Làm chính sách hay tập làm văn

Làm chính sách hay tập làm văn

Huy Đức

2-6-2022

Từ khóa II đến khóa VII, Quốc hội ta cơ cấu đại biểu bao gồm cả người chăn bò và công nhân vệ sinh. Trong những lần trả lời phỏng vấn tôi, anh Hồ Giáo kể, khi cần ông phát biểu, Văn phòng thường chuẩn bị trước rồi đưa giấy cho ông, ông chỉ cần lên đọc. Bởi thế, ngay cả hồi đó mà cũng có mạng xã hội, chưa chắc đại biểu đã có khả năng “mua vui” như mấy ngày qua.

Lỗi không phải chỉ ở từng đại biểu.

Tôi tìm lại Luật Quy hoạch, Luật được nhắc nhiều nhất mấy ngày họp đầu. Hiếm có văn bản luật nào lại được trình bày một cách tăm tối như Luật này. Tôi cố gắng đọc đi đọc lại cả 59 điều mà không thấy rõ, đâu là “quy phạm”, đâu là “chính sách”. Luật Quy Hoạch không phải là cá biệt, nếu không thay đổi tư duy làm luật thì Quốc hội, nơi lẽ ra phải làm chính sách, chỉ có thể làm tập làm văn.

Một trong những luật ban hành sớm nhất kể từ sau Hiến pháp 1992 là Luật Đất Đai. Những chính sách tiến bộ hơn kể từ sau đổi mới được đưa một cách thận trọng vào luật này. Nhưng, một phần của những chính sách này gần như đã bị phá hỏng bởi Pháp lệnh 14-10-1994 (luật mẹ của Nghị định 18).

Tiến trình sửa đổi Nghị định 18, bãi bỏ Pháp lệnh 14-10-1994, trả lại cho các tổ chức (chủ yếu là doanh nghiệp tư nhân) “quyền sử dụng đất” là một tiến trình đấu tranh chính sách (giữa cải cách và bảo thủ). Các văn bản liên quan đến Luật Đất Đai ở giai đoạn này vẫn khá mạch lạc và những lần sửa đổi chỉ là sửa đổi những điều luật chính, liên quan.

Luật Đất Đai 2003 là một bước lùi về chính sách, trao cho Nhà nước nhiều quyền thu hồi đất đai hơn. Nhưng, cái tôi muốn nói là tham vọng sửa đổi toàn diện Luật Đất Đai 1993 trong năm 2003 đã mở đầu một thời kỳ Quốc hội bị kéo vào công cuộc làm văn bản chứ không phải làm chính sách.

Tôi vẫn cho rằng, không gian chính trị này vẫn chưa đủ chín để đụng đến vấn đề “đất đai thuộc sở hữu toàn dân”. Tuy nhiên, vẫn có thể thay đổi nội hàm của nó, vẫn có thể sửa chính sách và có một cách tiếp cận khác để làm luật đất đai rõ ràng, ngắn gọn.

Không có cái gì có thể bán được hàng trăm triệu, hàng chục tỉ đồng mà không gọi là tài sản. Đất đai của một quốc gia tồn tại ở các dạng: tài nguyên và tài sản… Tài sản có tài sản công (đất công) và tài sản tư (đất tư). Đã là tài sản thì phải được hiến pháp bảo hộ và nó chỉ được quyết định bởi quan hệ dân sự và tư pháp.

Tuy nhiên, khác với động sản, bất động sản, ngay cả ở những quốc gia có đa sở hữu. Thì không phải cứ là chủ đất thì muốn làm gì thì làm. Nhà nước bảo hộ để người dân thực thi các quyền dân sự, sang nhượng, mua bán…; khi có tranh chấp (với nhau hoặc với nhà nước) thì chờ phán quyết của quyền tư pháp. Khi đã coi quyền sử dụng đất là tài sản thì không nên áp dụng quyền hành chánh thu hồi, mà nên áp dụng quyền trưng dụng, trưng mua mà Hiến pháp có trao cho Nhà nước.

Nhà nước chỉ nên sử dụng quyền hành chánh để kiểm soát mục đích sử dụng đất và quyền phát triển (trồng cây, xây nhà trên đất…).

Với cách tiếp cận này, luật đất đai chỉ cần dăm, bảy điều và luật quy hoạch cũng không nên “vẽ cả ngày mai thành bức tranh…” khi mà chưa biết nguồn lực từ đâu ra cả.

Thay vì quy hoạch, luật cần đưa ra những quy phạm rõ ràng, ví dụ: Nghiêm cấm chuyển đất nông nghiệp ở những nơi màu mỡ (Văn Giang, Ecopark…) thành đất đô thị; Nghiêm cấm lấp ao, hồ, sông ngòi tự nhiên; Trong quá trình phát triển đô thị cứ lấp một mét ao hồ ở chỗ này thì phải đào lại một mét ao hồ ở nơi khác trong phạm vi cùng chịu tác động của khu đô thị ấy…

Hoặc: Nhà ở không được xây bám theo các trục đường giao thông; các cụm dân cư phải được bố trí đường riêng và phải ở cách xa đường giao thông một khoảng cách nhất định (cao tốc xa hơn đường liên tỉnh, liên huyện…).

Nếu trong thập niên 1990s đã áp dụng nguyên tắc này thì bây giờ tai nạn giao thông đã không nhiều và muốn mở rộng đường sá đã không vất vả thế; khu Bàu Cát (Tân Bình), Kỳ Hòa (quận 10), Đinh Bộ Lĩnh (Bình Thạnh)… đã không ngập lụt. Và, thay vì cắm cúi làm quy hoạch, nếu ngay sau Đại hội VII, Quốc hội có luật cấm xây nhà riêng lẻ cách điểm tiếp nước Hồ Tây từ 3 – 5 trăm mét; kiểm soát xây cất từ chân đê tới mép dòng chảy sông Hồng đoạn đi qua Hà Nội thì giờ Thủ đô đã khác.

Đừng coi việc làm luật cũng là một cơ hội như làm… dự án. Tư duy chưa thay đổi, điều kiện chưa chín muồi thì chưa thể có thay đổi về chính sách (nhất là trong chính sách đất đai, có người muốn giữ sở hữu toàn dân vì sợ chệch hướng; có người muốn giữ quyền thu hồi đất của nhà nước vì lợi ích).

Chưa thay đổi về chính sách mà sửa luật thì chỉ làm tập làm văn. Và nếu không thay đổi chính sách một cách toàn diện thì đừng sửa toàn văn luật hay bộ luật mà chỉ cần ra một luật sửa đổi chỉ 1, 2 điều là đủ.

Bà Phan Thị Mỹ Dung, ĐBQH tỉnh Long An. Ảnh chụp màn hình báo Tuổi Trẻ

Phải có phương pháp làm việc khoa học để đừng làm mất thời gian của Quốc hội. Nên đưa các vấn đề chính sách ra để các nghị sĩ thảo luận (thay vì để đại biểu ăn nói như một đại cử tri). Khi đã hình dung quyết sách thì để các Ủy ban cùng đội ngũ chuyên môn thiết kế các “quy phạm” trước khi trình Quốc hội thông qua, biểu quyết.

Quyền lực của Quốc hội càng độc lập với Chính phủ càng tốt khi thực thi giám sát. Nhưng, chương trình nghị sự của Quốc hội mà nếu không bám sát chương trình hành động của Chính phủ (phản đối hay ủng hộ) thì các phát biểu ở Quốc hội rất dễ trở nên lạc lõng. Lạc lõng như những ông chồng thay vì nhặt rau, bế con, chỉ chăm chăm sang nhà khác nhìn xem vợ hàng xóm xinh hay xấu.

Tất cả đều là VÔ THƯỜNG – GÓC SUY GẪM…

Van Pham

GÓC SUY GẪM…

Tất cả đều là VÔ THƯỜNG

1-Thời gian : Vô Thường

Tháng ngày hối hả, đời người ngắn ngủi, thoáng chốc đã già. Chẳng dám nói hiểu hết mọi lẽ nhân sinh nhưng chỉ có hiểu đời thì mới

Qua một ngày vui một ngày.sống thanh thản, sống thoải mái.

Qua một ngày mất một ngày. Vui một ngày lãi một ngày.

2-Hạnh phúc : Vô Thường

Hạnh phúc do mình tạo ra. Vui sướng là mục tiêu cuối cùng của đời người, niềm vui ẩn chứa trong những sự việc vụn vặt nhất trong đời sống, mình phải tự tìm lấy. Hạnh phúc là cảm giác, cảm nhận, điều quan trọng là ở tâm trạng.

3-Tiền : Vô Thường

Tiền không phải là tất cả nhưng không phải không là gì. Đừng quá coi trọng đồng tiền, càng không nên quá so đo, nếu hiểu ra thì sẽ thấy nó là thứ ngoại thân, khi ra đời chẳng mang đến, khi chết chẳng mang đi. Nếu có người cần giúp, rộng lòng mở hầu bao, đó là một niềm vui lớn. Nếu dùng tiền mua được sức khỏe và niềm vui thì tại sao không bỏ ra mà mua ? Nếu dùng tiền mà mua được sự an nhàn tự tại thì đáng lắm chứ !

Người khôn biết kiếm tiền, biết tiêu tiền. Làm chủ đồng tiền, đừng làm tôi tớ cho nó. (Khó lắm !?!?)

4- Đời sống : Vô Thường

“Quãng đời còn lại càng ngắn thì càng phải làm cho nó phong phú”. Người già phải thay đổi quan niệm cũ kỹ đi, hãy chia tay với “ông sư khổ hạnh”, hãy làm “con chim bay lượn”. Cần ăn thì ăn, cần mặc thì mặc, cần chơi thì chơi, luôn luôn nâng cao chất lượng cuộc sống, hưởng thụ những thành quả công nghệ cao, đó mới là ý nghĩa sống của tuổi già.

5-Thê´Gian : Vô Thường

-Tiền bạc là của con (không chắc lắm) – Tài sản có thể bị mất vì các nguyên nhân:

1-Thiên tai,

2- Hỏa hoạn,

3- Pháp lênh của vua hay chính quyền tich thu, quốc hửu hóa,

4- Trộm cướp,

5- Con cái.

– Địa vị là tạm thời, vẻ vang là quá khứ, sức khỏe là của mình.

-Cha mẹ yêu con là vô hạn; con yêu cha mẹ là có hạn.

-Con ốm cha mẹ buồn lo; cha mẹ ốm con nhòm một chút, hỏi vài câu là thấy đủ rồi.

-Con tiêu tiền cha mẹ, thoải mái ; Cha mẹ tiêu tiền con, chẳng dễ.

-Nhà cha mẹ là nhà con ; Nhà con không phải là nhà cha mẹ.

Khác nhau là thế, người hiểu đời coi việc lo liệu cho con là nghĩa vụ, là niềm vui, không mong báo đáp.

-Chờ báo đáp là tự làm khổ mình.

–Ốm đau trông cậy ai ? Trông cậy con ư ? Nếu ốm dai dẳng chẳng có đứa con có hiếu nào ở bên giường đâu (cửu bệnh sàng tiền vô hiếu tử). Trông vào bạn đời ư ? Người ta lo cho bản thân còn chưa xong, có muốn đỡ đần cũng không làm nổi.

Trông cậy vào đồng tiền ư ? – Chỉ còn cách ấy.

-Cái được, người ta chẳng hay để ý; cái không được thì nghĩ nó to lắm, nó đẹp lắm.

Chân lý của Đạo, thực ra sự sung sướng và hạnh phúc trong cuộc đời tùy thuộc vào sự thưởng thức nó ra sao. Người hiểu đời rất quý trọng và biết thưởng thức những gì mình đã có, và không ngừng phát hiện thêm ý nghĩa của nó, làm cho cuộc sống vui hơn, giàu ý nghĩa hơn.

Cần có tấm lòng rộng mở, yêu cuộc sống và thưởng thức cuộc sống, trông lên chẳng bằng ai, trông xuống chẳng ai bằng mình (tỷ thượng bất túc tỷ hạ hữu dư), biết đủ thì lúc nào cũng vui (tri túc thường lạc).

– Tập cho mình nhiều đam mê, vui với chúng không biết mệt, tự tìm niềm vui.

– Tốt bụng với mọi người, vui vì làm việc thiện, lấy việc giúp người làm niềm vui.

Sinh lão bệnh tử là quy luật ở đời, không chống lại được. Khi thần chết gọi thì thanh thản mà đi. Cốt sao sống ngay thẳng không hổ thẹn với lương tâm và cuối cùng đặt cho mình một dấu châm hết thật tròn.

Sống ngày nào, vui ngày nấy ! Đó là giải thoát !

HOA QUẢ THỨ 9: Tiết Độ-Cha Vương

HOA QUẢ THỨ 9: Tiết Độ

Tháng 6 rồi bạn ơi! Bình an, hạnh phúc tiết độ đến vời bạn hôm nay nhé.

Cha Vương

Thứ 4: 01/06/2022

TIN MỪNG: Vì Thiên Chúa đã chẳng ban cho chúng ta một thần khí làm cho chúng ta trở nên nhút nhát, nhưng là một Thần Khí khiến chúng ta được đầy sức mạnh, tình thương, và biết tự chủ. (2 Tm 1:7)

HOA QUẢ THỨ 9: Tiết Độ—Tiết độ là nhân đức nhân bản giúp ta kiềm chế sức lôi cuốn của dục vọng—những thú vui, giúp làm chủ bản năng và sử dụng chừng mực những của cải đời này. 

