Nhận Biết Con Người

Nhận Biết Con Người

Hôm ấy là một ngày xấu trời vào mùa đông giá lạnh, từ sáng trời đã bắt đầu mưa tầm tã, đến trưa có hai đứa bé dừng chân tạm trú trên vỉa hè trước cửa nhà tôi.

Hai đứa bé bấm chuông xin ít giấy báo để lót dưới áo cho đỡ lạnh.

Lúc đó tôi đang bận sửa soạn cho bữa ăn trưa và định từ chối để các em đi khỏi cửa. Nhưng khi nhìn kỹ, thấy hai em với quần áo rách rưới ướt đẫm, dưới chân chỉ có đôi dép dính đầy bùn giữa mùa đông giá lạnh, nên tôi động lòng thương không nỡ để hai em ra đi với hai bàn tay trắng.

Tôi mở cửa mời các em vào nhà sưởi ấm một chút. Trong khi các em sưởi khô quần áo, tôi sửa soạn cho các em một ly sữa Socôla nóng và miếng bánh mì nướng. Hai em ngồi sưởi trong im lặng. Mỗi bước các em di chuyển để lại trên nền gạch những vết chân bùn. Tôi bưng tách sữa Socôla nóng và đĩa với miếng mì nướng đặt bên lò sưởi trước mặt hai em rồi trở vào bếp với công việc của tôi.

Bầu khí yên lặng ngoài phòng khách làm tôi không khỏi ngạc nhiên, một lúc sau tôi bước ra xem hai em ăn uống xong chưa.

Em bé gái bưng cái tách sạch trơn trên tay, mắt đăm chiêu nhìn vào cái tách không như còn thèm muốn uống thêm chút nữa.

Em bé trai cầm cái đĩa không trên tay và ngây thơ hỏi:

Thưa bà, nhà bà có giàu không?

Tôi mỉm cười lắc đầu nhìn xuống đôi dép cũ nơi chân tôi.

Em bé gái vừa đặt lại cái đĩa dưới cái tách sạch không, vừa nói với giọng yếu ớt như người đang bị đói, không chỉ cơm bánh nhưng còn có gì thiếu vắng về mặt nhu cầu tinh thần nữa:

Thưa bà, tách và đĩa của bà hợp màu với nhau trông thật đẹp và cân xứng.

Kế đó, hai em bé ôm sấp giấy báo sát vào người lặng lẽ ra đi không một lời cám ơn. Nhưng thực sự hai em bé đã nói với tôi rất nhiều, và chính tôi mới là người phải cám ơn các em. Hai em nói rất đúng, tách và đĩa cùng màu rất hợp, và còn biết bao nhiêu điều may mắn thích hợp khác nữa mà từ trước tới nay tôi đã không biết nhận ra và không biết quí trọng.

Tôi lặng lẽ trở về với công việc nội trợ, trong tâm trí tôi lần lượt hiện ra bao nhiêu điều may mắn tôi đang có, nào là bữa ăn hằng ngày, một mái nhà, một gia đình, một người chồng với công ăn việc làm ổn định, những đứa con khỏe mạnh, được may mắn đến trường, không phải đội mưa đội nắng ngửa tay đi ăn xin từng bữa, từng ngày, không biết ngày có gì, cũng không chút hy vọng nhìn về tương lai.

Tôi sắp xếp lại ghế trong phòng khách, những vết chân lấm bùn vẫn còn hiện rõ trên sàn nhà trước lò sưởi, những bàn chân nhỏ bé với đôi dép ướt bùn như vẫn còn in dấu trên trái tim tôi, tôi không muốn lau sạch đi, tôi muốn giữ lại đó kẻo tôi lại quên rằng tôi thật giàu có và được may mắn biết bao.

Quí vị và các bạn thân mến,

Một trong những lý do làm cho người ta nhiều khi mất an bình, luôn áy náy lo lắng là vì quá bận tâm về những gì mình không có, trong khi đó lại không biết nhìn nhận, cũng không biết quí trọng những gì mình đang có. Vấn đề cũng là tại cái nhìn bị sai lệch không được đặt đúng chỗ.

Bao lâu chúng ta không biết nhìn vào bản thân mình, bấy lâu cái nhìn của chúng ta sẽ rất hẹp hòi và bị đóng kín. Trái lại, nếu chúng ta biết ngước mắt nhìn lên Chúa, nhìn thẳng vào chương trình mầu nhiệm của Chúa với con mắt đức tin, dần dần chúng ta cũng sẽ khám phá ra rằng, tất cả mọi sự trong ta, chung quanh chúng ta đều là ơn Chúa, và chúng ta chính là người thụ ơn cần tỏ lòng tri ân.

Cầu nguyện tức là ngước mắt nhìn lên Chúa, là đưa mắt nhìn vào chính bản thân và nhìn tha nhân để nhận ra những dấu hiệu tình thương nhưng không của Chúa. Cầu nguyện là nhu cầu căn bản sâu xa nhất của con người khi đặt mình trước ánh sáng của Chúa để nhận thực bản thân chúng ta là ai, sự cao cả của Thiên Chúa đến mức độ nào, và Ngài muốn chúng ta đối xử thế nào với anh em chúng ta. Càng nhận biết hồng ân Chúa ban, chúng ta mới nhận biết những hồng ân của Chúa nơi những người anh em.

Lạy Chúa, xin dạy con thái độ nội tâm biết cám ơn, biết ngợi khen Chúa trong mọi sự, cả trong những sự việc nhỏ mọn nhất trong cuộc sống hằng ngày, biết ngợi khen Chúa trong niềm vui cũng như trong nỗi buồn, trong gian khổ cũng như trong vui sướng, trong thiếu thốn cũng như khi được sung túc dư giả. Xin Chúa mở mắt tâm hồn con để con biết khám phá ra tình thương của Chúa, và đừng bao giờ để Chúa đến gõ cửa nhà tâm hồn con mà phải ra đi với hai bàn tay trắng vì con không mở cửa và tiếp đón Chúa. Amen.

Ngọc Nga sưu tầm

From: Ngọc Nga & KimBang Nguyen

Cộng sản Việt Nam, chờ đó!- Điệp Mỹ Linh (Danlambao)

Cộng sản Việt Nam, chờ đó!- Điệp Mỹ Linh (Danlambao)

Điệp Mỹ Linh (Danlambao) – Cho đến khi viết bài này, tôi cũng vẫn không hiểu tại sao, cách nay hơn 40 năm – trong buổi lễ vô cùng trọng thể để di dân nhập tịch tuyên thệ trung thành với Hoa Kỳ – tôi lại quẹt nước mắt với tâm trạng vô cùng đớn đau; không khác chi lúc tất cả sĩ quan, binh sĩ, đồng bào và gia đình tôi trên Dương Vận Hạm Thị Nại HQ502, vừa hát Quốc Ca Việt Nam Cộng (VNCH) trong buổi lễ Hạ Kỳ tại Subic Bay, năm 1975, vừa khóc!

Không phải chỉ có gia đình tôi, mà hầu như tất cả người Việt tỵ nạn cộng sản Việt Nam (csVN) tại Hoa Kỳ, từ năm 1975, đều vươn lên từ đau thương, từ mất mát và hy sinh mọi điều mới tạo dựng được thế hệ di dân thứ hai rực rỡ!

Ngoài lòng hy sinh, nỗi đau thương và sự mất mát, người Việt tỵ nạn csVN còn mang theo nền văn hóa và đạo đức của sự giáo dục đầy nhân bản thuộc chính thể VNCH.

Những thành tựu lớn lao của thế hệ người Việt di dân thứ hai không những giúp người Việt sang Mỹ sau năm 1975 được dễ dàng hội nhập vào xã hội mới, trong mọi lãnh vực – như giáo dục, y tế, luật pháp, quân sự, chính trị, âm nhạc, văn học, kỹ thuật, khoa học, khoa học không gian, v.v… – mà những thành tựu tuyệt vời của thế hệ di dân thứ hai còn là niềm hãnh diện chung của những người mang dòng máu Lạc Hồng.

Cùng một thời gian, từ 1975 đến 2021, trong khi người Việt tỵ nạn cộng sản vượt qua không biết bao nhiêu khổ nạn để vừa xây dựng tương lai; vừa gửi từng đồng đô-la đẫm mồ hôi và nước mắt về Việt Nam cứu giúp người thân đang bị csVN đọa đày trong các trại cải tạo và ở kinh tế mới; vừa tạo được nhiều thành quả lớn lao trong mọi lãnh vực trên thế giới thì người csVN lại thực hiện những điều quá tồi tệ, quá bẩn thỉu, làm nhục Quốc thể Việt Nam!

Tôi sẽ không khơi lại những hành động thiếu lễ độ, thiếu giáo dục, vô văn hóa của những nhân vật cao cấp trong guồng máy đầy ác tính của csVN và của du học sinh từ Việt Nam sang ngoại quốc du học – như Dương Đức Thịnh – bị giới truyền thông quốc tế phổ biến và ghi lại.

Tôi cũng sẽ không nhắc đến vấn nạn xuất cảnh lao động để 39 “thùng nhân” người Việt bị chết thảm. Thông Tấn Xã Việt Nam, ngày 09/12/2021 @ 14:45:05 đưa tin: “Phim tài liệu One Year on the Essex Lorry Tragedy về một năm sau thảm kịch 39 người Việt thiệt mạng trong xe tải tại Essex (Anh) do báo Việt Nam News, Thông tấn xã Việt Nam thực hiện, được trình chiếu tại Liên hoan phim quốc tế thường niên Erie, tại tiểu bang Pennsylvania, Hoa Kỳ, từ ngày 10 đến 19/12/2021”.

Trong những đợt xuất cảnh lao động từ Việt Nam, nữ giới làm điếm, làm “osin”; nam giới trồng cần sa, bị bắt, bị nhốt tù. Thế mà, dạo này, dư luận viên của csVN sửa lại là: Thanh niên Việt Nam canh gác, bảo vệ các trại trồng cần sa – ngầm bảo rằng thanh niên xuất cảnh lao động từ Việt Nam sang không trồng cần sa!

Tôi chỉ muốn đề cập đến hai câu trong bản tin của đài VOA, ngày 29/11/2021 @ 2:50 PM. Hai câu ấy như thế này: “Mỹ không mời Việt Nam tham gia hội nghị thượng đỉnh về dân chủ sắp diễn ra. Bộ ngoại giao Mỹ cho biết khi công bố danh sách các nước được mời hôm 23/11.

Sẽ có 110 nước tham dự sự kiện được tiến hành qua mạng vào hai ngày 9 và 10/12, có mục tiêu ngăn chận tình trạng dân chủ bị thụt lùi và các quyền tự do bị suy yếu…”

Đọc hai câu này xong, tôi vừa vui vừa buồn!

Vui, vì tôi thấy nhà cầm quyền csVN bị “quê xệ” nặng nề trước dư luận thế giới!

Buồn, vì tôi ước chi danh từ kép thân thương “Việt Nam” không bị đề cập đến trong sự kiện bẽ bàng này!

Không bẽ bàng sao được khi mà Đài Loan – một quốc gia có diện tích và dân số kém xa diện tích và dân số Việt Nam – lại được Hoa Kỳ mời!

Đấy, nhà cầm quyền csVN lúc nào cũng lừa dối dân Việt bằng những khẩu hiệu “rền vang” như sấm để người dân “tự hào” với khẩu hiệu, với tượng đài, với lễ hội, với đá banh, với nhiều cuộc thi hoa hậu, v.v… mà quên đi nỗi nhục quốc thể do các nhân vật cao cấp trong đảng csVN tạo nên!

Những quốc gia văn minh thường phân định rõ ràng sinh hoạt giữa các địa hạc văn học, nghệ thuật, văn hóa, chính trị, thể thao, v.v… – chỉ có đảng và người csVN mới “thừa nước đục thả câu”.

Hành động “thừa nước đục thả câu” của đảng và người csVN trong dịp thí sinh hoa hậu Việt Nam Đỗ Thị Ngà độc tấu nhạc khúc Cô Gái Vót Chông, bằng đàn T’rưng, tại đảo Puerto Rico, thuộc Mỹ, đã cho thấy – một lần nữa – người csVN đã lộ rõ bản chất hạ cấp, vô văn hóa, vô giáo dục: Một tay đưa ra nhận tiền, nhận tất cả sự hỗ trợ lớn lao của Mỹ; tay kia lén đâm vào vết thương còn mưng mủ của Mỹ!

