Sử gia Harari: Hướng đi của nhân loại đang được quyết định tại Ukraina (RFI)

Sử gia Harari: Hướng đi của nhân loại đang được quyết định tại Ukraina

Đăng ngày: 13/02/2022 

Sử gia Yuval Noah Harari. © wikipedia

Trọng Thành

Những tuần lễ đầu tiên của năm 2022, khi đại dịch Covid-19 có phần tạm lắng sau 2 năm hoành hành, nhân loại lại đứng trước một đe dọa lớn mới đáng sợ hơn bội phần : Chiến tranh. Nguy cơ nước Ukraina bị xâm lăng không chỉ là đại họa với người dân của riêng quốc gia này cùng những khu vực xung quanh, mà còn đe dọa toàn bộ thành tựu của thế giới từ hơn nửa thế kỷ qua: Nền hòa bình.

Đối với sử gia nổi tiếng người Israel, Yuval Noah Harari (*), « thành tựu chính trị lớn nhất » của nhân loại trong bảy thập niên qua là « tình trạng suy tàn của chiến tranh ». Chiến tranh, chinh phạt, xâm chiếm lãnh thổ, cướp bóc tài nguyên, lấy bạo lực để bảo đảm vị thế, sự thịnh vượng, bảo đảm vinh quang, vốn từng là hoạt động hết sức phổ biến trong lịch sử nhân loại hàng ngàn năm nay. Luật Rừng, nơi mạnh được yếu thua, đã từng là nguyên tắc chủ yếu chi phối lịch sử nhân loại trong một thời gian dài. Tuy nhiên, theo sử gia Harari, trong vòng một vài thế hệ gần đây, thế giới đã chuyển sang một hướng đi hoàn toàn khác, một thay đổi triệt để. Cụ thể là một bộ phận lớn của giới tinh hoa lãnh đạo thế giới hiện nay tin tưởng là chiến tranh là « cái ác có thể tránh được ».

Cho dù chiến tranh vẫn tiếp diễn giữa một số quốc gia, trong nội bộ một số quốc gia, nhưng xu thế chung của giai đoạn lịch sử hơn nửa thế kỷ qua là nền hòa bình đã trở thành tình trạng phổ biến, và chiến tranh xâm lược ngày càng trở nên chuyện gần như không thể. Theo tác giả, « sự suy tàn của chiến tranh » không phải là kết quả của một phép màu hay sự thay đổi của các quy luật mang tính tự nhiên, mà chính là do sự lựa chọn của con người.

Yuval Noah Harari sống tại Trung Đông, một khu vực mà bạo lực chiến tranh xảy ra khá thường xuyên. Tác giả phân biệt những gì là « ngoại lệ » với xu thế chung. Theo tác giả, « nền hòa bình mới » là điều chưa từng có với nhân loại. Chiến tranh xâm lược khó xảy ra hơn hiện nay khi tri thức đã trở thành « nguồn lực chủ yếu tạo ra của cải », chứ không còn là tài nguyên thiên nhiên như trước đây. Giờ đây, bạo lực do chiến tranh khiến ít người chết hơn là tai nạn giao thông hay bệnh béo phì. Chi phí cho giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội nhiều hơn hẳn ngân sách cho vũ trang, vốn chiếm tỉ lệ lớn nhất trong ngân sách của giới cầm quyền các thời kỳ lịch sử trước đây.

Yuval Noah Harari nhấn mạnh là « nền hòa bình mới » chưa từng có với nhân loại đang bị đe dọa: « Sự trỗi dậy của vũ khí mạng, các nền kinh tế do trí tuệ nhân tạo điều khiển và việc tái quân sự hóa nền văn hóa của chúng ta có thể mở ra một kỷ nguyên chiến tranh mới, tồi tệ hơn rất nhiều so với bất kỳ điều gì chúng ta từng biết trước đây ». Theo ông, hướng đi của nhân loại sẽ bị đảo chiều, nếu chiến tranh xâm lược bùng nổ tại Ukraina.

Tuy nhiên, nhà sử học nổi tiếng với tiếp cận lịch sử toàn cầu, xuyên nhiều thiên niên kỷ, cũng tin tưởng là chiến tranh, Luật Rừng không phải quy luật có trong tự nhiên, mà là sự lựa chọn của con người. Con người đã tạo lập được « nền hòa bình » kéo dài hơn nửa thế kỷ. Chiến tranh không phải là định mệnh, Luật Rừng không phải là luật tự nhiên. Khả năng hợp tác và xây dựng nền dân chủ có thể giúp cho nhân loại bảo vệ được hòa bình. Việc người dân Ukraina bất ngờ dựng nên nền dân chủ non trẻ, trỗi dậy lạ kỳ sau hàng thế kỷ bị đàn áp tưởng như không ngóc đầu lên được, cho thấy Ukraina có thể mang lại cho nhân loại những bài học bất ngờ.

Sau đây, xin giới thiệu với quý độc giả góc nhìn của sử gia Yuval Noah Harari trên The Economist, qua bài « Yuval Noah Harari argues that what’s at stake in Ukraine is the direction of human history » (tạm dịch là « Sử gia Harari: Hướng đi của lịch sử nhân loại đang được quyết định tại Ukraina »). Phần chuyển dịch dựa trên bản dịch tiếng Pháp trên Courrier International).

***

HƯỚNG ĐI của NHÂN LOẠI ĐANG ĐƯỢC QUYẾT ĐỊNH tại UKRAINA

Thành tựu chính trị lớn nhất của nhân loại trong bảy thập niên qua là tình trạng suy tàn của chiến tranh. Thành tựu đó hiện đang gặp nguy hiểm.

Trong tâm điểm của cuộc khủng hoảng Ukraina, có một câu hỏi căn bản liên quan đến bản chất của lịch sử và bản chất của nhân loại : Đó là thay đổi là có thể hay không thể ? Con người có thể thay đổi được ứng xử của mình ? hay lịch sử rút cục chỉ là sự lặp lại không ngừng, bởi nhân loại bị kết án mãi mãi lắp lại các bi kịch trong quá khứ, mà không có thể làm gì để thay đổi cả, có chăng chỉ là những gì không căn bản ?

Có một trường phái tư tưởng phủ nhận triệt để khả năng thay đổi của con người. Theo trường phái này, thì thế giới tuân theo Luật Rừng, nơi các loài mạnh ăn thịt các loài yếu, và sức mạnh vũ trang là phương tiện duy nhất ngăn cản một quốc gia này nuốt chửng một quốc gia khác. Lịch sử đã là như vậy, và sẽ luôn luôn tiếp tục là như vậy. Những ai không tin vào Luật Rừng sẽ không chì sống trong ảo ảnh, mà còn khiến sự tồn tại của chính mình lâm nguy. Họ sẽ không thể sống sót.

Một trường phái tư tưởng khác khẳng định rằng cái gọi là luật cạnh tranh sinh tồn đúng là rất phổ biến, nhưng lại không phải là một quy luật tự nhiên. Chính con người đã tạo ra nó, và như vậy con người có thể thay đổi nó. Ngược với những ý tưởng sai lầm đang tồn tại, theo các dấu hiệu khảo cổ học xưa nhất không thể phản bác, hoạt động chiến tranh có tổ chức chỉ xảy ra vào khoảng 13.000 năm trước Công nguyên. Và ngay cả sau niên đại này, trong nhiều khoảng thời gian dài, khó tìm thấy các dấu vết khảo cổ về chiến tranh. Ngược hẳn với « trọng lực » (một quy luật tự nhiên), chiến tranh không phải là một sức mạnh vốn có của thiên nhiên. Sự tồn tại của chiến tranh, mức độ căng thẳng của chiến tranh phụ thuộc vào các yếu tố công nghệ, kinh tế và văn hóa ngầm ẩn. Và khi các yếu tố này thay đổi thì chiến tranh cũng thay đổi.

Tri thức, nguồn lực chủ yếu sáng tạo ra của cải

Có nhiều bằng chứng cho sự thay đổi này xung quanh chúng ta. Trong vòng một vài thế hệ, vũ khí hạt nhân đã biến chiến tranh giữa các siêu cường thành một nguy cơ tự sát tập thể điên rồ. Đây là điều buộc các quốc gia hùng mạnh nhất hành tinh phải tìm ra các phương tiện ít bạo lực hơn để giải quyết các xung đột. Nếu như các cuộc chiến tranh giữa các đại cường, như kiểu Thế chiến Hai hay cuộc chiến tranh Punic lần thứ hai (từ 218 đến 201 trước Công Nguyên, tại Bắc Phi và Nam Âu, giữa Carthage và đế quốc La Mã –  người dịch bổ sung) đã từng là một đặc điểm nổi trội trong phần lớn lịch sử, thì 70 năm gần đây chưa từng chứng kiến bất cứ một xung đột trực tiếp nào giữa các đại cường.

Trong cùng một giai đoạn, nền kinh tế thế giới, trước đây vốn dựa vào các nguồn tài nguyên, nay đã chuyển hướng sang dựa vào tri thức. Trong lúc trước kia các nguồn tài nguyên chính là các tài sản vật chất, như mỏ vàng, đồng ruộng, các giếng dầu, thì giờ đây nguồn tài nguyên chính là tri thức. Mà, nếu như có thể dùng vũ lực để chiếm lĩnh các mỏ dầu, thì lại không thể làm như vậy với tri thức. Chính vì vậy, chinh phục lãnh thổ giờ đây ít mang lại lợi ích hơn.

Cuối cùng thì văn hóa thế giới đã trải qua một giai đoạn biến chuyển dữ dội. Trong lịch sử, một bộ phận lớn của giới tinh hoa – ví dụ như các thủ lĩnh của người Hun, người Viking, hay giới quý tộc La Mã – đã từng cho chiến tranh là điều tốt. Từ Sargon Đại Đế vùng Lưỡng Hà đến nhà độc tài Ý Benito Mussolini, các nhà lãnh đạo thường tìm kiếm danh tiếng bất tử thông qua các cuộc chinh phạt (…). Một số thành phần tinh hoa khác, như Giáo hội Thiên Chúa giáo, từng coi chiến tranh là cái ác không thể tránh được.

Tuy nhiên, trong vòng một vài thế hệ trở lại đây, lần đầu tiên thế giới được lãnh đạo bởi một bộ phận giới tinh hoa coi chiến tranh là một cái ác có thể tránh được. Cả các tổng thống Mỹ George W. Bush và Donald Trump, chưa kể đến những người như thủ tướng Đức Merkel và thủ tướng New Zealand Ardern. Đó là những chính trị gia khác hẳn với Attila Rợ Hung hay Alaric đệ nhất, vua của tộc Goth (tức các thủ lĩnh quân sự lừng danh châu Âu thế kỷ V – người dịch). Các chính trị gia đương đại (như Merkel nay Ardern) nhìn chung lên nắm quyền nhờ việc nuôi dưỡng niềm tin trong công chúng vào ước mơ có được các cải cách trong nước hơn là tiến hành các cuộc chinh phạt bên ngoài. Trong lúc đó, những cây đại thụ trong các lĩnh vực nghệ thuật và tư tưởng – từ danh họa Pablo Picasso đến nhà điện ảnh bậc thầy Stanley Kubrick – nổi tiếng đặc biệt là do đã mô tả sự ghê rợn phi lý của chiến tranh, hơn là tôn vinh những người gây ra chiến tranh.

Đường ăn khiến nhiều người chết hơn là thuốc súng

Tiếp theo những thay đổi như vậy, phần lớn các chính quyền đã ngừng coi các cuộc chiến tranh xâm lược, như một công cụ có thể dùng đến để bảo vệ các lợi ích của họ, và đa số các quốc gia cũng ngừng nuôi dưỡng tham vọng chinh phạt và sát nhập lãnh thổ của các láng giềng. Sẽ là sai lầm khi tin rằng lực lượng quân sự duy nhất đủ để ngăn cản Brazil chinh phục Uruguay, hoặc Tây Ban Nha xâm lược Maroc.

Các thống kê cho thấy sự suy tàn của chiến tranh không thiếu. Từ năm 1945, tương đối hiếm có việc các biên giới quốc tế bị vẽ lại do một cuộc xâm lược, và không có một quốc gia nào bị xóa sổ khỏi bản đồ do một cuộc xâm lặng từ bên ngoài. Dĩ nhiên là có nhiều loại xung đột khác, như nội chiến và nổi dậy. Tuy nhiên, ngay cả khi tính tổng cộng tất cả các nạn nhân của những cuộc chiến như vậy trong 20 năm đầu của thế kỷ XXI, bạo lực chiến tranh khiến ít người chết hơn là nạn tự sát, tai nạn giao thông hay bệnh tật liên quan đến béo phì. Giờ đây thuốc súng khiến ít người chết hơn là đường.