SUY NIỆM: Bạn đang sống trong môi trường tràn ngập với những lời mời gọi hấp dẫn để đáp ứng cho nhu cầu dục vọng của con người. Mọi thứ “thượng vàng hạ cám” lẻn vào gia đình, vào mảnh vườn tâm hồn của bạn một cách quá dễ dàng qua các thiết bị vi tính điện tử, mạng Internet, v.v…  từ đó bạn trở nên u mê ù lì trong  cõi riêng tư của chính mình, rồi bạn theo đuổi những tham vọng của bản ngã, của những đam mê vô trật tự… bạn không cần ai nữa kể cả Thiên Chúa.  Một khi bạn nói “CÓ” một cách dễ dàng với “đủ thứ” chung quanh thì việc rèn luyện nhân đức tiết độ lại càng trở thành khó khăn và có khi được coi như là việc làm cổ lỗ sĩ nữa. Ngược lại khi bạn nói ‘KHÔNG’, bạn sẽ đương đầu với một cuộc chiến nội tâm. Cuộc chiến này sẽ giúp bạn nhận định ra địa vị của mình trong thế giới, trong môi trường sống của mình. Đôi khi bạn phải mạnh dạn nói “KHÔNG” với những cám dỗ, những hào nhoáng tạm thời, những tư tưởng nông cạn và tiêu cực… để bạn có thể nói “CÓ” với những gì có giá trị thật sự và thể hiện chúng bằng hành động với lòng yêu thương và trung tín. Để rèn luyện nhân đức tiết độ bạn phải làm quen với việc nói ‘KHÔNG’ để dành phần thắng trong cuộc chiến nội tâm này, chắc chăn nó sẽ dẫn bạn đến một cuộc sống bình thản và hạnh phúc hơn đó.

LẮNG NGHE: Hãy khuyên các cụ ông phải tiết độ, đàng hoàng, chừng mực, vững mạnh trong đức tin, đức mến và đức nhẫn nại. Các cụ bà cũng vậy, phải ăn ở sao cho xứng là người thánh, không nói xấu, không rượu chè say sưa, nhưng biết dạy bảo điều lành. (Tt 2:2)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Thánh Thần, xin rửa sạch trong con những gì nhơ bẩn, và xin chữa lành trong con mọi vết thương của tội lỗi, và xin thêm sức cho con để con biết nói “KHÔNG” với những dục vọng của thế tục.

THỰC HÀNH: Người Anh có câu: “All things in moderation and moderation in all things” (mọi thứ phải điều độ và điều độ trong mọi thứ). Tự kiểm tra lãnh vực thể xác như ăn uống, ngủ nghỉ, vui chơi, tình dục… bạn đang quá lố ở chỗ nào nhỉ? Tập sống một cách điều độ hơn.

From: Đỗ Dzũng

NGHĨ VỀ CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC HIỆN NAY

 Lê Hoàng Nam

Bài viết hay và đầy trách nhiệm của một công dân

NGHĨ VỀ CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC HIỆN NAY

Từ đầu thập niên 1950 đến nay, đã hơn 70 năm trôi qua, với sự ra đời của khoảng 3 thế hệ tiếp nối nhau. Vậy mà những gì thế hệ sinh vào những năm 1940 -1950 tại miền Nam đã trải qua, so với những gì mà thế hệ hôm nay đang chứng kiến, tưởng như là một giấc mộng dài.

Còn nhớ rõ vào đầu thập niên 1950, khi chúng tôi học Tiểu học, quyển Quốc văn Giáo khoa thư (và nhiều sách học khác) sờn cả bìa, cả gáy, vì được chuyền từ nhiều lớp đàn anh xuống nhiều lớp đàn em, chuyền từ ông anh xuống cô em trong gia đình. Những quyển sách học đó đã tồn tại từ ngày phát hành đầu tiên năm 1926 cho đến thập niên 1960!

Thời đó, hàng năm, Bộ Quốc gia Giáo dục của chế độ miền Nam chỉ ban hành chương trình học chi tiết cho cả năm mà không hề kèm theo một bộ sách giáo khoa bắt buộc nào. Thầy cô giáo bằng vào kiến thức trong đầu, những sách vở mình có được, dạy sao miễn đáp ứng được yêu cầu do chương trình của Bộ đề ra, học sinh thi đỗ nhiều. Tôi còn nhớ rõ, năm 1959, thầy Nguyễn Duy Diễn dạy Việt văn, thầy Tạ Thanh Sơn dạy Sử Địa cho chúng tôi, khi vào lớp chẳng mang theo sách vở gì, cứ đứng trên bục giảng mà thao thao bất tuyệt.

Vào những thập niên 1950-1960, tại miền Nam, trong các kỳ thi Trung Học Đệ nhất cấp (Phổ thông cơ sở), Tú Tài I (hết lớp 11), Tú Tài II (Phổ thông Trung học), tỉ lệ số thí sinh thi đỗ thường chỉ đạt từ 25 – 45%, hầu như không bao giờ đạt đến mức 50%. Đó là tỉ lệ xác định đúng thực chất kết quả học tập của học sinh cả nước, đồng thời cũng là động lực thúc đẩy mỗi em phải cố gắng học tập để không phải ở lại lớp cũ nhiều lần.

Sách tham khảo để đọc bổ sung vào kiến thức nhà trường thì trăm hoa đua nở, do các thầy cô giáo, công lập cũng như tư thục, soạn thảo với tư cách cá nhân, sách nào học sinh thấy hay, phù hợp với nhu cầu kiến thức của mình thì mua về đọc. Sách của ông bà Tăng Xuân An, Nguyễn Sỹ Tế, Nguyễn Duy Diễn, Bùi Hữu Đột, Bùi Hữu Sủng, Trần Bích Lan, Trần Văn Hiến Minh, Nguyễn Văn Mùi … chen vai thích cánh trên thị trường sách đọc một cách thật bình đẳng và lành mạnh, Bộ QGGD không can thiệp vào quá trình biên soạn, in ấn và phát hành bao giờ.

Ngày nay, sau hàng 60-70 năm, nền giáo dục hiện đại đặt ra cho mỗi chúng ta nhiều điều để lo nghĩ. Đó là những chính sách giáo dục lấy thành tích ảo và lợi nhuận làm tiêu chí hàng đầu. Học sinh phải thi đỗ gần 100% thì nhà trường, thầy cô mới không bị khiển trách, từ đó, các em ỷ lại vào kết quả đoán trước được, không phấn đấu trong học tập, vì không ai dám đánh rớt mình. Lấy cớ cần phải “cải cách giáo dục” hàng năm, sách giáo khoa in xong, ngốn khối tiền của phụ huynh học sinh, qua năm sau trở thành mớ giấy lộn! Với vài chục triệu học sinh các cấp, hàng năm người ta thải ra hàng chục triệu mớ giấy lộn như thế!

Đất nước còn nghèo, nhiểu bậc cha mẹ còn lam lũ, khổ sở với từng miếng ăn, vậy mà cứ vào mỗi đầu niên học lại đối mặt với cơn ác mộng sách giáo khoa và nhiều thứ quỹ không tên của nhà trường. Đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật, nghiệp vụ, mà quan trọng hơn cả, còn là vấn đề đạo lý nữa. Bởi vì ai cũng biết rằng hàng năm, lượng sách giáo khoa in mới ngốn một ngân khoản khổng lồ từ túi tiền của đa số dân nghèo. Kết quả hoạt động giáo dục theo chiều hướng kinh doanh đó thu về cho ngân sách quốc gia bao nhiêu, còn bao nhiêu chảy vào túi người soạn sách, kẻ in sách, kẻ phát hành sách thì chỉ có … trời biết!

Điều khiến cho nhiều người dân … không vui là những vấn đề chúng ta nói đến hôm nay đã được nhắc đi nhắc lại từ rất nhiều năm trước. Vậy mà những người làm giáo dục vẫn bình chân như vại, xem như nước đổ lá khoai. Thậm chí không ít lần, dư luận dành cho cá nhân người cầm đầu nền giáo dục nước nhà những ngôn từ thiếu tôn trọng, khiến cho những ai quan tâm đến vận mệnh của thế hệ trẻ không khỏi đau lòng.

Thiển nghĩ, vấn đề giáo dục hiện nay, trong đó nổi cộm là vấn đề sách giáo khoa, nội dung chương trình giảng dạy và cách giảng dạy, cần được xem là vấn nạn lớn của cả nước, không chỉ riêng của Bộ Giáo dục. Toàn bộ bộ máy đầu não của quốc gia, từ Quốc Hội, Chính phủ, các cơ quan liên bộ trở xuống, cần được vận dụng để gỡ cho xong cái mớ bòng bong giáo dục đang thít chặt vào cuộc sống lầm than của đại bộ phận người lao động trong nước.

Với tư cách là những người đóng thuế để nuôi bộ máy chính quyền, mọi người dân có quyền đòi hỏi tinh thần trách nhiệm của những người sử dụng các đồng tiền thuế đó.

Lê Nguyễn

30.5.2022

Xây dựng chủ nghĩa xã hội, xã hội hóa và ơn… đảng!

Xây dựng chủ nghĩa xã hội, xã hội hóa và ơn… đảng!

Blog VOA

Trân Văn

1-6-2022

Một lớp học tại trường Nhị Đồng, Bình Dương. Hình minh họa. Nguồn: VNN

Học phí ở tất cả các cấp thuộc hệ thống giáo dục phổ thông (nhà trẻ, mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông) đã tăng, đang tăng và sẽ còn tiếp tục tăng chưa biết đến khi nào thì ngừng, thậm chí tăng vài lần, có nơi như TP.HCM, học phí THCS tăng gấp năm lần (1). Học phí đại học cũng thế (2). Ngoài học phí, giá bán sách giáo khoa cũng tăng từ hai đến ba lần (3). Giáo dục tại Việt Nam đã, đang và sẽ không còn là cơ hội cho tất cả mọi người!

Ai cũng biết, không có bình đẳng trong giáo dục sẽ không thể nào đạt được bình đẳng trong xã hội. Làm sao có thể xây dựng một… “xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” khi càng nghèo càng thua thiệt, đặc biệt là thua thiệt trong cơ hội thụ hưởng phúc lợi trong lĩnh vực giáo dục? Vì sao hoạt động giáo dục cho tất cả các cấp thuộc hệ thống giáo dục phổ thông của đa số quốc gia trên thế giới hoàn toàn miễn phí mà Việt Nam lại đi theo hướng ngược lại?

Vì sao hệ thống chính trị, hệ thống công quyền Việt Nam liên tục… “đổi mới”, liên tục… “cải cách” nhưng càng… “đổi mới”, càng… “cải cách” thì những phúc lợi công cộng vốn dĩ là nền tảng của một xã hội lành mạnh càng giảm? Chẳng hạn khi… “đổi mới sách giáo khoa” để “cải cách giáo dục” thì nội dung sách giáo khoa càng lắm điều để bàn và sách giáo khoa trở thành loại sản phẩm số đông không dễ chạm tới, phải “đổ mồ hôi, sôi nước mắt” mới chạm được, khác với đa số trong phần còn lại của nhân loại – được cấp phát!

Sách giáo khoa vốn là loại sản phẩm cần cập nhật thường xuyên. Bởi hàm lượng tri thức trong sách giáo khoa cần phải vừa đủ, vừa đúng với thực tại, giá sách giáo khoa thường không rẻ. Thù lao không xứng đáng, không mấy người có khả năng muốn bỏ sức làm công việc vốn chẳng dễ dàng này. Tuy nhiên ở nhiều xứ khác, phụ huynh không cần phải bận tâm đến giá sách giáo khoa cũng như các ấn phẩm hỗ trợ con cháu họ học tập. Chính quyền – được trả lương để quản trị, điều hành – phải giải quyết điều đó.

Ở Việt Nam, “dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của đảng”, hệ thống chính trị, hệ thống công quyền đã dùng… “xã hội hóa” chuyển nghĩa vụ của họ trong những lĩnh vực vốn là phúc lợi công cộng thành trách nhiệm công dân, chất gánh nặng giáo dục, y tế lên vai và lưng của dân chúng. Điểm khác biệt ấy giữa “chế độ xã hội chủ nghĩa” với đa số thuộc phần còn lại của nhân loại được định nghĩa là… “sự ưu việt”. Không thừa nhận… “sự ưu việt” này sẽ bị loại trừ.

Xét về bản chất, chỉ trích Bộ trưởng Giáo dục nói riêng và ngành giáo dục – đào tạo nói chung là… bất bình theo… định hướng. Chính phạm không phải là Bộ trưởng Giáo dục và ngành giáo dục – đào tạo. Phải chất vấn Tổng Bí thư, Chủ tịch Nhà nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng, rằng vì sao đảng giành quyền lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối mà nghèo lại phải chịu thua thiệt về đủ mọi mặt, kể cả trong lĩnh vực giáo dục? Vì sao “đổi mới” và “cải cách” trong tất cả các lĩnh vực lại chỉ tạo ra cơ hội cho thiểu số có liên quan?

***

Giáo dục – đào tạo chỉ là một lĩnh vực vốn phải trở thành phúc lợi công cộng nhưng càng ngày càng xa tầm với của thành phần yếu thế. Y tế cũng vậy! Câu chuyện bé gái bốn tuổi, ngụ ở thôn Ma Y, xã Phước Tân, huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên, mới uổng mạng vì bị rắn cạp nia cắn nhưng các bệnh viện từ huyện đến tỉnh bó tay chỉ vì không có huyết thanh kháng nọc rắn là một ví dụ cho thấy sự tàn bạo, phi nhân của hệ thống chính trị, hệ thống công quyền đối với tính mạng, sức khỏe của công dân.