Từ ngàn xưa, Ông Bà mình có câu: “Cái nết đánh chết cái đẹp” để giáo dục con người. Bây giờ, csVN “biến” một cô gái thi hoa hậu trở thành một kẻ vô liêm sỉ, vô giáo dục và vô văn hóa về hành động thiếu hiểu biết, không thân thiện của cô ấy trong cuộc thi hoa hậu thế giới. Và, cũng chỉ người csVN mới manh tâm bỏ câu châm ngôn “Tiên học lể hậu học văn” trong chương trình giáo dục tại Việt Nam. (Mời đọc bài của Nguyễn Văn Mỹ trên BBC, ngày 26/11/2021.)

Tôi không buồn hoặc tức giận về hành động thiếu suy nghĩ của cô thí sinh hoa hậu Đỗ Thi Ngà mà tôi lại căm phẫn về chính sách khơi động căm thù của người csVN. Nếu vị nào nghĩ rằng tôi kết tôi csVN một cách quá đáng thì kính mời người đó hãy nhớ lại những dịp 30 tháng Tư, Tết Mậu Thân, mùa Hè đỏ lửa, v.v… csVN đã tổ chức ăn mừng chiến thắng “hoành tráng” như thế nào!

Trong khi csVN ăn mừng “chiến thắng?”, tôi âm thầm tạ ơn Trời Phật đã giúp cho quân lực Hoa Kỳ biết tôn trọng những quy ước quốc tế trong chiến tranh để khỏi tạo nên những War Crimes – như người csVN đã cố tình tạo ra – để giết hại người Việt!

Theo định nghĩa của hai chữ War Crimes mà tôi thấy trên internet là: “Examples of war crimes include intentionally killing civilians or prisoners, torturing, destroying civilian property, taking hostages, performing a perfidy, raping, using child soldiers, pillaging, declaring that no quarter will be given, and seriously violating the principles of distinction and proportionality…” Theo định nghĩa này thì csVN đã tạo ra không biết bao nhiêu War Crimes, kể từ ngày ông Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam cho đến nay!

Trong chiến tranh Việt Nam, Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ luôn luôn túc trực tại hải phận Thái Bình Dương. Là một người hiểu rõ sức mạnh của Hải Quân, tôi nghĩ rằng: Nếu quân lực Hoa Kỳ không cố tình tránh né để khỏi tạo ra War Crimes thì không thể nào bộ đội csVN có thể kéo dài cuộc chiến tranh xâm lược – từ phía Bắc vĩ tuyến 17, vượt sông Bến Hải, vượt dãy Trường Sơn, vào Nam Việt Nam – đến gần 21 năm!

Tôi nghĩ, cả thế giới và người csVN cũng hiểu được những điều tôi đã nêu trên; nhưng, vì căn bệnh tự ti mặc cảm quá nặng nề, người csVN phải “nổ”. Trong khi tự “đánh bóng”, người csVN và dư luận viên của csVN cứ “nổ” là người csVN đã thắng Mỹ và thắng nhiều cường quốc trên thế giới – đồng minh của Mỹ – như Úc, Đức, Đại Hàn, v.v…

Không sao! Người csVN cứ “nổ”. Nhưng người csVN nên đọc kỷ thế giới sử về hậu quả khốc hại của trận Trân Châu Cảng – sau khi Nhật dùng cảm tử quân đánh lén Hạm Đội của Hoa Kỳ tại Honolulu, Hawaii, ngày 07/12-1941 – thì người csVN và dư luận viên csVN sẽ tự thẹn về sự “nổ sản” của mình!

Ông Bà mình có câu “Sáu mươi chưa què, đừng khoe là lành”. Người csVN thấy đảng và bộ đội ông Hồ Chí Minh – sau khi tiêu diệt không biết bao nhiêu đảng phái đối lập để đưa dân tộc Việt Nam vào tệ trạng “nồi da xáo thịt” – đã vượt quá con số 60 mà vẫn còn “hãnh tiến” (chữ của người Việt trong nước) trên con đường ngập máu và nước mắt của người Việt Nam, cho nên, người csVN không thể che giấu được sự ngạo mạng!

Viết đến đây, tôi chợt nhớ câu ngạn ngữ của Pháp mà Ba tôi đã dạy tôi từ ngày bé thơ: “Tout passe, tout lasse, tout casse et tout se remplace.” (Everything passes, everything weary, everything breaks and everything replaced).

Chờ đó! Định luật thiên nhiên và quả báo của không biết bao nhiêu triệu oan hồn, uẩn tử sẽ không cho phép người csVN tiếp tục sống ngạo mạn trong niềm “hãnh tiến” đầy ảo vọng đâu!

Điệp Mỹ Linh

danlambaovn.blogspot.com

Nhà báo là thuốc giải độc độc tài-Trần Quốc Việt (Danlambao)

Nhà báo là thuốc giải độc độc tài

Trần Quốc Việt (Danlambao) dịch – Nhân sự kiện cựu nhà báo Phạm Đoan Trang bị kết án bất công và nặng nề, chúng tôi trích dịch lời phát biểu của hai nhà báo trong lễ trao giải Nobel Hoà bình năm 2021 dành cho họ vào ngày 10 tháng 12 vừa qua.

*

Nhà báo Maria Ressa (Philippines):

Khi tôi bị bắt lần đầu vào năm 2019, viên cảnh sát nói, “Ma’am, trabaho lang po” (Thưa bà, tôi chỉ làm phận sự của tôi). Rồi ông hạ giọng gần như nói thầm khi ông đọc quyền Miranda của tôi, và tôi gần như cảm thấy thương hại ông. Ngoại trừ ông đang bắt giam tôi vì tôi là nhà báo!

Viên cảnh sát này là công cụ của quyền lực và là điển hình về cách người tốt có thể biến thành ác và cách những chuyện đại ác xảy ra. Hannah Ardent đã viết về sự bình thường của cái ác khi tả những người thực hiện những mệnh lệnh của Hitler, về cách những viên chức coi trọng nghề nghiệp có thể hành động vô lương tâm vì họ biện minh điều họ làm chỉ vì họ làm theo lệnh.

Đây là cách quốc gia – và thế giới- đánh mất linh hồn của mình.

***

Nhà báo Dmitry Muratov (Nga):

Trong tiếng Nga và tiếng Anh và những tiếng khác có câu thành ngữ: “Chó sủa, nhưng đoàn lữ hành cứ đi.” Một nghĩa là không có gì cản được bước tiến của đoàn lữ hành. Đôi khi chính quyền nói về các nhà báo với ý nghĩa này. Các nhà báo cứ sủa, nhưng cũng chẳng được gì.

Nhưng mới đây tôi được nghe một nghĩa ngược lại.

Đoàn lữ hành tiến lên được chính là nhờ chó sủa.

Chúng gầm gừ và cắn xé những con thú ăn thịt ở vùng núi non và sa mạc. Đoàn lữ hành có thể tiến bước chỉ khi có chó bên cạnh.

Đúng, chúng tôi gầm gừ và cắn. Đúng, chúng tôi có răng bén và cắn dai.

Nhưng chúng tôi rất cần thiết cho sự tiến bộ.

Chúng tôi là thuốc giải độc độc tài.

Nguồn:

  1. https://www.nobelprize.org/prizes/peace/2021/ressa/lecture/
  2. https://www.nobelprize.org/prizes/peace/2021/muratov/lecture/

DANG DỞ – LM Nguyễn Tầm Thường S.J.

DANG DỞ

Nguyễn Tầm Thường, S.J

(Trích tập suy niệm)

“Tình chỉ đẹp khi còn dang dở.

Đời mất vui khi vẹn câu thề”

Đời có thật mất vui khi vẹn câu thề? Tình chỉ đẹp khi còn dang dở

Đời có thật mất vui khi vẹn câu thề? Tình chỉ đẹp khi còn dang dở, hay là cho dù dở dang tình vẫn đẹp? Người ta nói chấm dứt mối tình dở dang, nghĩa là lúc tình đó đang dang dở thì bị chấm dứt. Có phải đã chấm dứt rồi thì không còn dang dở nữa?

Dường như là thế. Chấm dứt là xong, là trọn vẹn không còn gì để nói. Khi đã chấm dứt thì tình đó thuộc về dĩ vãng nguyên tuyền. Nó dang dở trong quá khứ mà trọn vẹn xong ở hiện tại. Như vậy, tình thuộc dĩ vãng không còn tiếp tục hôm nay thì còn gì là dang dở?

Xem ra là thế. Tuy nhiên, thuộc về dĩ vãng chưa hẳn là thuộc về vùng đã quên. Nếu còn nhớ thì ngay khi chấm dứt tình dang dở, tình vẫn chưa hết dở dang. Chấm dứt mà còn nhớ thì chuyện tình chỉ chấm dứt trong không gian ngoại cảnh, chứ chưa hết trong không gian tâm hồn. Vì lẽ ấy, cũng khá khó cho một định nghĩa tình dang dở là gì, và còn khó hơn, tình dang dở có còn đẹp?

Có thể tìm một định nghĩa dễ hơn. Tình dang dở là tình còn nhớ. Ở đây, dang dở không có nghĩa là chấm dứt lúc còn dở dang. Dang dở là chưa xong.

Tình của Đức Kitô không phải là tình đã xong trong quá khứ. Tình ấy không chấm dứt ở thập giá chiều nào trên đồi Do Thái. Tình ấy vẫn hàng ngày gọi, hàng chiều chờ. Tôi gọi tình ấy là tình dang dở. Đức Kitô tiếp tục yêu và tôi chưa nhận đủ. Ngài cho tình yêu, nhưng bàn tay có nhiều khe rãnh, nên hứng lãnh mà tình ấy cứ rơi đi hoài. Vì cái dang dở ấy nên Ngài cứ băn khoăn làm sao cho tôi múc được nhiều để hồn tôi bớt trống và tim tôi thôi vơi. Và vì thế, dở dang của tình yêu ấy là dang dở đẹp. Trong dang dở của tình yêu, cho tôi thấy trái tim Người bao dung và kiên nhẫn.

Nhờ dang dở ấy mà tôi thấy Ngài không mòn mỏi vì phải đợi chờ, không đếm thời gian và đưa tình yêu vào thời khóa biểu. Giữa tôi với Ngài, còn thời gian thì còn dang dở, còn thương xót.

Đức Kitô yêu tôi bằng tình trọn vẹn. Ngài là tình yêu (1 Yn. 4:16). Ngài cho tôi chính Ngài với hơi thở sau cùng trên thập tự. Nói về công việc thì xong, biến cố lịch sử trên Núi Sọ hoàn tất. Nhưng tình yêu không là biến cố lịch sử. Biến cố lịch sử chỉ là một trong những đường nét để vẽ chân dung tình yêu. Tình yêu ấy vẫn yêu tôi. Thập tự giá ngày xưa vẫn là thập tự giá hôm nay, kéo dài trên bàn thờ khi tôi dâng lễ. Đức Kitô đã phục sinh, nhưng trong đau đớn của chi thể Ngài là nhân loại thì Ngài vẫn còn bị đóng đinh. Trong yếu đuối, tôi làm phai nhạt bao nhiêu chuyện tình đẹp giữa tôi và Ngài, tôi vẫn có lỗi phạm. Trong lãng quên, tôi vẫn xuôi chiều bao nhiêu cám dỗ. Vì thế, tình tôi với Ngài làm sao mà không dang dở cho được. Chỉ có tình trọn vẹn ở phía thập giá. Thập giá yêu thương nhân loại, nhưng nhân loại không có tình trọn vẹn, nên khi tình trời nối với tình đất thì tình trời mang thương khó. Ngày nào còn nhân loại thì tình giữa nhân loại và thập giá còn là tình dở dang.

Không có tình yêu thì trọn vẹn cũng là trọn vẹn thiếu. Với tình yêu thì dang dở cũng là dang dở quý mến.

