa, với những quan điểm văn nghệ tư sản lỗi thời, với một phương pháp giảng dạy hoàn toàn duy tâm chủ quan, cơ hội, chúng ta có thể kết luận rằng: trong mấy năm qua, Trương Tửu đã tỏ ra không xứng đáng một tý nào với cương vị giáo sư một trường Đại học.”

Thời thế, may thay, không đứng về phía những kẻ xu thời. Do đó, ngay đến Wikipedia (vốn luôn được biên soạn theo khẩu vị Hà Nội) cũng đã đề cập đến Trương Tửu một cách công bằng và khách quan hơn. Nó chỉ “gài” có mỗi một câu sai với sự thực thôi: “Đầu năm 1958, bị buộc thôi việc vì dính líu đến vụ Nhân văn giai phẩm. Sau đó, ông chuyển sang nghiên cứu y học và sống bằng nghề Đông y.”

Sự thực thì đúng là Trương Tửu định xoay sở sống bằng nghề Đông Y nhưng đâu có được Đảng và Nhà Nước để cho yên phận. Bởi thế nên mới có cảnh bà Nguyễn Thị Lai phải “nhường phần thức ăn ít ỏi trên mâm cơm cho chồng, cho con nhỏ… Khó khăn chồng chất nhưng không bao giờ bà có một lời oán thán!”

Trường hợp của L.S Nguyễn Mạnh Tường cũng vậy, cũng được Wikipedia Hà Nội “biên tập” một cách nhập nhèm, lấp liếm tương tự: “Sau vụ Nhân văn Giai phẩm, ông được chuyển sang làm chuyên viên nghiên cứu văn học nước ngoài tại Viện nghiên cứu phương pháp và chương trình giáo dục thuộc Bộ Giáo dục, và là cộng tác viên của nhà xuất bản Giáo dục.”

Nghe cứ y như thiệt vậy, nếu chính người trong cuộc không có cơ hội lên tiếng:

Thảm cảnh đầu tiên mà tôi và gia đình phải chịu đó là cái đói… Tôi muốn dạy tiếng Pháp tại nhà. Nhưng vừa mới bắt đầu là đã có một đám công an, chắc chắn là đã được bọn gián điệp và điềm chỉ quanh tôi báo động cho họ, xuất hiện và bảo cho tôi là dưới chế độ cộng sản không có gì là tư nhân mà được cho phép, dù chỉ là việc dạy học của những ông thầy tận tụy.” (Nguyễn Mạnh Tường, Un Excommunié – Hanoi, 1954 -1991: Procès d’un intellectuel. Trans Nguyễn Quốc Vĩ – Kẻ Bị Mất Phép Thông Công Hà Nội, 1954-1991: Bản Án Cho Một Trí Thức). 

Tôi mới chỉ có dịp được biết thêm về Trương Tửu qua những bài tiểu luận viết với công tâm của vài vị thức giả thôi (Thụy KhuêLê Hoài NguyênĐỗ Ngọc ThạchLại Nguyên Ân…) nhưng cũng đã có được một hình ảnh về một Trương Tửu khác.

“Ai kiềm chế được quá khứ, kẻ đó kiểm soát được tương lai. Ai kiểm soát được hiện tại, kẻ đó kiềm chế được quá khứ- Who controls the past, controls the future; who controls the present, controls the past.” Khi viết dòng chữ trên, trong tác phẩm Nineteen Eighty – Four, vào năm 1948, George Orwell đã có thể hình dung ra được tất cả những thủ đoạn ma mãnh (của những chế độ toàn trị) trong việc ngụy tạo lịch sử.

Điều mà George Orwell không ngờ tới là kỹ thuật truyền thông tân tiến ngày nay đã đưa nhân loại bước vào Thời Đại Thông Tin. Ở thời đại này, mọi cố gắng đánh tráo dĩ vãng đều trở thành vô vọng, và chỉ tạo ra được những trò hề lố bịch mà thôi.

Nhà Xuất Bản Tự Do ra mắt sách “Giã từ tự do”

Nhà Xuất Bản Tự Do ra mắt sách “Giã từ tự do”

Bởi  AdminTD

Kurtulus Bastimar, luật sư nhân quyền

10-12-2021

Tác phẩm “GIÃ TỪ TỰ DO” có tên tiếng Anh là “A FAREWELL TO FREEDOM” là một cuốn tiểu thuyết của tác giả trẻ Kurtuluş Baştimar người Thổ Nhĩ Kỳ. Tác phẩm này đã được báo Book Culture Art Times (BCA Times) của Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ trao giải thưởng “Bút vàng Văn chương” vào năm 2018. Đây là một giải thưởng danh giá được trao cho các tác phẩm văn học xuất sắc, và thúc đẩy quyền tự do ngôn luận.

“Giã từ tự do” có bản gốc được viết bằng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, sau đó được dịch sang tiếng Anh, và nay Nhà xuất bản Tự Do hân hạnh được tác giả trao bản quyền để chuyển ngữ sang tiếng Việt. Đây là một món quà quý giá mà tác giả ưu ái dành tặng cho người dân Việt Nam, tặng cho những người đã, và đang cống hiến công sức của mình trong cuộc tranh đấu bảo vệ quyền tự do ngôn luận, thông qua Nhà xuất bản Tự Do.

Đề cập đến lý do tặng cuốn sách này cho người Việt Nam, tác giả Kurtulus viết:

“Trong câu chuyện này, bạn đọc Việt Nam sẽ bắt gặp một cuộc chiến chống lại quyền phát biểu ý kiến, quyền biểu hiện, và sự thiếu hiểu biết về sự tồn tại của một xã hội. Theo tôi, người Việt Nam đang phải đối mặt với sự cấm đoán tương tự về quyền có ý kiến, và quyền tự do ngôn luận. Do đó, tôi dành tặng ấn bản tiếng Việt của “Giã từ Tự do” cho Nhà xuất bản của tôi: Nhà xuất bản Tự do cùng với toàn thể thành viên của nó, và tất nhiên cũng là cho tất cả người dân Việt Nam.”

***

“Giã từ dự do” là câu chuyện kể về những người Kurd bị xua đuổi, bị trục xuất khỏi ngôi làng của họ. Họ bị tấn công, bị tra tấn và bị lưu đày khỏi quê hương. Những ngôi nhà, những ngôi làng mà người Kurd sinh sống đều bị thiêu rụi. Văn hóa và ngôn ngữ giao tiếp của người dân bị cấm sử dụng một cách triệt để trong cả khu vực công cộng lẫn riêng tư. Đã từng có nhiều người Kurd bị bắt, bị tra tấn, bị bỏ tù chỉ vì họ nói, hát, viết, xuất bản… bằng tiếng Kurd. Các đảng chính trị đại diện cho quyền lợi của người Kurd bị cấm đoán.

Người Kurd đã từng có những hoạt động chính trị bao gồm cả các hoạt động ôn hòa vì các quyền dân sự cơ bản, cũng như các cuộc nổi dậy vũ trang, và chiến tranh du kích, với đòi hỏi về các quyền tự quyết, và một nhà nước độc lập của riêng người Kurd. Nhưng cho đến nay, ước mơ tự trị, tự quyết này vẫn luôn bị dập tắt.

Nhân vật chính của “Giã từ dự do” – Ahmet – đưa độc giả đến một thế giới vô định. Đọc “Giã từ tự do”, độc giả Việt Nam sẽ chứng kiến cuộc chiến của người Kurd để giành lại quyền thể hiện bản thân bằng tiếng mẹ đẻ, một cuộc chiến để tồn tại với bản sắc, văn hóa và ngôn ngữ của riêng họ. Theo chân Ahmet, độc giả có thể cảm nhận được, thấy được, hiểu được những nét đặc sắc trong văn hóa của người Kurd và ý chí vươn lên của họ. Nhưng, đau buồn thay, mọi nỗ lực của họ đều bị những thế lực hắc ám chà đạp. Những thế lực này có thể là những phe phái cầm quyền tàn bạo, cũng có thể là đám xã hội đen bẩn thỉu. Thân phận người dân thật nhỏ bé và mong manh dưới những gót giày thô bạo. Nhưng, cho dù bị chà đạp, ý thức mãnh liệt để nói lên sự thật và bảo vệ bản sắc cội nguồn vẫn không bao giờ bị dập tắt.

Nhận xét về “Giã từ tự do”, nhà văn người Cuba Zoé Valdés – một người chạy trốn chế độ cộng sản và là bạn thân của tác giả – đã viết:

“Có những tác phẩm của một số tác giả làm bạn cảm nhận đến đổ bệnh. Khi tôi đọc Albert Camus tôi đã bị ốm nặng, sốt cao, tôi không thể đọc được vì tôi đã khóc rất nhiều trước vẻ đẹp của ngôn ngữ, và nội dung của tác phẩm. Điều tương tự đã xảy ra khi tôi đọc cuốn tiểu thuyết này. Tôi đã khóc, tôi bị bệnh. Nó đã xảy ra bởi vì đúng vào thời điểm mà người dân Cuba, đặc biệt là thanh niên, trẻ em, thanh thiếu niên, tràn ngập các đường phố trên đảo Cuba từ đầu này đến đầu kia trên đất nước tôi, và hô vang đòi tự do.

Giữa nỗi đau này cho đất nước, tôi đã đọc được “A Farewell to freedom.” Những gì cuốn sách tuyệt vời này dạy là sẽ không có tự do khi không có hy vọng, và khi chúng ta mất hy vọng, con đường dẫn đến tự do sẽ trở nên xa xôi và ảm đạm hơn rất nhiều.”

Đồng cảm với nhà văn Zoé Valdés, độc giả Việt Nam cũng sẽ tìm thấy trong tác phẩm này những vấn đề tương tự với hoàn cảnh Việt Nam. Những thảm cảnh của dân oan bị tấn công, bị xua đuổi ra khỏi ngôi nhà, ngôi làng của họ cùng với nó là tình trạng chiếm dụng đất công của những kẻ có quyền có thế… Tình trạng nghèo khổ bất công của tầng lớp lao động, nạn thất học và lao động sớm của trẻ em nghèo; tình trạng bất bình đẳng giữa các thành phần xã hội; tình trạng quá tải trong các bệnh viện diễn ra tràn lan… Quyền tự do xuất bản, tự do ngôn luận bị cấm đoán; những diễn đàn độc lập bị tấn công, nhà xuất bản độc lập bị săn lùng… Những nhà văn, nhà thơ, nhà báo bị cầm tù, bị đày đọa chỉ vì họ dám viết ra những điều họ nghĩ, họ thấy, họ cảm nhận. Từ những Lê Đạt, Trần Dần, Phùng Quán, Phan Khôi của thập niên 1950, những Vũ Thư Hiên, Hoàng Cầm của thập niên 1970 – 1980, cho đến những Phạm Thành, Phạm Chí Dũng, Phạm Đoan Trang của ngày hôm nay… hay những shipper bị bắt, bị đánh chỉ vì chuyển giao những cuốn sách đến tay bạn đọc, một Nguyễn Bảo Tiên bị khởi tố chỉ vì đi gửi sách… những thế hệ người Việt vẫn tiếp nối nhau ngẩng cao đầu để nói lên sự thật, cho dù có bị đày đọa vì sự thật đó.