Tính chính xác của các số liệu này là đối tượng tranh luận trong giới khoa học, nhưng cần vượt ra khỏi chuyện này để nhắm đến câu chuyện căn bản hơn. Sự suy tàn của chiến tranh không chỉ là câu chuyện thống kê mà cũng là một hiện tượng tâm lý. Trước hết, có thể thấy có một thay đổi kỳ lạ trong bản thân nghĩa của từ « hòa bình », như một hệ quả. Trong suốt chiều dài lịch sử của nhân loại, « thời bình » đã từng là đồng nghĩa như « sự vắng mặt tạm thời của chiến tranh ». Năm 1913, khi mọi người nói rằng đã có « hòa bình » giữa Pháp và Đức, thì điều đó có chỉ nghĩa là hai quân đội Pháp và Đức đang trong tình trạng không đụng độ trực tiếp, nhưng tất cả đều hiểu rằng chiến tranh có thể bùng nổ bất cứ lúc nào.

Kể từ vài thập niên trở lại đây, « hòa bình » cuối cùng đã mang nghĩa « chiến tranh là bất khả thi ». Nhiều quốc gia ngày nay khó lòng hình dung được là họ có thể bị xâm lược và chinh phục bởi các nước láng giềng. Tôi là người sống ở vùng Trung Đông, vì vậy tôi biết rõ rằng có những ngoại lệ với xu hướng này. Nhưng việc xác định các xu hướng cũng quan trọng không kém việc chỉ ra các trường hợp ngoại lệ.

Khi con người có những lựa chọn đúng hơn

« Nền hòa bình mới » không còn là một trạng thái bất thường xét về mặt thống kê, và cũng không còn là một ảo tưởng của giới hippy. Các ngân sách – được tính toán một cách lạnh lùng – cung cấp các bằng chứng rõ ràng nhất cho điều này. Trong những thập kỷ gần đây, các chính phủ trên toàn thế giới đã cảm thấy đủ an toàn khi chỉ chi trung bình 6,5% ngân sách cho vũ trang, và chi nhiều hơn hẳn cho giáo dục, y tế và phúc lợi xã hội. Điều mà chúng ta có thể dễ dàng coi là chuyện đương nhiên, trong khi đây là một điều mới lạ đáng kinh ngạc, nếu xét trên toàn bộ lịch sử nhân loại. Trong hàng nghìn năm, chi tiêu quân sự đã từng là khoản chi lớn nhất trong ngân sách của các hoàng tử, các đại hãn, các quốc vương, hoàng đế. Họ hiếm khi chi tiền cho giáo dục hoặc chăm sóc y tế cho đại chúng.

Sự suy tàn của chiến tranh không phải là kết quả của một phép màu thần thánh hay sự thay đổi của các quy luật tự nhiên. Mà đó là bởi vì con người đã có những lựa chọn tốt hơn. Có thể nói, chắc chắn đây là thành tựu chính trị và đạo đức vĩ đại nhất của nền văn minh hiện đại. Nhưng thật không may, bởi nếu điều đó được sinh ra bởi sự lựa chọn của con người thì cũng có nghĩa là nó có thể bị đảo ngược.

Công nghệ, nền kinh tế và văn hóa tiếp tục phát triển. Sự trỗi dậy của vũ khí mạng, các nền kinh tế do trí tuệ nhân tạo điều khiển và việc tái quân sự hóa nền văn hóa của chúng ta có thể mở ra một kỷ nguyên chiến tranh mới, tồi tệ hơn rất nhiều so với bất kỳ điều gì chúng ta từng biết trước đây. Để tận hưởng nền hòa bình, điều cần thiết là tất cả mọi người, hoặc hầu hết tất cả mọi người, có được những lựa chọn đúng đắn. Ngược lại, chỉ cần một người tham gia lựa chọn tồi có thể khiến chiến tranh bùng nổ.

Đây là lý do tại sao mối đe dọa xâm lược Ukraina của Nga có thể khiến tất cả cư dân trên hành tinh này lo lắng. Nếu các quốc gia hùng mạnh có thể đè bẹp các nước láng giềng yếu hơn mà không bị trừng phạt, thì các cảm xúc và hành vi trên toàn thế giới sẽ thay đổi. Hệ quả đầu tiên, và có lẽ là rõ ràng nhất, của sự quay trở lại của Luật Rừng sẽ là sự gia tăng mạnh chi phi quân sự gây bất lợi cho phần còn lại của thế giới. Số tiền đáng lẽ dành cho giáo viên, y tá và nhân viên xã hội sẽ được đầu tư vào xe tăng, tên lửa và vũ khí mạng.

Vòng xoáy luẩn quẩn có thể dẫn nhân loại chúng ta đến chỗ diệt vong

Việc quay trở lại luật rừng cũng sẽ làm suy yếu hợp tác toàn cầu, đặc biệt là khi liên quan đến việc ngăn chặn biến đổi khí hậu, hoặc điều chỉnh các công nghệ tiềm ẩn nguy hiểm như trí tuệ nhân tạo và kỹ thuật di truyền. Thật không dễ dàng để làm việc, khi phải sống cạnh các quốc gia đang chuẩn bị xóa sổ nước bạn khỏi bản đồ. Và khi biến đổi khí hậu và cuộc chạy đua trí tuệ nhân tạo tăng tốc, thì mối đe dọa xung đột vũ trang cũng sẽ chỉ có thể gia tăng, giam hãm chúng ta vào một cái vòng luẩn quẩn, có thể dẫn nhân loại chúng ta đến chỗ diệt vong. Nếu bạn tin rằng sự thay đổi lịch sử là điều không thể xảy ra và loài người chưa bao giờ rời khỏi rừng rậm và sẽ không bao giờ rời khỏi rừng rậm, thì sự lựa chọn sẽ là giữa chọn làm kẻ săn mồi hoặc chọn làm con mồi. Khi ấy nếu phải lựa chọn, hầu hết các nhà lãnh đạo sẽ thà đi vào lịch sử như những kẻ săn mồi đỉnh cao và bổ sung tên của họ vào cái danh sách thê thảm của thủ lĩnh các cuộc chinh phạt mà những học sinh nghèo phải học thuộc lòng để qua được các kỳ thi môn lịch sử.

Nhưng thay đổi cũng là điều có thể ? Có thể vì Luật Rừng là một sự lựa chọn chứ không phải là định mệnh ? Nếu như vậy, nhà lãnh đạo nào lựa chọn quyết định xâm lược quốc gia hàng xóm sẽ có một vị trí đặc biệt trong ký ức của nhân loại, tệ hơn rất nhiều so với Tamerlane (thủ lĩnh quân sự nổi tiếng tàn bạo (sinh 1336 – chết 1405), người sáng lập đế quốc Timurid ở vùng Ba Tư và Trung Á – người dịch bổ sung). Một kẻ như vậy sẽ đi vào lịch sử với tư cách là người phá bỏ thành tựu vĩ đại nhất của chúng ta. Sẽ đưa chúng ta trở lại thế giới của Luật Rừng, trong khi chúng ta tin tưởng là đã thoát khỏi nó.

Người Ukraina có nhiều điều để dạy chúng ta

Tôi không biết điều gì sẽ xảy ra ở Ukraina. Nhưng với tư cách là một nhà sử học, tôi tin vào khả năng thay đổi. Đây không phải là niềm tin ngây thơ, mà là chủ nghĩa hiện thực. Điều duy nhất bất biến trong lịch sử loài người đó là sự thay đổi. Và về chủ đề này, người Ukraina có thể có điều gì đó để dạy chúng ta. Nhiều thế hệ người Ukraina chỉ biết đến chế độ chuyên chế và bạo lực. Họ đã phải chịu đựng hai thế kỷ dưới chế độ chuyên chế Sa hoàng (cuối cùng đã sụp đổ trong cơn đại hồng thủy của Thế chiến thứ nhất). Nỗ lực giành độc lập ngắn ngủi của dân Ukraina đã nhanh chóng bị đè bẹp bởi Hồng Quân, lực lượng đã khôi phục quyền thống trị của đế chế Nga. Sau đó, người Ukraina đã trải qua nạn đói khủng khiếp do chính sách « Holodomor » (1932 – 1933) (chính sách gây chết đói hàng loạt), sự khủng bố của chế độ Stalin, sự chiếm đóng của Đức Quốc xã và nhiều thập niên bị đè nén dưới chế độ toàn trị cộng sản. Khi Liên Xô sụp đổ, đã có mọi lý do để tin rằng người Ukraina sẽ một lần nữa đi theo con đường của chế độ chuyên chế tàn bạo, vì đó là những gì duy nhất mà họ đã biết được.

Nhưng dân Ukraina đã có một sự lựa chọn khác. Bất chấp sức nặng của lịch sử, bất chấp tình trạng nghèo đói cùng cực và bất chấp những trở ngại dường như không thể vượt qua nổi, người Ukraina đã thiết lập được một nền dân chủ. Ở Ukraina, không giống như ở Nga và Belarus, các ứng cử viên đối lập đã nhiều lần lên nắm quyền. Đối mặt với mối đe dọa của một chế độ ngả sang độc tài, trong những năm 2004 và 2013, người Ukraina đã hai lần nổi dậy để bảo vệ quyền tự do của mình. Nền dân chủ với dân Ukraina là hoàn toàn mới mẻ. Cũng giống như « nền hòa bình mới » (của nhân loại từ hơn nửa thế kỷ nay – người dịch). Cả hai đều mong manh và có thể sẽ không tồn tại lâu. Nhưng cả nền dân chủ và hòa bình đều là điều có thể thành công, và có thể bắt rễ sâu. Chúng ta đừng quên rằng những gì cũ hiện nay trước đây đã từng là cái mới. Tất cả đều phụ thuộc vào những lựa chọn của con người.

GHI CHÚ

(*) Yuval Noah Harari (sinh năm 1976) là giáo sư Khoa Lịch sử tại Đại học Hebrew Jerusalem. Ông là tác giả của ba cuốn sách bán chạy hàng đầu thế giới: Sapiens: Lược sử loài người (2014), Homo Deus: Lược sử tương lai (2016) và 21 bài học cho thế kỷ 21 (2018).

Thách thức nghiêm trọng nhất của Việt Nam là Đảng Cộng sản

Thách thức nghiêm trọng nhất của Việt Nam là Đảng Cộng sản

Bởi  AdminTD

 Jackhammer Nguyễn

14-1-2022

Ngày 11-2-2022, cây bút quen thuộc, Nguyễn Quang Dy có bài viết đăng trên trang Viet-Studies: Những thách thức năm Nhâm dần.

Bài mở đầu với những cảm xúc tích cực về các hiện tượng thiên nhiên đầu năm mới, và kết thúc bằng lời khuyên rằng, Việt Nam nên thay đổi thể chế để có thể vượt qua những thách thức trong năm mới.

Chúng ta có thể dễ dàng đồng ý với những phân tích về quan hệ bang giao quốc tế của tác giả, trong đó nhấn mạnh, việc Việt Nam đã khá thành công trong việc tạo cho mình một thế đứng trung gian giữa cuộc xung đột và cạnh tranh ngày càng mạnh giữa các siêu cường, quan trọng nhất là cuộc xung đột Mỹ – Trung. Nói một cách nôm na là, Hà Nội đã thành công trong việc đu dây giữa Washington và Bắc Kinh.

Không chỉ một mình ông Nguyễn Quang Dy nhận ra điều đó, tôi cũng có nghe rằng một trong những gương mặt chống Cộng có tiếng người Việt ở Mỹ, nói trong chỗ thân tình rằng: “Cộng sản Hà Nội đu dây tử thần, nên cho họ credit về chuyện đó”.

Ngày 11-2-2022, chính phủ Mỹ công bố sách lược Ấn Độ – Thái Bình Dương, trong đó Việt Nam được xem như một trong những đối tác khu vực hàng đầu (leading regional partners), ngang hàng với Singapore, Đài Loan.

Có thể nói không ngoa rằng, thái độ của Hoa Kỳ cộng với việc thành công của chính sách đu dây của Việt Nam đã làm cho Hà Nội chống được dịch Covid-19, với lượng vaccine của chính phủ Mỹ đến kịp thời.

Những đề cập về kinh tế Việt Nam cũng như những khuyến cáo (hoặc trích dẫn) mà ông Nguyễn Quang Dy đưa ra, cũng sẽ dễ dàng được độc giả đồng tình.

Nhưng không biết có phải vì do thời điểm đầu năm mới, cần có những suy nghĩ tích cực hay không, nhưng tôi cảm thấy tác giả đã giảm nhẹ điều gọi là thách thức lớn nhất của Việt Nam hiện nay. Đó chính là vị trí một mình một chợ, ngày càng vững chắc của Đảng Cộng sản cầm quyền.

Sau một thời gian dài lưỡng lự, Đảng Cộng sản đã tống giam người thực sự đối kháng cuối cùng của chế độ là Phạm Đoan Trang vào năm 2020. Thừa thắng xông lên, Đảng Cộng sản dẹp luôn những tổ chức dân sự ít màu sắc chính trị quyền lực hơn, nhưng họ không kiểm soát.