Có những dang dở cần thiết. Dang dở cho chuyện tình còn dài, còn nhắc nhở, còn xám hối. Có một thứ dang dở mà Đức Kitô nhất định giữ:

— Khi Ngài chữa mắt cho người mù, Ngài chỉ chữa một cách dang dở. Ngài lấy bùn thoa vào mắt người mù, nhưng anh ta chẳng khỏi. Anh ta phải đi rửa ở hồ Sứ Giả. Mù làm sao mà đi dễ dàng, thế mà Chúa không chữa cho xong (Yn. 9:1-41).

— Tiệc cưới Cana cũng vậy. Chúa không làm phép cho có rượu, nhưng chỉ làm cho nước hóa rượu. Đức Kitô bảo các gia nhân: “Hãy múc nước đổ đầy các chum” (Yn. 2:7). Sao Chúa không làm cho có rượu luôn đi, mà lại bảo người ta đổ nước? Chúa chỉ làm một nửa. Thương xót thì trọn vẹn, nhưng thương xót ai, bởi đó, thương xót còn hệ tại đối tượng được thương xót muốn thương xót bao nhiêu. Do đấy, có những thương xót cần dang dở để đối tượng được thương xót kia lựa chọn mức độ thương xót cho mình. Nếu các gia nhân chỉ múc nửa bình thì chắc rượu chỉ có nửa bình thôi.

— Làm phép cho CÓ BÁNH ĂN và làm phép cho bánh HÓA RA NHIỀU là hai thái độ rất khác nhau. Chiều hôm ấy, đám dân chúng đói không có gì ăn. Các môn đệ không đủ bánh, nghĩa là có nhưng thiếu, hoặc nói cách khác là có mà dở dang. Chúa không vứt vất cái dang dở ấy rồi tự mình làm phép lạ. Chúa bảo đem cái dang dở ấy đến. Sao Chúa không làm phép lạ cho có bánh, mà chỉ làm phép lạ cho bánh hóa ra nhiều. Sao Chúa cứ thích cái dang dở của các tông đồ làm chi (Mc. 6:35-43).

— Thấy đền thờ thành nơi buôn bán, dơ uế mất rồi, Chúa bảo phá đi rồi trong ba ngày Ngài xây dựng lại. Tại sao Ngài không phá luôn cho tiện mà chỉ xây lại khi người khác phá (Yn. 2:13-22).

Chúa thích những phép lạ dang dở. Chúa làm có một nửa nên nhân loại mới được góp phần trong công việc trọng đại ấy. Cái dang dở Chúa để xẩy ra là dang dở huyền diệu. Thiếu dang dở này con người thiệt thòi biết bao. Cần có những dang dở của Chúa để dang dở của con người hết dở dang. Con người không thể làm phép lạ tự cứu lấy mình. Chúa cũng không cứu con người khi con người không tự do nhận lãnh. Phép lạ của Chúa cần là phép lạ một nửa, phép lạ dang dở để tôi được tham dựCái dang dở của Chúa là chỗ trống cho tôi bước vào.

Chúa không thể nào bất toàn. Bởi đó, những gì dang dở mà Chúa để xẩy đến trong cuộc sống, tôi phải tìm hiểu. Có khi là đau khổ, có khi là những ngày chán nản. Những mũi chỉ thêu ngang dọc làm cho tấm tranh rối mù lộn xộn, nhưng nó sẽ là tác phẩm nghệ thuật khi nó hết dở dang. Con đường Hội Thánh đang đi là con đường dang dở. Công cuộc rao giảng Tin Mừng là công cuộc dang dở. Nhưng trong dang dở ấy là ngưỡng cửa hi vọng. Đời truyền giáo của tôi là một hành trình đang dang dở. Tay tôi ngắn mà cánh đồng thì mênh mông. Nhưng nối tiếp những dang dở sẽ thành hoàn hảo. Người mang hi vọng là kẻ chấp nhận những dang dở Chúa để xẩy đến, và nhìn thấy dang dở trong công cuộc rao giảng thập giá là dang dở lạc quan.

Dang dở của tình yêu giữa tôi và Chúa không là dang dở phải chấm dứt. Chúa không bao giờ chê căn nhà tôi nghèo nàn. Tôi cũng chẳng muốn bỏ Chúa. Dang dở chỉ vì yếu lòng. Dang dở vì vụng về trong những lựa chọn. Dang dở vì lấp lửng với những cám dỗ. Từ linh hồn thành thật rất sâu, tôi không muốn những dang dở này. Có băn khoăn về những sa ngã, có hối hận về những không trọn vẹn sẽ làm cho chuyện đường thập giá gồ ghề hơn. Những gồ ghề là những cản ngăn, nghĩa là đường thập giá sẽ thập giá hơn nữa. Khi đường thập giá trở nên thập giá hơn thì linh hồn gian nan hơn, nhưng vì gian nan đó cũng sẽ làm cho đường thập giá ấy ý nghĩa hơn.

Những chuyện tình gian nan bao giờ cũng là những chuyện tình nhiều kỉ niệm. Và, bởi đó, đường thập giá cho dù dang dở vẫn luôn luôn là những chuyện tình đẹp. Không phải dang dở thì mới đẹp, nhưng là vẫn đẹp khi dở dang.

Lạy Chúa, ngày nào còn hơi thở thì tim con còn rung cảm rực nóng. Còn rung cảm rực nóng thì còn những dang dở. Nhưng đường Chúa gọi đi là đường tình thập giá không đánh dấu bằng những lần ngã dở dang. Chúa nối những dang dở ấy thành đường thập giá. Bởi đó, con hi vọng và lạc quan trong mọi dang dở của hành trình thiêng liêng. Và con phải biết Chúa rất cần một thứ dang dở là Chúa không hoàn thành cho con tất cả ước mơ nếu con không thực sự mơ ước.

Ước mơ đẹp là mình ước mơ, còn ước mơ hững hờ là ước mơ người khác mơ ước dùm mình.

Xin cho con không bao giờ thở dài về sự dở dang trên đường thánh thiện. Không chán chường sự dở dang trong công cuộc truyền giáo, rồi thôi rao giảng Tin Mừng, để cho khỏi băn khoăn về những dang dở ấy.

Vâng, lạy Chúa, con không muốn làm cho chuyện tình thành dang dở, nhưng chỉ vì con yếu đuối. Chúa thương con, thì với Chúa, những chuyện tình dở dang của con trên đường theo Chúa vẫn là những chuyện tình đẹp.

Nguyễn Tầm Thường, S.J

From: Le Ngoc Bich & KimBang Nguyen-

27 Lý do khiến chúng ta phải cười mỗi ngày

27 Lý do khiến chúng ta phải cười mỗi ngày

 1- Cười là một thần dược trị được cả bệnh thể xác lẫn bệnh tâm hồn. –

2- Cười làm cho ta cởi mở bao dung và có một tinh thần lạc quan yêu đời.

3- Cười làm tăng hồng huyết cầu và lá lách hoạt động tích cực hơn.
4- Cười làm tăng sinh lực, khiến ta vui vẻ lanh lợi và thêm lòng yêu thương.

5 -Cười làm cánh cửa cảm thông rộng mở thật dễ dàng với mọi người.
6- Cười mím, cười nụ, cười ra tiếng làm khuôn mặt chúng ta dễ mến hơn.

7- Cười làm thư giãn các bắp thịt trên mặt, tan biến những căng thẳng.
8- Cười làm toàn thân được nhẹ nhàng thanh tịnh, thư thái và an lạc.


9- Cười giúp ta tránh được tâm trạng cay đắng khổ đau, phản ứng kịp thời.
10- Cười giúp cho tâm hồn lành mạnh và thêm khả năng sáng tạo mọi việc.

11- Cười nhiều giúp ta biết tự kỷ có trách nhiệm và thực tế hơn.
12- Cười nhiều tránh được buồn nản, dễ thành công vì tiếng cười là trí tuệ.

13- Cười là khoảng cách ngắn nhất giữa hai tâm hồn, là biết nghệ thuật sống.
14- Cười dễ vui theo cái vui của người khác, hoan hỉ như mình thành đạt vậy.

15- Cười có thể làm tan di nỗi bực mình, buồn phiền của người đối diện.
16- Cười giúp ta vui sống hiện tại, quên hết quá khứ và lo lắng về tương lai.

17- Cười giúp ta trở về với chính mình, tức là thực sự trở về đời sống mới.
18- Cười có nhiều lợi ích cho ta về sức khỏe, tinh thần và cảm xúc tâm linh.

19- Cười giúp hồn nhiên tươi sáng,có nhiều khả năng chống lại bệnh tật.
20- Cười giúp các tế bào loại T trong máu tăng lên, có sức đề kháng mạnh.

21- Cười làm giảm phong thấp, các khớp xương đỡ bị sưng và chống sưng.
22- Cười làm giảm các chất hóc môn (cortisone) trong thận, sẽ sống khỏe hơn.

23- Cười tránh được nhức đầu, đau tim, cao huyết áp và mỡ trong máu.
24- Cười giúp tống khứ các khí dơ, thêm nhiều dưỡng khí cho bộ não thông minh
.

25- Cười làm tăng máu, chống viêm khớp, làm con người luôn tỉnh táo.
26- Cười tạo điều kiện cho ánh sáng nội tâm thể hiện, thấu suốt mọi sự vật.
27- Cười giúp những nét phiền muộn tan biến, gương mặt trở nên tươi trẻ ra.

Đường đi không đến

Đường đi không đến

Nguyễn Dân (Danlambao) – Bỏ ra trên 75 năm, làm cho một đất nước tan tác, điêu tàn, một dân tộc hy sinh dài lâu khủng khiếp. Từ 5 đến 10 triệu mạng người ngã xuống trên mọi nẻo đường… để giành lấy cho cái gọi là “giải phóng miền Nam” trí trá, gian tà, ma mị. Đảng CSVN ngày hôm nay, họ đã thu lấy được gì?

– Độc lập, tự do? Lếu láo! – Hạnh phúc ấm no? Xảo biện! Bằng những luận điệu phỉnh lừa, gian manh, trân tráo, đốn mạt khôn lường.

Họ vẫn không ngớt tự hào: thắng lợi vẻ vang, quyết tâm tiến bước trên con đường quang vinh, sáng lạn? Con đường xây dựng XHCN tiến lên thế giới đại đồng, theo một giáo điều cũ xưa, lạc hậu – Mác Lê – Hì hục cả gần hơn thế kỷ đứt đoạn, sụp đổ, vá víu, và đắp xây chồng chất với hàng triệu triệu xác thân.

Một lần họ bảo: “Đến hết thế kỷ này (80 năm nữa) không biết có được hoàn thiện CNXH hay chưa?” Họ vẫn cứ hô hào: quyết tâm và kiên định? Quyết tâm tiến bước trên con đường mà Bác và Đảng đã vạch ra: “Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, dù có phải hy sinh đến người VN cuối cùng, cũng quyết tâm giành thắng lợi”.

30/4/1975 là dấu móc cho một chặng đường – chặng đường cùng cực cho mọi hy sinh – cả hai miền đất nước. Miền Bắc, chủ trương “thắt lưng buộc bụng”. Thắt cho chặt và buộc cho còn da bọc thân: đói không được ăn no, rách không được mặc lành, phải tận dụng mọi thứ và hy sinh triệt để để mà chi viện, để mà dốc lòng giải phóng một miền giang sơn trù phú phồn vinh (cho là giả tạo), chẳng màng tuông đổ máu xương.

Đường đi không đến:

Nhà văn (XHCN) Xuân Vũ cũng đã rất tinh tế, chân thật, viết ra một tác phẩm đau thương – hồi ký Đường Đi Không Đến – vung vải qua cuộc hành trình với bao nhiêu là mồ hôi, máu xương tuông đổ, lăn lóc, ngã qụy với vô số những thân xác con người – lực lượng để đi vào giải phóng miền Nam – cùng cực với những thảm cảnh đói khát, bệnh hoạn, chết chóc… tô bồi cho giấc mộng xâm lăng.