Dù là ở hai quốc gia xa xôi, dù là hai dân tộc chưa có nhiều hiểu biết lẫn nhau, nhưng những nhà văn cam đảm như Ahmet hay Phùng Quán đều có chung một ý chí kiên cường:

“Yêu ai cứ bảo là yêu

Ghét ai cứ bảo là ghét

Dù ai ngon ngọt nuông chiều

Cũng không nói yêu thành ghét

Dù ai cầm dao dọa giết

Cũng không nói ghét thành yêu”

                                           (Phùng Quán – Lời mẹ dặn)

Tác giả Kurtuluş Baştimar là một luật sư nhân quyền, và là một nhà văn trẻ sinh năm 1993 tại Kars, một tỉnh phía Đông của Thổ Nhĩ Kỳ. Năm 2014, anh chuyển đến sống ở khu tự trị Crimea, và tại đây, cảm nhận về cuộc sống lưu đày của người dân Krym, anh đã viết tác phẩm đầu tay: “Education, War and Exile.”

Năm 2015, anh chuyển đến Hà Lan học Luật châu Âu tại Đại học Maastricht, và tốt nghiệp vào năm 2018. Trong những năm học Đại học, anh tập trung vào quyền con người. Vì thế, tất cả các tiểu thuyết, và truyện ngắn của anh đều xoay quanh các quyền cơ bản, và tự do.

Nhận xét về người bạn của mình, nhà văn Zoé Valdés viết:

“Đã có nhiều luật sư mong muốn được trở thành nhà văn lớn, và một số người đã đạt được thành công nhất định. Kurtulus Bastimar là một trong những người như vậy. Đây là trường hợp người bạn của tôi, người mà cuộc đấu tranh cho nhân quyền đã giao phó nhiệm vụ cho anh ấy. Cuộc đấu tranh đó đã đưa cả hai chúng tôi vào con đường này, cùng sống, và cùng hy vọng. Các bài viết, và tác phẩm của anh ấy đã đưa tôi đến gần anh một cách sâu sắc qua khát vọng tự do, và tình yêu con người nồng nhiệt.”

Ngoài việc viết sách, tác giả Kurtuluş Baştimar còn là một luật sư nhân quyền quốc tế. Anh sớm đã có những cống hiến cho công việc bảo vệ quyền con người ở nhiều nơi trên thế giới. Sứ mệnh của anh không chỉ dừng lại trong phạm vi đất nước Thổ Nhĩ Kỳ. Đối với anh, một khi đã là luật sư nhân quyền, anh phải đấu tranh để bảo vệ cho bất kỳ ai bị xâm phạm về các quyền cơ bản trên khắp thế giới. Chính điều này đã thôi thúc và khiến anh trở thành một luật sư nhân quyền cho những nhà hoạt động, những tù nhân chính trị – những người đang đối mặt với sự lạm quyền ở Cuba, Iran, Pakistan, Việt Nam và nhiều quốc gia khác nữa. Anh đã và đang theo dõi sát sao những trường hợp này và bảo vệ họ tại các phiên họp của “Nhóm làm việc về việc bắt giữ tuỳ tiện của Liên Hiệp Quốc”.

Những nỗ lực cùng với sự nhiệt tình của anh nhằm tác động lên các quyết định của Nhóm này. Hiện nay, anh cũng đang là luật sư nhân quyền quốc tế bảo trợ cho một số tù nhân lương tâm Việt Nam bị chính quyền đàn áp vì quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt và tự do xuất bản.

ÔNG CÓ PHẢI LÀ ĐẤNG CỨU THẾ KHÔNG?

 ÔNG CÓ PHẢI LÀ ĐẤNG CỨU THẾ KHÔNG?

Lm. Mark Link

Jim Bishop có viết một tác phẩm nhan đề “Ngày Đức Kitô đến.”  Tác phẩm đó có một đoạn văn rất hay mô tả những gì người Do thái cảm thấy về việc Đấng Cứu Thế đến.  Đoạn văn đó như sau:

“Việc Đấng Cứu Thế đến là một nỗi ám ảnh dịu ngọt của một quốc gia.  Đó là một niềm vui ngoài sức tưởng tượng, một hạnh phúc vượt khỏi niềm tin.  Đó là niềm an ủi cho những nông dân làm việc cực nhọc cả ngày đang cùng với gia đình nằm trên giường chờ giấc ngủ đến.  Đó là giấc mơ của người tóc đã hoa râm.  Đó là điều mà trẻ em mong được nhìn thấy từ trên ngọn núi phủ mây trắng hiện đến.  Đó là niềm hy vọng của dân xứ Giuđêa đang bị xiềng xích tủi nhục.  Đấng Cứu Thế luôn luôn là một sự hứa hẹn cho buổi sáng ngày mai.”

Vì thế nên khi Gioan tẩy Giả xuất hiện bên giòng sông Giođan, dân chúng rất là phấn khởi.  Gioan bắt đầu sứ mạng của ông tại một địa điểm không xa biển chết.  Đó là tụ điểm bình dân của những đoàn hành hương và các du khách từ khắp nơi trên thế giới đến.  Đó là một nơi tuyệt hảo để mọi người gặp gỡ nhau và trao đổi những tin tức thế giới.  Vì thế đó là một nơi lý tưởng để Gioan Tẩy Giả bắt đầu rao giảng và làm phép rửa.  Sứ điệp Gioan rất đơn giản và rõ ràng: “Hãy từ bỏ tội lỗi mình… Hãy dọn đường cho Chúa đến, hãy làm một lối thật thẳng để Người đi” (Lc. 3,3-4).

Chẳng mấy chốc, tin tức về hoạt động của Gioan tẩy giả đã đến tai những nhà lãnh đạo tôn giáo ở Giêrusalem.  Vì thế họ cử một phái đoàn gồm các tư tế và các thầy Lêvi đến nói chuyện với Gioan.  Các tư tế đặc biệt lưu ý đến Gioan vì ông là con của Zacaria, cũng là một tư tế.  Trong Do Thái giáo, điều kiện duy nhất để có thể làm tư tế là phải thuộc dòng dõi tư tế.  Nếu có ai là con cháu của Aaron, thì không ai có quyền cấm người ấy thực hiện chức năng tư tế của mình.  Do đó các tư tế tại Giêrusalem đặc biệt lưu tâm tới Gioan, và chắc chắn không hiểu tại sao Gioan lại hành xử một cách dị thường như thế.

Khi phái đoàn các tư tế đến, họ đi thẳng vào vấn đề và hỏi Gioan: “Ông là ai?”  Gioan biết trong tâm trí họ nghĩ gì, nên ông nói: “Tôi không phải là Đấng Cứu Thế.”  Các tư tế hỏi: “nếu ông không phải là Đấng Cứu Thế, vậy ông là ai?  Ông có phải là Êlia không?”  Đối với chúng ta, câu hỏi sau cùng này có vẻ khó hiểu.  Nhưng chúng ta nên nhớ rằng Êlia là một vị tiên tri đã được cất lên trời bằng một chiếc xe lửa vào cuối đời.  Nhiều người Do Thái tin rằng Êlia sẽ trở lại vào thời Đấng Cứu Thế đến.  Ngay cả thời nay cũng có một số người Do Thái dành cho tiên tri Êlia một ghế trống trong bữa ăn Vượt Qua của họ.  Họ cầu mong năm nay là năm Êlia trở lại để loan báo Đấng Cứu Thế đến.  Nhưng Gioan nói thẳng rằng ông không phải là vị tiên tri đã được cất lên trời trên chiếc xe lửa trước đó mấy thế kỷ.

Họ hỏi: “Vậy ông có phải là một vị tiên tri không?”  Gioan lại trả lời: “Không!  Tôi không phải là một vị tiên tri giống như Giêrêmia hay Êzêkiel.”  Họ hỏi tiếp: “Vậy thì ông là ai?”  Gioan trả lời bằng câu nói của Isaia: “Tôi là tiếng kêu gào trong sa mạc: “Hãy dọn đường cho ngay thẳng để Chúa đến.”  Muốn hiểu rõ câu nói đó của Gioan Tẩy Giả, ta nên nhớ rằng những con đường ngày xưa chỉ có một ít là trải sỏi hoặc đá, còn đa số là những con đường lầy lội.  Khi một vị vua muốn đi thăm một tỉnh nào đó trong vương quốc của mình, ông sẽ sai một người “tiền hô” tới đó trước để báo cho dân chúng lấp đầy những hố, những vũng bùn, và làm cho những con đường thẳng thắn lại.  Người “tiền hô” còn có một điều nữa phải làm là dạy cho dân chúng những nghi thức tiếp tân thích hợp để đón nhà vua tới. Gioan Tẩy Giả cũng lưu ý tới thái độ tiếp tân cần phải có để đón Chúa tới.  Ông nói: “Hãy ăn năn hối cải tội lỗi mình và hãy lãnh nhận phép rửa.” (Mc.4).

Tóm lại chúng ta có thể diễn đạt toàn bộ sứ điệp của Gioan như sau: Tôi không phải là Đấng Cứu Thế, nhưng tôi là người “tiền hô” cho Ngài.  Hãy chuẩn bị, vì Ngài sắp đến.  Gioan đã làm những gì mà mọi vị lãnh đạo tôn giáo phải làm.  Ông không để cho người ta chú ý tới ông, mà hướng mọi sự chú ý của họ vào Đức Giêsu.

Đó chính là những gì Giáo Hội làm suốt Mùa vọng.  Giáo Hội tập trung mọi chú tâm của chúng ta vào Đức Giêsu.  Giáo Hội hành động giống như vị “Tiền hô” của Ngài.  Và cuối cùng Giáo Hội giải thích cho chúng ta biết chuẩn bị đón Ngài như thế nào.

Mùa vọng nói với chúng ta về việc Đức Giêsu đến.  Ngài không phải chỉ đến trong giòng lịch sử như chúng ta vẫn mừng và kỷ niệm vào ngày Giáng Sinh, mà Ngài còn đến lần chót vào cuối dòng lịch sử nữa.

