YÊU THƯƠNG KẺ THÙ

Kẻ Đi Tìm

Sau hơn 50 ngày bị bắt làm con tin và bị sút gần 20 ký vì sống trong thiếu thốn vật chất cũng như tinh thần, một nhà truyền giáo nọ đã bình tĩnh trả lời câu hỏi của các phóng viên về những gì mình đang suy tính trong lòng: “Tôi vẫn yêu mến đất nước và dân tộc đó, như ngày tôi mới đến truyền giáo cách đây 40 năm. Tôi đã tha thứ cho những kẻ bắt giữ và hành hạ tôi. Tôi muốn nói với họ rằng tôi không có gì thù ghét họ, nhưng vẫn yêu thương và sẵn sàng trở lại đó làm việc mục vụ”.

Những lời dạy của Chúa Giêsu mà Giáo Hội cho chúng ta lắng nghe hôm nay, cũng không mập mờ, không nhượng bộ hay chiều theo khuynh hướng tự nhiên của con người muốn giới hạn tình yêu của mình đối với tha nhân.

“Hãy yêu mến anh em mình”, mệnh lệnh này được ghi rõ trong sách Lêvi 19,18. Những “anh em” được nhắc đến ở đây chỉ những kẻ thân thuộc, đồng hương, thuộc về dân riêng của Chúa. Còn câu: “Hãy ghét kẻ thù địch” thì chúng ta không gặp thấy công thức nào tương tự như vậy trong Kinh Thánh. Những lời này có thể hiểu như một diễn tả tự nhiên của tâm lý thường tình nơi con người, một hậu quả của tình yêu thương có giới hạn trong khung cảnh những kẻ thân thuộc, những người thuộc về cùng một dân tộc, một xã hội. Theo tâm thức hạn hẹp của Cựu Ước, bất cứ ai không thuộc về Dân Chúa chọn, thì người đó là kẻ xa lạn, là kẻ thù địch, không được yêu thương.

Chúa Giêsu đã đến để mạc khải sứ điệp trọn hảo hơn, bẻ gẫy những giới hạn tự nhiên: “Còn Thầy, Thầy bảo các con: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi các con”. Chúng ta chú ý đến hai chi tiết trong lời dạy của Chúa Giêsu: thứ nhất: không còn ai bị loại ra khỏi tình yêu thương của người môn đệ Chúa và sự phân chia con người ra làm hai loại: thân thuộc và thù địch không còn nữa. Thứ hai: Tình yêu thương đó được thể hiện bằng những hành động cụ thể, và quan trọng nhất, đó là thi ân và cầu nguyện cho những kẻ không tự nhiên được chúng ta yêu thương, và đây không còn là tình yêu thương theo tình cảm, mà là tình yêu thương thực sự hướng đến lợi ích của người khác.

Nguồn: Giáo xứ Ba Thôn

BỨC ẢNH ĐẸP NHẤT CỦA SỰ CHẤP NHẬN…

Hình ảnh này được coi là một trong những bức ảnh đẹp nhất trong 10 năm qua, vì nó khiến người chụp rơi vào trạng thái….trầm cảm.

Câu chuyện xảy ra:

2 con báo cheetah này đã tấn công con linh dương vào lúc nó đang chơi đùa với con nhỏ.

Và thực tế là con linh dương có cơ hội trốn thoát. Khoảng cách và lối thoát cho mạng sống là có lợi cho bản thân nó. Nhưng nó quyết định đầu hàng 2 con báo hoa mai theo cách này.

Tại sao???

Để cho những đứa con nhỏ của nó có cơ hội trốn thoát … Bởi vì nếu nó rời đi trước, sẽ không có thời gian cho những đứa con nhỏ của nó trốn thoát.
Hình ảnh này là khoảnh khắc cuối cùng của linh dương mẹ, với cổ họng rơi vào hàm 2 con báo cheetah, khi nó nhìn lại để đảm bảo những đứa con nhỏ của mình thoát ra ngoài an toàn trước khi nó bị nuốt chửng.

Mẹ là người duy nhất trên thế giới này có thể hy sinh cuộc sống của mình cho bạn một cách vô hạn.

(Cang Huỳnh lược dịch từ Nature Merveilleuse)

From: Do Tan Hung & KimBằng Nguyễn 

NGƯỜI VIỆT, NGƯỜI TÀU VÀ CON ẾCH (CHRIS PHAN)

(CHRIS PHAN)

MƯA LÂU THẤM ĐẤT

Năm 1996, Daniel Quinn viết cuốn sách có tên là Truyện của B (The Story of B) nói về lịch sử nhân loại trong đó ông dành riêng một chương để viết về con ếch, với những dòng như sau:

Nếu ta bỏ một con ếch vào một nồi nước sôi, thì con ếch sẽ dẫy dụa và nhẩy ngay ra khỏi nồi nước. Nhưng nếu ta bỏ ếch vào nồi nước lạnh, để ếch nằm trong đó, rồi từ từ nâng nhiệt độ lên, thì ếch ngồi trong đó thoải mái cho đến khi bị luộc chín lúc nào không biết.

Olivier Clerc năm 2005 cũng viết một bài ngắn có tên hơi dài là «Con ếch không biết mình đang bị luộc….và những bài học khác ở đời», được Michel Debaig và Luis Maria Huette phổ biến dưới tiêu đề Sự Nghịch Lý của con ếch.

Sau này, để cảnh tỉnh nhân loại trước nguy cơ trái đất đang bị hâm nóng từ từ, cựu phó TT HK là ông Algore có thực hiện một cuốn phim gọi là Sự Thực Mất Lòng cũng khai thác đề tài này.

Câu chuyện bắt nguồn từ một tài liệu xuất hiện năm 1897 ghi lại một cuộc thí nghiệm tại Institut John-Hopkins năm 1982: Một con ếch bị bỏ trong một nồi nước lạnh, sau đó người ta nâng nhiệt độ lên một cách rất chậm, chỉ 0,002 độ C mỗi giây. Sau 2 giờ 30 phút, con ếch bị luộc chín mà không nhúc nhích gì.
Câu chuyện lý thú nói trên khiến người ta liên tưởng đến hoàn cảnh nước Việt Nam ta, với tà quyền CS trong nước, và khối người Việt Hải Ngoại.

Vào đầu thập niên 1980, những người Việt định cư tại nước ngoài căm thù CS đến thâm gan, tím cật. Ai nói đến CS, là người ta chống đối mãnh liệt. Rồi ngày tháng qua đi, CS thì vẫn thi hành một chính sách độc tài, độc đảng như cũ, vẫn hà hiếp, bóc lột người trong nước như xưa, nhưng người tỵ nạn thì không phải tiếp xúc trực tiếp với những cán bộ ác ôn hàng ngày. Mối hận thù cũng không thể quên, nhưng cường độ một ngày một giảm đi. Hơn nữa, sau một thời gian dài cần cù làm ăn, người tỵ nạn đã có của ăn, của để, họ nghĩ đến việc trở về cố hương, để trước là thăm nơi quê cha đất tổ, nhưng cũng có phần để lên mặt với đời.

Mới đầu, số người về rất ít, sau càng ngày càng nhiều, nhất là vào các dịp Tết,

Rồi Ông Nguyễn Cao Kỳ, Rồi ông Phạm Duy, rồi các ca sỹ nổi tiếng như Khánh Ly, Lệ Thu, Elvis Phương, gia đình Tuấn Ngọc, Khánh Hà..v..v.., ngày nào lếch thếch nơi Mã Lai. Hồng Kông, hay Thái Lan, Nam Dương, trong các trại tỵ nạn, nay áo quần diêm dúa, môi son đỏ choét, về lại cố hương, để có được «hạnh phúc hát trước đồng bào», làm như lòng yêu nước của họ to hơn số đô la chứa trong các phong bì mà họ nhận được sau những buổi trình diễn cuối đời.

Ngày nào, khi Đàm Vĩnh Hưng qua hát, người ta bảo nhau đi phản đối, tay cầm cờ vàng, miệng hô đả đảo. Ngày nay, Nguyễn Thanh Sơn, người quan trọng gấp mấy lần Đàm Vĩnh Hưng, đi Mỹ, đi Canada, chẳng ai thèm đặt vấn đề, lại còn bắt tay, phỏng vấn xỳ xèo.

Việc này, thực đâu có gì lạ, mà phải la làng, chỉ là một trong muôn ngàn thí dụ của «boiling frog syndrome»@

Trung Hoa là một nước láng giềng của Việt Nam. Anh chàng láng giềng này lúc nào cũng muốn nuốt chửng Việt Nam. Để thực hiện mưu đồ này, họ dùng 2 chiến thuật:

– Chiến thuật «tầm ăn dâu»: Từng bước, từng bước lấy của VN những tấc đất, những vùng biển, như Hoàng Sa, Trường Sa, Nam Quan, đất đai vùng biên giới, việc này gây ra sự chống đối mãnh liệt, nhưng ít quan trọng hơn so với chiến thuật thứ hai.

– Chiến thuật «luộc ếch»: Thâm độc hơn nhiều: Lập công ty Trung Hoa khai thác các tài nguyên thiên nhiên, di dân , lấy vợ, đẻ con, xây chùa chiền theo kiểu Tầu, viết chữ Tầu trên các mặt tiền và trong các chỗ thờ phương, các bảng hiệu, lập các làng Tầu trên đất Việt…v.v. Ngày một, ngày hai, người Việt sẽ thấy người Tầu, văn hóa Tầu, cách sống Tầu, quá thân thuộc với mình. Khi ấy, thì Việt Nam có thành một ngôi sao trên lá cờ Tầu, cũng chẳng có gì quan trọng.

Nghĩ đi, nghĩ lại, người Việt, và các con ếch, có gì khác nhau đâu?

(CHRIS PHAN)

Khoảng Cách Xa Nhất là Gì?

XA NHẤT…

Trong cuộc đời, khoảng cách xa nhất không phải là sống và chết, mà là sống gần nhau mà không hiểu nhau.

Khoảng cách xa nhất là mến thương nhau nhưng lại không giữ được.

Khoảng cách xa nhất không phải là không giữ được tình thương mến, mà là tình mến thương không được đáp trả.

Khoảng cách xa nhất không phải là tình thương không được đáp trả, mà là đem trái tim giá lạnh của mình đối lại với người thương mình.

Người sống bên cạnh mình, trong cùng một nhà, một cộng đoàn mà không thể hiểu mình; sống bên cạnh nhau, mà không thể yêu mến nhau và yêu mến nhau nhưng lại không thể nói ra được… đó mới là xa.

“Xa” hay “gần” … khoảng cách ấy hệ tại việc con người có “hòa hợp” với nhau không? Không hòa hợp thì “gần trong gang tấc mà xa ngàn trùng” ấy thôi… Cũng vậy, trong tương giao với Thiên Chúa, việc đọc kinh, dự lễ sẽ là gần Chúa, nếu chúng ta hòa tâm hồn vào lời kinh và Thánh Lễ. Bằng không, việc ta đọc kinh dự lễ ấy chỉ là “lòng chúng thì xa ta” mà thôi.

NHƯNG ANH ĐÃ KHÔNG

Pham Mylan Những Câu Chuyện Thú Vị – Ncctv.net

Một gia đình Mỹ gồm hai vợ chồng và đứa con gái chung sống bên nhau . Khi cô con gái lên bốn thì người cha nhập ngũ và được đưa đến chiến trường Việt Nam. Người lính tử trận nên đã không trở về. Người mẹ ở vậy nuôi con đến năm 70 tuổi thì mất. Khi bà qua đời, cô con gái soạn lại đồ đạc của mẹ thì thấy bài thơ này trong quyển nhật ký . Đó là bài “ But you didn’t “ và tôi dịch sang tiếng Việt phía dưới . Được biết tên bà quả phụ đó là MERRILL GLASS .

Mời quí anh chị và các bạn cùng đọc bản tiếng Anh của Merrill Glass và bản tiếng Việt của Quan Dương

BUT YOU DIDN’T

Remember the day I borrowed your brand

new car and dented it?

I thought you’d kill me,

but you didn’t.

And remember the time I dragged you to the beach,

and you said it would rain, and it did?

I thought you’d say, “I told you so”

But you didn’t.

Do you remember the time I flirted with all

the guys to make you jealous, and you were?

I thought you’d leave

but you didn’t.

Do you remember the time I spilled strawberry pie

all over your car rug?

I thought you’d hit me,

but you didn’t.

And remember the time I forgot to tell you the dance

was formal and you showed up in jeans?

I thought you’d drop me

but you didn’t.

Yes, there were lots of things you didn’t do

But you put up with me, and loved me, and protected me

There were lots of things I wanted to make up to you

when you returned from Vietnam.

But you didn’t.