Ngày 9-2-2022, Hà Nội tống giam bà Ngụy Thị Khanh, đứng đầu một tổ chức môi trường, từng nhận giải thưởng về bảo vệ môi trường quốc tế, với tội danh… trốn thuế! Cần nhớ rằng, tội danh loại này cũng từng được gán cho một số nhân vật đối kháng có tiếng trước đây như Nguyễn Văn Hải, Lê Quốc Quân, Trần Huỳnh Duy Thức (đối với ông Thức là cái nhãn gian lận thương mại).

Công bằng mà nói thì những thành phần thực sự đối kháng như tôi vừa đề cập không là bao nhiêu, sự lưỡng lự của Hà Nội trong hơn 10 năm qua, chỉ là sự đo lường sức ép quốc tế lên họ mà thôi, chứ thực ra họ vẫn kiểm soát tình hình, kiểm soát rất chặt phong trào đối kháng, một phong trào ra đời từ sự bắt nạt của Trung Quốc đối với Việt Nam, hơn là những nhu cầu dân sinh và xã hội trong nước. Đã ít ỏi, phong trào này lại rất hỗn tạp, không dựa trên những hiểu biết căn bản về một xã hội dân chủ.

Đầu năm 2022, một người Việt chống Cộng ở Mỹ là ông Dao Huyen, đưa ra nhận xét về những người gọi là hoạt động dân chủ ở Việt Nam trong những năm qua là họ “thiếu sự thiện lương và công chính của những người muốn đi làm cách mạng”. Dĩ nhiên ông Dao Huyen nói điều đó không bao hàm tất cả những người vào tù ra khám ở Việt Nam trong những năm qua. Dù sao năm 2020 cũng đánh dấu sự kết thúc của phong trào này.

Bên trong thì phong trào đối kháng, vốn đã yếu, nay thì tan rã. Bên ngoài, nhờ vào vị trí địa chiến lược đắc địa đối với phương Tây trong cuộc đối đầu với Trung Quốc, cộng với ngoại giao đu dây khéo léo, Hà Nội đang ở trong môi trường rất thuận lợi.

Nhưng trong những cái thuận lợi ấy, cái lợi cho Đảng Cộng sản Việt Nam nhiều hơn so với người dân Việt Nam. Thậm chí đối với người dân Việt Nam, lợi lộc của Đảng Cộng sản là điều có hại cho dân rất rõ ràng. Đảng Cộng sản đã mạnh, đã một mình, nay càng mạnh thêm, càng một mình và càng tha hồ làm bậy.

Cùng năm với việc bắt giữ Phạm Đoan Trang, việc chống dịch Covid một cách bát nháo của Đảng làm cho hơn 20 ngàn người Việt thiệt mạng. Dịch bệnh cũng làm lộ rõ tình trạng người dân quê Việt Nam, những người làm thuê làm mướn trong các nhà máy, bị bóc lột tận xương tủy, trong đó có hơn 1 triệu người bỏ chạy tán loạn sau vài tuần lễ phong tỏa.

Năm 2021 lại chứng kiến hai sự việc tồi tệ một cách kinh hoàng là vụ công ty Việt Á bán bộ xét nghiệm dỏm, làm giàu trên tình trạng chết chóc của dân chúng, và vụ nâng giá vé máy bay cho người Việt ở nước ngoài muốn về nước giữa đại dịch, qua những chuyến bay mà chính quyền gọi là “giải cứu”.

Hai điều kinh hoàng nhất trong hai sự kiện này là sự mục ruỗng của cả hệ thống bao che cho những kẻ thủ ác, thứ hai là sự suy đồi đạo đức không còn giới hạn nữa của quan chức Đảng Cộng sản Việt Nam.

Không có gì bảo đảm rằng hai sự việc như thế sẽ không còn xảy ra trong tương lai, và người dân trong nước sẽ lại chịu hậu quả thảm khốc, trong tình trạng Đảng Cộng sản Việt Nam một mình một chợ, quyền lực không giới hạn, tự tung tự tác.

Và đó chính là thách thức nghiêm trọng nhất đối với Việt Nam hiện nay.

Bắt các lãnh đạo khối XHDS vì lợi ích nhóm bị đụng chạm và để đe dọa! (RFA)

Bắt các lãnh đạo khối XHDS vì lợi ích nhóm bị đụng chạm và để đe dọa!

2022.02.11

Ba nhà hoạt động Mai Phan Lợi, Đặng Đình Bách và Nguỵ Thị Khanh trong một hội thảo của các CSOs.

Nhân vật cung cấp cho RFA

Vụ bắt giữ nhà hoạt động môi trường, Giám đốc tổ chức xã hội dân sự Trung tâm Phát triển Sáng tạo Xanh – Green ID- bà Nguỵ Thị Khanh, là vụ mới nhất mà Chính quyền Hà Nội ra tay đối với các tổ chức xã hội dân sự có đăng ký ở Việt Nam. 

Hồi tháng bảy năm ngoái, hai người khác bị bắt và đã bị xét xử là ông Mai Phan Lợi, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Trung tâm Giáo dục Truyền thông (MEC). Ông bị tuyên bốn năm tù vào ngày 11/1. Người thứ hai là luật gia Đặng Đình Bách, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chính sách Pháp luật & Phát triển Bền vững (LPSD) bị án năm năm tù hôm 24/1, với cùng tội danh ‘trốn thuế’.

Một người luôn đồng hành cùng với luật gia Đặng Đình Bách trong các hoạt động của Trung tâm Nghiên cứu Chính sách Pháp luật & Phát triển Bền vững (LPSD), yêu cầu được giấu danh tính vì lý do an toàn, nói với RFA tối hôm 10/2 rằng việc lãnh đạo của các tổ chức xã hội dân sự được Nhà nước Việt Nam cấp phép, bị khởi tố trong thời gian gần đây đã tạo ra một nỗi lo sợ bao trùm lên các tổ chức NGOs khác ở trong nước, và rằng “trốn thuế” chỉ là cái cớ để chính quyền Việt Nam tiến hành bắt giam những nhà hoạt động hàng đầu vì có động chạm đến lợi ích nhóm.

Đụng chạm lợi ích nhóm?

Người này phân tích, cả ba tổ chức MEC, LPSD và Green ID đều thuộc Liên minh Năng lượng bền vững Việt Nam (VSEA). Mục tiêu của liên minh này là thúc đẩy năng lượng tái tạo, giảm ô nhiễm không khí bằng cách giảm nhiệt điện than, và vận động chính sách ra Luật bảo vệ môi trường, Luật quy hoạch điện VIII:

“Tôi hiểu rằng tội trốn thuế là một cái cớ. Còn nguyên nhân thực tế thì tôi cho rằng ba tổ chức này đều liên quan đến EVFTA và liên quan đến hoạt động của Liên minh năng lượng bền vững trong việc vận động mạnh mẽ bỏ nhiệt điện than, thì nó có tác động đến lợi ích nhóm.”

Ngoài ra, người này nhận định, đối với vụ án xảy ra ở tổ chức LPSD thì không giống với các vụ trốn thuế thông thường, trong quá trình tố tụng hình sự có nhiều sai phạm.

Thứ nhất, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử có ghi rõ đây là một phiên toà công khai, nhưng trên thực tế thì không một thân nhân nào của bị can, là luật gia Đặng Đình Bách được vào toà. Nếu chỉ là một vụ trốn thuế đơn thuần, vì sao phải ngăn chặn người thân tham dự phiên xét xử.

Thứ hai, toà không triệu tập kế toán trưởng và giám định viên cục thuế. Hành vi trốn thuế của một doanh nghiệp không thể nào giám đốc thực hiện một mình được mà không có sự liên đới của kế toán. Toà đưa ra phán quyết chỉ căn cứ vào những con số do giám định viên đưa ra, nhưng lại không triệu tập giám định viên vào toà để chất vấn.  Đó là điều vô lý.

Thứ ba, LPSD là một tổ chức phi lợi nhuận, không thuộc tổ chức phải đóng thuế. Sau khi kết thúc các dự án, tổ chức này luôn thu thập các lá thư của nhà tài trợ và đối tác xác nhận rằng LPSD đã sử dụng số tiền tài trợ đúng mục đích.

Thứ tư, nếu đơn giản là vụ án trốn thuế, vì sao gia đình xin nộp tiền khắc phục hậu quả để được tình tiết giảm nhẹ, mà toà án lại không xem xét.

Từ những lý do trên, người này kết luận rất có khả năng là tòa án đã thông đồng với giám định viên cục thuế và kế toán trưởng để đổ hết tội cho luật gia Đặng Đình Bách, cáo buộc trốn thuế chỉ là điều nguỵ tạo.

Lá đơn đề nghị luật sư bào chưa do luật gia Đặng Đình Bách viết từ 8/7/2021 khẳng định lý do ông bị bắt theo lời ông là: “làm việc với một số dự án liên quan đến Thuỷ điện Sơn La, nên tôi bị đưa vào một vụ án khác… Tôi xác định mình vô tội và là nạn nhân của một vụ án khác” – ông Bách viết trong lá đơn.

Nỗi lo sợ, căng thẳng bao trùm các tổ chức khác

Nhân vật giấu tên mà RFA phỏng vấn cho biết đã nỗ lực liên hệ với gia đình của ông Mai Phan Lợi và bà Nguỵ Thị Khanh khi hai người này bị bắt, nhưng tất cả đều e ngại tiếp xúc với truyền thông:

“Tôi đã tìm cách đến gia đình của anh Lợi cũng như gia đình của chị Khanh nhưng mọi người không muốn chia sẻ với truyền thông bất cứ một thứ gì, mọi người vẫn rất là sợ.

Bởi vì thứ nhất là người thân của các anh chị đó không hiểu về tính chất công việc của người nhà mình. Họ vì không hiểu cho nên có một nỗi sợ, mọi người sợ bị sách nhiễu nên là mọi người rất là e ngại. Vậy nên tôi cảm thấy rất là đơn độc.”

Người này nói mình cảm nhận được nỗi sợ hãi đang bao trùm lên giới NGOs trong nước. Đã bắt một, hai rồi ba người thì không có lý do gì phải e ngại bắt tiếp nhiều người khác:

“Mọi người có hỏi thăm đến gia đình tôi, thì tôi có cảm nhận được nỗi sợ hãi nó đã bao trùm lên tâm lý của tất cả những người đứng đầu của các tổ chức NGOs khác.

Vì họ sợ không biết đến khi nào thì chính quyền sẽ sờ đến mình, cho nên họ không dám có bất kỳ một hành động cụ thể nào để lên tiếng cho những người đã bị bắt oan, đã bị kết tội oan. Như thế họ sống trong sự hoang mang và lo lắng nó bao trùm lên hết.”

Vào tháng 12/2021, Báo cáo viên đặc biệt của Liên hiệp quốc về các quyền tự do hội họp ôn hòa và hiệp hội và Báo cáo viên Đặc biệt về thúc đẩy và bảo vệ quyền tự do quan điểm và biểu đạt đã gởi một thư ngỏ cho Chính phủ Việt Nam.

Một trong các nội dung của bức thư này lưu ý rằng Việt Nam đã hạn chế các hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự cũng như bày tỏ quan ngại về những hạn chế pháp lý đối với việc tiếp cận nguồn tài trợ nước ngoài.

Các Báo cáo viên đặc biệt kêu gọi Việt Nam đảm bảo rằng các hiệp hội, dù đăng ký hay không, đều có thể tìm kiếm, nhận và sử dụng tài trợ và các nguồn lực, dù là nội địa, nước ngoài hay quốc tế, mà không phải phê duyệt trước hay phải chịu những cản trở không đáng có, bao gồm từ các cá nhân, hiệp hội, quỹ hay các tổ chức xã hội dân sự khác…

Giờ đây bộ máy đàn áp của Nhà nước này lại đang chuyển hướng nhắm vào các tổ chức phi chính phủ hoạt động về môi trường và xã hội. – Phil Robertson (HRW)

Bình luận của Tổ chức nhân quyền quốc tế

Bình luận với Đài Á châu Tự do qua email vào hôm 10/2, ông Phil Robertson, Giám đốc khu vực Á Châu của tôt chức Human Rights Watch cho rằng:

“Việt Nam tuyên bố rằng họ quan tâm đến môi trường toàn cầu và các cam kết COP26, tuy nhiên hành động của họ chứng minh rõ nét hơn là lời nói. Đây là một Chính phủ mà Bộ trưởng tham dự hội nghị COP26 đã bị quay lại cảnh ăn tối với món bò dát vàng trị giá 20 ngàn đô-la, tại một quán ăn cao cấp ở London. Và bây giờ, Chính phủ đó lại đang bắt giữ bà Ngụy Thị Khanh, một nhà hoạt động môi trường nổi tiếng nhất của họ, theo một cách hoàn toàn nguỵ tạo và có động cơ chính trị, với cáo buộc tội trốn thuế. Đối với Chính phủ Việt Nam, rõ ràng là sự đàn áp và tham nhũng luôn được đặt lên trên hết, còn nhân quyền và môi trường thì đứng sau cùng.