Tin Mừng Matthêu có nói về lần đến cuối cùng đó: “Khi Con Người đến với tư cách một vị vua, Ngài sẽ ngồi trên ngai vàng của Ngài, và toàn dân thiên hạ sẽ qui tụ trước mặt Ngài.  Lúc đó Ngài phân chia họ ra làm hai nhóm, y như người chăn chiên tách chiên ra khỏi dê…  Nhà vua sẽ nói với những người ở bên phải: Hãy đến hỡi những kẻ được Cha Ta chúc phúc!  Hãy đến và hãy lãnh lấy nước trời làm cơ nghiệp…  Rồi Ngài nói với những người ở bên trái: Hãy đi khỏi Ta và vào lửa đời đời” (Mt.25,34-41).

Những bài đọc trong Thánh lễ Chúa Nhật này muốn nói: Gioan không phải là Đấng Cứu Thế, Ông chỉ là người “Tiền hô” của Ngài.  Gioan dạy cho chúng ta cách chuẩn bị ngày Ngài đến vào cuối lịch sử để làm quan án xét xử chúng ta.

Để kết thúc, chúng ta hãy ăn năn thống hối như khi lãnh nhận bí tích hoà giải.  Xin các bạn hãy thinh lặng và cùng cầu nguyện với tôi:

“Lạy Cha chí nhân, con xin trở về với Cha và nói giống như người con hoang đàng: con đã lỗi phạm đến Cha, con không đáng gọi là con Cha nữa.  Lạy Chúa Giêsu là Đấng cứu chuộc nhân loại, con cầu nguyện với Chúa như người trộm lành mà Chúa đã hứa nước thiên đàng ngày xưa: Lạy Chúa xin hãy nhớ đến con trong nước của Chúa.  Lạy Chúa Thánh Thần là nguồn mạch tình yêu, con thành tâm cầu khẩn Ngài, Xin hãy thanh tẩy tâm hồn con và giúp con bước đi như con cái của sự sáng.

Lm. Mark Link

Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa

Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa

 Tác giả:  Lm Nguyễn Văn Độ

  Suy niệm Chúa Nhật III Mùa Vọng – C  (Lc 3, 10 – 18)

Lời mời ‘hãy vui lên’ là đặc điểm của Mùa Vọng. Mong đợi Chúa giáng trần, mong đợi mà chúng ta đang sống là niềm vui. Và Chúa nhật thứ III Mùa Vọng, chiều kích của niềm vui này đặc biệt nổi bật trong ca nhập lễ với những lời khích lệ của Thánh Phaolô “Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa” (Pl 4,4). Tại sao chúng ta vui? Câu trả lời là vì Chúa sắp ngự đến rồi (x.Pl 4, 5).

Hôm nay Phụng vụ Giáo hội đang màu tím chuyển sang hồng thể hiện rõ nét của niềm vui, vui vì những gì đã đạt được trong chặng đường thứ nhất của Mùa Vọng, nay nghỉ một chút để nhìn lại chặng đường đã qua với niềm vui, và lấy thêm đà mới chuẩn bị mừng (Chúa Giáng Sinh), nên Giáo hội mời gọi con cái mình “Gaudete – Hãy vui lên”.

Với lời thánh ca du dương phỏng theo lời của thánh Phaolô: Anh em hãy vui lên trong niềm vui của Chúa. Vui như Isaia nói:“Tôi hớn hở vui mừng trong Chúa, và lòng tôi hoan hỉ trong Chúa tôi” (Is 61, 10). Lời nguyện nhập lễ hôm nay đưa chúng ta vào chính niềm vui thiêng thánh ấy: “Lạy Chúa, xin đoái xem, này dân Chúa đem tất cả niềm tin đợi chờ ngày lễ Sinh Nhật Đấng Cứu Thế. Xin hướng niềm vui chúng con về chính nguồn hoan lạc của mầu nhiệm Giáng Sinh cao cả để tâm hồn chúng con hoàn toàn đổi mới mà họp mừng ngày cứu độ đã gần kề” (Lời nguyện nhập lễ Cn III Mùa Vọng).

Những lời trên làm tâm hồn chúng ta rạo rực hẳn lên, dẫn chúng ta bước vào mầu nhiệm của niềm vui ơn cứu độ. Nghe những lời loan báo của Xôphônia chúng ta không thể không vui : “Hỡi thiếu nữ Sion, hãy cất tiếng ca! Hỡi Israel, hãy hoan hỉ! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy hân hoan và nhảy mừng hết tâm hồn!” (Xp 3, 14-15). Cũng sứ điệp của niềm vui, Thiên Thần chào Đức Maria: “Hỡi Bà đầy ơn phúc, hãy vui lên” (Lc 1,26). Lý do chính để thiếu nữ Sion vui là có: “Chúa là Thiên Chúa ngươi, là Đấng mạnh mẽ ở giữa ngươi, chính Người cứu thoát ngươi. Người hân hoan vui mừng vì ngươi. Người cảm động yêu thương ngươi, và vì ngươi, Người sung sướng reo mừng” (Xp 3, 16-18).

Xôphônia muốn chúng ta phải vui mừng, không có lý do gì để thất vọng, nản chí, buồn sầu, dù tình trạng ta phải đương đầu có thế nào đi nữa, chúng ta chắc chắn về sự hiện diện của Chúa, nguyên sự hiện diện ấy cũng đủ để làm cho tâm hồn ta hân hoan.

Trong thư gửi tín hữu thành Philiphê, thánh Phaolô mời gọi con cái mình vui lên trong niềm vui của Chúa, và ngài đưa ra lý do tại sao phải vui mừng. Thưa vì “Chúa đang đến gần!” (Pl 4,5).

Chúa sắp ngự đến rồi, vậy để đón Chúa, chúng ta làm gì đây? Cám ơn những người thu thuế, các quân nhân và những người đã đến hỏi Gioan về cách thức chuẩn bị đón Chúa đến, vì nhờ họ chúng ta mới có câu trả lời, Thiên Chúa không đòi điều gì ngoại thường, nhưng Chúa muốn mỗi người sống theo các tiêu chuẩn liên đới và công bằng; nếu không có những đức tính này thì ta không thể chuẩn bị tốt đẹp để gặp gỡ Chúa.

Khi dân chúng đến hỏi Gioan Tẩy Giả, ông khuyên: “Ai có hai áo, hãy cho người không có; ai có của ăn, cũng hãy làm như vậy” (Lc 3, 11). Thật là phù hợp với tinh thần Đạo Chúa, bởi đức bác ái được đề cao, yêu thương được chú trọng phải thực hành như Thiên Chúa. Bác ái thúc đẩy quan tâm đến người khác và đáp ứng nhu cầu của họ. Công lý đòi phải vượt thắng sự chênh lệch giữa người có của dư thừa và người thiếu những điều tối cần thiết. Công lý và bác ái không đối nghịch nhau, nhưng cả hai chắp lại thành đôi cánh để con người thăng tiến trong yêu thương. Theo Đức Nguyên Giáo hoàng Bênêđitô XVI thì, “Tình thương luôn là điều cần thiết, cả trong một xã hội công bằng nhất, vì luôn luôn có những tình trạng thiếu thốn về vật chất trong đó sự trợ giúp là điều tối cần thiết trong sự yêu thương cụ thể đối với tha nhân” (Trích Deus caritas est, số 28)

Đối với người làm nghề thu thuế, họ thường bị khinh rể bởi lợi dụng địa vị. Gioan không bảo họ phải đổi nghề, nhưng đừng đòi thêm điều gì khác ngoài mức đã được ấn định (x. Lc 3,13). Theo Gioan, tiên vàn hãy chu toàn nghĩa vụ của mình một cách lương thiện. Hãy tuân giữ các giới răn (x. Xh 20,15).

Đến lượt các quân nhân, hạng người dễ bị cám dỗ lạm quyền. Thánh Gioan nói: “Đừng ức hiếp ai, đừng cáo gian ai; các ngươi hãy bằng lòng với số lương của mình” (Lc 3,14). Cả trong trường hợp này, sự hoán cải bắt đầu bằng sự lương thiện và tôn trọng tha nhân: chỉ dẫn này có giá trị đối với mọi người, nhất là những người có trách nhiệm lớn hơn.

Israel vui vì có Chúa, để có được niềm vui đích thực, niềm vui trong Chúa và có Chúa ở cùng. Mượn lời các quân nhân, chúng ta hỏi Gioan Tiền Hô: Còn chúng tôi, chúng tôi phải làm gì? Chắc ngài sẽ chỉ cho chúng ta những việc phải làm. Chỉ dẫn của Gioan Tẩy Giả vẫn luôn thời sự: cả trong thế giới đại dịch chúng ta đang sống, tình thế sẽ khá hơn nếu mỗi người tuân giữ các qui luật hành xử này.

– Đừng xét đoán để khỏi bị xét đoán, hãy tha thứ và cho đi, tránh tật nói hành nói xấu, tránh lời nói ghen tương, phân bì, đón nhận điều tốt lành ở nơi mỗi người.

– Cởi mở tâm hồn đối với những người đang sống trong tình trạng bấp bênh, đau khổ; những anh chị em bị tước đoạt phẩm giá. Hãy phá vỡ hàng rào của sự dửng dưng lãnh đạm là thái độ đang lan tràn, che đậy sự giả hình và ích kỷ.

– Vui mừng thực thi những công việc bác ái về thể lý và tinh thần, “để thức tỉnh lương tâm ngái ngủ của chúng ta trước thảm trạng nghèo đói” và đừng quên rằng “vào cuối đời, chúng ta sẽ bị phán xét về đức bác ái” (lời Thánh Gioan Thánh Giá).

Ước chi Lễ Giáng Sinh nay đã gần, thôi thúc chúng ta khắp nơi trên trần thế canh tân niềm tin của mình vào Thiên Chúa và vào Con của Ngài là Đức Giêsu Kitô, đồng thời chuẩn bị một nơi xứng đáng để đón tiếp Chúa Kitô.

Lạy Mẹ Maria, xin giúp chúng con chuẩn bị tâm hồn để đón rước Chúa Giêsu. Amen.                    

 Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

HAI VẤN ĐỀ

Hai vấn đề

Tác giả:  Trầm Thiên Thu

 Con Chúa Giáng Trần Nêu Gương Nghèo Khó

Thế Nhân Vươn Dậy Thể Hiện Mến Thương

Tứ thời, bát tiết, bốn mùa luân phiên – Xuân, Hạ, Thu, Đông. Mùa Đông có hơi lạnh khiến người ta co mình lại thì thời gian một năm cũng đang dần khép lại. Các Mùa Phụng Vụ cũng tương tự. Hết Mùa Thường Niên là kết thúc Năm Phụng Vụ cũ, bắt đầu Năm Mới bằng Mùa Vọng và Giáng Sinh.