Và sau đây, xin được lượt trích đôi phần:

“…Bác đã cho con đi vào con đường tối đại vinh quang này để cho con tận hưởng hương vị sốt rét và chịu đói đến tận cùng, rồi Bác mới cho ca cháo loãng này. Ơn ấy con nguyện kết cỏ ngậm vành. Ngày nào còn sống, con nguyện đền đáp…

“… Chung quanh đây (tức Trường sơn) toàn là loài thú, chỉ có tôi (tức anh ta) là người. Ghê gớm thật…

“… Tóm tắt câu chuyện là vậy. Có lẽ câu chuyện này nên được viết ra và xuất bản bằng tất cả ngôn ngữ trên thế giới, và điều cần yếu nhất là các vị chủ tịch đảng nên đọc…

“… Vì thế cho nên trước khi có ý định giải phóng miền Nam thì những người bày đặt ra cái chuyện đó phải tự hỏi mình: “miền Nam có cần giải phóng không?” Giải phóng xong họ sẽ mang đến miền Nam những gì? Nếu không phải là phiếu đường, phiếu vải. Nếu không phải là những cuộc họp liên miên, và những Nghị Quyết, những Chỉ Thị, những cái nôm sắt chụp vào đầu thiên hạ. Nếu không là một cuộc cải cách ruộng đất tái diễn, mà kết quả không có gì khác hơn là một cuộc sửa sai, sửa những sai lầm không đời nào sửa được. Các vị ấy đã thua và sẽ thua trận vì bệnh chủ quan. Đó là điều chủ yếu…

“… Tôi bi quan đến nỗi muốn nói rằng: nằm tại đây và làm phân bón cho cây Trường Sơn thêm xanh, và đỉnh Trường Sơn thêm cao, cho vinh quang của Bác và Đảng cao ngất và chói lòa khắp biển Đông. Nhưng tôi tốp lại cái ý nghĩ đó kịp thời, và tôi nói giọng lạc quan hơn… Anh nằm tại đây đến mai anh sẽ tiếp tục đi…

“… Trên đường Trường Sơn bỏ nhau là chuyện tất nhiên. Người bỏ đi hình như cũng không ân hận gì hết. Còn người bị bỏ lại cũng không – hoặc không nên – lấy đó làm buồn, vì cái luật chung là: ai cũng là kẻ bị bỏ rơi, và ai cũng sẽ bỏ rơi người khác. Cho nên cuối cùng rồi không ai ân hận, không ai trách ai…

“… Cha mẹ tôi sinh tôi ra cho tôi theo cách mạng chín năm chống Pháp, rồi cho tôi ra Bắc để xây dựng lực lượng đặng trở về Nam thống nhất đất nước với lòng tin tưởng vô biên, có ngờ đâu tôi được đối xử thế này? Tôi không còn nghĩ đến cái điều vinh quang mà người ta gán cho tôi lúc tôi sắp ra đi – cái vinh quang chói lọi tưởng chừng bằng tất cả sự vinh quang của dân tộc trong thế kỷ đau thương này góp lại. Nhưng lạy Chúa, con lạy Đức Mẹ nhân lành, nếu có thể, con xin quì gối mà trả lại tất cả cho người đã ban phát cho con, hoặc con xin lấy nó ra làm hiện vật để đánh đổi một sự nhỏ nhoi hơn nó gấp vạn lần, đó là tránh cho con cơn sốt sắp tới đây mà con cảm thấy nó đang lù lù đi tới…

“Phi sốt rét bất thành giải phóng”. Ở rừng riết rồi xem khỉ cũng đẹp, và tưởng chừng mình cũng thành khỉ nay mai… “Nhất Trạm (giao liên), nhì Trời”…

“… Rồi sẽ thấy cái lý tưởng mà họ đặt cho những người khác tôn thờ sẽ chẳng bằng nắm cơm thiu, hay những ngụm nước trong bi đông trên con đường này…

“… Ai hỏi tôi gì gì tôi cũng tìm cách nói dối, trừ khi nói thật có lợi hơn nói dối thì tôi sẽ nói thật. Tôi thấy mọi người đều nói dối rất hồn nhiên, ngay cả những gì người lớn nói những chuyện tày trời, nói lừa, nói đảo, thì việc gì mình thẳng ruột ngựa cho thiệt thân…

“… Tôi thấy có sự vô lý đã đi đến mức cùng cực của nó, không còn ai có thể giải thích được nữa, không có cái gì vô lý hơn nữa…

“… Tôi thấy thương thân, tủi phận và oán ghét những thằng hiện đang phè phỡn ô tô, nhà lầu, luôn luôn chủ trương đánh nhau (bằng tay người khác) nhưng đến tiếng súng cũng không nghe thấy, đừng nói chi cầm súng. Con cháu họ thì đứa đi Nga, đứa đi Tàu – đi học để sau này về làm cha thiên hạ. Còn lũ con cái bần cố nông thì cứ lùa vào con đường vinh quang này, như người ta ném những que củi vào lò lửa không thương tiếc…” (hết trích).

Bao nhiêu thảm cảnh thương tâm, chán chường và bất mãn… với những người con yêu tổ quốc theo tiếng gọi (bắt buộc) phải lên đường, để rồi đôi lúc như là “đem con bỏ chợ” (bỏ rừng), tự lực cánh sinh, tự lo thân phận để tự sinh tồn trong (khung cảnh) trùng điệp bao nỗi gian truân…

Trên đây chỉ là “trích đoạn”, trong chỉ có mấy chương (trong một tác phẩm 33 chương) vằn vặt qua cuộc hành trình hiển hách, quang vinh. Đường đi không đến – bao xác thân vùi lấp vội, bỏ lại bên đường để yên tâm mà tiếp bước…

Ai còn, ai mất thì đã rõ rồi. Tiếp nối là gì? – Là cướp!

“Không gian dối, không là người CS. Không chiếm đoạt, không phải là anh giải phóng quân”. Câu nói chí lý, bất hủ.

“Giải phóng miền Nam”, đúng ra là đi xâm chiếm một vùng đất nước của quê hương trù phú, thịnh vượng không ngờ? Các anh giải phóng quân về thành không khác gì thảo khấu rừng xanh bao năm từ hang động với bộ dạng xanh xao gầy guộc – răng hô mã tấu – được chào đón vang dội, tưng bừng, đón những đứa con trong khí thế “hùng anh”…

Cái gì cũng lạ, thứ gì cũng đẹp, cũng sang… mà cả đời chưa tận mắt. Từng khối “chiến lợi phẩm” mặc sức mà chia phần, mà mang, mà vác, mà xách, quẩy, chở đưa về, bù đắp mấy mươi năm thiếu thốn khó khăn, bù trừ cho những ngày “thắt lưng buộc bụng”. Vui mừng bao kể xiết. Quá đổi quang vinh. Tự hào chiến thắng vang dội thành công, tha hồ khoe mẻ…

Và rồi, cũng chỉ có được 10 năm, một đất nước lại được sang (cào) bằng, Bắc Nam trở về cùng cảnh ngộ: cùng đói, cùng khổ, cùng cực xác xơ…

Tội nghiệp thay, bao bà mẹ già miền Nam chắt chiu mọi thứ, nuôi nấng bảo bọc “đàn con” đi làm cách mạng. Bao hy vọng tiêu tan, niềm tin cháy rụi. Bây giờ, tụi nó vinh thân, ấm cật, sang cả đủ đầy. Chúng chẳng đoái hoài. Những bà mẹ cả đời cực khổ hy sinh, cứ phải hy sinh tiếp tục – Của cải, nhà cửa, đất đai, vườn tược…bao Chính Sách đề ra cướp sạch, không còn… Kiếp đời Mẹ trở thành đàn “dân oan”, lang bạt, lê la khắp chốn…

Người ta nói: Chỉ có ăn mà không biết chăm nom, giữ gìn, xây dựng… thì của núi cũng không còn, đã được chứng minh là đúng. Sau 45 năm, một đất nước tan hoang, những cuộc đời dân đen đi xuống – xuống tận cùng đáy vực. Chỉ có “đảng ta” là… thắng lợi, quang vinh.

Đến hết thế kỷ này, không biết CNXH có được hoàn thiện (hay chưa)?

Một chủ nghĩa đã quá lạc hậu lỗi thời. Một chủ thuyết từ cái nôi sinh ra nó, người ta (thức thời) vứt bỏ. Riêng Ta, miệt mài, quyết tâm, kiên định. Chỉ vì còn lợi, còn quyền, còn vì nhờ đó mà nhũng lạm kiếm ăn. Sao lại từ bỏ?

Theo thiển nghĩ: Không cần phải chờ 80 năm nữa, không đợi đến hết thế kỷ này. Do thiên tài “Đảng Ta” sẵn có, chỉ cần tát cạn biển Đông, phá sạch cho bằng hết cây rừng (Trường Sơn), không còn một người VN cuối cùng (theo như lời Bác) – chỉ có người Tàu – CNXH hoàn thiện, cách mạng hoàn thành.

25/11/2020

Nguyễn Dân

danlambaovn.blogspot.com

Các vụ án hậu-Đồng Tâm báo hiệu ngày tàn của chế độ?

Van Pham

Các vụ án hậu-Đồng Tâm báo hiệu ngày tàn của chế độ?

Hoàng Thành

Một ngày sau khi Phạm Đoan Trang bị tuyên 9 năm tù, đến lượt Trịnh Bá Phương và Nguyễn Thị Tâm – những nông dân bị cưỡng đoạt đất ở Dương Nội, Hà Đông, cũng lần lượt nhận những bản án rất nặng. Phương bị gọi 10 năm, Tâm 6 năm. Trịnh Bá Phương là thành viên thứ tư của một gia đình cùng bị án tù chỉ vì phản kháng đòi công bằng: Cha – ông Trịnh Bá Khiêm từng bị phạt 18 tháng tù. Mẹ – Cấn Thị Thêu (ba lần bị phạt tù, 10 tháng, 20 tháng và lần thứ ba 8 năm). Anh trai – Trịnh Bá Tư (mới bị 8 năm tù hồi tháng 5 vừa qua cùng với mẹ là bà Cấn Thị Thêu).

Các nhà quan sát bên ngoài Việt Nam đã phản ứng rất nhanh. Chỉ vài giờ sau khi bản án được tuyên, Giáo Sư Zachary Abuza từ Đại học Chiến tranh Quốc gia Mỹ (NWC), một chuyên gia an ninh khu vực Đông Nam Á, nói với báo Washington Post, rằng nguyên nhân nhà cầm quyền Việt Nam bỏ tù Đoan Trang là cô làm cho họ lúng túng, vì cô cho thiên hạ biết rằng, họ vi phạm chính luật lệ của họ. Tuy nhiên, một nhận xét khác không hoàn toàn đồng ý với GS. Abuza. Hàng ngày trên mạng xã hội có đến hàng trăm lời cáo buộc việc ĐCSVN “ngồi xổm” lên chính luật lệ của họ. Nếu không “rắn” với Đoan Trang chính quyền lo sợ một tiến trình phản kháng của trí thức sẽ bắt đầu trong một xã hội bị lai căng về mặt tinh thần và về hệ giá trị. Cách tiếp cận vấn đề quyết đoán và mãnh liệt của Đoan Trang đánh thức thế hệ trẻ Việt Nam đang thiếu vắng một tinh thần phản biện, một khả năng phân biệt đúng sai và thiếu sự can đảm (1).

Ai đó gọi Trang là một nhân vật lịch sử. 9 năm có ý nghĩa gì đối với lịch sử một dân tộc? Con người cá nhân mờ nhạt, thậm chí bị vùi lấp giữa các mốc thời gian, bị nhấn chìm trong dòng chảy mang tên “thời cuộc” để đáp ứng những đòi hỏi nặng nề của thời đại. Nếu nói về lịch sử, một người cùng làm việc với Đoan Trang nghĩ thế này: “Tất cả chúng ta đều là những nhân vật lịch sử, rằng mỗi chúng ta là nhân vật chính trong cuộc đời của riêng mình. Cách ta sống sẽ viết nên trang sử đời ta. Đời tôi giao với đời Trang một đoạn – đã hơn bốn năm kể từ hồi cùng biên tập cuốn ‘Chính trị bình dân’. Ở những trang giao nhau ấy, từng có nhiều điều tôi không đồng ý với Trang… Sự khác biệt là tất yếu, như Trang luôn nói, con người thì đa dạng và xã hội thì đa nguyên. Tôi quý mến Trang như một người viết dung dị, trân trọng Trang như một người đồng nghiệp nhiệt thành, kính nể Trang như một người tự do và giờ là một người tù tự do” (2).

