NGÀY HẠNH PHÚC NHẤT LÀ NGÀY NÀO?

Kẻ Đi Tìm

NGÀY HẠNH PHÚC NHẤT LÀ NGÀY NÀO?

Khi hoàng đế Napoléon của Pháp, người hùng chinh phục cả Âu châu, bị đày sang đảo Sainte Hélène, người viết tiểu sử của ông vẫn theo ông sát cánh.

Đối với anh chàng viết tiểu sử này, mỗi chi tiết trong cuộc đời của Napoléon đều đáng ghi nhớ, không một biến cố nào là nhỏ cả và không ngày nào là không được lưu ý.

Một hôm, biết rằng ngày tận cùng của Napoléon sắp đến, chọn một giây phút Napoléon cảm thấy thoải mái nhất, người viết tiểu sử hỏi hoàng đế: “Thưa ngài, xin ngài cho biết trong suốt cuộc đời của Ngài, ngày nào là ngày hạnh phúc nhất?”.

Napoléon không trả lời ngay, quay đầu ra cửa sổ, nhìn biển xanh thăm thẳm phía xa một hồi, đoạn thở dài và quay lại chậm rãi nói với người viết tiểu sử của ông: “Tôi nhớ, tôi nhớ rất rõ, ngày hạnh phúc nhất trong đời của tôi đã xảy ra cách đây lâu lắm rồi, khi tôi còn bé, đó là ngày tôi rước lễ lần đầu”.

Trước kinh nghiệm của Napoléon, chúng ta nhìn thấy mặc dù có danh vọng, giàu sang và tình yêu đến tuyệt đỉnh cũng không mang lại hạnh phúc đích thực cho con người, nếu vắng bóng Thiên Chúa

(Theo Nguyễn Văn Thái, Sống Lời Chúa giữa dòng đời, năm C, tr. 91).

N G Ư Ờ I Y Ê U M À U T R Ắ N G

Quyên Di

 

 

 

 

 

 

 

 

 

N G Ư Ờ I Y Ê U M À U T R Ắ N G

Bạn tôi yêu màu trắng nên những vật dụng bạn dùng, áo quần bạn mặc thường là màu trắng. Những ngày mùa Xuân, bạn tôi mặc bộ quần áo bằng lụa trắng, ngồi ngoài vườn, dưới gốc cây mơ cổ thụ nở đầy hoa trắng, trông bạn tôi và cảnh vật đẹp như một bức tranh.

Có nhiều người khác cũng yêu thích màu trắng như bạn tôi. Có người yêu màu trắng, vì đó là màu áo của y khoa, của những con người nhân ái cúi xuống vết thương đau đớn của đồng loại, cố gắng với thiện tâm của mình, làm giảm đi cơn đau và làm khô đi những dòng nước mắt. Có người yêu màu trắng qua hình ảnh những nữ tu áo trắng, dịu dàng, thánh thiện, những nữ tu “bước giữa đời mà mắt ngắm trăng sao.” (*) Rất nhiều người khác yêu màu trắng vì yêu kỷ niệm, vì ôm ấp mãi trong trái tim mình hình ảnh của tuổi thơ áo trắng tung bay, ngày ngày cắp sách đến trường. Và người ta có hàng trăm lý do khác nhau để yêu thích màu trắng.

Phần tôi, tôi yêu màu trắng vì đó là màu bụi phấn. Vì yêu, tôi miệt mài trong đêm để soạn bài, chấm bài. Vì yêu, tôi đem chữ nghĩa, văn chương vào lớp học, làm cho lóng lánh lời vàng ý ngọc của những bài thơ, đoạn văn mượt mà, hoa mỹ.

Màu trắng mang nhiều ý nghĩa đẹp và dễ thương.

Trước hết, màu trắng là màu của trinh bạch. Tấm giấy trắng chưa một vết mực là hình ảnh của một tâm hồn tuổi thơ còn trong trắng. Ngày em bé được bế đến nhà thờ chịu phép Rửa Tội, em thường được cha mẹ mặc cho bộ quần áo trắng; và vị linh mục, người ban phép Rửa Tội cũng khoác lên người em một tấm khăn trắng, tượng trưng chiếc áo trắng tâm hồn của em. Tặng một cành hoa trắng, người ta muốn nói với người nhận hoa rằng “tôi dành cho người một tình cảm trong sạch.” Thực là đẹp, nếu suốt cuộc đời, người ta giữ được vẻ trinh trắng của chiếc áo tâm hồn ngày chịu phép Rửa Tội; và cũng thật dễ thương nếu tình cảm người ta dành cho nhau mãi mãi trong sạch như cành hoa trắng mộng.

Màu trắng còn là màu của bác ái, màu của một tình yêu mênh mông, không biên giới nào ngăn cản được. Người sống với tình bác ái, trái tim không chất chứa bất cứ một điều gì đen tối. Trái tim đó “không ghen tị, không khoe khoang, không kiêu kỳ, không tìm tư lợi, không giận dữ, không mưu mô gian ác, không vui khi thấy sự bất công…” (I Corinto 13:4-6.) Trái tim ấy thơm ngát tình người và tình trời.

Màu trắng là màu của bình an, hoà chứ không chiến. Lá cờ trắng kéo lên trong trận chiến mang ý nghĩa một sự cầu hoà, không muốn chiến tranh gây hấn nữa. Từ đó, người ta cũng có thể suy ra rằng màu trắng còn là màu của khiêm nhường. Khiêm nhường để nhìn nhận giới hạn của mình, vì thế mà không muốn tranh hơn tranh thắng.

Màu trắng, hơn nữa, là màu của sự hoà hợp và chấp nhận. Trong nghệ thuật hội hoạ, màu trắng hoà hợp được với tất cả các màu khác. Nói khác đi, nó chấp nhận bất cứ màu nào đứng cạnh nó, không từ chối một màu nào. Bạn tôi nói rằng: mặc một bộ quần áo trắng, ta có thể cài bất cứ chiếc nơ màu nào, đi bất cứ đôi giày màu nào. Tôi tự nghĩ: nếu bất cứ người nào yêu thích màu trắng đều học được tính hoà hợp và chấp nhận người khác, như màu trắng hoà hợp và chấp nhận được mọi màu sắc, thì người ấy đẹp đẽ và dễ thương biết ngần nào.

Thật ra, không phải tự nhiên mà màu trắng có thể hoà hợp và chấp nhận được mọi màu. Tự bản chất, màu trắng là tổng hợp của những màu khác. Quay tròn một chiếc đĩa giấy, trên đó vẽ bảy múi màu chính: đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím, người ta sẽ thấy những màu đó biến mất, chúng hoà lại với nhau, trở thành màu trắng. Như thế, tận trong bản chất, màu trắng đã chứa đựng các màu khác. Tôi nghĩ, người sẵn sàng hoà hợp và chấp nhận người khác cũng như thế: không phải họ chỉ cố gắng cho có vẻ bên ngoài, nhưng trong tận cùng tâm hồn, họ phải chứa đựng hình ảnh của tất cả mọi người, lòng họ đủ quảng đại để bao dung tất cả mọi người.

Tuy nhiên, màu trắng cũng có khuyết điểm: nó dễ bị ảnh hưởng của những màu khác. Giặt một mớ quần áo lẫn lộn, khi lấy ra, những chiếc áo trắng có thể đã bị loang lổ vì màu sắc của những chiếc áo khác phai qua. Người có “tâm hồn màu trắng” có lẽ cũng phải cẩn thận khi sinh hoạt, chung đụng với những người khác, kẻo sẽ chịu ảnh hưởng không tốt của tha nhân.

Tôi dừng sự suy tư về màu trắng của mình ở ý nghĩ: màu trắng, một màu tưởng như không là gì, lại là màu thắng được tất cả các màu khác, dung chứa được tất cả các màu khác. Điều ấy nhắc nhở tôi rằng: sống hiền lành, khiêm nhường, chân thật, bác ái, hoà hợp, chấp nhận người khác… không phải là lối sống ủy mị, khiếp nhược, nhưng thực ra là cách sống hào hùng, cách sống đưa tới sự lôi cuốn và chinh phục.

Bởi thế, mỗi khi nhìn ngắm một bông hoa trắng, tôi lại nhớ đến bạn tôi, người yêu màu trắng. Bạn tôi, thể xác trông mảnh mai yếu đuối nhưng lại có một tấm lòng rộng mở, một ý chí kiên cường và một lòng bác ái vô biên. Tôi cầu mong tôi cũng như tất cả những ai yêu màu trắng học được những bài học quý giá của màu trắng ấy.