Dù là ai – kể cả người vô thần, người ta vẫn luôn cảm thấy kỳ diệu đối với Mùa Vọng và Mùa Giáng Sinh, có nhiều vấn đề liên quan, không chỉ chuyện vui mà còn có cả chuyện không vui. Tất nhiên thôi. Đối với tín nhân, Giáng Sinh gợi suy tư, vì Chúa Giêsu hóa thân là một Hài Nhi sinh ra trong cảnh đơn nghèo. Ngài tự hạ mình xuống ở với chúng ta, chấp nhận nghèo khó vì yêu thương chúng ta – những tội nhân xấu xa, bất xứng. Mầu Nhiệm Nhập Thể cao vời khôn ví: Verbum Caro Factum Est – Ngôi Lời hóa thành nhục thể.

Giáng Sinh gợi nhớ Vườn Địa Đàng và Ông Bà Nguyên Tổ. Sự sa ngã của Ađam và Êva được gọi là Felix Culpa, nghĩa là “sự sa ngã may mắn” hoặc “sự rủi ro có phúc.” Kitô giáo gọi đó là Tội Nguyên Tổ, và được coi là Tội Hồng Phúc, vì nhờ vậy mà nhân loại được đón nhận Con Thiên Chúa là Đức Kitô Giêsu xuống thế làm người để cứu độ và phục hồi cương vị làm con cái đối với những ai thật lòng tin nhận Ngài là Đấng Cứu Độ duy nhất.

Đại dịch Cúm Tàu là cơ hội để người ta nhìn lại chính mình – đối với Thiên Chúa và tha nhân. Cậu bé Abhigya Anand 14 tuổi, người Ấn Độ, đã tiên báo đúng vài lần liên quan dịch bệnh bùng phát vừa qua, liệu cậu có đúng khi cảnh báo dịch bệnh còn khủng khiếp hơn vào tháng 4-2022 hay không? Có thể, bởi vì người ta có vẻ vẫn chưa thực sự quan ngại. Người ta đã cảnh báo về chủng Nipah virus còn “đáng sợ” hơn Corona virus. Trước đây virus đánh vào buồng phổi, trung tâm điều khiển hơi thở – nơi cho biết có sự sống, và Nipah tiếp tục “đúng quy trình” của ma quỷ là “đánh” vào trung tâm sự sống, nhưng cao cấp hơn – nhắm vào đầu não của sự sống là bộ não. Do đó, nguy cơ tử vong khoảng 40%–70% thì thật đáng sợ!

Tại sao não là bộ chỉ huy? Đó là trung tâm đầu não, bởi vì có thể là người ta bại liệt, thậm chí là “như chết” mà người ta vẫn có thể cảm nhận, bởi vì bộ não còn sống – mặc dù người ngoài không cảm thấy bệnh nhân còn thở. Có thể nói rằng xưa nay chưa từng có đại dịch nào độc ác và nguy hiểm như Cúm Tàu – nói thẳng ra là Tàu Cộng, không liên quan các hiền nhân Trung Hoa tốt lành. Nhân sao, vật vậy. Vật thế nào tố cáo người như thế.

Cuộc sống có nhiều thứ cảnh báo, chắc chắn không như chuyện dự báo thời tiết. Tuy nhiên, cảnh báo là một chuyện, còn người ta có thực sự ý thức hay không lại là chuyện khác. Thiên Chúa đã cảnh báo mạnh mẽ: “Nếu không sửa đổi, Thiên Chúa sẽ phạt GẤP BẢY LẦN.” (Lv 26:18, 21, 24, 28) Có lời cảnh báo tức là đã có nhiều tội lỗi, Thiên Chúa tiếp tục cảnh báo: “Đừng gieo trên những luống bất công, kẻo phải gặt bất công GẤP BẢY LẦN.” (Hc 7:3) từng nói: “Đã bao lần Ta muốn tập hợp con cái ngươi lại, như gà mẹ tập hợp gà con dưới cánh, mà các ngươi không chịu.” (Mt 23:37; Lc 13:34) Chúa Giêsu cũng cảnh báo quá nhiều, xưa người ta không quan tâm thì nay người ta cũng vẫn bỏ ngoài tai, chỉ nghe để biết hoặc cho vui vậy thôi. Và rồi chuyện gì đến cũng đến…

  1. NHÂN ĐỨC

Chúa Giêsu giáng sinh trong cảnh nghèo khó. Chính Ngài đề cao lối sống nghèo khó và gọi đó là một mối phúc: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.” (Mt 5:3) Như vậy, sự nghèo khó cũng là một nhân đức. Người ta muốn sống ung dung sung sướng, chứ không dễ gì dám sống nghèo khó. Cái nghèo và cái lạnh liên quan lẫn nhau. Người nghèo thiếu quần áo, chăn mền,… thế nên họ phải chịu đựng cái lạnh. Cái lạnh thân xác dẫn tới cái lạnh tâm hồn – vì cô đơn. Nghèo thì Khó, Khó thì Khổ. Việt ngữ thường ghép lại là Nghèo Khó hoặc Nghèo Khổ, thậm chí là Nghèo Hèn.

Luôn có điều kỳ lạ khi Con Thiên Chúa giáng sinh làm người. Mọi thứ đề lạ lùng. Lạ từ nội tại tới ngoại tại. Giáng Sinh tại Việt Nam chỉ se lạnh một chút, chẳng thấm gì so với cái lạnh của Hài Nhi Giêsu năm xưa, nhưng cũng là lời nhắc để chúng ta nhớ tới cái lạnh của những phận người cơ nhỡ, cô đơn, nghèo khó, thiếu thốn cả những thứ cơ bản nhất,… Việt ngữ thật chí lý khi nói là giá lạnh hoặc lạnh giá, cái “giá” này mới “đáng giá,” buốt thấu xương, chứ cái “lạnh” chưa thấm thía chi đâu!

Cái lạnh ngoại tại gợi nhớ tới cái lạnh tâm hồn, cái lạnh linh hồn, cái lạnh tâm linh. Cái lạnh này khủng khiếp, cái lạnh giá băng. Đó là điều thực sự đáng quan tâm và quan ngại. Cuộc sống có những cái lạnh khác nhau:

  1. TINH THẦN – Đó là cái lạnh của những người đơn độc, mồ côi, neo đơn, thất vọng, bị xa lánh, bị ghen ghét … Họ không có ai để chia sẻ, mà có chia sẻ cũng chẳng mấy ai quan tâm. Thật khổ tâm với “khoảng lạnh” như vậy!
  2. LINH HỒN – Đó là cái lạnh của những người khô khan, nguội lạnh, tội lỗi, niềm tin lung lay, bước đời chao đảo, mất phương hướng,… Thật đáng thương với “khoảng lạnh” như vậy!
  3. TÂM LINH – Đó là cái lạnh của những người vô cảm trước nỗi khổ của người khác – như ông Simon chê phụ nữ tội lỗi kia xức dầu thơm chân Chúa Giêsu và khóc vì sám hối, (Lc 7:36-50) như Thầy tư tế và Thầy Lêvi không hề chạnh lòng thương xót người lân cận, cam tâm bỏ mặc nạn nhân dở sống dở chết, (Lc 10:30-37) như người Pharisêu kiêu hãnh khi cầu nguyện tại đền thờ, (Lc 18:10-14) người Pharisêu phạm tội ngay trong lúc cầu nguyện, thờ phượng. Thật đáng sợ với “khoảng lạnh” như vậy!

Là Vua của các vua và Chúa của các chúa, thế mà Ngài lại sinh nơi hang đá, nơi máng lừa, thực sự vô cùng kỳ lạ, chúng ta không thể hiểu nổi. Thiên Chúa là Đấng tạo tác muôn loài, làm cho mọi sự hiện hữu từ hư vô, vậy mà Ngài lại xuống thế gian ở với loài người, sinh ra nơi hèn hạ và nghèo khó nhất, chứ không uy nghi như người ta tưởng. Con Thiên Chúa giáng sinh là sự kiện độc nhất vô nhị, quá đỗi kỳ diệu, phàm nhân không thể hiểu và không thể lý giải, vì đó là mầu nhiệm – Mầu Nhiệm Giáng Sinh, Mầu Nhiệm Nhập Thể.

Còn kỳ lạ hơn nữa: Chúa Giêsu không chỉ sinh ra ở ngoài đồng, mà Ngài còn sống ở ngoài đường, và rồi chịu chết trên đồi hoang, dẫu chỉ một chỗ tựa đầu cũng không có, (Mt 8:20; Lc 9:58) trong khi con chồn còn có hang, con chim còn có tổ, chính chúng ta là thụ tạo và là tội nhân, vậy cũng có mái nhà – dù nghèo nàn, dù ở thuê, dù ăn nhờ ở đậu. Ôi, mầu nhiệm cao vời, lòng thương xót khôn ví!

Là Con Thiên Chúa, là Ngôi Hai Thiên Chúa, là Tạo Hóa, Chúa Giêsu giàu có và sang trọng bậc nhất, nhưng vì thương xót phàm nhân nghèo hèn, khốn khổ, Ngài chấp nhận hóa thân là một Hài sinh ra trong cảnh thiếu thốn tột cùng tại cánh đồng Belem. Dĩ nhiên Thiên Chúa có nhiều cách để cứu độ chúng ta, thậm chí Ngài chỉ cần phán một lời thì mọi tội lỗi của cả nhân loại này đều được tha bổng, nhưng Ngài đã chọn cách mặc xác phàm để trí óc phàm nhân chúng ta có thể hiểu và phần nào khả dĩ cảm nhận được lòng thương xót vô biên của Ngài, chứ chúng ta không thể thấu hiểu tình yêu thương cao cả đó.

Chắc chắn không ai muốn nghèo, nhưng nhân đức nghèo khó lại quan trọng và liên quan vận mệnh đời đời của chúng ta. Trong trình thuật Tin Mừng nói về cảnh Phán Xét Chung, Chúa chúc phúc cho những ai biết thương người nghèo khổ: “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han.” (Mt 25:34-36) Đó là vấn đề cụ thể về Đức Ái Kitô giáo – thương yêu và thương xót.

Hang đá Belem ngày xưa không hấp dẫn và thu hút người ta như ngày nay. Đó là hang đá xấu xí, tăm tối, hôi tanh, bẩn thỉu,… là nơi dành cho đàn súc vật trú qua đêm. Còn ngày nay, nhìn hang đá mà thấy như “khách sạn” sang trọng chứ chẳng thấy nghèo khó. Quả thật, có gì đó “bất thường” khi nhìn vào hang đá ngày nay. Than ôi!

Không biết vì người ta đua nhau hay khoe mẽ mà càng ngày người ta càng “xây dựng” hang đá đồ sộ, trang trí rườm rà, cầu kỳ, và tất nhiên chi phí tốn kém lắm – có nơi tốn cả trăm triệu đồng Việt Nam. Chúng ta chê người ta xây dựng tượng đài tốn bạc tỷ, tại sao chúng ta cứ xu thời như vậy? Ngay cả tư gia cũng vậy, nhà này đua với nhà kia, giáo xứ này cạnh tranh với giáo xứ nọ, hang đá càng to càng hãnh diện. Chắc chắn Chúa không muốn chúng ta mừng đón Ngài kiểu đó!