MERRILL GLASS

Bản dịch của Quan Dương

NHƯNG ANH ĐÃ KHÔNG

Còn nhớ ngày em mượn chiếc xe anh

Chiếc xe mới toanh bị em làm móp thủng

Em thầm nghĩ thế nào anh cũng

giết chết em . Nhưng anh đã không

Có một lần em kéo anh ra biển

Anh nói rằng trời sẽ đổ cơn mưa

và mưa thật . Em nghĩ rằng anh trách

” đã bảo mà “. Nhưng anh đã không

Còn nhớ lần em đả đớt với đàn ông

Em khiến anh ghen và anh ghen thật

Em đã nghĩ đang trong cơn ghen tức

anh chia tay em . Nhưng anh đã không

Còn nhớ lần em làm chiếc bánh dâu

đổ ụp xuống trên sàn xe tung toé

Em đã nghĩ thế nào anh cũng sẽ

đánh đòn em. Nhưng anh đã không

Còn nhớ lần em quên nói với anh

buổi khiêu vũ vô cùng trang trọng

anh xuất hiện chiếc quần jean lạc lõng

em sợ anh bỏ về. Nhưng anh đã không

Vâng có nhiều điều mà anh đã không

Nhưng anh trân quí yêu em và bảo vệ

Cũng có nhiều điều mà lòng em tự hứa

bù đắp anh khi trở lại từ Việt Nam

Em đợi anh về. Nhưng anh đã không

August 01/2019

Quan Dương

Sự khác biệt giữa hai miền Nam-Bắc là lòng tử tế

Sự khác biệt giữa hai miền Nam-Bắc là lòng tử tế

Tác giả Nguyễn Văn Lục

“Bản chất của chế độ ngụy là xấu vậy mà không hiểu sao nó lại đào tạo con người giỏi thế. Ai cũng lịch sự. Cứ mở miệng ra là cám ơn với xin lỗi. Ngồi ở trong nhà, có ai đi ngoài đường chõ miệng hỏi cái gì mà mình trả lời xong, cắp đít đi thẳng, không thèm cám ơn một tiếng, thì không cần nhìn, mình cũng biết ngay đó là dân Bắc Kỳ”

(Nhận xét của nhà phê bình văn học Hoài Thanh, sau 1975, Hoài Thanh và vợ dọn vào Sài gòn ở theo lời kể lại của nhà phê bình Vương Trí Nhàn)

Phần Một – Miền Bắc: biểu tượng của hận thù

Miền Bắc, sau 1954, được gọi là Bức màn tre do những hoàn cảnh xã hội, chính trị khắc nghiệt, khép kín. Kinh tế sau 1975 kiệt quệ vì nhiều lý do chủ quan và khách quan. Sau này phải nêu khẩu hiệu xóa đói, giảm nghèo. Chính những nhà lãnh đạo miền Bắc cũng không ai nhìn nhận những lỗi lầm tầy trời này: Dân chúng trong Nam vốn dư ăn, dư mặc nay phải ăn bo bo, khoai mì như tầng lớp dân chúng miền Bắc. Do thông tin một chiều, họ che đậy, dấu kín riết rồi họ không hiểu chính họ, hoặc hiểu mà không chịu hiểu thì làm thế nào họ hiểu nếp sống, con người miền Nam được.

Học giả Nguyễn Mạnh Tường viết: “Aucune sentence n’est prononcée. Les communistes ont le gout de la clandestinité. Toutes les décisions sont prises et appliquées dans un silence de mort. » (Không có bản án nào được công bố. Cộng sản có sở thích lén lút. Tất cả các quyết định được đưa ra và thực hiện trong im lặng chết chóc.) (Nguyễn Mạnh Tường. Un Ex-Communié. Hà Nội 1954-1991. Procès d;un intellectuel, trang 229)

Sự tử tế của miền Bắc hầu như không thể có theo như nhận xét của của nhà phê bình kỳ cựu Hoài Thanh.

Hơn ai hết, ông HT đã hiểu rõ chân tướng của dân miền Bắc cũng như chính quyền ấy. Chính quyền cộng sản chủ trương phân biệt Bạn-Thù dứt khoát, chính tà phải phân minh vì chủ nghĩa Marx- Lénine là chân lý sáng ngời, tuyệt đối. Thù thì phải bôi đen, triệt tiêu và chỉ đáng được được gọi là Thằng.Đó là một nửa đất nước đã bị nhồi sọ, bị đầu độc từ trên xuống dưới trở thành quán tính.Tỉ như bác sĩ nhi khoa Nguyễn Khắc Viện, người đã để nửa đời người sống bên Pháp, một trí thức hàng đầu hiểu rõ văn hóa, hiểu rõ thế nào là tự do dân chủ của nước Pháp.

Vậy mà khi viết một bài so sánh Cách Mạng và dân Sàigòn đăng trên báo Nhân Dân đã ví von Cách mạng là Sen, dân Sàigòn chỉ là Bùn và ông NKV đã bị phản ứng dữ dội từ giới trí thức Sàigon. Nguyễn Trọng Văn lên tiếng trên báo Nhân Dân, nhưng bài của NTV dĩ nhiên đã không được báo Nhân Dân đăng..Điều đó trước tiên bày tỏ một lập trường rõ rệt giữa Bạn-Thù và hàm ý sự khinh miệt. Cách mạng tốt đẹp quá, thơm tho quá!! Cách mạng là SEN. Dân Sài gòn chỉ là bọn rác rưởi thối tha là đĩ hoặc điếm. Vì thế Dân Sài gòn chỉ là Bùn.Thật ra chính nhờ có Bùn mới có sen. Chính nhờ Bùn nuôi dưỡng, tạo ra hương thơm tinh khiết cho Sen. Không có Bùn làm sao Sen nở hoa. Chỉ nhắc nhở ông có bài thơ:

Trong đầm gì đẹp bằng sen.
Lá xanh bông trắng lại xen nhị vàng.
Nhị vàng bông trắng lá sen.
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn..

Nhưng đối với cá nhân ông bác sĩ, điều quan trọng là: Chế diễu như thế là đi đúng đường lối của chế độ.Tỉ như Đào Duy Anh, sau 1975, một học giả ăn mòn bát đĩa cộng sản, hiểu cộng sản từ chân tơ kẽ tóc, hiểu những mánh khóe tiểu xảo. Vậy mà khi vào miền Nam gặp các trí thức trong Nam, ông theo thói quen quán tính vẫn gọi xách mé: thằng Diệm. Nhiều người lảng tránh ông. Đào Duy Anh là tác giả tập ký: Nhớ nghĩ chiều hôm. Cuốn tập ký lược thuật các công trình biên khảo của ông viết trong nhiều năm. Trần Huy Liệu khuyên ông: muốn sống, muốn tồn tại thì liệu viết mà lách nữa. Ở đây, quả thực ông đã thuộc bài do trần Huy Liệu chỉ dẫn. Tội cho tiếng tăm một học giả. Viết mà sợ, viết mà phải lách vì sợ bị liệt vị, bị thổi còi !!!

Có thể đây chỉ là một sự lỡ miệng, theo thói quen. Như một Lapsus linguae. Nhưng nó cũng chỉ ra rằng gọi thằng Diệm là đúng đường lối.Cũng chả trách được họ. Ông Hồ, theo ông Nguyễn Minh Cần (1928-2016) kể lại trong những buổi họp đảng, có những đồng chi tuổi 80 vẫn bị gọi là các chú theo cái cách cá mè một lứa.Nghĩ lại, tôi vẫn thấy tiếc nuối cho thời kỳ vàng son nhân hậu của cha ông để lại như thời của vua Lý Thánh Tông, thời trước thuộc địa. Nhà tù không phải là công cụ để trừng phạt. Do chịu ảnh hưởng của Nho giáo, lấy cái tâm, cái đức làm đầu. Nhà vua có lòng thương người chỉ thị cho triều thần phải phát mền, chiếu và gạo cho tù nhân vào năm 1055:“Sống trong cung điện có lồng ấp than sưởi và mặc nhiều áo ấm, mà trẫm còn thấy lạnh. Trẫm hiểu nỗi khổ của người tù bị gông cùm, không đủ cơm ăn, không đủ áo mặc ấm để che thân thể, nhiều tù nhân chết một cách oan uổng trước khi bị luận tội. Trẫm thương cho họ.” (Ngô Sĩ Liên, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tập I. Hà Nội 1972, trg 284)

Phải nhìn nhận với nhau rằng: thật không dễ để làm người tử tế. Còn khó hơn làm người anh hùng. Bởi vì làm người anh hừng chỉ là việc của một thời. Còn làm người tử tế là việc của cả một đời. Đất nước chúng ta do thời chiến tranh 1946-1954 và nhất là 1955-1975 đã tự đánh mất đi cái lòng thương người, mất đi cái lòng tử tế .

Ngoài cuộc chiến quân sự bạo tàn mà mạng người như cỏ rác, còn có cuộc chiến tuyên truyền ra rả mỗi ngày, đề cao cuộc chiến giải phóng, cứu nước thần thánh. Nhiều nhà lãnh đạo miền Bắc còn để lại các hồi ức như:Trần Cung, Bùi Công Trừng, Hà Phú Hải, Văn Tiến Dũng, Xuân Thủy. Họ từng nếm trải cơm tù như Đỗ Mười 5 năm tù Hỏa Lò, sau trốn thoát được vào năm 1945. Nguyễn Văn Linh, hai lần ở Côn Đảo 1930-1935 rồi 1940-1945 và nhất là Hồ Chí Minh với “Nhật Ký trong tù “. Những bài học cay đắng trong tù, được tích lũy thành một mối Nuôi Thù. Nuôi Thù ấy đổ lên đầu nhân dân miền Nam vốn hiền lành và vô tư sau 1975.

Trong các hồi ký đó, sự thật là bao nhiêu? Pha chế thêm mắm muối bao nhiêu? Nào ai biết được. Chỉ người trong cuộc mới biết được.Ngoài ra, còn những người tù không thuộc phe cộng sản đáng kính nể đòi đời ghi ơn như Nguyễn Thái Học với Đời trong ngục, 1935 tiếp theo là những nhân sĩ như Hồ Hữu Tường, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế. Những người tù này được xã hội kính nể nhất trong xã hội Đông Dương. Ngô Đức Kế được tôn xưng là chí sĩ Ngô Đức Kế. Phan Chu Trinh được chính ông Trùm thuộc địa Marius Moutet kính nể. Huỳnh Thúc Kháng được một người thợ may biếu ttặng cụ một bộ đồ không tính tiền.(Đọc thêm: The Colonial Bastille. A history of Imprisonment in Viet Nam 1862- 1940)

Về phía những người lãnh đạo cộng sản sau này như Đỗ Mười, Xuân Thủy, Nguyễn Văn Linh, Văn Tiến Dũng đều là những người nếm trải cơm tù. Chứng chỉ đi tù trở thành tấm thẻ bài đi vào cửa chính.Sau này, vẫn thái độ hận thù, miền Bắc vẫn tiếp tục ra rả luận điệu tuyên truyền với những khẩu hiệu: gọi là Mỹ-Ngụy- Mỹ xâm lược- thực Dân kiểu mới. Giải phóng miền Nam..Họ chỉ quên một điều là sau lưng họ còn có Nga, có Tàu. Ai kéo xe tăng, đại pháo vào miền Nam. Thế thì Ai xâm lược ai. Ai giải phóng ai? Miền Nam có cần ai giải phóng? Ai Ngụy hơn ai?

Vì thế, có lần ông Lê Đức Thọ và ông Xuân Thủy gặp phái đoàn miền Nam- đại diện là nhóm phản chiến, lực lượng thứ ba- được ra thăm miền Bắc, ở khách sạn Thắng Lợi. Ông Thọ nói rằng tiếng Ngụy cần bỏ đi. Ông Xuân Thủy phụ họa: Bây giờ mà còn dùng chữ Ngụy là mất dấu nặng. Là Nguy.Và xin trích dẫn văn bản chính thức của Cục báo chí xuất bản, số 06BCXB.

Kính gửi: Các cơ quan Thông Tấn Xã, Đài Phát Thanh, Đài Truyền Hình,các Báo chí Miền, Thành phố và các Tỉnh.Chấp hành ý kiến của lãnh đạo, chúng tôi xin thông báo các đồng chí được rõ:Kể
từ nay, các bài viết đăng trên báo và phát trên đài, ta nên thống nhất
dùng chữ: Những người trong quân đội và chính quyền cũ thay cho chữ:
Ngụy quân và ngụy quân Sài gòn đã dùng trước đây.Mong các đồng chí chú ý thực hiện đúng.Này 17 tháng hai năm 1976.

TM Ban lãnh đạo
Cục Báo chí Xuất bản.
(Ký tên và đóng dấu)T.T.T

(trích dẫn hồi ký của Hồ Ngọc Nhuận Đời hay Chuyện về những người tù của tôi, trg 52-53-.Ông vừa mới qua đời 1935-2022)

Tưởng rằng từ nay tiếng Ngụy đã đi vào dĩ vãng. Gần nửa thế kỷ, nó vẫn còn văng vẳng đâu đây.Nhà văn Dương Thu Hương (1947…)Một hình tượng phản diện của miền Bắc

Nhà văn Dương Thu Hương vốn là một đoàn viên Thanh niên xung phong của một thời oanh liệt về “một cuộc chiến khác mà hầu hết chúng ta không biết đến”. Họ trực diện với cuộc chiến và nỗi đau. Họ là những cô gái không được biết đến- họ có mặt mà như thể không có mặt-. Họ bị lãng quên trong cuộc chiến mà chủ yếu chỉ là quân đội. Họ thực ra là quân chủ lực của Đường mòn Hồ Chí Minh, với với hơn 52.000 người- hầu hết là phụ nữ gia nhập.

Cô Huỳnh Thị Tiếp nhớ lại:“ Da nổi ghẻ, tóc trên đầu nhiều cháy rận, các bộ phận kín trong người ngứa ngáy phát điên. Vấn đề vệ sinh vùng kín của phụ nữ ít được đề cập tới. Tình trạng vệ sinh kinh nguyệt thiếu thuốc men, thiếu băng vệ sinh, đồng phục để thay và ít có điều kiện tắm rửa.

(Trích tóm lược Francois Guillemot. « Trực diện với cái chết và nỗi đau. Vấn đề TNXP trong chiến tranh Việt Nam 1950-1975 ». Bản dịch Phương Hòa trên Talawas của Phạm Thị Hoài)

Phần DTH. chua chát về mối gắn bó giữa loài bọ và chiến tranh.: Tôi nằm xuống ván, gối đầu lên tay, đăm đăm nhìn kèo hầm. Dọc theo kẽ nứt của cây kèo, một đàn rệp béo mọng xếp hàng nằm nghỉ. Lũ rệp thời chiến là những ông hoàng, bà chúa. Chúng được tự do và luôn luôn no đủ. Người ta hiến máu cho chúng một cách vui vẻ so với lệ phí của bom đạn thì đó chỉ là những khoản thuế còm.(Dương Thu Hương, tiểu thuyết Vô Đề, trg 64)

Xông ra mặt trận từ tuổi 20-tuổi của ăn học, mơ mộng và tình yêu trai gái-. Bà là một chân dung tiêu biểu nhất của cuộc chiến thảm khốc này. Bà đã vẽ lại một một cảnh tượng hầu như phi thực về một cái chết bi thảm của 6 cô gái trong rừng mà mùi hôi thối giậy lên nồng nặc như thể dẫn đường cho những người sống đến tìm. ‘Chúng tôi hướng vào góc rừng đã tỏa ra mùi thối khủng khiếp mà đi. Tới Vực cô hồn, gặp 6 cái xác truồng..Xác đàn bà. Vú và cửa mình bị xẻo, ném vung vãi khắp đám cỏ xanh. Nhờ những tấm khăn dù, nhờ những chiếc cổ áo sơ mi kiểu lá sen tròn và hai ve nhọn mà chúng tôi nhận ra đấy là những con gái miền Bắc. Có lẽ họ thuộc một binh trạm hoặc một đơn vị TNXP cơ động nào bị lạc. Cũng có thể họ đi kiếm măng hoặc rau rừng như chúng tôi rồi vấp bọn thám báo.’