Giá huyết thanh kháng nọc rắn chỉ ngang với các loại dược phẩm thông thường. Không chỉ Bệnh viện huyện Sơn Hòa, Bệnh viện tỉnh Phú Yên không có mà các bệnh viện chuyên khoa nhi hàng đầu ở miền Nam Việt Nam như Bệnh viện Nhi đồng 1, Bệnh viện Nhi đồng 2 ở TP.HCM cũng không có. Lý do các bệnh viện không có được giải thích là vì nhu cầu tiêu thụ thấp, giá bán thấp, lợi nhuận không đáng kể nên các doanh nghiệp có quyền nhập cảng dược phẩm không mua và Bộ Y tế không thèm lo (4)!

Tổng Bí thư, Chủ tịch Nhà nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng chẳng bao giờ bận tâm đến những chuyện thuộc loại như vậy. Tại Việt Nam, các lĩnh vực vốn được thên hạ xác định là phúc lợi công cộng đều đã được… “xã hội hóa”, có nghĩa là dân chúng phải tự cứu lấy mình, không tự cứu được thì… thôi. Hệ thống chính trị, hệ thống công quyền chỉ bận tâm đến chuyện làm sao để đảng tiếp tục nắm giữ quyền lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối để… tiếp tục xây dựng CNXH!

Cuối tuần vừa rồi, Hà Nội lại ngập nặng. Chỉ trong vòng một tuần, nhiều thứ tài sản cá nhân ở thủ đô Cộng hòa XHCN Việt Nam chìm sâu trong nước hai lần (5). Giống như nhiều lần trước và ở nhiều nơi khác trên khắp Việt Nam, thiệt hại đa dạng và không nhỏ do cả hai cơn mưa lớn (một vào 23/5/2022, một vào 29/5/2022) do các nạn nhân tự gánh vác, tự giải quyết. Dù rõ ràng đó là lỗi trong quản trị, điều hành của cả hệ thống, những chỉ trích gay gắt nhất cũng chỉ hướng vào chính quyền thành phố Hà Nội.

Giống như nhiều lần trước và ở nhiều nơi khác trên khắp Việt Nam, Không có bất kỳ viên chức nào trong số những cá nhân hữu trách từ trung ương đến địa phương xác định đó là trách nhiệm của mình hay của tập thể do mình lãnh đạo đã phạm sai lầm, thiếu trách nhiệm trong soạn – phê duyết – thực thi chính sách quản trị, điều hành hạ tầng đô thị. Sau khi bi bô về… “vị thế”, về… “đô thị thông minh”, những cá nhân này đang bận chuẩn bị để bi bô tiếp về… “chuyển đổi số nhằm thúc đẩy, tạo động lực đổi mới, sáng tạo” (5)!

Chú thích

(1) https://vnexpress.net/hoc-phi-o-tp-hcm-du-kien-tang-cao-nhat-5-lan-4463262.html

(2) https://zingnews.vn/hoc-phi-dai-hoc-tang-co-truong-cao-gap-doi-post1321339.html

(3) https://dantri.com.vn/giao-duc-huong-nghiep/phu-huynh-noi-ve-sach-giao-khoa-dat-gap-2-3-lan-nam-sau-co-tang-nua-khong-20220525211922594.htm

(4) https://tuoitre.vn/benh-nhi-tu-vong-do-ran-can-vi-sao-benh-vien-khong-co-huyet-thanh-20220524073426184.htm

(5) https://www.moha.gov.vn/tin-noi-bat/thu-tuong-chuyen-doi-so-la-dong-luc-thuc-day-doi-moi-sang-tao-47445.html

ẢNH HƯỞNG CỦA GƯƠNG SÁNG

Kẻ Đi Tìm

ẢNH HƯỞNG CỦA GƯƠNG SÁNG

Nhà giáo dục vĩ đại Booker T. Washington có viết như sau trong cuốn tự thuật mang tựa đề: “Từ ách nô lệ đi lên” của ông: “Càng lớn tôi càng tin chắc rằng, không một sự giáo dục nào có thể gặt hái được từ sách vở hay từ những dụng cụ đắt tiền có thể sánh ví được với những gì ta có thể gặt hái được do tiếp xúc với các bậc vĩ nhân”.

Cách đây ít lâu một phụ nữ Ấn độ giáo đã trở lại Công giáo, sau một thời gian nghe rao giảng Lời Chúa. Bà chịu nhiều dèm pha, đay nghiến từ người chồng do việc bà trở lại đạo. Có lần cha xứ hỏi bà: “Khi chồng con nổi giận và hành hạ con, thì con làm gì”? Bà đáp: “Thưa Cha, con cố gắng nấu ăn ngon hơn, khi ông than trách, con lau chùi nhà sạch hơn; khi ông ăn nói cộc cằn, con trả lời ôn tồn nhỏ nhẹ. Con cố gắng được chứng tỏ cho ông thấy khi con trở lại đạo, con phải là người vợ và người mẹ tốt hơn”.

Một thời gian sau, ông xin trở lại đạo Công giáo, không phải vì lời giảng của cha xứ nhưng chính nhờ gương sáng sống đạo của bà vợ đạo đức của ông.

Sưu tầm

CÁI TÔI CỦA NGƯỜI VIỆT

Lê Hoàng Nam

CÁI TÔI CỦA NGƯỜI VIỆT

Có anh bạn giáo sư sử học người Canada hỏi mình: “Người Việt các bạn mỗi khi gặp nhau thường nói chuyện gì?” và anh trả lời luôn, hình như các bạn tựu trung lại chỉ có mấy vấn đề : làm gì (vị trí xã hội) ? lương, thu nhập bao nhiêu, ở đâu, đi xe gì (tài sản) ? con cái học trường nào ? và rồi con ai cũng giỏi cả, chỉ là con ai giỏi hơn. Hầu như các câu chuyện như thế lại là điều rất riêng tư, cấm kỵ hỏi của các dân tộc khác. Bài viết này của Từ Thức, trên face – Góc nhìn Alan giải thích phần nào…vì sao dân tộc VN ta mãi vẫn nhỏ bé, nhỏ như con ốc vít mà nước ta không làm nổi và…nhỏ hơn cả Cái Tôi của chính mỗi người.

Tại sao cái tôi, cái “égo” của người Việt lớn thế? Tôi gặp không biết bao nhiêu người vỗ ngực, tự cho mình là vĩ nhân. Không phải chỉ vỗ ngực, còn trèo lên nóc nhà gào khản cổ: Tôi giỏi quá, tôi phục tôi quá, tại sao tôi tài ba đến thế?

Một lần ngồi nhậu với 5 ông, có cảm tưởng ngồi với 5 giải Nobel văn chương. Những ông như vậy, nhan nhản. Nói “ông”, vì hầu như đó là một cái bệnh độc quyền của đàn ông. Như ung thư vú là bệnh của đàn bà.

In một hai cuốn sách tào lao tặng bố vợ, nghĩ mình ngồi chung một chiếu với Marcel Proust, Victor Hugo. Làm vài bài thơ, câu trên vần (hay không) với câu dưới, nghĩ mình là Baudelaire, Nguyễn Du tái sinh. Lập một cái đảng có ba đảng viên, kể cả em gái và mẹ vợ, nghĩ mình là lãnh tụ, ăn nói như lãnh tụ, đi đứng, tắm rửa như lãnh tụ. Viết vài bài lăng nhăng, đầu Ngô mình Sở, nghĩ mình là triết gia, trí thức, sẵn sàng dẫn dân tộc đi lên (hay đi xuống). Học gạo được cái bằng (chưa nói tới chuyện mua được cái bằng), nghĩ mình đã kiếm ra điện và nước nóng.

TÔI, TÔI, TÔI

Một ông bạn in một tấm danh thiếp khổ lớn, dày đặc những chức tước, trong đó có “nhà nghiên cứu”. Những người quen không biết ông ta nghiên cứu cái gì, lúc nào. Tôi đáng nhận là nhà nghiên cứu hơn, vì thỉnh thoảng vẫn vào Google tìm mẹo trị mắc xương cá, hay cách nấu canh hẹ tàu hủ.

Nghĩ cũng lạ, cái TÔI to tổ bố ở một xứ như Việt Nam. Việt Nam, xứ của văn hoá Phật giáo, một tôn giáo coi cái ngã là hư cấu, cái tôi không có thực. Nơi chịu ảnh hưởng Lão giáo, những người đã ra suối rửa tai khi nghe thiên hạ nhắc tới tên mình. Nơi người Công giáo thực hành đạo nhiệt thành, và Công giáo coi vị tha, nghĩ tới người khác, là đức tính hàng đầu.

Không lẽ người Việt không hiểu tôn giáo mình đang theo?

Có ai đã gặp một người Nhật vỗ ngực: tôi, tôi, tôi. Nói chuyện với người Nhật, trong những cơ hội hơi chính thức, chưa gì họ đã mang giấy bút ra ghi chép. Làm như những điều bạn nói là khuôn vàng, thước ngọc.

TÔI LÀ CHÂN LÝ

Nước Việt nghèo, chậm tiến, lạc hậu. Đáng lẽ người Việt phải khiêm nhượng, biết người, biết mình. Nhưng không, trong từ điển cá nhân của người Việt không có chữ khiêm tốn. Nhiều lần tôi gân cổ cãi với bạn bè, về nhà nghĩ: Không chừng nó có lý. Tại sao không nhìn nhận ngay? Bởi vì cái tôi nó lớn quá.

Ở đâu cũng có những cái tôi, nhưng ở người Việt, nó đạt một tỷ số đáng ngại. Mỗi lần, hiếm hoi, gặp một người đồng hương có khả năng nhưng khiêm tốn, tôi nghĩ bụng: Ông nội này mất gốc rồi.

Thảo luận với người Việt rất khó, vì ai cũng nghĩ là mình nắm chân lý trong tay. Nghĩ khác là xúc phạm ông ta, xúc phạm Chân lý, bôi nhọ sự thật. Phải căm thù, phải tiêu diệt, phải triệt hạ, phải tố cáo, chụp mũ.

Cái tôi lớn, phải chăng đó là nét đặc thù của một dân tộc đầy tự ti mặc cảm? Trong cái kiêu hãnh lố bịch của người “mang dép râu mà đi vào vũ trụ” có cái tự ti của những người vẫn mang dép râu ở thế kỷ 20, 21.

Trong y học, égocentrisme là một cái bệnh, pathologie. Và trong 9 trên 10 trường hợp, những người có mặc cảm tự cao, tự đại (complexe de supériorité) là để che đậy tự ti mặc cảm (complexe d’infériorité).

Những người có thực tài rất khiêm nhường, vì họ không so sánh với người khác. Họ so sánh mình với mình, so sánh mình hôm nay với mình hôm qua, so sánh tác phẩm mới với tác phẩm cũ của chính mình. Và thường thường thất vọng.

Khi một nghệ sĩ thoả mãn với tác phẩm của mình, anh ta hết là nghệ sĩ. Anh ta không tìm tòi nữa, anh ta về hưu. Như một công chức, một tài xế xe đò về hưu.

ĐÈN DẦU VÀ ĐÈN ĐIỆN

Thomas Edison nói nếu hài lòng với đèn dầu, tìm cách cải thiện đèn dầu, sẽ không bao giờ kiếm ra điện. Người Việt ta dễ thỏa mãn quá, dễ kiêu hãnh quá, dễ “tự sướng” quá. Hậu quả là cái gì của ta nó cũng nho nhỏ. Cùng lắm là xinh xắn, dễ thương, nhưng đồ sộ, vĩ đại thì không có. Không thể có. Tham vọng nhỏ, thành quả nhỏ.

Pablo Picasso khi thành công, được ca tụng ở “période rose” (thời kỳ hồng), nếu thỏa mãn, sẽ không có “période bleue”, thời kỳ xanh. Nếu thoả mãn với “période bleue” sẽ không có tranh trừu tượng, đưa hội họa đi vạn dặm. Một giai thoại: Picasso mời bạn bè ăn tiệm. Cuối bữa ăn, gọi tính tiền. Chủ tiệm nói xin miễn chuyện tiền bạc, được tiếp Picasso là hân hạnh rồi. Pablo vẽ vài nét trên tấm khăn phủ bàn, tặng chủ tiệm. Ông này nói xin maître ký tên. Picasso trả lời: Tôi chỉ trả bữa cơm, không muốn mua tiệm ăn.

Nếu Picasso là người Việt, sẽ thấy đời mình đã quá đủ để thoả mãn: vua biết mặt, chúa biết tên, chữ ký đáng ngàn vàng, chỉ việc ngồi hưởng và chiêm ngưỡng dung nhan mình. May mắn cho hội họa, ông ta là người Tây Ban Nha, hì hục tìm tòi cho tới chết.

Mỗi lần nghe, hay coi Jean Marie Le Clézio, Patrick Modiano trong những chương trình văn học trên France Culture, hay trên France 5, ít người nghĩ họ đã chiếm giải Nobel Văn chương.

Họ khiêm nhượng, ngập ngừng, do dự, gần như cáo lỗi sắp sửa nói những điều tào lao.