Thử nhìn vào hang đá mà suy tư. Chỉ thấy vẻ hào nhoáng cho vui mắt, bởi vì cái chính bị che khuất, còn những cái phụ lại quá nổi bật, thậm chí có nhiều hang đá nhìn mãi mới thấy Hài Nhi Giêsu, Đức Maria và Đức Giuse. Thiên Chúa muốn dạy chúng ta về nhân đức “khó nghèo” mà chúng ta lại theo kiểu “khó mà nghèo.” Con cháu Lạc Hồng chúng ta muốn Việt hóa nên có nơi làm một mái tranh, nhưng cái lều hoặc cái chòi đó lại lấp lánh ánh điện nhiều màu sắc. Phi thực tế. Bởi vì không nhà nghèo nào mà lại sang như vậy!

Thiên Chúa không cấm chúng ta trang trí một chút để kỷ niệm ngày Con Một Ngài giáng trần, nhưng đừng quá đáng, vì xung quanh chúng ta còn biết bao người chịu cảnh khốn cùng, nhất là trong giai đoạn còn dịch bệnh. Nhiều nơi trên thế giới không được tham dự Thánh Lễ cả năm rồi. Đối với cuộc sống, khổ vì khó – khó vì kinh tế bị ảnh hưởng, và mức nghèo gia tăng như một hệ lụy tất yếu. Chúng ta muốn vinh danh Chúa hay vinh danh chính mình mà làm hang đá “vĩ đại” như thế? Cuối cùng, Thiên Chúa vẫn phải tiếp tục chịu đựng loài người.

Chúa Giêsu xác định: “Người nghèo bên cạnh anh em lúc nào cũng có.” (Mt 26:11; Mc 14:7; Ga 12:8) Thật vậy, thế giới còn biết bao người nghèo, xung quanh chúng ta cũng không thiếu người nghèo, làm hang đá giản dị không chỉ gợi lên ý nghĩa của việc Con Chúa giáng sinh, mà còn dành tiền để làm việc khác cần thiết và đẹp lòng Chúa: Bác ái, nhất là vào dịp lễ Giáng Sinh – chia sẻ yêu thương, cụ thể là chút hiện vật. Điều đó càng tốt lành hơn trong cơn dịch bệnh thế này.

  1. TỘI ÁC

Kinh Thánh nói: “Nháy mắt mím môi, nghĩ ra điều dối trá là làm sự ác rồi.” (Cn 16:30) Vì thế, không ai dám nói mình giữ lòng thanh khiết và sạch tội. (Cn 20:9) Thánh Phaolô cảnh báo: “Mầu nhiệm của sự gian ác đang hoành hành.” (2 Tx 2:7) Thời nào cũng thấy đúng với nhận xét đó.

Giáo hội kính nhớ các Thánh Anh Hài ngay sau lễ Giáng Sinh. Đó là các “thánh nhi tử đạo” vì Chúa Hài Đồng, nguyên nhân là sự hèn hạ của ác vương Hêrôđê. Lễ này gợi suy tư về hai thái cực đối nghịch nhau: Sự trong trắng – vô tội, và sự độc ác – tà tâm.

Tin Mừng cho biết: Bấy giờ vua Hêrôđê bí mật vời các nhà chiêm tinh đến, hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện. Rồi vua phái các vị ấy đi Bêlem và dặn rằng: “Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người.” (Mt 2:8) Nói năng ra vẻ tốt bụng lắm, nhưng đó chỉ là mưu ma chước quỷ thâm độc của kẻ ác, nguy hiểm hơn nữa là kẻ này có quyền hành.

Các nhà chiêm tinh an tâm ra đi khi nghe nhà vua nói thế. Họ là những người tốt nên không hề nghi ngờ Hêrôđê. Từ lúc đó, ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông lại tiếp tục dẫn đường cho họ. Vừa trông thấy ngôi sao, họ mừng rỡ vô cùng. Và họ được ngôi sao dẫn đến tận nơi có Hài Nhi. Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là Bà Maria, và họ sấp mình thờ lạy Ngài. Rồi họ mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược để dâng tiến Hài Nhi.

Tuy nhiên, sau đó họ được báo mộng rằng đừng trở lại gặp vua Hêrôđê, và đi lối khác mà trở về. (Mt 2:12) Có lẽ lúc này các nhà chiêm tinh mới thấy rõ chân tướng độc ác của Hêrôđê, thế nên họ đã không dám quay lại triều đình. Phàm phu tục tử không thể “qua mặt” được Thiên Chúa! Và cũng là để điều này ứng nghiệm lời ngôn xứ từ ngàn xưa: “Ta đã gọi con Ta ra khỏi Ai Cập.” (Mt 2:15)

Không thấy các nhà chiêm tinh trở lại, vua Hêrôđê biết mình bị hố, thế nên ông ta cảm thấy bị lừa nên nổi giận. Ông ta sai thuộc hạ đi giết tất cả các con trẻ ở Bêlem và toàn vùng lân cận, từ hai tuổi trở xuống, tính theo ngày tháng ông đã hỏi cặn kẽ các nhà chiêm tinh. Rõ ràng là quá hèn hạ mà không biết nhục. Thế là ứng nghiệm lời ngôn sứ Giêrêmia: “Ở Rama, vẳng nghe tiếng khóc than rền rĩ: tiếng bà Rakhen khóc thương con mình và không chịu để cho người ta an ủi, vì chúng không còn nữa.” (Mt 2:18) Không ai sống mãi ở đời này, dù là hiền nhân hoặc ác nhân, ngay cả những người trường thọ nhất. Tất nhiên ác vương Hêrôđê cũng phải chết. Chết thật chứ không chết giả. Thế nhưng “dòng dõi” của ông ta còn nhiều, hiện diện ngay trong xã hội ngày nay.

Chẳng có đâu xa, ngay tại Việt Nam cũng có rất nhiều Hêrôđê vẫn hằng ngày rảo bước khắp các hang cùng ngõ hẻm… Nơi nào cũng có, chỗ nào cũng thấy – dù phố hay quê. Đó là các “bản sao” của ác vương Hêrôđê. Họ là ai mà cứ “lộng hành” như vậy?

Khắp nơi vẫn xuất hiện những kẻ mang “máu lạnh” của ác vương Hêrôđê. Ngày nay thông tin cập nhật nhanh nhờ internet, có nhiều tin về những vụ bạo hành trẻ em. Có những người là bảo mẫu mà lại nhẫn tâm đạp chết trẻ thơ vô tội; có những ác phụ mang danh cô giáo nhà trẻ dùng phương pháp “sư phạm” ác độc là hành hạ các trẻ thơ đủ kiểu như bóp mũi, bóp cổ, gí đầu xuống đất, dốc đầu ngược vào lu nước, tát thẳng tay, đánh đập không chút thương hại; có những người rình rập để bắt cóc trẻ thơ đem bán; có những người mẹ cam tâm giết con bằng cách phá thai hoặc vứt bỏ núm ruột của mình ở nơi nào đó; có những y bác sĩ sẵn sàng “giúp” người ta phá thai; và còn nhiều hành động tinh vi dã man mà người ta nhẫn tâm đối xử với trẻ em vô tội.

Tại Việt Nam, có lần người ta đã từng phát hiện nhiều trẻ em bị chôn vùi trong đống rác tại Đá Mài – Thái Nguyên, có em được sinh ra khỏe mạnh và lành lặn nhưng bị người ta đâm vài nhát dao cho chết. Chỉ trong hai tuần lễ, có nơi người ta phát hiện tới 600 thai nhi bị sát hại. Thật tàn nhẫn và kinh khủng quá! Thai nhi là sinh linh, là thụ tạo của Thiên Chúa, nhưng chúng lại bị tước mất quyền sống, không được sinh ra để làm người. Làm hại thai nhi và trẻ em, hoặc bất cứ người nào, là tội phạm thượng vì dám xúc phạm tới Thiên Chúa tối cao.

Trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ – United States Declaration of Independence, ngài Thomas Jefferson (1743-1826, tổng thống thứ ba của Hoa Kỳ nhiệm kỳ 1801-1809) đã đề cập BA QUYỀN CƠ BẢN KHÔNG THỂ BỊ TƯỚC ĐOẠT của con người: Quyền Sống, Quyền Tự Do và Quyền Sở Hữu. Luật đời mà như thế thì tại sao chúng ta dám khinh suất Thánh Luật của Thiên Chúa?

Ngày xưa, ác vương Hêrôđê chỉ giết các trẻ em trong vùng Bêlem và lân cận từ hai tuổi trở xuống. Nhưng ngày nay, các ác nhân giết bất kỳ ai và ở bất kỳ lứa tuổi nào, thậm chí giết cả cha mẹ và thân nhân của họ. “Dòng dõi” Hêrôđê ngày nay thâm độc hơn, tinh vi hơn, và khó nhận ra hơn. Nếu có bị phát hiện thì họ viện nhiều lý do để biện hộ cho hành vi ác độc của mình. Ác nhân luôn lắm chiêu trò lươn lẹo, lọc lừa, xảo trá. Đó là một loại đại dịch cũng nguy hiểm không khác gì Cúm Tàu Cộng.

Tiền nhân nói chí lý: “Được vạ thì má đã sưng.” Nếu pháp luật có xét xử và kết án đúng mức thì trẻ em cũng đã chết rồi. Chỉ tội nghiệp các trẻ em vô tội mà bị sát hại một cách oan uổng! Những kẻ làm cớ vấp phạm mà còn đáng bị buộc cối đá lớn vào cổ rồi bị ném xuống biển (Mc 9:42) thì những kẻ phạm tội sát nhân vì tham lam và ích kỷ đáng bị trừng phạt thế nào? Chắc hẳn không thoát khỏi “nơi chỉ có khóc lóc và nghiến răng” mãi mãi – nếu không thành tâm ăn năn sám hối!

Lạy Thiên Chúa từ bi nhân hậu, xin cho chúng con vui sống trong Thánh Luật của Ngài và được hưởng bình an đích thực của Ngài. Xin cứu thế giới khỏi mọi sự dữ, xin tác động mọi người ý thức bảo vệ sự sống và thể hiện văn minh yêu thương. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Emmanuel và Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Kính Mừng Chúa Giáng Sinh – 2021

NGÀY NHÂN QUYỀN!

Hieu Trung Nguyen is with Hieu Trung Nguyen and Nguyên HiếuTrung.

NGÀY NHÂN QUYỀN!

(Cô Hân Phan, sinh năm 1979, tốt nghiệp ngành Luật, đang là Giám đốc của một công ty Truyền thông ở Sài Gòn đã viết một đoạn văn khiến Việt Cộng nổi điên!!!)