Quyên Di

(*) Ý tưởng của Giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch

Hình ảnh: mượn trên internet

“ĐƯỢC ĐI HỌC THÌ ĐỪNG ĂN CẮP! “

Hồi ký [ trích ]

Ngôi nhà nhỏ trên đường Điện biên Phủ Quận 3

Đây là nơi ông tạm trú mỗi khi về Việt Nam.

Người đàn ông tóc bạc , đi đứng chậm vì tuổi tác và có lẽ vì sức khỏe hao mòn những ngày lao tù , cải tạo.

Ông tội gì ? tôi không thể biết , cái tôi biết ông là một người làm sách .

Một người góp phần trong giáo dục

Người Sài Gòn gọi ông là ông Khai Trí

Tên thật ông là Nguyễn Hùng Trương.

………

Nhà sách lúc nào cũng đông , kệ sách cho ấn phẩm dành cho thiếu nhi , tuổi mới lớn mang tên Tuổi Hoa ở ngay cửa ra vào cho thuận tiện các độc giả “ đọc cọp “ tại chỗ nếu không có tiền mua.

Tôi đã thi xong Tú Tài 1

Khu vực sách của tôi thường là khu vực sách văn học [ tránh xa kệ sách toán học ]. Mỗi chiều tôi thường nhảy xe buýt , đi bộ một quãng trên hè phố tới Khai Trí

Và chúi mũi vào những cuốn sách, tác phẩm văn chương có khi còn thơm mùi mực. “ đọc cọp “ nghĩa là đứng đọc tại chỗ tới giờ về thì gấp một góc sách làm dấu, mai đến đọc tiếp.

Tiểu thuyết [Tự Lực Văn Đoàn] thì đọc kiểu ấy

Thơ các tác giả tiền chiến thì chỉ còn một cách duy nhất : học thuộc lòng.

Sao vất vả thế?

Sao khổ thế?

Rất đơn giản nếu không đủ tiền mua .

Và cho dù học thuộc lòng có những tập thơ tôi thèm mang về tới nỗi phải ĂN CẮP NÓ . không còn cách khác.

Ăn cắp một lần trót lọt

Hai lần trót lọt

Lần ba không còn vận may

thế là bị nhân viên nhà sách túm gọn. a lê hấp ! mời chú mày lên tầng 2 nơi giám đốc Nguyễn Hùng Trương ngồi

Cuộc thẩm vấn diễn ra ngắn gọn

– Cậu học lớp mấy ? trường nào ? sao ăn cắp sách ?

Đứa học trò sợ tái mặt, tội ăn cắp rất lớn , không còn danh dự , không còn gì cả nếu nó được báo về nhà , về trường…

– Cháu không có tiền mua, xin Bác tha cho…

– Ông Khai Trí im lặng quan sát đứa học trò mặt đang cúi gằm xuống chân không dám nhìn thẳng . Ông ôn tồn “ thôi được ,coi tên cậu không có trong sổ này , cậu vi phạm lần đầu tôi tha cho , chỉ dặn cậu được đi học thì đừng ăn cắp !

………

Ông già gầy gò với mái đầu bạc phơ chậm rãi mở ra cuốn sổ ông chép sẵn một bài thơ . bài “ Quê Hương “

– Xin anh ký tên vào cho . xin cảm ơn nhà thơ !

Tôi nhìn ông và hỏi “ Bác không nhớ cháu ư ? cháu là đứa ngày xưa ăn cắp sách , phải gặp bác trên tầng 2…” ông lắc đầu “ xưa nhiều cậu lấy sách lắm tôi làm sao nhớ nổi . xin nhà thơ ký cho tôi nhé ! “

Tôi ký tên trong nỗi niềm thổn thức và ôm lấy vai ông

“ĐƯỢC ĐI HỌC THÌ ĐỪNG ĂN CẮP! “

HIẾM CÓ LỚI RĂN DẠY NÀO ĐI THEO TÔI SUỐT ĐỜI NHƯ THẾ THƯA ÔNG !

Vài năm sau ông qua đời …

Nguồn : Nhà thơ Đỗ Trung Quân

From: TU-PHUNG

VÌ SAO GỌI LÀ CON GÁI RƯỢU?!

VÌ SAO GỌI LÀ CON GÁI RƯỢU?!

Vào thời Tống, có một người thợ may lành nghề ở Thiệu Hưng khi biết tin vợ có thai đã rất mừng, hy vọng đứa bé là con trai để sau này nối nghiệp mình. Ông liền đặt người nấu hai chục hũ rượu nếp to, để dành cho ngày ăn đầy tháng đứa trẻ. Đến khi người vợ hạ sinh một bé gái, ông thất vọng và quyết định không tổ chức lễ đầy tháng linh đình nữa, bèn chôn phần lớn các hũ rượu kia xuống gốc cây hoa mộc trong vườn và quên bẵng. 

 Thời gian thấm thoắt trôi đi, bé gái đã trở thành một thiếu nữ. Không chỉ xinh đẹp, cô gái còn rất khéo tay và thông minh. Cô học được hết các kỹ thuật thêu thùa, may vá, quản lý sổ sách và làm cho hiệu may làm ăn phát đạt hẳn lên, phải thuê thêm người làm. Ông thợ may khi đó mới hiểu ra rằng cô con gái mình thật là báu vật trời cho. Ông tìm cách sắp đặt cho con gái lấy người thợ học việc giỏi nhất của mình để sau này cửa hiệu vẫn được người nhà duy trì. 

 Đám cưới diễn ra linh đình. Khách khứa ra vào tấp nập, cỗ bàn bày chật sân. Do đông khách quá nên đang ăn uống thì hết rượu. Bí quá, ông chủ hiệu may mới nhớ ra những hũ rượu chôn dưới gốc cây ngày xưa. Ông vừa đào lên vừa thấp thỏm, không biết sau mười tám năm, rượu có còn uống được hay không? Mới mở nắp hũ rượu ra thì một mùi thơm ngọt ngào tỏa khắp căn nhà. Khách mời dùng thử đều tấm tắc khen rằng đây đúng là loại rượu ngon nhất từ trước đến giờ họ từng uống. Câu chuyện sau đó được truyền tụng, dần dần trở thành truyền thống ở Thiệu Hưng. Hễ nhà nào sinh được con gái thì sẽ hạ thổ rượu trong vườn, đến khi con gái đi lấy chồng thì mới lấy lên dùng trong tiệc cưới. 

 Rượu này gọi là “Nữ nhi tửu” hay “Nữ nhi hồng” (vì trang trí hũ rượu mầu đỏ mừng cưới). Từ đấy mà sinh ra thuật ngữ “con gái rượu” nhằm chỉ cô con gái được yêu quý, khi đi lấy chồng thì cha mẹ phải “tốn” rất nhiều “rượu con gái” quý giá.

 Bài sưu tầm

From: TRUONG LE

CHỐN DUNG THÂN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

CHỐN DUNG THÂN

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Thân lạy Chúa, Ngài là chỗ chúng con dung thân, từ đời nọ trải qua đời kia!”.

O. Hallesby nói, “Tôi có thể nhịn ăn nhiều ngày, nhưng không thể nhịn cầu nguyện một ngày. Cầu nguyện là phương thế mà tôi nhận được tất cả những gì tôi cần. Chỉ vì một lý do, Chúa là ‘chốn dung thân’ trọn cuộc đời tôi, mọi phút giây cuộc sống tôi. Ngài là nguồn vui phong phú và sức mạnh vô tận của tôi. Dung thân nơi Ngài, tôi có thể làm cho Ngài nhiều điều vĩ đại!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Trước cả O. Hallesby, tác giả Thánh Vịnh đáp ca của Chúa Nhật hôm nay cũng đã tìm thấy nguồn vui phong phú và sức mạnh vô tận của mình nơi Chúa, “Thân lạy Chúa, Ngài là chỗ chúng con dung thân, từ đời nọ trải qua đời kia!”. Vì thế, dù cho cuộc sống con người có ngắn ngủi, chỉ như một giọt nhỏ giữa đại dương thời gian; nhưng trong quảng tồn tại vắn vỏi đó, bạn vẫn có thể “làm nhiều điều vĩ đại” cho Chúa nếu biết chọn Ngài làm ‘chốn dung thân’.