Le Clézio, Nobel 2008, khoanh tay, chăm chú nghe một tác giả vừa chân ướt chân ráo vào nghề, nói về một cuốn sách đầu tay. Modiano, Nobel 2014, tìm chữ một cách khó khăn, ngượng ngập, ít khi chấm dứt một câu, như muốn nói: Thôi, bỏ qua đi, những điều tôi muốn nói chẳng có gì đáng nghe. Ông ta thực sự ngạc nhiên không hiểu tại sao có người nghĩ đến mình để trao giải. Ông ta nói có người đọc sách của mình đã là một phép lạ.

NGƯỜI VÀ TA

Những năm đầu ở Pháp, có thời tôi cư ngụ Rue Marcadet, Paris. Bên cạnh là một cặp vợ chồng già, hiền lành, bình dị như một cặp thư ký hay công nhân về hưu. Mỗi lần gặp ở thang máy, bà vồn vã chào, hỏi thăm đủ chuyện. Thỉnh thoảng ông mời vào nhà, uống trà, hỏi chuyện về Phật giáo mà ông nói đọc nhiều, nhưng có điều không hiểu. Thí dụ ông muốn so sánh khái niệm về Niết bàn của Phật giáo với thiên đàng của Thiên Chúa giáo.

Ông là một người Công giáo thuần thành, nhưng muốn tìm hiểu về những tôn giáo khác.

Tuyệt nhiên không bao giờ ông bà nói về mình. Nếu không coi TV, chắc không bao giờ tôi biết bà là Yvonne Loriot, danh cầm hàng đầu của Pháp, chiếm giải nhất 7 lần khi học ở Conservatoire de Paris, trước khi trở thành một giáo sư âm nhạc có uy tín.

Ông là Olivier Messaien, một trong những tác giả nhạc cổ điển lớn nhất của hậu bán thế kỷ 20. Rất nhiều các nhạc sư, nhạc trưởng nổi tiếng ở Âu Châu, như Pierre Boulez, Iannis Xenakis hãnh diện là đệ tử của ông. Tác phẩm opéra “Saint-Francois d’Assise”của ông được trình diễn trên khắp thê giới, được đón nhận như những tác phẩm của Mozart, Beethoven.

Ông bà sống trong một căn nhà bình dân, ăn uống đơn giản như một cặp vợ chồng nghèo. Tiền bản quyền nhạc đem tặng – một cách kín đáo – các hội từ thiện, hay giúp trùng tu nhà thờ Notre Dame de Lorette gần nhà. Những lúc rảnh rỗi, bà theo ông vào rừng, thu thanh để nghiên cứu tiếng chim hót.

Ai biết hai ông bà già, lễ độ, gần như vụng về, đang xếp hàng mua ổ bánh mì, là những nhân vật chiếm chỗ lớn trong bất cứ một tài liệu nào về âm nhạc cổ điển cận đại, tuần trước còn là thượng khách của hoàng gia Thụy Điển.

Khi nào ta có những người như Modiano, Le Clézio, Messaien – chưa nói tới tài năng, chỉ nói tới thái độ khiêm tốn – Việt Nam sẽ là một dân tộc trưởng thành. Trong khi chờ đợi, chúng ta tiếp tục leo lên nóc nhà, gào: Tại sao tôi tài giỏi quá như vậy? Khi gào mỏi, leo xuống, đóng áo thụng vái nhau.

Đó cũng là một trò vui, nếu hậu quả không nghiêm trọng. Chúng ta đều đồng ý với nhau là đất nước đang trên bờ vực thẳm, không thể nhẫn tâm khoanh tay nhìn. Nhưng chúng ta không ngồi nổi với nhau, vì cái TÔI nó lớn quá. Lớn hơn cả vận mệnh dân tộc.

Từ Thức

Nguồn: tachcaphe.

Từ một con số nói lên nhiều vấn đề

Từ một con số nói lên nhiều vấn đề

Đỗ Ngà

31-5-2022

Theo báo Vietnambiz, trong 3 tháng đầu năm 2022, hệ thống ngân hàng bơm thêm 526.000 tỷ đồng vào nền kinh tế, tương đương với 23 tỷ đô la. Riêng ngành bất động sản chiếm đến 30%, tức tương đương 6,9 tỷ đô la. Như vậy câu hỏi đặt ra là 6,9 tỷ đô la mà ngân hàng đã bơm thêm vào thị trường bất động sản ấy, nó được phân bố ra sao?

Được biết, trong 6,9 tỷ đô la ấy, phần vay mua nhà chiếm đến 65% trong 6,9 tỷ đô, tương đương với 4,46 tỷ đô. Trong khi đó vay để phát triển nhà chỉ chiếm 8%, tương đương 550 triệu đô la mà thôi. Còn lại người dân vay để xây nhà chỉ 5%, tương đương 343 triệu đô và vay để mua đất cũng tương đương con số đấy. Phần còn lại là vay cho vấn đề khác. Đáng chú ý ở đây là khoản cho vay để phát triển nhà và cho vay để mua nhà. Phân tích 2 khoản vay này nó nói lên bức tranh của thị trường bất động sản Việt Nam rất rõ.

Ảnh: Dữ liệu cơ cấu cho vay bất động sản. Nguồn: VietnamBiz

Các doanh nghiệp vay 550 triệu đô để phát triển nhà nhưng người dân phải bỏ ra đến 4,46 tỷ đô để mua nhà. Vậy con số chênh lệch 3,91 tỷ đô đó đi đâu? Nó chui vào túi những ông trùm bất động sản và những nhà đầu cơ ém hàng, tạo khan hiếm giả để tăng giá. Tính con số gọn cho dễ hình dung là, ngành bất động sản Việt Nam bỏ ra 1 đồng xây nhà thì người dân phải bỏ ra hơn 8 đồng để mua nhà. Các đầu nậu ngành bất động sản chia nhau món lời đến hơn 700% so với giá trị thật. Kinh! Như vậy thì làm sao giá nhà Việt Nam lại không cao hàng top thế giới? Như vậy thì làm sao giá nhà không ngày càng vượt xa tầm với của người dân?

Nhà ở bỏ trống không có người ở thì nhan nhản, nhưng bất động sản thì vẫn khan hiếm. Nguyên nhân là do đâu? Do Chính quyền này đã nuôi một đám chuyên gom hàng, ém hàng rồi tạo giá. Những doanh nghiệp thân hữu, những nhóm lợi ích lớn có trong tay sự hỗ trợ của quyền lực chính trị thì làm sao họ lại bỏ lỡ cái mâm béo bở này chứ? Người ta nói “một vốn bốn lời” đã kinh khủng thì ngành bất động sản nó đã tạo ra biên độ “một vốn bảy lời” mới đáng sợ. Tất nhiên, các đầu nậu phải chuyền qua tay nhiều lần mới nâng giá lên đến như vậy chứ không phải qua một lần nâng giá.

Các nước trên thế giới họ đã lường trước những tình huống này nên họ có những sắc thuế chế tài. Các nước có thị trường bất động sản lành mạnh họ đánh thuế vào những căn nhà bỏ không rất nặng để cho những kẻ có âm mưu mua nhiều, ém hàng thật lâu để tạo khan hiếm giả tạo phải “ói hàng ra” vì không chịu nổi thuế. Chỉ có như thế mới loại bỏ những cơn sốt do sự thiếu hụt giả tạo của nguồn cung.

Không phải nhà nước CS không biết điều này, cái đáng nói là họ biết nhưng họ không làm. Vì sao? Vì những ông làm chính sách đều có những món lợi lớn từ những đầu nậu chuyên đầu cơ bất động sản. Ra luật, thực hiện nghiêm luật thì chính túi tiền của họ cũng bị ảnh hưởng nên dại gì họ thực hiện?! Kiếm hàng chục triệu đô ăn 3 đời không hết mà cái giá phải trả chỉ là “rút kinh nghiệm” thì dại gì họ không đánh đổi? Đặc trưng của nhà nước CS là, khi làm sai đổ lỗi cho tập thể. Xong, phủi tay!

“Bọn dân đen vô gia cư kệ nó! Ai bảo nghèo chi? Miễn sao tiền đầy túi, mua xe sang, xây biệt phủ, cho con du học, mua nhà và đầu tư quốc tịch cho con là được.” Tư tưởng của giới quan lại thời CS này là thế. Cho nên, sẽ không có chính sách nào có thể đưa thị trường bất động sản Việt Nam trở nên lành mạnh hơn được. Bởi vì bản chất của quan lại thời nay chính nó sẽ làm thất bại mọi chính sách đúng đắn.

LỄ ĐỨC MẸ THĂM VIẾNG

 LỄ ĐỨC MẸ THĂM VIẾNG

 Lm. Anthony Trung Thành

Lịch sử cứu độ là lịch sử của những cuộc viếng thăm.  Đó là những cuộc viếng thăm giữa Thiên Chúa và dân Người.  Thật vậy, sau khi hoàn tất công trình tạo dựng, Thiên Chúa không bỏ rơi con người nhưng luôn viếng thăm để ban ơn và có khi để khiển trách, trừng phạt con người.  Khi Adong Evà phạm tội, Ngài viếng thăm để ra hình phạt đồng thời để hứa ban Đấng Cứu Độ (x. St 3,1-24).  Rồi, Ngài viếng thăm dân Ngài qua các ngôn sứ và các vị lãnh đạo dân Do Thái: Ngài viếng thăm và thi ân giáng phúc cho ông Ab-ra-ham và hứa sẽ làm cho dòng dõi ông nên đông đúc như sao trên bầu trời, như cát ngoài bãi biển (x. St 22,17); Ngài viếng thăm Mô-sê qua bụi gai bốc cháy để truyền lệnh cho ông giải thoát dân Is-ra-el ra khỏi đất Ai-cập (x. Xh 3, 1-12); Ngài ở với ngôn sứ Giê-rê-mi-a để cứu sống và giải thoát (x. Gr 15,20), và Ngài luôn đồng hành với các ngôn sứ để truyền cho họ nói Lời của Ngài cho dân chúng; Cuối cùng, chính Ngài đã viếng thăm nhân loại qua chính Con Một của Ngài là Đức Giêsu Kitô.

 Qua đoạn Tin mừng hôm nay cho chúng ta thấy Đức Giêsu đã viếng thăm gia đình ông Gia-ca-ri-a qua trung gian Đức Maria.  Cuộc viếng thăm này có hai chiều kích đặc biệt: chiều kích thứ nhất là chiều kích chia sẻ.  Mẹ Maria mang Chúa đến để chia sẻ với bà chị họ.  Nhờ đó, Thánh Gioan Tẩy Giả được khỏi Tội Nguyên Tổ ngay từ trong lòng Bà Ê-li-sa-bét.  Chính bà Ê-li-sa-bét đã vui mừng thốt lên rằng: “Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này?  Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng.  Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em” (Lc 1, 43-45).  Chiều kích thứ hai là chiếu kích phục vụ.  Tin mừng cho biết, Mẹ Maria “ở lại với bà Ê-li-sa-bét độ ba tháng, rồi trở về nhà” (Lc 1,56).  Khi Mẹ đến thăm thì bà Ê-li-sa-bét thì bà đã cưu mang Gioan được sáu tháng.  Mẹ ở lại đó ba tháng, tức là những tháng cuối cùng trước khi bà Ê-li-sa-bét hạ sinh.  Đây là những ngày tháng khó nhọc vất vả nhất của người phụ nữ mang thai.  Mẹ biết được như vậy, nên Mẹ đã tự nguyện ở lại đó để chăm sóc, phục vụ, giúp đỡ bà chị họ.  Điều đó thể hiện tinh thần thăm viếng mang chiều kích phục vụ của Mẹ.

 Về phần Đức Giêsu, sau thời gian sống ẩn dật tại làng quê Na-za-rét, Ngài bắt đầu hành trình truyền giáo là bắt đầu những cuộc viếng thăm: Ngài đi khắp mọi nơi và gặp gỡ mọi người để biến đổi và chữa lành họ; Ngài viếng thăm ông Gia-kêu khi ông đang ngồi trên cây sung; Ngài viếng thăm ông Lê-vi tại bàn thu thuế; Ngài viếng thăm gia đình La-za-rô và cho ông đã chết Bốn ngày được sống lại; Ngài viếng thăm và chữa lành cho mẹ vợ của ông Phê-rô…  Đi tới đâu là Ngài thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành mọi kẻ bị ma qủi kiềm chế, bởi vì Thiên Chúa ở với Người (x. Cv 10, 36-38).  Tin mừng còn cho biết: Nhờ Ngài mà kẻ què đi được, kẻ điếc được nghe, kẻ mù được xem thấy, kẻ câm nói được, kẻ chết sống lại, kẻ nghèo khó được nghe Tin mừng.  Chắc chắn Mẹ Maria cũng đồng hành với Chúa Giêsu trên mọi nẻo đường truyền giáo để thăm viếng, an ủi tất cả mọi hạng người trong xã hội.  Đặc biệt, Mẹ có mặt tại tiệc cưới Cana để khẩn cầu Đức Giêsu làm phép lạ hóa nước thành rượu ngon giúp cho gia chủ trong lúc bế tắc.  Mẹ hiện diện dưới chân Thánh giá để lãnh nhận sứ mạng làm Mẹ loài người.  Sau khi về trời, Mẹ còn thăm viếng loài người bằng những lần hiện ra nơi này nơi khác như ở Lộc Đức, ở Fatima, ở Lavang…  Còn Đức Giêsu, sau khi Phục Sinh, Ngài còn hiện ra nhiều lần nhiều nơi để viếng thăm và cũng cố đức tin cho các Tông đồ và các Kitô hữu đầu tiên.  Có thể nói, những cuộc viếng thăm của Thiên Chúa, của Đức Giêsu và của Đức Maria là mẫu mực cho các cuộc viếng thăm giữa con người với nhau qua mọi thời đại.  Đó là những cuộc viếng thăm đem lại niềm vui, tình thương và ơn cứu độ.

