NIỀM HY VỌNG NƯỚC TRỜI – TGM Ngô Quang Kiệt

NIỀM HY VỌNG NƯỚC TRỜI

TGM Ngô Quang Kiệt

Có nhiều người nghĩ thế giới chỉ bó gọn trong trái đất và con người chỉ thuộc về mặt đất.  Nhưng không phải thế.  Hôm nay, Chúa Giêsu lên trời là một bằng chứng cho niềm hy vọng của ta.

Việc Chúa Giêsu lên trời bảo cho ta biết rằng ngoài trái đất còn có trời.  Ngoài cõi nhân sinh nhỏ hẹp còn có cõi thần linh bao la.  Ngoài cuộc sống trần gian mau qua còn có cuộc sống thiên đàng vĩnh cửu.

Chúa Giêsu về trời là niềm hy vọng cho ta.  Mai sau ta cũng sẽ được về trời với Người.  Vì chính Người đã hứa: “Thầy đi để dọn chỗ cho anh em, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó với Thầy.”

Chúa Giêsu đã liên kết ta thành một thân thể với Người.  Người là đầu.  Chúng ta là chi thể.  Đầu tiến đến đâu thì chi thể cũng sẽ tiến đến đấy.

Chúa Giêsu dạy ta biết rằng ta là con của Thiên Chúa Cha, Đấng ngự trên trời.  Con sẽ được ở trong nhà cha mẹ.  Chúng ta sẽ được ở nhà Cha trên trời là tự nhiên.

Tuy nhiên Chúa Giêsu chỉ về trời sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ Đức Chúa Cha trao phó cho Người ở trần gian.  Nhiệm vụ đó là loan báo cho mọi người biết Chúa là Cha yêu thương mọi người.  Nhiệm vụ đó là làm chứng về tình yêu thương của Cha đối với mọi người.

Hôm nay, trước khi về trời, Chúa Giêsu uỷ thác nhiệm vụ đó lại cho ta.  Ta phải tiếp nối sứ mạng của Chúa Giêsu loan báo Tin Mừng yêu thương cho mọi người.  Đem niềm hy vọng đến cho kiếp người.

Với niềm hy vọng đó, người Kitô hữu chân đạp đất nhưng lòng vẫn hướng về trời cao.  Niềm hy vọng đó giải thoát ta khỏi nô lệ vào mặt đất nhờ đã biết rõ vật chất chỉ là phương tiện sẽ mau chóng qua đi.  Niềm hy vọng đó nâng cuộc sống con người lên vì từ nay ta hiểu rằng định mệnh loài người không phải như loài súc vật, nhưng ngang hàng với thần linh.  Niềm hy vọng đó làm cho cuộc sống của ta có ý nghĩa, vì Chúa tạo dựng nên con người không phải để con người tàn lụi đi theo quy luật của vật chất mà để con người phát triển, tồn tại đến vô biên, không phải bị kết án vào những đau khổ vất vả trần gian, nhưng đã được tiền định hưởng hạnh phúc vĩnh cửu trên thiên đàng.  Niềm hy vọng đó cho ta thêm động lực phục vụ tha nhân tận tâm hơn vì đó chính là sứ mang Chúa trao phó.  Niềm hy vọng đó khuyến khích ta tích cực xây dựng xã hội tốt đẹp hơn, vì đó chính là điều kiện cho ta được vào Nước Trời.

Lạy Chúa, xin giúp con chu toàn nhiệm vụ ở trần gian để sau này con được về trời với Chúa.  Amen.

TGM Ngô Quang Kiệt

From: Langthangchieutim

‘Đèn Cù’ và tác giả Trần Đĩnh

‘Đèn Cù’ và tác giả Trần Đĩnh

10:12 | Posted by BVN1

Nguyễn Văn Tuấn

Tôi nghiệm ra rằng lịch sử Việt Nam mình thời XHCN qua giai thoại và những phát biểu riêng tư có ý nghĩa hơn là qua văn bản. Đèn Cù là một cuốn sách có rất nhiều giai thoại, và qua đó cung cấp cho chúng ta một cái nhìn khác về những người lãnh đạo ở miền Bắc.

Có khi nào các bạn để ý đến các bài nói chuyện của giới lãnh đạo chánh trị ở Việt Nam? Tôi không nói đến những bài diễn văn mà họ đọc trước công chúng hay các buổi lễ lạc; tôi nói đến những buổi tiếp xúc mang tính riêng tư hay giữa những người trong cùng hội. Nội dung của những bài nói chuyện trong các buổi họp mặt như thế, mặc dù là khách mời – guest speaker – nhưng thường là những chuyện có vẻ tầm phào, chẳng có hàm lượng tri thức gì cả.

Có lần, trong một buổi họp mặt các phóng viên mảng khoa học, họ mời một ký giả kỳ cựu đến chia sẻ kinh nghiệm. Tựa đề bài nói chuyện được ghi trong giấy mời là “Báo chí và vai trò truyền tin khoa học” làm cho tôi chuẩn bị lắng nghe. Thế nhưng suốt buổi nói chuyện, ông chỉ nói về những trải nghiệm cá nhân (như cá tánh, nhậu nhẹt), những câu chuyện rời rạc (ví dụ như tai nạn nghề nghiệp), hay nói chung là những câu chuyện chẳng đâu vào đâu, thậm chí chuyện tiếu lâm liên quan đến các nhân vật quan trọng mà ông có dịp tiếp xúc. Ông nói không có note, mà giống như kể chuyện. Mọi người khen ông ‘nói hay’.

Nghe xong tôi không biết mình học được gì từ bài nói chuyện. Nhưng nếu ghép những ‘ký ức vụn’ đó vào những câu chuyện của các tác giả khác thì chúng ta có một bức tranh tương đối rõ nét về mấy vị lãnh đạo ngoài đó. Các tác giả khác đó là Bùi Tín, Vũ Thư Hiên, Nguyễn Minh Cần, Trần Quốc Vượng, Dương Thu Hương, Tô Hải, Lê Phú Khải, và đặc biệt là Trần Đĩnh.

Ký ức của những người trong cuộc

Nếu là người bình thường đọc những sách của các tác giả trên, người ta thoạt đầu sẽ thấy… khó tin. Chính tôi cũng ở trong tâm trạng đó khi đọc ‘Đêm Giữa Ban Ngày‘ của Vũ Thư Hiên và Hoa Xuyên Tuyết của Bùi Tín. Khó tin vì tôi nghĩ chẳng lẽ mấy vị như HCM, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, v.v. trông có vẻ rất uy nghi mà lại có những hành xử rất ‘trần ai’ như mô tả trong sách. Nhưng sau này, đọc nhiều sách của những nhân vật trong cuộc ngoài Bắc mới thấy những sự kiện họ kể lại trong sách là rất khả tín. Những cuốn sách của các tác giả đó có tác động như mở mắt cho tôi.

Tác giả Trần Đĩnh (tên thật là Trần Kim Đĩnh) mới qua đời tuần vừa qua (ngày 12/5/2022) tại Sài Gòn. Ông thọ 93 tuổi. Các bạn trẻ có lẽ không nghe hay biết đến ông, nhưng ông là một chứng nhân quan trọng. Ông là người từng chấp bút viết tiểu sử cho Hồ Chí Minh và từng tiếp xúc với nhiều nhân vật cộng sản cao cấp trong An Toàn Khu ở miền Bắc trong thập niên 1950. Trong vai trò đó, ông biết rất nhiều chuyện ‘thâm cung bí sử’ của các nhân vật lãnh đạo miền Bắc. Những câu chuyện được ông ghi chép lại khá cẩn thận, nhưng không thể in được ở trong nước. Năm 2014, Nhà xuất bản Người Việt Books ở California ấn hành cuốn ‘Đèn Cù‘ cho ông.

Đèn Cù không hẳn là hồi ký, mà là những mảnh ký ức vụn của ông trong vai trò một ký giả kỳ cựu. Trong sách, ông giãi bày những cảm tưởng, ghi lại những sự kiện lịch sử, và những câu chuyện mà sách giáo khoa và văn bản chánh thức của đảng không bao giờ đề cập đến.

Chuyện tử hình bà Nguyễn Thị Năm

Chẳng hạn như chuyện ông HCM cải trang đi xem buổi hành hình bà Nguyễn Thị Năm được mô tả rất chi tiết. Trần Đĩnh kể rằng hôm đấu tố bà Nguyễn Thị Năm, “Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi và Trường Chinh thì đeo kính râm suốt”. Khi bà Năm bị bắn chết và người ta phải đưa thi thể bà vào cái hòm, nhưng cái hòm thô sơ và nhỏ nên không vừa với thi thể của bà. Thế là các “Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô…” Sau đó người ta đem thi hài của bà đi đâu chẳng có thân nhân nào biết (nghe nói sau này năm 1993 thân nhân tìm được mộ qua một nhà ngoại cảm). Đọc mà hình dung cảnh đó sao tôi thấy rợn người.

