Sinh – Lão – Bệnh – Tử Là Quy Luật Của Đời Người…

Van Pham

Sinh – Lão – Bệnh – Tử Là Quy Luật Của Đời Người…

Bệnh là một hiện tượng hiển nhiên trong cuộc đời. Có mang thân người là có bệnh. Mỗi chúng ta có thể trải qua một hay nhiều lần bệnh, không lúc này thì khi khác, không nặng thì nhẹ.

Nếu người nào, đến giây phút này vẫn chưa một lần bệnh thì đó là một hạnh phúc lớn. Nhưng ít ra, người đó cũng chứng kiến người thân của mình bị bệnh và biết chắc rằng, đến một lúc nào đó, mình có thể bị bệnh.

Do đó, bệnh là một hiện tượng rất gần gũi với con người mà chúng ta ít nhiều đều có kinh nghiệm, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp. Nói đến bệnh, ai cũng có thể nghĩ đến sự đau đớn, khổ sở, khó chịu, buồn bã, âu lo, sợ hãi và vô số những tâm lý tiêu cực khác.

Hễ bệnh là đau. Điều này không ai phủ nhận. Nhưng điều quan trọng là làm thế nào, dù đau (về thân), chúng ta đừng có khổ (về tâm).

Bạn có thể thắc mắc đến ngạc nhiên rằng bệnh làm sao mà không buồn không khổ? Tôi đã từng thắc mắc như vậy sau vài lần bệnh, nhưng sau đó, thay vào các thắc mắc là các bài học tự nghiệm ra được.

Ở đây, tôi xin chia sẻ với các bạn một vài phương diện tích cực khi đang bệnh hoặc phải sống chung với bệnh.

  1. Bệnh là cơ hội để nhận biết tín hiệu cơ thể.

Khi chúng ta bị một chứng bệnh nào đó, chúng ta đừng vội buồn phiền, suy sụp tinh thần, thấy sao mình bất hạnh so với nhiều người khác. Bệnh là một điều tất yếu một khi chúng ta mang thân làm người, nên việc nó đến với người này, chưa đến với người khác, chỉ là vấn đề thời gian mà thôi. Không có gì bất công đâu.

Hãy coi bệnh là cơ hội để mình nhận được tín hiệu của cơ thể báo cho mình biết có gì đó không ổn trong cơ thể của mình. Ví dụ, khi nghe tức ngực, bạn biết rằng điều này nhắc bạn cần đến bác sĩ để khám, và như thế, rất có thể bạn sẽ biết và tránh được hoặc trì hoãn chứng bệnh mạch vành của tim trước khi mọi việc trở nên quá trễ. Hầu hết các chứng bệnh tiến triển từ nhẹ đến nặng và có những triệu chứng đi kèm.

Nếu chúng ta biết cách lắng nghe cơ thể để kịp thời nhận được tín hiệu thay đổi và có phương pháp xử lý phù hợp, chúng ta đã phần nào biết giữ gìn sức khỏe tốt và đem lại hạnh phúc cho bản thân mình, cho người thân và cho xã hội. Một số bệnh hiểm nghèo, như ung thư, vẫn có khả năng chữa trị nếu được phát hiện ở thời kỳ đầu.

Các bệnh khác cũng vậy. Do đó, sẽ không có gì đáng buồn khi chúng ta ‘nghe’ cơ thể không ổn. Thay vào đó, chúng ta nên vui, nếu không vui nổi thì cũng bình tâm, vì ít ra, mình nhận được tín hiệu mà cơ thể gửi cho mình. Hơn nữa, qua một lần nhận tín hiệu như thế, chúng ta phát triển khả năng lắng nghe cơ thể thường xuyên hơn. Nhờ đó, chúng ta biết cách điều chỉnh chế độ ăn uống và sinh hoạt phù hợp hơn với cơ địa của mình.

  1. Bệnh là dấu hiệu cho bạn biết rằng bạn cần điều chỉnh cho cuộc sống trở nên thoải mái hơn.

Thông thường, khi biết mình bệnh, chúng ta thường để tâm lý tiêu cực phát sinh. Bản năng sinh tồn thôi thúc con người muốn sống, nên không bằng lòng khi bệnh đến với mình, thế là tinh thần suy sụp, sợ hãi nảy sinh. Người nào có tâm lý như thế có nghĩa là đang góp phần đáng kể vào việc hủy hoại thân thể mình và làm cho bệnh càng trầm trọng mặc dù có sự can thiệp của các phương pháp trị liệu.

Rất nhiều chứng bệnh và cơn đau phát sinh do tâm lý căng thẳng. Các bệnh về tim mạch, huyết áp, dạ dày đều có liên quan đến tình trạng rối loạn tâm lý. Tâm lý không ổn định và mất thăng bằng là một trong những nguyên nhân rất dễ đưa đến rối loạn các quá trình trao đổi chất trong cơ thể và gây nên bệnh.

Do vậy, khi chúng ta bệnh, chúng ta cần nhận ra rằng đây là cách mà cơ thể báo cho mình biết rằng tâm trí cần nghỉ ngơi nhiều hơn và học cách chuyển hóa những căng thẳng hiệu quả hơn. Làm như vậy là giúp cơ thể nhanh lành bệnh và phòng bệnh về sau một cách hiệu quả.

  1. Khi bệnh, chúng ta thấy nhu cầu chăm sóc tâm thức và đời sống tinh thần trở nên cần thiết hơn.

Lúc đang mạnh khỏe, chúng ta những tưởng mình là bất tử, nên việc chăm sóc đời sống nội tâm chưa phải là vấn đề cần thiết lắm. Khi bệnh, chúng ta mới cảm nhận được cảm giác chơi vơi, trống vắng và sợ hãi. Khi ấy, chúng ta mới nhận ra rằng cái mình thật sự thiếu là một tinh thần vững chãi, một nội tâm kiên định để có thể vững vàng trong những tình huống như vậy. Từ đó, chúng ta học được cách chăm sóc tâm mình.

Thật ra, nhu cầu chăm sóc tâm thức cần được thực hiện thường xuyên chứ không đợi đến khi bệnh, vì nó cần thiết hơn cả việc chăm sóc thân thể. Thế nhưng, thông thường, chúng ta ít để ý đến nhu cầu này nên chưa nhận ra. Do vậy, nhiều người sau khi bị bệnh, thường quay về với đời sống tâm linh nhiều hơn. Đối với bản thân tôi cũng vậy, bệnh lần đầu tiên, buồn và nản lắm. Sau đó, thấy tinh thần mình bạc nhược. Như vậy là không được.

Khi bệnh mình bất an thì những người thân thêm lo lắng chứ chẳng được gì. Rồi bệnh lần sau, tôi biết cách làm cho mình cảm thấy khá hơn và bây giờ, khi mang trong người căn bệnh mãn tính, tôi học được cách sống chung với bệnh và rút ra được nhiều kinh nghiệm trong quá trình ‘chung sống’ này để cuộc sống dễ chịu hơn.

Một điều có tính quy luật tôi rút ra được là lúc nào tâm tôi bình an và ít dao động, tôi có cảm giác ít đau đớn hơn. Nghĩa là, thân bệnh thì thân ‘đau’, nhưng không vì thân đau mà tâm phải ‘khổ’. Thật ra, khi thân đau, cũng chỉ có một vài bộ phận ở một vài khu vực đau mà thôi. Sự thổi phồng nỗi đau ra toàn thân và lan đến cả tâm là một căn ‘bệnh’ khác nan giải hơn cả bệnh lâm sàng mình đang mắc phải. Khi nào chúng ta để cái khổ của tâm gắn với cái đau của thân, cái đau khổ ấy thống thiết và nhức nhối vô cùng.

  1. Bệnh dạy cho chúng ta về vô thường.

Già, bệnh, rồi đến cuối chặng đường của một kiếp người là chết. Tất cả những hiện tượng tự nhiên này diễn ra không ngừng trong con người và mọi loài mọi vật. Các giai đoạn (ta tạm gọi như thế, chứ thật ra không có ranh giới nào) sinh ra, trưởng thành, già cỗi và hư hoại đan xen nhau trải dài trên một chiếc trục gọi là ‘cuộc sống’ mà một cực là sự sanh ra trên cuộc đời và cực kia là cái chết.

Ở mức độ vi tế hơn, chúng ta cần hiểu rằng trong mỗi tích tắc, bao nhiêu tế bào trong cơ thể chết đi và bao nhiêu tế bào mới được sinh ra. Thế nhưng, để ‘thấy’ được sự thay đổi thì cần phải có những biến chuyển cụ thể, rõ ràng và lớn hơn. Một khi bệnh, chúng ta dễ dàng nhận ra rằng mình đang ‘chuyển giai đoạn’.

Ý thức được vô thường giúp chúng ta ý thức hơn về cách sử dụng và quản lý thời gian của bản thân cũng như điều chỉnh các mối quan hệ với những người xung quanh để có một cuộc sống ý nghĩa hơn. Chỉ có những người trải qua cơn bạo bệnh mới hiểu được trọn vẹn sức khỏe tốt là một thứ tài sản vô giá, để rồi sau đó, họ không phung phí tài sản ấy.

  1. Bệnh làm cho chúng ta tăng trưởng tâm từ bi.

Khi ta bệnh, ta thấu hiểu nỗi đau của người khác nhiều hơn, nhất là những người mắc bệnh giống mình hoặc bệnh nặng hơn mình. Người xưa nói ‘đồng bệnh tương lân’ quả không sai. Trong đau đớn, chúng ta cảm thấy mình không đơn độc chống chọi với căn bệnh này. Nghĩ đến những người cùng chịu nỗi đau giống mình hoặc hơn mình nữa, chúng ta có thể dễ dàng trải lòng thương yêu đến cả những người không quen.

Tâm đồng cảm, thấu cảm và chia sẻ với những người cùng bệnh rất lớn. Nếu chúng ta tiếp tục nuôi dưỡng tâm lành này, tức là chúng ta đang nuôi dưỡng tâm từ bi của mình. Nhờ đó, chúng ta sẽ có những động thái tích cực và thiết thực góp phần giúp người bệnh vơi nhẹ nỗi đau bằng kinh nghiệm bản thân.

Thực tế, khi chứng kiến bệnh tật, thân nhân người bệnh cũng mở rộng tấm lòng và sự đồng cảm đối với những người bệnh. Các chương trình ‘Ước mơ của Thúy’, “Nụ cười của Ben’ là những ví dụ sinh động về sự chia sẻ đồng cảm của những người có người thân từng là bệnh nhân nhi ung thư đối với những em bé có cùng số phận.

  1. Bệnh giúp chúng ta nuôi dưỡng tâm khiêm hạ và biết đủ.

Khi bệnh, chúng ta mới sực nhớ ra rằng cuộc đời mình không phải là không có giới hạn. Giới hạn của con người là lẽ thường xưa nay, nhưng bình thường chúng ta không ý thức đầy đủ về những giới hạn của mình. Nếu thấy người khác bệnh, chúng ta cứ tưởng bệnh chỉ đến với người đó mà không đến với mình. Cho đến khi chính bản thân mình hay người thân bị bệnh như bao người khác, chúng ta mới kịp nhận ra, ai cũng chịu sự chi phối của quy luật tự nhiên: đau, già, bệnh và chết.

Ý thức rằng mình không hơn gì người khác, ít nhất là trong quy luật tự nhiên này, giúp chúng ta bớt đi lòng kiêu hãnh và trở nên khiêm tốn hơn trong cuộc sống. Qua một lần bệnh, chúng ta có thể bớt đi lòng tham cầu một cách đáng kể. Qua một lần bệnh, chúng ta có thể biết cách tổ chức cuộc sống mình hiệu quả hơn và tốt hơn.

  1. Bệnh giúp chúng ta có ý chí và nghị lực hơn.

Ý chí và nghị lực là kỹ năng sống cần được rèn luyện trong nhiều tình huống khác nhau trong cuộc sống. Thế thì tại sao mình bỏ qua cơ hội bệnh để rèn luyện kỹ năng này? Tôi bệnh nhiều lần và tôi nghiệm ra một điều, sau mỗi lẫn bệnh, tôi trở nên mạnh mẽ hơn, nghị lực hơn và rồi các lần bệnh đến và đi cũng nhẹ nhàng hơn.

Thật ra, tôi làm được điều này cũng nhờ nghĩ đến cha tôi, một người trở về từ chiến trường chỉ còn một cánh tay và một chân không bao giờ gấp lại được vì một vết mổ, dù những năm tháng ở chiến trường, cha tôi chỉ biết cầm kim, dao mổ và ống chích chứ chưa bao giờ biết cầm súng. Với cánh tay đã mất, cha phải chịu đau đến ba lần cắt (lần đầu cắt bàn tay, lần thứ hai tháo khớp khủy tay vì nhiễm trùng, lần thứ ba lại cắt tiếp vì nhiễm trùng nữa). Thế mà cha tôi vẫn vui sống, luôn tích cực trong suy nghĩ và hành động, truyền nghị lực và sức sống còn lại cho những đứa con.

Thế nên mỗi lần đau bệnh, có khi nằm cả tháng trời, có khi đau răng nhức nhối khó chịu, lúc trật khớp chân mất cả tuần mới đi lại được và hiện tại là cơn đau dai dẳng đeo đẳng theo tôi từ mấy năm qua, tôi vẫn thấy không thấm vào đâu so với nỗi đau của cha mình. Nghĩ như thế, tôi vượt qua cơn đau dễ hơn mình tưởng. Cách nghĩ như vậy là liều thuốc giảm đau hiệu nghiệm nhất đối với bản thân mình.

Trên đây, tôi chia sẻ những ‘lợi ích’ khi mình bệnh. Nói như vậy không có nghĩa là tôi muốn bản thân mình hay các bạn, hoặc ai đó bị bệnh. Bệnh là một hiện tượng nằm ngoài ý muốn của con người. Những điều trên, đơn giản là vài phương pháp mà tôi dùng đến mỗi khi bệnh. Đó là những phương pháp hỗ trợ các phương tiện trị liệu y khoa, làm cho bệnh mau lành và giúp người bịnh không hao tổn quá nhiều năng lượng để ‘chống chỏi’ với bệnh.

Nếu thấy điều nào phù hợp với mình, các bạn cứ thử áp dụng, tôi tin là sẽ có hiệu quả. Nguyên tắc chung để chịu đựng và sống chung với bệnh (đối với các bệnh mãn tính và những thương tật vĩnh viễn do tai nạn) là khi thân đau, đừng để tâm khổ vì cái đau của thân. Hãy xem bệnh là một ‘vị khách không mời’ và đối xử lịch sự với ‘nó’. Đừng xua đuổi vì một khi bị xua đuổi, nó sẽ kháng cự.

Việc chúng ta cần làm là tạo một môi trường thích hợp nhất để ‘nó’ tự ra đi. Hãy buông bỏ, nó sẽ tự ra đi không một lời từ biệt đó các bạn ạ.

Nguồn: chuatutam.net

XUÂN HY VỌNG

Tình Yêu Của Chúa

XUÂN HY VỌNG

A.P Mặc Trầm Cung

“Cha ngã xuống… cho hồn con đứng dậy

Nhấp men cay… cho bừng tỉnh cơn mê.”

(Tưởng nhớ Cha Giuse Trần Ngọc Thanh)

Cha nằm xuống, muôn hoa tươi vẫn nở

Phủ mộ Cha trong ánh nắng chan hoà

Vẫn vẳng nghe ríu rít tiếng chim ca

Cả tiếng côn trùng hoà vui cùng gió mát.

Cha ngã xuống, tim triệu người tan nát

Nhưng nảy sinh hạt giống mới ân tình

Được tưới bằng nước mắt với hy sinh

Bằng nỗi nhục nhằn, đau thương trong thầm lặng.

Con tự hỏi, trong nỗi buồn sâu lắng

Sao Chúa lại cần một “Hy Lễ Chiều Xuân”?

Thánh Ý nào mà Chúa đã đong cân

Cho Giáo Hội Việt Nam được thay màu áo mới.

Câu trả lời trong thẳm sâu diệu vợi

Đất cằn cỗi… sao hạt giống trổ sinh?

Cây héo khô… sao hun đúc niềm tin

Nẩy lộc đâm chồi giữa cuồng phong bão tố?

Ý nhiệm mầu trong Chương Trình Cứu Độ

Ngài xới cày cho mảnh đất hồi sinh

Để nảy mầm muôn hạt giống đức tin

Cần được cày, tưới bằng nước mắt và máu người Công Chính.

Cha nằm đó, giữa đất trời thanh tịnh

Cho hồn con bừng cháy một niềm tin

Cho lữ khách mạnh mẽ bước hành trình

Vượt qua thung lũng sầu thương

bằng khúc hát…. Mùa Xuân Hy Vọng.

Mùng 4 Tết.

04.02.2022

A.P Mặc Trầm Cung

Tuyên truyền và hệ thống tự hoại!

Tuyên truyền và hệ thống tự hoại!