Các Tông đồ lãnh nhận sứ mạng Đức Giêsu trao phó, tiếp tục ra đi đến với muôn dân.  Sách Công vụ Tông đồ kể lại các sinh hoạt của Giáo hội sơ khai cho chúng ta thấy điều đó.  Các Ngài ra đi khắp mọi nơi để thăm viếng, rao giảng và làm chứng cho Đức Giêsu đã chết và sống lại.  Riêng Thánh Phaolô, sau khi trở lại, Ngài đã thực hiện nhiều cuộc hành trình truyền giáo đến với dân ngoại.  Nhờ đó, nhiều cộng đoàn Kitô hữu được thiết lập.  Từ đó tới nay, Giáo hội không ngừng ra đi để thăm viếng muôn dân: Đó chính là sự “ra đi” của các nhà truyền giáo, các giám mục, linh mục, tu sỹ và giáo dân.  Đặc biệt, từ thời Đức Giáo Hoàng Phaolô VI cho tới nay, các Đức Giáo Hoàng thường thực hiện những cuộc thăm viếng mang tính quốc tế: Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, đã có 129 cuộc viếng thăm ngoài thành Rôma.  Ngài là vị Giáo hoàng đầu tiên đến viếng thăm một ngôi đền Hồi giáo ở Syria; viếng thăm vùng Thánh Địa Giêrusalem…  Các cuộc viếng thăm của Ngài ảnh hưởng đến việc hòa giải các dân tộc và tôn giáo.  Đức Giáo hoàng Benedictô XVI và Đức Giáo hoàng Phanxicô tiếp tục ra đi.  Đức Giáo Hoàng Phanxicô thường quan tâm đặc biệt đến các vùng ngoại vi.  Ngài đã đến với những người tị nạn tại đảo Lampedusa, trại tù Casal del Marmo…  Ngài mời gọi mỗi người chúng ta hãy “ra đi” để đem Tin mừng đến với với những người bần cùng nhất, những người sầu khổ, những người còn trong bóng tối tội lỗi.  Chính vì thế, các cuộc viếng thăm của Ngài không những đem lại sự hòa hợp các dân tộc mà còn đem lại niềm vui và sự an ủi cho những người thấp cổ bé miệng trong xã hội.

 Viếng thăm cũng là bổn phận của mỗi người chúng ta hôm nay: Viếng thăm để thực hiện bổn phận truyền giáo; Viếng thăm để thực hiện bổn phận liên đới giữa chúng ta với các mối tương quan như ông bà, cha mẹ, anh chị em, bạn hữu.  Chúng ta hãy bắt chước gương viếng thăm của Thiên Chúa, của Đức Giêsu và Đức Maria.  Hãy có những cuộc viếng thăm tha nhân một cách vô vị lợi.  Hãy viếng thăm tha nhân khi vui cũng như lúc buồn như lời Thánh Phaolô nhắc nhở: “Hãy vui với người vui, khóc với người khóc” (Rm 12,15).  Hãy viếng thăm tha nhân trong sự thành thật không giả hình, viếng thăm trong tình yêu thương huynh đệ: “Đức ái không được giả hình: Hãy chê ghét điều ác và trìu mến điều lành.  Hãy thương yêu nhau trong tình bác ái huynh đệ.  Hãy nhân nhượng tôn kính nhau” (Rm 12, 9-11); “Hãy giúp đỡ các thánh khi họ thiếu thốn, và ân cần tiếp khách đỗ nhà” (Rm 12, 13).  Đặc biệt, chúng ta hãy siêng năng viếng thăm những người nghèo đói, bệnh tật, cô thế cô thân, những kè tù đày… để đem niềm vui và hạnh phúc đến cho họ.  Vì khi chúng ta thăm viếng họ là chúng ta đang thăm viếng Chúa.  Tin mừng theo Thánh Mathêu, chương 25, Đức Giêsu đã đồng hóa Ngài với những kẻ bé mọn: “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa.  Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han.”  Ngài nói thêm: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.”

 Ước mong rằng, ngày lễ Mẹ Thăm Viếng hôm nay nhắc nhở mỗi người chúng ta luôn biết ra khỏi chính mình để đến với tha nhân, đem niềm vui có Chúa và tinh thần phục vụ cho họ như gương mẫu của Đức Maria. Amen.

 Lm. Anthony Trung Thành

From: Langthangchieutim

HOA QUẢ THỨ 8: Hiền Hoà – Cha Vương

Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp. (Mt 5,4)

Sau ngày lễ nghỉ, uể oải quá đi thôi. Chúc bạn ngày mới tràn đầy nghị lực và hiền lành như con chim bồ câu vậy nhé.

Cha Vương

Thứ 3: 31/05/2022

TIN MỪNG: Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp. (Mt 5,4)

HOA QUẢ THỨ 8: Hiền Hoà— Hiền hoà (hiền lành) là một nhân đức, không để cho mình bị lôi cuốn bởi cơn giận dữ quá đáng so với nguyên nhân gây ra nó, nghĩa là không để cho mình bị lôi cuốn theo một cảm xúc phi lý. Người hiền lành thì luôn có tâm hồn đơn sơ, sống chân thật, không ích kỷ, không tìm tư lợi, nhưng sẵn sàng quên mình, biết dấn thân và biết sống vì người khác. Hiền hòa cũng có phần nào liên quan đến nhịn nhục và chịu đựng, đó là biết vui vẻ chấp nhận sự thua thiệt, hiền lành và chịu thua thiệt chứ không là nhu nhược.

SUY NIỆM: Trong cuộc sống tại thế này bạn phải đối diện với đủ loại thử thách: những thất bại, bất trắc, đau khổ, … có khi phải đối diện với những nghịch cảnh bi đát và nghiệt ngã bất công. Vấn đề là cách bạn ứng xử thế nào trước mỗi khó khăn thử thách như vậy. Lời khuyên của Đức Hồng Y Phanxicô Nguyễn Văn Thuận sau đây có thể giúp bạn hiểu được tầm quan trọng của nhân đức hiền hoà khi ngài viết: “Đừng nản lòng vì thất bại. Nếu con tìm ý Chúa thực sự, thì chính sự thất bại đó là thành công. Chúa muốn như vậy. Xem gương Đức Giêsu trên thánh giá”; “Chỉ có một sự thất bại là không hy vọng vào Chúa. Con đã hy vọng vào Chúa và con sẽ không hổ thẹn đến muôn đời” (ĐHV, số 41. 43). Người hiền lành có thể bị người đời ăn hiếp hoặc luôn chịu phần thiệt thòi nhưng ngược lại họ lại là người mạnh mẽ và dễ mến vì chẳng có ai chống lại người hiền lành cả. Tiền nhân có câu: “No mất ngon, giận mất khôn”. Đúng quá! Một giây phút không kiềm hãm được những cảm xúc phi lý của mình không những bạn sẽ làm tổn thương đến những người chung quanh mà còn tự hại mình nữa. Nguy quá!

 LẮNG NGHE: Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại: vui lên anh em! Sao cho mọi người thấy anh em sống hiền hòa rộng rãi, Chúa đã gần đến. (Pl 4,4-5)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Thánh Thần là Chủ nhân hiền hòa của tâm hồn con, là nguồn dịu dàng tươi mát dường bao, xin cất khỏi tim con những yếu đuối, những cảm xúc nóng nảy, thô lỗ, cộc cằn, và ban cho con đức đơn sơ, điềm tĩnh, khôn ngoan, hiền dịu và quả cảm để con sống hiền lành thánh thiệt như Chúa hằng mong ước.

THỰC HÀNH: Tập không phản ứng mạnh khi gặp chuyện trái ý, không làm dữ khi ý kiến của bạn bị bác bỏ.

From: Đỗ Dzũng

NA UY – NHỮNG DẤU CHÂN LƯU LẠC – Phạm Tín An Ninh

Kimtrong Lam   Lương Văn Can 75.

Nhà văn Phạm Tín An Ninh

Trong hình là hai vợ chồng nhà văn Phạm Tín An Ninh và sáu đứa con tại Trại Hawkins Road, Singgapore sau khi vượt biên thoát khỏi Việt Nam trong thập niên 80. Nhà văn Phạm Tín An Ninh vừa là huynh trưởng vừa là chiến hữu với tôi cùng màu cờ sắc áo trong quân đội VNCH. Bà xã anh Phạm Tín An Ninh tên Trương Thu Thức là bạn học cùng lớp cùng trường thời trung học tại trường Trần Bình Trọng Ninh Hoà với tôi . Nhìn hình thấy bà bạn của mình mới bây lớn mà có tới sáu đứa con cao gần ngang vai thật là đáng nể . Chắc trong thời chiến tranh đơn vị của anh bị việt cộng pháo kích quấy rối ngủ không được nên mới nhiều con như thế. Tại hạ xin bái phục bà bạn của mình

Nhà văn Phạm Tín An Ninh là tác giả của những tác phẩm : Ở Cuối Hai Con Đường – Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân – Sau Cuộc Biển Dâu rất nổi tiếng nơi hải ngoại. Trong những câu chuyện anh viết giống như thể anh đang bơi giữa dòng sông đầy cánh lục bình . Anh quơ tay gom lại nhưng vì hai tay ngắn quá nên vẫn còn nhiều đám lục bình trôi dật dờ quanh đây nên sức anh gom không xuễ . Tôi bắt gặp những niềm đau man mác của chính tôi giống như là tất cả những uẩn khúc trong lòng được anh thấu hiểu mặc dù truyện của anh được kết nối từ những mãng sống trôi trên dòng đời của chính anh

Mời quý bạn đọc bài viết mới nhất của anh viết về Na Uy quê hương thứ hai của mình

NA UY – NHỮNG DẤU CHÂN LƯU LẠC
Phạm Tín An Ninh

Như vậy là tôi sẽ phải rời xa Na-Uy, đất nước đã cưu mang tôi và sẽ còn mãi in đậm những dấu chân tôi trong cả một quãng đời hơn 30 năm lưu lạc? Cũng như tâm trạng của những ngày tìm cách vượt biên, rời khỏi Việt Nam, nơi chôn nhau cắt rốn, câu hỏi này đã làm tôi ưu tư trằn trọc nhiều đêm, như sắp phải cắt đi một phần máu thịt ràng buộc với chính sự sống của mình.

Sau bậc trung học ở Na-Uy, bốn đứa con lần lượt được học bổng sang Mỹ du học từ năm 1990. Có việc làm sau khi tốt nghiệp, nên ba cháu đã chọn ở lại đây lập nghiệp và trở thành công dân Mỹ, mong muốn bảo lãnh cha mẹ, khi về hưu, sang sống với các cháu những năm cuối đời, và với khí hậu ấm áp của vùng biển Cali sẽ làm người già đỡ căn bệnh đau nhức các khớp xương khi mùa đông Bắc Âu mang cái lạnh trở về. Mấy năm nay, sau khi về hưu, chúng tôi cũng chỉ sang Cali ở với các con sáu tháng mùa đông, còn sáu tháng mùa hè về lại với Na-Uy. Vậy mà trong những ngày mùa đông nắng ấm Cali, tôi vẫn da diết nhớ về Na-Uy với cả khung trời ngập đầy tuyết trắng, những hàng cây trước nhà, vào đêm Giáng Sinh, đóng băng, trở thành những cây thủy tinh lung linh dưới ánh đèn đường. Tôi nhớ cả cái không khí yên bình tĩnh mịch và những người bản xứ láng giềng tốt bụng. Nhiều lúc tôi ngồi bất động, thả hồn về Na-Uy, tìm lại từng dấu chân lưu lạc của mình.