ĐCSVN học tập kinh nghiệm từ Trung Quốc, Bắc Triều Tiên và những quốc gia toàn trị khác trong lịch sử, đã gộp cả 3 nhành hành pháp, lập pháp và tư pháp thành một hệ thống công cụ mặc sức tiến hành “khủng bố trắng” trong những ngày này, tháng này, năm này. Khi đàn áp như thế, họ không thể hình dung được, công an – tòa án – nhà tù… tất cả chỉ “gieo mầm” những phản kháng mới, bi tráng hơn, bạo liệt hơn. Càng đàn áp, càng khủng bố, chính quyền càng tạo ra sự khinh miệt lẫn phẫn nộ trong các bộ phận dân chúng khác nhau, ở đó, có cả những trí thức trong và ngoài dải đất chữ S nặng lòng vì tương lai xứ sở.

ĐCSVN sẽ tồn tại thêm được bao lâu khi họ nhân danh đủ thứ, lạm dụng đủ thứ, kể cả đàn áp khốc liệt như những năm gần đây, chỉ để giữ cho những cá nhân như Bộ trưởng Công an Tô Lâm có thêm cơ hội để giơ ngón cái lên với những Nusret Gökçe (còn gọi là “Salt Bae” – “Thánh rắc muối”), khen “bò dát vàng” là số một. Và chính Tô Lâm cùng đồng bọn, đã toa rập với nhau, trước đây giết Cụ Nguyễn Đình Kình và lên kế hoạch 419A để đánh úp bà con Đồng Tâm (ngay ngoại thành Hà Nội). Và giờ đây, chúng đẩy một nhà giáo gần 90 tuổi đời phải giơ ngón cái lên để cỗ võ, động viên con gái mình vững vàng trong chốn lao tù (3).

Các bản án hậu-Đồng Tâm là những cánh chim báo bão. Những cơn bão ấy hiện đang quét từ quốc tế vào quốc nội và cả chiều ngược lại. Ngay trong ngày 15/12, tất cả các Đại Sứ quán Mỹ, Anh, Canada và các nước khác đều đồng loạt phản đối bản án 9 năm tù đối với Phạm Đoan Trang. Đại Sứ quán Anh tại Hà Nội đưa lên Facebook bình luận của Quốc vụ khanh Bộ Ngoại giao và Phát triển phụ trách khu vực châu Á Amanda Milling, với nội dung như sau: “Việc nhà báo Việt Nam Phạm Đoan Trang phải nhận mức án 9 năm tù là vô cùng đáng lo ngại. Bỏ tù các nhà báo chỉ vì họ bày tỏ quan điểm một cách ôn hòa gửi thông điệp sai trái tới những người ủng hộ sự phát triển của đất nước và con người Việt Nam.”

Ngay trong ngày 15/12, Đại Sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội đã đăng Tuyên bố của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vào một ngày trước đó lên án việc kết án 9 năm tù đối với tác giả Việt Nam Phạm Đoan Trang. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Ned Price tuyên bố: “Hoa Kỳ lên án việc kết tội và tuyên án 9 năm tù đối với tác giả, nhà báo Phạm Đoan Trang, người không làm gì hơn ngoài việc bày tỏ ý kiến của mình một cách ôn hòa. Chúng tôi cũng ghi nhận ý kiến gần đây của Nhóm công tác của Liên hợp quốc về giam giữ tùy tiện, cho thấy việc giam giữ bà Trang là tùy tiện và vi phạm các cam kết và nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam về nhân quyền” (4).

Tuyên bố của Chính phủ Mỹ viết tiếp: “Hoa Kỳ kêu gọi chính phủ Việt Nam trả tự do cho bà Trang, người đã được quốc tế công nhận về nỗ lực thúc đẩy nhân quyền và quản trị tốt ở Việt Nam, đồng thời cho phép tất cả cá nhân ở Việt Nam tự do bày tỏ quan điểm của mình mà không lo sợ bị trả thù. Chúng tôi cũng hối thúc chính phủ Việt Nam đảm bảo rằng luật pháp và các hành động của họ thống nhất với các điều khoản về nhân quyền của Hiến pháp Việt Nam cũng như các nghĩa vụ và cam kết quốc tế của Việt Nam (5).”

Các bản án của Phạm Đoan Trang, Trịnh Bá Phương và Nguyễn Thị Tâm là những tiếng chuông dóng lên, báo hiệu sự tan rã của chế độ, vì những mâu thuẫn khôn cùng của chính thể toàn trị khoác áo cộng sản. Đó là sự kết hợp giữa tính háo danh trên trường quốc tế, với cách thức kềm kẹp thần dân trong nước theo kiểu của phát xít Đức Quốc xã trước đây. Ở Việt Nam, bộ máy tuyên truyền làm rùm beng mọi thứ để tìm kiếm tính chính danh cho Đảng, từ xung quanh mấy chiếc váy của hoa hậu đến những đôi chân của các cầu thủ bóng đá. Đảng chỉ muốn cả thế giới này phải hô vang “Tự hào lắm Việt Nam ơi!”

Nhưng Đảng dấu tiệt rằng, Chủ nghĩa quốc xã, tức là Chủ nghĩa quốc gia xã hội phát xít Đức (Nationalsozialismus) với Chủ nghĩa xã hội dưới thời cộng sản đều có chung nguồn gốc, xuất phát từ các căn tính độc tài, phát xít và toàn trị! Thật ra, giữa cộng sản và phát xít rất ít sự khác biệt. Những kẻ phát xít, từ Ý đến Đức, đều đề cao chủ nghĩa dân tộc. Những người cộng sản tuy hay nói về chủ nghĩa quốc tế, nhưng thực tế, vẫn luôn luôn mang tinh thần dân tộc chủ nghĩa, đều nhắm, trước hết, đến lợi ích của quốc gia và dân tộc của họ. Cả hai đều là những chế độ độc tài vô cùng tàn bạo (6).

Và đây là những tiếng nói dũng cảm từ trong nước. Nhà văn Tạ Duy Anh viết trên Facebook: “Dù bị tuyên bởi một bản án khắc nghiệt thì Phạm Đoan Trang cũng chỉ là tù nhân trong 9 năm, trong khi những người kết án cô thì chắc chắn là tù nhân vĩnh viễn của lịch sử.” Nhà báo Huy Đức nhận định: “Nếu chúng ta đang sống trong một xã hội có tự do, có phẩm giá, có công lý, có dân chủ thì những người như Đoan Trang sẽ có một vị trí đáng ngưỡng mộ trong xã hội.”

Tài khoản Danh Nguyen viết: “Vô cùng kính trọng Đoan Trang. Cô có đủ tố chất đòi hỏi Bi-Trí-Dũng từ một hành giả đấu tranh cho sự an vui của đồng bào mình. May mắn cho dân tộc Việt còn có những người trẻ như cô. Lành thay! Lành thay!”

Tài khoản Khang Phan nhận định: “Khí phách cháu kiên cường! Bao giờ đất nước này có một chính quyền biết trân quý những lời phản biện nghịch nhĩ, khi đó đất nước mới có cơ sánh năm châu!”

Nhận định về phiên xử ông Phương và bà Tâm, người dùng Facebook, Đặng Bích Phượng, bình luận: “Nhìn ảnh vợ và hai con của Trịnh Bá Phương – Rất buồn… Một người bán cua ngoài chợ, nhỏ bé và khiêm nhường như Trịnh Bá Phương, là con của vợ chồng người nông dân mất đất như ông Trịnh Bá Khiêm, bà Cấn Thị Thêu, có thể làm gì để gây nguy hại cho nhân dân, cho đất nước?” Vẫn theo Đặng Bích Phượng: “Trịnh Bá Phương không có 10 tỷ để bảo lãnh như các quan chức cộng sản khi sa lưới pháp luật. Trịnh Bá Phương cũng không có cơ hội để tham nhũng, lợi dụng chức quyền để gây thất thoát tài sản quốc gia. Anh ta chỉ nói lên những điều anh ta nhìn thấy, nghe thấy và suy nghĩ của anh ta. Vậy thì anh ta có tội gì?”

– Trang bìa Báo cáo Đồng Tâm, phiên bản thứ ba, công bố ngày 25-9-2020.

Quân Đội Nhân Dân Hay Đội Quân Của Đảng-Tưởng Năng Tiến

Quân Đội Nhân Dân Hay Đội Quân Của Đảng

Tưởng Năng Tiến

 Đọc hồi ký Đồng Bằng của nhà văn Nguyên Ngọc, tôi mới biết là ông có mặt từ đầu đến cuối trong Chiến Tranh Đông Dương (Indochina Wars) không thiếu ngày nào. Quả là một thành tích đáng kể, và đáng nể.

Qua thêm vài trang bút ký ngắn ngủi (“Trở Lại Mèo Vạc”) của Nguyên Ngọc, tôi lại được biết một chi tiết thú vị khác nữa: tác giả còn cầm súng bắn nhau luôn cả với bọn phỉ nữa cơ. Cái ông nhà văn quân đội này quả là đa đoan thật và đa đoan lắm :

Một bữa, ở thị xã Cao Bằng, rét như cắt, đi ăn món coóng-phù khuya, nóng bỏng môi, vừa thổi vừa ăn… thì gặp tỉnh đội trưởng Mỹ Sơn cũng đi đâu đấy về rất khuya, vẻ rất tất tả.

– Này, bên Đồng Văn vừa nổi phỉ đấy, chúng nó chiếm mẹ hết cả huyện rồi. Lệnh Quân khu phải đánh hai mũi, một từ thị xã Hà Giang lên, một từ Cao Bằng sang. Sáng mai bọn này xuất binh. Có đi không? 

– Đi chứ! 

Vậy là mờ sáng hôm sau lên đường… Đường đi càng về chiều càng lên cao, và hình như núi non mỗi lúc một thắt lại, hiểm trở hơn, hiểm ác heo hút hơn. Vẫn lên nữa. Lên mãi. Đã nghe thỉnh thoảng tiếng súng rộ từng hồi, rồi đột nhiên im bặt, lạnh tanh. Tức là đơn vị đầu tiên, lên trước chúng tôi một ngày, đã chạm địch. Vẫn lên nữa, lên mãi… 

Sáu giờ chiều, đánh một trận qua quít và tràn vào chợ Mèo Vạc. Đơn vị đi trước đã làm nhiệm vụ xuất sắc, chúng tôi chỉ đánh quét nốt cái đuôi…Ngày 22 tháng 12-1959, đánh trận Lũng Cú, rét cắt xương. Cũng đúng hôm ấy, cánh từ thị xã Hà Giang lên, có cả chủ lực Quân Khu, phá được Cổng Trời, tràn vào thung lũng Yên Minh, Mậu Dụê, đánh lên Phó Cáo, Phó Bảng, Xà Phình… 

Nhưng có lệnh tuyệt đối không được đánh tiêu diệt: phỉ cũng là dân, toàn huyện. Người H’mông, sinh ra và vật lộn suốt đời trên cao nguyên đá, sống bằng loại cây kỳ ảo nhất trên đời này – cây thuốc phiện – vốn là những người thâm trầm mà rất cảm tính. Trung thực, thẳng thắn, dữ dội, nhiều mưu lược, nhưng cũng dễ bị kích động, cuồng nhiệt.

Cuộc sống hàng trăm năm nay ở đây là cuộc đánh vật ngày đêm với từng bụm đất nhỏ đúng bằng bàn tay còn sót lại giữa các hốc đá cheo leo để giành lấy một miếng ăn còm cõi, và cuộc đánh nhau triền miên đẫm máu giữa các dòng họ bị chi phối bởi các thế lực chằng chịt trong và ngoài nước. Cho nên diệt phỉ không khéo thì cũng là diệt dân, cả một dân tộc…

Thiệt không vậy, Trời? Ai mà dè Quân Đội Nhân Dân lại bao dung và nhân đạo dữ vậy. Thật là phước đức và quí hóa! Đọc đoạn văn thượng dẫn mà bỗng thấy lòng  mát rượi.