Bởi  AdminTD

 Blog VOA

Trân Văn

4-2-2022

Thánh lễ tiễn đưa Linh mục Trần Ngọc Thanh, do Giám mục Giáo phận Kon Tum chủ tế, diễn ra tại Nhà nguyện Plei Đôn, thuộc Giáo xứ Kon Rơbang, Giáo hạt Kon Tum, vào ngày 30/1/2022. Nguồn: Giáo phận Kon Tum

Cuối cùng, công an cũng cung cấp thông tin cho hệ thống truyền thông chính thức loan báo rộng rãi về án mạng xảy ra tại thôn Giang Lố 2, xã Saloong, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum mà nạn nhân là linh mục Trần Ngọc Thanh, 41 tuổi (1)…

Ngày 29 tháng 1 năm 2022, linh mục Thanh đến một nhà nguyện ở Saloong để thực hiện bí tích giải tội cho những người có nhu cầu hòa giải với Thượng đế và đồng loại trước thềm năm mới… Thế rồi ông Nguyễn Văn Kiên, 33 tuổi, đột nhiên xông vào, chém vô đầu linh mục Thanh hai lần. Sau đó, ông Kiên xoay qua tìm chém một tu sĩ ở gần đấy nhưng nạn nhân kịp dùng ghế đón đỡ (2)… Linh mục Thanh bị chém vỡ sọ nên không thể vượt qua được tình trạng nguy kịch!

Có một điểm đáng chú ý là khác với những án mạng từng xảy ra tại Việt Nam, cả công an lẫn hệ thống truyền thông chính thức im bặt, không đề cập gì đến sự kiện một linh mục Công giáo bị giết khi đang thực hiện mục vụ, cho dù đó rõ ràng là biến cố nghiêm trọng cả về tính chất lẫn mức độ. Thiên hạ chỉ biết tin này nhờ mạng xã hội và một số trang web có liên quan đến Công giáo… Đó cũng là lý do rất nhiều người suy đoán theo hướng, án mạng có sự sắp xếp…

Thiên hạ kể với nhau, rằng ông Trần Ngọc Thanh không phải là linh mục Công giáo đầu tiên bị tấn công. Trước ông đã có ít nhất bốn linh mục khác bị hành hung trên đất Kon Tum (3), có người bị đâm lòi ruột nhưng may mắn thoát chết. Chẳng riêng linh mục, nam tu sĩ, ngay cả nữ tu cũng bị hệ thống công quyền lẫn… thường dân gần gũi chính quyền dọa dẫm, sách nhiễu (4). Không phải ngẫu nhiên mà người thiểu số ở khu vực Tây Nguyên trốn ra ngoại quốc xin tị nạn do bị đàn áp vì… theo Tin Lành!

***

Sự kiện linh mục Trần Ngọc Thanh bị giết khi đang thực hiện mục vụ không chỉ làm rúng động mạng xã hội Việt ngữ. Không ít trang facebook của các dòng tu, hội đoàn và tín đồ Công giáo trên thế giới đã loan báo sự kiện này kèm lời kêu gọi cầu nguyện. Chẳng hạn OP Laity East (trang facebook dành cho giáo dân tham gia các hội đoàn của Dòng Anh em Thuyết giáo mà người Việt thường gọi tắt là Dòng Đa Minh – gọi theo tên vị sáng lập đã được Việt hóa mà linh mục Trần Ngọc Thanh là một thành viên).

Từ những trang facebook như OP Laity East (5), sự kiện tiếp tục được chia sẻ rộng hơn cả ở phương diện cá nhân lẫn cộng đồng của nhiều quốc gia. Ví dụ, có thể thấy thông tin về chuyện linh mục Trần Ngọc Thanh bị giết trên OP Laity East tiếp tục được chia sẻ trên Humphreys Catholic Community – trang facebook của cộng đồng Công giáo ở Humphreys, một căn cứ của quân đội Mỹ tại Nam Hàn (6). Rồi các thành viên của Humphreys Catholic Community lại chia sẻ thêm cho nhiều người, nhiều giới khác…

Có rất nhiều cá nhân không phải người Việt, chưa từng nghe ông Nguyễn Phú Trọng – Tổng Bí thư đảng CSVN khoe về thành tựu… dân chủ ở Việt Nam. Có rất nhiều cá nhân không phải người Việt nếu đã nghe thì cũng chẳng nhớ hệ thống chính trị, hệ thống công quyền Việt Nam đã nói những gì về… thăng tiến nhân quyền, về… tiến bộ của tự do tôn giáo, về… sự ổn định tại Việt Nam. Song theo logic về tâm lý, họ sẽ nhớ rất kỹ và khi đề cập tới Việt Nam, họ sẽ nhắc rất nhiều người về chuyện linh mục Thanh bị giết!

Chưa có bất kỳ bằng chứng nào về chuyện linh mục Trần Ngọc Thanh là nạn nhân của một âm mưu. Cho dù sự im lặng của hệ thống truyền thông chính thức tại Việt Nam về án mạng này hết sức khác thường nhưng khả năng các cơ quan truyền thông chính thức bị chỉ đạo phải… “ngậm tăm” không lớn. Kẻ viết bài này tin rằng, chính cách quản lý, lối hành xử của hệ thống chính trị, hệ thống công quyền Việt Nam mới là lý do khiến hệ thống truyền thông chính thức chủ động… “ngậm tăm”, tránh rắc rối.

Cách nay khoảng hai tuần, khi gặp gỡ báo giới trước thềm năm mới, ông Nguyễn Văn Nên – Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư TP.HCM, nhắc báo giới phải độc lập, phải tránh bốn đặc điểm là… bầy đàn, khuôn mẫu, ỷ lại và đổ lỗi (7).

Tại sao báo giới Việt Nam lại mang bốn đặc điểm mà ông Nên cảnh báo cần tránh? Nếu sự độc lập của báo giới được tôn trọng, chắc chắn sẽ không thiếu thông tin về những sự kiện như linh mục Trần Ngọc Thanh bị giết, hay hệ thống chính trị, hệ thống công quyền ở Tây Nguyên xâm hại các quyền căn bản của con người, chà đạp tự do tôn giáo và tất nhiên không gây hoài nghi, rằng có âm mưu nào phía sau các sự kiện hay không! Còn xác định báo giới là công cụ tuyên truyền và ép buộc nhắm mắt, bịt tai để tuyên truyền theo mục tiêu, bất chấp thực tại, bất kể nhân tâm, dân ý thì “công tác tuyên truyền” đâu có khác gì quảng cáo cho hoạt động tự hoại.

Tại sao Việt Nam không bị đồng hóa sau 1.000 năm Bắc thuộc?

Tại sao Việt Nam không bị đồng hóa sau 1.000 năm Bắc thuộc?

Tác giả: Nguyễn Hải Hoành

Tiếng ta còn thì nước ta còn!

Đồng hóa dân tộc (national assimilation) gồm: 1- Đồng hóa tự nhiên, tức quá trình dân tộc A trong giao tiếp với dân tộc B, do chịu ảnh hưởng lâu dài của B mà A tự nhiên dần dần mất bản sắc của mình, cuối cùng bị B đồng hóa; đây là một xu hướng tự nhiên trong tiến trình lịch sử loài người. 2- Đồng hóa cưỡng chế: sự cưỡng bức một dân tộc nhỏ yếu hơn chấp nhận ngôn ngữ, chữ viết, phong tục, tập quán của một dân tộc lớn mạnh hơn; đây là một tội ác.

Đồng hóa dân tộc chủ yếu diễn ra dưới hình thức đồng hóa văn hóa, trong đó chủ thể đồng hóa thường là một nền văn hóa mạnh và tiên tiến (như đông dân hơn, kinh tế phát triển hơn, đã có chữ viết, có các hệ tư tưởng), đối tượng đồng hóa thường là nền văn hóa yếu và lạc hậu hơn. Đồng hóa ngôn ngữ là công cụ đồng hóa văn hóa thông dụng nhất, quan trọng nhất, hiệu quả nhất. Một dân tộc bị mất tiếng nói mẹ đẻ của mình và phải nói tiếng của một dân tộc khác thì không còn giữ được bản sắc dân tộc nữa.

Trong lịch sử, các nền văn hóa yếu thường bị nền văn hóa mạnh đồng hóa. Thời cổ, Trung Quốc là quốc gia đông người nhất và có nền văn minh tiên tiến nhất châu Á. Nền văn hóa Hán ngữ của họ có sức đồng hóa rất mạnh. Dân tộc Hồi ở phía Tây nước này, ngày xưa dùng chữ A Rập, sau nhiều năm giao lưu với người Hán cũng toàn bộ dùng chữ Hán và nói tiếng Hán. Ngay cả các dân tộc nhỏ nhưng mạnh về quân sự, sau khi thôn tính và thống trị Trung Quốc được ít lâu cũng bị nền văn hóa Hán ngữ đồng hóa.

Thí dụ dân tộc Mãn sau khi chiếm Trung Quốc và lập triều đại nhà Thanh đã lập tức tiến hành đồng hóa dân tộc Hán: cưỡng bức đàn ông Hán phải cạo nửa đầu và để đuôi sam, phải bỏ chữ Hán mà chỉ dùng chữ Mãn làm chữ viết chính thức trên cả nước. Nhưng đến giữa đời Thanh, tức sau khoảng 100 năm thì tiếng Mãn cùng chữ Mãn đều biến mất, từ đó trở đi người Mãn chỉ dùng tiếng Hán và chữ Hán, nghĩa là họ lại bị đồng hóa ngược bởi chính nền văn hóa của dân tộc bị họ cai trị lâu tới 267 năm!

Các nước đế quốc thực dân sau khi chiếm thuộc địa đều cưỡng chế đồng hóa ngôn ngữ dân bản xứ, quá trình này diễn ra khá nhanh, nhìn chung sau 5-6 thế hệ (mỗi thế hệ 25 năm), tiếng nói của người bản xứ đã bị thay bằng ngôn ngữ của nước cai trị. Đầu thế kỷ XV, Brazil bị Bồ Đào Nha chiếm, chẳng bao lâu tiếng Bồ trở thành ngôn ngữ chính thức duy nhất của người Brazil. Nhiều thuộc địa Pháp ở châu Phi như Bénin, Togo, Sénegan… dùng tiếng Pháp làm ngôn ngữ chính duy nhất. Năm 1918 nước ta bắt đầu dạy tiếng Pháp ở lớp cuối tiểu học, 10-20 năm sau toàn bộ học sinh trung học cơ sở trở lên đến trường đã chỉ nói tiếng Pháp, giáo viên chỉ giảng dạy bằng tiếng Pháp. Nếu cứ thế dăm chục năm nữa thì có lẽ Việt Nam đã trở thành nước nói tiếng Pháp.

Thế nhưng sau hơn 1.000 năm bị bọn phong kiến người Hán thống trị và cưỡng bức đồng hóa, dân tộc Việt Nam vẫn không bị Hán hóa, vẫn giữ nguyên được nòi giống, tiếng nói và phong tục tập quán.

Đây quả là một điều kỳ diệu có lẽ chưa dân tộc nào khác làm được. Đáng tiếc là chưa thấy nhiều người quan tâm nghiên cứu vấn đề này, một thành tựu vĩ đại đáng tự hào nhất của dân tộc ta (nói cho đúng là của tổ tiên ta thôi, còn chúng ta bây giờ thua xa các cụ).

Vì sao tổ tiên ta có thể làm được kỳ tích ấy ? Có người nói đó là do dân ta giàu tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc, xã hội có cơ chế làng xã bền chặt, v.v… Nói như vậy có lẽ còn chung chung, nếu đi sâu phân tích tìm ra được nguyên nhân cụ thể thì sẽ giúp ích hơn cho việc phát huy các truyền thống quý báu của dân tộc ta. Thực tế cho thấy tổ tiên ta giành được thắng lợi chống đồng hóa không phải bằng đấu tranh vũ trang mà chủ yếu bằng tài trí.

Xin nói thêm rằng chính người Trung Quốc cũng rất quan tâm vấn đề này. Chúng tôi đã thử nêu lên mạng Bách Độ (Baidu) của họ câu hỏi “Vì sao Trung Quốc thống trị Việt Nam hơn 1.000 năm mà Việt Nam không bị đồng hóa?”

Từ hàng triệu kết quả, có thể thấy đa số dân mạng Trung Quốc đều có chung một thắc mắc lớn: Vì sao bị Trung Quốc thống trị lâu thế mà người Việt Nam vẫn không nói tiếng Trung Quốc? Nói cách khác, họ coi đồng hóa ngôn ngữ là tiêu chuẩn đồng hóa quan trọng nhất và đều thừa nhận Trung Quốc đã không đồng hóa nổi Việt Nam. Họ tỏ ra tiếc nuối về sự kiện Việt Nam sau hơn 10 thế kỷ từng là quận huyện của Trung Quốc, từng dùng chữ Hán hàng nghìn năm mà rốt cuộc lại trở thành một quốc gia độc lập, dùng chữ Latin hóa, ngày nay là nước chống lại mạnh nhất chính sách xâm lấn Biển Đông của Bắc Kinh.

Do hiểu biết Việt Nam rất ít, thậm chí hiểu sai, hầu hết dân mạng Trung Quốc không tìm được lời giải thắc mắc trên, kể cả người tỏ ra am hiểu lịch sử nước ta. Họ nêu các lý do:

– Văn hóa Việt Nam có trình độ Hán hóa cao(?), người Việt rất hiểu và không phục Trung Quốc;

– Việt Nam ở quá xa Trung nguyên, khí hậu nóng, quan lại người Hán ngại sang Việt Nam làm việc, đã sang thì chỉ lo làm giàu, không lo đồng hóa dân bản xứ;

– Các nhân vật tinh hoa Trung Quốc như Lưu Hy, Hứa Tĩnh, Hứa Từ, Viên Huy (劉熙、許靖、許慈、袁徽) chạy loạn sang Việt Nam đã giúp nước này có nền văn hóa không kém Trung Quốc;

– Người Hán di cư đến Việt Nam đều bị người bản xứ đồng hóa v.v…

Nói chung họ đều chưa thấy, hay cố ý lờ đi nguyên nhân chính là ở tài trí của người Việt.

Nhưng họ nói người Việt Nam hiểu Trung Quốc là đúng. Do sớm hiểu rõ ý đồ thâm hiểm của phong kiến người Hán muốn đồng hóa dân tộc ta nên tổ tiên ta đã kịp thời đề ra đối sách. Cụ thể là đã tìm ra cách giữ gìn được tiếng nói của dân tộc mình trong quá trình bị bọn thống trị người Hán cưỡng bức học chữ Hán.

Mấy nghìn năm sau, một học giả lớn của dân tộc ta tóm tắt bài học lịch sử này trong một câu nói rất chí lý: “Tiếng ta còn thì nước ta còn!

Sau khi chiếm nước ta (203 tr. CN), Triệu Đà đã ép buộc dân ta học Hán ngữ, nhằm đồng hóa họ bằng ngôn ngữ. Có lẽ đây là thời điểm muộn nhất chữ Hán vào nước ta.[1] Sách “Việt giám Thông khảo Tổng luận” do Lê Tung viết năm 1514 có chép việc họ Triệu mở trường dạy người Việt học chữ Hán.[2] Về sau, tất cả các triều đại người Hán cai trị Việt Nam đều thi hành chính sách đồng hóa. Triều nhà Minh còn tìm cách tiêu diệt nền văn hóa của ta, như tiêu hủy toàn bộ các thư tịch do người Việt viết, bắt nhân tài, thợ giỏi người Việt sang Trung Hoa phục dịch.

Như vậy, dân tộc ta buộc phải chấp nhận học chữ Hán từ rất sớm (trước Triều Tiên, Nhật Bản nhiều thế kỷ). Do hiểu biết người Hán nên tầng lớp tinh hoa người Việt đã nhanh chóng nhận ra nếu cứ học như thế thì cuối cùng tiếng Việt sẽ bị thay bằng tiếng Hán, dân ta sẽ trở thành một bộ phận của Trung Quốc.

Vậy cha ông ta đã dùng cách nào để giữ được tiếng nói của dân tộc trong hơn 1.000 năm bị cưỡng bức học và dùng chữ Hán cũng như phải tiếp thu nhiều yếu tố của nền văn minh Trung Hoa?

Vấn đề này rất cần được làm sáng tỏ để từ đó hiểu được truyền thống quý báu của dân tộc ta. Dưới đây chúng tôi xin mạo muội góp vài ý kiến nông cạn, nếu có sai sót mong quý vị chỉ bảo.

Đọc chữ Hán bằng tiếng Việt: Một sáng tạo xuất sắc của tổ tiên ta

Chữ viết hình vuông là một phát minh lớn của nền văn minh Trung Hoa, được người Hán chính thức sử dụng từ đời nhà Thương (thế kỷ 16 đến 11 tr. CN), ngày nay phổ biến được gọi là chữ Hán.

