Ta Cần Nên ”Chết Thử” Một Lần?…

Van Pham

CÙNG NHAU SUY GẪM

Ta Cần Nên ”Chết Thử” Một Lần?…

Chuyện mô tả một người giả vờ chết sau khi uống một ly nước lọc, mà người nhà tưởng ông đã uống thuốc độc để quyên sinh. Ðã hơn nửa thế kỷ qua, tôi không còn nhớ tác giả mô tả nhân vật chính trong vở kịch giả chết như thế nào và có sự phụ giúp của ai không, nhưng trong khi chờ tẩm liệm, ông được nghe và biết con cái, bà con và bạn bè của ông nói về ông và đối xử với ông như thế nào!

Bạn cứ thử tưởng tượng ra khi đã nằm trong quan tài ở nhà quàn rồi, mà bạn có thể nghe những người đến viếng, bề ngoài thắp nén nhang kính cẩn viếng bạn, nhưng sau đó lại đàn đúm chê, khen bạn hết lời, hay đứa con bất hiếu đang toan tính chi ly chia phần phí tổn tang lễ sau này cho anh em ra sao, và lăm le để ý đến cái nhà, cái xe, trương mục trong ngân hàng của bạn và rồi đây sẽ gửi người vợ già của bạn vào nhà dưỡng lão nào?

Giá người ta có thể chết thử một lần rồi sống lại thì sướng biết mấy? Bạn sẽ biết có bao nhiêu trang báo chia buồn, sẽ có bao nhiêu tràng hoa viếng, bao nhiêu người tiễn chân bạn đến mộ phần. Sẽ có bao nhiêu người vui mừng khi nghe tin bạn qua đời, và sẽ có những ai thương yêu thật sự, bàng hoàng, tiếc nuối về sự ra đi của bạn. Thế giới này không còn sự hiện hữu của bạn có thay đổi gì không?

Nhưng người ta chỉ có thể chết một lần, nên mọi điều xẩy ra sau cái chết, vui buồn, xấu tốt, bạn không thể nào biết được, nếu chết là hết. Thôi như thế cũng hay! Nếu biết những gì xẩy ra sau cái chết của bạn, có hai điều xẩy ra, một là bạn muốn chết phứt đi cho xong, hai là lại yêu cuộc sống này hơn. Tôi nghĩ là bạn sẽ chọn điều thứ hai, vì dầu sao cuộc sống này cũng không đến nỗi nào đáng ghét.

– Một văn phòng dịch vụ ở Hán Thành, Nam Hàn có sáng kiến là sẽ tạo cơ hội cho khách hàng qua một lần chết thử, để thấy cảm giác nó ra sao, cũng như quan niệm về sự sống có gì thay đổi, khi bạn, coi như từ cõi chết, sống trở lại, dở nắp hòm ngồi dậy.

Ông Ha Yu-soo, 62 tuổi là một người khách hàng của dịch vụ chết thử. Ông mặc một bộ quốc phục dành cho người chết khi tẩm liệm, nằm thẳng trong quan tài chiếc quan tài chật hẹp, ông không cảm thấy điều gì khác lạ thay đổi, cho đến khi nắp quan tài được đóng lại và nghe tiếng búa gõ trên nắp hòm. Trong bóng tối vây tỏa, lặng câm, ông cảm thấy sợ hãi vô cùng, tưởng như mình đã chết thật. Những giây phút trong bóng tối dày đặc đó, những ý nghĩ chết chóc ập đến, và bao nhiêu ý nghĩ hiện lên trong đầu óc ông. Nhưng may, ông đã trấn an mình: “Ðây chỉ là một sự chết giả mà thôi!” Lạy trời, đẹp đẽ biết bao khi ta vẫn còn sống! Từ “phút chết” trong bóng tối bước ra ngoài ánh sáng của sự sống, trong tâm hồn ông đã có một sự thay đổi lớn.

Ban tổ chức khóa học chết thử, cho biết, kinh nghiệm về cảm giác sắp chết sẽ mang lại ý nghĩa về sự sống cho tất cả mọi người, bất kể họ già hay trẻ, thuộc tầng lớp nào trong xã hội.

Sau khi chết thử, những người này cảm thấy sự sống đáng quý hơn, những người chung quanh mình đáng yêu hơn, tha thứ mọi lỗi lầm của kẻ khác. Ðiều này cũng như sau khi thoát chết trong một tai nạn thảm khốc nào đó, con người trở nên hiền lương, bỏ mọi sự tham lam, cố chấp hẹp hòi, và mở rộng tấm lòng hơn đối với tha nhân.

Nhiều người đã thay đổi sau khi họ thoát chết từ vụ tháp đôi ở New York hay từ vụ Tsunami mới đây của nước Nhật. Chúng ta sẽ ôm hôn mọi người, xem cái tôi từ nay là hạt cát, chúng ta sẽ không còn kẻ thù, không còn ai để ghét bỏ. Ngoài đường phố sáng nay sao thấy ai mặt mày cũng trung hậu, dễ thương, chúng ta muốn chào hỏi với cả thiên hạ, bắt tay mọi người và la lớn ở góc phố như một thằng điên: “Tôi vẫn còn sống! Tôi yêu thương hết thảy mọi người!”

Khi nằm trong quan tài “chết thử” có thể người ta sẽ nghĩ đến những việc lâu nay chưa làm, những món tiền chưa tiêu hết, những điều chưa nói với ai đó. Trước khi chết, bạn sẽ viết thư cho ai, để lại chúc thư như thế nào, nói những lời trăn trối ra sao? Một người trước khi chết thử đã viết cho con: “Ngay cả khi cha không còn trên cõi đời này, mong các con hãy hòa thuận và đối xử với nhau tử tế hơn!” Một bệnh nhân ung thư đang ở vào thời kỳ cuối cùng, cho biết, việc trải nghiệm cái chết thử làm bà cảm thấy thương yêu hơn đối với những người xung quanh. Bà hứa “sẽ từ bỏ thói tham lam, ích kỷ với chồng và yêu con cái nhiều hơn”.

Ðó chỉ mới là chuyện “chết thử!”. Còn như, bằng cách nào đó bạn biết rằng chỉ còn 24 giờ đồng hồ nữa thôi, bạn sẽ thở hơi thở cuối cùng, giã từ cuộc đời đẹp đẽ này, thì bạn sẽ làm gì, suy nghĩ ra sao, đối xử với mọi người như thế nào? Trong trương mục ngân hàng, bạn có nửa triệu đồng chưa tiêu hết, bạn sẽ phân bố như thế nào, cho ai? Bạn chưa kịp nói với ai một lời xin lỗi, chưa kịp nói với ai một lời yêu thương. Trong sự hối hả của chút thời gian còn lại, bạn hối tiếc những gì, ân hận điều chi? Có những người trong gian trá, lừa lọc kiếm đồng tiền bất chính, để trở nên giàu có, có những kẻ đạp lên đầu người khác để tìm chỗ tiến thân cho mình, tiền của, danh vọng nào có thể mang theo?

Không, cũng như những người chết khác, bạn sẽ ra đi tay không? Chỉ còn 24 tiếng đồng hồ ngắn ngủi nữa thôi, dù có vội vàng, chúng ta cũng không làm kịp những điều chưa làm, sửa đổi kịp những điều lầm lỗi. Ðó là trường hợp chỉ một mình bạn ra đi. Những nhà tiên tri trên thế giới này loan báo về một ngày tận thế, dù đã sai nhiều lần và nói đi nói lại nhiều lần, đến nỗi những lời tiên tri đã trở thành một trò bịp nhảm nhí, nhưng phần tôi, tôi vẫn tin sẽ có ngày như thế.

Chúng ta đã thấy cảnh tượng bình địa ở Hiroshima và Nagasaki vào tháng 8-1945, khi hai quả bom nguyên tử rơi xuống đã giết khoảng 210, 000 người. Trận sóng thần tồi tệ nhất trong lịch sử được ghi nhận là tại Ấn Ðộ Ðương vào năm 2004 đã gây cảnh hoang tàn và giết chết 230,000 người ở 11 quốc gia. Tsunami ở Nhật năm 2011 làm thiệt mạng hơn 20,000 người và những quang cảnh chúng ta thấy ở miền Bắc nước Nhật không khác gì một bãi rác khổng lồ. Ðó chính là hình ảnh cho ta thấy trước những gì sẻ xẩy ra trong ngày tận thế.

Ðến một ngày nào đó quả đất này sẽ nổ tung hay tất cả các băng sơn ở Bắc Băng Dương sẽ tan rã, nhận chìm địa cầu này dưới hai mươi thước nước. Sẽ không còn một sinh vật nào trên trái đất này nữa! Nếu có một ngày như thế sẽ đến ngay ngày mai đây thôi, liệu chúng ta có sống được một ngày tốt hơn, ngay thẳng hơn, tử tế với đồng loại của chúng ta hay không? Không cần phải chết thử, mỗi người chúng ta đều phải đến một ngày chết thật!

Sáng sớm vào hộp thư nhận được một lá thư chứa câu truyện trên đây…chợt nhận ra bấy lâu mình sống quá cố chấp…luôn giữ lại những đối xử tệ của tha nhân đối với mình mà không bao giờ muốn “buông” dù chẳng biết để làm gì….đúng thật là niết bàn hay địa ngục cũng do chính mỗi người cảm vời ra rồi tự đày ải mình ngay khi còn sống….Biết thế nhưng sự tổn thương và vết thương vẫn còn đó và không lành lặn đôi khi làm mình yếu đuối…

– Bây giờ giả thử chỉ còn một ngày để sống….tôi muốn nói với mọi người tôi đã từng yêu thương, đã từng bạn bè rồi sau đó không là bạn bè nữa….rằng tôi yêu những cái tốt đẹp từng có và tôi sẽ quên hết những gì còn lại….Tôi luôn cầu mong hạnh phúc đến với mọi người trong cuộc sống vốn vô cùng mong manh ngắn ngủi này, hãy tận hưởng tận hiến khi xây dựng nó…cuộc sống của các bạn ấy mà….

– Hãy cứ là loài người không hiểu được ý nghĩa thật sự ngôn ngữ của loài chim…chỉ thấy mỗi giọng chim hót lên đều là những nốt nhạc, những bản nhạc yêu đời từ bình minh đến đêm tối…

NGỌN SÓNG MÙ

Biển ngàn năm sóng vỗ

Nước tìm về đại dương

Rồi quên mình, tha phương

Sóng vô thường, lãng đãng.

Đời rêu phong năm tháng

Mưa, nắng phủ quanh hồn

Sóng chưa lúc mỏi, chồn..

Trên lối về tay trắng.

Phút đi hoang dừng lặng

Ngắm biển chiều phôi pha,

Thấy dã tràng nho nhỏ

Chết khô vì.. thiết tha…

Mượn thân từ cát bụi

Xây mộng đời thiên thu.

Sóng tan thành giọt lệ

Bên cõi bờ thực, hư.

Chiều lao xao sóng vỗ

Hoát nhiên nghe sóng cười

Tử sinh loang từ độ

Với vọng tình rong chơi!

Như Nhiên – TT Tuệ

Sưu Tầm

***

Nếu Chỉ Còn Một Ngày Để Sống | Giang Hồng Ngọc

https://www.youtube.com/watch?v=wjoYaO4niDs

Hình sự hóa và tranh cãi về “ngu như bò”: Nỗi buồn quy chuẩn tư pháp Việt Nam

 Hình sự hóa và tranh cãi về “ngu như bò”: Nỗi buồn quy chuẩn tư pháp Việt Nam

Luat khoa

Không phân biệt được hành vi biểu đạt và hành vi ngôn luận là nỗi xấu hổ của nền tư pháp.