Đoạn văn như sau: “Hơn 40 năm thống nhất, Việt Nam có hơn gì thời chiến ngoài đống xe máy chạy đầy đường… trong túi ai cũng có một cái điện thoại di động? Dù nhà ở không có, đất đai không có, bảo hiểm không có, tương lai cho con cái không có… nhưng bia rượu chảy tràn lan mỗi ngày trong quán nhậu. Người ta được ru giấc suốt hơn 40 năm bằng niềm ước mơ cháy bỏng “cơm no, áo ấm.” Hạnh phúc chỉ thế thôi! Muốn hạnh phúc hơn thì hãy làm giàu, làm giàu, làm giàu! “Doanh nhân là chiến sĩ thời bình.” C.! Tôi ỉ. vào cái khẩu hiệu sặc mùi con buôn, đầy phân chợ trời đó! Tiếng súng không còn nổ ngoài đường.

Một cuộc chiến khác đậm chất mafia, côn đồ, đảo Sicily chắc còn phải chào thua nhà cầm quyền Việt Nam trước khả năng dùng “luật im lặng” của họ với dân mình. Cuộc chiến đó là rình mò, là theo dõi, là cấm cản, là kiểm duyệt, là vu cáo, là bắt bớ, là dùi cui, là tù đày, là chết không lý do, là bị bịt miệng tại tòa, là con cháu theo lời lãnh đạo cầm gậy gộc ra ngoài đồng ức hiếp ông bà cha mẹ chòm xóm của mình vì họ đang giữ đất.

Trong khi họ giữ đất cho ai? Những đứa thanh niên đó nó đang nghĩ gì khi quay lưng lại với dân tộc mình? Ðơn giản thôi. Nó tin rằng nếu trung thành với cái thể chế mà nó đang phục vụ, thể chế đó sẽ cho nó công việc ổn định, đặc quyền, đặc lợi hơn người. Vậy là nó nhắm mắt làm theo, coi nhân dân là cỏ rác, cũng vì lợi ích cá nhân … gia đình nó – nếu nó có nghĩ tới. Chứ ngoài ra, liệu còn cái lý tưởng cao đẹp nào có thể tin vào lúc này? Ðừng nói với tôi là “lý tưởng Hồ Chí Minh” hay “lý tưởng cộng sản” nhé! Hỏi những đứa mặc áo xanh cán bộ đoàn thử xem, nó nói có trôi chảy không? Tôi đã thử rồi, rốt cuộc là ngồi im nghe tôi nói huyên thuyên toàn những điều mà trường học gọi là “phản động.”

“Cuộc chiến này được khoác lên chiếc áo bảo vệ hòa bình, tự do, hạnh phúc. Còn bên trong là để bảo vệ quyền lợi, quyền lực cho một nhóm người gắn kết với nhau bằng những chiếc răng cùng gặm vào xương máu người nghèo, người thất học, người bán buôn lương thiện hàng ngày. Những người mỗi ngày chỉ biết tạ ơn trời Phật đã cho chúng con một ngày yên ổn làm ăn, không bị cán bộ thuế đến nhũng nhiễu, không bị CSGT thổi phạt kiếm ăn, không bị đội dân phòng rượt đuổi, không bị ông chủ đẩy vào toa-lét để sờ soạng, không bị cắt tiền tăng ca, không bị cho ăn cơm thiu ngộ độc, không bị bệnh đột ngột phải vào bệnh viện nằm gầm giường chờ chết…

Thế là cái dân tộc đầy sợ sệt, bất an đó cuống cuồng kiếm tiền, cuống cuồng vơ chỗ này, cấu chỗ kia để lo cho cái thân mình. Họ còn biết làm gì nữa? Và khi họ chăm chắm vào tiền và sự yên ổn cho mình, họ để mặc cho một bọn ác khác lên ngôi, bọn này là sản phẩm của công thức: Bên trên, chúng nhìn thấy cách hành xử của một chính quyền côn đồ, có tiền là ra luật + Bên cạnh, chúng nhìn thấy những con người thờ ơ với người khác, chỉ còn biết nghĩ tới mình + Bên dưới, chúng nhận ra một đám người khổ sở, sợ sệt, yếu ớt = Chúng chợt nhận ra chúng có khả năng luồn cúi bên trên, tránh né bên cạnh… ức hiếp bên dưới.”

Bọn đó tập trung vào các cơ quan công quyền, làm quản lý, làm công an, làm công chức,… làm “đầy tớ” của nhân dân! Bọn công bộc đó đã cùng nhau đẩy những cụ già bỏ quê bỏ xứ, lên Sài Gòn ngồi vạ vật dầm mưa dãi nắng suốt ngày đêm, ngày này qua tháng nọ để kêu oan. Tôi sợ bọn chúng vì bọn chúng đông quá, đông như kiến cỏ. Chúng nhan nhản khắp nơi, ngày ngày bóp chết mọi ước mơ, triệt tiêu mọi khao khát, thêm sự dốt nát của chúng vào nữa là hoàn hảo để tạo ra một nền kinh tế xã hội thụt lùi đến chóng mặt, quay cuồng trong dối trá và danh lợi. Ðáng sợ hơn, cuộc sống ấm êm no đủ của chúng nhờ vào tính cơ hội – thu vén lại là sự thèm khát của những tầng lớp khác. Khiến cho những con thiêu thân non trẻ khác lao vào như một cơ hội ngàn vàng.

Có người lo sợ hỏi tôi rằng, nếu Cộng Sản sụp đổ thì tương lai Việt Nam sẽ ra sao? Tôi hỏi ngược rằng theo bạn thì chế độ hiện nay thế nào? “Cộng Sản Việt Nam là chế độ tồi tệ nhất!” người bạn đó trả lời. Vậy nên tôi cũng trả lời cho bạn rằng: “Điều tồi tệ có thể sẽ tới nhưng sẽ không tồi tệ bằng hiện nay vì Cộng Sản Việt Nam là chế độ tồi tệ nhất!” “Hãy mạnh dạn lên, chúng ta hãy cùng xóa sổ cái chế độ hèn với giặc ác với dân này!

HÂN PHAN

Điều Gì Là Của Ta?

Van Pham

GÓC SUY GẪM…

Điều Gì Là Của Ta?

  1. Vợ (chồng) có phải là của bạn không?

– Không phải!

Vợ chồng dù ăn cùng mâm, ở cùng nhà, tối ngủ chung giường, có thể đồng cam cộng khổ, vui buồn có nhau. Nhưng sau cùng cũng có lúc chia tay, có thể đồng sinh nhưng không thể đồng tử, trăm năm sống đến bạc đầu có nhau, tất cả cũng chỉ là mơ ước.

  1. Con cái có phải là của bạn không?

– Không phải!

Bố mẹ và con cái tuy là có quan hệ huyết thống, nhưng đó cũng chỉ là mối quan hệ mang tính Nhân Duyên. Hiếu đạo, tình cảm, chăm sóc lẫn nhau v.v… những điều ấy tạo nên một gia đình vui vẻ. Nhưng sau cùng, khi bạn bước sang thế giới bên kia, con cái cũng chỉ có thể tiễn bạn đi chứ không có khả năng đưa bạn trở lại.

  1. Tiền tài có phải là của bạn không?

– Không phải!

Bạn ra sức, nỗ lực kiếm tiền, sau rồi lại nghĩ cách tiêu đi. Cho dù tài khoản ngân hàng của bạn có bao nhiêu tiền, đó cũng chỉ là vật ngoài thân, sinh không đem đến tử không đem đi.

  1. Nhà cửa, xe cộ có phải là của bạn không?

Không phải!

Tuy bạn không ngừng nỗ lực để có được những thứ đó, nhưng khi bạn ra đi… tất cả trở về con số không. Nhìn này, tôi có thể bắt lấy mặt trời bằng tay không!

– Vậy rốt cuộc điều gì mới là của bạn?

SỨC KHỎE

Thân thể của bạn cũng không phải của bạn, chúng thuộc về 4 Duyên: Đất, Nước, Gió, Lửa tụ hội, vì thế cũng thuộc về vô thường, nhưng trên sự tương đối mà nói, thân thể bạn có khỏe mạnh thì cuộc sống của bạn mới có chất lượng, sinh mệnh mới được kéo dài.

Không có một cơ thể khỏe mạnh, đồng nghĩa với không có gì cả. Cho nên chúng ta sống được một ngày, cũng là một ngày phúc phận, cần phải trân quý chính mình.

TRÍ TUỆ

Sai lầm lớn nhất của đời người là đánh đổi sức khỏe để lấy vật ngoài thân.

– Bi ai lớn nhất của đời người là dùng hạnh phúc để đổi lấy phiền não.

– Lãng phí lớn nhất của đời người là dùng thời gian để giải quyết những phiền phức do chính mình tạo ra. Nói chung tất cả những điều này đều xuất phát từ nội tâm thiếu sáng suốt của bạn.

Trên thế gian không có gì quý hơn một sức khỏe dồi dào và một tinh thần mạnh mẽ khởi đi từ trí tuệ nội tại của bạn. Vì thế:

Xác thân là cây đèn, trí tuệ là ánh sáng của ngọn đèn.

Bạn hãy khéo nhận ra đâu là gia bảo thực sự và sử dụng vào những việc ý nghĩa nhất cho kiếp sống của mình…

Bức thơ cũ gởi anh Dương Văn Long hồi năm 2006

Bức thơ cũ gởi anh Dương Văn Long hồi năm 2006

     Thân gởi anh Dương Văn Long (1)

           Nhận được thơ anh gởi và đồng thời anh cũng đã gởi cho thầy Bằng, cựu Hiệu Trưởng trường trung học Lương Văn Can và gởi cho Tuyết Lâm, cựu học sinh. Trong thơ gởi cho thầy Bằng, anh có nói “cùng tuổi nhau sao giờ tôi lại có trí nhớ kém quá, sức khỏe thì yếu hẳn’’ và anh viết “rồi anh em sẽ ra đi lần lần theo luật tạo hóa mà.”

Ðọc câu này của anh mà lòng tôi thấy một nỗi buồn thắm thía. Rồi “anh em sẽ ra đi theo luật tạo hóa mà” hay một cách khác có thể nói:

làm người ai cũng phải chết,

chúng ta là người,

vậy chúng ta phải chết.

***

                 Khi tôi về trường Lương Văn Can thì anh đã là Nghị viên Hội đồng Ðô Thành Sài gòn rồi. Tôi lúc đó 28 tuổi còn anh 31 tuổi. Tuổi này là tuổi của mộng mơ, trong tâm tư anh cũng như tôi đều nuôi những tham vọng lớn, làm việc hết sức mình, ngoài những công việc thuần túy dạy học, anh và tôi đều muốn đi vào con đường khác hơn là chỉ ngồi trong mái nhà trường, chỉ đi dạy học, để hy vọng giúp ích gì được cho đất nước, cho dân tộc.