Bài đọc Khôn Ngoan nói đến sự sâu nhiệm khôn dò của Thiên Chúa, “Ai trong loài người có thể biết được ý định của Chúa?”. Vậy mà, khi phó mình cho Ngài, chọn Ngài làm ‘chốn dung thân’, chúng ta sẽ hiểu biết Thiên Chúa, sẽ yêu mến Ngài; nói cách khác, chúng ta cho phép Thánh Thần của Ngài đi vào và ở lại trong chúng ta, thôi thúc chúng ta bằng tình yêu và lẽ thật; lúc ấy, chính Thánh Thần sẽ dạy chúng ta phụng sự Thiên Chúa, “làm nhiều điều vĩ đại” cho Ngài.

Một khi đã chọn Chúa làm ‘chốn dung thân’, thì Ngài sẽ là ưu tiên số một của cuộc đời chúng ta. Chúa Giêsu nói rất rõ trong Tin Mừng hôm nay, “Ai đến với Tôi mà không dứt bỏ vợ con, anh chị em và cả mạng sống mình nữa thì không xứng đáng làm môn đệ Tôi”. Dạy như thế, Ngài muốn nói, bạn và tôi chỉ yêu một điều; đúng hơn, một người, cách tuyệt đối; đó chính là Thiên Chúa! Tất cả các tình yêu khác đều phải đến sau và phục vụ cho tình yêu tối thượng này.

Ngài còn nói thêm, “Ai không vác thập giá mình mà đi theo Tôi, thì không thể làm môn đệ Tôi!”. Một sứ điệp khó nuốt! Phải. Đó là điều Chúa Giêsu yêu cầu tôi phải “ngồi xuống và quyết định” nếu muốn đi theo Ngài và “làm nhiều điều vĩ đại” cho Ngài. Không có một giải pháp nào khác! Vậy cụ thể vác thập giá mình là gì? Là vác lấy những bất ưng trong cuộc sống, là chọn đi con đường hẹp của Tin Mừng, con đường mà chính Chúa Giêsu đã đi; là vác lấy vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của thế giới, của nhân loại; cả thân xác lẫn linh hồn anh chị em mình.

Trong bài đọc thứ hai, Phaolô mời gọi Philêmôn “làm một điều vĩ đại!”. Đó là vác lấy Ônêsimô, trước đây là một nô lệ của Philêmôn. Phaolô viết, “Xin anh hãy đón nhận nó như người ruột thịt của tôi”. Chọn Chúa làm ‘chốn dung thân’, chúng ta hẳn cũng trở nên ‘chốn dung thân’, “làm điều vĩ đại” cho anh chị em mình! Mẹ Têrêxa Calcutta nói, “Chúa không gọi con để làm những việc phi thường, Chúa gọi con để làm những việc tầm thường với một trái tim phi thường”, Mẹ đã trở nên một con người phi thường làm những điều vĩ đại cho thế giới trong thế kỷ 20!

Anh Chị em,

“Thân lạy Chúa, Ngài là chỗ chúng con dung thân, từ đời nọ trải qua đời kia!”. Đây là một lời cầu nguyện chân thành, cũng là tâm tình của một người đã có những trải nghiệm sâu sắc trong tương quan của họ với Thiên Chúa, với con người. Đó là những ai đã xác tín, “Cậy vào thần thế vua quan, chẳng bằng ẩn náu ở bên Chúa Trời”. Điều này đáng cho chúng ta suy nghĩ! Chúa là ai mà chúng ta tìm dung thân? Chúa là ai mà đòi hỏi con người phải yêu mến trên hết, trước hết như thế; Ngài đòi chúng ta yêu Ngài hơn cả gia đình, hơn cả chính bản thân; Ngài là ai để khi dung thân bên Ngài, con người mới có thể làm những điều vĩ đại? Thiên Chúa Là Tình Yêu! Hãy nhìn vào Chúa Giêsu, Thiên Chúa là Đấng Ngài đã chọn làm ‘chốn dung thân’; nên dù trải qua thập giá và cả cái chết trọn nghĩa bóng lẫn nghĩa đen; Chúa Giêsu đã thực hiện “một điều vĩ đại hơn tất cả các điều vĩ đại”, trở nên căn nguyên ơn cứu độ đời đời cho muôn người.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, không dung thân nơi Chúa, con sẽ tìm dung thân nơi các thứ không phải Ngài. Cho con luôn gắn bó với Chúa, ‘chốn dung thân’, và con cũng làm nên những điều vĩ đại!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: KimBangNguyen

Bạn Biết Gì Về Bình Thản ?

Van Pham

GÓC SUY GẪM

Bạn Biết Gì Về Bình Thản ?

Mình khổ chẳng qua là vì mong mọi vật, mọi việc diễn ra theo ý mình.

Chim có đường bay của nó,

Cây có hướng mọc của cây .

Mỗi người có cách hành xử của riêng họ.

Có những chuyện, cần hờ hững thì hờ hững, điều gì không làm rõ được thì không cần làm rõ. Người nào cần lấn lướt mình thì cứ mặc cho họ lấn lướt.

Nhiều chiếc xe trên đường qua mặt xe mình nhựng rốt cuộc thì họ về nhà họ, mình về nhà mình, hơn thua nhau chi những cái nhấn chân ga trên đường, rốt cùng đều trở thành vô nghĩa ?

Muốn nhẹ lòng, hãy từ bỏ những phán xét người khác và biết chấp nhận mọi điều xung quanh, ngay phút đó bình yên trong cuộc sống tràn về..

Cuộc đời, nếu như chỉ biết nhớ không biết quên, chỉ biết tính toán mà không biết cho qua, chỉ biết khôn khéo mà lại không biết vụng về… sẽ chỉ làm cuộc sống của chúng ta luôn nặng nề, phiền não.

Con người đến độ tuổi nào đó, tự nhiên không còn thích những gì ồn ào náo nhiệt, tâm thái bình thản giúp cho cơ thể khỏe mạnh, kéo dài tuổi thọ. Mặc kệ là đời sống vật chất dư dả hay bần cùng, chỉ cần nội tâm bình thản, chính là biết sống một cuộc đời hạnh phúc.

Đỉnh cao nhất của tâm thái con người không phải là vô dục vô cầu, vô ái vô ngã, mà là hiểu được hai chữ “BÌNH THẢN”.

Để đạt được 2 chữ “bình thản” khó gấp trăm vạn lần “đi tu”.

Đi tu thì vào chùa, mọi thứ được cái vỏ bọc bên ngoài che chắn, bảo vệ. Tự mình mỗi ngày ép mình vào khuôn khổ để khống chế bản thân mà vượt qua hỉ nộ ái ố đời thường.

Nhưng người bình thường mà muốn sống bình thản thì lại gian khó hơn nhiều.

– Người bình thản là vẫn yêu thương say đắm, nhưng nếu có mất mát lòng vẫn có thể bình thản xem như đó là định luật hợp tan của cuộc sống.

– Người bình thản là vẫn làm việc chăm chỉ, mưu cầu hạnh phúc, nhưng không vì tiền mà làm trái đạo đức, trái lương tâm.

– Người bình thản là ăn uống chỉ cần no bụng, không cầu kỳ, đòi hỏi, không ăn chay, không ăn mặn, có gì ăn đó. Có ăn là được.

– Người bình thản khi gặp việc trái ý, không giận dữ, không tuyệt vọng, không nản chí. Họ chỉ thản nhiên xử lý hết khả năng. Nếu không được, thì buông, xem như đã hết duyên với việc cần làm.

– Người bình thản, sống đơn giản, quần áo, mọi thứ có gì mặc đó, hợp hoàn cảnh, lịch sự không làm cho bản thân khó chịu, không ảnh hưởng đến người xung quanh là được.

– Người bình thản thấy việc tốt thì làm, làm tất cả những việc trong tầm tay, không nhất thiết chạy theo từ thiện hay làm người tốt. Chỉ cần những việc rất nhỏ như bỏ rác đúng chỗ, lên tiếng khi thấy bất công, ngăn cản việc xấu. Và khi đã làm hết sức, không được cũng không cần quá cố gắng ép bản thân.

– Người bình thản là người như dòng nước. Mỗi ngày chảy xuống, thuận theo sự xô đẩy của cuộc đời, là ao tù cũng được, là biển cả cũng xong, mỗi ngày trôi qua bình bình, yên yên là được…

Chắc chắn một điều, nếu sống đến 80 hay 100 năm, khi ngoảnh đầu nhìn lại quá khứ bạn sẽ thấy những thành, bại, nên, hư, vinh, nhục…(mà bạn quá quan trọng lúc bấy giờ), tất cả đều sẽ là sương khói, mơ hồ như giấc mộng đêm qua…

Tổng hợp

Chắc gì chỉ có Tân Hoàng Minh và FLC?