(DTH. Tiểu thuyết Vô Đề, trg 8)

DTH vì thế còn là một biểu tượng cực đoan cùng cực, một ngòi bút dữ dằn như những lát gươm chém và hư cấu hiện thực vô bờ ngoài cả sức tưởng tượng. Bà là biểu tượng cho sự kinh tởm đến tuyệt đối về cuộc chiến. Sự lừa phỉnh của chiến tranh và sự che dấu một cách bài bản những điều cấm kỵ của những năm 90 của cấp lãnh đạo miền Bắc.

Bà đã bóc trần ra một cách trần truồng tình cảnh các chị em trong TNXP. Bà đã phơi bày việc xâm hại tình dục cũng như tàn phế do chiến tranh để lại và về những chấn thương tâm thần và thể xác cho lớp TNXP như bà.Theo bà, họ phát điên loạn lên. “Mấy cậu (chỉ mấy cô TNXP. NVL) sốt rét ác tính, điên rồ, cởi hết áo quần ra mà nhảy múa, la hét.”(DTH. Tiểu thuyết Vô Đề, trg 100)

Đó là những Hội chứng do chiến tranh vì nỗi nhớ nhà, từ đời sống bình thường yên hàn sang chiến tranh, từ lý tưởng cao vời đến thực tế khô trồi, từ những lo ngại hiểm nguy chết tróc rình rập, từ những mất mát và tuyệt vọng trở thành Nỗi điên tập thể. Về bệnh hay cười.Cộng thêm những ham muốn tình dục, những đòi hỏi khát vọng thỏa mãn và những cuộc tình vụng trộm bị cấm đoán cũng là là một phần của cuộc chiến này mà không ai lường trước được.

Đó là một cuộc sống như một bi kịch phi thực ngoài sức tưởng tượng của con người. Phần tôi có thể chỉ là người miền Nam, có thể đứng bên lề cuộc chiến tàn bạo và phi nhân ấy đành chỉ biết thầm lặng: Thì hãy mời bạn đọc miền Nam người tự mình cầm lấy và đọc: Tolle et Lege.Góc nhìn của David Lamb: « Nữ cán binh thời chiến, nỗi đau thời bình »

Ngoài cuộc chiến của TNXP do Francois Guillemont viết. Chiến tranh phi nhân ấy còn được mô tả dưới góc nhìn khác của David Lamb.Thay vì nói về những tàn khốc của cuộc chiến. Ông nói về: Nỗi đau thời bình.

Có thể nói không một nước nào- trừ Liên Xô- trên thế giới này xô đẩy ra chiến trường những đội binh nữ trẻ, tuổi mộng mơ vào một địa ngục trần gian chỉ để chu toàn một giấc mơ hão huyền của tuổi trẻ.Nhưng vấn đề quan trọng không hẳn là trong cuộc chiến mà là sau cuộc chiến khi hòa bình trở lại. Số phận những cô gái này ra sao. Hãy nghe một số nhân chứng sống sót trở về qua tâm sự của họ.

Lời bà Vũ Hoài Thư, một trong số 500 phụ nữ trong đoàn chiến binh 559, quê ở Ninh Bình, cách 60 dặm ở phía Nam Hà Nội. Người đã chiến đấu trong cái mà người cộng sản Việt Nam gọi là Cuộc Chiến Chống Mỹ. Bà than và tâm sự: ‘Ôi, rừng sâu đã làm tôi già đi biết bao nhiêu. Cuối cùng, tôi đã gặp một người con trai dễ thương. Anh ấy đã hỏi cưới tôi, nhưng cha mẹ anh không cho. Anh đã không muốn rời bỏ tôi, nhưng tôi đã thuyết phục anh là anh phải bỏ. Tôi đã quá yếu vì sốt rét và thiếu ăn. Tôi nghĩ rằng tôi sẽ không bao giờ để sinh con đẻ cái cho anh ấy’.

Họ nói về chuyện trở về nhà với đời sống còn khó khăn hơn là đời sống mà họ đã rời bỏ. Họ cay đắng dai dẳng trong suốt bao nhiêu năm đã là những chiến sĩ bị bỏ quên trong một cuộc chiến tranh mà những người đàn ông chiến đấu- chứ không phải phụ nữ- đã trở thành anh hùng.

Theo lời bà Nguyễn thị Bình: ‘Tôi đã tưởng cuộc đời tôi sau chiến tranh sẽ giản dị và hạnh phúc, cân được 85 pounds khi trở về nhà. Nhưng tôi đã để cho người bạn trai tôi ra đi. Tôi đã nói với anh ấy rằng với những chứng bệnh của tôi, với một chân bị thương của tôi, tôi sẽ là một gánh nặng cho anh ấy.

Bà Bình đã sống một mình suốt 17 năm, một hình thức lưu vong trong một xã hội còn nặng thành kiến về phụ nữ trong gia đình, nhất là về hôn nhân. Thế rồi, do sự thúc dục của những cựu đồng chí trong đoàn phụ nữ- đoàn 559-, bà Bình đã lấy một người chồng qua đêm và sinh được một đứa con gái. Bà và đứa con tên Lan, hiện 10 tuổi, sống với nhau trên một cánh đồng lúa nhỏ do bà canh tác.

Trong số những phụ nữ của Đoàn 559, họ là 50 người đã trở về như những người tàn tật và 40 người đã không trở về. Trong một buổi họp ở Ninh Bình, người chỉ huy của đoàn là Trần thị Bình đã cùng nửa tá người mặc những đồng phục cũ tại một tiệm ăn nhỏ. Và khi bữa ăn được dọn ra, bà Bình đã chia xẻ với các bạn một bài thơ do bà sang tác: ‘Thời con gái’. Bà vừa ngâm và vừa nhắm mắt lại:

Tôi muốn đốt một nén hương
Cho những người con gái xấu số
Vẫn đợi chờ
Chúng tôi những cô gái Trường Sơn,
Tóc đã hoa râm và lòng tràn đầy kỷ niệm,
Tưởng nhớ những người bạn tình
Đã đi xa không bao giờ tìm được

Những phụ nữ khác tại bàn ngoảnh mặt đi. Một vài người úp mặt vào lòng bàn tay. Vài người lấy giấy thấm nước mắt.

Khi bà Bình chấm dứt, một sự im lặng bao trùm. Rồi có người lên tiếng: “Hãy làm cho ngày hôm nay là một ngày vui đi.”.Phúc âm của tội ác

Sau này, nhà văn DTH trong Tự Bạch cho rằng: sau chiến thắng, tác giả chỉ được một con búp bê về làm quà cho con, tác giả đau xót nhận ra rằng biết bao hy sinh mất mát để trả giá cho một vinh quang khải hoàn môn chỉ là ảo tưởng.

Nỗi đau xót ấy nêu bật lên nghi ngờ về mục tiêu của cuộc chiến mà bây giờ bà mới ngộ ra cũng như nhiều nhà văn nổi tiếng khác đã trở lại đạo làm người và cổ võ cho tinh thần xét lại như mội cải đạo. Sự nhìn lại ấy bây giờ trở thành sự cứu rỗi cuối cùng. Nó trở thành như Tấm áo giáp tinh thần lúc này giúp che chắn tâm hồn. Nay nó chính là Niềm TinNhư trong các cuốn: Bên Kia Bờ Ảo Vọng(1987), cuốn Thiên Đường Mù. (1988), Chốn Vắng. (2002).

Những cuốn sách này như một nhân chứng tố cáo sự lừa đảo tuyên truyền bánh vẽ mà thật sự chỉ là ảo vọng. Hầu hết các tác phẩm của bà đều được dịch ra tiếng Pháp, hoặc tiếng Anh, vì chúng bị cấm ở trong nước.

Đây là những cuốn sách mở đường cho sự tố cáo sự tàn bạo và dối trá, lừa đảo của cuộc chiến. Bà tuyên bố thẳng thừng: Không thể xếp tôi đứng với hàng ngũ những người mà tôi khinh bỉ.

(trong Bách Khoa toàn thư Wikipedia)

Sự lăn xả nhập cuộc như lên đồng trong chiến tranh lúc ban đầu cũng như sự dứt khoát khước từ khi không còn chiến tranh của bà là một tấu khúc hoàn hảo của toàn thể xã hội miền Bắc.

Biện chứng vào và ra là thái độ của nhiều đảng viên kỳ cựu khác- ước mơ-lầm lỡ và bội phản- như tướng Trần Độ, Hoàng Minh Chính, Nhật ký Tô Hải « Hồi ký một thằng hèn » nhất là nhà văn Trần Đĩnh với cuốn Đèn Cù.

Họ đã lột xác trong đau đớn, bị khinh bỉ, tủi nhục và nỗi cô đơn.Tóm một lời: Khi biết được mình đã lầm lỡ thì tóc trên đầu đã bạc phơ!!B. Phần Hai về miền Nam với lòng tử tế.* Lòng tử tế qua các bài học vỡ lòng: Sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư

SáchQuốc Văn Giáo Khoa Thư xuất bản từ năm 1935 do Nha Học Chính Đông Pháp. Soạn giả là các ông Trần Trọng Kim và các ông Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc, Đỗ Soạn… Nó gồm 4 cuốn: một cuốn cho lớp đồng ấu tương đương lớp một. Một cuốn cho lớp dự bị tương đương lớp hai. Cuốn Sơ Đẳng tương đương lớp 3. Và cuốn Luân lý Giáo khoa thư nói chung.. Nó thâu tóm toàn bộ các bổn phận làm Người tử tế.

Nó bắt rễ sâu trong tâm thức người Việt Nam trong cách ứng xử với cha mẹ tổ tiên, với Trời đất, với thày dậy,với chính bản thân mình, với họ hàng, bạn bè, với kẻ ăn người ở, dĩ chí cả với súc vật. Nó như một gia tài đồ sộ, một thứ Văn Hóa Phi Vật Thể (Văn hóa phi vật thể là những giá trị tinh thần như Ca dao, Tục ngữc- khác với Văn hóa vật thể như Đền đài, lăng tẩm. NVL).

Văn hóa phi vật thể dành cho mọi người- không trừ- từ ngoài Bắc trước 54 và tồn tại trong Nam từ 1954-1975. Lớp trẻ tiểu học coi như những bài học vỡ lòng như hành trang chuẩn bị vào đời. Đây là những bài học giản dị, dễ hiểu, mỗi bài đều tóm tắt bằng một câu ngắn ngọn, khắc in vào đầu mà nay chính bản thân tôi còn nhớ được như:- Với Trời-Đất: Lạy Trời mưa xuống. Lấy nước tôi uống. Lấy ruộng tôi cày. Lấy đày bát cơm. Lấy rơm đun bếp…– Với Cha-Mẹ: Công cha như núi Thái Sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ kính cha. Cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con…– Với Con Trâu và Người đi cày: Trâu ơi ta bảo trâu nay. Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta..– Nó còn vô số các bài học thực tiễn khác như:- Thờ cúng tổ tiên.- Anh em như thể tay chân.- Xuân đi học coi người hớn hở.- Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao.- Lá rành đùm lá rách.- Một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ.- Thấy người hoạn nạn thì thương.- Không tham của người.- Có học phải có hạnh.- Chớ nên nói xấu người.- Không nên hành hạ súc vật.- Học trò đối với Thày. Nhất là câu chuyện ông Carnot về thăm thày cũ dễ thương và cảm động: “ Thưa thày, con là Carnot đây.. thày còn nhớ con không?Nó được coi như cuốn cẩm nang hành trang cho tuổi trẻ vào đời.

Trong Hương rừng Cà Mâu của nhà văn Sơn Nam, xb năm 1962, có truyện ngắn: “Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư” cho thấy dấu ấn tình tự con người bàng bạc trong thơ văn, trong nếp sống dân giã..của con người Đồng bằng sông Cửu Long, nơi còn được gọi là Văn minh miệt vườn.Sau này, ở miền Nam QCGKT được đổi ra thành môn Công Dân Giáo Dục thời VNCH.Nơi đây, tôi muốn bày tỏ riêng niềm tri ân đối với miền Nam mà tiêu biểu là các thày cô giáo bậc tiểu học đã cấy vào tâm hồn trẻ thơ của cả một lớp người trẻ trong tinh thần Giáo Khoa Thư và Luân lý Giáo khoa Thư. Không có họ, không có QVGKT mà cũng chẳng có lòng tử tế.

Miền Bắc ngay từ 1935 đến 1954 cũng được thừa hưởng gia tài của QVGKT như miền Nam qua người dân Hà Nội.. 

Rất tiếc, sau 1954, Sách QVGKT như nhiều tài liệu quy báu khác bị người cộng sản Hà Nội quăng vào sọt rác. Thay vì yêu cha, yêu mẹ, yêu tổ tiên ông bà. Thay vì yêu bạn bè, yêu súc vật thì nay thay thế bằng một hình tượng mới: Yêu Bác Hồ. Trẻ con đêm nằm mơ thay vì thấy Tiên thì nay thấy Bác Hồ. Mẫu người Người Tử Tế nay hiếm hoi mà thay bằng mẫu Người Anh Hùng đủ loại. Mẫu người anh hùng ở miền Bắc thì nhan nhản ngoài đường phố. Ra đầu ngõ là gặp.