                 Ba mươi mốt năm qua, anh và tôi cũng không còn làm nghề “gõ đầu trẻ”. Có vài người bạn nói rằng chúng ta đã không còn làm thầy giáo và đã “tháo giày’’ hay họ còn đùa nặng hơn nữa là đã… “mất dạy’’. Nói đùa cho cho vui theo kiểu nói lái của dân miền Nam để diễn tả hoàn cảnh bi đát của thầy giáo sau năm 1975.

             Tôi phải vào trại cải tạo gần 8 năm, trong những năm bị tù đày này, tôi không thấy còn có chút gì tương lai và đã nghĩ rằng sẽ được chỉ định cư trú ở Thanh Hóa (tướng Nguyễn Hữu Có lo việc này) – sự chỉ định cư trú vĩnh viễn này đã xảy ra ở Nga dưới thời Stalin, ở Trung Quốc dưới thời Mao Trạch Ðông – vợ con sẽ về đó ở, nếu muốn. Ðó là tin tức được nghe từ trong trại cải tạo trong những năm 1980. Lúc đó tôi mới nghĩ là thôi hết rồi, cuộc đời mình đã tàn rồi, suốt đời sẽ cuốc đất trồng khoai, lên rừng đốn củi, xuống suối bắt cá, sẽ không còn nhìn thấy gia đình, bà con, bạn bè hay nhìn thấy thành phố Sài gòn nữa.

                 Anh ở bên ngoài, khi đi trình diện, cán bộ hỏi phần đảng phái, anh nói rằng: “anh ghi là không có. Cán bộ cộng sản ghi tên lúc đó đã kéo kiếng cận xuống, lõ con mắt ngó anh” và ra điều nghi ngờ lời khai của anh.

                  Sau khi đi cải tạo về khoảng đầu năm 1983 tôi có gặp anh mấy lần ở quận 8, khoảng cuối những năm 1984, 1985, lần chót gặp anh khoảng tháng 05 năm 2005 cùng với hơn 60 cựu hoc sinh tại nhà hàng 241, mà chủ nhà hàng này là Bửu Khánh, một cựu học sinh của trường Lương Văn Can, nhân tiện lúc tôi về chịu tang cha tôi mất.

***

               Từ nhà ga ở Hà Nội, tôi đón xe lửa về thành phố Sài gòn chỉ có cái “giấy ra trại” là tờ giấy lận lưng mà thôi. Tôi đem trở về Sài gòn mùng, mền, áo quần mà tôi đã mang đi theo khi vô tù, hồi tháng 06 năm 1975. Mùng, mền, áo quần này sau gần tám năm đã cũ, đã rách, đã rệu rã, vậy mà đi ngang qua thành phố Quảng Ngãi cũng bán được ít tiền để làm chuyến hành trình trở về nhà, về với gia đình, vợ con. Bán mùng mền, áo quần cũ có chút đỉnh tiền, mua được tô hủ tiếu và dư một ít trả tiền xe ôm về đến bến xe Nguyễn Biểu.

                Xa Sài gòn sau gần tám năm, lần đầu tiên trở lại, tôi như lạc bước vào thành phố nào lạ quắc, lạ quơ. Trên con đường Phạm Thế Hiển tôi đã đi lại thường xuyên lúc còn đi dạy học, vậy mà nay tôi thấy hoàn toàn đổi khác. Nhà cửa thấy lạ. Có nhiều nhà mới mọc lên. Có nhiều nhà nhô ra phía trước, dường như làm cho đường Phạm Thế Hiển nhỏ hẹp hơn.

                Tôi bước vào nhà gặp bốn năm đứa nhỏ đang ngồi học, tôi đâu biết đứa nào là con tôi, đứa nào là học trò. Bà xã tôi đang còn dạy học nên đem học trò về dạy thêm. Vừa bước vào nhà, để cái túi xách cũ xuống đất, tôi vội chạy một mạch từ đàng trước ra đàng sau, tới cửa sắt, ra ngoài sân phía sau nhà, thì nước mắt tôi tự nhiên trào ra, tôi đã khóc thực sự. Cái khóc này là cái khóc vì vui mừng, lần đầu tiên tôi khóc, tưởng rằng đã chết mà nay vẫn còn sống, không ngờ mình về được tới nhà, nơi mình đã sinh sống.

                Bây giờ làm sao để có tiền sinh sống nuôi bản thân, lo cho gia đình? Đã ở tù gần tám năm, đâu có nơi nào nhận mình dạy học trở lại.

                Phải làm đủ các nghề để sống. Mua bịt ni lông dơ ở các điểm thu mua ve chai, lông vịt đem về giặt sạch, phơi khô, bán lấy lời. Làm một hai chuyến bị ép giá, bán lỗ đành phải bỏ nghề này. Ði sang quận bảy tìm mua sách cũ đem ra chợ Sài gòn bán. Mới đi chuyến đầu, chưa bán được cuốn sách nào, đã bị tịch thu hết. Lúc đi bán đó, tôi có dẫn con gái 13 tuổi đi theo. Tôi không biết than thở cùng ai chỉ nói với con gái: “Mình mất sạch hết vốn rồi con ơi’’. Tôi còn phải ký biên bản không được buôn bán chợ trời nữa. Biết làm sao để kiếm tiền sống đây?

                 Gặp anh Ðạt, bạn tù cũ ở Vĩnh Phú, có chiếc xe xích lô đạp cho mượn. Vội vàng thay bộ đồ cũ, leo lên xe đạp chạy qua bến xe Chợ Lớn để tìm khách. Vừa đậu xe trước chợ, vì là lần đầu chạy xe nên không biết chỗ nào cấm đậu, chỗ nào được đậu rước khách, nên vừa đến cổng chợ, đang đứng lớ quớ kiếm khách, bị bảo vệ chợ lấy tấm nệm ngồi của khách. Phải bỏ bến xe Chợ lớn chạy vòng qua chợ Nguyễn Tri Phương chở hai vợ chồng người Hoa quá mập khoảng gần 200 kí lô. Hôm sau bỏ nghề luôn vì sau chuyến xe đó cả đêm không ngủ được vì quá mệt do phải đạp xe chở khách không quen.

                  Thôi đành đi bán vé số vậy. Cầm sấp vé số do anh Nguyễn Tấn Thời làm đại lý giao cho để đem bán. Anh Thời tốt nghiệp Cao Học Hành chánh, trước làm ở bộ Tài Chánh không phải đi tù. Không dám bán ở quận 8, sợ gặp học trò cũ, gặp người quen, dấu sấp vé số trong túi, đi qua quận năm để bán, hy vọng không gặp người quen. Nhưng vừa cầm vé số lên mời, lại gặp học trò cũ là Ðặng Thái Sơn, đang đậu xe xích lô đợi khách, mời uống cà phê đen, mời hút điếu thuốc có cán. Lúc đó hút được điếu thuốc có cán (thuốc thơm) là quí lắm rồi. Tôi thấy mắc cở, vội mang vé số về nhà, đưa cho đứa con gái út qua Chánh Hưng bán. Tôi giả từ nghề bán vé số luôn.

                  Rồi đi dạy kèm toán lớp 8, lớp 9, dạy Anh văn vở lòng. Phụ huynh học sinh thương tình thấy hoàn cảnh thất nghiệp, giới thiệu vài học sinh để dạy một tuần đôi ba giờ.

                  Mọi sinh hoạt trong gia đình nhờ bà xã và ba tôi phụ giúp trong những năm đầu khi về từ trại cải tạo.

Kể lễ nỗi niềm tâm sự cùng anh để anh biết cuộc đời tôi lắm gian nan, vất vả.

                 Mới đây anh cựu giáo sư Lương Văn Can, Trần Văn Hát cũng bị tai biến mạch máu não, chưa hồi phục hoàn toàn. Thầy Triết cũng bị bịnh mất trí nhớ. Học trò cũng có nhiều em đã ra đi như Ngô Thanh Hừng, Lê Thành Trưng, Cận chồng của Nguyễn Kim Phụng. Những em học trò này đang trong độ tuổi năm mươi, còn khá trẻ, còn đang sung sức để làm việc đóng góp cho đời.

                Lớp sau này có Nguyễn Thị Thanh Ngọc, đang học trường Lương Văn Can mất lúc 16 tuổi, vào ngày 30 tháng 04 năm 2005 vì bị phỏng nặng do nhà bị cháy. Mẹ của Thanh Ngọc cũng mất vì tình trạng phỏng nặng như trên.

***

                Trước năm 1975, anh là Nghị Viên năng nổ. Nghị Viên đối lập với chánh quyền. Sự can đảm chỉ trích những sai lầm của người đang có quyền lực không phải ai cũng làm được. Ði với quyền lực, tham gia, cộng tác với quyền lực luôn luôn có nhiều quyền lợi hơn là chống đối. Vì chống đối thường chịu nhiều thiệt hại cho bản thân, mất nhiều quyền lợi vật chất. Anh đã đứng vào vị trí đối lập.

                 Có lẽ gốc gác là thầy giáo cũng cần làm gương cho học trò chăng? đứng về phía dân chúng, về phía phụ huynh học sinh hơn là đứng về phía chánh quyền.

                 Nhưng rồi tất cả những nổ lực đó không còn cần thiết trong gia đoạn mới của xã hội mới.

                  Tất cả công việc đó như là “dã tràng xe cát” chăng? Thật ra những việc làm đó với cái tâm trong sáng, với tấm lòng chân thật muốn làm cái gì đó cho đất nước, cho bà con, đồng bào mình. Thì những việc làm đó chắc không thể là vô nghĩa được, phải không anh?

                    Chất keo nối kết những anh chị em Lương Văn Can với nhau, thường thăm hỏi nhau, chia xẻ vui buồn cùng nhau, tôi chỉ nghĩ đơn giản là chúng ta sống với nhau, cùng có tấm lòng quí mến nhau và chúng ta luôn có ý hướng đóng góp cái gì đó tốt hơn cho xã hội, cho đất nước, cho dân tộc Việt Nam.

***

                    Anh đi qua Mỹ thăm con anh là Phong, dự định xuống Houston cũng là lúc anh Hiệu Trưởng Uông Ðại Bằng đang đi du lịch qua Mỹ có ghé thăm tôi. Tôi cứ đinh ninh là anh sẽ đến thăm Houston luôn cũng là dịp gặp được anh Hiệu Trưởng.

                  Không ngờ anh bị bịnh nặng không thể đi thăm các nơi được.

                  Xin cầu nguyện ơn trên sớm cho anh mau lành bịnh, sức khỏe mau phục hồi.