Cần nói thêm rằng bà Nguyễn Thị Năm (Cát Hanh Long) như chúng ta biết là một ‘đại gia’ (nói theo ngôn ngữ ngày nay), nhưng cũng là một ân nhân của ông Hồ và những người lãnh đạo cao cấp trong đảng. Bà đóng góp 700 lạng vàng cho Việt Minh. Con trai của bà theo Việt Minh và làm sĩ quan trong quân đội. Các lãnh đạo Việt Minh thời đó như Trường Chinh và Hoàng Quốc Việt đều tá túc hay được bà giúp đỡ. Nói chung, bà là người tư sản và là người tốt bụng.

Nhưng Nhà văn Trần Đĩnh kể trong “Đèn cù” rằng trước khi đem bà đi bắn, ông HCM qua bút danh “C.B” viết bài “Địa chủ ác ghê” trên báo Nhân Dân tố cáo bà Nguyễn Thị Năm từng giết chết 14 nông dân, làm chết 32 gia đình, phản cách mạng, v.v. Bài viết đậm chất đấu tố cũng là bản án dành cho bà Nguyễn Thị Năm: tử hình.

Ông Đỗ Mười bị bệnh tâm thần?

Một trong những tiết lộ thú vị nhứt của Đèn Cù là ông Đỗ Mười, theo Trần Đĩnh, là người có vấn đề tâm thần. Ông viết rằng có lúc ông Đỗ Mười phải nhập viện khoa tâm thần Việt – Xô. “Khi lên cơn, ông leo lên cái cây cạnh cổng đứng xoạc chân cành cao cành thấp giơ tay hét xung phong. Các cô y tá ra dỗ bác xuống đều ù té chạy. Bác mặc quần đùi, trận địa pháo đài bày ra hết. Mà các cô thì không ở nam khoa, nội tiết. Sau gien điên của Đỗ Mười đã bền bỉ truyền sang cả con trai và cháu. Đồn rằng đặc điểm là thạo ăn người“.

Tôi không hiểu “thạo ăn người” có ý nghĩa gì. Nhưng trong sách có nhiều chỗ ông viết rất khó hiểu như thế.

Nhà tư tưởng Lê Duẩn và rau muống

Trần Đĩnh kể rằng ông Lê Duẩn thích thể hiện như là một nhà tư tưởng. Một hôm ông soạn một cương lĩnh về con người và phụ tá lái xe mời GS Trần Đức Thảo đến để nghe ông thuyết trình. Khi nói xong, GS Thảo ngồi yên, không có ý kiến. Khi phụ tá của ông Duẩn nhắc nhở, GS Thảo buông một câu rằng ông chẳng hiểu gì cả. Thế là Duẩn nổi nóng “thượng cẳng tay hạ cẳng chân” cho GS Thảo một phen suýt chết. Lê Duẩn còn ‘phạt’ để cho GS Thảo đi bộ vài cây số về nhà.

Ông Lê Duẩn đề nghị BS Phạm Ngọc Thạch nghiên cứu xem một chén cơm ăn với rau muống luộc và rau muống xào thì bên nào giàu dinh dưỡng hơn. Tác giả viết “Tôi nghĩ ngay việc gì phải Phạm Ngọc Thạch nghiên cứu, cứ bày lên bàn ông Duẩn hai dúm cơm, một rang mỡ, một không là kiến nó cho ý kiến ngay không phải chờ Phạm Ngọc Thạch chỉ thị cho ngành y tế“.

Chuyện BS Phạm Ngọc Thạch

BS Phạm Ngọc Thạch là dân Nam Bộ, Tây học, và người có cá tánh. Ông tự lái xe hơi chứ không cần tài xế. Trong Đèn Cù, Trần Đĩnh kể rằng khi một đồng nghiệp Nam Bộ của ông là BS Nguyễn Văn Cương qua đời ở Hải Phòng, ông tự lái xe xuống Hải Phòng để đưa đám. Khi tới nơi, ông thấy tượng Phật và chuông mõ còn trong nhà mà không đưa theo linh cữu, nên ông nổi nóng nói: “Tin hay không là chuyện riêng của các anh; còn tất cả chúng ta đều phải tôn trọng tín ngưỡng của người thân đã khuất’”.

Chuyện về những “Thằng”

Chữ ‘thằng’ bây giờ rất nổi tiếng, nhứt là sau chuyến công du của ông thủ tướng PMC. Nhưng nếu đọc Đèn Cù, các bạn sẽ gặp rất nhiều ‘thằng’ được đề cập đến trong những buổi gặp mặt riêng tư. Trần Đĩnh kể rằng ông Nguyễn Chí Thanh (đại tướng) rất mê Tàu và hay nói chuyện bỗ bã. Có lần ông Thanh lý giải rằng bún là món ăn xa xỉ, rằng “thịt chó phải đi với thằng bún và “thằng mắm tôm”.

Nhưng ngạc nhiên là ‘thằng’ còn được dùng cho một tổ chức quốc tế. Đọc Đèn Cù, thấy có đoạn tác giả trích lại câu nói của ông Đỗ Mười nói về Liên Hiệp Quốc như sau:

“Anh có biết Liên Hợp Quốc là gì không? Nó là thằng địch phản động, thế mà anh lại giúp nó vu cáo ta, gây sức ép với ta bằng lá thư của anh. Nó đang chửi ta vi phạm nhân quyền kia kìa”.

Có một điều đáng chú ý là các nhân vật như ông HCM, Võ Nguyên Giáp, và cả Phạm Văn Đồng không thấy họ dùng chữ ‘thằng’. Chỉ có mấy người như Đỗ Mười, Lê Duẩn, Nguyễn Chí Thanh, v.v. hay dùng chữ ‘thằng’. Cái khác biệt giữa hai nhóm này là một bên là nhóm có học thức và một bên là hơi kém học thức.

Nói chung, trong Đèn Cù, Trần Đĩnh vẽ chân dung của những người trong vai trò lãnh đạo ngoài Bắc rất ư là… ‘trần ai’. Khó biết được bao nhiêu những gì kể trong sách là thật, nhưng nhiều điều được viết ra trong sách có vẻ nhứt quán với, và giải thích được, những gì xảy ra ngày nay. Tác giả Trần Đĩnh đã ra người thiên cổ nhưng những gì ông kể lại sẽ là chất liệu và chứng từ để thế hệ sau nghiên cứu về lịch sử cận đại của Việt Nam.

TRẦN ĐĨNH 1930 – 2022. Ảnh: Phạm Đình Trọng

N.V.T.

Nguồn: FB Nguyễn Tuấn

Tham nhũng, bệnh thành tích, hư danh do đâu mà ra?

Tham nhũng, bệnh thành tích, hư danh do đâu mà ra?

10:27 | Posted by BVN1

Trương Quang Đệ

Hiện nay những tật xấu nói trên đã thành mãn tính, làm xói mòn niềm tin của dân chúng về đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn. Hình như mọi nơi mọi cấp đều thấy tham nhũng, thành tích dỏm, tiến sĩ cầu lông, giáo sư nửa chữ không thông.

Về bề mặt, những tật xấu này xuất hiện ở những khâu yếu kém về cơ chế quản lý, giám sát, về công tác nhân sự; thiếu vắng dư luận xã hội. Về chiều sâu những tật xấu ấy sản sinh từ một nền giáo dục không đủ tầm nhân bản.

Có một thời, tuy sống dưới chế độ thực dân phong kiến, học sinh các cấp vẫn được học trong sách Quốc văn giáo khoa thư những bài về ứng xử cao đẹp của con người, rồi đọc thêm bên ngoài những sách như “Cổ học tinh hoa”, “Những tấm lòng cao cả”, v.v. Ngày nay nói chung tài liệu học tập các cấp không đủ tầm nhân bản mà thiên về kiến thức khoa học cao siêu, chẳng hạn dạy đánh vần theo âm vị, âm tiết trong sách Tiếng Việt. Không biết chuyện tôi sưu tầm sau đây có thầy cô nào quan tâm dạy cho trẻ không?

“Một cậu bé ngồi chơi bên đường bắt được một con bướm. Vừa lúc ấy một nhà sư đi ngang qua, mang nặng trên vai một bó củi thu lượm trong một khu rừng gần đó. Cậu bé ra hiệu cho nhà sư dừng lại, đặt bó củi xuống đất rồi nói:

– Trong tay cháu có một con bướm, đố sư ông biết nó sống hay chết? Nếu sư ông nói sai, bó củi thuộc về cháu đó.

Sư ông mỉm cười, không chút do dự, nói ngay:

– Nó chết rồi!

Cậu bé cười đắc thắng, xòe tay ra, con bướm sống bay vút lên không.

– Sư ông thua rồi!

Sư ông mỉm cười chấp nhận thua rồi lững thững đi tay không về chùa.

Về đến nhà, cậu bé thích thú kể cho cha nghe chuyện con bướm và bó củi. Nghe xong người cha hoảng hốt, vác bó củi và dắt cậu bé đi đến chùa gặp nhà sư. Người cha trả lại củi cho nhà sư, nói ngắn gọn lời xin lỗi thay cho con. Nhà sư chỉ mỉm cười xoa đầu cậu bé rồi trao đổi vài lời với người cha về thời tiết, về công việc đồng áng. Hai cha con từ biệt nhà sư ra về. Dọc đường cậu bé thắc mắc hỏi cha:

– Nhà sư thua con mà, sao cha lại trả bó củi?