Mẫu người Tử tế trong chính quyền miền Nam.

Miền nam có cái may mắn là được kế thừa lòng tử tế truyền lại. Vì thế, lãnh đạo chính quyền có các chính sách khoan hồng, hòa giải như chính sách binh vận, dân vận, nhất là Chiêu Hồi. Chính sách đó không hẳn là chính trị, nó vượt trên chính trị mà căn bản, nó dựa trên tình tự tình người như tình nghĩa đồng bào, tình nghĩa xóm làng, gia đình, họ hàng, bạn bè. Hiện tôi còn giữ trong tay tài liệu ghi rõ sự quan trọng của chính sách Chiêu Hồi thời đệ nhị Cộng Hòa:

Bộ Thông Tin và Chiêu Hồi.

Đánh nhau là truyện bất đắc dĩ. Chiêu Hồi mở đường cho sự gia nhập, hòa giải.Cho nên, các tình tự con người trong các chính sách đó được coi trọng hơn là lập trường chính trị nhất thời.Xin nêu ra một vài trường hợp được kể lại: Có lần nhà thơ Cung Trầm Tưởng nói với tướng Kỳ- một tướng võ biền đòi đem máy bay bỏ xuống miền Bắc- vào năm 1968 .Thanh Nghị vào khu. Cung Trầm Tưởng nói với tướng Kỳ cho phép anh đưa chị Tâm Vấn (vợ Thanh Nghị. Sau này bà Tâm Vấn lấy bác sĩ Nguyễn Đan Quế) vào ở cư xá Không quân TSN. Tướng Kỳ đồng ý và thỉnh thoảng hỏi thăm chị Tâm Vấn có khỏe không. Đó là tình người- người vượt ranh giới chính trị.

Trường hợp Thanh Lãng cùng với Nguyễn Văn Trung đi chiếc xe hơi từ Vũng Tàu về, bị lính Mỹ lấy đá chọi chơi bể kiếng xe. Ông đã gửi thư đến tòa Đại sứ Mỹ phản đối việc đó. Tòa Đại sứ đã viết thư xin lỗi và đề nghị tiền bồi thường. Người Mỹ biét tôn trọng dân chủ, biết tôn trọng luật pháp. Cứ giả dụ, thay vì lính Mỹ, đây là lính Tàu thì họ có bồi thường không?

Những người bạn cùng lớp với tôi thời sinh viên đại học Đà lạt như Dương Văn Ba, Nguyễn Trọng Văn đều theo bên kia hầu như công khai, nhưng vì tình bạn nên chúng tôi làm lơ, chả ai tố cáo gì. Mà có tố cáo thì còn có thủ tục pháp lý, có nhân chứng, có luật sư nữa. Rồi còn những nhóm thành phần thứ ba hàng vài chục người, thành phần phản chiến, hoạt động công khai như Hồ Ngọc Nhuận, Ngô Công Đức, Lý Chánh Trung, Lý Quý Chung có sao đâu! Họ biết chắc một điều: Phản đối cứ phản đối. Họ không sợ đến an ninh của họ vì không có chuyện trả thù, không sợ công an chìm mò tới nhà bắt cóc mang đi.

Tôi nghĩ miền Nam thua miền Bắc vì cái tình người, cái lòng tử tế ấy.

Tôi hỏi và tự trả lời. Những hoạt động như thế có thể xảy ra ở Hà Nội hay không?Vì thế, nhiều người phía bên kia do chính sách Chiêu Hồi đã quay về với chính quyền miền Nam mà con số lên đến vài chục ngàn người.Tiêu biểu nhất có thể là nhà văn Xuân Vũ (ông là cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc, rồi được điều động vào miền Nam trên đường Trường Sơn. Rồi chấp nhận chính sách Chiêu Hồi.1930-2004) ông đã có trên 90 đầu sách bao gồm truyện ngắn, truyện dài, hồi ký.

Tôi đã từng đọc ông một cách hứng thú với lối viết không dài dòng, trung thực mà không tuyên truyền bịa đặt, xuyên tạc, cũng không phỉ báng ai, dù là chế độ miền Bắc mà ông đã từng đi tập kết. Cuốn Đường Đi không đến, tập hồi ký vượt Trường Sơn đã được trao giải thưởng văn chương toàn quốc, năm 1973.Hiện tôi cũng còn giữ một tập tài liệu photocopy khá đặc biệt nhan đề: “Bội phản hay chân chính”. Tác giả là cán bộ nằm vùng tên Dư Văn Chất bị mạng lưới tình báo của Đoàn Công Tác Đặc Biệt miền Trung Ngô Đình Cẩn giam giữ tại trại Lê Văn Duyệt, đường Tô Hiến Thành. Sau 1975, những người bị tù này được thả ra và chính quyền cộng sản không tin dùng, vì bị lê Đức Thọ coi là: Có vấn đề. Có người bị nghi ngờ vu khống, mất chức hoặc chết oan uổng sau 1975 chỉ vì câu nói của Lê Đức Thọ, trưởng ban tổ chức Trung Ương. Họ với họ từng là đồng chí, nay nghi ngờ nhau.

Người cộng sản lại sợ chính người cộng sản.

Ông Dư Văn Chất đã viết tập tài liệu này để biện minh cho việc họ vẫn trung thành với đảng. Ông viết: “Bằng tác phẩm này, tôi muốn nói với Đảng, với người thân và bạn bè, với người yêu và kẻ ghét, nói thay cho người đã chết và cho cả người còn sống.’ Tập ký 233 trang đề 19 tháng 8 và 2 tháng 9, 1992 và tháng 7, 1993. Đặc biệt nhờ ông Trần Quốc Hương (tức Mười Hương), có thời là UVTƯĐ, linh hồn của cục tình báo viết thư tay cho ‘Anh Hai Tân, phó bí thư Thành Ủy và anh Tư Sang, phó bí thư Đảng Ủy TP. HCM, yêu cầu cho xuất bản. Không được bị từ chối. Họ đành in phocopy 100 bản và đây là một trong những bản ấy”.Xin trích dẫn một phần tập tài liệu đề cập đến trại giam Lê Văn Duyệt của ông Ngô Đình Cẩn.Nhà tù không song sắt.

Dư văn Chất viết:” Ngủ có divan hoặc giường sắt hay ghế bố, mỗi người một cái,có mùng, có tấm đắp đàng hoàng. Có giờ, có giấc. Ăn uống cũng khá hơn chế độ thầu. Có câu lạc bộ, có phòng đọc sách, có sân banh giải trí, có bàn ping pong.‘Ăn cơm Tiều’, một danh từ được khai sinh trong trại Lê Văn Duyệt. Không biết bên chính quyền dự chi về ăn uống một người được bao nhiêu mà ở trại Lê Văn Duyệt thì chúng tôi được 5$50 tiền chợ mỗi trại viên hưởng một ngày. Đáng lý chúng tôi mỗi người ăn 5$50, nhưng chúng tôi khai cơm Tiều, nghĩa là một mâm 4 phần ăn. Chứng tôi ăn năm người.. Phần dư ra 5$50 thay nhau lãnh. Ăn sáng 1$ một người. Nếu nhịn thì một tháng cững được thêm 30$.Ở tù mà lãnh lương, ở tù mà cũng đi phép nghỉ. Có nhiều anh ở tù lâu, cuối tuần được nghỉ phép. Chiều thứ bảy về, sáng thứ haivô. Hoặc có anh về hằng đêm, 5 giờ 30 sau giờ làm việc ra cổng, sáng 7 giờ 30 về ở tù. Theo tôi, nhà tù trại giam Lê Văn Duyệt của ông Ngô Đình Cẩn là có một không hai trên thế giới. Đó là tù không song sắt. Nói ra thì không một ai tin. Nhưng sự thực là như vậy, do chính tù nhân trại giam viết lênNhững sự kiện như thế là một thực tế có thật, chỉ có thể xảy ra ở miền Nam mà không thể nào xảy ra ở miền Bắc.

Trong cuộc chiến Nam-Bắc, số tù binh cộng sản ở trong Nam hẳn là cần nhiều trại giam. Một phần chính quyền xử dụng những nhà tù có sẵn từ thời Pháp thuộc như Khám Lớn, nhất là tại Poulo-Condonré được coi như hỏa ngục của người sống. Rồi mỗi tỉnh thành trong Nam đều có nhà tù để giam giữ cán binh cộng sản. Vẫn không đủ sức chứa tù nên còn lập thêm các trại giam như trại Phú Lợi, trại Tân Hiệp. Riêng trại Tân Hiệp có lúc chứa đến 3000 người. Sự tàn nhẫn, đánh đập, hiếp đáp, ăn uống thiếu thốn- tôi thiển nghĩ- do lòng tham của ban Quản Đốc trại, thật khó mà tránh khỏi.Nhưng nếu so với các trại Tập Trung Cải Tạo sau 1975 thì chẳng thấm thía gì.

Tôi dám gọi các trại cải tạo ấy là một thứ tội ác chống lại con người. Ngụy quân, ngụy quyền bị nhồi sọ, tẩy não. Họ bị Giam không xét xử. Không thời hạn. Có người bị giam đến 17 năm tù” Đó là một thứ nghĩa địa chôn vùi cuộc sống của người tù. Tất cả là một sự tính toán tinh vi, tàn bạo để con người chết chậm, chết dần dần đến tàn tạ. Nhiều người khi được thả về chỉ còn là một tấm thân tàn phế như một phế vật.

Vì thế, tôi mới ngộ ra, các nhà văn miền Bắc có từ: Sống mòn. Gớm thay, tội ác của cộng sản. Người miền Nam khó có thể quên được.Lòng tử tế của miền Nam còn rộng mở đón nhận những tinh hoa từ miền Bắc.Điều này càng cho thấy đất Bắc không thực hiện được lòng tử tế, vì toàn bộ miền Bắc bao phủ cuộc chiến với hận thù với xác quân thù. Quân thù nào, là ai? Chúng ta cứ thử nghe bài quốc ca- còn được gọi là Tiến Quân Ca do Văn Cao sáng tác- được coi là là linh thiêng, là linh hồn của tổ quốc với nội dung rực lửa kể từ ngày 2 tháng chín năm 1945 đến nay đã hơn 70 năm!!:“ Đoàn quân Việt Nam đi . Chung lòng cứu quốcBước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước.Súng ngoài xa chen khúc quân hành ca.Đường vinh quang xây xác quân thù.Thắng gian lao cùng nhau lập chiến khuVì nhân dân chiến đấu không ngừngTiến mau ra xa trường. Tiến lên. Cùng tiến lênNước non Việt Nam ta vững bền.Bài hát xem ra không hợp thời nữa. Đáng nhẽ phải đổi.Bản thân người viết đón nhận những nhà văn miền Bắc trong tâm tình tử tế và kính trọng.

Những nhà thơ, những nhạc sĩ như gia tài chung của Việt Nam mà không chút nề hà. Những nhà văn lớp Nho học còn sót lại như Ngô Tất Tố. Ông từng đả kích những ông quan đầu sỏ như Hoàng Trọng Phu, Phạm Quỳnh: “Ấy thế mà ông chủ bút Nam Phong chỉ nhảy đánh vọt một cái lên làm được ghế Thượng Thư bộ giáo dục, bàng quan ai cũng phải ngạc nhiên. Người ta tưởng tượng như đứng trước một trò rất phi thường trong rạp xiếc.”(Phê bình Văn Học, Nguyễn Huy Tưởng, Ngô Tất Tố, Tô Hoài , trg 149). Ông viết Việc Làng, Lều Chõng. Nhưng Tắt Đèn là tác phẩm hiện thực xuất sắc nhất với hình ảnh chị Dậu.Tôi đã có dịp đọc tất cả trong sự say sưa và nể phục.

Rồi những nhà văn như Trần Tiêu (tác phẩm Con Trâu),ông là em ruội Khái Hưng . Rồi một lượt những nhà văn như Nguyễn Tuân với Chùa Đàn, Tóc chị Hoài, nhất là Vang bóng một thời mà theo Vũ Thư Hiên ông được coi như bậc thầy của ngôn ngữ: << Chữ nào ông dùng cũng đắt, khó thay bằng chữ khác>>. Rồi đến Tô Hoài, Nguyên Hồng.Tôi còn giữ Tuyển tập Nguyên Hồng, xb 1985. Đọc mà ngậm ngùi. Tô Hoài với Dế mèn phiêu lưu ký(1941), O chuột, xóm Mới, Nhà nghèo.Cũng phải kể đến thi sĩ Hồ Dzếnh với những bài thơ lục bát mượt mà. Nói chi đến Xuân Diệu, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Khái Hưng, Nhất Linh trong các giáo trình của các lớp trung học đệ nhị cấp của VNCH trước 1975. Lưu Trọng Lư còn đình đám hơn với bài Tiếng Thu , chỉ có 9 câu được phổ nhạc:

Em không nghe mùa thu.
Dưới trăng mờ thổn thức.
Em không nghe rạo rực.
Hình ảnh kẻ chinh phu.
Trong lòng người cô phụ

Nhạc có Văn Cao sánh vai cùng với Trịnh Công Sơn, Phạm Duy một thời. Nhưng số phận ông cũng hẩm hiu mặc dầu là người sáng tác ra bài Tiến quân ca.Nhưng trước hết và hơn cả là Nam Cao. Ông đã thênh thang vào ngưỡng cửa trường đại học văn khoa Sài gòn với truyện ngắn Chí Phèo. 