Thế mới biết là Trần Đăng Khoa có những nhận xét vô cùng sắc sảo :

“Nhân vật của Nguyên Ngọc đều là những người tốt… Ông bám sát các vấn đề lớn của chính trị, phục vụ trực tiếp các nhiệm vụ chính trị mà tác phẩm vẫn vượt qua được sự minh họa, vẫn thành tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh.”

Quả đúng là như thế. Tuy thế, có lẽ Trần Đăng Khoa đã đẩy dự đoán của mình đi hơi quá xa khi viết về tính nhất quán trong ngòi bút của Nguyên Ngọc: “Truyện, bút pháp ông nhất quán, trước sau như một, không thay đổi, không quay quắt. Trong khi đó, có không ít cây bút chuyển hướng, hoặc thay đổi cách tiếp cận hiện thực để thu hút sự chú ý của bạn đọc… Trước viết người tốt việc tốt thì sau viết người xấu việc xấu. Nguyên Ngọc không thế.”

Vậy mà cách đây chưa lâu – hôm 04/02/2020 – từ Hội An, Nguyên Ngọc đã gửi đi những lời TỐ CÁO nẩy lửa (“về người xấu việc xấu) khiến lắm kẻ phải bàng hoàng :

Trong đêm mồng 8 rạng sáng ngày mồng 9 Tháng Giêng, năm 2020 (nhằm đúng ngày rằm Tháng Chạp, mọi người đang nô nức chuẩn bị đón Tết Canh Tý), gần 3,000 quân thuộc lực lượng vũ trang chính quy của chính phủ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, trang bị đầy đủ vũ khí hiện đại và các khí tài công nghệ tác chiến tiên tiến đã được huy động (bởi ai, theo lệnh của cá nhân hay cơ quan tối cao nào?), bất ngờ tấn công vào thôn Hoành, lập tức bao vây khống chế tất cả các nhà trong làng bằng cách phun hơi cay, bắt bớ đánh đập tàn bạo tất cả trai gái già trẻ, nhằm không cho ai chi viện để tập trung đột kích vào nhà cụ Lê Đình Kình và hai con trai cụ, dùng vũ khí phá cửa nhà cụ Kình, phun hơi cay, xông thẳng vào giường cụ Kình, kéo vợ cụ vất ra bên ngoài, đánh đập tra tấn cụ máu me lênh láng khắp phòng, chĩa thẳng súng bắn đúng vào tim cụ, vào đầu cụ, bắn nát chân cụ, ngoài ra còn một số vết đạn khác nữa.

Giết người đi đôi với cướp của: họ còn bắn nát một tủ sắt và cướp mang đi một tủ gỗ trong đó cụ Kình vẫn cất giữ chu đáo tất cả giấy tờ bản đồ chính thức về Đồng Tâm và riêng Đồng Sênh…

Xác cụ Kình, vị đại lão từ nay sẽ trở thành Thành Hoàng bất tử của làng Hoành ấy, sau đó không biết đã bị những kẻ giết cụ mang đi đâu, bị mổ phanh thây không biết để lục tìm hay lấy đi những gì trong lục phủ ngũ tạng.

Hôm sau người thân trong gia đình được gọi lên nhận lại xác cụ với yêu cầu khốn nạn: phải ký xác nhận là cụ chết trong khi xung đột với lực lượng cưỡng chế ở Đồng Sênh, cách thôn Hoành 3 km.

Một vụ án mạng đặc biệt nghiêm trọng đã diễn ra tại nhà cụ Lê Đình Kinh ở thôn Hoành, xã Đồng Tâm, giữa thủ đô Hà Nội của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Nạn nhân là đại lão gia Lê Đình Kình, công thần của Tổ Quốc Việt Nam, đã bị các lực lượng vũ trang của chính quyền Việt Nam xử tử hình với hình thức tàn bạo nhất, không theo bất cứ quy định và trình tự pháp luật nào hết.

Cho đến hôm nay, ngày 4 Tháng Hai, năm 2020, nghĩa là gần một tháng sau sự vụ, chưa hay không hề thấy mảy may động thái của toàn bộ hệ thống tư pháp của cái đất nước được coi là có pháp chế này khởi tố một vụ án giết chết công dân Lê Đình Kình.

Tôi nghiêm khắc đòi hỏi nhà cầm quyền Việt Nam lập tức ra lệnh khởi tố vụ án lớn giết cụ Lê Đình Kình một cách minh bạch, công khai, công bằng.

Những kẻ chủ trương, những kẻ lên kế hoạch, những kẻ tổ chức lực lượng và ra lệnh thực hiện dù ở cấp nào, những tên sát nhân, hay những tên đao phủ đã trực tiếp ra tay phải đền tội ác trước vành móng ngựa.

Là công dân Việt Nam, là nhà văn Việt Nam, tôi tố cáo tội ác trời không dung đất không tha này trước toàn dân Việt Nam và thế giới.

Tôi thiết tha kêu gọi mọi bậc trí giả trong nước và trên thế giới cùng mọi người có lương tri lên án tội ác man dại này và ngăn chặn nó có thể tái diễn bất cứ ở đâu.

Thế lực thù địch nào đã khiến cho Quân Đội Nhân Dân trở nên một đội quân “mặt người dạ thú” (theo như nguyên văn lời của nhà văn N.N) như thế, nếu không phải chính là cái Đảng đang cầm quyền ở Việt Nam?

Đảng cũng đã “tự chuyển hóa” và “tự diễn biến” chăng?

Không dám đâu!

Trước giờ nó vẫn vậy mà. Vẫn buộc phải “trung với Đảng” và sẵn sàng xả súng vào dân như đã từng xẩy ra khi Quỳnh Lưu Nổi Dậy (Quynh Luu Uprising) vào năm 1956. Đảng viên Trần Nhơn (nguyên Thứ Trưởng Thường Trực Bộ Thủy Lợi) cũng đã khẳng định như thế, trước lúc lìa trần: Không phải ngày xưa Đảng tuyệt vời/ Chẳng qua chưa bị lộ mà thôi!

TNT

– Tưởng Năng Tiến

Tất cả chúng ta sắp bị bắt rồi!-Phạm Đình Trọng

Tất cả chúng ta sắp bị bắt rồi!

Bởi  AdminTD

 Phạm Đình Trọng

18-12-2021

Ngày 14.12.2021 tòa án Hà Nội xử nhà báo Phạm Đoan Trang 9 năm tù.

Ngày 15.12.2021 tòa án Hà Nội xử hai nông dân ngoại thành Hà Nội, ông Trịnh Bá Phương 10 năm tù. Bà Nguyễn Thị Tâm 6 năm tù.

Ngày 16.12.2021 tòa án tỉnh Nam Định xử người thợ Đỗ Nam Trung 10 năm tù.

Ngày 24.12.2031 tòa án cấp cao sẽ xử phúc thẩm hai mẹ con nông dân Cấn Thị Thêu và Trịnh Bá Tư. Án sơ thẩm đã xử bà mẹ nông dân Cấn Thị Thêu 8 năm tù và con trai Trịnh Bá Tư 8 năm tù.

Ngày 31.12.2021 chính quyền Hà Nội sẽ dẫn giải thầy giáo Lê Trọng Hùng ra toà xử.

Tất cả những công dân phải nhận những án tù đằng đẵng từ sáu đến mười năm trời đều là người dân lương thiện, không hề có bất kì tội hình sự cỏn con nào.

Không có tội với dân. Họ chỉ nói những mong muốn, những đòi hỏi chính đáng, khẩn thiết của người dân. Tự do, Dân chủ đang là khát khao của cả trăm triệu người dân Việt Nam. Nói tiếng nói chính đáng của cả xã hội đòi tự do dân chủ thì không có tội. Mảnh đất sống của người dân, tài sản thiêng liêng thấm đẫm mồ hôi và cả máu của dân bị quyền lực đồng tiền núp bóng quyền lực chính quyền cướp đoạt trắng trợn. Người dân phải phẫn nộ gào thét, tập hợp đấu tranh, sẵn sàng đổ máu để bảo vệ tài sản chính đáng, bảo vệ cả lẽ phải, bảo vệ cả đạo lí xã hội thì không có tội. Pháp luật nghiêm minh phải trị tội bạo quyền, bảo vệ tài sản chính đáng của dân chứ không thể buộc tội dân.

Không có tội với nước. Không chỉ sẵn sàng mang cả tính mạng ra bảo vệ Tổ quốc, công dân còn phải có trách nhiệm bảo vệ những giá trị của nhân phẩm con người, những giá trị của xã hội công bằng, văn minh. Những giá trị làm nên vẻ đẹp, làm nên sự giầu có đời sống văn hoá, tinh thần của đất nước cũng làm nên sức sống vững bền của dân tộc của quốc gia. Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách là vậy. Nói tiếng nói trách nhiệm công dân thì không có tội.

Không có tội với pháp luật. Người dân thực hiện quyền tự do ngôn luận được Hiến pháp bảo đảm thì không thể bị buộc tội. Hiến pháp là văn bản pháp luật cơ bản của nhà nước, là bộ luật nền móng để từ đó dựng lên những tầng lầu, xây lên những gian phòng là các bộ luật chuyên biệt của từng lĩnh vực đời sống xã hội, tạo lên toà nhà pháp luật nghiêm minh và bền vững của đất nước.

Luật pháp của bất kì nước nào, của bất kì thể chế chính trị nào cũng phải tuân theo nguyên tắc tối cao, bất di bất dịch là: Các bộ luật chuyên biệt không được trái Hiến pháp. Bộ luật nào, điều luật nào trái Hiến pháp đều vi Hiến, đều không có giá trị pháp lí, đều phản bội ý chí nhà nước và nhân dân. Luật vi Hiến gây tổn hại, mất mát, đau khổ cho dân, gây bất ồn xã hội còn là tội ác.

Hiến pháp không những là những lời vàng danh dự, trang nghiêm của một nhà nước, một thể chế chính trị mà Hiến pháp còn là tiếng nói lịch sử khắc vào thời gian, là tiếng nói long trọng của một quốc gia với thế giới. Bằng điều 25, Hiến pháp 2013, Nhà nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam nói lời vàng danh dự với dân, nói lời long trọng với thế giới rằng: Người dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình.

Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền tiếp cận thông tin là: Người dân có quyền phát biểu, trao đổi, trả lời phỏng vấn truyền thông trong nước và thế giới, có quyền viết trên mạng xã hội, viết báo, viết sách, tạo ra, lưu giữ và phổ biến các văn bản, tài liệu bộc lộ tư tưởng, chính kiến về mọi vấn đề chính trị, xã hội của đất nước, của thời đại. Chỉ khi tuyên truyền lối sống đồi truỵ, chỉ những tư tưởng, chính kiến kích động hận thù, bạo lực, chiến tranh mới không được phép.

Dân trao quyền lực cho chính quyền. Dân đóng thuế nuôi chính quyền và dành cho chính quyền những ưu đãi cao nhất để chính quyền phục vụ dân và lo việc nước. Dân là chủ thể đất nước và chính quyền là công bộc của dân. Với tư thế chủ thể đất nước, với quyền tự do ngôn luận, đương nhiên người dân có quyền nhận định, đánh giá, phê phán đường lối chính sách hiện hành của nhà nước, có quyền khen chê, thậm chí chế giễu, lên án những công bộc mà người dân phiền lòng về năng lực và đạo đức. Đó là điều phổ quát ở mọi xã hội dân chủ trên thế giới. Không quyền lực nào được phép coi sự đánh giá, phê phán của những chủ thể đất nước với chính quyền là “tuyên truyền xuyên tạc đường lối chính sách, chống nhà nước, phỉ báng chính quyền, gây hoang mang trong nhân dân” để hình sự hoá quyền tự do ngôn luận của công dân.

Bộ Luật Hình sự 2015 có hai điều vi Hiến vô hiệu điều 25 Hiến pháp vu tội người dân khi người dân thực hiện quyền tư do ngôn luận là:

Điều 117. Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

  1. Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân;
  2. Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân;
  3. Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm gây chiến tranh tâm lý.