Thực ra trong hơn 2.000 năm kể từ ngày ra đời, thứ chữ viết ấy chỉ được người Hán gọi là chữ  (tự) hoặc văn tự 文字. Đến đời Đường (thế kỷ VII) cái tên 漢字 (Hán tự, tức chữ Hán) mới xuất hiện lần đầu trong sách Bắc Sử 北史 do Lý Diên Thọ biên soạn.[3] Sau đó người Nhật và người Triều Tiên cũng gọi thứ chữ này là Hán tự: tiếng Nhật đọc Kanji, tiếng Triều Tiên đọc Hantzu. Cho tới nay Bộ Giáo dục Đài Loan vẫn chỉ gọi là Quốc tự 國字.

Vì thứ chữ ấy khi vào Việt Nam còn chưa có tên nên tổ tiên ta bèn đặt cho nó cái tên là chữ Nhovới ý nghĩa là chữ của người có học, bởi lẽ Nho  là từ dùng để gọi những người có học. Dân ta gọi người dạy chữ là thầy đồ Nho, bút và mực họ dùng để viết chữ là bút Nho và mực Nho.[4]

Đây quả là một điều độc đáo, bởi lẽ Hán ngữ xưa nay chưa hề có khái niệm chữ Nho; tất cả từ điển Hán ngữ cổ hoặc hiện đại và các từ điển Hán-Việt đều không có mục từ Nho tự 儒字 với ý nghĩa là tên gọi của chữ Hán.

Có thể suy ra: Việt Nam thời xưa không có chữ viết (hoặc đã có chữ Việt cổ nhưng chưa hoàn thiện, chưa diễn tả được các khái niệm trừu tượng), vì thế khi tiếp xúc với chữ Hán, tầng lớp tinh hoa của tổ tiên ta đã nhận thấy đây là một phương tiện cực kỳ hữu ích dùng để truyền thông tin được xa và lâu, không bị hạn chế về khoảng cách và thời gian như cách truyền thông tin bằng tiếng nói, do đó họ đã sớm nghĩ tới việc mượn thứ chữ này làm chữ viết của dân tộc ta.

Muốn vậy dân ta phải biết chữ Hán, một thứ ngoại ngữ. Làm cho dân chúng học và dùng được một ngoại ngữ là việc hoàn toàn bất khả thi ở thời ấy. Hơn nữa chữ Hán cổ khó đọc (vì không biểu âm), khó viết (vì có nhiều nét và cấu tạo phức tạp), khó nhớ (vì có quá nhiều chữ), thuộc loại chữ khó học nhất trên thế giới.

Nói chung, mỗi chữ viết đều có một âm đọc; không ai có thể xem một văn bản chữ mà không vừa xem vừa đọc âm của mỗi chữ (đọc thầm hoặc đọc thành tiếng). Mỗi chữ Hán đều có một âm tiếng Hán; muốn học chữ Hán tất phải đọc được âm của nó. Viết chữ Hán khó, tuy thế tập nhiều lần sẽ viết được, nhưng do khác biệt về hệ thống ngữ âm, người Việt nói chung khó có thể đọc được các âm tiếng Hán.

Ngoài ra Trung Quốc là một nước rộng lớn, đông dân; cho tới trước nửa cuối thế kỷ 20 cả nước vẫn chưa thống nhất được âm đọc của chữ. Loại chữ này chỉ thể hiện ý nghĩa, không thể hiện âm đọc, cho nên nhìn chữ mà không biết cách đọc. Người dân các vùng xa nhau thường đọc chữ Hán theo âm khác nhau, thậm chí khác xa nhau, vì thế thường không hiểu nhau nói gì. Các thứ tiếng địa phương ấy ta gọi là phương ngữ, người Hán gọi là phương ngôn (方言); Hán ngữ hiện có 7 phương ngữ lớn, nhiều phương ngữ nhỏ (次方言).

Không thống nhất được âm đọc chữ Hán là một tai họa đối với người Hán. Với người nước ngoài học chữ Hán cũng vậy: khi mỗi ông thầy Tàu đọc chữ Hán theo một âm khác nhau thì học trò khó có thể học được thứ chữ này.

Để có thể học được chữ Hán mà không cần đọc âm tiếng Hán, tầng lớp tinh hoa của tổ tiên ta đã sáng tạo ra một giải pháp xuất phát từ ý tưởng: nếu người Hán khác vùng có thể tự đọc chữ Hán theo âm riêng của vùng, thì ta cũng có thể đọc chữ Hán theo âm riêng của người Việt.

Muốn vậy, mỗi chữ Hán được tổ tiên ta quy ước đọc bằng một (hoặc vài, tùy chữ Hán gốc) âm tiếng Việt xác định có gốc là âm chữ Hán — ngày nay gọi là âm Hán-Việt, nghĩa là mỗi chữ Hán đều được đặt cho một (hoặc vài) cái tên tiếng Việt xác định, gọi là từ Hán-Việt.

Thí dụ chữ  được đặt tên là chữ Thủy, âm đọc thủy khác với âm đọc shuẩy của người Hán. Chữ , tiếng Hán đọc sưa, ta đọc sắcThủy và Sắc là từ Hán-Việt, cũng là âm Hán-Việt của .

Âm/từ Hán-Việt được chọn theo nguyên tắc cố gắng bám sát âm Hán ngữ mà tổ tiên ta từng biết.[5] Như chữ , âm Hán và âm Hán-Việt đều đọc chung, tức hệt như nhau; chữ , Hán ngữ đọc hái, ta đọc Hài, gần như nhau. Nhưng hầu hết chữ đều có âm Hán-Việt khác âm Hán. Như 集 âm Hán là chí, ta đọc Tập ;  giú, ta đọc Nho. Có chữ âm Hán như nhau mà âm Hán-Việt có thể như nhau hoặc khác nhau, như  và , âm Hán đều là thúng, từ Hán-Việt đều là Đồng ; nhưng  và , âm Hán đều là xi, lại có hai từ Hán-Việt khác nhau là Hệ và Tế. Chữ Hán có hai hoặc nhiều âm thì có thể có một, hai hoặc nhiều âm/từ Hán-Việt, như  có hai âm Hán là tâu và tu, lại chỉ có một âm/từ Hán-Việt là Đô ;  có hai âm Hán shảo và shao, cũng có hai âm/từ Hán-Việt là Thiểu (trong thiểu số) và Thiếu (trong thiếu niên).

Thứ chữ Hán đọc bằng âm Hán-Việt này được dân ta gọi là chữ Nho. Vì đọc chữ bằng tiếng mẹ đẻ nên chữ Nho trở nên dễ học đối với người Việt: chỉ cần học mặt chữ, nghĩa chữ và cách viết văn chữ Hán mà không cần học phát âm cũng như học nghe/nói tiếng Hán. Vì thế thời xưa ở nông thôn nước ta không hiếm người 6-7 tuổi đã biết chữ Nho.[6] Nguyễn Trung Ngạn (1289-1370) 12 tuổi đỗ Cử nhân, 16 tuổi đỗ Hoàng giáp (Tiến sĩ). Người không biết chữ cũng có thể học truyền miệng các tác phẩm ngắn có vần điệu, như Tam Thiên Tự.[7]

Người biết chữ Nho có thể xem hiểu các thư tịch chữ Hán, viết văn chữ Hán; tuy không nói/nghe được tiếng Hán nhưng vẫn có thể dùng bút đàm để giao tiếp bình thường với người Hán. Chỉ bằng bút đàm chữ Nho, Phan Bội Châu giao tiếp được với các nhà cải cách Trung Quốc và Nhật Bản, đưa được mấy trăm thanh niên Việt Nam sang Nhật học quân sự chính trị, chuẩn bị về nước đánh đuổi thực dân Pháp.

Cần nhấn mạnh: vì âm/từ Hán-Việt không thể ghi âm hầu hết từ ngữ tiếng Việt cho nên cách đọc chữ Hán theo âm Việt hoàn toàn không thể biến tiếng Việt thành một phương ngữ của Hán ngữ,[8] và dân ta vẫn hoàn toàn nói và nghe bằng tiếng mẹ đẻ.

Chữ Nho chỉ dùng để viết mà thôi, và chỉ được giới tinh hoa (trí thức và quan lại người Việt) dùng trong giao dịch hành chính, ngoại giao, lễ tiết, chép sử, giáo dục, thi cử, sáng tác văn thơ. Còn ở Trung Quốc, những người nói một trong các phương ngữ tiếng Hán đều có thể dùng chữ Hán để ghi âm được toàn bộ tiếng nói của phương ngữ ấy, nghĩa là họ có thể dùng chữ Hán để ghi âm tiếng mẹ đẻ.

Dĩ nhiên cách đọc tiếng Việt chỉ có thể làm với chữ Hán, là loại chữ biểu ý (ghi ý), chứ không thể làm với chữ biểu âm (ghi âm). Ngày nay âm/từ Hán-Việt của mỗi chữ Hán có thể dễ dàng viết ra bằng chữ Quốc ngữ (một loại chữ ghi âm), nhưng ngày xưa, khi chưa có bất kỳ loại ký hiệu nào ghi âm tiếng nói, tổ tiên ta chỉ có thể truyền khẩu. Thế mà lạ thay, việc dạy chữ Nho đã được mở rộng, ở thời Nguyễn là đến tận làng, có thể suy ra tỷ lệ người biết chữ Hán của dân ta cao hơn Trung Quốc!

Chỉ bằng cách truyền miệng mà người Việt thời xưa đã tạo ra được một bộ từ Hán-Việt tương ứng với bộ chữ Hán khổng lồ — bộ chữ này trong Tự điển Khang Hy (1716) có hơn 47 nghìn chữ; Tiêu chuẩn Nhà nước Trung Quốc GB18030 (2005) có 70.217 chữ; Trung Hoa Tự hải có 85.568 chữ Hán.

Quá trình tiến hành Việt Nam hóa phần ngữ âm của chữ Hán kéo dài trong hàng nghìn năm, là một thành tựu văn hóa vĩ đại. Có thể phỏng đoán đó là một quá trình mở, do nhiều thế hệ người Việt thực hiện, thể hiện sức sáng tạo bất tận của tổ tiên ta.

Nhật và Triều Tiên cũng mượn dùng chữ Hán, nhưng họ tự đến Trung Hoa nghiên cứu đem chữ Hán về dùng chứ không bị ép dùng từ sớm như ta. Họ cũng đọc chữ Hán theo âm bản ngữ của dân tộc mình — giải pháp do người Việt nghĩ ra và thực hiện trước họ nhiều thế kỷ.

Nhà ngôn ngữ học nổi tiếng Nguyễn Tài Cẩn nói: “Cách đọc Hán Việt là một tài sản của riêng dân tộc ta. Có dùng nó khi đọc Đạo đức kinh, Kinh Thi, Sở từ… thì mới phù hợp với thói quen dân tộc, tiện lợi cho dân tộc. Theo ý chúng tôi, dùng cách đọc Hán Việt ở những trường hợp này là một điều hết sức phù hợp với khoa học. Đọc theo lối Hán Việt thì dễ hiểu hơn, bởi lẽ ngay trong tiếng Việt đã có khá nhiều tiếng Hán Việt quen thuộc, chỉ đọc lên, nghe được, là hiểu được; đọc theo lối Hán Việt thì cũng thuận tai hơn… ”.[9]

Đúng thế. Thí dụ từ 社會, người Anh biết Hán ngữ đọc shưa huây, người Anh không biết Hán ngữ khi nghe âm đọc ấy sẽ chẳng hiểu gì; còn người Việt biết Hán ngữ đọc “xã hội”, người Việt không biết Hán ngữ nghe đọc sẽ hiểu ngay nghĩa của từ; âm “xã hội” thuận tai, dễ đọc dễ nhớ hơn âm shưa huây. Rõ ràng cách đọc Hán-Việt thật tiện lợi cho người Việt. Trong bài sau, chúng tôi sẽ nói thêm về vấn đề này.

Ngày nay mỗi chữ Hán trong tất cả các từ điển Hán-Việt đều phải ghi kèm từ Hán-Việt tương ứng. Hán-Việt Tự điển của Thiều Chửu có kèm Bảng tra chữ theo âm Hán-Việt, dùng tra chữ Hán rất tiện và nhanh hơn tra theo bộ thủ. Người có sáng kiến làm Bảng này là bà Nguyễn Thị Quy (1915-1992), em ruột Thiều Chửu, khi bà lần đầu xuất bản Tự điển nói trên tại Sài Gòn năm 1966.[10]

Như vậy, bằng cách đọc chữ Hán theo âm tiếng Việt, tổ tiên ta đã thành công trong việc mượn chữ Hán để dùng làm chữ viết chính thức của dân tộc mình và gọi nó là chữ Nho. Sự vay mượn này chẳng những không làm cho tiếng Việt bị biến mất mà còn làm cho nó phong phú hơn rất nhiều, trở thành một ngôn ngữ cực kỳ linh hoạt, có thể tiếp nhận và Việt hóa hầu như toàn bộ từ ngữ mới xuất hiện trong tiến trình phát triển của loài người toàn cầu.

Chữ Nho khác chữ Hán ở phần ngữ âm: nó là chữ Hán được đọc bằng âm tiếng Việt chứ không đọc bằng âm tiếng Hán như chữ người Hán dùng. Nói cách khác, chữ Nho là chữ Hán đã được Việt Nam hóa phần ngữ âm; còn về tự dạng và nghĩa chữ thì cơ bản như chữ Hán của người Hán. Vì thế có người gọi chữ Nho  chữ Hán-Việt.

Rõ ràng nó là chữ của người Việt Nam, đã Việt Nam hóa phần ngữ âm, không thể coi là chữ của người Hán. Chữ Nho là chữ viết chính thức của dân tộc ta trong hơn 2.000 năm, kể từ thời điểm muộn nhất là bắt đầu thời Bắc thuộc cho tới khi được thay thế bằng chữ Quốc ngữ cực kỳ ưu việt, được chính các nhà Nho tiên tiến tán thưởng và đi tiên phong ủng hộ sự phổ cập Quốc ngữ.

Cách đọc chữ Hán bằng âm/từ Hán-Việt đã đáp ứng nhu cầu giao tiếp bằng bút đàm giữa quan lại cấp thấp người Việt với quan lại cấp cao người Hán, khiến cho bọn thống trị người Hán vẫn thực thi được quyền lực cai trị dân bản xứ. Hơn nữa, cách đó làm cho việc phổ cập chữ Hán trong người Việt trở nên dễ dàng, tức đáp ứng yêu cầu dạy chữ Hán của các vương triều người Hán. Vì vậy chúng không còn lý do cưỡng chế dân ta phải học nghe/nói tiếng Trung Quốc.

Cách đọc chữ Hán như trên đã có tác dụng không ngờ là làm cho người Hán dù có cai trị Việt Nam bao lâu thì cũng không thể tiêu diệt nổi tiếng Việt và Hán hóa được dân tộc ta. Có thể là khi bắt đầu sáng tạo cách đọc ấy, tổ tiên ta chưa nghĩ tới điều đó, nhưng rốt cuộc sáng tạo xuất sắc này đã giúp dân tộc ta tránh được nguy cơ bị người Hán đồng hóa. Đây là một thành công vĩ đại!

Đáng tiếc là hiện không thấy có thư tịch nào ghi chép ai nghĩ ra và thời điểm nào xuất hiện cách đọc chữ Hán bằng âm/từ Hán-Việt. Có thể cho rằng sáng kiến đó ra đời khi chữ Hán bắt đầu vào nước ta, tức muộn nhất là khoảng thế kỷ 2 – 1 tr.CN.

Có ý kiến cho rằng cách đọc Hán-Việt bắt nguồn từ hệ thống ngữ âm tiếng Hán đời Đường, cụ thể là Đường âm dạy ở Giao Châu vào khoảng hai thế kỷ 8, 9.

Nếu hiểu ý kiến này theo nghĩa đến đời Đường mới xuất hiện cách đọc Hán-Việt thì e rằng khó có thể giải đáp câu hỏi: vậy thì trong thời gian khoảng ngót 1000 năm trước đó người Việt đọc chữ Hán bằng cách nào? Đến đời Đường, người Hán đã thống trị Việt Nam được hơn 9 thế kỷ, quá thừa thời gian để họ hoàn toàn đồng hóa người Việt bằng văn hóa, ngôn ngữ, khi ấy tiếng Việt đã bị biến mất, sao còn có thể xuất hiện cách đọc Hán-Việt?

Phải chăng nên hiểu ý kiến trên theo nghĩa: đến thời Đường, cách đọc Hán-Việt được hoàn thiện nhờ học tập Đường âm dạy ở Giao Châu vào khoảng thế kỷ 8 – 9.

***

Có thể kết luận: dân tộc Việt Nam tồn tại được và không bị đồng hóa sau hơn 1.000 năm chịu sự thống trị của một quốc gia liền kề có nền văn hóa lớn mạnh là nhờ đã phát huy bản lĩnh trí tuệ của mình, thể hiện ở chỗ sáng tạo được biện pháp đọc chữ Hán bằng tiếng Việt, qua đó đã vô hiệu hóa chủ trương đồng hóa ngôn ngữ của các triều đại phong kiến Trung Hoa.