Đến ngay những nhà văn nổi tiếng một thời như Mai Thảo, Doãn Quốc Sĩ, Võ Phiến của miền Nam cũng không có được cái vinh dự ấy.Trong khi số phận những nhân tài đất Bắc, số phận họ ra sao? Họ đều phải Tự kiểm duyệt, nơm nớp sợ bị thổi còi như Nguyễn Tuân, như học giả Đào Duy Anh, như Văn Cao và rất nhiều văn nghệ sĩ khác.. Văn học miền Bắc đã có cắm cột mốc: muốn làm gì thì làm, nhưng không được động đến chính trị. Tôi nghĩ đến một xứ chột bị bịt mắt, bịt mồm. Đời sống thì lao đao túng bấn như Văn Cao, Nguyên Hồng, Tô Hoài.Tờ Đất Nước, tháng giêng 1968 đã dành hẳn một số để kỷ niệm: 50 năm Cách Mạng tháng mười

Đi thêm một bước nữa, tiến xa hơn, trong Nam, giới trí thức, nhất là thành phần thứ ba, nói viết và phản kháng, đòi dân chủ, đòi chấm dứt chiến tranh mà không sợ nhà cầm quyền bắt giam. Người ta vẫn có thể biểu lộ quyền yêu hay ghét cộng sản. Nhưng bao lâu chỗ nào còn lầm than áp bức, bất công, chủ nghĩa Mác vẫn là một sự quyến rũ, một niềm hy vọng giải phóng !!!! Riêng đối với các dân tộc bị trị, cộng sản có phải là con đường độc nhất và cuối cùng để thực hiện hai mục tiêu trên không.

Đất Nước, chủ bút Nguyễn Văn Trung đã tự hỏi. Vì thế đã có những bài:Cách Mạng Nga 1917 của Nguyễn Khắc Ngữ.Trí thức Nga trước Cách Mạng của Diễm ChâuTừ Cách Mạng tháng 10 đến Cách mạng tháng 8 Trương Bá CầnCảm nghĩ về cuộc Cách mạng Nga Lý Chánh Trung.Cộng sản người anh em của tôi Nguyễn Văn Trung.Nguyễn Văn Trung còn năng nổ viết cuốn: Hành Trình Trí thức của Karl Marx. (in xong 15-10- 1966. Có giấy phép số 666 BTT. NHK. PHNT) Trần Văn Toàn: “ Tìm hiểu Triết Học Karl Marx”.

Số phận những trí thức ấy ra sao sau 1975?

Còn ra sao nữa!! Bị Truy dập, bị tù đầy. Cả 200 giới văn nghệ sĩ Sài gòn đều bị bắt đi tù, đi cải tạo. Mà cái tội chỉ vì cầm bút. Như Vũ Hoàng Chương, Doãn Quốc Sỹ. Hoàng Hải Thủy, Tạ Tỵ, nhà văn Thảo Trường. v vv..Trong số đó có Nguyễn Văn Trung. Theo Nguyễn Văn Trung viết lại, một người trong Ủy Ban Quân Quản ĐHVK Sài gòn nói: “ Chúng tôi không bố trí anh dạy học vì không thích hợp với cách chúng tôi đang thực hiện và để anh tự ý nghiên cứu theo lối nhìn của anh, thì những công trình nghiên cứu của anh sẽ ích cho đất nước nhiều hơn”. Nhưng nếu không dạy học, không có lương lấy gì mà sống?Đã hết đâu, ba năm sau, ông bị bắt giam, kết tội là: Phản động, C.I.A cho Mỹ (có thể bị tử hình hoặc chung thân).

Vào chiều ngày 14-6-1978, một toán công an đến đọc bản án và xét nhà, ông đã chỉ cho họ các tài liệu để họ lấy mang đi đầy một xe LaDalat. Sáng hôm sau, một xe tải lớn đến tịch thu kho sách trên sân thượng. Nhưng nghĩ thế nào, họ lại thôi. Chỉ niêm phong. Ông bị biệt giam một mình. Ngày ngày chỉ viết các bản tự khai. Sợ quá tưởng chết, ông viết chúc thư xin lỗi bạn bè, nhất là bà con anh em ruột thịt về những lời nói việc làm của ông.

Con trai trưởng của ông chứng kiến cảnh bố bị bắt giam nên đã quyết định tìm đường vượt biển và đã sang định cư ở Canada. Làm C.I.A cho Mỹ mà NVT không nói được một câu tiếng Mỹ. Phải nhờ Đặng Tiến hay Nguyễn Hữu Thái thông dịch. C.I.A nào nó mướn? 6 tháng sau, bất ngờ ông được trả tự do ở sở công an với lý do: Tạm tha vì lý do sức khỏe… Từ Phản động đến tha là một điều không hiểu được.Tôi có cảm tưởng, 6 tháng tù biệt giam ấy, NVT không biết có rút ra cho mình được bài học gì không.

Phần tôi đã từng chứng kiến xác những người đàn ông, đàn bà, chết cong queo, ám khói đen, vì cộng sản gài mìn trên đường số 5-Hà Nội- Hải Phòng. Lúc 5,6 tuổi, ở nhà quê, tôi đã nhìn thấy xác ngươi bị bỏ rọ, trương phình như lợn quay vập vờ đập vào kè đá cửa sông Đáy.Tôi đã ghi lại trong một bài viết: Câu truyện của một dòng sông.

Đúng như nhà văn Bùi Ngọc Tấn tâm sự:” Có lẽ lại phải viết thôi. Viết về tuổi trẻ bị đánh mất. Viết về tuổi già xót xa tuổi trẻ. Về nỗi xót thương nhau trong những trái tim mệt mỏi, những mái đầu bạc đang tính đếm những ngày còn lại. » (Trả lời phỏng vấn với nhà thơ Phạm Tường Vân trong dịp cuốn” Chuyện kể năm 2000 » vừa được xuất bản)

Dù sao, sau này ông NVT cũng có được một câu để đời giống vài người như Lý Chánh Trung, Ngô Công Đức.Lý Chánh Trung trên báo Tuổi Trẻ, năm 1988 có viết một bài về môn học triết lý K. Marx mà trước đây ông đã chót từng ca tụng thì nay ông chế diễu “Về một môn học mà thày không muốn dạy, trò không muốn học”. Còn dân biểu Đối lập Ngô Công Đức thì thẳng thừng hơn: “Tôi có hai điều không ưa. Đó là tôi không thích những người công an.Tôi cũng không thích người Bắc Kỳ. »Nguyễn Văn Trung thì văn hoa hơn: “Tham gia cách mạng là tham gia vào một quá trình tự hủy diệt sau này.”Phần tôi, tôi khẳng định triệt để, tôi giã từ người cộng sản ngay từ khi lên máy bay từ phi trường Gia Lâm di cư vào miền Nam năm 1955..Bởi vì họ thiếu tình người. Bởi vì họ không là những người tử tế..

Nguyễn Văn Lục

Tốt gỗ hơn tốt nước sơn

Trước chiến tranh, đại đa số người Việt không nghe tới Ba Lan, thậm chí còn trường xuyên nhầm với Phần Lan, bản thân Ba Lan cũng rất ít ồn ào, lẳng lặng tập trung phát triển xã hội của họ. Sau 30 năm thay đổi chế độ, GDP của Ba Lan tăng gấp 10 lần (chính xác là 1030% – từ 66 tỷ usd năm 1990 lên 680 tỷ usd năm 2020), xã hội yên bình, ổn định, ít tội phạm thuộc loại nhất châu Âu, trong khi các điều kiện phúc lợi xã hội, miễn học phí, y tế, giáo dục cho toàn dân ngày càng được cải thiện.
 
Nhưng chỉ khi cuộc xâm lược của Nga vào Ukraina nổ ra, tất cả thế giới mới thực sự ngạc nhiên về thực lực của quốc gia 39 triệu dân này. Trong 1 năm qua, họ đã làm được nhiều điều không tưởng, chưa ai từng làm nổi – trong toàn bộ lịch sử loài người.
 
Việc đáng kinh ngạc nhất là tiếp nhận khoảng 2,5 triệu lượt người Ukraina qua tỵ nạn chiến tranh, thường trực luôn có khoảng 1,8 triệu người ở lại Ba Lan, hầu hết là phụ nữ, trẻ em, người già… những người chỉ “mang thêm gánh nặng” cho xã hội họ. Nhưng không có một khu lều trại ổ chuột nào phải lập ra, thậm chí ngoài các khu tiếp nhận, không hề có “trại tỵ nạn” nào được thành lập. Đại đa số người tỵ nạn Ukraina được nhận “ở nhờ” trong các gia đình Ba Lan cho tới khi tự ổn định được cuộc sống, kiếm được việc làm hoặc trở về nhà. Không có nạn buôn người, tỷ lệ tội phạm không tăng – điều được chính Cao ủy Liên Hiệp quốc về người tỵ nạn công nhận. Người ngoài đường đông hơn, tiếng Ukraina có thể nghe thấy thường xuyên trên phố, nhưng không có xáo trộn nhiều.
 
Việc thứ hai là hỗ trợ cho Ukraina chiến đấu. Hàng ngàn xe tăng, pháo, xe bọc thép cùng hàng triệu viên đạn, tên lửa… ùn ùn được chuyển sang, rồi hậu cần, huấn luyện binh sỹ, tới mức Ba Lan luôn luôn đứng ở nhóm đầu viện trợ cho Ukraina, sát ngay các cường quốc lớn và giàu có hơn nhiều như Mỹ và Anh, vượt cả Đức.
 
Việc thứ ba là đảm bảo cung cấp lương thực, thực phẩm… cho thêm ngần ấy con người. Chiến tranh gây ra lạm phát, khiến giá cả tăng cao, nhưng cần phải thấy một điều là chưa bao giờ bị thiếu cả. Rồi bị Nga cắt cung cấp khí đốt, dầu hỏa, nhiên liệu, (anh em lông hồng từng rên lên vì sung sướng) nhưng sau 1 năm qua, có ai chết rét hay thiếu thốn gì không ?
 
Sống ở Ba Lan 30 năm, chứng kiến toàn bộ thay đổi mà chính bản thân mình còn phải kinh ngạc về nhận thức con người cũng như nội lực của họ. Khác hẳn những dự đoán của phía thân Nga: “ôi dào, trụ được mấy tháng”, 1 năm trôi qua, Ba Lan không hề “nghèo” đi, mà ngược lại, ngày càng mạnh mẽ hơn, công tác hỗ trợ Ukraina vẫn tiếp tục và sẽ còn tiếp tục.
 
Ngược lại, nhìn sang “lãnh tụ vĩ đại” Vladimir Putin cùng với một nước Nga suốt ngày được ca ngợi, tuy ngồi trên một đống tài nguyên, sẽ chỉ thấy đủ các loại vấn đề mà họ không hề “mạnh” như vẫn thường xuyên truyền bá. Phải chăng, đó cũng là bài học cho chúng ta: giáo dục nhân bản, ý thức đối xử người với người dẫn tới nhận thức chung tốt thì xã hội sẽ giàu mạnh lên thôi ? Phùng phùng tẹt tẹt, to mồm hô hào “vĩ đại” với “tự hào”, nhưng động việc thì trốn, thấy người yếu, người lạ thì giở thói côn đồ “biết bố mày là ai không” để bắt nạt, chiếm ưu thế, hơi tý ra là dùng nắm đấm, chửi bới, đánh nhau… thì sẽ dẫn tới cái gì ?
 
Ở Ba Lan chẳng mấy ai quan tâm tới xe đẹp, nhà đẹp, kinh doanh ngàn tỷ, hàng hiệu sang chảnh…, cũng chẳng hô hào vĩ đại, vinh quang, phần nhiều chỉ để ý tới việc: bản thân đem lại giá trị gì tích cực cho xã hội. Cứ lướt 1 vòng báo chí là sẽ thấy, sự khác biệt của hai quốc gia Việt Nam – Ba Lan lớn tới như thế nào, là có thể thấy tại sao họ thế này, mà chúng ta như vậy.
Tất cả bắt đầu từ giáo dục con người, từ chính bản thân mỗi cá nhân trong xã hội đấy. Chúng ta không phải sống tốt cho ai cả, chúng ta sống tốt cho chính mình thôi.
 
Bởi dối trá có đem lại cái gì tử tế dài hạn đâu ?
 
—-
 
p.s. Nhiều bạn khen mình làm được cái này cái kia, thế này thế nọ, không phải đâu, mình y chang các bạn, chẳng qua may mắn được đào tạo trong môi trường này, chịu khó nhìn họ, rồi suy nghĩ, thay đổi nên nhận ra được vấn đề.
 
Việt Nam là nơi mình sinh ra, nhưng Ba Lan đào tạo và hình thành nên con người mình. Nhờ vào đó, mình có cuộc sống của mình ngày hôm nay. Ít nhiều không quan trọng, cái quan trọng là mình cảm thấy đầy đủ, có ích, trước tiên là cho bản thân, gia đình, rồi xã hội chung quanh mình.
 
Vậy nên người Việt, nếu có được môi trường tốt, sẽ có thể phát triển không ? Chắc chắn là được. Nhưng làm thế nào để có môi trường tốt ? Phải bắt đầu từ bản thân mỗi chúng ta thôi, từ hôm nay, bây giờ, thì dần dần sau này con cháu mới có nền tảng để phát triển tiếp, đúng không ?
 
Con đường của Ba Lan chính là ở chỗ đó.
 

Vài điều trông thấy- tác giả Phùng Văn Phụng

Trong thời gian qua có vài sự kiện rất đáng cho ta suy nghĩ.

Tác giả: Phùng Văn Phụng

1)Virus Vũ Hán bùng nổ từ tháng 02 năm 2020 cho đến nay tháng 02 năm 2023 là đúng ba năm,

thống kê đến ngày thứ tư ngày 15 tháng 02 năm 2023) cho biết:

*Số người chết vì Virus Corona:

*Toàn thế giới có 6,785,896 người chết.

* Ở Hoa Kỳ có 1,141,220 người chết.

Thêm thiên tai vừa mới xảy ra ở Thổ Nhĩ Kỳ và Syria ngày 6 tháng 02 năm 2023, số người chết lên đến trên 46,000 người theo đài VOA

Cứu hộ động đất ở Syria, ngày 8/2/2023.

Cứu hộ động đất ở Syria, ngày 8/2/2023.