Hơn ba mươi năm trước, khi phải đành lòng bỏ lại quê hương, bao nhiêu người thân và mồ mả cha mẹ ông bà, ra đi trên chiếc thuyền đánh cá mong manh, cũng như rất nhiều người, tôi không hề nghĩ là mình sẽ đến một đất nước xa lạ có tên Na-uy. Cái tên Norway, Norvège, tôi chỉ nhớ loáng thoáng qua phim The Vikings mà tôi đã xem qua lúc còn đi học, và cái giải Nobel Hòa Bình năm 1973 trao lầm cho Kissinger – Lê Đức Thọ, đã từng gây cho tôi cái ác cảm với đất nước xa xăm lạ lẫm này. Đặc biệt, năm 1978, khi đang ở tù ngoài Yên Bái, nhân một ngày lễ lớn của Cộng sản, tổ tù chúng tôi được phát một hộp thịt cá voi. Thấy ngoài hộp thiếc có ghi “Made in Norway”, bọn tôi càng ghét thêm cái tên này, vì nghĩ đó là một quốc gia thân Cộng

Chiếc thuyền nhỏ chở theo 52 người, gần một nửa là đàn bà và con nít, ra khơi hai ngày thì gặp bão. Cả bầu trời phủ kín mây đen. Những ngọn sóng bạc đầu từ trên cao phủ xuống, như muốn nuốt chửng con thuyền nhỏ mong manh. Mệnh số 52 con người chỉ còn biết phó thác cho trời nước mênh mông. Bóng tối tử thần bủa vây khắp phía. Con thuyền bây giờ như cánh bướm nhỏ rơi giữa dòng thác lũ, chìm xuống ngoi lên tả tơi, thoi thóp. Chưa khi nào con người lại quá nhỏ bé và bất lực trước thiên nhiên như lúc này đây. Người điều khiển chiếc thuyền là anh bạn tù, một sĩ quan Hải Quân trước 75. Dù từng làm hạm trưởng, giàu kinh nghiệm hải hành, nhưng bây giờ chỉ còn biết cố giữ cho chiếc thuyền không nằm ngang để bị sóng đánh vỡ. Khả năng đó trong lúc này đã là một điều tuyệt vời, nhưng lại quá nhỏ nhoi trước sức mạnh của phong ba. Đám thanh niên thi nhau tát nước tràn vào liên tục có lúc gần ngập cả con thuyền. Chỉ sau một ngày đêm, tất cả đều mệt lã, đuối sức. Mọi người chỉ còn biết nhắm mắt, miệng lâm râm lời cầu nguyện. Bất ngờ có người hét lên và chỉ ra phía trước mặt. Tất cả nhốn nháo nhìn về hướng ấy. Một cái gì to lớn màu đỏ chói chập chờn xuất hiện giữa trùng khơi sóng gió. Mới đầu chỉ thấy mấy cái bồn lớn, tưởng như những cây trụ cao to trong một ngôi chùa vĩ đại, cho mọi người cái cảm giác như đang ở trên một thế giới nào đó, huyễn hoặc, mơ hồ. Khi nhận ra chiêc tàu thật lớn, ai cũng thầm nghĩ là có điều gì màu nhiệm được Thượng Đế gởi đến để cứu vớt chúng tôi trong cơn khốn nguy tuyệt vọng.

(Tàu chở dầu Høegh Grandia cứu vớt chúng tôi trên biển Đông)

Chiếc tàu mang cái tên với vài mẫu tự rất lạ (Høegh). Có người nghĩ là chữ Nga. Nhưng trong hoàn cảnh này dù là tàu nước nào, cũng phải sống trước đã. Nhưng khi chúng tôi cố gắng cho thuyền đến gần tàu, thì họ lại tránh ra xa. Bao lần như vậy làm chúng tôi thất vọng và thầm oán trách. Nhưng cuối cùng chiếc tàu ngừng hẳn lại, hụ còi làm dấu hiệu cho thuyền chúng tôi chạy đến. Khi chiếc thuyền con cặp vào thành tàu cao chót vót, một số thủy thủ trên tàu thòng những chiếc thang giây và đu mình xuống để bồng những đứa con nít hoặc cõng trên vai những người đàn bà yếu mệt lên tàu. Một số khác, có cả vài người đàn bà, đứng trên thành tàu, đưa tay đón lấy từng người. Chúng tôi đã nhận ra đây phải là những con người từ tâm, đến từ một quốc gia giàu lòng nhân đạo.

Tôi và anh bạn Hải Quân là hai người cuối cùng lên tàu. Khi nói chuyện với vị thuyền phó, được biết chiếc tàu này thuộc Vương Quốc Na-Uy (Kingdom Of Norway) và đang trên hải trình công tác chở dầu từ Nhật sang Singapore. Và cơn bão chỉ mới bắt đầu. Trận bão chính khuya nay mới tới. Nếu tàu không vớt, chắc chắn chúng tôi không thể nào sống sót qua đêm nay. Ông cũng cho biết sở dĩ ông không cho chiếc thuyền nhỏ của chúng tôi lại gần khi tàu lớn đang chạy, vì lo ngại thuyền sẽ bị nhận chìm bởi sóng từ chiếc tàu lớn tạo ra, nên ông phải cho tàu dừng hẳn lại trước khi cho chúng tôi cặp vào

Chúng tôi đem tặng cho ông thuyền trưởng chiếc hải bàn, nói lời cám ơn và để làm kỷ niệm. Ông đưa hai chúng tôi ra sàn tàu để chứng kiến và từ biệt chiếc thuyền con, khi ông cho nhận chìm bằng cách cho rú mạnh máy tàu. Đứng nghiêm đưa tay chào vĩnh biệt, lòng chúng tôi thật bùi ngùi, khi nghĩ là chiếc thuyền mong manh ấy đã đưa chúng tôi vượt bao sóng gió, từng chạm mặt với tử thần, nhưng cuối cùng tất cả chúng tôi đã được an bình để tới bến bờ, còn chiếc thuyền thì lại bị nhận chìm vào đáy của đại dương . Và cũng kể từ giờ phút ấy, hai tiếng Na-Uy gắn liên với phần đời còn lại của chúng tôi

Sau khi tắm rửa xong, đám đàn ông con trai thì được phát cho những bộ quần áo kaki màu vàng của thủy thủ, phụ nữ thì những chiếc áo blue trắng của các cô y tá. Còn đám con nít thì được áo thun đủ màu và quần short. Chúng tôi được đưa xuống các phòng ngủ nghỉ ngơi, và chiều hôm đó được ăn một bữa cơm Tây thịnh soạn. Vị thuyền trưởng cho biết là sẽ đưa chúng tôi sang gởi tại trại tị nạn Singapore, và cho mỗi người được gởi ba cái điện tín về ba địa chỉ khác nhau để báo tin cho gia đình. Ông còn cho biết thêm, trước đây chiếc tàu này do ông làm hạm trưởng cũng đã từng cứu vớt bốn chiếc thuyền tỵ nạn từ Việt Nam. Đọc danh sách những thuyền nhân trong bốn chiếc thuyền này, hầu hết phát xuất từ miền Tây, chúng tôi không nhận ra có người quen biết.
Hai ngày đêm trên tàu với chúng tôi là cả một thiên đường. Mặc dù bên ngoài, cơn bão cấp sáu nhiều lúc làm con tàu lắc lư, nhưng trên tàu chúng tôi cảm thấy thật yên ả hạnh phúc. Chúng tôi được bác sĩ khám bệnh, cấp thuốc, ăn uống thịnh soạn Đám con nít có quà, bắt đầu đừa giỡn, vui chơi.

Đêm cuối cùng, ông thuyền trưởng mong muốn có một buổi cơm chung với tất cả thủy thủ trên tàu cùng những người tỵ nạn. Chúng tôi thành lập một tổ nhà bếp. Họ cung cấp mọi thực phẩm theo yêu cầu. Một bữa ăn với thực đơn hoàn toàn Việt Nam. Vừa thích thú vừa cảm động.

Sau hơn hai ngày đêm, tàu cặp vào cảng Singapore. Tất cả thủy thủ đoàn đứng thành hai hàng dài từ đài chỉ huy xuống tận cầu tàu, bắt tay và ôm từng người chúng tôi tiễn biệt. Nhiều người đã bật khóc. Tôi vừa cảm động vừa đau đớn trong lòng. Cảm động vì phải chia tay những ân nhân của mình, nhưng đau đớn vì nghĩ họ là những người xa lạ, không cùng ngôn ngữ, màu da màu tóc, mà đã cứu vớt, hết lòng yêu thương lo lắng cho chúng tôi, trong lúc những người anh em cùng một nhà lại thẳng tay đàn áp hành hạ đuổi xô chúng tôi đến bước đường cùng, đến nỗi phải đánh đổi cả mạng sống để bỏ nước ra đi. Nếu không có chiếc tàu Na-Uy này cứu vớt, chắc chắn 52 người chúng tôi đã bỏ mình trên biển khơi, cũng giống như hàng trăm ngàn người bất hạnh khác, không một ai hay biết.

Chúng tôi được gởi vào trại tị nạn Hawkins Road, một doanh trại cũ của quân đội Anh tại Singapore. Tòa đại sứ Na-Uy tại đây đến thăm nom, chăm sóc và gởi hai cô giáo thiện nguyện đến để sinh hoạt và dạy ngôn ngữ Na-Uy. Sau ba tháng, chúng tôi được chuyển sang trại chuyển tiếp Bataan ở Phi Luật Tân. Trại chia ra 9 Vùng. Riêng Vùng I được dành cho những người được tàu Na-uy vớt, và hầu hết sẽ đi định cư tại Na-Uy. Ông Đại sứ Na-Uy tại Phi Luật Tân thường xuyên đến thăm nom giúp đỡ chúng tôi. Có lẽ không có một vị đại sứ nào hiền lành, phúc hậu, và bình dị như ông đại sứ Na-Uy này. Một toán cô thầy giáo được chọn lọc, từ Na-Uy sang để dạy tiếng Na-Uy cũng như hướng dẫn chúng tôi về lịch sữ, địa lý, văn hóa, tập quán và nhiều hiểu biết khác về xã hội và đất nước này. Một số người tỵ nạn được chọn ra, học riêng thêm một số giờ, để làm phụ giảng và thông dịch.Tôi là một trong vài người may mắn được chọn

(Ông Đại Sứ – bà Bộ Trưởng Xã Hội và bà Giám Đốc Sở Tỵ Nạn NaUy đến thăm viếng chúng tôi tại Bataan -Philippine)

Sau tám tháng, chúng tôi lần lượt được đưa sang định cư chính thức tại Na-Uy. Gia đình tôi lúc ấy có 10 người, gồm vợ chồng tôi, 6 đứa con và 2 đứa cháu, đến phi trường Fornebu Oslo vào buổi chiều cuối hè. Trời nắng đẹp. Chúng tôi được hai người đàn bà thuộc văn phòng Thư ký Tỵ nạn và Phòng Xã Hội kommune Skedsmo, địa hạt nơi tôi đến định cư, đón chúng tôi tại khu nhận hành lý của phi trường. Khi bước ra cổng, tôi được một số phóng viên báo chí và đài truyền hình phỏng vấn. Hai người đàn bà mời gia đình chúng tôi đến ăn tại một nhà hàng Tàu. Khi về đến nhà, bất ngờ chúng tôi thấy các phóng viên lúc nãy đang chờ trước cổng. Căn nhà rộng, loại rekkehus (townhouse) hai tầng, có cả sân trước sân sau được trồng hoa và lát cỏ, trang bị đầy đủ nội thất, có cả một TV mới và trong tủ lạnh đầy đủ thức ăn nước uống. Các phóng viên mời chúng tôi vào phòng khách, vừa uống cà phê vừa để họ quay phim, chụp hình và phỏng vấn. Họ hỏi về nhiều đề tài, đặc biệt là chiến tranh Việt Nam và chuyện tù đày, khổ ải của người miền Nam sau ngày VNCH thất thủ vào tay Cộng Sản, cùng cảm tưởng khi đến Na-Uy. Với mớ vốn liếng tiếng Na-Uy và cả tiếng Anh ít ỏi, tôi cố gắng trình bày và chỉ hy vọng họ hiểu được những điều chính yếu mà mình muốn nói. Trước khi từ giả, mọi người đều cảm động ôm lấy chúng tôi cùng với những lời chúc tốt lành cho một đời sống mới. Tôi rất ngạc nhiên, khi bà Trưởng Phòng Tỵ Nạn đưa chúng tôi một xâu chìa khóa, và trao cho chúng tôi tờ giấy chủ quyền ngôi nhà, mà bà cho biết kommune đã đứng ra mượn tiền mua trước, và họ sẽ trả mọi thứ tiền cho đến khi nào chúng tôi đi làm và có khả năng tự trả được. (Vì họ được mượn từ quỹ gia cư của chính phủ nên tiền lời rất thấp)

Buổi tối, cơm nước xong, cả nhà quây quần trước cái TV. Thằng con trai lớn ra điều mới học được văn minh, bấm tới bấm lui tìm đài. Cả đám bất ngờ nhìn thấy dung nhan của mình trên màn ảnh. Thì ra chương trình phóng sự. Họ đang kể về gia đình chúng tôi: “những công dân mới của Na Uy, mà ông bố đã từng ở tù nhiều năm, giống nhiều người Na Uy bị nhốt trong các trại cải tạo của Đức quốc xã, cái thời Hitler làm mưa làm gió ở Âu Châu, và đã can đảm dắt theo mấy đứa con nhỏ vượt đại dương trên một chiếc thuyền đánh cá mong manh”. Nghe họ ca ngợi mình mà tôi xấu hổ. Dù gì tôi cũng là kẻ bỏ nước tha phương, với họ ít nhiều gì cũng là một cành tầm gởi. Còn chuyện vượt biển, vượt biên, đến bước đường cùng thì ai cũng phải liều mạng thế thôi, chứ có hàng triệu người còn can đảm gấp vạn lần tôi. Nhiều người đi bằng đường bộ, trèo núi, băng rừng, lội suối, bơi sông, qua Cam Bốt, Thái Lan, sống chết với bọn hải tặc, để vài năm sau mới đến được Singapore. Và dĩ nhiên đã có biết bao nhiêu người chẳng bao giờ tới bến.

Khi cả nhà ngủ vùi sau hai ngày di chuyển mệt nhọc (từ trại Bataan đến Manila và từ Manila đến Na-Uy), tôi một mình xuống ngồi ở phòng khách, suy nghĩ thật nhiều về những tháng ngày sắp tới, ưu tư cho chính bản thân mình và nhất là đám con nhỏ dại, sẽ lớn lên và chấp nhận xứ sở xa lạ này như một quê hương mới. Nước mắt tôi bỗng trào ra khi nghĩ đến quê nhà, hồi tưởng một quá khứ có quá nhiều biến đổi thăng trầm và mất mát, dù đã xa khuất sau lưng, nhưng chắc chắn mãi mãi không thể nào mờ nhạt. Tôi cũng nghĩ tới thân phận của những người bạn tù còn ở lại,rồi cuộc đời sẽ không biết ra sao. Thầm cầu mong cho họ sẽ gặp được nhiều may mắn.