Có những người Hán đã nhận ra bản lĩnh trí tuệ ấy của người Việt.

Năm 987, nhà Tống cử Lý Giác李覺 đi sứ sang Hoa Lư, Việt Nam, được hai vị Quốc sư Khuông Việt và Pháp Thuận đón tiếp, đàm phán các vấn đề quốc gia đại sự và họa thơ. Khi về nước, Lý Giác tặng vua Lê Đại Hành một bài thơ, trong có câu: “Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu 天外有天應遠照”, nghĩa là: “Ngoài trời này còn có trời khác, nên nhìn thấy”. Nói cách khác, thế giới này đâu phải chỉ có một mặt trời Trung Hoa mà còn có mặt trời Việt Nam!

Câu thơ cho thấy Lý Giác đã bước đầu nhận ra bản lĩnh trí tuệ của người Việt. Đúng thế, tổ tiên ta thật vô cùng tài giỏi, nếu không thì còn đâu giang sơn tươi đẹp này!

Nguyễn Hải Hoành là dịch giả và nhà nghiên cứu tự do hiện sống tại Hà Nội.

—————————

[1] Nói là “muộn nhất” vì còn có các quan điểm như: chữ Hán vào VN qua con đường giao thương hoặc truyền bá tôn giáo từ lâu trước khi nước ta bị Triệu Đà chiếm; VN đã có chữ viết từ đời Hùng Vương (Hoàng Hải Vân: Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động).

[2]宋代中越文学交流述 có câu 黎嵩越鑑通考總論 viết : 趙佗建立學校,導之經義。由此已降,四百余年,頗有似類” .

[3] Bài 汉字名称的来由 (http://blog.sina.com.cn) và một số bài khác có viết: Từ  Hán tự  漢字 xuất hiện sớm trong Bắc sử, quyển 9 [biên soạn xong năm 659]. 汉字一词早出自《北史》卷九本纪第九, “章宗一十八年,封金源郡王.习本朝语言小字汉字经书,进士完颜匡、司经徐孝美等侍读”. Từ Hán tự xuất hiện nhiều trong sách Kim sử 金史 (năm 1345) đời Nguyên. Ở đời nhà Thanh (1644-1911), thời kỳ đầu do chữ viết chính thức của chính quyền không phải là chữ Hán mà là chữ Mãn (满文) nên phải dùng tên gọi chữ Hán 漢字 để chỉ loại văn tự truyền thống của người Hán, nhằm phân biệt với chữ Mãn.

[4] Có ý kiến nói do thời bấy giờ thứ chữ đó được dùng để dạy dân ta học Nho giáo 儒教 nên dân ta gọi nó là chữ Nho. Nhưng Nho với nghĩa “người có học” xuất hiện trước rất lâu, sau đó mới dùng chữ ấy vào từ Nho giáo để gọi học thuyết của Khổng Tử. Cùng lý do ấy, chữ Khổng có trước khi Khổng Tử ra đời.

[5] Khó có thể biết đó là âm tiếng địa phương nào ở TQ. Trong đó có những âm tiếng Quảng Đông, như nhất, nhì, shập, học chập khi đọc các chữ  一,二,十,學習 (âm Hán-Việt đọc nhất, nhị, thập, học tập).

[6] Thí dụ Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947) 8 tuổi học chữ Nho, 13 tuổi văn hay chữ tốt, 24 tuổi đậu Giải Nguyên, 28 tuổi đậu Đệ tam giáp Tiến sĩ. Phan Bội Châu (1867-1940) 6 tuổi học ba ngày đã thuộc lòng 1440 chữ Nho trong Tam Tự Kinh. Trần Gia Minh tác giả sách Huyền thoại Kim thiếp Vũ Môn 5-6 tuổi đã học chữ Nho truyền khẩu từ người ông mù lòa.

[7] Do nhà Nho Đoàn Trung Còn sáng tác, là một bài vè dài, mỗi câu hai âm, đọc lên có vần điệu dễ nhớ.

[8] Năm 1867, G. Aubaret trong cuốn Grammaire annamite từng sai lầm nhận định: “Tiếng bình dân nói trong vương quốc An Nam là một phương ngữ của tiếng Trung Quốc” (trích dẫn theo Phạm Thị Kiều Ly trong “Ghi âm tiếng Việt bằng chữ Quốc ngữ”, sách “Tiếng Việt 6”, Nxb Tri Thức, 2015).

[9] Nguyễn Tài Cẩn : Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt.

[10] Dẫn theo Lê Quốc Trinh, con trai bà Quy và là người trực tiếp tham gia làm Bảng tra này.

Làm Báo – Sổ tay thường dân – Tưởng Năng Tiến

Làm Báo

Tưởng gì chớ làm báo, và viết báo thì tôi rành rẽ (lắm) ngay từ lúc thiếu thời. Toàn là những chuyện không vui, hay những kinh nghiệm rất buồn.

Bài viết đầu tiên của tôi xuất hiện ở tạp chí Phổ Thông năm 1967. Dù có ghi rõ ngay ở trang đầu “lấy nhuận bút” nhưng tôi không nhận được đồng xu cắc bạc nào ráo trọi, báo biếu hay thư cảm ơn (suông) cũng khỏi có luôn.

Đúng là một “cái tát” đầu đời, dành cho một mầm non văn nghệ, ở tuổi 15! Từ đó – thỉnh thoảng – tôi lại nhận được thêm vài “cái tát” nữa của quí vị chủ nhiệm/chủ bút, hay … chủ chợ!

Suốt những năm của thập niên 1980, khi vừa mới chân ướt chân ráo đến California, tôi cùng vài người bạn hì hục làm báo và nhà xuất bản Nhân Văn. Độc giả dài hạn không nhiều, khoảng năm bẩy trăm thôi, tiền mua báo chỉ vừa đủ chi trả cho ấn phí và bưu phí.

Chúng tôi cũng kiếm thêm được chút đỉnh nhờ vào quảng cáo, và sách báo bán ngay tại địa phương. Còn số gửi đi những thành phố khác, và tiểu bang xa thì kể như mất trắng. Hiếm có ông bà chủ tiệm, hay chủ chợ, nào sòng phẳng lắm.

Tôi viết báo bị chạy tiền (liền liền) và làm báo bị giật tiền (liên miên) nên nói chuyện sách báo không khỏi cảm thấy đôi chút ngại ngần hay cay đắng.

Tâm cảm buồn phiền này chỉ mới hoàn toàn biến mất trong những ngày qua, sau khi tôi tình cờ được biết qua về tờ báo Hợp Đoàn, phát hành từ Trại Trừng Giới A20 – ở Phú Yên.

Sao lại làm báo trong tù, và cách nào hả Trời?

Một trong những nhân vật chính trong cuộc, A-20 Nguyễn Chí Thiệp (tác giả Trại Kiên Giam – nxb Sông Thu 1992) cho hay :

Trao đổi ý kiến với Trần Danh San và Vũ Văn Ánh, chúng tôi đồng ý với nhau cần phổ biến rộng rãi hơn những hiểu biết ít ỏi về chế độ Cộng sản, về những vấn đề trọng đại của thế giới, để cùng nhau có những cái nhìn xa hơn và sẵn sàng chấp nhận một thời gian tù đày lâu dài, có một niềm tin là chế độ Cộng sản sẽ sụp đổ…

Đúng như tên Hợp Đoàn do anh Vũ Văn Ánh đặt cho tờ báo, Hợp Đoàn thể hiện được phần nào sự đoàn kết, nó không thuộc tổ chức chính trị nào. Ánh, tôi và các em sĩ quan trẻ như Nhì, Ngọc, Cường, Hải… và hai em sinh viên Vũ Văn Dũng và Nguyễn Thanh Nhàn trên lập trường Quốc gia chống Cộng sản.

Không ai tham gia một tổ chức chính trị nào, chỉ có anh Trần Danh San, Chủ tịch Ủy Ban Nhân Quyền, đảng viên Duy Dân, những bài viết của anh trên lập trường chính trị đó, Ánh và tôi đồng ý là tờ Hợp Đoàn sẽ đăng tất cả các bài vở của tất cả các quan điểm chính trị Quốc gia nếu họ đóng góp, dĩ nhiên là trên lập trường chống Cộng.

A-20 Phạm Đức Nhì cho biết thêm :

Đó là một quyển vở học trò khoảng 60, 70 trang bị cắt ngang mất non nửa; giấy trắng tinh, bóng láng, được khâu lại cẩn thận. Trang bìa là 2 chữ Hợp Đoàn khổ lớn, được trình bày rất khéo và đẹp. Lật qua vài tờ thì thấy tờ báo được viết tay, chữ đẹp và rõ ràng, dễ đọc, trình bày trang nhã, bắt mắt

Nội dung các bài viết đều là những vấn đề thời sự nóng bỏng hấp dẫn ở trong trại và ngoài đời. Tôi đọc ngấu nghiến một lúc là hết. Hết mà vẫn thòm thèm, cứ tiếc là tờ báo không dầy thêm vài chục trang nữa. Có thể nói giọng văn truyền cảm và các đề tài thiết thực của tờ báo đã chinh phục tôi hoàn toàn…

Cứ thế, trong khoảng hơn 5 tháng, Vũ Ánh đã cho ra lò 3 số Hợp Đoàn; số sau đẹp hơn, hay hơn số trước. Khi phong trào chống đối ở trong trại lên cao; những người tù đã đồng lòng chây lười (một cách hợp nội quy) khi đi lao động; khi họp hành, học tập thì miệng câm như hến; khi cần phát biểu thì chỉ trích chế độ ăn uống quá thiếu thốn, lao động quá nặng nhọc mà chế độ thăm nuôi, quà cáp quá khắt khe. Đúng lúc ấy, một số người tù bị coi là ‘nguy hiểm’ lần lượt đi vào xà lim mà không có lý do gì hết. Vũ văn Ánh là người đầu tiên trong số họ xỏ chân vào cùm. Tờ Hợp Đoàn mất Sáng Lập Viên kiêm Chủ Bút, kiêm Tổng Thư Ký Tòa Soạn tạm thời đình bản…

Sau đó, do độc giả yêu cầu tha thiết quá, anh San, anh Thiệp, Ngọc Đen, Hải Bầu, Vũ Mạnh Dũng đề nghị tôi làm Thư Ký Tòa Soạn. Nhiệm vụ của tôi là đọc, sửa chữa, sắp xếp bài vở rồi giao cho Hải Bầu lên khuôn. Tôi biết kiến thức, khả năng của mình còn chưa tương xứng với công việc có trách nhiệm lớn lao như vậy, nhưng lúc đó tôi bị liệt hai chân, không phải đi lao động nên có điều kiện thuận lợi hơn các anh em khác. Thêm nữa, cái máu liều của thằng lính nhảy dù trong tôi vẫn còn nóng hổi nên tôi đã không từ chối. Hợp Đoàn tiếp tục một cách an toàn được 2 số nữa.

Cái giá phải trả cho năm số báo Hợp Đoàn – tất nhiên – không rẻ. Lần lượt từ ban biên tập, cộng tác viên phát hành (và cả độc giả nữa) đều bị vô cùm hết ráo. Kẻ vài ba tháng, người sáu bẩy năm.

A-20 Nguyễn Thanh Khiết cảm thán : 

Sáu năm biệt giam
ba muỗng nước, ba muỗng cơm
chưa lần lung lay ý chí
một đời anh – một đời sĩ khí
bước thấp, bước cao cắn nhục mà đi
ngọn bút hiên ngang
thay làn tên mũi đạn
giữa trại thù nét mực chưa phai

Thế đâu đã thôi!

Làm báo chui trong một xã hội theo chế độ toàn trị đã là một chuyện động trời rồi, nói chi đến việc phát hành một thứ underground press giữa một trại tù được mệnh danh là Thung Lũng Tử Thần :

Tôi không biết có phải do ảnh hưởng của việc Hà Nội thỏa thuận chương trình Tìm Kiếm Người Mỹ Mất Tích hay Chương trình nhân đạo đưa những cựu tù nhân cải tạo đi tái định cư ở Hoa Kỳ hay không mà một số anh em chúng tôi được chuyển về một trại gần Saigon hơn, đó là trại Z-30A Xuân Lộc thuộc tỉnh Long Khánh, một trại mà cuộc sống của tù nhân cải tạo tương đối thoải mái hơn so với A-20… nhóm chúng tôi gồm T.D.S, N.C.T và Ng. “đen” lại bị di lý về nhà tù số 4 Phan Ðăng Lưu trước cửa chợ Bà Chiểu năm 1986 để ra tòa vì công an Saigon đã nắm được bằng chứng chúng tôi bí mật cho ra tờ Hợp Ðoàn ở A-20.

Nhưng khi hỏi cung xong và có bản cáo trạng đòi án chung thân đối với 4 người chúng tôi và theo kế hoạch nhà cầm quyền dự tính đưa ra xử trước tòa ngay sau vụ xử nhà văn Doãn Quốc Sỹ và Dương Hùng Cường, nhưng vào giờ chót Viện Kiểm Sát lại quyết định không truy tố nữa … (Vũ Ánh. Thung Lũng Tử Thần. Người Việt Books: 2014).

Cái quyết định bất ngờ này, theo thiển ý, chả phải vì “chương trình nhân đạo” nào cả mà chỉ vì nhà đương cuộc Hà Nội (“vào giờ chót”) bỗng chợt nhận thức được rằng khoác thêm cái bản án chung thân cho những con người đã trải qua gần hết đời mình trong những trại biệt giam (mà không hề nao núng) chả phải là chuyện khôn ngoan.

Thêm một phiên tòa dành cho tờ Hợp Đoàn chỉ giúp cho công luận thấy được rõ hơn sự tàn bạo của chế độ hiện hành, cùng tính chất bất khuất và can trường của những kẻ thuộc bên thua cuộc mà thôi.

Chỉ có điều đáng tiếc là cái tinh thần Hợp Đoàn đã không “nở hoa” nơi vùng đất tự do, theo như lời “phàn nàn” của chính người chủ xướng, nhà báo Vũ Ánh :

Sống trong một cộng đồng mà lúc nào cũng nghe những lời kêu gọi đoàn kết để chống Cộng nhưng ngược lại lúc nào cũng chỉ nghe thấy, đọc thấy những tranh cãi về một chuyện rất nhỏ nhặt chẳng hạn như con số người đến tham dự một buổi sinh hoạt nào đó, tổ chức này không ngồi chung hay đứng chung với tổ chức kia, không những thế lại còn ngáng chân nhau, chỉ trích nhau thậm tệ, liệu có ai là không thấy ngượng không ?

Thế mới biết tự do cũng giống y như thời giờ và tiền bạc vậy, hễ cứ có thừa là thế nào cũng bị lạm dụng hay phung phí. Cái gì hiếm thì mới quí!

Tưởng Năng Tiến
2/2022

NHÂN TÂM

Lương Văn Can

NHÂN TÂM

Tôi nhớ hồi còn nhỏ, có lần một người đàn ông ghé vào nhà tôi xin tiền. Ông nói ở quê lên đây chữa bệnh, giờ đã mất hết tiền rồi, không còn tiền về quê nên ông phải đi xin. Mẹ tôi đưa cho ông số tiền ít ỏi bà có và hỏi ông ăn cơm chưa rồi bảo tôi xới cho ông bát cơm nguội với mắm. Bà lấy cho ông cái áo của anh tôi cho ông ấy mặc…

Ông ăn xong, cầm cái áo và tiền cứ vừa đi thụt lùi ra cổng vừa chắp tay chấp bái vừa nói:

– “Tôi đội ơn cô, cầu Trời Phật ban phước cho nhà mình….!”*

Với một đứa trẻ ở quê, đó là một câu chuyện lạ, tôi tò mò níu áo Mẹ,

– “Mẹ, ông ấy quê ở đâu…? Ông ấy bị bệnh gì…? Ông ấy đi xin được nhiều tiền không…?”

Mẹ mỉm cười:

– “Mẹ không hỏi.”

– “Tại sao Mẹ không hỏi…?”

– “Ừ, người ta xa quê, rơi vào cảnh khốn cùng thì hỏi về quê hương là đụng vào nỗi đau của họ. Người thành đạt rất tự hào khi nói về quê hương nơi chôn nhau cắt rốn, người sa cơ thì xấu hổ khi nói về quê của mình. Mình cho người ta có một chút mà mình lại chạm vào nỗi đau, nỗi xấu hổ của người ta thì không phải, không đúng. Làm vậy là ác tâm…!”

Tôi lại băn khoăn:

– “Ông ấy sắp chết hả Mẹ…?” Ông ấy có xin đủ tiền về quê không…?”