On  21/07/2022

By  VÕ VĂN QUẢN

Minh họa: Luật Khoa.

Phiên tòa xét xử vụ án Tịnh thất Bồng Lai đang thu hút nhiều sự quan tâm, và một trong các từ khóa ngốn nhiều phím gõ nhất của dư luận những ngày qua là ba chữ “ngu như bò”.

Việc các luật sư của bị cáo, bị hại lẫn kiểm sát viên tranh cãi với nhau liệu câu chửi thông dụng “ngu như bò”có phải là hành vi “lợi dụng các quyền tự do ngôn luận”, từ đó xâm phạm “quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”, thật sự khiến những nhà nghiên cứu pháp luật hình sự nói chung và pháp luật so sánh nói riêng bất ngờ. Sau bất ngờ là nỗi xấu hổ, nhất là đặt trong bối cảnh Bộ luật Hình sự Việt Nam đã được ban hành nhiều thập niên qua.

Những cuộc tranh luận trong vụ án của Tịnh thất Bồng Lai ngớ ngẩn đến ngẩn ngơ. Chúng bàn về những nội dung như “ngu như bò” có được tính là một sự xúc phạm trong pháp luật hay không; rồi một vị luật sư phản biện theo kiểu bây giờ tôi nói Chúa “ngu như bò” thì có xúc phạm hay không.

Những kiểu tranh luận đó cho thấy một khoảng trống kinh hoàng trong tư duy triết học pháp luật Việt Nam.

Hệ thống tư pháp Việt Nam, đến thế kỷ 21, vẫn từ chối xây dựng các quy chuẩn rõ ràng và hợp lý để phân biệt giữa những câu chửi bới, xúc phạm đời thường với những biểu đạt nguy hiểm, có khả năng gây hại thật sự cho quyền và lợi ích của công dân.

Cho đến nay, dường như các nhà lập pháp Việt Nam, các cơ quan tư pháp Việt Nam, và hệ quả phụ là một phần giới luật sư trong nước vẫn không thể nào phân biệt được sự khác biệt giữa “hành vi biểu đạt” (expressive act) và “hành vi ngôn luận” (speech act).

Chửi bới, xúc phạm với tư cách là một hành vi biểu đạt không có tác dụng đưa ra thông tin, làm sai lệch thông tin, từ đó cũng không tạo ra những hệ quả mà một hệ thống pháp luật cần bảo vệ người dân tránh khỏi.

Những câu chửi như “địt mẹ mày”, “thằng ngu”, “đồ đầu đất”, hay trong trường hợp này là “ngu như bò”, đều là những hành vi biểu đạt không đưa rất kỳ cáo buộc trọn vẹn nào về nhân phẩm, sự thật liên quan đến một cá nhân hay tổ chức.

Vì vậy, nó không thể được xem là một hành vi ngôn luận, hay “hành vi giao tiếp” (communicative act) – những thứ là đối tượng điều chỉnh của pháp luật liên quan đến ngôn luận.

Nói theo ngôn ngữ của triết gia Joel Feinberg trong quyển “Offence to Others”, [1] những lời chửi nói trên (như “you are a son of a bitch” trong ví dụ ông đưa ra) chỉ là một tập hợp ngôn ngữ thể hiện sự tức giận và miệt thị tức thời dành cho một cá nhân, tổ chức.

Chúng không thể truyền tải bất kỳ thông điệp nào hoàn chỉnh, và vì vậy không thể gây hại cho quyền – lợi ích được pháp luật bảo vệ. Ông gọi chúng là “chửi bới thuần túy” (pure insults).

Tại Việt Nam, “ngu như bò” là kiểu miệt thị thuần túy, bình dân và phổ quát.

Ba mẹ chửi con cái. Thầy cô chửi học trò. Học trò chửi nhau. Người va chạm giao thông cự cãi. Đồng nghiệp trong công ty tranh chấp. Cùng vô số trường hợp khác.

Khẳng định những lời chửi bới thuần túy này có bất kỳ giá trị nào để được xem là một yếu tố cấu thành cho một tội danh của hệ thống pháp luật hình sự quốc gia là điều xấu hổ nhất về tư duy pháp lý mà tôi từng nghe.

***

Các tác giả Luật Khoa đã nhắc đi nhắc lại chủ đề này nhiều năm qua, từ các loạt bài nhiều kỳ cho đến những bài độc lập. [2] [3]

Những bài viết trên đã cố gắng giới thiệu, phân biệt và hệ thống hóa các khái niệm cơ bản trong pháp luật thế giới về ngôn luận như chửi thề, nói tục, xúc phạm, phỉ báng, bôi nhọ, phát ngôn thù hận, hay kích động lật đổ chính quyền. Tuy nhiên, những nỗ lực này chưa mang lại bao nhiêu tác dụng.

Sự mập mờ và thiếu quy chuẩn trong những quy định hình sự liên quan đến vấn đề ngôn luận tại Việt Nam, như rất nhiều nhà quan sát đã chỉ ra, quá có lợi cho các cơ quan thực thi pháp luật tại đây.

Và khi mà một xã hội còn bị ngăn cản, không thể đưa ra những giải pháp và quy chuẩn tư pháp nền tảng cho những vấn đề đơn giản như vậy, rất khó để chúng ta tạo ra những bước tiến căn bản nào về tư duy pháp lý, triết học pháp lý dân tộc và các kỹ thuật tư pháp khác.

Cụ Lê Tùng Vân với những câu nói ấn tượng tại phiên tòa

Le Van Quy

Cụ Lê Tùng Vân với những câu nói ấn tượng tại phiên tòa và sau phiên tòa.

(Các luật sư bảo vệ Thiền Am ghi chép)

– “Tôi không đăng ký gia nhập Giáo hội Phật giáo Việt Nam vì tôi nhận thấy GHPGVN không xứng đáng!”

– “Tôi có mặc áo vàng cũng là bình thường, phẩm hạnh của tôi xứng đáng mặc những chiếc áo hơn thế nữa…!”

– “Tôi già, không ra khỏi nhà, suốt ngày nằm võng, kể cả lúc khách tới thăm, tôi không biết bấm điện thoại, không biết sử dụng mạng xã hội, chỉ lo dạy bảo đệ tử cùng tu tập, không có xâm phạm lợi ích của Nhà nước hay tổ chức, cá nhân nào…”

– “Nói tôi chủ mưu là sai không phải 100% mà sai 1.000%, không ai nghe tôi một ông già trên 90 tuổi, già khú đế, khi nhớ, khi quên…”.

– “Tôi không mạo nhận mình là đức Phật, không mạo danh đức Phật, không phỉ báng đạo Phật. Nói tôi xuyên tạc giáo lý nhà Phật là nói sai, nói bậy. Mọi người Việt Nam đều có quyền xây dựng đức tin, chọn tôn giáo cho mình…”

– “Tôi không xúc phạm Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Long An, cũng không xúc phạm Công an huyện Đức Hòa, ngược lại tôi và một số người ở Thiền Am là nạn nhân bị làm nhục và bị vu khống trong thời gian dài, rất thậm tệ. Ai tố cáo tôi xúc phạm họ, thì cần có mặt tại tòa án, đứng lên đối chất, nói rõ, đừng lừa dối tòa án!”

– “Những ai là giám định viên tư pháp đưa ra kết luận giám định nội dung các video clip mà đệ tử của tôi quay cảnh sinh hoạt trong nhà hay các cảnh dàn dựng làm phim hài, phục vụ thiếu nhi…, cho là vi phạm pháp luật, quả thật họ là những người bất xứng vì kiến văn quá nông cạn và ác tâm, hại người…”

– “Ngày xưa dân gian có câu “Bộ Binh, Bộ Hộ, Bộ Hình, cả 3 Bộ đồng tình…”, nay tôi và các đệ tử của tôi bị tới 5 “bộ” ở tỉnh Long An cùng đồng tình truy bức chúng tôi.”

* xúc phạm bằng lời nói mà phạt 5 năm 6 tháng tù thì có vô lý quá không! Xử gì kỳ vậy?

Tình yêu của họ thật đẹp

Cô y tá Oksana Balandina 23 tuổi, mẹ đơn thân của Diana (5 tuổi) và Illia (7 tuổi), bị mất cả hai chân và 4 ngón tay trên bàn tay trái trong một cuộc pháo kích của Nga vào Lysychansk. Kể từ đó, cô đã sống trong tuyệt vọng tột độ, cô nói rằng cô chỉ muốn chết.

Để động viên và củng cố lòng tin vào tình yêu đôi lứa, chồng sắp cưới của cô, Viktor, một thợ mộc, quyết định làm đám cưới với cô ngay khi cô còn đang trên giường bịnh.

Tình yêu của họ thật đẹp.

Việt Nam: Hàng loạt báo lớn tường thuật, rồi gỡ bỏ tin ông Tô Văn Lai, người sáng lập trung tâm Thúy Nga, qua đời (BBC)

BBC News Tiếng Việt 

Tin tức về sự ra đi ngày 19/7 của ông Tô Văn Lai, người sáng lập Trung tâm Thúy Nga nổi tiếng với chương trình ca nhạc Paris By Night, đã bị gỡ bỏ khỏi các trang Thanh Niên, Pháp Luật, Dân Trí, Tiền Phong… ngay trong ngày đăng 20/7.

Từ Sài Gòn, nhà văn Nguyễn Viện cho rằng một nguyên nhân có thể các bài viết về ông Tô Văn Lai bị gỡ hàng loạt là do ông Tô Văn Lai là một nhân vật “có ảnh hưởng nhưng ngoài luồng”.

“Khi báo chí đưa tin về sự qua đời của ông Tô Văn Lai không khác gì là tuyên dương một người không nằm trong hệ thống nhà nước”, nhà văn Nguyễn Viện nói.

Trong khi đó, trao đổi với BBC News Tiếng Việt sáng 21/7, nhạc sĩ Tuấn Khanh, một công dân ở Việt Nam, cho rằng đây là “ý kiến của một cá nhân mà đủ sức tác động tới toàn bộ một hệ thống”.

Theo nhạc sĩ, trên đà dần dần cởi mở của Việt Nam đối với cộng đồng người Việt ở hải ngoại, gần đây đã có nhiều văn nghệ sĩ hải ngoại, tuy từng bị Đảng Cộng sản xem là ‘chống Cộng’, cũng đã được báo đài đưa tin và giới thiệu.

“Về tin tức ông Tô Văn Lai qua đời, tôi nghĩ rằng có một người nào đó muốn giới thiệu sự thông minh của mình, mang tính là “tôi là người phát hiện được điều này”, chứ không phải là xu hướng chung của nhà nước Việt Nam trong công cuộc cố gắng hòa hợp – hòa giải với cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Tôi nghĩ đây là quyết định của một cá nhân nhưng gây ảnh hưởng đến bộ mặt toàn bộ nhà nước Việt Nam”, nhạc sĩ Tuấn Khanh nhận định.

Các bạn đọc lại bài viết tại đây: https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-62248101 

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Dép Râu

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Dép Râu

Ảnh của tuongnangtien

tuongnangtien

Thỉnh thoảng, tôi vẫn nghe rằng: “Giầy dép cũng đều có số, nói chi đến con người.”

Quả là có thế!

Chả thế mà tiếng Việt không thiếu những hạn từ liên quan đến vận mạng, định mệnh, số kiếp, số mạng, số phận, vận số, mệnh số, phần số: số xui, số hên, số đen, số đỏ, số mạt, số nghèo, số giầu, số làm quan, số làm đĩ, số ăn mày, số xa nhà, số đi tu, số ở tù …

Tuy thế, loại dép râu (hay còn gọi là dép lốp, dép cao su, dép Bình Trị Thiên) thì chả có số má gì ráo trọi. Mẫu mã cũng không luôn. Đôi nào ngó cũng vậy. Cứ nhắm vừa chân ai là người đó xỏ đại vô – one size fit all – già trẻ, lớn bé, gái trai đều giống như nhau.