Người cha giải thích:

– Nhà sư biết con bướm còn sống, nhưng sợ rằng nếu ông nói đúng, con sẽ bóp chết con bướm. Vì vậy nhà sư cố nói sai để cứu sinh mạng con bướm. Con biết không? Đó là lòng từ bi của nhà sư. Con nhớ lấy chuyện này để tâm niệm cả đời làm việc thiện, tránh làm điều ác”.

Muốn có một nền giáo dục nhân bản phải có một tầng lớp tinh hoa trong xã hội làm nền tảng. Tiếc thay hiện nay tầng lớp đó bị xóa bỏ. Ngày trước “Đã là con nhà thì không làm điều sai trái”, đã là nhà giáo, sinh viên thì dân chúng tin tưởng tuyệt đối về phẩm hạnh.

Ngoài nhà trường ra, dư luận xã hội cũng là môi trường giáo dục. Một thứ “chế tài” hiệu quả đối với những kẻ xấu là bạn bè xa lánh.

Nhưng trong xã hội vẫn có thể lưu truyền những điều tai hại ẩn náu dưới dạng những kinh nghiệm sống. Tôi ngán nhất là thường nghe ai đó nói một cách chắc nịch:

– Tham nhũng là chuyện phổ biến không riêng gì ở nước ta mà khắp mọi quốc gia trên thế giới.

– Không ai làm việc tốt một cách vô tư cả, ai cũng có động cơ về lợi ích cá nhân.

– Thương trường là chiến trường.

…

Đó là những điều ngụy biện nhằm thanh minh cho nạn tham nhũng, những cách làm ăn chụp giựt, những lối cạnh tranh không lành mạnh, những việc thiếu trách nhiệm trong quản lý.

Nói tham nhũng là tật chung cho mọi quốc gia thì coi như bỏ cùng một rọ nhà nước dân chủ với nhà nước chuyên chế. Trong một nhà nước dân chủ, hệ thống luật pháp và việc tự do ngôn luận luôn nhanh chóng phát hiện các hiện tượng tham nhũng và xử lý kịp thời. Trong một nhà nước chuyên chế, việc chống tham những rất khó vì không ai dám nói gì, do đó nó chỉ được bó hẹp vào nhóm nắm quyền lực cao nhất, mọi việc vì vậy mà thường chậm trễ và hiệu quả thấp.

Nói không ai làm việc tốt mà không có động cơ cá nhân là phủ nhận biết bao người vô tư, trung thực, thiện chí; coi ai cũng xấu, xấu nhiều xấu ít mà thôi. Quả là một nhận định thê thảm cho loài người. Còn câu “thương trường là chiến trường” chỉ đúng cho các nền kinh tế thị trường sơ khai, hoang dã, chưa có thói quen làm ăn chính đáng, chưa biết cách hợp tác trong kinh doanh.

Bệnh thành tích và thói hư danh là sản phẩm của các xã hội không lấy thực chất con ngườì làm trọng mà chỉ dựa vào các con số thống kê, dựa vào những nhãn mác hình thức như bằng cấp, chức danh, học hàm học vị. Ở các nước tiên tiến người ta tuyển dụng nhân sự bằng các cuộc phỏng vấn, những ngày thử việc, chứ không dựa vào một mớ giấy tờ hỗn độn như các cấp quản lý ở các nước chậm tiến.

T.Q.Đ.

Nguồn: FB Truong Quang De

THỜI GIAN

THỜI GIAN

… Có thể đi qua những nông sâu của cuộc sống, rồi quay nhìn lại để hiểu lòng người.

Có thể đi qua những khó khăn, rồi quay nhìn lại để hiểu lòng mình.

Nhưng không thể đi qua cái chết, rồi quay nhìn lại để hiểu cuộc sống. Cách duy nhất để hiểu cuộc sống là “sống”.

Thời gian đẩy mỗi người đi về phía hư vô, rồi không quên xóa hết từng dấu chân phía sau lưng họ. Thời gian như con đường một chiều, không cho người quay lại.

Khi càng sống trọn vẹn, tiếc nuối càng ít, nỗi lo sợ cái chết càng nhỏ.

Thời gian là con đường một chiều, không quay lại, không cho phép ai quay lại.

Cách duy nhất để hiểu được cuộc sống là “sống”.

Mong người luôn an.

Bài trích một đoạn từ

Cuộc Sống Nhìn Từ Ô Cửa Thiền

Sài Gòn và Hà Nội hay “Singapore & Paris Việt Nam”…- Tạp Ghi Huy Phương

Van Pham

Tạp Ghi Huy Phương

Sài Gòn và Hà Nội hay “Singapore & Paris Việt Nam”….

(Văn hóa của kẻ “thắng cuộc với văn hóa của người “thua cuộc”!!!)

Sau khi đi tù về vài năm, khoảng 1985, tôi có mở một tiệm làm hình và tráng phim gia công trên đường Lý Thái Tổ, Sài Gòn. Nhờ vậy, ở đây tôi có dịp tiếp xúc với nhiều người đủ mọi tầng lớp xã hội và ở khắp mọi miền, nhất là dân miền Bắc, sau Tháng Tư, 1975, đổ xô vào Nam kiếm ăn rất nhiều. Vì dù miền Nam sau ngày “giải phóng” đã xuống cấp tột cùng, trông cũng còn khá giả, tươm tất hơn ở miền Bắc sau 20 năm dưới chế độ cộng sản.

Một ngày nọ, tôi gặp một người trung niên miền Bắc, trông mặt mày cũng khôi ngô, nhưng áo quần nhàu nát, làn da xanh mét như người thiếu ăn, anh vào tiệm, ngửa tay ra, nói mấy câu. Nghe giọng nói tôi biết ngay là người này ở ngoài Bắc mới vào, đang hành nghề xin ăn.

Tôi hỏi anh:

– “Tận ngoài Bắc, sao anh vào đây đi ăn xin?”

Không hề ngượng nghịu, anh nói rõ:

– “Vào đây xin 10 người cũng có được 6 người móc túi cho, lại chẳng bao giờ bị chửi bới. Ngoài Bắc, nhất là Hà Nội, thì đừng hòng! Có mà chết đói.”

Ðó là điều tôi nhận ra, như vậy là có sự khác biệt nhau giữa Sài Gòn và Hà Nội. Hà Nội đại diện cho miền Bắc và Sài Gòn phản ánh cho những đặc tính của miền Nam.

Cộng Sản vào không phải làm điện khí hóa cho nông thôn trở thành thành thị, nhưng thật tình đã “nông thôn hóa” thành thị, nên dân Sài Gòn thường trực bị cúp điện, nhiều nơi tìm cách đào giếng để kiếm nước và sẵn sàng bới sân gạch lên để trồng khoai lang cải thiện, hay như ông bạn tôi ở chung cư Thanh Ða, bớt chỗ sinh hoạt để nuôi hai con heo nái trên sân thượng.

Sài Gòn sau thời gian đổi tên, nguyên do chỉ vì cái bến Nhà Rồng chết tiệt, chẳng mấy chốc xuống gần bằng Hà Nội. Bằng Hà Nội hơn, nhất là sau khi họ ồ ạt “vào thành phố” như một câu hát của Trịnh Công Sơn, với những “cửa hàng thịt phụ nữ,” “cửa hàng chất đốt thanh niên” mọc ra. Cái cảnh phơi áo quần trên cửa sổ, treo khăn lông trong “xe con,” nuôi heo, trồng rau ngay trong sân nhà, hay hai anh bộ đội lái xe khác chiều dừng xe ngay giữa lộ để nói chuyện với nhau, bất cần tiếng chửi của thiên hạ.

Mới thoạt nhìn, Sài Gòn bỏ ngỏ và bắt đầu nhếch nhác giống Hà Nội, nhưng sự thật trong gan ruột, hai thành phố đối cực, đối đầu này đang có những điều khác biệt, một bên là “nơi hang ổ cuối cùng và đâu cũng thấy tàn dư Mỹ Ngụy,” và Hà Nội, “thủ đô của lương tri, phẩm giá con người!” Vì vậy mà ngày nay, sau gần 40 năm “thống nhất” người ta còn đi tìm và thấy ra có quá nhiều khác biệt giữa Sài Gòn, Hà Nội.

Cách biệt vì cách đối xử chính trị như vậy, trách sao Sài Gòn và Hà Nội không cách biệt về văn hóa, mặc dầu lúc nào hai bên cũng cho bên kia là “quê hương tù dày!” Tuy vậy, Hà Nội thắt lưng, buộc bụng, tẩy não, “dốc hết hạt gạo, cục muối cho miền Nam đánh Mỹ,” làm sao so được với Sài Gòn “bơ thừa sữa cặn!”

Nói về giáo dục, sau Tháng Tư, 1975, đồng bào và thầy cô giáo miền Nam hẳn đã biết loại văn hóa ăn nói vô lễ, thô tục của lũ trẻ miền Bắc mới vào Nam, vì miền Bắc không có khẩu hiệu “tiên học lễ, hậu học văn” treo trong các lớp tiểu học. Ngày ra Bắc, lên tận Hoàng Liên Sơn, tôi đã trông thấy những nét văn hóa tiêu biểu, được viết bậy lên vách tường nhà trường tiểu học, chưa kịp xóa sạch, nói đến sự quan hệ của ngành công an và giáo dục: “Công An (đ.) Cô Giáo!”