Cả ba nhà hoạt động bị bắt gần đây, hai trong số họ đã bị kết án, đều liên quan đến việc giám sát Hiệp định Thương mại Tự do Châu Âu-Việt Nam (EVFTA), từ khía cạnh môi trường. Vì vậy, những vụ bắt giữ này có thể xem là cú tát của Việt Nam vào mặt của EU về vấn đề giám sát và tuân thủ EVFTA, và chờ xem liệu Brussels có đủ can đảm để làm điều gì đó hay không. Đó là một thách thức trực tiếp đối với những quan ngại đã được EU tuyên bố về tính độc lập của xã hội dân sự, hành động vì môi trường và giám sát chuỗi cung ứng bền vững ở Việt Nam.

Bây giờ, Hà Nội đã hoàn tất việc bỏ tù tất cả những người bất đồng chính kiến, trong lúc thế giới đang bị phân tâm bởi COVID-19. Giờ đây bộ máy đàn áp của Nhà nước này lại đang chuyển hướng nhắm vào các tổ chức phi chính phủ hoạt động về môi trường và xã hội. Chúng ta hãy hy vọng rằng thế giới sẽ đấu tranh mạnh mẽ cho các nhà lãnh đạo xã hội dân sự hơn là những gì họ đã làm đối với những người bất đồng chính kiến. Nhiều người trong số đó hiện đang phải chịu án tù dài hạn vì chỉ đơn giản là lên tiếng chống lại vi phạm các quyền và tham nhũng.”

httpv://www.youtube.com/watch?v=irjT0WtPeUU&t=7s

Bộ trưởng Công an Tô Lâm ăn bò dát vàng 

Nhân ngày “Lễ Tình Yêu” chúng ta hãy dành 1 phút để nhớ đến bậc sinh thành….

Chúng ta cùng suy gẫm…

Trên thế gian này, chỉ có cha mẹ mới toàn tâm toàn ý yêu thương ta mà không đòi hỏi gì. Vì con, họ có thể làm tất cả mà không cần báo đáp.

Nhưng liệu có mấy ai ý thức được điều đó, hay chỉ nhận ra khi mọi chuyện đã quá muộn màng.

Tuệ Tâm.

***

Nhân ngày “Lễ Tình Yêu” chúng ta hãy dành 1 phút để nhớ đến bậc sinh thành….

“Lúc cha mẹ cho con thứ gì, con đều nở nụ cười;

Lúc con cái cho cha mẹ thứ gì, cha mẹ khóc”.

(Ngạn ngữ Do Thái)

Cả đời này, người có thể làm cho chúng ta mọi thứ mà không cầu báo đáp chỉ có cha mẹ, vậy nên, dù thế nào cũng đừng phàn nàn họ, hãy thông cảm cho họ, quan tâm tới họ.

Hãy trân trọng từng phút giây bên cha mẹ, bởi không ai biết được khi nào họ sẽ rời xa ta mãi mãi.

Khi cha mẹ còn hãy luôn nở nụ cười, hãy luôn quan tâm chăm sóc tới họ, đừng để cha mẹ mỏi mắt ngóng trông mà không nhìn thấy hình bóng của bạn.

Khi bạn cất tiếng khóc chào đời, chỉ có cha mẹ là người hạnh phúc nâng niu bạn trong vòng tay, cũng chỉ có cha mẹ là người ngày đêm bỉm sữa, chăm sóc bạn từng miếng ăn giấc ngủ.

Khi bạn chập chững bước đi, chỉ có cha mẹ là người nắm lấy đôi bàn tay nhỏ bé, dìu dắt bạn đi những bước đầu đời.

Khi bạn đau ốm, chỉ có cha mẹ là người mất ăn mất ngủ, ngày đêm túc trực bên giường bệnh.

Vì bạn, dẫu phải bán đi khối tài sản cuối cùng trong tay, họ vẫn sẵn sàng.

Khi bạn gặp khó khăn trắc trở, hay khi cả thế giới đều quay lưng với bạn, thì cha mẹ vẫn luôn ở bên che chở bạn, vỗ về bạn.

Thời gian có thể làm lòng người thay đổi, nhưng vĩnh viễn không thể thay đổi tình yêu cha mẹ dành cho bạn.

Nhưng nếu một ngày cha mẹ buộc phải ra đi, họ sẽ không thể báo trước cho bạn một lời nào, không thể tiếp tục gọi tên bạn, cũng không thể cùng bạn ăn cơm và quan tâm tới bạn được nữa…

Con muốn báo hiếu mà cha mẹ đâu còn?

Giá như ta để dành thời gian ở bên cha mẹ, ta sẽ cảm thấy bản thân đỡ ân hận phần nào!

Bởi vậy, nhân lúc cha mẹ còn đang khỏe mạnh, hãy an ủi tinh thần cho họ, hãy dành nhiều thời gian hơn để bên cạnh họ, cố gắng đáp ứng hết nguyện vọng của họ, đừng khiến cho bản thân sau này phải hối hận.

Hãy yêu thương cha mẹ như yêu thương chính bản thân mình, bởi vì họ cũng cần được yêu thương.

Và nếu có một ngày thực sự họ rời đi, chúng ta sẽ không phải ngậm ngùi về những tháng ngày đã qua…

LƯƠNG THIỆN KHÓ HƠN THÔNG MINH!!!

 

LƯƠNG THIỆN KHÓ HƠN THÔNG MINH!!!

Một vị sư lên rừng hái củi, trên đường về gặp 1 cậu bé đang chạy chơi đùa, hái hoa bắt bướm.

– Vị sư đến gần hỏi: Trên tay con cầm gì thế?

– Thằng bé (láu cá): Đố sư biết đó, nhưng nói sai sư phải mất cho con bó củi nhé!

– Một con bướm đã chết đúng không?

– Haha sai rồi, con bướm còn sống nhé sư! Nói rồi cậu tung con bướm bay lên trời.

Vị sư cười nói: Củi của con đây, cầm về đi!

Thằng bé hí hửng đem bó củi về khoe cha, ông tái mặt bước đến nhéo tai thằng con: Đem bó củi lên chùa trả rồi xin lỗi người ta ngay. Thằng bé vừa đi vừa la: Nhưng con thắng mà!?

Đến chùa 2 cha con chắp tay xin lỗi, vị sư chỉ nhẹ mỉm cười gật đầu. Trên đường về cậu bé vẫn hậm hực.

Người cha nhẹ nhàng nói: Nếu sư nói con bướm còn sống con cũng bóp cho nó chết đúng không? Từ đầu ngài đã định đem bó củi để đổi lấy một mạng sống rồi đó.

Thằng bé lặng lẽ cúi đầu.

***Sự ngạo mạn và hiếu thắng luôn lấy đi bao lý trí của mỗi chúng ta. Đừng thấy ai lùi mà vội bảo họ thua.

Lương Thiện khó hơn là thông minh. Bởi vì thông minh là thiên phú, còn Lương thiện là một sự lựa chọn (chỉ có được ở những trái tim nhân hậu).💗

KHI NGƯỜI KHÔNG ÐÁP TRẢ

KHI NGƯỜI KHÔNG ÐÁP TRẢ

Lm Nguyễn Tầm Thường, SJ

Ai trong các con có bạn hữu nửa đêm đến nhà mình nói: Bạn ơi, cho tôi mượn mấy tấm bánh, vì bằng hữu ở xa tới mà tôi hết đồ ăn rồi.  Người kia ở trong trả lời: Ðừng quấy rầy người ta, cửa đóng rồi, trẻ nhỏ ngủ hết, ai dậy mà lấy cho ông được.  Nhưng nếu họ cứ gõ hoài.  Ta bảo thật, người ấy không dậy mà cho vì tình bạn bè thì ít ra vì họ quấy rầy nên cũng ráng dậy mà lấy cho họ.  Nên Ta bảo cho các con rõ: Vì hễ ai xin, sẽ được, ai tìm sẽ thấy, ai gõ sẽ mở cho (Lc. 11: 5-10).

Chúa bảo tôi đến gõ cửa, ở đấy có chờ đợi.  Ðó là lời xác định của Chúa.  Như vậy, chắc chắn tôi sẽ bắt gặp nếu tôi kiếm tìm, tôi sẽ tìm thấy nếu tôi van xin.

*************************************

Nhưng trong đời, tôi đã kinh nghiệm một nỗi bận tâm khó hiểu.  Tôi gọi mà Chúa không đáp trả.  Tôi xin mà Chúa không cho.  Có những vực sâu của tâm hồn, có những đêm dài bất an, tôi hướng về Chúa nhưng tôi không gặp.  Tôi không ước mơ những ước mơ lớn.  Tôi chẳng xin sang giàu.  Tôi chỉ xin cho tôi nhẹ bớt khổ đau tâm hồn.  Tôi chỉ xin cho đỡ kéo dài bệnh tật của thân xác.  Tôi chỉ xin Chúa soi cho tôi một ánh đèn khi tôi phải quyết định những vấn đề quan trọng.  Tôi chỉ xin Chúa giữ tôi lại trước đêm đen mịt mùng cám dỗ.  Nhưng tiếng tôi từ vực sâu lại vọng về với tôi trong nỗi vắng.  Những lúc tôi cần Chúa nhất thì Ngài lại bỏ tôi đi xa.  Vì sao Người im tiếng?

 *************************************

Ngài im tiếng.  Hay có phải Ngài đang nói mà tôi không nghe?  Ngài chối từ.  Hay có phải cánh cửa đã mở mà tôi không vào vì có vũ tiệc của mùa xuân trần thế ở chung quanh?  Ngài im lặng.  Hay có phải Ngài bảo tôi: Hãy vào sa mạc, hãy ra bờ đá lặng thinh, hãy khép lại bớt cửa lòng rồi con sẽ nghe thấy tiếng Cha.  Nhưng tôi chán những bờ đá vắng vẻ, và tôi đã yêu những vũ tiệc của mùa xuân trần thế ở chung quanh.  Làm sao tim tôi nghe được tiếng con họa mi đang hót khi mà bầy ve sầu đam mê đang kêu inh ỏi trong hồn?

Ngài thờ ơ.  Hay có phải Ngài không đáp trả vì tôi bất xứng với ân sủng của Ngài.  Chẳng ai có thể trách vì sao không có mặt trời nếu họ cứ sống dưới hầm tối, vực sâu.  Chẳng ai có thể trách vì sao không có bình an nở giữa khu vườn tham lam.  Người cha tốt là người cha đóng cửa nhà mình để đứa con khỏi ngày ngày về lấy gia tài đi hoang đàng, phung phí.

Vì sao Chúa không cho tôi điều tôi xin?  Ðã bao lần Chúa bắt tôi đi.  Gian nan.  Mỏi.  Tôi muốn ghé tạm xuống đường ngồi nghỉ.  Nhưng Chúa biết để tôi ngồi nghỉ, dần dà tôi sẽ nghe theo tiếng nói của đất thấp, tôi sẽ lười biếng đối với tiếng gọi của trời cao.  Tôi trách vì sao Người không cho tôi lập nghiệp trên những ước mơ của tôi, xin làm quê hương trên những ý nghĩ riêng tư của tôi.  Ngài chẳng đáp trả, vì Ngài biết đường dễ dãi sẽ dẫn đến hư đi.  Trong những đêm đen như mù mịt, tôi gõ nhưng cánh cửa chẳng mở.  Phải chăng chỉ có Ngài, Ngài mới biết những gì là tốt nhất cho phần rỗi của tôi.  Như vậy, không đáp trả có là dấu chỉ của tình thương?

 *************************************

Khi không đáp trả, đấy cũng là một cách trả lời.  Trả lời bằng lặng im nhiều khi lại là câu trả lời thâm sâu và hàm chứa nhiều ý nghĩa.

Tôi không đến với ai mà tôi biết chắc rằng tôi không thể tin cậy.  Khi đến xin Chúa trợ giúp là tôi đặt niềm tin nơi Ngài.  Nếu đã đặt niềm tin thì sao lại có thể phân vân.  Khi Ngài im lặng như không đáp trả, tôi lo âu, thì đấy là dấu hiệu niềm tin đó không vững vàng.

Niềm tin là lời cầu nguyện để xin được biến đổi.  Như thỏi đất sét tin mình nằm trong tay người thợ lành nghề.  Người thợ gốm biết loại đất sét nào có sức chịu đựng để đúc gạch lót đường, loại nào có thể tạc tượng.  Niềm tin vững vàng là phó thác trong tay người thợ gốm vì tin rằng mình được yêu thương và săn sóc.  Tin vững vàng hệ tại phó thác rằng Chúa là người thợ gốm khôn ngoan và không lầm lẫn trong công trình sáng tạo.  Chứ tin vững vàng không có nghĩa là tin mình sẽ biến đổi được ý định của Chúa để đạt được điều mình xin.  Có những lời xin chẳng bao giờ được đáp trả nhưng lại là một ân sủng thật lớn lao.