2)*Những người giàu có đang bị bắt giam:

-a)Trịnh Văn Quyết

Giá trị tài sản từng được ước tính khoảng 22,7 ngàn tỷ đồng, tương đương 1,02 tỷ USD.[2

Theo tin tức từ đài BBC báo Tuổi trẻ

Ngày29-3, Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can với ông Trịnh Văn Quyết – chủ tịch hội đồng quản trị Công ty CP Tập đoàn FLC, để điều tra tội thao túng thị trường chứng khoán

b)Tân Hoàng Minh

Theo tin tức từ đài Á châu tự do (RFA):

Ông Đỗ Anh Dũng, Chủ tịch Tập đoàn Tân Hoàng Minh vừa bị khởi tố và bắt tạm giam để điều tra về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điều 174 Bộ Luật Hình sự 2015. Bộ Công an thông báo tin này trên cổng thông tin điện tử chính thức của Bộ vào ngày 5/4/2022. Theo báo Dân Việt Khối tài sản gần 10.000 tỷ đồng của ông chủ Tân Hoàng Minh

Theo thông tin từ Bộ Công an, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Bộ Công an (C03) đã điều tra và xác định: trong thời gian từ tháng 7/2021 đến tháng 3/2022, Đỗ Anh Dũng và các cá nhân tại Tập đoàn Tân Hoàng Minh đã có hành vi gian dối, sử dụng ba công ty thành viên gồm Công ty TNHH Đầu tư bất động sản Ngôi Sao Việt, Công ty CP Đầu tư và Dịch vụ Khách sạn Soleil, Công ty CP Cung điện Mùa Đông và các công ty liên quan, phát hành chín đợt trái phiếu trái quy định pháp luật, tổng trị giá 10.300 tỷ đồng, để huy động tiền của nhà đầu tư nhưng không sử động vào các hoạt động kinh doanh theo hồ sơ phát hành trái phiếu.

Ngoài ông Đỗ Anh Dũng, công an cũng khởi tố và bắt giam sáu lãnh đạo khác thuộc Tập đoàn Tân Hoàng Minh.

Chủ tịch Tân Hoàng Minh bị bắt giam vì tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Ông Đỗ Anh Dũng Chủ Tịch Tập Đoàn Tân Hoàng Minh

-c)Bà Nguyễn Phương Hằng

Theo báo Dân Việt thì bà Nguyễn Phương Hằng đã Sở hữu Khu du lịch Đại Nam có quy mô xây dựng lên đến 6.000 tỷ đồng

Bà Hằng khẳng định: “Nếu nói về tài sản, thì 500, 700 triệu đô đến 1 tỷ đô tôi có... Mỗi lần tôi xuất hiện sẽ có một bộ trang sức khác. Kim cương của tôi lên đến hàng kí. Vì tôi đam mê nên tôi nỗ lực làm ra tiền. Tất cả các hiệu kim cương ở nước ngoài đều biết mặt tôi hết… Tôi đi những chiếc xe 40, 50 chục tỷ, có đến vài chiếc là chuyện bình thường. Tôi ở bao nhiêu căn nhà mặt tiền, sổ đỏ tôi cân kí nhưng tôi chưa bao giờ đem điều đó ra tự hào”

Vợ chồng bà Hằng, ông Dũng sở hữu dàn siêu xe với những mẫu xe đắt đỏ bậc nhất Việt Nam, có thể kể đến như Rolls-Royce Phantom, Rolls-Royce Ghost Series II, Rolls-Royce Wraith, Bentley Mulsanne EWB, Mercedes-Maybach S600 và Bentley Continental GTC.

Bà Nguyễn Phương Hằng sở hữu nhiều viên kim cương có giá trị

Việt Nam: Mạng xã hội ‘cuộn sóng’ khi bà …Nguyen Phuong Hang bi bat (BBC)

Dư luận Việt Nam, ít nhất qua mạng xã hội, cùng ngày bị thu hút vì tin bà Nguyễn Phương Hằng, 50 tuổi, Tổng Giám đốc Công ty Cổ Phần Đại Nam, bị Cơ quan cảnh sát điều tra (PC01) Công an TP HCM bắt tạm giam.

3)*Những người có nhiều quyền hành đang bị bắt giam:
a)Đỗ Hữu Ca

Ngày 18 tháng 2 năm 2023, Đỗ Hữu Ca bị Công an tỉnh Quảng Ninh bắt khẩn cấp về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” vì liên quan đến một vụ án hình sự về Trốn thuế, Mua bán trái phép hoá đơn, chứng từ nộp ngân sách nhà nước xảy ra tại Quảng Ninh và Hải Phòng.(RFA)

Nguyên Giám đốc Công an TP Hải phòng, thiếu tướng Đỗ Hữu Ca

*b)Vụ Việt Á:

Hơn 50 người bị khởi tố do liên quan đến vụ Việt Á gồm những ai?

Đặc biệt, gần đây nhất, trong ngày 7/6, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ công an đã quyết định khởi tố, bắt tạm giam đối với 3 lãnh đạo cấp cao thuộc Bộ Y tế, Bộ KHCN. Trong đó có nguyên Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thanh Long; nguyên Chủ tịch UBND TP Hà Nội Chu Ngọc Anh và ông Phạm Công Tạc, nguyên Thứ trưởng Bộ KHCN vì có sai phạm liên quan Công ty CP Việt Á

Trong gần nửa năm, có hơn 50 lãnh đạo cấp bộ, thành phố, Trung tâm kiểm soát bệnh tật (CDC) các tỉnh thành bị bắt, khởi tố do liên quan đến vụ án ở Công ty Việt Á.

*c)Vụ chuyến bay giải cứu:

Toàn cảnh vụ ‘chuyến bay giải cứu’ sau 1 năm khởi tố điều tra

4 bị can từ trái qua: Tô Anh Dũng, Nguyễn Quang Linh, Chử Xuân Dũng và Trần Văn Tân

Riêng tại Bộ Ngoại giao, 10 bị can bị khởi tố, phần lớn về tội nhận hối lộ. Trong số này có ông Tô Anh Dũng, cựu Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, và bà Nguyễn Thị Lan Hương, cựu Cục trưởng Cục Lãnh sự. Dính líu đến sai phạm còn có một loạt cựu cán bộ thuộc Đại sứ quán Việt Nam tại các quốc gia như Angola, Nhật Bản, Nga, Malaysia…

Tại Cục Quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an, 3 bị can cùng bị khởi tố tội nhận hối lộ, trong đó có ông Trần Văn Dự, cựu Phó cục trưởng. Tại Bộ Y tế và Bộ GTVT đều có 2 bị can bị khởi tố.

Văn phòng Chính phủ cũng có 3 bị can cùng bị khởi tố tội danh trên, trong đó có ông Nguyễn Thanh Hải, cựu Vụ trưởng Vụ Quan hệ quốc tế. Vướng vòng lao lý còn có ông Nguyễn Quang Linh, cựu Trợ lý Phó thủ tướng thường trực.

Mới đây nhất, kết quả điều tra mở rộng đánh dấu sự liên quan của 2 địa phương, với việc Phó chủ tịch UBND TP.Hà Nội Chử Xuân Dũng và Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Trần Văn Tân cũng bị khởi tố về tội nhận hối lộ.

Kết: Thành thật mà nói cái chết rất dễ dàng xảy ra cho bất cứ ai, nhất là trong đợt bịnh “virus corona” lây lan trên toàn thế giới vừa qua. Trong số những người đã ra đi chắc hẳn đã có bạn bè ta. Cái chết đâu chừa một ai?

*Hệ thống luật pháp không có tam quyền phân lập, không có tự do báo chí, không có tự do ngôn luận… Chế độ độc tài toàn trị đã không muốn nghe sự phản biện. Những người dám lên tiếng, nói khác với ý của nhà cầm quyền đều bị đi tù, nên “không bao giờ bài trừ được tham nhũng”.

Những trường hợp tiêu biểu trên cho chúng ta thấy rằng tài sản, quyền lực không phải là vĩnh cửu.

Đặt nặng tài sản, tiền bạc lên trên hết, không tuân thủ pháp luật, không chịu làm ăn đàng hoàng, cuối cùng rồi ai cũng phải chết, phải trả lời ra sao về những hành vi gian dối của mình trước đấng tối cao.

Con người ai ai cũng chỉ cần một cái giường để ngủ, ăn cơm ngày ba bữa, một bữa vài chén cơm. Không hiểu nổi tại sao nhiều người làm ăn bất hợp pháp để rất giàu có, cuối cùng phải chịu cảnh tù đày?

“Tri túc tiện túc đãi túc hà thời túc”, trong bài “Chữ Nhàn” của Nguyễn Công Trứ đã nói như vậy mà.

Rồi ai cũng phải chết tại sao lại tích trữ nhiều của cải quá như vậy, mấy đời con cháu xài không hết, quả là lòng tham không đáy?

Tác giả: Phùng Văn Phụng

TÂM THƯ MỘT NGƯỜI MẸ ĐAU KHỔ

TÂM THƯ MỘT NGƯỜI MẸ ĐAU KHỔ

Ðã bao năm lòng mẹ ao ước viết cho con những dòng chữ này, nhưng mỗi lần mẹ định gởi tâm tình qua dòng chữ thì mẹ chỉ thấy trang giấy ngập tràn nước mắt hơn là mực đen.  

Ẩn Danh

Hôm qua, mười năm trước đây, mẹ mang con trong lòng. Hôm sau, mẹ làm tim con ngừng đập. Mẹ, người mẹ của con, là người cho con sự sống, và cũng là người cho con sự chết.

Ðã mười năm trôi qua và mẹ vẫn rùng mình khi nghe đến hai chữ “phá thai.” Có một khoảng trống trong lòng mẹ không bao giờ lấp đầy được, một nỗi hiu quạnh không bao giờ ấm lại, nỗi buồn đau không bao giờ dứt. Ðối với mẹ, con luôn luôn là một bài ca không đoạn kết, một nụ hoa không bao giờ nở, một bình minh u ám bởi cơn mưa.

Ngay cả trong những giây phút mong manh cuối cùng của đời con, mẹ vẫn tự hỏi, “Con là trai hay gái?” Câu hỏi ấy vẫn liên tục vang lên trong đầu mẹ ngay khi tiếng máy hút con ra khỏi lòng mẹ và đời sống của mẹ. Dường như cái khao khát muốn biết con trai hay con gái đang bừng cháy trong lòng mẹ, nhưng không hiểu vì sao mẹ không thể hỏi người chuyên viên phá thai, họ đang nhìn mẹ mỉm cười. Thay vào đó, mẹ chỉ gật đầu khuất phục và buồn thảm khi người này đập nhẹ vào tay mẹ và nói, “Cô không vui khi mọi chuyện đã xong sao?”

Mẹ nằm trong vũng máu, nước mắt và mồ hôi, mẹ có thể nghe những người y tá trò chuyện về chiếc xe mới, về y phục thời trang.

Ðối với họ, chấm dứt đời con là một công việc “kiếm sống bằng cách tiêu diệt sự sống.” Với những người có mặt trong căn phòng ngập nắng ở Philadelphia 10 năm trước đây, thì đó cũng chỉ là một ngày như mọi ngày. Với mẹ, đó là ngày đen tối nhất trong đời.

“Phá thai” – là cảm nghiệm khủng khiếp và đau lòng nhất mà mẹ đã phải trải qua khi lên 18 tuổi; và chắc chắn đó là cảm nghiệm đau đớn nhất con phải chịu khi con mới ba tháng. Phải mất bao nhiêu năm mẹ mới nguôi ngoai.

Giờ đây – khi mẹ đong đầy nước mắt, mẹ mới nhận ra rằng đó là những gì mẹ không bao giờ quên được. Cái ngày định mệnh của tháng Tư đó diễn lại trong đầu mẹ như một cuốn phim kinh dị buộc mẹ phải xem, và rồi không bao giờ quên được…

Ngay cả khi mẹ hoang mang nhất, mẹ biết có nhiều sự chọn lựa khác, nhưng mẹ chỉ quá lo sợ khi nghĩ đến những chọn lựa đó. Mẹ vẫn là một đứa con nít, mẹ “chưa sẵn sàng” để làm mẹ.

Mẹ không ý thức rằng mẹ đã là một người mẹ. Con trở thành con của mẹ từ khi thụ thai; tình yêu của mẹ dành cho con ngay khi sự sống của con bắt đầu, và dù rằng đời con đã dứt, tình yêu đó không bao giờ cùng.

Tiếng gào trong câm nín của con đã đánh thức mẹ biết bao lần trong nhiều năm, và mẹ nằm đó trong bóng đêm để than khóc sự mất mát của một đứa trẻ mà mẹ đã giết. Ðã nhiều lần mẹ nghĩ đến việc chấm dứt đời mẹ cũng như mẹ đã kết thúc đời con.

Ðã 10 năm qua và mẹ vẫn không thể tha thứ cho chính mẹ. Con có tha thứ cho mẹ không? Chúa có tha thứ cho việc mẹ tiêu diệt một sự sống mà Ngài đã dựng nên không?

Mẹ đã trải qua bao cơn ác mộng trong nhiều năm. Hình ảnh thai nhi nằm trong bao rác đã ám ảnh mẹ đến tận tiềm thức. Mẹ thức giấc mà toát mồ hôi lạnh, cái cảm giác đau đớn cùng cực của ngày đó lại sống dậy. Mẹ nhớ lại cái đau đớn ghê gớm của việc phá thai – nhưng 10 phút đau đớn đó không thấm gì so với 10 năm đau khổ mà mẹ phải chịu từ ngày ấy.

Ðã bao năm lòng mẹ ao ước viết cho con những dòng chữ này, nhưng mỗi lần mẹ định gởi tâm tình qua dòng chữ thì mẹ chỉ thấy trang giấy ngập tràn nước mắt hơn là mực đen. Tuy nhiên, vì một lý do nào đó, đêm nay thật khác lạ…

Có thể lá thư này giúp được những người khác tránh khỏi những đau khổ mà mẹ đã trải qua, giúp những thiếu nữ bị “rắc rối,” như mẹ 10 năm trước đây, để nhận thấy rằng có những thay thế khác cho việc phá thai…

Nếu lá thư này ngăn cản được chỉ một vụ phá thai, nó cũng đã đạt được mục đích. Nhưng Con Yêu, mẹ muốn gởi lá thư này cho con để con biết rằng mẹ yêu con – bất cứ con ở đâu. Và xin con tha lỗi cho mẹ.