Trên đường làng Cẩm Nhân, Yên Bái, chúng tôi đi ngang một nhà giữ trẻ của hợp tác xã, nghe tiếng trẻ khóc la và tiếng quát của một phụ nữ: “Bố mẹ chúng mày đéo cho lắm vào, để chúng mày làm khổ thân bà!” “Bà” đây là người giữ trẻ của hợp tác xã nông nghiệp, bà có nhiệm vụ giữ trẻ thì khỏi ra đồng như các hợp tác xã viên khác. Liệu lũ trẻ này lớn lên dưới sự chăm sóc của những người này này, ngôn ngữ của chúng sẽ ra sao?

Trên các blog và báo chí trong nước, đề tài “những sự khác biệt giữ Sài Gòn và Hà Nội” tương đối là một đề tài hấp dẫn.

Tôi dẫn một vài ví dụ:

Giao tiếp:

– Ở Sài Gòn, bạn dửng dưng khi thấy cô bán hàng cúi gập người chào bạn.

– Ở Hà Nội, bạn xúc động đến sững sờ khi thấy ai đó nói lời cảm ơn.

Hàng quán:

– Tô hủ tíu mì Sài Gòn được bưng ra với tô được đặt trên chiếc đĩa.

– Bát phở gà Hà Nội được khuyến mại với ngón tay cái của con bé bưng bê!

Ca ve:

– Khi bạn vừa thanh toán xong tiền cho cave…

Cave Hà Nội: “Cho em xin thêm 10 nghìn để còn đi xe ôm về.”

Cave Sài Gòn: “Em bớt cho anh 10 ngàn, lần sau nhớ kiu em nha!”

Nhà sách:

– Hà Nội: Nhân viên hách dịch.

– Sài Gòn: Vào đọc chùa thoải mái, nhất là các em bé, có thể ngồi tại chỗ đọc mà không sợ bị đuổi!

Trong quán ăn:

– Sài Gòn: “Vâng em làm ngay đây.”

– Hà Nội: “Làm gì mà cuống lên thế! Muốn nhanh thì xéo sang hàng khác!”

Bạn bè:

– Hà Nội: Hay để bụng, ghét mà trước mặt vẫn chơi, về nhà nói xấu.

– Sài Gòn: Mau huề, ghét là biến, không chạm mặt!

Nhưng liệu những sự khác biệt này kéo dài được bao lâu nữa? Bây giờ, Sài Gòn và Hà Nội đã bắt đầu đầu giống nhau, ảnh hưởng và bị đồng hóa, vì người Nam ra Bắc thì ít mà người Bắc vô Nam càng ngày càng đông, như một người tên Jor Dan viết trên blog: “Mỗi người có một cách suy nghĩ riêng. Nhưng đa phần chỉ nói yêu Hà Nội, nhưng lại thích được sống ở Sài Gòn. Ca sĩ Hà Nội vào Sài Gòn lập nghiệp nhiều quá còn gì!”

Sau 42 năm bây giờ hai thành phố này đã có những chuyện giống nhau. Ở đâu cũng kẹt xe kinh khủng, và sau một trận mưa, không chỉ ở thành phố “Singapore của bác” mà ở Hà… Paris… cũng lội!

Vô kỷ luật:

Sinh viên:

– Hà Nội: Nhiều em cave trông như sinh viên.

– Sài Gòn: Nhiều em sinh viên trông như cave.

Giao thông:

– Sài Gòn: Bạn có thể vượt đèn đỏ thoải mái.

– Hà Nội: Bạn có thể lượn lờ trước mũi xe hơi.

Chúng ta không hy vọng gì Hà Nội Paris và Sài Gòn Sing sẽ mãi mãi khác nhau vì chúng ngày càng gân hơn. Sự đồng hóa và việc di dân ồ ạt sẽ làm cho Sài Gòn càng ngày càng gần với Hà Nội. Ðiều rõ nhất là Hà Nội trước năm 1954 và Hà Nội bây giờ hoàn toàn khác nhau. Năm 1954, sau Hiệp Ðịnh Geneva, một số người đã mang sự thanh lịch của Hà Thành năm xưa đi xa, để “Hà Lội Paris” ngày nay cho những người mới vào tiếp thu, từ giọng nói đến văn hóa cư xử đã hoàn toàn khác biệt.

Người Sài Gòn hôm nay sẽ không còn là người Sài Gòn của những ngày tháng cũ, tất cả chỉ còn là chuyện thời gian. Chỉ sợ sau ngày Sài Gòn trở lại tên cũ, chất Sài Gòn sẽ không còn nữa.

Chúng ta yêu Sài Gòn chính là yêu chính chúng ta, cái bóng của dĩ vãng. Muốn Sài Gòn không đổi thay, chính lòng mình phải không thay đổi.

Hình minh họa: – Một xã hội đè lên nhau để chụp giựt…

Lại chuyện ‘án cho quan’ qua vụ thuốc giả mà thứ trưởng y tế bị bốn năm tù (RFA)

Đài Á Châu Tự Do 

Thông tin về án tù bốn năm cho Thứ trưởng Bộ Y tế được đăng tải trên fanpage của Báo điện tử VTV hôm 19/5, đến này có gần 900 lượt bình luận, rất nhiều trong số đó bày tỏ sự tức giận với việc toà giảm án dành cho cựu lãnh đạo Bộ Y tế.

Facebooker Trần Hưng bình luận: “Không thoả đáng. Cái quái gì vậy, như vậy có phải quá nhẹ nhàng? Luật pháp sao xử kỳ vậy! Kẻ sát nhân tiếp tay hại hàng nghìn con người vì uống thuốc giả, cướp tài sản, bao nhiêu nước mắt của người dân. Ấy vậy mà bốn năm tù!!”

“Nếu đúng như vậy thì không còn tin vào pháp luật Việt Nam nữa, phải phạt mức án cao nhất mới thỏa đáng.” – Người dùng Facebook tên Thuỳ Dung.

Facebooker Nguyễn Tân Tiến cho rằng: “Án nhẹ quá chắc sẽ còn nhiều Thứ trưởng khác theo anh!”

Ngay sau khi có bản án bốn năm như vừa nên, nhiều người nêu lại trên tài khoản Facebook những bản tin cũ trước đây ‘ Trộm sáu buồng cau, đổi án chín năm tù’, ‘Thanh niên lãnh bảy năm tù vì bắt một con vịt về nhậu’… !

#RFAVietnamese #TruongQuocCuong #ThutruongBoYte #BoYte

Lại chuyện ‘án cho quan’ qua vụ thuốc giả mà thứ trưởng y tế bị bốn năm tù

KHI TA GIÀ ĐI.

Lương Văn Can 75. Kimtrong Lam  

KHI TA GIÀ ĐI.

Hai tuần lui tới bệnh viện, tận mắt chứng kiến những bệnh nhân cao tuổi ở Khoa tim mạch, tiếp xúc, nói chuyện với những bệnh nhân già, chợt nghĩ đến một ngày ta già đi, ta sẽ tự nhủ mình rằng:

 Khi ta già đi, ta sẽ không lo nghĩ mấy cái chuyện bao đồng của con cháu 3 đời như cha mẹ ta thường lo lắng. Bởi con cháu đứa nào cũng có cuộc sống riêng của nó, ta cần sự tĩnh lặng để thư thái, nghỉ ngơi và cứ để mọi thứ thuận theo quy luật tự nhiên của cuộc sống.

 Khi ta già đi, ta sẽ không nhắc nhở con cháu về một điều gì đó quá cũ, rót vào tai chúng mãi một câu chuyện xa xưa, hay dặn dò chúng những điều hết sức lạc hậu. Cho dù nói nhiều hay ít thì con cháu nó vẫn cho rằng, đó chỉ là lý lẽ vớ vẩn của người già.

 Khi ta già đi, ta học cách buông tay, ta chẳng cần phải nghĩ ngợi những người trẻ mỗi ngày nó lướt qua đời ta một cách nhẹ nhàng như thế nào, ta chỉ mong mình đủ sức để tự nấu một món ăn thật nhừ, đủ sức để tự tắm rửa hàng ngày, ta cũng không câu nệ mọi ngóc ngách trong nhà đều phải tinh tươm sạch sẽ, mà chỉ chú ý đến sức khỏe của bản thân mình, nhằm giảm bớt áp lực cho con cháu khi phải chăm sóc ta.