*************************************

Ngày còn bé tôi không biết cầu nguyện thế nào.  Những ngày bom nổ nhiều là những ngày mẹ tôi càng lo.  Mỗi tối, mẹ tôi bảo tôi ngồi lần hạt cầu nguyện cho cha ngoài trận tuyến.  Trong trí óc non dại, tôi cầu nguyện cho cha tôi được bình yên.  Một lằn đạn hiểm nghèo.  Một trái mìn kín đáo.  Ðời sống bếp bênh như treo bằng sợi chỉ.  Chỉ một giấy báo tin thôi, tôi sẽ là đứa mồ côi.  Mẹ tôi sẽ là góa phụ.  Tôi đã thấy nhiều lá cờ trải lên mộ đất.  Tôi đã thấy nhiều chuyến xe nhà binh chở đơn độc một quan tài, người thiếu phụ đội nón trắng ngồi lặng lẽ không còn nước mắt để khóc.

Rồi chuyện một đêm đã đến.  Chiến tranh đổ xuống trên mảnh đất quê tôi.  Tôi còn bé, nhưng tôi hiểu những nghẹn ngào của người có thân nhân vừa mới vĩnh biệt.  Mưa ướt lẹp xẹp, tôi nghển cổ nhìn qua cửa sổ đông chật người.  Một chiều mưa ảm đạm, lạnh lẽo làm sao.  Mái lá thấp đổ những dòng mưa thảm não.  Tôi vẫn còn nhớ cái buổi chiều xám nặng nề ấy cho tới hôm nay.  Ðôi chân của cậu X. chết nằm sóng sượt trên cái phản gỗ.  Bùn dính lem luốc.  Mợ X. khóc thảm thiết bên xác chồng mới chết trận.  Ai đã bắn chết cậu?  Có phải kẻ mà cậu chưa kịp bắn?

Tò mò, tôi theo những đứa trẻ khác ra ven rừng xem xác chết.  Những hố bom cày tung đất còn mới nguyên.  Vải băng trắng còn lẫn với xác người chưa kịp thu.  Giữa những xác người ấy, tôi thấy một người nằm chết cong queo, cụt chân vì bom nổ, máu bầm khô bết vào áo đầm đìa.  Mặt cháy đen.  Nhìn kỹ trên khuôn mặt ấy, tôi không quên được là chuỗi tràng hạt vẫn quàng vòng quanh cổ.  Kẻ chết là một bộ đội miền Bắc.  Ðiều làm tôi ngỡ ngàng là bộ đội cộng sản cũng tin vào Chúa như tôi sao?

Từ ngày đó, mỗi lần giúp lễ, nhìn lên thánh giá mà hồn tôi bâng khuâng.  Tôi thấy Chúa buồn.  Quỳ đây, tôi cầu nguyện xin Chúa chở che cha tôi ngoài chiến trận.  Nhưng người cán binh bộ độ ấy, có thể cũng có một đứa con trai bằng tuổi tôi ở ngoài miền Bắc.  Nó cũng là cậu bé giúp lễ.  Cứ mỗi sáng, mẹ nó cũng đánh thức nó dậy thật sớm để giúp lễ, cầu nguyện cho cha đang ở mãi trong miền Nam heo hút.  Năm tháng bặt tin, chắc chiều chiều, tối tối, mẹ nó cũng rối bời lòng trí, thẫn thờ nhìn về phương Nam, dục nó đọc kinh.  Chúa nghe lời tôi để cha tôi giết họ?  Chúa nghe lời cậu bé kia để cha cậu giết cha tôi?  Cả hai cậu bé đều cầu nguyện, Chúa biết nghe lời ai?

Tôi không tin là Chúa có câu trả lời.  Tôi chỉ cảm thấy rằng Chúa khó xử ghê gớm lắm.  Chúa trên thập giá như càng thêm đau đớn.  Mỗi lời cầu của tôi là một vết thương cho Ngài.  Mỗi nỗi lo âu của cậu bé ngoài miền Bắc kia làm Ngài thêm khổ tâm.

Tôi hình dung Chúa như một người cha.  Ðứa con thứ nhất chạy đến: Cha ơi, đưa con dao cho con để con chém nó.  Ðứa con kia chạy lại, sợ hãi: Cha ơi, đừng đưa!  Cha có biết rằng con cũng là con của cha sao?  Và người cha chỉ còn biết đớn đau mà thôi, vì cả hai con đều là con của mình.

Từ đó, mỗi buổi sáng giúp lễ, tôi thấy Chúa trên thập giá như ngậm ngùi.  Tay giang rộng cứ thêm mãi khổ thương.  Từ ngày đó, trong cái trí óc non nhỏ của tôi, tôi hiểu mơ màng rằng bất cứ hành động nào gây thương tích cho nhau cũng là làm khổ cho Cha trên trời.

*************************************

Lạy Chúa,
Mỗi khi con cầu nguyện thì cho con biết xin được biến đổi, chứ đừng biến đổi Chúa.  Làm sao con có thể biến đổi sự khôn ngoan của Chúa thành sự vụng về của con.  Khi con nài Chúa làm theo ý con là con muốn đem sự hoàn hảo của Chúa thành những bất toàn giống như của con.

Con ngỡ tiếng sói sủa là vui tai.  Con ngỡ lời mời của Satan là tha thiết. Con ngỡ trái táo hồng có hương thơm, nào ngờ đâu con có biết sâu độc làm tổ ở bên trong.  Những lời con xin nhiều khi rất đẹp, nhưng chỉ là đẹp theo cái nhìn của con mà thôi.

Lạy Chúa,
Xin cho con hiểu rằng có những lời xin mà Chúa chẳng thể đáp trả được.  Và chính lúc Chúa im lặng lại là lúc Chúa đang nói với con bằng ngôn ngữ nhiệm mầu nhất.

Lm Nguyễn Tầm Thường, SJ

Trích trong “Con Biết Con Cần Chúa”

From:  Langthangchieutim

Tuần lễ Quốc gia về Hôn nhân

Hôm nay là ngày Thế Giới Hôn Nhân, chúc những cặp hôn nhân được tràn đầy niềm vui của Tình Yêu Thiên Chúa. Đừng quên tặng cho nhau kẹo sô-cô-la hảo hạng nhé.

Cha Vương

TIN MỪNG: Phúc thay kẻ đặt niềm tin vào Đức Chúa, và có Đức Chúa làm chỗ nương thân. Người ấy như cây trồng bên dòng nước, đâm rễ sâu vào mạch suối trong, mùa nóng có đến cũng chẳng sợ gì, lá trên cành vẫn cứ xanh tươi, gặp năm hạn hán cũng chẳng ngại, và không ngừng trổ sinh hoa trái. (Gr 17:7-8)

SUY NIỆM: Tuần lễ Quốc gia về Hôn nhân được Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ phát động lần đầu tiên vào năm 2010 như một phần của chiến dịch quốc tế nhằm tìm cách quy tụ các cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp để củng cố hôn nhân và để gây ảnh hưởng đến văn hóa hiện đại. Chủ đề được chọn để làm nổi bật nhiều cách mà các đôi vợ chồng và gia đình được Giáo hội đồng hành để sống theo tiếng gọi của tình yêu đó là: “Được kêu gọi đến với Niềm vui của Tình yêu”. Hôn nhân là gì? Hôn nhân Công giáo là bí tích Chúa Giêsu đã lập, để kết hợp hai người tín hữu, một nam một nữ, thành vợ chồng trước mặt Thiên Chúa và Hội Thánh, cùng ban ơn giúp họ sống xứng đáng ơn gọi của mình. Trong ơn gọi này vợ chồng được mời gọi để yêu thương nhau như Đức Kitô đã yêu thương Hội Thánh, kiện toàn tình yêu tự nhiên, củng cố sự hiệp nhất bất khả phân ly và thánh hoá họ trong đời sống siêu nhiên. Niềm vui và hạnh phúc của đời sống hôn không thể dựa trên những tiêu chuẩn hoặc đòi hỏi của thế gian nhưng nó phải được đặt trên nền tảng bất di bất dịch của Tình Yêu Thiên Chúa. Tình Yêu này giúp bạn nhìn xuyên qua những khuyết điểm của nhau.

Một cuộc hôn nhân tuyệt vời không phải là do sự kết hợp của một cặp đôi hoàn hảo, nhưng mà là một cặp đôi KHÔNG hoàn hảo biết chấp nhận những khiếm khuyết của nhau. Đã yêu thì phải có hy sinh rồi phải không bạn? Đã hy sinh thì phải có tổn thương, mất mát, thiệt thòi, sỉ nhục, đau khổ… rồi, nhưng điều quan trọng là bạn đừng để cho những thứ đó làm mất đi giá trị thật của Tình Yêu. Bạn hãy sẵn sàng đón nhận nó như là một sự thử thách quá lớn và đặt nó vào bàn tay của Chúa là Đấng luôn làm cho mọi sự trở nên tốt hơn. Nhờ đó bạn trở thành khí cụ để nâng đỡ và hỗ trợ nhau trong những sóng gió của đời sống hôn nhân. Điều quan trọng nhất trong đời sống hôn nhân không phải là tiền tài địa vị danh vọng, ai hơn ai thiệt nhưng mà là đặt hết niềm tin vào Chúa. Nếu bạn lấy Chúa làm chỗ NƯƠNG THÂN thì hôn nhân của bạn không khác như cây trồng bên dòng nước, đâm rễ sâu vào mạch suối trong, mùa nóng có đến cũng chẳng sợ gì, lá trên cành vẫn cứ xanh tươi, gặp năm hạn hán cũng chẳng ngại, và không ngừng trổ sinh hoa trái.

LẮNG NGHE: Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh em. (Lc 6:20)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, Chúa đã yêu thương con đến độ đã hiến mình vì con để biến con nên hoàn hảo hơn, tốt đẹp hơn, thánh thiện hơn. Xin cho con biết đến với Chúa, lắng nghe Lời Chúa, nhìn ngắm mẫu gương của Chúa, để học biết yêu thương như Chúa. Xin đổ Thánh Thần Tình yêu của Chúa xuống trên con để con có đủ can đảm bước theo con đường Chúa đang mời gọi con.

THỰC HÀNH: Khi nhìn vào tình yêu Đức Kitô dành cho Hội Thánh, cho bạn, bạn học được điều gì cho tình yêu của anh chị? Hãy chia sẻ với nhau tâm tư của mình.

From: Đỗ Dzũng

 Một câu chuyện hay.

 Một câu chuyện hay.

Có một tỷ phú sống trong căn biệt thư xa hoa nhưng phát hiện ra mình mắc bệnh hiểm nghèo. Tới lúc cái chết cận kề, ông mới chợt nhận ra rằng tất cả danh vọng, tiền tài và vật chất, thực ra đều hư vô như mây khói. Ông tìm đến một vị linh mục để xin lời khuyên và hy vọng, tìm thấy tia sáng cuối con đường* Sau khi bắt câu truyện của nhà tỷ phú linh mục mới nói: “Bệnh của ông ngoài cách này ra thì không thuốc nào có thể chữa khỏi. Tôi sẽ kê ba đơn thuốc, ông cứ theo đó mà làm, hết đơn thứ nhất thì chuyển sang đơn tiếp theo”.

*Về nhà, vị tỷ phú lấy đơn thuốc đầu tiên ra và đọc: “Hãy đến một bãi biển và nằm đó khoảng 30 phút, làm liên tục như vậy 21 ngày”. Mặc dù thấy khó hiểu nhưng ông vẫn quyết định ra bờ biển, lang thang một vòng rồi ngả lưng nằm trên bãi cát. Bất chợt một cảm giác nhẹ nhàng và khoan khoái vô cùng bao trọn lấy cơ thể ông.

Trước đây, vì công việc bận rộn nên ông không có cơ hội nghỉ ngơi… Nay ông có thể tĩnh tâm lại để lắng nghe tiếng gió thổi vi vu, tiếng sóng biển rì rào hòa lẫn với tiếng kêu thánh thót của đàn hải âu gọi bầy… Trái tim bỗng thổn thức, chưa bao giờ ông có được cảm giác thoải mái như bây giờ.

*Ngày thứ 22, ông mở đơn thuốc thứ hai, trong đó viết: “Hãy tìm những người nghèo và giúp đỡ họ, liên tục như vậy trong 21 ngày”. Trong lòng ông một lần nữa đầy rẫy những băn khoăn nhưng vẫn cặm cụi đi tìm những người nghèo và giúp đỡ họ. Ngắm nhìn từng gương mặt hạnh phúc của họ, trong lòng ông không nén nổi nỗi xúc động.*

*Ngày thứ 43, ông đọc đơn thuốc cuối cùng:

“Tìm một cành cây và viết những điều khiến ông cảm thấy không hài lòng lên bãi cát”.