Mẹ nhìn xa xăm…

– “Ừ, phần lớn con người dù có thế nào thì vẫn muốn khi mất, được chôn trên mảnh đất nơi mình sinh ra, nơi chôn nhao cắt rốn… Cái đó gọi là tình yêu quê hương….! À, lúc nãy con đưa cho chú ấy bát cơm bằng một tay rồi chạy biến đi không mời là sai đấy nhé…!”

Tôi xấu hổ dụi mặt vào ngực Mẹ. Bà nghiêm khắc:

– “Tại sao con được dạy đưa đồ cho người lớn phải đưa bằng hai tay mà hôm nay con lại chỉ đưa bát cơm bằng một tay cho chú…? Chú ấy đi xin, nhưng không có nghĩa là con được phép đưa đồ cho chú bằng một tay…

Làm vậy người ta sẽ nghĩ Mẹ không biết dạy con tôn trọng lễ phép với người lớn tuổi. Hôm nay, người ta phải đi xin hay sắp chết thì con người vẫn luôn có phẩm giá của họ. Con không được khinh khi người ta vì biết đâu sau này mình sẽ như họ…!”

Tôi càng xấu hổ và rúc sâu hơn vào lòng Mẹ vì biết mình sai…

Ngày bé, những bài học Mẹ dạy cứ nhẹ nhàng như vậy nhưng nó đi vào đầu tôi và ở đó, không thể quên. Những bài học đã hình thành nên tính cách, con người của tôi hiện tại. Khi lớn, tôi mới hiểu hết những lời dặn và sự tinh tế trong cách cư xử, trong các bài học của Mẹ. Nó cũng làm cho tôi nhận biết người có nhân tâm hay ác tâm, tinh tế hay hời hợt qua hành vi, lời nói, cách ứng xử, hành động, hành vi của họ chứ không phải nhân danh việc của họ làm.

Khi chịu khó để ý, suy nghĩ để nhận ra đâu là hành động xuất phát từ nhân tâm, đâu là từ nhân danh nhân tâm, ta sẽ thấy có rất nhiều việc làm nhân danh nhân tâm nhưng thật ra nó lại phục vụ cho một mưu toan, mục đích khác…

Đôi khi chúng ta để cho bản thân bị đánh lừa và khi số đông bị lừa thì nó sẽ là tai hoạ cho xã hội, cho cả dân tộc…

Tôi khát khao, khi đất nước tự do, các bài học trong môn văn học và giáo dục công dân là những bài học đơn sơ như thế, để con người có thể phân định rõ các giá trị và trả nó về đúng giá trị của nó, dần loại bỏ các hành động nhân danh để xã hội là một xã hội trung thực và nhân văn đúng nghĩa…!

– Kim Oanh Phung –

DU HỌC SINH: “ĐI ĐI, ĐỪNG VỀ!”

Luật Sư Nguyễn Văn Đài và Bạn Bè

Thuận Đinh  

Đến con cháu của thg hồ, thg giáp…mà còn chẳng thèm về, thì đủ hiểu rồi hén.

Báo Tin Tức Việt Đức

 DU HỌC SINH: “ĐI ĐI, ĐỪNG VỀ!”

Đây là những tâm sự thật của một bạn du học sinh Mỹ vừa về Việt Nam trong đợt hè 2018. Tôi quyết định giấu tên người chia sẻ câu chuyện này.

Góc nhìn Việt Nam: ‘Đi Mỹ được rồi, về làm gì?

Tôi năm nay 21 tuổi, đang du học tại Mỹ. Kết thúc 4 năm Đại học, tôi muốn về Việt Nam. Nhưng ai cũng ngăn cản: ‘Đi đi, đừng về!’

Bố mẹ tôi làm trong ngành y. Hai người bắt đầu nói về chuyện du học và định cư tại Mỹ khi tôi mới học 11. Mẹ thường hay kể công việc hằng ngày tại bệnh viện, để tôi hiểu lời hối thúc ‘đừng về Việt Nam’ bắt nguồn từ 20 năm sống trong bức xúc của mẹ: ‘Bệnh viện của mẹ có một bác giám đốc lên chức từ những năm 80. Kể từ đó, bác đã cho không biết bao nhiêu họ hàng từ Bắc, Trung vào làm hộ lý, điều dưỡng, kỹ thuật viên,…

Với ‘quyền lực mềm’ của giám đốc, bác chỉ nói một tiếng, có anh trưởng khoa nào không dám nhận người? Toàn con ông cháu cha. Còn những sinh viên chính quy, nắm tấm bằng Đại học, phải trầy trật khổ sở để được bước chân vào cổng viện. Không chỉ ở đây, mà bất cứ nơi đâu tại Việt Nam này cũng có ‘quyền lực mềm’ giống thế hoặc hơn thế. Nhiễu nhương lắm. Hách dịch lắm. Về làm gì hả con?’

Khi không thuyết phục được tôi, ba mẹ viện đến dì. Dì bảo: ‘Dì hiểu là con muốn về Việt Nam để cống hiến. Nhưng, ở nơi này, tài năng của con không có cơ hội phát triển. Tìm cách định cư đi. Khi đã có kinh tế, con muốn làm gì cho quê hương mà chẳng được!’ Không chỉ bố mẹ, dì, mà các bác đang sống ở Mỹ đều đồng ý với quan điểm ấy.

Lăng kính Mỹ: ‘Lý do nào để quay về quê hương?’

Trong vòng tròn bạn bè của tôi, chỉ ra ai không muốn về Việt Nam thì rất dễ. Còn tìm người quyết tâm trở lại thì thật khó khăn. Nhiều bạn lưỡng lự, không ai dám chắc chắn hai chữ: ‘Sẽ về!’

Tôi có một cô bạn thân đang học ngành Công nghệ thực phẩm. Cô bảo: ‘Ngành mình học, về nước không xài được. Còn đường ở Canada thì rộng mở. Mình không muốn trở về để chật vật kiếm một chỗ làm sau 4 năm vất vả!’ Một người bạn khác chia sẻ: ‘Từ lúc quyết tâm theo đuổi sự nghiệp sản xuất âm nhạc, mình đã biết.

Tại Việt Nam, mình sẽ không làm được.’ Một chị theo học kinh tế thì bảo: ‘Đơn giản chị không muốn!’ Chị đang đi thực tập rất nhiều nơi, kiếm tìm một chỗ tài trợ visa cho mình. Anh bạn học kỹ sư hóa, vừa apply thạc sĩ thành công nói với tôi: “Anh thích nghiên cứu khoa học, Việt Nam sao có đất cho anh?

Về ư? Anh không thể.” Những thằng Mỹ thì hỏi thẳng vào mặt tôi: ‘Tụi mày từ Việt Nam đến đây học, thụ hưởng văn hóa của tụi tao, thụ hưởng cả những đồng tiền bố mẹ tao còng lưng đóng thuế. Học xong mày phủi tay quay về nước, thế thì có công bằng với tụi tao hay không?’

Giữa dòng ý kiến ‘Đi đi, đừng về!’ dữ dằn như thác lũ đẩy tôi lùi lại, tôi nhìn về quê hương, cố gắng tìm một lý do cho mình quay lại. Nhưng tìm hoài mà không thấy.

Chưa bao giờ sách giáo khoa nói về những cái cúi đầu của chúng tôi trên đất Mỹ, vì nỗi tự ti quê hương thua kém hơn, mà chỉ bảo: ‘Nước ta rừng vàng biển bạc.’ Chưa bao giờ chúng tôi được dạy về ‘trách nhiệm công dân’.

Chúng tôi chỉ học ganh đua điểm số, chứ không học cách cùng nắm tay nhau mà đi xây dựng đất nước. Chưa bao giờ bố mẹ nói tôi phải có trách nhiệm với Việt Nam, mà chỉ nói: ‘Đừng về để dẫm vào đường cụt. Trên mảnh đất này, người tài không có cơ hội. Vì tương lai của con, hãy đi đi!” Việt Nam ơi, người có cho tôi một lý do để trở về?’

________________

Tâm sự của một du học sinh Mỹ trong dịp hè về thăm Việt Nam

Đỗ Thanh Lam

Bàn cờ thế cuộc

Bàn cờ thế cuộc

Bởi  AdminTD

 Tạ Duy Anh

5-2-2022

Từ năm 1957, trong cuốn “Chính đề Việt Nam”, của Tùng Phong (nghe nói là bút danh của ông Ngô Đình Nhu) tác giả đã đưa ra tiên đoán trước sau nước Nga cũng sẽ quay lại châu Âu, như trở về đại gia đình văn hóa của mình.

Năm 1991, điều này đã xảy ra.

Nhưng 30 năm sau dưới thời Pu-tin, nước Nga lại phải tìm đến Trung Quốc, kẻ thù lịch sử của mình, bằng thái độ nhún nhường, cầu cạnh của kẻ dưới. Thực sự thì Nga đang dung dưỡng một con hổ luôn đói mồi ngay trong nhà. Giới tinh hoa của nước Nga sẽ khó mà nuốt trôi viên thuốc đắng này.

Vì đâu nên nỗi?

Hẳn Pu-tin, một cáo già chính trị, biết rất rõ câu trả lời.

Nếu ông đã đọc cuốn “Sự trả thù của địa lý”, chắc cũng sẽ đồng ý với kiến giải của tác giả vì sao tổ tiên của ông cứ phải mở rộng lãnh thổ ra đến mênh mông như vậy?

Tuyên bố chung Nga-Trung, nghe thì hùng hồn, hùng hồn từ cái đầu đề, nhưng vẫn không che đậy được sự sáo rỗng, đầy tính tạm bợ, cảnh giác nhau của hai con sói. Cảnh giác nhất là không để mày kéo tao đối đầu với Mỹ! Quân sự thì chả ai thua ai, nhưng chỉ kẻ nào dại dột mới chối bỏ miếng bánh Chúa ban cho riêng Hoa Kỳ!

Ngày mai nếu Nga tiến quân vào Kiev và bị lãnh hậu quả, Trung Quốc sẽ cười thầm theo kiểu ngư ông đắc lợi. Tình huống khác, nếu Trung Quốc huy động một triệu quân vượt eo biển Đài Loan, đối đầu với liên minh Mỹ-Nhật, Nga sẽ chờ xem thằng nào chết chìm để nâng cốc!

Bỗng nhớ Nguyễn Trần Bạt, khi ông bảo rằng, trên thế giới chỉ có vài kẻ chơi cờ, còn lại thì đều là quân cờ, đều là những kẻ “lon ton” (nguyên văn lời ông) chạy theo phía sau. Lãnh đạo của những nước thân phận quân cờ đừng cố phỉnh rằng mình cũng phải là kẻ chơi cờ, mà nên tìm cách để làm sao mình không phải là con tốt gỉn, không bị thí khi kẻ chơi cờ bí nước, hoặc khi họ tạm thời hoãn chiến!

Người Việt cứ cảm tính, hồn nhiên ủng hộ Nga chiếm Crưm, mà quên rằng mình cùng cảnh ngộ với U-crai-na: Oằn mình sống bên cạnh một nước lớn còn lâu mới văn minh.

Thủ tướng Ba Lan mới đây nói rằng: “Ở bên cạnh nước Nga, chả khác nào ở dưới chân núi lửa!” Ông chỉ nhắc lại-theo cách của ông- một câu ngạn ngữ của người Mê-hi cô: “Chúa ở xa còn nước Mỹ ngay sát nách”.

Người Việt thì ngàn đời nay vẫn truyền nhau: “Con ơi nhớ lấy câu này/ thằng tây nó tếch, thằng Tầu nó sang”.

“Nó sang”, vì nó ở ngay bên kia rặng rào.

Ba Lan đã “thoát Nga” và đang đầy kiêu hãnh trở về với thế giới văn minh, một bài học hay nhưng cực khó. Mê-hi-cô thì vừa ghét Mỹ vừa cần Mỹ, chấp nhận số phận với may mắn lớn là dù sao nước Mỹ cũng không củ chuối như Nga hay Tầu. U-crai-na thì đang vật vã giữa hai sự lựa chọn: Thần phục Nga thì yên thân, nhưng mãi mãi sống thân phận chư hầu. Thoát khỏi Nga về với châu Âu dân chủ, có thể phải đổ máu, đất nước có thể tan hoang, nhưng may ra còn thấy tương lai?

Nhưng luôn sẵn một câu hỏi khó trả lời hơn nhiều, dành cho giới tinh hoa U-crai-na: Ngay cả khi chấp nhận rủi ro lớn, thì liệu có thực sự thoát được Nga và thoát bằng cách nào?

Lựa chọn Tự do chưa bao giờ thoát khỏi cảnh khốn nạn. Ở đâu và bao giờ cũng thế. Nhưng thiếu Tự do, thì sống (dù sống trong nhung lụa) cũng không bằng chết!

MƯỜI ĐỊA DANH NỔI TIẾNG TRONG ÂM NHẠC MIỀN NAM – Phạm Văn Duyệt

MƯỜI ĐỊA DANH NỔI TIẾNG TRONG ÂM NHẠC MIỀN NAM – Phạm Văn Duyệt

ĐỒI CHARLIE

Trong vài chục năm ngắn ngủi, các nhạc sĩ thân thương của Miền Nam Tự Do đã dày công sáng tác nhiều bài hát để đời. Một số địa danh được nhắc nhở trang trọng qua những dòng nhạc lãng mạn trữ tình.

Bài này xin nêu lên mười vùng đất quê hương để cùng nhớ lại trang sử “nhạc vàng” từng được ưa chuộng mê say trước cũng như sau 1975.

  1. CẦU ÁI TỬ 

“Mẹ thương con ra cầu Ái Tử

Vợ trông chồng lên núi Vọng Phu”

Chiều chiều trông về biên khu

Lòng căm hờn oán quân thù

Mở đầu là hai câu ca dao mà Nhạc Sĩ Duy Khánh nhắc lại trong bài Lối Về Đất Mẹ.

“Chiều qua giả từ đất Mẹ mà đi

Vì nghe tình quê tình nước đôi bề

Nước chia hai đường nước chưa về

Trót thương cho người lỡ câu thề

Lên đường từ ly, hỏi lòng mình lưu luyến gì”.

Vậy Ái Tử nằm ở đâu ? Vì sao tác giả nói tới địa danh này ?

Để lời lời câu hỏi đó, chúng ta hãy tham khảo wikipedia, lần giở lịch sử nước nhà giai đoạn Trịnh Nguyễn phân tranh.

Năm 1527 Mạc Đăng Dung cướp ngôi Nhà Lê, Nguyễn Kim (1468 – 1545) cùng một số danh tưởng khác chạy sang Ai Lao phù Lê diệt Mạc, lập nên Nhà Lê Trung Hưng (1533).

Vì quý mến tài năng Trịnh Kiểm nên Ông gả con gái Ngọc Bảo cho viên tướng này.

Sau khi Ông mất, Trịnh Kiểm lên nắm binh quyền, liền giết ngay anh vợ Nguyễn Uông. Người em còn lại Nguyễn Hoàng lo âu cho số phận mình. Thỉnh ý Trạng Trình Bỉnh Khiêm thì được lời khuyên “Hoành Sơn nhất đái vạn đại dung thân”. Nghe xong Nguyễn Hoàng (1545 – 1613) nhờ Chị xin anh rễ cho vào trấn Thuận Hóa năm 1558. Nơi dừng chân đầu tiên là vùng đất hoang vu Ái Tử, Triệu Phong, Quảng Trị. Chúa Nguyễn đóng đô ở đây cho đến 1626 thì dời đi.

Trong thời chiến tranh Quốc- Cọng, một dạo Hoa kỳ từng sử dụng Ái Tử làm căn cứ quân sự.

Mới nghe qua ai cũng hiểu ái tử là thương con. Nhưng vì sao Duy Khánh lại mượn câu ca dao để mở đầu cho bài hát của mình?

Đây là chuyện kể của một người gốc Quảng Trị: vào giai đoạn toàn dân kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954) có người chiến binh ôm mìn ngụy trang trôi theo đám lục bình bơi tới cầu Ái Tử đang thuộc quyền cai quản của Pháp với mưu toan giựt sập. Chẳng may viên lính gác cầu phát hiện bắn chết, có ngờ đâu đó là đứa con trai của mình.

Người Mẹ hay tin vội vã ba chân bốn cẳng chạy tới ôm xác kẻ lìa trần mà đau đớn tột cùng. Suốt mấy tháng trời bà vẫn hay ra cầu Ái Tử vật vã kêu gào thương khóc con. Phải chăng cảnh tượng này làm động lòng nhạc sĩ miền Trung đa tình?

PHÁ TAM GIANG

  1. PHÁ TAM GIANG

Năm 1972, Thi Sĩ Tô Thùy Yên cùng Nhạc Sĩ Trần Thiện Thanh viếng thăm vùng địa đầu giới tuyến. Bay ngang phá Tam Giang thấy cảnh sông nước lửng lờ trong buổi chiều tà, chợt nhớ Saigon đang bước vào mùa thi, Nhà Thơ dạt dào thi hứng làm bài thơ dài đưa cho Nhật Trường xem. Quá xúc động và đồng cảm với thi nhân, Trần Thiện Thanh phổ thành bài Chiều Trên Phá Tam Giang để rồi nhận ngay vòng nguyệt quế. Thi Sĩ nổi tiếng hơn mà Nhạc Sĩ cũng được hâm mộ nhiệt thành. Đã 50 năm trôi qua vẫn còn hằng triệu người khắp nơi ca hát xem như tâm sự của chính mình.