 Khi ta già đi, ta cũng mong trời thương, nằm xuống, nhắm mắt một phát là đi ngay. Bởi ta đã nhìn thấy nhiều cảnh đau lòng xảy ra khi con cái chăm sóc cha mẹ già. Có nhiều chuyện bấy lâu nay ta cứ nghĩ nó chỉ có trong văn học thời hiện thực phê phán, nhưng không, nó vẫn được diễn ra trong cuộc sống thường nhật. Mà nghĩ đi rồi cũng nghĩ lại, thực ra thì con cái ai cũng tốt và có hiếu với cha mẹ cả thôi, nhưng khi bố mẹ trở thành gánh nặng hàng ngày, nhiều ngày thì tình cảm sẽ mai một dần đến mức không còn thấy thương yêu nữa, chỉ còn thấy chịu đựng, thấy khổ sở, nhất là con rể hoặc con dâu và các cháu, những người không trực hệ, không được ông bà trực tiếp đẻ ra.

 Và khi ta già đi, ta muốn chẳng nợ nần gì nhau trong cuộc đời này, chỉ cần được an yên, bởi ta nghĩ bất cứ ai, cho dù một thời trẻ hoài bão, ngang dọc, vội vã, và rồi cũng đến lúc già, chỉ cần hai chữ an yên mà thôi.

Nguồn: https://www.facebook.com/bacaihiensi/posts/723449085666749/

TIỀN VÀ TÌNH DỤC.

Lê Hoàng Nam

TIỀN VÀ TÌNH DỤC.

Nghệ thuật tiếp thị của người đẹp trong giới showbiz Việt lâu nay không phải là nhân cách. Nhân cách không phải là thứ có thể tiếp thị để kiếm tiền. Mất nhân cách mới là món hàng đáng giá. Càng mất nhân cách càng kiếm được nhiều tiền.

Có một hoa hậu đã ngang nhiên nói và báo Vietnamnet cũng ngang nhiên đăng rằng bạn trai muốn làm vừa lòng cô chỉ cần 4 bước. Đó là tặng tiền, xem đã hết tiền chưa để rồi tự động nhét tiền vào ví, tặng thật nhiều tiền và tặng tiền bất kỳ lúc nào không cần phải đợi lễ lượt.

Đó là cách chứng tỏ tình yêu và cũng là cách để lấy lòng người đẹp hiện nay.

Với một cô gái từng tuyên bố ” Không có tiền thì cạp đất mà ăn à” thì ê kip Vũ Khắc Tiệp đưa cô ta đến Pháp không phải để tiếp thị tài năng hay nhân cách. Đó là thứ mà Ngọc Trinh không có. Cái mà cô ta có là một thân thể gợi dục . Và thứ mà cô ta cần là những scandal trên mặt báo.

Vậy nên khi cô ta ăn mặc hở hang trên thảm đỏ , dư luận càng bàn tán , càng chửi bới thì ê kip lăng xê Ngọc Trinh càng thu được hiệu quả quảng bá. Chính vì thế càng chửi Ngọc Trinh càng hở bạo.

Ngọc Trinh là người mẫu quảng cáo đồ lót và cũng là người lợi dụng scandal tình , tiền để làm nên thương hiệu. Trong thời buổi bây giờ tên tuổi càng nóng càng nhận được nhiều hợp đồng quảng cáo vì hàng hóa có cô ta làm đại sứ thương hiệu càng bán chạy hơn.

Vô tình dân mạng chửi Ngọc Trinh nhưng đang tiếp tay cho cô ta làm giàu. Thất bại lớn nhất của Ngọc Trinh đó là đến Liên hoan phim với một trang phục kín đáo , thanh cao, lịch sự nhưng chẳng ai để ý đến vì chẳng hề đóng phim nào.

Nó cũng giống như Nguyễn Xuân Phúc đến dự hội nghị G7, G20 mà không tỏ ra ngớ ngẫn trong việc bắt tay, không quạt phành phạch khi nghe nhạc giao hưởng thì cả thế giới sẽ không hề biết thủ tướng Việt Nam là ai.

Nghệ thuật tiếp thị ngày hôm nay là tạo ra sự chú ý, cho dù sự chú ý đó mang nghĩa tiêu cực. Trong một xã hội độc tài khi đạo lý băng hoại, pháp luật không còn được coi trọng thì việc làm sao kiếm được nhiều tiền mới là mục đích tối thượng.Xã hội Việt Nam bây giờ mà đưa các tiêu chuẩn của người phụ nữ miền Nam trước 1975 ra làm thước đo sẽ bị cười là quá lạc hậu.

Tuy nhiên tiền và tình dục cũng chỉ có giá trị khi con người còn trẻ. Khi sự băng hoại về đạo lý đã làm một đất nước mục ruỗng như một con bệnh ung thư vào giai đoạn cuối thì tiền chỉ là những con số biết nhảy múa mà thôi. Sắc đẹp không ở mãi với con người và dục vọng cũng sẽ có ngày bị mất đi trong một cơ thể bệnh tật, không còn nhựa sống. Đến lúc đó dẫu có ôm trong tay một đống tiền cũng vô nghĩa.

Có người biện hộ là phải kiếm thật nhiều tiền để dành cho những lúc như thế để không phải đi ngửa tay ăn xin.Nhưng rồi sẽ thấy tiền không biết bao nhiêu là đủ.Đủ hay không là do ở mình.Vậy nên nhiều người khi về già đã chọn việc xa lánh chốn thị phi, gần gũi với tôn giáo để chiêm nghiệm lại những triết lý cuộc đời .

Fb Dương Hoài Linh

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến – Vũ Biện Điền

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến – Vũ Biện Điền

23/02/2022

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến

Tôi (trộm) nghe nói rằng quân tử ba ngày mà không đọc sách thì diện mạo dơ dáng, và trò chuyện khó nghe. Tôi vốn bẩm sinh mặt mũi không mấy dễ coi, và chuyện trò vô cùng nhạt nhẽo nên (lắm khi) đến vài ba năm cũng chả nhìn đến một cuốn sách nào mà vẫn cứ sống phây phây – chả có (trăng) sao gì ráo trọi.

Tháng trước, tôi được nhà xuất bản Tiếng Quê Hương gửi cho một bộ sách to đùng, dầy hơn ngàn trang (thấy mà ớn chè đậu) tựa là Phiên Bản Tình Yêu. Bìa trước và bìa sau đều có hình của hai phụ nữ khỏa thân, và trông (hơi) gợi dục!

Tên tác giả (Vũ Biện Điền) lại hoàn toàn xa lạ. Trong tình yêu, cũng như tình dục, tôi rất ngại chuyện “phiêu lưu” nên lẳng lặng đẩy luôn cái “của nợ” trông rất “ướt át” này vào một góc! Tuần rồi, chả may, giáp mặt người tặng sách – nhà báo Uyên Thao:

– Cậu nghĩ sao về cuốn Phiên Bản Tình Yêu của Vũ Biện Điền?

Tôi đỏ mặt, ấp úng:

– Dạ, em chưa đọc chữ nào.

Dù không nghe nhưng tôi cảm được một tiếng thở dài (cố nén) của người đối diện. Với đôi chút áy náy, ngay tối hôm ấy, tôi đọc hơn bốn trăm trang sách. Sáng hôm sau, cáo bệnh, nằm nhà “chơi” luôn hơn bẩy trăm trang nữa với rất nhiều ngạc nhiên và thích thú.

Mấy thế hệ người Việt liên tiếp vừa qua, ít nhiều, đều là nạn nhân của thời cuộc hay của chế độ hiện hành nhưng chắc chưa có ai ngồi cặm cụi (nhiều năm trời) để ghi lại những nhận xét tỉ mỉ và chính xác của mình về “những loại nhà nước” hiện nay – như Vũ Biện Điền:

Trong số đó đáng kể hơn cả là nhà nước Đảng, còn gọi là nhà nước Quỷ hoặc Siêu Chính Phủ vì nó biến hóa như một cái bóng ma khổng lồ tác nghiệp lên tất cả các nhà nước khác. Ở trung ương, đứng đầu nhà nước này có tổng bí thư, nội các cơ mật là bộ chính trị. Ở địa phương, đứng đầu nhà nước này có bí thư tỉnh ủy, nội các cơ mật là ban thường vụ… Nó là đầu mối của mọi nhũng nhiễu, tai họa và tội ác nhưng rất có tài bẻm mép phủi tay

Tiếp theo là nhà nước Hành Chánh, còn gọi là nhà nước Hành Dân vì bộ nào của nhà nước này cũng có chức năng làm dân khổ cực do đặc tính cửa quyền, nó vâng lệnh đảng như một thứ đầu sai quản lý đất đai và điều hành nô lệ cho chủ nhân, thu gom vô tội vạ tài sản trong nhân dân, sau khi trích nạp cho chủ, nó được quyền chi tiêu xả láng. Ở trung ương, đứng đầu nhà nước này có một chủ tịch không thực quyền, nội các cơ mật là thủ tướng và các bộ trưởng. Ở địa phương, đứng đầu nhà nước này có chủ tịch, nội các cơ mật là ban thường trực và các giám đốc sở…

Thứ ba là nhà nước Quốc Hội, còn gọi là nhà nước Phường Chèo hoặc nhà nước Kỳ Nhông vì đặc tính hát ca véo von theo cách dàn dựng của đảng, nhanh nhạy thay vai đổi màu tùy từng vị trí – ở trung ương nó là lập pháp, ở tỉnh nó là hành pháp, ở tòa án nó là tư pháp. Hình thái nhà nước Quốc Hội về đến địa phương gọi là Hội Đồng Nhân Dân, đặc tính véo von và đổi màu vẫn lưu cửu.….