Nhưng khi ông vừa viết xong, thủy triều lại cuốn tất cả xuống biển.

Ông lại viết, sóng lại cuốn đi, lại viết, lại cuốn đi, rồi lại viết, và lại cuốn đi…

Ông bật khóc nức nở vì chợt hiểu ra tất cả.

Khi về nhà ông cảm thấy toàn thân nhẹ nhàng, tinh thần chưa bao giờ thoải mái và tự tại đến thế, thậm chí ông cũng không còn sợ cái chết nữa.

♡ Thì ra con người ta chỉ cần học được 3 điều thì sẽ vui vẻ hạnh phúc:

♡ Thứ nhất: Nghỉ ngơi

♡ Thứ hai: Cho đi
♡ Thứ ba: Buông bỏ

From: TU-PHUNG

Cộng đồng gốc Việt tại Mỹ: Tổn thương và sa sút trí nhớ sau chiến tranh VN (BBC)

Cộng đồng gốc Việt tại Mỹ: Tổn thương và sa sút trí nhớ sau chiến tranh VN

  • Huyền Trân
  • BBC News Tiếng Việt

8 tháng 2 2022

NGUỒN HÌNH ẢNH,GETTY IMAGES

Chụp lại hình ảnh,

Thuyền nhân Việt Nam chờ được giải cứu vào năm 1978

Lần đầu tiên có một nghiên cứu về mối liên hệ giữa chấn thương từ chiến tranh Việt Nam với sa sút trí tuệ (dementia) trong cộng đồng người Việt đến Mỹ sau 1975. Đây là cộng đồng gốc Á đông thứ 4 tại Mỹ hiện nay với hơn 2 triệu người.

Phó Giáo sư Oanh Meyer, chuyên ngành Thần kinh học từ Đại học California-Davis, chủ nhiệm đề tài nghiên cứu, từng trực tiếp chứng kiến căn bệnh sa sút trí tuệ (dementia) và triệu chứng bị ảo tưởng (paranoia) này xảy ra với mẹ – bà Anh Lê, hơn 70 tuổi – một người tới Mỹ vào năm 1975.

“Mẹ tôi nói rằng bà rất lo lắng khi thấy những người lính Việt Cộng đứng bên ngoài cửa sổ, luôn cảm thấy sợ hãi khi cho rằng những người lính này đang muốn làm hại gia đình mình.” Phó Giáo sư Oanh Meyer nói với BBC.

Đôi khi bà Anh Lê nói con phải nghỉ học vì trường học bị ném bom và mọi người phải trốn dưới gầm bàn.

NGUỒN HÌNH ẢNH,OANH MEYER

Chụp lại hình ảnh,

Phó Giáo sư Oanh Meyer (trái) và mẹ mình, bà Anh Lê

Từ trải nghiệm của bản thân và được biết đến nhiều trường hợp khác cũng mắc chứng bệnh giống bà Anh Lê, từ năm 2013, Phó Giáo sư Oanh Meyer bắt đầu phỏng vấn những người chăm sóc các bệnh nhân người Mỹ gốc Việt bị sa sút trí tuệ để có chương trình giúp họ hồi phục.

Cô đã luôn nghe được những câu chuyện về tổn thương sau chiến tranh Việt Nam trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt.

‘Quá khứ ám ảnh’

Một trong những người mà Phó Giáo sư Oanh Meyer phỏng vấn là bà Quyên Vương, 57 tuổi, Giám đốc Điều hành International Children Assistance Network (ICAN) hiện đang sinh sống tại San Jose, Mỹ.

Bà Quyên Vương rời Việt Nam đến Mỹ vào năm 1981 bằng con đường vượt biên. Khi đó, bà chỉ mới 16 tuổi, ra đi cùng em nhỏ mới 11 tuổi.

Cho đến tận hôm nay, bà Quyên cho biết khoảng thời gian sống 4 tháng ở một trại tị nạn trên đảo Pulau Bidong (Malaysia) vẫn in sâu trong tâm trí.

“Dù ở trong trại tị nạn có 4 tháng nhưng tôi thật sự hiểu cảm giác của một đứa trẻ mồ côi. Mỗi ngày Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc phát một bịch thực phẩm có chút gạo, khô, muối đủ ăn. Ở trại tị nạn, ai có tiền thì mua cá hay rau cải của người dân địa phương trên đảo. Đói thì không đói nhưng buồn thì rất buồn”, bà Quyên nói với BBC News Tiếng Việt.

NGUỒN HÌNH ẢNH,GETTY IMAGES

Chụp lại hình ảnh,

Trẻ em tị nạn Việt Nam trên đảo Pulau Bidong (Malaysia)

Bà Quyên cho biết khi mới qua Mỹ, bà từng có ý định nghỉ học để đi làm giúp gia đình có tiền trả tiền nhà.

“Sau khi qua Mỹ thì gia đình tôi rất nghèo, bị thiếu tiền trả tiền nhà, cả một sự khủng hoảng, khác với trước năm 1975 khi gia đình cũng đủ ăn.”

Bà cho biết stress, nặng nề, căng thẳng vào thời điểm mới đến Mỹ “đến từ mọi hướng” và “vô cùng mệt mỏi” như đi làm 30 giờ một tuần lúc học trung học.

“Cũng may lúc đó mình còn trẻ, sức chịu đựng còn dai thì mình dễ quên. Như mỗi tuần đến nhà bạn ăn phở, bún bò rồi mình cũng quên. Thế nhưng trong độ tuổi ngũ tuần, tôi thấy bắt đầu thấm mệt và có dấu hiệu quên.”

“Khi qua Mỹ thì nhu cầu phải sống còn quá mạnh cho nên mình gạt qua mọi sự bầm dập. Cho đến bây giờ khi mình lớn tuổi rồi thì mới thấm mệt và những stress, mental health [sức khỏe tâm thần] mới xuất hiện”, bà Quyên nói.

‘Tổn thương phổ biến’

NGUỒN HÌNH ẢNH,GETTY IMAGES

Chụp lại hình ảnh,

Những người tị nạn Việt Nam ra đi vào cuối những năm 1970 trên các con tàu gỗ

Theo Phó Giáo sư Oanh Meyer, nhiều người, giống như bà Quyên Vương, đã kể lại việc các thành viên trong gia đình mình bị những tổn thương tâm lý nặng nề từ chiến tranh Việt Nam do chứng kiến người thân hay bạn bè bị mất tích, tàu chở người tị nạn bị hải tặc tấn công hay hãm hiếp.

“Một người đang chăm sóc vợ ở tuổi 80 tại Mỹ kể lại với tôi rằng ông đã bị đi học tập cải tạo và khi đó vợ ông phải ở nhà một mình chăm sóc gia đình. Ông cho rằng vợ mình đã bị sa sút trí tuệ từ những tổn thương khi đó”, Phó Giáo sư Oanh Meyer nói với BBC News Tiếng Việt.

“Qua việc nói chuyện với gia đình những người Việt Nam và cả câu chuyện của gia đình mình, thì tôi thấy có sự liên quan giữa rối loạn stress sau sang chấn (PTSD) và tổn thương (trauma) và bệnh sa sút trí tuệ (dementia). Và cho đến nay không có nghiên cứu nào được thực hiện đối với cộng đồng người Mỹ gốc Việt”, Phó Giáo sư Oanh Meyer nói với BBC

“Cụ thể là chưa có nghiên cứu nào chỉ ra mối liên hệ những áp lực (stress), những tổn thương tâm lý thời trẻ có liên quan đến bệnh sa sút trí tuệ (dementia) ở tuổi già hay không? Cách căn bệnh này xuất hiện ở cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Tôi muốn nghiên cứu về mức độ ảnh hưởng đó.”

NGUỒN HÌNH ẢNH,OANH MEYER

Chụp lại hình ảnh,

Nghiên cứu của Phó Giáo sư Oanh Meyer được thực hiện trên những người Mỹ gốc Việt từ 65 tuổi trở lên

Bắt đầu từ năm 2021, nghiên cứu của Phó Giáo sư Oanh Meyer đã nhận được khoản tiền tài trợ trị giá 7,2 triệu đôla Mỹ cho thời hạn 5 năm từ Viện Quốc gia về Lão hóa Hoa Kỳ (National Institute on Aging) để nghiên cứu nhóm người lớn tuổi ở San Jose, Sacramento và Santa Clara, thông qua phỏng vấn.

Đối tượng nghiên cứu là những người từ 65 tuổi trở lên là người Việt hoặc người Mỹ gốc Việt, sống tại Bắc California, nói tiếng Việt hoặc tiếng Anh, nhập cư từ Việt Nam.

“Hy vọng trong tương lai chúng ta có thể nhìn vào những thay đổi và dịch chuyển trong mô hình dân cư và thấy bệnh sa sút trí tuệ cũng thay đổi theo thời gian”, theo Phó Giáo sư Oanh Meyer.

Một số yếu tố khiến người Mỹ gốc Việt có nguy cơ mắc suy giảm nhận thức (cognitive impairment) cao được cho bao gồm chiến tranh và di cư, khủng hoảng tâm lý, khó khăn thời niên thiếu, trầm cảm, huyết áp cao, và bệnh tiểu đường.

NGUỒN HÌNH ẢNH,GETTY IMAGES

Chụp lại hình ảnh,

Người tị nạn Việt Nam trên đường từ Nhật Bản sang Mỹ vào năm 1975

“Cộng đồng người Mỹ gốc Việt có những điểm khác biệt so với các cộng đồng người tị nạn khác tại Mỹ. Nếu chúng ta hiểu được các nhân tố ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần thì sẽ có những chương trình can thiệp sớm giúp giảm nguy cơ bệnh sa sút trí tuệ (dementia) hay mất trí nhớ (memory loss) đặc biệt đối với cộng đồng người tị nạn hay nhập cư” Phó Giáo sư Oanh Meyer cho biết.

Hiện nay nhóm nghiên cứu vẫn đang trong quá trình thu thập dữ liệu và số người cần được phỏng vấn là hơn 500 người Mỹ gốc Việt trong vòng 2 năm tới.

Phó Giáo sư Oanh Meyer cho biết vào năm 2018 đã có một nghiên cứu về mối liên hệ giữa rối loạn stress sau sang chấn (PTSD) và bệnh sa sút trí tuệ của Giáo sư Rachel Whitmer từ Đại học California-Davis thực hiện đối với các thành viên hệ thống chăm sóc y tế. Và một kết quả quan trọng thu được đó là người lớn tuổi bị PTSD có nguy cơ bị sa sút trí tuệ cao hơn 70% với người không bị PTSD.

Nhiều người Việt Nam cho rằng sa sút trí tuệ (dementia) là một phần bình thường của quá trình lão hóa, nhưng đây là suy nghĩ sai.

“Sa sút trí tuệ (dementia) không phải là một phần bình thường của quá trình lão hóa (ageing). Ví dụ bạn có thể quên để quên chìa khóa nhưng nếu không biết chìa khóa dùng để làm gì là dấu hiệu bất thường”, Phó Giáo sư Oanh Meyer nói thêm.

Sau khi chính phủ Việt Nam Cộng hòa sụp đổ vào năm 1975, khoảng 800.000 người Việt Nam vượt biên bằng đường biển trên những con tàu đủ mọi kích cỡ, trong đó thậm chí có tàu gỗ thô sơ, và sống hàng tháng hay hàng năm tại những trại tị nạn ở Philippines, Malaysia…trước khi sang Mỹ hay nước khác. Họ được gọi là ‘thuyền nhân Việt Nam’.

Trong một bài viết của BBC News năm 2019, Hanh Trần, một thuyền nhân kể lại đã chen chúc cùng 86 người khác trên một con tàu dài 11 mét vào năm 1979 và gặp những tên hải tặc Thái Lan, bị tàu quân sự của Malaysia bắn và hải quân Singapore xua đuổi, gặp bão trước khi may mắn đến được một hòn đảo trên một con tàu rách nát.

“Chúng tôi rất sợ Cộng sản. Nếu nói gì sai thì sẽ bị mời lên đồn công an và không bao giờ trở về”, Hanh Trần hiện đang sống tại Anh nói với BBC năm 2019.

Nhân Tâm

Van Pham

GÓC SUY GẪM

Nhân Tâm

Tôi nhớ hồi còn nhỏ, có lần một người đàn ông ghé vào nhà tôi xin tiền. Ông nói ở quê lên đây chữa bệnh, giờ đã mất hết tiền rồi, không còn tiền về quê nên ông phải đi xin. Mẹ tôi đưa cho ông số tiền ít ỏi bà có và hỏi ông ăn cơm chưa rồi bảo tôi xới cho ông bát cơm nguội với mắm. Bà lấy cho ông cái áo của anh tôi cho ông ấy mặc…

Ông ăn xong, cầm cái áo và tiền cứ vừa đi thụt lùi ra cổng vừa chắp tay chấp bái vừa nói:

– “Tôi đội ơn cô, cầu Trời Phật ban phước cho nhà mình….!”*

Với một đứa trẻ ở quê, đó là một câu chuyện lạ, tôi tò mò níu áo Mẹ,

– “Mẹ, ông ấy quê ở đâu…? Ông ấy bị bệnh gì…? Ông ấy đi xin được nhiều tiền không…?”