Mẹ yêu con.

Ẩn danh

4 ân nghĩa lớn trong đời người cần ‘ghi lòng tạc dạ’ 

Ngọc Liên       

Con người có tình, sống trong ân nghĩa, vậy nên tình và nghĩa cấu thành nên nhân cách của con người. Một người sống có tình có nghĩa luôn nhận được sự yêu mến, kính trọng của người khác. Trong cuộc sống, có 4 ân nghĩa lớn cần “khác cốt ghi tâm”.

-Ân – Nghĩa là gì?
-Ân sinh thành
-Ân nghĩa vợ chồng
-Ân nghĩa thầy – trò
-Ân tương trợ, giúp đỡ


Ân – Nghĩa là gì?

Trong chữ Hán, chữ Ân 恩 gồm chữ Nhân 因 và chữ Tâm 心, nghĩa là: Cái nhân tốt ở trong tâm, tức trong lòng (Tâm) ghi nhớ và cảm kích trước hành động (Nhân) giúp đỡ của người khác.

Trong chữ Hán, chữ Nghĩa 義 gồm chữ Dương 羊 và chữ Ngã 我, nghĩa là: chữ Dương nghĩa là con dế tế Thần, tức sự hy sinh, hiến dâng; chữ Ngã nghĩa là tôi, thế nên chữ Nghĩa có nghĩa là hy sinh cái tôi, hy sinh, hiến dâng bản thân vì người khác.

Ân Nghĩa là ghi nhớ việc người khác làm cho mình, giúp mình khi khó khăn, trong cuộc sống luôn làm điều tốt cho người khác. Ai ai cũng đối với nhau bằng ân nghĩa cuộc sống sẽ trở nên ấm áp, bình an.

Theo đó, trong cuộc sống mọi người đối tốt với nhau sẽ tồn tại rất nhiều loại ân nghĩa, tuy nhiên, có 4 loại ân nghĩa mà chúng ta nên khắc ghi và báo đáp:

1. Ân sinh thành

Trong đời người, ân sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ lớn hơn hết thảy và cũng không có cách nào báo đáp được trọn vẹn. Người con có hiếu thảo với cha mẹ là đối tốt với cha mẹ, không để cha mẹ phiền lòng về con cái, để họ cảm thấy hãnh diện, an vui hưởng tuổi già. Cha mẹ là hai ân nhân lớn, cho nên vinh danh, cung kính, phụng dưỡng là điều chính đáng, là trách nhiệm không thể trốn tránh, là đạo làm người tối quan trọng trong cuộc đời con người.

Bài thơ ca ngợi công ơn sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ vang mãi trong tâm trí mỗi người:

“Đi khắp thế gian không ai sánh bằng mẹ
Gian khổ cuộc đời ai nặng gánh hơn cha.
Nước biển mênh mông không đong đầy tình mẹ
Mây trời lồng lộng không phủ kín công cha.
Tảo tần sớm hôm mẹ nuôi con khôn lớn
Đưa tấm lưng gầy cha che chở đời con”.

2. Ân nghĩa vợ chồng

Tục ngữ có câu: “Tu trăm năm mới đi chung thuyền, tu ngàn năm mới chung chăn gối”, ý là những người ngồi chung trên một chuyến thuyền đều là người hữu duyên, còn có thể kết thành vợ chồng thì giữa họ với nhau mối nhân duyên sâu đậm.

Giữa vợ chồng với nhau không chỉ có ‘Nghĩa’, mà còn là một chữ ‘Ân’. Từ ngàn năm nay, có được bao đôi vợ chồng được như câu “phu xướng phụ tùy”, đồng cam cộng khổ, mãi mãi không xa lìa. Trong văn hóa truyền thống, vợ chồng không chỉ nên “tương kính như tân” (kính nhau như khách), mà còn phải biết ơn nhau, bởi vậy người xưa mới nói “ân ái phu thê” (ân nghĩa và tình nghĩa của vợ chồng).

Người xưa cũng nói: “Thân, không ai thân bằng anh em, gần, không ai gần bằng vợ chồng”.

Người xưa coi trọng ân nghĩa vợ chồng, vì vậy không nên bạc đãi với người vợ đã đồng cam cộng khổ với mình từ thuở hàn vi, nên cùng nhau đi đến đầu bạc răng long, trăm năm hảo hợp.

Giữa vợ chồng với nhau không chỉ có ‘Nghĩa’, mà còn là một chữ ‘Ân’. (Ảnh pixabay)

3. Ân nghĩa thầy – trò

Tôn sư trọng Đạo là mỹ đức truyền thống của nhiều dân tộc ở phương Đông. Người Việt thường nói “Một ngày làm thầy cả đời làm cha”.

“Người Thầy” là người truyền thụ luân lý đạo đức, tri thức, giá trị quan niệm, dạy cho con người quy phạm hành vi trong đối nhân xử thế, và cũng là biểu tượng của đạo đức. Cũng bởi vậy, cổ nhân mới có câu “Một ngày làm thầy cả đời làm cha”, rất chú trọng tu dưỡng phẩm hạnh, học đức hạnh của thầy, tạ ân nghĩa của thầy.

Nhạc Phi, anh hùng chống quân Kim của nhà Tống, từng nói: “Thầy dạy ta đạo nghĩa đối nhân xử thế, đạo lý tinh trung báo quốc, còn đem tuyệt kỹ bắn cung cùng võ nghệ cả đời đều truyền lại cho ta. Ơn thầy lớn như trời, như biển, cả đời cũng không được phép quên”.

Cổ nhân có câu “Tam giáo Thánh nhân, ai không có thầy; thiên cổ đế vương, ai không có thầy”; ý nói kể cả những bậc Thánh nhân trong tam giáo (Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo), hay các đế vương tài đức, cũng đều phải có thầy. Người bất kính với thầy là người vong ân bội nghĩa, sao có thể thành đạo?

Từ xưa tới nay, các vị Thánh hiền đều lấy mình là gương, rất mực khiêm tốn. Họ tôn sư trọng đạo khiến hậu thế noi gương làm theo.

4. Ân tương trợ, giúp đỡ

Sống trên đời chớ quên ơn đức của người đã giúp bạn khi khó khăn, cấp bách. Hãy ghi nhớ, ai là người giúp bạn thoát khỏi tình trạng khó khăn, lo lắng. Bây giờ bạn là một người giàu sang, phú quý, có địa vị, hãy nhớ đến những người đã giúp đỡ mình thuở hàn vi, khi cơ nhỡ, khó khăn. Bởi người xưa có câu: “Biết ân là người hiền, đáp ân là người tốt”.

Ví như, tiền không phải ai cũng dư giả, ai sẽ là người không ngần ngại cho bạn mượn tiền khi bạn cần? Người có thể cho bạn mượn tiền: Một là người tin tưởng bạn, hai là người yêu quý bạn. Sự giúp đỡ kịp thời của họ đã giúp bạn giải vây cho mình, vì vậy bạn không được quên ân tình của họ.

Không gặp được người đã giúp mình để báo ân, cách tốt nhất đó là ghi nhớ ân đó và giúp đỡ người khác khi họ gặp khó khăn, giống như ân nhân đã giúp mình.

Mối quan hệ, nhân duyên giữa con người với con người là phức tạp nhất. Ngoài 4 ân nghĩa lớn kể trên còn có những ân nghĩa khác trong cuộc sống mỗi người gặp, bất kỳ ai nhận được sự giúp đỡ tương trợ từ người khác đó cũng là ân nhân của mình. Ví như: Giúp người bị hỏng xe trên đường, người giúp đỡ trong công việc, bạn bè giúp nhau, cho người khác lời khuyên bổ ích khi họ đang mất phương hướng… những việc đó còn được gọi là những việc tử tế.

Nguyên Anh

From: Tu-Phung

Nhà hàng Tàu, văn hóa Việt – Huy Phương

Nhà hàng Tàu, văn hóa Việt

Quang cảnh một nhà hàng Tàu

 Lời giới thiệu của Trần Văn Giang

Nhân dịp đang sửa soạn đi tham dự vài buổi họp mặt trong tháng này, tôi xin giới thiệu một bài viết rất “hợp tình hợp cảnh” của ông bạn già Huy phương của tôi.

 Chỉ có ở phố BolsaLittle Sài gòn có hơn 1000 Hội Ái Hữu, mà hơn phân nửa là những Hội có 1 Hội Viên kiêm luôn Chủ Tịch, Phó Chủ Tịch, TTK và Thủ Quỹ.

Ở phố Bolsa, Little Sài gòn hằng tuần đều có  tiệc họp mặt của các trường, các hội đoàn,  các hội ái hữu,  các tổ chức văn hóa, chính trị, tôn giáo…

Nếu nói về họp mặt của các trường thì nhiều lắm, kể không hết – Có nhiều trường tôi chưa hề nghe đến tên ở Việt nam, dù đã lê gót hết 4 vùng chiến thuật.  Tổng cộng có trên vài trăm trường. Kế đến là các Hội Ái Hữu, Đồng Hương, Đồng xóm, Đồng… băng đảng (?) này nọ cũng có cả 100 hội. Rồi đến là các tổ chức văn hóa, tổ chức chính trị, tổ chức tôn giáo, hội từ thiện. các chương trình văn nghệ, họp mặt các trường Quân đội, CTCT, XDNT, Quân cảnh, Cảnh Sát Quốc gia, Hành Chánh, Tài chánh; họp mặt các binh chủng như Nhảy Dù, TQLC, BĐQ, LLĐB, Sư đoàn Bộ binh, Không quân, Hải quân, Địa Phương Quân…  Rồi họp mặt các khóa ví dụ khóa Võ Bị Đà lạt, Thủ Đức, Võ… thuật.  Rồi họp mặt các trại tù cải tạo nằm trên khắp 3 miền Bắc Trung Nam…

Tại phố Bolsa, Little Sài gòn có khoảng 15 nhà hàng lớn. Trưa thứ Bảy có 1 tiệc hội đoàn.  Tối thứ Bảy, nhà hàng thường dành cho tiệc cưới.  Trưa Chúa nhật 1 tiệc hội đoàn.  Tối Chúa nhật 1 tiệc hội đoàn. Như thế 1 nhà hàng mỗi cuối tuần có thể có đến 4 tiệc hội đoàn và đám này nọ. 15 nhà hàng nhân cho 4 bằng 60 tiệc (15×4=60) mới chết người.

Vì vấn đề giao tế, hội này đi tiệc hội kia, nhóm này đáp lễ nhóm kia… cứ xoay quần như vậy. Nếu có sức thì 1 tháng dự khoảng 6-10 tiệc như chơi. Cộng thêm 1 hay 2 cái tiệc cưới và 1 hay 2 đám tang nữa !!

Xem ra tại phố Bolsa, Little Sài gòn này tiền khóc và tiền cười cũng khá bộn bạc đó các bác ơi.

Hu hu. Hi hi

TVG

***

Năm nào, vào khoảng thời gian này, chúng ta cũng thường có dịp tham dự những buổi họp mặt Tất Niên hay Tân Niên của các Hội Đoàn Đồng Hương, Ái Hữu hay Đơn Vị, Quân Binh Chủng,…

Nhiều khi nghĩ cũng lạ, nói không ngoa, trong hơn ba chục năm ở đây, trong vùng Little Saigon, mỗi năm tôi thường đến tham dự ở cái nhà hàng này, ít lắm cũng mỗi năm ba lần, tính ra trong ba mươi năm, là 90 lần đến cùng một cái nhà hàng, gặp gỡ bạn bè có khi thay đổi, nhưng cũng có khi với chừng ấy khuôn mặt.

Ba mươi năm, mỗi lần đến đây, ngồi vào bàn tiệc, tôi đã cầm đũa lên, ăn những món ăn trong cái thực đơn muôn thuở, không bao giờ thay đổi ấy, đến nhàm chán. Trên bàn thường không có mảnh giấy in bản thực đơn, nhưng dù có, nhắm mắt lại, cũng biết món mở đầu là “bát… nháo khai vị,” ở giữa là món đầu, đuôi và vỏ tôm hùm, và món cuối cùng là cơm chiên và một đĩa cá filet. Cái menu này chúng ta gọi là “Menu Hội Đoàn!” Cuối cùng món tráng miệng là một dĩa cam Cali cắt nhỏ, ngọt hay chua tùy theo mùa.

Trên bàn lúc nào cũng có một chai nước ngọt Coca hay 7Up, và thêm một chai rượu chát rẻ tiền nhất, mà theo lời ông chủ nhà hàng, là để biếu bà con, nói “văn vẽ” kiểu trong nước là… khuyến mãi! Không nhiều không ít, không di dịch, không thay đổi. Nhiều lúc trong hai ngày Chủ Nhật và Thứ Bảy cuối tuần, mà bất đắc dĩ chúng ta phải tham dự cùng ở một cái nhà hàng ấy ba buổi tiệc, thì đúng là một tai họa làm cho bộ phận tiêu hóa của chúng ta phải lên tiếng.

Những nơi mà chúng ta thường lui tới để dự tiệc tùng kể trên là những nhà hàng Tàu, theo cách nói quen miệng. Ở Mỹ, thì những nhà hàng này có thể gọi là nhà hàng Hồng Kông, Đài Loan hay Trung Quốc, với những cái tên có kèm theo chữ Seafood, Place, Cove, Paradise… sân khấu trang trí hình Long Phụng, Song Hỷ, nhưng chủ nhân và bồi bếp, trong cộng đồng này đều phần lớn là người Việt Nam hoặc là cư dân Chợ Lớn đến đây bằng con đường “bán chính thức!”

Dễ chừng không có nhà hàng Tàu thì người Việt lưu vong đã “không có… văn hóa.”