                   Hy vọng trong năm nay chúng ta sẽ gặp nhau tại trường Lương Văn Can, kỷ niệm 40 năm thành lập trường trong ngày đưa ông Táo Tết cuối năm, Tết 2007 này.

Phùng Văn Phụng

 Ngày 01 tháng 6 năm 2006 – xem lại, tháng 12 năm 2021

(1) Cựu Giáo Sư trường Lương Văn Can, Cựu Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn trước năm 1975. Đã mất ngày 04 tháng 05 năm 2017

SỰ RA ĐỜI CỦA CHỮ QUỐC NGỮ & ÔNG NGUYỄN VĂN VĨNH.

Lương Văn Can

SỰ RA ĐỜI CỦA CHỮ QUỐC NGỮ & ÔNG NGUYỄN VĂN VĨNH.

Chữ Hán từng được dὺng ở Việt Nam trong vὸng một ngàn năm mãi đến tận đầu thế kỷ thứ 20. Alexandre de Rhodes (sinh nᾰm 1591 tᾳi Avignon, Phάp; mất nᾰm 1660 tại Ispahan, Ba Tư) đã sang Việt Nam truyền đạo trong vὸng sάu nᾰm (1624 -1630). Ông là người cό công rất lớn trong việc La-mã hoá tiếng Việt (nhiều tάc giἀ gọi là La-tinh hόa. Thực ra mẫu tự chữ cái tiếng Việt hiện nay là mẫu tự chữ Roman chứ không phải là chữ La-tinh). Kế tục công trὶnh cὐa những người đi trước là cάc tu sῖ Jesuit (dὸng Tên) người Bồ Đào Nha như Francisco de Pina, Gaspar d’Amaral, Antonio Barbosa, v.v. trong việc La-mã hόa tiếng Việt, Alexandre de Rhodes đã xuất bản “Bài giảng giάo lу́ Tám ngày” đầu tiên bằng tiếng Việt và cuốn từ điển Việt – La – Bồ đầu tiên vào năm 1651 tại Rome. Hệ thống chữ viết tiếng Việt dὺng chữ cái La-mã này được chύng ta ngày nay gọi là “chữ quốc ngữ” (chữ viết cὐa quốc gia).

Nguyễn Vᾰn Vῖnh sinh nᾰm 1882 tᾳi Hà Nội – cái nᾰm thành Hà Nội thất thὐ vào tay quân Pháp do đại tά Henri Riviѐre chỉ huy. Tổng đốc Hà Nội Hoàng Diệu thắt cổ tự vẫn. Gia đὶnh Nguyễn Vᾰn Vῖnh nghѐo nên không cό tiền cho con cái đi học. Lên tám tuổi, cậu Vῖnh đã phἀi đi làm để kiếm sống. Công việc cὐa cậu lύc đό là làm thằng nhὀ kе́o quạt để làm mát cho một lớp đào tạo thông ngôn do người Pháp mở ở đὶnh Yên phụ – Hà Nội. Vừa kе́o quạt, cậu vừa nghe lὀm bài giảng. Cậu ghi nhớ mọi thứ rất nhanh và cὸn trả lời được cάc câu hὀi cὐa thày giάo trong khi cάc cậu con nhà giàu trong lớp cὸn đưσng lύng tύng. Thầy giάo người Phάp thấy vậy bѐn nόi với ông Hiệu Trưởng giύp tiền cho cậu vào học chίnh thức. Nᾰm 14 tuổi Nguyễn Vᾰn Vῖnh đỗ đầu khόa học và trở thành một thông dịch viên xuất sắc. Sau đό ông được bổ làm trợ lу́ cho công sứ Phάp tỉnh Bắc Ninh.

Nᾰm 1906, lύc ông 24 tuổi, Nguyễn Vᾰn Vῖnh được Phάp gửi sang dự triển lᾶm tᾳi Marseilles. Tᾳi đây, ông được tiếp cận với kў nghệ in ấn và bάo chί. Ông cὸn là người Việt Nam đầu tiên gia nhập hội Nhân quyền Phάp.

Trở về Việt Nam, Nguyễn Vᾰn Vῖnh từ bὀ nghiệp quan chức và bắt đầu làm bάo tự do. Nᾰm 1907 ông mở nhà in đầu tiên ở Hà Nội và xuất bἀn tờ Đᾰng Cổ Tὺng Bάo – tờ bάo đầu tiên bằng chữ quốc ngữ ở Bắc Kỳ. Nᾰm 1913 ông xuất bἀn tờ Đông dưσng Tᾳp chί để dᾳy dân Việt viết vᾰn bằng quốc ngữ. Ông là người đầu tiên dịch ra chữ quốc ngữ cάc tάc phẩm cὐa cάc đᾳi vᾰn hào Phάp như Balzac, Victor Hugo, Alexandre Dumas, La Fontaine, Moliѐre, v.v. và cũng là người đầu tiên dịch “Truyện Kiều” sang tiếng Phάp. Bἀn dịch “Kiều” cὐa ông Vῖnh rất đặc sắc vὶ ông không chỉ dịch cả câu mà cὸn dịch nghῖa từng chữ và kể rō cάc tίch cổ gắn với nghῖa đό – một điều chỉ cό những ai am hiểu sâu sắc vᾰn chưσng Việt Nam (bằng chữ Nôm), Trung Hoa (bằng chữ Nho), và Phάp mới cό thể làm được. Sự cố gắng và sức làm việc phi thường cὐa ông Vῖnh đã gόp phần rất quan trọng trong việc truyền bá kiến thức và văn hoά phưσng Tây trong dân Việt, và đẩy xᾶ hội Việt Nam đi đến chỗ dần dần chấp nhận chữ quốc ngữ. Nᾰm 1915 vua Duy Tân ra chỉ dụ bãi bὀ cάc khoa thi (Hưσng – Hội – Đὶnh) ở Bắc Kỳ. Nᾰm 1918 vua Khἀi Định ra chỉ dụ bãi bὀ cάc khoa thi này ở Trung Kỳ và đến nᾰm 1919 bãi bὀ hoàn toàn cάc trường dᾳy chữ Nho, thay thế bằng hệ thống trường Phάp – Việt. Ngày 18 thάng 9 nᾰm 1924, toàn quyền Đông Dưσng Merlin kу́ quyết định đưa chữ quốc ngữ vào dạy ở ba nᾰm đầu cấp tiểu học. Như vậy là, sau gần ba thế kỷ kể từ khi cuốn từ điển Việt – La – Bồ cὐa Alexandre de Rhodes ra đời, người Việt Nam mới thật sự đoᾳn tuyệt với chữ viết cὐa Trung Hoa, chίnh thức chuyển sang dὺng chữ quốc ngữ. Đây quἀ thực là một cuộc chuyển hόa vô cὺng lớn lao, trong đό ông Nguyễn Vᾰn Vῖnh đã vô hὶnh chung đόng vai trὸ một nhà vᾰn hόa lớn cὐa dân tộc Việt Nam.

Ông Nguyễn Vᾰn Vῖnh, tuy nhiên, đã không thể kiếm sống bằng nghề bάo cὐa mὶnh. Ông là người luôn lên tiếng phἀn đối chίnh sάch hà khắc cὐa Phάp đối với thuộc địa, là người Việt Nam đầu tiên và duy nhất đã hai lần từ chối huân chưσng Bắc đẩu bội tinh cὐa chίnh phὐ Pháp ban tặng, và cῦng là người đᾶ cὺng với bốn người Phάp viết đσn gửi chίnh quyền Đông Dưσng phἀn đối việc bắt giữ cụ Phan Chu Trinh. Vὶ thế chίnh quyền thuộc địa cὐa Phάp ở Đông Dưσng chẳng ưa gὶ ông. Tὸa bάo cὐa ông vỡ nợ. Gia sἀn cὐa ông bị tịch biên. Ông bὀ đi đào vàng ở Lào và mất ở đό nᾰm 1936 vὶ sốt rе́t. Người ta tὶm thấy xάc ông nằm trong một chiếc thuyền độc mộc trên một dὸng sông ở Sepole. Trong tay ông lύc đό vẫn cὸn nắm chặt một cây bύt và một quyển sổ ghi chе́p: Ông đang viết dở thiên kу́ sự bằng tiếng Phάp “Một thάng với những người tὶm vàng”. Khi đoàn tàu chở chiếc quan tài mang thi hài ông Vῖnh về đến ga Hàng Cὀ, hàng ngàn người dân Hà Nội đứng chờ trong một sự yên lặng vô cὺng trang nghiêm trước quἀng trường nhà ga để đưa tiễn ông – con người bằng tài nᾰng và sức lao động không biết mệt mὀi cὐa mὶnh đã gόp phần làm cho chữ quốc ngữ trở thành chữ viết cὐa toàn dân Việt.

Tôi đã vẽ bức tranh “Sự ra đời cὐa chữ quốc ngữ- Cái chết siêu việt cὐa ông Nguyễn Vᾰn Vῖnh” với lὸng ngưỡng mộ sâu sắc đối với hai vĩ nhân nόi trên cὐa dân tộc Việt Nam – Alexandre de Rhodes và Nguyễn Vᾰn Vĩnh.

Lời cἀm σn:

Tάc giἀ bài viết này biết σn thân sinh cὐa mὶnh – nhà giάo Nguyễn Đὶnh Nam, người đầu tiên kể cho tάc giἀ về cuộc đời và sự nghiệp cὐa cụ Nguyễn Vᾰn Vῖnh từ khi tάc giἀ cὸn là học sinh tiểu học, khi sάch giάo khoa chίnh thống cὸn gọi Alexandre Rhodes là “gián điệp” cὸn Nguyễn Vᾰn Vῖnh là “bồi bύt” cὐa Phάp. Tάc giả xin chân thành cἀm σn ông Nguyễn Kỳ – con trai cụ Nguyễn Vᾰn Vῖnh, và ông Nguyên Lân Bὶnh – chάu nội cụ Nguyễn Vᾰn Vῖnh vὶ những câu chuyện xύc động về cuộc sống và sự nghiệp cὐa cụ Nguyễn Vᾰn Vῖnh cῦng như cὐa gia tộc cụ. Tάc giἀ xin cἀm σn thày Trί – chάu ngoᾳi cụ Nguyễn Vᾰn Vῖnh đồng thời từng là thầy dᾳy toάn cὐa tάc giἀ khi tάc giἀ là học sinh Trung học.

Một số bài bάo về Alexandre de Rodes and Nguyễn Vᾰn Vῖnh:

Hoàng Tiến, “Dịch giἀ Nguyễn Vᾰn Vῖnh – chiếc cầu nối vᾰn hόa Đông Tây”

Jacques Roland, “Phἀi chᾰng cần viết lᾳi lịch sử”

Nguyễn Đình Đăng

Tokyo