Mẹ mỉm cười:

– “Mẹ không hỏi.”

– “Tại sao Mẹ không hỏi…?”

– “Ừ, người ta xa quê, rơi vào cảnh khốn cùng thì hỏi về quê hương là đụng vào nỗi đau của họ. Người thành đạt rất tự hào khi nói về quê hương nơi chôn nhau cắt rốn, người sa cơ thì xấu hổ khi nói về quê của mình. Mình cho người ta có một chút mà mình lại chạm vào nỗi đau, nỗi xấu hổ của người ta thì không phải, không đúng. Làm vậy là ác tâm…!”

Tôi lại băn khoăn:

– “Ông ấy sắp chết hả Mẹ…?” Ông ấy có xin đủ tiền về quê không…?”

Mẹ nhìn xa xăm…

– “Ừ, phần lớn con người dù có thế nào thì vẫn muốn khi mất, được chôn trên mảnh đất nơi mình sinh ra, nơi chôn nhao cắt rốn… Cái đó gọi là tình yêu quê hương….! À, lúc nãy con đưa cho chú ấy bát cơm bằng một tay rồi chạy biến đi không mời là sai đấy nhé…!”

Tôi xấu hổ dụi mặt vào ngực Mẹ. Bà nghiêm khắc:

– “Tại sao con được dạy đưa đồ cho người lớn phải đưa bằng hai tay mà hôm nay con lại chỉ đưa bát cơm bằng một tay cho chú…? Chú ấy đi xin, nhưng không có nghĩa là con được phép đưa đồ cho chú bằng một tay…

Làm vậy người ta sẽ nghĩ Mẹ không biết dạy con tôn trọng lễ phép với người lớn tuổi. Hôm nay, người ta phải đi xin hay sắp chết thì con người vẫn luôn có phẩm giá của họ. Con không được khinh khi người ta vì biết đâu sau này mình sẽ như họ…!”

Tôi càng xấu hổ và rúc sâu hơn vào lòng Mẹ vì biết mình sai…

Ngày bé, những bài học Mẹ dạy cứ nhẹ nhàng như vậy nhưng nó đi vào đầu tôi và ở đó, không thể quên. Những bài học đã hình thành nên tính cách, con người của tôi hiện tại. Khi lớn, tôi mới hiểu hết những lời dặn và sự tinh tế trong cách cư xử, trong các bài học của Mẹ. Nó cũng làm cho tôi nhận biết người có nhân tâm hay ác tâm, tinh tế hay hời hợt qua hành vi, lời nói, cách ứng xử, hành động, hành vi của họ chứ không phải nhân danh việc của họ làm.

Khi chịu khó để ý, suy nghĩ để nhận ra đâu là hành động xuất phát từ nhân tâm, đâu là từ nhân danh nhân tâm, ta sẽ thấy có rất nhiều việc làm nhân danh nhân tâm nhưng thật ra nó lại phục vụ cho một mưu toan, mục đích khác…

Đôi khi chúng ta để cho bản thân bị đánh lừa và khi số đông bị lừa thì nó sẽ là tai hoạ cho xã hội, cho cả dân tộc…

Tôi khát khao, khi đất nước được tự do, các bài học trong môn văn học và giáo dục công dân là những bài học đơn sơ như thế, để con người có thể phân định rõ các giá trị và trả nó về đúng giá trị của nó. Dần loại bỏ các hành động nhân danh để xã hội là một xã hội trung thực và nhân văn đúng nghĩa…!

TRẦN NGUYÊN THAO – HỆ LỤY ĐÈ LÊN KINH TẾ VIỆT NAM, DO NỢ XẤU NGÂN HÀNG GẤP ĐÔI

TRẦN NGUYÊN THAO – HỆ LỤY ĐÈ LÊN KINH TẾ VIỆT NAM, DO NỢ XẤU NGÂN HÀNG GẤP ĐÔI

       Hệ lụy đè lên Kinh Tế Việt Nam,

DO NỢ XẤU NGÂN HÀNG GẤP ĐÔI.

 Trần nguyên Thao

Tài sản của khối Ngân Hàng Thương Mại (NHTM) đang trở thành mối quan ngại lớn đối với nền Tài Chánh quốc gia. Tính đến ngày 30/9/2021, tổng nợ xấu của 27 ngân hàng ở mức trên 113 nghìn tỷ đồng, tăng gần 26% so với đầu năm. Nợ xấu toàn khối NHTM được xác định tăng khoảng 8% cao gấp đôi chỉ trong 12 tháng. Nếu xét tới cả nợ tiềm ẩn, tỷ lệ nợ xấu tại các NHTM lớn hơn nhiều so với những gì được nói tới trong báo cáo tài chính. Nợ xấu sẽ đẩy nền Tài Chánh Việt Nam vào một cuộc khủng hoảng tài chánh và góp phần vào “rủi ro lạm phát với áp lực rất lớn” năm 2022.

Hạ tuần tháng Giêng 2021, Tạp Chí Tài Chánh cho công luận thấy sự âu lo của Tiến Sỹ Cấn Văn Lực – Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV tính toán, hiện lượng nợ đang được cơ cấu lại thời hạn trả nợ vào khoảng 355 nghìn tỷ đồng. Nếu chia cho tổng dư nợ hiện nay là 8,5 triệu tỷ đồng thì nợ xấu tiềm ẩn từ nợ cơ cấu là 4%. “Dù hy vọng 50% số nợ cơ cấu quay lại nợ tốt, nhưng như thế tỷ lệ nợ xấu cũng khoảng 2%. Cộng với tỷ lệ nợ xấu nội bảng hiện tại là hơn 2% thì nợ xấu lên tới 4%. [1] Từ lúc đó giới chuyên ngành đã thấy khó khăn thách thức rất lớn đang chực chờ đối với NHTM vào dịp cuối năm 2021”. 

Sau khi khối NHTM đã thực hiện cơ cấu lại nợ, giãn hoãn theo hướng dẫn của Ngân Hàng Nhà Nước (NHNN), Phó thống đốc NHNN, Nguyễn Kim Anh hồi cuối tháng 9/2021 đã xác nhận trước Ủy Ban Kinh tế Quốc Hội về tỷ lệ nợ xấu nội bảng và nợ xấu tiềm ẩn toàn khối NHTM đến cuối năm nay dự kiến sẽ ở mức từ 7,1% – 7,7%, xấp xỉ 8%. [2] Hệ lụy của nợ xấu tăng cao sẽ ảnh hưởng rất xấu lên nền Kinh Tế trong các năm kế tiếp.

Ngược dòng thời gian: năm 2016, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của toàn hệ thống ngân hàng là 2,46%, năm 2017 giảm xuống còn 1,99%, năm 2018 còn 1,91%, năm 2019 là 1,63% và năm 2020 là 1,76%. Nếu tính cả khoản nợ đã bán cho VAMC nhưng chưa xử lý được và nợ xấu tiềm ẩn thì năm 2016 là 10,58%, năm 2017 là 7,36%, năm 2018 là 5,85%, năm 2019 là 4,43% và sang đến năm 2020 là 3,81%.

So sánh nợ xấu ngân hàng ở hai thời điểm, tháng Giêng đến cuối năm 2021, đều do những tiếng nói thẩm quyền chuyên ngành, qua Tạp Chí Tài Chánh, trực thuộc Bộ Tài chính; Là cơ quan báo chí có bề dày truyền thống lâu đời nhất của ngành Tài chính với gần 60 năm trưởng thành và phát triển, cho thấy chỉ chưa tròn 12 tháng, nợ xấu toàn NHTM tăng gấp đôi.

Nợ xấu của khối NHTM được dự báo sẽ còn tiếp tục kéo dài sang các năm sau khi doanh nghiệp chưa thể phục hồi và những khoản nợ sau khi được tạo điều kiện cơ cấu lại nhưng vẫn không thể cải thiện sẽ buộc hệ thống phải chính thức ghi nhận là nợ xấu.

Đó là chưa tính đến tương lai khi gói kích cầu được chấp thuận bằng cách hỗ trợ lãi suất mỗi năm khoảng 20.000 tỷ, hai năm khoảng 40.000 tỷ. Nếu hỗ trợ 4% thì tín dụng có 1 triệu tỷ đồng đưa vào nền kinh tế, như Bộ Tài Chánh mong đợi.

Trong lúc Việt nam vẫn chưa kiểm soát được CoVid lây lan, khoản tín dụng lớn được hỗ trợ lãi suất như thượng dẫn, nếu không hoàn toàn dùng cho sản xuất, mà lại đem đầu tư “nóng” vào Thị Trường Chứng Khoán, Bất Động Sản dễ bị bong bóng hay dịch vụ thua lỗ, thì chẳng những NHTM không thu được lãi mà còn mất luôn vốn. Khi đó nợ xấu ngân hàng sẽ rất xấu. Ngành tài chánh sẽ rơi vào khủng hoảng trầm trọng.

Năm 2009, do nhu cầu đầu tư tiêu dùng, CSVN đưa ra gói kích cấu 122.000 tỷ đồng (6,9 tỷ Mỹ kim). Trong đó, riêng năm 2009, dành 106.600 tỷ đồng (5,7 tỷ Mỹ kim), tương đương 5,6% GDP lúc đó để kích cầu kinh tế. Bộ trưởng Kế Hoạch Đầu Tư Nguyễn Chí Dũng cho biết gói kích thích này khiến lạm phát tăng cao, năm 2010 và 2011 lần lượt là 9,2% và 18,6%. Đầu tư dàn trải gây nợ đọng lãng phí, nhiều dự án đình hoãn từ năm 2011 đến nay chưa giải quyết được hậu quả.

Do kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng năm 2009, hôm 12/11, trước Quốc Hội, Thống Đốc NHNN Nguyễn thị Hồng cảnh báo, năm 2022, “rủi ro lạm phát có áp lực rất lớn”.[3]

Tháng 9 năm 2020, báo cáo Tái Chánh ghi nhận Đảng CSVN nắm giữ 7 ngân hàng thương mại quốc doanh: Agribank, Vietcombank, VietinBank, BIDV, GPBank, CBBank và OceanBank có tổng tài sản lớn hơn toàn khối ngân hàng tư nhân, đạt trên 5,2 triệu tỷ đồng, tăng 7,12% so với đầu năm và giữ tỷ trọng lớn nhất với 43,4%. Trong đó có 3 ngân hàng là BIDV, VietinBank và Vietcombank, mang 40 ngàn tỷ đồng nợ xấu , mà 50% số nợ này đang đứng trước nguy cơ sẽ mất vốn hoàn toàn [4].

Báo cáo tài chính quý III/2021 (30/9/2021) vừa công bố, dư nợ xấu chỉ tính tại 27 NHTM niêm yết cổ phiếu và giao dịch trên thị trường chứng khoán đã tăng lên con số 113.006 tỷ đồng, tức cao hơn 26% so với thời điểm đầu năm. Trong đó, Nam Á Bank có mức nợ xấu cao nhất lên tới gần 150%, đạt 1.894 tỷ đồng. Số ngân hàng có nợ xấu tăng chiếm xấp xỉ 2/3. Vào thời điểm này năm 2020, mới có 23 NHTM mang nợ xấu.

Khối NHTM quốc doanh gây ra một khoản nợ xấu khổng lồ. Trong đó có 4 ngân hàng quốc doanh, năm 2020 từng mang “Bad Name” về nợ xấu, năm nay lại tiếp tục được “bảng vàng đề danh”:

  • Agribank giữ vị trí “quán quân” đứng đầu 10 ngân hàng có nợ xấu với gần 24.429 tỷ đồng, tăng 13,5% so với cuối năm trước (báo cáo tài chính riêng lẻ, Quý II/2021).  
  • BIDV, đoạt giải nhì, với 21.433 tỷ đồng, chiếm 1,61% tổng dư nợ cho vay khách hàng,
  • Vietcombank (VCB) và VietinBank (CTG) đứng vị trí tiếp theo với mức tăng lần lượt là 108% và 90% so với đầu năm.

Tổng nợ xấu của Vietcombank và VietinBank đạt xấp xỉ 30.000 tỷ đồng. Riêng số nợ tăng thêm của hai “ông quốc doanh” này lên tới trên 14.200 tỷ đồng, chiếm hơn 60% số nợ xấu tăng của gần 30 nhà băng thuộc khối NHTM.

 

Như vậy, quy mô nợ xấu của 4 ngân hàng quốc doanh gồm Agribank, BIDV, VietinBank và Vietcombank tính đến hết tháng 9 trên 67.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 58,1% tổng nợ xấu của các ngân hàng được thống kê.

Thống kê đến cuối tháng 9/2021, các tổ chức tín dụng đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho 278.000 khách hàng với dư nợ 238.000 tỷ đồng. Nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ giữ nguyên nhóm nợ cho khách hàng từ 23/01/2020 là khoảng 531.000 tỷ đồng.

Tính đến đầu tháng 10/2021, có 50 ngân hàng đang hoạt động tại Việt Nam, thì có 9 ngân hàng thuộc thuộc khối quốc doanh do Nhà Nước quản lý [5].

Ba trong số 4 nhà băng rất yếu kém, gồm: 3 ngân hàng Quốc Doanh là Xây Dựng (Contruction Bank); Đại Dương (Ocean Bank); Dầu Khí (Global Petrol Bank) và Đông Á Bank (ngoài Quốc Doanh) phải xây dựng hoàn thiện phương án cơ cấu lại để cơ quan liên bộ xem xét.

Năm 2015, từng có 3 Ngân hàng gồm, Xây dựng (Việt NamCB, nay đổi là CBBank), Ngân hàng Dầu khí Toàn cầu (GPBank) và Ngân hàng Đại Dương (OceanBank), bị NHNN mua lại “0 đồng” nhằm tái cơ cấu, đảm bảo sự an toàn, ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng, đồng thời góp phần giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.

Tháng 9 năm 2017, dân chúng từng xôn xao về Luật Các Tổ Chức Tín Dụng quy định người gửi tiền, bất kể tài khoản có hàng tỷ đồng, cũng chỉ được bồi thường 75 triệu đồng khi ngân hàng giải thể.

Chủ Tịch Quốc Hội Vuơng Đình Huệ hôm 12/10 đã yêu cầu Bộ Tài chính, NHNN nghiên cứu giải pháp cải thiện thể chế, luật pháp, ưu đãi… để moi vàng và ngoại tệ trong dân, bởi theo ông “nguồn lực trong dân còn nhiều”.

Năm ngày sau (17/10) báo Nhà nước đăng tin dân chúng “nháy” nhau giảm gởi tiền vào hệ thống NHTM. Kết quả là tiền từ dân gời vào NHTM đã giảm đến 1000 tỷ đồng. Như thế, đủ cho thấy toàn dân biết rõ Nhà Nước dùng chiêu bài cứu Kinh tế nhằm “nặn hầu bao” của dân là vô hiệu.

Tồn tại bằng “phỉnh lừa & chiếm đoạt” CSVN đã tùng xẻo nguồn tiền từ hàng ngàn dự án đầu tư công chậm tiến độ hàng chục năm, tăng vốn vô tội vạ; 14 hiệp định thương mại (FTA) hiêu lực 28 năm nay và biết bao nhiêu công ty quốc doanh khai lỗ . . . đều vào túi các đảng viên cộng sản. Trong lúc dân chúng tại 47 tỉnh được Bộ Trưởng Tài Chánh xác nhận đang đói khổ.

Mới đây, video dài 41 giây mô tả cảnh “thánh rắc muối” đút vào mồm Bộ Trưởng Công An Tô Lâm, miếng thịt bò dát vàng trị giá hàng ngàn Mỹ Kim tại một nhà hàng ở London hôm 3/11 càng làm cho dân chúng xác tín rằng, đảng CSVN là giai cấp “Mafia mới” cần loại bỏ, vì không thể hoàn thiện.

Trần Nguyên Thao

18 Nov

Tham khảo :

[1] https://tapchitaichinh.vn/ngan-hang/bat-ngo-no-xau-ngan-hang-331430.html

[2] https://tapchitaichinh.vn/ngan-hang/tong-no-xau-cua-27-ngan-hang-da-tang-gan-26-341494.html

[3] https://vnexpress.net/thong-doc-rui-ro-lam-phat-nam-2022-rat-lon-4384720.html

[4]https://firstnewsinworld.com/vi/no-xau-tai-3-ong-lon-ngan-hang-da-hon-40-000-ty-hon-nua-trong-so-do-la-no-co-kha-nang-mat-von/

[5] https://thebank.vn/blog/6448-danh-sach-ngan-hang-thuoc-so-huu-nha-nuoc-hien-nay.html

Trong phúc có họa, trong họa có phúc bởi tất cả đều là sự an bài tốt nhất!

Trong phúc có họa, trong họa có phúc bởi tất cả đều là sự an bài tốt nhất!

Tất cả đều là sự an bài tốt nhất, trong phúc có họa, trong họa có phúc, ai biết rằng tương lai sẽ có những thay đổi kinh ngạc?
Một lữ khách thấy bà lão bên bờ sông đang buồn rầu vì không biết làm thế nào qua sông. Lữ khách cũng đã mệt mỏi gần như kiệt sức rồi, bèn dốc hết sức toàn thân giúp bà lão. Kết quả, vừa sang sông, bà cụ chẳng nói năng gì đã vội vàng đi mất.

Lữ khách thấy rất hối tiếc. Anh cảm thấy dường như không đáng để bản thân vắt hết sức lực giúp bà lão, vì ngay cả từ “Cảm ơn” anh cũng chẳng nhận được.

Nào có hay, mấy giờ sau, đúng lúc anh đang mệt mỏi đến mức khó cất bước, một người trẻ tuổi đuổi kịp anh. Người trẻ tuổi nói, cảm tạ anh đã giúp bà nội tôi. Chỉ tiếc rằng bà không thể nói được, nên phải dùng cử chỉ tay để căn dặn tôi đem những thứ này biếu tặng anh, tôi chắc anh cũng đang cần dùng đến. Nói rồi, người trẻ tuổi lấy ra lương khô và cả con ngựa anh ta đang cưỡi tặng lữ khách.

Nhiều lúc chúng ta luôn sốt ruột muốn có ngay câu trả lời, nhưng cuộc đời lại bắt chúng ta phải nhẫn nại mà chờ đợi. Ngay cả chúng ta có hét lên với thung lũng trống vắng, thì cũng phải đợi một lúc mới nghe được âm thanh vang vang văng vẳng vọng lại.

Cũng có nghĩa là, cuộc đời luôn sẽ cho chúng ta câu trả lời, nhưng sẽ không lập tức nói hết thảy cho chúng ta biết.

Thực ra, tháng năm như một ngọn cây khổng lồ cành lá đan xen ngang dọc, mà cuộc đời là chú chim nhỏ bay vào bay ra trong đó. Nếu một ngày nào đó, chúng ta gặp gió mưa rét buốt trên đường đời, con tim đã không thể chịu đựng nổi nữa, thế thì, hãy kiên nhẫn đợi một chút. Rất có thể ngọn cây khổng lồ này đang chống chọi với gió rét để gây dựng khí tượng mùa xuân, đồng thời từng chút từng chút một tiến đến gần chúng ta, chỉ cần chúng ta nỗ lực.

Báo đáp không nhất định sẽ lập tức xuất hiện sau khi phó xuất. Chỉ cần chúng ta chịu đợi chờ một chút, những điều tốt đẹp của cuộc sống luôn luôn đến vào lúc chúng ta không để ý nhất.

Bởi vì, tất cả đều là sự an bài tốt nhất!

Khi chúng ta ở trong nghịch cảnh, cảm thấy mọi việc đều không thuận lợi, tình yêu, công việc, sự nghiệp, lý tưởng đều trở thành mây khói, lòng sinh ra ý niệm tuyệt vọng… Lúc ấy hãy thay đổi góc độ để xem xét vấn đề, tự nhủ với bản thân mình: Tất cả đều là sự an bài tốt nhất, trong phúc có họa, trong họa có phúc, ai biết rằng tương lai sẽ có những thay đổi kinh ngạc?

Còn có một câu chuyện như thế này.

Một hôm, quốc vương vào rừng sâu săn bắn, ông bắn một mũi tên hạ được một con báo hoa. Quốc vương xuống ngựa đến xem báo hoa. Nào ngờ báo hoa dùng hết sức tàn, lao lên vồ, cắn đứt đốt ngón tay út của ông.

Quốc vương bảo tể tướng uống rượu giải sầu, ai ngờ tể tướng lại mỉm cười nói: “Bẩm đại vương, ngài hãy nghĩ thoáng một chút, tất cả đều là sự an bài tốt nhất!”.

Quốc vương nghe vậy rất bực mình, nói: “Nếu quả nhân tống giam khanh vào ngục, đó cũng là sự an bài tốt nhất sao?”.

Tể tướng mỉm cười nói: “Nếu là như vậy, thần cũng tin rằng, đó là sự an bài tốt nhất”.

Quốc vương nổi giận, sai người đem tể tướng tống giam trong ngục.

Một tháng sau, quốc vương đã dưỡng lành vết thương, một mình đi vi hành. Ông đến một vùng núi rừng hẻo lánh, bỗng từ trên núi một nhóm thổ dân xông xuống, bắt ông trói gô lại rồi đem về bộ lạc.

Bộ lạc nguyên thủy trên núi, mỗi khi đến ngày trăng tròn đều xuống núi tìm vật tế Nữ Thần Mặt Trăng. Thổ dân chuẩn bị đưa quốc vương đi thiêu để tế Thần.

Đúng lúc quốc vương tuyệt vọng, viên quan tư tế bỗng kinh hãi thất sắc, ông ta phát hiện ra ngón tay út của quốc vương bị thiếu một đốt. Đây là đồ tế không hoàn mỹ, nhận được đồ tế như thế này, Nữ Thần Mặt Trăng sẽ nổi giận. Thế là nhóm thổ dân thả quốc vương đi.

Quốc vương mừng rỡ, sau khi về cung sai người thả ngay tể tướng, bày tiệc rượu mời. Quốc vương nâng chén chúc rượu tể tướng rằng: “Khanh nói thực sự không hề sai chút nào, quả nhiên, tất cả đều là sự an bài tốt nhất! Nếu chẳng phải quả nhân bị báo hoa cắn, thì hôm nay ngay cả mệnh ta cũng đã mất rồi”.

Quốc vương bỗng như nhớ ra điều gì, hỏi tể tướng: “Nhưng khanh vô duyên vô cớ bị giam trong ngục hơn một tháng, vậy thì nói sao đây?”.

Tể tướng chậm rãi uống chén rượu, rồi mới nói: “Nếu thần không bị giam trong ngục, thế thì người tháp tùng bệ hạ đi vi hành ắt là thần. Khi thổ dân phát hiện ra bệ hạ không phù hợp để tế Thần, vậy chẳng phải sẽ đến lượt thần đó sao?”.

Quốc vương không nén nổi phá lên cười ha hả, rồi nói: “Quả nhiên không sai, tất cả đều là sự an bài tốt nhất!”.

Câu chuyện trên nói nên một đạo lý: Khi chúng ta gặp sự việc không như ý, tất cả nhất định là sự an bài tốt nhất! Chớ buồn rầu, chớ chán nản, cũng không được nhìn nhất thời. Hãy đưa tầm mắt nhìn ra xa, mở rộng tầm nhìn cuộc đời. Chớ than thân trách phận, chớ trách Trời oán người, hãy luôn luôn lạc quan, cố gắng, tin rằng Trời không tuyệt đường sống con người.

“Tất cả đều là sự an bài tốt nhất”, đây chính là câu chuyện mà các bậc thầy thôi miên tâm lý thích kể nhất. Vì họ thấy rằng, tiềm ý thức của con người vô cùng lớn mạnh, hơn nữa lại không có khả năng phán đoán, chỉ cần chúng ta nhập vào câu lệnh và chương trình chính xác, tiềm ý thức sẽ nghe theo và thực hiện. Thôi miên là phương pháp nhanh nhất ảnh hưởng đến tiềm ý thức, gây dựng lại tiềm ý thức.

Câu chuyện này có tác dụng chính diện tích cực, thực tế chứng minh tác dụng vô cùng lớn. Rất nhiều người nghe xong câu chuyện này, đều có sự cải biến cuộc đời, hơn nữa cuộc đời sau đó còn tiếp tục chứng minh câu nói ấy.

Kỳ thực, chỉ cần chúng ta suy nghĩ lại kỹ lưỡng mỗi sự kiện trong cuộc sống, cũng có thể tự nói với bản thân rằng: “Tất cả đều là sự an bài tốt nhất”. Khi ở quanh chúng ta có người phát tín hiệu cầu cứu, như tâm trạng chán nản, nổi giận đùng đùng, hoặc hành vi dị thường, thì hãy kể câu chuyện này cho họ, khơi thông tâm lý hữu hiệu hơn các biện pháp dự phòng rất nhiều.

Do đó, tất cả đều là sự an bài tốt nhất. Cảm ơn hết thảy những gì chúng ta gặp trong cuộc đời.

An Nhiên – Vạn Điều Hay