Thứ bốn là nhà nước Mặt Trận Tổ Quốc, còn gọi là nhà nước Chịu Trận, vì nó là một thứ bung xung vỹ đại hứng đòn – phản đòn – đỡ đòn cho các nhà nước kia. Nhà nước này còn có một chức năng định kỳ như một lò hộ sinh, phù phép hiệp thương ba lên bốn xuống trong mỗi mùa bầu cử, cho ra những đứa con đúng kiểu mẫu đặt hàng của đảng… Quá trình vận động, thành tích cao nhất của Mặt Trận Tổ Quốc là tạo ra Mặt Trận Việt Minh trước trước 1954, và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam trước 1975 – hai lá bài này khá ăn khách, nhưng tới hồi lật tẩy thì vô cùng bỉ ổi!

Thứ năm là nhà nước Quân Đội, còn gọi là nhà nước Vũ Trang… nhà nước này làm bằng sức người và của nả của nhân dân nhưng chỉ trung với đảng. Nên chi nó khu trú ở đâu là lãnh thổ riêng ở đó, từa tựa như một quốc gia trong một quốc gia. Khi cần, nó mạo danh quốc phòng, đưa quân chiếm hữu đất đai, rồi đặt ra định chế tự cấp tự quản… Ở trung ương, đứng đầu nhà nước này có quân ủy, hội đồng cơ mật bao gồm các tổng cục chuyên ngành… Nhà nước này hội đủ tính chất phong kiến trung cổ La Mã, sỹ quan là giai cấp đảng viên gọi là cán bộ, bổng lộc hậu hĩ – hạ sỹ quan và lính (con em nhân dân thi hành nghĩa vụ), gọi là chiến sỹ, chỉ được hưởng sinh hoạt phí vừa đủ cầm hơi tới ngày phục viên…

Thứ sáu là nhà nước Công An, còn gọi là nhà nước Tam Đại vì mỗi thành viên phải có lý lịch ba đời bần cố… vừa nghèo vừa ngu từ đời ông đến đời cháu. Đây là nhà nước bán vũ trang, thừa quan thiếu lính, quyền hành vô giới hạn, bổng lộc vô bờ bến. Không những nhân dân kinh sợ mà một số viên chức các nhà nước khác cũng chùn bước trước những đặc quyền đặc lợi của các ấm tử viên tôn. Lịch sử nhân loại từ xưa đến nay, chỉ dưới thời phát xít Đức-Ý-Nhật và các nước xã hội chủ nghĩa mới có thứ nhà nước kỳ lạ này. Nó đồng hóa mình với đảng chuyên chính, tự quyết tất cả và không chịu một quyền lực nào ràng buộc, một tổ chức nào kiểm soát.

 

                                                 Nguồn phóng ảnh: http://www.bacaytruc.com

 

Vũ Biện Điền cũng “tính sổ” rành mạch từng vụ một, cùng với tên tuổi rõ ràng của những tên chính phạm. Xin đơn cử vài vụ tiêu biểu:

Công Hàm 1958:

“Tôi mới lần ra danh sách bộ chính trị đảng CSVN từ 1951-1960. Đó là Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, Hoàng Quốc Việt, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Chí Thanh, Lê Đức Thọ, Hoàng Văn Hoan, Nguyễn Duy Trinh, Phạm Hùng, Lê Thanh Nghị, và Lê Văn Lương. Phạm Văn Đồng chỉ là nhân vật hàng thứ sáu, chỉ bậc trung thôi… Án chung không thể tội riêng, một mình Phạm Văn Đồng mà dám qua mặt chủ tịch Hồ Chí Minh a? Dám qua mặt đảng Cộng Sản a?”

Thảm sát Mậu Thân 1968:

“Tôi đào được danh sách của bộ chính trị nhiệm kỳ ba của đảng Cộng Sản Việt Nam 1960 -1976. Nhìn chung, chẳng ai xa lạ, Hồ Chí Minh chủ tịch, Lê Duẩn bí thư thứ nhất, Trường Chinh chủ tịch quốc hội, Phạm Văn Đồng thủ tướng, Phạm Hùng phó thủ tướng, Lê Đức Thọ, Võ Nguyên Giáp phó thủ tướng kiêm bộ trưởng quốc phòng, Nguyễn Chí Thanh mất năm 1967, Nguyễn Duy Trinh phó thủ tướng, Lê Thanh Nghị phó thủ tướng, Hoàng Văn Hoan phó chủ tịch quốc hội, Trần Quốc Hoàn và Văn Tiến dũng, hai thành viên này được bổ sung từ năm 1972.”

Cách nhìn của Vũ Biện Điền về những người đồng thời với mình – qua lời những nhân vật của ông – cũng khá khắt khe, và rất có thể gây ra tranh cãi gắt gao:

“Nhưng người Hà Nội đến lạ! Họ biết Xã Hội Chủ Nghĩa là cái bánh vẽ cực kỳ thối tha mà cứ hớn hở ngồi vào lột lá bóc ăn và xơn xớt khen ngon khen ngọt đến nỗi người ngoài nhìn vào phát thèm. Họ biết Hồ Chí Minh gian manh xảo trá mà cứ ngoác miệng ngợi ca lúc ông ta còn sống và khóc khô nước mắt khi ông chết. Họ biết bè lũ kế thừa đang đi tiếp con đường của ác quỉ mà vẫn tranh nhau làm tôi mọi, cúc cung tận tụy.

 

Họ biết lịch sử đang rao giảng là thứ cực kỳ giả dối nhưng học thuộc vanh vách, nếu có ai mạnh dạn đính chính thì phồng mang trợn mắt, cãi cối cãi chầy như sợ mất đi độc quyền làm thân sáo vẹt. Họ nhận quá nhiều đau khổ do độc tài đảng trị nhưng không dám đối mặt với kẻ thù cứ ươn hèn đổ vạ cho phong kiến, cho tư sản, cho địa chủ, cho Mỹ Ngụy, xua con em vào chết ở miền Nam mà không biết đang hiến máu cho hung thần và đang hy sinh cho một thiên đường mù…

 

Ngoại trừ một số rất ít sớm thức tỉnh như Trần Độ, Hoàng Minh Chính, Trần Xuân Bách, Phạm Quế Dương, Nguyễn Thanh Giang, Dương Thu Hương, Lê Hồng Hà, Hà Sĩ Phu, Bùi Minh Quốc… tôi chưa thấy một tổ chức nào bi phẫn, chưa thấy một đoàn thể nào muốn nắm tay nhau liên kết xuống đường biểu tình, họp mít-tinh vạch mặt chỉ tên bè lũ tay sai Nga – Hoa, tập đoàn phi nhân bản, phản nhân quyền, bọn bán nước cầu vinh…”

Một tác phẩm mang đậm mầu sắc chính trị như thế sao lại có cái tựa trữ tình và ướt át là Phiên Bản Tình Yêu? Trong phần lời tựa nhà văn Trần Phong Vũ đã giải thích (phần nào) như sau:

“Như nhan sách, Phiên Bản Tình Yêu là một chuyện tình – mà là một chuyện tình xuyên thế hệ, mang nhiều kịch tính với những tình tiết éo le, ngang trái, chuyển biến bất ngờ. Nhưng Tình Yêu ở đây chỉ là lớp vỏ, là mặt nổi của một tảng băng sơn giữa đại dương mờ mịt…

 

Cuộc tình xuyên thế hệ ở đây có thể được hiểu như một thứ ‘thang’ để dẫn ‘thuốc’, một chất xúc tác, tạo hấp lực lôi cuốn người đọc đi sâu vào những âm mưu, những màn đấu đá, những trò lường gạt, thay bậc đổi ngôi trong một xã hội người ta nhân danh đủ thứ với những mặt nạ khóc cười, hỉ nộ đã được mã hóa khi thực chất chứa đầy tâm thái tham lam, ích kỷ, độc ác, chỉ vụ thỏa mãn những lợi ích cá nhân, bè nhóm, bất chấp sự an nguy của tiền đồ quốc gia dân tộc. Và trong chừng mực nào đó, với tư cách người chứng, tác giả đã đạt được mục đích của ông.”

Tôi cũng tin là Vũ Biện Điền hoàn toàn đạt được mục đích của mình nhưng e rằng ông không thành công (lắm) khi dùng hình thức tiểu thuyết như “một chất xúc tác, tạo hấp lực lôi cuốn người đọc đi sâu” vào “chuyện tình xuyên thế hệ” này. Những nhân vật trong Phiên Bản Tình Yêu (e) hơi quá nhiều kịch tính, nhất là qua những mẫu đối thoại rất dài và (rất) trí tuệ nhưng cũng rất xa lạ với đời thường hay đời thật.

Tất nhiên, đây chỉ là suy nghĩ hoàn toàn chủ quan (và có thể là hoàn toàn sai lạc) của một thường dân mà trình độ thưởng ngoạn nghệ thuật còn nhiều giới hạn. Mong được đón nhận những nhận định khác, từ những người đọc khác, về công trình tâm huyết và đồ sộ này của Vũ Biện Điền.