“Chiều trên phá Tam Giang

Anh chợt nhớ em

Nhớ ôi!  Niềm nhớ! Ôi niềm nhớ

Đến bất tận

Em ơi! em ơi!”

Phá Tam Giang rộng 50 km² chạy dài từ Sông Ô Lâu tới Cầu Hai, ngang qua hai huyện Phong Điền và Quảng Điền, Thừa Thiên, với độ sâu 2 – 4 m. Phá này được biết tiếng từ lâu với câu ca dao:

“Thương em anh cũng muốn vô

Sợ truông Nhà Hồ, sợ phá Tam Giang”.

Xưa có gã thư sinh từ xứ Nghệ vô kinh đô ứng thí. Khi ngang qua bến Sông Ô Lâu thì chàng phải lòng cô lái đò duyên dáng dễ thương. Hai người thề non hẹn biển sau khi đỗ đạt sẽ cùng kết tóc xe tơ.

Chàng thi đậu công thành danh toại, nàng ngày ngày ngóng trông tái hợp. Nhờ người nhắn gởi thì chàng mượn câu ca dao đó để thoái thác lời ước thề.

Về sau Nội Tán Nguyễn Khoa Đăng (1690 – 1725) đã điều động dân phu đào bới mở rộng cửa phá cho nên sóng biển không còn. Nhờ vậy mà tai nạn giật thuyền bè giảm hẳn.

“Phá Tam Giang ngày rày đã cạn

Truông Nhà Hồ Nội Tán dẹp tan”.

Còn cô lái đò vẫn giữ lòng chung thủy, mơ màng lặn lội băng rừng vượt núi kiếm tìm.

“Đói lòng ăn nửa trái sim

Uống lưng bát nước đi tìm người thương”.

Tới nơi mới hỡi ơi chàng đã yên bề gia thất. Nàng choáng váng xây xẩm mặt mày. Cố lê lết trở về quê cũ với nỗi niềm chua xót thở than:

“Đi đường những lách cùng lau

Những tràm với chổi bỏ nhau sao đành”.

Thế rồi không chịu nổi nghịch cảnh bị phụ tình, lỡ bước sang ngang, nàng trầm mình theo giòng nước nơi hai người từng tha thiết hẹn hò.

  1. LẦU ÔNG HOÀNG 

“Đường lên dốc đá nửa đêm trăng tà nhớ câu chuyện xưa

Lầu Ông Hoàng đó, thuở xưa chân Hàn Mặc Tử đã qua

Ánh trăng treo nghiêng nghiêng, bờ cát dài hoang vắng”.

Đó là lời trong bài “Hàn Mặc Tử” của Trần Thiện Thanh.

Theo wikipedia, tòa lâu đài này được công tước người Pháp vốn là cháu nội vua Louis xây cất năm 1911 rộng 500 m² cách tháp Chàm Pôshanu vài trăm mét thờ công chúa người Chăm và cách thành phố Phan Thiết 7 km.  Vua Bảo Đại từng mua lại Lầu này làm chỗ nghỉ ngơi, thưởng ngoạn cảnh đẹp hoang dã nên thơ của bãi cát dài trắng xóa cùng tiếng sóng rì rào với gió thổi vi vu từ đại dương.

Về sau người Pháp xây dựng nhiều đồn bót quanh khu vực nên không tránh khỏi chinh chiến điêu linh, danh thắng này trở nên đổ nát hoang tàn chẳng còn để lại dấu tích. Nhưng nơi đây từng là chốn hẹn hò của đôi tình nhân Hàn Mặc Tử (1912 – 1940) và Mộng Cầm (1917 – 2007) trong những năm 1936 – 1937. Ta hãy nghe Hàn thổn thức khắc khoải nhớ nhung thần tượng bẻ nhỏ tên Nghệ (Mộng Cầm) qua bài Muôn Năm Sầu Thảm:

“Nghệ hỡi Nghệ muôn năm sầu thảm

Nhớ thương còn một nắm xương thôi

Thân tàn ma dại đi rồi

Rầu rầu nước mắt bời bời ruột gan

Thấy gió là ôm ngang lấy gió

Tưởng chừng như trong đó có hương

Của người mình nhớ mình thương

Nào hay gió tạt chẳng vương vấn gì

Nhớ lắm nhớ như si như dại

Nhớ quá nhiều mà bại hoại chân tay

Nhớ hàm răng nhớ hàm răng

Mà ngày nào đó vẫn khăn khít nhiều

Dẫu đau đớn vì lời phụ rãy

Nhưng mà ta không lấy làm điều

Trăm năm vẫn một lòng yêu

Và còn yêu nữa rất nhiều em ơi!”

Thêm nữa, hãy đọc bài Phan Thiết!  Phan Thiết! để nghe Hàn thở than rên xiết:

“Rồi ngây dại nhờ thất tinh chỉ hướng

Ta lang thang tìm tới chốn Lầu Trăng

Lầu Ông Hoàng người thiên hạ đồn vang

Nơi đã khóc đã yêu thương da diết

Ôi trời ơi ! là Phan Thiết ! Phan Thiết!

Mà tang thương còn lại mãnh trăng rơi

Ta đến nơi nàng ấy vắng lâu rồi

Nghĩa là chết từ muôn trăng thế kỷ

Trăng vàng ngọc, trăng ân tình, chưa phỉ

Ta nhìn trăng khôn xiết ngậm ngùi trăng

Ta vãi vung thơ lên tận sông Hằng

Thơ phép tắc bỗng kêu lên thống thiết

Hỡi Phan Thiết! Phan Thiết!

Mi là nơi ta ôm hận nghìn thu

Mi là nơi ta sầu muộn ngất ngư”.

Nghe lời thơ tưởng chừng như không có ai đau thương vì tình hơn chàng thi nhân đoản mệnh. Có biết đâu rằng trong một lúc nào đó song đôi với Mộng Cầm mà nhà thơ họ Hàn đã dịu dàng thỏ thẻ như trong bài Đà Lạt Trăng Mờ:

“Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều

Để nghe dưới đáy nước hồ reo

Để nghe tơ liễu run trong gió

Và để nghe trời giải nghĩa yêu”.

Hiện nay khu vực Lầu Ông Hoàng là địa điểm du lịch của tỉnh Phan Thiết.

  1. ĐỒI THÔNG HAI MỘ

Cạnh Hồ Than Thở, Dalat có ngôi mộ đôi nằm hiu quạnh hoang vu trên đồi

thông. Ngang qua đây mấy ai mà không khỏi chạnh lòng một nỗi u hoài. Trong tâm trạng đó, nhạc sĩ Hồng Vân đắm mình sáng tác bài ĐỒI THÔNG HAI MỘ kể lại cuộc tình bi thương ai oán có một không hai trên cõi đời này.

Chàng tên Tâm, con nhà địa chủ ở Gò Công. Đang theo học khóa Võ Bị Dalat thì gặp Thảo, con một gia đình công chức. Hai người thầm yêu trộm nhớ và thường hẹn hò bên Hồ Than Thở. Mãn khóa ra trường, Tâm xin cưới Thảo nhưng bị cha mẹ từ chối vì vì không môn đăng hộ đối.

Buồn tình trắc trở, chàng xin ra tiền tuyến. Phần Thảo còn đau khổ hơn khi biết song thân người yêu khước từ và chàng vì phẩn chí mà tình  nguyện xông pha ngoài biên ải. Tuy vậy nàng luôn một lòng chung thủy đợi chờ, lấy niềm vui qua những giờ phút trông ngóng thư người tình từ nơi phương trời lửa đạn.

Bỗng một hôm có thư báo về cái tin sét đánh ngang tai: Tâm vừa anh dũng hy sinh ngoài trận tuyến.  Trời đất quay cuồng sụp đổ.

“Rồi nàng buồn thơ thẩn chẳng còn ngồi trang điểm qua màu phấn

Để phai úa đến tàn cả hương sắc

Tháng ngày luôn héo hon”.

Chờ ai đây đợi ai đây khi mà người thương vĩnh viễn ra đi. Thế rồi tuyệt  vọng tình, nàng nhảy xuống bờ hồ quyên sinh theo người yêu. Gia đình thương tiếc cho lập mộ trên đồi thông.

Ngang trái thay lá thư báo tử là lá thư lầm lẫn chết người. Tâm không tử trận mà vẫn còn chiến đấu dưới cờ. Tám tháng sau chàng trở về thăm thì nghe hung tin Thảo không còn.

“Sao người về đây để tìm nhưng thôi đã mất còn đâu

Ôi buồn làm sao đồi thông xưa nay vắng bóng người yêu

Đời hợp tan, hợp rồi tan như mây kia gặp gió”.

Thật đắng cay chua xót, đồng cảnh ngộ của Thi Bá Vũ Hoàng Chương thuở nào: Đời vắng em rồi say với ai !

“Sóng dậy đìu hiu biển dấy sầu

Lênh đênh thương nhớ dạt trời Âu

Thôi rồi tay nắm tay lần cuối

Chia nẻo giang hồ vĩnh biệt nhau

“Gặp gỡ chừng như chuyện Liêu Trai

Ra đi chẳng hẹn một ngày mai

Em ơi ! lửa tắt bình khô rượu

Đời vắng em rồi say với ai?”.

Nghĩ mình đã tới đường cùng. Chàng quẩn trí tự vẫn với ước nguyện mồ chôn nằm bên cạnh người yêu. Cha mẹ chấp nhận và cho mai táng gần Thảo.

“Rồi mộ chàng được ở bên cạnh nàng như lời xưa thề ước

Nằm hiu hắt đến ngàn thu an giấc dưới mộ sâu đất khô”.

Nhưng từ sau 1975, do tuổi già sức yếu, đường sá đi lại quá khó khăn nên cha mẹ phải đành đoạn di dời mộ chàng về quê quán. Còn Thảo tuy xa Tâm nhưng vẫn nằm yên nghỉ bên cạnh ngôi mộ trống của chàng. Ai qua đây mà không khỏi bùi ngùi cho số kiếp người bạc mệnh.

  1. ĐỒI CHARLIE

Dựa theo bút ký Người Ở Lại Charlie của Nhà Văn Phan Nhật Nam, Nhạc Sĩ Trần Thiện Thanh đã soạn thành ca khúc cùng tên.

Charlie với cao độ gần 1000 m là dãy đồi nằm cạnh huyện Dakto, Kontum.

Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 khởi đầu giai đoạn chiến tranh khốc liệt nổ ra khắp các chiến trường miền Nam. Binh sĩ Cọng Hòa hành quân liên miên không một ngày thư thả.

Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù của Người Anh Cả Nguyễn Đình Bảo đã quần thảo ở Toumorong, Dakto, Dambe, Krek, Snoul, Đức Cơ, Khe Sanh, Hạ Lào… Có nơi chỉ đáo qua vài ngày rồi phải vội vàng từ giả theo tình hình chiến sự nóng bỏng trên bốn vùng chiến thuật.

Tháng 4.1972 được lệnh trấn đóng đỉnh đồi Charlie với nhiệm vụ án ngữ và kiểm soát ngã 3 biên giới Việt Miên Lào. Chừng 500 binh sĩ nhảy dù đối đầu lực lượng địch hùng hậu cấp sư đoàn. Chúng vẫn sử dụng chiến thuật tiền pháo hậu xung quen thuộc, cường tập pháo kích hàng ngàn hỏa  tiễn suốt ngày đêm nhằm uy hiếp tinh thần và làm tiêu hao quân số trú phòng.

Sau hơn mười ngày đêm tử thủ dưới làn mưa pháo, Trung Tá Bảo bị sập hầm trúng đạn tử thương. Ngay sau đó Thiếu Tá Tiểu Đoàn Phó Lê Văn Mễ lên thay thế khi mà đơn vị gần như cạn kiệt vũ khí và lương thực.

Tình hình quá khẩn trương không thể cầm cự lâu hơn. Nếu chậm trể sẽ bị bao vây tràn ngập.Thiếu Tá Mễ cùng một số đồng đội phải gấp rút kiếm đường thoát thân, tìm cái sống trong cái chết rồi kêu gọi thượng cấp cho

pháo đài bay B52 dội bom ngay ngọn đồi vừa rút đi. Hàng ngàn cán binh sinh bắc tử nam bị tiêu diệt. Còn theo Nhà Văn Phan Nhật Nam, bên ta thiệt mất 400 binh sĩ đền nợ nước.

Trong số sĩ quan thoát ra từ tử địa có Y Sĩ Tô Phạm Liệu. Tuy thương tích ở chân nhưng Anh vẫn không nản chí ngã lòng. Rán điều trị rồi chờ đơn vị tái bố sung để cùng ra trận trong tháng 6 nơi vùng hỏa tuyến.

Tới tháng 9.1972 tất cả quân cọng sản xâm lăng phải tháo chạy về phương bắc. Y Sĩ Phạm Anh Dũng cho hay Đại Úy Tô Phạm Liệu được tuyên dương sĩ quan xuất sắc nhất của Sư Đoàn Dù.

Hy sinh vì đại nghĩa, Trung Tá Bảo được truy thăng Đại Tá, để lại bao tiếc thương cho hình ảnh người chỉ huy tài ba, gan dạ, luôn hết lòng thương yêu thuộc cấp. Ông giả biệt vợ trẻ và 3 con thơ lúc mới 36 tuổi đời. Bà Nguyễn Đình Bảo là cựu chiêu đãi viên hàng không vẫn ở vậy thờ chồng nuôi con ăn học thành tài.

“Anh! Anh! hỡi Anh ở lại Charlie

Anh! Anh! hỡi Anh giả từ vũ khí

Vâng, chính Anh là ngôi sao mới

Một lần này chợt sáng trưng

Là cánh dù đan bằng tiếc thương vô cùng

Anh! cũng Anh vừa ở lại một mình

Charlie, tên vẫn chưa quen người dân thị thành

Xin một lần thôi, một lần thôi

Vẫy tay tạ từ Charlie

Xin một lần nữa, một lần nữa

Vẫy tay chào buồn Anh đi”.

Vời lòng cảm phục vô biên những Người Anh Hùng Mũ Đỏ, nhiều cựu binh và dân thường đã lặn lội tìm đường tới Charlie thăm chiến trường xưa. Trong tận sâu thẳm đáy lòng, ai ai cũng đều ngậm ngùi khi nhìn lại ngọn đồi nơi mà 50 năm về trước những người con thân yêu của Tiểu  Đoàn 11 Nhảy Dù oanh liệt ra đi chẳng hẹn ngày về.

  1. PLEIME

Trại Lực Lực Lượng Đặc Biệt Pleime nằm giáp ranh vùng 3 biên giới, cách Pleiku 40 km về hướng nam.

Pleime được Phạm Duy nhắc tới trong nhạc phẩm Kỷ Vật Cho Em, phổ từ bài thơ Để Trả Lời Một Câu Hỏi của Thi Sĩ Linh Phương với lời lẻ vô cùng áo não tang tóc bi ai dễ làm nao lòng chiến sĩ. Chính vì vậy mà từng bị xếp vào loại nhạc phản chiến và cấm hát một thời gian.

“Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại

Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về

Anh trở về có thể bằng chiến thắng Pleime

Hay Đức Cơ Đồng Xoài Bình Giả

Anh trở về, anh trở về hàng cây nghiêng ngả

Anh trở về có khi là hòm gỗ cài hoa

Anh trở về trên chiếc băng ca

Trên trực thăng sơn màu tang trắng”.

Nhạc Sĩ Trúc Phương cũng nhắc đến Pleime trong bài Trên Bốn Vùng Chiến Thuật:

“Tôi thường đi đó đây

Bùn đen in dấu giày

Chân nghe lạ từng khu chiến thuật

Áo nhà binh thương lính, lính thương quê

Vì đời mà đi

Pleime gió mưa mùa

Bốn vùng nghe lưu luyến bước bâng khuâng của vạn người thân”.

Tại Pleime từng xảy ra hai trận đánh  khốc liệt.

* Trận đầu ở Thung lũng Ia – Drang:

Theo lời kể của Thiếu Úy Trần Quốc Cảnh (khóa 19 Võ Bị Dalat) thì cuối tháng 10.1965 Việt Cọng bao vây Trại Pleime. Lực lượng tham chiến bên ta

có trung đoàn 3 thiết giáp, tiểu đoàn 21 biệt động quân, tiểu đoàn 1/42, 400 dân sự chiến đấu và một bộ phận của lữ đoàn dù cùng chống trả chiến thuật công đồn đả viện của 3 trung đoàn cọng quân.