Thô kệch, trần trụi vậy thôi nhưng đôi dép lốp đã từng được thi hào Tố Hữu cho “lên tầu vũ trụ” và có tên trong Wikipedia, phiên bản tiếng Anh: 

“The Ho Chi Minh sandals (Vietnamese dép lốp ‘tire sandal’) are a form of sandal made from discarded tires. Along with the khăn rằn scarf, they were a distinctive clothing of Viet Cong soldiers. These shoes were often called ‘Ho Chi Minh sandals’ or ‘Ho Chis” by Americans.”

Vỏn vẹn có đôi ba câu ngắn ngủi (chỉ gồm 48 từ) như vậy thì e chưa đủ liều lượng để ba hoa thiên tướng nên Wikipedia – phiên bản nội hóa – tự động chêm vào vài ba đề mục nữa (Đôi Dép – Dép Lốp – Đôi Dép Bác Hồ) tổng cộng là ba ngàn bốn trăm từ, với không ít hình ảnh, và toàn là những lời có cánh:

  • Đôi dép ấy rất đỗi bình dị, mộc mạc đơn sơ, nhưng thật nhiều ý nghĩa như chính cuộc đời Bác kính yêu. Bởi đôi dép cao su đã gắn liền với cuộc đời hoạt động cách mạng vì dân, vì nước của Bác. Ngày nay, đôi dép ấy đã trở thành kỉ vật thiêng liêng và vô giá của dân tộc ta.
  • Đôi dép này được xem như là một trong những biểu tượng về “cuộc đời cách mạng” của Hồ Chí Minh, được đề cập trong nhiều bài báo cũng như một số bài hát, bài thơ.

Tự điển bách khoa toàn thư của người ta mà Ban Tuyên Giáo vẫn thản nhiên nhẩy xổ vào thêm thắt/thêu dệt trắng trợn tới cỡ đó thì thiệt là quá đáng, và quá quắt! PTT Vũ Đức Đam, Chủ Tịch Hội Đồng Chỉ Đạo Biên Soạn Bách Khoa Toàn Thư Việt Nam, đã từng tuyên bố (không ngượng miệng) rằng:

“Bộ Bách khoa toàn thư phải là tri thức cơ bản về Việt Nam đặc biệt là tri thức ứng dụng cho đất nước, phải đúng theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.”

Tạm thời, khi chưa có bộ sách này thì cứ nhào nặn Wikikipedia tiếng Anh thành ra tiếng Việt (luôn) cho nó khoẻ. Mẹ nó, sợ gì ?

Tuy không có gì đáng sợ nhưng cũng chả có hiệu quả chi. Bên cạnh những lời lẽ thương râu nhớ dép hết sức thiết tha của đám văn nghệ sỹ cung đình (Hà Nội) vẫn có những câu thơ truyền miệng, phổ biến trong văn hóa dân gian: Đôi dép râu dẫm nát đời son trẻ/ Nón tai bèo che khuất nẻo tương lai.

Nghe vậy tưởng đã quá tệ nhưng blogger Trương Nhân Tuấn còn diễn giải sự việc một cách tệ hại hơn vậy nữa: “Nón cối hay nón tai bèo, cùng đôi dép râu, đã ‘viết nên trang sử’, trên lý thuyết là đưa cả nước lên ‘xã hội chủ nghĩa’. Mà thực tế là đưa tất cả ‘xuống hàng chó ngựa’, như hai câu ‘thơ’ thời thế : ‘Đôi dép râu dẫm nát đời son trẻ, Chiếc nón tai bèo phủ kín nẻo tương lai.”  

Thế mới biết dép râu tuy không có số má chi nhưng kẻ xỏ chân thì đều có cả. Tuy tuyệt đại đa số đều “xuống hàng chó ngựa” nhưng lại có kẻ được cơ hội xưng vương, và xưng tụng như thần:

“Vào năm 1970, một năm sau ngày Bác đi xa, nhà thơ Nam Yên đã viết một bài thơ lời lẽ dung dị nhưng rất mực thắm thiết, gợi lên cảm xúc thương mến Bác vô bờ. Bài thơ được nhạc sĩ Vân An phổ nhạc: Dép Bác, đôi dép cao su/ Bác đi từ ở chiến khu Bác về/ Phố phường trận địa/ Nhà máy đồng quê/ Đều in dấu dép Bác về, Bác ơi…

Bác Hồ là biểu trưng của tất cả những gì dung dị, mang một bản sắc dân tộc Việt Nam nhuần nhị, sâu xa nhất. Ngay cả quần áo, đồ dùng tiện nghi của Bác cũng đơn sơ, mộc mạc trong đó đôi dép của Bác trở thành một hình tượng thân quen, thắm thiết đối với chúng ta…” (Trung  Đức. “Đôi Dép Bác Hồ Đôi Dép Cao Su.” Việt Nam Mới).

Nào có riêng gì “với chúng ta!” Người nước ngoài cũng thế, cũng mê mẩn chết bỏ:

“Chuyện là, khi Bác tiếp các quan chức cấp cao trong Chính phủ Ấn Độ, họ đều chú ý nhìn vào đôi dép dưới chân Người, họ luôn liếc nhìn với vẻ lạ lùng và rất đỗi trân trọng. Báo chí nước ngoài khi đó thì nói về đôi dép cao su của Bác như một chuyện lạ, một huyền thoại về một con người tuyệt vời của thế kỷ lúc bấy giờ. 

Người dân Ấn Độ đã tỏ rõ lòng ngưỡng mộ đến lạ kỳ về đôi dép cao su. Khi Bác tới thăm một ngôi đền lớn và cổ kính của Ấn Độ, lúc Bác bước vào trong đền, để lại đôi dép bên ngoài thì bất ngờ có hàng trăm phóng viên báo chí, nhiếp ảnh, quay phim ập đến vây kín đôi dép cao su của Bác. Họ như phục sẵn từ rất lâu rồi, một số phóng viên còn cúi xuống dùng tay sờ, nắn đôi dép tỏ vẻ lạ lùng và trịnh trọng.” (Huyền Chi. “Huyền Thoại Hồ Chí Minh Trong Trái Tim Các Nhà Báo Quốc Tế.” Công An Nhân Dân).

Sự “ngưỡng mộ” mà bạn bè quốc tế đã dành cho đôi dép của Bác – thực ra – chả là cái đinh gì, nếu so với lòng sùng kính của người dân bản địa (nơi vùng xa, vùng sâu, vùng căn cứ cách mạng) ở Việt Nam:

 “Không dối lòng đâu, mỗi lần đi ‘dép Bác Hồ’ là thấy bụng không nghĩ điều trái, chân không đi hai đường. Chẳng riêng mình, cả làng này ai cũng vậy. Chiến tranh khỏi nói, hòa bình rồi có biết bao chuyện khó… Bông Rẫy hồi chiến tranh chỉ có 50 hộ, bây giờ đã lớn lên gần 120 hộ mà không còn ai đói, chỉ còn 10 hộ nghèo. Ai cũng có xe máy, hơn một nửa đã làm được nhà xây.

 Không ai nghe lời kẻ xấu vượt biên trái phép… Không nhờ phép lạ ‘dép Bác Hồ’ sao được thế? Có ‘dép Bác Hồ’ là thắng tất! Đinh Ngút cất lên một tràng cười sảng khoái. Ông nâng niu đôi dép mòn vẹt trên tay nói tiếp:

– Bông Rẫy bây giờ hãy còn gần hai chục người giữ được ‘dép Bác Hồ’ năm sáu chín như mình. Năm ngoái huyện đội vào xin mấy đôi, nói để làm bảo tàng, dân làng mới cho…” (Lê Quang Hồi. “Làng Bông Rẫy Mang Dép Bác Hồ.” Quân đội Nhân dân).

Trời ơi! Tưởng gì? Chớ dép lốp thì cần chi phải đi xin để bỏ vô viện bảo tàng. Thiếu mẹ gì đây nè, theo như những bản tin nhan nhản hàng ngày qua báo chí:

Cuộc chiến đã chấm dứt gần nửa thế kỷ, xương cốt của đám con bỏ xác dọc Đường Trường Sơn đã trở thành mùn đất (các bà mẹ tìm con nay cũng đều đã khuất) nhưng những chiếc dép cao su thì hẳn vẫn còn nguyên, và còn nhiều lắm:

  • Nhà văn Xuân Vũ: “ Để vun bồi ‘uy tín’ (hão) cho một người hoặc một vài người trên dãy Trường Sơn này, núi rừng đã phải nhận hàng vạn bộ xương khô, hằng vạn nấm mồ, không có nấm, không có bia.”  
  • S. Nguyễn Văn Lục: “Người ta phỏng đoán có khoảng 300.000 vừa là TNXP, vừa là cán binh bộ đội đã đào ngũ hay mất tích hoặc chấm dứt đời sống. Bệnh tật như kiết lỵ, sốt rét đã nhanh chóng hoàn tất cuộc đời của họ mà có thể chưa một ngày lâm trận.”
  • Nhà báo Rajiv Chandrasekaran cũng ghi nhận con số tương tự: “Chừng 300 ngàn người lính miền Bắc chết trong chiến tranh mà di hài của họ vẫn chưa tìm được – và chắc sẽ không bao giờ tìm ra cả. About 300,000 North Vietnamese soldiers killed in the war whose remains have not yet been located – and likely never will be. (“Vietnamese Families Seek Their MIAs.” Washington Post 3 April 2000: A01).

Nhà đương cuộc Hà Nội chỉ muốn mọi người biết đến và tôn thờ một đôi dép râu duy nhất của Hồ Chí Minh thôi nhưng dân Việt sẽ không bao giờ quên số phận thảm thương của hằng triệu sinh linh (chả may) buộc phải xỏ chân vào cái thứ dép oan nghiệt này.

Tưởng Năng Tiến

“Giai Cấp Mới” Tại Việt Nam – Trần Trung Đạo

“Giai Cấp Mới” Tại Việt Nam – Trần Trung Đạo

Bà Nguyễn Thị Phương Thảo, nữ tỉ phú đô la đầu tiền của Việt Nam

Milovan Djilas là nhà nghiên cứu lý thuyết CS và từng là ủy viên Bộ Chính Trị đảng CS Nam Tư, Phó Chủ Tịch Nhà Nước CS Nam Tư, Chủ Tịch Quốc Hội CS Nam Tư. Sau khi phản tỉnh ông viết trong tác phẩm Giai Cấp Mới: Một Phân Tích Về Hệ Thống Cộng Sản xuất bản năm 1957 như sau:

“Trong một thời gian dài, đảng CS cố tình che giấu bảnchất của mình. Quá trình hình thành của giai cấp mới không chỉ được che đậy bằng những thuật ngữ xã hội chủ nghĩa mà quan trọng hơn bằng hình thức sở hữu mới, sở hữu tập thể. …Bản chất giai cấp của hình thức sở hữu này được che đậy bằng bình phong quyền lợi của toàn dân tộc.“ (Theo Tủ sách Talawas, Phạm MinhNgọc dịch theo bản tiếng Nga, 2005)

Cũng trong tác phẩm Giai Cấp Mới, Milovan Djilas viết: “Năm 1936, nhân dịp công bố Hiến pháp mới, Stalin tuyên bố rằng ở Liên Xô đã không còn giai cấp bóc lột,nhưng trên thực tế người ta không chỉ thực hiện xong quá trình thủ tiêu các nhàtư sản và các giai cấp khác của chế độ cũ mà còn thiết lập một giai cấp hoàn toàn mới, chưa từng có trong lịch sử.”

Nhưng câu này của Milovan Djilas mới làchí lý: “Các lãnh đạo Cộng sản xử lý tài sản quốc gia như của riêng họ,nhưng đồng thời họ cũng lãng phí nó như thể nó là của người khác.” (Theo quote.org)

Thời gian dài trôi qua từ khi tác phẩmra đời nhưng bản chất của chế độ CS tại năm nước CS còn lại, trong đó có Việt Nam, vẫn đúng như Milovan Djilas nhận xét.

Chiến tranh Việt Nam chấm dứt gần nửa thế kỷ nhưng sự tiêu pha và lãng phí của giai cấp thống trị đã làm cho Việt Nam, một đất nước nhiều tiềm năng, thành là một nước nghèo so với tiêu chuẩn phát triển chung của thế giới. Trong suốt 47năm qua, các thế hệ Việt Nam đã đổ mồ hôi, nước mắt và cả máu để nuôi dưỡng giai cấp thống trị hoàn toàn không làm một việc gì hữu ích cho xã hội ngoài hút máu dân tộc Việt.

Như nhiều người biết hôm nay, dưới chế độ CS, khái niệm “nhân dân làm chủ” chỉ là một chiếc bình phong để giai cấp của những kẽ thống trị, có toàn quyền xử dụng tài sản của đất nước như của chính mình, cũng như có toàn quyền lãng phí tài sản đất nước như không phải của mình.

Những nhận định của Milovan Djilas có thể áp dụng vào hai trường hợp mới vừa xảy ra, Nguyễn Thị Phương Thảo tặng 155 triệu bảng Anh và Tô Lâm ăn bò bít-tết ở nhà hàng của đầu bếp Thổ Nhĩ KỳNusret Gökçe.

Như các báo loan tin, bà Nguyễn ThịPhương Thảo, tỉ phú Việt Nam đồng ý tặng 155 triệu bảng Anh cho Linacre College, một trường nhỏ thuộc hệ thống Đại Học Oxford. Theo thông báo của trường, với số tiền lớn được tặng, ngôi trường đang mang tên học giả nổi tiếngThomas Linacre có thể sớm đổi thành Thao College. Một số học giả Anh như giáo sư Đại Học Oxford Marie Kawthar Daouda phê bình ý định đổi tên trường từ Linacre sang Thao với lý do Thomas Linacre là học giả nổi tiếng trong thời đại ông và không nên thay chỉ vì một thương gia cho nhiều tiền.

Việc tặng tiền cho một đại học là một nghĩa cử quen thuộc của những người giàu tại Mỹ, Anh cũng như các nước Tây Phương. Các tỉ phú Mỹ thường tặng tiền chođại học, nhất là những trường mà họ xuất thân. Năm 2018, Michael Bloomberg tặng1.8 tỉ dollar cho đại học Johns Hopkins tại Maryland.

Điểm khác nhau chính là các tỉ phú Anh, Mỹ sinh ra và làm giàu trên một đất nước vốn đã giàu hàng đầu thế giới trong mọi lãnh vực, nhất là giáo dục. Theo The Center for World University Rankingstrong số 20 trường đại học tốt nhất thế giới có 17 trường là Mỹ, 2 là Anh và 1 là Nhật. Dò mỏi mắt xuống hạng 1.000 trường đại học được tổ chức này quan sát cũng không có một trường đại học Việt Nam nào.

Theo cách lý giải và hành xử của một người bình thường nếu bạn có lòng vị tha để tặng thì bạn nên tặng cho những nơi thiếu thốn nhất, cho những người cần nhất. Giá trị và tác dụng của món quà nhờ đó sẽ cao hơn và ý nghĩa hơn là tặng cho những nơi đang đầy đủ.

Mấy hôm nay, một làn sóng bất mãn, phê bình, mỉa mai, châm biếm bà Thảo đã “làm chuyện ngược đời”, “gánh củi về rừng”,“mua danh” v.v… Những người phê bình còn đưa ra những hình ảnh đau lòng của các em học sinh phải đu dây qua sông, bơi qua những khe nước chảy xiết, lội qua những con suối đầy đá nhọn để đến trường như một cách nhắc nhở cho bà Thảo thấy sự khác nhau giữa thực tế bi thảm của đất nước đã sinh ra bà và nền giáo dục hiện đại của Anh.

Họ cho rằng lẽ ra bà Thảo nên dùng số tiền đó để xây những chiếc cầu, lẽ ra bà Thảo nên dùng số tiền đó để dựng trường học, lẽ ra bà Thảo nên dùng số tiền đó để cấp học bổng cho sinh viên học sinh nghèo và nhiều “lẽ ra” khác.

Những người phê bình bà Thảo tưởng là bà không biết. Không, chắc chắn bà đã thấy và đã biết nhưng thấy là một chuyện, biết là một chuyện, cảm thông với sự chịu đựng của nhiều triệu tuổi thơ Việt Nam nghèo khó hay không là chuyện khác.

Là một tỉ phú, bà Thảo không muốn tên tuổi của mình gắn liền với một trường đại học dù lớn nhất Việt Nam nhưng vô danh trên thế giới.

Chuyện bà Thảo chưa xong. Hôm 3 tháng 11vừa qua các mạng internet chuyền nhau video tướng Công An CSVN Tô Lâm ăn thịtbò bít-tếch dát vàng trị giá hơn một ngàn dollar. Nhìn cảnh Tô Lâm há miệng to cho đầu bếp nhà hàng Salt Bae hay còn gọi “Thánh rắc muối” đút miếng thịt bò trông vô cùng kệch cỡm, ghê tởm làm sao.

Ăn thịt là chuyện bình thường nhưng nhìnTô Lâm ăn khó mà không tưởng tượng cảnh thú vật ăn thịt nhau trong phim động vật hoang dã. Đừng nói chi đang đại diện cho một nhà nước tại nước ngoài, một người lịch sự và tự trọng thường không làm vậy trong nhà hàng với nhiều thực khách chung quanh.

Những người Việt giận dữ lại lần nữa trưng bày những hình ảnh đau thương của hàng triệu người Việt tìm đường về quê tránh dịch với những cảnh chết chóc, đói khát, cực khổ không bút mực nào tả hết như một cách nhắc nhở Tô Lâm về thực trạng Việt Nam.

Theo họ, lẽ ra Tô Lâm biết ngay trong giờ phút ông đang ăn nhiều triệu người dân không có một chén cơm trắng để ăn, lẽ ra Tô Lâm nên biết trên cả nước nhiều người vẫn còn chết hay đang  chờ chết vì nạn dịch, lẽ ra Tô Lâm nên biết hàng triệu trẻ thơ Việt Nam đang thiếu sữa trong tháng Mười lũ lụt này, và lẽ ra Tô Lâm không nên rắc muối lên vết thương của họ như anh chàng đầu bếp rắc lên miếng thịt bò mà Tô Lâm đang  nuốt.

Chắc chắn là Tô Lâm đã thấy và đã biết nhưng giống như bà Phương Thảo, thấy là một chuyện, biết là một chuyện, cảmthông với sự chịu đựng của đồng bào hay không là chuyện khác.

Milovan Djilas viết về bản chất, nguồn gốc lịch sử hình thành nên giai cấp mới, nhưng ông có thể đã sót một đặc điểm quan trọng, “giai cấp mới” còn gồm những con người ích kỷ, vô lương tâm và vô cảm.

Lấy Trung Cộng, nước CS đàn anh của CSVN làm ví dụ cho chính xác với điều kiện kinh tế. Bản chất giai cấp là lý do Trun gCộng mặc dù có nhiều tỉ phú hạng thứ hai trên thế giới sau Mỹ nhưng là nước được tổ chức Charities Aid Foundation xếp vào hạng ích kỷ nhất thế giới trongnhiều năm.

Năm 2019, Trung Cộng đứng hàng 126 trong số 126 quốc gia được tổ chức quốc tế này quan sát. Charities Aid Foundation kết luận “Trung Quốc là quốc gia duy nhất đứng hạng tệ hại nhất trong cả ba tiêu chuẩn gồm tình nguyện, giúp đỡ người khác và đóng góp hiện kim.” Trung Cộng còn đứng sau cả Congo, Palestine, Yemen, những dân tộc triền miên trong chiến tranh và nghèo khó.

Nguyễn Thị Phương Thảo là sản phẩm của ý thức hệ CS nên đừng trách tại sao bà không rộng lượng với đồng bào mình mà dùng tiền đi mua danh một cách kệch cỡm đáng khinh.

Hôm qua, 6 tháng 11, 2021, tờ Daily Mailcủa Anh tố cáo bà Nguyễn Thị Phương Thảo và chồng không chỉ cấu kết với giới lãnh đạo của “chế độ CSVN thô bạo” mà còn có quan hệ với cả chủ tịch Trung CộngTập Cận Bình.

NguyễnThanh Hùng (chồng Nguyễn Thị Phương Thảo) và Tập Cận Bình. Ảnh trên mạng

Những đồng bạc, dù một đồng hay một tỉ, có được nhờ cấu kết với những kẻ gây nên tội c chống lại con người trong trường hợp này là đảng CSVN, sẽ không được xem làđồng tiền chính đáng.

Đặc tính không chính đáng của đồng tiền thể hiện rất rõ nét và rất dễ nhận ra tại Việt Nam. Hãy nhìn vào những biệt thự nguy nga mà “giai cấp mới” này sống so với những túp lều không vách của đại đa số trong 97 triệu người dân để thấy khoảng cách trời vực giữa hai tầng lớp người trong cùng một đất nước. Một chính phủ có 110 thứ trưởng, 201 phó chủtịch tỉnh và hàng ngàn vụ trưởng. Mục đích của bộ máy hành chánh cồng kềnh này chẳng qua là để hợp thức hóa vai trò của các cán bộ đảng, để qua đó chúng được chính thức lãnh lương, chính thức ăn hối lộ, chính thức tham ô và tham nhũng.

Tham nhũng dưới chế độ CS không phải phát xuất từ bản chất tham lam của một số người ở đâu cũng có thể có. Tham nhũng tại Việt Nam có tính đảng vì chính đảng CS tạo môi trường cho thamnhũng sinh sôi, nuôi dưỡng tham nhũng lớn và tạo điều kiện để tham nhũng hoànhhành.

Đối diện với tầng lớp cai trị, bộ máytuyên truyền và bạo lực trấn áp khủng khiếp và thường trực của chế độ CS đã biến phần lớn trong số 97 triệu người Việt còn lại thành một tầng lớp chỉ biết phục tùng.

Sự chịu đựng của nhiều triệu đồng bào trong mùa dịch vượt qua ngoài định nghĩa của khổ đau, bất hạnh và sợ hãi. Dù “mắc kẹt” ở Sài Gòn hay tìm cách về quê họ đều phải đối phó với những khó khăn chưa từng có trong đời.

Nhưng khác với Đông Âu trước đây hay CuBa mới đây, không có cuộc biểu tình nào ở Sài Gòn, không có chống đối nào trên đường đi dù có người phải đi bộ năm trăm cây số hay như anh thợ hồ Hồ Tám đi bộ1.000 cây số từ Trà Vinh để về Huế trên vai vỏn vẹn một thùng mì gói.

Họ không bao dung nhưng đã mất hết khả năng chống đối. Trời hành họ còn biết kêu trời nhưng đảng hành thì không ai dám kêu đảng. Nhà tù đang chờ họ. Trấn áp đang chờ họ. Chết đói, chết khát đang chờ họ. Bộ máy kìm kẹp của đảng CS siết chặt đến mức làm tê liệt ý thức phản kháng của con người. Họ lầm lũi đi như đoàn nô lệ da đen sau nội chiến Mỹ đi tìm một nơi để gọi quê hương.

Hàng triệu người dân hôm nay có thể đãtrở về trong căn nhà trơ trọi và bên ngoài mùa mưa đang đến, nước lụt đang dâng. Họ sẽ sống ra sao trong những ngày tháng tới. Có tiếng than, tiếng khócnửa đêm nhưng tuyệt nhiên không có tiếng trả lời hay an ủi.

Nhưng một mai, khi đại dịch qua đi,những người dân bất hạnh kia lại sẽ vào thành phố tìm đường sống vì không còn gì để sống trên nơi chôn nhau cắt rốn. Và cứ thế, cuộc đời của tầng lớp ngườibị trị tại Việt Nam sẽ bị vùi dập trong trầm luân thống khổ cho đến chết.

Trước nỗi bất hạnh của dân tộc Việt, ai là người biết đau và ai sẽ là người biết nhục? Nguyễn Thị Phương Thảo ư? Tô Lâm ể mua cái tên trường ở một đất nước xa xôi bỏ mặc cho nhiều triệu trẻ em Việt sống trong những điều kiện học hành tệ hại nhất thế giới. Nếu biết đau và biết nhục, ông Lâm đã không há miệng to để được đút ăn trong lúc một phần không nhỏ của đấtnước không có ngay cả gói mì để ăn.

Những người biết nhục không phải Nguyễn Thị Phương Thảo, Tô Lâm, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Xuân Phúc mà là những con người Việt còn có một lương tâm Việt Nam dù ở ngoài guồng máy hay vì lý do riêng phải tạm thời ở trong guồng máy.

Cách mạng dân chủ tại các nước cựu CS cho thấy, chính những người biết đau và biết nhục đã làm thay đổi vận mệnh đất nước họ. Khác nhau về thời gian và thời điểm nhưng Việt Nam cũng vậy. Lịch sử Việt Nam đã chứng minh nhiều lần trong hoàn cảnh dù đen tối bao nhiêu vẫn còn có những người biết đau và biết nhục. Lần nữa trong tương lai, chính những người biết đau và biết nhục sẽ thay đổi vận mệnh Việt Nam.

Trần Trung Đạo

https://www.danchimviet.info/gia-cap-moi-tai-viet-nam/11/2021/24363/

“Không có ví dụ nào về cuộc xung đột này”

“Không có ví dụ nào về cuộc xung đột này”

Der SPIEGEL

Bernhard Zand phỏng vấn Henry Kissinger

Đỗ Kim Thêm, dịch

16-7-2022

Henry Kissinger. Nguồn: George Etheredge / DER SPIEGEL

SPIEGEL phỏng vấn Ngoại trưởng Mỹ huyền thoại về nỗi ám ảnh và lệnh ngừng bắn của Putin.

Kissinger sinh ra ở Fürth năm 1923. Năm 1938, ông di cư cùng cha mẹ sang Hoa Kỳ và được Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon bổ nhiệm làm Ngoại trưởng vào năm 1973. Kissinger được coi là một trong những chính khách có ảnh hưởng mạnh nhất thời hậu chiến. Trong cuốn sách “Nghệ thuật lãnh đạo đất nước: Sáu bài học cho thế kỷ 21” mới xuất bản gần đây của C. Bertelsmann; 608 trang; giá 38 Euro), cho biết Kisinger xây dựng di sản của mình theo học thuyết hiện thực.

***

SPIEGEL: Thưa ông Kissinger, khi ông  chào đời, Lenin vẫn còn sống. Ông được 29 tuổi khi Stalin qua đời, năm ông 39 tuổi thì Nikita Khrushchev đặt tên lửa hạt nhân ở Cuba và năm ông 45 thì Leonid Brezhnev đánh bại cuộc ni dậy Mùa xuân Prague. Trong số những nhà cai trị ở điện Kremlin này, người nào làm cho ông nhớ đến Vladimir Putin ?

Kissinger: Khrushchev

SPIEGEL: Tại sao?

Kissinger: Khrushchev, vì tất cả liên hệ về sự công nhận. Khrushchev muốn xác nhận tầm quan trọng của đất nước mình và được mời đến Mỹ. Đối với Khrushchev, mọi thứ đều xoay quanh sự bình đẳng. Trong trường hợp của Putin, điều này thậm chí còn gay gắt hơn. Putin coi sự sụp đổ vị thế của Nga ở châu Âu kể từ năm 1989 là một thảm họa chiến lược. Đây gần như là một nỗi ám ảnh của Putin. Tôi không chia sẻ đánh giá rằng Putin muốn lấy lại tất cả những gì Moscow đã mất kể từ năm 1989. Nhưng Putin không thể chịu đựng được là gần như toàn bộ lãnh thổ giữa Berlin và biên giới Nga đã rơi vào tay của khối NATO. Đối với Putin, điều đó đã khiến cho Ukraine trở thành một điểm tế nhị.

SPIEGEL: Khrushchev đã gây ra cuộc khủng hoảng tên lửa ở Cuba, nhưng cuối cùng đã nhượng bộ. Liệu Putin có làm như vậy không?

Kissinger: Putin không bốc đồng như Khrushchev. Putin tính toán hơn và bực bội kéo dài. Có lẽ sẽ dễ dàng hơn nếu chúng ta phải đối phó với một nhà lãnh đạo khác của Nga trong cuộc khủng hoảng này. Nhưng không chắc rằng việc chuyển đổi từ Putin sang người kế nhiệm sẽ diễn ra trong suôn sẻ. Nga tự phát triển như thế nào, cuối cùng đó là một vấn đề của Nga. Sau đó, các quốc gia phương Tây sẽ phải tuân theo điều này và kết quả quân sự ở Ukraine.

SPIEGEL: Ông đã viết một cuốn sách mới, và chương đầu tiên mô tả về Konrad Adenauer. Ông viết rằng chính sách của Adenauer “dựa trên việc coi sự phân chia đất nước Đức là tạm thời”. Ông đã nghĩ đến ý nghĩa này khi gần đây ông đưa ra đề xuất chấm dứt chiến tranh Ukraine bằng cách Ukraine chấp nhận một sự phân chia tạm thời lãnh thổ của mình, phát triển một phần của đất nước thành một quốc gia thân phương Tây, dân chủ, mạnh về kinh tế và chờ đợi đến một ngày nào đó phần khác cùng tham gia?

Kissinger: Những gì tôi đã nói là một điều khác: để kết thúc cuộc chiến này, đường phân chia tốt nhất là hiện trạng, bao gồm khoảng 93% đất nước. Khôi phục hiện trạng này có nghĩa là sự xâm lược đã không thành công. Do đó, đây là một câu hỏi về một lệnh ngừng bắn dọc theo đường  liên lạc của ngày 24 tháng 2. Lãnh thổ do Nga kiểm soát, khoảng 2,5% lãnh thổ Ukraine ở Donbass và bán đảo Crimea, sau đó sẽ là một phần của các cuộc đàm phán tiếp theo.

SPIEGEL: Tuy nhiên, ông đã nói thêm rằng, nếu cuộc chiến tiếp tục vượt ra ngoài đường liên lạc của ngày 24 tháng 2, nó “không còn là về tự do của Ukraine, mà là về một cuộc chiến mới chống lại chính Nga”.

Kissinger: Tôi chưa bao giờ nói rằng, Ukraine nên từ bỏ một phần lãnh thổ của mình.

SPIEGEL: Nhiều người Ukraine đã hiểu khác đi. Dân biểu Quốc hội Oleksej Gontscharenko nói rằng, ông “vẫn đang sống trong thế kỷ 20” và Ukraine sẽ không từ bỏ một tấc đất nào thuộc lãnh thổ của mình.

Kissinger: Tổng thống Volodymyr Zelenskyi không nói điều đó. Ngược lại. Chưa đầy hai tuần sau lời tuyên bố của tôi, Zelenskyi đã nói trong một cuộc phỏng vấn với “Financial Times” rằng, việc phục hồi hiện trạng sẽ là một chiến thắng vĩ đại. Và sau đó họ sẽ tiếp tục chiến đấu bằng ngoại giao cho phần còn lại của lãnh thổ. Điều đó phù hợp với quan điểm của tôi.

SPIEGEL: Trong phần giới thiệu cuốn sách mới, ông trích dẫn lời của Winston Churchill: Hãy nghiên cứu lịch sử. Lịch sử nắm giữ tất cả các bí mật của nghệ thuật lãnh đạo đất nước. Tiền lệ lịch sử nào ông coi là bài học sâu xa nhất để hiểu và kết thúc cuộc chiến Ukraine?

Kissinger: Đó là một câu hỏi rất hay mà tôi không có câu trả lời trực tiếp. Bởi vì ở một bình diện, cuộc xung đột về Ukraine là một cuộc chiến về quân bình quyền lực, và trên bình diện khác, nó có các yếu tố của một cuộc nội chiến. Do đó, nó kết hợp một cuộc xung đột cổ điển của châu Âu với một cuộc xung đột hoàn toàn trong toàn cầu. Khi cuộc chiến này kết thúc vào một ngày nào đó, câu hỏi sẽ được đặt ra là liệu Nga sẽ tìm thấy một mối quan hệ chủ yếu với châu Âu – điều mà họ luôn mong muốn – hay trở thành một tiền đồn của châu Á ở ngay biên giới với châu Âu. Không có ví dụ tốt đẹp về một cuộc xung đột như vậy.

SPIEGEL: Chính ông và sáu nhân vật mà ông mô tả trong cuốn sách của mình – ngoài Adenauer, còn có Charles de Gaulle, Richard Nixon, Anwar el-Sadat, Lý Quang Diệu và Margaret Thatcher – đã định hình cho thế giới mà chúng ta đang sống ngày nay. Đó không phải là một thế giới ổn định: ở châu Âu, cuộc chiến Ukraine đang hoành hành, ở châu Á, một cuộc xung đột về Đài Loan là đáng sợ, ở Trung Đông là một cuộc xung đột về chương trình hạt nhân của Iran. Tại sao các chính trị gia nên làm theo các ví dụ trong cuốn sách của ông?

Kissinger: Tôi không nói rằng các chính khách nên noi gương theo những nhân vật này là vì tính cách rất khác biệt này. Nhưng tôi nghĩ rằng, người ta có thể học hỏi từ những vấn đề mà họ đang giải quyết. Thế giới đang đầy rẫy những xung đột, đó không phải là chuyện mới. Điều mới là, do toàn cầu hóa, chúng ta hiện đang đối phó lần đầu tiên với xung đột thường trực của các khu vực khác nhau về văn hóa. Đối với một số xung đột hiện tại, các ví dụ từ trong cuốn sách có thể hữu ích, đối với những người khác thì không. Tôi không viết một cuốn sách dạy về nấu ăn về cho các mối quan hệ quốc tế.

SPIEGEL: Ông có nghĩ rằng chính sách đối ngoại, chẳng hạn như chính sách mà Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon và ông theo đuổi, vẫn là hiệu quả nhất – có nghĩa là, sự ổn định là quan trọng hơn việc tuân theo các điều nên làm mang tính quy phạm, và các chính khách trong chính trị thích hợp hơn là những người có viễn kiến?

Kissinger: Các chính khách và những người có viễn kiến chỉ đơn giản là hai khuôn mẩu của các nhà lãnh đạo khác nhau.

SPIEGEL: Ưu tiên của ông là hiển nhiên: Trong cuốn sách của ông, ông đặt tên cho Theodore và Franklin D. Roosevelt, Kemal Ataturk và Jawaharlal Nehru là “các chinh khách” và Echnaton, Jean d`Arc, Robespierre và Lenin là “những người có viễn kiến”. Ông có nghĩ rằng nó vẫn là tất cả về việc cân bằng trọng lượng của các sức lực?