Điều 331. Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Điều 117 và điều 331 Bộ Luật Hình sự 2015 đã ngang nhiên vô hiệu điều 25 Hiến pháp 2013.

Nhà báo Phạm Đoan Trang, những nông dân Cấn thị Thêu, Nguyễn Thị Tâm, Trịnh Bá Phương, Trịnh Bá Tư, người thợ Đỗ Nam Trung, thầy giáo Lê Trọng Hùng và hàng trăm công dân trung thực có ý thức trách nhiệm công dân như thầy giáo Đinh Đăng Định, thầy giáo Đào Quang Thực, nhà văn Phạm Thành, nhà báo Phạm Chí Dũng, nhà báo Nguyễn Tường Thuỵ, kĩ sư tin học Lê Hữu Minh Tuấn, sinh viên Trần Hoàng Phúc, Kĩ sư thuỷ sản Nguyễn Ngọc Ánh,… đều phải nhận những bản án tù cả chục năm trời vì điều luật vi Hiến 117 của bộ Luật hình sự 2015.

Những chữ vàng chói lọi của điều 25 Hiến pháp 2013 nghiêm trang xác nhận quyền tư do ngôn luận của người dân Việt Nam. Nhưng bộ Luật Hình sự 2015 với điều 117 và điều 331 vi Hiến đã chống lại điều 25 Hiến pháp, hình sự hoá quyền tự do ngôn luận.

Hình ảnh nhà báo Phạm Đoan Trang bị công an bắt dẫn giải đi trong đêm vắng như đêm Trung cổ, trên đường phố hun hút là hình ảnh tội ác của những điều luật vi Hiến 117 và 331 bộ Luật Hình sự năm 2015 đang được khắc ghi vào thời gian, đang được khắc ghi vào lịch sử.

Phạm Đoan Trang lúc bị bắt. Ảnh trên mạng

Hình ảnh nhà báo Phạm Đoan Trang hai tay bị còng vẫn phải cầm cây bút viết trong đồn công an là hình ảnh nhức nhối của quyền tự do ngôn luận bị còng bởi điều luật vi Hiến 117 và 331 trong bộ Luật Hình sự năm 2015.

Phạm Đoan Trang ký biên bản làm việc nhưng vẫn bị còng tay. Ảnh trên mạng

Tự do ngôn luận với con người như không khí với sự sống. Sự sống không thể thiếu không khí. Con người không thể thiếu quyền tự do ngôn luận. Điều 117 và điều 331 vi Hiến trong bộ Luật Hình sự 2015, hình sự hoá quyền tự do ngôn luận đã biến cả trăm triệu dân Việt Nam đều trở thành người có tội, đều là những người tù dự bị, có thể bị bắt bất cứ lúc nào.

Điều 117 và điều 331 vi Hiến trong bộ Luật Hình sự 2015 đã biến quyền tự do ngôn luận không thể thiếu của con người thành bóng trăng ảo ảnh xa lắc trên trời cao và người dân Việt Nam chỉ là bấy chó đói hóng bóng trăng tự do ngôn luận vời vợi trên cao xanh như nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm với tâm hồn nhạy cảm nghệ sĩ đã thảng thốt kêu lên:

“Tất cả chúng ta đều bị theo dõi
Tất cả chúng ta sắp bị bắt rồi
Tất cả chúng ta như bầy chó đói
Ngửa mặt lên trời hóng bóng trăng rơi!”

Những ngày đen tối của tháng mười hai, 2021, dồn dập những phiên Toà vi Hiến tuyên án tù Quyền Tự do Ngôn luận.

Dưới sự cai trị của xã hội đen, Việt Nam mãi nằm dưới đáy đói nghèo chẳng có gì lạ

Dưới sự cai trị của xã hội đen, Việt Nam mãi nằm dưới đáy đói nghèo chẳng có gì lạ

Phương Nguyễn (Danlambao) – Không thể phủ nhận trình độ lý luận khoa học, kiến thức xã hội học, kinh tế học và khả năng triết luận của các ông Marx, Angel hai kẻ lập thuyết cộng sản có sức hấp dẫn, thuyết phục cao. Do đó, học thuyết cộng sản ngay từ lúc ra đời đã có không ít trí thức khoa bảng, kể cả tầng lớp quý tộc tham gia ủng hộ, tiếp tay rao giảng, truyền bá trong quảng đại quần chúng nhân dân khắp thế giới.

Tuy nhiên, thảm họa khủng khiếp của cộng sản gieo rắc xuống nhân loại chỉ xảy đến kể từ khi Lenin biến học thuyết Mác thành chủ nghĩa Mác- Lenin và lợi dụng thành phần công nông ít học, tầng lớp đầu đường xó chợ, đâm cha thuốc chú sử dụng bạo lực cách mạng, đấu tranh vũ trang cướp chính quyền, độc quyền lãnh đạo nhà nước, xã hội. Chúng củng cố độc tài, phát triển tội ác, xuất cảng mô hình nhà nước phi nhân, phản động đi ngược lại trào lưu tiến hoá của nhân loại ra toàn thế giới.

Với nguồn gốc xuất thân từ thành phần bất hảo ít học nhưng lưu manh độc ác cực kỳ nên trở thành thảm họa cho nhân loại. Thảm họa cộng sản chỉ dừng lại hay biến mất, khi và chỉ khi nào chế độ độc tài toàn trị, công an trị bị loại trừ khỏi đời sống của xã hội loài người.

Thảm họa này tồn tại trong hiện tại, tiếp diễn đến cả tương lai bởi nguồn gốc xuất thân của các tín đồ cộng sản đa phần là thành phần bất hảo, ngu dốt độc ác phi nhân tính, chúng xây dựng quyền lực chính trị trên nòng súng và nhà tù.

Ngay cả các tên lãnh đạo chính trị tối cao, là tứ trụ triều đình cộng sản Việt Nam hiện tại gồm tổng bí thư, chủ tịch nước, thủ tướng chính phủ và chủ tịch quốc hội vẫn không hiểu rõ trách nhiệm, quyền hạn của người lãnh đạo quốc gia, điều hành đất nước. Điều đó làm cho xã hội rối loạn, luật pháp như con nít chơi nhà chòi, mạnh ai nấy làm luật, diễn giải luật tuỳ ý, thi hành luật tuỳ tiện.

Cụ thể là các bộ trưởng của nội các chính phủ cộng sản Việt Nam đều được bộ chính trị chỉ định, cơ cấu qua màn diễn ứng cử, bầu cử do đảng cộng sản tổ chức bằng tiền thuế của người dân và hầu hết các bộ trưởng nội các chính phủ Việt cộng đều không biết vai trò, trách nhiệm, quyền hạn của họ bao gồm:

– Định hướng chính sách của chính phủ và đưa ra các quyết định lẫn giải pháp mang tính chiến lược về các vấn đề phát triển quốc gia.

– Thảo luận việc thực hiện chính sách quốc gia và đề xuất cách hoàn thiện chính sách phát triển quốc gia.

– Soạn thảo dự luật, trình bày các dự luật đưa ra quốc hội bỏ phiếu thông qua để tháo mở rào cản luật pháp do các bộ của nội các chính phủ chịu trách nhiệm thực hiện chính sách.

Với nội các chính phủ do đảng cộng sản tuyển chọn theo tiêu chuẩn hồng hơn chuyên, qua cái gọi là rèn luyện, cơ cấu. Thực chất là được chỉ định chỉ biết thần thánh hoá lãnh tụ, vâng lời lãnh tụ một cách máy móc và học tập làm theo chủ trương, đường lối, cương lĩnh đảng, là cương lĩnh lạc hậu lỗi thời, phản động từ nguồn gốc lý luận. Thế cho nên bảo sao nhà nước Việt cộng không đi từ sai lầm này đến sai lầm khác… Rối rắm trong vòng luẩn quẩn, sai rồi sửa, sửa rồi lại sai nhấn chìm đất nước, dân tộc xuống đáy đói nghèo, lạc hậu, chậm tiến.

Không chỉ nội các chính phủ của Việt cộng không biết vai trò, trách nhiệm, quyền hạn của chúng mà tứ trụ triều đình cộng sản cũng không biết trách, nhiệm vụ lãnh đạo quyền lực chính trị tối cao của chúng là phải làm gì?

Lãnh đạo Việt cộng, đứa nào như đứa nấy, chúng lãnh đạo, điều hành quốc gia như băng đảng xã hội đen, phát ngôn nhảm nhí như con nít, nói không biết nói gì?

Điển hình của chuyện lãnh đạo Việt cộng, nói nhưng không biết nói gì, là chủ tịch quốc hội Vương Đình Huệ, một trong tứ trụ triều đình đã nhiều lần phát ngôn linh tinh không biết vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của người đứng đầu ngành lập pháp đã được Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quy định:

“Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.

…Lập pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một bộ phận của quyền lực nhà nước. Quyền lập pháp, bao gồm thể chếthiết chế và hoạt động của thiết chế đó, thực hiện nhiệm vụ làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp, làm luật và sửa đổi luật nhằm thực thi quyền lực nhà nước, bảo đảm quyền làm chủ của người dân và lợi ích chung của toàn xã hội.”

Vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của chủ tịch quốc hội, lãnh đạo tối cao ngành lập pháp, dù không đúng chuẩn của các nước dân chủ văn minh tiên tiến, vẫn được quy định cụ thể rõ ràng như sau:

1-Chủ tọa các phiên họp Quốc hội, bảo đảm thi hành quy chế đại biểu Quốc hội, nội quy kỳ họp Quốc hội; ký chứng thực luật, nghị quyết của Quốc hội.

2-Chỉ đạo công tác của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; dự kiến chương trình làm việc, chỉ đạo việc chuẩn bị, triệu tập và chủ tọa các phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; ký pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

3-Triệu tập và chủ tọa hội nghị Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội bàn chương trình hoạt động của Quốc hội, của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội; tham dự phiên họp của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội.

4-Giữ mối quan hệ với các Đại biểu Quốc hội.

5-Chỉ đạo việc thực hiện kinh phí hoạt động của Quốc hội.

6-Chỉ đạo và tổ chức việc thực hiện công tác đối ngoại của Quốc hội; thay mặt Quốc hội trong quan hệ đối ngoại của Quốc hội; lãnh đạo hoạt động của Đoàn Quốc hội Việt Nam trong các tổ chức liên nghị viện thế giới và khu vực.

Qua những quy định cụ thể về vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của chủ tịch quốc hội do nước cộng hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam nêu trên.

Thế chủ tịch quốc hội Vương Đình Huệ có làm theo luật pháp quy định sau khi tên thủ tướng Việt gian Phạm Minh Chính giết dân, phá nát kinh tế Việt Nam qua việc chống dịch cúm Tàu cho Tàu bằng các khẩu hiệu.

Chúng ta cùng nhau tham khảo phát biểu sau đây của Vương Đình Huệ:

“Hiện việc hấp thụ vốn của nền kinh tế gặp trở ngại, tín dụng tăng chậm, có nguy cơ chảy vào những lĩnh vực rủi ro cao như chứng khoán, bất động sản.

Bộ tài chính, ngân hàng nhà nước cần nghiên cứu giải pháp cải thiện thể chế, luật pháp, ưu đãi… để mở rộng năng lực thị trường vốn, huy động nguồn lực trong dân còn đang nhiều.

Phải tập trung phân tích các yếu tố để đánh giá năng lực hấp thụ vốn nền kinh tế. Tiền đưa vào chỗ nào, kích thích vào đâu để tiền rót vào mà tiêu được, nhất là phân bổ, giải ngân đầu tư công, giải quyết các dự án treo, chậm tiến độ…

Tác động của Covid-19 gây nguy cơ rủi ro kinh tế, đứt đoạn chuỗi cung ứng còn hiện hữu. Bản kế hoạch tái cơ cấu 5 năm tới phải gắn với chương trình phục hồi tổng thể nền kinh tế và tăng tính tự chủ nền kinh tế…

Như vậy, vừa phải trọng cung, vừa phải kích cầu. Tức là coi trọng kích thích các yếu tố phát triển, nhưng cũng phải chú trọng tới kích cầu.

Chương trình phải gắn với nâng cao nội lực, tính tự chủ của nền kinh tế, gắn với khuôn khổ đầu tư công trung hạn, kế hoạch tài chính ngân sách, phát triển kinh tế, xã hội dài hạn.