– Tưởng Năng Tiến

 Chính trị Phi Luật Tân: Xoay 360 độ sau 36 năm

 Chính trị Phi Luật Tân: Xoay 360 độ sau 36 năm

18/05/2022

Ông Ferdinand “Bongbong” Marcos Jr.

Những điều trình bày về văn hóa và chính trị Phi ở trên dường như vẫn thật khó hiểu. Có lẽ khi có cơ hội đến nước Phi để sống và cảm nhận về người Phi, trải nghiệm thực tế đó mới giúp cho chúng ta thấu hiểu hơn chăng?

Vào cuối tháng Hai năm 1986, nhà độc tài Ferdinand Marcos Snr. phải lánh nạn sang Hawaii sau khi Mỹ, qua lập trường của Tổng thống Ronald Reagan, không còn ủng hộ sự cai trị của Marcos tại Phi Luật Tân. Marcos đã cai trị nước Phi hơn 20 năm, từ năm 1965 đến 1986, trong đó 9 năm, từ 1972 đến 1981, đã nằm dưới thiết quân luật. Thượng Nghị sĩ Paul Laxalt, một chính trị gia thân cận với Reagan, tư vấn cho Marcos là nên “dứt và dứt sạch” (cut and cut cleanly). Marcos mang theo vợ, hai con cùng với tài sản khổng lồ, gồm hàng trăm triệu tiền mặt, vàng bạc châu báu, được phi cơ của Không quân Mỹ chở đi. Một trong hai người con, có cùng tên cha, là Ferdinand Romualdez Marcos Jnr., biệt hiệu Bongbong, lúc đó 28 tuổi. Nước Phi kể từ đó đã bước sang một giai đoạn mới, sáng sủa hơn, bớt tham nhũng và độc tài hơn. Người Phi, nhất là phong trào dân chủ, tin rằng thời đại Marcos đã ra đi vĩnh viễn, nhường chỗ cho sự chuyển tiếp sang nền dân chủ.

Nhưng đúng 30 năm sau, vào tháng Năm năm 2016 người Phi đã bầu chọn Rodrigo Duterte lên làm Tổng thống thứ 16. Về mặt hình thức, nền dân chủ của Phi vẫn còn đó, nhưng về mặt pháp quyền (rule of law), Duterte đã đứng trên luật trong suốt 6 năm qua để cai trị nước Phi. Ngày 9 tháng Năm năm 2022 vừa qua, người con trai đã cùng cha mình chạy trốn khỏi nước Phi 36 năm về trước đã được người Phi bầu chọn làm Tổng thống thứ 17. Con gái của Duterte, Sara Duterte, liên minh với Marcos trong cuộc bầu cử này, sẽ làm Phó Tổng thống. Tuy kết quả bầu cử chưa chính thức công bố, kết quả đăng trên tờ Rappler cho biết, với tổng số phiếu đếm đến nay là 98.35%, Marcos được hơn 31 triệu phiếu, chiếm 58.74%; và Sara Duterte cũng hơn 31 triệu phiếu bầu cho Phó Tổng thống, chiếm 61.29%.

Kết quả cuộc bầu cử tháng 5 vừa qua không có gì lạ. Thật ra nó chỉ phản ánh văn hóa chính trị và tư duy của người Phi về mẫu người lãnh đạo được người dân tại quốc gia này chọn. Một, quyền lực chính trị tại Phi phần lớn bị thao túng bởi những gia đình quyền thế, không nằm trong tay người dân. Hai, truyền thông xã hội ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quyết định của lá phiếu cử tri tại Phi. Ba, lịch sử đóng vai trò then chốt trong mọi xã hội, do đó không nắm vững lịch sử thì mọi quyết định hiện tại sẽ bị định hình bởi cuộc chiến thông tin gia. Kết quả có khi đi rất xa, và thụt lùi, chứ không nhất thiết là tiến bộ.

Trước hết, câu hỏi cần đặt ra là làm thế nào con của một nhà độc tài từng lánh nạn sang quốc gia khác có thể trở lại Phi để tham chính và bây giờ trở thành tổng thống?

Sau khi Marcos chết tại Hawaii năm 1989, vợ và hai con Marcos được cho hồi hương năm 1991, và sau đó cả ba người đều được tham chính.

Ngược thời gian, trong lúc Marcos Snr. làm tổng thống hơn hai thập niên, ước đoán khoảng 10 tỷ đô la bị biển thủ. Ngoài tham nhũng cửa quyền, chế độ Marcos đã bỏ tù, tra tấn, giết hại, và thủ tiêu vài chục ngàn người, như Ân xá Quốc tế hay nhiều tổ chức nhân quyền khác ghi nhận. Sáu năm cầm quyền dưới thời Duterte, chính quyền Phi chính thức ghi nhận hơn 6,200 người bị giết hại trong cuộc chiến chống ma tuý (war on drugs). Con số gần với sự thật hơn nằm giữa 8,000 đến 30,000, theo tổ chức Theo dõi Nhân quyền. Duterte đã từng nói những câu hàm ý khuyến khích lực lượng an ninh, cảnh sát bắn giết càng nhiều càng tốt, và ông sẽ bảo vệ họ. Khi làm thị trưởng Davao, Duterte đã hình hành toán đặc nhiệm có tên Đội Tử thần Davao (Davao Death Squad/DDS) để truy lùng và thủ tiêu những ai nằm trong danh sách của Duterte. Ngay cả khi những người đứng đầu hay từng tham gia DDS, như Arturo Lascañas hay Edgar Matobato ra truy tố Duterte là chủ mưu đằng sau, với nhiều bằng chứng mà chỉ có người tay trong mới biết được, thế mà dân Phi vẫn bầu và vẫn tiếp tục ủng hộ Duterte làm tổng thống. Không những thế, vào cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ diễn ra năm 2019, Duterte được sự ủng hộ mạnh mẽ, gần 80% dân Phi, đến độ phía đối lập không có một người thắng ghế thượng viện, một kỷ lục chính trị trong 80 năm. Khi gần hết nhiệm kỳ, với bao nhiêu tai tiếng về cuộc chiến chống ma tuý, Duterte vẫn được 67% dân Phi ủng hộ.

Điều này cho thấy một quốc gia chìm đắm trong nhiều vấn nạn xã hội, đặc biệt là tội phạm ma tuý, và một nền kinh tế què quặt bị thao túng bởi tập đoàn tài phiệt cấu kết với ngoại bang như Trung Quốc, thì mối lo canh cánh hàng đầu của người dân vẫn là sự sống còn: vật chất và an ninh. Bất chấp lãnh đạo có trực tiếp hay gián tiếp giết ai, có bàn tay nhuốm máu ra sao, phần lớn người Phi không quan tâm, và không thấy quan trọng ưu tiên. Người Phi sẵn sàng bỏ phiếu cho những lãnh đạo họ nghĩ là mạnh mẽ (strongman). Phần lớn tin rằng chỉ có những người mạnh mẽ như Duterte hiện nay, hay Marcos trước đây, mới có thể điều hành lãnh đạo quốc gia để đối phó giải quyết vấn nạn xã hội, đất nước. Thật ra thì một phần vì họ tin, nhưng phần khác họ bị tuyên truyền và định hướng để tin tưởng và ủng hộ như thế. Những Strongmen này cam kết giải quyết vấn nạn ma tuý trong nhiệm kỳ của họ, hay chấm dứt nghèo đói và bất công; họ hứa hẹn chấm dứt quân phiến loạn, khủng bố và cộng sản ở phía Nam của nước Phi (Mindanao). Chỉ có điều khi Strongman còn tại chức, người dân vẫn khốn khổ. Và khi ra đi thì cái gốc vấn đề vẫn còn nguyên. Sau đó khi đến cuộc bầu cử khác thì vẫn chỉ là những sự hứa hẹn khác hoặc mới được ban ra.

Những người có thể mang lại thay đổi và dân chủ, như Phó Tổng thống và là ứng viên Maria Leonor Robredo, thì cũng chỉ được gần 15 triệu phiếu, chưa bằng phân nửa của Marcos Jnr.

Làm thế nào mà người dân Phi cứ bị các chính trị gia như Duterte hay Marcos qua mặt mãi?

Câu trả lời có thể tóm gọn vào hai chữ: thông tin/tuyên truyền. Dưới thời Marcos, khi lẽ ra ông phải ra đi sau hai nhiệm kỳ (nay theo hiến pháp mới chỉ còn một nhiệm kỳ 6 năm), thì Marcos kéo dài sự cai trị của mình bằng cách ban hành thiết quân luật, kéo dài 9 năm. Truyền thông tự do là nạn nhân đầu tiên. Duterte cũng dùng thủ thuật tấn công bất cứ cơ quan truyền thông nào phê bình ông, và tuyển mộ dư luận viên trên mạng truyền thông xã hội để định hướng dư luận. Maria Ressa, người sáng lập và điều hành truyền thông Rappler, được giải thưởng Nobel Hòa bình năm 2021, đóng vai trò trụ cột trong việc thực hiện ba tập phúc trình mang tên “Chiến tranh tuyên truyền: Vũ khí hóa Internet.” (Propaganda War: Weaponizing the Internet, Phần 1, 2 và 3). Phúc trình này báo cáo chi tiết hành động của Tổng thống Duterte và những người ủng hộ ông đã huy động đội quân troll được trả tiền để bịt miệng những người chỉ trích, đe dọa đối thủ và phát tán thông tin sai lệch trực tuyến. Những cơ quan truyền thông độc lập đưa thông tin về bầu cử Phi năm 2022 bị tấn công mạnh mẽ. Những cuộc tấn công trực tuyến gọi những phóng viên này bằng những ngôn từ thô tục như “bayaran”, tức những người xâm nhập vào tài khoản người khác được trả lương, hay “presstitute”, tức những con điếm truyền thông. Ressa cũng bị tấn công, và mục tiêu là để những người như Ressa và những truyền thông như Rappler im lặng, không dám lên tiếng nữa.