Chắc gì chỉ có Tân Hoàng Minh và FLC?

Đỗ Ngà – Năm 2020, doanh nghiệp Bất động sản phát hành trái phiếu doanh nghiệp chiếm 38% tổng nguồn vốn thị trường trái phiếu doanh nghiệp, trong khi đó ngành sản xuất chiếm 6%, ngành năng lượng chiếm 8%. Tuy nhiên, đến năm 2021, doanh nghiệp bất động sản chiếm đến 40% nhưng ngành sản xuất chỉ còn 3% và ngành năng lượng chỉ chiếm 5%. Nghĩa là doanh nghiệp bất động sản phát triển phình ra rất nhanh trong khi đó ngành sản xuất và năng lượng lại teo tóp. Nguyên nhân là do đâu?

Như tôi đã có phân tích trước đây, hàng loạt doanh nghiệp bất động sản lâm nợ đến mức vay ngân hàng không được, và ngân hàng đã cấu kết doanh nghiệp bảo lãnh phát hành trái phiếu thông qua ngả “phát hành chui” (tức không niêm yết). Vì lỗ hổng pháp lý của thị trường trái phiếu quá lớn nên các doanh nghiệp mất khả năng trả nợ vẫn phát hành trái phiếu bán ra cho dân thu tiền thanh toán nợ ngân hàng và còn ít đầu tư. Sau đó, họ thổi giá bất động sản lên để đẩy hàng đi để kiếm lời khỏa lấp khoản nợ khổng lồ.

Đó là thủ thuật đánh quả của các doanh nghiệp bất động sản. Các doanh nghiệp sản xuất thì không dám làm như thế vì họ không thể thổi giá sản phẩm để bán kiếm siêu lời nhằm bù đắp khoản nợ như các doanh nghiệp bất động sản thổi giá nhà. Chính vì thế ngành sản xuất không lớn nổi và ngành sản xuất không lớn thì năng lượng cũng không lớn. Việc các doanh nghiệp bất động sản phát triển như vũ bão ở cả số lượng doanh nghiệp lẫn quy mô vốn điều lệ là dấu hiệu bất thường. Nếu nền kinh tế mạnh thì tại sao các doanh nghiệp sản xuất và năng lượng không lớn nhanh như doanh nghiệp bất động sản? Đấy là dấu hiệu bong bóng rất rõ.

Thị trường trái phiếu doanh nghiệp có lỗ hổng cực lớn, hổng đến nỗi 80% doanh nghiệp phát hành không niêm yết ung dung “bán giấy lộn” hốt tiền dân. Những doanh nghiệp này được gọi là doanh nghiệp 3 không “không tài sản đảm bảo, không xếp hạng tín nhiệm và không bảo lãnh thanh toán”. Trong đám “3 không” ấy, Chính quyền bắt con “ 3 không” Tân Hoàng Minh ra “xẻ thịt” thử trong đó có gì? Và kết quả thật kinh hãi, trong ruột chả có gì ngoài nợ. Doanh nghiệp làm ăn thua lỗ nên phát hành trái phiếu để hốt tiền trả nợ và đầu tư. Giờ bắt Tân Hoàng Minh trả lại tiền cho các trái chủ (mà đúng hơn là khổ chủ) thì họ vét “sạch túi” chỉ đủ thanh toán 20% khoản nợ. Hốt tiền khổ chủ trả nợ hết trơn, còn lại bao nhiêu đâu mà hoàn trả lại được cho các khổ chủ chứ?

Đấy là thị trường trái phiếu, còn thị trường cổ phiếu thì chả khác gì mấy. Chính quyền bắt con cá trương đối lớn trong thị trường cổ phiếu là FLC ra mổ xẻ thì cuối cùng, bên trong nó còn kinh hơn cả con cá Tân Hoàng Minh bên thị trường trái phiếu. Trịnh Văn Quyết đã thổi từ 1,5 tỷ lên đến 4.500 tỷ bằng cách bán giấy lộn cho người dân để thu tiền thật.

Nếu không có kẽ hở khổng lồ ở thị trường trái phiếu thì làm sao Đỗ Anh Dũng của Tân Hoàng Minh có thể lọt lưới để lừa dân bán “giấy lộn” lấy tiền? Nếu không có lỗ hổng khổng lồ trên thị trường cổ phiếu thì làm sao Trịnh Văn Quyết của FLC lấy “giấy lộn đổi tiền”?. Đã là lỗ hổng pháp lý, lỗ hổng bởi năng lực bộ máy chính quyền thì đám cá d bơi dày đặc ở thị trường chứng khoán ngoài kia không phải là “cá mè một lứa” thì đó là gì? Đã là lỗ hổng thì con này chui qua được thì con khác cũng chui. Đặc biệt là các con cá bất động sản, chúng có biểu hiện rất giống nhau đó là tốc độ lớn của vốn điều lệ còn nhanh hơn cả… Thánh Gióng.

Có lẽ chính quyền CS không dám bắt những con cá lớn trên thị trường chứng khoán như Vingroup, Sunggroup ra “xẻ thịt”. Vì nếu xẻ mà bên trong nó “cùng một giuột” như FLC thì thị trường chứng khoán sụp đổ. Vậy nên, rất có khả năng chính quyền im luôn, cứ để dân cầm giấy lộn mà tưởng tài sản còn hơn. Thị trường chứng khoán Việt Nam thực sự như đang xây lâu đài trên cát, rất rủi ro cho nhà đầu tư./.

-Đỗ Ngà-

“Người Ba-na ở Kon Tum”: Cuốn sách từ một chuyến đi để đời

ĐỌC SÁCH CÙNG ĐOAN TRANG

“Người Ba-na ở Kon Tum”: Cuốn sách từ một chuyến đi để đời

Không làm nhà quá to, không phát rẫy quá rộng.

On  30/08/2022

By  AN NAM

Ngày nay, người ta hầu như đi du lịch một cách vội vã, không có chiều sâu. Ngoài một số bức ảnh và hương vị một vài món ăn, người ta không còn biết gì nữa về vùng đất mình mới đến.

Bố mẹ không có ý thức tìm hiểu về điểm đến du lịch dẫn đến con cái cũng xem thường việc hiểu biết về những vùng đất xa lạ. Dần dà tạo ra một thế hệ thiếu hiểu biết về chính quê hương của mình. Điều này có gì nguy hiểm?

Người thiếu hiểu biết về đất nước của mình sẽ thấy lạc lõng, kém thích nghi với những vùng đất mới. Họ thiếu tự tin hoặc tự tin thái quá khi tiếp xúc với những cộng đồng dân cư xa lạ. Đó là ở mức độ cá nhân. Nếu đó là một quan chức nhà nước, sự thiếu hiểu biết sẽ gây nên những đổ vỡ, xung đột khốc liệt do thực thi những chính sách sai lầm.

Đứng trước một vùng đất mới, tôi thường hình dung nơi này của một trăm năm trước từng như thế nào. Người ta đã sinh sống ra sao, đã trải qua những biến cố gì? Những câu hỏi tưởng như đơn giản nhưng sẽ đem đến nhiều điều thú vị cho chuyến đi.

Nếu đến Kon Tum, “Người Ba-na ở Kon Tum” – với tựa gốc là “Mọi Kon Tum” – sẽ là một cuốn sách không thể thiếu trong hành lý của tôi. [1]

Cách đây 89 năm, một vị bác sĩ người Việt được chính quyền Pháp phái lên Kon Tum để trông nom một nhà thương. Sự tò mò đã khiến ông dùng thời gian nhàn rỗi của mình để nghiên cứu về một dân tộc bản địa mà người Việt khi ấy gần như biết rất ít ỏi.

Không lâu sau, vị bác sĩ gọi người em ruột của mình lên Kon Tum để cùng nghiên cứu. Người em đó hàng ngày đi vào các bản làng người Ba-na, cùng chơi, ăn, ở với người bản địa để thu thập tư liệu thực tế. Sau ba năm ròng rã như vậy, cuốn sách mang tựa đề nguyên bản “Mọi Kontum” của bác sĩ Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi được viết xong. Một năm sau, vào năm 1937, cuốn sách được phát hành tại Huế.

Công sứ tỉnh Kon Tum Paul Guilleminet đã đề tựa cho cuốn sách này. Vị công sứ đã khen ngợi hai anh em tác giả về sự dày công khám phá những điểm giống nhau giữa người Ba-na và người Việt với những chứng cứ xác thực.

Thời nay, người ta thậm chí còn dành nhiều định kiến cho các sắc tộc bản địa. Điều đó cũng xuất phát từ việc lười tìm hiểu, thích áp đặt định kiến. Nhưng nếu có ai đó muốn tìm hiểu về những sắc tộc bản địa ở Tây Nguyên để thoát khỏi định kiến của mình thì cuốn sách này thật phù hợp.

Đây là một cuốn sách mẫu mực về dân tộc học, nhưng bạn đừng vội lo rằng nó khô khan hay khó hiểu. Lật từng trang sách, bạn sẽ thấy cách truyền tải của tác giả rất lôi cuốn, như thể đưa bạn đi từng bước một vào những ngôi làng Ba-na sống động, đến với trái tim và tinh thần của tộc người bản địa này.

Nội dung chính của sách chỉ khoảng 160 trang, bạn có thể đọc xong cuốn sách chỉ trong một ngày. Sách được chia ra làm hai phần.

Phần thứ nhất giới thiệu chung về địa lý, dân cư, chính trị và kinh tế của tỉnh Kon Tum. Một trong những ấn tượng của tôi trong phần này là tác giả tường thuật lại việc người Việt đã bắt đầu sinh sống ở Kon Tum như thế nào.

“Ở trên Kon Tum, người Annam ta lên sinh cơ lập nghiệp đã 85 năm nay [khoảng năm 1848]. Đường rừng là nơi ma thiêng nước độc, có mấy ai dám mạo hiểm. Chỉ vì đời vua Tự Đức, Triều đình bắt đạo riết quá, có một nhóm người giáo dân theo các cha cố lên Kontum lánh nạn”.

Tác giả thuật lại về cách ăn mặc của những người Việt ở Kon Tum: “Người Huế vẫn ăn bận theo lối Huế, đàn bà thường bận áo mùi [áo màu], quần trắng, tóc vấn, đội nón Kinh. Người Bình Định thì bận áo quần lĩnh hay vải thâm, tóc búi, bịt khăn xéo, cột múi ra trước trán hay sau gáy, đội nón Gò Găng”.

Trong phần thứ hai, tác giả đưa người đọc vào thế giới sống động của người Ba-na vốn được tổ chức thành từng làng, “mỗi làng Bahnar là một tiểu quốc gia hoàn toàn độc lập, không phục tùng dưới quyền thống trị nào khác”.

Trong phần thứ hai này, bạn sẽ được chứng kiến những triết lý tín ngưỡng đặc sắc của người Ba-na như về các vị thần, nhờ thần chỉ chỗ để phát rẫy, giao tế với thần linh hay quan niệm của họ về sở hữu vật chất.

“Người Bahnar cũng tin số mạng như người Annam ta; họ gọi là ai hay là Pun ai… Bởi vậy cho nên người Bahnar không bao giờ làm một cái nhà quá to, phát một đám rẫy quá rộng; ông bà làm sao con cháu cứ làm vậy.”

Bạn cũng có thể ngạc nhiên khi biết rằng người Ba-na không có nhà tù, “hình phạt chỉ có hai phép này: pơsơru (bồi thường) và pơkra (tạ lỗi)”. Đó là luật tục của các sắc tộc Tây Nguyên mà người Pháp từng cho phép thành lập các tòa án phong tục dành riêng cho người Thượng.

Nội dung của phần thứ hai còn có các vấn đề khác được trình bày chi tiết như cách tổ chức đời sống của người Ba-na, nhiều chi tiết rất thú vị như cách họ đối xử với đầy tớ.

“Annam ta nuôi đầy tớ thì trăm công, nghìn việc đều giao cho nó cả. Người Bahnar thì không thế. Theo tục họ, công việc đàn ông, đàn bà khác nhau, đứa đầy tớ cũng được hưởng quyền phân chia ấy. Cho nên khi bà chủ đương vất vả nấu cơm nước trong bếp thì anh đầy tớ trai cứ việc chơi bời lêu lổng ngoài đường và chờ cơm chín về đánh chén.”

Bạn đọc cũng sẽ được tìm hiểu về hệ thống kinh tế tuy đơn sơ trông có vẻ nghèo khổ ấy nhưng lại rất bền vững, nương tựa vào thiên nhiên. Phần cuối cùng của cuốn sách là về các loại hình giải trí, nghệ thuật, các câu đố, các tiếng của người Ba-na được phiên dịch sang tiếng Việt.

Trước khi đọc sách, bạn đọc nên lưu ý rằng đây là một quyển sách mà khi xuất bản 89 năm trước, tác giả đã viết rằng: “Một điều phải nói ra đây ngay là phong tục kê cứu ở trong sách ‘Mọi Kontum’ này là tục lệ xưa của người Bahnar. Chớ ngày nay, chịu ảnh hưởng của người ngoại quốc nên ở xứ họ, về hình thức cũng như về tinh thần, họ đã cải cách nhiều ít.”.

Nhưng đó cũng chính là một điều thật giá trị. Từ lịch sử của Ba-na, chúng ta có thể lần mò về thời hiện tại, họ đã thay đổi như thế nào, trải qua những biến cố nào. Nhà xuất bản Trẻ đã tái bản cuốn sách này vào năm 2018, bạn đọc có thể tìm mua tại các nhà sách.

Nhân đây cũng xin giới thiệu một số bài viết trên Luật Khoa về đề tài Tây Nguyên đã thay đổi như thế nào trong gần một thế kỷ qua sau hàng loạt các biến cố chính trị:

Biếm: Ô, con nhớ bác ấy rồi!

Biếm: Ô, con nhớ bác ấy rồi!

Chu Mộng Long

5-9-2022

Thằng bé xem TV thấy hình ảnh một phạm nhân đứng trước tòa, nó thốt lên:

– Ô, con nhớ bác ấy rồi!

Mẹ ngạc nhiên:

– Bác ấy là tội phạm, con gặp bác ấy khi nào?

Thằng bé đáp giọng hân hoan:

– Bác ấy dự lễ khai giảng đầu năm học. Bác ấy phát biểu xong thì đánh trống tùng tùng tùng…

Bố cũng tham gia vào chuyện:

– Bác ấy phát biểu gì vậy con?

Thằng bé hào hứng kể:

– Bác ấy nói dài lắm. Chúng con ngồi nghe đến nóng đ*t. Con chỉ nhớ bác ấy khuyên dạy tốt học tốt…

Mẹ cắt ngang:

– Ừ, bác ấy khuyên con học tốt để không phải đi tù như bác ấy…

Thằng bé trố mắt:

– Ơ, vậy là bác ấy học dốt mới được làm lãnh đạo hả mẹ?

Mẹ bị hỏi bất ngờ nên không biết trả lời sao. Bố thấy lạc đề, bèn định hướng vào vấn đề:

– Bác ấy còn khuyên gì nữa?

Thằng bé tiếp tục bài kể của nó:

– Bác ấy còn khuyên cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Con nghe chả hiểu gì cả.

Bố giải thích:

– Cần là cần cù, siêng năng, không lười biếng. Kiệm là tiết kiệm, không lãng phí. Liêm chính là tự trọng, không để người khác khinh. Chí công vô tư là không ăn cắp tài sản chung hoặc của người khác.

Mẹ nguýt bố:

– Giải thích như vậy thì thằng bé làm sao hiểu được?

Thằng bé cãi mẹ:

– Con hiểu rồi! Là bác ấy khuyên người khác siêng năng để bác ấy độc quyền lười biếng, khuyên người khác tự trọng để bác ấy độc quyền vô liêm sỉ, khuyên người khác không ăn cắp để bác ấy độc quyền ăn cắp. Vậy mà cả trường con vỗ tay to hơn tiếng trống. Thầy hiệu trưởng vỗ tay to nhất, lại còn hứa tiếp thu huấn thị của bác ấy đấy!

Mẹ mắng:

– Ranh con! Phản động!

Thằng bé nhăn mặt:

– Vậy thì… vỗ tay ủng hộ sự ngu dốt, tham lam, ăn cắp là không phản động hở mẹ?

Bố cười và lại định hướng lần nữa:

– Bố nghĩ, không phải thầy hiệu trưởng tiếp thu lời huấn thị mà hứa học tập và làm theo gương bác ấy. Chắc chắn thầy hiệu trưởng có trao phong bì và mời bác ấy nhậu để bày tỏ sự biết ơn. Vậy con có học tập và làm theo gương bác ấy không?

Thằng bé chống cằm đăm chiêu rồi nói:

– Trường con ghi khẩu hiệu: Học để làm người, học để làm việc, và học để làm cán bộ. Con chả biết học theo cái nào thì tốt hơn? Nhưng được dạy người khác, được đánh trống khai giảng, được nhận phong bì và được mời ăn nhậu là oách lắm đấy!