Chương trình cũng cần có lộ trình phù hợp, đồng thời cần có trọng tâm, trọng điểm, có tính khả thi cao và dẫn vốn được vào khu vực thực sự cấp bách, có khả năng hấp thụ vốn.

Chương trình quản lý rủi ro đảm bảo cho việc huy động, phân bổ các nguồn lực công khai, đúng mục đích, hiệu quả, chống thất thoát, lãng phí, chống lợi ích nhóm…”

Phát ngôn của Vương Đình Huệ vừa dẫn và nhiều phát ngôn kể từ khi được đảng cử làm chủ tịch quốc hội, Huệ luôn cầm nhầm vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn. Nói cách khác là Huệ hiểu sai chức năng của người đứng đầu ngành lập pháp.

Như phát ngôn được trích dẫn ở trên, Vương Đình Huệ nói như người lãnh đạo ngành hành pháp, đứng đầu nội các chính phủ ban hành sắc lệnh hành pháp cho các bộ hoạch định chính sách phục hồi kinh tế hậu cúm Tàu.

Thật ra không chỉ có Vương Đình Huệ không biết vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn chính trị của mình mà hầu hết lãnh đạo cộng sản Việt Nam đều không hề biết điều gì được làm và điều gì không được làm trong nhiệm vụ chính trị của chúng được đảng cộng sản giao.

Với Việt cộng, nhiệm vụ chính trị là nòng súng, nhà tù và với công cụ đàn áp đó, chúng quản trị, điều hành đất nước tồi tệ hơn băng đảng giang hồ xã hội đen sống ngoài vòng pháp luật.

Một đất nước nằm dưới sự cai trị của băng đảng xã hội đen thì mãi nằm dưới đáy đói nghèo, lạc hậu, chậm tiến so với thế giới chẳng có gì lạ!

Tham khảo:

https://quochoi.vn/ct-vuong-dinh-hue/Pages/qua-trinh-cong-tac.aspx?ItemID=60798

https://quochoi.vn/ct-vuong-dinh-hue/Pages/qua-trinh-cong-tac.aspx?ItemID=60640

https://moh.gov.vn/hoat-dong-cua-lanh-dao-bo/-/asset_publisher/TW6LTp1ZtwaN/content/tong-bi-thu-nguyen-phu-trong-khong-khoan-nhuong-voi-cai-xau-cai-ac-phi-van-hoa-phan-van-hoa-

 Phương Nguyễn

danlambaovn.blogspot.com

Tại sao Đảng sợ Phạm Đoan Trang

Tại sao Đảng sợ Phạm Đoan Trang

01:06 | Posted by BVN1

16/12/2021

Ngô Nhân Dụng

Nhà báo Phạm Đoan Trang tại phiên xử tại tòa Hà Nội ngày 14 tháng 12, 2021.

Cô Phạm Đoan Trang, 43 tuổi, đã bị tuyên án 9 năm tù vì tội “Tuyên truyền chống Nhà nước” theo luật Hình sự của đảng Cộng sản. Luật sư Đặng Đình Mạnh kể, có lúc tòa tạm ngưng, cô Đoan Trang quay lại nhìn về phía người mẹ đang ngồi phía sau khoảng 5 mét. Bà Bùi Thị Thiện Căn, hơn 80 tuổi, đã nắm tay, đưa một ngón cái lên: “Con là Số Một!”

Có 5 luật sư bào chữa cho Phạm Đoan Trang, các ông Đặng Đình Mạnh, Nguyễn Văn Miếng, Lê Văn Luân, Ngô Anh Tuấn và bà Phạm Lệ Quyên. Luật sư Mạnh nhận xét, “Có lẽ, chỉ có dòng máu anh thư chảy trong huyết quản người mẹ Việt mới có thể luân chuyển, hun đúc nên tinh thần kiên cường của một Đoan Trang mà chúng tôi phải ngả mũ từ rất xa.”

Phạm Đoan Trang đã sáng lập tạp chí “Luật Khoa” giúp người Việt Nam hiểu luật pháp để tự bảo vệ quyền lợi của mình. Cô làm báo từ năm 2000 cho đến 2013, cộng tác với gần mười cơ quan báo chí trong nước, như VnExpress, Vietnamnet, báo Pháp Luật Thành Phố Hồ Chí Minh, đài truyền hình VTC, vân vân.

Năm 2014, cô qua Mỹ nhận học bổng nghiên cứu của tổ chức Villa Aurora & Thomas Mann House và thư viện Feuchtwanger tại đại học nam California (University of Southern California- USC). Năm 2015 Phạm Đoan Trang tham gia cuộc biểu tình ôn hoà “bảo vệ cây xanh” và bị công an đánh gãy cả hai chân. Cô đã xuất bản những cuốn Phản kháng phi bạo lực, Cẩm nang nuôi tù, Chính trị bình dân, tất cả hơn 10 tác phẩm tranh đấu. Cô bị bắt giam thêm nhiều lần nữa.

Tại sao sau khi công tố viên đề nghị bản án từ 7 đến 8 năm tù, quan tòa lại tăng lên thành 9 năm?

Vì Đảng Cộng sản đang sợ. Đó là nhận xét của một tờ báo ở Berlin, nước Đức, ngay lập tức khi loan tin bản án.

Ông Dương Hồng Ân ở Đức giới thiệu nhật báo TAZ tường thuật phiên tòa, dưới tiêu đề “Tự Do Báo Chí ở Việt Nam (Pressefreiheit in Vietnam). Báo này viết tựa: “Chín năm tù cho nhà báo nữ” (Neun Jahre Haft für Journalistin). TAZ giải thích, “Chế độ độc tài đưa ra bản án quá nặng, chắc vì họ sợ…” Nhờ bản tin này, độc giả được biết “Việt Nam đứng hàng thứ 175 trong số 180 quốc gia, trong bảng xếp hạng “tự do báo chí” của Tổ chức Phóng viên Không Biên giới.“

Tại sao Đảng sợ Phạm Đoan Trang? TAZ viết rằng họ “sợ dân chúng các làng” sẽ tiếp tục tranh đấu mạnh hơn. Một tháng trước khi bị bắt vào năm ngoái, cô Trang cùng với Will Nguyễn (ở Mỹ) đã công bố hồ sơ về làng Đồng Tâm, ngoại ô Hà Nội, dân làng phản đối chế độ cộng sản tịch thu đất đai rồi bị đàn áp tàn nhẫn. TAZ ghi nhận “Hai người dân xã Đồng Tâm đã bị án tử hình, những người khác đã bị kết án tù nhiều năm.”

Báo TAZ cũng loan những tin mà dân Việt Nam trong nước không hề biết, vì không báo, đài nào nói đến: Ngày Thứ Hai trước phiên tòa, tổ chức quốc tế Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch) đã yêu cầu Cộng sản Việt Nam trả tự do cho Phạm Đoan Trang ngay lập tức. HRW kết tội cộng sản đã vi phạm Công Ước Quốc tế về Quyền Tự do mà họ đã ký kết năm 1982. Báo TAZ còn nhắc lại, vào năm 2017 tổ chức nhân quyền “People in Need” ở Cộng Hòa Tiệp (Czech) đã tặng cô Đoan Trang giải Người Với Người (Homo-Homini Preis), và năm 2019 tổ chức Phóng viên Không Biên Giới đã trao tặng cô giải “Tự Do Báo chí.” Trung tâm PEN ở Đức tuyên dương Phạm Đoan Trang là thành viên danh dự; yêu cầu nhà nước CSVN phải trả tự do cho cô.

Giáo sư Nguyễn Quang A (1) cho thấy một lý do khác khiến Đảng sợ Phạm Đoan Trang: Vì chính cái tội danh “chống nhà nước” họ cáo buộc cho cô đã là phi lý. Ông viết, … khi chính quyền ấy làm bậy“… xét về mặt nguyên tắc chẳng ai có thể chống lại một nhà nước cả …, nhưng ai cũng có quyền chống một chính quyền …”

Nhà báo Tuấn Khanh cũng nhìn thấy Đảng đuối lý. Vì đuối lý nên “văng tục.” Đảng sợ Phạm Đoan Trang vì cô “chủ trương đấu tranh bằng lý lẽ, chữ nghĩa.” Còn Đảng thì không nghĩ ra lý lẽ! Bí quá, Đảng phải dùng những hành động thô bạo, ngôn ngữ, hạ cấp. Tuấn Khanh kể lại năm 2017, sau khi Đoan Trang xuất bản cuốn Chính trị Bình Dân ở nước ngoài rồi bị bắt, cô được dẫn vào phòng giam. Sau khi cô hỏi đi hỏi lại tại sao lại bỏ tù cô, không ai trả lời được một câu. Thay vì nói “tôi chỉ làm theo lệnh trên,” một anh công an trẻ chỉ tay vào mặt cô, quát lên, “Địt mẹ con mặt l…!” Đó là thứ lý lẽ, chữ nghĩa quen thuộc của Đảng.

Bản án 9 năm tù chính là thứ ngôn ngữ “Đ.M.” của những kẻ vô học khi bị đuối lý. Nguyễn Quang A thấy bản án 9 năm giống như vậy: “… chỉ những kẻ yếu mới dùng đến những biện pháp đàn áp thô bạo như thế…” Nhưng ông cũng thấy hậu quả là “chỉ khiến nhiều người quyết tâm hơn!” Hơn nữa, “nhiều người nhìn thấy hành động phi pháp của chính quyền, và như thế thực sự hại cho chính quyền.”

Một ngày sau bản án cho cô ĐoanTrang, nhà phản kháng Trịnh Bá Phương và bà Nguyễn Thị Tâm đã bị kết án tù 10 năm và 6 năm. Bà Tâm góp mặt, như một phụ nữ đòi dân chủ tự do, cùng với Lê Thị Công Nhân, Tạ Phong Tần, Huỳnh Thục Vy, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, vân vân. Có lẽ Đảng Cộng Sản sợ các phụ nữ đấu tranh nhiều hơn nam giới. Vì khi họ lên tiếng nói ảnh hưởng sẽ mạnh hơn. Những nhà lãnh đạo đầu tiên đòi độc lập cho dân tộc Việt Nam là các Bà Trưng và Bà Triệu. Quân Hán, quân Ngô đã đánh bại các bà. Nhưng Lịch sử mãi mãi ghi danh các vị nữ anh hào.

Lời nói sau chót của Phạm ĐoanTrang nói đến một phiên tòa của lịch sử: “Các anh, các chị có thể bỏ tù tôi và hả hê đắc thắng vì đã xóa bỏ được một cái gai trong mắt các anh chị nhiều năm nay; nhưng mãi mãi các anh chị không xóa bỏ được tiếng xấu, độc tài, phi dân chủ, phản dân chủ. Vì con thú mãi mãi là con thú, nó không bao giờ có thể trở thành người được.”

Sau khi đọc tin bản án 9 năm, Phạm Thị Hoài đã nhìn lại lịch sử nước Đức, nơi cô đang sống, nhắc lại một lời tuyên án: “Không có gì ô danh một dân tộc văn hiến hơn là khoanh tay chấp nhận sự cai trị của một tập đoàn lãnh đạo vô trách nhiệm và chỉ tuân theo những bản năng tăm tối. Nếu dân tộc này đã mất hết mọi phẩm giá cá nhân và chỉ còn là một đám đông vô hồn và hèn nhát, vâng, nếu vậy thì dân tộc ấy xứng đáng diệt vong.” Đó là lời của cô sinh viên Sophie Scholl, 21 tuổi, kêu gọi người Đức chống Đức Quốc xã. Cô bị bắt và bị giết. Nhưng lời buộc tội của cô đã được lịch sử ghi nhớ.

Phạm Đoan Trang cũng tuyên án. Sau cùng, Lịch sử sẽ phê phán. Đảng Cộng sản sẽ không thoát tội trước phiên tòa của Lịch sử.

N.N.D.

Nguồn: https://www.voatiengviet.com/a/dang-so-pham-doan-trang/6357245.html

(1) Ông Nguyễn Quang A hiện có học vị Tiến sĩ – BVN.