(Ngày mới đến thị xã Skjetten – thuộc Kommune Skedsmo -NaUy)

Hôm nay, cả gia đình tôi đang ở trên một đất nước tận vùng Bắc Âu xa lạ để gầy dựng lại cuộc đời. Các đứa con thơ dại sẽ lớn lên ở đây. Tất cả sẽ bắt đầu học ngôn ngữ mới, tập quán mới. Tôi thực sự đã mất quê hương. Tất cả, nếu có còn chỉ nằm sâu một nơi nào trong tâm tưởng. Nhưng chúng tôi may mắn được đất nước này mở rộng vòng tay, để được nhận nơi đây làm quê hương mới. Cái diễm phúc ấy hy vọng sẽ xoa dịu vết thương còn đang đau đớn trong lòng, mà tôi biết sẽ mãi mãi không bao giờ lành được. Sáng hôm sau, bà trưởng phòng tỵ nạn trở lại thăm chúng tôi, dắt theo hai người đàn bà khác, mà bà giới thiệu là đến từ phòng giáo dục và phòng xã hội Thị Xã. Hai người sẽ đến thăm gia đình tôi thường xuyên trong hai tuần, để lo việc học hành cho các con, đưa chúng tôi đi khám bệnh, làm răng và sắm sửa thêm những gia dụng theo nhu cầu. Bà đưa tôi đến một ngân hàng gần nhà, mở cho tôi một trương mục, bỏ vào đó tiền ăn và mọi khoản chi tiêu dành cho gia đình chúng tôi trong hai tháng đầu. Sau đó, bà sẽ gởi tiếp, nhưng bà dặn bất cứ khi nào cần cứ ra rút tiền. Và nếu tiền hết vì bà chưa kịp gởi vào, ngân hàng này sẽ phải ứng trước theo giao ước của bà.

Thêm một điều rất may mắn cho tôi. Thời gian ở trại tị nạn, tôi đã được các thầy cô giáo dạy riêng thêm ngôn ngữ Na-Uy để giúp làm phụ giảng và thông dịch, nên khi sang Na-Uy tôi đã có một ít vốn liếng tiếng Na-Uy, dù chưa thông thạo lắm. Ngày đầu tiên khi chúng tôi cùng một số gia đình tỵ nạn khác được bà Trưởng Phòng Tỵ Nạn đưa đến Phòng Cảnh Sát Ngoại Kiều Thị Xã để được phỏng vấn làm thủ tục di trú. Vào giờ chót người thông dịch không đến được, nên tôi đã tình nguyện đứng ra giúp. Không ngờ đó lại là một cơ hội cho tôi sau này. Tôi được giới thiệu theo học khóa “Ngôn ngữ Mùa Hè” tại Đại Học Oslo. Sau đó được làm thông dịch cho Văn Phòng Xã Hội và Phòng Cảnh Sát, và được gởi theo học một khóa tài chánh kế toán trong 13 tháng, mà đa số học viên là những công chức hoặc nhân viên của các phòng sở, công ty gởi đến. Biết thân phận là người tị nạn, nên tôi cố gắng hết sức để theo kịp, nên khi mãn khóa nhận được chứng chỉ với số điểm ưu hạng.

Khi cả nhà đang hái dâu ở vùng Drammen, vừa tiêu khiển vừa kiếm thêm tiền gởi vể Việt Nam giúp cha mẹ vợ, bà cô, cùng một số bạn tù ngày trước, tôi nhận được thư của kommune thu nhận tôi làm việc tại Kommune Kasseren (Phòng Tài Chánh Thị Xã) trong một năm. Công việc thật nhàn nhã, nên tôi được phép đi làm thông dịch thêm theo yêu cầu của các cơ quan khác và được nhận thêm tiền trả riêng. Đặc biệt việc di chuyển đều được dùng Taxi do cơ quan ấy đài thọ. Có những ngày chẳng có việc gì làm, tôi lại ngồi đọc sách để học thêm ngôn ngữ mới. Sau một năm, tôi nôp đơn xin theo học và làm trong ngành Ngân hàng Bưu Điện (Postbanken) cho đến ngày về hưu

(Ba đồng nghiệp thân thiết nhất tại Postbanken – Anita – Reidun và Guldhaug)

Đến Na-Uy tôi mới biết đây là một Vương quốc có dân số chỉ hơn bốn triệu rưởi, nhưng đời sống khá cao và giàu lòng nhân đạo. Gia đình tôi được chăm lo đủ thứ. Tiền phụ cấp hằng tháng quá đầy đủ. Với chúng tôi có thể nói là thừa thãi. Ngay sau khi học xong, tôi được việc làm. Khi đi học vẫn được nhận đủ lương lại còn thêm phụ cấp. Vơ tôi được đi học thêm ngôn ngữ tại một trường trung học dành cho người lớn và sau đó học nghề tại trung tấm huấn nghệ dành cho người tỵ nạn, và ngay sau khi học xong cũng cnhận dược việc làm chuyên môn về điện tử tại Siemens, một công ty lớn của Đức. Lương bỗng hằng tháng của hai vợ chồng cộng lại chỉ hơn một nửa số tiến trợ cấp trước kia. Phòng Xã Hội có nhã ý giúp chúng tôi thêm vì có đông con, nhưng chúng tôi từ chối vì thấy đã đủ trả mọi chi phí cho đời sống gia đình. Điều thú vị hơn, đất nước này gồm rừng núi, sông hồ thơ mộng và quanh năm tĩnh mịch, thích hợp với những người cần sự yên tĩnh để chữa nhiều vết thương trong lòng còn đang đau đớn như tôi.

Mùa đông đầu tiên, khi tuyết bắt đầu rơi trắng bầu trời, chúng tôi được cấp áo quần, dụng cụ trượt tuyết, và có người đến dạy các con tôi trượt tuyết. Sau một năm, trong một kỳ thi dành cho tuổi thiếu niên, cậu con trai út của tôi được lãnh cúp hạng nhất, trở thành cậu bé trượt tuyết có tiếng trong vùng.Sau đó, chúng tôi còn được biết thêm, Nauy là quốc gia thường chiếm nhiều huy chương vàng nhất tại các Thế Vận Hội Mùa Đông.

(Huy Vinh trượt tuyết giỏi nhất giải thiếu nhi và em gái Ngọc Quỳnh)

Định cư được hơn ba năm. Lúc kinh tế gia đình và việc học hành của mấy đứa con tạm ổn định, hơn nữa các con đã lớn cần một ngôi nhà rộng rãi có đủ phòng ốc hơn, chúng tôi quyết định mua một ngôi nhà lớn nằm dưới thung lũng nhỏ Harabakken, bên bờ sông Nitelva yên tĩnh, bên kia sông là cánh đồng cỏ mênh mông tiếp giáp với núi rừng. Cái khung cảnh có mang một chút hình dáng và màu sắc quê nhà giúp tâm hồn tôi yên ả hơn mỗi khi thấy lòng trăn trở, nhung nhớ một điều gì. Những lúc buồn, tôi ngồi hằng giờ trong bao lơn nhìn ra cánh đồng và rừng núi phía xa xa, để ngỡ là quê hương mình như đang ở phía bên kia triền núi đó. Và cũng chính nơi đây, tôi đã bắt đầu tập tễnh cầm bút viết lại cuộc đời mình, thế hệ mình, cuộc chiến bất hạnh và cuộc tang thương dâu biển mà cả miền Nam Việt Nam đã trải qua.

Ở đất nước bé nhỏ này và với số người Việt tị nạn khi ấy khoảng 10.000 người, nhưng có một số nhà văn, nhà thơ tiếng tăm: Nguyễn Thị Vinh, Dương Kiền, Hoài Mỹ, Nguyễn Hữu Nhật, Tâm Thanh, Khánh Hà, Cung Vĩnh Viễn, Nguyễn Văn Thà… Bán ngôi nhà cũ của kommune mua giúp lúc ban đầu mới đến, chúng tôi may mắn lời được một khoản tiền đủ để trả hơn một nửa số tiền mua ngôi nhà mới. Ngôi nhà này nằm ở một kommune khác. Khi vừa dọn về nhà mới được hai tuần, tôi nhận được một Ngân Phiếu Trả Tiền (Utbetalingskort) gởi từ Phòng Xã Hội của kommune cũ, cấp cho tôi một số tiền gần bằng 10 tháng lương của tôi lúc ấy. Tôi ngạc nhiên, vì số tiền khá lớn nên nghĩ là có điều gì nhầm lẫn. Cầm tấm Ngân Phiếu Trả Tiền, tôi đến gặp ông Trưởng Phòng Xã Hội. Ông cho biết đó là món tiền mà Sở Tỵ Nạn cấp để lo cho gia đình tôi, nhưng kommune không chi tiêu hết cho chúng tôi, vì con đông nên không đủ phòng ốc và đồ dùng ở ngôi nhà cũ, hơn nữa chúng tôi đã đi làm quá sớm sau khi đến Na-Uy, nên ông quyết định gởi cho chúng tôi để sắm sửa cho ngôi nhà mới. Đã vậy ông còn xin lỗi, vì đã không lo lắng đủ cho chúng tôi trong thời gian mới tới. Tôi bắt tay ông từ giã mà trong lòng cảm thấy ngậm ngùi, khi nghĩ là ở trên quê hương mình bây giờ biết tìm đâu ra những công chức chính quyền thanh liêm và giàu tấm lòng như thế?

(Ngôi nhà mới dưới thung lũng Harabakken-NaUy)

Trong thung lũng nhỏ này chỉ có bốn ngôi nhà. Ngoài gia đình tôi, một gia đình người bản xứ, còn có gia đình người Thụy Điển và một gia đình người Đức. Tất cả những người láng giềng này rất tốt bụng, sau này đều trở thành những người bạn thân thiết của gia đình tôi.

Gần 30 năm làm việc, tôi may mắn được sắp xếp làm ở những chi nhánh rất gần nhà. Được hưởng bậc lương tính theo thâm niên từ khi bắt đầu làm việc tại Việt Nam. Hầu hết những đồng nghiệp người bản xứ đều luôn thân tình, giúp đỡ. Điều làm tôi cảm phục hơn là sự thành thật và tin tưởng lẫn nhau của họ. Công việc mỗi ngày liên quan tới tiền bạc. Có thời gian mấy năm tôi được giao cho trách nhiệm thủ quỹ. Vào những ngày trước Giáng Sinh hay thời điểm trả thuế, số tiền trong tủ sắt lên đến nhiều chục triệu kroner. Mới đầu, tôi rất ngạc nhiên, khi giao một số tiền lớn cho mỗi kasse (quày), mà họ chẳng bao giờ kiểm lại. Có khi, một vài cô cậu sinh viên làm thêm vào các ngày thứ bảy, hay ngày lễ, làm mất đến mấy chục ngàn, họ vẫn không bị la rầy hay đuổi việc. Chúng tôi được học và dặn dò, nếu có cướp (cho dù biết vũ khí là đồ giả), hãy luôn làm theo yêu cầu của kẻ cướp, đừng bao giờ có ý chống lại. Nhưng điều này chưa hề xảy ra. Họ rất quý sinh mạng con người. Không phải như dưới chế độ Cộng Sản trên quê tôi, sính mạng con người chẳng khác gì cỏ rác!

(Giáng sinh trước khi ba cháu lớn đi du học Mỹ)

Trong gần 30 năm làm việc, tôi chưa hề thấy những ông “sếp” nặng lời với bất cứ một nhân viên nào cho dù khi họ làm sai, thất thoát ít nhiều tiền bạc. Chỉ cần viết một đôi dòng giải thích là đủ. Ngược lại, đôi lần, trong các buổi họp, tôi thấy một vài nhân viên lại khiển trách “sếp” chỉ vì một đôi điều không được hài lòng. Phải nói, đây là một quốc gia có tinh thần dân chủ cao độ. Tôi nhớ mãi chuyện vợ chồng ông chủ tịch quốc hội bị nhân viên quan thuế phi trường Oslo chặn lại và buộc nộp tiền phạt khi hai ông bà đi công cán ở nước ngoài về, và bà vợ mang trên tay một chiếc nhẫn hột xoàn quên khai báo. Một bà bộ trưởng quốc phòng, mặc bộ quân phục khi đến thăm binh sĩ Na-Uy đang tham gia chiến trường khói lửa A Phú Hãn, bị nhiều quân nhân phê phán, bảo bà không phải là quân nhân, nên không có quyền mặc quân phục. Bà đã phải lên truyền hình chính thức xin lỗi. Tôi nghĩ chẳng có quốc gia nào dân chủ hơn . Điều này làm tôi rất hãnh diện để được trở thành công dân của đất nước này. Và biết đến khi nào mới có được trên quê tôi?

Sau bậc trung học, bốn đứa con của chúng tôi muốn sang Mỹ du học. Khi được một đại học ở Mỹ chấp nhận, tất cả đều được chính phủ Na-Uy cấp học bổng đủ để trả học phí, tiền bảo hiểm và di chuyển, đến bậc Cao Học.Vợ tôi làm công nhân cho một công ty điện tử. Có lẽ vì nhiều năm chỉ làm một động tác, nên vai cánh tay phải bị đau nhức. Bác sĩ xí nghiệp cho nghỉ một năm có lương để điều trị và sau đó được một hội đồng giám định y khoa quyết định cho nghỉ vĩnh viễn với hưu bệnh. Lại được công ty bảo hiểm của xí nghịệp bồi thường một số tiền sai biệt so với lợi tức hằng tháng trước đó .