Bằng chứng là ngày cử hành hôn lễ của đôi trẻ trong cộng đồng Việt Nam, không phải do cha mẹ đôi bên giở lịch Tam Tông Miếu để chọn cho đôi trẻ ngày lành tháng tốt, mà do ông chủ nhà hàng Seafood… quyết định. Nói rõ ra, chưa, chưa… có ngày tháng để “book” nhà hàng, đãi đằng bà con hai họ, thì… chưa động phòng!

Chính trị thì ai cũng đòi “thoát Trung,” “chống Tàu lạ…” nhưng lề thói thì cứ mãi dính chặt với… Tàu!

Chưa ai làm được một cuộc cách mạng. Đám cưới mà không đãi tiệc ở nhà hàng Tàu thì ai đi. Có lần gia chủ đãi tiệc ở nhà hàng Tây, thực đơn chỉ có một đĩa rau trộn và chọn cái đùi gà, miếng beefsteak hay mấy con tôm… thì các cụ chê nhạt nhẽo và nghĩ rằng chắc là bọn chúng… hà tiện! Ba mươi năm rồi, địa điểm các nhà hàng Tàu để tham dự tiệc cưới, họp hội đoàn, đồng hương quen thuộc như nhìn bàn tay, chẳng bao giờ cần đến một cái GPS hay vào Google để tìm ra địa chỉ.

Bây giờ chúng ta trở lại với những buổi sinh hoạt của ái hữu, đồng hương, đơn vị mà trong đầu bài chúng tôi đã dạo qua ở trên.

Tôi cho buổi hội họp nào cũng trở thành một cực hình cho người tham dự, khi một chương trình ca nhạc “phong phú” đầy ắp, tra tấn lỗ tai người nghe, nhất là những lúc không may, các cụ được xếp ngồi ngay cái bàn trước loa phóng thanh, khuếch âm tối đa! Ai bảo nhân tài như lá mùa thu, tôi thì cho rằng, cộng đồng chúng ta lạm phát ca sĩ. Bằng chứng là khi phòng hội chưa đến giờ khai mạc, mới lai rai khách khứa năm bảy chục người, thì sân khấu đã ầm ĩ, ồn ào, liên tục, cho đến khi khách đứng dậy ra về, còn nghe tiếng hát của ca sĩ đuổi theo sau.

Cũng may là dân mình có thói quen đi trễ, giấy mời ghi 6:00 giờ, nhưng đến 7:30 giờ hơn cũng chưa vào cuộc, nhờ vậy mà “ca sĩ” và ban nhạc mới có cơ hội bằng vàng với thiện chí là “warm up,” kẻo không khí lạnh lùng, tẻ nhạt quá! Nhiều khi thấy thương cho ông nhạc sĩ “One Man Band,” không hề được ăn uống hay vào nhà vệ sinh, phải liên tục đệm đàn từ khi buổi hội chưa khai mạc cho đến khi nhà hàng dọn dẹp đóng cửa!

Trong một buổi họp mặt hội đoàn nào cũng vậy. MC chạy lui chạy tới, giới thiệu hết cô này đến bà nọ, cũng là người vất vả và mất lòng thiên hạ nhất, vì cô, bà nào cũng muốn lên sân khấu, mà phải được xếp ưu tiên hát trước và phải được tái ngộ… nhiều lần. Cái câu “Xin quý vị cho một tràng pháo tay…” dễ thường chúng ta phải nghe MC nói đi nói lại đến trăm lần trong một buổi ăn tại nhà hàng… Tàu hay cả trong những cuốn băng nhạc… Việt! Mỗi người hát sẽ được xin vỗ tay hai lần, một khi chưa hát và một sau khi hát xong cúi chào khán giả!

Nói chung, không phải ca sĩ tài tử nào hát cũng tệ, nhưng giá đừng hát, trả lại sự yên tĩnh… cho sân khấu chúng tôi thì tốt hơn. Vì gặp nhau ở chỗ này, ai cũng muốn chuyện trò, hàn huyên, thăm hỏi nhau, chứ mục đích buổi hội ngộ này không phải là nơi chúng ta mua vé để vào nghe ca sĩ “nghiệp dư,” được giải nghĩa là “rỗi nghề” lên hát! Nhưng ai hát thì cứ hát, ai đàn thì cứ đàn, ai chuyện trò lớn tiếng, ai ăn uống là quyền của họ. Và ca sĩ cần được hát hơn là cần có người nghe! Họ không cần chú ý đến nhau và chẳng cũng cần tôn trọng nhau.

Tôi biết một ca sĩ nổi tiếng, nay đã qua đời, lúc sinh tiền, cô không bao giờ nhận lời lên sân khấu trong lúc người ta ăn uống sì sụp. Vì lúc người ta đang phải bận rộn dùng hàm răng, lưỡi và dịch vị thì chức năng của màng nhĩ trở nên rối loạn!

Nhưng cũng chính vì lâu ngày gặp nhau, chúng ta cứ nói chuyện ào ào, chẳng coi ai ra gì, nên từ bài diễn văn của ông Hội Trưởng, đến phát biểu của một quan khách, kể cả những nghi thức tế lễ cổ truyền, cần đến sự nghiêm trang và yên lặng của mọi người tham dự, cũng chẳng có ai cần để ý đến!

Có nhân tài thì có người hâm mộ, tạo nên một lề thói tặng hoa rất là… dung tục. Lề thói này phát triển từ trong nước sau năm 1975 và theo chân người tỵ nạn đến đây. Trong khi ca sĩ đang mơ màng theo lời hát, thì dưới sân khấu, có người hùng hục bước lên, ghé qua chậu hoa, nhón một bông hoa, lên tặng người hát, xong đứng sát ca sĩ hay ôm hẳn người này để nhờ một người bạn gần đó bấm cho một “bô” hình kỷ niệm. Tội nghiệp cho ca sĩ, có khi hai ba người lên tặng hoa cùng một lúc, một tay bận cầm micro, tay kia phải nhận cả mấy chùm hoa, có khi phải kẹp vào nách. Có người còn phải ôm luôn cả một chậu hoa cúc, mà người hâm mộ lên sân khấu, tiện tay bê theo luôn cho tiện việc.

Một cái xô lớn đựng nhiều hoa được ban tổ chức đặt trước sân khấu, ca sĩ được tặng hoa, hát xong đem hoa về bỏ vào chỗ cũ, cho người khác tiếp tục lấy, tặng cho người sau, nên loại hoa này không còn được gọi là “hoa trinh nữ” nữa!

Lề thói này chúng ta chỉ có thể tìm thấy trong cộng đồng người Việt, vậy có thể cho rằng đây là một thứ văn hóa… Việt Nam chăng?

Cái mà người ta gọi là chương trình văn nghệ chỉ là một thứ tạp lục vô giá trị mà ban tổ chức nào cũng giẫm theo lối mòn, làm cho có, nhưng lại làm khổ người tham dự. Dễ thường một buổi sinh hoạt như vậy, có đến vài ba mươi ca sĩ tình nguyện lên sân khấu để được hát, được “cho” một tràng pháo tay rời rạc, được tặng hoa, được ôm và được chụp ảnh. Tiếng hát ở đây không những át được tiếng đàn của nhạc công, mà đôi khi còn át được tiếng trò chuyện cười đùa của người tham dự, trong đó ai cũng muốn giành phần thắng, nói lớn hơn, cười lớn hơn và ban tổ chức cũng muốn tiếng loa phải lớn hơn. Đi dự tiệc về nhà, phải uống thuốc… an thần.

Nhìn lên tấm lịch tháng có ghi ngày đi tham dự sinh hoạt hội đoàn, tính ra tháng này còn ba cái nữa. Đã là con đường cũ, cũng đành phải đi thôi! Vẫn là những cái nhà hàng Tàu cũ, những món ăn ba mươi năm trước đã ăn, chai coca trên bàn, chương trình ca nhạc không ai muốn nghe, câu nói “xin quý vị một tràng pháo tay!” sẽ được lặp lại.

May mắn là đến tuổi này, không còn có cơ hội đi tham dự đám cưới của con cháu nữa, chỉ còn đi dự đám tang. Yên trí, với đám tang, chắc chắn là không có câu “xin quý vị một tràng pháo tay” đâu!

Huy Phương

Trần văn Giang (st)

Mơ ước sáng thức dậy trở thành người Đài Loan, người Nam Hàn…

Báo Tiếng Dân

Trương Nhân Tuấn

26-2-2023

Thời chiến tranh 54-75, có người (Mỹ hay Tây chi đó không nhớ), “mơ ngủ dậy trở thành người Việt Nam”. Hà Nội hồi đó còn mang tên là “thủ đô Hòa bình”.

Không biết bây giờ có ai còn mơ “sáng dậy trở thành người Việt Nam” nữa hay không?

Sự thật phũ phàng là hầu như mọi người Việt hôm nay, ước mơ của họ là ra sinh sống ở nước ngoài. Đài Loan, Nam Hàn, Nhật, Thái Lan, Mã Lai… chạy qua nước nào cũng được. Làm công chuyện gì cũng được.

Có nhà báo Việt Nam nào “quởn” thử làm một cuộc “thăm dò” đơn giản, kiểu đặt câu hỏi “ước mơ hiện nay của bạn là gì”? Để xem mơ ước ra sống ở nước ngoài của người Việt được bao nhiêu phần trăm?

Người Việt hiện nay sẵn sàng trả giá bằng sinh mạng của mình để được ra sống ở các nước giẫy chết. Vụ “thùng nhân” bên Anh gần đây là thí dụ điển hình.

Riêng các tài phiệt đỏ, các lãnh đạo cao cấp CSVN. Hầu như người nào cũng có “cơ ngơi” như nhà cửa, xí nghiệp, cửa hàng… ở Mỹ, hay ở các quốc gia khác như Anh, Úc, Pháp v.v… Số liệu thật của hạng mục này hiển nhiên là “tài liệu mật” của CSVN. (Ai hỏi bằng chứng đâu thì tôi thành khẩn khai báo rằng tôi không có. Tôi chỉ viết dựa trên sự phỏng đoán rằng thấy khói bốc lên ắt phải có lửa). Tôi hy vọng ngày nào đó cơ quan di dân của chính phủ Mỹ (Anh, Pháp, Úc…) bật mí bí mật này.

Con cháu cán bộ cao cấp cộng sản cũng đều lựa chon các “quốc gia thù địch” như Mỹ, Anh, Pháp… để du học. Không thấy họ tìm đến các quốc gia “đồng chí anh em” kiểu Nga hay TQ.

Cán bộ CS, con cháu cán bộ, tài phiệt… họ có tiền. Tài phiệt và người cộng sản có điểm chung. Họ là những người không có “tổ quốc”. Họ lựa chọn ra sống ở nước ngoài là điều có thể hiểu.

Vậy lý do nào người Việt lại muốn từ bỏ nơi chôn nhao cắt rún của mình?

Theo tôi, lý do là “đất lành chim đậu”. Chẳng có tổ cuốc tổ cò chi cả.

Xã hội Việt Nam bây giờ là một xã hội bán khai, mạnh được yếu thua.

Một người Việt Nam thất thế không phải là người Việt Nam mà là một con mồi, một cơ hội, để những kẻ có quyền lực, hay những kẻ có cơ hội sử dụng quyền lực, xâu xé.

Vụ Việt Á hay vụ “Các chuyến bay giải cứu” là các thí dụ điển hình.

Một người Việt Nam hoạn nạn chỉ là một cơ hội nhỏ để cán bộ xâu xé làm tiền. Cả nước Việt Nam hoạn nạn thì đây là một cơ hội lớn để cán bộ làm tiền trên cái hoạn nạn, trên những xác chết của từng người Việt nam.

Cán bộ ăn của dân không từ một thứ gì. Đảng CSVN là “cả một nồi sâu”. Những người nói câu này sống trong chăn nên biết chăn có rận.

Đọc báo hôm qua thấy xí nghiệp của Đài Loan sa thải công nhân, vì lý do không có đơn đặt hàng. Xí nghiệp “bồi thường” cho nhân công một cách “rộng rãi” hơn luật định. Ngoài ra ban quản trị xí nghiệp còn tổ chức “hướng nghiệp”, giúp công nhân sa thải dễ tìm được việc làm mới.

Trước đây không lâu ta thấy tòa án Đài Loan thụ đơn của nạn nhân ô nhiễm do Formosa (Hà Tĩnh) gây ra. Hôm trước lại thấy tòa Seoul ở Nam Hàn xử nhà nước Nam Hàn phải bồi thường cho nạn nhân chiến tranh ở Việt Nam.

Tại sao Đài Loan, Nam Hàn… lại đối xử “nhân bản”, nhân đạo như vậy đối với người Việt Nam hoạn nạn?

Theo tôi, người Việt Nam không cần phải bỏ nước ra đi. Điều họ cần là có một mơ ước “sáng dậy trở thành người Đài Loan, người Nam Hàn”.

Sống phải có mục đích sống. Đài Loan, Nam Hàn phát triển thành rồng là vì trước đó người dân họ có mơ ước “sáng dậy thành người Nhật”.

Họ vốn là người Đài, người Hàn… làm sao họ có thể thành người Nhật được?

Vậy là giới trí thức, tầng lớp tinh hoa của đất nước, cùng với các đảng phái chính trị, tất cả hợp lực xây dựng đất nước, sao cho đất nước của họ vĩ đại như là nước Nhật. Để người dân của họ hãnh diện là người Đài, người Hàn.

Cuối cùng dân Đài, dân Nam Hàn đã thành công. Mức sống dân Đài hiện thời đã vượt qua dân Nhật.

Chiến tranh đã qua gần 1/2 thế kỷ nhưng tro tàn chiến tranh vẫn còn nghi ngút khói. Kích động hận thù, kích động chia rẽ đấu tranh giai cấp vẫn còn. Thì đất nước Việt Nam, xã hội Việt Nam là “chiến trường” mà trong đó người sa cơ đều trở thành con mồi để kẻ mạnh xâu xé.

Bỏ nước, về lâu về dài không phải là lối thoát. Nhưng 1/2 thế kỷ như vậy rồi. Không bỏ nước, không đoạn tuyệt với Việt Nam thì làm cách nào để sống?