Tấn công truyền thông và giới ký giả độc lập thôi vẫn chưa đủ để tạo ảnh hưởng và thuyết phục. Bước kế tiếp của Marcos Jnr., trong vài năm qua, là nhắm vào mục tiêu thay đổi lịch sử để nắm bắt hiện tại và định hướng tương lai.

Hiện nay Phi có 67 triệu người lớn, tức 18 tuổi trở lên, trong dân số 112 triệu. Khoảng một nửa dân số sinh sau năm 1986. Nhắm vào thành phần trẻ, và bằng cách kể câu chuyện khác đi, biến đổi những tự sự (narrative), để thu phục được sự ủng hộ của họ, là bí quyết thành công của Marcos. Marcos Jnr. làm đúng như vậy. Muốn nhắm vào thế hệ trẻ thì không thể bỏ qua truyền thông xã hội. Marcos đã tuyển dụng đội ngũ dư luận viên của mình tôn vinh những thành tựu thời của bố ông, Marcos Snr., người có viễn kiến của một Xã hội Mới, bởi vì Marcos từng tuyên bố sẽ chấm dứt nghèo đói và bất công. Cho nên lịch sử được viết lại rằng kỷ nguyên Marcos là thời đại của sự tiến bộ và thịnh vượng, mang lại một cuộc sống mới. Tự sự mới bỏ qua nạn tham nhũng và xâm phạm nhân quyền nghiêm trọng thời đó. Nó được lan truyền trên các nền tảng như YouTube, nơi khá phổ biến trong giới trẻ, cũng như những người có thể truy cập miễn phí trên điện thoại của họ. Rappler đã theo dõi kỹ đường đi nước bước này trước khi Duterte lên nắm quyền. Cách đây 2 năm rưỡi, một bài viết trên Rappler nhận định rằng “Một lượng lớn thông tin tuyên truyền và thông tin sai lệch được tạo ra và khuếch đại bởi một mạng lưới rộng lớn gồm các trang web, các trang và nhóm Facebook, các kênh YouTube và những người có ảnh hưởng trên mạng xã hội dường như là một phần của chiến dịch có hệ thống nhằm đánh bóng hình ảnh của giòng họ Marcos và sửa soạn cho họ sự trỗi dậy thêm nữa trong chính trị Phi.” Tuy những nhận định của các ký giả Rappler đúng đắn, cuối cùng đa số người Phi cũng chọn Strongmen như Marcos.

Tóm lại, vấn đề chính của nước Phi là các thế tộc quyền lực tiếp tục thao túng nền kinh tế và chính trị tại đây, không mong muốn sự cải tổ nào để bị mất đi quyền lợi của họ. Giáo sư Sheila S. Coronel viết trên Foreign Affairs ngày 5 tháng Năm biện luận rằng thành phần quyền thế này chỉ muốn tiếp tục hưởng lợi (rent-seeking). Rent seeking có nghĩa là bằng cách thực tế hoặc thực hành thao túng chính sách công hoặc các điều kiện kinh tế như một chiến lược để tăng lợi nhuận.

Những điều trình bày về văn hóa và chính trị Phi ở trên dường như vẫn thật khó hiểu. Có lẽ khi có cơ hội đến nước Phi để sống và cảm nhận về người Phi, trải nghiệm thực tế đó mới giúp cho chúng ta thấu hiểu hơn chăng? Người Phi khá thật thà dễ thương và chịu đựng. Có lẽ sẽ mất nhiều thế hệ và hy sinh để chuyển đổi và củng cố nền dân chủ tại đây. Với 6 năm tới khi hai người con của các nhà độc tài nắm quyền tại đây, tiến trình dân chủ hóa của Phi Luật Tân chắc còn nhiều căm go, thử thách hơn nữa.

 

11 CÂU NÓI KHIẾN BẠN NGỘ RA GIAO TIẾP LÀ MỘT “NGHỆ THUẬT” TRONG CUỘC SỐNG

11 CÂU NÓI KHIẾN BẠN NGỘ RA GIAO TIẾP LÀ MỘT “NGHỆ THUẬT” TRONG CUỘC SỐNG

  1. Người dại nói chuyện bằng miệng, người thông minh nói chuyện bằng đầu. Còn người trí tuệ nói chuyện bằng trái tim
  2. Người ta ít quan tâm bạn vất vả ra sao, đã làm việc như thế nào, bạn nói gì… Họ quan tâm nhiều hơn tới những gì bạn đạt được. Vì thế, hãy cứ im lặng và để thành công nói thay lời bạn.
  3. Không tranh cãi với kẻ ngốc, nếu tranh cãi với kẻ ngốc thì rốt cuộc sẽ không biết ai mới là kẻ ngốc.
  4. Tất cả những gì một ai đó làm cho bạn đều hàm chứa chi phí cơ hội, nghĩa là nếu anh ta đã dành thời gian trong ngày của mình để tiếp bạn thì phải có điều gì đó anh ta đã không làm cho chính mình. Hãy biết ơn vì điều đó.
  5. Nói là một loại năng lực, còn im lặng là đỉnh cao của trí tuệ.
  6. Hạn chế tranh cãi với người khác. Trong cơn giận, con người ta rất đáng sợ.
  7. Trong cuộc giao tiếp của hai con người, tình cảm chiếm 70%, 30% là nội dung. Nếu như giao tiếp tình cảm không ổn thì nội dung sẽ trở nên méo mó. Vậy nên trước khi giao tiếp nội dung, phải chăm chút thật kỹ phương diện tình cảm.
  8. Giao tiếp đừng mong lợi mình, vì lợi mình thì mất đạo nghĩa.
  9. Dở nhất trong cái đạo xử thế là không thấy cái lỗi của mình.
  10. Nếu muốn thông minh bạn hãy học cách hỏi hợp lý, cách nghe chăm chú, cách trả lời thông minh, và ngừng nói khi không còn gì nói nữa.
  11. Không biết mà nói là ngu; biết mà không nói là hiểm.

Sưu Tầm .

EM LỚN LÊN…THƠ NGUYỄN THÙY LINH (Ở TRONG NƯỚC)

EM LỚN LÊN…THƠ NGUYỄN THÙY LINH (Ở TRONG NƯỚC)

Em lớn lên đất nước đã “yên bình”,

Không tiếng súng, đạn bay hay pháo nổ,

Chẳng còn cảnh những người dân đói khổ,

Ăn bo bo độn khoai sống qua ngày.

Em yêu Bác với trái tim thơ ngây,

Em yêu Đảng với tâm hồn khờ dại.

Yêu tất cả những gì là “vĩ đại” !

Mác-Lê Nin soi sáng lối em đi…

Nhưng từ khi tuổi mười tám qua đi,

Em ngỡ ngàng hiểu ra bao sự thật,

Những trang sử hào hùng vào bậc nhất,

Là trò lừa của thế kỷ mà thôi !

Đất nước này ngày càng thấy xa xôi,

Khi quyền lực không thuộc về dân chúng,

Khi Đảng nắm trong tay quyền tham nhũng,

Quyền hy sinh biển đảo của cha ông.

Đất nước này độc lập nữa hay không ?

Khi giặc Tàu tràn lên khắp bờ cõi,

Khi chính quyền chẳng buồn cất tiếng nói,

Chỉ ngồi im nhìn dân chúng lầm than.

Dân tộc này sinh khí đã tiêu tan,

Nợ chồng nợ dân ngóc đầu không nổi.

Quan tham lam dở toàn trò bỉ ổi,

Vẽ công trình, vẽ dự án mà xơi.

Rồi lòng dân oán hận khắp muôn nơi,

Đồng ngập mặn, biển phơi đầy xác cá,

Sông đã cạn và rừng thì hết lá,

Dân đói nghèo mà Đảng vẫn quang vinh !

Kẻ hiền tài bỏ đất nước điêu linh,

Đi tìm chốn yên bình nơi xứ lạ.

Kẻ ở lại lặng thinh như sỏi đá,

Ai cất lời Đảng đàn áp không tha.

Việt Nam ơi lịch sử ngàn năm qua,

Đổ máu xương giữ vẹn toàn đất nước.

Dù khó khăn vẫn tiến về phía trước,

Để bây giờ sông núi vọng ngàn xưa ?

(Fb Nguyễn Thuỳ Linh)