(Cháu trưởng nam Phạm Hoàng Minh và cháu gái út Phạm Ngọc Quỳnh sau khi tốt nghiệp Đại học)

Bây giờ, tuổi đã già, nhìn lại quá khứ thăng trầm khốn khó, nhớ lại từng bước chân lưu lạc, lòng tôi bùi ngùi xúc động. Quê hương vẫn còn mịt mờ xa, khốn đốn trong bàn tay cai trị của bọn người CS không còn nhân tính. Mai này, tôi cũng sẽ gởi lại trên quê hương thứ hai này nắm xương tàn, hướng đầu về cố quốc mà tạ tội cùng núi sông tiên tổ.

(Các cháu trai – gái đã trưởng thành và có gia đình riêng)

Những đứa cháu nội, ngoại của chúng tôi sinh ra và lớn lên ở Na-Uy, dù không có một kỷ niệm nhỏ nhoi nào với Việt Nam. nhưng vẫn mãi có những ràng buộc máu thịt, bởi cha ông là người Việt. Dù nói được tiếng Việt, nhưng các cháu không thể thấy gần gũi với quê cha đất tổ. Nhiều lúc tôi thấy chạnh lòng khi nghĩ rồi các thế hệ sau này càng lúc càng xa dần nguồn cội. Nhưng tôi cũng tự an ủi mình, vì các cháu lớn lên, nhận đất nước này là quê hương, sẽ cố gắng chăm chỉ học hành để vừa đóng góp phần trách nhiệm, nghĩa vụ của mình, vừa trả cái ơn cưu mang từ những ngày đầu thời ông bà cha mẹ lưu lạc đến đây. Quan trọng hơn, sẽ học tấm gương những người Do Thái, nối tiếp công việc dang dở của cha ông, góp sức đấu tranh cho no ấm tự do trên quê hương tiên tổ.

(3 cháu nội nhỏ nhất trong ngày Quốc Khánh NaUy 17-5)

Xin cám ơn Na-Uy, đất nước xa xôi, lạnh lẽo, nhưng rất nồng ấm tình người. Nơi in đậm mãi những dấu chân lưu lạc của tôi và cả gia đình. Đã cho chúng tôi, nhất là các con cháu tôi, một tương lai tốt đẹp như hôm nay, mà nếu còn ở lại trong nước sẽ phải khốn cùng dưới chế độ phân biệt đối xử của chinh quyền Cộng Sản. Xin cám ơn Na-Uy, nơi mà tất cả những người Việt tỵ nạn đến đây sung sướng và hãnh diện để được nhận là quê hương thứ hai của mình sau ngày phải đành lòng bỏ nước ra đi.

Một ngày buồn cuối tháng 4, sau đúng 38 năm lưu lạc.

Phạm Tín An Ninh

PHÓNG SỰ UKRAINE

Oanh Vy Lý

PHÓNG SỰ UKRAINE

Tóm tắt: Ở Kharkiv, Vladimir Putin đã “giải phóng” hàng nghìn người khỏi mạng sống và ngôi nhà của họ

Tay Yulia Rebenko đầy máu; và không giống như Lady Macbeth, cô ấy không bị ảo giác. Tốc độ suy nghĩ nhanh nhẹn đã cứu cô sinh viên tâm lý năm nhất này khỏi cái chết: cô chạy từ bếp vào phòng tắm ngay khi nghe thấy những tiếng động lớn đầu tiên.

Vào thời điểm vụ pháo kích tiến đến căn hộ của cô trên phố Shakespeare vào chiều ngày 26 tháng 5, xuyên qua những cây lạc và rơi xuống bên ngoài cửa sổ nhà cô, thì Rebenko vẫn còn cách vụ nổ hai bức tường. Cô vẫn còn sống với những vết cắt nhỏ. Ít nhất chín người khác đã bị đưa vào nhà xác.

Dina Kirsanova, nhân viên bán hàng tại một quầy bán sữa gần ga tàu điện ngầm 23 tháng 8, mục tiêu chính của các cuộc không kích, đã nhìn thấy ít nhất 15 tên lửa trên bầu trời. Cô nói, các lực lượng phòng không đã chặn được hầu hết chúng, ngăn chặn thiệt hại lớn hơn về nhân mạng: “Nó còn hơn cả tàn nhẫn. Không có vị trí quân sự nào ở đây. Chỉ là những con người giản dị, cố gắng tồn tại ”.

Các cuộc tấn công mới đây vào Kharkiv diễn ra như một phần của giai đoạn thứ hai của cuộc chiến. Sau khi rút lui khỏi thủ đô Kyiv và một số thành phố ở phía bắc khác trong tháng 4, Nga tập trung lại các đơn vị quân đã bị thương vong nặng nề và tập trung nỗ lực vào phía đông.

Cuộc giao tranh bùng phát dữ dội nhất đang diễn ra ở tỉnh Luhansk, một phần của khu vực Donbas, nơi Nga đang hy vọng giành quyền kiểm soát Severodonetsk và Lysychansk, những thị trấn cuối cùng có quy mô hợp lý mà Nga vẫn chưa chiếm được ở vùng này và bao vây quân Ukraina.

Nhưng Nga dường như cũng đang bị đẩy lùi xa hơn về phía bắc. Trong một chuyến công du hiếm hoi bên ngoài Kyiv, Tổng thống Volodymyr Zelensky đã đến thăm Kharkiv và quân đội trong khu vực vào ngày 29 tháng 5.

Do đó, thành phố thứ hai của Ukraina, một thành phố đáng tự hào, gan dạ, dành cho tầng lớp lao động, phải đối mặt với một tương lai không chắc chắn nhất. Bởi vì thành phố này chỉ cách Nga 40 km, ít người nghĩ rằng Kharkiv có thể đứng vững trước một cuộc xâm lược.

Trong trường hợp này, xe thiết giáp của Nga đã tiến đến ranh giới thành phố rộng lớn này chỉ trong vòng ba ngày đầu tiên của cuộc chiến. Nhưng sự kết hợp giữa tinh thần chống cự kiên cường và sự miễn cưỡng của Moscow trong việc sử dụng đủ số quân cần thiết để bao vây thành phố này đã khiến Kharkiv bằng cách nào đó vẫn sống sót. Vào giữa tháng 5, Ukraina phản công và chiếm lại một số ngôi làng ở phía bắc và đông bắc Kharkiv.

Nhiều người bắt đầu hy vọng cuộc sống bình thường có thể xảy ra; một số thậm chí đã bắt đầu quay trở về nhà. Thực tế tỏ ra là tệ hơn họ tưởng tượng. Các khu vực phía bắc của thành phố vẫn nằm trong tầm bắn của pháo binh tầm xa của Nga, và cuộc tấn công trên phố Shakespeare đã chứng minh điều đó. Quân Nga cũng đang đào hào, củng cố vị trí của họ và sẽ khiến việc đẩy lùi họ trở lại rất khó khăn.

Thống đốc Oleh Synyehubov cho biết cuộc chiến giành Kharkiv có vẻ như sẽ không kết thúc sớm. “Chúng tôi hiểu rằng chiến tranh không phải là câu chuyện diễn ra trong một tháng và chúng tôi sẽ cần phải sống trong thực tế mới này.” Cuộc sống riêng của thống đốc đã bị hủy bỏ; Synyehubov đã không có văn phòng kể từ khi một tên lửa hành trình của Nga bắn trúng trụ sở của ông vào tháng Ba. Ông gặp phóng viên để trả lời phỏng vấn tại một địa chỉ bí mật, chỉ được liên lạc vào phút cuối.

Synyehubov nói rằng chỉ hơn một nửa trong số 1,5 triệu người của Kharkiv đã rời đi. Tất cả những người ở lại đều dễ bị tổn thương do máy bay phản lực, tên lửa và pháo binh của Nga; họ nên ở nhà trừ khi họ có nhu cầu khẩn cấp phải ra đường. Một số người dường như đang chú ý đến lời khuyên này.

Nhưng những người khác cố chấp phớt lờ nó. The Ditch, một quán bar cocktail cách phố Shakespeare 2km, tiếp tục lên kế hoạch mở cửa trở lại sau ba tháng bất chấp các cuộc tấn công tên lửa mới. Daria Taran, người phục vụ và đồng sở hữu quán này cho biết: “Pháo kích không còn khiến chúng tôi khó chịu nữa. Chúng tôi biết một tên lửa có thể có tên của chúng tôi trên đó. Nhưng đó là số phận.”

Tại khu chợ Barabashova khổng lồ của thành phố, từng là trái tim của thương mại tại Kharkiv, nhưng giờ hầu như chỉ còn là đống đổ nát cháy xém, một vài chủ cửa hàng đã dám mở cửa trở lại. Iryna Petrovna đã bắt đầu bán lại bình chứa và chảo kim loại. Nhưng hàng trong kho của cô là hàng Trung Quốc và với việc các cảng của Ukraina đang bị Nga phong tỏa, cô biết mình khó có thể mua được hàng mới. “Chúng tôi rất sợ hãi, nhưng chúng tôi có thể làm gì khác? Chúng tôi cần phải làm việc”.

Ở cửa hàng bên cạnh, Sergei Ivanov đang tìm kiếm trong một mớ đồ sứ vỡ và mảnh đạn với hy vọng tìm được thứ gì đó để bán. Anh kể là mình đã mua hai container đĩa sứ trị giá cao từ Pháp để bán trong Ngày Phụ nữ 8 tháng 3. “Đó là những đồ xa xỉ. Hãng Luminarc.” Không rõ hai nhà kinh doanh trên có thể tìm thấy khách hàng ở đâu. Những người bán hàng khác ở chợ đang thu dọn đống đổ nát.

Timur, một người đàn ông với đôi mắt xanh thẳm và hơi thở nồng nặc mùi rượu, dẫn chúng tôi đến đống tên lửa Grad của Nga mà anh lấy được từ cuộc tấn công cuối cùng vào ngày 17/5. Người thợ xây cũ này cho biết anh ta được trả 500 hryvnia (17 đô la) một ngày cho việc này. Anh nói, tiền đó không đủ cho việc nuôi hai đứa con, nhưng hiện tại không có nhiều việc ở Kharkiv.

Chợ Barabashova nằm ở một đầu của quận Saltivka rộng lớn — một khu rừng các nhà lắp ghép chắc chắn do Liên Xô xây dựng. Do chúng ở vị trí phía bắc thành phố nên các tòa nhà này đã hứng chịu phần lớn pháo kích của Nga.

Nó từng được gọi là quận Matxcơva, nhưng giống như nhiều tên khác theo chủ đề Nga, đã được đổi tên vào tháng Năm. Ở những khu vực an toàn hơn của thành phố, mọi người đang quay trở lại, nhưng chỉ về rồi lại ra đi.

Cư dân đang quay trở lại để lấy đi bất cứ tài sản nào họ có thể lấy đi trước khi nó trở thành khan hiếm: tranh, ti vi, tủ lạnh, máy điều hòa không khí, phụ kiện nhà vệ sinh. Alla Yaroslavtseva, 57 tuổi, đi ra từ đống đổ nát cháy đen của nhà số 80 phố Natalii Uzvii, nơi bị bắn thủng một phần giữa, cầm trong tay một số ảnh và đồ kỷ niệm.

Yaroslavtseva không nghĩ rằng bà sẽ trở lại đây lần nữa. Bà nói rằng bà đã làm việc cả đời mình để mua đứt căn hộ của mình với hy vọng có thể để lại nó cho các con. “Bây giờ tôi phải bắt đầu lại vì Thế giới Nga chết tiệt đã quyết định đến và giải phóng tôi. Giải phóng khỏi cái gì chứ? Giải phóng tôi khỏi căn hộ của tôi sao?”

Sự tức giận của bà Yaroslavtseva là minh chứng cho sự thay đổi ở một thành phố mà nhiều người Ukraina cho rằng có thiện cảm với nước Nga. Hàng loạt người ở đây đang chuyển từ nói tiếng Nga sang nói tiếng Ukraina, mặc dù rõ ràng điều đó không đến một cách tự nhiên. Bohdan, một tài xế đến từ Saltivka, cho biết: “Tôi muốn con trai mình kinh tởm khi nghe thấy tiếng Nga, nhưng điều này rõ ràng là không thực tế.

Đối với Serhiy Zhadan, một tác giả và nhà thơ nổi tiếng ở đây, người vẫn ở lại mặc dù có khả năng là mục tiêu của các đội tấn công của Nga, các giả định luôn là sai. Bản sắc khu vực mạnh mẽ và sở thích ngôn ngữ có ý nghĩa hơn nhiều so với các bộ phận của họ, ông nói. “Người Nga cũng nghĩ rằng họ sẽ được người dân tặng hoa, và họ cũng không hiểu chúng tôi.” Ông nói rằng khi thành phố Kharkiv nhìn về tương lai của nó, cảm giác đoàn kết trong một bi kịch chung đã mang lại một chút hy vọng. Nhưng với việc pháo kích và chết chóc vẫn là hiện thực trong tương lai gần, người dân địa phương sẽ cần một tư duy “kiểu Israel” để tồn tại.

“Nước Nga sẽ không tự biến mất. Chúng tôi phải làm quen với việc sống chung với một gã hàng xóm điên rồ”.

FB CÙ TUẤN

– dịch từ The Economist.