Mặc dù quân số đông đảo cọng thêm trang bị vũ khí tối tân nhưng sau 7 ngày giao tranh ác liệt, phía bắc phương thiệt hại nặng nề phải rút chạy vào rừng. Ta bẻ gãy kế hoạch cắt đôi Tây Nguyên của chúng.

Đó là nhờ tinh thần chiến đấu gan dạ cùng sự phối hợp nhịp nhàng hoàn hảo giữa quân đội Cọng Hòa và Không Lực Hoa Kỳ.

Theo Time Magazine ngày 5.11.1965, trong số 6000 quân cọng phỉ, ước chừng 1000 tử vong và 2000 thương tích.

* Trận thứ nhì: sau trận đầu, trại Pleime cũ bị phá hủy và trại mới được xây dựng. Đầu năm 1974, Thiếu Tá Vương Mộng Long nhậm chức Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân Biên Phòng phụ trách bảo vệ vùng núi rừng rộng lớn bao quanh Pleime.

Đây là hành lang chiến lược cho cọng quân di chuyển từ bắc vô nam, từ đồng bằng lên Tây Nguyên và vận hành binh lính vũ khí quân lương qua các tỉnh vùng 3 biên giới. Vì vậy mà  chúng quyết tâm nhổ sạch Trại để rộng đường cho giấc mộng xâm lăng. Cuộc chiến khởi đầu từ cuối tháng 7.1974.

Theo Thiếu Tá Long về tương quan lực lượng đôi bên thì địch có quân số gấp mười lần, chưa kể cơ giới, pháo binh, chiến xa và phòng không.

Biết mình sức yếu thế cô phải một chọi mười, thật là không cân sức. Nhưng cả Tiểu Đoàn quyết tử để quyết sinh. Chiến đấu đến người lính cuối cùng. Thề sống chết có nhau đồng lòng bảo vệ quê hương tự do và đời sống ấm no cho đồng bào. Nhiều ngày bị cô lập với bên ngoài và lương thực đạn dược gần như cạn kiệt. Nhưng Trời luôn phù hộ người chính nghĩa. Bất chấp hàng loạt mưa pháo  hoặc cái lạnh cắt da của núi rừng trùng điệp. Thiếu Tá Long khóa 20  Võ Bị Dalat luôn điều động binh sĩ vững lòng chống trả các đợt tấn công biển người của giặc thù. Nhờ vậy mà chúng không thể tràn ngập tiêu diệt căn cứ kể cả cho tank 54 lồng lộn  xung trận nhưng cũng đành thúc thủ rút lui vào cuối tháng 8 sau 33 ngày đêm tử thủ kiêu hùng của Tiểu Đoàn. Quốc Kỳ Việt Nam Cọng Hòa lại phất phới tung bay trên cột cờ cao vào sáng ngày 2.9.1974.

Hai dãi băng trắng chữ sơn đỏ căng ngang trước tư dinh Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn 2: “Toàn dân Pleiku ghi ơn Thiếu Tá Vương Mộng Long và  các chiến sĩ Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân”. Hàng ngàn quân dân cán chính long trọng làm lễ khao quân suốt mấy ngày. Đâu đâu cũng nghe vang dội khúc quân hành: “Kìa đoàn quân chiến thắng trở về trong nắng hồng…” (Bài Ca Chiến Thắng, Minh Duy).

  1. THA LA XÓM ĐẠO 

Tha La là xóm nhỏ ở vùng Trảng Bàng Tây Ninh.

Gần 200 năm trước một số con chiên từ Huế do bị Vua Minh Mạng cấm theo Thiên Chúa Giáo nên chạy trốn vào ẩn trú ở vùng đất hẻo lánh này. Họ chung tay khẩn hoang lập ấp, xây dựng thôn xóm để bảo tồn niềm tin tôn giáo.

Năm 1950, Nhà Thơ Vũ Anh Khanh (1930 – 1956) tình cờ ghé thăm nơi đây. Duyên nợ đẩy đưa Anh sáng tác bài thơ dài Hận Tha La:

“Đây Tha La xóm đạo

Có trái ngọt cây lành

Tôi về thăm một dạo

Giữa mùa nắng vàng hanh”.

Nhạc Sĩ Dzũng Chinh đã phổ thành bài hát Tha La Xóm Đạo:

“Đây Tha La, đây xóm đạo tiêu điều

Cây buồn quanh hận thù dâng ai oán” Người Tha La rất hãnh diện hát bài quê hương mình để ghi nhớ một thời đao binh:

“Đây Tha La, đây xóm đạo hoang tàn

Mây trời vây quanh màu tang khói  lửa

Bao năm qua Tha La còn trơ đó

Đoàn người đi giết thù đã hẹn thề từ dạo ấy

Lòng viễn khách bồi hồi như thương tiếc mùa xuân nắng hanh vàng”.

Nhà Văn Xuân Vũ gặp Anh Khanh tại miền Tây năm 1950 khi cùng tham gia kháng chiến. Xuân Vũ cho biết: “Nhà thơ tốt nghiệp khóa lục quân 12 tháng. Anh hay mặc áo nhà binh xập xệ, quần ống cao ống thấp, miệng cười xề xề. Lúc nào có liên hoan thì bạn bè hay bắt Anh lên ngắm thơ”.

Tới hiệp định Geneve 1954 cả hai cùng tập kết ra bắc. Vài năm sau Anh được cử đi dự hội nghị văn chương quốc tế ở Ấn Độ. Khi về Anh kể chuyện thăm ngôi đền lạ lùng thờ “cái đó” và “cái ấy”. Bạn bè thắc mắc một hồi thì Anh cho biết “cái đó” dài bằng cây cột còn “cái ấy” to bằng cái nia. Ai nghe cũng ôm bụng cười sặc sụa.

Bữa ấy Anh khao anh em một chai rượu ngoại vừa mang về từ hội nghị.

Thế rồi Anh xin đi công tác. Giấy phép ghi tới Vĩnh Phúc nhưng anh sửa thành Vĩnh Linh để tìm cách vượt tuyến vào Nam. Gần Cầu Hiền Lương anh nhìn lui nhìn tới rồi vội vàng lặn hụp cố bơi qua bờ. Rủi thay bị công an biên phòng phát hiện. Chúng dùng mũi tên tẩm độc bắn chết anh rồi vùi thây ngay đụn cát ven sông. Thế là mộng ước của bao nhiêu người Tha La đành trở thành tuyệt vọng, cho dù ai nấy đều thầm ca bài  Chuyến Đò Vỹ Tuyến của Lam Phương như bày to niềm khát vọng một ngày Anh Khanh trở lại:

“Bùi ngùi nhìn cách xa ngàn trùng

Giờ đây em điêu linh nơi quê nhà đang chìm đắm

Bao đêm thổn thức dưới trăng ngà

Hồn đắm say chờ đón ngày anh về sưởi lòng nhau”.

Xuân Vũ từng đóng vai phóng viên  thăm vùng giới tuyến. Ngang khúc sông Anh Khanh gặp nạn, Vũ âm thầm muốn trốn nhưng quan sát kỹ thấy nguy hiểm không an toàn nên đành thối lui. Khi về Nhà  Văn Đoàn Giỏi hỏi:

“Mày vô đó có thấy mộ Anh Khanh không?

– Chẳng biết mộ anh ấy nằm ở đâu vì gặp quá nhiều nắm đất dọc bờ cát trắng.

Đoàn Giỏi buồn rầu nói thêm: Phải chi biết ngày nó chết tụi mình cơm canh cúng giỗ một bữa cho nó bớt tủi vong hồn”.

Anh Khanh là văn nghệ sĩ hăng say theo cọng sản rồi bỏ hàng ngũ trở về với chính nghĩa tự do sớm nhất. Sau Anh có nhiều người vượt thoát thành công như Xuân Vũ, Ca Sĩ Bùi Thiện… Một số manh nha ly khai nhưng chưa kịp đào tị thì bị trù dập tả tơi. Điển hình là Nhà Thơ Trần Vàng Sao đang là sinh viên đại học Huế lại thoát ly lên rừng núi Trường Sơn “chống Mỹ cứu nước” rồi chợt hiểu rõ bộ mặt giả nhân giả nghĩa của cọng sản liền thức tỉnh viết ra những nhận thức phê phán chân thành. Hậu quả là không những bị hạch hỏi trừng trị mà còn hết tin dùng. Ai đọc bài thơ “Tau Chửi” nguyền rủa lên án việt cọng tàn ác gian manh vắt chanh bỏ vỏ mới hiểu thấu nỗi uất hận cay đắng của kẻ trót dại lầm đường như Ông.

  1. ĐƯỜNG DUY TÂN 

là đoạn đường nối Nhà Thờ Đức Bà và Hồ Con Rùa thuộc quận 3 Saigon. Hai bên đường có hàng cây sao cổ thụ cao vút, vài cây tồn tại cả trăm năm, xen lẫn nhiều ngôi biệt thự uy nghi kín cổng cao tường che phủ bởi những giàn bông giấy sắc màu rực rỡ.

Đường Duy Tân mang tên Nhà Vua thứ 11Triều Nguyễn là Thái Tử Vĩnh San lấy niên hiệu Duy Tân (1900 – 1945) với hoài vọng đổi mới cải cách cho đất nước. Năm 16 tuổi do chống Pháp nên Ngài bị đày sang Đảo Reunion (Phi Châu) và tới 1945 thì tử thương trong một tai nạn phi cơ.

Con đường này trở nên nổi tiếng từ khi nhạc phẩm Trả Lại Em Yêu của Phạm Duy ra đời.

“Trả lại em yêu khung trời đại học

Con đường Duy Tân cây dài bóng mát

“Trả lại em yêu con đường học trò

Những chiều Thủ Đô tưng bừng phố xá

Chủ nhật uyên ương hẹn hò đây đó

Uống ly chanh đường uống môi em ngọt”.

Duy Tân là con đường tình yêu học trò, con đường hẹn hò đưa đón, con đường tạ từ chia biệt, con đường gặp gỡ lứa đôi, con đường hạnh phúc thiết tha, con đường ngọt ngào âu yếm, con đường giận hờn đổ vỡ, con đường đau khổ ly tan…

Đường này có Đại Học Luật Khoa với hàng chục ngàn sinh viên ghi danh. Trong 20 năm trời lắm cuộc tình diễn ra ở đó để lại bao nhiêu dư âm buồn vui suốt cả cuộc đời. Ai có chút tâm hồn mơ mộng mà không bày tỏ nỗi niềm thi nhân khi mỗi chiều ngang qua đây tình cờ bắt gặp những đôi tình nhân sánh bước chung đôi dưới hai hàng cây xanh mát.

Khung cảnh thơ mộng tưởng chừng Lưu Thần Nguyễn Triệu đáo Thiên Thai. Nhưng xa rồi những ngày xưa thân ái. Không chỉ tên đường thay đổi mà cảnh vật xung quanh cũng đổi thay. Không còn hai hàng cây thẳng tắp quen thuộc. Chủ nhân mấy ngôi nhà cổ kính bỏ đi xa, thay vào đó là lớp người mới giàu có từ đâu tới xây cất những biệt thự cao tầng nguy nga tráng lệ. Vừa chật hẹp mà lưu lượng quá đông nên nạn kẹt xe xảy ra hằng ngày.

Chính tại đường Duy Tân đã chứng kiến bản chất côn đồ giết người không gớm tay của việt cọng.

Mùa hè 1971 diễn ra cuộc bầu cử Ban Chấp Hành Sinh Viên Đại Học Luật Khoa giữa hai liên danh Lê Khắc Sinh Nhật và Trịnh Đình Ban. Kết quả  Sinh Nhật thắng cử vẻ vang. Phe thất bại là nhóm thân cọng đã điên cuồng tức giận trả thù hèn nhác và ra tay bắn chết đối thủ trước cổng trường ngay giữa ban ngày. Từ đó con đường cây dài bóng mát trở thành con đường đau buồn tan nát.

Ai gây ra thảm cảnh này?

  1. PHÀ HẬU GIANG (Phà Cần Thơ)

Băng qua Sông Hậu nối liền Cần Thơ và Vĩnh Long dài 1840 mét.

Trong một chuyến về quê vợ ở miền Tây có công việc nhà, Nhạc Sĩ Nhật Ngân đang thơ thẩn đi tới đi lui ngóng chờ phà Hậu Giang thì chợt nghe văng vẳng đâu đây tiếng hát mượt mà của ai đó giữa đám đông người lũ lượt chen chúc trên bến sông.Tiến lại gần thì Ông thấy người thương binh chống nạn, cụt mất một chân bận bộ đồ treillis rách nát bạc màu đang ca bài Xuân Này Con Không Về.

“Con biết bây giờ Mẹ chờ mong con

Khi ánh mai đào nở vàng bên nương

Năm trước con hẹn đầu xuân sẽ về

Nay én bay đầy trước ngõ mà tin con vẫn xa nghìn xa

“Con biết không về Mẹ chờ em trông

Nhưng nếu con về bạn bè thương mong

Bao lứa trai hùng chào xuân chiến trường

Không lẻ riêng mình êm ấm

Mẹ ơi! con xuân này vắng nhà”.

Nghe xong Nhạc Sĩ quá xúc động, đâu ngờ ở nơi chốn chợ đời đua chen này lại có người hát thành thạo bản nhạc của mình mà không cầm được nước mắt.

Ông chạy tới chuyện trò hỏi han, bỗng nhận ra người bạn cùng lớp thời trung học sau gia nhập Võ Bị Dalat. Ra trường một năm thì bị thương gãy chân phải giải ngũ. Trở lại Mỹ, Nhật Ngân cùng Trần Trịnh hợp soạn ca khúc Chiều Qua Phà Hậu Giang để nói lên tâm sự của người thương binh quân lực Việt Nam Cọng Hòa sau cuộc chiến:

“Chiều qua phà Hậu Giang, tiếng ai hát dạo buồn thay

Tiếng ca sầu mênh mang như khơi  niềm đau năm tháng xưa

Chân nạng gỗ thấp cao kéo lê đời theo dòng nhạc đưa

Mãnh chiến y phai màu khúc ca nào gợi sầu không nguôi”.

Sự hy sinh tuổi thanh xuân và một phần thân thể của hàng vạn thanh niên trong cuộc chiến bảo vệ miền Nam là vô bến bờ, không lấy gì đền đáp được. Bao năm qua nhiều nơi tổ chức Đại Nhạc Hội Cảm Ơn Anh nhằm vinh danh Người Thương Binh, gây quỹ giúp Hội HO Cứu Trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ Việt Nam Cọng Hòa còn kẹt lại ở quê nhà. Trong nước có Dòng Chúa Cứu Thế, Chùa Liên Trì…đã tận tay trao phát nhiều đợt quà tình nghĩa cho thành phần thiệt thòi này.

Nhưng nghĩa cử đó thực ra cũng quá nhỏ nhoi. Chỉ ước mong may ra có thế làm ấm lòng các gia đình kém may mắn trong một chừng mực nào đó mà thôi.

Về phần bến phà, sau khi Cầu Cần Thơ khánh thành năm 2010, tuy đường sá được thông xe, phà Hậu Giang kết thúc sứ mạng sau 100 năm hoạt động nhưng hiện nay vẫn còn bến đò vận hành loại phà nhỏ hơn cho người và xe mô tô qua lại vì nhanh và ít tốn phí hơn so với lưu thông bằng xe. Không biết có còn ai sống đời hát dạo như trước không?

  1. LĂNG MẠC CỬU 

Nhạc Sĩ Lê Dinh một lần ghé thăm  đã cảm tác ca khúc dễ thương Hà Tiên Mến Yêu.

“Tôi nhớ hoài một chiều

Dừng chân ghé qua thăm miền ước mơ

Tôi qua Lăng Mạc Cửu

Nằm trên con voi phục

Tôi vô thăm Thạch Động

Trời bát ngát mênh mông”.

Mạc Cửu (1655 – 1735) là thủy tổ dòng họ Mạc ở Hà Tiên. Do không thần phục Nhà Thanh nên Ông rời bỏ Quảng Đông trốn qua Nam Vang năm 1668 hành nghề thương nhân quanh các nước Đông Nam Á. Đến 1699 Ông khai khẩn nhiều khu vực hoang địa của Hà Tiên lập thành 7 xã thôn. Năm 1708 chịu thần phục Chúa Nguyễn, được phong Tổng Trấn Hà Tiên, cai quản như một Tiểu Vương theo truyền thống cha truyền con nối. Liên tục 7 đời, con cháu họ Mạc cải biến Hà Tiên từ vùng đất ít người biết đến thành cửa ngõ giao thương sầm uất của Đại Việt.

Di tích Lăng được xây dựng từ năm 1739. Trên cổng nhà thờ có câu đối Hán Nôm do chính Nhà Nguyễn ban tặng:

“Một nhà trung nghĩa danh thơm cả họ

Bảy lớp giậu che, cả nước mến yêu”.