Cuộc Đời Này Thật Đáng Sợ – Đào Văn Bình

Van Pham

Cuộc Đời Này Thật Đáng Sợ

Đào Văn Bình

– Nếu biển rộng như thế nào thì nỗi khổ của con người bao la như thế.

– Nếu lá trên rừng nhiều như thế nào thì nỗi lo, nỗi sầu, nỗi buồn của con người nhiều như thế.

– Nếu vũ trụ vô biên như thế nào thì lòng tham của con người vô bờ bến như thế.

– Nếu hỏa diệm sơn, núi lửa hay cháy rừng, phóng xạ khủng phiếp như thế nào thì lòng hận thù, ghét bỏ, kỳ thị của con người còn còn khủng khiếp hơn. Cháy rừng, núi lửa, phóng sạ chỉ ở một vùng, còn hận thù, ghét bỏ, kỳ thị vì có internet, twitter, facebook, nếu được các giáo sĩ rao giảng, lãnh đạo kích động sẽ lan rộng toàn cầu.

– Loài vật không biết phân biệt đúng-sai cho nên bị con người nói là ngu hay đồ súc vật. Thế nhưng con người nhiều khi chẳng biết phân biệt đúng-sai, chánh-tà, thiện-ác mà hành động theo cảm tình yêu-ghét và vì quyền lợi. Nếu họ yêu, sai cũng thành đúng, phi lý cũng thành chân lý. Nếu ghét thì đúng cũng thành sai, đẹp cũng thành xấu. Xâm lược, thực dân trở thành “Khai sáng văn minh”.

– Sông hồ, biển cả và sâu như lòng đất còn có thể dò được nhưng lòng người không sao dò và biết được. Người ta đã phát minh ra máy khám phá nói dối. Nhưng chưa nhà bác học nào có thể phát minh ra máy để biết được đó là con người nham hiểm, lường gạt, gian trá, độc ác. Tướng học dù là bậc tôn sư cũng chỉ là “Ăn ốc nói mò”.

Không ai, kể cả thánh thần cũng không hiểu nổi lòng dạ con người.

– Đồng ý hữu thân hữu khổ.

– Có những nỗi khổ do thiên nhiên mà có như Sinh-Lão-Bệnh-Tử.

– Nhưng Hằng Hà sa số nỗi khổ khác do chính con người gây tạo ra cho mình hay cho người khác.

– Chiến tranh do con người tạo ra hay do thần linh tạo ra? Nếu do thần linh tạo ra thì thần linh quá hung ác.

– Khủng hoảng kinh tế do tham vọng và quản trị kém hay do ma đưa lối quỷ đưa đường, hay do thần linh muốn thế?

– Con người là con vật gian trá như Tuân Tử nói, “Nhân chi sơ tính bổn ác”.

– Ăn mặc sang trọng, đẹp đẽ, đi xe sang làm tổng giám đốc vài công ty nhưng cuối cùng lại là siêu lừa.

– Đẹp trai, hào hoa, Việt kiều từ ngoại quốc về kiếm vợ cuối cùng lừa một mớ bạc rồi chuồn mất.

– Đưa hình chỉnh sửa lên facebook đẹp như tài tử, người mẫu, cùng những lời đường mật dễ thương, mồi chài làm quen. Khi cá đã cắn câu rồi thì, nào là em cần tiền để lo hộ chiếu xuất cảnh qua đó gặp anh. Rồi nào là ba má em đau, em trai cần tiền vào đại học. Anh chàng có tiền nhưng dại khờ, gửi cả trăm ngàn đô-la cho nàng. Gửi tiền xong không sao liên lạc được nữa. Thế là mất công về Việt Nam trình công an nhờ truy lùng. Nhưng con chim một khi đã cao chạy xa bay, làm sao tìm được?

– Nâng ly cười nói hả hê trong bàn nhậu, bỗng dưng rút dao đâm chết bạn chỉ vì một lời nói hay cử chỉ gì đó. Một trăm bàn nhậu thì chín mươi là thảm họa. Nguyên do chỉ vì ngu si và thiếu học, coi vài ba con khô mực, đĩa lòng heo, vài ba miếng thịt bò, vài lon bia hơn cả hạnh phúc gia đình và tính mạng của mình. Thế mới hay khi nóng giận, tự ái và ngu si thì không chuyện gì trên đời là không dám làm.

– Đam mê cũng là thảm họa dù là đam mê thể thao, đá bóng. Đã có lúc đội túc cầu Ba Tây thua trong giải Túc Cầu Thế Giới phải trốn không dám về nước vì bị đe dọa giết.

– Bạo lực súng đạn lan tràn khủng khiếp! Chẳng còn nơi nào an toàn dù là trường học, nơi thờ phượng, chỗ vui chơi hay ngày lễ của quốc gia. Xác người nằm đó, các chính trị gia tới đọc diễn văn sụt sùi phân ưu để kiếm phiếu rồi đó đâu vẫn hoàn đó, không một giải pháp chữa trị. Các lobbyists đã bịt miệng các nhà lập pháp cả rồi. Thế mới hay tiền bạc, chức vụ đã là cho lương tâm mù tối. Như cụ Nguyễn Gia Thiều đã từng kêu than, “Gót danh lợi bùn pha sắc xám.” (Cung Oán Ngâm Khúc)

– Vợ chồng ngày hôm nay còn âu yếm, anh anh, em em, ngày mai đã đưa nhau ra tòa ly dị. Đó là may lắm đó, nếu không sẽ tìm cách giết nhau. Ai dám bảo yêu là hạnh phúc hay chính nó là cội nguồn của tai họa và khổ đau?

– Âm mưu thâm độc mua bảo hiểm nhân thọ, giết vợ hay giết chồng để lấy tiền và vui vầy duyên mới. Yêu tinh trong Tây Du Ký giả làm người lương thiện rồi bắt ăn thịt người cũng kinh khiếp như vậy thôi.

– Con nhà gia thế ở Washington DC giết cả bố mẹ để đoạt gia tài.

– Anh em ruột giết nhau chỉ vì nửa tấc đất hàng rào giữa hai bên.

– Vi túng thiếu tìm cách giết cô giáo cũ của mình để lấy tiền tiêu xài.

Ôi cuộc đời này tưởng như êm đềm phẳng lặng nhưng nó là một hầm chông bao la và bom mìn nổ chậm với bao lừa lọc và gian dối. Nó như biển cả mênh mông với ngàn vạn đợt sóng ngầm mà lòng người không sao biết hết. Giây phút này là kẻ hiền lành, giây phút sau đã là người hung dữ. Giây phút này nói lời thánh thiện, giây phút sau đã là kẻ gian tà. Bề ngoài thánh thiện, bên trong là quỷ râu xanh!

– Đôi chim nương cánh nhau suốt đời mà chẳng bao giờ cãi nhau, ly dị hay giết nhau.

– Cứ nhìn vào con số ly hôn trên thế giới mà kinh khiếp. Vợ chồng đã yêu nhau sao không thể sống chung với nhau? Sao không thể “chín bỏ làm mười” và nhường nhịn nhau?

– Với cuộc sống mỗi lúc mỗi khó khăn hơn, rồi đây con người sẽ hết tin người. dù là cha con, anh em, bè bạn, chồng vợ. Cuộc đời này thật đáng sợ!

Đạo Phật không nhìn cuộc đời này là một màu hồng đầy ân sủng do thần linh ban tặng, chỉ cần dâng cúng cho giáo sĩ và cầu nguyện là có tất cả. Đạo Phật nhìn cuộc đời này là một màu đen đầy khổ lụy. Rồi từ Đạo Để mà chuyển màu đen thành màu hồng. Đạo Phật khởi nguyên từ Khổ Đế. Khi đã nhận biết “Đời là bể khổ bến mê” rồi từ Đạo Đế mà giải thoát, rồi tiến tới Niết Bàn.

– Nếu có Phật tánh thì con người trở nên tốt đẹp và thế giới sẽ yên bình. Tham-Sân-Si-Mạn-Nghi-Ác Kiến làm con người trở nên ngu si và hung ác và thế giới này sẽ là địa ngục, đúng như Nhà Lửa Tam Giới Phật dạy trong Kinh Pháp Hoa.

Bạn ơi,

Càng sống, càng ngẫm nghĩ càng sợ hãi cuộc đời này.

Kiếp sau xin chớ làm người,

Làm cây thông đứng giữa trời mà reo. (Nguyễn Công Trứ)

Chính vì thế mà bao người bỏ cả gia đình, của cải danh vọng, quyền thế nương nhờ của Phật để có cuộc sống yên bình.

Nhưng không phải ai cũng có thể làm như vậy. Chúng ta vẫn cần và còn nợ thế gian này.

Hủy hoại thân để tìm một thiên đường ảo ảnh là ngu dại.

Chúng ta vẫn còn phải sống với thân tứ đại giả tạm này.

Nhưng sống mà tỉnh thức.

Mà muốn tỉnh thức thì phải luôn luôn giữ gìn chánh niệm.

Giữ gìn chánh niệm là xa lánh kẻ hung ác,

Xa lánh những nơi ăn chơi tụ họp đông người.

Xa lánh những chốn mưu danh đoạt lợi.

Cảnh giác với những lời hứa ngọt ngào.

Cảnh giác với sắc đẹp trên twitter, facebook mà chưa hề biết tung tích, gia đình và lý lịch ra sao.

Cảnh giác với những mối lợi bỗng nhiên mà có.

Muốn thế giới yên lành, mình phải không làm chuyện xấu.

Muốn không có chiến tranh mình phải yêu chuộng hòa bình.

Muốn người ta thiện lương mình phải là kẻ thật thà trước đã.

Nói người ta ngu si mình phải luôn luôn học hỏi và khiêm tốn.

Và phải thường xuyên sám hối.

Bạn ơi,

Giữa cuộc đời đầy biến động, lọc lừa và hung dữ này,

Để có an vui và tránh bớt hiểm nguy,

Chúng ta cần giữ gìn chánh niệm.

Mà chánh niệm không gì bằng tu theo Bát Chánh Đạo mà Tây Phương gọi là Noble Eightfold Path.

Quý trọng thân này mà không hủy hoại nó theo rượu chè, ma túy hoặc phiêu lưu vào những trò chơi nguy hiểm . (Chánh Mệnh)

Tìm nghề nghiệp chân chính và không đầu cơ, buôn gian bán lận. (Chánh nghiệp)

Suy nghĩ chín chắn trước khi hành động. (Chánh Tư Duy)

Có cái nhìn chân thực, không kỳ thị, bè phái, thương ghét (Chánh Kiến)

Luôn nói lời thơm thảo, hòa vui. Không nói lời đâm thọc, làm chứng gian. Không phổ biến những tin tức xấu (Chánh Ngữ)

Luôn luôn học hỏi, cầu tiến và không than thân trách phận. (Chánh Tinh Tấn)

Luôn luôn nhớ nghĩ tới điều lành, cuộc sống này vô thường và mọi chuyện diễn ra chỉ trong chớp nhoáng rồi qua đi. Thâm tân an lạc là quý chứ chưa hẳn tiền tài danh vọng. (Chánh Niệm)

Luôn luôn giữ đầu óc an tĩnh, không bị cuốn hút hay nhiễu loạn bởi những gì xảy ra chung quanh (Chánh Định)

“Dù ai nói ngả nói nghiêng.

Ta đây vẫn vững như kiềng ba chân”.

Phật Hoàng Trần Nhân Tông đã nói, “Cư trần lạc đạo” tức sống ở cõi đời ô trọc này mà vui với ánh đạo – chứ không phải vui với những trò nhố nhăng, hư ảo của cuộc đời. Khi không mê luyến vào những trò nhố nhăng và hư ảo của cuộc đời bạn sẽ an vui, tự tại và giải thoát.

Nguyên Ngọc- Sổ tay thường dân- Tưởng Năng Tiến

Nguyên Ngọc

Nếu chưa đọc hồi ký Lời Ai Điếu thì e khó mà biết được nỗi niềm mà Nguyên Ngọc (N.N) đã tâm sự với tác giả Lê Phú Khải về cuộc cách vô sản ở VN: “Chúng ta sai từ thời đại hội Tours”!

Giai thoại này – may thay – vừa được thi sĩ Thái Bá Tânvt thuật lại, một cách rất gẫy gọn, bằng những câu ngũ ngôn (quen thuộc) của ông:

Một nhóm mười trí thức
Được bà Nguyễn Thị Bình
Mời đến chơi, nói chuyện,
Kiểu thân mật gia đình.

Giữa chừng, bà chợt hỏi,
Không khỏi không bất ngờ:
Theo các anh, nói thật,
Ta sai từ bao giờ?

Hầu hết mọi người nói
Thưa chị, chúng ta sai
Từ Một Chín Năm Mốt,
Tức từ Đại Hội Hai,

Khi đảng quyết định lấy
Chủ nghĩa Mác – Lênin
Tư tưởng Mao Chủ Tịch
Làm đường lối của mình

Còn Nguyên Ngọc thì nói,
Mọi người nghe, tưởng đùa:
Chúng ta sai, thưa chị,
Từ thời Đại Hội Tours!

Bà Bình không đồng ý.
Nhưng ngay sáng hôm sau
Tự đến tìm Nguyên Ngọc,
Rồi nói, vẻ buồn rầu:

Hôm qua chị không ngủ,
Nằm suy nghĩ suốt đêm,
Và buộc phải thừa nhận,
Chị đồng ý với em!

Tuy chị đã “suy nghĩ suốt đêm” và “đồng ý với em” như thế nhưng trong cuộc phỏng vấn dành cho phóng viên Xuân Hồng (BBC) vào hôm 13 tháng 10 năm 2008, bà Bình lại nói khác: “Tôi không có sai lầm gì hết. Con đường mình đi hoàn toàn đúng, chỉ có là một số việc mình đã có thể làm tốt hơn để đóng góp công việc chung.”

Tôi chưa bao giờ có chút kỳ vọng nào vào những chính khách tầm cỡ (cỡ) như Nguyễn Thị Bình nên chả thất vọng chi, và cũng không phiền trách gì, về thái độ (bất nhất) của họ. Thứ người cố đấm ăn xôi này thì ở đâu, và thời nào, cũng thế. Chả thế mà bà Bình có thể yên vị trên cái ghế Phó Chủ Tịch Nước đến cả chục năm (1992 – 2002) dù chỉ ngồi để làm cảnh chơi thôi, chứ có “đóng góp” được gì đâu!

Thế còn N.N?

Với cá nhân tôi, ông là người hoàn toàn đặc biệt và ngoại lệ: một nhà văn lớn được rất nhiều bạn đồng nghiệp/ bạn đọc nể trọng và ái mộ về tài năng cũng như tư cách. Trong cái đám đông độc giả vô danh này; riêng tôi, còn có sự kính mến cùng quí trọng (cách riêng) vì mối hảo cảm chứa chan mà ông vẫn luôn luôn dành cho đất và người miền núi 

  • Tôi yêu Hà Giang, Lũng Phìn, Mèo Vạc, Đồng Văn, Yên Minh, Cán Tỷ, Mậu Duệ… là thơ chứ không phải đời thật.”
  • Các dân tộc Tây Nguyên đã cấy trồng trên đất đai núi rừng của mình một nền văn hóa lớn, cực kỳ độc đáo và đặc sắc, lâu đời và bền vững.”

Tôi sinh trưởng tại Cao Nguyên Lâm Viên nơi mà những sắc dân bản địa vẫn phải gánh chịu rất nhiều thua thiệt (về mọi mặt) chỉ vì chút thiên kiến, cùng đầu óc  chủng tộc hẹp hòi (ethnocentric minds ) của nhiều kẻ ở miền xuôi. Họa hoằn mới có một vị thức giả ở tuốt luốt dưới miền duyên hải (xa xôi) nhưng vẫn nhìn nhận đám dân sơn cước chúng tôi là đồng bào thiệt – như N.N.

Bởi vậy, hỏi sao mà tôi không “kết” (và không “mết”) cái ông Già Làng Tây Nguyên này chớ!

Ấy vậy mà khi có dịp được gặp gỡ nhân vật mà mình ái mộ, tôi lại ứng xử rất vụng về nên đã làm hư bột/ hư đường (ráo trọi) cái cơ may hạn hữu này. Bữa đó, tôi lái xe một mạch suốt 6 tiếng từ Bắc xuống Nam – California.

Đến thành phố Wesminster, tôi chợt nhớ đến Hoàng Khởi Phong nên tắp vô nhà ổng luôn. Ai dè Nguyên Ngọc lại đang có mặt ở Hoa Kỳ, và cũng ở tại đó. Tôi mời hai ông anh đi ăn cơm tối, và cả hai đều vui vẻ nhận lời ngay.

Thay vì chạy lòng vòng, kiếm một tiệm ăn thanh lịch để đãi khách quí tự phương xa, tôi vì quá vã (suốt từ sáng tới đến chiều chưa được nhấp môi một giọt rượu hay giọt bia nào mà) nên tắp đại vào một cái quán nằm ngay trong khu Bolsa (Quán Bình Dân) ở góc đường Brookhurst và Mc Fadden.

Tôi đã tạt vô đây vào giấc trưa, với Nguyễn Nam An, mấy lần rồi. Đúng như tên gọi, quán bình dân thật (và bình dân lắm, hay nói cho đàng hoàng và rõ ràng hơn là khá bầy hầy) nhưng được cái là giá bia tương đối nhẹ nhàng và mọi món nhậu đều trên trung bình cả. Chỉ có điều không ngờ là tối cuối tuần nó lại đông đúc và ồn ào quá cỡ (thợ mộc) như vầy.

Chúng tôi “may mắn” còn kiếm được một cái bàn trống nhỏ xíu xiu trong góc. Tiệm chật, khách đông. Mặt ai cũng đỏ gay, và tất cả đều chửi thề tới tấp. Không khí sinh động và náo nhiệt đến độ mà ngay cả một người thường hay ăn to nói lớn (cỡ) như anh Hoàng Khởi Phong mà cũng phải tắt đài – ngồi im ru bà rù – chớ chả nói được tiếng nào sất cả, nửa tiếng cũng không!

N.N rất … cool, tuy hơi trầm lắng nhưng luôn nhỏ nhẹ và chả tỏ vẻ gì là khó chịu. Phần tui thì đâu cũng được, sao cũng OK, miễn là có tí “cồn” là ça va tout. Cho đến khi nhìn thấy ông nhà văn mà mình yêu quí trệu trạo nhai khúc dồi trường, rồi ngần ngại xêu thử vài cọng bún giả cầy thì tôi bắt đầu … vô cùng ân hận!  

Cùng lúc, tôi mới chợt nhớ ra là dân Quảng (bất kể Quảng gì: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Tín ….) có mấy ai ưa tiết canh và lòng lợn? Nghe nói họ nhất định chỉ ăn đồ biển (tôm, cua, cá, mực, ghẹ, sò …) thôi hà. Mà Orange County thì có thiếu chi những nhà hàng trang nhã, lịch sự, ngon lành, chuyên trị cá bẩy món (hay lẫu hải sản) và tôi là cái thứ cơm hàng cháo chợ quanh năm, chớ nào có phải loại thường dân!

Từ chiều hôm đó, tôi cứ áy náy hoài về sự vô tâm/vô tính của mình cho mãi đến chiều nay. Nay, vừa có dịp được nỗi lòng (xong) nên cũng cảm thấy đôi phần nhẹ nhõm. Ngoài “tâm sự” này, tôi lại còn chút xíu “tâm tư” nữa cũng xin phép được thưa luôn (N.N đã bước vào tuổi cửu tuần, và tôi cũng đã thất thập rồi) chớ để lâu nữa thì sợ rằng … không tiện!

Sau cái bữa ăn chiều lãng xẹt ở khu phố Bolsa, có hôm, tôi tình cờ đọc được đôi câu trong thiên hồi ký (“Những Ngày Lang Thang”) của N.N rồi cứ băn khoăn mãi:

“Tôi thương Xuân Vũ. Anh ấy là một con người cực kỳ cảm tính, dễ cực đoan, dễ sai lầm, cả những sai lầm chết người, và là người ít gặp may trong đời.… Sau này trong chiến tranh chống Mỹ miền Nam Xuân Vũ đã rẽ đi một con đường khác. Tôi có nghe Nguyễn Quang Sáng kể lại chuyện ấy. Đáng giận, đáng buồn, và cũng đáng thương. Cũng là một cuộc đời!”

Ủa! Tại sao vậy kìa?

Sao Xuân Vũ “rẽ đi một con đường khác” lại là chuyện “đáng giận, đáng buồn, và cũng đáng thương” – hả Trời? Riêng về điểm này, quan niệm của N.N (xem ra) cũng chả khác chi với bà chị Nguyễn Thị Bình.

Trong cuộc phỏng vấn (thượng dẫn) với BBC, khi được hỏi “về hoạt động ‘ngoài luồng’ thời trẻ của mình với những người bất đồng chính kiến gần đây như luật sư Lê Thị Công Nhân,” bà Bình đã “nhấn mạnh” rằng: “Những việc làm của họ (những người đấu tranh chính trị) trong tình hình này không đem lại lợi ích cho đất nước.”

Như đã thưa, tôi không chấp với bà Nguyễn Thị Bình nhưng với N.N thì lại là chuyện khác. Cả hai đều nhận rằng mình đã sai ngay từ khi bước chân vào con đường cách mạng (vô sản) nhưng lại không chấp nhận một lựa chọn nào khác của tha nhân. Bà Bình chê ỏng, chê eo sự dấn thân và hy sinh của những người bất đồng chính kiến hiện nay là “không đem lại lợi ích cho đất nước.” Còn N.N thì chỉ “nghe Nguyễn Quang Sáng kể lại chuyện” của Xuân Vũ thôi mà đã buông một câu (e) hơi khinh bạc: “Cũng là một cuộc đời!”

Thế cuộc đời của Xuân Vũ ra sao?

Xin nghe qua đôi lời gan ruột của chính người trong cuộc:

“Nỗi day dứt về quê hương và gia đình, cộng với những điều kỳ cục trong mấy năm dằng dặc trên đất Bắc làm cho tôi thấy mình đi lạc đường. Sống trong nước mình mà cứ tưởng nước ai. Do đó tôi quyết chí trốn về Nam, sống dưới gầm cầu cũng được.”

Sau khi “trốn về Nam,” Xuân Vũ gần như đã dành hết phần đời còn lại cho bút mực. Trang Văn Việt cho biết: “Tác phẩm của ông tổng cộng gồm 90 cuốn.” Trang Văn Hóa Việt Nam lại ghi nhận một con số khác: “Thư mục Xuân Vũ có ít nhất 60 tựa với 15000 trang giấy.” Sở dĩ có sự dị biệt này vì đôi khi Xuân Vũ viết trường thiên – nhiều tập – như Đường Đi Không Đến gồm 5 cuốn, với 5 cái tựa khác nhau.

Tôi không tin rằng N.N không hề để mắt đến “mười lăm ngàn trang giấy” này chỉ vì đó là những dòng chữ viết ngoài luồng (nơi những “vùng đất tạm chiếm”) nên không đáng được quan tâm. Chả những thế, tôi còn hy vọng rằng nay mai (có lúc) N.N sẽ đọc qua dăm ba tác phẩm của nhà văn Xuân Vũ, và sẽ viết lại đôi dòng – chín chắn hơn – về một người bạn văn (nay) đà khuất bóng!

K’ Tiên
9/2022

RỒI MỘT NGÀY!

Nghệ Lâm Hồng

RỒI MỘT NGÀY!

Rồi một ngày anh cũng sẽ già đi.

Chim ngừng hót và bu zi hết lửa,

Chợ chưa đến mà tiền đâu còn nữa,

Rốc két một giờ bữa được bữa không.

Rồi một ngày môi em chẳng còn hồng,

Bưởi tròn căng, bỗng nhùng nhằng thành mướp,

Giếng cạn khô, nước về đâu có được,

Tóc bạc dần, theo lược rụng dưới chân.

Rồi một ngày con cái chẳng ở gần,

Ngôi nhà vắng, như lần mình mới cưới,

Tôi và em kẻ nhà trên nhà dưới,

Vẫn âm thầm, rảnh tưới vài luống rau.

Rồi một ngày, mình ngủ ít như nhau,

Bệnh xương khớp lưng đau, đầu gối mỏi,

Lúc trở trời, lại tìm bác sĩ giỏi,

Thuốc uống nhiều thôi khỏi phải ăn cơm.

Rồi một ngày mình sao giống thằng bờm,

Nói lảm nhảm, nghĩ dởm đời đến lạ,

Đêm hai đứa chợt thấy thèm chung chạ,

Mở ra rồi..Ông ạ..đậy lại đi.

Rồi bây giờ, tiền bạc chẳng là gì.

Mua sức khỏe, ước chi ngày ba bữa.

Thuốc uống ít, thể dục nhiều hơn nữa

Vui cháu con, sống khỏe giữa đời thường.

Mong bạn bè, thân hữu hội yêu thương

Đừng đắn đo vấn vương khi có thể

Cứ vui đi, vượt ngàn trùng dâu bể

Lúc hết rồi, đâu nữa để cho nhau…

Sưu tầm