Kissinger: Quân bình quyền lực là điều kiện tiên quyết cho nhiều thứ, nhưng tự nó không phải là một mục đích. Chỉ riêng sự cân bằng quyền lực không đảm bảo cho sự ổn định. Tuy nhiên, nếu không có sự cân bằng, không có sự ổn định.

SPIEGEL: Trên giá sách phía sau lưng ông là tiểu sử của Hoàng tử Metternich, đó là một nhân vật mà ông đã làm luận án tiến sĩ và được coi là kiến trúc sư của trật tự hòa bình châu Âu hồi đầu thế kỷ 19. Các giai đoạn của một vài thập kỷ ổn định tương đối như khi xưa hoặc sau Thế chiến II có phải là điều tốt nhất mà chúng ta có thể thực sự hy vọng?

Kissinger: Không. Tôi tin rằng trong cái nhìn này, hiện tại là duy nhất. Theo quan điểm của tôi, Thế chiến thứ nhất đã chứng minh rằng, công nghệ hiện đại đang phát triển nhanh hơn khả năng chế ngự kỷ thuật bằng chính trị của chúng ta. Trong thời đại của chúng ta, không còn nghi ngờ gì về điều này. Vũ khí hạt nhân đã có mặt trên thế giới gần 80 năm và hàng ngàn tỷ đã được chi trả cho sự phát triển của chúng. Kể từ năm 1945, không ai dám sử dụng chúng, thậm chí không một lần chống lại các quốc gia không có vũ khí hạt nhân. Tuy nhiên, ngày nay, vũ khí hạt nhân thậm chí còn nguy hiểm hơn thông qua các phương tiện điều khiển binh pháp trong không gian mạng và trí tuệ nhân tạo…

SPIEGEL: … bởi vì trong trường hợp xảy ra khủng hoảng, các binh pháp không thể tiên đoán thuật toán kiểm soát?

Kissinger: Trong mọi trường hợp, đối với nhà lãnh đạo chính trị, họ đã gặp các khó khăn cực kỳ để kiểm soát tình trạng công nghệ của mình, trước tiên là trong trường hợp có chiến tranh. Đó là lý do tại sao có một nghĩa vụ quan trọng đối với mọi thứ khác để ngăn chặn một cuộc chiến, mà trong đó công nghệ cao như vậy có thể được mang ra sử dụng. Trên tất cả, tất nhiên, một cuộc chiến giữa hai quốc gia công nghệ cao hàng đầu là Trung Quốc và Mỹ. Một tình huống tương tự như vậy chưa bao giờ có trước đây, bởi vì trong các cuộc chiến, người ta luôn có thể tưởng tượng được rằng, một trong hai đối thủ ít nhất có thể tận dụng một số lợi thế của chiến thắng trước đối phương.

SPIEGEL: Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden mô tả tình hình địa chính trị hiện tại là một cuộc đấu tranh giữa nền dân chủ và chuyên chế. Chính phủ liên bang mới cũng đã đặt cho mình mục tiêu của một chính sách đối ngoại “định hướng theo giá trị” hơn. Ông đánh giá điều đó như thế nào?

Kissinger: Đối với một người với lịch sử cá nhân tôi, sự ưu tiên dành cho nền dân chủ là vấn đề không cần phải nói. Đối với tôi, nền dân chủ là hệ thống đáng để theo đuổi hơn. Nhưng nếu vấn đề ưu tiên này được tuyên bố là mục tiêu chính trong các mối quan hệ quốc tế của thế giới ngày nay, nó sẽ dẫn đến một sự thúc đẩy mang tính truyền giáo. Điều này có thể dẫn đến một cuộc xung đột quân sự mới như trong Chiến tranh Ba mươi năm. Đối với Trung Quốc, chính quyền Tổng thống Biden đã tuyên bố rằng, họ không có ý định mang lại “sự thay đổi chế độ” ở đó. Vì vậy, Biden phải đối mặt với một vấn đề mà tất cả các nhà lãnh đạo của các quốc gia lớn gặp phải. Thực sự có những tình huống trong đó có nghĩa vụ tự vệ – và đó là cách châu Âu nhận thức về cuộc xung đột  Ukraine. Tuy nhiên, trong tình huống này, nghệ thuật lãnh đạo nhà nước phải bao gồm ba điều cùng một lúc: ý nghĩa lịch sử của sự cân bằng lực lượng, ý nghĩa mới của công nghệ cao và bảo tồn các giá trị thiết yếu của nó. Thách thức này là mới.

SPIEGEL: Ông đánh giá như thế nào về lời tuyên bố của Biden: Tổng thống Putin không thể nắm quyền”?

Kissinger: Đó không phải là một câu nói thông minh.

SPIEGEL: Một trong những giả định cơ bản của chủ thuyết hiện thực chính trị cho là, hệ thống quốc tế cuối cùng là tình trạng vô chính phủ và không có thẩm quyền đối với từng quốc gia riêng. Kinh nghiệm của ông có xác nhận giả định này không?

Kissinger: Không. Nguyên tắc chủ quyền, mà trong đó các mối quan hệ quốc tế đã được xây dựng đầu tiên ở châu Âu và cuối cùng trên toàn thế giới, có hai hậu quả: một mặt, nó đã thiết lập một khái niệm về tính hợp pháp trong luật pháp quốc tế. Tuy nhiên, mặt khác, nó phân mảnh thế giới, bởi vì ở từng các quốc gia riêng, nguyên tắc chủ quyền của chính mình được coi là tối thượng. Đây là một vấn đề nan giải, nó rất khó giải quyết về mặt triết học, đặc biệt là vì từng khu vực riêng tuân theo các hệ thống phân cấp giá trị rất khác nhau do sự dị biệt văn hóa.

SPIEGEL: Diễn biến của cuộc chiến Ukraine cho đến nay có đẩy mạnh hay làm suy giảm mong muốn của giới lãnh đạo Trung Quốc trong việc giải quyết vấn đề Đài Loan theo hướng có lợi cho mình không?

Kissinger: Không – cũng không. Putin rõ ràng đã đánh giá thấp sự kháng cự đang gặp phải. Tuy nhiên, phía Trung Quốc sẽ chỉ sử dụng toàn bộ sức mạnh chống lại Đài Loan, nếu họ kết luận rằng không một giải pháp hòa bình cho cuộc xung đột này là khả thi. Tôi tin rằng họ vẫn chưa đạt đến điểm này.

SPIEGEL: Nhưng nếu một ngày nào đó, Trung Quốc đi đến kết luận này, cuộc xung đột này sẽ khác với cuộc xung đột ở Ukraine như thế nào?

Kissinger: Đó là một đặc thù quân sự của cuộc xung đột Ukraine, hai đối thủ có vũ khí hạt nhân ở đó đang chiến đấu trong một cuộc chiến tranh thông thường trên lãnh thổ của một quốc gia thứ ba, tất nhiên có nhiều vũ khí của chúng ta. Mặt khác, một cuộc tấn công Đài Loan, về mặt pháp lý, sẽ đẩy Trung Quốc và Hoa Kỳ vào một cuộc xung đột trực tiếp, ngay từ đầu.

SPIEGEL: Đã 50 năm qua, từ khi Tổng thống Richard Nixon và ông thực hiện một chuyến Hoa du lịch sử. Theo quan điểm ngày nay, đó là một thành tựu hay sai lầm khi trì hoãn việc giải quyết cuộc xung đột Đài Loan vào thời điểm đó?

Kissinger: Đó là một đường lối duy nhất có thể để bắt đầu hợp tác với Trung Quốc. Ngược lại, điều này là cần thiết để chấm dứt chiến tranh Việt Nam, để mở ra việc kết thúc Chiến tranh Lạnh – và để đạt được sự phát triển hòa bình kéo dài trong ít nhất trong 25 năm. Việc Trung Quốc trỗi dậy sẽ gây ra nhiều vấn đề, đó là điều không thể tránh. Nhưng đối với Đài Loan, đó là một thành tựu khá lớn để giành lấy từ Mao Trạch Đông một sự hoãn lại giải pháp cuối cùng cho cuộc xung đột này.

SPIEGEL: Trong nhiều thập kỷ, các chính trị gia đã tìm lời khuyên của ông, các Tổng thống Mỹ, các Thủ tướng Đức từ Konrad Adenauer đến Angela Merkel. Nhưng ông cũng bị chỉ trích, bao gồm cả hành động của chính quyền Nixon ở Campuchia và Chile. Khi nhìn lại sự nghiệp chính trị của mình, ông đã sai ở đâu?

Kissinger: Hiện nay, tôi sẽ không tham gia vào một cuộc tranh luận về Campuchia và Chile, tôi đã viết về điều đó một cách chi tiết trong hồi ký của tôi. Nhưng sự công bằng của báo chí đòi hỏi chúng ta là phải chỉ ra rằng, tất cả những biến cố này có một bối cảnh nhất định. Cuộc ném bom đầu tiên tại Campuchia diễn ra chỉ hơn một tháng sau khi Nixon nhậm chức. Người Bắc Việt Nam đã phát động một cuộc tấn công ngay sau đó, với bốn sư đoàn đóng quân ở Campuchia, rất gần Sài Gòn. Họ đã giết khoảng 1.000 người Mỹ. Họ vượt qua biên giới vào ban đêm, tấn công và rút lui về Campuchia. Vì vậy, những cuộc ném bom này không phải là hành động của một tổng thống, người muốn mở rộng cuộc chiến, mà là của một tổng thống muốn kết thúc cuộc chiến. Đó là ý định của Nixon ngay từ đầu, ông đã viết thư cho Hồ Chí Minh, nhà lãnh đạo Bắc Việt Nam, trước khi nhậm chức.

Và việc lật đổ Tổng thống Salvador Allende là kết quả của những diễn biến nội bộ ở Chile. Chúng ta không may mắn khi ông nhậm chức vào năm 1970. Nhưng vào thời điểm ông bị lật đổ, tất cả các đảng dân chủ trong quốc hội Chile đã xa lánh ông. Đó là những điều tạo ra các điều kiện cho cuộc đảo chính quân sự. Các chính trị gia luôn phải đối mặt với tình thế tiến thoái lưỡng nan khi phải cân nhắc lợi ích quốc gia trong những tình huống mơ hồ. Sau đó, các nhà báo vô cùng thích thú khi chỉ ra những sai lầm hoặc hậu quả của chúng. Không ai có thể đưa ra đòi hỏi là mình chưa bao giờ phạm sai lầm. Nhưng để tiếp tục quay trở lại những điều đã xảy ra hơn 50 năm trước mà không đặt bối cảnh vào bối cảnh là không công bằng.

SPIEGEL: Đồng ý. Và vì chúng ta nói về Trung Đông, cuộc xâm lược Iraq của Mỹ có phải là một sai lầm?

Kissinger: Tôi đã không còn ở trong chính phủ hơn 20 năm khi cuộc xâm lược bắt đầu. Tôi hiểu biện pháp này. Ấn tượng của tôi là Tổng thống George W. Bush muốn cho thấy rằng, các chế độ hỗ trợ cho các cuộc tấn công bằng khủng bố tạo ra sự bất ổn thường trực. Có nhiều lời biện minh hợp lý và đạo đức cho quyết định loại bỏ Saddam ra khỏi chính quyền. Nhưng muốn cai trị Iraq theo cách mà chúng ta đã cai trị nước Đức bị chiếm đóng là một sai lầm về phân tích. Các tình huống là không thể so sánh được, và việc chiếm đóng Iraq vượt quá khả năng của chúng ta.

SPIEGEL: Trước cuộc chiến Ukraine, đã có một cuộc thảo luận về việc liệu Mỹ có nên tìm kiếm sự gần gũi với Nga để gây áp lực cho đối thủ Trung Quốc hay không. Ngày nay, câu hỏi đặt ra đúng hơn là, khi đối mặt với mối đe dọa của Nga, liệu Washington có nên giảm bớt căng thẳng với Bắc Kinh hay không – như Nixon và ông đã làm cách đây 50 năm. Ông có nghĩ rằng, nước Mỹ đủ mạnh để đối đầu với hai đối thủ lớn to lớn nhất cùng lúc?

Kissinger: Nếu điều đó có nghĩa là mở rộng cuộc chiến ở Ukraine thành một cuộc chiến chống lại Nga và đồng thời vẫn giữ thái độ thù địch với Trung Quốc, thì tôi nghĩ điều đó sẽ rất ư là không khôn ngoan. Tôi ủng hộ những nỗ lực của khối NATO và Mỹ nhằm ngăn chặn sự xâm lược của Nga và khôi phục Ukraine về các tầm vóc mà họ đã có trước chiến tranh. Và tôi hiểu rằng, Ukraine đang đưa ra những yêu cầu vượt xa hơn thế. Vấn đề này có thể được giải quyết trong khuôn khổ một nhãn quan rộng hơn về các mối quan hệ quốc tế. Nhưng ngay cả khi điều này thành công, mối quan hệ tương lai của Nga với châu Âu sau đó phải được làm rõ, tức là vấn đề liệu Nga sẽ vẫn là một phần của lịch sử châu Âu hay liệu nó sẽ trở thành một đối thủ thường trực trong liên minh với các vùng lãnh thổ hoàn toàn khác nhau. Đó sẽ là vấn đề chủ yếu. Và điền này đúng, bất kể cho kết quả của cuộc chiến Ukraine là gì, những hậu quả có thể xảy ra mà hiện nay tôi đã vạch ra nhiều lần – và chưa bao giờ nói rằng Ukraine nên từ bỏ một phần lãnh thổ của mình.

SPIEGEL: Ông Kissinger, chúng tôi cám ơn ông về buổi nói chuyện này. 

________

Tác giả: Bernhard Zand sinh năm 1967 tại Bad Ausse (Áo). Từ năm 1998, ông là Biên tập viên của SPIEGEL và đầu năm nay là Thông tín viên tại New York.

TÌNH CHA – TGM Giuse Vũ Văn Thiên

TÌNH CHA

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Trong cuộc sống thực tế, người cha thường hay nghiêm khắc đối với con cái, nhưng lại dạt dào tình thương.  Nói đúng hơn, cách thể hiện tình cảm của người cha khác với người mẹ.  Tuy vậy, tình cha không kém gì tình mẹ, vừa rộng mở, vừa bao dung.  Nếu có nghiêm khắc, là vì muốn cho con nên người, bởi lẽ “thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi.”  Cũng trong quan niệm thông thường của người Việt Nam, chữ “tình” rất quan trọng.  “Trăm cái lý không bằng một tý cái tình.”  Vì tình nghĩa, người ta dễ dàng bỏ qua những thiếu sót, “chín bỏ làm mười”, để quên đi quá khứ và sống hài hòa với nhau trong một làng, một xóm hoặc một đại gia đình.

Trong Kinh Thánh, Thiên Chúa được xưng tụng là Cha.  Ngài rất khiêm khắc đối với tội nhân, nhưng lại bao dung đối với những ai thành tâm sám hối.  Ngài là Đấng “nổi giận, giận trong giây lát, nhưng yêu thương, thương suốt cả đời.  Lệ có rơi khi màn đêm buông xuống, hừng đông về đã vọng tiếng hò reo” (Tv 30,6).  Câu chuyện ông Abraham “mặc cả” với Chúa đã diễn tả lòng nhân từ của Ngài.  Thời đó, dân thành Xơ-đôm và Gô-mô-ra sống trong tội lỗi và sa đọa, khiến Thiên Chúa bừng bừng nổi giận.  Ngài quyết định sẽ trừng phạt họ.  Ông Abraham đã “năn nỉ” với Chúa và dần dần từng bước hạ thấp điều kiện.  Từ con số năm mươi người công chính, ông đã hạ xuống chỉ còn mười người, nhờ đó mà Chúa thay đổi ý định trừng phạt.  Thiên Chúa đã bớt giận trước lời nài xin của ông Abraham và Ngài đã đồng ý: nếu có được mười người công chính thì Ngài sẽ không tru diệt hai thành này.  Tác giả sách Sáng thế đã dùng lối văn “như nhân” để diễn tả Thiên Chúa.  Ngài nguôi giận trước sự van xin của con người.  Nếu đọc tiếp đoạn Sách thánh này, chúng ta sẽ thấy, điều kiện có mười người công chính cũng không đạt được.  Thành Xơ-đôm và Gô-mô-ra đã bị lửa diêm sinh từ trời thiêu rụi.  Tất cả đã bị tru diệt, chỉ trừ gia đình ông Lót, là người kính sợ Chúa.  Khi vừa chạy khỏi thành, bà vợ ông Lót, vì tiếc của quay lại, bỗng hoá thành tượng muối.

Nếu Thiên Chúa kiên nhẫn trước sự xúc phạm của con người, thì con người cũng phải kiên nhẫn cậy trông để thoát khỏi trừng phạt.  Người hàng xóm trong Tin Mừng thánh Luca đã kiên trì nhẫn nại để vay bánh vào lúc nửa đêm.  Sự kiên trì đã làm thay đổi lòng chai đá của chủ nhà, mà trỗi dậy lấy bánh cho người hàng xóm.  Chúa Giêsu đã dùng một tình huống đời thường để liên hệ đến lòng thương xót của Thiên Chúa.  Nếu người thường còn làm thế, huống chi Cha trên trời.  Hãy kiên trì cầu nguyện.  Hãy phó thác nơi Thiên Chúa những lo lắng của cuộc đời.  Ba động từ được Chúa Giêsu nhắc tới, đó là: xin, tìm, gõ cửa.  Cả ba hành động này đều diễn tả sự kiên nhẫn, lòng cậy trông và tin tưởng phó thác.  Thiên Chúa là Cha nhân từ.  Ngài luôn lắng nghe những ước nguyện chân thành của chúng ta.

Cầu nguyện làm nên cốt lõi đời sống người tin Chúa.  Vì cầu nguyện chính là than thở với Ngài, để trình bày với Ngài về nỗi niềm nhân thế.  Cầu nguyện cũng là xin Chúa đỡ nâng trên đường đời còn mang nhiều truân chuyên.  Đức Giêsu đã dạy các môn đệ cầu nguyện.  Lời Kinh “Lạy Cha” diễn tả mối dây thiêng liêng giữa Thiên Chúa và người tín hữu.  Chỉ có Chúa Giêsu mới được gọi Thiên Chúa là Cha, vì Người là Con của Chúa Cha, như Người nhiều lần khẳng định.  Lời cầu nguyện mà Người dạy các môn đệ khởi đầu bằng hai chữ “Lạy Cha”, hoặc “Thưa Cha”, hoặc “Cha ơi.”  Như vậy, Chúa Giêsu đã cho phép chúng ta gọi Chúa là Cha, giống như bản thân Người.  Nói cách khác, nhờ Chúa Giêsu, trong Chúa Giêsu, và với Chúa Giêsu mà chúng ta được gọi Chúa là Cha với tâm tình thân thương trìu mến.

Nếu chúng ta mạnh dạn đến với Chúa và thân thưa với Ngài: “Lạy Cha chúng con ở trên trời”, là nhờ cái chết của Đức Giêsu trên thập giá.  Thánh Phaolô nói với chúng ta: trong Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa đã tha thứ mọi sa ngã lỗi lầm của chúng ta.  Đức Giêsu đã giải phóng chúng ta khỏi mọi chướng ngại ngăn bước chúng ta đến gần Thiên Chúa.

Khác với lối cầu nguyện kể lể dài dòng và nhằm phô trương nơi những người biệt phái đã bị Chúa Giêsu kịch liệt lên án, kinh Lạy Cha ngắn gọn, đơn sơ mà lại mang nội dung rất phong phú.  Đây là tâm tình đơn sơ của người con thảo thân thưa với Chúa.  Điều cầu nguyện ưu tiên là ước mong cho vinh quang Chúa tỏ hiện giữa lòng nhân thế, để mọi người trên thế giới nhận biết Chúa là Cha vinh hiển quyền năng.  Tiếp đó là những ý cầu nguyện xin cho bản thân và cho những người anh chị em bạn hữu.  “Xin tha tội cho chúng con, vì chính chúng con cũng tha cho mọi người mắc lỗi với chúng con.”  Lời kinh khiêm tốn nhẹ nhàng, vừa hướng chúng ta về Chúa, vừa liên kết chúng ta với tha nhân.  Lời kinh cũng thể hiện thiện chí sống hài hòa với mọi người nhờ ơn Chúa, để có được trái tim bao dung như Ngài.

Với tâm tình yêu mến, phó thác và cậy trông, chúng ta cùng thưa với Chúa; “Lạy Cha chúng con ở trên trời…”.  Chắc chắn lời kinh sẽ đem lại cho chúng ta niềm vui và sự bình an, trong mọi tình huống của cuộc đời.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim

HỒI TÂM – TGM Giuse Vũ Văn Thiên

HỒI TÂM

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Hồi tâm là một hành vi tâm lý, nhìn lại quá khứ để nhận ra những việc mình đã làm.  Có thể đó là những việc tốt, nhưng cũng có thể đó là những việc chưa tốt.  Việc hồi tâm đòi hỏi lòng can đảm và trung thực, vì có nhiều người rất sợ đối diện với lương tâm của chính mình.  Đó là lý do tại sao có những người, sau khi làm điều ác, uống rượu hoặc hút chích ma túy để quên đi quá khứ, để gạt bỏ lời khiển trách của lương tâm.  Hồi tâm giúp chúng ta nhận ra những lầm lỗi của mình, để rồi sửa chữa, uốn nắn và canh tân cuộc đời. 

Lời mời gọi “Hãy trở về” cũng có nghĩa là “Hãy hồi tâm.”  Hồi tâm là một trong những thực hành quan trọng của Mùa Chay.  Việc hồi tâm phải được thực hiện trước mặt Chúa, trong tâm tình cầu nguyện và với thiện chí chừa cải. 

Hồi tâm cũng là ôn lại lịch sử đã qua.  Ông Môisen đã chỉ thị cho các tư tế Do Thái, mỗi khi dâng của lễ đầu mùa, phải nhắc lại quá khứ của dân tộc mình.  Quá khứ này vừa kể lại thuở hàn vi nghèo khổ, vừa ghi đậm dấu ấn quyền năng vô biên của Thiên Chúa.  Người Do Thái nhớ lại cha ông mình ngày xưa chịu cảnh lang thang phiêu bạt, nhờ quyền năng của Chúa, họ được định cư và phát triển đông đúc “như sao trên trời và như cát dưới biển.”  Quá khứ đã qua của dân riêng Thiên Chúa vừa huy hoàng, vừa đau khổ.  Lời cầu nguyện của tư tế cũng nhắc tới thời kỳ đen tối, dưới ách nô lệ của người Ai Cập.  Lại một lần nữa, Chúa giang cánh tay uy quyền để giải thoát họ, đưa họ về miền đất hứa.  Đó là lý do để người Do Thái, từ thế hệ này đến thế hệ khác, phải dâng của lễ để tôn vinh và tạ ơn Thiên Chúa (Bài đọc I).

Việc hồi tâm cũng giúp chúng ta lượng giá cuộc sống hiện tại, để nhờ đó, chúng ta luôn khôn ngoan thận trọng trước những cạm bẫy giăng đầy xung quanh.  Thánh Luca đã thuật lại việc Chúa Giêsu vào hoang địa.  Ở đó, Chúa cầu nguyện, ăn chay và chịu cám dỗ.  Tên cám dỗ là ma quỷ.  Nội dung cám dỗ là lời mời gọi ở ba khía cạnh: bánh ăn trong lúc đói; bổng lộc vinh hoa để quên sứ mạng thiên sai; làm những điều ngoạn mục (gieo mình từ nóc Đền thờ) để vui chơi giải trí.  Như chúng ta thấy trong trình thuật của Luca, Chúa Giêsu đã dùng Lời Chúa để đánh bại ma quỷ.

Ba cơn cám dỗ Chúa Giêsu đã trải qua cũng luôn tồn tại trong cuộc sống của chúng ta.  Quả vậy, bất kể thời nào, lứa tuổi và bậc sống nào, chúng ta cũng bị cám dỗ về ăn uống, về vinh hoa, và thử thách Thiên Chúa.  Hồi tâm chính là nhận ra những cơn cám dỗ ấy, để khôn ngoan can đảm khước từ những lời mời gọi ngọt ngào nhưng chứa nọc độc.  Cám dỗ giống như những viên thuốc độc bọc đường, bên ngoài thì đẹp đẽ, nhưng dễ dàng đầu độc và giết chết chúng ta.

 Sau khi thất bại, quỷ rút lui và chờ đợi thời cơ – Thánh Luca kết thúc trình thuật như thế.  Kể cả lúc chúng ta chiến thắng cám dỗ của ma quỷ, chúng ta vẫn phải luôn thận trọng.  Tâm tình cầu nguyện, gắn bó với Lời Chúa sẽ giúp chúng ta sức mạnh để chiến thắng những tấn công của Satan.  “Lời Chúa ở gần bạn, ngay trên miệng, ngay trong lòng.”  Sức mạnh của chúng ta đến từ Lời Chúa và vào lòng trông cậy vững vàng nơi Ngài.  “Tất cả những ai kêu cầu Danh Chúa sẽ được cứu thoát” (Bài đọc II).

 “Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin gìn giữ họ khỏi ác thần” (Ga 17, 15).  Giữa biển đời sóng gió phong ba, Chúa Giêsu biết chúng ta sẽ trải qua nhiều cám dỗ.  Người cầu xin Đức Chúa Cha, để Ngài gìn giữ các môn đệ và những ai tin vào Chúa Giêsu.  Người tín hữu không tách rời khỏi thế gian, nhưng sống giữa thế gian với sức mạnh diệu kỳ của Thiên Chúa, để rồi họ chiến thắng nhờ sức mạnh ấy.  Sống tinh thần Mùa Chay là sống tinh thần hoang địa.  Ở đó, giữa thinh lặng và trong tinh thần chay tịnh, chúng ta sẽ gặp Chúa và được đón nhận từ Ngài sức mạnh siêu nhiên, giúp chúng ta thắng cám dỗ đang vây bọc tư bề.

 Sau cùng, hồi tâm giúp chúng ta hướng về tương lai, với lạc quan hy vọng.  Chúng ta tin vào tình thương của Chúa và vào lòng nhân hậu của Ngài.  Thiên Chúa là Đấng “không nỡ bẻ gãy cây lau bị giập, không dập tắt tim đèn còn khói” (Is 42,2), có lẽ nào Ngài bỏ rơi chúng ta, khi chúng ta cậy trông phó thác nơi Ngài?

 “Điều gì tốt anh em phải đạt cho bằng được, hãy chiến đấu nếu cần.  Vậy, anh em đừng sợ cám dỗ, nhưng hãy vui mừng, bởi vì chúng đưa đến thành tựu.  Thiên Chúa phù giúp và bảo vệ anh em” (Thánh Barsanuphius)

 “Thiên Chúa như một người mẹ ẵm con trên tay bên bờ một vực thẳm.  Trong khi bà mẹ tìm cách giữ con cho khỏi nguy hiểm, thì đứa nhỏ lại cố sức để nhào xuống đó. 

Xin Chúa giúp chúng ta sức mạnh để chiến thắng cám dỗ đang bao bọc vây quanh chúng ta, để sống giữa trần gian, mà lương tâm chúng ta vẫn thanh thoát, tâm hồn chúng ta vẫn gắn bó với Chúa trọn đời.  Amen.

 TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim

CHUYỆN CON BÒ TRONG TÒA – Bài của Khanh Nguyen (Nhạc sĩ Tuấn Khanh)

CHUYỆN CON BÒ TRONG TÒA

Bài của Khanh Nguyen (Nhạc sĩ Tuấn Khanh)

Trong phiên tòa xử Tịnh Thất Bồng Lai ngày 20/7, luật sư Âu Quang Phục, người được gọi là bảo vệ cho bị hại Trần Ngọc Thảo tức ông Thích Nhật Từ, đã đặt một vấn đề với những người ở Tịnh Thất Bồng Lai, trước mặt phiên tòa, điều mà ai nấy đều phải ngỡ ngàng:

“Nếu như bây giờ tôi nói Chúa ngu như bò thì các ông thấy sao?”

Luật sư Phục đưa ra câu hỏi này, bởi đơn tố cáo vì cho là bị xúc phạm của ông Trần Ngọc Thảo, nói rằng thành viên của Tịnh Thất Bồng Lai đã phát biểu nói “Thích Nhật Từ ngu như bò”. Tức giận do bị so sánh với con bò nên ông Thích Nhật Từ đã làm đơn khởi kiện, nói bị xúc phạm danh dự cá nhân, nhất định hoàn toàn không thể là bò.

Thế nhưng câu hỏi được đặt ra mang tính đối chiếu của luật sư Phục khiến ai nấy ngỡ ngàng, thậm chí phải bật cười vì sự ấu trĩ – và phải nói rõ là ngu xuẩn về trình độ nhận thức – vì Chúa Giêsu dù được đặt ra ở bất kỳ vị trí nào cũng không hề liên quan gì với những người trong Tịnh Thất Bồng Lai.

Nhưng cần nhớ, câu hỏi kém cỏi của luật sư Phục cũng có thể đáng bị đặt vào tình trạng bị khởi tố theo Điều 116 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, điểm C “Gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người theo các tôn giáo khác nhau, chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân, với các tổ chức chính trị – xã hội”.

Chuyện cố ý đưa Đức Chúa Giêsu vào trong nội dung này chính là mang tính xúc phạm vô cớ, vì nhân vật Chúa Giêsu không liên quan đến vụ án, và không thể hiện bất kỳ sự suy luận kiến giải nào về việc so sánh ông Thích Nhật Từ ngu như bò, ngoại trừ khi ông Thích Nhật Từ tự coi mình ngang hàng với Chúa, và đặc biệt là hoàn toàn khác con bò.

Cần nói rõ là nội dung quyết định ở đây, đang được cân phân giữa ông Thích Nhật Từ và con bò, là hai thực thể rất rõ ràng.

Vấn đề là phía bị hại cần phải xác định rằng con bò có những điểm xấu như thế nào mà người ta so sánh với mình khiến mình cảm thấy bị xúc phạm, kể cả chuyện “ngu” ở mức nào là được so sánh với con bò.

Tuy vậy, ở một góc nhìn khác, việc so sánh một con người với một con vật đó là chuyện thường tình mang đầy tính văn hóa dân gian vẫn diễn ra trong xã hội, ví dụ người ta vẫn so sánh “Anh A làm việc chăm chỉ như một con ong” hoặc “Anh B suốt cuộc đời cặm cụi như một con kiến”, hoặc “Hắn làm việc như con trâu”. Sự kiện ông Thích Nhật Từ tức giận đâm đơn kiện, có thể coi là vụ kiện đầu tiên trong lịch sử tòa án Việt Nam về việc bất đồng so sánh với thú vật.

Trở lại câu hỏi rất “bò” của luật sư Âu Quang Phục, chắc chắn sẽ không ai ở phiên tòa xử Tịnh Thất Bồng Lai buồn nghĩ gì cả, vì câu chuyện này không liên quan với vụ án. Hơn nữa, câu hỏi này đầy tính khiêu khích, thể hiện chủ trương thù hằn tôn giáo.

Ông Trần Ngọc Thảo / Thích Nhật Từ trong các bài giảng của mình cũng đã có rất nhiều lần vô cớ công kích Chúa Giêsu và nội dung của tín ngưỡng Công giáo. Thế nhưng phía Công giáo Việt Nam đã đối xử với ông không khác gì người lớn thấu hiểu, nhìn thấy đứa con nít cứ chòi chọc bám đít tìm cách gây khó. Vì vậy không loại trừ là luật sư của ông Thảo cũng đã được hướng dẫn cách trình bày quan điểm so sánh tín ngưỡng như vậy ở phiên tòa này – dĩ nhiên trình bày kiểu như vậy thì rất “bò”.

——–

Ảnh: LS Âu Quang Phục, trong vòng tròn

MẶC KỆ… – Thanh Hương Trần

Thuha T. Tran

MẶC KỆ…

Thanh Hương Trần

Con à, cuộc đời này, đôi khi con phải biết mặc kệ một số người và một số chuyện!

Mặc kệ không phải con sợ hãi, nhút nhát, mà khi đó con tự tìm cho mình một lối thoát, một chút thời gian để thả lỏng bản thân, để chuẩn bị đối diện với cơn bão lớn trước mắt.

Mặc kệ, không phải là tức giận, mà đó là quên đi.

Mặc kệ, không phải là oan ức, mà đó là tha thứ.

Mặc kệ, không phải là diễn kịch, mà đó là khoan dung.

Khi con tổn thương, hãy nói với chính mình rằng: “Mặc kệ đi, coi tổn thương đó là bài học, lần sau sẽ cẩn thận hơn”.

Khi con tranh cãi với người khác, hãy nhắc nhở bản thân: “Mặc kệ đi, cãi tới cãi lui lãng phí thời gian, hao tổn tâm sức”.

Khi con đối diện với thất bại, hãy thuyết phục chính mình: “Mặc kệ đi, đạt được chưa chắc đã là phúc, mất đi chưa chắc đã là họa, tất cả là duyên vậy thôi!”.

Khi con chịu tủi thân, hãy an ủi bản thân rằng: “Mặc kệ đi, nhẫn nhịn được đó là chí khí, nhượng bộ được đó là trí tuệ, chịu tủi bây giờ, sau này may mắn sẽ tới”.

Một câu đơn giản “Mặc kệ đi” kỳ thực chẳng đơn giản chút nào, cần phải nỗ lực buông bỏ, cần phải thực lòng giải thoát, cần một tấm lòng khoan dung rộng lượng, cần đủ dũng khí để đối diện.

Mặc kệ đi! Đó không phải là thỏa hiệp, mà là một loại tâm thế.

Mặc kệ đi! Đâu phải là bị khuất phục, đó là sẵn sàng từ bỏ. Là an ủi, cũng là tha thứ, là dũng khí và cũng là sự kiên cường.

Chỉ cần cuộc sống bình an, chỉ cần thân thể khỏe mạnh, chỉ cần ngày qua ngày lạc quan vui vẻ, gia đình hoà thuận, mất đi một chút thì có là gì, tiền tài không đủ thì có làm sao. An trú trong tâm hồn mới là điều quan trọng nhất.

Mặc kệ đi, giải thoát cho chính mình!

NAM MÔ ĐẠI BI QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT NAM MÔ ĐẠI BI QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT NAM MÔ ĐẠI BI QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT

Ghi chú thêm: Thiền sư Hakuin Ekaku (1686-1768): với hai tiếng Thế à.!

https://phatgiao.org.vn/thien-su-nhat-chi-noi-dung-2-tu-khi-bi-thi-phi-d30707.html