Quanh mộ phong cảnh mây, nước, biển, trời quyện vào nhau thành bức tranh thủy mạc hữu tình, ngắm trông hoài tưởng chừng như lạc vào tiên giới.

Người Việt cảm hoài tấm lòng của dòng họ Mạc tận tụy mở rộng bờ cõi phương Nam cho cả nước. Nhớ ơn Mạc Cửu, thiết tưởng chúng ta không thể quên hai nhân vật gốc Hoa khác từng đóng góp nhiều cho sự phồn vinh của Miền Nam.

* Chú Hỏa (1851 – 1901)

Người gốc Phúc Kiến, Trung Quốc, mang quốc tịch Pháp. Di cư tới Saigon sống bằng nghề bán ve chai mà trở nên giàu có nhanh chóng.

Khoảng nửa đầu thế kỷ 20 đã là một trong tứ đại phú hào của Saigon: nhất Sĩ, nhì Phương, tam Xường, tứ Hỏa (Huyện Sĩ – Lê Phát Đạt, Tổng Đốc Phương – Nguyễn Hữu Phương, Bá Hộ Xường – Lý Tường Quan, Chú Hỏa – Hui Bon Hoa).

Tuy xếp thứ tư nhưng Chú vẫn để lại tiếng thơm muôn đời nhờ tấm lòng không chỉ làm giàu cho riêng mình mà còn quan tâm giúp đỡ cộng đồng xung quanh.

Suốt thời gian dài gia đình Chú đóng góp lớn lao cho sự phát triển của thành phố về vật chất lẫn tinh thần, hiến tặng nhiều công trình phúc lợi như Bệnh Viện Từ Dũ, Bệnh Viện Đa Khoa Saigon, Bệnh Viện Nguyễn Trãi, Trường Tiểu Học Minh Đức…

* Mã Tuyên (1909 – 1994)

Bang Trưởng và Chủ Tịch 11 bang Hoa Kiều Chợ Lớn. Với chức vụ này Ông từng có dịp gặp Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

Chính mối tương giao đó mà tối ngày 1.11.1963 lúc đang bị quân đảo chánh bao vây, Tổng Thống và Cố Vấn Ngô Đình Nhu theo xe ra khỏi Dinh Gia Long rồi chọn nhà Ông để ẩn mình trong đêm định mệnh.

Đón chào Anh Em Tổng Thống tới tá túc. Ông hết mực ân cần chăm sóc tiếp đãi. Một lòng nồng hậu cung kính. Lo chu toàn mọi chuyện mà Tổng Thống cậy nhờ. Căn dặn gia nhân kín đáo bảo mật sự hiện diện của hai Ngài.

Thế rồi tình hình vẫn không sáng sủa. Trong bối rối lo âu Anh Em Tổng Thống phải giả biệt Người Bang Trưởng trung hậu hiếu khách để sang Nhà Thờ Cha Tam rồi bị thảm sát trên đường đến Bộ Tổng Tham Mưu.

Liền sau đó phe đảo chánh kết án Ông 3 năm tù và tịch biên tài sản. Nhưng đời vẫn chưa yên. Sau 30.4.75, việt cọng lại bỏ tù Ông 4 năm ròng.

Thật đáng thương cho Vị ân nhân Việt gốc Hoa chơn chất hào hiệp. Chỉ vì che chở cho Người Lãnh Tụ lâm nạn mà chịu thiệt thân. Xin cầu nguyện Ông yên nghỉ.

Do đâu mọi người bình đẳng với nhau?

Do đâu mọi người bình đẳng với nhau?

Con Cọp thở hơi ra lạnh quá đi thôi! Mến chúc bạn một ngày thật ấm áp trong Thánh Tâm Chúa và Trái Tim Vẹn Sạch của Đức Mẹ. Nhớ mặc đồ đủ ấm nhé kẻo ho làm người xung quanh lại tưởng là bị COVID đấy.

Cha Vương

Thứ 6: 04/02/2022

GIÁO LÝ: Do đâu mọi người bình đẳng với nhau? Mọi người đều bình đẳng với nhau, vì họ có cùng một nguồn gốc, trong Tình yêu sáng tạo của Thiên Chúa. Mọi người đều có cùng một Đấng Cứu chuộc là Chúa Giêsu Kitô. Mọi người đều có thể tìm kiếm và được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu trong Thiên Chúa. (YouCat, số 61)

SUY NIỆM: Mọi người đều là anh chị em với nhau. Kitô hữu không được chỉ liên đới với các Kitô hữu khác nhưng với tất cả mọi người để chiến đấu mạnh mẽ chống các thứ chia rẽ vì kỳ thị chủng tộc, kỳ thị giới tính, kỳ thị kinh tế trong gia đình nhân loại. (YouCat, số 61 t.t)

❦Hãy mở miệng bênh vực người câm, vì quyền lợi của mọi kẻ bị bỏ rơi. (Cn 31:8)

Ngày nay: rất nhiều người trên thế giới, rất nhiều, hàng triệu người, không có quyền ăn, không có quyền học hành, không có quyền làm việc: họ là những nô lệ mới, những người ở ngoại vi cuộc sống, những người bị bóc lột khai thác bởi tất cả mọi người. Ngay cả ngày nay vẫn có chế độ nô lệ: chúng ta hãy nghĩ về điều này một chút. Chúng ta phủ nhận nhân phẩm của những người này. Họ là nô lệ. (Nhận định của Đức Thánh Cha Phan-xi-cô trong bài giáo lý tại buổi tiếp kiến chung, 8/9/2021)

LẮNG NGHE: Căn tính mới này vượt qua mọi khác biệt về sắc tộc, xã hội và tôn giáo: trong Đức Kitô, “không còn phân biệt người Do Thái hay người Hy Lạp, nô lệ hay tự do, nam hay nữ” (Gl 3:28).

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, trong ánh mắt Chúa nam nữ, già trẻ, giàu nghèo, mọi sắc tộc, tất cả đều có một phẩm giá cao trọng như nhau, xin ban thêm lòng mến cho con để con biết tôn trọng phẩm giá con người trên khuôn mặt những người con gặp hôm nay, nhất là thể hiện phẩm giá của mình bằng cuộc sống quảng đại, phục vụ và yêu thương.

THỰC HÀNH: Tập đối xử với tất cả những người xung quanh với một tấm lòng khoan dung yêu mến như Chúa vậy.

From: Đỗ Dzũng

ĐÊM TẠ ƠN  

ĐÊM TẠ ƠN

Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền

Một năm cũ sắp trôi qua và một năm mới sắp đến.  Trong khoảnh khắc giao thừa giữa cũ và mới này, chúng ta đến với Chúa, Đấng Tạo dựng muôn loài, Đấng làm chủ thời gian, để tạ ơn Ngài về 365 ngày sắp qua, và xin Ngài giúp chúng ta biết sử dụng 365 ngày sắp đến theo đúng thánh ý Ngài.

Đêm nay người ta vẫn gọi là đêm giao thừa, là nhịp cầu chuyển tiếp giữa cũ và mới.  Ai ai cũng mong muốn trút khỏi lòng mình mọi lo âu phiền muộn, không ai dám nhắc tới những rủi ro bất hạnh của ngày hôm qua, dường như ai cũng thầm mong ước cho đêm nay như là một khởi đầu tốt đẹp cho hành trình mới của tương lai.  Ai cũng gác lại quá khứ để bước vào năm mới trong niềm vui và hy vọng như câu ca dao xưa:

“Đêm ba mươi co cẳng đạp thằng bần ra cửa.

Sáng mồng một giang tay bồng ông phước vào nhà.”

Thực vậy, mùa xuân, ngày tết, ai cũng mong nhận được nhiều phước lộc, nên ai cũng chúc cho nhau nhiều tài lộc, nhiều tiền, nhiều của.  Những người có tín ngưỡng thì tin rằng may mắn, tiền của là ân lộc trời ban.  Nhưng phước hạnh đời người mà chúng ta cầu chúc cho nhau không chỉ là nhắm đến tài lộc mà là hạnh phúc miên trường, hạnh phúc của người có tâm hồn bình an.

Nhìn lại một năm qua, có những người được hạnh phúc vì làm ăn thuận buồm xuôi gió, công thành danh toại, có những người hạnh phúc vì tìm được chân lý, tìm được lẽ sống, tìm được bình an trong tâm hồn.  Nhưng vượt lên trên tất cả cái may mắn đó, chính là sự sống, là sự bình an của đời người. 

Sự sống luôn ở bên ngoài khả năng của chúng ta, sự sống của chúng ta hoàn toàn lệ thuộc vào Chúa.  Hạnh phúc là ân ban của Thiên Chúa.  Con người không thể kiến tạo hạnh phúc cho mình bằng thủ đoạn, bằng gian dối hay sự ác.  Con người phải sống ngay lành nhờ đó mà Thiên Chúa mới ban phúc lành là bình an.  Một năm qua với những vụ trọng án cho ta thấy con người không thể tạo dựng hạnh phúc cho mình bằng quyền lực để tham nhũng hại dân mà phải bằng tấm lòng luôn đi theo chân thiện mỹ.  Đâu ai ngờ một ông Đinh La Thăng dám nói dám làm đầy quyền thế lại phải hầu tòa?  Đâu ai ngờ một Trịnh Xuân Thanh luôn sống trong nhung lụa giầu có quyền thế lại phải thân tàn ma dại?  Đâu ai ngờ một đại gia Vũ Nhôm khuynh đảo thành phố đáng yêu Đà Nẵng lại có kết cục trong tù tội…?

Hạnh phúc đến từ lộc Trời ban xuống thì con người phải sống theo lẽ Trời.  Phải sống ăn ở ngay lành và làm việc thiện phúc đức.  Quy luật của trời đất là “Xởi lởi trời gửi của cho – Co ro trời co của lại.”   Càng gieo nhân nghĩa con người lại càng tìm được niềm vui hạnh phúc tự trong tâm hồn.  Đây gọi là tích đức để Trời sẽ ban hạnh phúc cho bản thân, cho gia đình và cho mọi người thân nhờ công đức của ta.

Nếu hiểu rằng hạnh phúc – bình an là lộc ban từ Trời thì giây phút này là giây phút tạ ơn về quá khứ đã qua.  Tạ ơn Chúa đã ban cho chúng ta 365 ngày bình an.  Tạ ơn Chúa vì những biến cố xảy ra trong cuộc đời giúp ta nhận ra tình yêu của Chúa luôn bao bọc gìn giữ chúng ta.  Có thể đó là những đau khổ, là những mất mát nhưng chúng ta lại được bàn tay Chúa dìu dắt và bồng ẵm chúng ta qua những thăng trầm cuộc đời.  Tạ ơn Chúa đã cho chúng ta niềm tin tưởng vào Chúa, nếu không, biết đâu giờ này chúng ta đang rơi vào tâm trạng tuyệt vọng vì không đủ can đảm đối diện trước gian nan.

Nguyện xin Chúa Xuân đang về trên quê hương ban cho chúng ta những giây phút đầu xuân tràn đầy bình an và hoan lạc.  Xin Chúa Xuân chúc lành cho giây phút giao thừa này được vơi đi những ưu phiền để người người hưởng một mùa Xuân thánh ân hạnh phúc dư tràn.  Amen!

Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền

From: KittyThiênKim & KimBang Nguyen

THÁNH THIỆN VÀ TỘI LỖI

THÁNH THIỆN VÀ TỘI LỖI

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Thánh thiện và tội lỗi là hai phạm trù đối lập nhau.  Thánh thiện thuộc về Thiên Chúa và tội lỗi là bản chất của con người.  Hai nhân vật được nêu trong Lời Chúa hôm nay, một trong Bài Cựu ước và một trong Bài Tin Mừng, đã khẳng định sự tách biệt này.  Khi được chiêm ngưỡng vinh quang của Thiên Chúa với lời tung hô ba lần “Thánh!  Thánh!  Thánh”, ngôn sứ Isaia đã thốt lên: “Vô phúc cho tôi!  Tôi chết mất, vì lưỡi tôi nhơ bẩn, tôi ở giữa một dân tộc mà lưỡi họ đều nhơ nhớp, mắt tôi đã trông thấy Đức Vua, Người là Chúa các đạo binh.”  Về phần ông Phêrô, khi chứng kiến mẻ lưới lạ, đã khiếp đảm thú nhận: “Lạy Chúa, xin Chúa hãy tránh xa con, vì con là người tội lỗi.”  Phản ứng của hai nhân vật trên đây cho thấy quan niệm của Do Thái giáo về sự cách biệt giữa Thiên Chúa và con người, vì Thiên Chúa là Đấng Chí thánh và con người là kẻ phàm hèn tội lỗi.  Sự khác biệt này đã tạo một khoảng cách giữa Thiên Chúa và con người.  Khoảng cách ấy ngặt nghèo đến nỗi, nếu con người lỡ nhìn thấy Chúa, thì phải chết.

Nếu con người lo sợ và mặc cảm về thân phận tội lỗi của mình, thì Thiên Chúa lại chủ động đến với họ.  Thiên Chúa trong Cựu ước đã trấn an ông Isaia: “Hãy nhìn xem, than lửa này đã chạm đến lưỡi ngươi, lỗi của ngươi được xoá bỏ, và tội của ngươi được thứ tha.”  Đức Giêsu trong Tân ước thì lại nói với ông Phêrô: “Đừng sợ hãi: từ đây con sẽ là kẻ chinh phục người ta.”  Thật lạ lùng!  Thiên Chúa không những bỏ qua thân phận tội lỗi của con người, mà còn chọn gọi họ như những cộng sự viên thân cận của Ngài.  Ông Isaia và ông Phêrô không những không phải chết, mà còn được gọi và sai đi để loan truyền giáo huấn của Thiên Chúa, giúp cho nhiều người nhận biết Ngài.  Quả thật, ông Isaia và ông Phêrô đã nhiệt thành đáp lại lời mời gọi của Chúa, trở nên ngôn sứ và tông đồ của Ngài.

Thiên Chúa đã lấp đầy khoảng cách giữa Ngài với chúng ta.  Không chỉ chủ động đến gần con người tội lỗi, Chúa Cha còn sai Con Một của Ngài là Đức Giêsu Kitô đến trần gian để sống thân phận con người.  Người thánh thiện, mà chấp nhận hòa mình vào đám đông tội nhân đang xin ông Gioan Tẩy giả làm phép rửa.  Người là Đấng vô tội mà bị kết án như một kẻ bất lương.  Người là nguyên lý của sự sống mà đã phải mang lấy cái chết trên thập giá.  Qua Đức Giêsu, nhờ Đức Giêsu và trong Đức Giêsu, con người tội lỗi được trở nên con Thiên Chúa là Đấng Chí Thánh.  Đây là sự trao đổi nhiệm màu: Con Thiên Chúa mang lấy tội lỗi của con người để con người được làm con Thiên Chúa.

Con Thiên Chúa đã làm người để giao hòa nhân loại với Thiên Chúa.  Từ nay, không ai còn mặc cảm thân phận tội lỗi nữa.  Hết thảy đều được Thiên Chúa yêu thương và mời gọi làm sứ giả của Ngài giữa lòng thế giới.  Thánh Phaolô là một bằng chứng: ông thú nhận mình đã từng giết hại các tín hữu, nhưng khi được Chúa quy phục, ông đã ăn năn sám hối và cuộc đời của ông đã sang trang.  Ông tâm sự: “Tôi vốn là kẻ hèn mọn nhất trong các tông đồ, và không xứng đáng được gọi là tông đồ, vì tôi đã bắt bớ Hội Thánh của Thiên Chúa.  Nhưng nay tôi là người thế nào, là nhờ ơn của Thiên Chúa, và ơn của Người không vô ích nơi tôi, nhưng tôi đã chịu khó nhọc nhiều hơn tất cả các Đấng: song không phải tôi, nhưng là ơn của Thiên Chúa ở với tôi” (Bài đọc II).  Đó là điều kỳ diệu của tình thương.  Phaolô luôn tâm niệm điều này và ông thấy có bổn phận làm cho vương quốc của Chúa sớm được thực hiện nơi trần gian.

Isaia, Phêrô, Phaolô, ba con người xuất thân từ ba hoàn cảnh xã hội khác nhau, nhưng có chung một lý tưởng và một ơn gọi: làm sứ giả của Chúa và nhiệt thành loan báo lời Ngài.  Hôm nay, Chúa vẫn đang kêu gọi chúng ta.  Đừng mặc cảm cho rằng mình bất xứng hay bất tài.  Ơn của Chúa sẽ phụ giúp và ban cho chúng ta sức mạnh.  Về phía chúng ta, chúng ta cần đáp lại lời mời gọi của Chúa, bằng tâm tình yêu mến, nhiệt thành và thiện chí.  Chúa sẽ làm cho chúng ta trở nên những dụng cụ hữu ích trong Giáo Hội của Người.  Qua những dụng cụ bé mọn ấy, Chúa tiếp tục làm nên những mẻ cá kỳ diệu, và làm cho cuộc sống này nở hoa.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim